Lưu trữ hàng tháng: Tháng Hai 2013

LAI QUẢ THIỀN SƯ

LAI QUẢ THIỀN SƯ

THIỀN THẤT KHAI THỊ LỤC 

Việt Dịch – Thích Duy Lực

TIỂU SỬ THIỀN SƯ LAI QUẢ

Sư tên Diệu Thọ tự Lai Quả, hiệu là Tịnh Như, con nhà nông họ Lưu, quê ở huyện Hoàng-Cương, tỉnh Hồ Bắc.
Năm lên bảy, Sư nghe vị Tăng bên cạnh tụng câu “Vô trí diệc vô đắc” trong Tâm Kinh, Sư có tỉnh ngộ.
Năm 12 tuổi, Sư có chí thoát trần, trốn đi xuất gia, bị người anh tìm bắt trở về.
Năm 15 tuổi, Hòa Thượng Đại Trí dạy lấy niệm Phật để liễu thoát sanh tử, Sư bèn niệm Phật thành phiến, cho đến ngủ chiêm bao cũng vẫn lớn tiếng niệm Phật. Hòa Thượng nói: “Đây là chân thật niệm Phật. Vậy niệm Phật là người nào? Ông biết không?”. Sư không đáp được. Hòa Thượng nói:
“Đợi ông tìm ra người niệm Phật, ta sẽ nói chuyện với ông.”
Năm 18 tuổi, Sư cắt gan trị bịnh cho cha.
Năm Ất-Tî (1905 TL) Sư 25 tuổi đi hành hương ở núi Phổ Đà, gặp một vị tăng khổ hạnh, Sư cảm kích bèn xuống tóc ở núi Bảo Hoa, Sư bị Chư Tăng trong Chùa hành hạ khổ sở chẳng xiết, trốn đến bờ sông, nhiều ngày bị nhịn đói, cùng với chó hoang ở chung, muốn đâm đầu xuống sông tự vận, bỗng gặp vị Tăng ở Chùa Di Đà ở Kinh Khẩu cứu kịp. Sư theo vị Tăng ấy đến Chùa Kim Sơn, song vì chưa thông thuộc quy củ nên một hôm bị đánh hơn bốn trăm hương bản.
Ngày 26-9 năm Quang Tự thứ 34 (1908 TL), Sư nghe tiếng mõ khai tịnh sau thời khóa công phu buổi chiều tối, hoát nhiên thoát-lạc như buông gánh nặng ngàn cân, đánh mất cái mũi mẹ sanh, khóc to chẳng nín, hư không trên trời, nước chảy dưới đất, tất cả trệ ngại hoàn toàn tiêu hết, cơ dụng hiện tiền có hỏi liền có đáp. Hòa Thượng, Ban Thủ đến tận nơi khen ngợi.
Một hôm Từ Bản lão nhân đưa cái khăn tay ra làm thế rửa mặt, hỏi Sư:
“Là cái gì?”. Sư nói: “Đã dư chiếc khăn tay rồi.”. Từ lão nhân chẳng đáp mà lui. Sư từ đấy càng thận trọng.
Sư từng được sung chức phạn đầu, hết sức phụng sự nhà Chùa một cách tiết kiệm. Thủ-tọa khuyên Sư đảm nhiệm chức vụ ban thủ. Sư tự thấy mình còn kém bèn trốn sang Chùa Cao-Mân, cũng bị đảm nhiệm chức vụ ban thủ. Sư bỗng có ý du phương di ẩn tu ở núi Chung Nam, gặp Cư Sĩ Cao Hạt Niên hối thúc trở về Nam.
Sư trở về Chùa Cao Mân, Tổ Nguyệt Lãng sai Minh Hiên lão nhân chọn ngày truyền pháp cho Sư. Lúc lâm chung, Tổ nắm tay buộc Sư phải phát nguyện:
“Sấng làm người Cao Mân, chết làm quỷ Cao Mân”.
Sau khi nhậm chức trụ trì, Sư khôi phục lại quy chế cũ, lấy việc kiến thiết sửa sang bảo tháp, đại điện, thiền đường, diên thọ đường, như ý liêu, năm công trình lớn nầy làm chí nguyện, song cho đến khi tịch mà chưa viên mãn. Sư mong ước thừa nguyện lực tái lai để tiếp tục công trình cho hoàn tất. Chỉ có Cổ Lương Đình là làm xong, phong cảnh thanh-u, làm tăng thêm pháp hỷ cho người.
Sư thuận theo lời khẩn thiết thỉnh cầu của các nơi, y theo lệ trước của Triệt Tổ Thiền Tuệ soạn quyển Tự Hành Lục ghi lại đầy đủ hành trạng cả một cuộc đời khôi-vĩ dị thường của Sư. Quyển sách nầy đã được ấn hành phục trong bộ Ngữ Lục.
Sư thân hình cao lớn trắng trẻo, mắt nhỏ, tiếng to. Từ 50 tuổi về sau, Sư hành hạnh đầu đà, và nếu chí mình chưa toại thì chẳng cạo bỏ râu tóc để đau đáu nhớ mãi chí nguyện của mình, nhưng nghi biểu lại càng oai nghiêm, tánh tình cứng cỏi chân thật, gặp việc thì cố gắng hết sức làm, khiến cho ý không tốt của người tự tiêu tan. Cả đời Sư chỉ lấy hoằng pháp, ngộ đạo làm nhiệm vụ, đánh hét đều dung, chuông trống xen nhau, chưa từng có chút lười mỏi. Đương thời, Hòa Thượng Hư Vân là người được sự trọng vọng trong Tông Môn, tuy lớn tuổi hơn Sư mà cùng với Sư khế hợp không gián cách.
Có một lần, nhà Chùa cần muốn hóa duyên để sửa tháp, Sư nhóm họp đồ chúng lại luận bàn, trong số chúng có mấy người phát nguyện lãnh trách nhiệm đi các nơi hóa duyên. Có một vị Tăng đến Vũ Hán cảm động sự phát tâm của thí chủ bèn tự chặt cánh tay để đền đáp, mọi người xa gần đều kinh ngạc ngợi khen.
Sư tịch ở Thượng Hải, linh cữu đưa về Chùa Cao Mân, làng lân cận có một bà lão Phật tử tự chặt một ngón tay sai con mang đến trước linh cữu cúng dường. Chánh pháp cảm người vừa sâu rộng vừa lâu dài nên người nhờ sự giáo hóa của Sư mà làm được như vậy.
Sư sanh vào giờ dần, ngày 2-7 năm Tân-Ty (1881 TL) nhằm năm Quang Tự thứ bảy, diệt độ vào giờ dần, ngày 17-10 năm Quý Tî (1953 TL). Sư thọ 75 tuổi, tăng lạp 49 xuân, giới lạp 49 hạ, pháp lạp 39 thu, trụ trì 35 đống.
Ngày mùng một tháng 11, linh cữu từ tinh thất ở Thượng Hải được đưa về Chùa, mùng 8 tháng chạp trà tỳ, bốn chúng vân tập đau buồn thương tiếc như đưa đám ma cha mẹ. Xá-lợi rất nhiều, sáng như lưu ly năm màu chói lọi. Giờ Thìn ngày 4-4 năm sau nhập tháp rồi cất đình ở bổn tự (Cao Mân) để thờ tháp Xá Lợi.

THIỀN THẤT KHAI THỊ LỤC PHÁP NGỮ KHỞI THẤT

Phật lịch 2486, tức năm Dân Quốc thứ 31 (1942) âm lịch năm Nhâm Ngọ. Khai thị thiền thất trong thời kỳ tháng mùa đông kiết chế, khởi đầu từ ngày 15 tháng 10 đến ngày 27 tháng chạp tại Chùa Cao Mân, sông Tam Xoa, đất Dương Châu, tỉnh Giang Tô.
Sư cầm hương bản nói rằng:
Lư khai đại dã chính tư thời Vạn thánh thiên hiền tổng tận tri Thiết ngạch đồng đầu tề hạ luyện Hư không ngõa lịch mạc nghi trì Trùng thiên thám, mãnh gia truy Thái không phá hậu mạc đình chùy  Trực đãi sinh tiền thoát lạc tận Khoái tương tự kỷ tróc sinh hồi.
Khởi!
Tạm dịch:
Mở lò đãi luyện vàng chính là lúc nầy Muôn Thánh ngàn Hiền đều biết cả. Những kẻ cứng đầu, cứng cổ đều phải bỏ vào lò luyện Không phân biệt hư không hay ngói bể đều không được chậm trể. Hãy thêm than, thổi cho mạnh nữa. Mặc dù đập bể hư không rồi cũng không ngưng chùy Cho đến sinh tiền đầu rơi thoát sạch hết Mau mau tìm bắt cái bổn lai của mình về

KHỞI THẤT:

