PHÁP ẤN

PHÁP ẤN 

Thích Nguyên Hùng

phap anPháp ấn, tiếng Phạn dharma-mudrā, trong đó dharma là pháp, là những lời dạy của Đức Phật, và mudrā là dấu ấn, là khuôn dấu, là đặc chất, là tiêu chuẩn. Ấn còn có nghĩa là chân thậtbất độngbất biến, như ấn tín củaquốc vươngPháp ấn là dấu ấn của Chánh pháp, là dấu hiệu đặc trưng để nhận biết Phật pháp, nhưng cũng có thể là chỉ cho giáo pháp cô đọng, tinh yếu, cốt tủy, tức làpháp yếu.

Sau này, nhiều trăm năm sau Phật Niết-bàn, thuật ngữPháp ấn được dùng để chỉ cho kinh điển do Phật thuyết, ngược lại, kinh điển nào có nội dung tư tưởng trái ngược với pháp ấn thì được coi là kinh điển không doPhật thuyết.

Những bản kinh sau đây sẽ cho chúng ta thấy khái niệm pháp ấn được Đức Thế Tôndùng để giảng dạy những giáo lý nhiệm mầu, thâm sâu; những pháp hành căn bản đểthành tựu giải thoát.

Thánh pháp ấn là khuôn dấu về Chánh pháp của bậc Thánh, pháp ấn của bậc Thánh, hay pháp này chính là pháp hànhpháp yếu căn bản đi đến thành tựu Thánh quả. Kinh ghi: “Này các Tỳ-kheo, thế nào là Thánh pháp ấn? Thánh pháp ấn này nếu được tu tập sẽ đưa đến tri kiến thanh tịnhGiả sử vị Tỳ-kheo ở chỗ nhàn cư, hoặc ngồi dưới gốc cây, chốn không nhàn, quán sát nhận biết rõ sắc là vô thường, thấy sắc vốn không có. Đãnhận biết rõ vô thườnghiểu rõ đến chỗ Không, Vô đều là hình dung biến hóa nhanh chóng, vô ngã, vô dục, cho nên tâm liền ngưng nghỉ, tự nhiên thanh tịnh mà được giải thoát.”1

Thánh pháp ấn ở đây được nhận diện là vô thường, không, vô ngã và Niết-bàn.

Tự tánh không

Pháp ấn là pháp của Phật, siêu việt, không thể nghĩ bàn, tri kiến không thể đạt tới. Kinh ghi: “Tự tánh Không, không có sở hữu, không vọng tưởng, không sanh, không diệt, thoát ly mọi tri kiến. Tại sao? Vì tánh Không, không có xứ sở, không có sắc tướng, không có tưởng, nó vốn không sanh, không phải chỗ mà tri kiến có thể đạt tới, thoát ly mọi vướng mắc; vì do thoát ly mọi vướng mắc, nên hết thảy pháp nó đều dung nhiếp, an trú tri kiếnbình đẳng, tức là tri kiến chân thực. Tỳ-kheo nên biết, tánh Không là như vậy, các pháp cũng là như vậy, đó gọi là pháp ấn.2

Ở đây, tánh Không là pháp ấn.

Tam giải thoát môn

Có khi Đức Phật nói ba cánh cửa giải thoát là pháp ấn. Kinh ghi: “Pháp ấn này chính là bagiải thoát môn, là pháp căn bản của chư Phật, là đôi mắt của chư Phật, đó là chỗ quy thú của chư Phật.”3

Rồi Đức Phật giải thích, nếu ai tu tậpquán sát đúng như thật rằng: “Sắc là khổ, là không, là vô thường, nên sinh khởi sự nhàm chán và thoát ly chúng, an trú tri kiến bình đẳng. Cũng giống như thế, quán sát: thọ, tưởng, hành và thức, là khổ, là không, nên sinh khởisự nhàm chán và thoát ly chúng, an trú tri kiến bình đẳng.

“Này các Tỳ-kheo! Các uẩn vốn là không tự tánh, do tâm mà có sinh, khi tâm pháp diệt tận rồi, thì các uẩn không còn tác khởi.

“Thấu suốt rõ ràng như thế, tức là trực tiếp giải thoát, đã trực tiếp giải thoát rồi, thì thoát lymọi tri kiến. Đây gọi là Không giải thoát môn.

“Lại nữa, an trụ ở trong tam-muội, quán chiếu các sắc cảnh, hết thảy chúng đều diệt tận,thoát ly mọi ấn tượng. Cũng vậy, với thanh, hương, vị, xúc và pháp, cũng đều diệt tận,thoát ly mọi ấn tượngquán sát như vậy, gọi là Vô tưởng giải thoát môn. Vào cửa giải thoát này rồi, liền thành tựu được tri kiến thanh tịnh. Do vì có sự thanh tịnh đó, nên tham, sân và si hết thảy chúng đều diệt tận. Những thứ ấy, đã diệt tận rồi, thì liền an trú tri kiếnbình đẳng.

“Đã an trú vào tri kiến này rồi, tức là thoát ly kiến về ngã cùng với kiến về ngã sở, tức liền thấu suốt rõ ràng mọi kiến, không sở sinh, không có chỗ y chỉ.

“Lại nữa, đã thoát ly kiến về ngã rồi, tức không còn kiến, văn, giác và tri.

Tại sao vậy? Vì do nhân duyên, mà các thức sinh khởi, thì tức nhân duyên đó, cùng với thức được sinh ra, hết thảy chúng đều vô thường. Do vì nó vô thường, cho nên thức bất khả đắcThức uẩn đã không, thì không có chỗ tạo tác. Gọi là Vô tác giải thoát môn.”4

Bốn pháp thù thắng

Một thời, Đức Thế Tôn du hóa ở cung Hải Long vương cùng với 1.250 vị Tỳ-kheo, và số đông các hàng Đại Bồ-tát. Bấy giờ, Long vương Sāgara bạch với Thế Tôn“Kính bạch Thế Tôn! Có pháp gì mà người thọ trì chút ít lại được phước nhiều không?”

Khi ấy, Phật bảo Hải long vương“Có bốn pháp thù thắng, nếu ai thọ trìđọc tụng, hiểu nghĩa, thì dụng công tuy ít mà được phước rất nhiều, so với công đức của người đọc tụngtám vạn bốn ngàn pháp tạng không khác. Bốn pháp đó là gì? Là thường tư  duy: các hànhvô thường, tất cả đều khổ, các pháp vô ngã và chỉ có Niết-bàn là an lạc.Long vương nên biết, đây là bốn pháp thù thắng, hàng Đại Bồ-tát Vô tận pháp trí, sớm chứng vô sanh,  mau đến viên tịch, là vì họ thường tư duynghiền ngẫm bốn pháp này!5

Vô thường, khổ, vô ngã, Niết-bàn được cho là bốn pháp ấn!

Ba pháp ấn

Một thời, sau khi Thế Tôn vào Niết-bàn không bao lâu, Trưởng lão Channo đi khắp nơi đểthỉnh cầu các Tỳ-kheo chỉ dạy, rằng “xin chỉ dạy tôi, nói pháp cho tôi, để cho tôi biết pháp, thấy pháp và tôi có thể như vậy mà quán sát pháp.”

Bấy giờ, các Tỳ-kheo nói với Channo: Sắc là vô thường. Thọ, tưởng, hành, thức là vô thường. Tất cả các hành đều vô thường. Tất cả các pháp đều vô ngã. Niết-bàn là tịch diệt”. 6

Chữ ‘hành’ ở đây chỉ cho tất cả mọi hiện tượng sinh diệtbiến hóa; nó đồng nghĩa với từ ‘hữu vi’. Tất cả mọi hiện tượng chưa từng dừng nghỉ quá trình chuyển động dù chỉ trong nháy mắt, chúng luôn luôn thay đổi, sinh diệt và biến hóa, cho nên nói ‘chư hành vô thường’: tất cả mọi hiện tượng đều luôn thay đổi, không thường hằng bất biếnHiện tượngở đây bao hàm cả vật chất lẫn tinh thần, chúng biến đổi liên tục không gián đoạn.

Vô thường, anitya hoặc anityatā, có nghĩa là tất cả các pháp hữu vi ở thế gian không có gìtồn tại mãi mãi, cái gì cũng thay đổi, biến hóasanh diệt không dừng. Tất cả các pháp hữu vi đều do nhân duyên mà sanh và đều có bốn tướng trạng: sanh, trụ, dị, diệt, gọi là tứ tướng vô thường. Bốn tướng này sanh diệt trong từng sát-na, sanh đó liền diệt đó.

Luận Đại trí độ, quyển 43, nói vô thường có hai loại, là niệm niệm vô thường và tương tụcvô thường.

– Niệm niệm vô thường: Trong mỗi niệm, trong mỗi sát-na, các pháp hữu vi trải qua bốn tướng trạng sanh, trụ, dị, diệt; niệm này vừa sanh liền diệt, vừa diệt liền sanh, liên tụckhông gián đoạn.

– Tương tục vô thườngVô thường tiếp nối vô thường tạo thành một dòng chảy vô thườngtương tục: sanh, trụ, dị, diệt, rồi lại sanh, trụ, dị, diệt…

Luận Biện trung biên, quyển trung, phân tích vô thường thành ba loại: vô tính vô thường,sanh diệt vô thường và cấu tịnh vô thường.

– Vô tính vô thường: Còn gọi là vô vật vô thường. Tính biến kế sở chấp (các pháp vốn không có tự tính, do chúng sanh suy diễnvọng tưởng [biến kế] rồi chấp vào đó mà cho là có tự tính), vì tính của nó là thường Không. Thành duy thức luận thuật ký giải thích: Vì thể tính thường không, tức là cái tính ban đầu, mà luận Biện trung biên gọi là Vô hữu vật (không có vật gì cả), thật sự thì không có gì vô thường cả (vì không có vật thì làm gì có vật vô thường?), cho nên nói các hành vô thường chỉ là một cách nói tạm thời.

– Sanh diệt vô thường: Còn gọi là khởi tận vô thường. Các pháp nương vào nhau màsanh khởi, nương vào cái khác mà sinh khởi (y tha khởi), tức là đều do duyên mà sanh, cho nên nó cũng sẽ do duyên mà diệt tận, vì vậy mà gọi là sanh diệt vô thường.

– Cấu tịnh vô thường: Còn gọi là hữu cấu vô cấu vô thường. Các pháp viên thành thật cũng chuyển biến vô thườngbản chất của nó không có dơ hay sạch. Nếu ở trong dòngsanh tử mà nói thì gọi là dơ, nếu cắt đứt dòng sanh tử rồi thì gọi là tịnh, cho nên cấu hay tịnh đều vô thường.

Ngoài ra, luận Thuận trung, quyển hạ, cũng nói vô thường có ba loại là niệm niệm hoại diệt vô thườnghòa hợp ly tán vô thường và tất cánh như thị vô thườngĐại thừa nghĩa chương, ở quyển 2 và quyển 18 cũng đề xuất ba loại vô thường là phân đoạn vô thường,niệm vô thường và tự tánh bất thành vô thường. Về mặt tên gọi vô thường trong hai bộ luận vừa nêu khác nhau nhưng ý nghĩa thì tương đồng.

Luận Hiển dương thánh giáo, quyển 14 thì đề xuất sáu loại và tám loại vô thường. Sáu loạivô thường là:

a) Vô tính vô thường: Nghĩa là tất cả các pháp tính vốn không, là tính biến kế, chứ không phải thật có, như hoa đốm giữa hư không, tính của nó là thường không (thường không có thật).

b) Thất hoại vô thường: Các pháp đều hoại diệt và biến mất vô thường.

c) Chuyển dị vô thường: Chuyển dị là thay đổi thành cái khác, biến thành cái khác. Cácpháp thường đổi khác như thế, giống như đứa bé trong bào thai luôn chuyển đổi trong suốt mười tháng hoài thai thì mới lớn lên thành người được.

d) Biệt ly vô thường: Có hợp có tan.

e) Đắc vô thườngHiện tại thọ cái quả vô thường là do cái nhân vô thường đã tạo.

f) Đương hữu vô thường: Các pháp đang hiện hữu nhưng thực chất đang chuyển hóa liên tục qua bốn tướng trạng thành, trụ, hoại, không.

Tám loại vô thường là: 1. Sát-na vô thường, 2. Tương tục vô thường, 3. Bệnh vô thường, 4. Lão vô thường, 5. Tử vô thường, 6. Tâm vô thường, 7. Khí vô thường, 8. Thọ dụng vô thường. Trong đó, sát-na và tương tục là hai loại vô thường có mặt khắp mọi nơi; bệnh, lão, tử là ba loại vô thường ở nơi sắc thân; tâm vô thường là chỉ cho tâm thức luôn thay đổi; khí và thọ dụng là hai loại vô thường ở nơi sắc bên ngoài thân.

Liên quan đến tướng trạng vô thường, các kinh luận phần nhiều dùng những hình ảnh đểdiễn tả, như kinh Kim cương bát-nhã, dùng hình ảnh giấc mộngảo thuật, bọt nước, cái bóng, hạt sương, tia lửa điện để thuyết minh tất cả các pháp hữu vi đều vô thườngkhông thật.

Đại tạng pháp sốquyển 46, thì căn cứ vào Tông cảnh lục liệt kê tám thí dụ là nước xuôi về đông, mặt trời xế bóng, chớp lòe đá lửa, bóng câu qua khe cửa, đèn chong trước gió, sương đầu ngọn cỏ, cây khô vách núi, chớp lòe trước mắt để chỉ tính chất vô thường của các pháp.

A-tỳ-đạt-ma tạp luận, quyển 6, cũng nêu các tướng trạng vô thường, tóm lược có 12 loại, đó là tướng không có thật, tướng hoại diệt, tướng biến dị, tướng biệt ly, tướng hiện tại, tướng tự nhiên, tướng sát-na, tướng tương tục, tướng bệnh yếu, tướng tâm hành mỗi mỗi thay đổi, tướng hưng suy, tướng thế gian thành rồi hoại.

Ngày nay, khoa học tự nhiên dường như đã làm sáng tỏ thêm khái niệm vô thường củaPhật giáoHồi trước, người ta cho rằng, nguyên tử, đơn vị vật chất nhỏ nhất, là bất biến, không thay đổi; nhưng ngày nay người ta đã chứng minh được nguyên tử cũng thay đổi, không phải là bất biến, và cũng không phải là vật chất nhỏ nhất. Bên trong hạt nguyên tử còn có điện tử, trung tử… chúng có thể tính luôn luôn vận động kết hợp mà thành. Vật chất nhỏ bé nhất có thể nói là lạp tử, nhưng lạp tử cũng không phải là một vật chất cố định, bất biến; nó cũng thường xuyên biến hóa. Những khám phá mới của khoa học này ngày nay ai cũng biết. Vật chất hình thành từ những nguyên tử phức hợp, từ vật chất nhỏ nhất cho đến vật chất cực lớn như thiên thể vũ trụ, đều hình thành từ những hạt cơ bản có tính chất vật lý, hóa học biến hóa không dừng. Sự khám phá khoa học này đã thêmmột lần nữa chứng minh giáo lý ‘chư hành vô thường’ của Phật giáo luôn là chân lý.

Tuy nhiênPhật giáo không dựa vào khoa học để tồn tại! Phật giáo nhận thức các pháp vô thường không phải bằng phương pháp phân tích của khoa học mà bằng thực nghiệm hiện lượng hay trực giác chứng ngộ.

Chữ ‘pháp’ trong ‘chư pháp’ cùng một ý nghĩa với ‘chư hành’, đều chỉ cho tất cả mọi hiện tượng.

Vô ngã là không có cái ngã. Khái niệm về ngã, trong tư tưởng triết học và tôn giáo của Ấn Độ cổ đại thường chỉ cho bản thể hoặc thật thể vĩnh hằng, không bị sanh diệtbiến hóa.Phật giáo cho rằng, cái thật thể hay bản thể nằm ngoài kinh nghiệm nhận thức của con người, nó có tồn tại hay không chúng ta không có phương pháp nào để xác định nhận biết, cho nên gọi nó là vô ký, và do đó Đức Phật khuyên các Tỳ-kheo không nên tìm hiểuvề vấn đề này.

Dưới một ý nghĩa nào đó, Phật giáo không nói ‘ngã’ không có thật thể, nhưng Phật giáonói, ở trong thế giới của chúng ta, tất cả mọi pháp đều vô ngã. Do đó, khi nói ‘chư pháp vô ngã’ có nghĩa là tất cả mọi sự vật đều không có ngã.

Đại đa số quần chúng đều dễ dàng tiếp nhận ý nghĩa ‘chư hành vô thường’, nhưng đối vớiý nghĩa ‘chư pháp vô ngã’ thì ngoại đạo không thể chấp nhận được, cho nên, giáo lý ‘chư pháp vô ngã’ trở thành giáo lý duy nhất của Phật giáo.

Thuở Phật còn tại thế, các tôn giáo bấy giờ đều cho rằng tất cả mọi sự vật đều có bản thểtồn tại vĩnh viễn bất sanh bất diệtBản thể đó gọi là Ngã (atman). Tôn giáo bấy giờ khi đề cập đến Phạm, đề cập đến Ngã, tức là đều chỉ cho cái bản thểBản thể hay thật thể củavũ trụ gọi là Phạm (brahaman), còn bản thể hay thật thể của cá nhân thì gọi là Ngã (atman).

Phật giáo cho rằng, cái bản thể đó con người không thể nhận thức được, cũng không cóphương pháp gì để chứng minh nó có tồn tại hay không, cho nên Phật giáo gọi là vô ký, tức không xác định. Hơn nữa, cái bản thể hay thật thể này nó không có quan hệ gì đếnhiện tượng giới và thế giới của chúng ta, nó cũng không có lợi ích gì đến sự nghiệp tu hành giải thoát, do đó không cần phải đem nó ra đặt vấn đề để nghiên cứu. Cái thấy củaPhật giáo là tất cả mọi hiện tượng giới đều không có Ngã.

Khi Phật giáo Đại thừa hưng khởi, thuật ngữ Không (śūnya) và Không tính (śūnyatā) đượcsử dụng rộng rãi để nói đến Vô ngãVô ngã và Không là đồng nghĩa.

Thiền tông Trung Hoa cũng sử dụng từ ‘Vô’ để chỉ cho ý nghĩa Vô ngã. Cả hai thuật ngữ‘Không’ và ‘Vô’ đều không mang ý nghĩa hay liên quan gì đến khái niệm hư vô.

Phật giáo không đề cập đến vấn đề bản thể luận. Phật giáo nói đến Không và Vô, nhưng nó không mang ý nghĩa hay liên quan gì đến bản thể luận, mà nó phản ảnh sự thật trạng thái của hiện tượng giới là Không và Vô. Vô ngã là từ ngữ biểu thị trạng thái không tồn tạimột cái ngã của tất cả mọi hiện tượng.

Tất cả mọi hiện tượng đều Vô ngã và Không tức là chúng không có tự tính (niḥs-vabhāva), không có tính cố định, luôn vô thường; không tự sanh ra, không tự có mặt.

Tất cả các pháp đều không tự sanh ra và cũng không tự nó mất đi. Nghĩa là, các pháp không phải là bất sanhbất diệt, các pháp không có thực thể cố định. Khái niệm ‘cố định’ là chỉ cho sự tồn tại độc lập. Nếu con người có tính cố định thì người này không liên quan đến người khác. Nhưng trên thực tếxã hội nhân sinh đều có mối quan hệ mật thiết với nhau, không có cái gì tồn tại tuyệt đốiđơn độc, riêng lẻ. Tất cả mọi sự vật hiện tượng đềutồn tại trong một mối tương quan, liên hệ với thời giankhông gian và tương tác lẫn nhau.

Xã hộinhân sinh cũng không có hoạt động cố định, tất cả đều tùy thuộc vào những điều kiện nhân duyên mà biến hóa, thay đổi.

Trên thực tếVô ngã và Không có thể phân ra làm hai phương diện để nói, đó là Vô sở đắc và Vô quái ngại.

– Vô sở đắc (aprāpti), tức là không thể nắm bắt được (không chấp trước). Con người có một ý niệm cho rằng có cái ta và cái của ta, và còn có người nghĩ rằng những cái đó là cố định, trường tồn, và luôn mong nó cố định bất biến. Nhưng sự thật, không có cái gì để gọi là ta và của ta, bởi vì tất cả đều Vô ngã, đều là Không.

– Vô quái ngại (anāvaraṇa), tức là không còn chướng ngạiđạt được sự tự do tự tại. Đây là trạng thái đạt được khi tu tập thành công Vô sở đắc, không còn chấp trướcKhông chấp trước thì có được khả năng hoạt động tự do tự tại mà vẫn đúng như phápKhổng Tử cũng có nói là “Tùy theo chỗ ước muốn của tâm mà vẫn không ra ngoài khuôn phép”. Câu nói này cũng có ý nghĩa như trong đạo Phật, một khi đã Vô ngã, đã Không rồi thì tự do tự tại, không có gì có thể gây chướng ngạiLý tưởng của Phật giáo là hoàn thành nhân cách, đạt đến một cuộc sống thường nhật thong dong tự tạiĐức Phật dạo chơi trongTam giới chính là đạt được cảnh giới Vô chướng ngại này.

Vô ngã và Không là đặt bản thân mình vào trong trạng thái Không. Do đó, ở trong cái trạng thái Không ấy không có một cái Ta làm trung tâm cho mọi tham dục, không có cái Ta nhiễu hại, dọa nạt người khác, ganh ghét, nịnh hót, khinh miệt, oán hận hay luyến mộngười khác… Để thân tâm mình vào trạng thái Không là luôn luôn đứng ở lập trường của người khác, đứng ở lập trường của toàn thể, để rồi từ đó suy nghĩ chín chắn rồi sau đó mới hành động, và hành động mà không làm nhiễu loạn người khác. Đồng thời, đối với người và vật luôn luôn ôm ấp tấm lòng từ bi thương xót, không có sự đối lập giữa ta và người mà luôn luôn rộng rãi bao dung người khác. Vô ngã, như vậy, cuối cùng trở thànhĐại ngã chăng?!

Vô ngã là cái nhìn chính xác và như thật về xã hội và nhân sinh. Có thể nói, Vô ngã đồng nghĩa với Duyên khởi và Chư pháp thật tướng (tướng chân thật của các pháp).

Niết-bàn, nirvāṇa, trong ngôn ngữ Ấn Độ bao gồm những ý nghĩa: lửa tắt, hết, chết, hoàn toàn yên lặng, yên ổnvắng lặng hoàn toàn, chết và đi qua chỗ khác. Ngài Huyền Tráng dịch là viên tịch.

Người Ấn Độ dùng từ này để chỉ cho ngọn lửa bị tắt ngấm, hoặc bị gió thổi cho tắt; chẳng hạn, khi ngọn đèn bị tắt thì gọi là ‘đăng diệm Niết-bàn.’7

Các tôn giáo tại Ấn Độ đã sớm sử dụng từ ngữ này để chỉ cho cảnh giới lý tưởng tối cao. Luận Đại Tỳ-bà-sa liệt kê dị giáo có tới năm loại ‘hiện pháp Niết-bàn’, tức họ cho rằng sự hưởng thụ khoái lạc năm dục ở thế gian và đạt được bốn thiền định là Niết-bàn.8

Bà-la-môn giáo lấy sự tu trì đạt đến cảnh giới Phạm – Ngã hợp nhất, hoặc sau khi chếtsanh lên Phạm thiên là chứng ‘Phạm Niết-bàn’.

Từ đó, chúng ta biết rằng, nguyên thủy từ ‘Niết-bàn’ không phải là danh từ riêng biệt củaPhật giáoTuy nhiên, khi danh từ ‘Niết-bàn’ xuất hiện trong kinh điển Phật giáo thì nó đã mang nội dung ý nghĩa mới; và cho đến ngày nay thì từ ‘Niết-bàn’ đã trở thành một thuật ngữ đặc hữu và trang nghiêm của Phật giáo.

Trong kinh Đại bát-niết-bàn liệt kê Niết-bàn có 25 loại9; luận Tứ đế nêu Niết-bàn có 66 tên gọi khác nhau.10 Điều này cho thấy trạng thái an lạchạnh phúc có rất nhiều cấp độ khác nhau trong lộ trình đoạn hoặctu chứng.

Trong kinh luận Hán tạng, người ta phải dùng các từ vô vichân đếbỉ ngạn, vô hoại, vô độngvô ưuvô cấubất sinhgiải thoátvô úyan ổnvô thượngcát tường, vô hý luận, vô tránh… cho đến các từ chân nhưthật tướngNhư Lai tạngpháp thân v.v… để chỉ trạng thái hoặc tính chất của Niết-bàn.

Có quan niệm cho rằng, chết là Niết-bàn, như khi nói ‘nhập Niết-bàn’, nghĩa là một vịThánh giả trở lên từ bỏ xác thân này. Đó là một quan niệm sai lầm! Nếu nói rằng chết là Niết-bàn thì khi Đức Thích Ca Mâu Ni thành đạo dưới cội cây bồ-đề, ngay sau khi thành đạo, chứng Niết-bàn Ngài đã chết rồi! Cho nên, dưới cây bồ-đề Đức Phật chứng Niết-bàn và cái chết không liên quan gì nhau hết. Nên hiểu, như kinh Thắng Man đã nói, “Ngườichứng đắc a-nậu-đa-la tam-miệu-tam-bồ-đề tức là chứng đắc Niết-bàn.11

Các nhà phiên dịch khi diễn tả cái chết của một Thánh giả thì dịch là ‘bát-niết-bàn’ (parinirvāna). Chữ ‘bát’ (pari) có nghĩa là ‘hoàn toàn không còn sót lại’, vì vậy, bát-niết-bàn có nghĩa là thân và tâm cuối cùng của một vị A-la-hán đã hoàn toàn diệt hết, tức vô dưniết-bàn (Niết-bàn hoàn toàn, không còn sót lại gì hết). Hiển nhiêntrạng thái Niết-bàn này so với Đức Phật khi ngồi dưới cội cây bồ-đề hoặc một vị Thanh văn đang còn sốngchứng đắc ‘hiện pháp Niết-bàn’ có sự khác biệt.

Niết-bàn có nghĩa là ‘diệt’. Chữ ‘diệt’ này có nghĩa là diệt hết mọi phiền nãotai họa. Kinh Tạp A-hàm nói : “Tham dục đã được đoạn trừ vĩnh viễnsân khuể đã được đoạn trừvĩnh viễnngu si đã được đoạn trừ vĩnh viễn, tất cả mọi phiền não đã được đoạn trừ vĩnh viễn, đó là Niết-bàn.”12 Kinh Đại bát-niết-bàn cũng nói : “Hết khổ đau nghĩa là Niết-bàn.”13 Đó là thuyết minh chữ ‘diệt’ có nghĩa là tiêu diệt phiền não và khổ đau; phiền nãovà khổ đau tiêu diệt thì xuất hiện cảnh giới tịch tịnhan ổn, khoái lạc, gọi là Niết-bàn tịch tịnh.

Nam truyền và Bắc truyền đều có kinh Niết-bàn, và cả hai truyền thống đều rất coi trọngbài kệ trong kinh Niết-bàn là ‘chư hành vô thường, thị sinh diệt pháp, sinh diệt diệt dĩ, tịch diệt vi lạc’Tịch diệt là đời sống tràn đầy pháp hỷ, không chỉ Thanh văn mà ngay cả tinh thần của Bồ-tát cũng được nuôi dưỡng đời sống bằng pháp hỷ tịch diệt.

Câu-xá luận dùng hình ảnh ngọn lửa tắt ngấm để dụ cho trạng thái Niết-bàn mà Đức Phậtchứng được với tâm giải thoát cũng như vậy. Luận nói: “Giống như ngọn lửa tắt ngấm (ngọn lửa Niết-bàn), sự giải thoát tâm cũng như vậy. Có nghĩa là, giống như sự lụn tàn của ngọn lửa chỉ là sự đi qua của ngọn lửa mà không phải sự đi qua của một thực thểnào khác, sự giải thoát của tâm Thế Tôn cũng vậy, chỉ là sự diệt tận các uẩn chứ không có gì khác.14

Kinh Niết-bàn của truyền thống Bắc truyền hình như đã phủ định ý nghĩa trên của Câu- và cho rằng: Nếu nói Như Lai nhập Niết-bàn giống như củi hết lửa tắt thì nói như vậy là bất liễu nghĩa; còn nói Như Lai nhập vào pháp tính thì là liễu nghĩa.” Kinh này còn nói: “Nếu dầu đã cạn hết thì ánh đèn cũng tắt theo, ánh đèn đã tắt là dụ cho phiền não đã diệt hết, ánh đèn tuy đã tắt nhưng cây đèn thì vẫn còn; Như Lai cũng như vậy, phiền nãotuy đã diệt hết nhưng pháp thân thì vẫn thường tại.”15

Kinh Niết-bàn của truyền thống Bắc truyền là một tập hợp vô cùng phong phú về ý nghĩacủa Niết-bàn, như cho rằng Niết-bàn có đầy đủ ba đức tính là pháp thân, bát-nhã, giải thoát; hoặc có đầy đủ bốn đức tính thường, lạc, ngã, tịnh; hoặc có đầy đủ tám công đứcthường, hằng, an, thanh lương, bất lão, bất tửvô cấu, khoái lạc, giống như tám hương vị của đề hồÝ nghĩa của Niết-bàn như vậy cho thấy bản thể của Niết-bàn không hề rơi vàotrạng thái hư vôtịch diệt, ngược lại, Niết-bàn lấy thật tướng hoặc pháp thân làm bản thểvà có tác dụng làm cho sinh mạng vô cùng tận.

Trên phương diện lịch sửchúng ta nhận thấy rằng, thời kỳ Phật giáo bộ phái, Niết-bàn được phân thành hai loại, Hữu dư Niết-bàn và Vô dư Niết-bàn. Hữu dư Niết-bàn nói rằng, tuy đã đoạn tuyệt tất cả mọi phiền não để siêu thoát sanh tử, nhưng vẫn còn chịu quả báocủa nghiệp quá khứ (tức chỉ cho nhục thể), nên chưa thể nói là Niết-bàn hoàn toàn. Ở một phương diện khác, Vô dư Niết-bàn là đã đoạn tuyệt tất cả mọi phiền não và cũng đãđoạn tuyệt nhục thể, không còn dư y, tức là Niết-bàn hoàn toàn, như Phật nhập diệt. Bát-niết-bàn là chỉ cho Niết-bàn hoàn toàn.

Đến thời kỳ Phật giáo phát triển, Niết-bàn được nhận thức thêm là Tự tính thanh tịnh Niết-bàn và Vô trụ xứ Niết-bàn, thành ra có bốn loại Niết-bàn.

Tâm tính tức là Phật tínhxưa nay vốn thanh tịnh, có đủ các đức tính của Niết-bàn là thường, lạc, ngã, tịnh. Phật tính này chính là Tự tính thanh tịnh Niết-bàn. Vô trú xứ Niết-bàn là chỉ cho ‘nhờ vào đại trí mà không trụ ở trong sanh tử, nhờ đại bi mà không trụ nơi Niết-bàn’; Vô trú xứ Niết-bàn cũng có nghĩa là Niết-bàn chân thật, không trú nơi sanh tử, không trụ nơi Niết-bàn, không chấp trước, không trú trước. Trạng thái Niết-bàn của Đức Phật nhất định cũng giống như vậy.

Kết luận

Trong rất nhiều kinh, Đức Phật thường hỏi các Tỳ-kheo:

– Này các Tỳ-kheo! Năm uẩn là thường hay vô thường?

Các Tỳ-kheo bạch Phật:

– Bạch Đức Thế Tôn, là vô thường.

– Nếu là vô thường, là pháp thay đổi thì có ngã và ngã sở không?

– Không có ngã và ngã sở.

Đức Phật liền dạy:

– Này các Tỳ-kheo! Hãy quán sát như vậy! Quán sát các pháp vô thườngvô ngã liền đạt được giải thoát.

Căn cứ đoạn kinh văn này chúng ta có thể thấy ba pháp ấn liên quan và nhất quán với nhau. Trong ba pháp ấn, Niết-bàn tịch tịnh tức chính là giải thoát, cũng chính là không.Đức Phật từng dạy rằng: “Các hành đều là Không. Không thường, luôn thay đổi, không cóngã và ngã sở. Tính của các pháp là như vậy”.

Bản tính của tất cả các pháp hữu vi là không tịchKhông tịch cho nên vô thườngvô ngã; và vì vậy mà có thể thực hiện Niết-bàn. Ý nghĩa này được khai triển từ ý nghĩa không trongduyên khởi. Cho nên, trong kinh thường nói “Không tương ưng với duyên khởi”. Duyên khởi vốn được khai triển từ ý nghĩa khôngquán sát duyên khởi thì ngộ được lý tính của tất cả các pháp đều quy về không tịch. Đây là phương pháp và cũng là mục đích mà Đức Phật tuyên thuyết giáo lý Duyên khởi.

Phật nói Tam pháp ấn là từ tư cách hay tự thân của một chúng sanh hữu tình mà nói.Hữu tình là vô thườngvô ngã và không tịch. Trong các tôn giáo truyền thống của Ấn Độ,đặc biệt là các tôn giáo mới hình thành, mỗi tôn giáo đều cho rằng, trong cái thân năm uẩn sanh tử này, hoặc ngoài cái thân năm uẩn này, có tồn tại một cái ngã chân thật vàthường trụĐức Phật cho rằng, hữu tình là hữu tình của duyên khởiy theo duyên khởimà nói thì không có một cái gì là thường trụ, cái gì cũng vô thườngvô ngã.

Một số người cho rằng, hoàn cảnh thích ý là hạnh phúc, hoặc cho rằng duy trì được trạng thái tâm cảnh hòa bình, không khổ không lạc là an ổn. Nhưng theo tuệ giác của Đức Phật, như vậy cũng còn khổ! Cái khổ này, không phải là cái khổ ưu sầu, mà là cái khổ do vô thường. Tất cả mọi niềm vui hạnh phúcan ổn đều thay đổi, biến hóa không dừng. Cho dù có xứng tâm vừa ý cách mấy, bình an cách mấy, rồi thì cũng chỉ được một thời giancuối cùng đều hoại diệt. Có sanh ắt có tử, có trẻ ắt có già, có mạnh ắt có yếu, do đó mà nói ‘Vô thường là khổ’.

Bà-la-môn giáo có thuyết Thường ngã, đó là cái hạnh phúc vi diệu thù thắngĐức Phậtphản đối chủ thuyết này. Tất cả mọi sự mọi vật đều vô thườngbiến đổi thì làm gì có cáihạnh phúc vi diệu thù thắng cứu cánh viên mãn? Cho nên, Phật nói vô thường là khổ. Khổ nên vô ngã. Vì sao? Vì ngã có nghĩa là chủ tể, là làm chủ mọi sự, là tự do tự tại. Nhưng, tất cả mọi loài hữu tình đều do các pháp uẩn, giới, xứ mà thành và biến hóa vô thường, mà vô thường thì khổ, khổ thì không có tự tại, như vậy làm sao gọi là có ngã được? Đức Phật dạy, do vì chúng sanh hữu tình chấp có ngã cho nên mới tạo nghiệp để rồi lưu chuyển sanh tử không dừng. Chấp ngã là căn nguyên của sanh tử luân hồi. Nếu như giác ngộ vô ngã thì không còn cái nhân sanh tử; hoặc, nghiệp đều không khởi, ngay đó thấy được thật tướng các pháp, đạt được chánh giác, tất cả đều là tịch tịnh Niết-bàn.

Đức Phật dựa trên đời sống của chúng sanh hữu tình mà nói ý nghĩa tam pháp ấnChúng sanh hữu tình tồn tại trên thế gian này dựa vào năm uẩn và hoàn cảnh để năm uẩn tồn tại, tất cả những pháp này đều là vô thườngThế gian quả thật là vô thường, nhưng không thể nói vì vô thường nên thế gian khổ và vô ngã. Chẳng hạn, nói cây viết này là vô thường, điều này đúng, nhưng không thể nói vì vô thường nên cây viết khổ và vô ngã. Cây viết là vô tình, căn bản là nó không có cảm giác, tức là nó không biết khổ hay không khổ. Nó không biết khổ hay không khổ, cũng không biết tự do hay không tự do, và cũng không biếtchấp trước là ngã. Nó không có ngã, và cũng không có nhu yếu để đòi hỏi vô ngã. Cho nên, thuyết vô thường là khổ, khổ nên vô ngã là y cứ trên đời sống của chúng sanh hữu tình mà nói.

Đức Phật thuyết giảng ba pháp ấn với một phương pháp vô cùng thiện xảo, bởi đồng một mệnh đề mà vừa làm hai phương diện giải thoát: vừa là chân tướng của sự thật, là lý tínhphổ biến, vừa là quá trình thực tiễn.

Ba pháp ấn có nghĩa vô cùng sâu xa, nhưng trong mỗi pháp ấn đã bao hàm hai pháp ấnkia. Mỗi một pháp ấn đã có thể khai hiển nội dung chánh giác. Tức là, mỗi một pháp ấn đã có năng lực xa lìa chấp trướcchứng quả chân thậtY theo cánh cửa vô thường mà ngộ nhập, tức là vào cánh cửa Vô nguyện giải thoát môny theo vô ngã mà ngộ nhập, tức là vào cửa Không giải thoát môny theo Niết-bàn tịch diệt mà ngộ nhập, tức là vào cửa Vô tướng giải thoát môn. Bởi vì căn tính của chúng sanh hữu tình vốn bất đồng, cho nên hoặc nói như vậy, hoặc nói như kia, hoặc nói hai pháp ấn, hoặc nói ba pháp ấn, bốn pháp ấn

Thứ tự quá trình tu tập luôn in đậm tam pháp ấn: trước hết là quán vô thường, do vô thường mà quán thấy vô ngã, và thấy vô ngã là đạt được Niết-bàn. Trong kinh thường nói: yểm ly, ly dụcgiải thoát. Đây cũng là thứ tự tu tập theo tam pháp ấnQuán chiếu các hành vô thường cho nên yểm ly những tai họa của thế gian mà tìm cầu sự xuất lythông đạt các pháp vô ngã, không có gì là ta, của ta cho nên xa lìa được tất cả mọi ái dụcly dụcrồi thì tất cả mọi phiền não đều rơi rụng, do đó mà đạt được Niết-bàn giải thoát.

Trong bộ luận Đại trí độ, Bồ-tát Long Thọ nói: Vô thường là cửa không, không là cửa Vô sanh. Đây cũng là cách nói khác về thứ tự của ba pháp ấn, vì không tức là vô ngãvô sanh tức là Niết-bàn.

Có thể nói giáo lý ba pháp ấn vừa diễn tả chân tướng của các pháp, vừa là lịch trình, là bản đồ tu học. Đây là giáo pháp đặc biệt hy hữu và chỉ duy nhất có trong Phật giáo!

 Thích Nguyên Hùng

________________

(1) ĐTK/ĐCTT, T02, n°.0103, Phật thuyết thánh pháp ấn kinh, p.0500a10.

(2) ĐTK/ĐCTT, T02, n°.0104, Phật thuyết pháp ấn kinh, p.0500b25.

(3) ĐTK/ĐCTT, T02, n°.0104, Phật thuyết pháp ấn kinh, p.0500c02 :  此 法 印 者,即 是 三 解 脫 門,是 諸 佛 根 本 法,為諸佛眼,是即諸佛所歸趣故.

(4) Kinh dẫn thượng.

(5) ĐTK/ĐCTT, T15, n°.0599, Phật vị Hải Long vương thuyết pháp ấn kinh, p.1057b10.

(6) ĐTK/ĐCTT, T02, n°.0099, Tạp A-hàm, kinh số 262, Xa-nặc. Tương đương Pali, S.22.90, Channo.

(7) Câu-xá luận, quyển 16.

(8) ĐTK/ĐCTT, T27, n°.1545, p.994c.

(9) ĐTK/ĐCTT, T12, n°.0374, p.0512c.

(10) ĐTK/ĐCTT, T32, n°.1647, p.0389c.

(11) ĐTK/ĐCTT, T12, n°.0353, p.0220c.

(12) ĐTK/ĐCTT, T02, n°.99, p. 126b.

(13) ĐTK/ĐCTT, T12, n°.0374, p.0514c.

(14) ĐTK/ĐCTT, T29, n°.1558, p.35a.

(15) ĐTK/ĐCTT, T12, n°.0374, p.0402a.

GÓP NHẶT LỜI PHẬT TỔ VÀ THÁNH HIỀN

GÓP NHẶT LỜI PHẬT TỔ VÀ THÁNH HIỀN

  1. THÍCH DUY LỰC

Mục Lục:

-Lời Dịch Giả.

-Trích trong Lăng Nghiêm Tông Thông. -Phẩm Phổ Môn.

-Trích lục: kinh Duy Ma Cật. -Trích lâm gian lục.

-Trích lục trong Đại Huệ thiền sư thư.

-Trích trong phật học về tôn giáo của nhân loại.

-Pháp môn an tâm.

-Trích trong của tổ Đạt Ma.

-Ba lần cảnh cáo khi sắp nhập niết bàn của phật Thích Ca. -Duy tâm quyết.

-Tiểu sử của ngài Vĩnh Minh.

—o0o—

Lời Dịch Giả:

Phật pháp là pháp bất nhị, tâm trí không thể đến được, nhưng người đời nay ưa thích đem tâm trí suy lường lời Phật Tổ, nên không đến được chỗ rốt ráo giải thoát.

Chúng tôi góp nhặt những lời chân thật của Phật Tổ và Thánh Hiền để chứng tỏ “tâm ngôn lộ tuyệt”.

Thích Duy Lực.

—o0o—

TRÍCH TRONG  TỤC TẠNG

LĂNG NGHIÊM TÔNG THÔNG

TĂNG PHỤNG NGHI

Sơ ư văn trung, Nhập lưu vong sở. Sở nhập ký tịch, Động tịnh nhị tướng.

1

Liễu nhiên bất sanh, Như thị tiệm tăng, Văn sở văn tận.

Đoạn này như trong kinh đã nói: Giải thoát bước đầu tiên của căn này (nhĩ căn) được nhơn không (phá được nhân ngã chấp)

Tận văn bất trụ, Giác sở giác không.

Tức là trong kinh đã nói: Tánh không tròn đầy, sáng tỏ; được Pháp giải thoát (phá



được ngã chấp).

Không giác cực viên, Không sở không diệt.

Tức là trong kinh đã nói: Giải thoát pháp chấp xong rồi thì cái không cũng chẳng sanh

(phá được không chấp).

Sanh diệt ký diệt, Tịch diệt hiện tiền.

Tức là trong kinh đã nói: Do “Tam ma địa” (Chánh định) được “Vô sanh nhẫn” (nhẫn là “nhẫn khả” tức chứng ngộ).

—o0o—

PHẨM PHỔ MÔN

Có kệ rằng:

Chơn quán thanh tịnh quán, Quảng đại trí huệ quán,

Bi quán cập từ quán,

Thường nguyện thường chiêm ngưỡng. “Chơn quán” là “Nhị tướng chẳng sanh”.

“Thanh tịnh quán” là “Tận văn bất trụ”, “Giác sở giác không”.

“Quảng đại trí huệ quán” là “không giác cực viên” cho đến “Tịch diệt hiện tiền”. Với Phật Như Lai đồng một từ lực gọi là “Từ quán”.

Với các chúng sanh đồng một bi ngưỡng gọi là “Bi quán”,

“Không giác cực viên” tức là trong kinh đã nói: Thân tâm chẳng thể đến. “Sanh diệt đã diệt” tức là trong kinh đã nói: Sanh diệt cả hai đều lìa. “Tịch diệt hiện tiền” tức là trong kinh đã nói: Thế thì thường chân thật.

Lấy kinh để chứng kinh thì nghĩa tự đầy đủ. Ông Tô Tử Do (em của Tô Đông Pha) có luận: Lăng Nghiêm và Kim Cang là hai kinh khế hợp nhau.

2

Quán Thế Âm dùng văn, tư, tu làm đệ nhất viên thông, có lời nói rằng: “Sơ ư văn trung, nhập lưu vong sở” cho đến “Tịch diệt hiện tiền” Nếu được như thế, trong khảy móng tay thấu qua được ba lớp “Không” tức cùng chư Phật chẳng khác.

Về phần Kinh Kim Cang có nói đến người tứ quả:

–  Tu Đà Hoàn: là Nhập Lưu mà chẳng có sở nhập, chẳng nhập sắc, thanh, hương, vị , xúc, pháp, ấy gọi là Tu Đà Hoàn. Cho nên sự chứng của Tu Đà Hoàn đồng với “Sơ ư văn trung, nhập lưu vong sở” của Ngài Quán Thế Âm nói: “Nhập lưu chẳng phải pháp có, chỉ là chẳng nhập lục trần, an nhiên thường trụ, ấy là Nhập Lưu thôi”.

–  Cho đến Tư Đà Hàm gọi là “Nhất Vãng Lai” mà thật chẳng có vãng lai.

–  A Na Hàm gọi là Bất Lai mà thật chẳng có bất lai, bởi vì “Vãng” thì nhập trần, “Lai” thì trờ về căn bản.

Tư Đà Hàm dù đã được Vãng Lai mà chưa được chẳng vãng lai. A Na Hàm không những chẳng vãng mà cũng chẳng lai.

– Đến A La Hán thì cái ý Vãng Lai đều hết. “Vô pháp khả đắc”. Vậy thì tên gọi “Tứ quả” kỳ thực là một pháp. Chỉ trải qua ba lớp “Không”, nên có sự khác biệt của sâu cạn mà thôi.

Vậy lời của hai kinh vốn phù hợp với nhau, mà người thế gian chẳng hiểu nên phải nói trắng ra.

Theo Tăng Phụng Nghi thì Tô Tử Do là người đã gặp thiện tri thức, phát minh ý chỉ hai kinh, dù như mới lạ nhưng phải tự trong lòng phát xuất ra, cho đến câu: “Trong một khảy móng tay … cùng chư Phật chẳng khác” nếu chẳng phải đốn ngộ thì không thể nói lời này được.

Ghi Chú:

Chấp “Có” thì lấy “Không” để phá, đây là lớp thứ nhất. Chấp “Không” thì lấy “Không Không” để phá, đây là lớp thứ hai. Sau cùng “Không Không” cũng phải quét sạch, đây là lớp thứ ba.

—o0o—

TRÍCH LỤC: KINH DUY MA CẬT

PHẨM THỨ SÁU – BẤT TƯ NGHÌ

Duy Ma Cật nói với Xá Lợi Phất rằng:

–  Kẻ cầu pháp chẳng màng thân mạng, huống là sàng tọa.

–  Kẻ cầu pháp chẳng cầu: sắc, thọ, tưởng, hành, thức; chẳng cầu lục căn; lục trần; luc thức; chẳng cầu tam giới (Dục, Sắc, Vô Sắc).

–  Xá Lợi Phất! Kẻ cầu pháp chẳng chấp trước cầu Phật, chẳng chấp trước cầu Pháp, chẳng chấp trước cầu Tăng.

–  Kẻ cầu pháp chẳng cầu thấy khổ, chẳng cầu đoạn dứt tập khí phiền não, chẳng cầu chứng quả tu đạo. Tại sao?

3

–  Pháp chẳng hý luận, nếu nói: Ta phải thấy khổ, dứt tập khí, chứng diệt, tu đạo, thế là hý luận, chẳng phải cầu pháp.

–  Xá Lơi Phất! Pháp gọi là Tịch diệt, nếu hành theo sanh diệt là cầu sanh diệt, chẳng phải cầu pháp.

–  Pháp gọi là không nhiễm, nếu nhiễm nơi pháp cho đến Niết Bàn, thế là nhiễm trước, chẳng phải cầu pháp.

–  Pháp chẳng có chỗ hành, nếu hành nơi pháp, thế là chỗ hành, chẳng phải cầu pháp.

–  Pháp chẳng thủ xả, nếu thủ xả pháp thế là thủ xả chẳng phải cầu pháp.

–  Pháp chẳng xứ sở, nếu chấp trước xứ sở, thế là chấp trước xứ sở, chẳng phải cầu pháp.

–  Pháp gọi vô tướng, nếu theo tướng để biết, thế là cầu tướng chẳng phải cầu pháp.

–  Pháp chẳng thể trụ, nếu trụ nơi pháp thế là trụ pháp, chẳng phải cầu pháp.

–  Pháp chẳng thể kiến, văn, giác, tri, nếu hành theo kiến, văn, giác, tri, thế là kiến, văn, giác, tri, chẳng phải cầu pháp.

–  Pháp gọi vô vi, nếu hành hữu vi, thế là cầu hữu vi, chẳng phải cầu pháp.

Cho nên Xá Lợi Phất, nếu là kẻ cầu pháp thì đối với tất cả pháp: “ưng vô sở cầu”.

—o0o—

PHẨM THỨ BẢY – QUÁN CHÚNG SANH



Văn Thù hỏi Duy Ma Cật rằng: Bố Tát quán chúng sanh phải như thế nào?

Duy Ma cật đáp: Giống như nhà ảo thuật thấy người huyễn hóa của mình làm ra. Bồ Tát quán chúng sanh cũng như thế.

Văn Thù hỏi: Nếu Bồ Tát quán như thế làm sao làm hạnh Từ?

Duy Ma Cật đáp: Bồ Tát quán như thế rồi tự nghĩ “ta phải vì chúng sanh thuyết pháp này, như vậy tức là hạnh Từ chân thật”.

