Hãy Đặt Để Giới Luật Trở Về Đúng Với Vị Trí Và Vai Trò Của Nó!

Ngạo Thuyết
Hãy Đặt Để Giới Luật Trở Về Đúng Với Vị Trí Và Vai Trò Của Nó!

Người học Phật phần đa đều biết ít nhiều về Giới Luật của đạo Phật, điển hình như Ngũ giới, Bát quan trai giới, Thập giới sa di,… Phần đa với những giới luật cơ bản người học Phật ngày nay dễ dàng trả lời vanh vách khi có người hỏi đến, điển hình như Không sát sinh, Không nói dối, Không tà dâm, Không uống rượu,…
Thông thường người học Phật tại gia cũng chỉ biết đến những giới luật thông thường và phần đa người học Phật thọ Tam quy sẽ tuyên đọc trì giữ Ngũ giới. Và rất nhiều người học Phật tuyên đọc thọ trì Ngũ Giới đều không thể giữ gìn trọn vẹn năm giới luật căn bản nhất của người cư sĩ tại gia. Tương tự như vậy không có bất kỳ vị Tăng Bảo nào giữ gìn trọn vẹn Ngũ Giới, điều này đồng nghĩa với việc không có một vị xuất gia học Phật nào vẹn giữ 227giới tỳ kheo, 311 giới tỳ kheo ni.
Với những giới luật của Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Sa di,… người học Phật tại gia hầu như biết đến rất ít. Tuy nhiên, theo lối khẩu truyền rất nhiều người học Phật đã cả tin và ra sức xưng tán Giới Luật như là một cánh cửa mang lại sự giác ngộ giải thoát. Câu thiệu “Thời mạt pháp người học Phật phải lấy Giới làm thầy” vô hình chung đã đã “đặt để” giới vào không đúng vị trí, vai trò của Giới.
Liên quan với vấn đề Giới Luật, Ngạo Thuyết đã đăng tải hai bài viết trích lục từ Giới Kinh do Tăng Bảo Thích Trí Quang dịch giải, một bài viết liên quan đến Thập Giới và một bài viết có câu hỏi mở về sự bất bình đẳng về số lượng Giới Luật giữa tỳ kheo, tỳ kheo ni; Cụ thể là:

1) https://www.facebook.com/groups/1584059648562689/permalink/2232321513736496/
2) https://www.facebook.com/groups/1584059648562689/permalink/2233207216981259/
3) https://www.facebook.com/groups/1584059648562689/permalink/2231251087176872/
4) https://www.facebook.com/groups/1584059648562689/permalink/2230451660590148/

Ngạo Thuyết tin rằng những người học Phật trói mình trong việc xưng tán Lấy Giới Làm Thầy không hoàn toàn rành rõ về 227 giới tỳ kheo, 311 giới tỳ kheo ni. Thêm nữa, họ cũng không hiểu đúng về vị trí, vai trò của Giới Luật đối với đạo Phật, đối với sự Giác Giác Ngộ Giải Thoát. Do đó, có thể nói việc tán thán, thổi phồng vị trí, vai trò của Giới Luật ở người học Phật là một việc làm không thật sự đúng mực.

Tương truyền rằng trước khi Phật Thích Ca nhập diệt đã có lời nhắn nhủ với ngài Anan là tùy thời Giới Luật có thể thêm vào hoặc bỏ bớt.
Tuy nhiên, ngày nay Giới Luật không những không giảm mà còn tăng thêm. Cụ thể là từ 227 giới tỳ kheo, 311 giới tỳ kheo ni tăng lên thành 250 giới tỳ kheo, 348 giới tỳ kheo ni. Điều này không chỉ cho thấy rằng đức hạnh của Giới Tăng Bảo không những không tăng trưởng mà còn tiếp tục trượt dốc.
Và một yếu tố quan trọng cần phải được người học Phật khách quan nhìn nhận đó là Giới Luật không chỉ do Phật Thích Ca chế định mà Giới Luật còn do sự thêm bớt của người học Phật đời sau.
Nếu các bạn có tham khảo loạt bài viết trích lục ở Giới Kinh thì không cần quá lao tâm suy xét các bạn sẽ hoàn toàn có thể nhận ra có rất nhiều Giới Luật được thêm thắt do người đời sau – Những Giới liên quan đến Tháp Phật. Và có rất nhiều Giới Luật chứa đựng sự si mê, ấu trĩ, thiển cận và vụn vặt.
Nhìn vào 13 Giới Tăng Tàn Thi bà sa, các bạn sẽ nhận ra những Giới Luật có vai trò ngăn ngừa việc Thủ dâm, Dâm ô, Dâm Loạn, Tống Tình, Lạm Dụng Tình Dục,… ở Giới Tăng Bảo. Hiển nhiên là những giới luật này được đặt ra không hề sai mà điều này cho thấy giới Tăng Bảo đã từng phạm phải những lỗi lầm hoàn toàn không dễ chấp nhận được đối với một người đã chọn lựa cho mình sống một cuộc đời phạm hạnh.

Vấn đề đặt ra Giới Luật là gì, Giới Luật ra đời khi nào, vì sao Giới Luật lại ra đời?

Khi Thái tử Tất đạt đa tìm đạo, hành đạo thì Giới Luật có tồn tại không?
Khi Phật thuyết Kinh Chuyển Pháp Luân cho năm anh em Kiều Trần Như, Phật Thích Ca có chế định ra Giới Luật cho đạo Phật chưa?
Khi Phật Thích Ca dấn thân truyền đạo cho Tứ Chúng – Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di liệu Phật đã có những Giới Luật cụ thể cho những người học Phật không?

Thực tế là Phật Thích Ca không từng chuẩn bị cái gọi là Giới Luật cho Tứ Chúng.
Giới Luật ra đời là do người học Phật không tự ý thức được tác phong, hành vi của một người sống đời phạm hạnh.
Càng về sau Giới Luật của đạo Phật ngày càng nhiều là do việc giáo đoàn Khất sĩ dễ dàng tiếp nhận những người xuất gia học Phật, đây chính là kẽ hở cho những người có tâm hạnh hạ liệt, những kẻ có đời sống khốn cùng có được một chỗ tốt để nương thân.
Nhiều nên loạn. Thêm nữa, do số lượng người đến với đạo Phật nương náu kiếm cái ăn, cái mặc, sự trọng vọng mà không có chánh tâm cầu đạo giác ngộ giải thoát ngày càng nhiều, do khởi từ tà tâm xuất gia nên những người học Phật này không thể tự ý thức việc trau dồi nhân cách, phẩm hạnh cho tương hợp với lối sống phạm hạnh dẫn đến Giới Luật từng bước được thiết lập nhằm duy trì giềng mối, quy củ cho Tăng đoàn.
Giới Luật phần đa chỉ là những lề lối, những khuôn phép ứng xử giao tiếp cơ bản hàng ngày giữa người với người.
Giới Luật góp phần giúp người học Phật sống thành thật, chân chất từng bước thoát ra những Tham Sân Si Mạn Nghi.
Đơn cử như Giới Không Nói Dối tương truyền được xác lập khi chú Sa di La Hầu La phạm lỗi nói dối. La Hầu La được Phật gọi đến dạy dỗ những tai hại của việc nói dối và từ đó Giới Không Nói Dối được chế định.
Giới Không Tà Dâm tương truyền được xác lập khi một vị tỳ kheo không nghiêm trì đời sống “Cắt ái, ly gia”. Do yêu cầu của gia đình cần có người nối dõi, giữ gìn sản nghiệp vị Tỳ Kheo này đã lén lút về nhà ăn nằm với người vợ và sinh ra được một đứa con. Việc này đã gây ra điều tiếng thị phi cho Tăng đoàn nên Phật Thích Ca đã gọi vị Tỳ Kheo này lên khiển trách và Giới Không Tà Dâm được chế định.

Nói tóm lại, Giới Luật của đạo Phật ra đời và được chế tác ngày càng nhiều là do người xuất gia học Phật phạm phải những lỗi lầm từ cơ bản đến vi tế những lề lối, khuôn phép ứng xử nơi cuộc sống thường nhật. Những điều này không chỉ ảnh hưởng riêng đối với người học Phật phạm lỗi mà còn gây ra điều tiếng xấu, làm giảm uy tín, chất lượng Tăng đoàn. Và nhằm mục đích giữ gìn đạo pháp, giữ gìn giềng mối cho đạo Phật Giới Luật được xây dựng thành hệ thống.
Vị trí, vai trò của Giới Luật thật sự chỉ là sự đảm bảo tính sống còn cho giáo đoàn Khất sĩ, gián tiếp đảm bảo sự tồn vong, suy thịnh của đạo Phật.
Giới Luật góp phần làm nên nhân cách, đạo hạnh của giới Tăng Bảo.
Tuy nhiên, Giới Luật không có tính quyết định cho sự Giác Ngộ Giải Thoát. Do đó, đặt để Giới Luật vào vị trí, vai trò là Thầy cho sự Giác Ngộ Giải Thoát là một sự đặt để sai vị trí, sai vai trò của Giới Luật. Đây là điều mà người học Phật đúng mực, khách quan cần phải nhìn nhận lại ngõ hầu đặt để Giới Luật vào đúng vị trí, vai trò của nó.

Khi xét lại và đặt để Giới Luật đúng vị trí, vai trò của nó người học Phật sẽ không bị ngộ nhận vào kiến chấp Giới Sinh Định, Định Sinh Tuệ.
Thực tế là 227 giới tỳ kheo, 311 giới tỳ kheo ni không có nhiều Giới thể hiện việc Tinh Tấn hành trì Thiền định và học hỏi pháp Phật.

Trong khi đó để có trí tuệ viên dung, thông suốt, trùm khắp thì Phật Thích Ca đã phải học hỏi không ngừng giáo lý các tôn giáo khác, kiến thức các môn học căn bản ngay khi còn là một Thái tử Tất đạt đa. Và khi rời bỏ vương vị tìm đạo, hành đạo Thái tử Tất đạt đa cũng không dừng nghĩ việc học hỏi kiến thức, kinh nghiệm của các học giả, hành giả đương thời. Cho đến khi gần như đã “thâu tóm” tất cả kiến thức đương đại mà không thể chạm đến sự Giải Thoát, Thái tử Tất đạt đa mới dừng lại gạn lọc tâm bằng công phu thiền định để rồi “Nước trong, trăng hiện”.
Kiến thức của sự chứng ngộ Giác Ngộ Giải Thoát ở Phật Thích Ca là quả ngọt của sự học hỏi không ngừng ở nhiều lĩnh vực đời đạo cùng với sự dừng lặng đủ đầy của một người khao khát sự giải thoát hoàn toàn.

Giới Luật là nền tảng tất yếu của người chọn lựa sống đời phạm hạnh nhưng điều đó không đồng nghĩa rằng Giới Luật là cứu cánh mang lại sự giác ngộ giải thoát cho hành nhân.
Giới Luật chỉ là những khuôn phép, những nguyên tắc ứng xử rất đời mà một người có nhân cách, phẩm hạnh đơn thuần phải tùy thuận, hàm dưỡng, trui rèn.
Giới Luật không là tháp ngà để người học Phật thờ cúng, tán thán ở đầu môi, chót lưỡi. Giới Luật không từng là Thầy, càng không thể là thầy hướng dẫn con người chạm đến sự Giác Ngộ Giải Thoát hoàn toàn.
Người học Phật dù cho có nghiêm trì Giới Luật tinh thuần mà tuệ tri không mở thì cũng chỉ lẩn quẩn trong lưới luân hồi sinh tử và có nhiều hơn cơ hội luân chuyển ở nẻo lối Nhân luân.

Trong hình ảnh có thể có: 1 người

Phật Thích Ca Đã Xé Toạc Tấm Lưới Vô Minh Như Thế Nào?

Ngạo Thuyết
Phật Thích Ca Đã Xé Toạc Tấm Lưới Vô Minh Như Thế Nào?

Phật Thích Ca cũng từng bị trói trong tấm màng vô minh đối đãi với những phiền muộn, lo toan, sinh lão bệnh tử, giàu nghèo, tham lam, sân hận,… của loài người. Người muốn thoát ra khỏi cái vòng lẩn quẩn cột trói con người hết đời này sang đời khác. Người đã tìm đến các tôn giáo nhằm tìm ra lối thoát nhưng những tôn giáo mà Phật học hỏi không chỉ dẫn cho con người một lối thoát rõ ràng.

Phật lại nghĩ “Việc bị trói chân nơi triều đình và vướng bận gia đình khiến Phật không thể tham bái, học hỏi những vị danh sư tiếng tăm. Có lẽ ta phải nên rời gia đình một thời gian nhằm tìm chân sư học pháp giải thoát cho bản thân rồi sau đó trở về chỉ bày lối thoát cho vua cha Tịnh Phạn, cho hoàng hậu Kiều Đàm Di, cho nàng Da Du Đà La và mọi người”.

Nghĩ vậy, Phật lìa bỏ gia đình tìm đến những vị đạo sư danh tiếng. Sau một thời gian học tập, hành trì Phật nhận ra con đường mà các vị danh sư, ở các tôn giáo hiện thời bị nghẽn lối, không có một lối giải thoát thật sự. Chỉ khi con người nhập định thì đạt sự tự tại còn khi rời định thì những nỗi nhớ, sự buồn vui, lòng mong mỏi,… vẫn cuốn lấy tư tưởng con người.

Phật rõ biết “Đó là giới hạn về tri thức cũng như là giá trị thực chất của những tôn giáo truyền thống”. Tuy nhiên, việc thiền định cũng giúp Người tiếp xúc với cõi giới vô hình nhưng do giới hạn trong giáo lý của các tôn giáo mà Phật không thể nhận biết rõ về thế giới tâm linh. Dừng lặng ít lâu, Người quyết chí tiếp tục lên đường nhằm tìm ra chân tướng của vạn pháp, nguồn gốc sự sống, bản chất thật của luân hồi giữa các cõi giới. Lần ra đi này, có một sự kiện đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong hành trình tìm đạo của Phật. Đó là Phật chỉ đi một mình tìm đạo, không thầy, không bạn.

Sau cùng, Phật tìm được con đường giác ngộ, giải thoát hoàn toàn do tự chứng nghiệm lấy mà không có sự hướng dẫn của bất kỳ một vị thầy danh tiếng nào. Sở dĩ Phật thành đạo là vì sau thời gian dài thiền định, quán chiếu mà không còn trói buộc vào bất cứ một học thuyết, kiến chấp, tư tưởng chủ quan nào,… mà Phật sáng rõ nơi chánh pháp.

Tuy nhiên, cũng không thể phủ nhận việc chính những tư tưởng, tri thức, kiến thức,… Phật được học hỏi, góp nhặt,… từ trước giúp Phật đạt được sự giác ngộ, giải thoát hoàn toàn.