Hôm nay nhà Chùa vì các ông khởi thất cho nên một số người phải bận rộn:
thiền đường, ngoại liêu, thủ lĩnh, hành đơn cho đến những người ở ngoài Chùa đều rất bận rộn. Vì các ông đả thất, chẳng những người trong ngoài Chùa bận rộn mà có lẽ thập phương Chư Phật, Chư Đại Bồ Tát, Hộ Pháp Long Thiên cũng bận rộn không xiết. Nói chung ấy là vì các ông đả thất.
Ta hỏi các ông: “Đả thất là làm việc gì sao lại làm bao nhiêu người bận rộn như vậy? Cái đó còn chẳng kể làm gì, ngay cả thập phương Chư Phật, Chư Đại Bồ Tát, Hộ Pháp Long Thiên so với chúng ta lại còn bận rộn hơn nữa, bận rộn việc gì vậy, các ông có người nào biết được không? Đả thất là làm cái việc gì? Có lẽ có người còn chẳng hiểu được. Trong lòng các ông nói rằng: “Những cực khổ lúc bình thường đã quá lắm rồi, nay lại còn phải đả thất. Thầy nói nghe thì hay đấy, vì chúng tôi đả thất, lại nói thập phương Chư Phật, Chư Đại Bồ Tát, Lịch Đại Tổ Sư, Hộ Pháp Long Thiên đều vì chúng tôi mà bận rộn. Bận rộn là bận rộn việc gì, chẳng qua chỉ đem đến thêm chút khổ nữa cho chúng tôi phải chịu đựng chứ có việc gì khác nữa đâu!”.
Đúng thật đáng thương xót! thương xót không thể nói được. Các ông tuy ngu mê như thế nhưng ta vẫn chiếu theo quy củ của nhà Chùa để làm việc. Các ông phải hiểu được là: Quy củ đả thất rất nghiêm khắc, khác với lúc bình thường. Vậy khác ở chỗ nào? Ấy là ngày nay các ông xin phép sanh tử ở các vị Tổ quá khứ và cũng xin phép sanh tử với ta, ta hứa cho phép sanh tử, vậy sanh tử các ông nằm trong hai tay ta, muốn cho các ông sống thì sống, muốn cho chết thì chết. Đứng ngay chỗ nầy chết. Lúc bình thường sắc thân các ông giao nhà Chùa còn tính mệnh phó cho Long Thiên, trong thời kỳ đả thất thì không như vậy, sắc thân, tính mệnh đều giao trọn trong tay ta. Quy củ nghiêm khắc là như thế nào? Ta đại khái đem ra nói cho các ông nghe. Từ nay về sau trong thời kỳ đả thất, Tăng chúng và các vị hành đơn đều không chắp tay chào các vị duy na, không hỏi thăm ban thủ, cũng không chắp tay hỏi thăm ta. Trong thời kỳ đả thất Phật cũng chẳng lạy, hương cũng chẳng đốt, thì các ông chắp tay hỏi thăm để làm gì? Ta vì các ông nói trước thế nầy: Việc lớn hơn hết là bệnh nặng, việc lớn nhất đã không có rồi, nói gọn lại là bệnh. Một khi có bệnh thì chẳng phải là chắp tay xin duy na cho nghỉ sao? Vị duy na không dám cho nghỉ có phải chắp tay xin ban thủ chăng? Không được, vị ban thủ lại dám cho các ông nghỉ bệnh ư? Chẳng những là phép nghỉ bệnh, nghỉ chạy hương, nghỉ kinh hành cho đến hết thảy các việc nghỉ phép, ban thủ, duy na đại khái đều không dám to gan như thế đâu. Vì sao vậy? Các ông xin phép sanh tử, không phải xin ban thủ, duy na mà phải xin ta, các vị kia dám thay ta cho phép ư? Vậy khi nào có bệnh thì làm cách nào? Chẳng có cách nào hết, sống cũng đả thất, chết cũng đả thất, mạnh cũng đả thất, đau cũng đả thất, chung quy là đả thất. Ngay khi bệnh nặng, đứng cũng chẳng nổi thì làm sao chạy được? Nếu các ông thực đã đến lúc chẳng còn có thể chạy được đi nữa thì phải đem thân thể các ông quăng xuống đáy quảng đơn (giường ngủ chung của đại chúng). Các ông bệnh cũng được, sống cũng được, chết cũng được, đợi sau khi giải thất thì mới đưa đi chôn, dù năm người hay ba người cũng quăng xuống đáy quảng đơn. Đây là cách giải quyết kẻ có bệnh. Lại nữa, các ông trong thời kỳ đả thất, đi hương, ngồi hương, quả đường cho đến đại tiểu tiện mà quày đầu một cái, hoặc cười đùa, như thế thì ta bảo các ông biết: Các ông phải mất mạng đó. Thế là sao? Một khi các ông đã đến thiền đường thì hương bản của các vị ban thủ, duy na đều quay về các ông mà đập xuống. Một, hai chục hương bản chẳng kể đầu, mắt, tai cứ đánh hết, đánh rồi mà không chết vẫn phải đả thất. Nếu như đánh các ông bị thương thì làm cách nào? Thì cũng phải liệng các ông xuống đáy quảng đơn. Sau khi giải thất rồi thì đem đi chôn một lượt. Chẳng phải như lúc bình thường đánh chết rồi đem đi chôn, đánh bị thương rồi thì đưa vào liêu như ý (nhà y tế ở tòng lâm).
Thời kỳ đả thất thì không như thế. Vậy thì Chùa Cao Mân đánh chết người chẳng coi việc đó ra gì sao? Những năm qua trong thời kỳ đả thất cũng có mấy người bị đánh chết, đây là việc bình thường chẳng có gì là lạ. Ta đã h cáo các ông nhiều rồi: những quy củ nào ta đã giao rõ cho thì các ông phải làm đúng như thế, chẳng vì tình riêng tư, không được sai chạy một chút. Ta nói gọn lại một câu: Có bệnh gần chết không được xin nghỉ bệnh, chết rồi liền đem quăng xuống đáy quảng đơn. Phạm quy củ đánh chết rồi cũng quăng xuống đáy quảng đơn. Ta đã dặn dò các ông rõ ràng, mảy may không được sai chạy. Lại nữa, lúc bình thường, các ông trong khi tịnh muốn đi ngoài thì xin phép với duy na, duy na đánh sáu hương bản thì có thể mở cửa đi ra được. Trong thời kỳ thiền thất chẳng cho như vậy, vì rằng một ngày 12 nén hương thì có thể 24 lần đi ra ngoài. Dù cho các ông có đau bụng muốn đi ngoài thì có ít nhiều thì giờ để đi chăng? Bất cứ cây hương nào cũng không cho phép mở cửa. Các ông dù có iả ngay ra quần hay ỉa trên nệm ngồi thì cũng không quái lạ gì các ông cả, iả ra trên nệm thì có thể được chứ mở cửa thì không thể được. Các ông phải lưu tâm. Đả thất là làm việc gì? Các ông phải hiểu cho rõ ràng, không có gì hơn ngoài việc tham thiền, ngộ đạo, liễu sanh thoát tử. Muốn tham thiền mà chẳng tham câu thoại đầu thì không được. Muốn liễu thoát sanh tử thì cũng tham câu thoại đầu thì mới liễu được. Các ông phải phát tâm đi. Hãy tham.

KHAI THỊ Ngày 16 tháng 10 (thất đầu ngày đầu)

“Lương y chi môn bệnh giả đa” (Thầy thuốc giỏi nhiều bệnh nhân đến). Người đời khi có bệnh đều phải đến thầy thuốc, ông bệnh nào thì lương y cho ông uống thuốc nấy, ông ta theo chứng bệnh mà cấp thuốc đến khi bệnh dứt được, đó là lý lẽ nhất định của pháp thế gian, pháp xuất thế gian cũng như vậy. Chúng ta từ vô lượng kiếp cứ mắc bệnh mãi cho đến ngày nay, hết thảy người đời chỉ biết sự đau đớn trên xác thân mình, còn một thứ đại bệnh mà chẳng biết tí nào cả. Người thế tục chẳng biết có cái đại bệnh nầy thì còn nói được đi vì họ từ mê nầy vào mê khác, thiện căn ít nên không thể lạ gì họ, các ông là người dụng công tu đạo, liễu thoát sanh tử mà tại sao lại cũng giống họ vậy? Các ông cứ cho mình là mình tốt hơn người thế tục. Ta hỏi các ông: “Có bệnh không?” Các ông nghe hỏi vậy trong lòng không vui, nghĩ: “Người khỏe mạnh tại sao hỏi có bệnh hay không? Từ sáng đến tối ăn mấy tô cơm, trà cũng uống, nước cũng uống thì có bệnh gì; có bệnh thì có chỗ nào tốt đâu?” Đúng đấy, thực là khổ sở lắm! Cái bệnh lớn như thế thì cũng loàng xoàng mà qua đi thôi. Ta thấy các ông như thế trong lòng thật bất nhẫn tỷ như: một nhà thương lớn có giám đốc, có y sĩ, người đến, người đi đều là để khám bệnh. Bác sĩ hỏi ông: “Có bệnh không?” Ông nói: “Có bệnh” Ông ta hỏi: “Bệnh gì?” Ông nhất định nói: “Nhức đầu, ăn cơm không được” cho đến những thứ bệnh khác. Bác sĩ liền theo lời ông và sự bắt mạch của ông ta mà cấp thuốc cho ông. Ông cầm lấy thuốc uống luôn không kể là cái gì chỉ mong khỏi bệnh, thầy thuốc nhất định muốn ông phải uống, uống rồi thì chung quy muốn khỏe mạnh.
Thiền đường của chúng ta đây cũng như bệnh viện, các ông đến là để chữa bệnh cho nên hỏi các ông bệnh gì, các ông còn nói là không có bệnh chăng? Các ông đương nhiên nói: “Có bệnh”. Ta lại hỏi các ông: “Mắc bệnh gì?”. E rằng các ông không có người trả lời cho xuôi được, có bệnh gì các ông chẳng nói ra nguyên do căn bệnh thì ta làm sao ra toa được? Ông không nói thì ta có biện pháp gì? Một số các ông biết được chút ít thì cứ nói chút ít thì ta cũng có thể cấp thuốc cho các ông uống. Nhưng mà một chút các ông cũng chẳng biết thì ta có biện pháp nào? Này các sư, mắc cái đại bệnh nầy mà chẳng biết, lại quay lưng với đạo, càng chạy càng xa. Trong lúc các ông lại còn có vài người cứ cho là “nói bệnh lớn với bệnh nhỏ gì, chúng tôi lại đây là để xem nề nếp nhà Chùa, đến là để tham học, xem qua cách thức gia hương đả thất, biết được chút ít là được rồi”. Có khá nhiều vị nghĩ như thế đó. Bởi vì các ông không triệt để biết được mình vốn có cái đại bệnh ghê gớm, cái đại bệnh không trị không được. Chỉ sau khi các ông biết được triệt để cái đại bệnh nầy thì các ông mới có thể biết được cái lợi hại của bệnh không trị không được, phải uống thuốc. Giả sử các ông không biết cái bệnh nầy thì còn nói gì chuyện uống thuốc. Bệnh viện nầy cũng chẳng cần ở. Bởi vì các ông không biết mình có bệnh nên chẳng quan tâm gì đến việc đau đớn, không uống thuốc hình như cũng chẳng có việc gì, thế còn phải ở lại bệnh viện để làm chi?
Nay ta cho các ông biết: đại bệnh nầy là “sanh tử đại bệnh”. Đại bệnh nầy nhất định phải trị, nhất định phải uống thuốc. Các ông phải hiểu được: hôm nay đến được chỗ nầy quả không phải là dễ đâu, ấy là do sự bồi đắp từ kiếp trước. Cái thân người nầy không dễ gì có được, phải trải qua bao đại kiếp ở trong các loài khác đến nay mới có được cái thân người nầy! Ta lại để thân nầy trôi qua, há chẳng phải là để phí phạm đi mất sự vun trồng của đời trước sao? Phải biết rằng: thân nầy không phải là trường cữu, cho là 100 năm mà nay chúng ta đã trải qua mấy chục năm rồi, thời gian còn lại có được bao nhiêu ngày? Huống nữa đời người chỉ trong hơi thở, cứ khi miệng không hít không thở ra nữa là khổ rồi! Nay chúng ta lại gặp cơ duyên tốt nầy, nên lo sao cho thiết thực làm một phen thì mới không phí phạm kiếp làm người, mới biết được sanh tử là đại bệnh của chúng ta. Cái sanh tử đại bệnh nầy không giống với đại bệnh ở thế gian, không uống thuốc câu thoại đầu thì không được. Các ông hãy đề lên câu thoại đầu mà tham đi!