–  Làm hạnh Từ tịch diệt, vì vô sở sanh.

–  Làm hạnh Từ bất nhiệt (không nóng), vì không phiền não.

–  Làm hạnh Từ bình đẳng, vì tam thế đều bình đẳng.

–  Làm hạnh Từ vô tranh, vì không chỗ khởi.

–  Làm hạnh Từ bất nhị, vì trong ngoài chẳng hợp.

–  Làm hạnh Từ bất hoại, vì cứu cánh tận (hết).

–  Làm hạnh Từ kiên cố, vì tâm chẳng hoại.

–  Làm hạnh Từ thanh tịnh, vì pháp tánh thanh tịnh.

–  Làm hạnh Từ vô biên, vì như hư không.

–  Làm hạnh Từ A La Hán, vì phá được kiết tặc (giặc phiền não).

–  Làm hạnh Từ Bồ Tát, vì khiến chúng sanh được an vui.

–  Làm hạnh Từ Như Lai, vì được như thật tướng.

4

–  Làm hạnh Từ của Phật, vì giác ngộ chúng sanh.

–  Làm hạnh Từ tự nhiên, vì chẳng nhơn mà được.

–  Làm hạnh Từ bồ đề, vì bình đẳng một vị (mùi vị).

–  Làm hạnh Từ vô đẳng (không gì bằng) vì đoạn tất cả ái.

–  Làm hạnh Từ đại bi, vì dẫn dắt theo đại thừa.

–  Làm hạnh Từ vô yểm (không chán), vì quán KHÔNG, VÔ, NGÃ.

–  Làm hạnh Từ pháp thí, vì thương mến chẳng thiếu sót.

–  Làm hạnh Từ trì giới, vì giáo hoá kẻ phá giới.

–  Làm hạnh Từ nhẫn nhục, vì hộ giúp cho người.

–  Làm hạnh Từ tinh tấn, vì gánh vác chúng sanh.

–  Làm hạnh Từ thiền định, vì chẳng thọ thiền vị.

–  Làm hạnh Từ trí huệ, vì chẳng có lúc bất tri.

–  Làm hạnh Từ phương tiện, vì thị hiện tất cả

–  Làm hạnh Từ vô ẩn, vì tâm ngay thẳng thanh tịnh.

–  Làm hạnh Từ thâm tâm, vì chẳng có hạnh phức tạp

–  Làm hạnh Từ vô cuống (không nói dối) vì chân thật bất hư.

–  Làm hạnh Từ an lạc, vì được sự vui của Phật.

–  Hạnh Từ của Bồ Tát là như thế!

Văn Thù lại hỏi: Thế nào là Bi?

Đáp rằng: Công đức của Bồ Tát làm là chung cho tất cả chúng sanh. Hỏi: Thế nào là Hỷ?

Đáp: Thấy chúng sanh được lợi ích thì lòng sanh hoan hỷ. Hỏi: Thế nào là Xả?

Đáp: Làm việc phước đức mà không có sự hy vọng (Vô sở đắc). Văn Thù hỏi thêm: Đối với sanh tử có sợ, Bồ Tát phải dựa vào đâu? Đáp: Phải dựa theo sức công đức của Như Lai.

Hỏi: Muốn dựa theo công đức của Như Lai phải trụ nơi nào? Đáp: Phải trụ nơi độ thoát tất cả chúng sanh.

Hỏi: Muốn độ chúng sanh phải trừ cái gì? Đáp: Phải trừ phiền não cho họ.

Hỏi: Muốn trừ phiền não phải làm thế nào? Đáp: Phải hành nơi chánh niệm.

Hỏi: Thế nào là hành nơi chánh niệm? Đáp: Phải hành bất sanh bất diệt.

Hỏi: Pháp nào bất sanh, pháp nào bất diệt?

5

Đáp: Bất thiện chẳng sanh, thiện pháp chẳng diệt. Hỏi: Thiện, bất thiện lấy gì làm gốc?

Đáp: Lấy thân làm gốc. Hỏi: Thân lấy gì làm gốc? Đáp: Lấy tham dục làm gốc.

Hỏi: Tham dục lấy gì làm gốc?

Đáp: Lấy hư vọng phân biệt làm gốc. Hỏi: Hư vọng phân biệt lấy gì làm gốc?

Đáp: Lấy điên đảo tưởng (tư tưởng chấp thật) làm gốc. Hỏi: Điên đảo tưởng lấy gì làm gốc?

Đáp: Lấy vô trụ làm gốc. Hỏi: Vô trụ lấy gì làm gốc? Đáp: Vô trụ chẳng có gốc.

Nói đến đây Duy Ma Cật liền nhấn mạnh rằng: Văn Thù! Từ gốc vô trụ, lập tất cả pháp. (Như thế mới là thật Vô sở trụ vậy).

—o0o—

TRÍCH TRONG: LAI QUẢ THIỀN SƯ NGỮ LỤC

BÀI CỨU TÂM

TÂM tại sao nói cứu? Kỳ thật là do sự ứng dụng hằng ngày của chúng ta chỉ biết có thân, không biết có Tâm. Xưa nay chỉ biết nói Tâm tức là thân, thân tức là Tâm, mê lầm cho thân tâm là một thể, mà chẳng biết có vọng tâm, có chơn tâm cho nên bất cứ lúc nào, nơi nào cũng hết lòng tận sức xúi giục cái tâm ngu si này, lo cho cái thân này được thể diện, được cao sang, được vừa lòng. cứ cho cái thân đây cũng là ta (Tâm), đó cũng là ta, mà chẳng biết đã làm cho cái tâm Phật cũa ta ẩn giấu trong tạng phủ của cái thân này.

Tội nghiệp cho cái Tâm chẳng hiểu thấu thân này là cái vật gì, cứu cánh là ai, tại sao phải gánh vác cho một đống thịt này? Đi, đứng, nằm, ngồi chỗ này nói đùa, chỗ kia phá giỡn, nghe nhạc, xem hát, chỉ lo vừa lòng cho thân làm cho cái Tâm ngày đêm bận rộn, mà chẳng biết quay đầu lại để xem xét cái thân này là aI? Thân chẳng màng đến cái tâm lao nhọc mệt mỏi, cũng chưa từng cho Tâm được ngừng nghỉ chốc lát, hễ thân có bệnh thì Tâm phải lo gấp tìm thuốc men cứu chữa cho, hễ thân có tội thì Tâm phải lo gấp tìm cách cứu thoát cho, thân có vinh dự thì Tâm phải hoan hỷ giùm cho, để thêm vui mừng, khi thân sắp chết thì Tâm phải lo tìm chỗ chôn cất.

Cái Tâm luôn luôn vì cái thân lo này lo kia, lo mặc lo ăn. Chỉ cho thân này là ta, chưa từng có giây phút nào cho Tâm là Ta. Đến khi chết xuống âm phủ, Diêm La Vương buộc tội, không đòi buộc tội cái thân mà đòi buộc tội cái Tâm, cho tất cả nghiệp đều do Tâm tạo, chẳng do nơi Thân. Chừng đó khóc lóc kêu oan, ai dè bận rộn đến ngày nay mới biết Tâm ta bị thân lừa gạt! Cái thân đã lìa khỏi cái Tâm chẳng thở, chẳng nói, thiêu thành tro, chôn thành đất, than ôi!

6

Cái Tâm suốt đời bận rộn, chỉ biết lo giùm cho thân, cuối cùng làm cho Tâm ta đọa vào địa ngục, khổ sở biết bao! Đến nay mới ăn năn hối hận. Tại sao trước kia chẳng tự biết quấy? Cứ hết lòng tận sức lo cho cái thân! Làm cho Tâm ta không tránh khỏi thai trâu, bụng ngựa, ngạ quỉ, súc sanh. Suy nghĩ kỹ lại thật là ngu si! Mình cứ ở trong lục đạo gần gũi cái thân này rồi đến cái thân kia, bị thân này thân kia lừa gạt một lần, hai lần, ba lần v.v… biết đến khi nào mới thôi!

Thật là đau lòng!

Lai Quả chí thành trăm lạy, xin chư Đại Đức cứu giúp Tâm này. Đây gọi là CỨU TÂM.

—o0o—

TRÍCH TRONG LÂM GIAN LỤC



Ngài Văn Thù nói: “Nay làm những việc thiện vốn là chưa từng làm, tất cả pháp cũng vậy, đều đồng với trước kia” cho nên, ngay lúc làm mà chẳng làm vì chẳng có kẻ làm, đang lúc làm mà chẳng làm vì sự làm chẳng có tự tánh, mặc cho vạn pháp tung hoành, thường đồng với vô sanh. Nên biết: Nam châm nhất định là không có hút sắt, vô minh chẳng duyên chư hạnh.

Ông Bàng Uẩn lúc lâm chung có hai câu kệ rằng: Không hoa lạc ảnh,

Dương diệm phiên ba. Nghĩa là:

Hoa đốm trên không hiện ra hình bóng, Dương diệm nổi lên làn sóng.

Ngài Vĩnh Minh tán thán rằng: Lời này không lọt vào kiến chấp “có” và “không”, khéo được ý chỉ Vô sanh, kẻ học nên quán sâu vào đó.

Đại Trí Độ Luận nói: “Người thường cho đất là kiên cố, tâm vô hình thể, ấy là lời hư vọng”. Phật nói tâm lực là lớn nhứt, khi hành bát nhã ba la mật, có thể làm tan rã đại địa, làm thành vi trần. Địa có sắc, hương, vị, xúc, nặng nên chẳng có sở tác động.

Thủy thiếu hương nên có tác động hơn Địa. Hỏa thiếu hương và vị nên có tác động hơn Thủy. Phong thiếu sắc, hương, vị nên có tác động hơn Hỏa. Tâm chẳng có sắc, hương, vị, xúc nên sức mạnh lớn hơn cả. Người Tâm nhiều phiền não trói buộc thì tâm lực yếu kém, kẻ thiện tâm hữu lậu, dù chẳng có phiền não, nhưng vì có tâm chấp lấy pháp tướng, nên tâm lực cũng còn kém. Tâm nhị thừa vô lậu dù chẳng chấp lấy tướng, nhưng còn chấp lấy pháp, nên tâm lực còn có số lượng, chẳng sử dụng hết được.

Chư Phật và Đại Bồ Tát thường ở nơi Thiền định, Trí huệ vô lượng vô biên, đối với sanh tử và Niết Bàn chẳng có phân biệt. Tâm lực chẳng có gì chướng ngại, trong một niệm có thể làm tan rã mười phương tất cả hằng hà sa số tam thiên đại thiên thế giới thành bụi nhỏ. Nên biết cái sức lực của tâm lớn như thế, chỉ vì chúng sanh vọng chấp mà chẳng tự biết. Nói tóm lại: Thật tướng của tất cả các pháp, kỳ thực chẳng có khác biệt, chỉ vì trí huệ có cao thấp, nên tự cho là khác biệt mà thôi.

Tăng hỏi Ngưỡng Sơn Hòa Thượng: Hoà Thượng bình thường khai thị cho người học, thường vẽ tướng tròn là ý chỉ thế nào?

7

Đáp: Ấy là việc không đáng kể, nếu ông lãnh hội thì chẳng từ bên ngoài đến, nếu không lãnh hội thì cũng chẳng mất. Nay ta hỏi ông: Ông tham thiền học đạo, vậy các bậc Tôn Túc có chỉ trên thân ông cái nào là Phật Tánh của ông? Cho Nói là phải hay Nín là phải? Nếu cho Nói là phải thì như người mù mò lổ tai, cái vòi, răng của con voi; nếu cho Nín là phải, tức là vô tư, vô niệm. Cũng như mò cái đuôi của con voi, nếu cho chẳng nói chẳng nín là Trung đạo, như mò cái lưng của con voi, nếu cho tất cả đều phải như mò bốn chân của con voi, nếu tất cả đều chẳng phải thì thành ra kéo con voi lọt vào “Không Kiến”. Chính đang lúc những kẻ mù đều nói thấy con voi, đâu có biết ở trên con voi chỉ diễn ra những tên gọi sai biệt thôi. Nếu ông thấu suốt được lục cú (Nói, nín, chẳng nói chẳng nín, cũng nói cũng nín, tất cả đều phải, tất cả đều chẳng phải) thì đừng nên mò con voi là tốt nhất. Chớ nên nói cái giác chiếu soi hiện nay là phải, cũng chớ nên nói là chẳng phải. Cho nên Tổ sư nói:

Bồ Đề bổn vô thị, Diệc vô phi Bồ Đề. Cánh mích Bồ Đề xứ,

Chung thân lụy kiếp mê. Nghĩa là:

Bồ Đề vốn chẳng có thị phi tương đối, vì người mê chấp có Bồ Đề thật muốn tìm chỗ Bồ Đề, thì sự mê từ kiếp này sang kiếp khác còn hoài.

Bồ Tát Long Thọ nói: “Giả sử sanh có trước, sau mới có lão tử, chẳng có lão tử mà có sanh, thì sanh chẳng có lão tử”. (Nếu chẳng cần Lão Tử mà có sanh thì sự sanh đó độc lập, không cần có Lão Tử, nhưng chúng ta thấy rõ ràng sanh có lão tử, cho nên sanh có trước là không đúng).

Nếu trước có lão tử, sau mới có sanh, là chẳng có nhân, chẳng sanh mà có lão tử!

Nếu lấy hai bài kệ này để quán sự sanh tử của chúng sanh, cũng như muốn tìm chỗ bắt đầu của vòng tròn, là chẳng có chỗ đúng, cho nên chúng ta được biết: “Người xưa ngộ được ý này, ở nơi đi và trụ đều chẳng bị chướng ngại, là do sự quán được vạn vật bất nhị mà thôi”.

Kinh Duy Ma Cật nói: “Văn Thù khéo đến, chẳng có tướng đến mà đến, chẳng có tướng thấy mà thấy”.

Văn Thù đáp: Đúng vậy! Này cư sĩ! Nếu đến rồi thì chẳng còn đến nữa, nếu đi rồi thì không còn đi nữa. Tại sao? Vì kẻ đến không có chổ xuất phát, kẻ đi không có chổ đến, sự đã thấy không còn thấy.

Khởi Tín Luận nói: “Nếu Tâm có tướng thấy thì có cái tướng chẳng thấy. Chân tâm lìa thấy tức là cái nghĩa chiếu soi khắp nơi”. Nếu có tướng khứ lai và tướng thấy, thì mất cái nghĩa chánh rồi. Cũng như người thường nói: Tánh của gió vốn là động, thật thì không đúng. Gió vốn chẳng động mà có sức làm động vạn vật. Nếu gió vốn có động thì mất tự thể, chẳng còn có sức động nữa. Do đó được biết: Sự động là để tỏ bày sự chưa từng động, sự khứ lai và tướng thấy cũng vậy.

Phật xưa có bày kệ rằng:

Có người cuốc đất lộ, Lấy làm thành pho tượng, Kẻ ngu nói tượng sanh,

8

Người trí nói đất lộ,

Sau bị quan xét ra,

Lấy tượng đắp lại lộ,

Tượng vốn chẳng sanh diệt,

Lộ cũng chẳng mới cũ.

Bài kệ của Ngài Tường Công: Hoàng Long lão Hòa Thượng, Có lời thiền sanh duyên.

Sơn Tăng nói pháp Ngài, Nay vì ông kể ra.

Để cho ông thấu suốt, Mèo biết rình bắt chuột.

—o0o—

TRÍCH LỤC TRONG ĐẠI HUỆ THIỀN SƯ THƯ



Sợ hãi sanh tử mà gốc nghi nhổ chẳng hết, thì trăm kiếp ngàn đời trôi theo nghiệp mà thọ báo, trồi lên hụp xuống chẳng có lúc dừng, tốt nhất là mạnh dạn một phen nhổ sạch gốc Nghi, bèn có thể chẳng rời tâm chúng sanh mà thấy tâm Phật. Nếu có nguyện lực từ hồi trước, gặp bậc thiện tri thức chân chánh, dùng phương tiện khéo léo dẫn dắt thì có gì mà khó! Thấy chăng? Cổ Đức nói: “Sông hồ không có tâm làm chướng ngại người; Phật Tổ chẳng có ý gạt gẫm người. Chỉ tại đương nhân qua chẳng được, chớ chẳng nên nói sông hồ làm chướng ngại người. Ngôn giáo của Phật Tổ tuy chẳng gạt gẫm người, mà chỉ vì người học đạo nhận lầm phương tiện, ở trong một ngôn, một cú, cầu diệu, cầu huyền, cầu đắc cầu thất, do đó mới thấu triệt chẳng được, chớ chẳng nên nói Phật Tổ gạt người. Như người mù chẳng thấy ánh sáng mặt trời, mặt trăng là lỗi của người mù chớ chẳng phải lỗi của mặt trời, mặt trăng”.

Đây là học cái đạo lìa tướng văn tự, lìa tướng phân biệt, lìa tướng ngôn ngữ này vậy.

THƯ GỬI TRƯƠNG ÍCH CHÍ



Chúng sanh hằng ngày hiện hành vô minh, nên hễ thuận với vô minh thì sanh hoan hỷ, còn nghịch với vô minh thì đâm ra phiền não. Phật, Bồ Tát chẳng phải thế, các Ngài lại dựa vào vô minh để làm phật sự. Vì chúng sanh lấy vô minh làm nhà cửa, nghịch với vô minh là phá nhà cửa của chúng sanh, nên Phật, Bồ Tát thuận với vô minh là để theo cái chấp trước của chúng sanh mà dẫn dụ họ. Ngài Vĩnh Gia nói:

“Thật tánh vô minh tức Phật tánh, Thân không huyễn hoá tức Pháp thân” là cái đạo lý này vậy.

THƯ GỬI TRIỆU SƯ TRỌNG

9

Cái đạo lý này hướng lên trên sự việc tìm tòi thì nhanh, còn nếu hướng xuống dưới cái ý căn suy nghĩ tính toán thì càng thấy xa vậy. Do đó, ông già Thích Ca trên hội Pháp Hoa chỉ độ được đứa bé gái tám tuổi, trên hội Niết Bàn chỉ độ được một gã đồ tể, trên hội Hoa Nghiêm chỉ độ được một đồng tử. Xem cách thức thành Phật của ba vị đó, họ có từng hướng ra ngoài để cầu chứng đắc, cực khổ siêng năng tu hành gì đâu! Phật cũng chỉ nói “Nay ta vì ông bảo nhậm việc này”, chẳng hề hư dối vậy. Chỉ nói vì người bảo nhậm mà thôi, chứ chẳng nói có pháp có thể truyền, để cho ông hướng ra ngoài tìm cầu, rồi sau đó mới thành Phật.

May mắn có được thể cách như thế, tại sao không tin? Ví như lập tức tin nổi, chẳng hướng ra ngoài tìm cầu, cũng chẳng có chứng đắc ở trong tâm, thì bất cứ chỗ nào lúc nào cũng được giải thoát. Sao vậy? vì đã không hướng ra ngoài tìm cầu, thì trong tâm lặng lẽ yên tịnh, vì đã chẳng chấp có chứng đắc thì ngoại cảnh u nhàn.

BÀI KỆ của CỔ ĐỨC:

Phong động tâm diệu thọ,

Vân sanh tâm khởi trần.

Nhược minh kim nhật sự,

Muội khước bản lai nhân.

Dịch nghĩa:

Gió động tâm thổi cây,

Mây sanh tánh nổi trần.

Nếu rõ việc hôm nay,

Che khuất mặt bản lai

Giảng nghĩa:

Thấy gió động, tự tâm thổi cây, Biết mây sanh, tự tánh nổi trần. Nếu thấy biết rõ việc hôm nay, Tức là che khuất mặt bản lai.

Gió thổi, mây bay, cho đến tam tạng giáo điển, tất cả phật pháp đều là việc hôm nay.

—o0o—

TRÍCH TRONG PHẬT HỌC VỀ TÔN GIÁO CỦA NHÂN LOẠI

Tất cả tôn giáo trên thế giới đều phải có đủ các yếu tố sau đây: 1- Oai quyền.

2- Nghi thức.

3- Suy lường.

4- Truyền thống.

5- Thần trị và ân điển.

10

6- Thần bí.

Về tôn giáo của nhân loại, sáu yếu tố này đã phát huy được tác dụng trọng yếu, nhưng mỗi thứ yếu tố ấy đều có thể làm mất sự khống chế mà sanh ra các tệ đoan. Tệ đoan này làm cho thực cảnh của tôn giáo ngày càng hoang vu, hủ bại (mục nát), lạc đề, đầy thất bại và lẩn quẩn trong mê tín.

Phật Thích Ca quyết tâm rửa sạch miếng đất hoang vu này, để cho chân lý được mọc mầm. Phật giáo đối với sáu yếu tố này đều không có một chút dính dáng. Do đó làm cho người ta hoãng sợ, vì theo cách quan sát của người thường, nếu một tôn giáo mà thiếu sáu yếu tố này thì không thể tồn tại được.

Nhưng sự thực này đều được chứng tỏ như sau:

I- Phật Thích Ca Hoằng Dương Một Tôn Giáo Chẳng Có Oai Quyền.

Đặc quyền của Bà La Môn đứng trên bốn giai cấp ở Ấn Độ đều bị Phật quét sạch.

Phật nói với mọi người, chớ nên tin và ỷ lại thói quen của thế tục, chớ nên vì thấy một học thuyết ở trên kinh điển mà cho là phù hợp với tín ngưỡng của mình, hoặc vì lời khai thị của Đạo Sư mình, mà mình lại tin và mến nó cho nó là ngọn đèn của mình.

Chúng ta ở hiện tại cho đến sau khi chết chỉ tin nơi chính mình, chẳng cần sự tiếp tay của người khác. Chỉ có khả năng của chính mình mới đạt được cảnh giới tối cao.

II- Phật Hoằng Dương Một Tôn Giáo Chẳng Có Nghi Thức.

Phật cho rằng tất cả nghi thức điển lễ chỉ có hiệu lực bó buộc tinh thần của con người. Về điểm này, nhiều tác giả hình dung Phật giáo chẳng thuộc về lý tánh đạo đức tôn giáo nào cả.

III- Phật Hoằng Dương Một Tôn Giáo Chẳng Có Suy Lường.

Lý do này rất đơn giản. Đối với sự cầu tri giải của tham dục. Phật cho là không thể giúp trong việc khai mở trí huệ. Thí dụ như một người bị một mũi tên độc bắn trúng, không cho thầy thuốc chữa liền, mà còn để tìm hiểu mũi tên người bắn v.v… thì như thế, người bị thương sẽ chết trước khi tìm hiểu được.

IV- Phật Hoằng Dương Một Tôn Giáo Chẳng Có Truyền Thống.

Phật kêu gọi một tín đồ từ chổ bị đè ép nặng nề mà tự giải thoát, chớ nên tôn sùng ỷ lại và giữ lại những lời dạy bảo của đời trước truyền xuống. Nếu tín thọ phụng hành những giáo điều ấy, sẽ làm cho mình bị mê hoặc và đau khổ, biết đến khi nào tự giác, tự chứng được chính mình! Phật cho rằng nên cắt đứt truyền thống đời xưa là tốt nhất.

V- Phật Hoằng Dương Một Tôn Giáo Nhấn Mạnh Tự Lực, Không Cầu Ân Điển.

Vận mệnh của mình không do người khác định đoạt, dù là thần, tiên cho đến Phật cũng không giải thoát dùm cho mình được, mà phải nhờ tự lực mới giải thoát đến cùng tột.

VI- Phật Hoằng Dương Một Tôn Giáo Không Thần Bí.

Phật nói tất cả bói toán, tiên tri… đều là môn học thấp kém, không cho môn đồ làm những phép thần bí này. “Phàm dùng tà thuật để hiển bày kỳ lạ, đều chẳng phải đệ tử của ta, làm phép thần bí là một việc rất nguy hiểm”.

Khi Phật tại thế, Phật luôn luôn phòng ngừa sáu yếu tố có hại kể trên sẽ xâm nhập vào Phật giáo. Vậy mà sau khi Phật diệt rồi, những tệ hại của sáu yếu tố này lần lần tràng khắp.

11

Nhưng sự di hại này không làm mất bản chất chân thật của Phật giáo, mà chúng tôi nhận thức như sau:

1- Rất chú trọng kinh nghiệm trực tiếp.

Xưa nay, chưa có một tôn giáo nào hoàn toàn dùng cách phán đoán do kinh ngiệm trực tiếp để làm sáng tỏ lập trường kinh ngiệm trực tiếp của cá nhân, mới là sự khảo nghiệm chân lý tối hậu đối với mọi vấn đế. Chớ nên y cứ vào một luận lý hoặc suy lý hay biện luận nào. Một đệ tử chân chính của Phật cần phải tự mình chứng ngộ mới được.

2- Rất khoa học.

Kinh nghiệm trực tiếp dẫu cho là sự phán đoán sau cùng, nhưng mục đích của nó là làm sáng tỏ sự quan hệ nhân quả của thế hệ sanh tồn, nghĩa là: Bỉ tồn tại thì thử tồn tại, bỉ chẳng tồn tại thì thử chẳng tồn tại.

3- Rất thực dụng.

Phật xóa bỏ tất cả các suy lường và tìm cầu bên ngoài, mà tập trung chú ý vế sự giải quyết vấn đề thực tế. Lời dạy của Phật chỉ là phương tiện tạm thời, chẳng có giá trị nào khác. Cũng như chiếc bè chỉ để qua sông, khi qua đến bờ bên kia rồi, thì thành vô dụng.

4- Trị liệu.

Phật nói “Ta chẳng ý kiến của người. Ta chẳng hỏi tôn giáo của ngươi, Ta chỉ hỏi ngươi có bệnh gì?”

Phật nói “khổ và cách dứt khổ, bệnh và cách dứt bệnh, ta chỉ khai thị cho ngươi việc này”.

5- Nhân bản.

Phật thuyết pháp chẳng từ sự bắt đầu của vũ trụ, chỉ nói về thực tế của con người, nói về vấn đề của con người, tánh chất của con người và động lực phát triển của con người mà thôi.

6- Rất dân chủ.

Phật phê bình và đã kích chế độ giai cấp, nhất là sự thiết lập năng lực khuynh hướng về chế độ truyền thừa.

Phật sanh ra từ giòng vua chúa, thuộc giai cấp thống trị, lại còn là Tăng sĩ Bà La Môn

(có đặc quyền đứng trên bốn giai cấp ở Ấn Độ) mà vẫn quyết định đả phá giai cấp, chẳng màng địa vị xã hội của mình, lấy sự bình đẳng mà đối với đại chúng.

7- Tự tánh tự độ.

Phật pháp là vì sự lợi ích chung cho tất cả chúng sanh, nhưng rất chú trọng về phương tiện tu tập của cá nhân. Đối tượng của Phật thuyết pháp là là mỗi cá nhân, Phật muốn mỗi người đều nhìn ngay chính mình để đạt được Chánh đẳng Chánh giác. Cho nên Phật nói với A Nan rằng: “Ngươi hãy làm đèn sáng cho chính mình, ngươi phải làm nơi nương tựa cho chính mình, chớ nên nương tựa bên ngoài, phải siêng năng tu tập để giải thóat cho mình”.

Ghi Chú:

Chế độ truyền thừa: Cha làm vua thì con cháu là giai cấp vua; cha làm nô lệ thì con cháu là giai cấp nô lệ.

12

—o0o—

PHÁP MÔN AN TÂM CỦA TỔ ĐẠT MA

Lúc mê thì người đuổi theo Pháp (còn pháp chấp), lúc ngộ thì Pháp đuổi theo người (hết pháp chấp); mê thì sắc thân làm chủ Tâm thức, ngộ thì Tâm thức làm chủ sắc thân, hễ có khởi Tâm phân biệt so đo cái hiện lượng của tâm thức, thì đều như mộng huyễn, nếu Tâm thức tịch diệt, chẳng còn chỗ mống khởi, gọi là Chánh giác.

Hỏi: Thế nào là hiện lượng của Tâm thức?

Đáp: Thấy tất cả pháp Có, Có chẳng tự Có, do tự tâm chấp thật thành Có; thấy tất cả pháp Không, Không chẳng tự Không, do tự Tâm chấp thật thành Không, cho đến bất cứ pháp nào cũng vậy, đều do tự tâm chấp Có chấp Không mà thành.

Nếu tạo tất cả tội mà người ấy tự thấy được Pháp Vương của mình (kiến tánh triệt để), thì liền được giải thoát. Nếu ở nơi sự được ngộ thì sức dụng mạnh hơn, nơi sự mà thấy được pháp tánh (tự tánh) thì bất cứ ở chỗ nào đều chẳng mất chánh niệm, nơi văn tự được ngộ thì sức dụng yếu kém. Sự tức là Pháp, Pháp tức là Sự, Sự và Pháp chẳng hai chẳng khác, dẫu cho người chạy nhảy nhào lộn, đủ thứ vận dụng đều chẳng ra ngoài phạm vi của pháp giới. Nếu đem pháp giới để nhập pháp giới, ấy là kẻ ngu si, bất cứ làm việc gì đều chẳng ra ngoài pháp giới tâm, tại sao? Vì Tâm thể tức là Pháp giới vậy.

Hỏi: Người thế gian đủ thứ tu học, tại sao chẳng đắc đạo?

Đáp: Vì thấy có TA nên chẳng đắc đạo. TA tức là NGÃ. Bậc thánh gặp khổ chẳng lo, gặp vui chẳng mừng, vì chẳng thấy có TA, nên chẳng biết khổ vui, vì quên mình nên mới được đến chỗ hư vô, TA còn tự quên thì đâu còn sự vật nào mà chẳng quên!

Hỏi: Pháp đã là KHÔNG thì còn ai tu đạo?

Đáp: Có “Ai” mới cần tu đạo, nếu không có “Ai” thì chẳng cầu tu đạo. Cái Ai này chính là ngã, nếu không chấp ngã thì gặp sự vật gì đều chẳng sanh tâm phải quấy, phải do ta tự phải, mà sự vật chẳng phải, quấy do ta tự quấy, mà sự vật chẳng quấy, nơi tâm vô tâm, ấy gọi là thông đạt Phật đạo. Nơi vật mà chẳng khởi tri kiến gọi là đạt đạo. Hễ gặp sự vật nào cũng liễu đạt nguồn gốc của nó thì người ấy được khai mở Huệ nhãn.

Người trí tùy sự vật mà chẳng tùy tự kỷ (hết ngã chấp) nên chẳng có thuận nghịch lấy bỏ, kẻ ngu tùy tự kỷ (còn ngã chấp) chẳng tùy sự vật nên có thuận nghịch lấy bỏ. Chẳng thấy một vật gọi là kiến đạo (thấy vật chẳng chấp thật cũng như chẳng thấy), chẳng hành một vật gọi là hành đạo, ở tất cả nơi chẳng có nơi (ở tất cả nơi chẳng chấp thật cũng như chẳng nơi), ngay khi làm mà chẳng có năng làm, chẳng có sở làm, tức là thấy Phật. Lúc thấy có tất cả tướng tức là có cái kiến chấp để chấp tướng nên bị đọa địa ngục, do chiếu soi thấu triệt pháp tánh nên được giải thoát. Hễ có sự tưởng nhớ phân biệt, ấy đều là những việc của bên chảo dầu sôi, lò lửa than, liền hiện tướng sanh tử. Nếu thấy pháp giới tánh (tức là thấy tự tánh, cũng gọi là Niết Bàn tánh) chẳng có sự tưởng nhớ phân biệt, tức là pháp giới tánh.

Vì tâm chẳng phải sắc (vật chất) nên phi hữu, thường dụng mà chẳng gián đoạn nên phi vô, dụng mà thường không nên phi hữu, không mà thường dụng nên phi vô (chữ phi ở đây là công cụ để phá chấp, không được cho là chẳng phải).

—o0o—

13

BA LẦN CẢNH CÁO KHI SẮP NHẬP NIẾT BÀN CỦA PHẬT THÍCH CA

PHẬT sắp nhập niết bàn, khai thị lần cuối cùng có ba lần cảnh cáo. Lúc bây giờ Đức Thế Tôn từ sơ thiền đến nhị thiền, tam thiền cho đến nhập diệt tận định, rồi từ diệt tận định trở ngược lại, cho đến sơ thiền. Thuận nghịch như vậy ra vào chín bậc thiền định xong, nói với đại chúng rằng: “Ta dùng bát nhã thâm sâu, quán khắp tất cả lục đạo trong tam giới, căn bản tánh lìa, cuối cùng tịch diệt, đồng với tướng hư không, vô danh vô thức, tình chấp đoạn diệt, vốn là bình đẳng, chẳng cao chẳng thấp, chẳng thấy chẳng nghe, chẳng tri chẳng giác, chẳng thể trói buộc, chẳng thể giải thoát, vô chúng sanh, vô thọ mạng, chẳng sanh chẳng khởi, chẳng tận chẳng diệt, phi thế gian phi phi thế gian, Niết Bàn sanh tử đều bất khả đắc, nhị tế (trước, sau) bình đẳng, các pháp bằng nhau việc làm đồng như chẳng làm, cứu cánh yên tịnh. Từ pháp vô trụ, hành theo pháp tánh, dứt tất cả tướng, chẳng có một vật, pháp tướng như thế đều bất khả đắc. Những kẻ biết được gọi là người xuất thế gian, việc này chẳng biết gọi là sanh tử bắt đầu, các người cần phải đoạn dứt vô minh, diệt sự bắt đầu của sanh tử”.

Lần thứ nhì, cũng từ Sơ thiền cho đến Diệt tận định, rồi từ Diệt tận định trở ngược lại cho đến Sơ thiền. Thuận nghịch ra vào chín bậc thiền định xong, lại nói với đại chúng rằng: “Ta dùng Ma Ha Bát Nhã quán khắp hữu tình vô tình trong tam giới, tất cả người và pháp đều là cứu cánh, chẳng có kẻ trói buộc, chẳng có người giải thoát, vô trụ vô y (chẳng nơi nương tựa) chẳng thể nhiếp trì, chẳng vào tam giới, vốn là thanh tịnh, chẳng cáu bẩn, chẳng phiền não, bằng với hư không, bất bình đẳng, phi bất bình đẳng, tất cả tư tưởng động niệm trong tâm đều ngưng nghỉ, pháp tướng như thế gọi là đại Niết Bàn, chơn thật thấy được pháp này gọi là giải thoát, phàm phu chẳng thấy gọi là vô minh”.

Nói xong nhập Siêu thiền lần thứ ba, từ Sơ thiền cho đến Diệt tận định, rồi từ Diệt tận định trở ngược lại cho đến Sơ thiền, lại nói với đại chúng rằng: “Ta dùng Phật nhãn quán khắp tất cả các pháp trong tam giới, thực tế của vô minh tánh vốn giải thoát, tìm khắp mười phương đều chẳng thể được. Vì căn bản của vô minh chẳng có, nên nhánh lá của vô minh đều sẵn giải thoát, vì vô mình giải thoát nên lão tử đều được giải thoát. Do nhân duyên này nay ta an trụ nơi Thường Tịch Diệt Quang (ánh sáng thường tịch diệt) gọi là đại Niết Bàn”.

Lời cảnh cáo kể trên đều do lòng đại bi bất khả tư nghì của Phật, thuận nghịch nhập siêu thiền rồi nói ra. Kẻ gặp được sự dạy bảo này, nên lấy xương mình làm bút, lột da mình làm giấy, chích máu mình làm mực, viết ra để cạnh mình, chẳng nên giậy phút tạm quên, chẳng nên sát na mất sự chiếu soi. Theo ba lần cảnh cáo cuối cùng của Phật, quán tất cả pháp trong tam giới, nói bản tánh vô minh vốn là giải thoát, cho nên khắp mười phương trong pháp giới, hoặc hữu tình, hoặc vô tình, hoặc hữu tánh, hoặc vô tánh, núi sông, đất đai, cỏ cây, người, vật … Chẳng trong tam giới, chẳng ngoài tam giới, chẳng theo sanh tử, chẳng trụ Niết Bàn, đều đồng nhất tâm của chơn như diệu tánh. Nếu tín giải như vậy thì đốn ngộ được nhất thừa, chẳng còn lời bí mật nào hơn ý chỉ này!

Hỏi: Theo tục đế thì thánh phàm khác nhau, phàm phu vọng chấp thấy nghe, ngoài tâm kiến lập các pháp, bậc Thánh đã liễu ngộ nhất tâm, lại sao lại đồng thấy nghe như phàm phu?

Đáp: Bậc Thánh dù có thấy nghe, nhưng chẳng có chấp trước, luôn luôn diễn đạt vạn vật chẳng thật, đồng như huyễn hóa.

14

Như Kinh Đại Niết Bàn, Bồ Tát Ca Diếp bạch Phật rằng: Thế Tôn, nếu phiền não từ điên đảo tưởng sanh ra, thì tất cả các bậc Thánh đều thật có điên đảo tưởng, mà tại sao chẳng có phiền não, vậy nghĩa này là thế nào?

Phật hỏi: Tại sao nói bậc Thánh có điên đảo tưởng?

Ngài Ca Diếp nói: Thế Tôn, tất cả bậc Thánh thấy trâu cũng gọi là trâu, thấy ngựa cũng gọi là ngựa, thấy nam nữ, lớn nhỏ, nhà cửa, xe cộ và khứ lai đều cũng vậy, thế là điên đảo tưởng rồi!

Phật nói: Phàm phu có hai thứ tưởng, một là thế lưu bố tưởng (thế gian phổ biến lưu hành), hai là trước tưởng (tư tưởng chấp thật). Bậc thánh chỉ có thể lưu bố tưởng, chẳng có trước tưởng. Phàm phu vì sự cảm giác sai lầm, nơi thế lưu bố mà sanh ra trước tưởng, bậc Thánh vì hay chiếu soi thật tướng; nơi thế lưu bố chẳng sanh trước tưởng, nên phàm phu gọi là điên đảo tưởng; bậc Thánh dù biết nhưng chẳng gọi là điên đảo tưởng. Lại cảnh vốn tự không, đâu cần phải phá hoại sắc tướng rồi mới là không! Vì chơn tâm của bậc Thánh thường tự chiếu, chẳng nhờ nhân duyên mới sanh khởi, phàm phu thì chấp trước tri kiến, có năng có sở.

Nên Triệu Luận nói: “Hễ có sở tri thì có sở bất tri, chơn tâm của bậc Thánh vô tri nên vô sở bất tri, cái tri của bất tri mới được gọi là Nhất thiết tri”. Vậy Kinh nói: “chơn tâm của bậc thánh vô tri, vô sở bất tri là đáng tin lắm. Cho nên bậc thánh nơi tâm trống rỗng mà sự chiếu soi chẳng thiếu sót, suốt ngày tri mà chưa từng tri là vậy. Cũng như nước trong thì thấy bóng, đâu có sanh tâm năng sở, cảnh và tâm đều không, chẳng có cái tư tưởng giác tri”.

Trong kinh Lăng Già, Phật nói với Bồ Tát Đại Huệ rằng: “Cảnh thế gian như bóng tượng trong gương, và cảnh giới chiêm bao, nhưng chẳng phải trước mắt của bậc thánh không có cảnh thế gian. Phàm phu vì tư tưởng mê lầm nên đuổi theo cảnh chấp thật, gọi là vô minh điên đảo, chẳng phải minh trí. Bậc Thánh thấy cảnh đồng như phàm phu, mà chẳng có tâm niệm chấp trước, nên chẳng gọi là điên đảo”.

Giải thích rằng: Như thí dụ kể trên tỏ rõ cảnh chỉ có một, mà sự thấy có khác. Bậc Thánh chẳng phải không thấy cảnh thế gian, mà khi thấy đồng như thấy mặt trăng trong nước và bóng tượng trong gương vậy.

Hỏi: Sự thấy của phàm phu có năng thấy sở thấy, nên tâm và cảnh rõ ràng, vậy thì so với sự thấy của bậc Thánh làm sao phân biệt?

Đáp: Sự thấy của bậc Thánh thì Có và Không đồng thời chiếu soi, trong ngoài chẳng trụ, như tiếng dội trong hang, bóng hiện trong gương mà chẳng khởi tâm tác ý, sáng tỏ nhiệm mầu, tịch mà thường chiếu, nên nói là thường ở trong chánh niệm, cũng gọi là chánh tri. Kỳ thật, chẳng phải hữu niệm hữu tri, cũng chẳng phải vô niệm vô tri. Nếu chỉ vô niệm thì tịch mà mất sự chiếu soi, nếu chỉ có chiếu soi thì chiếu mà mất sự thường tịch, cả hai đều chẳng chánh. Chánh là ở chỗ Tịch và Chiếu đi song song với nhau.

Trong HOÀN NGUYÊN TẬP nói: “Tự tánh khởi chiếu, chiếu soi tất cả, liễu liễu tri mà vô sở tri, liễu liễu kiến mà vô năng kiến, trong ngoài sáng tỏ, cùng khắp pháp giới, cũng gọi là vô chướng ngại, nhãn của Phật TỲ LÔ GIÁ NA, tràn khắp mười phương chiếu soi tất cả quốc độ Phật” tức là nghĩa này vậy.

Lại nói: Tâm hay làm Phật, hay làm chúng sanh, hay làm thiên đàng, hay làm địa ngục, hễ tâm có sai biệt thì muôn ngàn cảnh giới sanh khởi, hễ tâm bình đẳng thì pháp giới trống rỗng yên tịnh. Tâm phàm thì tam độc nổi lên, tâm thánh thì lục thông tự tại, tâm không thì nhất đạo trong sạnh, tâm hữu thì muôn cảnh tung hoành, như tiếng

15

vang trong hang, lời hùng dội tiếng mạnh, như gương soi tướng, hình lõm hiện bóng co, thế thì biết vạn hạnh do tâm, tất cả tại ta. Bên trong hư thì bên ngoài chẳng thật, bên ngoài tế thì bên trong chẳng thô, thiện nhân tất gặp thiện duyên, ác hạnh khó tránh ác cảnh, sự vui của thiên đàng, sự khổ của địa ngục đều là tự tâm làm ra, chẳng phải người khác lãnh thọ, chẳng do trời sanh, chẳng do đất mọc, chỉ tại nhất niệm ban đầu của mình, nên có sự thăng trầm như thế.

Muốn được bên ngoài an hòa thì bên trong cần phải bình tĩnh, tâm không thì cảnh tịch, niệm khởi thì pháp sanh, nước đục thì làn sóng đen tối, nước trong thì bóng trăng sáng tỏ. Sự cần thiết của người tu hành đều chẳng ra ngoài những việc kể trên, gọi là cửa ải của chúng diệu, cũng là quê nhà của vạn linh, căn bản của thâm trầm và nguồn gốc của họa phước. Chỉ cần tự tâm luôn luôn được chánh niệm, đâu thể nghi ngờ cảnh giới bên ngoài! Cho nên, hễ lìa được tội hạnh, phước hạnh, bất động hạnh của chúng sanh, thì chẳng có quả báo khổ vui của tam giới, hễ lìa được kiến văn giác tri của chúng sanh thì đâu có cảnh giới của ngũ uẩn, lục căn, lục trần và lục thức! Nên biết, mê ngộ do thức, nhiễm tịnh do tâm, ấy cũng là mục tiêu của tiền triết hậu học, chỉ thị của muôn ngàn Kinh Luận vậy.

Trong kinh Lăng Già có bài kệ rằng: “Tâm niệm như nắm đất, làm ra như chén bát

(chén bát dụ cho chúng sanh, nắm đất dụ cho tự tâm), mỗi thứ dụ khác nhau, tất cả do tâm tạo”. Nếu nhất niệm chẳng sanh thì các duyên tự dứt, nên nói: “Nhất niệm tâm chẳng sanh thì các duyên tự dứt, nên nói: “Nhất niệm tâm chẳng sanh, vạn pháp không sai”. Hiện nay, hoặc tham sanh sợ chết; hoặc lo sống lo già; hoặc bỏ vọng bỏ thân, tùy theo tư tưởng mà tạo tác, nghiệp quả xoay chuyển mãi không dừng. Nếu liễu đạt sanh tử vô sanh, vọng tức vô vọng, một niệm tâm tịch, vạn lự (tất cả tâm và pháp) đều tiêu. Vậy thì biết hễ tâm ngộ là xong, chẳng còn pháp nào hơn nữa.

—o0o—

DUY TÂM QUYẾT



Nguyên Tác: Vĩnh Minh Thiền Sư



Dịch Giả: Thích Duy Lực

Nói đến chữ Tâm chẳng phải chơn, vọng, hữu, vô có thể phân biệt được; chẳng phải văn tự lời nói có thể diễn tả được. Nhưng các bậc Thánh ca ngợi, các Hiền triết giải thích, ngàn lối khác nhau, chỉ là tùy theo đương cơ mà giả lập phương tiện, cuối cùng đều qui về một pháp mà thôi.

Nên kinh Bát Nhã nói Bất nhị, Pháp Hoa nói Nhất thừa, Tư Ích nói Bình đẳng Như như, Hoa Nghiêm nói Thuần chơn Pháp giới, Viên Giác Kiến lập tất cả, Lăng Nghiêm Bao gồm mười phương, Đại Tập Nhiễm tịnh dung thông, Bảo Tích Căn trần hòa hợp, Niết Bàn An nơi bí tạng, Tịnh Danh Đạo tràng khắp nơi… tất cả tổng nhiếp bao gồm, tỏ hết sự và lý chẳng có thiều sót. Cho nên một pháp ngàn tên, tùy duyên lập hiệu, người học đạo chớ nên mê lầm việc tùy sự lập danh, kẹt vào lời nói phương tiện mà cho chúng sanh là giả chư Phật là thật! Nếu ngộ được nhất pháp thì vạn pháp viên thông, sự mắc kẹt nhiều kiếp ngay đó tan rã, vô biên diệu nghĩa nhất thời đều thông, thấu triệt nguồn gốc của tâm pháp, rõ hết phương tiện của chư Phật, chẳng tốn một chút công lực, chẳng dời một bước mà du lịch hằng sa thế giới, không một Phật sát đạo tràng nào mà chẳng đến, không một pháp hội nào mà chẳng dự, không một tướng nào mà chẳng phải thật tướng, không một nhân nào mà chẳng viên nhân (cái nhân tròn đầy bao gồm tất cả tâm pháp), hằng sa Như Lai rõ ràng ngay trước mắt, mười

16

phương Phật pháp sáng tỏ trong bàn tay, núi sông cao thấp cùng chuyển căn bản Pháp luân, hàm linh lớn nhỏ phổ hiện sắc thân Tam muội. Ở một chỗ mà mười phương cùng hiện, giảng một âm mà pháp giới đồng nghe, nói huyền nói diệu mà chẳng hoại pháp thế gian, muôn ngàn biến hóa mà chưa dời chỗ thật tế. Cùng tam thế chư Phật nhất thời hành đạo, với mười loại chúng sanh đồng chứng Niết Bàn, đánh trống Phật pháp nơi cung ma, sấm sét Phật pháp nơi xứ tà, đi ngược mà tự thuận, nơi cương mà tự nhu, lên cao mà chẳng nguy, nước đầy mà chẳng tràn, ở yên trên đất tuyệt học, sâu vào nguồn gốc vô vi, nhập cửa huyền của chúng diệu, dạo cảnh giới của thật tướng.

Chẳng một pháp vốn có, chẳng một pháp mới thành, diệt trung biên, tuyệt tiền hậu, ấn đồng dị (đồng và dị cùng trong một pháp ấn), nhất khứ lai. Muôn cảnh cùng quán, nhất tâm bình đẳng, tiếng Phật thường nghe, huệ quang thường chiếu, đây là Đại Tịch Tam Muội Kim Cang định môn Thánh phàm bằng nhau, cổ kim đều vậy. Như tánh ướt của giọt nước với biển cả vốn đồng, sự dung nạp của cái lổ nhỏ bằng hạt cải so với hư không chẳng khác, kẻ tin được thì công siêu nhiều kiếp, kẻ ngộ được thì rõ trong sát na.

Cái pháp môn của nhất tâm này thật là đại đạo chẳng có phương sở, tụ tập bụi trần mà chẳng phải hợp, tan rã quốc độ mà chẳng phân (phân tán), hòa quang mà bất quần (chẳng phải nhiều chúng hợp lại), đồng trần mà chẳng nhiễm, siêu xuất mà chẳng lìa, dung hợp mà chẳng tụ, nuôi dưỡng Thánh phàm mà chẳng có hình tướng thật chất để thấy, kiến đạo pháp giới mà chẳng có tên họ để gọi, che khắp cỏ cây, phủ khắp cổ kim, cùng khắp hư không pháp giới, bầu trời chẳng thể che lấp bản thể, thường chiếu thường hiện, địa ngục chẳng thể ẩn dấu ánh sáng, vô trụ vô y, trần lao chẳng thể đổi cái tánh, phi thuần phi tạp, muôn pháp chẳng thể dấu cái chơn, vắng lặng mà âm thanh khắp nơi, vô tướng mà hình tượng đầy trời, dung hợp lẫn nhau mà cảnh vật muôn ngàn sai biệt, hình tướng sum la chỉ là một, chẳng tụ chẳng chia, chẳng vì việc hỏng mà mất bản thể, cũng đồng cũng khác, tùy duyên mà chẳng cần giữ tánh, tức tướng là tánh nên chẳng ngại kiến lập; tức lý là sự nên chẳng hoại chơn thường. Dùng cái không của hữu, đâu ngại đủ thứ sanh khởi; dùng cái động của tịnh, đâu ngại muôn cảnh tịch lặng, nói một thì lớn nhỏ khác nhau, nói khác thì cao thấp đều bằng, nói có thì chơn lý tịch diệt, nói không thì sự dụng chẳng bỏ, dù sanh mà thường tịch, tướng thế gian trống rỗng, dù động mà thường trụ, muôn pháp chẳng dời; dù ẩn mà thường khởi, thích ứng tùy cơ. Chẳng giả mà ảo tưởng hòa hợp, chẳng thật mà chơn tánh trạm nhiên, chẳng thành mà đủ loại cùng sáng, chẳng hoại mà các duyên tự tuyệt. Cảnh dù hiện mà chẳng có tánh hiện, trí dù chiếu mà chẳng có công chiếu, tịch và dụng chẳng khác, năng và sở chỉ một. Đồng như gương sáng mà vạn tượng chẳng thể giấu hình, tánh như hư không mà các tướng chẳng rời bản thể, làm tạng thường trụ, làm cửa biến thông, trạm nhiên kiên cố thường tùy vật biến hóa, lăng xăng tạo tác mà chẳng động được chơn như, thân nam ẩn, thân nữ hiện, phương Đông nhập, phương Tây xuất, đang còn mà thường diệt, đang nắm mà thường buông, phổ biến mà ánh sáng chẳng động, khắp nơi mà một vật chẳng có, một hạt bụi gồm vô biên quốc độ, một niệm tưởng lập vô tận cổ kim. Tức tịnh thường nhiễm ở thật tướng mà chẳng phải thăng (cấp bậc cao), tức đục thường trong, vào lục đạo mà chẳng phải đọa.