Công cuộc phá bỏ tấm màng lưới vô minh của Phật Thích Ca diễn ra và hoàn tất như thế nào?

Sau khi học hỏi sự hiểu biết có trong cuộc sống, giáo lý các tôn giáo Phật đã dừng lặng lại tiến vào thiền định. Đạt định rồi Phật bình thản quán chiếu lại nơi mọi sự vật, hiện tượng bằng một tấm lòng khách quan, rộng mở,…

Việc quán chiếu ban đầu Phật chỉ dừng ở các sự vật, hiện tượng, cảm giác, tri giác,… nơi pháp thế gian. Càng quán chiếu, càng bí lối. Mọi việc đều rơi vào nhị nguyên đối đãi, không có sự cùng tận. Vui rồi buồn, buồn rồi lại vui. Giàu rồi nghèo, nghèo rồi lại giàu. Tàn ác, hại người rồi sớm muộn gì cũng thiệt thân. Tham lam, giành giật có đó rồi mất đó. Chỉ thấy khổ đau, phiền muộn vây kín kiếp người. Cũng có những phút thăng hoa, vui mừng nhưng dường như chúng quá ngắn ngủi cho cả đời người.

Lại có một khoảng lặng thường hằng, luôn tồn tại trong mỗi con người mà dường như con người quên lãng.

Với phát kiến mới này Phật đã nhận biết nhưng nói để ai nghe, họ nghe mà làm gì?

Con người mỗi mỗi đều trói trong “cơm áo gạo tiền”, danh lợi, địa vị, tham đắm, hưởng thụ,… Xã hội phân tầng giàu nghèo, sang hèn.

Phật tiếp tục quán chiếu.

Tại sao một đứa bé trai ở tầng lớp Bà la môn vì mong có bạn mà chạy đến nắm tay một bé gái hạ tiện ở tầng lớp Chiên đà la thì bé gái đó lại bị giết, chặt tay, phạt tiền hoặc là cha mẹ cô bé buộc phải làm nô lệ trọn đời?

Tầng lớp Thủ đà la không thể ngẩng cao đầu trước thành phần Tăng lữ, Sát đế lợi,… là con người cả tại sao lại bị khinh rẻ, xem thường, không bình đẳng?

Những hình hài của các tầng lớp xã hội có gì khác biệt, cũng khuôn mặt, đôi mắt, hai tay, hai chân, thân mình, đầu cổ,… cũng xương thịt, máu, tủy, tim, gan,…

Quán sát tận cùng nơi nhị nguyên xác thân người thì chỉ là chút nước, chút gió, chút đất, chút lửa và hư không. Nơi cùng tận của từng đại – Đất nước gió lửa hư không – cũng lại là đất nước gió lửa hư không. Chúng không thể đơn lẻ mà tồn tại, cả mọi sự vật, hiện tượng có trong trời đất cũng đều như thế.

Phật nhận ra “Cái một có trong cái tất cả và cái tất cả có đầy đủ nơi cái một”. Phật đã từng thuyết một lời ám thị điều này “Như Lai đã lấy Tam thiên đại thiên thế giới nhét vào nơi hạt cải mà chúng sinh ở Tam thiên đại thiên thế giới không hề rõ biết chỉ có những chúng sinh được độ là nhận biết sáng rõ”.

Đáng tiếc là người học Phật ngày nay với tầm nhìn hạn hẹp, sự hiểu biết không sáng rõ đã không rõ biết chánh pháp của Phật mà lại vọng tưởng ngộ nhận “Thần thông của Phật là không thể nghĩ bàn”.

Ngay nơi nhị nguyên tôi rõ biết “Thần thông của Phật là không thể nghĩ bàn” mà nay dối mượn pháp Phật “Lấy Tam thiên đại thiên thế giới mà Phật đã nhét vào nơi hạt cải ra khỏi hạt cải cho mọi người cùng rõ biết”.

Phật lại nhận ra con người đã bị tấm màng vô minh trói nhận thức, tư duy nên không thể chung cùng sống hài hòa, bình đẳng nhưng nếu dùng lời nói trình bày mọi việc ở nơi nhị nguyên thì con người liệu có mấy ai tin nhận?

Dựa trên góc nhìn tổng thể, khách quan, sáng rõ,… Phật lại quán chiếu sự tồn vong của mỗi gia đình, mỗi dòng tộc trong mỗi tầng lớp xã hội đơn lẻ. Quả thật, không có tính trường cửu, bền vững cho mọi gia đình, dòng tộc. Thiện ác đan xen, giàu nghèo, sang hèn hoán đổi tương tục,… Sự cai trị hà khắc, áp bức tầng lớp dân nghèo đến cùng đường của giai tầng “Ăn trên, ngồi trước” thì đến một lúc nào đó sẽ có những cuộc nổi dậy nổ ra. Những kẻ tàn ác, sống không có tình người sẽ bị giết đi, những người nghèo khó chia nhau “giá trị thặng dư” và đưa những người mới có uy tín lên lãnh đạo, lập lại trật tự xã hội. Lâu về sau, những người cai trị đất nước xa rời tầng lớp dân lao động nghèo, xây dựng những chính sách xã hội đem lại nhiều lợi ích cho thành phần lãnh đạo, quản lý làm sự phân tầng ngày càng rõ rệt. Đây là mầm móng đánh dấu cho một nổi loạn mới. Máu, nước mắt, thù hận và đau khổ lại xảy đến cho con người trên diện rộng. Cứ thế, xã hội loài người luôn phát triển như vậy trong tất cả giai đoạn lịch sử của con người.

Phật lại nghĩ “Tại sao con người lại cứ mãi chém giết lẫn nhau khiến cho chính con người sống trong khổ đau, thù hận?”.

Lẽ nào họ tự trói mình trong việc chém giết, hận thù, đau khổ nhằm quên đi nỗi lo “Sinh lão bệnh tử” luôn xảy ra cho đời sống của một con người?

Nói là vậy nhưng Phật đã rõ biết “Con người đang bị lưới vô minh che lấp bản tâm. Con người đã quen rồi sống với tâm phân biệt, dính mắc. Nơi tâm phân biệt, dính mắc có giàu có, sang hèn, thiện ác,… Gốc của tâm phân biệt, dính mắc là tham, sân, si, mạn, nghi. Mọi tội lỗi, khổ đau của con người đều do tâm phân biệt mà sinh khởi. Thiên đàng, địa ngục cũng nơi tâm ý con người tạo ra. Do tâm phân biệt mà con người khổ đau trôi lăn mà không thể thoát ra khỏi luân hồi. Tuy vậy, ngay nơi con người luôn có bản tâm tự tại, không dính mắc nhưng con người đã bị nhị nguyên trói chặt nên không tường tận, sống được với sự thật. Chỉ khi con người sống thật với bản tâm thì con người mới dứt khổ đau, đoạn trừ luân hồi, thiên đàng và địa ngục”.

Phật lại nhận biết “Dùng lời nói thành tâm, chân thật trình bày nơi nhị nguyên, nơi bản tâm sẽ không dễ khiến con người tin nhận. Con người đã vướng vào vô số định kiến, tà kiến, kiến chấp, học thuyết, tư tưởng,… Thế nên, dùng nhị nguyên nơi pháp thế gian để luận nhị nguyên nơi thế gian sẽ mang đến sự tranh luận, chống trái,… và không thể giúp con người giải thoát”.

Phật xét đến pháp xuất thế gian. Với kiến thức được lĩnh hội từ giáo lý, kinh điển của rất nhiều tôn giáo có ở các nước thuộc lưu vực sông Hằng, Phật quán chiếu thế giới tâm linh. Cùng với việc không ít lần tiếp xúc với cõi giới vô hình những khi thiền định và cả những lúc đã xả thiền, Phật nhìn nhận lại mọi tri thức nhân loại thời đó về cõi giới vô hình.

Tại sao đã là vô hình mà lại tạo ra được hình dáng mắt, tai, mũi, miệng, thân hình, lời nói, khóc cười,…?

Tại sao ta lại có thể tiếp xúc được với họ?

Nhờ mắt thấy, tai nghe,… chăng?

Thật không có lý bởi lẽ bây giờ ta vẫn dùng mắt mà cố tìm sao lại chẳng thấy?

Hơn nữa, khi thiền định thì mắt của người nhập thiền đã khép. Vậy ra là ta đã nhìn thấy bằng phần vô hình nơi bản tâm của tự thân, tạm gọi là thần thức. Hẳn là vậy vì không thể dùng hữu hình để nhận biết vô hình, chỉ có vô hình mới tiếp xúc được vô hình.

Lại một câu hỏi khác đặt ra.

Tại sao nơi vô hình lại lưu xuất ra cái thấy nghe hay biết, nói cười, khóc kể,…?

Rõ thật là do nơi ý. Từ đó, Phật nhận biết: Người cùng chúng sinh cõi giới vô hình tiếp xúc nhau bởi do tâm ý, cũng từ nơi tâm ý mà chúng sinh cõi vô hình tạo ra hình dạng, màu sắc, âm thanh, tiếng nói,… và cái thấy nghe hay biết. Rõ biết chân tướng nơi cõi giới vô hình, Phật đã dựa vào tâm ý của chúng sinh ở cõi vô hình mà bình thản phân định lại thế giới tâm linh.

Phật tiếp tục thâm nhập cõi giới vô hình và Phật rõ biết tường tận Tiền kiếp, Hậu kiếp của chúng sinh nẻo vô hình. Phật đã thông suốt vạn pháp ở cả pháp thế gian và pháp xuất thế gian.

Cõi giới vô hình chẳng thể tách rời cõi hữu hình mà tồn tại và ngược lại. Những chúng sinh ở cõi hữu hình và vô hình luân chuyển, hoán đổi vị trí cho nhau bởi do nghiệp duyên nhân quả rất công bằng, khách quan.

Tuy nhiên, có một điều dễ nhận thấy là việc luân hồi của chúng sinh nơi 3 cõi 6 đường thường đi kèm với khổ đau và phiền muộn do bởi những chúng sinh này luôn bị trói vào quy luật vô thường “Sinh lão bệnh tử” nhằm sắp xếp lại nhân quả, cũng như đảm bảo tính công bằng, khách quan nơi 3 cõi.

Buông bỏ tâm phân biệt, dính mắc Phật rõ biết “Tự thân đã thoát khỏi “Sinh lão bệnh tử” và việc luân hồi nơi 3 cõi 6 đường”.

Phật biết rằng “Đã đến lúc Người đi rộng truyền chánh pháp nhằm làm vơi đi khổ đau, phiền muộn cho mọi chúng sinh trong 3 cõi 6 đường, xóa bỏ bất công xã hội thời Phật còn đang sống. Đối với những con người muốn thoát khỏi luân hồi, Phật sẽ dùng phương tiện chỉ bày giúp họ nhìn thấy và sống được với bản tâm thường tại, rõ biết chân tánh vạn pháp, giúp họ giải thoát hoàn toàn ngay hiện đời”.

Trong hình ảnh có thể có: 1 người

Giới Là Rào Cản Của Sự Giác Ngộ (P.3)

Ngạo Thuyết

Giới Là Rào Cản Của Sự Giác Ngộ (P.3)

Rất nhiều người học Phật cả tin cho rằng Giới Sinh Định, Định Sinh Tuệ. Song tiếc thay đấy lại là một sự hiểu biết về Phật học sai lầm.
Thực ra Giới chỉ góp một phần bổ trợ cho sự tập Định của hành nhân. Về định lực của mỗi người, đây là kết quả của một sự tích lũy có được từ tiền kiếp và cả kiếp hiện tại.
Sự huân tập tánh hạnh từ tiền kiếp mỗi người sẽ là nhân tập Định ở hiện kiếp. Và nếu đủ duyên hàm dưỡng nội tâm tốt (môi trường giáo dưỡng) từ thuở bé đến lúc trưởng thành cùng với sự từng trải (sự tôi luyện) mà định lực của người đó trở nên hùng hậu, kiên cường.
Ngược lại, với những người không có sự hàm dưỡng nội tâm tốt, tánh ý buông lung, loạn động hươu vượn thì hiển nhiên là định lực của những con người đó phần đa sẽ non kém, yếu ớt.

Ngạo Thuyết vừa trình bày về định lực, định tâm của mọi người ngay cả khi hiện kiếp họ chưa từng biết đến đạo Phật hay việc giữ giới.
Và điều đó phần nào tách bạch rạch ròi được rằng không phải lúc nào cũng phải Giới sinh Định như định kiến của không ít người học Phật.
Và rồi một số người tìm về đạo Phật mới biết đến Giới Định Tuệ và từ đó một số người sẽ tập tành việc thọ trì Giới, hành thiền tập Định.
Và hiển nhiên là sẽ có những người dễ dàng tập định khi hành thiền và cả những người không giữ được định khi ngồi thiền. Sự sai khác này chính là kết quả của sự hàm dưỡng nội tâm nơi mỗi người trước khi đến với đạo Phật.
Cho đến khi đó một số người sẽ hoang mang trong việc chế ngự, điều phục tâm và họ sẽ tìm thiện tri thức hay sư thầy tham vấn.
Theo lệ việc trì Giới, hành Thiền, niệm Phật sẽ được đề xuất cho hành nhân tùy theo căn tánh, hoàn cảnh sống mà chọn pháp hành tương hợp.
Tương tự như vậy Định chỉ là một hình thức gạn lọc tâm, Định không sinh Tuệ. Kết quả của Định là nước trong, trăng hiện – Cái thấy sáng suốt, không bị chướng ngại.
Tuệ tức là sự hiểu biết và sự hiểu biết của mỗi người không thể tự dưng mà có. Sự hiểu biết của mỗi người không thể do việc giữ Giới thật tốt, Định sinh và sự hiểu biết bỗng dưng ùa về.
Thực tế là sự hiểu biết của mỗi người kể cả Phật Thích Ca đều phải trải qua một quá trình học hỏi, tham cứu và trải nghiệm. Sự hiểu biết của mỗi người định hình nên nhận thức, tư duy và khả năng nhìn nhận, phân tích vấn đề.
Thông thường sự hiểu biết của mỗi người sẽ dần dần xây dựng nên định kiến ở mỗi người. Và định kiến thường dính mắc sự chủ quan của người sở hữu chúng – Phật gọi đó là Sở Tri Chướng nơi người học Phật.
Người chứng ngộ giác ngộ giải thoát là người không bị kẹt ở sự hiểu biết hạn hẹp, chủ quan. Bởi do “Nước trong, trăng hiện” nên cái thấy, sự hiểu biết của người sáng mắt sẽ viên dung, không còn bị chướng ngại bởi tâm nhân ngã hẹp lòng.