KHAI THỊ Ngày 17 tháng 10 (thất đầu ngày thứ nhì)

Đả thất làm cái gì? Chẳng có gì khác hơn là tinh tiến. Ta nói ngay ra là “chân” tinh tiến. Tại sao đả thất lại là “chân” tinh tiến? Bình thường cũng cho là các ông cũng có thể tinh tiến được nhưng chung quy lại không lâu dài mãi được; ấy là do lúc bình thường có nhiều công việc phiền nhiễu nên không thể trách các ông được. Bởi vì vừa đang dụng công tinh tiến thì bảng gõ hối phải đi lên chánh điện, mới cảm thấy công phu hơi đắc lực lại phải đi quả đường, cho đến việc tuần hương, đổi phiên trực thiền đường đều là những việc quấy rối sự dụng công. Nhưng hiện tại đả thất thì không như vậy, không thượng điện, không quả đường cho đến đi tiêu giấy xúc cũng không cần các ông động tay, có thể cho là chu đáo lắm rồi, bình thường tất cả việc quấy rối làm cho trong lòng bận hết sức! nhưng hôm nay thì mọi việc quấy rối đều đã có người quét sạch cả rồi, chẳng còn tí nào nữa, như vậy có thể hoàn toàn tinh tiến được. Nhưng ta muốn hỏi các ông: tuy mọi việc quấy rối đã quét sạch rồi, chỉ lo rằng trong lòng các ông lại quét không sạch thôi!
Các ông quét sạch chưa? Mọi người đều đứng ở đây, ta hỏi các ông: sạch hay chưa? Các ông hãy xét kỹ thử xem: nếu muốn nhà Chùa giúp các ông thành tựu như vậy thì phải buông bỏ tất cả, chỉ lo dụng công thôi; các ông còn có được cơ hội tốt nầy, tất cả chẳng cần chúng ta phải làm gì hết, trống rỗng cả rồi. Để thời gian trôi qua như thế lại là đả thất sao? Để thời gian đi qua trống rỗng như thế thì thực là phụ ơn nhà Chùa mà cũng phụ ơn bản thân các ông. Nhưng hôm nay ta còn để các ông tự phụ ơn mình sao? Các ông phải biết cái loại nhân cho thời gian bỏ trống qua (Hư tiêu tín thí) nầy như đã gieo xuống, đến khi cảm quả (quả địa ngục) thì không biết ra làm sao nữa! Ta nói như vậy nhưng có lẽ trong lòng các ông lại không như vậy. Vậy thì như thế nào? “Quả thật tôi từ lúc vào thiền đường đến nay, việc thượng điện, quả đường, quy củ lớn nhỏ bận rộn hết sức chẳng có tí rỗi rảnh. Trước kia đã chịu nhiều khổ sở để học được Kinh Lăng Nghiêm, Pháp Hoa cho đến những điều thấy được, lãnh hội được còn chưa sờ mó (suy nghĩ) tới được. Ngày nay đả thất tốt rồi; chẳng có việc gì làm, tôi ngồi xuống ôn lại những việc tôi đã trao đổi từ lâu không muốn để quên mất”.
Đúng đấy! Các ông ngồi xuống trong lòng có như thế không? Ta thấy trong bụng các ông đầy ắp những Lăng Nghiêm Pháp-Hoa tuôn ra như nước chảy. Nhưng hôm nay lo việc căn bản đại sự thì những Kinh giáo các ông chứa đầy trong bụng một chữ cũng chẳng dùng được; không những một chữ cũng chẳng dùng xong mà ngay cả một mảy lông cũng chẳng dùng được; các ông có tin không? Ta thiết nghĩ: sợ rằng không dễ gì tin được. Tại sao vậy? Các ông cho là: trong thiền tông vì lẽ gì một chữ cũng dùng không xong? Vậy thì lấy bảy chỗ trưng tâm, mười phen hiển kiến trong Kinh Lăng Nghiêm chẳng là công phu sao? Nhất chân pháp giới trong Kinh Hoa Nghiêm vì sao Thiền tông một chữ càng dùng không được? Thế chẳng phải là làm các ông khó tin sao? Đúng đấy! Vậy thì ta muốn hỏi các ông: Có tham câu thoại đầu là pháp lớn hay pháp nhỏ, cứ cho nó là cây củi mục vô dụng đi. Các ông hãy nhai nó xem có mùi vị gì không? Bảo các ông nhai thì cứ nhai thử xem! Chúng ta mắt thì thấy giống nhau, thí dụ câu thoại đầu viết lên tờ giấy đỏ dán trên cột, các ông thấy, ta cũng thấy, có thể cho cùng một nhãn kiến đi. Ta nói các ông thấy đỏ, ta thấy xanh, các ông có tin không? Ta không những thấy được không phải là đỏ mà lại là xanh, mà ngay cả xanh cũng bất khả đắc, các ông lại càng khó tin. Ta muốn hỏi các ông cái câu thoại đầu như củi mục nầy các ông nhai có được tí mùi vị nào không? Giả sử đã nhai ra được tí mùi vị thì tự nhiên sẽ thấy không phải là đỏ mà là xanh. Lại thêm cái tinh tiến nầy trong thời kỳ đả thất thì chẳng phải là ngay cả đến cái xanh nầy cũng bất khẳ đắc sao? Đến lúc đó ta sẽ hỏi ông:
Lăng Nghiêm có còn không? Pháp Hoa có dùng được không? Cho đến tất cả kiến, văn, giác, tri có còn không? Các ông thử nghiên cứu xem? Có phải như thế hay không? Cho nên ta bảo các ông đem tất cả cái học, cái thấy, cái nghe, cái hiểu chứa đầy trong bụng quăng hết đi, quăng bỏ cho thật sạch hết, một chút cũng không cho còn, có lẽ các ông còn chưa chịu quăng bỏ, dù cho có bỏ cũng chưa chịu quăng bỏ cho sạch trơn. Mặc dầu đã quăng bỏ cho sạch trơn rồi thì trong Thiền tông cũng chưa cho là xong việc đâu. Vậy các ông lại phải đem cả cái da bụng mà quăng tuốt đi luôn thì có thể cho là xong việc chưa? Chưa xong đâu! Việc trong Thiền tông còn phải đem quăng luôn cả cái bụng đi thì mới kể là xong việc. Nếu chẳng quăng bỏ luôn cái bụng thì lâu về sau nó vẫn còn chứa đựng cái khác. Các người hãy phát tâm tham đi!

KHAI THỊ Ngày 18 tháng 10 (thất đầu ngày thứ ba)

Dụng công thiên nhật, ngộ tại nhất thì (dụng công ngàn ngày chỉ ngộ trong nhất thời). Giả sử công phu các ông được không tí nào gián đoạn, dụng công được ngàn ngày thì đối với sự khai ngộ ta dám bảo đảm. Giả sử công phu chưa đến được chỗ đó thì ta không dám bảo đảm. Trong các ông có người đã ở đây được năm ba năm, cũng có người ở Chùa Kim Sơn được năm ba năm, tính chung là ở Chùa Kim Sơn đươc năm ba năm, tính chung là ở Chùa Kim Sơn Cao Mân mười năm, hai mươi năm khổ hạnh tại làm sao không có được công phu ngàn ngày? Đã có công phu ngàn ngày thì không phải nhất định ở trong thời kỳ đả thất nầy sẽ khai ngộ sao? Trong thời kỳ đả thất là chuyên môn để nắm chắc công phu khai ngộ. Vì sao mà không khai ngộ được? Bởi vì đáng tiếc cho các ông quá, tuy nói không có năm năm, mười năm hai mươi năm công phu mà ngàn ngày công phu cũng đã có rồi, nếu các ông không có được công phu ngàn ngày thì đối với sự khai ngộ hãy còn chưa làm đến được. Ta nói như vậy trong lòng các ông cho rằng: “Mùa hè khí trời nóng bức quá lại còn lên chánh điện, quả đường, làm công phu thì chưa được xứng đáng, đợi đến thời kỳ thay đổi chức sự cần phải phép tắc lớn nhỏ làm cho hết sức bận rộn, cho đến “gia hương” đều không phải là lúc dụng công phu. Đả thất mới là chân thật dụng công phu, không được lại bỏ qua nữa”. Đại khái các ông đều như thế cả. Ta thấy cái tư tưởng nầy của các ông cứ cho là một năm chỉ có đả thất mới mới dụng công phu, mùa hạ thì kiết hạ, lúc thay đổi chức sự thì cũng là thay đổi chức sự, gia hương còn phải lên chánh điện, quả đường, đả thất thì mới cần dụng công, loại người như vậy là tệ hại nhất. Tại sao vậy? Đả thất là phải định kỳ thủ chứng, là cái lúc nhất văn thiên ngộ chứ đâu phải là thời kỳ để dụng công phu. Dụng công phu phải ở ngay trong lúc bình thường, ngày thường không chịu dụng công phu đợi đến đả thất mới dụng công, thì đến lúc nào mới có thể khai ngộ được?
Ta nói đến chữ ngộ thì còn có phần của các ông không? Ta cho các ông một thí dụ: Trước đời Mãn Thanh, người đi học được mười năm rồi hễ gặp kỳ thi thì đi thi phải không? Nếu đến trường thi mà còn chưa biết viết chữ, nhìn mặt chữ không ra, trong khi thi mới tập viết, như vậy phỏng có được không? Ra làm quan có phần các ông không? Trong thời kỳ mười năm học hành các ông không đi học, chỉ mang cái tên là người đi học, đến trường thi thì chỉ muốn được đậu làm quan, sợ là không xong rồi. Chúng ta hôm nay đả thất cũng giống như ở trường thi, khổ công ba năm đã đủ tư cách rồi, khi nhà Chùa mở Thiền thất thì phải khai ngộ liền mới đúng. Các ông bình thường mang tiếng dụng công mà thực ra chẳng có dụng công gì cả, đến lúc đả thất thì làm sao khai ngộ được? Cũng như không đi học mà đi thi, các ông sai lầm như vậy đã lâu lắm rồi không phải mới hôm nay. Xem như thế thì còn phải đả thất không? Có phải là không đả thất cũng được chăng? Bởi vì các ông không có một người có tư cách đả thất, các ông như vậy là rất phụ ơn nhà Chùa, nhà Chùa chỗ nào cũng vì các ông mà lo lắng, có một tí trái ngược với đạo thì mau mau sửa đổi cho tốt, như thế ta dám nói nhà Chùa đã hết bổn phận đối với thiên hạ, chỉ có thể nói các ông phụ ơn nhà Chùa chứ nhà Chùa quyết không hề cô phụ các ông. Nếu có người dụng công phu được năm ba năm, mặc quần áo, ăn cơm, lên chánh điện quả đường, đi cầu ngủ nghỉ đã dụng công đến cực điểm, hôm nay đến Chùa Cao Mân dự tính tham gia đả thất lại muốn được thủ chứng ngay, không ngờ nhà Chùa không cho các ông đả thất, vậy thì nhà Chùa cô phụ các ông rồi. Ta hỏi các ông còn có một người như vậy không? Ta lại hỏi các ông nữa: đừng nói quá khứ ba năm, năm năm không dụng công phu cũng đã bỏ luống qua rồi, cả mùa hè cũng chưa đề lên một câu thoại đầu, cho đến vào thiền đường gia hương cũng không biết đề lên câu thoại đầu, bây giờ đang thời kỳ đả thất từng cây hương một, từng thất một, ngồi hương đi hương đề được mấy câu thoại đầu. Các ông xét lòng tự hỏi xem có làm đủ bổn phận đối với người đời không? Đối với bất cứ việc học nào cũng vậy đều cần phải nói đến tiến bộ. Cái tiến bộ ở trong thiền tông các ông có biết ở chỗ nào không? Lên chánh điện có tiến bộ, quả đường có tiến bộ, đi cầu có tiến bộ cho đến nơi nơi đều có tiến bộ cả. Các ông có biết lên chánh điện tiến bộ ở chỗ nào không? Đứng trên chánh điện đầu không có chút nghiêng, thân cũng không tí nhúc nhích, như thế là tiến bộ. Tại sao vậy? Công phu dụng đến chỗ đắc lực, đầu làm sao nghiêng được, thân làm sao nhúc nhích được? Đầu hễ nghiêng, không thấy sắc thì nghe tiếng, thân cử động không nhức thì ngứa, đâu còn công phu nữa. Trong lúc quả đường, lên chánh điện, cho đến mọi nơi, ngay cả đi vào nhà tiêu đậy nắp cầu không ra tiếng, thậm chí nhướng mày nháy mắt, đi đứng nằm ngồi đều dụng công phu. Các ông cần nhận thức chỗ quý trọng lúc bình thường của thiền tông, cái chỗ tốt của thiền thất. Các ông hãy phát tâm. Tham đi!