Nhìn bên ngoài chẳng dư, nhìn bên trong chẳng thiếu, đầy mắt mà chẳng thấy, đầy tai mà chẳng nghe, đầy lòng mà chẳng biết, đủ lượng mà chẳng hay, đã thành mà chẳng cũ, nay hiện mà chẳng phải mới, chẳng mài mà tự sáng tỏ, chẳng chùi mà tự trong sạch, chơn tánh độc lập, diệu thể thường trụ, linh quang xán lạn, công đức đầy tràn.

Diệu dụng của hàm linh phổ hội, làm vua của muôn Pháp, Tam thừa và Ngũ tánh

 

(năm thứ chủng tánh: tam thừa, ngoại đạo và bất định chủng tánh) qui tụ, làm mẹ của

17

ngàn Thánh, độc tôn độc quý, chẳng gì sánh bằng, là chơn pháp yếu, là thật đại đạo, tông tích nhiệm mầu chẳng định, tùy theo tánh vật mà vuông tròn, diệu dụng thích ứng tự nhiên, tùy theo căn cơ mà ẩn hiện, cho nên gốc sanh ngọn mà ngọn tùy gốc, thể dụng lẫn nhau; chơn thành tục mà tục lập chơn, thánh phàm cùng tỏ; chính ta giúp người mà người giúp ta chủ bạn cùng tham.

Chúng sanh thành Phật mà Phật độ chúng sanh, nhân quả rõ ràng. Cảnh chẳng tự tánh mà người khác thành tự kỷ, tâm chẳng tự tánh mà tự kỷ thành người khác, lý chẳng thành tựu mà một tức nhiều, sự chẳng thành tựu làm nhiều tức một, tướng dù giả mà âm thầm một thể, tánh dù thật mà thường nơi vạn duyên. Dù hiển lộ mà tìm cầu rất khó, dù siêu tuyệt mà đại dụng chẳng ngại, hiện ra ảo tượng nơi một tánh mà dung chơn (dung hợp Chơn đế), Tịch diệt linh thiêng, nhờ sum la mà hiển tướng. Đế và trí

(Đế: Chơn đế, Tục đế. Trí: Quyền trí, Thật trí) phát minh lẫn nhau, nhiễm và tịnh huân tập lẫn nhau, tùy sức yếu mạnh mà chìm nổi vô thường, tùy duyên tụ tán mà nắm buông chẳng định, nhiếp nhau thì vi trần chẳng hiện, giúp nhau thì muôn cảnh đều sanh, đến như bóng trăng bỗng hiện trong nước, đi như đám mây bỗng tan trên trời, động tịnh vô ngại, trống rỗng thấu nhập, tương sanh tương khắc, linh thông khó lường, chẳng trong chẳng ngoài, diệu tánh khắp nơi.

Biển trí mênh mông dung nạp tất cả chẳng kẻ thiếu sót, linh châu (tự tánh) sáng tỏ, chiếu khắp mười phương chẳng từng mảy may ẩn giấu. Như vàng thiệt tùy theo đồ dùng làm ra đủ thứ khuôn hình, muôn ngàn sai biệt mà chẳng ngại, như trong lặng nối nhiều làn sóng, hiển tướng mà bản thể chẳng chút mất mát. Đều đúng đều sai, cũng tà cũng chánh, chẳng có mà thị hiện có, mơ hồ như trong mộng, chẳng thành mà tựa như thành, thấm thoát như huyễn hóa. Tùy nguồn không mà sanh diệt, pháp pháp vô tri, theo biến ảo mà thịnh suy, duyên duyên tuyệt đối (đối đãi). Cho nên, đỉnh núi chót vót mà chẳng vực thẳm, biển rộng không đáy mà chẳng thâm sâu, tam độc, tứ đảo (điên đảo) mà chẳng phải phàm, bát giải lục thông mà chẳng phải Thánh, đồng ở đất chơn như tịch diệt, cùng vào cửa bất nhị vô sanh. Tạo tác trong đạo giải thoát, trùng trùng vô tận hiển hiện trong bất tư nghì, mỗi mỗi khó tìm, đâu thể kiến lập thủy chung, chỉ định xứ sở! Đâu cần sùng chơn chê vọng, chán dị ham đồng!

Lại muốn hoại thân thể huyễn hóa, muốn dứt ý thức chiêm bao; mà chẳng biết mỗi niệm đều là Thích Ca ra đời, mỗi bước đều là Di Lặc hạ sanh, phân biệt là hiện cái tâm của Văn Thù, động tịnh là hành cái hạnh Phổ Hiền, mọi cửa đều là cam lồ, mọi vị đều là đề hồ, thường ở nơi thế giới Liên Hoa Tạng. Chói rọi không vật nào chẳng soi thấu, rõ ràng sáng tỏ đầy mắt, khỏi nhờ biện tài diễn tả, chẳng cần thần thông hiển thị, động tịnh thường gặp, sáng tối chẳng lìa, chẳng phải xưa thạnh nay suy, đâu phải ngu chìm mà trí hiện!

Nói nín thường khế hợp, đầu đuôi thầm dung thông, Đạt Ma đâu cần đến Đông Độ, bảy Phật đâu cần thị hiện trên đời! Hễ tâm không thì trời đất hư tịch, tâm hữu thì quốc độ sum sê, niệm khởi thì sơn nhạc lay động, niệm lặng thì sông ngòi yên tịnh, ứng cơ cao tột thì lời lời liễu nghĩa, trí huệ sáng tỏ thì niệm niệm hư huyền, căn khí lớn thì pháp pháp đầy đủ, độ lượng thì trần trần vô tận, ý địa trong thì thế giới sạch, tâm thủy đục thì cảnh tượng tối, đề ra một mà bao gồm toàn bộ, khang trang bình đẳng, sẵn sàng cụ túc, chỉ ở nơi chánh quán mà thôi.

Muôn pháp vốn do người tạo, chơn như tự đủ nhiều đức, vô niệm mà công đức sẵn có, vô tác mà diệu hạnh đều viên. Chẳng tạo mà thành, linh trí sẵn sàng, chẳng tìm tự đắc, diệu tánh thiên chơn, mới biết lý trí viên dung, đại đạo chẳng ở bên ngoài, tuyệt một hạt bụi mà độc lập, có tướng nào để tung hoành? Vì vậy, ngay nơi âm thanh tức là nghe, ngoài sự thấy chẳng có pháp khác (bản văn cũng là bản kiến, cùng khắp

18

không gian và thời gian) sắc đẹp chẳng thể mê hoặc, âm diệu chẳng thể lôi chìm, như nước biển hội đủ mùi vị của ngàn sông, như núi Tu Di nuốt hết sắc tướng của quần đảo, không một tên chẳng hoằng danh hiệu của Như Lai, không một vật chẳng tỏ hình tướng chư Phật, cây cối nhà cửa tự tỏ diệu tướng vô biên, khỉ kêu chim hót đều nói diệu âm bất nhị, si ái thành nguồn chơn giải thoát, tham sân tỏ đại dụng Bồ đề, vọng tưởng khởi mà Niết Bàn hiện, trần lao sanh mà Phật đạo thành. Từ bản thể làm nên mà Hóa thân, Báo thân tịch lặng, tùy duyên hiển hiện mà Pháp thân đầy đủ khắp nơi, thật là chỗ quy về của giáo pháp, linh ngộ của Thánh Hiền, thực tế của chúng sanh, căn bản của vạn vật, đại cương của chánh pháp, bản ý của xuất thế, đường lối của Tam thừa, bến đò của Phật đạo, linh nguyên của Bát Nhã, quê nhà của Niết Bàn.

Bởi vì diệu lý mầu nhiệm sâu xa, huyền chỉ hy hữu khó lường, kẻ cuồng huệ uổng nhọc tinh thần, kẻ si thiền chỉ có thể tự trói. Kỳ thật thì con đường của ngôn ngữ cắt tuyệt, ý thức phân biệt dứt bặt, tinh thần trong sạch, trí huệ tự nhiên, không hữu song dung, căn trần trống rỗng như nhìn thấu trời xanh, như ở dưới mặt trời chói chang, không một pháp môn nào chẳng hiện, không một chí lý nào chẳng rõ. Chẳng động tình thức, dưới ao sâu mà lượm nhằm thất bảo, chẳng phí tâm lực; trong nước đục mà tự được huyền châu, quán đại thiên thế giới ngay trước mắt, chỉ hằng sa quốc độ nơi bên cạnh, nắm chúng sanh trong bàn tay, ôm vạn vật trong lòng, chẳng tốn chút công, thành tựu Lăng Nghiêm đại định; chẳng nhìn một chữ, xem hết tất cả kinh điển, nghĩa của Tứ cú thông, đường của Bách phi tuyệt. Dọc xuyên tam tế, ngang thấu mười phương, duy nhất Tổng trì (Tổng nhất thiết pháp, Trì nhất thiết nghĩa, hiệu Đại Tự Tại).

Thần quang hiển hách, oai đức lẫy lừng, ngoại đạo kinh hồn, tà ma sợ hãi, phiền não tan rã, sanh tử bay mất, tình ái rửa sạch, ngạo mạn sụp đổ, thong thả vô ngại, đạm bạc rộng rãi, vô đắc vô cầu, khoáng đạt tự tại, cao rộng quá hư không, ánh sáng hơn nhật nguyệt, vậy thì quyền trí và thật trí đi đôi, từ bi, trí huệ song hành, cứu thế như huyễn, độ sanh đồng không, vào hữu mà chẳng trái vô, hành chơn mà chẳng ngại tục, như trời che đất chở, như nhật nguyệt cùng sáng, thị Thánh hiện phàm, xuất sanh nhập tử, đem thật tướng tâm ấn, dựng đại pháp tràng tạo một ánh sáng mà cứu tế muôn loài, khiến tro lạnh bừng lên sức ấm, hạt giống cháy sống lại làm thuyền. Từ nơi biển khổ, làm Đạo sư cho kẻ lạc đường. Che và chiếu tự động, nắm buông tùy trí, dù vô tri mà muôn pháp viên thông, dù vô kiến mà tất cả rõ ràng. Chỉ cần khế hợp ý chỉ này thì bản thể vốn tự nhiên, như mùa xuân nảy mầm, như đất sanh vạn vật, Thập thân bỗng hiện, Tứ trí đồng khởi, là như ý tràng (cây lọng), là Thất bảo tụ, pháp tài phong phú, lợi sanh chẳng cùng, nên gọi là Vô Tận Tạng, hiệu rừng công đức, đâu thể ánh nắng mà chẳng chiếu, có đèn đốt mà chẳng sáng!

Chớ nên dùng tâm có giới hạn mà sanh kiến giải có ngằn mé, đo lường rộng hẹp của hư không, xác định biên thùy của pháp giới, khiến cho tình thức phân biệt, chẳng siêu việt cảnh trần, vọng tâm bừng dậy nơi đất chơn như, đánh lên làn sóng ý thức trong biển tịch diệt; hạn chế sự thấy trong ống dòm, trộm cắp ánh sáng nơi kẽ vách, vọng lập cái tri của năng sở, lầm khởi cái kiến giải của tốt xấu, đuổi theo lời nói văn tự để định đoạt tông chỉ, cũng như con muỗi muốn bay theo đại bàng, đom đóm muốn so với mặt trời vậy!

Tự tánh khởi dụng dung nạp mười phương hư không trong một lỗ chân lông, hiện muôn ức Phật sát trong một sát na, mỗi mỗi thân cùng khắp mỗi mỗi Phật sát, mỗi mỗi Phật sát bao gồm vô biên thân, rút nhiều kiếp trong khoảnh khắc, quăng quả đất ra ngoài vũ trụ, trong một lỗ chân lông phóng ra vô tận quang minh, trong một lời nói tỏ hết tất cả giáo pháp, ấy là bổn phận của chúng sanh, sức bằng với chư Phật, không

19

một pháp nào mà chẳng phải vậy, hễ có tâm là sẵn sàng, chẳng nhờ sức của thần thông, chẳng do tu chứng mà được, đức lượng như như, tất cả đầy đủ, nếu bỏ biển mà nhận bọt, ý chí thấp kém mà tự khinh mình, chôn vùi gia tài mà không biết xài!

-Người học đạo chẳng tin tự tâm hoặc muốn bỏ vọng mà giữ chơn; hoặc cho mình chẳng có phần mà cam chịu trần lao; hoặc nhận vọng làm chơn mà hành theo tà đạo; hoặc chấp phương tiện mà khổ tu tiệm hạnh; hoặc chấp cao vị mà suy tôn cực Thánh; hoặc tích chứa công đức, hy vọng mãn ba A tăng kỳ kiếp để thành Phật, chẳng biết toàn thể hiện tiền, lại mong cầu diệu ngộ, chẳng biết xưa nay vốn đầy đủ mà chờ đợi sự thành công. Nếu chẳng nhập viên thường ắt phải chịu luân hồi!

-Chỉ vì mê muội nơi đức tánh, chẳng phân biệt chơn tông, buông giác theo trần, bỏ gốc tìm ngọn, theo lưới ma của hữu vô, vào rừng tà của đồng dị, mổ xẻ chơn không, phân chia pháp tánh, sanh diệt theo trần, hữu vô tùy cảnh, chấp đoạn mê thường, lấy duyên bỏ tánh, vọng khởi tri giải, lầm lẫn tu hành.

-Hoặc hòa thần dưỡng khí mà chấp tự nhiên; hoặc cho khổ thân hủy hình là hành theo chí đạo; hoặc chấp lấy cái cột vô trước để dựng lên thành cảnh trước mắt; hoặc cầu tịnh lự mà đè nén vọng tâm; hoặc gọt tình diệt pháp để kết thành không; hoặc theo hình bóng của nhân duyên pháp trần mà ôm thành tướng; hoặc bỏ mất chơn của linh tâm; hoặc hủy hoại chánh nhân của Phật pháp.

-Hoặc kết tụ tinh thần cắt tuyệt tâm thức; thọ báo thành loài vô tình; hoặc tĩnh tâm bặt sắc trụ quả nơi trời Tứ không; hoặc chấp thật có, lạc vào thành huyễn hóa; hoặc chấp không, lại đồng như sừng thỏ; hoặc tuyệt kiến giải, đọa vào nhà đen tối; hoặc lập chiếu soi, trở thành chấp sở tri; hoặc nhận hữu giác là hình của chơn Phật, hoặc nhận vô tri như loài gỗ đá; hoặc chấp vọng bằng với quả cứu cánh, cũng như nhận đất là bình; hoặc bỏ duyên để vào cửa giải thoát, cũng như vạch sóng tìm nước.

-Hoặc đuổi theo ngoại cảnh, vọng tạo việc trong chiêm bao; hoặc trong giữ u nhàn, ở yên nơi ngu si; hoặc chấp đồng, cho vạn vật đều bằng nhau; hoặc chấp dị, mỗi mỗi tự lập pháp giới; hoặc cam chịu ngu si, cho chẳng có phân biệt là đại đạo, hoặc ham Không kiến (tri kiến chấp không), bài xích thiện ác cho là chơn tu; hoặc hiểu lầm tánh bất tư nghì lọt vào ngoan không; hoặc cho diệu tánh chơn là thật có; hoặc trầm cơ tuyệt tưởng (cơ: linh động) đồng như cõi trời hữu lậu; hoặc giác quán tư duy đọa nơi tình lượng (tình thức suy lường); hoặc chẳng cứu xét vọng tánh, cho ấy là thời hỗn độn sơ khai của trời đất; hoặc mê muội nơi ảo thể, lấy “tuyệt không” làm Tông chỉ.

-Hoặc nhận bóng làm chơn; hoặc lấy vọng để tìm thật; hoặc nhận tánh kiến văn cho là hữu tình; hoặc chỉ cảnh huyễn hóa cho là loài vô tình; hoặc khởi ý trái với tịch tri; hoặc dứt niệm phế bỏ Phật dụng; hoặc mê tánh công đức, khởi tri kiến của tâm sắc; hoặc căn cứ lời “Tất cánh không” sanh tâm đoạn diệt; hoặc chấp chí lý liền bỏ trang nghiêm; hoặc mê tiệm thuyết (đốn tiệm tương đối), luôn luôn tạo tác; hoặc chiếu theo “Bản thể lìa duyên” kiên cố ngã chấp; hoặc tiêu diệt tất cả, giữ lấy tự kỷ; hoặc quyết định “Người và pháp tự nhiên” thành ngoại đạo vô nhân; hoặc chấp cảnh và trí hòa hợp, đọa vào cộng kiến; hoặc chấp tâm và cảnh lẫn lộn, thành pháp năng sở; hoặc chấp sự phân biệt chơn tục, bị buộc nơi ngu xuẩn của tri chướng.

-Hoặc giữ “nhất như bất biến”, lọt vào thường kiến; hoặc thấy tứ tướng dời đổi, chìm nơi đoạn kiến; hoặc chấp vô tu, lìa bỏ Thánh vị; hoặc nói có chứng trái ngược thiên chơn; hoặc đam mê y báo, chánh báo, theo thế tục luân hồi; hoặc chán sanh tử lạc mất chơn giải thoát; hoặc mê chấp chơn không, sùng nhân trước quả; hoặc mê muội thực tế, ham Phật ghét ma; hoặc chấp thuyết phương tiện tùy nghi, cho lời Phật Tổ là chơn.

20

-Hoặc bỏ mất thật tướng âm thanh, muốn lìa ngôn ngữ cầu nơi nín lặng; hoặc tuân theo giáo thừa, phá hoại định thể của tự tánh; hoặc hoằng thiền quán, bài xích lời giải thích của kinh liễu nghĩa; hoặc vì tranh đoạt danh lợi, đặt ra lời kỳ lạ, bị chìm vào biển ý thức; hoặc muốn tịnh khiết tìm cầu huyền bí lại đọa vào thành ngũ ấm; hoặc khởi tri giải thù thắng, móc thịt đắp ghẻ; hoặc trụ nơi bản tánh trong sạch mà chấp thuốc thành bệnh; hoặc theo văn tìm nghĩa, thích ăn đàm dãi của người khác.

-Hoặc cố giữ thanh nhàn, ngồi nơi pháp trần; hoặc sanh tâm có đắc để bàn luận Đại thừa Vô tướng; hoặc dùng tư tưởng suy lường để tìm huyền chỉ bên ngoài vật; hoặc phế bỏ ngôn thuyết sanh kiến giải tịnh khẩu; hoặc chấp sự giải thích kỹ càng cho ngón tay là mặt trăng; hoặc nhận lầm sự dụng làm nguồn gốc của sanh diệt; hoặc chuyên ghi nhớ, trụ trong thức tưởng; hoặc hay sắp đặt, đánh mất bản tánh của viên giác; hoặc phóng túng đi lầm cửa đạo; hoặc muốn thân tâm tinh tấn kẹt nơi hữu vi.

-Hoặc chấp chơn tánh vô vật, bị trói nơi trí huệ; hoặc siêng tu niệm, mất nơi chánh thọ (chánh định); hoặc bắt chước “tự tại vô ngại” bỏ sự tu hành; hoặc ỷ “bản tánh vốn không”, tùy thuận tập khí; hoặc chấp “thật có ràng buộc” nên muốn dứt trừ.

-Đối với Phật pháp, kẻ quý trọng thì sanh trưởng pháp ái, kẻ khinh mạng thì hủy hoại nhân Phật; hoặc cầu tiến mà trái với bản tâm; hoặc lui sụt lại trở thành buông lung; hoặc thể và dụng khác nhau, trái với Phật thừa; hoặc trầm không trệ tịch, làm mất bản tánh của đại bi; hoặc bặt duyên chán giả, vi phạm pháp môn sẵn đủ; hoặc mê muội chơn ngã vốn không, mà chấp ngã kiến; hoặc cố chấp Phật pháp, mê lầm hiện lượng (pháp ngã vốn không); hoặc có giải chẳng có tín, mống lên tà kiến; hoặc có tín chẳng có giải, sanh trưởng vô minh.

-Hoặc cho người đúng pháp sai; hoặc cho cảnh sâu trí cạn; hoặc chấp lấy nên mê pháp tánh; hoặc xả bỏ thành cái chơn như; hoặc chấp tánh lìa nên nghịch với nhân; hoặc chấp thường trụ nên trái với quả; hoặc chấp cái sai phỉ báng cái thật; hoặc chấp cái đúng phá hoại sự tùy nghi; hoặc chán vô minh, xa trái bất động trí môn; hoặc ghét vọng cảnh, tổn thương pháp tánh tam muội; hoặc chấp cái lý đồng, hành tăng thượng mạn; hoặc bác cái tướng dị, hoại cửa phương tiện.

-Hoặc chấp Bồ đề là thật, phỉ báng chánh pháp luân; hoặc chấp chúng sanh là giả, hủy hoại chơn Phật thể; hoặc chấp thật trí mà bỏ quyền trí; hoặc chấp sự tùy cơ giáo hóa mà mê muội chánh tông; hoặc kẹt trên lý, lọt vào hầm vô vi; hoặc chấp nơi sự, nhảy vào lưới hư huyễn; hoặc xóa bỏ dấu tích đối đãi, trái ngược với sự song chiếu (thể và dụng đi đôi); hoặc chấp nơi Trung đạo, làm mất bản ý phương tiện; hoặc có định mà chẳng có huệ, làm mầm đạo bị cháy; hoặc cố chấp hạnh nguyện, thành chôn vùi giống Phật; hoặc tu hạnh Vô tác mà trờ thành Bồ đề hữu vi; hoặc chấp cái Tâm vô trước nên thành Bát nhã tương tự (chẳng phải Bát nhã chân thật); hoặc ham tướng tịnh mà thành cấu bẩn của thật tánh; hoặc trụ nơi chánh vị (ngôi pháp) làm mất cái tự tánh vốn không; hoặc kiến lập thiền quán vô tướng làm chướng ngại chơn như.

-Hoặc sanh khởi tâm liễu tri, thành phản bội pháp tánh; hoặc chấp chơn thuyên (lời giải thích kỹ càng) sanh ngữ kiến (tà kiến chấp ngôn ngữ), như uống cam lồ mà chết sớm; hoặc ôm chí lý tròn đầy, khởi tâm chấp trước, như uống đề hồ mà trúng độc vậy.

Một trăm hai mươi thứ kiến giải kể trên, đều là mê trái tông chỉ, làm mất bản chơn, cũng như dụi mắt nên thấy hoa đóm trên không; leo cây để tìm cá. Mùi đắng chẳng làm được giống ngọt; đất cát đâu thể nấu thành cơm! Ấy đều vì chẳng biết Pháp tánh dung thông, nên mê lầm lời phương tiện của chư Phật, chư Tổ, chìm nơi kiến chấp, tự chướng bản tâm, chẳng nhập Trung đạo, bò lết trên đường thăng trầm, ràng buộc

21

trong lòng thủ xả, nơi vô tâm mà muốn đoạn trừ, nơi vô sự mà muốn lìa bỏ, lấy pháp Không làm thành cảnh si ái, đem chơn trí lập thành tư tưởng chướng ngại, luôn luôn theo đuổi bát phong, khó ra khỏi lưới chấp trước. Thật chẳng biết cái lý sanh tử âm thầm khế hợp với đạo, vọng vốn là Bồ đề, xưa nay dung thông giác tánh, sáng thường trụ nơi tối, nước chẳng lìa băng, diệu dụng vô tận linh trí thường tồn.

Sao lại dứt niệm tưởng để cầu tịch lặng, diệt phiền não để chứng chơn như? Vọng tu vọng tập, tự khó tự dễ mà không biết bản tánh viên giác vốn chẳng bí mật, kho tàng Như Lai thật chẳng che giấu!

Nên biết, lý của viên thường chẳng thiếu, chỉ vì lòng tín giải đông đủ, cũng như thấy Bồ tát đứng trên mũi kim, thấy mành treo trên núi Tu Di, chỉ biết tán thán hy hữu kỳ lạ mà chẳng biết tại sao! Như trong kinh Pháp Hoa, con đi ăn xin mà chẳng biết cha (tự tánh) là triệu phú, chẳng dám thừa kế gia tài của mình, suốt ngày tìm cầu bên ngoài mà chẳng tự tỉnh ngộ, bỏ vàng lượm sỏi, cam chịu nghèo khổ.

Cho nên, chư Phật thương tiếc, chư Tổ xót xa, đều nói chúng sanh chẳng chịu đi thẳng đến chỗ thực tế, lạc mất bản tâm, chỉ theo vọng thức thăng trầm, đuổi theo cảnh trần so đo chấp trước, chẳng biết muôn pháp vô thể, tất cả vô danh, tùy ý hiện hình, theo ngôn lập hiệu, ý tùy tưởng sanh, ngôn theo niệm khởi, kỳ thật, tưởng và niệm đều không gốc ngọn phi hữu. Cho nên, tam giới vô vật, vạn hữu trống rỗng, tà chánh đồng nhau, thiện ác không khác. Chúng sanh vì ôm chặt tư tưởng chấp thật, bỏ hết đại nghĩa của Phật pháp, chẳng trở về được tự tánh, lại ở nơi vô tâm mà phân chia đồng dị, ở trong nhất thể mà vọng lập ly hợp, vừa lập mình và người thì liền sanh sự thuận nghịch, ấy lên đầu mối đấu tranh, kết thành nghiệp quả mê hoặc, dệt thành lưới thị phi, tạo thành cái lòng của yêu ghét, nhìn bóng tượng trong gương phân biệt xấu đẹp, nghe tiếng dội trong hang mống khởi buồn vui, trách hạnh kiểm của người huyễn hóa, mà chẳng biết năng sở song tịch, lý sự đều không. Đã tạo cái nhân mê hoặc thì phải chịu cái quả huyễn hóa.

Muốn rõ diệu lý nên truy cứu tự tâm, một niệm chứng ngộ liền tiêu hằng sa ác nghiệp, một đèn đốt lên liền phá ngàn năm đem tối, muôn cảnh đối diện mà chẳng lập danh tướng, mê ngộ chẳng còn, trạm nhiên trong sạch, thân tâm thấy nghe tùy duyên dưỡng tánh, phóng khoáng tung hoành, tiêu dao tự tại, sự tiếp xúc hằng ngày đều là giải thoát bất tư nghì, cũng là Đạo tràng đại tịch diệt.

Nay khuyên các vị hậu hiền nên đi theo đường lối này, dẫu cho nghe mà chẳng tin, cũng được gieo trồng giống Phật; dẫu cho học mà chưa thành cũng được phước báo trời người, huống là chứng quả thành Phật, chẳng có gì bằng!

Những lời trên đây đều có ghi đủ trong kinh điển của Phật, chẳng phải khi không mà đặt ra, xin học giả hãy tự xem xét kỷ!

TIỂU SỬ CỦA NGÀI VĨNH MINH



(Dịch từ Chỉ Nguyệt Lục, quyển 24, Tục Tạng Kinh)

Thiền sư Diên Thọ ở Vĩnh Minh, họ Vương, người Hàng Châu. Thuở nhỏ đã biết kính Phật thừa, lớn lên một ngày chỉ ăn một bữa. Tụng kinh Pháp Hoa hai tháng đã thuộc lòng, cảm thông được bầy dê quỳ nghe. Đến tuổi hai mươi tám, làm quan chức Chấn Tướng xứ Huê Đình, gặp ghe lưới đều mua hết cá rồi thả xuống sông. Y chỉ Thúy Nham học pháp xuất thế gian, được vua Văn Mục khen ngợi và cho phép xuất gia, trì hạnh Đầu đà rất tinh tấn; nhập định ở núi Thiên Thai ba tháng, có loài chim làm tổ trên áo. Kế đó tham học với Đức Thiều Quốc Sư (Tổ thứ nhì của Pháp Nhãn tông), được ngộ và thọ tâm ấn. Ban đầu trụ trì chùa Tuyết Đậu, sau cùng dời đến chùa Vĩnh

22

Minh, trụ trì mười lăm năm, học chúng có hai ngàn vị. Người đời cho là Di Lặc hạ sanh.

٭

Tăng hỏi: Thế nào là diệu chỉ của Vĩnh Minh? Đáp: Đốt thêm nhang đi.

Tăng nói: Tạ sư khai thị.

Sư đáp: Chẳng dính dáng gì cả. Tăng lễ bái.

Sư nói nghe bài kệ đây:

Muốn biết diệu chỉ của Vĩnh Minh, Trước cửa sẵn

đầy hồ nước trong. Mặt trời chiếu thì rọi ánh sáng,
Có gió thổi thì nổi làn sóng.

٭

Hai vị Tăng đến tham học, Sư hỏi một Tăng: Từng đến đây chăng? Tăng nói: Đã có đến.

Hỏi Tăng kia: Từng đến đây chăng? Đáp: Chưa từng đến.

Sư nói: Một đắc một thất.

Một hồi thị giả hỏi: Hai vị Tăng vừa rồi, chẳng biết vị nào đắc, vị nào thất? Sư hỏi: Ngươi biết hai vị này chăng?

Đáp: Không biết

.

Sư nói: Trong một hầm chẳng có đất khác.

٭

Về cốt tủy của chư Phật chư Tổ, Sư có nhắc đến ngài Ca Diếp Ba vừa nghe kệ sau đây liền được chứng Sơ quả, kệ rằng:

Các pháp tùy duyên sanh,

Các pháp tùy duyên diệt. Thầy ta đại Sa môn,

Lời này luôn luôn thuyết. Bồ tát Long Thọ lại có bài kệ rằng:

Chẳng vật tùy duyên sanh, Chẳng vật tùy duyên diệt. Sanh chỉ các duyên sanh, Diệt chỉ các duyên diệt.

Do hai bài kệ trên được biết, sắc sanh chỉ là không sanh, sắc diệt chỉ là không diệt. Ví như tánh của gió chẳng động, vì duyên khởi nên thấy động, nếu bản tánh của gió

23

vốn động thì đâu có bao giờ tịnh được. Trong phòng kín nếu có gió sao gặp duyên liền khởi? Chẳng những tánh gió như thế, tất cả pháp đều vậy, nghĩa là sắc với không chẳng khác.

Nên Duy Ma Cật nói với Bồ tát Văn Thù rằng: Tướng chẳng đến mà đến, tướng chẳng thấy mà thấy.

Văn Thù nói: Đúng thế, nếu đến rồi thì chẳng đến nữa, nếu đi rồi thì chẳng đi nữa. Tại sao? Kẻ đến chẳng có chỗ xuất phát, kẻ đi chẳng có chỗ đến, cái sở thấy chẳng thể thấy nữa, ấy là ý chỉ của duyên khởi Vô sanh vậy.

Hỏi: Bài kệ của ngài Trường Sa rằng:

Người học đạo sao chẳng biết chơn? Chỉ vì xưa nay nhận thức thần. Nguồn gốc sanh tử từ vô thủy,

Si mê cho là bổn lai nhân.

Vậy lìa tánh thức riêng có chơn tâm ư?

Đáp: Trong kinh Thủ Lăng Nghiêm, Phật vì A Nan phân tích kỹ càng, ngươi còn chẳng tin. A Nan cho tư tưởng suy tìm là tâm, đã bị Phật quở. Tư tưởng suy tìm là thức, nếu dùng ý thức suy nghĩ, hành theo danh tướng thì sanh phiền não, ấy gọi là thức, chẳng gọi là tâm. “Ý” tức là ghi nhớ, tưởng nhớ cảnh xưa, sanh khởi nơi vọng đều là vọng thức, chẳng dính dáng với tâm. Bản tâm phi hữu phi vô, hữu vô đều chẳng nhiễm, cho đến mê, ngộ, thánh, phàm, đi, đứng, nằm, ngồi, đều là vọng thức, chẳng phải tâm vậy. Tâm xưa vốn chẳng sanh, nay cũng chẳng diệt. Nếu biết tự tâm như thế thì chư Phật cũng vậy, nên Duy Ma Cật nói: “Trực tâm là đạo tràng”, vì chẳng hư giả.

Sư vì Phật pháp đương thời lưu truyền ở Trung Quốc chẳng được đầy đủ, mà ba tông: Thiên Thai, Hiền Thủ, Duy Thức lại chấp tánh chấp tướng, bài xích lẫn nhau, nên mời Pháp sư thông suốt giáo lý của ba tông hội hợp lại vấn nạn với nhau, hễ khi bị kẹt nơi đại nghĩa cao tốt, thì Sư dùng yếu chỉ của Thiền tông để dung thông cùng vào nghĩa Trung đạo. Do đó, Sư thu thập Bí kinh Đại thừa liễu nghĩa sáu chục bộ, và lời dạy của các bậc Thánh Hiền ba trăm nhà, gồm người Ấn Độ và Trung Quốc, soạn thành bộ Tông Cảnh Lục một trăm quyển lưu truyền khắp thiên hạ và giúp cho giáo lý của ba tông được đầy đủ hơn.

Tăng hỏi: Bộ Tông Cảnh của Hòa thượng bàn luận, chỉ lập nhất tâm làm tông chỉ, cho là bao gồm vô lượng pháp môn. Vậy thì Tâm gồm tất cả pháp ư? Nếu nói “sanh”, là tự sanh hoặc tha sanh, hoặc cộng sanh, hoặc vô sanh ư?

Đáp: Tâm này chẳng tung chẳng hoành, phi tha phi tự, tại sao? Nếu gồm tất cả pháp tức là hoành, nếu sanh tất cả pháp tức là tung. Nếu nói tự sanh thì tâm lại sanh tâm sao? Nếu nói tha sanh thì tự còn chẳng lập, huống là có tha? Nếu nói cộng sanh thì tự tha còn chẳng có, lấy gì để cộng? Nếu nói vô nhân sanh thì hữu nhân còn chẳng cho, huống là vô nhân!

Tăng nói: Nếu bốn thứ sanh đó đều không, tại sao? Phật nói: “Ý căn sanh ý thức, tất cả do tâm tạo!” thế há chẳng phải tự sanh ư? Lại nói tâm chẳng độc khởi, phải nhờ duyên mới khởi, có duyên thì tư tưởng sanh, không duyên thì tư tưởng chẳng sanh, há chẳng phải tha sanh ư? Lại nói nhân duyên lục căn tiếp xúc lục trần, sanh ra lục thức lãnh thọ, thành tất cả pháp, há chẳng phải cộng sanh ư? Lại nói Thập nhị nhân duyên tánh tự như vậy, chẳng do Phật, trời, người hay a tu la, há chẳng phải vô nhân sanh ư?

24

Sư cười nói: Chư Phật ứng cơ, tùy duyên sai biệt, mong chúng sanh làm thiện phá ác, khiến vào Đệ nhất nghĩa đế. Nói bốn thứ sanh ấy chỉ là lời phương tiện, như nắm tay không để gạt trẻ con, đâu có pháp thật!

Hỏi: Thế thì tất cả pháp thị (đúng) là tâm ư? Đáp: Nói thị tức là hai.

Hỏi: Thế thì tất cả pháp đều lập phi (sai) ư?

Đáp: Phi cũng thành hai. Kinh Thủ Lăng Nghiêm nói “Chơn Văn Thù chẳng thị Văn Thù, nếu có thị là hai Văn Thù, nhưng ta hôm nay phi chẳng Văn Thù, trong đó thật chẳng có hai tướng thị và phi”.

Hỏi: Đã hai tướng thì sùng nhất được chăng?

Đáp: Thị phi đã nghịch đại chỉ, nhất cũng trái viên tông. Hỏi: Vậy dùng tâm như thế nào mới khế hợp Tông chỉ này? Đáp: Cảnh và trí đều quên, còn nói gì khế hợp nữa!

Hỏi: Thế thì ngôn ngữ và suy tư chấm dứt, tâm trí cắt tuyệt?

Đáp: Ấy cũng là lời nói miễn cưỡng, xoay chuyển theo ý của người khác, dù muốn ẩn hình mà chưa quên dấu tích.

Hỏi: Thế nào được hình tích đều quên?

Đáp: Vốn chẳng triệu chứng dấu tích, có gì để quên!

Hỏi: Con biết rồi. Khi được đại ngộ mới được tự rõ, như người uống nước lạnh, nóng tự biết phải chăng?

Đáp: Cửa ải chúng ta chẳng có lý rõ hay không rõ, cũng chẳng mê ngộ.

Xòe tay trình ông chẳng một vật, Uổng công lao nhọc thuyết ngàn lối.

Chẳng phải người thượng căn (tin tự tâm) thì chẳng thể gánh vác việc này. Cổ Đức nói: “Khắp mười phương thế giới, tìm một người bạn chẳng ra, chỉ một người thừa kế ngôi Tổ, chẳng có người thứ hai”. Nếu chưa đích thân đến chỗ cứu cánh, chỉ làm nhọc tinh thần suy tư, dẫu cho nói huyền lại thêm huyền, diệu lại thêm diệu, cũng chỉ là lời phương tiện để giúp cho được vào cửa, đến khi nơi bổn phận được đích thân chiếu soi (kiến tánh), xem lại những phương tiện huyền diệu đều là ma thuyết, vọng tâm trôi nổi, đủ thứ kiến giải khôn khéo đều chẳng thể thành tựu Viên Giác, chỉ là dấu tích hình tướng ngôn ngữ, nếu chấp lời phương tiện thì mê đạo chơn thật. Cần đến nơi đầu sào trăm thước, buông thân xả mạng mới được.

Tăng nói: Xin cho một lời dạy cuối cùng. Sư nói:

Kẻ huyễn hóa hỏi người huyễn hóa, Nước suối đáp tiếng dội trong hang. Muốn thông đạt Tông chỉ của ta, Trâu đất bước đi trên nước bằng.

Người dạy đệ tử rằng: Chánh tông của Phật Tổ là chơn Duy thức, hễ có chỗ tin (tin tự tâm) đều có thể dạy người. Nếu luận về cửa tu chứng, thì bậc Trưởng lão các nơi đều nói “Công dụng chưa so bằng chư Thánh”. Nhưng trong giáo môn cũng cho rằng, sơ tâm Bồ tát cũng có thể do so sánh mà biết, cũng do theo ngôn giáo của Phật mà hội,

25

trước dùng văn giải tín nhập, sau dùng vô tư (chẳng suy tư) khế đồng, vừa vào cửa tín, bèn lên ngôi Tổ. Hiện nay, theo việc thế gian trong thế giới này, dù chưa chứng ngộ, cũng có ba thứ biết về chánh pháp: một là so sánh biết, hai là hiện biết, ba là theo ngôn giáo mà biết.

Thế nào là so sánh biết? Cũng như cái thân hữu lậu này đều có chiêm bao, trong chiêm bao thấy có cảnh giới tốt, xấu, vui, buồn rõ ràng, khi thức tỉnh mới biết nằm yên trên giường, tất cả đều do tư tưởng ý thức làm nên, đâu có thật. Đem việc chiêm bao so sánh với việc thức tỉnh thì khi thức tỉnh cũng như chiêm bao chẳng thật, cảnh giới quá khứ, vị lai, hiện tại vốn là thân tướng phần của thức thứ tám, cảnh hiện tại là do minh liễu ý thức suy tư, đều do bản thức biến hiện ra, nên trong chiêm bao với lúc thức tỉnh dù khác, đều chẳng ra ngoài ý thức, thế thì ý chỉ của duy tâm do so sánh được bày tỏ rõ ràng.

Thế nào là hiện biết? Tức là đối với cảnh phân minh, chẳng cần so sánh, cũng như hiện nay thấy các vật xanh, trắng, bản tánh các vật vốn tự trống rỗng, chẳng nói ta xanh ta trắng, đều do nhãn thức với đồng thời ý thức so đo phân biệt, cho là xanh là trắng, cho ý thức phân biệt là màu sắc, dùng ngôn thuyết làm xanh làm trắng, đều thuộc về dấu tích của ý ngôn (ngôn ngữ của ý thức) vọng tự đặt ra, vì lục trần vốn lay động, thể chẳng tự lập, tên chẳng tự gọi, một sắc đã vậy, thì muôn pháp cũng như thế, chẳng có tự tánh, đều là ý ngôn, nên nói vạn pháp vốn thanh nhàn, do người tự náo động. Cho nên khi hữu tâm sanh khởi thì vạn cảnh đều có, vô tâm sanh khởi thì vạn cảnh đều không. Nhưng không chẳng tự không, do tâm nên không; hữu chẳng tự hữu, do tâm nên hữu; đã là phi không phi hữu, tức là duy thức, duy tâm. Nếu vô nơi tâm thì vạn pháp đặt ở chỗ nào? Cũng như cảnh quá khứ đâu phải có, tùy chỗ niệm khởi bỗng hiện, nếu tưởng niệm chẳng sanh thì cảnh cũng chẳng hiện, ấy đều là cuộc sống hằng ngày có thể hiện biết, chẳng nhờ tu tập, chẳng đợi công thành. Phàm loài hữu tâm đều có thể chứng biết. Nên Cổ Đức nói: “Như người thượng căn biết pháp Duy thức, thường quán tự tâm, biết ý ngôn làm cảnh, kẻ sơ quán dù chưa thành bậc Thánh, đã thấu nghĩa của ý ngôn, tức là sơ tâm Bồ tát”.

Thế nào theo ngôn giáo mà biết? Kinh nói: “Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức, bản lý của vạn pháp hiện ra, hay giải thích kỹ càng về chánh tông vậy”.

Sư thừa đại nguyện lực, làm Pháp thí chủ nơi Trung Quốc, trụ trì chùa Vĩnh Minh mười lăm năm, độ đệ tử một ngàn năm trăm người, vào núi Thiên Thai truyền giới hơn mười ngàn người, thường thọ giới Bồ tát cho thất chúng, ban đêm thí thực, ban ngày phóng sanh, lục thời tán hoa, ngày đêm tu trì, đông, hạ chẳng ngừng, tiếng tăm truyền khắp nước ngoài. Vua Cao Ly sai Tăng vượt biển hỏi đạo, trong số đó có ba mươi sáu vị được Sư thọ Tâm ấn. Vua Cao Ly gởi thư xin làm đệ tử đúng lễ.

Buổi sáng ngày 26 tháng chạp năm thứ 8, niên hiệu Khai Bửu, Sư thị hiện có bệnh, đốt nhang báo cáo đại chúng, ngồi kiết già viên tịch, thọ 72 tuổi, hạ 42. toàn thân nhập tháp núi Đại Từ.

————-

26

Cậu bé hàng xóm của tổng thống Mỹ và câu chuyện thức tỉnh thế giới

Trên mạng Wechat ngày 11 tháng 10 có đăng tải một bài viết với tiêu đề “Câu chuyện chân thực của một cậu bé người Mỹ và một bà mẹ người Mỹ: Xem xong sẽ làm bạn mất ngủ cả đêm.”

Lăng mộ hàng xóm của Tổng thống Grant

Bên bờ sông Hudson ở New York, cách lăng mộ của vị Tống thống đời thứ 18 của nước Mỹ Ulysses S. Grant chưa tới 100 mét, có một ngôi mộ của một cậu bé. Bên cạnh ngôi mộ có một tấm biển bằng gỗ, ghi lại một câu chuyện như sau:

Ngày 15 tháng 7 năm 1797, có một cậu bé 5 tuổi bất hạnh bị rơi xuống vách núi và tử vong. Cha mẹ cậu bé vì quá đau thương, tuyệt vọng nên đã xây một ngôi mộ ngay ở cạnh nơi cậu bé đã qua đời.

Sau đó vì tình hình kinh tế gia đình khó khăn, cha cậu bé đã bất đắc dĩ phải chuyển nhượng mảnh đất này, tuy nhiên, bản hợp đồng có kèm theo một yêu cầu đặc biệt cho người chủ mới: hãy vĩnh viễn lưu giữ lại phần đất nơi đặt ngôi mộ của cậu bé.

Người chủ nhân mới đồng ý với điều kiện này và viết nó vào trong điều khoản hợp đồng. 100 năm qua đi, mảnh đất này chuyển đổi bán cho rất nhiều người, nhưng phần mộ của cậu bé vẫn được giữ nguyên ở đó.

Năm 1897, mảnh đất được lựa chọn để đặt làm lăng mộ yên nghỉ của Tổng thống Ulysses S. Grant, nhưng điều khiến nhiều người xúc động hơn nữa là mộ phần của cậu bé vẫn được giữ lại ở đó và trở thành lăng mộ hàng xóm của Tổng thống Grant.

Lại 100 năm nữa qua đi, đến tháng 7 năm 1997, nhân dịp kỷ niệm 100 năm nhân ngày xây dựng lăng mộ của Tổng thống Grant, thị trưởng thành phố New York đã tới đây để tưởng nhớ ông đồng thời cho tu sửa lại phần mộ của cậu bé. Chưa dừng lại ở đó, ông còn đích thân tự tay viết câu chuyện này lên phần mộ của cậu bé để nó có thể lưu truyền lại đời đời cho hậu thế.

Một hợp đồng kéo dài 200 năm đã cho chúng ta thấy một đạo lý làm người rất đơn giản: Khi đã hứa, nhất định phải giữ lời.

Cau be hang xom cua tong thong My va cau chuyen thuc tinh the gioi

Câu chuyện về một bà lão

Mùa đông năm 1935 là khoảng thời gian mà nền kinh tế của nước Mỹ tiêu điều nhất. Không khí ảm đạm bao trùm toàn bộ thành phố New York…

Vào một đêm lạnh giá giữa tháng 1/1935, một phiên tòa được tổ chức trong khu phố nghèo nhất New York. Đứng ở vị trí thẩm phán là ngài thị trưởng đáng kính của thành phố, ông Fiorello LaGuardia, và bên dưới bục là một bà lão đã gần 60 tuổi, áo quần cũ rách cùng với dáng vẻ sầu não. Gương mặt tiều tụy của bà hiện lên vẻ xấu hổ, bà đã bị buộc tội vì lỡ ăn cắp một ổ bánh mì.

Fiorello LaGuardia hỏi bà: “Bị cáo, bà bị tố là đã lấy trộm bánh mì, có đúng vậy không?”

Bà lão cúi đầu, ngập ngừng trả lời: “Vâng, thưa quý tòa, thực sự tôi có ăn cắp.”

Thẩm phán lại hỏi: “Động cơ để bà ăn cắp bánh mì là gì, là vì đói quá à?”

“Dạ vâng.” Bà lão ngẩng đầu lên, hai mắt nhìn vào vị quan tòa rồi nói: “Nhưng nếu chỉ vì đói thì tôi đã không làm như vậy, tôi cần bánh mì để nuôi ba đứa cháu đã mất cha mẹ của mình, đã mấy ngày nay chúng chưa được ăn gì. Chúng thực sự rất đói… Tôi không thể đứng nhìn chúng chết đói được…” Nói đến đây bà bật khóc.

Sau khi nghe xong những lời thú tội của bà lão, đám đông trong phòng xử án bắt đầu rì rào bàn luận. Ngài thẩm phán gõ chiếc dùi xuống bàn, nói một cách nghiêm khắc: “Yên lặng, sau đây tòa tuyên án.”

Thẩm phán quay sang bà cụ: “Bị cáo, chúng tôi cần làm việc một cách công bằng, chấp hành theo pháp luật. Bà có hai sự chọn lựa: hoặc là bị phạt 10 USD hoặc là chịu 10 ngày tạm giam. Bà chọn cái nào?“

Bà lão với vẻ mặt đầy đau khổ và hối hận: “Thưa ngài thẩm phán, tôi phạm tội, tôi chấp nhận chịu phạt. Nếu tôi có 10 USD thì tôi đã không đi ăn cắp bánh mì. Tôi chấp nhận bị tạm giam 10 ngày, nhưng ba đứa cháu nhỏ kia của tôi thì ai sẽ chăm sóc chúng đây?”

Ngài thị trưởng khẽ mỉm cười. Ông rút trong túi ra 10 đô-la và bỏ vào chiếc mũ nổi tiếng của mình.

“Đây là 10 đô-la tiền phạt, bà đã được tự do!” Nói xong, ông hướng cặp mắt về phía những người đang tham dự phiên tòa: “Và bây giờ, xin mỗi người hãy nộp 50 cent tiền phạt, đây là tiền phạt cho sự lạnh lùng của chúng ta, phạt vì chúng ta đã sống ra sao mà để cho một cụ già đáng tuổi cha tuổi mẹ mình phải đi ăn cắp bánh mì để nuôi cháu.”