Thế đấy Giới sinh Định, Định sinh Tuệ chỉ là kiến chấp rơi vào biên kiến mà người học Phật nhất thiết không nên “đắm chìm” ở vũng trâu nằm.
Bây giờ chúng ta lại quay về với chủ đề chính Giới Là Rào Cản Của Sự Giác Ngộ.
Vì sao các bạn tìm về đạo Phật hay các hệ thống tôn giáo?
Vì hiếu kỳ, vì ham hiểu biết hay vì muốn nghiên cứu những điều cao cả, thánh thiện? Hay bạn tìm đến đạo Phật là vì miếng cơm manh áo, vì tích lũy phước báu?…
Thực tế là đa số con người tìm đến các hệ thống tôn giáo là vì những bế tắc nơi cuộc sống ở hình thức này hay ở hình thức khác – Một dạng phiền não nơi tâm thức.
Và thông thường chính những người tìm đến đạo Phật vì phiền não sẽ dấn thân hành trì tinh tấn dũng mãnh hơn gấp nhiều lần những người học Phật theo lối “Cởi ngựa xem hoa” – những người đến với đạo Phật nhằm vào việc nghiên cứu Phật học, kiếm cơm”, v.v và v.v…
Chỉ có những người có những phiền não cùng cực hoặc nhạy cảm, chán chường sự khổ đau mới khao khát sự giải thoát hoàn toàn. Và đây chính là “bước nhảy vọt” rất quan trọng hun đúc nên người chứng ngộ.
Phật nói “Phiền não tức Bồ đề” là sự xác thực cho điều đó.
Nếu không xuất phát điểm từ phiền não, bồ đề gần như không dễ nở hoa.
Do đó, nếu không xuất phát điểm từ phiền não người học Phật dù tại gia hay xuất gia đều sẽ rất khó thành tựu chứng ngộ giác ngộ giải thoát hoàn toàn.
Những người học Phật tại gia mà nhất là giới Tăng Bảo nghiêm trì Giới luật, họ dần dần tách biệt với những nỗi thống khổ, do thừa hưởng tài vật trọng hậu và cả sự kính ngưỡng thái quá chí xuất trần giải thoát hoàn toàn ở người xuất gia dần dần tan biến không còn chút dấu tích.
Và cả việc hiểu sai về phước báu, công đức, nhân quả, sự luân hồi,… mà người xuất gia học Phật ngày nay ngày càng xa rời chánh pháp Phật tâm tông.
Do không có minh sư hướng đạo cho người học Phật xuất gia. Giới vô hình chung đã trở thành rào cản khiến giới Tăng Bảo ngày nay không thể chạm đến sự Giác Ngộ Giải Thoát.

Trong hình ảnh có thể có: mọi người đang ngồi, đồ uống, cốc cà phê, món ăn và trong nhà

Giới Là Rào Cản Của Sự Giác Ngộ (P.2)

Ngạo Thuyết

Giới Là Rào Cản Của Sự Giác Ngộ (P.2)

Một người học Phật chân chính là người phải biết đón nhận thông tin trái chiều một cách thông minh và không chỉ vậy người học Phật còn cần phải “thẩm thấu” được trọn nghĩa câu “Trung ngôn nghịch nhĩ” – Lời thật thường trái tai.
Và lẽ hiển nhiên là người học Phật phải tự thắp đuốc huệ – trí tuệ Phật chiếu soi để tránh việc “Gió chiều nào ngã theo chiều ấy” – Lối học Phật theo phong trào, ai nói gì cũng vội tin mà không dùng tuệ phân tích, tuệ tư duy để khách quan, thẳng thắn nhìn nhận lại vấn đề.
Ngày nay có lắm sư thầy Tăng Bảo cùng người học Phật vướng vào tà kiến “Đây là thời mạt pháp nên người học Phật phải lấy Giới làm thầy. Và có rất nhiều người học Phật thể hiện sự cực đoan, quá khích khi bảo vệ kiến chấp “Lấy giới làm thầy” đó. Song le e rằng chính họ là người không hề giữ được những giới mà họ cực đoan bảo vệ.
Về lý việc giữ giới sẽ góp phần giúp hành nhân trở nên trầm tĩnh, tập định. Thế nên với những biểu hiện nóng vội, chủ quan, quá khích dễ thường đấy là lối hành xử của những hạng người học Phật trên môi miệng đãi bôi, năng thuyết bất năng hành.

Bây giờ chúng ta quay lại với chính đề “Giới Là Rào Cản Của Sự Giác Ngộ”.
Câu hỏi được đặt ra là “Liệu Giới Có Giúp Người Học Phật Đạt Được Sự Giác Ngộ Giải Thoát?”.
Trước tiên chúng ta hãy xét đến năm giới cấm dành cho cư sĩ tại gia gồm: Không uống rượu, Không nói dối; Không tà dâm; Không trộm cướp; Không sát sinh.
Thử hỏi làm thế nào để người học Phật có thể thọ nhận năm giới này làm thầy? Giới là điều mà người thọ trì tránh phạm phải ngõ hầu tránh gây khổ cho mình, cho người.
Tương tự như vậy, tỳ kheo nam với hơn 250 giới, tỳ kheo nữ với hơn 300 giới cũng chỉ là những lề lối, những khuôn phép ứng xử mang tính phạm hạnh, thuần tính. Thực ra với hơn 250 giới hay hơn 300 giới quanh đi quẩn lại cũng không ngoài năm giới mà cư sĩ tại gia thọ trì. Và thực tế là giới luật chỉ mang lại sự tập định, trầm tĩnh. Nói một cách khác giới không hề là chiếc chìa khóa giúp người học Phật trở nên Giác Ngộ. Thậm chí Giới còn là Rào cản của sự Giác Ngộ Giải Thoát.
Vì sao?
Vì Giới giữ người học Phật trong ở trong một chiếc lồng an toàn. Một đời sống phạm hạnh, nguội lạnh ý chí tiến thủ đã phần nào “giết chết” chí hướng xuất trần giác ngộ giải thoát hoàn toàn.
Chính khi Giới phát huy diệu dụng “an lạc giả tạm” thì cũng đồng thời là lúc Giới lập nên hàng rào giúp hành nhân “ngăn chặn” được những khổ đau, phiền muộn. Điều này sẽ khiến hành nhân trở nên an toàn hoặc có được cảm giác an toàn. Tính ỳ sẽ mau chóng hình thành và sẽ chặn đứng sự Giác Ngộ Giải Thoát ở hành nhân. Trừ phi…

Mời các bạn tiếp tục theo dõi bài viết Giới Là Rào Cản Của Sự Giác Ngộ Giải Thoát (P.3).

Trong hình ảnh có thể có: bầu trời, đám mây, ngoài trời, thiên nhiên và nước

Giới Là Rào Cản Của Sự Giác Ngộ (P.1)

Ngạo Thuyết

Giới Là Rào Cản Của Sự Giác Ngộ (P.1)

Hẳn là với số đông người học Phật khi nghe nói rằng Giới Là Rào Cản Của Sự Giác Ngộ thảy đều rất sốc, thậm chí có không ít người học Phật sẽ rơi vào hoang mang.
Ngạo Thuyết vẫn thường chịu trách nhiệm về những lời đã nói và với lập ngôn “Giới Là Rào Cản Của Sự Giác Ngộ” Ngạo Thuyết cũng không phủi bỏ trách nhiệm.
Ngạo Thuyết sẽ đưa ra những lập luận cụ thể, sáng rõ, rành mạch ngõ hầu giúp các bạn dễ dàng tham cứu nhận diện lẽ đúng sai, chân ngụy, chánh tà.
Và các bạn hãy luôn nhớ rằng những lập luận của Ngạo Thuyết không mặc định sự đúng sai. Thực tế là lẽ đúng sai sẽ nằm trong lòng các bạn – Sự Hiểu Biết Nơi Mỗi Người.
Nhân tiện các bạn hãy xét xem những điều Ngạo Thuyết trình bày là Điên Đảo Luận hay Chân Thường Luận mà nhận thức, tư duy lại việc học Phật của chính mình.
Nếu bạn là một người học Phật hoặc là một người có một sự quan tâm nhất định đến đạo Phật thì hẳn bạn đã từng nghe hoặc nhìn nhận được rằng phần đa người học Phật ngày nay đều đang tu phước.
Phần đa người học Phật ngày nay tu phước là do sư thầy Tăng Bảo khuyến dạy như thế.
Sư thầy Tăng Bảo luôn dạy Phật tử phải năng tu phước để kiếp sau có nhiều phước báu, có nhiều điều kiện tốt để tu học.
Và những việc tu phước được chư Tăng Bảo khuyên dùng là cúng dường xây chùa, tạc tượng Phật, Bồ Tát, đúc chuông, ấn tống kinh sách, niệm Phật, phóng sinh, trì chú Đại Bi, đọc tụng kinh sách, tham gia đạo tràng hộ niệm vãng sanh, cầu siêu, cầu an, cúng sao, giải hạn, hồi hướng,…
Và có một điều đặc biệt là những việc tu phước mà chư Tăng Bảo đương thời xưng tán phần đa hiện tiền đều mang lại danh và lợi cho chư Tăng Bảo. Còn phước báu mang lại cho người tu phước thì hãy cứ đợi chờ nhẫn đến những kiếp sau.
Chư Tăng Bảo vẫn thường nhắc nhỡ Phật tử nhân nào, quả nấy phải chăng là vì ý muốn giúp những người tu phước gìn giữ niềm tin phước báu nhất định sẽ quay về. Do đó, người tu phước hãy năng cúng dường càng nhiều càng tốt – Kiếp Sau Rồi Sẽ Khá.

Thật ra Phật Thích Ca, những Giác Giả, những người sáng mắt (tỏ ngộ chánh pháp) không bao giờ truyền thừa cái được gọi là Công Đức, Phước Báu.
Việc sách tấn người học Phật năng hộ trì Tam Bảo là có thật nhưng nguyên ủy của việc hộ trì Tam Bảo là chí nguyện thiết tha gìn giữ chánh pháp – Sự Giác Ngộ Giải Thoát Hoàn Toàn cho muôn đời sau vì sự hữu ích, thiết thực của giáo lý Phật môn. Nhưng điều đó không đồng nghĩa với việc dựng lên việc tu phước, tích lũy công đức để lừa mị tín đồ, khiến chúng Phật tử từng bước rơi vào sự mê tín dị đoan cùng việc cuồng tín, cả tin.
Có một sự thật là không ít chư Tăng Bảo ngày nay tán thán việc tu phước gìn giữ duyên lành là vì việc tác pháp được truyền thừa mà không rõ Phật tâm tông và cũng không thật hiểu về Phước Báu, Công Đức. Do đó, phần đa sư thầy Tăng Bảo ngày nay đã đang và sẽ hành những tà pháp nhưng lại cứ ngỡ rằng đang ra sức hoằng dương Phật pháp (Điều này chỉ đúng với những vị Tăng Bảo học Phật chân chính; Loại trừ những vị Tăng Bảo dấn thân vào đạo Phật vì kiếm miếng cơm, manh áo, lợi dưỡng, lợi danh).
Tuy nhiên, dù là Tăng Bảo học Phật chân chính hay giả danh theo đạo đều có cùng một giá trị vi diệu, đó là họ ít nhiều gì cũng có vai trò gìn giữ, truyền thừa pho Tam Tạng Kinh – Giềng Mối Của Chánh Pháp.
Dẫu rằng việc học Phật của giới Tăng Bảo ngày nay hãy còn dở dang, lấy ngụy làm chân rơi vào Lỗi Lớn Thường Thấy – Đó Là Y Kinh Giải Nghĩa Tam Thế Phật Oan; Ly Kinh Nhất Tự Tức Đồng Ma Thuyết. Và chính những điều đó đã khiến đạo Phật từ ngàn xưa đến nay là chốn nuôi dưỡng Muôn Đại Trùng Sư. Song công đức gìn giữ chánh pháp của giới Tăng Bảo từ xưa đến nay quả thật bất khả tư nghì. Xét lại quả thật là công nhiều hơn tội.
Đã từ lâu người sáng mắt tức Giác Giả – Phật đã “đặt để” giới Tăng Bảo là thành phần học Phật theo lối Thanh văn tức là thành phần người học Phật y tựa nơi kinh sách và có khuynh hướng tiểu thừa khó mong triệt ngộ thực tướng chánh pháp.
Và chính khái niệm Thanh văn – Tiểu thừa cũng đã bị người học Phật thời xưa ngộ nhận, hiểu sai từ đó đã phân ranh ra hai hệ phái học Phật gồm Bắc Tông và Nam Tông.
Qua bài viết này Ngạo Thuyết sẽ “đặt để” giới Tăng Bảo xuất gia cả Bắc Tông lẫn Nam Tông về đúng vị trí người học Phật hàng Thanh Văn thừa, phần đa thui chột mắt huệ.
Và pháp hành cũng như việc hoằng pháp của chư Tăng Bảo Nam Bắc Tông (Nhất là sư thầy Bắc Tông) ngày nay thảy đều nhuốm màu ngoại đạo, điển hình là Bà la môn giáo.
Chư Tăng Bảo ngày nay thường nói việc sinh tử luân hồi, nhân quả chẳng lầm, lại khuyên người tu phước nhưng lại chẳng biết phước báu, công đức được bảo tồn ra sao nơi mỗi chúng sinh qua quá trình luân hồi.
Sư thầy Tăng Bảo lại chẳng biết phước báu chẳng là gì so với nhân quả của đơn nghiệp và cộng nghiệp.
Thật ra nhân quả công đức, phước báu vốn không có thật. Bởi lẽ vạn pháp vốn như huyễn thì công đức, phước báu há dễ là lẽ thật để người tu phước mỏi mòn trông đợi bằng niềm tin u mê.
Việc xả thí, cúng dường, phóng sinh khởi từ lòng bi mẫn có chăng chỉ huân tập những tánh hạnh tốt lành nơi tâm thức những người tạo tác. Và những tánh hạnh tốt đẹp đó sẽ sớm biểu hiện ra khi những người đó tiếp tục trôi theo dòng chảy của luân hồi.
Còn với những người dính khằn với những tánh hạnh tham lam, ích kỷ, ương hèn, bạc nhược; việc cúng dường khởi từ dị tâm ham cầu phước báu đâu dễ mở lòng ra học hỏi, rèn giũa những đức tính tốt đẹp thì phước báu, công đức cũng chỉ là những bọt bóng xà phòng mà thôi.
Và khi số đông người học Phật, loài người rơi vào lối sống thực dụng, ương hèn, bạc nhược, ích kỉ,… Những tánh hạnh xấu như thế được tích lũy theo lối cộng nghiệp thì đã là dấu hiệu báo trước cho một xã hội loài người đang tiến vào sự hỗn độn, nhiễu nhương, loạn lạc.
Liệu một khi đất nước xảy ra chiến tranh loạn lạc phước báu nào cho những người tu phước có tánh hạnh ương hèn, bạc nhược?
Họ sẽ thụ hưởng phước báu giàu sang bằng việc bán nước, bán bạn cầu vinh chăng?
Những điều này liệu sư thầy Tăng Bảo theo lối Thanh văn thừa lẫn sư thầy Tăng Bảo quốc doanh có đủ tâm, đủ tầm nhận biết? Hay Họ Sẽ “Sống Chết Mặc Bây,Tiền Thầy Bỏ Túi? Hay Họ Sẽ Cả Nghĩ Rằng Việc Tích Lũy Công Đức Bấy Lâu Sẽ Được Phật A Di Đà Tiếp Dẫn Hoặc Thọ Sinh Vào Những Cõi Giới Cao Hơn?