KHAI THỊ Ngày 19 tháng 10 (thất đầu ngày thứ tư)

Pháp của thiền tông vốn là bất lập văn tự, không mượn ngôn ngữ. Bất lập văn tự thì không có lời để nói, không mượn ngôn ngữ thì không có gì để mở miệng. Cứ theo như thế mà nói thì không cần phải nói chuyện sao? Tại sao mà mỗi ngày có vài lần khai thị? Phải hiểu là: trong thiền tông nói chuyện vốn là bất đắc dĩ vì tâm các ông mỗi mỗi đều khác nhau, cái bất lập văn tự, không mượn ngôn ngữ của thiền tông là cần phải đạt đến chỗ hành đồng nhất; mười phương Chư Phật, lịch đại Tổ sư hành như vậy, hiện nay các ông cũng có thể hành như vậy mới có thể nói không mượn ngôn ngữ. Nay vì các ông tâm hạnh khác nhau, trăm người trăm hạnh. Muốn cả trăm người các ông đều quy về một tâm hạnh thôi, cho nên phải nói là vậy. Nhưng lời nói là lời nói của thiền tông, trong thiền tông bất cứ là người nào cũng không cho giảng kinh điển, ngữ lục, công án. Các ông nghe vậy đương nhiên có mối hoài nghi: “Kinh điển Chư Phật thuyết không được giảng, tại sao ngữ lục, công án của Tổ sư lại cũng không được giảng?” Bởi vì giảng rồi đối với các ông cũng vô ích, lại thêm cho các ông tâm của trăm người lại phân thành mấy ngàn cái tâm.
Đây là lẽ gì vậy? Cái hạnh của các ông đều phải đi con đường hướng thượng, lấy câu thoại đầu làm miếng ngói gõ cửa, bia chỉ đường. Người xưa tuy có (những công án) “Lúc cha mẹ chưa sanh ra”, “con chó không có Phật tánh” cho đến một ngàn tám trăm công án, nhưng bất cứ chư Tổ nào cũng đều phải ở một công án mà thâm nhập, cho nên thiền đường hòa thượng, vị ban thủ cứ mở miệng là thoại đầu, ngậm miệng lại cũng thoại đầu, nói chuyện cũng thoại đầu, chẳng nói chuyện cũng thoại đầu. Cái nầy là rất cần yếu trong thiền tông. Trong bụng các ông cứ cho là tham thiền cũng như đi chơi ở Thượng Hải, hôm nay Tân Thế Giới, ngay mai Đại Vũ Đài, ngày kia Tiên Thi Công Ty mới tương ứng tâm của các ông. “Nhưng hôm nay đến Thiền đường tại sao từ sáng đến tối, từ đầu năm đến cuối năm đều chỉ có một câu thoại đầu? Một tí mùi vị cũng chẳng có, làm cho người ta buồn muốn chết đi”. Đúng đấy! lại nữa, lời khai thị không có trình tự gì hết, không có hình ảnh văn chương gì hết, thực là làm cho người ta chẳng muốn nghe, chẳng lạ gì khi người ta nói: “Thông thiền mà không thông giáo cứ mở miệng thì nói bậy”. Đúng! Thật đáng thương cho các ông. Ta nói: ấy là các ông không hiểu đạo, giả sử như các ông thật biết nói bậy, thế thì tốt đấy. Tại sao vậy? Ông không hợp cơ thì ông không chịu nghe, người khác nghe thì thấy hứng thú lắm, ông nghe thấy tốt người khác lại nghe không tốt, bởi vì tâm hạnh mọi người đều khác nhau, thì nói chuyện làm sao nhất trí được? Cho đến việc làm văn chương cũng không có luôn, các ông lại hiểu sai rồi; ở đây không cho các ông làm văn chương cũng không phải giáo môn giảng kinh, y văn thích nghĩa, phân khoa phán giáo. Trong thiền tông cũng như hôm nay ta nói chuyện nầy chuyện kia, cũng có người nghe rồi nói tốt, lại lúc sư ban thủ giảng huyền giảng diệu cũng có người nghe rồi thấy tốt; cái nầy tức là “thô ngôn cập tế ngữ, khái quy đệ nhất nghĩa (Lời nói thô và tế đều quy vào đệ nhất nghĩa) cốt là ở nơi các ông biết nghe. Các ông phải hiểu được cái khổ tâm của người nói chuyện, vì các ông có tâm hạnh khác nhau, cái bất đồng ấy đều là: “vọng tưởng chấp trước” của các ông cho nên các ông có trăm cái tâm, người nói chuyện nói ra trăm cái pháp, muốn dạy cho các ông trăm cái tâm nầy quy thành một tâm, quả là chẳng dễ gì. Hôm nay ta giảng cái đường lối công phu, người các ông biết nghe giảng, nghe rồi trong bụng cảm thấy tốt lắm tựa hồ còn cái nghi tình thì chưa giảng đến, vậy ngày mai ta sẽ giảng làm sao để khởi nghi tình lên. Các ông nghe rõ nghi tình biết khởi lên rồi nhưng lại không kéo dài được, hôm sau sẽ giảng đến nguyên do gì làm cho nghi tình không phát khởi được. Từng bước từng bước một giảng tới, cho đến từng thất từng thất một nói chuyện khác nhau. Thất thứ nhất giảng về việc không hiểu dụng công phu, thất thứ hai giảng về con đường dụng công phu, thất thứ ba giảng về tiến bộ của công phu, thất thứ tư giảng về tin tức của công phu, thất thứ năm thì giảng về chỗ thấy của công phu, cho đến thất thứ mười từ cạn vào sâu, từ xa đến gần. Hôm nay nói chuyện trình tự cho các ông biết rồi, các ông trong lòng có cái nắm được rồi. Hãy tham đi!

KHAI THỊ Ngày 20 tháng 10 (thất đầu ngày thứ năm)

Các ông đều là mộ đạo mà đến đây vì Chùa Cao Mân có đạo để tu, các ông người nào cũng đều như vậy cả. Nhưng nói câu mộ đạo nghe ra thì thấy dễ nghe lắm, mà nói đến sự thực hành: đạo tại sao cần phải mộ? Các ông từ ngàn muôn dặm muốn ngộ cái đạo của Chùa Cao Mân, vậy không phải là hướng ngoại mộ đạo sao? Mộ đạo như vậy không phải là hướng ngoại tìm cầu sao? Đâu cứ đều nhất định phải đến Chùa Cao Mân mới có đạo? Đạo vốn không có đông, tây, nam, bắc, cũng không có ông có tôi, cứ trực hạ thừa đương (ngộ ngay lúc đó) thì được rồi. Hai chữ “thừa đương” cũng là lời thừa, vốn không thiếu không thừa saün sàng đầy đủ. Tiếc thay chúng ta vô lượng kiếp trước với Chư Phật cũng đã đồng diện mục, không những đồng diện mục mà sợ còn có chỗ siêu việt hơn cả thập phương Chư Phật, bỗng đâu được cái thân huyễn hóa nầy, rồi không chịu cái nầy bèn đổi lấy cái khác, không chịu nữa thì đổi lấy cái khác nữa. Từ cái nầy thay đổi qua cái kia mà thay đổi mãi cho tới ngày nay. Cứ mỗi lần thay đổi thì lại thêm một dấu vết làm cho bản lai diện mục của chúng ta bị che lấp kín mít, một tí hơi cũng không thấu được. Mặc dầu bị che lấp kín mít nhưng nói chung không thiếu sót tí nào. Mười phương Chư Phật cũng như vậy, Bồ Tát, Tổ Sư cho đến côn trùng nhỏ xíu cũng như vậy, sơn hà đại địa cũng như vậy, thảo mộc tòng lâm, cho đến trong hư không, ngoài hư không cũng như vậy, trong một hư không cho đến vô lượng vô số hư không đều như vậy cả. Ông không thiếu sót, ta cũng không thiếu sót, chỉ tiếc một cái là không dám “thừa đương”. Giả sử chúng ta thừa đương được thì e rằng không phải là người giống như thế nầy đâu. May mắn cho chúng ta ngày nay được cái thân xác làm người nầy, trong thời kỳ “làm người” nầy phải nghĩ ra cách thế nào có thể “thừa đương” được! Đối với cách thừa đương được của mình, cần các ông phải có “lòng tin”. Nhưng lòng tin trước hết phải tin rằng cái xác thân nầy chẳng bao lâu sẽ tan hoại, hoại rồi thì đường đi nhiều lắm, không hiểu kiếp nào mới được thành người nữa, đường trước mắt thì mênh mông không biết ra thế nào. Phải triệt để tin cái mặt mũi bổn lai của mình, phải hết sức tin tưởng mình như thế, không thừa đương thì không được, không hiểu cái ta của chúng ta thì không được. Tự tin được mình thì tiếp tục phải tin phương pháp của câu thoại đầu, câu thoại đầu là thừa đương mình, câu thoại đầu là phương tiện để hiểu mình, không phải chỉ nói câu thoại đầu có bao nhiêu cái tốt mà còn muốn các ông tự mình thấy đến được là câu thoại đầu xác thực không sai. Nhưng dạy các ông dụng công phu các ông lại cho rằng: “Câu thoại đầu nầy dùng được gì đâu? Niệm Phật là ai? Niệm Phật là tôi, còn có người khác niệm Phật cho tôi sao?” Không những các ông sơ tham mới có tình hình như vậy thôi đâu. Lúc ta còn tham học, đến các Chùa thấy dán câu Niệm Phật là ai? Thấy qua rồi thì cảm thấy hình như không giống với tất cả học vấn thế gian. Học vấn thế gian hễ học thì thông liền, còn câu thoại đầu thì không dễ gì thông, nghiên cứu như vậy niệm Phật là ai? Là tôi chăng? Suy nghĩ một hồi thì cảm thấy không phải là tôi. Vậy lấy gì làm tôi? Hơn nữa, tôi nói niệm Phật là tôi, tôi hôm nay sửa tấm giấy đỏ lại, niệm Phật là tôi, thế có thể được không? Nếu không sửa được tức là không phải tôi. Vậy không phải tôi thì là Phật sao? Không phải, tất cả đều là không phải, như vậy suy nghĩ phân biệt một lúc, quày đầu lại mới biết mình đã sai lầm rồi, ai dạy ông ở trong phân biệt suy nghĩ mà dụng công phu? Ông phải biết đề lên câu thoại đầu cảm thấy không hiểu thì ở chỗ không hiểu không rõ mà đi tìm cứu cánh, ấy tức là nghi tình. Ở trong nghi tình nầy dụng công phu lâu đi rồi, dụng đến quày đầu trở lại lúc ấy ông mới triệt để nhận thức được chính mình. Hãy tham đi!