Tất cả mọi người trong phiên tòa đều kinh ngạc, tròn mắt nhìn thị trưởng LaGuardia. Cả phiên tòa bỗng nhiên yên lặng lạ thường, cảm giác như có một chiếc kim rơi xuống đất cũng có thể được nghe thấy. Một lát sau, tất cả những người tham dự đều lặng lẽ đứng dậy, móc trong túi ra 50 cent và để vào mũ của ngài thị trưởng.

Về lý mà nói, việc một bà cụ già nghèo bị phạt vì tội ăn cắp bánh mì, có liên quan gì tới những người ngoài khác? LaGuardia đã nói rất rõ ràng – là chi phí phải trả cho sự lạnh lùng của chúng ta.

Con người ta không phải là một sinh mệnh cá thể độc lập mà còn có sự tương tác với nhau và phải tự giác tuân theo những quy ước nhất định thì mới có thể sinh sống một cách hài hòa. Người biết trân trọng thỏa thuận đó mới là người cao quý, và người biết trả phụ phí cho sự lạnh nhạt thờ ơ của mình mới là người sáng suốt. Thế nhưng con người trong xã hội hiện nay thật sự quá lạnh lùng tàn nhẫn, và có lẽ đến một lúc nào đó, chúng ta sẽ phải trả giá cho sự tự tư đó của mình…

LượcTrích Dhammapada – Con đường của Phật (đủ bộ)

600_dhammapadavol1

Dhammapada

CON ĐƯỜNG CỦA PHẬT

¨

ĐÂY LÀ CON ĐƯỜNG

ĐI TỚI CHÂN LÍ TỐI THƯỢNG

Osho

Tập 2 Hà Nội 5/2011 ( tiếp theo )

Tâm trí người ngu cứ làm lặp đi lặp lại cùng một

điều mãi. Tâm trí người ngu là cái vòng luẩn quẩn – nó

đi theo vòng tròn. Người trí huệ không lặp chút nào.

Người đó sống từng khoảnh khắc mới mẻ, người đó

được sinh ra mới từng khoảnh khắc. Người đó chết đi

quá khứ mọi khoảnh khắc, và lại được sinh ra lần nữa.

Toàn thể cuộc sống của người trí huệ là quá trình

tái sinh. Người trí huệ không được sinh ra một lần,

người đó được sinh ra mọi khoảnh khắc lặp đi lặp lại.

Cái cũ không bao giờ nắm giữ người đó. Nhưng người

ngu được sinh ra chỉ mỗi một lần, và thế rồi người đó

cứ lặp lại.

Nếu bạn cứ lặp bạn sẽ bỏ lỡ con đường, bởi vì linh

hồn bạn, bản thể bạn tuyệt đối tươi tắn và bao gờ cũng

trẻ trung. Nó không bao giờ già. Tâm trí già đi, thân

thể già đi, nhưng bản thể không biết gì về thời gian cả

– làm sao nó có thể già đi được? Nó bao giờ cũng trẻ,

nó bao giờ cũng thanh xuân. Nó tươi trẻ như giọt

sương trong ánh mặt trời buổi sớm, nó tươi trẻ như lá

sen trong hồ.

238

Nếu lữ khách không thể tìm ra

thầy hay bạn đi cùng mình,

để người đó đi một mình

hơn là đi cùng người ngu.

Điều tốt nhất là tìm ra thầy, bởi vì thầy là người

bạn vĩ đại nhất có thể có; do đó Phật nói thầy hay bạn.

Nếu lữ khách không thể tìm ra thầy hay bạn đi

cùng mình, để người đó đi một mình thay vì đi cùng

người ngu. Nhưng tránh người ngu ra. Và đó là điều

bạn chưa bao giờ làm. Bạn thu thập những người ngu

quanh bản thân bạn. Có bí mật nào đó trong việc ấy:

khi bạn được bao quanh bởi những người ngu, bạn

dường như cao siêu. Đó chính là việc thoả mãn bản

ngã; do đó không ai muốn sống với ai đó cao siêu hơn.

Mọi người muốn sống với người thấp kém hơn, bởi vì

những người thấp kém hơn bạn cho bạn ý tưởng rằng

bạn vĩ đại.

Sống cùng với thầy bạn sẽ phải vứt bỏ ý tưởng đó

rằng bạn vĩ đại, bạn sẽ phải vứt bỏ tất cả những rác

rưởi đó, bạn sẽ phải vứt bỏ toàn thể bản ngã của mình,

bạn sẽ phải buông xuôi. Bạn sẽ phải tan biến đi trong

thầy; do đó mọi người tránh né thầy. Làm sao nhiều

người tới với Jesus được? Rất ít người, họ có thể được

đếm trên đầu ngón tay. Bao nhiêu người tới với Phật?

Rất ít… Điều này bao giờ cũng như vậy. Nhưng mọi

người rất sung sướng tới câu lạc bộ Rotary. Người ta

cảm thấy rất thích khi bạn được những kẻ ngu bao

quanh – điều đó cho cảm giác rất thích thú: mọi kẻ ngủ

đều ăn vận tề chỉnh, và mọi kẻ ngu đều cảm thấy hơn

người khác, và mọi kẻ ngu đều ba hoa về bản thân

mình, và mọi kẻ ngu đều được những kẻ ngu khác

nâng đỡ.

239

Mọi người thích ở trong đám đông, bởi vì trong

đám đông bạn có thể quên đi cái kém cỏi của mình. Đó

là lí do tại sao mọi người không rời bỏ đám đông. Đám

đông này là của người Hindus, đám đông khác là của

người Mô ha mét giáo, đám đông thứ ba là của người

Ki tô giáo vân vân và vân vân. Chẳng ai muốn rời bỏ

đám đông cả.

Và ngay cả đôi khi mọi người rời bỏ đám đông

này, họ lập tức gia nhập đám đông khác. Bằng cách

nào đó họ trốn khỏi nhà tù này để đi vào trong nhà tù

khác – họ không thể sống một mình được. Phật nói

sống một mình tốt hơn là sống với người ngu. Nếu bạn

có thể tìm thấy thầy hay bạn, tốt; nếu bạn không thể

tìm được, thế thì tốt hơn cả là một mình thôi. Tất

nhiên, một mình sẽ vất vả, sẽ khó khăn bởi vì đám

đông sẽ tạo ra nhiều khó khăn cho bạn. Đám đông

không thích cá nhân, nó không muốn ai độc lập cả; nó

muốn mọi người đều phụ thuộc vào đám đông. Nó sẽ

tạo ra rắc rối cho bạn. Nhưng tất cả những rắc rối đó là

việc lau sạch, tất cả những rắc rối đó đều là thách thức.

Chúng mài sắc thông minh của bạn, chúng sẽ làm cho

bạn trí huệ.

“Con ta, của cải của ta!”

Người ngu tự gây rắc rối cho mình.

Nhưng người đó làm sao có con hay của cải?

Người đó thậm chí không là người chủ riêng của

mình.

Người ngu sống quanh ý tưởng về “của tôi” và “cái

của tôi”: quốc gia của tôi, tôn giáo của tôi, giống nòi

của tôi, gia đình của tôi, của cải của tôi, con tôi, bố mẹ

tôi… người đó sống quanh “của tôi” và “cái của tôi.”

240

Và người đó đã tới một mình rồi sẽ đi một mình;

không ai đem bất kì cái gì vào thế giới này và không ai

lấy bất kì cái gì khỏi thế giới này. Một mình, với đôi

bàn tay trống chúng ta tới; một mình, với đôi bàn tay

trống chúng ta đi. Người trí huệ biết điều đó; do đó

người trí tuệ chẳng tuyên bố cái gì là “cái của tôi” cả.

Người đó dùng mọi thứ, nhưng người đó không sở hữu

chúng. Việc dùng là hoàn toàn tốt – dùng mọi thứ của

thế giới này, chúng là dành cho bạn. Thế giới là món

quà từ Thượng đế – dùng nó đi, nhưng đừng sở hữu nó.

Khoảnh khắc bạn trở thành kẻ sở hữu, bạn không thể

dùng mọi thứ được – mọi thứ bắt đầu dùng bạn.

Khoảnh khắc bạn trở thành kẻ sở hữu, thực ra bạn bị

các vật của mình sở hữu, bạn trở thành nô lệ. Và chính

ý tưởng về sở hữu là ngu xuẩn. Làm sao bạn có thể sở

hữu được cái gì? Bạn thậm chí không sở hữu được bản

thể riêng của mình. Bạn có thể sở hữu được cái gì

khác? Bạn thậm chí không là người chủ của bản thân

mình.

Phật nói: “Con ta, của cải của ta!” Cho nên người

ngu tự gây rắc rối cho mình. Và bao nhiêu lo âu nảy

sinh từ cái “của tôi” này, từ công việc “của tôi” này?

Giả dối toàn bộ! Về căn bản là giả, nhưng nó có thể

tạo ra nhiều, nhiều khổ. Điều đó cũng giống như là

trong đêm tối bạn nhìn chiếc dây thừng và bạn cứ

tưởng là đó là con rắn. Thế là bạn vùng chạy, la hét,

run rẩy, bạn có thể bị đau tim nữa. Và chẳng có rắn

chút nào – chỉ có mỗi chiếc dây thừng! Nhưng cơn đau

tim sẽ là thực, nhớ lấy: con rắn không thực có thể tạo

ra cơn đau tim thực.

Đây là những vấn đề không thực. Tuyên bố “cái

của tôi” – bất kì cái gì! Quốc gia, nhà thờ, con cái, của

cải, bất kì cái gì – khi bạn công bố “Nó là của tôi!” bạn

241

đang tạo ra một nguồn lo âu phiền não lớn cho bản

thân bạn. Bạn đang tạo ra địa ngục quanh bản thân

bạn.

Nhưng người đó làm sao có con hay của cải? Phật

hỏi. Người đó thậm chí là người chủ riêng của mình.

Một kẻ ngu ngã từ cửa sổ tầng thứ sáu. Anh nằm

trên đất với một đám đông lớn bu xung quanh. Một

cảnh sát tới và nói, “Có chuyện gì vậy?”

Người ngu nói, “Tôi không biết. Tôi vừa mới tới

đây.”

Bạn biết gì về cách bạn tới đây? Bạn biết gì về chỗ

mà bạn tới không? Bạn biết gì về nơi bạn nhất định sẽ

tới không? Bạn biết gì về bạn là ai không? Những câu

hỏi nền tảng nhất vẫn còn trong bóng tối, và dầu vậy

bạn cứ tuyên bố, “Đây là nhà của tôi…”

Khi Phật trở nên chứng ngộ, ông ấy đã trở về nhà.

Người bố giận lắm, hiển nhiên – đây là đứa con duy

nhất của ông ấy và nó đã trở thành kẻ bỏ dở nửa

chừng. Người bố đang già đi, và ông ta đã cai quản

một vương quốc lớn. Ông ta rất lo âu: “Ai sẽ sở hữu

nó? Ai sẽ cai trị nó đây? Thằng ngu kia, con ta, đã bỏ

trốn mất rồi.”

Nhiều nỗ lực đã được thực hiện để thuyết phục

Phật quay về, nhưng tất cả đều thất bại. Khi ông ấy đã

trở nên chứng ngộ ông ấy đã tới theo cách riêng của

ông ấy – cuộc chạm trán đó là một trong những cuộc

chạm trán hay nhất trong lịch sử nhân loại.

242

Người bố đã già của Phật giận lắm, giận tới mức

nước mắt giận dữ bắt đầu trào ra từ đôi mắt già nua

của ông ấy. Ông ấy quát tháo, la hét, lăng mạ, còn Phật

đứng đó, hoàn toàn bình thản và yên tĩnh, cứ dường

như chẳng có gì xảy ra cả. Phải đến cả nửa giờ, một

giờ… thế rồi người bố, ông già này, kiệt sức. Thế rồi

ông ấy trở nên nhận biết rằng đứa con thậm chí đã

không thốt ra lấy một lời, đứa con đã không phản ứng

chút nào. “Và nó trông bình thản và yên tĩnh thế!

Chuyện gì vậy? Nó điếc hay cái gì đó không nhỉ? Nó

đã phát điên hay cái gì vậy?” Ông ấy hỏi, “Sao con

không trả lời ta?”

Phật nói, “Người đã rời bỏ ông không còn nữa rồi.

Ông không nói với ta – ông đang nói với con ông,

người không còn nữa. Nhiều nước đã chảy qua sông

Hằng từ ngày đó rồi. Mười hai năm đã qua rồi. Ta là

người hoàn toàn khác.”

Phật, tất nhiên, ngụ ý ẩn dụ. Ông ấy ngụ ý, “Ta

không còn là cùng tâm thức ấy nữa, không còn là cùng

tâm trí ấy nữa. Thái độ của ta đã bị bỏ đi rồi, định kiến

của ta đã mất rồi. Ta là người hoàn toàn tươi tắn. Bây

giờ ta biết mình là ai. Thời đó ta đã là kẻ ngu. Bây giờ

ánh sáng đã tới bên trong linh hồn ta. Đó là lí do tại

sao,” ông ấy nói, “ta không còn là người cũ nữa.”

Ông bố già của Phật trở nên tức điên lên. Ông ấy

nói, “Con ngụ ý gì việc con không là người cũ nữa?

Chẳng lẽ ta không thể nhận ra con trai ta sao? Ta

không biết con sao? Ta đã sinh ra con, máu của ta chảy

trong huyết quản con, con được tạo ra từ máu và

xương ta – và ta không biết con sao? Con phải đã thần

kinh khi nói điều này rồi!”

243

Và Phật nói, “Ta xin lỗi, nhưng ta phải nói rằng

thân thể ta có thể là một phần của thân thể ông – nhưng

ta thì không. Bây giờ ta biết rằng ta không là thân thể,

không là tâm trí. Bây giờ ta biết ta là ai. Và ông chẳng

liên quan gì tới bản thể ta cả; ông đã không tạo ra bản

thể của ta, ông đã không cho sinh thành ra bản thể của

  1. Ta đã từng hiện hữu từ trước việc sinh của ta, và ta

sẽ hiện hữu sau cái chết của ta. Xin cố gắng hiểu ta;

đừng tức giận làm gì, đừng bực mình làm gì. Ta tới chỉ

để chia sẻ vui vẻ mà ta đã tìm ra.”

Nhưng các bố mẹ cứ nghĩ con cái là của họ, con

cái nghĩ bố mẹ là của họ. Trong thế giới này, bản thể

bạn là tuyệt đối một mình. Vâng, chia sẻ vui vẻ của

bạn với người khác, nhưng đừng bao giờ sở hữu. Chỉ

kẻ ngu mới sở hữu, người trí huệ không có tính sở

hữu.

Người ngu biết mình là ngu

là khôn hơn nhiều.

Người ngu nghĩ mình khôn

thực sự là người ngu.

Đào sâu về điều đó: bạn nghĩ gì về bản thân mình?

Thấy ra cái ngu xuẩn của mình sẽ là điều đau đớn. Dễ

dàng nhìn người khác như những người ngu – thực ra,

mọi người đều biết rằng mọi người khác là ngu –

nhưng thấy cái ngu riêng của bạn là bước tiến lớn tới

trí huệ. Thấy cái ngu riêng của bạn là đã biến đổi bản

thể bạn, tâm thức bạn.

244

Một người tới thăm nước Pháp. Anh ta đi lang

thang chút ít trong đêm đầu tiên. Làm tình với vợ ông

chủ, với con gái ông ta, với người nấu ăn, người hầu

gái, vân vân. Ông chủ mắng mỏ người đó vào buổi

sáng.

“Ý tưởng to tát gì thế này? Ở đây anh là khách của

tôi. Tôi đón anh như người bạn. Còn anh làm gì? Anh

làm tình với vợ tôi, con gái tôi và nửa số người hầu –

còn với tôi, chẳng làm gì cả sao?”

Người ngu bao giờ cũng quan tâm chỉ với một điều

– bản ngã của người đó. Bất kì cái gì ủng hộ cho người

đó đều tốt – bất kì cái gì. Và người đó sẵn sàng níu

bám lấy nó. Người ngu thậm chí còn níu bám lấy khổ,

bởi vì đó là khổ của người đó. Người đó cứ tích lũy bất

kì cái gì người đó có thể kiếm được, bởi vì người ngu

không có ý tưởng gì về vương quốc bên trong của

mình, về kho báu bên trong của mình; người đó cứ tích

luỹ những đồ đồng nát bởi vì người đó nghĩ đây là tất

cả những gì có thể được sở hữu. Đồ đồng nát bên

ngoài và đồ đồng nát bên trong; đó là điều mọi người

cứ thu thập – mọi vật họ thu thập và ý nghĩ họ cũng thu

thập. Mọi vật là đồ đồng nát bên ngoài, ý nghĩ là đồ

đồng nát bên trong, và bạn bị chìm nghỉm trong đống

đồng nát của mình.

Nhìn đi, nhìn một cách thản nhiên, tách rời vào

cuộc sống của bạn mà xem, bạn đã làm gì với nó, và

bạn đã được cái gì từ nó. Và đừng cố gắng tự lừa

mình, bởi vì đây là cách tâm trí cứ tiếp diễn. Nó nói,

“Trông mình được nhiều thế! Bao nhiêu là tiền trong

ngân hàng, bao nhiêu là người biết tới mình, kính

trọng mình, tôn vinh mình; mình có vị trí lớn lao thế,

245

về mặt chính trị mình quyền hành thế… còn cái gì

khác? Người ta có thể hi vọng vào cái gì khác? Cuộc

sống đã cho tất cả những cái người ta có thể hi vọng

rồi.”

Nhưng tiền hay quyền hay danh chẳng là gì cả, bởi

vì cái chết sẽ tới và tất cả những thành trì vĩ đại của

bạn về của cải, quyền lực, danh vọng, kính trọng, sẽ

chỉ bắt đầu sụp đổ đi cứ dường như bạn đã làm chúng

bằng con bài. Chỉ một cú đáng của cái chết và mọi thứ

tan tành.

Chừng nào bạn chưa có cái gì đó mà bạn có thể

đem ra bên ngoài cái chết, nhớ lấy, bạn không có cái gì

cả đâu – tay bạn trống rỗng. Chừng nào bạn chưa có

cái gì đó bất tử, vĩnh hằng, bạn vẫn cứ là người ngu.

Phật gọi người trí huệ là người đã đạt tới kho báu thực

nào đó – của thiền, của từ bi, của chứng ngộ.

Thìa có nếm canh không?

Người ngu có thể sống cả đời

cùng với thầy

và vẫn lỡ con đường.

Thìa không thể nếm được canh, thìa là thứ chết –

người ngu cũng vậy. Người đó chỉ dường như là sống

thôi; bằng không, trái tim người đó chết rồi, gần như

chết, bởi vì trái tim người đó không hoạt động. Người

đó sống qua cái đầu, và cái đầu chỉ là cái thìa.

Qua cái đầu bạn không thể nếm trải bất kì vui vẻ

nào của cuộc sống được. Bạn có thể thấy cái đẹp qua

cái đầu không? Bạn có thể thấy được đoá hoa, nhưng

bạn sẽ bỏ lỡ cái đẹp; bạn sẽ thấy mặt trăng, nhưng bạn

246

sẽ bỏ lỡ cái đẹp; bạn sẽ thấy mặt trời lặn, nhưng bạn sẽ

bỏ lỡ cái đẹp. Đầu bạn không thể biết gì về cái đẹp.

Đầu bạn có thể biết cái gì đó về dục nhưng không

thể biết cái gì về tình yêu. Đầu bạn có thể hiểu phần

văn xuôi của cuộc sống, đầu bạn là cái máy tính –

nhưng nó không thể biết tới thơ ca của sự tồn tại. Và

thơ ca của sự tồn tại chứa chân lí. Âm nhạc của sự tồn

tại chứa ích lợi thực sự. Nó chỉ có thể được biết tới

bằng trái tim. Chỉ trái tim mới có thể kinh nghiệm

được điều đó.

Nhớ lấy, tất cả những điều là vô nghĩa, cái đầu là

hiệu quả với nó; còn tất cả những cái có ý nghĩa, chỉ

trái tim mới có khả năng biết nó. Và tất cả chúng ta

đều đang sống trong đầu. Các trường phổ thông, cao

đẳng, đại học chỉ tồn tại vì mỗi một chủ định, vì mỗi

cái tội duy nhất mà chúng tồn tại, và tội đó là: làm

chệch năng lượng của mọi người khỏi trái tim để

hướng lên đầu, để cho họ tất cả đều có thể trở thành

máy tính, các thư kí hiệu quả và những người thu thuế,

trưởng ga… Nhưng hệ thống giáo dục không cho phép

bạn trở thành người yêu, nhà thơ, ca sĩ. Nó không cho

phép bạn biết ý nghĩa thực của cuộc sống. Nó không

cho phép bạn đi vào trong đền chùa, nó giữ bạn ở

ngoài.

Cái đầu là ở bề mặt, trái tim là ở trung tâm. Và nếu

trái tim không vận hành, bạn chỉ là cái thìa, cái thìa gỗ.

Bạn sẽ không nếm canh. Người ngu có thể sống cả đời

cùng với thầy và vẫn lỡ con đường.

Bây giờ, có vài người ở đây đang bỏ lỡ và vài

người cứ lỡ mãi nếu họ vẫn còn hướng theo cái đầu.

Đây không phải là chỗ để sống trong cái đầu. Không

đầu đi! Sannyasin thực sự sẽ không có đầu. Người đó

sẽ có tính trái tim, bởi vì chính là qua trái tim mà tôi có

thể thấm nhuần vào trong bạn. Chính là chỉ qua trái

tim mà mới có khả năng giao cảm. Bằng không, bạn sẽ

nghe lời tôi và bạn sẽ cóp nhặt lời tôi, và bạn sẽ trở

thành vẹt và bạn sẽ lặp lời tôi – và đó là mọi sự vô tích

sự… chừng nào bạn chưa nếm trải, chừng nào bạn chưa

uống lấy tôi.

Lưỡi nếm canh. Xin đừng là thìa, là lưỡi đi. Khi

bạn ở quanh vị phật, đừng là thìa, là lưỡi đi – sống

động, nhạy cảm, mang tính trái tim, đáng yêu, tin cậy.

Lưỡi nếm canh.

Nếu ông thức trong hiện diện của thầy

một khoảnh khắc sẽ chỉ cho ông con đường.

Một khoảnh khắc là đủ! Vấn đề không phải là sống

với thầy cả thời gian dài; thời gian không đi vào trong

nó. Đấy không phải là vấn đề số lượng, về việc bạn đã

sống bao lâu với thầy. Vấn đề là bạn đã yêu thầy sâu

sắc thế nào, không phải là bạn đã sống bao lâu với thầy

– bạn đã trở nên bị thu hút vào thầy mạnh mẽ, đam mê

thế nào… không ở chiều dài thời gian, mà ở chiều sâu

của tình cảm của bạn. Thế thì một khoảnh khắc của

nhận biết, của trái tim thức tỉnh, một khoảnh khắc của

248

im lặng… và việc truyền trao, việc truyền trao bên

ngoài mọi kinh sách.

Người ngu là kẻ thù riêng của mình.

Tai hoạ người đó gây ra phá huỷ của người đó.

Người đó chịu cay đắng làm sao!

Người ngu là kẻ thù riêng của mình, Phật nói. Tại

sao? – bởi vì điều đó đơn giản là từ thoả thuận riêng

của mình mà người đó cứ bỏ lỡ tất cả những điều có ý

nghĩa trong sự tồn tại. Không ai cản đường cả. Thơ ca

của cuộc sống là sẵn có cho mọi người. Người ngu vẫn

còn điếc, người đó giữ cho tai mình bị bịt kín. Cuộc

sống tràn đầy ánh sáng, nhưng người ngu cứ giữ cho

mắt nhắm lại. Cuộc sống liên tục mưa rào niềm vui

thiêng liêng, hoa cứ mưa xuống, nhưng người ngu vẫn

còn quên lãng hoàn toàn. Cho dù đôi khi mặc cho bản

thân mình người đó bắt gặp một đoá hoa, người đó

không tin vào điều đó. Người đó nói, “Mình phải bị

lừa rồi.”

Điều đó xảy ra gần như mọi ngày. Mọi người viết

thư cho tôi rằng trong thiền của họ điều gì đó kì lạ

đang xảy ra: họ cảm thấy rất hạnh phúc – điều đó

không thể đúng được! Không ai đã viết cho tôi, “Tôi

cảm thấy bất hạnh – nó không thể đúng được!” Nhưng

bất kì khi nào hạnh phúc được cảm thấy, vui vẻ phát

sinh, họ trở nên sợ, họ không thể tin được vào điều đó.

Họ bắt đầu nghi ngờ. Họ bắt đầu nghi ngờ và họ bắt

đầu lí thuyết hoá rằng điều đó chắc phải là do tính thôi

miên của chỗ này, điều đó phải là do nhiều người áo

da cam bao quanh, đó là lí do tại sao họ bị ảnh hưởng.

Làm sao họ có thể hạnh phúc được?! Họ chỉ biết mỗi

khổ trong toàn thể các kiếp sống của mình, họ đã trở

249

nên quen với điều đó, khổ đã trở thành bản thể của họ.

Bây giờ cực lạc sao? Không, những hoa này không thể

đúng được – cái gì đó sai rồi.

Trong hầu hết mọi ngôn ngữ trên thế giới đều có

câu ngạn ngữ như câu này trong tiếng Anh: bạn nói,

“Điều đó không thể thật được bởi vì nó tốt thế.” Cái tốt

không thể thật được sao? Không ai tin vào cái tốt cả.

“Quá tốt để là thật,” bạn nói. Không ai nói, “Quá xấu

để là thật.” Không câu ngạn ngữ nào giống như vậy có

trong bất kì ngôn ngữ nào trên thế giới: “Quá xấu để là

thật.” Cái xấu được chấp nhận, cái xấu xí được chấp

nhận, cái trần tục được chấp nhận – còn cái linh thiêng

bị phủ nhận.

Và cho dù bạn chấp nhận cái linh thiêng, bạn cũng

chỉ chấp nhận nó một cách hình thức. Bạn đi tới đền

chùa và nhà thờ như các nghi thức xã hội; bạn không

thực tin vào Thượng đế, bạn không thực tin vào đền

chùa. Điều đó là tốt, nó giữ cho mọi sự được trôi chảy,

nó giống như chất bôi trơn. Nếu bạn đi tới đền chùa và

nhà thờ, mọi người nghĩ bạn là người tốt, chân thành,

tôn giáo; và nếu mọi người nghĩ bạn có tính tôn giáo,

chân thành và tốt bụng, bạn có thể lừa họ theo cách

ngoạn mục hơn là bạn có thể làm điều ngược lại. Họ sẽ

tin cậy bạn, và bạn có thể lừa họ và dối họ chỉ nếu họ

tin cậy vào bạn. Đó là nghi thức xã hội, có thể là một

chiến lược xã hội để lừa và dối mọi người. Nhưng bạn

không tin.

Bất kì khi nào cái gì đó mênh mông, khổng lồ, lớn

hơn bạn, mà giáng xuống bạn, bạn đơn giản co lại, bạn

nhắm mắt lại, bạn trở thành con đà điểu. Bạn đơn giản

phủ nhận nó! Điều đó không thể như vậy được. Không

phải là Thượng đế không tới trên con đường của bạn –

ngài đã tới nhiều lần rồi, ngài đã gõ cửa nhà bạn nhiều

lần rồi, nhưng bạn không mở cửa. Ngược lại, bạn cứ

tìm cách hợp lí hoá. Khi thì bạn nói, “Đấy chỉ là gió

thôi, đấy phải là trời mưa, đấy phải là con hàng xóm

đang chơi trên bậu cửa, gõ vào cánh cửa.” Bạn cứ giải

thích cho mình… nhưng bạn chưa bao giờ mở cửa ra và

xem ai có đó.

Người ngu là kẻ thù riêng của mình.

Tai hoạ người đó gây ra phá huỷ của người đó.

Người đó chịu cay đắng làm sao!

Tại sao làm điều ông sẽ hối tiếc?

Tại sao mang nước mắt theo bản thân ông?

Làm chỉ điều ông không tiếc,

Từ từ bi lớn lao của mình, ông ấy nêu ra câu hỏi –

ông ấy đang nói với bạn – Tại sao làm điều ông sẽ hối

tiếc? Tại sao cứ mang nước mắt mãi theo bản thân

ông?

Làm chỉ điều ông không tiếc,

và rót đầy bản thân ông bằng vui vẻ.

Nhớ lấy, để điều này là tiêu chuẩn: bất kì điều gì

đem tới vui vẻ và phúc lạc và phúc lành đều là thực –

bởi vì phúc lạc là bản tính của Thượng đế. Chân lí là

cái tên khác của phúc lạc. Giả dối đem tới khổ. Nếu

bạn sống trong dối trá, bạn sẽ sống trong khổ. Và nếu

bạn sống trong khổ, nhớ và tìm ra cuộc sống bạn đã

dựa trên điều dối trá nào. Tự rút lui bản thân mình khỏi

những dối trá đó. Đừng phí thời gian và đừng trì hoãn.

Rút lui ngay lập tức! Việc rút lui đó tôi gọi là tính chất

sannyas.

251

Nó không phải là rút lui khỏi thế giới, nó là rút lui

khỏi những dối trá mà bạn đã từng sống mãi cho tới

giờ. Nó không phải là từ bỏ thế giới, nó là từ bỏ những

dối trá mà bạn đã dựa cả đời mình vào. Khoảnh khắc

bạn tự rút bản thân mình khỏi dối trá, chúng bắt đầu

sụp đổ, bắt đầu chết, bởi vì chúng phụ thuộc vào bạn,

chúng tự nuôi dưỡng chúng trên bạn – chúng không thể

sống mà thiếu sự hỗ trợ của bạn được. Rút đi sự hợp

tác của bạn, và mọi dối trá đều biến mất. Và khi mọi

dối trá biến mất, cái còn là chân lí.

Chân lí là bản tính bên trong nhất của bạn. Chân lí

phải không được tìm ở bất kì đâu khác. Aes dhammo

sanantano – đây là luật tối thượng, luật không cạn,

chân lí tối thượng, cái ở bên trong bạn. Bạn không cần

đi đâu cả. Bạn có thể tìm thấy nó bên trong bản thân

bạn nếu bạn có thể hoàn thành chỉ một điều kiện này:

rút lui khỏi mọi điều dối trá mà bạn đã đã đầu tư vào

nhiều thế – rút lui khỏi chúng. Từ bỏ tất cả những cái

không thật. Khổ là chỉ dẫn cho cái không thật.

Bất kì khi nào phúc lạc nào đó xảy ra, tin cậy vào

nó, và đi vào theo chiều hướng đó… và bạn sẽ đi

hướng tới Thượng đế. Phúc lạc là hương thơm của

ngài. Nếu bạn có thể theo phúc lạc, bạn sẽ không bao

giờ đi lạc lối. Nếu bạn theo phúc lạc, bạn sẽ đi theo tự

nhiên. Và nếu bạn tự nhiên, phúc lạc, thảnh thơi, trí

huệ nảy sinh.

Trí huệ là trạng thái rất thảnh thơi của bản thể. Trí

huệ không phải là tri thức, không phải là thông tin; trí

huệ là sự thức tỉnh bản thể bên trong của bạn, tỉnh táo,

có tính quan sát, chứng kiến, đầy ánh sáng. Tràn đầy

ánh sáng đi – đó là quyền tập ấm của bạn. Nếu bạn bỏ

252

lỡ, bạn là người ngu. Và bạn đã bỏ lỡ nhiều kiếp rồi –

lần này, xin từ bi thêm chút nữa cho bản thân mình.

8

Thượng đế yêu tiếng cười

Câu hỏi thứ nhất:

Thưa Thầy kính yêu,

Ở phương Tây tôi đã được huấn luyện là một công

nhân xã hội. Tôi được dạy rằng điều quan trọng là

một người kính trọng và yêu mến bản thân mình và

cảm thấy xứng đáng. Tôi đã được dạy rằng điều

quan trọng là hỗ trợ để giúp làm mạnh cho bản

ngã. Thầy nói giết chết bản ngã. Tôi bị lẫn lộn.

Prem Aradhana, bản ngã được cần tới bởi vì cái ta

thực chưa được biết tới. Bản ngã là cái thay thế, nó là

thực thể giả. Bởi vì bạn không biết bản thân mình nên

bạn phải tạo ra một trung tâm nhân tạo; bằng không

hoạt động trong cuộc sống sẽ không thể được. Bởi vì

bạn không biết khuôn mặt thật của mình, bạn phải đeo

254

mặt nạ. Không biết về cái bản chất, bạn phải tin cậy

vào cái bóng.

Chỉ có hai cách sống trong cuộc sống. Một là sống

nó từ chính cốt lõi của bản thể bạn – đó đã là cách của

các nhà huyền môn. Thiền không là gì ngoài phương

cách làm cho bạn nhận biết về cái ta thực của mình –

cái không do bạn tạo nên, cái bạn đã là vậy rồi. Bạn

được sinh ra với nó, bạn là nó! Nó cần được phát hiện

  1. Nếu điều này là không thể, hay nếu xã hội không

cho phép điều đó xảy ra… và không xã hội nào cho

phép nó xảy ra cả, bởi vì cái ta thực là nguy hiểm –

nguy hiểm cho nhà thờ đã được lập, nguy hiểm cho

nhà nước, nguy hiểm cho đám đông, nguy hiểm cho

truyền thống – bởi vì một khi con người biết tới cái ta

thực của mình, người đó trở thành cá nhân. Người đó

không còn thuộc vào tâm lí đám đông nữa; người đó sẽ

không mê tín, và người đó không thể bị khai thác.

Người đó không thể bị dẫn đi như trâu bò, người đó

không thể bị ra lệnh và chỉ huy. Người đó sẽ sống theo

ánh sáng của mình, người đó sẽ sống từ nội tâm riêng

của mình. Cuộc sống của người đó sẽ có cái đẹp, sự

toàn vẹn vô cùng. Nhưng đó là nỗi sợ của xã hội.

Con người được hợp nhất trở thành cá nhân, và xã

hội muốn bạn trở thành phi cá nhân. Thay vì tính cá

nhân, xã hội dạy bạn là cá tính. Từ ‘cá tính –

personality’ phải được hiểu. Nó bắt nguồn từ một gốc,

‘persona’ – persona nghĩa là mặt nạ. Xã hội cho bạn

một ý tưởng giả tạo về bạn là ai; nó cho bạn mỗi một

thứ đồ chơi, và bạn cứ níu bám lấy đồ chơi này cả đời

bạn.

Cách duy nhất là sống qua thiền – thế thì bạn sống

cuộc sống của nổi dậy, của phiêu lưu, của dũng cảm.

255

Thế thì bạn thực sự sống! Cách khác để sống, hay để

sống giả, là cách thức của bản ngã – làm mạnh bản

ngã, nuôi dưỡng bản ngã; để cho bạn không cần nhìn

vào cái ta, cứ níu bám lấy bản ngã. Bản ngã là vật

phẩm do xã hội tạo ra để lừa dối bạn, làm sao lãng bạn.

Bản ngã là do con người tạo ra, được chúng ta chế

tạo ra. Và bởi vì nó do xã hội chế tạo ra, xã hội có

quyền trên nó. Bởi vì nó do nhà nước và nhà thờ tạo

ra, và do những người đang có quyền lực tạo ra, họ có

thể phá huỷ nó vào bất kì lúc nào; điều đó tuỳ thuộc

vào họ. Bạn phải thường xuyên trong sợ, và bạn phải

thường xuyên vâng lời họ, tuân theo họ, để cho bản

ngã của bạn còn nguyên không bị động chạm. Xã hội

cho bạn sự kính trọng nếu bạn không phải là cá nhân.

Xã hội tôn vinh bạn nếu bạn không phải là một Jesus,

không phải là một Socrates, không phải là một Phật.

Nó kính trọng bạn chỉ nếu bạn là con cừu, không phải

là con người.

Aradhana, điều bạn đã được bảo cho là hoàn toàn

vô nghĩa. Không thành vấn đề ai nói điều đó – các đại

256

học, các chính khách, các tu sĩ. Chắc chắn, bạn sẽ cảm

thấy bị lẫn lộn, bởi vì tôi đang nói cho bạn chính cái

đối lập lại: Tôi đang bảo bạn gạt bỏ bản ngã, bởi vì

nếu bạn gạt bỏ bản ngã, bạn gạt bỏ tảng đá đang ngăn

cản luồng tâm thức của bạn.

Tâm thức của bạn có đó, ngay ở sau tảng đá này;

nó phải không được đem từ đâu đó khác lại. Loại bỏ

tảng đá này đi – tôn giáo thực chỉ bao gồm việc loại bỏ

cái không cần thiết, và thế rồi cái cần thiết bắt đầu

tuôn chảy. Cái không bản chất phải bị loại bỏ đi. Và

cái bản chất đã có đó rồi, nó đã là hoàn cảnh rồi! Bạn

loại bỏ tảng đá và bạn sẽ ngạc nhiên: bạn không cần

tạo ra cái ta thực – nó tự lộ ra cho bạn.

Và cái thực có cái đẹp, và cái thực là bất tử. Bởi vì

nó bất tử nó không sợ. Cái không thực thường xuyên

run rẩy. Bản ngã bao giờ cũng trong nguy hiểm – bất kì

ai đều có thể phá huỷ được nó. Bởi vì nó đã được

những người khác trao cho bạn, họ có thể lấy lại nó.

Hôm nay họ kính trọng bạn, ngày mai họ có thể không

kính trọng bạn. Nếu bạn không theo ý tưởng của họ về

cuộc sống, nếu bạn không xác nhận phong cách hiện

hữu của họ, họ sẽ rút lại sự kính trọng của họ. Và bạn

sẽ bị xẹp lép trên đất… và bạn sẽ không biết mình là

ai.

Cái không biết lớn nhất tồn tại bên trong bạn. Biển

chưa được thăm dò nhất là tâm thức bạn, và nguy hiểm

lớn nhất nữa, bởi vì khi bạn bắt đầu đi vào bên trong,

bạn bắt đầu rơi vào trong cái trống rỗng, và hoảng sợ

lớn lao nảy sinh, sợ bị điên, sợ mất căn cước của bạn…

Bởi vì bạn đã biết tới bản thân mình như cái tên, bạn

đã biết tới bản thân mình như một người đặc biệt – bạn

đã biết tới bản thân mình như bác sĩ, như kĩ sư, như

doanh nhân; bạn đã biết tới bản thân mình như người

Ấn Độ, người Đức, người Trung Quốc; bạn đã biết tới

bản thân mình như người da đen hay da trắng; bạn đã

biết tới bản thân mình như đàn ông hay đàn bà; bạn đã

biết tới bản thân mình như người có giáo dục hay

không giáo dục – tất cả những phân loại này bắt đầu

biến mất.

Khi bạn đi vào bên trong, bạn không là đàn ông

không là đàn bà: Neti, neti – không cái này không cái

nọ, không da trắng không da đen, không Hindu giáo

không Mô ha mét giáo, không người Ấn Độ không

người Pakistan. Khi bạn đi vào bên trong, tất cả những

phân loại này bắt đầu tuột khỏi tay bạn. Thế thì bạn là

ai? Bạn bắt đầu mất dấu vết bản ngã của bạn, và nỗi sợ

lớn nảy sinh – sợ cái không. Bạn rơi vào trong cái vô

hạn. Ai biết liệu bạn sẽ có khả năng quay lại hay

không? Và ai biết cái gì sẽ là kết quả của việc thám

hiểm này? Kẻ hèn nhát níu bám lấy bến bờ và quên

mất tất cả về biển. Đó là điều đang xảy ra trên khắp thế

giới. Mọi người níu bám lấy bản ngã bởi vì bản ngã

cho bạn ý tưởng nào đó về bạn là ai, cho bạn sáng tỏ

259

nào đó. Nhưng bản ngã là giả, và sáng tỏ này cũng là

giả.

Thà bị lẫn lộn bởi thực tại còn tốt hơn là được sáng

tỏ với cái không thực ra.

Aradhana, bạn đúng đấy: với tôi lẫn lộn lớn nhất

định xảy ra – bởi vì mọi tri thức của bạn, dần dần, dần

dần sẽ được chứng tỏ đơn giản là dốt nát chứ không gì

khác. Ẩn giấu đằng sau tri thức của bạn là dốt nát của

bạn. Ẩn đằng sau cái láu lỉnh của bạn là tâm trí ngu

đần của bạn. Và đằng sau bản ngã chẳng có gì cả – nó

là cái bóng.

Một khi điều này trở thành rõ ràng cho bạn, rằng

bạn đã níu bám lấy cái bóng, sợ hãi lớn và lẫn lộn lớn,

hỗn độn lớn nhất định xảy ra. Nhưng từ hỗn độn này

các ngôi sao được sinh ra. Người ta phải trải qua

những hỗn độn như vậy – đó là một phần của trưởng

thành tâm linh. Bạn phải làm mất đi cái giả để có được

cái thật. Nhưng giữa hai điều này sẽ là một khoảng hở

mà cái giả sẽ mất đi và cái thật sẽ chưa tới. Đó là

những khoảnh khắc, khoảnh khắc mấu chốt nhất… đây

là những khoảnh khắc mà bạn cần thầy hay bạn.

Mới hôm nọ, Phật đã nói, “Thầy hay bạn là được

cần.” Đây là những khoảnh khắc đó khi bạn sẽ cần bàn

tay của ai đó, người có thể giữ bạn, người có thể đỡ

bạn, người có thể nói, “Đừng sợ. Cái trống rỗng này sẽ

biến mất. Chẳng mấy chốc bạn sẽ tuôn trào – chỉ chút

ít chờ đợi thêm nữa, chút ít kiên nhẫn thêm nữa.” Thầy

không thể cho bạn cái gì, nhưng thầy có thể cho bạn

dũng cảm. Thầy có thể đưa bàn tay của mình cho bạn

260

vào những khoảnh khắc mấu chốt đó khi tâm trí bạn

muốn quay lại, trở lại, níu bám bến bờ này.

Vui vẻ của thầy, niềm tin của thầy, thẩm quyền

của thầy… nhớ lấy, khi tôi nói “thẩm quyền của thầy”

tôi không ngụ ý rằng thầy là người cầm quyền. Thầy

không bao giờ là người cầm quyền, nhưng thầy có

thẩm quyền, bởi vì thầy là nhân chứng cho cái ta riêng

của mình. Thầy biết về bờ bên kia, thầy đã từng ở bờ

bên kia. Bạn chỉ mới nghe nói về bờ bên kia, bạn đã

đọc về nó; bạn chỉ biết về bờ bên này, sự thoải mái và

an ninh, và an toàn của bờ này. Và khi cơn bão hoành

hành dữ dội và bạn bắt đầu mất cái nhìn về bờ này, và

bạn không có khả năng thấy được bờ bên kia, tâm trí

bạn sẽ nói, “Quay lại thôi! Quay lại nhanh nhất có thể

được đi! Bờ cũ đang biến mất và bờ mới không xuất

hiện. Có thể không có gì ở bờ bên kia cả, có thể không

có bờ bên kia chút nào. Và cơn bão to thế!”

Trong những khoảnh khắc đó, nếu bạn ở cùng

thầy, và ai đó đang ngồi trong thuyền im lặng, hoàn

toàn bình thản và yên tĩnh, cười lớn và nói, “Đừng lo,”

vẫn cứ thổi sáo, hay ca hát bài ca, hay kể chuyện cười

cho bạn, và người đó nói, “Đừng lo. Có bờ bên kia – ta

biết, ta đã từng ở đó. Kiên nhẫn thêm chút nữa đi..

Bờ bên kia không xa xôi gì; chỉ tại mỗi mắt bạn

đầy khói đến mức bạn không thể thấy được. Thực ra,

chính bờ này là bờ bên kia. Nếu mắt bạn sáng tỏ, nếu

cảm nhận của bạn không bị u ám, nếu sáng suốt đã nảy

sinh trong bản thể bạn, nếu bạn có thể thấy và nghe,

chính bờ này là bờ bên kia. Khi người ta biết, người ta

262

thực sự cười vào toàn thể cái nhố nhăng của cuộc sống

– bởi vì chúng ta đã thu được cái chúng ta khao khát.

Kho báu này đi cùng với chúng ta, và chúng ta cứ chạy

quanh đây đó.

Bản ngã phải không được tạo ra, bởi vì bạn có cái

ta tối cao bên trong mình.

Nhưng tôi có thể hiểu được lẫn lộn của bạn. Vẫn

còn bị lẫn lộn đi. Đừng quay sự sáng tỏ cũ của bạn – nó

là lừa dối. Ở trong lẫn lộn này, ở cùng tôi thêm chút

nữa, và chẳng mấy chốc lẫn lộn sẽ tản mát đi và biến

mất. Và thế rồi một loại sáng tỏ hoàn toàn mới tới.

Có hai loại sáng tỏ – một, sáng tỏ chỉ đơn giản có

tính trí tuệ, bất kì khoảnh khắc nào cũng có thể bị lấy

đi, hoài nghi có thể được tạo ra vào bất kì khoảnh khắc

nào… Trí tuệ đầy những hoài nghi. Bất kì cái gì bạn đã

nghe thấy và bất kì cái gì bạn đã được bảo đều bị tôi dễ

dàng lấy đi thế; nó chẳng giá trị gì mấy. Huấn luyện cả

đời của bạn, và tôi đã lấy đi mảnh đất từ dưới chân bạn

dễ dàng thế… và bạn bị lẫn lộn. Sáng tỏ như vậy có thể

có giá trị gì? Nếu tôi có thể làm cho bạn lẫn lộn dễ

dàng thế, điều đó nghĩa là nó không thực sự sáng tỏ

đâu. Tôi sẽ cho bạn một loại sáng tỏ mới mà không thể

bị làm lẫn lộn được.

Câu hỏi thứ ba:

Thưa Thầy kính yêu,

Tôi là nhà tâm lí. Tôi đã hi vọng rằng việc nghiên

cứu tâm lí sẽ giúp làm thay đổi cuộc đời tôi, nhưng

chẳng cái gì như thế đã xảy ra. Tôi phải làm gì

bây giờ?

Tâm lí học vẫn còn là khoa học rất, rất chưa chín

muồi. Nó còn rất thô sơ, nó chỉ mới là bắt đầu. Nó

276

chưa là cách sống – nó không thể biến đổi bạn được.

Nó chắc chắn có thể cho bạn vài sáng suốt trong tâm

trí, nhưng những sáng suốt đó sẽ không là biến đổi. Tại

sao? – bởi vì biến đổi bao giờ cũng xảy ra từ bình diện

cao hơn. Biến đổi chưa bao giờ có nghĩa là giải quyết

vấn đề – vẫn còn ở cùng bình diện cũ – điều đó nghĩa là

điều chỉnh. Tâm lí học vẫn đang cố gắng giúp bạn điều

chỉnh – điều chỉnh theo xã hội, cái bản thân nó đã điên

khùng rồi, điều chỉnh theo gia đình, điều chỉnh theo

các ý tưởng đang chi phối quanh bạn. Nhưng tất cả

những ý tưởng đó – gia đình bạn, xã hội bạn – bản thân

chúng đều ốm yếu, bệnh tật, và điều chỉnh theo chúng

sẽ cho bạn sự bình thường nào đó, ít nhất có vẻ bề

ngoài lành mạnh, nhưng điều đó sẽ không làm biến đổi

bạn.

Biến đổi có nghĩa là thay đổi bình diện của hiểu

biết của bạn. Nó tới qua việc siêu việt lên. Nếu bạn

muốn thay đổi tâm trí bạn, bạn phải đi sang trạng thái

vô trí. Chỉ từ tầm cao đó bạn mới có khả năng thay đổi

tâm trí mình, bởi vì từ chiều cao đó bạn sẽ là người

chủ. Vẫn còn trong tâm trí và cố thay đổi tâm trí bằng

bản thân tâm trí là quá trình vô tích sự. Điều đó cũng

giống như tự kéo mình lên qua dây giầy của mình.

Điều đó cũng giống như con chó cố bắt đuôi của nó;

đôi khi chúng làm vậy, đôi khi chúng hành xử rất con

người. Con chó đang ngồi sưởi nắng mặt trời buổi

sáng sớm và nó thấy cái đuôi ngay bên cạnh nó – một

cách tự nhiên, tò mò phát sinh: Sao không bắt lấy nó?

Nó thử, không được, cảm thấy bực mình, khó chịu; thử

mạnh hơn, thất bại mạnh hơn, trở nên điên, khùng.

Nhưng nó sẽ không bao giờ có khả năng bắt được đuôi

– đấy là đuôi riêng của nó. Nó càng nhảy lên, cái đuôi

cũng sẽ càng nhảy lên.

277

Tâm lí học có thể cho bạn vài điều sáng suốt nhìn

vào tâm trí, nhưng bởi vì nó không thể đưa bạn vượt ra

ngoài tâm trí nên nó không thể có ích gì được.

Sam trở thành nhà tâm thần và bắt đầu làm ăn phát

đạt. Anh ta mua về một chiếc xe hơi to đắt tiền và lái

nó lần đầu tiên. Anh ta vừa lái được một chốc, một

chiếc xe khác đâm sầm vào anh ta. Anh ta nhảy ra khỏi

chiếc Cadillac bẹp dúm, đi tới chiếc xe đã đụng vào xe

mình, rung rung nắm đấm với nó, và gầm lên, “Đồ

ngu! Đồ khờ! Đồ đê tiện! Đồ chó… !” Thế rồi anh ta

sực nhớ mình là nhà tâm thần và hạ giọng xuống hỏi

một cách mềm mỏng, “Sao anh ghét mẹ anh?”