Mời Các Bạn Tiếp Tục Đón Xem Bài Viết – Giới Là Rào Cản Của Sự Giác Ngộ (P. 2)

Không có mô tả ảnh.

Cương Đao Sát Sư – Sư Viên Minh 02 — Bom Tấn —

 

Cương Đao Sát Sư – Sư Viên Minh 02
— Bom Tấn —
Chào các bạn! Hôm nay Ngạo Thuyết sẽ làm một cú hích nhằm tăng tính tương tác chia sẻ sự hiểu biết Phật học nơi mỗi người.
Chúng ta đã làm bạn với nhau đã lâu chưa nhỉ? Hẳn là có người bạn mới, có người bạn cũ. Nhưng tin rằng để có thể đàm luận với nhau ít nhiều thì mỗi người đã có những bước tiến dài, những mở lòng nhất định. Hẳn là các bạn còn đồng hành cùng Ngạo Thuyết là đã hiểu được Ngạo Thuyết phần nào, bên cạnh đó cũng sẽ có ít người bạn chờ xem Ngạo Thuyết ngã chỏng vó khi nào chỉ để mỉm cười ý nhị hoặc khẽ khàng buông lơi – Đáng đời Ngạo Thuyết! Ngạo Thuyết có vẻ hiểu các bạn nhiều hơn một chút, chỉ một chút thôi.
Hôm nay, Ngạo Thuyết sẽ đề cập vài nghịch lý nơi học Phật ở các bạn, trước mắt Ngạo Thuyết chỉ đề cập đến 2, hoặc 4 nghịch lý mà các bạn không thể ngờ đến.
Điều nghịch lý thứ nhất là giới Tăng bảo bấy lâu nay học Phật nhưng không tin mình có thể thành Phật ngay nơi hiện kiếp. Bạn cũng vậy, bạn học Phật lại không đủ niềm tin rằng mình sẽ thành Phật. Tại sao lại như thế? Điều gì đã xảy ra?
Đã từ lâu, người học Phật xuất gia lẫn tại gia đều bị “nhồi sọ” rằng đây đã là thời mạt pháp, cơ may có người chứng ngộ rất mong manh và xen vào đó một chút tự ti nơi mỗi người đã định hình nên học Phật chỉ gieo duyên, chỉ mong nẻo tốt nơi kiếp sau, sự giải thoát hoàn toàn xa xôi, viễn vông quá đỗi. Kết quả là khi niềm tin không có mỗi mỗi chúng sinh, mỗi mỗi người học Phật sẽ cứ thế trôi lăn không điểm dừng nơi lưới mộng luân hồi.
Giác Giả từng nói “Ta là Phật đã thành, chúng sinh 3 cõi là Phật sẽ thành” và “Đương lai hạ sanh sẽ là Phật Di Lặc”. Bạn chờ đợi Phật Di Lặc ra đời và đến thọ ký cho bạn thành Phật chăng? Ai trong số 7, 8 tỷ người sẽ có cơ may đấy?
Hơn 2,6 tỷ năm khi trái đất thành hình thì hành tinh xanh mới xuất hiện những mầm sống đầu tiên. Và cách đây 6 triệu năm mới có mặt loài người trên trái đất. Bạn chờ đợi hiện kiếp này hoại tức trái đất này hoại và bắt đầu góp nhặt hình hài từ những mảnh vỡ của không gian, thời gian, thế rồi khoảng bao nhiêu tỷ năm nữa bạn mới góp nhặt trí tuệ đủ để giác ngộ giải thoát hoàn toàn?
Tại sao bạn phải chờ một người khác thành Phật mà không đủ dũng khí để nhận ra rằng chính bạn là Phật Di Lặc?
Điều nghịch lý thứ hai là hẳn bạn ít nhiều được nghe rằng Thái tử Tất đạt đa xuất gia vào khoảng hơn 20 tuổi, thành đạo vào khoảng hơn 30 tuổi; Điều này có nghĩa là Thái tử Tất đạt đa chứng ngộ sau khoảng trên dưới 10 năm tầm đạo cùng hành trì.
10 năm để một người, một chúng sinh trôi lăn nơi 3 cõi 6 đường chứng ngộ Toàn Giác mà không có được một mẩu giấy kinh Phật gối đầu nằm. Vậy mà bây giờ người học Phật có cả pho Tam Tạng kinh tham cứu mà không có lấy một Giác Giả ra đời và đổ lỗi kinh Phật nói “Đây là thời mạt pháp”. Một người lên đường tìm đạo không có ai giác ngộ dẫn đường, chỉ lối lại Toàn Giác sau 10 năm dấn thân. Và bây giờ người người học Phật đi tầm đạo ôm ngón tay chỉ trăng – Pho Tam Tạng kinh mà không người nào thấy trăng cả. Điều gì đã xảy ra?
Điều nghịch lý thứ ba là khi Phật dấn thân truyền trao chánh pháp, người học Phật thời ấy chứng ngộ A la hán, A na hàm, Tư đà hàm, Tu đà hoàn cũng chỉ bằng vào những câu chữ mà giờ kết tập lại gọi là kinh Phật. Thực tế là chỉ bằng vào những câu từ giao tiếp Phật đã giúp người học Phật thời ấy sáng mắt, chứng ngộ vô sanh. Phật không truyền tâm ấn hay một phép màu huyễn hoặc nào lên những người đến tham học. Vậy điều gì đã xảy ra khi mà người học Phật ngày nay có đủ duyên tham cứu rất nhiều bộ kinh Phật mà không chuyển được kinh lại bị kinh chuyển đến mê tâm, nhũn trí, mờ mịt cả lối về giác ngộ?
Lẽ nào căn cơ, trình độ người học Phật ngày xưa cao thâm hơn người học Phật thời nay?
Thêm một ý nữa xem như là điều nghịch lý thứ tư – Tại sao chỉ có Phật là Toàn Giác còn hàng môn đệ lại chỉ dặm chân ở chỗ A la hán? Phải chăng Phật còn giữ miếng khi “truyền nghề”?
Thật ra không phải Phật đã không giữ miếng mà Phật là người khát khao, là người thao thức, là người dấn thân quyết liệt tìm con đường giải thoát hoàn toàn; Sự bế tắc tâm thức đã chính muồi mong mỏi giải thoát. Còn hàng môn đệ và cả người học Phật về sau do con đường đã sẵn có nên cứ nhẩn nha, ngún nguẩy bước đi, tính chủ quan về sự an toàn đã có luôn hiện hữu nơi người học Phật thanh văn thừa. Điều này giống như một người lạc giữa sa mạc với lương khô, nước cạn, người đó buộc phải dấn thân vì nếu chậm là sẽ chết. Ngược lại, với một đoàn lữ hành đi trên sa mạc với lương thực, thức uống đủ đầy lại cưỡi lạc đà và lộ trình thì cầm trên tay, thêm có người rành rẽ lối đi chỉ dẫn. Họ sẽ như là đi du ngoạn. Thế thôi!
Nhưng nào các bạn, các bạn đã cầm trên tay lộ trình thành Phật, lộ trình giác ngộ rồi hay sao mà nhởn nhơ đến lạ.

Lẽ ra… Nếu bạn học Phật và thực sự mong mỏi điều liễu thoát sinh tử thì bạn phải đặt nó ra trước mặt và hỏi mọi người, thầy bạn về những gút mắt, những điều mà ngăn ngại bạn chạm đến việc thành Phật. Nhưng bạn đã không làm vậy.
Tại sao?
Trước những vị sư thầy bạn đã không dám bộc bạch nỗi lòng của mình, bạn cũng không dám hỏi một câu xác tín rằng “Bạch thầy! Thầy đã chứng ngộ chưa? Con tham bái thầy chỉ mong rằng sẽ chứng ngộ, sẽ giải thoát hoàn toàn, sẽ thành Phật.”. Bạn đã không dám nói những điều đại loại như thế, bạn lại đi hỏi việc phóng sanh, cầu an, giải hạn, cúng sao, ngày giờ đẹp xấu, việc ăn chay, ăn mặn… Tại sao lại như vậy?
Là bạn đang tu phước?
Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn đã từng cảnh tỉnh môn đồ như sau:
“Sinh từ là việc lớn. Các ông suốt ngày chỉ biết cầu phước báu, chẳng cầu lìa biển khổ sinh tử. Tự tánh nếu mê phước làm sao cứu được?”.
Các bạn lại tin nhận lời các sư thầy – Tăng bảo khuyến dụ tu phước để giải nghiệp nào hay những vị Tăng bảo ấy là người tối mắt đâu biết rằng phước đâu từng rời họa. Khi bạn đặng phước báu thì liền đó công đức sẽ bị ngăn ngại, trí tuệ theo đó cũng nhạt nhòa.
Và hãy nhìn những chùa to, Phật lớn, bạn hãy nhìn bằng con mắt huệ – ở nơi chốn xa hoa đấy đâu thể có dấu chân Phật mà bạn đi tìm, có chăng chỉ là những kho kinh sách đầy bụi bám, nhện giăng. Phật không ở những nơi xa hoa đó, Phật – Bồ tát sẽ đến với những người khốn khổ vì sen không thể mọc ở nơi không có bùn lầy.

Ngạo Thuyết là ai?
Ngạo Thuyết chỉ là người muốn rằng bạn sẽ thấy Phật rất gần gũi, Phật luôn ở bên bạn, bạn có thể cầm tay Phật và bước đi trên con đường chánh đạo thênh thang. Và nếu muốn, nếu khát khao bạn sẽ thành Phật.
Bạn đừng nhầm lẩn rằng Ngạo Thuyết là người mà bạn cầm tay bước đi, người đấy không phải là Ngạo Thuyết. Ngạo Thuyết chỉ là gã chèo đò năm cũ.

Bây giờ, có lẽ chúng ta lại hiểu nhau thêm một chút. Ngạo Thuyết sẽ đưa một link dẫn một bài pháp thoại của thầy Viên Minh. Mời các bạn lắng nghe và mở lòng tương tác!
Bạn đã không dám mở lòng ra để nói chuyện với sư thầy vì niềm kính trọng, e rằng khi hỏi thẳng sẽ xúc phạm sư thầy nhưng ở một chiều kích khác bạn không biết rằng khi bạn không dám hỏi thẳng những điều bạn trăn trở về đạo pháp, điều đó đồng nghĩa rằng niềm tin của bạn với vị thầy là không đủ, và bên cạnh đó lại thể hiện rằng bạn coi thường vị sư thầy của mình ở một gốc độ vi tế hơn.
Chuyện đó gác lại, hiện chúng ta là những người bạn. Vậy chúng ta hãy thẳng thắn, cởi mở hơn trong việc soi sáng cho nhau. Trân trọng!