KHAI THỊ Ngày 21 tháng 10 (thất đầu ngày thứ sáu)

Lúc Phật còn tại thế, có một người ngoại đạo đem hoa cúng Phật, lạy xong, Phật nói: “Bỏ hoa xuống”. Người ngoại đạo bèn bỏ hoa xuống, Phật lại nói: “Buông tay xuống”. Người ngoại đạo buông tay xuống. Phật lại nói nữa: “Buông thân người xuống”, người đạo đứng ngơ ngác cả nửa ngày, thân làm sao buông xuống được? Bèn hỏi: “Thưa Thế Tôn, thân làm sao buông xuống được? Phật nói: “Không buông xuống được thì gánh lên đi”, Người ngoại đạo liền ngộ. Các ông thử nghĩ xem: hai chữ “buông xuống” còn có cái gì quý hơn đâu? Cho nên ta thường dạy các ông buông xuống, thân cũng buông xuống, thế giới cũng buông xuống, hai chữ “buông xuống” cũng buông xuống luôn. Các ông không những không chịu buông xuống mà hình như còn muốn nhiều thêm chút nữa mới vừa lòng. Bởi vì trước kia đã có cái thói quen lấy được sự nhiều cho là tiến bộ được ít là không tiến bộ, cho nên hôm nay học Kinh Lăng Nghiêm, ngày mai học Kinh Pháp Hoa, ngày mốt học Kinh Hoa Nghiêm càng nhiều càng tốt, các ông nghe nói hôm nay giảng câu thoại đầu nầy, ngày mai giảng: “Trước khi cha mẹ chưa sanh ra”, ngày mốt giảng “con chó không có Phật tánh”, mỗi ngày đổi một câu thoại đầu như thế thì mới vừa lòng các ông, nghe cho nhiều cho lắm thì mới thấy phải. Hôm nay ta bảo các ông buông xuống thì phải buông xuống cho đến không còn chỗ nào để buông nữa. Cái chỗ không có cái gì để buông ấy cũng còn phải buông luôn nữa. Nếu không lãnh hội được đích chỉ thiền tông ở chỗ nầy, không chịu tin cái từ tâm tha thiết của thiền tông thì các ông sanh ra sự hiểu lầm, đã có sự hiểu lầm nầy rồi thì gieo cái nhân phỉ báng, tương lai sẽ chiêu cảm cái quả phỉ báng, lúc ấy thì khổ chết thôi. Cái hiểu lầm của các ông là ở chỗ nào? Thứ nhứt là bảo các ông buông xuống thì buông xuống, buông xuống rồi thì trong tư tưởng mình suy nghĩ nầy nọ như ở trong cái động đen tối. Thứ hai bảo ngươi lấy cái nghe được, học được, lãnh hội được tất cả đều buông xuống, các ngươi không chịu buông xuống mà trái lại còn nổi tâm sân lên nói rằng: “Thiền tông mở miệng không nói cái không đúng của giáo môn thì nói cái không đúng của Tịnh Độ, đó không phải là chuyên môn phỉ báng giáo môn, phỉ báng Tịnh Đạo sao?” Các ông hiểu lầm như vậy ấy là “sai một mảy may mất đi một ngàn dậm” rồi. Bởi vì các ông không hiểu cửa thiền tông là cái cửa gì, ấy là cái cửa tuyệt tướng, siêu tông, ly danh,ly tướng, cũng không phải bảo ông hủy bỏ Kinh điển, vứt bỏ Tịnh Độ, không có sự như vậy đâu! chỉ bảo các ông trong thời kỳ tham thiền nầy phải buông bỏ tất cả, tức là bảo các ông nghỉ ngơi các tâm, cho nên nói: “nghỉ ngơi tức là bồ đề”, muốn bảo các ông nghỉ ngơi cho đến một mảy lông cũng không có mới được, nếu còn một mảy lông nào thì sẽ che khuất cả hư không. Ta lại cho một ví dụ: như người đi học nghề thợ mộc, học được năm ba năm cho là học thành nghề rồi, cưa cũng biết cưa, bào cũng biết bào; vì kiếm tiền không được nhiều liền đổi nghề may vá, học may thì phải học cầm kéo phải không? Ông đến tiệm may mà còn đem búa đem cưa sao? Búa với cưa còn có chỗ dùng chăng? Không những búa, cưa đều không dùng được mà cũng không cho cả cái tâm làm thợ mộc tồn tại, bởi vì tay ông cầm kim mà trong tâm lại là thợ mộc thì cái việc may vá của ông làm sao học thành được! Hôm nay các ông tham thiền đương nhiên phải lo việc tham thiền, tham thiền thì cần phải buông xuống, cần phải nghỉ ngơi, các ông đem sự học được, nghe được, lãnh hội được đựng trong bụng, thế còn có chỗ dùng gì được đâu? Thiền còn tham được chăng? Cũng như học thợ may đem búa đem đục đựng trong túi đeo trong người vậy. Các ông suy nghĩ cẩn thận xem có phải không? Không phải cứ nghe ta nói là xong việc đâu, cần phải trong tâm các ông lãnh hội triệt để mà nói: “đúng thế” mới được. Tham thiền cần phải buông bỏ muôn niệm, nếu có một tí không buông bỏ thì cái một tí nầy sẽ che khuất cả hư không. Các ông lãnh hội được chưa? Chúng sanh từ vô lượng kiếp đến nay chỉ vì cái không buông bỏ, lớn là thế giới, nhỏ là thân tâm, một đời, một kiếp đến nay tương lai lại chẳng sẽ là nối tiếp một đời một đời sao? Chúng ta muốn làm người phải bổn quy nguyên mà không đem thân tâm, thế giới vứt bỏ hết thì phản bổn quy nguyên chỉ là nói suông thôi, thực sự thì làm không đến được. Nếu muốn danh và thực phù hợp nhau, thì trước hết cần phải biết: thế giới từ đâu mà đến, thân từ đâu mà có? Tâm lấy gì mà có? Nếu biết được thân tâm, thế giới từ đâu mà có thì mới có thể từ căn bản mà cắt đứt được, một hết thì tất cả đều hết, mới là rút củi dưới đáy nồi ra (để nước ngưng sôi). Nếu không giải quyết từ căn bản thì chỉ là múc canh để nước ngưng sôi thôi. Thế giới lấy gì mà có? Phải hiểu: thế giới lấy thân mà có, thân lấy tâm mà có, tâm lấy mê hoặc mà có. Muốn quét sạch thân tâm, thế giới thì trước tiên trên căn bản phải quét sạch cái mê hoặc, mê hoặc quét sạch được rồi thì tâm sẽ sạch, tâm sạch rồi thì thân phải sạch, thân sạch rồi thì thế giới đương nhiên sẽ sạch luôn. Như vậy phương pháp quét mê là đề lên câu thoại đầu, phương pháp nầy quét mê rất triệt để, mê nếu không có câu thoại đầu thì không thể quét sạch từ căn bản được. Các ông sau khi có thể lấy câu thoại đầu mà khổ công tham cho thông rồi thì hành cái hạnh đại bi cứu thế. Cái hạnh nào lại không được đâu! Sợ cái học cả đời các ông không đủ dùng. Muốn các ông đều đầy đủ chánh tri, chánh kiến để tránh cái hảo tâm vì đạo mà lại chiệu lấy cái quả ác. Phải nhanh chóng lên, hãy phát tâm. Tham đi!

KHAI THỊ Ngày 22 tháng 10 (Thất đầu ngày thứ bảy)

Thật tội nghiệp cho người đời nay, người nào mở miệng cũng biết nói liễu sinh, ngậm miệng nói thoát tử, nhưng còn sợ chưa biết cái gì gọi là sinh, làm sao gọi là tử. Không những người thế gian như vậy mà ngay cả người tu hành chúng ta cũng như vậy luôn. Lấy chuyện người xuất gia ngày nay của chúng ta mà nói, tối ngày dụng công phu sợ còn chưa biết dụng công phu làm gì, hiện tại tu nhân gì, tương lai cảm quả gì, chắc các ông chưa có một người hiểu được. Tối ngày chỉ là trống rỗng trôi qua thôi, cũng chẳng hiểu trời bao cao, đất bao dày, thế nào là Tứ Thánh, thế nào là lục phàm, chúng ta hôm nay ở thiền đường tu là tu nhân gì, tương lai cảm được quả gì, chắc không có người hiểu được. Các ông nếu có người hiểu được thì e rằng ta không bảo các ông dụng công phu các ông còn chịu không dụng chăng? Các ông phải biết: hôm nay ở thiền đường gieo cái nhân thành Phật tương lai nhất định cảm được cái quả thành Phật. Người xưa nói: “nhân nào quả nấy”, trồng dưa được dưa trồng đậu được đậu. Chúng ta người dụng công phu chỉ cần quyết tâm triệt để mà dụng đi bất kể ba, năm, tám, mười năm cũng được, ba mươi năm, năm mươi năm cũng được; nói tóm lại: lấy đại ngộ làm cứu cánh triệt để. Cổ nhân đã nói: “treo cao túi bát, lấy ngộ làm kỳ hạn”. Cứ ngay thẳng mà dụng công đi, quyết định lấy câu thoại đầu làm chính hạnh của ta, dù kiếp nầy không ngộ thì phát nguyện kiếp sau, không hỏi 3 kiếp, 5 kiếp hay 30 kiếp, quyết định không tu pháp môn nào khác. Các ông muốn được cái chí nguyện kiên cố như vậy mà hành thì ta dám bảo đảm nhất định sẽ được khai ngộ. Hành như vậy mà không khai ngộ thì Chư Phật Tổ Sư há lại chẳng rơi vào vọng ngữ sao? Tổ Triệu Châu nói: “Các người hành như vậy mà không khai ngộ thì chặt cái đầu của lão tăng đi.” Cái phương pháp tham thoại đầu nầy là phươgn pháp chân thật bất hư, là cái pháp căn bản của tất cả loài hữu tình, vô tình, chỉ cần dụng công phu không hỏi khai ngộ hay không khai ngộ: công phu dụng đến nơi tự nhiên sẽ ngộ, không cần ông lo nghĩ đến ngộ, nếu chỉ muốn khai ngộ mà không chịu dụng công phu thì làm sao ngộ được? Cổ nhân nói: “Không cần cầu ngộ, chỉ cần đề lên câu thoại đầu thẳng tay mà tham, tham đến sơn cùng thủy tận. “Ổ” lên một tiếng, được đến chỗ nầy rồi đó “như người uống nước nóng lạnh tự biết”, trong quá khứ có một vị tham thiền ở thiền đường ba năm chê trong thiền đường người đông làm lộn xộn, tự thấy công phu không được thâm nhập bèn bỏ đi vào núi ở. Ở trên núi cất một cái nhà tranh, trồng một ít cải, ban ngày trông chừng không cho chim rừng ăn cải, ban đêm hổ sói tranh giành ngày đâm chẳng yên, đối với công phu mình cũng bị lộn xộn, ở núi ba năm rồi công phu mình cũng không thâm nhập được bèn không muốn ở nữa, muốn tìm một căn nhà để nhập thất, như thế mới tương ứng với công phu. Đi khất thực được hai, ba năm gặp một cụ già tại gia đã kiến tánh. Bà ấy thấy người tham thiền nầy rất có đạo đức hạnh trì bèn thỉnh đến nhà mời dùng cơm chay và nói chuyện về tâm rất là tương đắc. Bà ấy nói: Thưa đại sư, tôi muốn thành tựu cho sự nhập thất của người. Người tham thiền nghe rồi nói: “rất tốt! Tôi đang muốn nhập thất đây”. Bà ấy bèn đưa sư nhập thất. Bà cụ trong nhà không có ai ngoài cô con gái mới 16 tuổi cũng đã khai ngộ, bà sai cô gái mỗi ngày đem cơm xuống cho sư ăn, được ba năm sau bà bảo cô gái: “Con đã đưa cơm được ba năm rồi, hôm nay lúc đưa cơm đợi thầy ấy ăn xong thì con đến ôm cứng lại bảo ông nói”. Người con gái nghe rồi nhớ kỹ và cũng làm theo lời dặn, lên ôm thặt rồi bảo rằng: “Nói đi”. Người tham thiền nói: Khô mộc ỷ hàn nham, tam đông vô noãn khí (cây khô dựa trên núi tuyết, mùa đông không chút hơi ấm), người con gái buông tay về nhà kể cho mẹ nghe, bà ấy nghe xong rồi mắng người tham thiền đuổi đi, đốt luôn cái am tranh và nói rằng: “Tôi cúng dường ba năm mà chỉ cúng dường một thằng chết”. Người tham thiền nghe cảm thấy mắc cở bèn cầm bồ đoàn lên mà đi khất thực nữa, tự trách mình được người ta cúng dường ba năm mà chưa khai ngộ được, bị họ chưởi mắng rất là tủi hổ, bèn ra sức dụng công phu. Khất thực ba năm lại đến chỗ bà nọ, cùng nói chuyện công phu yêu cầu bà cho nhập thất một lần nữa. Lại nhập thất thêm ba năm và bà ấy cũng bảo con gái đưa cơm như trước. Tròn ba năm, cô gái cũng y theo lời mẹ dặn trước lại lên ôm chặt lấy người tham thiền bảo: “Nói đi, nói đi”, kỳ nầy người tham thiền mở miệng đáp lại: “Trời biết, đất biết, ngươi biết, ta biết, đừng cho bà già ngươi biết”. Cô gái về nhà kể lại cho mẹ nghe, bà mẹ nghe rồi trong lòng hoan hỷ nói với người tham thiền” “Tốt lắm! Tốt lắm! Mừng người đã khai ngộ rồi”. Các ông đến nghe chuyện nầy rồi thì hãy tưởng tượng xem ngươi biết, ta biết, đừng cho bà già ngươi biết, nếu là người thế gian nói vậy thì có còn là chuyện tốt không? Đại khái các ông cùng có một cách lãnh hội như vậy, nếu lãnh hội như vậy là sai lầm rồi. Bảo các ông ở trên bổn phận mà lãnh hội, các ông tưởng tượng xem có lãnh hội được hay không? Nếu không lãnh hội được thì cứ tham đi!