Tâm lí học chẳng thể giúp ích được. Tôi đã nghe

kể một câu chuyện khác về cũng anh chàng Sam này –

một câu chuyện khi anh ta không còn trên thế giới này

nữa, anh ta đã chết.

Bà quả phụ chăm sóc cây quanh nấm mồ của

chồng mình. Khi bà ấy nghiêng người qua, vài nhành

cỏ xuyên vào chỗ da trần dưới váy bà ấy. Giật mình,

bà ấy nhanh chóng quay lại, nhưng chẳng thấy ai cả.

Thở dài, bà ấy quay nấm mồ và thì thào, “Sam ơi, cư

xử cho phải phép vào! Và nhớ đấy, anh được coi là

chết rồi mà.”

Tâm lí học sẽ không giúp gì mấy cho bạn cả trong

sống lẫn trong chết. Bạn có thể được giúp đỡ chỉ bởi

tôn giáo.

278

Bây giờ các nhà tâm lí đang cố gắng đóng vai trò

của người thầy, hoàn toàn chỉ giả vờ. Nhà tâm lí, nhà

phân tâm và nhà tâm thần đều không phải là thầy! Họ

không biết bản thân họ. Vâng, họ đã hiểu chút ít về cơ

chế của tâm trí, họ đã nghiên cứu, họ có thông tin tốt.

Nhưng thông tin không bao giờ thay đổi ai cả, nó chưa

bao giờ đem tới bất kì cách mạng nào. Sâu bên dưới

người này vẫn còn như cũ. Người đó có thể nói hay,

người đó có thể cho bạn lời khuyên tốt, nhưng người

đó không thể đi theo lời khuyên riêng của mình.

Nhà phân tâm không thể là thầy được. Nhưng đặc

biệt ở phương Tây ông ta đã trở nên thành công một

cách chuyên nghiệp tới mức ngay cả linh mục cũng

cực kì kính nể. Ngay cả các linh mục – Cơ đốc giáo và

Tin Lành – đang nghiên cứu phân tâm học và các

trường phái khác của tâm lí, bởi vì họ thấy rằng mọi

người không tới các linh mục nữa, họ tới nhà phân

tâm. Linh mục trở nên sợ rằng mình mất việc.

Linh mục đã chi phối mọi người từ hàng trăm năm

nay. Ông ta là người khôn ngoan – ông ta đã mất hấp

dẫn rồi. Và mọi người không thể sống được mà thiếu

các cố vấn; họ cần ai đó bảo họ phải làm gì bởi vì họ

chưa bao giờ trưởng thành. Họ giống như trẻ nhỏ, bao

giờ cũng cần được bảo cho cái gì làm và cái gì không

làm. Mãi cho tới nay các linh mục vẫn thường làm

điều đó; bây giờ linh mục đã mất sức mê hoặc của

mình, sự hợp thức của mình. Ông ta không còn đương

đại nữa, ông ta đã trở thành lạc hậu rồi. Bây giờ nhà

phân tâm đã chiếm vị trí của ông ta, nhà phân tâm là tu

sĩ thời nay.

Nhưng như tu sĩ là giả, nhà phân tâm cũng vậy. Tu

sĩ đã dùng lối nói tôn giáo để khai thác mọi người; nhà

279

phân tâm dùng lối nói khoa học để khai thác cũng

người đó. Tu sĩ không thức tỉnh mà nhà phân tâm cũng

không thức tỉnh.

Con người có thể được giúp đỡ chỉ bởi ai đó đã là

vị phật; bằng không người đó không thể được giúp đỡ.

Mọi cố vấn của bạn sẽ làm cho bạn ngày một trở

thành đống lộn xộn nhiều hơn. Bạn càng nghe cố vấn,

bạn sẽ càng trở thành đống lộn xộn lớn hơn – bởi vì họ

không biết điều họ nói! Họ thậm chí không đồng ý

trong bản thân họ. Freud nói điều này, Adler nói điều

khác, Jung lại nói điều khác. Và bây giờ có cả nghìn lẻ

một trường phái. Và mọi trường phái đều cuồng tín về

triết học của nó – rằng nó có chân lí, toàn thể chân lí và

không có gì ngoài chân lí. Mà không chỉ nó nói rằng

nó đúng đâu; nó nói nó có chân lí, và mọi người khác

đều nói dối, lừa dối.

Nếu bạn nghe theo các nhà phân tâm này, nếu bạn

đi từ nhà phân tâm này sang nhà phân tâm khác, bạn sẽ

còn bị phân vân hơn. Giúp đỡ duy nhất họ có thể trao

cho bạn là ở chỗ nếu bạn đủ thông minh bạn sẽ trở nên

ngán họ, chán họ tới mức bạn sẽ đơn giản vứt bỏ cái ý

tưởng về được biến đổi, và bạn có thể bắt đầu sống

cuộc sống của bạn một cách bình thường, chẳng bận

tâm nhiều tới biến đổi – nếu bạn thông minh, điều rất

hãn hữu, bởi vì thông minh đã bị nghiền nát từ ngay

ban đầu. Bạn bị làm cho thành người xoàng xĩnh. Từ

ngay chính ban đầu, thông minh đã bị phá huỷ. Chỉ vài

người bằng cách nào đó trốn thoát khỏi xã hội và vẫn

còn thông minh.

LượcTrích Dhammapada – Con đường của Phật (đủ bộ)

600_dhammapadavol1

Dhammapada

CON ĐƯỜNG CỦA PHẬT

¨

ĐÂY LÀ CON ĐƯỜNG

ĐI TỚI CHÂN LÍ TỐI THƯỢNG

Osho

Tập 2 Hà Nội 5/2011

Trí huệ của hồn nhiên
Làm sao tâm trí rối loạn
hiểu con đường?
Nếu một người bị rối loạn
Người đó sẽ không bao giờ được tràn đầy với tri
thức.
Tâm trí không rối loạn,
không còn tìm kiếm xem xét
cái gì là phải và cái gì là trái,
Tâm trí vượt ra ngoài mọi phán xét,
quan sát và hiểu.
Biết rằng thân thể là cái bình mảnh mai,
và tạo nên lâu đài của tâm trí ông.
Trong mọi thử thách
để hiểu biết tranh đấu cho ông
để bảo vệ điều ông có được.
2
Vì chẳng mấy chốc thân thể này sẽ bị bỏ đi.
Vậy nó cảm thấy cái gì?
Khúc gỗ vô dụng, nằm trên đất.
Vậy nó biết gì?
Kẻ thù tồi tệ nhất của ông không thể làm hại ông
nhiều như các ý nghĩ riêng, khinh suất của ông.
Nhưng một khi bị nó khống chế,
không ai có thể giúp ông được mấy,
cho dù cả bố hay mẹ ông.

Có lần tôi được hỏi, “Triết lí là gì?” Tôi nói, “Triết

lí là nghệ thuật hỏi câu hỏi sai.” Người mù hỏi “Ánh

sáng là gì?” – đây là triết lí. Người điếc hỏi “Âm nhạc

là gì? Âm thanh là gì?” – đây là triết lí.

Nếu người mù hỏi, “Làm sao tôi có thể lấy lại

được đôi mắt?” đây không còn là triết lí nữa, đây là tôn

giáo. Nếu người điếc đi tới bác sĩ để được chữa trị sao

cho người đó có thể nghe được, thế thì người đó đang

đi theo hướng của tôn giáo và không theo hướng của

triết lí.

Triết lí là đoán chừng, nó là bàn tán; chẳng biết gì,

người ta cố phát minh ra chân lí. Và chân lí không thể

được phát minh, và bất kì cái gì được phát minh ra

không thể đúng được. Chân lí phải được khám phá ra.

Nó đã có đó rồi… mọi điều chúng ta cần là con mắt cởi

mở – con mắt để thấy nó, trái tim để cảm nó, bản thể

để hiện diện với nó. Chân lí bao giờ cũng hiện diện

nhưng chúng ta vắng mặt, và bởi vì chúng ta vắng mặt

3

chúng ta không thể thấy được chân lí. Và chúng ta cứ

hỏi về chân lí, mà chúng ta không hỏi câu hỏi đúng:

Làm sao hiện diện? Làm sao để trở thành sự hiện diện?

Chúng ta hỏi về chân lí và việc hỏi đó đi xa khỏi

nó, bởi vì việc hỏi ngụ ý rằng câu trả lời là có thể có từ

ai đó khác. Việc hỏi ngụ ý rằng ai đó khác có thể nói

cho bạn chân lí là gì. Không ai có thể nói cho bạn điều

đó được, điều đó không thể được nói.

Lão Tử nói: Chân lí có thể được nói ra không còn

là chân lí nữa. Một khi được nói ra, nó trở thành dối

trá.

Tại sao? – bởi vì người biết, biết nó không phải

như thông tin; bằng không, sẽ rất dễ dàng truyền thông

tin này cho bất kì ai sẵn sàng nhận nó. Chân lí được

biết như kinh nghiệm bên trong. Nó giống như việc

nếm trên lưỡi. Nếu một người chưa bao giờ nếm vị

ngọt là gì, bạn không thể giải thích nó cho người đó

được – điều đó là không thể được. Nếu một người chưa

thấy mầu sắc, bạn không thể giải thích cho người đó

nó là gì.

Có những điều chỉ có thể được kinh nghiệm, và

qua kinh nghiệm, được hiểu. Thượng đế là kinh

nghiệm tối thượng đó, điều hoàn toàn không thể diễn

đạt nổi, không thể truyền đạt nổi. Nó không thể được

truyền đạt. Nhiều nhất, vài hướng dẫn có thể được cho;

nhưng những hướng dẫn đó cũng phải được nhận bằng

trái tim rất thông cảm, bằng không bạn sẽ bỏ lỡ chúng.

Nếu bạn diễn giải chúng bằng tâm trí mình bạn sẽ

bỏ lỡ chúng, bởi vì tâm trí bạn có thể làm gì khi có liên

quan tới việc diễn giải? Nó chỉ có thể đem quá khứ

riêng của nó vào. Nó chỉ có thể đem hỗn độn riêng của

4

nó vào. Nó có thể đem những xung đột, hoài nghi, lẫn

lộn của nó vào. Và với tất cả những cái đó nó sẽ áp đặt

lên chân lí, lên hướng dẫn được trao cho bạn, và lập

tức mọi sự bị bóp méo. Tâm trí bạn không ở trong

trạng thái để thấy, để cảm.

Tôn giáo đơn giản nghĩa là tạo ra một không gian

trong tâm trí của bạn, cái có năng lực thấy, cái có năng

lực của không xung đột, cái có năng lực là một mà

không chia chẻ gì, cái có năng lực toàn vẹn, sáng tỏ,

cảm nhận. Tâm trí với đầy những ý nghĩ không thể

cảm nhận được; những ý nghĩ đó cứ can thiệp vào.

Những ý nghĩ có đó, hết tầng nọ tới tầng kia. Vào lúc

cái gì đó đạt tới cốt lõi bên trong nhất của bạn, nếu mà

nó đạt tới, nó không còn là như nó đã được chuyển

giao bởi ai đó, người đã biết. Nó là một hiện tượng

khác toàn bộ.

Phật hay lặp lại từng hướng dẫn ba lần. Ai đó hỏi

ông ấy, “Sao thầy lặp lại một thứ những ba lần?”

Ông ấy nói, “Ngay cả ba lần cũng không đủ. Khi ta

nói điều đó lần thứ nhất, ông chỉ nghe thấy lời thôi.

Những lời đó trống rỗng, chỉ trống rỗng, cái vỏ hổng,

không có nội dung. Ông không thể nghe thấy nội dung

ở lần thứ nhất. Lần thứ hai, ông nghe nội dung qua lời,

hương thơm tới, nhưng ông bàng hoàng thế, ông bị bối

rối bởi sự hiện diện của nó đến mức ông không ở vào

trạng thái để hiểu. Ông nghe, nhưng ông không hiểu.

Đó là lí do tại sao ta phải lặp lại nó ba lần.”

Tôi cứ lặp đi lặp lại bởi một lẽ đơn giản là các bạn

ngủ thế – nó phải được lặp lại, được gõ búa vào. Có thể

trong khoảnh khắc nào đó, khoảnh khắc thuận lợi nào

5

đó, các bạn sẽ không ở sâu thế trong giấc ngủ; các bạn

có thể ở gần, rất gần với việc thức, và cái gì đó có thể

đi vào trong các bạn. Các bạn có thể có khả năng nghe

thấy. Vâng, có những khoảnh khắc khi các bạn rất gần

với việc thức – không thức, không ngủ, chỉ ngay ở

giữa, đâu đó ở giữa.

Mỗi sáng các bạn đều biết, có vài khoảnh khắc khi

giấc ngủ không còn nữa nhưng các bạn vẫn chưa thức,

các bạn không thể nói được là mình thức. Các bạn có

thể nghe thấy, theo một cách rất mơ hồ, âm thanh của

chim chóc, và tiếng người rao hàng, và tiếng vợ nói

với hàng xóm và tiếng trẻ con sửa soạn tới trường, và

tiếng ồn ào giao thông, và tiếng tàu hoả chạy qua –

nhưng theo một cách rất mơ hồ, không toàn bộ, chỉ bộ

phận. Và các bạn cứ lơ lơ trong giấc ngủ. Khoảnh khắc

này các bạn nghe thấy tiếng ồn của tàu hoả chạy qua,

khoảnh khắc khác các bạn đã đi sâu hơn vào giấc ngủ

của mình.

Bây giờ các nhà nghiên cứu về giấc ngủ nói rằng

điều đó xảy ra liên tục trong giấc ngủ của bạn: nếu bạn

ngủ tám giờ, bạn không ở cùng mức độ liên tục, mức

độ của bạn cứ thay đổi, hết đỉnh đến thung lũng. Cả

đêm bạn đi lên và đi xuống. Đôi khi bạn ở rất sâu

trong giấc ngủ nơi ngay cả mơ cũng biến mất –

Patanjali đã gọi điều đó là sushupti, ngủ không mơ – và

đôi khi bạn đầy những mơ. Và đôi khi bạn chỉ ngay

bên bờ thức tỉnh. Nếu cái gì đó vỡ tan, sốc xảy ra, bạn

sẽ thức dậy, đột nhiên thức dậy.

Đó là nỗ lực của mọi chư phật: đợi đến đúng

khoảnh khắc khi bạn rất gần tới việc thức tỉnh. Thế thì

một chút ít thúc đẩy và mắt bạn mở ra và bạn có thể

thấy.

6

Thượng đế không thể được giải thích nhưng có thể

được thấy, có thể được kinh nghiệm – không thể được

giải thích. Bất kì giải thích nào về Thượng đế không là

gì ngoài việc giải thích sai về ngài; do đó, càng có

nhiều tu sĩ, nhà thượng đế học, giáo sư, tôn giáo càng

ít có trên thế giới. Càng nhiều giáo hoàng và nhiều

shankaracharyas, càng ít tôn giáo có đó trên thế giới –

bởi vì những người này cứ giải thích và Thượng đế

không thể nào được giải thích. Họ nhồi nhét vào tâm

trí bạn bằng biết bao nhiêu lời giải thích, bây giờ

những lời giải thích đó trong xung đột. Bây giờ gần

như không thể nào hình dung ra điều đó, cái gì là cái

gì, cái nào là cái nào. Bạn trong lẫn lộn hoàn toàn. Con

người chưa bao giờ trong lẫn lộn như thế trước đây,

bởi vì nhân loại chưa bao giờ ở gần thế trước đây. Trái

đất thực sự đã trở thành làng, làng toàn cầu.

Trong những ngày cổ đại đó các Phật tử chỉ biết

mỗi điều Phật đã nói, và người Mô ha mét giáo chỉ biết

mỗi điều Mohammed đã nói, và người Ki tô giáo chỉ

biết mỗi Jesus. Bây giờ chúng ta đã trở thành người

thừa kế của toàn thể di sản thừa kế của nhân loại. Bây

giờ bạn biết Jesus, bạn biết Zarathustra, bạn biết

Patanjali, bạn biết Phật, bạn biết Mahavira, bạn biết

Lão Tử và hàng trăm lời giải thích khác, hướng dẫn

khác – và chúng tất cả đều nhảy bổ vào bạn. Bây giờ

rất khó kéo bạn ra khỏi sự lẫn lộn này. Cách có thể duy

nhất là vứt toàn bộ sự ồn ào này đi, không phải từng

phần mà toàn bộ. Đó là thông điệp của tôi.

Và bằng việc vứt nó đi, các bạn sẽ không vứt bỏ

Jesus hay Mohammed hay Phật; bằng việc vứt bỏ nó

các bạn sẽ tới gần họ hơn. Bằng việc vứt bỏ nó, các

bạn sẽ đơn giản vứt bỏ các tu sĩ và các truyền thống và

các tục lệ và sự khai thác cứ diễn ra nhân danh truyền

7

thống và tục lệ. Bằng việc xoá đi tất cả những điều

này, quên đi Kinh Thánh và Vedas và Gita, bạn sẽ đạt

tới sáng tỏ, trong sạch. Vâng, bạn cần việc dọn dẹp

mùa xuân, các bạn cần làm nhẹ gánh toàn bộ cho trái

tim. Chỉ thế, trong im lặng đó, bạn sẽ có khả năng để

hiểu.

Phật nói:

Làm sao tâm trí rối loạn

hiểu con đường?

Hàng nghìn người đã tụ tập quanh Phật, cũng như

các bạn đã tụ tập quanh tôi – hàng nghìn người tìm

kiếm đã tới Phật và họ đã hỏi đủ mọi loại câu hỏi. Và

Phật đã không quan tâm tới câu hỏi của họ chút nào;

ông ấy không quan tâm tới việc trả lời chúng. Ông ấy

quan tâm, chắc chắn, tới việc chỉ ra cho họ con đường,

nhưng vấn đề là ở chỗ họ quá băn khoăn với những

câu hỏi và câu trả lời của họ mà họ đã thu thập, họ bị

quá bối rối bởi đủ mọi tri thức họ đã từng mang theo

mình, đến mức không thể nào, gần như hoàn toàn

không thể nào chỉ được cho họ con đường. Do đó mới

có lời kinh này: Làm sao tâm trí rối loạn hiểu được

con đường?

Cho nên thay vì cho họ thêm câu trả lời, thêm giải

thích, Phật bắt đầu lấy đi tri thức của họ, những câu trả

lời làm sẵn của họ, những quan niệm tiên thiên của họ,

những định kiến của họ. Ấn Độ không bao giờ có khả

năng tha thứ cho Phật vì điều đó. Lập tức sau khi ông

ấy chết tâm trí truyền thống của đất nước này bắt đầu

nhổ bật gốc rễ mọi cây cối ông ấy đã trồng; mọi bụi

8

hồng đều bị thiêu rụi. Phật đã hoàn toàn bị tống ra khỏi

đất nước này. Người con vĩ đại nhất của mảnh đất này

không còn chỗ trú ngụ ở đây nữa; giáo huấn phải tìm

chỗ cư ngụ ở những mảnh đất nước ngoài.

Điều này không phải là ngẫu nhiên, điều này bao

giờ cũng xảy ra. Jesus đã bị những người Do Thái kết

án, người Do Thái đóng đinh, và Jesus là người Do

Thái vĩ đại nhất đã từng ở trên trái đất, việc nở hoa vĩ

đại nhất của tâm thức Do Thái, việc diễn đạt tột cùng,

cao trào, đỉnh Everest. Nhưng sao người Do Thái đã

phủ nhận ông ấy? Họ đáng phải hạnh phúc, họ đáng

phải nhảy múa và mở hội, nhưng họ không thể – họ

không thể tha thứ được cho ông ấy, bởi vì sự hiện diện

của ông ấy làm cho họ cảm thấy rất tầm thường; đó là

tội của ông ấy. Ông ấy phải bị trừng phạt vì điều đó, vì

ở cao thế, vì vượt ra ngoài thế, vì cao siêu thế, vì

duyên dáng thế, vì đem tới tình yêu thế. Vì sự hiện

diện của mình mà ông ấy phải bị trừng phạt, bởi vì sự

hiện diện của ông ấy làm cho mọi người cảm thấy xấu

xí khi so sánh. Ông ấy phải bị loại bỏ để cho tâm trí

tầm thường có thể cảm thấy thoải mái.

Jesus không bị giết bởi người Do Thái, ông ấy bị

giết bởi tâm trí tầm thường. Điều đó đã xảy ra cho tâm

trí Do Thái tầm thường trong trường hợp của Jesus.

Cùng điều đó đã xảy ra với Phật. Phật đã không được

người Hindu dung thứ, và ông ấy đã là người Hindu vĩ

đại nhất. Ông ấy đã là người Hindu thuần khiết nhất có

thể được, chính tinh hoa của Hindu giáo. Điều

Upanishads nói, ông ấy đã hiện thực nó. Ông ấy là việc

hiện thực hoá của khao khát sâu sắc nhất của mảnh đất

này, nhưng ông ấy bị nhổ bật gốc rễ từ đây, ông ấy bị

tống ra khỏi đây.

9

Phật giáo đã biến mất khỏi Ấn Độ, thậm chí không

dấu vết nào còn đằng sau – hoàn toàn bị xoá sạch sẽ.

Tại sao? Ông ấy đã cực kì được kính trọng ở Tây

Tạng, ở Trung Quốc, ở Hàn Quốc, ở Nhật Bản, ở Thái

Lan, ở Miến Điện, ở Sri Lanka. Toàn thể châu Á yêu

mến con người này, giáo huấn của ông ấy duy nhất

thế, lời của ông ấy hàm chứa thế. Nhưng Ấn Độ đơn

giản đã quên mất tất cả về ông ấy – tâm trí Ấn Độ tầm

thường. Điều đó chẳng liên quan gì với người Ấn Độ

cả – lại là tâm trí tầm thường. Tâm trí tầm thường chưa

bao giờ cho phép các thiên tài; người tầm thường sung

sướng với người tầm thường khác. Người ngu sung

sướng với người lãnh đạo ngu. Lãnh đạo càng ngu,

mọi người càng sung sướng – bởi vì ông ta trông giống

họ nhiều thế.

Tôi đã nghe:

Một giám thị mới được bổ nhiệm vào một nhà

thương điên. Người cũ chuyển giao trách nhiệm, ông

ta về hưu, và một bữa tiệc nhỏ được tổ chức để để mọi

người trong bệnh viện cám ơn người cũ về phục vụ

của ông ta, và tiếp đón người mới bởi các bệnh nhân.

Mọi người điên được tập hợp.

Giám thị cũ có chút ít phân vân; ông ấy chưa bao

giờ thấy họ sướng thế. Mọi người điên đều sướng, vui

tới mức ông ta không thể đừng được cám dỗ hỏi họ –

và ông ta sắp đi cùng ngày này, cho nên ông ta phải

hỏi ngay; bằng không bao giờ cũng còn điều tò mò

trong tâm trí và ông ta sẽ chẳng bao giờ biết được câu

trả lời.

Ông ta hỏi người điên. “Sao anh trông sướng thế?”

10

Họ nói, “Bởi vì ông giám thị mới kia – ông ấy

trông hệt như chúng tôi! Ông là người ngoài chúng tôi,

ông lành mạnh. Ông ấy trông có vẻ điên!”

Và điều đó là sự thật – viên giám thị mới gần như

điên khùng. Nhưng những người điên rất sướng Ai đó

bây giờ đã tới, người sẽ không làm cho họ cảm thấy họ

điên.

Điều này bao giờ cũng là tình huống trên trái đất

này – trái đất này là nhà thương điên – và bất kì khi nào

một người lành mạnh xảy ra, chúng ta đều cư xử

không phải với người đó. Hàng nghìn người đã tới

Phật để hỏi, “Thượng đế ở đâu? Thượng đế là gì?” Và

đặc biệt là các brahmins, các bác học, các học giả,

những người đầy am hiểu, am hiểu về các kinh sách,

họ thường tới ông ấy để hỏi, “Ông có tin vào Thượng

đế không? Định nghĩa niềm tin của ông, giải thích khái

niệm của ông.”

Và Phật cứ khăng khăng lặp đi lặp lại: Làm sao

tâm trí rối loạn hiểu được con đường? Ông ấy thường

nói, “Xin đừng hỏi về Thượng đế. Việc hỏi của ông về

Thượng đế hệt như người mù hỏi về ánh sáng – điều đó

không thể được giải thích. Ta là thầy chữa,” ông ấy

nhấn mạnh. “Ta có thể chữa mắt của ông, ta có thể trao

lại cho ông cái nhìn. Và thế rồi tự bản thân ông sẽ có

khả năng thấy, và ánh sáng phải được ông thấy chứ.

Việc thấy ánh sáng của ta chẳng có ích gì cả. Ta có thể

thấy ánh sáng, ta thậm chí có thể mô tả nó, nhưng điều

đó sẽ không cho ông ý tưởng nào về nó là gì.”

Thực ra không có cách nào có thể để diễn đạt cho

người mù ánh sáng là gì. Ánh sáng là kinh nghiệm, cái

11

gì đó có tính tồn tại, không giải thích nổi. Và Thượng

đế là ánh sáng tối thượng, ánh sáng của mọi ánh sáng,

ánh sáng đằng sau mọi ánh sáng, cội nguồn của mọi

ánh sáng. Làm sao Thượng đế có thể được giải thích

cho bạn nếu bạn mù?

Do đó Phật chẳng bao giờ nói về Thượng đế. Và

các nhà bác học và các brahmins sẽ quay về chỗ của

họ mà lan truyền tin đồn và nói rằng “Người này

không trả lời câu hỏi này bởi vì ông ta không biết;

bằng không, sao ông ấy không thể đơn giản nói có hay

không? Chúng tôi đã hỏi câu hỏi rất đơn giản, ‘Ông có

tin vào Thượng đế không?’ Ông ấy có thể đã nói có

hay không – nếu ông ấy biết thế thì câu trả lời là đơn

giản. Nhưng ông ấy nói vòng vo; chúng tôi hỏi về

Thượng đế và ông ấy nói theo kiểu cách ngôn. Ông ấy

nói, ‘Làm sao điều đó có thể được nói ra? Làm sao

điều đó có thể được giải thích?’ Sự kiện thực là ông ấy

không biết. Sự kiện thực là ở chỗ ông ấy là kẻ vô thần

trá hình; ông ấy đang lừa mọi người, làm biến chất mọi

người.”

Người Hindus đã bịa ra một câu chuyện rất tinh

ranh về Phật. Họ nói rằng Thượng đế đã tạo ra thế

giới, và đồng thời ngài đã tạo ra địa ngục và cõi trời –

địa ngục cho những người bị trừng phạt và cõi trời cho

những người được trọng thưởng vì đức hạnh của họ.

Nhưng chuyện xảy ra là hàng nghìn năm qua đi chẳng

ai vào địa ngục cả, bởi vì không ai phạm tội. Tất nhiên,

quỉ rất mệt mỏi vì cứ chờ đợi hoài và chờ đợi và chờ

đợi – không có việc làm, không có kinh doanh! Thậm

chí không một linh hồn nào đã xuất hiện!

12

Cực kì tức giận, quỉ lên Thượng đế và nói, “Sao

ông làm ra địa ngục này, để làm gì? Và sao ông đẩy tôi

vào đó chịu trách nhiệm? Chúng tôi mệt rồi, nhân viên

của tôi mệt hết cả rồi. Chẳng ai xuất hiện cả. Chúng tôi

mở cửa hàng và chúng tôi ngồi cả ngày mà chẳng có

một khách hàng nào! Chúng tôi để cửa mở – không

một linh hồn nào đã từng vào. Phỏng có ích gì? Xin

giải phóng chúng tôi khỏi việc này đi.”

Thượng đế nói, “Sao ông không đến sớm hơn? Ta

quên khuấy mất về điều đó. Ta sẽ thu xếp vậy. Ngay

đây ta sẽ sinh vào trong thế giới là Phật Gautama, và ta

sẽ làm biến chất tâm trí mọi người. Ta sẽ làm biến chất

tâm trí họ nhiều tới mức ông sẽ bị chật ních đấy. Ông

cứ về địa ngục đi và đợi đấy.”

Và đó là cách chuyện xảy ra. Câu chuyện nói,

Thượng đế vào thế giới là Phật Gautama, làm biến chất

tâm trí mọi người, phá huỷ tin của họ, nhổ bật gốc rễ

những tục lệ của họ, làm rung chuyển đức tin của họ,

tạo ra hoài nghi trong tâm trí họ, nghi ngờ. Từ đó địa

ngục bị chật ních đến mức quỉ cứ phải nói đi nói với

Thượng đế, “Thôi bây giờ dừng đi! Xin dừng đi!

Chúng tôi mệt hết rồi, nhiều người thế! Chúng tôi phục

vụ cả hai mươi bốn tiếng, hết ngày nọ tới ngày kia;

thậm chí cả trong đêm cửa cũng không thể đóng được.

Mọi người đơn giản cứ kéo tới!”

Một câu chuyện rất tinh ranh. Bạn có thấy cái tinh

ranh tinh vi trong nó không? Theo một nghĩa nào đó

Phật được thừa nhận là hiện thân của Thượng đế.

Người Hindus tinh ranh hơn người Do Thái theo cách

đó. Người Do Thái đơn giản phủ nhận rằng Jesus là

Con của Thượng đế, họ bác bỏ Jesus. Người Hindus

13

tinh vi hơn theo cách đó, trau chuốt hơn, văn hoá hơn –

tất nhiên, một nền văn minh cổ đại hơn mà. Và nền

văn minh càng trở nên cổ đại hơn, nó càng trở nên tinh

ranh hơn.

Thấy cái tinh ranh này: Phật được chấp nhận là

hoá thân thứ mười của Thượng đế, và vậy mà Thượng

đế lấy hoá thân này vào thế giới để làm biến chất tâm

trí mọi người. Cho nên mặc dầu Phật là Thượng đế,

cẩn thận đấy, chớ có nghe ông ta! Bạn thấy chiến lược

này, cái mẹo này chưa? Họ không phủ nhận Phật có

tính thượng đế – thực ra gần như không thể nào phủ

nhận được Phật có tính thượng đế.

H.G. Wells đã nói rằng Phật Gautama là nghịch lí:

con người vô thượng đế nhất và vậy mà có tính thượng

đế nhất. Ông ấy chưa bao giờ nói về Thượng đế, ông

ấy chưa bao giờ bảo mọi người tin vào Thượng đế.

Thượng đế đơn giản bị thiếu trong giáo huấn của ông

ấy. Đấy không cần là giả thuyết, điều đó không được

cần. Vô thượng đế nhất và vậy mà có tính thượng đế

nhất… không ai dường như có tính thượng đế như

Phật, duyên dáng như Phật – hệt như bông sen, tâm

thức thuần khiết nhất có thể quan niệm được, tươi mát

như giọt sương trong ánh bình minh.

Họ đã không thể phủ nhận được điều đó, họ phải

chấp nhận rằng ông ấy là Thượng đế. Nhưng họ không

thể chấp nhận cách tiếp cận của ông ấy bởi vì cách tiếp

cận của ông ấy, nếu được chấp nhận, sẽ phá huỷ toàn

thể tôn giáo đã được thiết lập, toàn thể tổ chức. Ông ấy

lấy đi mọi niềm tin; thực ra ông ấy làm cho một điều

thành rất quan trọng, rất bản chất là con người của

niềm tin sẽ không có khả năng biết được. Ông ấy

không ngụ ý trở thành người không tin, bởi vì không

14

tin lại là tin theo cách phủ định. Không là người tin

không là người không tin.

Cách tiếp cận của Phật là cách tiếp cận của người

bất khả tri. Ông ấy không hữu thần không vô thần –

ông ấy là người truy tìm. Và ông ấy muốn bạn còn mở

cho việc truy tìm. Đi không có định kiến, đi không có

ý tưởng được làm sẵn – bởi vì nếu bạn đi với ý tưởng

nào đó, bạn sẽ phóng chiếu ý tưởng của bạn lên thực

tại. Và nếu bạn có ý tưởng bắt rễ sâu trong tâm trí bạn,

bạn sẽ thấy ý tưởng đó được hoàn thành trong thực tại

và nó sẽ chỉ là ảo giác, mơ được bạn phóng chiếu lên.

Bạn phải đi hoàn toàn trống rỗng. Nếu bạn thực sự

muốn biết chân lí bạn phải tuyệt đối trống rỗng, bạn

phải không mang ý tưởng nào, ý thức hệ nào; bạn phải

đi trần trụi, trần truồng, trống rỗng. Bạn phải vận hành

từ trạng thái của không biết. Trạng thái của không biết

là trạng thái của người kinh ngạc.

Có một câu ngạn ngữ cổ của Jesus, không được

ghi trong Kinh Thánh, nhưng người Sufis đã gìn giữ

nó. Người Sufis đã gìn giữ nhiều câu nói hay của

Jesus. Câu nói này quan trọng vô cùng đến mức người

ta tự hỏi sao nó không được ghi vào trong Kinh Thánh,

nhưng nếu bạn cân nhắc kĩ càng về nó thì lí do trở nên

rõ ràng.

Câu nói này là: Người được ân huệ là người ngạc

nhiên, bởi vì vương quốc của Thượng đế là của người

đó. Người được ân huệ là người ngạc nhiên. Điều này

đã không được ghi trong Kinh Thánh. Tại sao? – bởi vì

Kinh Thánh muốn tạo ra tôn giáo nào đó, giáo phái

nào đó; nó muốn truyền bá ý thức hệ nào đó. Còn con

người của ngạc nhiên phải bỏ mọi ý thức hệ.

15

Người được ân huệ là người ngạc nhiên, bởi vì chỉ

trong việc ngạc nhiên bạn mới có thể giống như trẻ

con, hồn nhiên. Và chỉ trong hồn nhiên đó bạn có thể

biết cái đang đó. Làm sao tâm trí rối loạn hiểu được

con đường?

Cho nên bất kì khi nào một người tới Phật và lục

vấn – những câu hỏi lớn lao về cuộc sống và những bí

ẩn của cuộc sống – Phật đều nói, “Ông đợi đấy, ông

thiền đi. Trước hết để tâm trí rối loạn của ông trở thành

không rối loạn. Để cơn bão tâm trí này của ông qua đi.

Để im lặng tới, bởi vì im lặng sẽ cho ông đôi mắt. Ta

có thể chỉ cho ông con đường để im lặng, và thế rồi

ông không cần hướng dẫn của bất kì ai. Một khi ông

im lặng được, ông sẽ có khả năng thấy con đường và

ông sẽ có khả năng đạt tới mục đích.”

Và tâm trí chúng ta thực sự rối loạn. Cả nghìn lẻ

một rắc rối có đó. Trước hết, mọi người đều trong

trạng thái tinh thần phân liệt, nhiều hay ít; khác biệt

chỉ ở mức độ. Mọi người đều bị chia chẻ bởi vì những

kẻ bóc lột, cả tôn giáo và chính trị, đều phụ thuộc vào

chiến lược này: phân chia con người, không cho phép

con người toàn vẹn, và con người sẽ vẫn còn là nô lệ.

Ngôi nhà bị chia ra chống lại bản thân nó thì nhất định

yếu. Cho nên bạn đã được dạy phải tranh đấu với thân

thể; đó là chiến lược phân chia gốc rễ, của việc phân

chia bạn. “Tranh đấu với thân thể, thân thể là kẻ thù

của bạn. Chính thân thể đang lôi bạn tới địa ngục.

Tranh đấu, cầm dao trong tay! Tranh đấu cả ngày lẫn

đêm! tranh đấu trong nhiều kiếp! Chỉ thế thì một ngày

nào đó bạn sẽ có khả năng thắng được nó. Và chừng

nào bạn chưa thắng thân thể mình, bạn sẽ không đi vào

được thế giới của Thượng đế.”

16

Trong hàng thế kỉ điều vô nghĩa này đã được dạy

cho mọi người. Và kết quả là ở chỗ mọi người đều bị

phân chia, mọi người đều chống thân thể họ. Và nếu

bạn chống thân thể bạn, bạn nhất định sẽ bị rắc rối.

Bạn sẽ tranh đấu với thân thể bạn, và bạn và thân thể

bạn là một năng lượng. Thân thể là linh hồn thấy được,

và linh hồn là thân thể không thấy được. Thân thể và

linh hồn không bị phân chia ở bất kì đâu, chúng là các

bộ phận của nhau, chúng là bộ phận của một toàn thể.

Bạn phải chấp nhận thân thể, bạn phải yêu mến thân

thể, bạn phải kính trọng thân thể, bạn phải biết ơn thân

thể mình. Chỉ thế thì bạn mới đạt tới loại toàn vẹn nào

đó, sự kết tinh sẽ xảy ra; bằng không bạn sẽ vẫn còn bị

rắc rối. Và thân thể sẽ không bỏ bạn dễ dàng thế; ngay

cả sau hàng trăm kiếp sống việc tranh đấu sẽ vẫn có

đó. Bạn không thể đánh bại thân thể được.

Tôi không nói rằng thân thể không thể bị mòn mỏi

đi, nhớ lấy, nhưng bạn không thể đánh bại được thân

thể. Bạn không thể đánh bại được nó bằng việc thù

địch với nó. Bạn có thể thắng nó bằng việc thân thiện,

bằng việc yêu thương, bằng việc kính trọng, bằng việc

tin cậy nó. Đó đích xác là cách tiếp cận của tôi: thân

thể là ngôi đền chùa, bạn là vị thần của ngôi đền chùa

này. Đền chùa bảo vệ bạn, là chỗ che mưa, che gió,

che nóng cho bạn. Nó đang phục vụ bạn đấy! Tại sao

bạn phải tranh đấu với nó? Điều đó cũng ngốc như

người lái xe tranh đấu với chiếc xe. Nếu người lái xe

tranh đấu với xe, điều gì sẽ xảy ra? Anh ta sẽ phá huỷ

chiếc xe và anh ta sẽ phá huỷ bản thân mình trong việc

tranh đấu với nó. Chiếc xe là phương tiện đi tốt, nó có

thể đưa bạn đi trên cuộc hành trình xa nhất.

Thân thể là cơ chế phức tạp nhất trong sự tồn tại.

Nó đơn giản tuyệt diệu! – và người phúc lạc là người kì

17

diệu. Bắt đầu cảm thấy ngạc nhiên với thân thể riêng

của bạn đi, bởi vì đó là cái gần bạn nhất. Tự nhiên gần

nhất đã tiếp cận bạn, Thượng đế gần nhất đã tới với

bạn, là qua thân thể. Trong thân thể bạn là nước của

đại dương, trong thân thể bạn là lửa của các vì sao và

mặt trời, trong thân thể bạn là không khí, thân thể bạn

được tạo ra từ đất. Thân thể bạn đại diện cho toàn thể

sự tồn tại, mọi yếu tố. Và biến đổi làm sao! Biến thái

làm sao! Nhìn đất và rồi nhìn vào thân thể bạn mà xem

– biến đổi làm sao, và bạn chưa bao giờ ngạc nhiên về

nó cả! Cát bụi đã trở thành điều thiêng liêng – bí ẩn

nào lớn hơn là có thể có? Phép màu nào lớn lao hơn

mà bạn chờ đợi? Và bạn thấy phép màu này đang xảy

ra mọi ngày. Từ bùn hoa sen tới…và từ bụi đất đã nảy

sinh thân thể tuyệt vời của chúng ta. Và một cơ chế

phức tạp thế, chạy êm thế – không tiếng ồn. Và nó thực

sự phức tạp.

Các nhà khoa học đã làm những cái máy rất phức

tạp, nhưng không cái gì sánh được với thân thể cả.

Ngay cả máy tính phức tạp nhất cũng chỉ là đồ chơi

nếu so với cỗ máy bên trong của thân thể. Và bạn đã

được dạy tranh đấu với nó. Điều đó tạo ra chia chẻ,

điều đó giữ bạn trong rắc rối, điều đó giữ bạn trong

cuộc nội chiến thường xuyên.

Và bởi vì bạn tranh đấu với bản thân mình – điều

hoàn toàn ngu ngốc – cuộc sống của bạn trở thành ngày

một ít thông minh và ngày một nhiều ngu xuẩn. Và thế

rồi bạn muốn những biến đổi lớn lao – bạn muốn ghen

tị bị vứt bỏ và bạn muốn giận dữ biến mất và bạn

muốn không tham lam trong mình. Điều đó là không

thể được! Với những hiểu lầm như vậy từ ngay chỗ bắt

đầu, làm sao bạn có thể tạo ra được không gian nơi

biến đổi xảy ra, nơi giận dữ trở thành từ bi, nơi ghét

18

trở thành yêu, nơi tham lam trở thành chia sẻ, nơi dục

trở thành samadhi? Làm sao bạn có thể hi vọng, làm

sao bạn có thể trông đợi biến đổi lớn lao thế, với trạng

thái rối loạn thế?

Điều nền tảng là vứt bỏ chia chẻ, trở thành một. Là

một đi, và thế thì mọi điều khác là có thể; ngay cả điều

không thể cũng thành có thể.

Làm sao tâm trí rối loạn hiểu con đường?

Con đường là rất đơn giản và trực tiếp. Ngay cả trẻ

con cũng có thể hiểu được điều đó. Nó đơn giản như

hai cộng hai là bốn, hay thậm chí còn đơn giản hơn.

Nó đơn giản như tiếng hót của con chim, đơn giản như

bông hồng – đơn giản và đẹp, đơn giản và cực kì vĩ đại.

Nhưng chỉ một tâm trí không rối loạn mới có thể hiểu

được nó, chỉ một tâm trí không rối loạn mới có khả

năng thấy nó; bằng không bạn sẽ sống trong tham lam

và bạn sẽ sống trong giận dữ và bạn sẽ sống trong

ghen tị và sở hữu, và bạn sẽ sống trong hận thù. Bạn

có thể giả vờ, bạn có thể trở thành thánh nhân trên bề

mặt, nhưng bạn vẫn còn là tội nhân sâu bên dưới. Và

tội lỗi lớn nhất là phân chia bản thân mình. Tội lỗi lớn

nhất này không phạm phải với người khác, nó bao giờ

cũng phạm phải với chính bản thân bạn. Đây là trạng

thái của tự tử, việc tạo ra phân chia này giữa thân thể

bạn và bản thân bạn. Kết án thân thể, bạn chỉ có thể trở

thành kẻ đạo đức giả, bạn chỉ có thể sống cuộc sống

của kẻ giả vờ.

Trong khoang tàu hoả hạng nhất, hai quí bà ăn vận

đẹp đang thảo luận về quần áo trong khi một quí ông

19

trong góc vờ ngủ. Khi một bà nói mình thấy giá quần

áo ngày nay là không thể được, bà kia gợi ý bà ấy nên

theo gương bà này và kiếm người bạn trai ở bên mình:

“Anh ấy sẽ cho bạn năm trăm đô la một tháng làm

món quà nhỏ – chồng bạn sẽ chẳng bao giờ làm điều

đó đâu.”

“Nhưng điều gì xảy ra nếu tôi không thể kiếm

được người bạn có năm trăm đô la?”

“Thế thì lấy hai người với mỗi người hai trăm năm

mươi đô.”

Quí ông này lên tiếng: “Nghe đây thưa các bà, tôi

sắp ngủ bây giờ. Đánh thức tôi dậy khi các bà giảm giá

xuống hai mươi đô la.”

Mọi người đều giả vờ theo mọi cách có thể. Người

giả vờ là thánh nhân có thể chính là điều đối lập lại, và

người giả vờ thức có thể ngủ, và người giả vờ ngủ có

thể thức… đủ mọi loại giả vờ, bởi vì xã hội tạo ra hoàn

cảnh nó cho phép bạn chỉ hoặc sống một cuộc hoàn

toàn bị kết án, cuộc sống của kẻ tội phạm, hoặc cuộc

sống của kẻ đạo đức giả, của kẻ giả vờ. Xã hội cho bạn

chỉ hai phương án: hoặc chân thật và là tội phạm, hoặc

không thật và đáng kính. Nó không cho phép bạn có

phương án thứ ba. Tại sao nó không cho phép bạn

phương án thứ ba? – bởi vì phương án thứ ba tạo ra

một Jesus, một Phật, một Krishna, và sự hiện diện của

họ làm cho đám đông cảm thấy rất tầm thường, rất bị

sỉ nhục, mất mặt.

Cho nên xin đừng quyết định bằng việc nhìn vào

hình tướng của người khác. Nhiều cơ hội hơn, gần

chín mươi chín phẩy chín phần trăm, bất kì cái gì họ

20

xuất hiện trên bề mặt họ sẽ không là vậy ở sâu bên

dưới. Bạn có thể chắc chắn được về điều đó; tôi nói

gần như chắc chắn hoàn toàn, bởi vì chỉ không phẩy

một phần trăm bạn có thể lỡ – không nhiều gì. Chỉ

thỉnh thoảng bạn mới bắt gặp vị phật, người có hình

tướng là một với nội tâm của người đó; bằng không

bạn sẽ bắt gặp những người là điều này ở bên ngoài và

là điều khác ở bên trong. Đừng bị lừa bởi dáng vẻ.

Một nữ diễn viên tình cờ làm quen với một người

lang thang thất nghiệp và đưa anh ta về căn hộ của

mình bởi vì anh ta đi đôi giầy rất lớn và cô ấy đã được

bảo rằng đàn ông chân lớn có chim lớn. Cô ấy cho anh

ta ăn bữa tối thịt nướng với nhiều hạt tiêu và bia, thế

rồi lôi anh ta lên giường.

Sang hôm sau người này thức dậy một mình và

thấy tờ mười đô la để trên bệ lò sưởi, với lời nhắn ngắn

gọn: “Tự mua đôi giầy vừa cho anh.”

Nhưng đó là cách chúng ta cứ quyết định… từ bên

ngoài. Thực ra, bởi vì chúng ta thậm chí không biết

bên trong của riêng mình, làm sao chúng ta có thể nhìn

vào bên trong của người khác được? Chúng ta không

biết nghệ thuật nhìn vào trong. Trước hết bạn phải

thực hành nghệ thuật này với bản thân mình. Trước hết

bạn phải đi vào trong lãnh thổ của mình, thế giới bên

trong của mình. Bạn phải đi ngày một sâu hơn vào tâm

thức của mình, tới chính trung tâm của nó. Một khi

bạn đã thấm vào cốt lõi của bản thể mình, bạn sẽ có

khả năng nhìn vào cốt lõi của bản thể của bất kì ai

khác. Thế thì không ai có thể lừa được bạn, bởi vì thế

21

thì bạn không nhìn vào hình tướng – bạn nhìn vào thực

tại.

Làm sao tâm trí rối loạn hiểu con đường?

Tâm trí rối loạn không thể hiểu được cái gì. Nó

không ở trong trạng thái việc hiểu là có thể. Việc hiểu

không có nghĩa là tri thức. Tâm trí rối loạn có thể trở

thành rất thông thái – bạn có thể tới các đại học và bạn

có thể thấy các giáo sư, rất thông thái – nhưng họ còn

rối loạn hơn cả bạn, trong xung đột bên trong còn

nhiều hơn cả bạn. Tri thức của họ chẳng ích gì cho họ

chút nào. Tri thức chưa bao giờ có ích cho bất kì ai, nó

chỉ làm nặng gánh. Nó cho bạn sự kính trọng, chắc

chắn. Nó là trò bản ngã lớn, và bản ngã cảm thấy được

thổi phồng lên; nhưng bản ngã càng được thổi phồng

lên, bạn sẽ càng rối loạn bên trong hơn bởi vì bản ngã

là hiện tượng giả tạo. Và khi bạn trở thành quá gắn bó

với cái giả, bạn bắt đầu mất tiếp xúc với cái thật. Khi

bạn bắt đầu bắt thêm rễ vào cái giả, bạn quên mất việc

bắt rễ vào cái thực.

Con người của tri thức là vô thức như bạn. Người

dốt nát và người thông thái không phải là trên những

con thuyền khác nhau; họ là bạn đồng hành. Khác biệt

giữa họ chỉ ở thông tin – điều không phải là khác biệt

chút nào, điều không phải là khác biệt làm ra mọi khác

biệt. Tôi có thể chỉ biết vài điều, bạn có thể biết thêm

vài điều nữa, ai đó khác có thể biết cả nghìn lẻ một

điều, và ai đó khác có thể chỉ như đi dạo qua từ điển

bách khoa toàn thư Encyclopedia Britannica – điều đó

chẳng tạo nên khác biệt chút nào.

Phật không phải là con người của tri thức, ông ấy

là con người của hiểu biết – không tràn đầy thông tin

22

mà tràn đầy sáng suốt. Tràn đầy linh ảnh, không tràn

đầy ý nghĩ – sáng tỏ, sáng tỏ tựa tấm gương, và nhận

biết lớn.

Bạn đang đi như kẻ mộng du, người vừa đi vừa

ngủ. Bạn không biết điều mình đang làm, bạn không

biết tại sao bạn làm nó; bạn không biết mình đang đi

đâu, bạn không biết tại sao bạn đi. Cuộc sống của bạn

là ngẫu nhiên, và cuộc sống ngẫu nhiên là cuộc sống

vô ý thức – nó giống như người máy.

Một anh chàng ở nhà hát cùng vợ đi ra nhà vệ sinh

vào lúc nghỉ giữa giờ, nhưng đi nhầm cửa và thấy

mình đi ra vườn. Vì quá tiện để nghĩ tới việc dùng mặt

đất, anh ta nhấc một cây ra khỏi chậu hoa và đái vào

chậu nó, rồi đặt lại cây đó vào.