Cương Đao Sát Sư – Sư Nhất Hạnh – Thanh Từ – Thông Lạc Thầy Nhất Hạnh

Cương Đao Sát Sư – Sư Nhất Hạnh – Thanh Từ – Thông Lạc
Thầy Nhất Hạnh
Trong buổi đầu tìm đến chánh pháp Ngạo Thuyết không có nhiều điều kiện tiếp cận kinh sách Phật học. Ngạo Thuyết tìm đến đạo Phật cũng chỉ vì muốn thoát ra những khổ não đời thường.
Ngày ấy, Ngạo Thuyết được giới thiệu với một thanh niên trẻ tuổi nhưng là người học Phật hăng say, vị thiện tri thức này khi ấy là tín đồ của Tịnh Độ Tông. Sơ khởi cuộc trò chuyện người bạn đó khuyên Ngạo Thuyết niệm Phật và lấy Giới làm thầy. Khi đó, Ngạo Thuyết nào biết gì nên không có điều cố kỵ với việc niệm Phật. Nhưng nghe lấy Giới làm thầy thì Ngạo Thuyết thấy không lọt tai nên có chất vấn ngô nghê rằng đâu thể lấy Giới làm thầy vì mình là chủ, mình là đối tượng tạo tác; Nếu giữ Giới thì mình là chủ, Giới chỉ là đối tượng nương nơi chủ thì đâu thể lấy Giới làm thầy cho được. Và người bạn kia chống chế rằng Giới sinh Định, Định sinh Huệ. Do vậy nên lấy Giới làm thầy, Ngạo Thuyết nghe giải thích rồi cũng không lấy làm thỏa mãn nhưng cũng cho qua.
Giới sinh Định, Định sinh Huệ là một luận thuyết sai lầm mà rất nhiều người học Phật kể cả giới Tăng bảo lấy đó làm luận thuyết nền tảng cho việc truyền pháp, chỉ dạy người.
Ngày ấy, Ngạo Thuyết mang trong lòng niềm trăn trở hun hút trong tâm thức – Tâm là gì, Tâm ở đâu, Đạo là gì? – Ngạo Thuyết mang niềm thao thức hỏi một vị Tăng bảo cũng như vài vị thiện tri thức nhưng Ngạo Thuyết đã không tìm ra được câu trả lời chuẩn mực.
Đạo Phật khi ấy với Ngạo Thuyết xa lạ, huyền bí lắm. Phật Thích Ca với Tam Minh, Lục Thông thần biến vô cùng, Phật xa cách quá!
Về sau, Ngạo Thuyết hữu duyên được nghe tác phẩm Đường Xưa Mây Trắng của thầy Thích Nhất Hạnh. Sư ông Làng Mai đã giúp Ngạo Thuyết trông thấy Phật hiền hòa, từ ái và gần gũi. Qua Đường Xưa Mây Trắng, Ngạo Thuyết sinh lòng tin phục, mến mộ, kính trọng thầy Nhất Hạnh. Dù thông điệp Tỉnh Thức của sư ông không đủ sức giúp Ngạo Thuyết thoát ra được những chộn rộn, rối ren nơi cuộc sống đời thường, nhưng sự gần gũi và thi vị của Phật Thích Ca đã đi vào tâm hồn Ngạo Thuyết.
Sau này, việc tự lực hành trì đã giúp đôi mắt Ngạo Thuyết trong sáng hơn khi tiếp vật. Duyên Ngạo Thuyết lại được xem bản dịch Kinh Dấu Chân Voi do sư ông Thích Nhất Hạnh chuyển ngữ, lúc bấy giờ Ngạo Thuyết đã biết sư ông Làng Mai hãy còn lẩn quẩn, đọc thêm vài tác phẩm khác của sư ông Làng Mai góp phần giúp Ngạo Thuyết nhận diện sư ông chỉ có tác phẩm Đường Xưa Mây Trắng là sự thăng hoa Phật tánh, còn những bài pháp thoại khác chỉ là cách trang hoàng, điểm tô cho chiếc bánh vẽ Tỉnh Thức thêm phần tinh tươm, sạch sẽ cùng với một chút hương vị đạo Phật mát lành. Ngạo Thuyết xưa nay thuộc hạng người được không mừng, mất chẳng lo nên cũng chỉ thoáng qua một niềm thất vọng man mác. Chuyện sư ông Làng Mai từ đấy chẳng bận lòng.
Dù vậy vụ việc xung đột tu viện Làng Mai ở Lâm Đồng cũng thoảng qua tai, việc thầy Thích Nhất Hạnh tổ chức Đại Trai Đàn Chẩn Tế Giải Oan cùng với Tăng y xênh xang, tay kết ấn quyết thì lòng tin của Ngạo Thuyết đối với sư ông Làng Mai thoảng tan nhanh như bọt bóng xà phòng. Đành vậy! Rồi thì sư ông Nhất Hạnh xuất huyết não nhập viện, môn hạ đồ tử, đồ tôn của sư ông kêu gọi Phật tử khắp nơi trên thế giới tổ chức cầu an cho sư ông Thích Nhất Hạnh thì hình tích đã rõ quãng đời hoằng pháp, danh tiếng, sự Tỉnh Thức của sư ông đã bị hủy trong tay những môn đồ đệ tử thân tín của sư ông. Sinh già bệnh chết là sự đương nhiên, há có thể cưỡng cầu. Sư ông Làng Mai vì mãi hoằng pháp hay vì một lẽ nào đó đã không có thời gian cho sự rời đi của bản thân một cách nhẹ nhàng. Tỉnh Thức ở sư ông Làng Mai đã rơi vào năng thuyết, bất năng hành.
Công danh, sự nghiệp thoảng một áng mây bay. Sự ra đi khó nhọc của sư ông Làng Mai minh chứng rằng sư ông còn có điều trăn trở, còn việc chưa làm xong nhưng với niệm Tỉnh Thức mà sư ông bảo nhậm bấy lâu – Sự Tỉnh Thức Vô Ký – sư ông sẽ về đâu nơi 3 cõi 6 đường.
Thầy Thanh Từ
Sư ông dòng Thiền Trúc Lâm – Thích Thanh Từ cũng là một phiên bản tương tự của một hành giả không trọn vẹn. Ngày trước, Ngạo Thuyết có qua lại với một Tăng bảo đồ tôn của sư ông và được biết rằng Thiền sinh Thiền viện Thường Chiếu có vài vị còn trẻ đắc pháp rồi liền báo trước ngày giờ và thị tịch. Ngày ấy và cả bây giờ cũng vậy, Ngạo Thuyết dễ tin người, tin rồi bỏ qua và tùy duyên sẽ có khởi nghi, do vậy Ngạo Thuyết cũng tin lời vị Tăng bảo đó nói và qua đó cũng cho Ngạo Thuyết một điều hy vọng rằng hành nhân có thể bỏ xác thị tịch. Và đã lâu rồi, Ngạo Thuyết có thể chứng nghiệm được rằng nếu hành giả chuyên chú hành trì, kiên cố dụng tâm thì việc làm chủ cái chết không khó. Song đối chiếu lại hiện trạng của sư ông Thanh Từ thì Ngạo Thuyết mơ hồ nhận ra Thiền sinh tu học ở Thiền Viện Thường Chiếu có thể tự chủ thị tịch là vấn đề cần xem xét lại. Tông chủ sư môn còn chưa thể an nhiên thị tịch thì đồ tử, đồ tôn đâu dễ làm chủ việc tử sinh, hiển nhiên là sẽ có điều ngoại lệ.
Ngạo Thuyết biết đến sư ông Thanh Từ cũng khá lâu và có xem qua bản dịch kinh Kim Cang và Bát nhã Tâm kinh, với Ngạo Thuyết thì những bản dịch đó không quá sâu sắc, cũng không gần gũi. Chỉ thế thôi! Nước sông không phạm nước giếng.
Khi ấy, gặp những người học Phật tầm sư Ngạo Thuyết vẫn giới thiệu cho họ về với dòng thiền Trúc Lâm. Và cách đây, nhiều năm Ngạo Thuyết có đưa một người em lên Thiền Viện Thường Chiếu dự là người em sẽ xuất gia ở nơi đấy. Ngạo Thuyết vào chùa tham quan Thiền cảnh, Thư viện… và bắt gặp tượng bán thân của sư ông Thanh Từ – Ừ thì Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng.
Khuynh hướng của Ngạo Thuyết là Thiền Tông nên có duyên gặp khá nhiều môn hạ của sư ông Thanh Từ; Với Kim Bài Miễn Tử – Cái Thấy Biết Thường Hằng là bảo vật trấn sơn của dòng Thiền Trúc Lâm. Thiền phái Trúc Lâm có hai tuyệt kỷ – Một là thấy tánh tiếp tục tu; Hai là Cái Thấy Biết Thường Hằng bất biến.
Sự tu hành khởi phải từ lý, sau mới đến sự. Nếu lý đã không thông rồi thì việc hành sự dù có miên mật đi chăng nữa cũng chẳng thể tròn vành được. Lý đã vậy, sự chẳng thể khác được. Vậy mà người học Phật sùng tín, kính tin sư ông Thanh Từ lại cứ chấp thủ tri kiến Phật học sai lầm do chính sư ông tuyên thuyết và ra sức xiểng dương.
Xét lại Cái Thấy Biết Thường Hằng, Cái Đang Là, Tỉnh Thức dễ thường rơi vào hai lỗi chính trong chánh pháp Như Lai tạng. Cụ thể: Lỗi thứ nhất là sự hiện hữu Cái Đang Là, Cái Thấy Biết Thường Hằng, Sự Tỉnh Thức Xuyên Suốt đó là Ngã, đã có Ngã liền sinh ra Ngã Kiến; Lỗi mắc phải nghiêm trọng thứ hai đó là thường hằng, xuyên suốt, bất biến chính là rơi vào Thường Kiến của ngoại đạo.
Cho rằng Phật chứng đạo, người chứng ngộ nhập diệt vẫn còn đó Cái Thấy Biết Thường Hằng, đây là tà kiến chứ không phải là chánh kiến trong Bát chánh đạo. Lý thuyết Phật, người chứng ngộ giữ Cái Thấy Biết Thường Hằng mà không can thiệp, không tạo tác, không chi phối với xã hội loài người thì sự tồn tại đó đâu có ý nghĩa gì, sự tồn tại đã không còn ý nghĩa, vậy tồn tại mãi mãi để làm chi nữa. Và phải chăng Phật Thích Ca biết chế tạo vũ khí nguyên tử, vệ tinh, tàu ngầm…
Nếu Cái Thấy Biết Thường Hằng Bất Biến vậy hiện trạng sư ông Thích Thanh Từ thể hiện rằng ông chưa chứng ngộ và đang chịu sự trả nghiệp.
Quả thật, các vị Tăng bảo hành giả sau khi tỏ ngộ chút ít chánh pháp đã dấn thân hoằng pháp và mất luôn thời gian hành trì hàm thụ. Việc Phật sự bộn bề và các vị Tăng bảo vì không biết buông bỏ, biết dừng lại đúng lúc đã phơi bày ra hiện trạng “Lý sự chẳng đồng”, việc này ít nhiều gì cũng ảnh hưởng đến pháp môn truyền đăng nơi mỗi hành giả. Và vị Tăng bảo chưa chứng ngộ chánh pháp, chưa liễu vô sanh sẽ lại trôi lăn vô định nơi lưới mộng luân hồi. Xét lại thì cũng luống uổng một đời tu học – Tín Nguyện Phụng Hành.
Thầy Thông Lạc
Ngạo Thuyết vẫn luôn giữ niềm kính trọng của mình đối với các vị Tăng bảo tiền bối; Với Ngạo Thuyết họ luôn là những vì sao sáng trên bầu trời Phật giáo Việt Nam. Tuy nhiên thầy Thích Thông Lạc là điều ngoại lệ, Ngạo Thuyết cũng không khinh chê sư thầy Thông Lạc mà chỉ cảm thấy đáng tiếc cho sự học Phật, hành pháp của sư ông Thông Lạc. Sự học Phật bị giới hạn hẳn do sự kém khuyết sự hiểu biết thường thức, từ đó sư ông Thông Lạc rơi vào tình trạng biết 1 ngỡ rằng ngộ 10 nên ra sức hoằng pháp một cách cực đoan, bảo thủ và chủ quan.
Sư ông Thông Lạc vin níu vào một câu kinh dịch không tròn vành, rõ nghĩa – Không Có Linh Hồn trong bản dịch kinh của vị Tăng bảo Thích Minh Châu và từ đó thêm thắt ý tưởng cá nhân vào. Nếu thật sự Không Có Linh Hồn thì rơi vào biên kiến Đoạn Kiến, Tam Tạng kinh liền thành phế vật.
Những luận thuyết của thầy Thích Thông Lạc thường rất cực đoan, chủ quan, bảo thủ. Sư ông Thông Lạc cho rằng dòng Thiền do ông khai mở là Thiền nguyên thủy, pháp tu nguyên thủy nhưng thật ra dòng Thiền nguyên thủy đã là thương hiệu của hệ phái Nam Truyền, Theraveda.
Ở loạt bài Cương Đao Sát Sư, Ngạo Thuyết không có ý mổ xẻ sư Thông Lạc nhiều. Ngạo Thuyết chỉ điểm qua sai lầm nghiêm trọng trong giáo lý của sư ông Thông Lạc là Chấp Thủ – Không Có Linh Hồn và sự bảo thủ của sư ông đã khiến cho môn hạ, đồ tôn của sư ông Thông Lạc có một thời rất cực đoan, hiếu chiến và quá khích.
Có rất nhiều đồ tử, đồ tôn của sư ông Thông Lạc cho rằng sư ông Thông Lạc là một vị A la hán và là vị Tăng bảo duy nhất làm chủ sinh già bệnh chết. Nhận định này quá đỗi ngây ngô, nông cạn và rất cảm tính của những người học Phật sùng tín sư ông Thông Lạc, họ đâu biết rằng trước khi sư ông tịch 15, 20 ngày thì tình trạng của sư ông Thông Lạc là “nội bất xuất, ngoại bất nhập”, chỉ có một người được tiếp xúc sư ông Thông Lạc ở những ngày cuối đời, và hiển nhiên đấy không là chủ ý của sư ông Thông Lạc. Điều này thể hiện rằng sư ông đã không thực sự tự tại như những lời đồn đoán.
Mặt khác, sư ông Thông Lạc không thực chứng A la hán vì lẽ người chứng ngộ A la hán không Toàn Giác như Phật nhưng không thể có kiến giải chánh pháp mắc sai lầm then chốt – Không Có Linh Hồn.
Nếu các bạn muốn tìm hiểu rõ hơn những sai lầm mắc phải ở sư ông Thông Lạc, các bạn có thể tìm trên internet bài viết Giải Mã Hiện Tượng Thích Thông Lạc.

Ham Tiếc Sinh Tử

Ham Tiếc Sinh Tử
Tương truyền có một người đến hỏi Osho rằng:
– Thưa ngài! Tôi nghe tín đồ của ngài Rinpoche nói rằng Phật Thích Ca hiện tồn tại ở tầng thứ 7 trong bậc thang tiến hóa tâm linh; Còn ngài Rinpoche chứng ngộ cao hơn, ngài ấy ở tầng thứ 8 trên bậc tiến hóa. Điều này có đúng không?
Osho mỉm cười:
– Đúng vậy.
Ngay lúc người đến tham vấn còn đang ngẩn người ra suy tư, Osho nở nụ cười tinh quái nói tiếp:
– Ông biết vì sao ta nhận biết điều đó không? Vì ta đang đứng ở tầng thứ 14 nên ta nhìn thấy rất rõ.

Mặt bằng tri thức chung của người học Phật ngày nay hiển nhiên là cao hơn so với sự hiểu biết ở người học Phật thời trước. Và với sự phát triển truyền thông nhờ công nghệ thông tin thì người học Phật ngày nay dễ dàng tiếp cận kinh sách Phật học, một số người học Phật gần như là một pho Tam Tạng kinh sống. Mặc dù vậy người học Phật gần như là không thể ngộ nhập Phật tri kiến, không thể chứng ngộ vô sanh là vì lẽ gì?
Vì bởi tri kiến lập tri tức vô minh bổn, vì người học Phật bị trói vào định kiến “Đây là thời mạt pháp và vì người học Phật Ham Tiếc Sinh Tử.

Do có điều kiện tham khảo kinh sách đạo Phật và được biết đến nhiều pháp môn mang lại sự giác ngộ giải thoát hoàn toàn nên người học Phật ngày nay dễ thường bị rối trí trong mạng lưới tri kiến Phật học cùng những pháp môn tu tập khác nhau. Có người học Phật ngỡ rằng học Phật bằng âm thanh – Quán Âm – Pháp nhĩ căn viên thông, có người học Phật tơ tưởng đến hào quang Phật – Ánh sáng, có người học Phật mong cầu Phật lực gia hộ như là từ trường – Năng lượng, có người lại tin rằng học Phật hay chứng ngộ là một chuỗi những tiến hóa tâm linh – có những nấc thang tâm linh để cho người học Phật tăng trưởng qua từng kiếp sống trong chuổi luân hồi, có người học Phật cho rằng hãy Tỉnh Thức trong từng phút giây, có người học Phật lại bảo hãy Chánh Niệm Tỉnh Giác với Cái Đang Là, ngay nơi đó là Niết bàn, ngay nơi đó là chứng ngộ chẳng cần tìm đâu xa, có người lại rằng người học Phật phải kiến tánh, sống được với Cái Thấy Biết Thường Hằng là chứng ngộ,…

Những định kiến mà người học Phật đang chất giữ, chứa nhóm ở bên trên và cho rằng đó là chứng ngộ, là giải thoát, là nấc thang tiến hóa tâm linh thể hiện rằng sự mong cầu, sự Thường Còn. Đó là sự lệch lạc học Phật ở người học Phật xưa nay. Đó là Ham Tiếc Sinh Tử.
Phật thuyết “Lấy sắc, lấy âm thanh cầu Ta, người ấy hành đạo Tà; Chẳng thể thấy Như Lai”, “Vạn pháp do duyên sinh, do duyên mà diệt”… thì làm gì có cái thường còn, bất biến, có Sinh ắt có Diệt, có Thường tất có Đoạn,… Chỉ khi nào ngộ pháp vô sanh thì mới liễu thoát sinh tử.
Vậy nên nếu người học Phật còn trói trong những định kiến chứa nhóm “Ham Tiếc Sinh Tử” hoặc người học Phật còn Ham Tiếc Sinh Tử mà nói Giác Ngộ Giải Thoát Hoàn Toàn thì chỉ là tà kiến vô minh đâu thể nếm trải được vị niết bàn vô sở đắc, luân hồi cứ thế trôi lăn vô định.
Người học Phật mà học Phật theo lối gieo duyên hoặc cho rằng sẽ tiến hóa tâm linh qua từng kiếp luân hồi cũng là tà kiến khá nên xem xét lại. Vạn pháp là bất định pháp chịu nhiều sự chi phối từ duyên lẫn cộng nghiệp, kiếp này mang thân người duyên may biết đến Phật pháp liệu mai này có còn mang được thân người hay đã mang lông, đội sừng hay đang góp nhặt xác thân từ những mảnh vụn của Không gian và Thời gian thêm nhiều vạn kiếp thì lấy đâu ra sự tiến hóa tâm linh?
Luân hồi nơi 3 cõi 6 đường qua lời Giác Giả đâu từng là một sự tiến hóa luôn luôn hướng lên trên mà là một chuỗi sự sống nhào lên, lộn xuống nơi Tam giới.
Lại nữa, Bồ tát cách ấm còn mê người học Phật còn trong tri kiến vô minh lấy niềm tin, sự hy vọng, lòng tham cầu để tiến hóa tâm linh mà bước lên những nấc thang vươn tới những tầm cao mới chăng?