KHAI THỊ Ngày 23 tháng 10 (thất thứ nhì ngày đầu)

Liễu sanh, thoát tử, minh tâm, kiến tánh, pháp tham thiền rất là đương cơ, cũng có thể nói là trùm khắp tam căn. Ta thật tin tưởng pháp nầy, trong tám vạn bốn ngàn pháp môn không pháp nào sánh cùng pháp nầy. Nhưng mà trong các ông còn nhiều người không cho như vậy, cứ nghĩ rằng tham câu thoại đầu làm sao có thể vượt hẳn lên tám vạn bốn ngàn pháp môn được! Dù ông không tin thế cũng được, chúng ta hãy bỏ qua câu thoại đầu, các ông nói pháp nào được liễu sanh thoát tử trực tiếp nhất, triệt để nhất? Có cái nào khỏi cần tham, cũng khỏi cần dụng công phu mà có thể minh tâm, kiến tánh được không? Các ông nghĩ thử xem, nếu thực có một pháp nào so với tham thiền còn mau hơn thì ta cũng muốn theo các ông mà học. Bởi vì ngã kiến các ông quá sâu, thiện căn quá cạn, muốn trừ cái chấp kiến của các ông quy về một con đường lớn nầy nên cần phải chỉ ra cho các ông biết, các ông suy nghĩ cẩn thận xem: xem Kinh có thể liễu sanh thoát tử không? Niệm Phật trì chú có thể liễu sanh thoát tử không? Các ông đến nơi đây là vì sanh tử mà đến, đương nhiên cần phải nghiên cứu, không phải là việc nhỏ đâu, các ông thảo luận thử xem; coi Kinh chỉ có thể gieo trồng một chút thiện căn, biết được chút ít ý nghĩa, muốn nói liễu sanh thoát tử thì làm không xong. Niệm Phật, niệm A Di Đà Phật cũng có thể liễu sanh thoát tử, mà muốn bảo đạt đến đỉnh núi Niết Bàn thì làm không được, trì chú thì thân tâm được thanh tịnh, có thể được một tí thần thông, liễu sanh thoát tử thì không thể được, bởi vì xem Kinh, niệm Phật, trì chú đều là hướng ngoại tìm cầu, sanh tử của các ông không phải từ ngoài mà được, không dựa vào cái khác mà có, đều từ trong nhà mình mà ra, ông chạy ra ngoài càng chạy càng xa. Ông cần phải biết: tham câu thoại đầu tức là hướng vào trong nhà mà chạy. Tại sao vậy? Ta nói một ví dụ: như con cháu đi học, đọc quyển Bá Gia Tính Từ Triệu, Tiền, Tôn, Lý, Châu, Ngô, Trịnh, Vương cứ đọc thẳng một mạch bất quá mấy ngày thì thuộc lòng rồi, giả sử đọc câu Triệu, Tiền, tôn, Lý rồi hỏi đó là lý lẽ gì thì làm sao giải thích, cứ hỏi như vậy không phải là ngớ ngẩn sao? Chỉ trong câu Triệu, Tiền, Tôn, Lý mà nghiên cứu thì câu Châu, Ngô, Trịnh, Vương không phải mất rồi sao? Đạt đến chỗ thâm nhập của việc nghiên cứu thì Triệu, Tiền, Tôn, Lý, cũng mất tiêu luôn. Các ông hãy nghĩ: hai chữ niệm Phật, không phải A Di Đà Phật, A Di Đà Phật từng câu mà thẳng tay niệm. Hôm nay hỏi ông: niệm Phật là người nào? Đứng ngay chỗ nầy không phải quày đầu lại sao? Cũng giống như đọc câu Triệu, Tiền, Tôn, Lý, các ông suy xét cẩn thận thử một chút xem có đúng không? Niệm Phật là ai không phải là quày đầu vào trong nhà mà chạy sao? Hướng vào trong nhà là gì? Không có sanh cũng không có tử, nói minh tâm, kiến tánh cũng là lời nói dư, đến nhà tâm không đợi nói minh, bổn lai đã minh, tánh không cần kiến, đã saün sàng hiện tiền. Cái câu thoại đầu nầy bước một chân thì đưa ông đến nhà, chỉ cần có một câu mà có thể về nhà ngơi nghỉ yên ổn. Tại các ông không biết câu thoại đầu có chỗ tốt như vậy. Các ông tưởng rằng: “tối ngày cứ đề câu thoại đầu lên thì vọng tưởng cũng nổi lên nhưng lại không kéo dài được, vậy thì làm sao lại nói tham câu thoại đầu thì đến nhà được? Thực là làm cho tôi khó hiểu”. Đúng thế! Các ông phải hiểu được: biết có vọng tưởng đó là công phu đã tiến bộ, đề khởi lên được mà kéo không dài, lại càng tiến bộ thêm. Các ông phải hiểu: bất cứ một pháp môn nào cũng ở trong vọng tưởng mà sinh hoạt. Làm sao biết được có vọng tưởng? Sở dĩ biết được có vọng tưởng cảm thấy không kéo dài được đều là tin tức tốt. Thực tại các ông tu đạo là đáng thương. Chúng ta đứng ở đây là người mấy chục tuổi cả, nói đến sanh tử thì không kể xiết, nên muốn tu đạo, truy cứu câu niệm Phật là ai không được thông, ba năm, năm năm cũng còn chưa thông, tình huống như vậy thì nói làm sao tu đạo? Nói sanh tử làm sao cho xiết? Chỉ để cho ngày tháng trôi qua thôi. Câu thoại đầu nầy tham không được thông còn kể được là người tu hành sao? Chỗ nào cũng cần thể diện, câu thoại đầu không thông thì không cần thể diện gì cả. Người có chút tri thức thì phải biết làm sao cho đúng bổn phận. Các ông còn có người nào chảy nước mắt không? Thật là tội nghiệp. Tất cả đều ở trong chỗ đen tối.
Ngày nay bảo các ông nhắm mắt lại, các ông đều nhắm mắt lại. Ta lại hỏi các ông: Mắt mở ra rồi có thấy được ta chăng? Mắt nhắm lại rồi ông còn tự mình thấy được mình không? Các ông nhắm mắt lại thì thấy tối um, một tí gì cũng chẳng thấy. Ta hỏi các ông nữa: đang lúc nhắm mắt lại rồi, bước thêm bước nữa thì đến chỗ nào? Các ông còn có ai nắm chắc được không? Các ông có hiểu được bước một bước nầy thì đi đến chỗ nào không? Hãy tham đi!

KHAI THỊ Ngày 24 tháng 10 (thất nhì ngày thứ hai)