Anh ta trở về và thấy màn kịch tiếp đã bắt đầu.

“Điều gì đã xảy ra cho tới giờ trong màn này vậy?”

anh ta thì thào hỏi vợ.

“Anh nên biết,” cô ấy nói một cách lạnh nhạt.

“Anh đã ở trong đó đấy!”

Con người sống trong vô ý thức. Con người không

nhận biết, không nhận biết chút nào. Bạn có thể quan

sát bất kì người nào, bạn có thể quan sát bản thân

mình, dần dần, dần dần, và bạn sẽ thấy nhiều hành

động vô ý thức đang xảy ra đến mức gần như không

thể nào tin được làm sao bạn đã sống cho tới giờ. Bạn

nói dối chẳng vì lí do nào cả! Và khi bạn bắt quả tang

bản thân mình nói dối, bạn sẽ ngạc nhiên: sao mình nói

dối ngay chỗ đầu tiên? – bởi vì chẳng có lí do gì, bạn

không định thu được gì từ điều đó. Chỉ là thói quen,

23

chỉ là lệ thường máy móc. Bạn trở nên buồn chẳng vì lí

do nào cả.

Bây giờ có vài nhà nghiên cứu nói bạn có thể làm

lịch về tâm trạng bạn, và tôi thấy nghiên cứu của họ có

ý nghĩa – bạn thực sự có thể làm ra lịch về tâm trạng

bạn. Cứ viết ra trong một tháng mà xem: Thứ hai buổi

sáng bạn cảm thấy thế nào, và vào buổi chiều và vào

buổi tối và vào buổi đêm… ít nhất tám lần một ngày,

cứ ghi mọi ngày và đích xác cùng một giờ bạn cảm

thấy thế nào. Và trong vòng ba hay bốn tuần bạn sẽ

ngạc nhiên rằng vào mỗi thứ hai và cùng lúc bạn đều

cảm thấy đích xác cùng một tâm trạng.

Bây giờ điều này không thể thế được vì bất kì hoàn

cảnh nào bên ngoài, bởi vì mỗi thứ hai chúng là khác.

Nó là cái gì đó bên trong – mặc dầu bạn sẽ thấy những

cái cớ bên ngoài, bởi vì chẳng ai muốn cảm thấy có

trách nhiệm cho khổ riêng của mình. Điều cảm thấy tốt

là làm cho người khác cảm thấy có trách nhiệm về khổ

của bạn. Và bạn có thể tìm ra cớ, bạn thậm chí có thể

bịa ra chúng nếu chúng không có đó.

Đó là chỗ mọi người đã trở thành rất, rất sáng tạo.

Thực ra toàn thể tính sáng tạo của họ đều bao gồm

trong việc tạo ra cớ: “Sao mình buồn?” và bạn có thể

tìm thấy cả nghìn lẻ một lí do. Vợ bạn nói điều này và

con cái không cư xử đúng và hàng xóm và ông chủ ở

văn phòng và giao thông và giá cả đang lên cao… và

bạn có thể tìm ra cả nghìn lẻ một thứ; chúng bao giờ

cũng có đó. Và bạn có thể vẽ ra cả thế giới rất ảm đạm,

đen tối, và thế rồi bạn có thể cảm thấy thoải mái rằng

đấy không phải là trách nhiệm của bạn mà bạn buồn.

Nhưng vẫn cùng thế giới đó, và sáng thứ ba bạn

cảm thấy rất sôi nổi, rất vui vẻ, rạng ngời – lần nữa bạn

24

có thể tìm ra cớ: “Hôm nay là buổi sáng đẹp trời, và

mặt trời cùng chim chóc và cây cối và bầu trời, và tất

cả đều đầy ánh sáng – sáng đẹp thế!” Bạn có thể tìm ra

cớ cho mọi loại tâm trạng, nhưng nếu bạn viết nhật kí

trong bốn tuần bạn sẽ thực sự thấy choáng rằng mọi

thứ xảy ra cho bạn gần như phụ thuộc vào bạn. Bạn có

bánh xe bên trong cứ quay mãi, và cùng cái nan hoa đó

cứ lên đến đỉnh lặp đi lặp lại.

Vâng, có những hoàn cảnh bên ngoài, nhưng

chúng không phải là nguyên nhân; nhiều nhất chúng

làm lẩy cò. Một tâm trạng nào đó nhất định xảy ra

được lẩy cò bởi hoàn cảnh nào đó. Nếu hoàn cảnh này

không có đó, cái gì đó khác sẽ thành điểm lẩy cò –

nhưng nó nhất định được lẩy cò.

Những người đã sống trong cô lập đều trở nên

nhận biết về sự kiện này. Phật hay phái các đệ tử của

ông ấy tới những nơi cô lập. Trong công xã mới chúng

ta sẽ có các hầm dưới đất cho nên tôi có thể cử bạn tới

chỗ cô lập trong một tháng – tuyệt đối cô lập. Bạn biến

mất khỏi thế giới, cho nên bạn không thể đổ tại bất kì

hoàn cảnh nào bên ngoài bởi vì không có gì bên ngoài

cả… bạn và những bức tường của hầm. Và bạn sẽ ngạc

nhiên: một hôm bạn hạnh phúc, một hôm bạn bất hạnh,

một hôm bạn cảm thấy rất tham lam, một hôm bạn

cảm thấy giận dữ và không có ai đã xúc phạm bạn,

chọc giận bạn. Một hôm bạn sẽ thấy bạn đang tự mình

nói dối cho mình vì bạn không thể tìm ra bất kì ai

khác.

“Tôi có thể mua đồ uống cho cô được không?” anh

ta hỏi, bằng cách gợi lên cuộc đối thoại.

25

“Không, cám ơn ông,” cô ấy nói. “Tôi không

uống.”

“Thế ăn tối chút ít với tôi trong phòng tôi vậy?”

“Không, tôi không nghĩ điều đó sẽ thích hợp,” cô

ấy nói.

Không có kết quả gì với cách tiếp cận tinh tế hơn,

chàng thanh niên đi thẳng vào vấn đề: “Tôi bị say đắm

bởi cái đẹp tươi mát của cô, thưa cô, và tôi sẽ cho cô

bất kì cái gì trái tim cô mong ước nếu cô dành một

đêm với tôi.”

“Ô, không, không thưa ông, tôi không bao giờ làm

điều như vậy đâu.”

“Nói cho tôi đi,” anh thanh niên nói vừa cười, “cô

không bao giờ làm cái gì hơi chút không đúng sao?”

“Vâng,” cô gái Pháp nói, “tôi nói dối.”

Bạn quan sát bao nhiêu lần trong ngày việc bạn nói

dối – và chẳng vì lí do gì chút nào – và bao nhiêu lần

bạn trở nên giận dữ, chẳng lí do chút nào, và thế rồi

bạn sẽ thấy mình đang sống trong thế giới bên trong,

thế giới chủ thể của riêng bạn. Hiểu biết nghĩa là hiểu

những điều nền tảng này của việc vận hành của cuộc

sống. Và nếu bạn hiểu những điều nền tảng này, biến

đổi là không khó khăn. Thực ra, bản thân hiểu biết trở

thành việc biến đổi.

Làm sao tâm trí rối loạn

hiểu con đường?

Nếu một người bị rối loạn

26

Người đó sẽ không bao giờ được tràn đầy với tri

thức.

Từ ‘tri thức’ không ngụ ý điều bạn ngụ ý bởi tri

thức. Khi Phật dùng từ ‘tri thức’ ông ấy ngụ ý trí huệ,

không phải thông tin; ông ấy ngụ ý việc biết, không

phải tri thức.

Nếu một người bị rối loạn… đang trong xung đột,

đang trong lẫn lộn, đang trong phân chia, bị chia chẻ ở

bên trong, nếu một người là đám đông bên trong…

Người đó sẽ không bao giờ được tràn đầy với trí huệ.

Trí huệ cần thống nhất, trí huệ cần tích hợp, trí huệ

cần kết tinh của nhận biết, của tính quan sát, của việc

quan sát hành động của bạn, tâm trạng của bạn, ý nghĩ

của bạn, xúc động của bạn… quan sát mọi thứ đang

xảy ra trong thế giới bên trong của bạn. Chỉ bằng việc

quan sát nó, phép màu bắt đầu xảy ra. Nếu bạn bắt đầu

thấy rằng bạn nói dối chẳng bởi lí do gì cả, chính nhận

biết đó sẽ trở thành trở ngại. Lần sau bạn ở ngay bên

bờ nói dối thì một giọng nói bên trong bạn sẽ nói,

“Quan sát đi, cẩn thận vào – mình đang đi vào trong

bẫy lần nữa.” Lần sau bạn đang rơi vào trong buồn rầu,

cái gì đó bên trong bạn sẽ làm cho bạn tỉnh táo, sẽ báo

động bạn.

Đây là con đường của việc biến đổi năng lượng

của bạn – aes dhammo sanantano. Aes maggo

visuddhya – đây là cách làm thuần khiết, đây là luật

vĩnh hằng của biến đổi.

Tâm trí không rối loạn,

không còn tìm kiếm xem xét

cái gì là phải và cái gì là trái,

27

Tâm trí vượt ra ngoài mọi phán xét,

quan sát và hiểu.

Cho nên yêu cầu đầu tiên cho sannyasin là: Tâm

trí không rối loạn, không còn tìm kiếm xem xét cái gì

là phải và cái gì là trái…

Một phát biểu cực kì quan trọng và cách mạng.

Phật đang nói: Đừng xét cái gì là phải và cái gì là trái,

bởi vì nếu bạn xét cái gì là phải và cái gì là trái, bạn sẽ

bị phân chia, bạn sẽ trở thành kẻ đạo đức giả. Bạn sẽ

giả vờ là cái phải và bạn sẽ làm cái trái. Và khoảnh

khắc bạn xét cái gì là phải và cái gì là trái, bạn trở nên

bị gắn bó, bạn trở nên bị đồng nhất. Bạn chắc chắn trở

thành bị đồng nhất với cái phải.

Chẳng hạn, bạn thấy bên đường một tờ bạc một

trăm ru pi; nó thể đã rơi ra từ túi ai đó. Bây giờ câu hỏi

nảy sinh: Lấy nó hay không lấy nó? Một phần của bạn

nói, “Lấy nó là hoàn toàn phải rồi. Chẳng ai thấy cả,

chẳng ai bao giờ nghi ngờ. Và mình có ăn cắp đâu – nó

chỉ nằm đấy thôi! Nếu mình không lấy nó, ai đó khác

đằng nào cũng sẽ lấy nó thôi. Cho nên tại sao bỏ lỡ

nó? Lấy là hoàn toàn phải đấy!”

Nhưng một phần khác nói, “Điều này là sai – tiền

này đâu có thuộc vào mình, nó không phải là của

mình. Theo một cách nào đó, một cách gián tiếp, đó là

ăn cắp. Mình phải báo cho cảnh sát, hay nếu mình

không muốn bị bận tâm với nó, cứ đi tiếp, quên hết nó

đi. Thậm chí không nhìn nữa. Đây là tham và tham là

tội lỗi!”

Bây giờ, hai tâm trí này có đó. Một bên nói, “Điều

đó đúng rồi, lấy đi,” bên kia nói, “Điều đó sai rồi, đừng

lấy.” Bạn sẽ đồng nhất bản thân mình với tâm trí nào?

28

Bạn chắc chắn sẽ đồng nhất với tâm trí nói điều đó là

vô đạo đức, bởi vì điều đó thoả mãn bản ngã hơn.

“Mình là con người đạo đức, mình đâu có là người

thường; bất kì ai khác cũng sẽ lấy tờ một trăm ru pi

này. Trong những thời khó khăn thế, mọi người không

nghĩ tới điều tinh tế như thế.” Bạn sẽ đồng nhất bản

thân mình với tâm trí đạo đức. Nhưng có mọi khả năng

bạn sẽ lấy tờ bạc này. Bạn sẽ đồng nhất bản thân mình

với tâm trí đạo đức, và bạn sẽ không đồng nhất bản

thân mình với tâm trí sẽ lấy tờ bạc. Bạn sẽ lên án nó từ

sâu bên dưới; bạn sẽ nói, “Điều đó là không đúng – đó

là phần tội lỗi của mình, phần thấp kém, phần bị kết

án.” Bạn sẽ giữ cho mình tách rời nó. Bạn sẽ nói,

“Mình chống lại điều đó. Nó là bản năng của mình, nó

là vô thức của mình, nó là thân thể mình, nó là tâm trí

mình, cái đã thuyết phục mình làm điều đó; bằng

không, mình đã biết nó rồi, rằng nó là sai. Mình là

người biết rằng nó là sai.”

Bạn bao giờ cũng đồng nhất bản thân mình với cái

đúng, thái độ đạo đức, và bạn không đồng nhất với

hành động vô đạo đức – mặc dầu bạn làm điều đó. Đây

là cách đạo đức giả phát sinh.

Thánh Augustine đã nói trong buổi thú tội của

mình: Lạy chúa, xin tha thứ cho con, bởi vì con cứ làm

những điều con biết con không nên làm, và con không

làm những điều con biết con phải làm.

Đây là xung đột, đây là cách người ta trở nên bị rối

loạn. Do đó Phật cho bạn một chìa khoá bí mật. Đây là

chiếc chìa khoá đó, cái có thể đưa bạn ra khỏi mọi sự

đồng nhất: đừng bị đồng nhất với tâm trí đạo đức – bởi

vì điều đó nữa cũng là một phần của tâm trí. Đấy là

cùng một trò chơi: phần này nói tốt, phần khác nói xấu

29

– đấy là cùng tâm trí tạo ra xung đột trong bạn. Tâm trí

bao giờ cũng hai mặt. Tâm trí sống trong các cực đối

lập. Nó yêu và nó ghét cùng một người; nó muốn làm

hành động này và nó không muốn làm hành động đó.

Nó là xung đột, tâm trí là xung đột. Đừng bị đồng nhất

với cả hai.

Phật nói: Trở thành chỉ là việc quan quan sát. Thấy

rằng phần này đang nói cái này, phần kia đang nói cái

kia. “Mình không là cả hai – neti, neti, không cái này

không cái nọ – mình chỉ là nhân chứng.” Chỉ thế thì

mới có khả năng rằng hiểu biết sẽ nảy sinh.

Tâm trí không rối loạn,

không còn tìm kiếm xem xét

cái gì là phải và cái gì là trái,

Tâm trí vượt ra ngoài mọi phán xét,

quan sát và hiểu.

Vượt ra ngoài phán xét về tốt và xấu là con đường

của quan sát. Và chính là qua quan sát mà biến đổi xảy

  1. Đây là khác biệt giữa đạo đức và tôn giáo. Đạo đức

nói, “Chọn điều phải và bỏ điều trái. Chọn cái tốt và

bỏ cái xấu.” Tôn giáo nói, “Đơn giản quan sát cả hai.

Không chọn cái nào. Vẫn còn trong tâm thức vô chọn

lựa.”

Tôn giáo là rất, rất khác với đạo đức. Đạo đức là

rất tầm thường, trần tục, xoàng xĩnh; đạo đức không

thể đưa bạn tới điều tối thượng, nó không phải là con

đường của điều thiêng liêng. Đạo đức chỉ là chiến lược

của xã hội. Đó là lí do tại sao điều này là đúng trong

xã hội này và cũng điều đó là sai trong xã hội khác;

một điều được coi là tốt ở Ấn Độ và cùng điều đó bị

coi là xấu ở Nhật Bản. Một điều được coi là tốt hôm

30

nay và có thể trở thành sai ngày mai. Đạo đức là sản

phẩm phụ của xã hội, nó là chiến lược của xã hội để

kiểm soát. Nó là viên cảnh sát bên trong bạn, viên

quan toà bên trong bạn – nó là thủ đoạn của xã hội để

thôi miên bạn theo những quan niệm nào đó mà xã hội

muốn áp đặt lên mọi người. Cho nên nếu bạn được

sinh ra trong gia đình ăn chay, người không ăn chay là

kẻ tội lỗi lớn nhất.

Một sư Jaina có lần bảo tôi rằng “Tôi thích sách

của ông, nhưng sao ông nhắc tới cả Jesus, Mohammed

và Ramakrishna cùng với Mahavira? Ông không nên

nhắc tới họ theo cùng một hàng. Mahavira là Mahavira

– làm sao có thể so sánh ông ấy và đặt ông ấy theo

cùng cách, theo cùng phân loại với Jesus, Mohammed

và Ramakrishna được?”

Tôi nói, “Sao không?”

Ông ta nói, “Jesus uống rượu này, ăn thịt này – còn

tội lỗi nào lớn hơn mà người ta có thể phạm phải

nữa?”

Mohammed ăn thịt và lấy chín đàn bà! Người ta

phải từ bỏ đàn bà – đây không chỉ một mà những chín!

Con số hoàn hảo. Thực ra, không có số thêm nữa; chín

là số cuối cùng, thế rồi lặp cùng số…

“Mohammed lấy chín đàn bà, là người ăn thịt nữa –

làm sao ông đặt Mohammed bằng Mahavira được? Và

làm sao ông đặt Ramakrishna ngang bằng Mahavira

được? Ông ấy hay ăn cá.”

Người Bengali thì nhất định là ăn cá rồi.

Chỉ trích duy nhất của ông ta về sách của tôi là ở

chỗ tôi đã đặt những người này cùng nhau.

31

Bây giờ hỏi người Ki tô giáo… Có lần tôi đã hỏi

một nhà truyền giáo Ki tô giáo, “Ông nói gì về sư

Jaina này? Ông ta đã nói điều này… ông có phản đối gì

không?”

Ông ta nói, “Chắc chắn! Làm sao ông đặt

Mahavira ngang bằng Jesus được? Jesus đã sống vì

nhân loại, đã hi sinh đời mình vì nhân loại – Mahavira

đã làm được gì? Mahavira cực kì ích kỉ, ông ấy chỉ

nghĩ tới mỗi cứu rỗi của riêng ông ấy Ông ấy chẳng

quan tâm tới người khác! Ông ấy chưa bao giờ chữa

lành cho người mù, ông ấy chưa bao giờ dựng dậy

người chết từ cái chết. Ông ấy chỉ thiền trong mười hai

năm trên núi non, trong rừng rậm – còn gì ích kỉ hơn

thế nữa…? Và thế giới này đang đau khổ và mọi người

đang trong nỗi đau lớn, còn ông ấy không tới an ủi họ.

Cái gì xa hoa hơn có thể có đó? Chỉ thiền bên sông

trong rừng – còn gì xa hoa hơn! Ông ấy đã làm gì cho

nhân loại đáng thương này? Jesus đã hi sinh bản thân

mình – ông ấy đã sống và đã chết cho người khác.

Toàn bộ cuộc sống của ông ấy không là gì ngoài sự hi

sinh thuần khiết. Làm sao ông có thể đặt Mahavira

ngang bằng với Jesus được?”

Và ông ấy nữa cũng dường như phải. Bây giờ, bạn

quyết định thế nào? Phật chưa bao giờ chữa cho người

bệnh, người mù, người điếc, người câm – chỉ thiền.

Dường như ích kỉ quá! Ông ấy đáng phải mở bệnh

viện chứ, hay ít nhất thì cũng mở trường học; phải

phân phối thuốc, phải đi vào những vùng lụt lội và cứu

trợ mọi người… ông ấy chưa bao giờ làm cái gì như thế

cả. Đây là cái loại tâm linh gì vậy? Theo người Ki tô

giáo, điều đó thuần tuý ích kỉ.

32

Bây giờ, ai đúng? Và ai sẽ quyết định? Chúng ta

sống theo định kiến của chúng ta.

Sư Jaina này sai và nhà truyền giáo Ki tô giáo này

cũng sai, bởi vì cả hai đều phán xét – và phán xét là

sai. Jesus là Jesus – ông ấy sống theo cách riêng của

ông ấy. Phật là Phật – ông ấy sống theo cách riêng của

ông ấy. Các cá tính duy nhất, các cách diễn đạt duy

nhất của Thượng đế. Không ai là bản sao của người

khác, và không ai cần là bản sao của người khác. Và

điều tuyệt vời là ở chỗ thế giới có đa dạng. Nếu như

chỉ có các Jesus và các Jesus lặp đi lặp lại, họ sẽ trông

giống như các xe Ford ra từ dây chuyền lắp ráp – mỗi

giây một xe Ford xuất xưởng, hệt nhau, đích xác cùng

như nhau. Điều tuyệt vời là Jesus là một và đơn giản là

một và không lặp lại. Và điều tốt là Phật là mỗi mình

và không lặp lại.

Người tôn giáo thực sự có cách tiếp cận không

phán xét. Nhà đạo đức không thể tránh được việc phán

xét, ông ta trở thành quan toà. Bây giờ, sư Jaina này,

một người bình thường, ngu xuẩn, sẵn sàng phán xét

Jesus, Ramakrishna, Mohammed. Ông ta chẳng biết gì,

chẳng hiểu gì, chưa bao giờ thiền – chưa hiểu được bản

thân mình. Đó là lí do tại sao ông ta đã tới tôi.

Ông ta đã tới tôi để hiểu thiền là gì và làm sao

thiền. Thiền vẫn chưa xảy ra, nhưng phán xét đã có đó

rồi – và ông ta sẵn sàng phán xét ngay cả người như

Jesus, mà thậm chí không thấy xấu hổ về điều ông ta

làm, không dụt dè, rất cao ngạo. Và đấy cũng là trường

hợp với nhà truyền giáo Ki tô giáo này! Ông ấy chẳng

biết gì về thiền, điều Phật đang làm, điều Mahavira

đang làm. Ông ấy chẳng biết gì về những con đường

tinh tế mà theo đó vị phật hành động. Việc trở nên

33

chứng ngộ của ông ấy là phục vụ vĩ đại nhất có thể có

cho nhân loại – không gì hơn có thể được làm. Ông ấy

chắc chắn không chữa được con mắt vật lí, nhưng ông

ấy là người đã chữa con mắt tâm linh của hàng nghìn

người – và đó là phục vụ thực! Ông ấy đã làm cho

hàng nghìn người nghe, lắng nghe, hiểu – đó là phục

vụ thực.

Nhưng nhà truyền giáo Ki tô giáo này, bởi vì ông

ta cai quản một trường phổ thông và một bệnh viện,

nên cứ cho mình là ai đó có quyền phán xét. Các nhà

đạo đức bao giờ cũng phán xét, người tôn giáo không

bao giờ phán xét. Người đó sống trong tâm thức vô

phán xét.

Tâm trí vượt ra ngoài mọi phán xét, quan sát và

hiểu. Người đó đơn giản quan sát và hiểu. Nếu Phật

bắt gặp Jesus, ông ấy chắc hiểu ngay; nếu Jesus bắt

gặp Mahavira, ông ấy chắc hiểu ngay. Chỉ quan sát,

thấy và có hiểu biết.

Biết rằng thân thể là cái bình mảnh mai,

và tạo nên lâu đài của tâm trí ông.

Với ‘tâm trí’ Phật ngụ ý tâm thức. Với ‘tâm trí’ Phật

ngụ ý Tâm trí với chữ T hoa – không phải là tâm trí

thường mà bạn có mà là Tâm trí xảy ra khi mọi ý nghĩ

đều đã biến mất, khi tâm trí hoàn toàn trống rỗng ý

nghĩ. Làm ra lâu đài của Tâm trí của bạn đi bởi vì thân

thể này sắp sửa chết – đừng phụ thuộc vào nó.

Trong mọi thử thách

để hiểu biết tranh đấu cho ông

để bảo vệ điều ông có được.

34

Và liên tục nhớ lấy, bởi vì cuộc tranh đấu là lâu

dài, và cuộc hành trình là gian nam. Nhiều lần bạn sẽ

ngã và quên, nhiều lần bạn sẽ bắt đầu phán xét. Nhiều

lần bạn sẽ bắt đầu bị đồng nhất với cái này cái nọ,

nhiều lần bản ngã sẽ tự khẳng định nó lặp đi lặp lại.

Bất kì khi nào bản ngã tự khẳng định nó, bất kì khi nào

đồng nhất xảy ra, bất kì khi nào phán xét nảy sinh,

ngay lập tức nhớ: quan sát, đơn giản quan sát, và sẽ có

hiểu biết.

Và hiểu biết là bí mật của biến đổi. Nếu bạn có thể

hiểu được giận dữ, lập tức bạn sẽ được mưa rào lên

bằng từ bi. Nếu bạn có thể hiểu được dục, lập tức bạn

sẽ đạt tới samadhi. ‘Hiểu biết’ là từ quan trọng nhất cần

nhớ.

Vì chẳng mấy chốc thân thể này sẽ bị bỏ đi.

Vậy nó cảm thấy cái gì?

Khúc gỗ vô dụng, nằm trên đất.

Vậy nó biết gì?

Đừng phụ thuộc vào thân thể và đừng vẫn còn bị

giam cầm trong thân thể. Dùng nó, kính trọng nó, yêu

thương nó, chăm sóc nó, nhưng nhớ: bạn phải rời bỏ

nó một ngày nào đó. Nó chỉ là cái lồng, nó sẽ bị bỏ

đằng sau, và con chim sẽ ra đi. Trước khi điều đó xảy

ra, chăm nom cho con chim nữa. Lau sạch tâm thức

bạn, bởi vì nó sẽ đi cùng bạn. Hiểu biết của bạn sẽ đi

cùng bạn, không cùng thân thể bạn.

Cho nên đừng phí thời gian quá nhiều trong việc

trang trí cho nó bằng mĩ phẩm trang điểm, bằng quần

áo, bằng đồ trang sức – đừng phí quá nhiều thời gian

với thân thể, bởi vì thân thể thuộc về đất và đất sẽ đòi

35

nó lại. Cát bụi trở về với cát bụi. Bạn không thuộc vào

đất, bạn thuộc vào cõi bên kia nào đó, chỗ nào đó

không biết. Nhà bạn là ở trong cái không biết, ở đây

bạn chỉ là khách thăm. Tận hưởng cuộc viếng thăm

này và dùng nó nhiều nhất có thể được để trưởng thành

trong hiểu biết và chín muồi, để cho bạn có thể đem về

nhà chín chắn của bạn, hiểu biết của bạn, trí huệ của

bạn.

Kẻ thù tồi tệ nhất của ông không thể làm hại ông

nhiều như các ý nghĩ riêng, khinh suất của ông.

Khi các ý nghĩ không được canh giữ, không được

quan sát, tâm trí bạn là kẻ thù lớn nhất của bạn.

Nhưng một khi bị nó khống chế,

không ai có thể giúp ông được mấy,

cho dù cả bố hay mẹ ông.

Nhưng cùng tâm trí đó, nếu bị làm chủ – bị làm

chủ bởi tính quan sát, bị làm chủ bởi thiền – được biến

đổi. Nó trở thành người bạn lớn lao nhất. Không ai có

thể giúp bạn được nhiều như nó.

Tâm trí là chiếc thang: không được canh giữ nó

đưa bạn đi xuống, được canh giữ nó đưa bạn đi lên.

Vẫn cùng chiếc thang đó! Tâm trí là cánh cửa: không

được canh giữ nó đưa bạn ra ngoài, được canh giữ nó

đưa bạn vào trong. Cùng tâm trí đó không được canh

giữ trở thành giận dữ, hận thù, ghen tị; được canh giữ

nó trở thành từ bi, tình yêu, ánh sáng.

Có tính quan sát, thức tỉnh, tỉnh táo, không phán

xét đi. Đừng là nhà đạo đức: tạo ra tâm thức tôn giáo.

Và với “tâm thức tôn giáo” điều đó được ngụ ý nhận

36

biết vô chọn lựa. Để cho cụm từ này chìm sâu vào

trong tim bạn: nhận biết vô chọn lựa. Đây là chính tinh

tuý của giáo huấn của Phật – aes dhammo sanantano.

 

Dhammapada

CON ĐƯỜNG CỦA PHẬT

¨

ĐÂY LÀ CON ĐƯỜNG

ĐI TỚI CHÂN LÍ TỐI THƯỢNG

Tập 2 ( tiếp theo )

3
Và đi tiếp
Ai sẽ chinh phục thế giới này
Và thế giới của chết với mọi thần của nó?
Ai sẽ khám phá ra
Con đường chói sáng của luật?
Ông sẽ, ngay cả như người
tìm hoa,
tìm thấy đoá hoa đẹp nhất,
hiếm nhất.
Hiểu rằng thân thể
Đơn thuần là bọt sóng,
Cái bóng của cái bóng.
Chộp lấy mũi tên hoa của ham muốn
Và rồi, vô hình,
Thoát khỏi Diêm vương.
Và đi tiếp.
Cái chết bắt người
74
thu nhặt hoa
Khi với tâm trí phân tán và giác quan thèm khát
Người đó tìm vô vọng về hạnh phúc
Trong hoan lạc của thế giới.
Cái chết bắt lấy người đó đi
Như trận lụt mang đi cả làng đang ngủ.
Cái chết đánh bại người đó
Khi với tâm trí phân tán và giác quan thèm khát
Người đó thu nhặt hoa.
Người đó sẽ chẳng bao giờ có thoả thích
hoan lạc của thế giới.
Ong hút mật hoa từ hoa
Không làm hỏng cái đẹp hay hương thơm của nó.
cho nên để người chủ định cư, và lang thang.
Nhìn vào lỗi riêng của ông,
Điều ông đã làm hoặc bỏ không làm.
Bỏ qua lỗi lầm của người khác.
Giống như đoá hoa đáng yêu,
Sáng chói nhưng không thơm,
Là lời đẹp nhưng trống rỗng
Về người không ngụ ý điều mình nói.
Giống như đoá hoa đáng yêu,
Sáng chói và thơm ngát,
Là lời đẹp và chân lí
Của người ngụ ý điều mình nói.
Giống như vòng hoa được kết từ đống hoa,
Kiểu cách từ cuộc sống của ông được kết như
nhiều việc làm tốt.
75
Lời kinh. Phật nói:
Ai sẽ chinh phục thế giới này
Và thế giới của chết với mọi thần của nó?
Ai sẽ khám phá ra
Con đường chói sáng của luật?

85

Ông ấy đang ném thách thức vào bạn đấy. Ông ấy

đang nêu ra một câu hỏi trong tim bạn. Ông ấy đang

hỏi: Ai sẽ chinh phục thế giới này và thế giới của chết

với mọi thần của nó?

Thế giới này là thế giới của chết, và các thần mà

bạn đã tạo ra từ tưởng tượng của bạn đều là một phần

của thế giới này – chúng sẽ chết. Bạn, thế giới của bạn,

các thần của bạn, chúng tất cả đều sẽ chết, bởi vì thế

giới này được tạo ra bởi ham muốn của bạn, và các

thần này cũng được tạo ra bởi ham muốn và tưởng

tượng của bạn.

Bạn không biết mình là ai – làm sao bạn có thể biết

Thượng đế thực? Và làm sao bạn có thể biết thế giới

thực? Bất kì cái gì bạn biết đều là phóng chiếu, là một

loại mơ. Vâng, khi mơ có đó, nó có vẻ thật. Mọi đêm

bạn đều mơ, và bạn biết rằng trong mơ bạn không bao

giờ nghi ngờ nó cả, bạn không bao giờ hoài nghi nó,

bạn không bao giờ nêu ra câu hỏi.

Gurdjieff thường nói với các đệ tử của ông ấy,

“Mọi đêm khi các ông đi ngủ, khi các ông chỉ ngay

bên bờ và bức màn của giấc ngủ sắp sửa buông xuống

các ông, các ông vẫn còn nhớ được chút ít, chưa chìm

ngập trong bóng tối của giấc ngủ, một chút ít của nhận

biết, và giấc ngủ đang tới… những khoảnh khắc đó,

những khoảng đó giữa thức và ngủ,” Gurdjieff thường

nói, “những khoảnh khắc đó là rất có ý nghĩa. Nêu ra

câu hỏi trong tâm trí ông và cứ lặp nó trong khi các

ông đang rơi vào giấc ngủ. Một câu hỏi đơn giản: Nó

có thực không? Nó có dành cho cái thực không? Cứ

lặp câu hỏi này trong khi các ông đang chìm vào giấc

ngủ, để cho một ngày nào đó trong mơ các ông có thể

86

hỏi: Nó có thực không?” Ngày đó đem lại phúc lành

lớn.

Nếu bạn có thể hỏi trong mơ, “Nó có thực không?”

mơ lập tức biến mất. Ở đây bạn hỏi, và ở kia mơ

không còn nữa. Đột nhiên thức tỉnh lớn lao xảy ra bên

trong. Trong giấc ngủ bạn trở nên tỉnh táo. Việc ngủ

tiếp tục; do đó có cái đẹp vô cùng của kinh nghiệm của

nó. Việc ngủ tiếp tục; thân thể vẫn còn ngủ, tâm trí vẫn

còn ngủ, nhưng cái gì đó bên ngoài thân thể và tâm trí

trở nên tỉnh táo; một nhân chứng nảy sinh trong bạn.

“Nó có thực không?” – nếu bạn hỏi điều đó trong mơ

của mình… rất khó nhớ bởi vì khi bạn đang mơ bạn đã

quên hoàn toàn bản thân mình. Do đó có phương cách

này – trong khi rơi vào giấc ngủ, cứ lặp câu hỏi này:

Nó có thực không? Nó có thực không? Rơi vào giấc

ngủ vẫn lặp câu hỏi này.

Ở đâu đó giữa ba và chín tháng, một ngày nào đó

điều đó xảy ra – trong mơ đột nhiên câu hỏi này nảy

sinh: Nó có thực không? và bạn có một trong những

kinh nghiệm sâu sắc nhất của cuộc đời bạn. Khoảnh

khắc câu hỏi này nảy sinh, mơ lập tức biến mất, và có

trống rỗng và im lặng hoàn toàn. Giấc ngủ có đó vậy

mà một ánh sáng nhỏ của nhận biết đã xảy ra.

Và chỉ thế thì bạn sẽ nhận biết về cuộc sống này và

tính ảo tưởng của nó; thế thì bạn sẽ có khả năng thấy

rằng thế giới của ham muốn, ghen tị, tham vọng, chỉ là

mơ được thấy bằng mắt mở. Và nếu bạn có thể thấy

rằng thế giới này cũng là mơ, bạn đang trên bờ của

chứng ngộ.

Nhưng nhớ lấy, tin không có ích gì cả. Bạn có thể

tin thế giới này là ảo tưởng – ở Ấn Độ hàng triệu người

tin và lặp liên tục, như vẹt: “Thế giới này là maya, ảo

87

tưởng” – thế này thế nọ. Và điều họ nói toàn là rác

rưởi, vô nghĩa, bởi vì đấy không phải là kinh nghiệm

đích thực của họ. Họ đã nghe mọi người nói điều đó,

và họ lặp lại. Họ không biết theo cách riêng của họ, họ

không phải là nhân chứng cho điều đó; do đó nó chẳng

bao giờ thay đổi các kiếp sống của họ. Họ cứ lặp lại,

“Thế giới này là không thực,” và họ cứ sống trong thế

giới này cũng như những người nghĩ nó là thực –

không khác biệt gì, không khác gì về chất.

Khác biệt là gì giữa người duy vật và cái gọi là

người tôn giáo? Khác biệt gì? Bởi vì người đó tới nhà

thờ mọi chủ nhật sao? hay bởi vì người đó thỉnh

thoảng đi tới đền chùa? Đấy là khác biệt duy nhất;

bằng không, trong cuộc sống thực, bạn sẽ thấy họ đích

xác như nhau. Đôi khi người phi tôn giáo có thể chân

thực hơn, đích thực hơn, chân thành hơn, đúng đắn

hơn người tôn giáo – bởi vì người tôn giáo đã không

chân thực trong khi có tính tôn giáo mà không có kinh

nghiệm nào của riêng mình. Tính tôn giáo của người

đó dựa trên sự không chân thực; người đó đã phạm

phải sự không chân thực lớn nhất mà con người có thể

phạm phải: người đó tin vào Thượng đế và người đó

chẳng biết gì về Thượng đế; người đó tin vào cuộc

sống vĩnh hằng và người đó không thưởng thức nó.

Người đó đã không thấy gì, vậy mà người đó cứ giả

vờ. Tính tôn giáo của người đó về cơ bản là không

chân thực; do đó không có kinh ngạc, không có ngạc

nhiên rằng trong cái gọi là những đất nước tôn giáo đó

như Ấn Độ, bạn sẽ thấy mọi người không chân thực

hơn cái gọi là các quốc gia duy vật của phương Tây.

Người duy vật phương Tây là chân thành hơn.

Người tôn giáo Ấn Độ rất tầm thường, không chân

thực, lừa dối, bởi vì nếu bạn có thể lừa được Thượng

88

đế, bạn sẽ bỏ quên ai? Nếu tôn giáo của bạn là giả,

toàn thể cuộc sống của bạn sẽ là giả. Người có can

đảm nói, “Chừng nào tôi chưa biết Thượng đế tôi sẽ

không tin đâu,” là người chân thành, chân thực ngầm.

Đây là quan sát của tôi: rằng những người vô thần có

nhiều khả năng để biết Thượng đế hơn cái gọi là người

hữu thần.

Ai sẽ chinh phục thế giới này

Và thế giới của cái chết với mọi thần của nó?

Ai sẽ khám phá ra

Con đường chói sáng của luật?

Aes dhammo sanantano – ai sẽ phát hiện ra luật

vĩnh hằng, không cạn? Aes maggo visuddhya – ai sẽ

tìm ra con đường của sự thuần khiết vĩnh hằng, của

hồn nhiên vĩnh hằng? Ai? Phật ném vào bạn một thách

thức và nói:

Ông sẽ, đúng như người

tìm hoa,

tìm thấy đoá hoa đẹp nhất,

hiếm nhất.

Vâng, bạn có thể chinh phục thế giới này của cái

chết – bởi vì tại cốt lõi sâu nhất của bản thể mình, bạn

là một phần của vĩnh hằng, bạn không phải là một

phần của thời gian. Bạn tồn tại trong thời gian, nhưng

bạn thuộc vào vĩnh hằng. Bạn là việc xuyên thấu của

vĩnh hằng vào trong thế giới của thời gian. Bạn là bất

tử, sống trong thân thể của cái chết. Tâm thức bạn

không biết tới chết, không biết tới sinh. Chính là chỉ

mỗi thân thể bạn mới được sinh ra và chết đi. Nhưng

89

bạn không nhận biết về tâm thức bạn; bạn không ý

thức tới tâm thức bạn.

Và đó là toàn thể nghệ thuật của thiền: trở nên có ý

thức về bản thân tâm thức. Khoảnh khắc bạn biết ai

đang ngụ bên trong thân thể, bạn là ai, trong chính

khải lộ đó bạn đã siêu việt lên trên cái chết và thế giới

của cái chết. Bạn đã siêu việt lên trên mọi cái nhất

thời.

Ông sẽ, cũng hệt đúng như người tìm hoa, tìm thấy

đoá hoa đẹp nhất, hiếm nhất.

Jesus nói: tìm và ông sẽ thấy, hỏi và điều đó sẽ

được trao cho ông, gõ cửa và cửa sẽ mở ra cho ông.

Cuộc truy tìm lớn lao là cần thiết, việc tìm kiếm

lớn lao là cần thiết. Cũng như cuộc truy tìm khoa học

vào thế giới khách quan, tôn giáo là cuộc truy tìm vào

tính chủ quan. Khoa học truy tìm vào cái bạn thấy, và

tôn giáo truy tìm vào bản thân người thấy. Tất nhiên

tôn giáo là khoa học của khoa học.

Khoa học không bao giờ có thể quan trọng hơn tôn

giáo; không thể có chuyện khoa học quan trọng hơn

tôn giáo, bởi vì khoa học sau rốt là nỗ lực của con

người. Đó là điều bạn làm – nhưng ai là người làm bên

trong bạn? Người làm không bao giờ có thể kém hơn

việc làm của người đó. Hoạ sĩ không bao giờ có thể

kém hơn bức vẽ của mình, và nhà thơ không bao giờ

có thể kém hơn thơ ca của mình. Nhà khoa học biết về

thế giới nhưng chẳng biết gì về bản thân nhà khoa học

cả.

Albert Einstein trong những ngày cuối của mình

thường nói, “Đôi khi tôi hoài nghi cuộc đời mình đã bị

phí hoài. Tôi đã truy tìm vào chỗ xa nhất của các ngôi

90

sao và quên mất hoàn toàn việc truy tìm vào bản thân

tôi – và tôi là ngôi sao gần nhất!”

Chỉ bởi vì chúng ta có ý thức, chúng ta coi nó như

đương nhiên – thiền nhân không bao giờ coi nó được

đương nhiên. Ông ấy đi vào, ông ấy gõ cửa bản thể

bên trong riêng của mình, ông ấy tìm và kiếm ở bên

trong, ông ấy không để một hòn đá nào chưa được lật

lên. Ông ấy đi vào trong bản thể riêng của mình. Và sự

hoàn thành của ông ấy là lớn lao, bởi vì ông ấy đã tìm

ra điều hiếm hoi nhất. Vâng, có nhiều hoa, nhưng

không có hoa nào như hoa của tâm thức bạn. Nó là

hiếm hoi nhất – nó là hoa sen một nghìn cánh, nó là sen

vàng, kim liên. Chừng nào người ta chưa biết tới nó,

người ta chẳng biết gì. Chừng nào người ta chưa tìm ra

nó, mọi của cải đều vô dụng, mọi quyền lực đều vô

tích sự.

Hiểu rằng thân thể

Đơn thuần là bọt sóng,

Cái bóng của cái bóng.

Chộp lấy mũi tên hoa của ham muốn

Và rồi, vô hình,

Thoát khỏi Diêm vương.

Thân thể là hiện tượng nhất thời. Một ngày nào đó

nó đã không có, một ngày nào đó nó sẽ lại không có.

Nó tồn tại chỉ cho thời hiện tại – nó như bọt sóng;

trông đẹp thế từ bờ biển, bọt sóng, bọt sóng trắng xoá.

Và nếu mặt trời đã lên, quanh bọt sóng cầu vồng còn

có thể được tạo ra; trông tuyệt vời thế, trông như kim

cương, trông trắng thế và thuần khiết thế. Nhưng nếu

bạn cầm nó trong tay, nó bắt đầu biến đi. Chỉ tay bạn

còn ướt, có vậy thôi.

91

Cho nên đó cũng là trường hợp với thân thể. Nó

trông đẹp đấy, nhưng cái chết đang lớn lên trong nó,

cái chết đang ẩn mình trong nó, tuổi già đang chờ đợi

ở đó. Vấn đề chỉ là thời gian thôi.

Không phải là vào một ngày nào đó bạn chết. Thực

ra, thực tế là ở chỗ ngày bạn được sinh ra, bạn bắt đầu

chết. Đứa trẻ một ngày tuổi đã chết đi một chút rồi, nó

đã chết đi một ngày rồi. Nó sẽ tiếp tục chết từng ngày

một. Điều bạn gọi là ngày sinh của bạn thực sự không

phải là ngày sinh của bạn đâu – bạn nên gọi nó là ngày

chết của bạn. Người kỉ niệm ngày sinh lần thứ năm

mươi của mình thực sự là kỉ niệm ngày chết thứ năm

mươi của mình. Cái chết đã tới gần hơn. Bây giờ nếu

người đó định sống bẩy mươi năm, chỉ còn hai mươi

năm nữa thôi. Năm mươi năm người đó đã chết rồi!

Chúng ta liên tục chết đi khi có liên quan tới thân

thể… nó là bọt sóng đang biến đi. Đừng bị lừa dối bởi

bẩy mươi năm bởi vì bẩy mươi năm chẳng có nghĩa gì

trong sự trải rộng của vĩnh hằng – bẩy mươi năm có

nghĩa lí gì? Nó là bọt sóng, nó là tạm thời.

Hiểu rằng thân thể đơn thuần là bọt sóng, cái

bóng của cái bóng. Nó thậm chí không phải là cái

bóng, mà là cái bóng của cái bóng. Phật muốn nhấn

mạnh vào tính không thật của nó. Nó là tiếng vọng của

tiếng vọng, rất, rất xa với thực tại. Thượng đế là thực –

gọi nó là chân lí. Phật thích gọi nó là dhamma – luật.

Thượng đế là thực tại tối thượng; thế rồi linh hồn là cái

bóng của ngài và thân thể là cái bóng của cái bóng. Đi

từ thân thể tới linh hồn và từ linh hồn tới dhamma – tới

Thượng đế, tới luật vĩnh hằng.

Chừng nào bạn chưa đạt tới luật vĩnh hằng, đừng

nghỉ, bởi vì chẳng ai biết cả – hôm nay bạn ở đây, mai

92

bạn có thể không ở đây. Đừng bỏ phí những ngày quí

báu này khi thèm khát, ham muốn những thứ vô tích

sự. Mọi người cứ thu thập những đồ đồng nát, và thế

rồi một ngày nào đó họ qua đời. Và rồi tất cả những

thứ đồ đồng nát mà họ đã thu thập cả đời mình bị bỏ

sau. Họ không thể đem đi một thứ nào trong chúng.

Chuyện kể rằng khi Alexander Đại đế chết, ông ta

đã yêu cầu các bộ trưởng của ông ta rằng khi quan tài

của ông ta được đem tới nấm mồ, tay ông ta phải được

để thõng bên ngoài quan tài.

“Sao vậy?” các bộ trưởng hỏi. “Chẳng ai đã bao

giờ nghe nói tới điều như vậy cả! Điều đó chưa bao

giờ được làm! Đấy không phải là truyền thống. Sao có

cái ý tưởng kì lạ, quái gở này? Sao tay bệ hạ phải bỏ

thõng bên ngoài quan tài?”

Alexander nói, “Ta muốn để cho mọi người biết

rằng ngay cả ta, Alexander Đại đế, cũng đi tay không.

Ta không đem cái gì đi cùng ta cả. Cả đời ta đã là phí

hoài khủng khiếp. Ta đã làm việc vất vả” – và ông ấy

thực sự làm việc vất vả, ông ấy tranh đấu vất vả, ông

ấy là con người thực sự tham vọng, điên vì quyền lực,

muốn trở thành người cai trị thế giới, và đã có ít nhiều

thành công, đã ít nhiều trở thành người cai trị của thế

giới đã được biết tới… Nhưng ngay cả ông ta cũng nói,

“ta đang chết đi và ta không thể đem được cái gì theo

ta; do đó toàn thể nỗ lực chỉ là bài tập trong vô tích sự.

Để cho mọi người biết, để cho họ trở nên nhận biết, để

cho họ hiểu cái ngu xuẩn của ta, cái xuẩn ngốc của ta.

Điều đó có thể giúp họ hiểu hình mẫu cuộc sống riêng

của họ, phong cách sống của họ.”

93

Chộp lấy mũi tên hoa của ham muốn

Và rồi, vô hình,

Thoát khỏi Diêm vương.

Nếu bạn có thể trở thành vô ham muốn, thế thì cái

chết không thể có bất kì ảnh hưởng gì lên bạn được.

Chính tâm trí ham muốn bị mắc vào lưới của cái chết,

và chúng ta tất cả đều đầy những ham muốn: ham

muốn về tiền, về quyền, về danh vọng, kính trọng – cả

nghìn lẻ một ham muốn. Ham muốn tạo ra tham lam,

và tham lam tạo ra cạnh tranh, và cạnh tranh tạo ra

ghen tị. Điều này dẫn tới điều khác, và chúng ta cứ rơi

vào trong đống lộn xộn, vào trong rối loạn của thế

giới. Đó là điên khùng, thế giới điên khùng, nhưng

nguyên nhân gốc rễ của điên khùng là ham muốn.

Một khi bạn gieo hạt mầm của ham muốn… ham

muốn nghĩa là có thêm nữa. Bạn có một số tiền nào đó,

bạn sẽ muốn có gấp đôi số đó. Ham muốn nghĩa là

khao khát có thêm nữa. Và không ai nghĩ hai lần rằng

bất kì thay đổi số lượng nào sẽ không thoả mãn bạn.

Nếu bạn không thể được thoả mãn bởi mười nghìn

đồng ru pi, làm sao bạn có thể được thoả mãn bởi hai

mươi nghìn đồng ru pi? Số ru pi được gấp đôi lên.

Nhưng nếu mười nghìn ru pi mà không thể cho bạn

thoả mãn nào, thoả mãn của bạn không thể được gấp

đôi lên; đã không có thoả mãn nào ngay chỗ đầu tiên.

Thực ra, khi bạn có mười nghìn đồng ru pi, bạn có một

lượng lo âu, lo sợ nào đó – những lo âu đó sẽ được gấp

đôi lên khi bạn có hai mươi nghìn ru pi, gấp ba lên khi

bạn có ba mươi nghìn ru pu, và cứ thế mãi. Bạn có thể

cứ nhân mãi lên…

Và bất kì cái gì bạn có, ai đó bao giờ cũng sẽ có

nhiều hơn cái đó – nó là thế giới lớn. Do đó mới có

94

ghen tị, và ghen tị là cơn sốt của linh hồn. Ngoại trừ

thiền, không có thuốc nào cho nó cả. Bác sĩ có thể giúp

bạn nếu thân thể bạn bị sốt, nhưng chỉ thầy mới có thể

giúp bạn, vị phật mới có thể giúp bạn, nếu bạn bị cơn

sốt của linh hồn. Rất ít người bị sốt vật lí, và gần như

mọi người đều bị sốt tâm linh – ghen tị.