Hỏi đáp cùng người học Phật

Hỏi đáp cùng người học Phật

Hỏi đáp cùng người học Phật – Phần Hỏi.
Hỏi:
Kính anh, email này tôi có gửi đến anh nhưng có lẽ không đến do sai địa chỉ email. Nay tôi xin viết lại. Như một bệnh nhân đang khai rõ bệnh mình, có những triệu chứng gì để thầy thuốc bắt mạch chẩn đoán và tiện ghi đơn thuốc. Xin anh dành chút thời gian quý báu để tôi trình bày quá trình tìm đạo của tôi:
– 30 năm trước, tôi có tập phương pháp của Ông Tám, Lương sĩ Hằng và tôi có được hiện tượng xuất hồn. Sau khi tôi ngồi thiển hơn 30 phút, lúc nằm xuống tôi thấy tôi vượt ra khỏi cơ thể. Lúc đó tôi có quan sát lại cơ thể mình đang nằm, chỉ thấy một hình dạng như cơ thể con người, có màu tối đen. Thời gian trước tôi có đọc sách Thông thiên Học và biết linh hồn có thể đi xuyên qua bức tường. Và tôi thử khi xuất hồn, tôi không đi ra ngoài phòng bằng lối cửa, mà tôi đi xuyên tường. Lạ thật tôi vượt qua bức tường dễ dàng. Sau đó tôi nhìn xuống đất (lúc đó đang ở trên lầu 1), thấy cảnh vật, cây cối trong một ánh sáng mờ mờ như lúc 6, 7 giờ chiều. Tôi đi một lúc và khi trở lại gần thân thể. Lúc ấy cái tạm gọi là linh hồn bị hút mạnh vào thể xác. Lúc đó tôi tỉnh lại và tôi cố gắng nhớ tư thế lúc ngủ để hy vọng rằng sẽ chủ động xuất hồn lần nữa. Nhưng từ đó hiện tượng xuất hồn không trở lại nữa. Đây là một hiện tượng lạ nhưng tôi nghĩ là do sự hoạt động của óc não nên có thể xảy ra những ảo giác, mặc dù ảo giác này rất thật.
– Thời gian sau nữa, tôi không nhớ rõ. Tôi có quen một anh bạn. Tôi nói với anh ấy là tôi không tin có thế giới vô hình. Và anh bạn dẫn tôi đến một anh bạn khác dạy ở Đại học Mỹ thuật Sài gòn. Anh này tên Nhựt, anh có một ông Lục người Miên theo. Khi anh làm chuyện gì không phải, ông Lục nhập vào và anh tự đánh đập vào cơ thể mình. Khi tỉnh lại anh mới biết. Một lần, tôi và bạn tôi cùng anh Nhựt đi đến nhà một người bạn khác. Anh bạn này thứ Ba, làm nghề chữa bệnh tà ma… Anh Ba và anh Nhựt gặp nhau lần đầu. Khi tôi, bạn tôi và anh Nhật vào nhà. Sau khi chào hỏi, giới thiệu. Anh bạn tôi nói với anh Ba, đây là anh Nhựt có ông Lục người Miên theo, ông Lục này có thể nhập vào bất cứ lúc nào. Lúc này, anh Ba nói: nhập ở đâu chớ tại đây thì không thể nhập vào xuất ra tùy ý được. Ngay lúc đó anh Nhựt thay đổi tư thế, anh khệnh khạng đi đến bàn thờ thắp nhang cặm vào lư hương rồi nói bằng thứ tiếng lạ, tôi không hiểu được ý nghĩa. Anh Ba cũng ngạc nhiên vì ông Lục vẫn nhập vào anh Nhựt dù ngay tại lãnh địa của anh. Định thần lại, anh Ba cũng đối đáp bằng thứ tiếng lạ đó. Hai người vẫn nói năng bằng những âm thanh mà chúng tôi không hiểu nghĩa được. Rồi anh Ba nói với anh Nhật: thôi mình nói bằng tiếng Việt đi, chớ như vầy thì anh em có ai biết được gì đâu. Bấy giờ hai anh nói bằng tiếng Việt, anh Nhựt thì nói giọng lơ lớ như người Miên nói tiếng Việt!.. Bây giờ những anh bạn đó mỗi người một nơi, có anh đã sống ở nước ngoài, còn anh ba Nhựt đã mất do tai nạn giao thông.
– Cạnh nhà tôi có một cô gái khoảng 18 tuổi. Cô này có bà ngoại chết cách đây vài năm. Một lần tôi đi làm về, thấy nhà bên cạnh rất đông người, ồn ào. Hỏi ra mới biết bà lão đã mất nhập vào cô gái 18 tuổi. Cô gái nói chuyện y hệt như một bà già. Cô nhắc chuyện xưa, hỏi thăm những người lối xóm. Cô đòi ăn bánh da lợn. Khi người nhà mua bánh về, bà lão (trên thân xác cô gái 18 tuổi khỏe mạnh) cầm miếng bánh da lợn và ăn miếng bánh da lợn như một bà lão. Cô gái này nói tụi bây cho tao ăn bánh da lợn gì mà dai quá! Sau khoảng một giờ, người nhà nói thôi ngoại nghỉ nói chuyện một lát đi để tụi con ăn cơm. Sau khi gia đình ăn cơm xong, thì cuộc đàm thoại giữa người âm kẻ dương lại tiếp tục!
– Vài sự việc trên đã cho riêng tôi một bài học vô cùng quý báu. Hơn 20 năm trước, khi đọc kinh Thủ lăng nghiêm, sau khi Phật chỉ rõ ông A nan là ông không phải là thân xác, mắt, óc não mà ông chính là tánh Biết thường hằng, bất sinh, bất biến, bất diệt. Lúc đó tôi còn nghi hoặc, tôi không tin. Vì tôi nghĩ đâu là thân, đâu là vọng tâm, đâu là chân tâm. Theo tôi chỉ có óc não là chủ đạo. Khi còn óc não thì còn hai trạng thái: một là tĩnh lặng, sáng suốt tạm gọi là chơn tâm và hai là sự nhận xét phân biệt khen chê, nghĩ quá khứ, tưởng đến tương lai, hạnh phúc, khổ đau… Nếu thân này chết đi óc não hư hoại thì còn đâu cái gọi là chân tâm, vọng tâm nữa??? Và nếu kinh sách hay người nào giải thích có lẽ tôi sẽ không bao giờ tin được.
Nhưng vài sự việc xảy ra mà tôi đã kể ở trên, đủ cho tôi thấy sau khi con người chết đi, thân thể, trí não này dù bị hư hoại đi, tánh Biết vẫn còn tồn tại và vẫn có sự sống sau khi con người chết đi, sau khi thân này, óc não này hư hoại.
– Vài năm sau, tôi đọc quyển Pháp bảo đàn kinh của Lục tổ Huệ Năng và suy tư về ý nghĩa của kinh. Câu mà tôi hay nhớ là: Tổ Huệ Năng bảo Huệ Minh: “Không nghĩ thiện, không nghĩ ác, chính khi ấy cái gì là Bản lai diện mục của Thượng tọa Minh?” Đột ngột, một lần tôi rơi vào một trạng thái lạ lùng. Tôi vẫn sinh hoạt như ngày thường, tôi vẫn đi làm việc, vẫn đang sống với vợ tôi. Tôi có cảm giác trong lòng hạnh phúc, thơ thới không tả được. Cảnh vật bên ngoài hình như sáng rỡ, lung linh. Trong thời gian rơi vào trạng thái này, hầu như tôi không còn suy nghĩ, phân biệt gì. Toàn bộ bộ máy suy nghĩ như dừng lại. Tôi cảm giác không một chút phiền muộn, thân thể như nhẹ nhàng hơn nhiều. Nếu suốt cuộc đời như ba ngày mà tôi trãi nghiệm có lẽ không thể dùng bất cứ gì để đánh đổi. Tôi nghĩ rằng mình đã rơi vào trạng thái ngộ đạo hay gì gì đó rồi. Nhưng sau ba ngày tôi trở lại bình thường như mọi ngày!

– Kính anh, còn những chuyện lạ khác, tôi xin được không kể ra. Nhưng tất cả sự việc xảy ra, cuối cùng cho tôi cảm nhận, tin tưởng tuyệt đối là có một đấng, hay một lực vô hình toàn tri, toàn năng. Và cũng có những vị phò trợ vô hình, họ có thể theo hướng dẫn cho mỗi người suốt một kiếp người. Vì tin như thế, tôi thường đứng thành tâm khấn nguyện Ơn Trên cho tôi gặp được một phương pháp có thể theo đó mà hòa với Ơn Trên sống với bản chất thực của mình… Đồng thời cho tôi gặp những bạn đạo cùng ý hướng… Trong hơn năm nay tôi có đọc được những trải nghiệm và bài giảng của đạo sư Duy Tuệ, và ba quyển sách của ông Eckhart Tolle (sức mạnh của hiện tại, sức mạnh của sự Tĩnh lặng, Một thế giới mới). Gần đây tôi biết được nhiều đạo hữu khác. Tất cả đều đem lại cho tôi những bài học, kinh nghiệm hữu ích.
Thưa anh, bây giờ tôi xin được nói về ý kiến cá nhân của tôi:
– Phật và Ơn Trên ai hơn ai? Tôi nghĩ, trước khi đức Phật Thích Ca sinh ra thì đã có chư Phật, vô số Phật đã thành rồi. Phật Thích Ca cũng là người như chúng ta. Nhưng ngày đã nhận lại và sống với bản lai diện mục, sống lại với tánh Vô Cùng sẵn có. Và vũ trụ từ vi mô đến vĩ mô, khoảng không gian bao la không ngằn mé này đã có trước lâu lắm rồi. Nhưng khi tôi tin có Thượng Đế ( tạm gọi là vậy ) hoặc lực tối cao, hoặc thái cực hay gì gì đó thì có một câu hỏi trong tôi lại xuất hiện: Ai sinh ra Thượng đế đây? Đây là điều không thể hiểu nổi. Con người với trí óc hạn hẹp không thể trả lời câu hỏi này được.
– Không thể phân chia đạo Phật làm Phật giáo nguyên thủy hay Đại thừa hay gì gì nữa. Vì Phật Thích Ca đã nói “Đạo ta chỉ có một vị duy nhất là giải thoát”.
– Phật giáo có vô số (84.000 pháp môn) được chia ra làm 3 tông: Thiền, Tịnh, Mật . Chúng sinh tùy chỗ chấp của mình mà chọn một trong 3 tông. Nhưng đích đến cũng là một. Như trong đời thường, bệnh về thể xác có nhiều loại từ bệnh nhẹ là cảm cúm đến bệnh các tạng phủ, bệnh do vi trùng… Mỗi bệnh phải dùng một số thuốc đặc hiệu. Nhưng đích đến vẫn là một: là sự khỏe mạnh. Do đó nếu tôi đau đầu do cảm, tôi uống loại thuốc này rất hay. Nhưng tôi không thể chỉ cho một người bị đau đầu do bị bệnh cao huyết áp được. Một thí dụ khác, hai người đi trên cầu khỉ. Người hướng dẫn không thể bảo hai người là phải cùng nghiêng bên phải hay bên trái được. Vì nếu 1 người đi trên cầu có khuynh hướng nghiêng phải thì anh hướng dẫn phải yêu cầu người ấy nghiêng về bên trái để được thăng bằng. Còn người đi trên cầu có khuynh hướng nghiêng trái thì anh hướng dẫn không thể nghiêng thêm bên trái được. Tôi nghĩ Phật Pháp là bất định pháp. Tùy chỗ chấp, chỗ sai lầm của chúng sinh mà có một phương cách thích hợp. Trong y dược, Sâm Nhung vô cùng tốt với người suy nhược cơ thể, huyết áp thấp. Nhưng sâm nhung lại tối kỵ cho người bị bệnh cao huyết áp!
– Những phương pháp tôi đã biết đã hành tôi tin rằng đều do các vị phò trợ vô hình hướng dẫn. Có những phương pháp áp dụng rồi không còn áp dụng nữa. Tôi cho đó là sự ôn tập những gì đã tu tập ở kiếp trước. Mọi việc xảy ra đều là bài học cho mình. Mọi bạn đạo đã quen biết đều có nhân duyên từ những kiếp trước và từ họ có thể có lợi ích cho mình và ngược lại.
– Trong đạo Phật không có người nhỏ tuổi hay lớn tuổi hơn mình. Cũng như bây giờ tôi (64 tuổi) và một ông lão 100 tuổi. Năm sau ông lão chết và tái sinh trở lại. Lúc này thì tôi đã già hơn ông lão (vì lúc này ông mang thân xác của một em bé). Cuộc đời ví như một tuồng hát. Tôi thí dụ có thể hiện giờ anh đóng vai đạo sư. Tôi đóng vai bác sĩ. Hoặc ai khác đóng vai kẻ ăn xin… thì cũng chẳng qua là vai diễn. Và ai cũng có sẵn Phật tính (Chơn như, Bản lai diện mục, tánh Giác, tánh Biết thường hằng bất sinh bất diệt). Nếu chúng ta chấp vào vai diễn tạm trong kiếp này mà quên đi Phật tánh sẵn có thì chúng ta bị trôi lăn theo sinh tử vô thường. Còn chúng ta sống với tánh Biết vốn có thì chúng ta đã sống với cái bản chất Vô cùng của mình rồi.
– Bản chất của vũ trụ (Phật tánh) là bất sinh bất diệt tròn đầy. Dù dưới hình hài của người trí, kẻ ngu, con vật… cũng mang bản chất của vũ trụ, cũng hàm chứa Phật tánh từ lúc mới sanh. Như nước biển, dù ở biển rộng bao la, hoặc dù rót vào bình, vào chai, vào lu thì đều là nước biển chớ không khác nhau do chúng được chứa vào vật đựng! Bản chất này không cần làm gì hết cũng là nước biển, cũng là Phật tánh sẵn có. Như vậy chỉ cần nhận lại và sống với Phật tánh có sẵn chớ thật ra không cần phải động thủ, chẳng cần phải tu (đó là ý riêng của tôi).
– Tôi tin lời đức Phật Thích Ca nói: Chúng sinh ai cũng có Phật tánh (bản chất của cái vô cùng, điểm linh quang của Thượng đế theo đạo Cao Đài, bản lai diện mục, Chơn Tâm…). Do đó chỉ cần nhận lại Phật tánh và sống với Phật tánh là đạt được ý nguyện của kiếp nhân sinh. Nhưng đó chỉ là sự hiểu biết bằng trí óc (vẫn là dựa trên sinh diệt) chứ thật ra bấy lâu tôi vẫn cứ loay hoay. Tôi như con côn trùng cứ cố sức bay ra khỏi phòng nhưng không tìm được cửa mà cứ đâm đầu vào vách!
Tôi lại nghe nói tâm yên thì Phật tánh hiển lộ. NHƯNG LÀM CÁCH NÀO TÂM YÊN??? Tôi không biết tu có cần phải ngồi thiền hay không. Ngồi là ngồi bao lâu và khi ngồi phải làm gì, để tâm yên hay quán xét một vấn đề gì. Còn lúc không ngồi (đi, đứng, nằm) thì phải tu như thế nào. Lúc đối diện với sắc (hình ảnh, màu, nam nữ, tiền bạc…), thanh (tiếng xe cộ, chửi rủa, khen chê, tiếng nhạc êm đềm, âm thanh chát chúa…), hương (mùi thơm, thối, mùi tóc, mùi thức ăn…), vị (mặn, ngọt, chua, cay, đắng…), xúc (sự tiếp xúc của thân này với tất cả các đối tượng )… thì phải tu như thế nào, phải sống như thế nào mới có thể trực nhận được chân lý??? Thật sự đây là một vấn đề quá hóc búa cho con người. Và với cá nhân tôi dù đây là chuyện tôi đã lưu tâm từ lâu vẫn không thể bước thêm một ly nào! Cho nên nghe anh viết, trình bày và xác nhận rằng anh đã đến nơi Phật Thích Ca đến, tôi hết sức vui mừng. Xin anh chẩn bệnh và bốc thuốc cho tôi để được tỉnh mộng thực sự, tỉnh mộng hoàn toàn. Tôi nguyện khi tỉnh thức sẽ đem mọi khả năng để tìm người thực tâm muốn trở về nhà, tìm mọi cách để họ có thể về được quê xưa như mình.
Thành tâm mong được sự khai ngộ của anh. Kính chúc anh luôn vui khỏe.