Người mới phát tâm tham thiền dụng công sợ vọng tưởng, ngồi lâu sợ hôn trầm. Ta nói loại người như các ông thì dụng công không được, liễu thoát sanh tử không có phần của các ông. Tại sao vậy? Bởi vì các ông không biết phạm vi của vọng tưởng cũng như hôn trầm từ đâu ra? Các ông cần phải hiểu: Từ vô lượng kiếp đến nay lên thiên đường cũng nó, xuống địa ngục cũng nó, biến thành trâu ngựa cũng nó, hôm nay tu hành cũng là nó, muốn liễu thoát sanh tử cũng là nó, muốn thành Phật, làm Tổ cũng là nó. Cần phải hiểu rằng: trên từ thành Phật dưới đến địa ngục tất cả mọi cái đều do nó làm chủ. Lực lượng của nó lớn lắm, ông muốn sợ nó thì phải lìa xa nó, ông muốn lìa xa nó phỏng ông có lực lượng bao nhiêu? Lực lượng của vọng tưởng có tưới bao nhiêu nước cũng không vào được, còn lực lượng của ông chỉ cần một giọt trong số đó cũng đã thấm vào rồi. Các ông tưởng tượng xem sức lực các ông nhỏ bé như vậy thì làm sao mà lìa nổi cái sức của vọng tưởng lớn dường ấy được? Ông nhất định là sợ nó rồi, xa lìa nó không được, mà lìa không được lại càng sợ, còn một ngày lìa không được thì chỉ có sợ nó thôi, càng sợ lại càng lìa không được, ba năm, năm năm muốn lìa muốn sợ như vậy cho đến suốt đời cũng chỉ muốn lìa nó, sợ nó thôi. Các ông tưởng tượng xem còn dụng công phu được không? Nếu đã dụng công phu không được thì còn làm sao liễu thoát sanh tử được? Cho nên các ông sợ vọng tưởng, sợ hôn trầm là việc không đúng rồi. Lại nữa, vọng tưởng là làm sao mà lìa? Cả thân tâm các ông vốn là ở trong vọng tưởng. Bởi vì tâm các ông là tâm vọng tưởng, thân các ông cũng là thân vọng tưởng, thế giới cũng là vọng tưởng, trong hư không là vọng tưởng, ngoài hư không cũng là vọng tưởng, cử tâm, động niệm, đi đứng nằm ngồi, lằm việc đều ở trong vọng tưởng. Ta hỏi các ông: lìa vọng tưởng rồi ông ở chỗ nào? Lìa vọng tưởng rồi ông là người gì? Các ông hãy nghiên cứu cẩn thận xem còn có thể lãnh hội một tí nào không? Vậy thì làm thế nào mới có thể dụng công phu được? Vọng tưởng có nhiều chừng nào đi nữa cũng đừng đợ nó, vậy không sợ nó thì phải yêu nó sao? Cũng không được yêu nó. Không sợ nó, không lấy nó làm bạn ác, không yêu nó, không lấy nó làm bạn tốt. Giả sử ông yêu nó vậy thì đến phải xuống địa ngục rồi. Vì ông yêu nó thì phải tùy thuận nó, thuận nó thì phá giới, phá giới thì không phải xuống địa ngục sao? Cho nên, sợ cũng sợ không được, yêu cũng yêu không được, chỉ cần đề lên câu thoại đầu là cái gì? Khởi lên nghi tình để tham vấn truy cứu, nhưng mà hai chữ truy cứu chỉ cho ông truy cứu câu thoại đầu niệm Phật là ai? Rốt ráo là ai? Cứu kính là ai? Nếu mà cứ truy cứu cái đề khởi câu thoại đầu “Niệm Phật là ai?” là ai? Người biết truy cứu lại là ai? làm như thế thì không những không phải là truy cứu mà trái lại chỉ là ngược trở lại thôi, đây là việc bên thức thần không gọi là tham thiền, không thể liễu sanh thoát tử được! Vậy thì tham làm sao đây? Hôm nay ta cho các ông rõ: cái đường lối trực tiếp là ở niệm Phật là ai, là người nào, không hiểu được, cứu kính là ai cũng không rõ ràng. Ngoài ra một tí suy nghĩ, đoán nầy đoán nọ cũng không có. Các ông ở chỗ nầy thẩm định sâu sắc một tí xem có vọng tưởng không? Còn hôn trầm không? Hãy nghiên cứu cẩn thận, không phải chuyện nhỏ nhặt đâu. Các ông lúc tham thiền đi tiêu đi tiểu xong ngồi xuống, ngồi xuống rồi chưa nghe đánh bản chỉ tịnh còn phải đợi thêm một chút xíu nữa, đánh ba lần bản, một lần chuông chỉ tịnh rồi mới suy nghĩ đề lên câu thoại đầu thì vọng tưởng cũng đến luôn, chán quá! Muốn lìa bỏ vọng tưởng; một lìa, lìa không được, lại lìa nữa thì hôn trầm đến luôn. Đuổi vọng tưởng hôn trầm không được thì mặc kệ nó. Đến giờ khai tịnh thì cũng hết chuyện rồi, chạy hương thì chạy, đại khái đều như thế. Tiếc thay! Cứ như thế mãi thì cho đến tận vị lai cũng không có khi nào dứt được. Các ông muón thấy rõ cái khổ của việc sanh tử, cái khổ của tam ác đạo, trong nháy mắt đã bị lôi kéo đi, thực đáng sợ, đáng sợ lắm! Chỉ mong các ông triệt để nhận thức mau chóng đề lên câu thoại đầu tham cho thông rồi thì sanh tử sẽ không có phần của các ông, lục đạo luân hồi còn ở đâu lại được nữa! Các ông hãy phát tâm. Tham đi!

KHAI THỊ Ngày 25 tháng 10 (thất nhì ngày thứ ba)

Mở mắt thì không chiêm bao, tâm không khởi ý thì không có đối đãi. Ý nghĩa hai câu nầy ta giảng sơ qua: mắt mở thì cứ mở cho lớn thì không chiêm bao, mắt nhắm lại thì nằm chiêm bao, đại khái là như vậy. Nhưng ta nói: mắt nhắm nằm chiêm bao, mắt mở rộng lại còn nằm chiêm bao hơn, các ông tin hay không? Các ông nghĩ rằng mắt nhắm thì ngủ nằm chiêm bao, tại sao mắt mở rộng cũng còn nằm chiêm bao. Tôi có chỗ không tin. Đúng đấy! Nhưng ta nói các ông đứng ngay đây đang nằm chiêm bao, suốt ngày suốt đêm chiêm bao, mắt nhắm lại nằm chiêm bao còn có thể mau chóng tỉnh lại được, các ông mở mắt mà chiêm bao thì chẳng có lúc nào tỉnh, còn biết cái chiêm bao nầy sẽ kéo dài tới thời gian nào mới có thể tỉnh được? Tội nghiệp quá! Người chưa liễu ngộ đều là mở mắt nằm chiêm bao mà không hiểu được đang nằm chiêm bao. Muốn biết cái chiêm bao nầy lúc nào mới tỉnh lại được thì nhất thiết phải khai ngộ, khai ngộ rồi cũng như ngủ nằm chiêm bao thình lình tỉnh dậy. Ta hỏi các ông cái chiêm bao nầy còn có kỳ hạn tỉnh dậy không? Còn nói về cái tâm không khởi ý, ý tức là niệm, tâm có thể khởi thiện niệm, khởi ác niệm, nếu tất cả niệm đều không khởi ấy tức là không có đối đãi, đại khái ý nghĩa là như vậy đó. Kỳ thực không phải thế, cần phải thánh bất khả đắc, phàm bất khả đắc, niệm bất khả đắc, tâm cũng bất khả đắc, nói không rơi vào hai (có đối đãi) thì đã rơi vào ba, luôn cái nhất cũng bất khả đắc mới cho là có một tí tương ưng trong thiền tông. Trong thiền tông chính yếu là phá cái mở mắt chiêm bao, quét sạch mọi tà niệm. Chiêm bao không tỉnh được thì sanh tử không liễu được, tà niệm không trừ thì vọng sinh ra chi tiết, chi tiết vọng rồi thì thiện nhân chiêu ác quả. Ông tưởng là không sai: kỳ thật là báng Phật, phỉ Tổ, phỉ báng thiền đường, phỉ báng đại pháp luân, cái nhân nầy đã gieo xuống rồi thì khỏi nói nữa, phải đọa địa ngục A Tỳ. Mỗi khi có người nói: “Trong thiền tông nói nghe thì tốt lắm, có huyền có diệu, nhưng làm thì có chỗ như không đúng. Mỗi khi ngồi xuống lại buồn ngủ mà còn ngáy nữa”, thế thì tâm ông sanh hột giống khinh mạn, ông làm như vậy thì cái nhân phỉ báng đã gieo xuống rồi. Tại sao vậy? Người xưa có câu chuyện tương tợ nay ta kể ra một câu chuyện xưa cho nghe: Ngày trước Tứ Tổ đến núi Ngưu Đầu ở Nam Kinh thấy có tử khí (hơi màu đỏ). Tổ nói: “Trong núi nhất định có người tu đạo.” Tổ bèn trèo lên, thì gặp Thiền Sư Pháp Dung, có con cọp ở một bên, Tứ Tổ làm ra vẻ hoảng sợ, Dung nói: “Ông còn có cái nầy tồn tại sao?” Tứ Tổ nói thầm trong bụng “Đây là bậc Đạo nhân” rồi chạy đến chỗ ngồi bằng cỏ của Pháp Dung và vẽ một chữ Phật lên trên đó. Dung thấy có chữ Phật thì không dám ngồi, Tứ Tổ bèn hỏi: “Ông còn cái nầy tồn tại sao?” Biết được đồng là có đạo. Đêm đó Dung nhường chỗ cho Tổ ngủ, trên giường suốt đêm Tổ cứ ngáy. Sáng ngày hôm sau, Dung nói: “Ông thực không biết mắc cở, ngáy suốt đêm làm tôi ngồi không yên”. Tứ Tổ nói: “ông còn làm phiền tôi, ông làm con rệp rớt xuống đất té gảy chân vừa kêu vừa nhảy không thôi suốt đêm làm tôi ngủ không yên”. Người đời sau có hai câu nói:
“Pháp Dung khi chưa gặp Tứ Tổ thì như thế nào? Sau khi gặp rồi thì thế nào? Khi chưa gặp thì Trời, người đều cúng dường, vượn khỉ dâng trái cây, sau khi gặp Tổ chẳng còn ai cúng dường, quả chẳng ai dâng. “Các ông tham xem tại sao như vậy? Lúc ta ở Chùa Kim Sơn khi dụng công phu đắc lực nằm trên quảng đơn nghe tiếng ồn ào, ta đi xuống xem thì không thấy ai, tất cả đại chúng đều ngủ không một người nào nói chuyện, ta nhìn dưới đáy quảng đơn mới thấy hai con rệp cắn lộn nhau, ta mới đưa chúng tới liêu như ý, cho ít đồ ăn để chúng nó ăn. Các ông thử tưởng tượng xem, còn có thể lấy cái vọng tưởng của mình mà phân biệt được không? Điều ta nói chính là bản thân ta làm đến. Hôm nay ta nói cái chỗ hành của ta, sợ các ông còn có điểm hoài nghi, đợi khi công phu của các ông đến chỗ nầy rồi thì các ông sẽ được biết. Nhưng đợi đến các ông biết để ăn năn cái nhân phỉ báng đã tạo lúc trước thì đã trễ rồi, cho nên ta hôm nay đặc biệt chỉ ra cho các ông, ấy là việc rất cần cần lắm. Các ông hãy phát tâm, tham đi!