Ghen tị nghĩa là ai đó khác có nhiều hơn bạn có.

Và việc là người thứ nhất trong mọi thứ là điều không

thể được. Bạn có thể có số tiền nhiều nhất trên thế

giới, nhưng bạn có thể không có khuôn mặt đẹp. Và kẻ

ăn xin có thể làm cho bạn ghen tị – thân thể người đó,

khuôn mặt người đó, đôi mắt người đó, và bạn ghen tị.

Kẻ ăn xin có thể làm cho cả hoàng đế phải ghen tị.

Napoleon không cao lắm – ông ấy chỉ quãng một

mét sáu lăm. Tôi chẳng thấy gì sai trong đó cả; điều đó

là hoàn toàn được – tôi cũng một mét sáu lăm và tôi

chưa bao giờ khổ sở vì điều đó, bởi vì cho dù bạn cao

mét tám hay mét rưỡi chân bạn vẫn cứ chạm đất như

nhau! Cho nên vấn đề là ở đâu? Nếu người mét rưỡi

mà treo một chân trên đất, thế thì chắc đã có vấn đề!

Nhưng Napoleon khổ sở nhiều lắm. Ông ấy liên tục ý

thức về sự kiện là ông ấy không cao. Và tất nhiên, ông

ấy ở lẫn trong số những người rất cao. Lính tráng,

tướng lĩnh, họ đều là những người cao còn ông ấy rất

thấp.

Ông ấy hay đứng lên cái gì đó cao hơn… Đích xác

cũng hệt như trường hợp của thủ tướng Ấn Độ đầu

tiên, Jawaharlal Nehru. Ông ấy cũng cao chừng mét

sáu lăm – cái mét sáu lăm này là cái gì đó đấy chứ! Và

phó vương cuối cùng của Ấn Độ, huân tước

Mountbatten, rất cao – Bà Mountbatten thậm chí cao

95

hơn nữa. Bây giờ, khi huân tước Mountbatten cho ông

ấy nói lời thề của thủ tướng thứ nhất… bạn có thể thấy

trong tấm hình, những tấm hình đó có khắp mọi nơi:

Nehru đang đứng trên một bậc còn Mountbatten đang

đứng trên sàn, chỉ để trông ít nhất là như nhau, nếu

không cao hơn Mountbatten. Rồi nữa, ông ấy không

cao hơn Mountbatten, ngay cả đứng trên một bậc…

một cảm giác sâu sắc về tự ti.

Napoleon liên tục tự kỉ. Một hôm ông ấy chữa

chiếc đồng hồ tường và tay ông ấy không với tới được.

Chiếc đồng hồ treo cao trên tường. Vệ sĩ của ông ấy –

và vệ sĩ thì nhất định là người cao, người khoẻ rồi – vệ

sĩ của ông ấy nói, “Xin đợi, tôi lớn hơn ông ấy, tôi sẽ

sửa nó.”

Napoleon giận lắm và ông ấy nói, “Đồ ngốc! Xin

lỗi đi! Anh không lớn hơn ta, anh chỉ đơn giản cao

hơn. đổi lời anh đi. Lớn hơn sao? Anh ngụ ý gì?” Ông

ta rất phật ý. Và anh chàng vệ sĩ đáng thương này

chẳng ngụ ý điều gì xúc phạm ông ta cả – anh ta thậm

chí không nhận biết rằng nói “lớn hơn” là xúc phạm.

Bây giờ, Napoleon có mọi thứ, nhưng chiều cao là vấn

đề.

Rất khó có mọi thứ trên thế giới và là người đầu

tiên trong mọi thứ. Điều đó là không thể được! Thế thì

ghen tị cứ còn dai dẳng, nó tiếp diễn. Ai đó có nhiều

tiền hơn bạn, ai đó có sức khoẻ hơn bạn, ai đó đẹp hơn

bạn, ai đó thông minh hơn bạn… và bạn thường xuyên

so sánh. Tâm trí ham muốn tiếp tục so sánh.

96

Goldstein và Weinberg cùng kinh doanh với nhau

và có một thời gian tồi tệ. Một hôm Goldstein, trong

khi đi dạo qua rừng, bỗng ngạc nhiên bởi mẹ đỡ đầu

hiện ra nói với anh ta, “Ta sẽ ban cho con ba điều ước,

nhưng nhớ lấy, bất kì điều gì con ước, Weinberg sẽ

được gấp đôi.”

Trên đường về Goldstein cứ đắn đo mãi, “Mình sẽ

không phản đối biệt thự rộng lớn.” Và trước khi anh ta

kịp nhận ra điều xảy ra, đã có đó – ngôi biệt thự của

anh ta. Nhưng đồng thời anh ta thấy Weinberg bên kia

đường đầy tự hào nhìn hai biệt thự của mình.

Goldstein kìm nén sự ghen tị của mình và đi vào xem

ngôi nhà mới của mình. Khi anh ta bước vào phòng

ngủ, một ham muốn thứ hai điểm vao anh ta: “Mình sẽ

không phản đối một phụ nữ như Sophia Loren.” Và

thật sự, cô ấy ở đó – con bé lộng lẫy trông hệt như

Sophia Loren. Nhưng khi anh ta nhìn qua cửa sổ

phòng ngủ, anh ta thấy Weinberg trên ban công với hai

đàn bà lộng lẫy.

“Được,” anh ta thở dài khi nghĩ về mẹ đỡ đầu tiên,

“bà có thể cắt một hòn của con!”

Ghen tị là ghen tị… Nếu bạn không thể có được tất

cả, ít nhất bạn cũng có thể làm cho bất kì ai khác

không có điều đó. Ghen tị trở thành phá huỷ, ghen tị

trở thành bạo hành. Và ghen tị là cái bóng của ham

muốn. Ham muốn bao giờ cũng so sánh và, bởi vì so

sánh mới có đau khổ. Mọi người phí hoài các kiếp

sống của mình trong ham muốn, trong ghen tị, trong so

sánh và thời gian quí báu đơn giản bị mất. Cho dù

Thượng đế có cho bạn ba điều ước, bạn cũng sẽ làm

hệt như Goldstein – bởi vì người Do Thái tồn tại trong

97

mọi người. Chỉ vị phật không là người Do Thái; bằng

không mọi người khác đều là Do Thái.

Bản chất của ham muốn là tính chất người Do

Thái. Nó muốn thêm nữa, nó điên lên vì thêm nữa. Và

những người sống trong ham muốn nhất định là nạn

nhân của cái chết. Chỉ người hiểu cái điên khùng của

ham muốn, của tham lam, của thường xuyên khao khát

thêm nữa, của ghen tị, của so sánh, người trở nên nhận

biết về tất cả những điều vô nghĩa này và vứt bỏ nó,

mới vượt ra ngoài cái chết. Người đó trở thành vô

hình. Phật dùng một từ hay. Ông ấy nói: Và rồi, vô

hình, thoát khỏi Diêm vương.

Cái chết chỉ có thể thấy người sống trong vỏ bọc

của ham muốn. Cái chết chỉ có thể thấy ham muốn.

Nếu ham muốn bị vứt bỏ, bạn trở thành vô hình với cái

chết; cái chết không thể chạm tới bạn được, bởi vì

không có ham muốn thì bạn đơn giản là tâm thức

thuần khiết và không là gì khác. Bạn không còn bị

đồng nhất với thân thể hay tâm trí. Bạn đơn giản biết

một điều, rằng bạn là nhân chứng. Cái chết không thể

thấy được bạn – bạn có thể thấy cái chết.

Thông thường, cái chết có thể thấy bạn, bạn không

thể thấy được cái chết – bởi vì ham muốn là thô, có thể

bị cái chết thấy. Tâm thức là vô hình, nó không phải là

vật chất – nó là năng lượng thuần tuý, nó là ánh sáng.

Bạn có thể thấy cái chết, nhưng cái chết không thể

thấy được bạn. Và thấy cái chết lại là một kinh nghiệm

lớn, một kinh nghiệm vui nhộn. Người ta bắt đầu cười

khi người ta thấy cái chết – cái chết bất lực thế. Quyền

lực của nó không phải là của riêng nó, quyền lực của

nó là trong tâm trí ham muốn của bạn. Bạn trao quyền

cho nó. Bạn càng ham muốn nhiều, bạn càng sợ chết

98

nhiều. Bạn càng tham nhiều, bạn càng sợ chết. Bạn

càng tham nhiều, bạn càng sợ hơn. Bạn càng có nhiều,

một cách tự nhiên bạn càng nhiều lo âu hơn – cái chết

sẽ tới và mọi thứ sẽ bị lấy đi.

(Còn Nữa)

Dhammapada

CON ĐƯỜNG CỦA PHẬT

¨

ĐÂY LÀ CON ĐƯỜNG

ĐI TỚI CHÂN LÍ TỐI THƯỢNG

Tập 2 ( tiếp theo )

Chộp lấy mũi tên hoa của ham muốn
Và rồi, vô hình,
Thoát khỏi Diêm vương.
Và đi tiếp.

Nhớ câu này: Và đi tiếp.

Thế thì cuộc hành trình thực, cuộc hành hương, bắt

đầu. Trước đó bạn chỉ đi trong vòng tròn – cùng những

ham muốn: nhiều tiền hơn, nhiều tiền hơn, nhiều

quyền hơn, nhiều quyền hơn… cái vòng luẩn quẩn,

chẳng đi đến đâu cả. Một khi bạn đã vứt bỏ mọi ham

muốn, tâm thức bạn được tự do khỏi cái thô thiển của

ham muốn. Bây giờ đi tiếp – bây giờ bạn có thể đi vào

trong sự tồn tại vô hạn, bạn có thể đi vào trong cái

vĩnh hằng của sự tồn tại. Bây giờ, các bí ẩn tiếp bí ẩn

cứ mở ra trước bạn. Bây giờ toàn thể sự tồn tại là sẵn

có cho bạn, trong tính toàn bộ của nó, nó là của bạn…

bây giờ đi tiếp.

Cái chết bắt người

thu nhặt hoa

Khi với tâm trí phân tán và giác quan thèm khát

Người đó tìm vô vọng về hạnh phúc

Trong hoan lạc của thế giới.

Cái chết bắt lấy người đó đi

Như trận lụt mang đi cả làng đang ngủ.

99

Nếu bạn quá bị phân tán bởi ham muốn, hoan lạc,

hài lòng, và nếu bạn quá khao khát trong cảm giác kích

động dục, nếu bạn tìm kiếm một cách ngu ngốc về

hạnh phúc trong thế giới bên ngoài, thế thì cái chết tới

và bắt bạn đi như trận lụt đem đi cả làng đang ngủ.

Người đang đi tìm hạnh phúc trong thế giới bên

ngoài là người ngủ say. Người đó không nhận biết về

điều mình đang làm, bởi vì hạnh phúc chưa bao giờ

được tìm thấy ở bên ngoài. Và bất kì điều gì xuất hiện

như hạnh phúc chung cuộc tỏ ra là cội nguồn của bất

hạnh và không là gì khác. Thế giới bên ngoài chỉ hứa

hẹn, mà chẳng bao giờ chuyển giao hàng hoá. Khi bạn

còn ở xa xa, mọi sự dường như rất đẹp. Bạn càng lại

gần, chúng càng bắt đầu biến mất đi. Khi bạn có được

chúng sau nỗ lực lâu dài và vất vả, bạn đơn giản lúng

túng. Bạn không thể tin được điều đã xảy ra – nó là ảo

ảnh.

Mọi sự là đẹp chỉ từ khoảng cách xa. Khi bạn có

chúng, chúng chẳng có gì trong chúng cả. Tiền là có ý

nghĩa chỉ cho những người không có nó. Những người

có nó, họ biết cái vô tích sự của nó. Danh vọng là có ý

nghĩa chỉ với những người không có nó. Những người

có nó… cứ hỏi họ mà xem: họ phát mệt mỏi vì nổi

tiếng, họ hoàn toàn mệt mỏi vì nổi tiếng. Họ muốn

được giấu tên. Họ muốn là không ai cả.

Voltaire đã viết trong hồi kí của ông ấy rằng khi

ông ấy chưa nổi tiếng ham muốn duy nhất của ông ấy

là được nổi tiếng; ông ấy sẵn sàng hi sinh mọi thứ để

được tiếng tăm. Và nếu bạn cứ đi tìm cái gì đó mãi,

bạn nhất định sẽ được nó, nhớ lấy. Một ngày nào đó

ông ấy trở nên nổi tiếng, và thế rồi ông ấy viết, “Tôi

100

mệt mỏi thế về tiếng tăm của mình, bởi vì mọi sự riêng

tư trong cuộc đời tôi bị biến mất, mọi mối quan hệ

thân mật biến mất – tôi nổi tiếng tới mức tôi bao giờ

cũng bị mọi người vây quanh, ở mọi nơi, bất kì chỗ

nào tôi đi. Nếu tôi đi dạo trong vườn, một đám đông sẽ

theo sau. Tôi gần như là một vật trưng bày, một loại

xiếc đi bộ.”

Danh tiếng của ông ấy đạt tới đỉnh mà nó trở thành

nguy hiểm cho cuộc sống của ông ấy. Một lần khi ông

ấy đi từ ga về nhà mình sau một cuộc hành trình, ông

ấy về nhà gần như trần truồng, bị cào xước khắp

người, máu rỉ ra từ nhiều chỗ – bởi vì ở Pháp vào

những ngày đó đây là điều mê tín, rằng nếu bạn có thể

lấy được một mảnh quần áo của người nổi tiếng, bạn

cũng có thể trở nên nổi tiếng. Cho nên mọi người xé

quần áo ông ấy, và trong khi xé quần áo, họ làm cào

xước thân thể ông ấy.

Ông ấy kêu và khóc hôm đó, và nói, “Tôi ngu làm

sao mà tôi đã muốn được nổi tiếng. Hay biết bao khi

chẳng ai biết tôi và tôi là người tự do. Bây giờ tôi

không còn là người tự do nữa.”

Thế rồi ông ấy muốn là không ai cả. Và điều đó đã

xảy ra nữa rằng tiếng tăm biến mất. Trong cuộc sống

này chẳng cái gì là thường hằng cả – một ngày nào đó

bạn nổi tiếng, ngày khác bạn là không ai cả. Ngày ông

ấy chết, chỉ bốn người đi theo ông ấy ra nấm mồ; và

trong bốn người này thì một là con chó của ông ấy –

cho nên thực sự chỉ có ba. Mọi người đã hoàn toàn

quên mất ông ấy, họ đã quên rằng ông ấy vẫn còn

sống. Họ đi tới biết khi báo chí công bố bản tường

trình rằng Voltaire đã chết. Thế thì mọi người mới

101

nhận biết và bắt đầu hỏi lẫn nhau, “Ông ấy vẫn còn

sống à?”

Nếu bạn có tiếng tăm, bạn phát mệt vì điều đó.

Nếu bạn có tiền của, bạn sẽ không biết phải làm gì với

nó. Nếu bạn được mọi người kính trọng, bạn trở thành

nô lệ, bởi vì thế thì bạn phải cứ hoàn thành những

trông đợi của họ; bằng không kính trọng với bạn sẽ

biến mất. Chỉ khi bạn không nổi tiếng bạn mới coi nó

là cái gì đó có ý nghĩa. Khi bạn không được kính

trọng, bạn khao khát điều đó. Khi bạn được kính trọng,

bạn phải trả giá cho sự kính trọng. Mọi người càng

kính trọng bạn, họ càng quan sát bạn kĩ hơn – liệu bạn

có hoàn thành những trông đợi của họ hay không. Mọi

tự do của bạn mất đi. Nhưng đây là cách mọi người

đang sống.

Phật nói điều đó cũng giống như một làng đang

ngủ – trận lụt tới và nhấn chìm cả làng, trận lụt của cái

chết tới.

Cái chết đánh bại người đó

Khi với tâm trí phân tán và giác quan thèm khát

Người đó thu nhặt hoa.

Người đó sẽ chẳng bao giờ có thoả thích

hoan lạc của thế giới.

Và không ai đã bao giờ có thể hài lòng được trong

thế giới này – điều đó là không thể được. Bạn có thể

trở nên ngày một bất mãn hơn, có vậy thôi, bởi vì hài

lòng chỉ xảy ra khi bạn đi vào bên trong. Hài lòng là

bản tính bên trong nhất của bạn. Hài lòng không thuộc

vào đồ vật. Bạn có thể thoải mái với đồ vật – nhà đẹp,

102

vườn đẹp, không lo nghĩ về chuyện tiền nong – vâng,

bạn có thể thoải mái, nhưng bạn vẫn còn như cũ:

không hài lòng một cách thoải mái. Thực ra, khi bạn

có mọi tiện nghi và bạn không có gì để làm kiếm tiền,

hai mươi bốn giờ một ngày bạn nhận biết về sự không

hài lòng của mình, bởi vì không bận bịu nào khác còn

lại.

Đó là lí do tại sao người giầu còn không hài lòng

hơn người nghèo. Đáng phải không như thế chứ – một

cách logic đáng phải không như vậy – nhưng đấy là

cách thức cuộc sống vậy đấy. Cuộc sống không theo

Aristotle và logic của ông ấy. Người giầu tới từ

phương Tây trở nên rất phân vân khi họ thấy người Ấn

Độ nghèo với khuôn mặt mãn nguyện. Họ không thể

tin được vào mắt mình. Những người này chẳng có gì

cả – sao họ có vẻ hài lòng? Và cái gọi là các thánh

nhân và mahatmas và những người lãnh đạo chính

khách Ấn Độ, họ cứ ba hoa với thế giới rằng “Đất

nước chúng tôi tâm linh lắm – trông mà xem! mọi

người mãn nguyện thế cho dù họ nghèo, bởi vì họ giầu

có bên trong.”

Điều này tất cả đều vô nghĩa. Họ chẳng giầu có

bên trong. Mãn nguyện mà bạn thấy trên khuôn mặt

Ấn Độ nghèo không phải là mãn nguyện của việc nhận

ra bên trong. Chỉ đơn giản bởi vì họ quá bị bận tâm tới

tiền bạc, bánh mì và bơ, đến mức họ không thể có

được thời gian để mà không hài lòng. Họ không thể

đảm đương được việc ngồi đó và suy nghĩ ủ ê về khổ

của họ. Họ khổ thế và họ chẳng bao giờ biết tới hoan

lạc nào, cho nên họ không thể có bất kì so sánh nào.

Khi xã hội trở nên giầu, nó có thời gian để nghĩ,

“Bây giờ cái gì tiếp theo…?” Và dường như chẳng có

103

gì còn cả. Khi mọi thứ bên ngoài là sẵn có bạn bắt đầu

nghĩ, “Mình đang làm gì ở đây nhỉ? Mọi thứ đều có

đó, nhưng mình vẫn cứ trống rỗng như bao giờ.”

Người ta bắt đầu quay vào trong.

Người ăn xin trông mãn nguyện bởi vì họ không

có mùi vị gì của giàu có. Nhưng người giàu trở nên rất

không hài lòng. Bởi vì giầu có của mình mà người đó

trở nên nhận biết về cái vô tích sự của mọi giàu sang.

Cái chết đánh bại người đó

Khi với tâm trí phân tán và giác quan thèm khát

Người đó thu nhặt hoa.

Người đó sẽ chẳng bao giờ có thoả thích

hoan lạc của thế giới.

Bạn không thể có sự thoả thích của mình được.

Điều đó là không thể được. Bạn không thể được thoả

mãn với mọi thứ; tâm trí sẽ cứ đòi hỏi thêm nữa. Bạn

càng có nhiều, bạn sẽ càng tạo ra thêm nhiều rắc rối

cho mình – bởi vì bạn có thể đảm đương được rắc rối,

bạn có thời gian. Thực ra, bạn có nhiều thời gian trong

tay đến mức bạn chẳng biết phải làm gì với nó. Bạn sẽ

bắt đầu lừa dối xung quanh. Bạn sẽ tạo ra nhiều khổ

hơn, nhiều lo âu hơn cho bản thân mình. Và không tìm

thấy thoả mãn bên ngoài, bạn có thể trở nên bất mãn

đến mức bạn có thể bắt đầu nghĩ tới tự tử.

Nhiều người tự tử ở các nước giầu hơn hơn ở nước

nghèo. Hay bạn có thể trở nên bất mãn tới mức bạn có

thể phát điên, bạn có thể thành gàn dở. Nhiều người

phát điên ở các nước giầu hơn ở các nước nghèo.

Giầu theo một cách nào đó là rất nguy hiểm: nó có

thể lái bạn tới tự tử, nó có thể lái bạn tới loại điên

104

khùng nào đó – nhưng nó cũng rất có ý nghĩa bởi vì nó

có thể lái bạn hướng tới tôn giáo, hướng tới nội tâm

mình, lãnh thổ bên trong, nó có thể trở thành cuộc cách

mạng nội tâm. Điều đó tuỳ thuộc vào bạn – các phương

án đều để mở. Người giầu hoặc trở nên thần kinh, tự

tử, hoặc người đó phải trở thành thiền nhân; không có

phương án thứ ba khác cho người đó.

Người nghèo không thể tự tử được, không thể bị

thần kinh được; người đó thậm chí còn không có đủ

cơm, còn nói gì tới tâm trí? Người đó mệt mỏi thế vào

buổi tối, người đó không thể nghĩ được, không có năng

lượng để nghĩ… rơi luôn vào giấc ngủ. Đến sáng lại

con đường mòn cũ của việc kiếm cơm. Mọi ngày

người đó đều phải kiếm sống, bằng cách nào đó để vẫn

còn sống, tồn tại. Người đó không thể đảm đương

được xa hoa của người thần kinh, người đó không thể

đảm đương được xa hoa của việc phân tâm – đây là

những xa hoa chỉ người giầu mới có thể đảm đương!

Và người đó không thể thực sự là thiền nhân được.

Người đó sẽ đi tới đền chùa, nhưng người đó sẽ hỏi

xin cái gì đó trần tục. Vợ người đó ốm, con người đó

không có tiền để vào trường học, người đó thất nghiệp.

Người đó đi tới đền chùa để hỏi xin những điều này.

Phẩm chất tôn giáo của người nghèo là rất nghèo nàn.

Có hai loại tính tôn giáo trong thế giới này: tính

tôn giáo của người nghèo – nó rất trần tục, nó rất vật

chất – và tính tôn giáo của người giầu – nó rất tâm linh,

rất phi vật chất. Khi người giầu cầu nguyện, lời cầu

nguyện của người đó không thể vì tiền. Nếu người đó

vẫn cầu nguyện về tiền, người đó vẫn chưa đủ giầu.

105

Có một thánh nhân Sufi, Farid. Một lần các dân

làng hỏi ông ấy, “Farid ơi, nhà vua vĩ đại, Akbar, tới

ông biết bao nhiêu lần – sao ông không hỏi xin ông ấy

để mở trường học cho người nghèo trong làng chúng

ta? Chúng ta không có trường học.”

Farid nói, “Tốt, sao tôi phải đợi ông ấy tới? Tôi sẽ

đi.”

Ông ấy tới Delhi, ông ấy được đón tiếp – mọi

người đều biết rằng Akbar kính trọng ông ấy lắm.

Akbar đang cầu nguyện trong đền thờ riêng của mình;

Farid được phép vào. Ông ấy đi vào, ông ấy thấy

Akbar đang cầu nguyện. Ông ấy đứng đằng sau Akbar

– ông ấy có thể nghe thấy điều ông này đang nói. Với

đôi tay giang ra, Akbar vừa mới kết thúc lời cầu

nguyện của mình, namaz của ông ấy, và ông ấy đang

nói với Thượng đế, “Cái một từ bi toàn năng, xin mưa

rào thêm giầu có lên con! Xin cho con vương quốc lớn

hơn!”

Farid lập tức quay đi. Đấy là vừa lúc kết thúc lời

cầu nguyện, cho nên Akbar trở nên nhận biết rằng ai

đó đã ở đó và đã đi mất. Ông ấy nhìn ngoái lại, thấy

Farid đang đi xuống bậc thang, tới chạm chân Farid và

hỏi, “Sao ông đã tới?” – bởi vì lần đầu tiên ông ấy tới –

“và sao ông đi mất?”

Farid nói, “Tôi đã tới với ý tưởng rằng ông giầu

có, nhưng nghe lời cầu nguyện của ông tôi nhận ra là

ông vẫn còn nghèo. Và nếu ông vẫn còn hỏi xin thêm

tiền, thêm quyền, thế thì việc tôi hỏi xin tiền là không

tốt, vì tôi phải tới xin ít tiền để mở trường học trong

làng tôi. Không, tôi không thể hỏi xin từ người nghèo

được. Bản thân ông còn cần thêm nữa. Tôi sẽ đi quyên

góp một ít ở trong làng và đem nó cho ông! Còn khi có

106

liên quan tới trường học, nếu ông đang hỏi xin từ

Thượng đế, tôi có thể hỏi xin trực tiếp từ Thượng đế –

sao tôi phải dùng ông làm trung gian làm gì?”

Câu chuyện này được đích thân Akbar kể trong tự

truyện của mình. Ông ấy nói, “Lần đầu tiên tôi trở nên

nhận biết rằng, vâng, tôi chưa đủ giầu, tôi vẫn chưa hết

thoả mãn với tất cả tiền bạc này. Nó đã không cho tôi

cái gì và tôi cứ hỏi xin thêm nữa, gần như hoàn toàn vô

ý thức! Đây là lúc tôi phải được chấm dứt với nó.

Cuộc sống cứ bay vùn vụt và tôi thì vẫn cứ hỏi xin rác

rưởi. Và tôi đã tích luỹ nhiều thứ – nó chẳng cho tôi cái

gì cả.”

Nhưng gần như một cách máy móc người ta cứ hỏi

xin mãi. Nhớ lấy, tôn giáo nảy sinh khi bạn đã sống

trong thế giới này và đã biết thế giới này và cái vô tích

sự của nó, khi bạn có một hương vị hoàn toàn khác

cho nó từ tôn giáo, cái nảy sinh trong bạn bởi vì nhu

cầu vật lí của bạn là không được đáp ứng.

Tôn giáo của người nghèo là nghèo, tôn giáo của

người giầu là giầu. Và tôi muốn tôn giáo giầu trên thế

giới này; do đó tôi không chống công nghệ, không

chống công nghiệp hoá. Tôi không chống việc tạo ra

xã hội sung túc, tôi tất cả ủng hộ cho nó, bởi vì đây là

quan sát của tôi: rằng tôn giáo đạt tới cực đỉnh của nó

chỉ khi mọi người hoàn toàn thất vọng với giầu có trần

tục, và cách duy nhất để làm cho họ hoàn toàn thất

vọng là để cho họ kinh nghiệm chúng.

Ong hút mật hoa từ hoa

Không làm hỏng cái đẹp hay hương thơm của nó.

cho nên để người chủ định cư, và lang thang.

107

Phật đã gọi các sư của mình là “người ăn xin”,

madhukari. Madhukari nghĩa là lấy mật như con ong.

Khất sĩ, sannyasin Phật giáo, đi hết nhà nọ tới nhà kia;

ông ta chẳng bao giờ hỏi xin chỉ từ một nhà bởi vì điều

đó có thể là quá nặng gánh. Cho nên ông ta hỏi xin từ

nhiều nhà, chỉ chút xíu từ nhà này, chút xíu từ nhà

khác, để cho ông ta không là gánh nặng cho ai cả. Và

ông ta không bao giờ đi tới cùng một nhà lần nữa.

Điều này được gọi là madhukari – như con ong mật.

Con ong đi từ hoa này sang hoa khác, và cứ bay từ hoa

sang hoa – nó không sở hữu.

Ong hút mật hoa từ hoa không làm hỏng cái đẹp

hay hương thơm của nó. Nó chỉ lấy chút xíu từ một

đoá hoa đến mức cái đẹp của hoa không bị hư hỏng,

hương thơm không bị phá huỷ. Hoa đơn giản chẳng

bao giờ trở nên nhận biết về ong; nó tới một cách im

lặng thế và đi im lặng thế.

Phật nói: con người của nhận biết sống trong thế

giới này giống như con ong. Người đó không bao giờ

làm hư hỏng cái đẹp của thế giới này, người đó không

bao giờ phá huỷ hương thơm của thế giới này. Người

đó sống im lặng, đi im lặng. Người đó chỉ yêu cầu cái

cần thiết. Cuộc sống của người đó là đơn giản, nó

không phức tạp. Người đó không thu thập cho ngày

mai. Ong không bao giờ lấy mật cho ngày mai, hôm

nay là đủ cho chính nó.

Cho nên để người chủ định cư, và lang thang..

Một phát biểu rất kì lạ: …định cư, và lang thang. Định

cư bên trong, định tâm bên trong, và bên ngoài là

người lang thang: bên trong hoàn toàn được bắt rễ, còn

bên ngoài không ở lâu ở bất kì một chỗ nào, không ở

108

với một người trong thời gian lâu, bởi vì gắn bó nảy

sinh, sở hữu phát sinh. Cho nên chỉ giống như con ong.

Mới đêm hôm nọ tôi có đọc một hồi kí của một

nhà thơ. Ông ấy nói, “Tôi đã tìm thấy một điều rất kì

lạ: khi tôi rơi vào tình yêu với một người thực đẹp, tôi

không thể sở hữu được người đó. Và nếu tôi sở hữu,

tôi lập tức thấy rằng tôi đang phá huỷ cái đẹp của

người đó. Nếu tôi trở nên bị gắn bó, theo cách nào đó

tôi đang làm tổn thương người kia, tự do của họ.”

Các nhà thơ là những người nhạy cảm; họ có thể

trở nên nhận biết về nhiều điều mà người thường

chẳng bao giờ trở nên nhân biết tới. Nhưng đó là cái

nhìn hay, có chiều sâu sâu lắng: nếu bạn thực sự trong

tình yêu với người đẹp bạn sẽ không thích sở hữu, bởi

vì sở hữu là phá huỷ. Bạn sẽ giống như con ong; bạn

sẽ thích thú bầu bạn, bạn sẽ tận hưởng tình bạn, bạn sẽ

chia sẻ tình yêu, nhưng bạn sẽ không sở hữu. Sở hữu

là thu người thành đồ vật. Nó là phá huỷ tâm linh của

người đó, nó là việc làm cho người đó thành món hàng

– và điều này có thể được làm chỉ nếu bạn không yêu.

Điều này có thể được làm chỉ nếu tình yêu của bạn

không là gì ngoài ghét đeo mặt nạ như yêu.

Phật nói: Cũng giống như ong, đi trong cuộc sống

– tận hưởng, mở hội, nhảy múa, ca hát, nhưng giống

như ong – bay từ hoa này sang hoa khác. Có mọi kinh

nghiệm đi, bởi vì chính chỉ qua kinh nghiệm mà bạn

mới trở nên chín chắn. Nhưng đừng có tính sở hữu,

đừng bị mắc kẹt ở đâu cả. Vẫn còn tuôn chảy như

dòng sông – không trở thành tù đọng. Định cư bên

trong, chắc chắn, trở nên kết tinh bên trong, nhưng bên

ngoài vẫn còn là người lang thang.

109

Nhìn vào lỗi riêng của ông,

Điều ông đã làm hoặc bỏ không làm.

Bỏ qua lỗi lầm của người khác.

Cách thông thường của con người là bỏ qua lỗi của

riêng mình và nhấn mạnh, khuếch đại lỗi của người

khác. Đây là cách thức của bản ngã. Bản ngã cảm thấy

rất thoải mái khi nó thấy, “Mọi người đều có nhiều lỗi

thế mà mình chẳng có lỗi nào.” Và thủ đoạn là: bỏ qua

lỗi của bạn, khuếch đại lỗi của người khác, cho nên

chắc chắn mọi người đều giống như quỉ còn bạn giống

như thánh nhân.

Phật nói: đảo ngược quá trình này. Nếu bạn thực

sự muốn được biến đổi, bỏ qua lỗi của người khác đi –

đó không phải là công việc của bạn. Bạn là không ai

cả, bạn không được yêu cầu can thiệp vào, bạn không

có quyền, cho nên sao bận tâm? Nhưng đừng bỏ qua

lỗi của riêng bạn, bởi vì chúng phải được thay đổi,

vượt qua.

Khi Phật nói, nhìn vào lỗi riêng của ông, điều ông

đã làm hoặc bỏ không làm, ông ấy không ngụ ý ăn năn

nếu bạn đã làm điều gì đó sai; ông ấy không ngụ ý

khoe khoang, vỗ lưng bạn nếu bạn đã làm điều gì đó

tốt. Không. Ông ấy đơn giản ngụ ý nhìn để cho bạn có

thể nhớ trong tương lai rằng không gì sai nên được lặp

lại, để cho bạn có thể nhớ trong tương lai rằng cái

thiện nên được mở rộng, được nâng cao, còn cái ác

nên bị giảm đi – không để ăn năn mà để nhớ lại.

Đó là khác biệt giữa thái độ Ki tô giáo và thái độ

Phật giáo. Người Ki tô giáo nhớ tới chúng để ăn năn;

do đó Ki tô giáo tạo ra tội lỗi lớn. Phật giáo không bao

giờ tạo ra bất kì tội lỗi nào, nó không dành cho ăn năn,

110

nó dành cho nhớ lại. Quá khứ là quá khứ; nó đã qua và

qua mãi mãi – không cần phải lo nghĩ về nó. Nhớ đừng

lặp cùng sai lầm lần nữa. Lưu tâm hơn đi.

Giống như đoá hoa đáng yêu,

Sáng chói nhưng không thơm,

Là lời đẹp nhưng trống rỗng

Về người không ngụ ý điều mình nói.

Những người cứ lặp kinh sách một cách máy móc,

lời của họ là hay nhưng trống rỗng. Họ giống như hoa,

đáng yêu, sáng lạn, nhưng chẳng có hương thơm nào.

Họ giống như hoa giấy hay hoa nhựa – họ không thể có

hương thơm được, họ không thể có tính sống động.

Tính sống động, hương thơm là có thể chỉ khi bạn nói

theo lời riêng của mình, không theo thẩm quyền của

kinh sách; khi bạn nói theo thẩm quyền riêng của bạn,

khi bạn nói như một nhân chứng cho chân lí, không

như học giả có học, không như bác học, mà khi bạn

nói như người đã thức tỉnh.

Giống như đoá hoa đáng yêu,

Sáng chói và thơm ngát,

Là lời đẹp và chân lí

Của người ngụ ý điều mình nói.

Nhớ đừng lặp lại lời của người khác. Kinh nghiệm,

và chỉ nói điều bạn đã kinh nghiệm, và lời của bạn sẽ

có thực chất, trọng lượng; và lời của bạn sẽ có toả

sáng, lời của bạn sẽ có hương thơm. Lời của bạn sẽ

hấp dẫn mọi người; không chỉ hấp dẫn – ảnh hưởng.

Lời của bạn sẽ hàm chứa nghĩa lớn lao, và những

người đã sẵn sàng nghe chúng sẽ được biến đổi qua

111

chúng. Lời bạn sẽ là việc thở, sống động; sẽ có nhịp

tim đập trong chúng.

Giống như vòng hoa được kết từ đống hoa,

Kiểu cách từ cuộc sống của ông được kết như

nhiều việc làm tốt.

Để cho cuộc sống của bạn trở thành vòng hoa –

vòng hoa của những hành vi tốt. Nhưng hành vi tốt

theo Phật, chỉ nảy sinh nếu bạn trở nên lưu tâm hơn,

tỉnh táo hơn, nhận biết hơn. Hành vi tốt không phải là

được trau dồi như một tính cách; hành vi tốt phải là

sản phẩm phụ của việc có ý thức nhiều hơn của bạn.

Phật giáo không nhấn mạnh vào tính cách mà vào

tâm thức – đó là đóng góp lớn nhất cho nhân loại và

tiến hoá của nhân loại.

( còn Nữa )

Dhammapada

CON ĐƯỜNG CỦA PHẬT

¨

ĐÂY LÀ CON ĐƯỜNG

ĐI TỚI CHÂN LÍ TỐI THƯỢNG

Tập 2 ( tiếp theo )

Câu hỏi :

Thưa Thầy kính yêu,
Hiểu biết của tôi về bản thân tôi là ở chỗ mọi việc
làm của tôi đều nảy sinh từ ham muốn trao đổi.
Ngay cả ý nghĩ tinh tế nhất cũng là đối thoại, một
mưu tính để có kinh nghiệm của người khác và
thẩm tra sự tồn tại của tôi. Với việc nhận thức ra
rằng tôi là người duy nhất có thể kinh qua những
kinh nghiệm của mình và cho chúng sự hợp thức,
mọi việc làm không cần thiết này phải biến mất.
Nó đơn giản và hiển nhiên thế. Sao việc nhận thức
ra này không đạt tới cốt lõi bên trong nhất của
tôi?

128

Prem Steven, đấy chưa phải là nhận ra đâu – nó

vẫn là thông tin đấy, nó vẫn là phỏng đoán đấy, nó vẫn

là suy nghĩ đấy; theo đường đúng, chắc chắn, theo

hướng đúng, đúng, nhưng nó chưa phải là nhận thức

  1. ‘Nhận thức ra’ là từ lớn lao. Người ta phải dùng từ

đó rất thận trọng. Bạn có thể nghĩ tới những ý tưởng

lớn lao, nhưng chúng không trở thành nhận thức của

bạn bằng việc suy nghĩ. Bạn có thể nghĩ về Thượng đế

và bạn có thể đi tới kết luận rằng Thượng đế hiện hữu,

và bạn có thể cảm thấy rằng bây giờ không có hoài

nghi gì trong tâm trí mình về sự tồn tại của Thượng đế

– dầu vậy nó vẫn không phải là nhận thức.

Nhận thức ngụ ý nhận ra chính xác – nó phải trở

thành thực tại của bạn, không phải chỉ là ý tưởng! Cho

dù một ý tưởng tốt có đó, nó vẫn cứ là ý tưởng. Ý

tưởng không thể biến đổi được bạn, và ý tưởng không

thể đạt tới chính cốt lõi của bản thể bạn. Nó vẫn còn ở

chu vi.

Mọi ý tưởng đều là ở chu vi – cũng như mọi con

sóng vẫn còn trên bề mặt. Sóng không thể đi sâu vào

trong đại dương được; không có cách nào để nó đi vào.

Tại cốt lõi sâu nhất không có sóng. Trên bề mặt bão có

thể điên cuồng, nhưng tại cốt lõi sâu nhất, đại dương

bình lặng và yên tĩnh – và bao giờ cũng vậy. Chỉ bề

mặt có thể bị rối loạn.

Mọi suy nghĩ đều là rối loạn trên chu vi của bản

thể bạn. Những ý tưởng xấu, ý tưởng tốt, tất cả đều là

ngoại vi. Mọi người có niềm tin này rằng các ý tưởng

xấu là ngoại vi và ý tưởng tốt là trung tâm – điều đó

không phải vậy. Tốt hay xấu không tạo ra khác biệt gì.

Ý tưởng là ý tưởng, và ý tưởng vẫn còn là ngoại vi.

Chỉ việc chứng kiến mới có thể ở trung tâm.

129

Cho nên điều thứ nhất là nhận thức rằng bạn vẫn

chưa nhận thức ra. Một khi điều gì đó được nhận thức

ra, nó nhất định làm biến đổi bạn – ngay lập tức nó

biến đổi bạn. Thế thì câu hỏi không thể phát sinh được:

“Nó đơn giản và hiển nhiên thế. Sao việc nhận thức

này không đạt tới cốt lõi bên trong nhất của tôi?” Cái

“sao?” này không thể có đó được. Nếu bạn nhận thức

ra điều gì đó, tính cách của bạn lập tức thay đổi. Tính

cách của bạn là cái bóng của tâm thức bạn. Một khi

tâm thức mới, toàn thể tính cách trở thành mới.

Nếu bạn hỏi tại sao, nếu bạn hỏi làm sao thay đổi,

thế thì việc nhận thức ra chỉ là ý tưởng – và đừng tin

vào ý tưởng. Chúng lừa dối bạn, chúng là những kẻ lừa

dối lớn lao, chúng là đồng tiền giả. Bạn có thể cứ tích

luỹ chúng mà tin rằng bạn đang trở nên giầu có, nhưng

một hôm bạn sẽ bị tan nát. Hối hận sẽ là lớn và khổ sẽ

lớn, bởi vì mọi lúc bạn tích luỹ những đồng tiền giả

đều đơn giản phí hoài. Và nó không thể được giành lại

– nó đã trôi qua vĩnh viễn rồi.

Điều thứ hai… bạn nói, Steven, “Hiểu biết của tôi

về bản thân tôi là ở chỗ mọi việc làm của tôi đều nảy

sinh từ ham muốn trao đổi. Ngay cả ý nghĩ tinh tế nhất

cũng là đối thoại, một mưu tính để có kinh nghiệm của

người khác và thẩm tra sự tồn tại của tôi.”

Tại sao? Tại sao bạn phải muốn người khác thẩm

tra sự tồn tại của bạn, để cho sự tồn tại của bạn có tính

hợp thức? Bởi vì bạn nghi ngờ về nó, bạn ngờ vực về

sự tồn tại của bạn. Bạn thực sự không biết rằng bạn

hiện hữu; bạn biết bạn chỉ khi người khác nói bạn hiện

hữu. Bạn phụ thuộc vào ý kiến của người khác.

Nếu họ nói rằng bạn đẹp, bạn nghĩ bạn đẹp. Nếu

họ nói bạn thông minh, bạn nghĩ bạn thông minh. Do

130

đó, bạn muốn gây ấn tượng cho mọi người – bằng

thông minh của bạn, bằng cái đẹp của bạn, bằng đủ

mọi loại điều bạn muốn gây ấn tượng cho mọi người,

bởi vì nếu bạn có thể thấy cái gì đó trong mắt họ, cái

đó trở thành hợp thức cho bạn.

Đó là lí do tại sao bạn phát rồ lên khi ai đó xúc

phạm bạn, làm hỏng hình ảnh đó khi ai đó gọi bạn là

đồ ngốc; bằng không, sao bạn phải bận tâm? Đấy

không phải là việc của bạn. Nếu người đó gọi bạn là

đồ ngốc, đấy là vấn đề của người đó. Chỉ bằng việc

người đó gọi bạn là đồ ngốc, bạn đâu có trở thành đồ

ngốc. Nhưng bạn trở thành đồ ngốc, bởi vì bạn phụ

thuộc vào ý kiến của người khác.

Đó là cách chúng ta sống trong xã hội. Chúng ta

liên tục cố gắng gây ấn tượng lẫn cho nhau. Đó là lí do

tại sao chúng ta sống như nô lệ, bởi vì nếu bạn muốn

gây ấn tượng lên người khác, bạn phải theo các ý

tưởng của họ; chỉ thế thì họ mới bị ấn tượng. Bạn phải

tốt theo cách họ muốn bạn là tốt. Nếu họ là người ăn

chay, bạn cũng phải là người ăn chay, thế thì họ sẽ bị

ấn tượng – họ sẽ nói bạn là thánh nhân. Nếu họ đang

sống theo một kiểu cách sống nào đó, bạn phải sống

theo kiểu đó; chỉ thế thì họ mới thừa nhận bạn.

Bạn có thể thu được sự kính trọng chỉ nếu bạn tuân

theo các ý tưởng của họ. Đó là việc hiểu lẫn nhau rằng

bạn hỗ trợ cho ý tưởng của họ để cho họ cảm thấy

thoải mái rằng ý tưởng của họ là đúng; do đó họ là

đúng. Và thế rồi họ hỗ trợ cho bạn và họ cho bạn sự

kính trọng bởi vì bạn tuân theo ý tưởng đúng, bạn là

người đúng. Họ ca ngợi bạn, họ biểu lộ cho bạn sự tôn

kính, họ gọi bạn là thánh nhân, hiền nhân… điều đó

làm cho bạn cảm thấy vừa lòng. Điều đó làm vừa lòng

131

họ bởi vì bạn kính trọng ý thức hệ của họ, và họ bày tỏ

sự kính trọng với nhân cách của bạn. Đây là sự thu xếp

lẫn nhau. Và các bạn cả hai đều trong ảo tưởng. Bạn

hỗ trợ cho ảo hưởng của họ, họ hỗ trợ cho ảo tưởng

của bạn. Các bạn là đối tác trong cùng một việc gây ảo

giác.

Sao người ta muốn được người khác thẩm tra, làm

hợp thức? Nếu bạn biết về cái riêng của mình, nếu bạn

đã kinh nghiệm bản thể của bạn và cái đẹp của nó và

vui vẻ của nó và sự vĩ đại của nó và vinh quang của

nó, ai thèm để ý tới điều người khác nói?

Phật đi qua một làng, và mọi người của làng đó

chống đối Phật nhiều lắm. Tại sao họ chống Phật? –

bởi vì Phật được sinh ra tại làng đó, ông ấy đã sống tại

làng đó trong nhiều năm, và dân làng không thể tin

được rằng một người đã được sinh ra trong số họ đã

trở nên chứng ngộ. Điều đó làm khó chịu cho bản ngã

của họ!

Đó là lí do tại sao Jesus nói: Nhà tiên tri không

được kính trọng, không được yêu mến, bởi những

người riêng của mình. Bản thân Jesus đã bị tống ra

khỏi nơi sinh của mình. Chỉ mỗi một lần ông ấy đi –

sau đó ông ấy đã trở nên chứng ngộ, ông ấy đã đi chỉ

một lần. Và mọi người cứ phát rồ lên bởi khẳng định

của ông ấy, “Ta đã nhận thức ra, ta là Con của Thượng

đế,” đến mức họ bắt ông ấy lên núi để ném ông ấy

xuống núi. Họ muốn giết chết ông ấy. Bằng cách nào

đó ông ấy phải trốn khỏi nanh vuốt của họ, khỏi tay

họ. Và ông ấy chưa bao giờ quay chỗ đó.

132

Phật đã đi qua làng đó nơi ông ấy đã được sinh ra,

chỉ ở đâu đó ngay biên giới giữa Ấn Độ và Nepal, và

mọi người đã tụ tập và bắt đầu sỉ nhục ông ấy, lăng mạ

ông ấy, gọi ông ấy bằng đủ thứ tên. Và ông ấy im lặng

lắng nghe suốt nửa giờ, và rồi ông ấy nói, “Trời sắp

nóng lên rồi và ta phải đi sang làng bên, mọi người

đang đợi ta. Ta không thể dành thêm thời gian cho các

ông lần này. Nếu các ông có thêm cái gì nữa để nói với

ta, xin đợi. Khi ta quay lại, thế thì ta sẽ có thêm chút

thời gian nữa. Các ông có thể tụ tập, và các ông có thể

trao đổi bất kì cái gì các ông muốn trao đổi. Nhưng lần

này ta xin lỗi. Ta phải đi đây.”

Bình thản thế, bình tĩnh thế, và họ thực sự gọi ông

ấy bằng những cái tên bẩn thỉu. Họ không thể tin được

vào mắt mình. Họ nói, “Chúng tôi không nói điều gì

với ông đâu – chúng tôi đang sỉ nhục ông đấy, chúng

tôi đang lăng mạ ông đấy! Ông không thể hiểu được

điều chúng tôi đang nói sao?”

Phật nói, “Ta có thể nghe thấy, ta có thể hiểu mọi

điều mà các ông đang nói – nhưng đó không phải là

vấn đề của ta! Nếu các ông giận, đó là vấn đề của các

ông. Can thiệp vào cuộc sống của các ông không phải

là việc của ta. Nếu các ông muốn giận, nếu các ông

thích điều đó, cứ tận hưởng đi! Nhưng ta không định

nhận bất kì điều vô nghĩa nào từ các ông.

“Thực ra, các ông đã tới chậm chút ít rồi. Nếu như

các ông thực sự muốn ta bị rối loạn, các ông đáng phải

tới từ mười năm trước đây. Thế thì ta đã thực sự giận

các ông lắm. Ta sẽ phản ứng, ta sẽ đánh các ông!

Nhưng bây giờ, nhận biết lớn lao đã xảy ra là bản thể

ta không phụ thuộc vào ý kiến của người khác. Điều

các ông nghĩ về ta chỉ biểu lộ cái gì đó về các ông, chứ

133

không về ta! Ta biết bản thân ta; do đó ta không phụ

thuộc vào ý kiến của bất kì ai về ta. Những người dốt

nát về bản thân họ, họ phải phụ thuộc vào người khác.”

Steven, toàn thể tâm trí này về việc trao đổi với

mọi người trong nỗ lực để được họ thẩm tra đơn giản

chỉ ra bóng tối sâu sắc bên trong; bằng không, không

có nhu cầu. Và tôi không nói rằng khi một người trở

nên tràn đầy ánh sáng, người đó dừng việc trao đổi –

không. Chỉ người đó mới có thể trao đổi được, bởi vì

người đó có cái gì đó để trao đổi. Bạn có gì để trao

đổi? Cái gì có đó mà bạn có thể chia sẻ với mọi người?

Bạn là kẻ ăn xin, bạn đang ăn xin. Khi bạn muốn được

thẩm tra, được làm hợp thức, được xác nhận, bạn đang

ăn xin đấy. Bạn đang bảo họ, “Xin nói điều gì đó tốt

cho tôi đi, điều gì đó hay vào, để cho tôi có thể cảm

thấy hay về bản thân tôi. Tôi đang cảm thấy rất chán

nản, tôi đang cảm thấy rất vô giá trị – cho tôi cái gì đó

có giá trị! làm cho tôi cảm thấy có ý nghĩa.” Bạn đang

ăn xin đấy, điều đó đâu phải là trao đổi.