Hỏi đáp cùng người học Phật – Phần Trả lời

Hỏi đáp cùng người học Phật – Phần Trả lời
Trả lời:
Chào chú! Cháu là Tuấn, cũng là Vô Ưu,… những tên gọi đó chỉ là giả danh nó không thật cũng như bản chất vô thường của vạn pháp. Về những sự trải nghiệm của chú như việc xuất hồn, cảm giác thăng hoa thơi thới 3 ngày hay việc biết đến những người bị vong nhập thì với cháu không có gì đáng ngạc nhiên bởi cháu đã từng chạm đến không chỉ 1 lần…
Hẳn là chú không ngồi thiền theo phương pháp xuất hồn lâu rồi… Nói về phương pháp của thầy Lương Sĩ Hằng thì cháu khách quan đánh giá “ Đó không phải là pháp hành của Phật mà là pháp tu đã chịu sự ảnh hưởng của đạo Lão, gốc của việc xuất hồn là tạo thánh thai, hình thành huyễn thân, xuất huyễn thân rong chơi tiêu diêu, tự tại”. Với pháp tu này thì nếu người có định lực yếu dễ rơi vào hoang tưởng do bị tâm ma nhiễu loạn hoặc do bị các vong mượn nhà, đoạt xác. Còn trường hợp người định lực vững mà không rõ biết pháp tu thì sẽ tự nâng cao bản ngã, cái tôi. Điều này sẽ chướng ngại cho sự giác ngộ, giải thoát hoàn toàn. Có thể xem đây là một dạng của phép tu tiểu thừa. Nếu hành pháp tinh chuyên, thông suốt mà không kịp phá bỏ cái tôi trước khi nhắm mắt thì người hành pháp sẽ đạt 1 trong 4 quả vị thánh hoặc tự tạo ra tiên cảnh mà thọ dụng. Với trường hợp tạo ra tiên cảnh thì lâu về sau nhàm chán sẽ quay lại luân hồi nơi 3 cõi…
Cảm giác thảnh thơi, thoát tục là cảm giác thường thấy của người tu bên dòng thiền. Nó giúp người tu tin rằng cảm giác an lạc, tự tại là thật có khi con người thoát ra khỏi những dính mắc lợi danh, tiền của, mê đắm,… Và có lẽ mỗi người chỉ có cơ may nếm trải 1 lần cảm giác đó trong đời. Điều này giúp người học Phật tin sâu vào sự giải thoát hoàn toàn. Việc thần thức rời khỏi thân xác thì người hành pháp có thể chạm đến nhiều lần nhưng việc làm đó không hẳn là rất cần thiết cho việc giải thoát hoàn toàn. Vấn đề quan trọng nhất của đạo giải thoát là dùng sự hiểu biết để phá bỏ cái tôi mà mỗi người chấp giữ đã bao đời nay. Đây mới thật là vấn đề khó cho người hành pháp. Do chấp ngã, chấp vô ngã, chấp có, chấp không, chấp tâm, chấp cảnh, chấp việc đạt pháp, việc xuất hồn, việc kỳ đặc khi ngồi thiền, chấp giữ sự hiểu biết của mình là cùng tột,… mà người học Phật không thể chạm đến nguồn an lạc, tự tại ngay trong hiện kiếp. Và… đến khi rơi vào luân hồi, (Nếu duyên tốt nhập vào thai người) việc nhập thai ngục 9 tháng 10 ngày, quá trình trưởng dưỡng tuổi thơ, rồi việc học hỏi, giáo dục thiên lệch, chủ quan thì “người trở lại” đã quên công phu hành pháp tiền kiếp mà mãi không thoát ra được 3 cõi 6 đường.
Phật và Ơn Trên ai hơn ai? Tôi nghĩ, trước khi đức Phật Thích Ca sinh ra thì đã có chư Phật, vô số Phật đã thành rồi. Phật Thích Ca cũng là người như chúng ta. Nhưng ngài đã nhận lại và sống với bản lai diện mục, sống lại với tánh Vô Cùng sẵn có. Và vũ trụ từ vi mô đến vĩ mô, khoảng không gian bao la không ngằn mé này đã có trước lâu lắm rồi. Nhưng khi tôi tin có Thượng Đế ( tạm gọi là vậy ) hoặc lực tối cao, hoặc thái cực hay gì gì đó thì có một câu hỏi trong tôi lại xuất hiện: Ai sinh ra Thượng đế đây? Đây là điều không thể hiểu nổi. Con người với trí óc hạn hẹp không thể trả lời câu hỏi này được.
Xem ra chú phải bỏ hết cái biết của mình thì mới có thể liễu nghĩa Tam tạng kinh. Hay nói cách khác chú phải bỏ cái biết của chú thì cháu mới có thể chọn thuốc giúp chú được. Chú có đồng ý không?
Vì không có điều kiện tiếp xúc chú nhiều nên cháu cần chú “gác” cái biết của chú sang 1 bên. Cho đến khi chú tham khảo sách và những giải trình của cháu xong thì chú hãy khách quan đánh giá. Nếu những điều cháu nói là vô ích, không có giá trị thì chú “vất đi” và dùng lại cái biết chú đã góp nhặt và cho rằng đúng hơn.
Chú đã tham khảo khá nhiều giáo lý các tôn giáo khác nhau. Trong đó có cả đạo Cao Đài. Có những sách viết đúng, có những sách viết không ổn nhất là những sách do những người chưa thực chứng viết hoặc dịch giải ra. Bởi do có câu “Y kinh giải nghĩa Tam thế Phật Oan, Ly kinh nhất tự tức đồng ma thuyết – y kinh giải nghĩa thì oan cho cả 3 đời chư Phật, còn bằng rời kinh dù chỉ là một chữ tức là lời ma nói; cái chữ rời kinh mà thuyết để thành lời ma nói chính là chữ Tâm, rời Tâm mà nói thì là lời hư dối, lời ma mị”. Vì biết nhiều nên chú sẽ rối. Bây giờ cháu sẽ gỡ rối từ từ xem chú có vừa ý không trước đã.
Cháu khẳng định “Không ai hơn Phật Thích Ca”. Ơn trên, thánh Ala,… chỉ là một cụm từ chung chung và cũng là một dạng chúng sinh nơi 6 đường. Đó chính là nẻo Trời mà giáo lý nhà Phật đã chỉ ra. Cháu cũng không là đệ tử Phật, không còn là người học Phật, người bảo vệ Phật nên không có lý do gì để tâng bốc Phật Thích Ca. Chú còn nhớ câu “Thiên thượng, thiên hạ duy ngã độc tôn – chỉ có cái ngã là cao quý hơn cả; cái ngã đó là cái ngã trùm khắp, là Tâm, là Phật chứ không phải là cái tôi nhỏ bé mà mỗi người đang chấp giữ. Và … Vạn Pháp Quy Tâm hay nói cách khác là vạn pháp do tâm sinh đã lý giải những gút mắc về sự tồn tại của thượng đế, thánh Ala, chúa Jesu mà chú đề cập và nó cũng lý giải được câu “Ai là người sinh ra thượng đế đây?” của chú. Vấn đề thượng đế chú đã “hiểu nỗi” chưa? Chỉ do tâm tạo. Tâm của ai tạo? Tâm của người tạo chứ không phải tâm Phật. Tâm Phật chỉ tạo ra duy nhất Tam tạng kinh và do chúng sinh, vì chúng sinh 3 cõi mà Phật Thích Ca đã lập ngôn. Chú đừng bận tâm về những vị Phật quá khứ vì những vị Phật đó không tồn tại; chú chỉ cần biết 2 vị Phật là đủ. Đó là vị Phật Thích Ca và vị Phật là chú. Con người với trí óc phân biệt dính mắc sẽ không thể trả lời rốt ráo những vấn đề nơi sự sống, vũ trụ nhưng người nào sống với cái biết sáng rõ, khách quan, không dính mắc sẽ rõ mọi sự việc trên như giữa ban ngày. Vấn đề này chú đã thông chưa? Nếu chú thấy chưa thỏa đáng thì cứ nói chỗ không thỏa đáng cháu sẽ lý giải tường tận vì vấn đề này cháu rõ biết.
Không thể phân chia đạo Phật làm Phật giáo nguyên thủy hay Đại thừa hay gì gì nữa. Vì Phật Thích Ca đã nói: đạo ta chỉ có một vị duy nhất là giải thoát.
Nói không chia cũng không được chú à. Vì lẽ người ta đã chia rồi, vạn pháp do tâm sinh mà nhưng người đạt sự giác ngộ sẽ không chấp vào điều đó. Đại thừa, nguyên thủy, tiểu thừa,… rõ biết rồi không dính mắc nữa. Dù vậy, nếu người nào tin nhận mà chưa thông suốt thì vẫn nên tỏ bày không dính mắc, đền trả từ bi Tâm của Phật; còn những người u mê, tự phụ thông minh hơn người, không đủ duyên đành tùy thuận im lặng như người chết. Vì nói không đúng thời sẽ gây ra điều chống trái, hiềm khích,…
Phật giáo có vô số (84.000 pháp môn) được chia ra làm 3 tông : Thiền, Tịnh, Mật. Chúng sinh tùy chỗ chấp của mình mà chọn một trong 3 tông. Nhưng đích đến cũng là một. Như trong đời thường, bệnh về thể xác có nhiều loại từ bệnh nhẹ là cảm cúm đến bệnh các tạng phủ, bệnh do vi trùng… Mỗi bệnh phải dùng một số thuốc đặc hiệu. Nhưng đích đến vẫn là một: là sự khỏe mạnh. Do đó nếu tôi đau đầu do cảm, tôi uống loại thuốc này rất hay. Nhưng tôi không thể chỉ cho một người bị đau đầu do bị bệnh cao huyết áp được. Một thí dụ khác, hai người đi trên cầu khỉ. Người hướng dẫn không thể bảo hai người là phải cùng nghiêng bên phải hay bên trái được. Vì nếu 1 người đi trên cầu có khuynh hướng nghiêng phải thì anh hướng dẫn phải yêu cầu người ấy nghiêng về bên trái để được thăng bằng. Còn người đi trên cầu có khuynh hướng nghiêng trái thì anh hướng dẫn không thể nghiêng thêm bên trái được. Tôi nghĩ Phật Pháp là bất định pháp. Tùy chỗ chấp, chỗ sai lầm của chúng sinh mà có một phương cách thích hợp. Trong y dược, Sâm Nhung vô cùng tốt với người suy nhược cơ thể, huyết áp thấp. Nhưng sâm nhung lại tối kỵ cho người bị bệnh cao huyết áp!
Phật giáo có 84000 pháp môn. Cái này bỏ đi vì đó chỉ là một lời nói nó không có nhiều giá trị, nó chỉ mang tính ước lệ rằng có rất nhiều cách để đạt được sự giải thoát hoàn toàn dù rằng không cần tỏ ngộ hết tất cả vạn pháp mà chỉ cần tỏ ngộ về sự giải thoát hoàn toàn. Vì nó và sự tỏ ngộ không đúng mực mà đệ tử Phật đã chia tông, rẽ giáo Thiền, Tịnh, Mật làm rối mắt nhân gian, khiến người học Phật rơi vào lối rẽ, đường cùn. Thử hỏi đã có mấy ai nhờ Thiền, Tịnh, Mật mà thành Phật? Phật pháp là bất định pháp là đúng nhưng phải nói thêm sự giải thoát hoàn toàn là định pháp thì mới đủ nghĩa về pháp Phật. Vậy nên Phật pháp là là định pháp và cũng là bất định pháp. Giáo lý nhà Phật lẽ ra là sống nhưng vì người học Phật tự trói mình vào Tam tạng kinh khiến kinh điển chết vì thế đạo Phật mới rơi vào thời mạt pháp. Trong giáo lý, kinh điển các tôn giáo thì chỉ có kinh điển đạo Phật là kinh điển mở nhưng vì kém hiểu biết người học Phật đã khiến kinh điển nhà Phật chết và mất dần giá trị. Việc tùy bệnh mà cho thuốc là việc làm rất đúng mực, có ý nghĩa.
– Những phương pháp tôi đã biết đã hành tôi tin rằng đều do các vị phò trợ vô hình hướng dẫn. Có những phương pháp áp dụng rồi không còn áp dụng nữa. Tôi cho đó là sự ôn tập những gì đã tu tập ở kiếp trước. Mọi việc xảy ra đều là bài học cho mình. Mọi bạn đạo đã quen biết đều có nhân duyên từ những kiếp trước và từ họ có thể có lợi ích cho mình và ngược lại.
Mong rằng chú bỏ qua niềm tin các vị vô hình hướng dẫn. Cháu không nói họ không tồn tại vì cháu đã từng tiếp xúc họ. Trên thực tế họ không biết đường thì làm sao có thể hướng dẫn chú cho đặng. Họ còn đang không rõ lối đi cho chính họ thì sao có thể giúp chú. Những người rõ biết đường thì đều nhập niết bàn tịch diệt cả rồi. Lời này cháu nói không hư dối chú à. Nếu chú tỏ ngộ thì chú còn phải giúp ngược lại họ, khuyên họ giải thoát khỏi thể không hư dối hoặc tìm lấy một hình người tu tập thoát luân hồi…
– Trong đạo Phật không có người nhỏ tuổi hay lớn tuổi hơn mình. Cũng như bây giờ tôi (64 tuổi) và một ông lão 100 tuổi. Năm sau ông lão chết và tái sinh trở lại. Lúc này thì tôi đã già hơn ông lão (vì lúc này ông mang thân xác của một em bé). Cuộc đời ví như một tuồng hát. Tôi thí dụ có thể hiện giờ anh đóng vai đạo sư. Tôi đóng vai bác sĩ. Hoặc ai khác đóng vai kẻ ăn xin… thì cũng chẳng qua là vai diễn. Và ai cũng có sẵn Phật tính (Chơn như, Bản lai diện mục, tánh Giác, tánh Biết thường hằng bất sinh bất diệt). Nếu chúng ta chấp vào vai diễn tạm trong kiếp này mà quên đi Phật tánh sẵn có thì chúng ta bị trôi lăn theo sinh tử vô thường. Còn chúng ta sống với tánh Biết vốn có thì chúng ta đã sống với cái bản chất Vô cùng của mình rồi.
Thực ra có lớn, có nhỏ vì ông cụ 100 tuổi khi trở thành một em bé đã không còn nhận biết về tiền kiếp của mình, bảo họ là 1 e rằng không phải lẽ; Dù vậy họ cũng chẳng phải 2. Tuy nhiên, với giao tiếp thông thường thì gặp người lớn gọi ông, gặp em bé kêu cháu thì ổn hơn.
Cháu sẽ nói rõ một chút về đạo Phật. Đạo Phật là đạo giác ngộ, giải thoát hoàn toàn. Giác ngộ đơn giản chính là sự hiểu biết; giác ngộ giải thoát hoàn toàn là sự hiểu biết sáng rõ đúng thật về sự giải thoát hoàn toàn. Thế nên sự hiểu biết đúng mực, đủ đầy về sự giải thoát là điều kiện tiên quyết giúp con người vượt khỏi luân hồi. Là chìa khóa để buông bỏ cái tôi mà mỗi người đang chấp giữ. Cái tôi mà mỗi con người đang chấp giữ chính là nguyên nhân khiến con người nhào lên, lộn xuống trong 3 cõi 6 đường.
Vì vậy cháu sẽ chỉnh sửa lại khái niệm Phật tính của chú. Phật tính chính là tánh giác, tánh biết về sự giải thoát hoàn toàn, là phần động, có tích lũy, gom góp; còn chân như, bản lai diện mục thì tạm gọi là Tâm, là phần tĩnh. Dù rằng cái biết sau cùng cũng phải buông bỏ nhưng phải biết rõ đúng sai, chẳng sinh lòng yêu ghét thì việc buông bỏ mới dễ dàng.
– Bản chất của vũ trụ (Phật tánh) là bất sinh bất diệt tròn đầy. Dù dưới hình hài của người trí, kẻ ngu, con vật… cũng mang bản chất của vũ trụ, cũng hàm chứa Phật tánh từ lúc mới sanh. Như nước biển, dù ở biển rộng bao la, hoặc dù rót vào bình, vào chai, vào lu thì đều là nước biển chớ không khác nhau do chúng được chứa vào vật đựng! Bản chất này không cần làm gì hết cũng là nước biển, cũng là Phật tánh sẵn có. Như vậy chỉ cần nhận lại và sống với Phật tánh có sẵn chớ thật ra không cần phải động thủ, chẳng cần phải tu đó là ý riêng của tôi).
Bản chất vũ trụ không là Phật tánh mà là tâm, là vạn pháp. Thế nên lập ngôn của chú có điều không ổn. Chúng sinh 3 cõi đều có Phật tánh là đúng nhưng chỉ có chúng sinh nẻo người đang tìm và đi trên con đường giác ngộ giải thoát may ra mới nhận biết Phật tánh mà thôi. Và ngày nay rất ít trong số họ sống bằng Phật tánh mà đạt được giải thoát hoàn toàn. Vì vậy hiện có rất ít người thoát khỏi luân hồi dù rằng có nhiều hơn điều kiện tiếp xúc kinh điển nhà Phật. Do có Phật tính mà không thể nhận biết thì khác gì không có Phật tính. Hơn nữa, nhận biết đã khó, sống đúng bằng Phật tánh càng không dễ. Thế nên bảo chỉ cần nhận lại và sống bằng Phật tánh sẵn có mà không cần động thủ, không cần tu e rằng hơi mạo hiểm trừ phi liễu ngộ vạn pháp, liễu ngộ Phật tánh. Nếu muốn làm được điều đó thì hãy tự xét lại căn cơ xem tự thân là người tiệm tu hay đốn ngộ. Người tiệm tu cần hành trì miên mật bảo nhậm bản tâm; người tu đốn ngộ sau khi nhận diện được bản tâm tự tu, tự hành cho đến khi liễu ngộ hoàn toàn thì tu mà không tu, hành mà không hành, không hành mà hành.
– Tôi tin lời đức Phật Thích Ca nói: Chúng sinh ai cũng có Phật tánh (bản chất của cái vô cùng, điểm linh quang của Thượng đế theo đạo Cao Đài, bản lai diện mục, Chơn Tâm…) .
Chú bỏ cái hiểu của đạo Cao Đài đi. Tôn giáo này là một bản photo, góp nhặt giáo lý các tôn giáo khác 1 cách không hoàn chỉnh, rơi vào đó càng rối trí thêm. Nếu liễu ngộ thì họ đã không đem thánh thần, thiên địa, Phật,… đặt cả lên bàn thờ và đưa thượng đế làm chủ tể của muôn vật; Rồi vẽ bày Phật tánh là điểm linh quang của thượng đế, còn trói con người với thượng đế thì việc giải thoát quá xa vời.
Do đó chỉ cần nhận lại Phật tánh và sống với Phật tánh là đạt được ý nguyện của kiếp nhân sinh. Nhưng đó chỉ là sự hiểu biết bằng trí óc (vẫn là dựa trên sinh diệt) chứ thật ra bấy lâu tôi vẫn cứ loay hoay. Tôi như con côn trùng cứ cố sức bay ra khỏi phòng nhưng không tìm được cửa mà cứ đâm đầu vào vách!
Và đến đây thì chú đã tự khẳng định về điều chú nói trước đó “chỉ cần nhận lại và sống bằng Phật tánh mà không cần phải hành trì” là có điều chưa ổn. Phải chăng chú tin mình có Phật tánh mà chưa sống được? Thế nên pháp xuất thế gian chẳng thể dùng cái hiểu biết, tư duy chủ quan mà thâm nhập được, chú Hải à! Chú đã hội đủ rất nhiều yếu tố để vượt khỏi luân hồi như sự tín tâm Phật tánh, tin nhận có thế giới vô hình,… Tuy nhiên, chính cái biết chưa thông suốt đang trói chú. Trong cái biết của chú có những cái đúng, có những cái sai, chú cứ thong thả gạn lọc lại, khi nhận ra những cái sai là chú sẽ có được cái đúng. Và với một sự khách quan chú hãy xem sách của cháu rồi cho cháu biết chú tìm được gì hay không thấy có gì mới so với những gì chú đã biết. Những điều gì chú cảm thấy chưa ổn, những gút mắc chú cứ trao đổi thẳng thắn với cháu. Cháu sẽ cùng chú mở những nút thắc đó. Đạo Phật là đạo hiểu biết vì thế hãy dùng sự hiểu biết để khai mở những điều chưa rõ về con đường giác ngộ giải thoát hoàn toàn.
Tôi lại nghe nói tâm yên thì Phật tánh hiển lộ. NHƯNG LÀM CÁCH NÀO TÂM YÊN?
Đây là câu nói đúng nhưng hơi vụng. Nó tựa như câu tâm bình thường thị đạo nhưng thế nào là tâm bình thường thì lại không nói rõ khiến người chẳng biết đường hành.
Tôi không biết tu có cần phải ngồi thiền hay không. Ngồi là ngồi bao lâu và khi ngồi phải làm gì, để tâm yên hay quán xét một vấn đề gì. Còn lúc không ngồi đi, đứng, nằm) thì phải tu như thế nào. Lúc đối diện với sắc (hình ảnh, màu, nam nữ, tiền bạc…), thanh (tiếng xe cộ, chửi rủa, khen chê, tiếng nhạc êm đềm, âm thanh chát chúa…), hương (mùi thơm, thối, mùi tóc, mùi thức ăn…), vị (mặn, ngọt, chua, cay, đắng…), xúc (sự tiếp xúc của thân này với tất cả các đối tượng )… thì phải tu như thế nào, phải sống như thế nào mới có thể trực nhận được chân lý??? Thật sự đây là một vấn đề quá hóc búa cho con người. Và với cá nhân tôi dù đây là chuyện tôi đã lưu tâm từ lâu vẫn không thể bước thêm một ly nào…
Lục Tổ Huệ Năng đã từng nói tụng kinh, niệm Phật, ngồi thiền,… là nhị pháp còn Phật pháp là pháp bất nhị. Dù vậy Lục Tổ không khiến người tu không ngồi thiền mà là đừng quá chấp chặt việc ngồi thiền. Thế nên việc ngồi thiền là tùy thuận, có điều kiện thì ngồi, ít nhiều, thời gian là tùy thuộc vào hoàn cảnh mỗi người. Việc ngồi thiền giữ tâm lặng lẽ, lắng tâm sẽ giúp trí não khỏe mạnh, thân thể máu huyết cân bằng sẽ góp phần khai mở cái biết sáng rõ, đúng mực về con đường giải thoát hoàn toàn. Những lúc không ngồi thì “Tâm bình thường là đạo”, sắc thanh hương vị xúc là cảnh, cảnh vốn vô thường thì đừng tham đắm cảnh mà khiến tâm cũng vô thường, vọng tâm làm chủ, thường sống bằng vọng tâm sẽ hiển bày tham sân si mạn nghi là những tánh biết dính mắc khiến con người trôi nổi trong lục đạo… Chú cứ giữ tâm bình thường, an nhiên thì về sau chú sẽ nhận biết mình đã tiến xa chứ không chỉ là bước thêm vài ly. Điều quan trọng ở cái biết, trí tuệ khai mở và phải hằng sống với cái biết đúng mực, sáng rõ – Tâm bình thường là đạo.
Cho nên nghe anh viết, trình bày và xác nhận rằng anh đã đến nơi Phật Thích Ca đến, tôi hết sức vui mừng. Xin anh chẩn bệnh và bốc thuốc cho tôi để được tỉnh mộng thực sự, tỉnh mộng hoàn toàn. Tôi nguyện khi tỉnh thức sẽ đem mọi khả năng để tìm người thực tâm muốn trở về nhà, tìm mọi cách để họ có thể về được quê xưa như mình.
Cháu rất trân trọng tâm nguyện của chú. Vì thế cháu sẽ làm mọi cách có thể những mong chú đạt thành sở nguyện nhưng chính chú mới là người tự giải thoát cho chính mình. Tuy nhiên, cháu lại thêm một lần nữa khiến chú rối trí 1 chút. Thật không có nhà, không có quê xưa để về. Vì nếu còn muốn tìm về quê xưa, nhà cũ thì còn trôi nổi; vấn đề chỉ là sự dừng lại hay tiếp tục đi trong luân hồi mà thôi.
Không sai, cháu có nói đã đến nơi Phật Thích Ca đã đến. Đó là khi cháu nhận lại tánh giác. Khi rõ biết và sống với tánh giác thì có nơi nào người học Phật không đến được, 3 cõi ra vào tự tại, thường sống nơi niết bàn. Dù vậy niết bàn không phải là cảm giác thăng hoa, thoát tục, thơi thới mà chú đã từng tiếp xúc. Đó chỉ đơn giản là thường an lạc tịnh.
Chúc chú khỏe mạnh và sớm khai mở nguồn tâm, sống được nơi chân như.

Phải chăng chú đã 64 tuổi? Thế thì chú càng nên quen dần với việc buông bỏ thì sẽ tốt hơn. Cánh cửa cuối đường hầm và Dứt Phàm Thành Thánh có lẽ sẽ có chút ít giá trị đối với chú.
Thật ra con người còn sống là còn vướng cảnh là việc rất bình thường. Có điều vướng nhiều hay vướng ít, biết đến Phật tánh là phải biết buông bỏ, buông bỏ từ từ, từng chút một và rồi đời sống ngày càng thảnh thơi, an lạc hơn. Việc chú bị trôi theo những suy nghĩ viển vông là điều dễ hiểu vì chú đang sống kia mà. Nhưng chú hãy rèn luyện sự tỉnh thức đừng dính mắc vào những suy tư viễn vông đó, cái nào làm được thì làm; không làm được thì bỏ đi. Sự hiểu biết tự tánh vạn pháp sẽ có ích cho chú. Chú cứ tham khảo sách của cháu qua 1 lượt rồi xác định lại “cháu có chỗ để dùng không?” và trao đổi thêm. Nếu chú thấy cháu có chỗ không ổn thì chú cứ thẳng thắn chỉ rõ. Cám ơn chú đã liên lạc!