Trao đổi là có thể chỉ khi bài ca đã bật tung ra từ

bản thể bạn, khi vui vẻ đã nảy sinh, khi phúc lạc đã

được kinh nghiệm – thế thì bạn có thể chia sẻ được.

Thế thì không chỉ trao đổi, không chỉ trao đổi bằng lời,

mà ở mức độ sâu sắc hơn nhiều, giao cảm cũng bắt đầu

xảy ra. Nhưng thế thì bạn không là kẻ ăn xin, bạn là

hoàng đế.

Chỉ chư phật mới có thể giao cảm và trao đổi.

Những người khác chẳng có gì để nói, chẳng có gì để

cho. Thực ra, điều bạn đang làm trong khi bạn nói với

mọi người… và mọi người đang liên tục nói, tán gẫu

huyên thuyên, nếu không nói ra, cũng là trong tâm trí

134

của họ – cũng như bạn nói rằng sâu trong tâm trí mình

bạn cũng đang nói với ai đó, người tưởng tượng nào

đó… Bạn đang nói điều gì đó từ phía bạn, và bạn cũng

đang trả lời từ phía bên kia; tán gẫu, đối thoại liên tục

bên trong bạn.

Đây là trạng thái của không lành mạnh. Tôi sẽ

không gọi nó là trạng thái điên khùng mà là không

lành mạnh. Toàn thể nhân loại tồn tại trong trạng thái

không lành mạnh. Người điên khùng đã vượt ra bên

ngoài biên giới bình thường. Người không lành mạnh

cũng là điên khùng nhưng bên trong các giới hạn.

Người đó vẫn còn điên khùng bên trong, nhưng bên

ngoài người đó cứ hành xử theo cách lành mạnh. Cho

nên với người đó tôi có từ này ‘không lành mạnh’.

Lành mạnh xảy ra chỉ khi bạn trở thành im lặng

toàn bộ đến mức mọi việc tán gẫu bên trong đều biến

mất. Khi tâm trí không còn nữa, bạn lành mạnh. Tâm

trí là không lành mạnh – đó là điên khùng thông

thường, hay điên khùng – điều có nghĩa là điên khùng

bất thường. Vô trí là lành mạnh. Và trong vô trí bạn

hiểu, bạn nhận thức, không chỉ về sự hiện hữu riêng

của mình mà về sự hiện hữu – chính sự hiện hữu – của

sự tồn tại. Thế thì bạn có cái gì đó để chia sẻ, để trao

đổi, để nhảy múa, để mở hội.

Trước đó, đấy là nỗ lực vô vọng để bằng cách nào

đó thu thập hình ảnh của bản thân bạn từ ý kiến của

những người khác. Và hình ảnh của bạn sẽ vẫn còn là

đống lộn xộn bởi vì bạn sẽ thu thập ý kiến từ nhiều

nguồn thế – chúng sẽ vẫn còn mâu thuẫn.

Người này nghĩ bạn xấu, ghét bạn, không thích

bạn; người khác nghĩ bạn đẹp, duyên dáng đến mức

không ai có thể so sánh được với bạn – bạn vô song.

135

Bây giờ bạn sẽ định làm gì với hai ý kiến này? Bạn

không biết mình là ai; bây giờ hai ý kiến có đó – làm

sao bạn có thể đánh giá cái nào đúng? Bạn thích ý kiến

đúng nói bạn đẹp; bạn không thích ý kiến nói rằng bạn

xấu. Nhưng đấy không phải là vấn đề thích hay không

thích. Bạn không thể điếc với ý kiến kia được, cái đó

nữa cũng có đó. Bạn có thể kìm nén nó trong vô thức,

nhưng nó sẽ vẫn còn ở đó.

Bạn sẽ thu thập các ý kiến từ bố mẹ mình, từ gia

đình mình, từ hàng xóm mình, từ những người bạn làm

việc cùng, từ thầy giáo, từ tu sĩ… cả nghìn ý kiến la hét

bên trong bạn. Và đây là cách bạn đang tạo ra hình ảnh

của bản thân mình. Nó sẽ là một đống lộn xộn. Nó sẽ

không có khuôn mặt nào, hình dạng nào, nó sẽ là hỗn

độn. Đó là cách mọi người đang hiện hữu, hỗn độn.

Không trật tự là có thể, bởi vì chính trung tâm bị mất,

cái có thể tạo ra trật tự.

Trung tâm đó tôi gọi là nhận biết, thiền – aes

dhammo sanantano. Đây là luật không cạn, luật tối

thượng, rằng chỉ những người đã trở nên nhận biết mới

biết họ là ai. Và khi họ biết, không ai có thể lay

chuyển được việc biết của họ. Không ai có thể làm

được! Toàn thế giới có thể nói một điều, nhưng nếu

bạn biết, nếu bạn đã nhận ra bản thân mình, điều đó

không thành vấn đề.

Cả thế giới đều nói rằng Jesus điên. Cái ngày ông

ấy bị đóng đinh, không có lấy một người… cả nghìn

người đã tụ tập – không người nào bênh vực ông ấy.

Tất cả đều nghĩ ông ấy điên.

Vào thời đó đã thành tục lệ là vào ngày nghỉ đặc

biệt thì một kẻ tội phạm có thể được tha. Hôm đó là

ngày nghỉ và ba người đã bị đóng đinh: hai kẻ cắp và

136

Jesus. Pontius Pilate đã hỏi mọi người, “Chúng ta có

thể tha thứ cho một trong ba người này. Các vị muốn

người nào được tha thứ?” Ông ta cứ tưởng rằng họ sẽ

đòi hỏi Jesus được tha, nhưng họ đã không đòi hỏi cho

Jesus. Họ đã đòi hỏi tha cho một kẻ cắp – không phải

Jesus mà là kẻ cắp, kẻ cắp nổi tiếng – cả thành phố đều

biết người đó. Nhưng họ đã không thể tha thứ cho con

người hồn nhiên Jesus. Tại sao?

Nhưng Jesus không run. Cả thế giới có thể chống

ông ấy; ông ấy biết Thượng đế là cùng ông ấy. Ông ấy

chết với tâm trí bình thản và yên tĩnh, không bị phân

tán, với lời cầu nguyện trên môi – lời cầu nguyện duy

nhất. Lời nói cuối cùng của Jesus là: “Cha ơi, xin tha

thứ cho họ, bởi vì họ không biết họ đang làm gì.

Amen….” Tha thứ cho họ, vì họ không biết họ đang

làm gì! Họ đang đóng đinh ông ấy, nhưng trái tim ông

ấy đầy từ bi với tất cả những người đó.

Khi bạn biết, bạn biết một cách tuyệt đối thế. Khi

nhận thức xảy ra, nó tối thượng tới mức cho dù cả thế

giới chống điều đó, không tạo ra khác biệt gì cả. Bạn

không cần bất kì sự hợp thức nào từ bất kì ai khác.

( Còn nữa )

Dhammapada

CON ĐƯỜNG CỦA PHẬT

¨

ĐÂY LÀ CON ĐƯỜNG

ĐI TỚI CHÂN LÍ TỐI THƯỢNG

Tập 2 ( tiếp theo )

5
Trong rác của lề đường
Hương của đàn hương,
đỗ quyên, hay nhài,
không thể đi ngược chiều gió.
Nhưng hương của đức hạnh
vẫn đi ngược chiều gió,
xa tới tận cùng thế giới.
Hương của đức hạnh
cao quí hơn nhiều so với
hương của đàn hương, đỗ quyên,
của sen xanh, hay nhài!
Hương của đàn hương hay đỗ quyên
không đi xa.
nhưng hương của đức hạnh
bay lên trời.
150
Ham muốn chưa bao giờ cắt ngang con đường
của người đức hạnh và thức tỉnh.
Sáng dạ làm cho họ tự do.
Hoa sen mọc duyên dáng làm sao
trong rác rưởi của lề đường.
Hương thuần khiết của nó làm thích thú trái tim.
Đi theo người đã thức tỉnh
và từ trong những người mù
ánh sáng của trí huệ của bạn
sẽ chiếu sáng hoàn toàn bên ngoài.
Con người không phải là hiện hữu mà chỉ là sự trở
thành. Con người là quá trình, sự trưởng thành, khả
năng, tiềm năng. Còn người vẫn chưa là thực tại. Con
người phải hiện hữu, con người phải đạt tới. Con
người được sinh ra không phải như điều bản chất mà
chỉ như sự tồn tại… một không gian lớn nơi nhiều điều
có thể xảy ra, hay chẳng cái gì có thể xảy ra – mọi điều
đó đều phụ thuộc vào bạn.
Con người phải tạo ra bản thân mình. Con người
không phải là thứ đã được làm sẵn, con người không
được cho sẵn. Và việc sáng tạo phải là tự sáng tạo –
không ai khác có thể làm ra bạn được. Bạn không phải
là một vật, một thứ hàng hoá; bạn không thể được sản
xuất hay chế tạo. Bạn phải tự tạo ra bản thân mình, bạn
phải trở thành được thực tỉnh về phần riêng của mình,
không ai có thể đánh thức bạn dậy được.
151
Đây là cao thượng của con người, vinh quang của
con người, rằng con người là sinh linh duy nhất trên
trái đất, không chỉ là sinh linh mà còn là tự do để hiện
hữu. Mọi sinh linh khác đều đã bị cố định, theo hình
mẫu. Chúng đem theo bản thiết kế tổng thể, và chúng
đơn giản tuân theo bản thiết kế đó. Vẹt sẽ trở thành
vẹt, chó sẽ trở thành chó, sư tử sẽ trở thành sư tử;
không có chuyện sư tử là ai đó khác. Nhưng với con
người điều liên quan là hỏi liệu người đó có thực sự là
con người không.
Từng con sư tử đều thực sự là sư tử, và từng con
voi cũng là con voi, nhưng con người là dấu chấm hỏi.
Con người có thể là con người, có thể không. Con
người có thể rơi xuống thấp hơn con vật, và con người
có thể vươn cao trên các thần. Trạng thái tối thượng
trên các thần đó là phật tính – thức tỉnh, thức tỉnh tối
thượng, việc nhận ra tiềm năng của bạn trong tính toàn
bộ của nó.
Vị phật ở trên các thần. Đây là một trong những lí
do mà người Hindus đã không thể dung thứ được Phật
Gautama, bởi vì ông ấy nói rằng phật ở trên các thần.
Các thần cũng ngủ; tất nhiên, mơ của họ đẹp, mơ của
họ không phải là ác mộng; họ sống trên cõi trời. Các
kiếp sống của họ chỉ toàn hoan lạc. Cõi trời không là
gì ngoài chủ nghĩa khoái lạc thuần tuý, chính ý tưởng
là khoái lạc. Địa ngục là chính cái đối lập. Địa ngục là
đau đớn, cõi trời là hoan lạc; địa ngục là ác mộng, cõi
trời là mơ dịu ngọt. Nhưng mơ là mơ; dù dịu ngọt hay
cay đắng, không thành vấn đề gì.
Các thần cũng ngủ và mơ những giấc mơ đẹp. Vị
phật thức tỉnh, ông ấy không còn mơ nữa. Kinh sách
Phật giáo nói: Ngày Siddhartha Gautam trở thành phật
152
các thần từ trên trời tới để tôn sùng ông ấy, để rửa
chân ông ấy. Người Hindus không thể tha thứ được ý
tưởng này, bởi vì với họ các thần ở trên cõi trời – Indra
và các thần khác – đều là tối cao nhất rồi. Và nhìn vào
cao ngạo của Phật tử, những người nói các thần từ cõi
trời tới để rửa chân cho một người.
Phật giáo đã nâng nhân loại lên đỉnh cao nhất của
nó. Không tôn giáo nào khác đã làm điều đó. Con
người trở thành trung tâm của sự tồn tại. Thượng đế
không phải là trung tâm của sự tồn tại, theo Phật, mà
chính là người đã trở nên chứng ngộ. Ngoại vi bao
gồm những người ngủ và mù, và trung tâm bao gồm
những người có mắt, người đã thức tỉnh. Thượng đế
đơn giản bị loại bỏ đi; họ không còn liên quan nữa.
Điều Nietzsche đã làm hai nghìn năm sau, Phật đã làm
rồi.
Một nhà thơ lớn, Chandidas, rất bị ấn tượng bởi
Phật Gautam – và ai không bị ấn tượng bởi con người
này được? Ông ấy đã nói: Sabar upar manus satya,
tahar upar nahin – chân lí của con người là chân lí cao
nhất, không có chân lí nào khác cao hơn cái đó. Nhưng
để tôi nhắc bạn lần nữa: khi Phật nói về con người,
ông ấy nói về người đã chứng ngộ, không về bạn – bạn
chỉ đang trên đường thôi, bạn chỉ đang trong quá trình.
Bạn là hạt mầm.
Hạt mầm có thể có bốn khả năng. Hạt mầm có thể
vẫn còn là hạt mầm mãi mãi, khép kín, không cửa sổ,
không trong giao cảm với sự tồn tại, chết, bởi vì sống
có nghĩa là giao cảm với sự tồn tại. Hạt mầm là chết,
nó chưa được trao đổi với đất, với trời, với khí, với
gió, với mặt trời, với các vì sao. Nó chưa làm nỗ lực
nào để có đối thoại với tất những cái đang tồn tại. Nó
153
hoàn toàn đơn độc, bị bao vây, bị gói gọn trong bản
thân nó, bị bao quanh bởi Trường Thành Trung Quốc.
Hạt mầm sống trong nấm mồ riêng của nó.
Khả năng thứ nhất là ở chỗ hạt mầm có thể vẫn
còn là hạt mầm. Điều đó là rất không may mắn – con
người có thể vẫn còn đơn giản là hạt mầm. Với mọi
tiềm năng có trong tay bạn, với mọi phúc lành sẵn
sàng mưa rào lên bạn, bạn có thể chẳng bao giờ mở ra
cánh cửa của mình.
Khả năng thứ hai là ở chỗ hạt mầm có thể đủ dũng
cảm, có thể chìm sâu vào trong đất, có thể chết đi như
một bản ngã, có thể vứt bỏ lớp áo giáp của nó, có thể
bắt đầu giao cảm với sự tồn tại, có thể trở thành một
với đất. Dũng cảm lớn được cần tới, bởi vì ai biết
được? – cái chết này có thể là tối hậu, có thể không có
việc sinh theo sau nó nữa. Cái gì là đảm bảo? Không
có đảm bảo nào cả; đó là mạo hiểm. Chỉ vài người thu
được đủ dũng cảm mới dám mạo hiểm, mới dám liều
mạng.
Làm sannyasin là việc bắt đầu của mạo hiểm. Bạn
đang mạo hiểm cuộc đời mình, bạn đang mạo hiểm
bản ngã mình. Bạn đang liều mạng bởi vì bạn đang vứt
bỏ mọi an ninh của mình, mọi thu xếp an toàn cho
mình. Bạn đang mở ra các cửa sổ… ai biết ai sẽ vào –
bạn hay thù? Ai biết? Bạn trở nên mong manh. Đó là
điều tính chất sannyas tất cả là gì. Đó là điều Phật đã
dạy trong cả đời ông ấy. Bốn mươi hai năm liên tục,
biến đổi các hạt mầm thành cây cối – đó là công việc
của ông ấy – biến đổi người thường thành sannyasins.
Sannyasin là cây, mầm mới nhú lên – mềm mại,
tinh tế. Hạt mầm chẳng bao giờ trong nguy hiểm, nhớ
lấy. Nguy hiểm gì có thể có đó cho hạt mầm? Nó được
154
bảo vệ tuyệt đối. Nhưng cây bao giờ cũng trong nguy
hiểm, cây rất mềm mại. Hạt mầm giống như hòn đá,
cứng rắn, ẩn đằng sau lớp vỏ cứng. Nhưng cây phải
trải qua cả nghìn lẻ một mối nguy. Đó là giai đoạn thứ
hai: hạt mầm tan biến vào trong đất, con người biến
mất như một bản ngã, biến mất như một cá tính, trở
thành cây.
Khả năng thứ ba, thậm chí còn hiếm hoi hơn, bởi
vì không phải mọi cây cối đều đạt tới chiều cao đó nơi
chúng có thể nở hoa, cả nghìn lẻ một hoa… Rất ít
người đạt tới giai đoạn thứ hai, và rất ít trong số những
người đã đạt tới giai đoạn hai, đạt tới giai đoạn ba, giai
đoạn của hoa. Tại sao họ không thể đạt tới giai đoạn
thứ ba, giai đoạn của hoa? Bởi vì tham lam, bởi vì keo
kiệt, họ không sẵn sàng chia sẻ… bởi vì trạng thái
không có tình yêu.
Dũng cảm là cần để trở thành cây, và tình yêu là
cần để trở thành hoa. Hoa nghĩa là cây đang mở trái
tim nó ra, toả ra hương thơm của nó, đem tặng linh
hồn nó, rót sự hiện hữu của nó vào trong sự tồn tại.
Hạt mầm có thể trở thành cây mặc dầu khó vứt vỏ áo
giáp, nhưng theo cách nào đó điều này là đơn giản. Hạt
mầm sẽ chỉ thu lấy ngày một nhiều hơn, tích luỹ ngày
một nhiều hơn; hạt mầm chỉ lấy từ đất. Cây chỉ lấy từ
nước, từ không khí, từ mặt trời; tham lam của nó
không bị quấy rối, mà ngược lại, tham vọng của nó
được hoàn thành. Nó cứ trở nên ngày một lớn hơn.
Nhưng một thời điểm tới khi bạn đã lấy quá nhiều đến
mức bây giờ bạn phải chia sẻ. Bạn đã được ích lợi
nhiều thế, bây giờ bạn phải phục vụ. Thượng đế đã cho
bạn nhiều thế, bây giờ bạn phải cám ơn, phải biết ơn
chứ – và cách duy nhất để biết ơn là làm mưa rào kho
báu của bạn xuống, cho chúng trở với sự tồn tại, hào
155
phóng như sự tồn tại đã từng hào phóng với bạn. Thế
thì cây phát triển thành hoa, nó nở hoa.
Và giai đoạn thứ tư là giai đoạn của hương thơm.
Hoa vẫn còn thô, nó vẫn còn là vật chất, nhưng hương
thơm là tinh tế, nó gần như cái gì đó phi vật chất. Bạn
không thể thấy được nó, nó là vô hình. Bạn chỉ có thể
ngửi được nó, bạn không thể nắm bắt nó, bạn không
thể ôm được nó. Chính hiểu biết nhạy cảm được cần
tới để có đối thoại với hương thơm. Và bên ngoài
hương thơm chẳng có gì cả. Hương thơm biến mất vào
trong vũ trụ, trở thành một với nó.
Đây là bốn giai đoạn của hạt mầm, và đây là bốn
giai đoạn của con người nữa. Đừng vẫn còn là hạt
mầm. Thu lấy dũng cảm – dũng cảm vứt bỏ bản ngã,
dũng cảm vứt bỏ an ninh, dũng cảm vứt bỏ an toàn,
dũng cảm là mong manh. Nhưng thế thì cũng đừng vẫn
còn là cây, bởi vì cây không hoa nghèo nàn lắm. Cây
không hoa là trống rỗng, cây không hoa là đang thiếu
đi cái gì đó rất tinh tuý. Nó không có cái đẹp – không
tình yêu không có cái đẹp. Và chỉ qua hoa mà cây mới
biểu lộ tình yêu của nó. Nó đã lấy bao nhiêu thứ từ mặt
trời và mặt trăng và từ đất rồi; bây giờ đến lúc nó cho!
Cuộc sống bao giờ cũng phải đạt tới cân bằng. Bạn
đã lấy nhiều rồi, bây giờ cho nó đi. Trở thành hoa đi!
Chỉ khi bạn trở thành hoa mới có khả năng biến mất
như hương thơm. Nhưng thế nữa, nhớ lấy, đừng vẫn
còn là đoá hoa khép kín, đừng vẫn còn là nụ; bằng
không thì hương thơm của bạn sẽ không toả ra được.
Và chừng nào hương thơm của bạn chưa toả ra, bạn
không tự do, bạn vẫn trong tù túng.
Tù túng này Phật gọi là sansara – thế giới. Và ông
ấy gọi tự do, tự do của hương thơm, là niết bàn: dừng
156
toàn bộ, biến mất, tan biến. Bộ phận biến mất vào
trong toàn thể, giọt sương tuột vào trong đại dương và
trở thành đại dương. Ngày bạn biến mất và trở thành
đại dương là ngày theo một nghĩa nào đó bạn không
còn nữa, và theo nghĩa khác bạn hiện hữu lần đầu tiên
– bạn đã đạt tới tính hiện hữu.
Tính hiện hữu này mới là tính thượng đế thực.
Tính hiện hữu này, kinh nghiệm đại dương kết tinh
này, là giải thoát, cứu rỗi, moksha, kaivalya, niết bàn.
Bạn có thể dùng bất kì từ nào bạn muốn dùng nhưng
chúng tất cả đều mang cùng một nghĩa: tự do tuyệt đối
của linh hồn, không biên giới, không giới hạn.
Lời kinh:
Hương của đàn hương,
đỗ quyên, hay nhài,
không thể đi ngược chiều gió.
Hiển nhiên! Hương của đàn hương, đỗ quyên hay
nhài là một phần của thế giới vật chất. Nó chỉ có thể đi
cùng gió, không đi ngược được gió. Nó phải tuân theo
luật của vật chất. Nó là vật chất. Bởi vì nó phải tuân
theo luật của vật chất nên nó không thực sự tự do – tự
do chỉ theo nghĩa tương đối. Hương này tự do hơn hoa,
hoa tự do hơn cây, cây tự do hơn hạt mầm. Nhưng
những tự do này chỉ là tương đối, không tuyệt đối.
Và Phật nói, nhớ lấy: mục tiêu là tự do tuyệt đối,
siêu việt lên trên mọi luật. Chính chỉ trong việc siêu
việt lên trên mọi luật mà bạn sẽ trở thành một phần của
luật tối thượng: Aes dhammo sanantano. Chính chỉ
157
bằng việc siêu việt lên trên mọi giới hạn của vật chất
thô mà bạn sẽ có khả năng trở thành vô hạn như bầu
trời.
Chừng nào bạn chưa trở thành vũ trụ bạn vẫn chưa
đạt tới tiềm năng của mình. Bạn được ngụ ý trở thành
vũ trụ, và bạn đã trở thành con người nhỏ bé, bị giới
hạn, gần như bạn đang sống trong xà lim tù đày, tối
tăm và ảm đạm, không cửa ra vào, không cửa sổ, sự
tồn tại xấu xí, bị bao quanh bởi đủ mọi loại bệnh hoạn
– bản ngã, tham lam, giận dữ, thèm khát, ghen tị, sở
hữu. Đây là những bạn đồng hành của bạn. Bạn đã
kinh nghiệm hương thơm nào trong cuộc đời?
Bạn chưa biết tới tình yêu không thèm khát. Bạn
chưa biết tới bất kì trạng thái nào nơi không giới hạn
nào tồn tại. Bạn bị trói buộc vào một số luật rất thô.
Bạn là một phần của lực hút, bạn vẫn chưa biết gì về
ân huệ. Bạn cứ đi xuống mãi, bởi vì những luật hút đó
cứ kéo bạn xuống. Bạn không biết cách vươn lên, bay
bổng lên. Bạn không biết gì về bay lên cả.
Trong khoa học, họ không nói về bay lên, họ chỉ
nói về hút, kéo xuống. Nhưng đây là hiện tượng đơn
giản thế cần hiểu, rằng trong tự nhiên mọi thứ đều
được cân bằng bởi cực đối lập của nó. Nếu có lực kéo
xuống, lực hút, sẽ phải có lực kéo lên để cân bằng nó –
đó là bay lên. Theo ngôn ngữ thơ ca hơn nó được gọi
là ân huệ.
Có hai luật: luật hút, luật của đất, thô, vật chất; và
luật của ân huệ, luật thiêng liêng, điều Phật gọi là luật
thiêng liêng – aes dhammo sanantano – luật vĩnh hằng,
không cạn, luật thiêng liêng, cái kéo bạn lên.
Hương của đàn hương,
158
đỗ quyên, hay nhài,
không thể đi ngược chiều gió.
Nó có những giới hạn tuyệt đối nào đó, nó chỉ có
thể cưỡi lên gió. Nó không thể có ý chí riêng của nó,
nó không thực sự tự do. Chừng nào bạn chưa thể tồn
tại trong tự do toàn bộ, cái gì đó vẫn còn thiếu. Nếu
bạn phải tuân theo luật, thế thì bạn là tù nhân. Luật có
thể cho bạn chiếc dây vừa đủ, nhưng dẫu sao bạn vẫn
cứ là tù nhân.
Đó là cách mọi sự là vậy: nếu chiếc dây vừa đủ
được trao cho bạn, bạn quên mất nhà tù. Chẳng hạn,
cái gọi là các quốc gia – Ấn Độ, Pakistan, Nhật Bản,
Đức – đây tất cả đều là những nhà tù lớn, nhưng chúng
lớn tới mức bạn không thể thấy được biên giới nhà tù
của mình. Đi ngang qua biên giới quốc gia mình và
bạn sẽ thấy rằng mình quả là tù nhân. Nhưng nhà tù đủ
lớn; bạn có thể đi trong nhà tù này tới bất kì chỗ nào
bạn muốn. Nhưng cứ bước ra khỏi nhà tù này, thử đi
vào nhà tù khác mà xem, và thế thì bạn sẽ thấy giới
hạn.
Đây là những nhà tù nhân tạo; đủ lớn đến mức
chúng có thể cho bạn cảm giác giả tạo về tự do, nhưng
không có tự do. Chừng nào mọi quốc gia chưa biến
mất khỏi thế giới, trái đất sẽ vẫn còn là nô lệ, nhân loại
sẽ vẫn còn trong tù, nhỏ hay lớn. Nhưng không khác
biệt gì việc nhà tù rất lớn và bạn không thể nào thấy
được bức tường bao quanh nó… Bức tường có thể rất
tinh vi – về hộ chiếu hay visa – bức tường có thể rất
tinh vi, bạn có thể không thấy chúng, nhưng chúng có
đó. Bạn không được tự do di chuyển.
159
Gần như mọi hiến pháp của thế giới đều nói rằng
tự do di chuyển là quyền tập ấm của mọi người, nhưng
điều đó chỉ được viết trong sách vở, điều đó là không
đúng. Bạn không thể di chuyển tự do được. Nếu bạn
muốn sang Nga, không thể được; nếu bạn muốn vào
Trung Quốc, không thể được.
Các quốc gia đã trở thành những nhà tù lớn thế, và
các tổng thống của bạn và cái gọi là các thủ tướng của
bạn tất cả đều không là gì khác hơn các cai tù. Những
người vẫn nói về tự do không là gì khác hơn cảnh sát.
Họ nói họ đang canh gác cho sự an toàn riêng của bạn,
nhưng thực ra họ là cai tù đang theo dõi để bạn không
thể trốn thoát được.
Tôi đã nghe:
Một ông già Nga sắp chết, và ông ấy nghe tiếng gõ
trên cửa. Ông ấy hỏi, “Ai đấy?”
Và một giọng nói rất ma quỉ cất lên, “Thần chết.”
Ông già Nga nói, “Cám ơn Thượng đế! Tôi cứ
tưởng đấy là cảnh sát chìm.”
Và có những nhà tù bên trong nhà tù kiểu như cái
hộp Trung Quốc – hộp bên trong hộp… Ấn Độ là một
nhà tù lớn; thế rồi có người Hindus và người Mô ha
mét giáo và người Ki tô giáo và người Sikhs và người
Jainas và Phật tử – bây giờ đây là những nhà tù nhỏ.
Người Ki tô giáo có thể đi nhà thờ, người đó không thể
tới đền thờ được; người Hindu có thể tới đền thờ,
người đó không thể tới nhà thờ. Người đó đã được dạy
và được ước định rằng nhà thờ không phải là chỗ có
160
tính tôn giáo; người Ki tô giáo đã được bảo rằng nhà
thờ là chỗ đúng duy nhất để tới – mọi tôn giáo khác
đều là sai, và mọi tôn giáo khác đều dẫn bạn đi lạc lối.
Chừng nào bạn chưa là người Ki tô giáo bạn không thể
được cứu. Và thế rồi trong Ki tô giáo có Cơ đốc giáo
và Tin lành, và trong Tin lành và Cơ đốc giáo có
những giáo phái con ngày một nhỏ hơn. Và nhà tù trở
thành ngày một nhỏ hơn.
Rồi có các nhà tù chính trị: ai đó là người cộng sản
và ai đó là người xã hội, và ai đó là người tư bản… vân
vân và vân vân. Và bạn không thoả mãn ngay cả với
những điều này: thế rồi bạn làm ra câu lạc bộ Rotary,
câu lạc bộ Lions… Khát khao của bạn để là tù nhân
mạnh tới mức bạn không thể đơn giản là một con
người được. Bạn phải là một người của Rotary và bạn
tự hào tuyên bố, “Tôi là người của Rotary,”
“Tôi là người của Lion.” Bạn không được thoả
mãn với việc đơn giản là một con người, bạn phải là
người của Lion. Và thế rồi có những ngăn còn nhỏ hơn
nữa.
Thay vì chui ra khỏi những xà lim nhà tù này,
chúng ta cứ trang hoàng cho chúng, chúng ta cứ làm
cho chúng ngày một tiện nghi hơn. Chúng ta đang
sống dưới luật hút, chúng ta đang sống như tù nhân.
Chúng ta không thể đi ngược chiều gió được – cuộc
sống chúng ta là thô. Phật nói: nhận biết về điều đó:
ông đang làm gì với cuộc sống của ông? Cân nhắc lại,
thiền về nó, điều bạn đã làm cho bản thân mình.
Nhưng hương của đức hạnh
vẫn đi ngược chiều gió,
xa tới tận cùng thế giới.
161
Phật nói: Nhưng có việc nở hoa của bản thể bên
trong của bạn, cái đẹp hơn cả đàn hương, đỗ quyên hay
nhài. Cái đẹp của nó là tự do tuyệt đối của nó. Nó có
thể đi ngược chiều gió. Người đức hạnh thực sự sống
trong tự do; người đó không tuân theo điều răn dạy
nào, người đó không tuân theo kinh sách nào, người đó
không tuân theo bất kì ai khác ngoài ánh sáng bên
trong riêng của mình. Người đó sống theo trái tim của
mình – người đó là người nổi dậy.
Nhưng Phật đang nói về hương của đức hạnh thật.
Ông ấy không nói về cái gọi là chính đáng, ông ấy
không nói về cái gọi là “con người có cá tính”, cái gọi
là các thánh nhân và mahatma của bạn – ông ấy không
nói về họ. Họ không phải là người tự do. Thực ra,
hương của đàn hương, đỗ quyên và nhài còn tự do hơn
nhiều cái gọi là các thánh nhân của bạn. Họ sống theo
các luật nhân tạo. Hương của đàn hương, hương của
các loại hoa, ít nhất cũng tuân theo các luật của tự
nhiên. Nhưng các thánh nhân của bạn, cái gọi là những
người đức hạnh của bạn, họ tuân theo luật nhân tạo –
luật do những kẻ mù làm ra, luật do những người dốt
nát làm ra, luật do những người chưa thức tỉnh làm ra,
những người không biết gì về nhận biết cả.
Ai làm ra luật của bạn? Ai làm ra Hiến pháp của
bạn? Ai chịu trách nhiệm cai quản xã hội và thu xếp và
quản lí xã hội? Chính những người mù như bạn, có thể
có học hơn, có thể có hiểu biết hơn. Nhưng không có
gì khác biệt liệu người mù có hiểu biết hơn về ánh
sáng hay ít hiểu biết hơn về ánh sáng – người mù là
người mù. Quan sát các thánh nhân của bạn mà xem,
và bạn sẽ ngạc nhiên! – họ sống tù túng sâu hơn nhiều
so với người thường.
162
Một sư Jaina muốn tới gặp tôi. Ông ta gửi một
thông điệp rằng ông ta đã từng khao khát gặp tôi trong
nhiều năm, và bây giờ ông ấy ở trong thành phố này và
ông ấy muốn gặp tôi. Nhưng các tín đồ của ông ấy
không cho phép ông ấy, người Jainas không cho phép
ông ấy tới công xã này. Bây giờ người này là loại
thánh nhân gì mà các tín đồ quyết định được nơi ông
ấy phải đi và nơi ông ấy phải không đi? Nhưng có thu
xếp lẫn nhau: các tín đồ gọi ông ấy là thánh nhân, họ
tôn thờ ông ấy, bây giờ ông ấy phải nhân nhượng, thoả
hiệp. Ông ấy phải theo các tín đồ.
Cái gọi là các thánh nhân và người lãnh đạo của
bạn đều là tín đồ của các tín đồ của riêng họ. Đó là
một thế giới ngu xuẩn thế, nực cười thế, toàn thể tình
huống này. Trên bề mặt dường như là các thánh nhân
là nhân tố quyết định; ông ấy cho mọi người lời
khuyên để theo ông ấy. Nhưng nếu bạn nhìn sâu xuống
dưới, bạn sẽ ngạc nhiên – ông thánh này đang tuân theo
các tín đồ riêng của mình. Thực ra, họ quyết định. Và
họ có quyền lực quyết định bởi vì họ có thể tôn thờ
bạn và họ có thể sỉ nhục bạn. Họ có thể tôn thờ bạn
nếu bạn theo họ, nếu bạn đi theo các ý tưởng, định
kiến mà họ đang mang trong tâm trí họ; bằng không
bạn không còn là thánh nhân nữa. Họ có thể hạ bệ bạn
– họ có quyền đưa bạn lên tới bậc thánh hay hạ bệ bạn
xuống thành tội nhân. Nếu bạn muốn là thánh nhân
bạn phải tuân theo đủ mọi loại ngu xuẩn. Bạn có thể
biết sâu bên dưới rằng điều này là ngu xuẩn.
Tôi đã gửi cho ông ấy một thông điệp nói, “Điều
này là ngu xuẩn, lố bịch! Sao ông phải hỏi tín đồ của
ông? Tín đồ là ai, ông hay họ? Sao ông phải hỏi họ?”
163
Ông ấy nói, “Thầy phải đấy, nhưng tôi phải phụ
thuộc vào họ. Vào tuổi tôi đây, tôi không thể rời bỏ
được họ bởi vì tôi chưa bao giờ làm việc trong đời
mình. Tôi bị phụ thuộc vào họ từ thức ăn, quần áo, mọi
thứ.”
Bây giờ bạn thấy thu xếp đấy. Điều này được gọi
là tâm linh, và việc thu xếp là tài chính!
Người đức hạnh thực sự chắc chắn tự do, và tự do
tới mức người đó có thể đi ngược chiều gió, người đó
có thể đi ngược toàn thể xã hội, người đó có thể đi
ngược toàn thể quá khứ, người đó có thể đi ngược mọi
tập tục. Thực ra người đó làm vậy – bởi vì đi ngược
mọi tập tục và quá khứ chết người đó xác nhận tự do
của mình.
Chính bởi vì điều này mà tôi bị kết án trên khắp
nước này và bây giờ, dần dần trên khắp thế giới. Lí do
duy nhất là ở chỗ họ muốn tôi đi cùng chiều gió, họ
muốn tôi chính thống, theo tập tục. Họ sẵn sàng tôn
thờ tôi, họ đã nhiều lần tới tôi nói rằng nếu tôi có thể
đơn giản tuân theo tôn giáo truyền thống thì họ sẽ tôn
thờ tôi như thánh nhân. Tôi nói, “Tôi không quan tâm
tới việc được tôn thờ hay là thánh nhân. Tôi đơn giản
muốn là bản thân mình. Và tôi không định thoả hiệp
với bất kì ai, dù người đó là ai. Thoả hiệp không phải
là cách thức của tôi.”
Bởi vì tôi đi ngược chiều gió nên họ bực mình
lắm. Nhưng nếu bạn mà đức hạnh… và đức hạnh là gì?
Nó không phải là cá tính nào đó được trau dồi từ bên
ngoài. Đức hạnh là hương thơm của tính thiền, đức
hạnh là hương thơm của hoa của thiền; do đó, tôi nói
nó không phải là ngay thẳng đạo đức, nó không là đạo
đức.
164
Tôi đã nghe:
Gái điếm thành phố ở Jerusalem bị ném đá. Khi
Jesus nói, “Để ai trong số các vị không có tội lỗi nào
ném hòn đá đầu tiên,” một bà già lẩy bẩy mang một
hòn đá lớn, thả nó vào đầu gái điếm và lên tiếng chê
bai con mụ dâm đãng.
Jesus nhìn xuống và nói, “Bà biết đấy, thưa mẹ,
đôi khi bà thực sự làm tôi bực mình.”
Người ngay thẳng, người đạo đức, người khắt khe
đạo đức bao giờ cũng sẵn sàng… thực ra toàn thể vui
vẻ của người đó là làm sao lên án, làm sao tống ngày
một nhiều người xuống địa ngục, làm sao đóng đinh
mọi người, làm sao giết và phá huỷ. Người đó thực sự
khổ sở, người đó thực sự là tự bạo, người đó thực sự
trải qua đủ mọi loại khổ hạnh ngu xuẩn, chỉ để tận
hưởng cảm giác của tính cao siêu, cảm giác của việc
đạo đức hơn người khác, cảm giác rằng “Các ông tất
cả đều là tội nhân còn ta đây là thánh nhân.”
Vị thánh thực có phẩm chất hoàn toàn khác. Ông
ấy không đạo đức; ông ấy biết cách tha thứ, bởi vì ông
ấy biết Thượng đế đã tha thứ cho ông ấy nhiều thế.
Ông ấy biết những giới hạn của con người, bởi vì bản
thân ông ấy đã chịu đựng qua những giới hạn con
người đó. Ông ấy có thể tha thứ. Ông ấy hiểu biết.
Người đạo đức không bao giờ hiểu, người đó
không bao giờ tha thứ; người đó không thể tha thứ
được bởi vì người đó đã từng hà khắc với bản thân
mình. Người đó đã đạt tới cái gọi là tính cách của mình
với những khó khăn đến mức vui vẻ duy nhất, thoải
165
mái duy nhất người đó có thể có được là ở việc đạo
đức hơn bạn. Làm sao người đó có thể tha thứ được?
Nếu người đó tha thứ thế thì người đó không thể tận
hưởng cuộc hành trình bản ngã mà người đó đang đi.
Người khổ hạnh là người bản ngã nhất trên thế
giới. Người đức hạnh không phải là người khổ hạnh.
Câu chuyện này được kể về bản thân Phật:
Trong sáu năm khi ông ấy rời bỏ cung điện của
mình ông ấy đã sống qua những cách khổ hạnh lớn lao
– đó là cách thức truyền thống của việc tìm kiếm chân
lí. Ông ấy đã hành hạ thân thể mình, ông ấy nhịn ăn,
ông ấy nhịn ăn tới mức tương truyền ông ấy trở nên
gầy còm giơ xương; bạn có thể đếm được các xương
sườn của ông ấy. Ông ấy trở thành khẳng khiu đến
mức dạ dầy ông ấy dính lưng – chẳng có gì còn giữa dạ
dày và lưng cả. Ông ấy trở nên yếu đến mức ông ấy
không thể vượt qua được con sông nhỏ, sông
Niranjana. Tôi đã từng tới chỗ đó để xem. Sông
Niranjana là con sông nhỏ, và lúc đó không phải là
mùa mưa, nhưng ông ấy đã không thể vượt qua sông
được, ông ấy không thể bơi qua sông được. Ông ấy
phải cực kì yếu.
Hôm đó, một khải lộ lớn lao đã xảy ra cho ông ấy:
“Mình đã làm những việc bạo hành không cần thiết
cho bản thân mình.” Ông ấy có năm tín đồ; họ tất cả
đều là người khổ hạnh và họ đã trở thành tín đồ của
Phật bởi vì ông ấy đi xa trước họ. Họ chỉ có thể làm
chừng đó, nhưng ông ấy đã làm nhiều lần hơn; do đó
họ mới là tín đồ. Tối hôm đó Phật quyết định, “Hành
hạ thân thể là ngu xuẩn, và làm sao các ông đạt tới
166
được linh hồn bằng việc hành hạ thân thể? Dường như
chẳng có mối quan hệ logic nào.” Và ông ấy thấy,
“Nếu ta thậm chí không thể vượt qua được con sông
này, con sông Niranjana bé tẹo, làm sao ta vượt qua
được đại dương thế giới khổng lồ này? Thân thể cần
thức ăn, thân thể cần nuôi dưỡng, thân thể cần sức
mạnh, để cho ta có thể thiền, để cho ta có thể suy tư,
để cho ta có thể truy tìm, với y mê, nhiệt tình, nghị
lực.”
Ông ấy quyết định vứt bỏ mọi khổ hạnh. Năm tín
đồ của ông ấy lập tức rời bỏ ông ấy. Họ nói, “Gautam
đã sa ngã khỏi trạng thái thiêng liêng của ông ấy, ông
ấy không còn là thánh nhân nữa.” Họ bỏ ông ấy ngay
lập tức; họ không ở cùng ông ấy nữa. Họ đã ở với ông
ấy chỉ vì phong cách sống tự bạo của ông ấy – bản thân
họ cũng phải là những kẻ tự bạo.
Và Phật Gautam đã trở nên chứng ngộ ngày hôm
sau. Vứt bỏ mọi khổ hạnh, vứt bỏ mọi xung đột bên
trong không cần thiết, cuộc nội chiến đó, ông ấy đã trở
nên yên tĩnh, im lặng tới mức sáng hôm sau ông ấy có
thể thấy, ông ấy đã trở nên cảm nhận. Trong im lặng
của mình, mọi rối loạn, mọi tán gẫu đều biến mất. Vào
sáng sớm khi mặt trời lên, ông ấy bắt đầu vươn lên bên
trong bản thể mình. Ông ấy đã thức tỉnh, ông ấy đã trở
thành vị phật.
Đức hạnh bắt nguồn từ im lặng, từ tính thiền, từ
thảnh thơi – không từ nỗ lực, không từ căng thẳng,
không từ vật lộn. Ông ấy đã đi tìm năm tín đồ cũ của
mình để cho họ thông điệp: “Đừng tự hành hạ mình
nữa. Điều này chẳng liên quan gì tới điều thiêng liêng
cả. Điều này chẳng liên quan gì tới tôn giáo cả.”
167
Thiền phải xảy ra trước hết, thế rồi tính cách tới
như cái bóng của nó. Và nếu thiền không xảy ra, thế
thì tính cách của bạn chỉ là thói đạo đức giả chứ không
là gì khác. Thánh nhân của bạn là những kẻ đạo đức
giả lớn; họ nói điều này, họ nghĩ điều khác, có thể là
cái đối lập. Họ làm điều này, nhưng họ muốn làm điều
gì đó đích xác đối lập lại. Trên bề mặt họ biểu lộ điều
này, nhưng sâu bên dưới họ là chính điều tương phản
lại.
Một cô gái thú tội rằng cô ấy đã để cho bạn trai để
tay lên đầu gối mình. “Và đấy là tất cả những gì anh ta
đã làm sao?” linh mục hỏi.
“Không. Anh ấy luồn ngón tay vào dưới dây chun
si lip con nữa.”
“Thế rồi sao?”
“Thế rồi anh ấy rẽ chỗ lông tơ của con và bắt đầu
mơn trớn chỗ thích thích của con.”
“Rồi sao? Rồi sao?”
“Thế rồi mẹ con bước vào.”
“Ô, cứt thật!” linh mục nói.
Những linh mục này, những thánh nhân này, họ
còn xấu hơn bạn nhiều, xấu hơn bạn đã từng có thể là
vậy nhiều, bởi vì họ chia chẻ nhiều hơn, phân chia
nhiều hơn. Họ bị kìm nén nhiều tới mức phần ý thức
và vô ý thức của họ đã rời nhau ra. Họ thuyết giảng
điều này, họ thực hành điều khác. Tại cửa trước nhà họ
bạn sẽ thấy người này, tại cửa sau bạn sẽ thấy một
168
người hoàn toàn khác. Bạn thậm chí sẽ không có khả
năng nhận ra được họ – họ đeo mặt nạ.
Những người này không phải là người đức hạnh.
Phật không nói về đức hạnh như vậy, ông ấy nói về
đức hạnh nảy sinh từ việc nở hoa của thiền. Phật nhấn
mạnh vào dhyan – thiền. Đó là đóng góp cơ bản của
ông ấy cho thế giới. Cách tiếp cận nền tảng nhất của
ông ấy là ở chỗ trước hết bạn phải trở nên thức tỉnh tại
trung tâm, thế rồi chu vi của bạn sẽ tràn đầy ánh sáng –
theo cách riêng của nó, không ngược lại.
Bạn đã được các linh mục bảo trước hết thực hành
tính cách, và thế rồi trung tâm của bạn sẽ thay đổi.
Điều đó là vô nghĩa. Trung tâm không bao giờ có thể
theo chu vi được, bởi vì trung tâm còn quan trọng hơn
nhiều, cơ sở hơn nhiều – nó là trung tâm, nó không thể
đi theo chu vi được. Nhưng chu vi bao giờ cũng đi
theo trung tâm. Biến đổi trung tâm đầu tiên đi, và đừng
lo nghĩ về chu vi. Đó là nhấn mạnh của tôi nữa, tại đó
tôi tuyệt đối đồng ý với Phật. Thiền trước hết, và thế
rồi tất cả những cái khác sẽ theo sau bằng cách riêng
của nó.
Jesus nói: tìm kiếm vương quốc của Thượng đế
trước, và tất cả những cái khác sẽ được thêm vào cho
ông.
Điều Jesus nói bằng “vương quốc của Thượng đế”
thì Phật nói bằng “thiền.” Lời của Phật khoa học hơn
nhiều so với lời của Jesus. Jesus nhiều tính nhà thơ
hơn Phật; Jesus nói nhiều theo kiểu cách ngôn hơn
Phật. Phật nói theo cách rõ ràng, logic, toán học. Ông
ấy là người không muốn nói bất kì cái gì theo bất kì
cách nào có thể được diễn giải theo nhiều cách. Ông ấy
không muốn dùng thơ ca, bởi vì thơ ca là mơ hồ, có
169
thể có nhiều diễn giải. Ông ấy nói như nhà toán học,
ông ấy nói như nhà logic, để cho từng lời có nghĩa cố
định và hàm ý cố định.
Nhưng hương của đức hạnh
vẫn đi ngược chiều gió,
xa tới tận cùng thế giới.
Hương của đức hạnh
cao quí hơn nhiều so với
hương của đàn hương, đỗ quyên,
của sen xanh, hay nhài!
Hương của sen xanh hay nhài hay đàn hương là
thơm ngát, dịu, nhưng so với hương của đức hạnh thì
nó rất thô. Đức hạnh thực sự có hương thơm, và hương
này đi tới những góc xa xôi nhất của thế giới.
Làm sao bạn đã tới đây với tôi? Từ những góc
khác nhau của thế giới bạn đã du hành, đôi khi không
thật đích xác rõ ràng vì sao; nhưng cái gì đó đã kéo
bạn đi, lực vô hình nào đó đã làm xúc động trái tim
bạn, cái gì đó đã được cảm thấy từ cốt lõi sâu thẳm
nhất của bản thể bạn. Đôi khi bạn thậm chí đã tới
ngược với chính bản thân mình. Tâm trí của bạn nói,
“Đừng đi! Không cần đi đâu cả.” Dầu vậy bạn đã tới.
Bạn phải đã ngửi thấy mùi thơm – mùi thơm này chẳng
liên quan gì tới cái thấy được. Nó là hiện tượng vô
hình.
Nhiều, nhiều người nữa sẽ sớm tới. Hương thơm
đang vươn tới họ, nhất định tới. Bất kì ai ở bất kì đâu,
người thực sự đang đi tìm chân lí đều nhất định tới.
Điều đó không thể cưỡng được, điều đó phải xảy ra.
Đó là cách nó đã xảy ra qua nhiều thời đại. Hàng nghìn
170
người đã du hành tới Phật, hàng nghìn người đã du
hành tới Mahavira, tới Lão Tử, tới Zarathustra – chẳng
bởi lí do nào cả, bởi vì bất kì điều gì họ đã nói đều có
trong kinh sách.
Điều tôi đang nói đây bạn có thể đọc trong
Bhagavadgita, trong Kinh Thánh, trong Koran, trong
Dhammapada, điều tôi đang nói bạn có thể dễ dàng
tìm thấy trong Upanishads, trong Đạo Đức Kinh –
nhưng bạn sẽ không tìm thấy hương thơm. Đấy là hoa
– cũ, chết, khô héo. Bạn có thể kẹp giữ bông hồng
trong cuốn Kinh Thánh của mình; chẳng mấy chốc nó
sẽ khô đi, hương thơm sẽ bay đi, nó sẽ chỉ là cái xác,
một kỉ niệm về hoa thực. Kinh sách cũng vậy. Chúng
được làm sống lại lần nữa bởi vị phật khác; bằng
không chúng không thể thở được.
Đó là lí do tại sao tôi đang nói về Dhammapada,
về Gita, về Kinh Thánh – để cho chúng thở lần nữa.
Tôi có thể thổi cuộc sống vào trong chúng. Tôi có thể
chia sẻ hương của tôi với chúng, tôi có thể rót hương
của tôi vào chúng. Do đó, người Ki tô giáo, người thực
sự là người Ki tô giáo, không chỉ bởi những ước định
xã hội mà bởi vì tình yêu lớn lao với Christ, người đó