KHAI THỊ Ngày 26 tháng 10 (thất nhì ngày thứ tư)

Tham thiền dụng công quý ở chỗ hành. Hành được mới gọi là tham thiền, không hành, miệng nói tham thiền cũng như không. Chữ hành trong thiền tông rất quan trọng. Không những đời nay hiểu sai lầm cái chữ hành nầy mà ngày xưa người hiểu sai lầm cũng không ít; tất cả đều cho thấy được là xong, hoặc lãnh hội được sự kiện nầy người xưa nay đều vốn có, không cần tu chứng, hoàn toàn là vậy rồi, vậy còn hành cái gì? Cứ cho hành là dư thừa, kỳ thực thiền tông rất quý chữ hành, ấy là sự thực hành, chớ nên lầm tưởng. Phải biết cửa thiền tông là cửa vô thượng, cái hành của thiền tông là hành vô thượng. Muốn đạt đến mục đích trước tiên phải biết: chúng ta từ vô lượng kiếp đến nay là do hành mà đến, tuyệt không phải khi không mà có được, cũng không phải người ta đưa ông đến; lên thiên đường cũng do ông đi, xuống địa ngục cũng do ông đến, thai trâu bụng ngựa cũng do ông đi đến, nay làm người như thế nầy cũng do ông hành tới, đại khái đều như vậy cả. Chẳng thấy người ta lôi ông xuống địa ngục. Từ đó suy ra phàm chúng sanh có sinh tử thì cũng từ lý nầy. Chúng ta dĩ nhiên đều biết tất cả đều do tự ta hành đến, vậy ngày nay muốn phản bổn quy nguyên đâu phải cứ nói ra là đến nhà được đâu, là lãnh hội được đâu? Thời gian tới phải trãi qua biết bao niên đại mới đến nơi xa như thế nầy, nay muốn phản bổn quy nguyên tất phải theo lối cũ mà về thôi. Hơn nữa, trên tâm hạnh các ông đều biết phiền não không tốt, vọng tưởng xấu xa, nghiệp chướng không được nổi lên, nhưng mà tuy biết phiền não là không tốt, phải vứt đi, vọng tưởng là cái xấu phải bỏ đi, sự thật thì có thể bỏ được chăng? Giả sử vứt được thì vứt ngay bây giờ xem nào, dù ông bản lĩnh to bằng trời sợ không làm được như lời đâu, đã không làm được thì không được như thế, theo thế mà nghiên cứu thì chữ hành tất nhiên không được thiếu sót, nhưng đối với người trung hạ căn mà nói thì cái hành này cũng giống như đi đường từ bao xa đến, khi trở về cũng phải đi từng ấy xa thì mới trở về được nguyên xứ. Ví dụ từ ngoài nghìn dặm đến hôm nay trở về cũng phải trải qua nghìn dặm, mỗi ngày đi trăm dặm thì phải đi mất mười ngày mới đi hết. Giả sử thiếu một ngày hay thiếu một dặm cũng không đến nhà được, lý do nầy thì nhất định. Nhưng đối với các ông người có chút căn cơ lại thêm vào đích chỉ trong thiền tông của chúng ta thì không cần phải đi như vậy. Chỗ hành của thiền tông thì như thế nào? Ông từ ngàn dặm đến đây, hôm nay không những không cần ông đi ngàn dặm mới đến được quê nhà mà luôn cả danh từ ngàn dặm đường cũng bất khả đắc, danh từ đã bất khả đắc mà còn muốn ông đi sao? Quày đầu lại là đúng rồi, gót chân không cần nhúc nhích hễ cử động là phải rồi. Các ông thử nghĩ xem: cái pháp tham thiền nầy có trực tiếp không? Người căn cơ thượng đẳng phải hiểu được rằng không phải sinh ra là đã được thượng căn rồi mà cũng là do ở chúng ta từ làm người hạ căn đạt đến trung căn, rồi từ trung căn thành thượng căn, đến thượng căn rồi thì nhất văn thiên ngộ (một nghe ngàn ngộ). Tham đi!

KHAI THỊ Ngày 26 tháng 10 (thất nhì ngày thứ năm)

Pháp tham thiền là một chính pháp cứu thế, cứu thân và diệu pháp cứu tâm. Chữ thiền nầy là cái cửa ngõ tất yếu mà làm người cần phải đi qua, người tham thiền không phải đã tham được thiền là xong đâu, thực ra phải có một tí mùi vị gì của tham thiền; vậy thì ông phải bận rộn hết sức, có bảo các ông dừng nghỉ một chút các ông cũng không chịu. Nếu chân thực đạt được mục đích của thiền thì việc thành Phật saün sàng trước mắt. Phật đây không có quốc độ nầy quốc độ nọ, không có chúng sanh chư Phật. Muốn thành Phật trải qua a-tăng-kỳ kiếp, cần phải xả đầu mắt, xả óc tủy tim gan, ngũ tạng, kết duyên cho với chúng sanh cõi đại địa, kết duyên cho đầy đủ rồi, nhân duyên thành thục thị hiện giáng sanh, khổ hạnh thành Phật tọa đạo tràng, một đời hoằng dương thánh giáo. Nhưng quả địa Phật nầy lại do nhân địa Phật tạo ra quả địa Phật, khi thành thì làm giáo chủ cả đại thiên thế giới. Mỗi người tham thiền các ông cần đạt đến mục đích của thiền, không những các ông ở tại thiền đường nầy mà cả tăng lẫn tục ở khắp nơi, nam hoặc nữ đều cần phải đạt đến mục đích của thiền, muốn đạt đến mục đích đương nhiên phải có một phen sự việc, còn mong các ông dư ra được mấy người không chỗ làm việc, ở đó mà ngủ gục, tại sao vậy? Mỗi thế giới có một giáo chủ, vậy vô lượng thế giới cho đến vi trần trong hư không đều có giáo chủ. Người thành Phật quá động còn dư ra mấy người không có thế giới để làm giáo chủ giáo hóa chúng sanh, đây là điều tôi hy vọng đối với các ông, không những ta hy vọng các ông như vậy, cả đến thập phương Chư Phật thấy các ông có cái tri thức tham thiền được như vậy cũng phải vui vẻ cười to, chư Đại Bồ Tát cho đến hộ pháp long thiên đều phải chắp tay hoan hỷ hộ trì các ông, không những hộ trì mà lễ bái cũng còn được nữa. Vì vậy ở trong đạo tràng nầy, thêm vào thời kỳ thiền thất được định kỳ thủ chứng, nên cần phải thiết tha nổ lực, mọi cái đều phải buông bỏ hết, buông đến sạch sành sanh. Tham đi!

KHAI THỊ Ngày 28 tháng 10 (thất nhì ngày thứ sáu)

Người trong thiền tông phải làm việc trong thiền tông. Các ông cần phải hiểu cái hành trong thiền tông là cái gì? Nếu không hiểu rõ thì cho ông có suốt đời ở thiền đường thì vẫn còn đứng ở ngoài cửa thôi. Hôm nay ta nói cho các ông biết qua, ấy là việc ở thiền tông không có gì khác ngoài việc tham thiền ngộ đạo, liễu sanh thoát tử nhưng tham thiền là tham ở nơi mình, liễu sanh thoát tử là liễu thoát sanh tử của mình chứ không phải là thay cho người khác, dù cho ông có bản lĩnh lớn bằng trời cũng không thể làm thay cho người khác được. Còn có người ở thiền đường tưởng rằng là ở thay cho người khác, cho đến làm mọi việc là làm thay cho người khác. Các ông phải biết rằng tất cả mọi việc, việc nào không phải việc của mình đâu? Các ông nếu là người có chút tri thức không đợi ta nói ra mà đã biết quay về với chính mình rồi. Lại có một số người tưởng ở thiền đường Chùa Cao Mân, dụng công là dụng cho Chùa Cao Mân. Trong các ông nếu có người như vậy thì còn xứng đáng là người làm cái việc trong thiền tông không? Tham thiền ngộ đạo, liễu sanh thoát tử còn có phần của các ông không? Vì vậy muốn các ông mở mắt thấy cho rõ. Nhưng tham thiền ngộ đạo liễu sanh thoát tử, hai câu nói đó gom lại chỉ là hai chữ tham thiền. Do tham thiền mà ngộ được đạo, ngộ đạo rồi sanh tử lý nào không liễu? Tóm lại là tham thiền. Đối với việc tham thiền thì thế nào là thiền? Thế nào là tham? Các ông cần phải biết rõ ý nghĩa tham thiền rất rộng. Ta sơ lược chỉ cho các ông một chỗ hạ thủ rất xác thực, mong các ông cứ nghe thì lãnh hội ngay và một mạch mà hành thì sẽ đến nhà. Trước nhất phải biết: từ vô lượng kiếp do một niệm bất giác nên đều hướng ngoại mà chạy cho đến nay vẫn còn bất tri bất giác, thậm chí đều không biết có nhà, vì thế nên gọi là chúng sanh. Phải biết hướng ngoại là gì? Hướng nội là gì? Hướng ngoại là lục đạo luân hồi sanh tử bất định; hướng nội là bổn lai diện mục cùng đồng một thể với chư Phật. Dạy các ông tham thoại đầu là dạy các ông hướng nội, tham thoại đầu tức là tham thiền, là hướng nội. Tóm lại, muốn thấy bổn lai diện mục mà không hướng nội là không được; không hướng nội ấy là sinh tử. Vì sao tham thoại đầu là hướng nội? Có lẽ các ông không rõ ràng, ta giảng một thí dụ cho các ông nghe: các ông đang ngồi đây ta hỏi các ông: “Có thấy bàn thờ Phật không?” Các ông đương nhiên trả lời là thấy, ta hỏi thêm: “Trên bàn thờ có gì?” Nhất định các ông sẽ trả lời là: Bên trong có Phật Tỳ-Lô và những thứ khác.” Ta lại hỏi: “Người thấy bàn thờ Phật là ai?” Các ông hãy quay đầu hướng vào chính mình xem! Trong lúc đó không thấy có Phật, ngay cả bàn thờ Phật cũng không có luôn, các đồ vật khác còn có không? Không những không còn mà còn phải quay đầu lại tham vấn trên cái niệm của chính mình đi. Các ông thử nghĩ xem thấy bàn thờ là hướng ngoại, không thấy là hướng nội; không thấy bàn thờ Phật trên niệm nầy mà “truy” ấy là hướng nội. Theo như thí dụ nầy mà thấy thì tham thoại đầu cũng vậy. Niệm Phật, có Phật để niệm được là hướng ngoại; tham “niệm Phật là ai” thì cứ trên niệm ấy mà tham vấn, ấy là hướng nội, hướng nội tức là tham thiền. Hôm nay ta đem ví dụ về sự tham thiền giảng cho các ông nghe qua rồi các ông không được nói là không biết tham thiền, không hiểu được tham câu thoại đầu nữa. Ta hôm nay giao hẹn rõ ràng cho các ông rồi, hãy phát tâm. Tham đi!

KHAI THỊ Ngày 29 tháng 10 (thất thứ nhì ngày thứ bảy)

Người có một tí lợi căn thì dụng công không lấy gì làm khó. Không nhờ ở tu chứng, đương thể bổn lai chân tánh không dư, không thiếu, thanh tịnh quang minh không do người khác mà được, đều tụ mình saün có, chỉ vì các ông không thể hành như vậy thôi. Bệnh ở đâu? Bệnh ở nơi chữ “chướng”. Chúng ta vốn không có mê, vì chướng mà có mê, chướng lìa thì ngộ, sanh tử vì chướng mà có, nếu không có chướng thì sanh tử cũng không. Nếu bỏ chướng đi thì bổn lai diện mục chúng ta đương nhiên hiện ra. Như vậy phải biết chướng là cái cửa ngõ trọng yếu của người dụng công phu, các ông có biết không? Nếu biết được cái chướng nầy thì các ông sẽ có biện pháp để trừ nó. Nếu không biết chướng là cái gì, lấy cái gì làm chướng thì còn nói làm sao trừ chướng được? Làm sao lo cho xong? Đối với người thông thường thì cho là: “sanh tử là chướng, sanh tử bên bờ nầy là chướng, bên bờ kia là Niết Bàn, Niết Bàn không phải là chướng, mê là chướng, ngộ tức không phải là chướng, trần lao là chướng, thanh tịnh là cứu cánh, chúng sanh là chướng, Phật là rất tốt”. Đại khái là thế. Thiền tông thì không vậy, sanh tử là chướng, Niết Bàn cũng là chướng, mê là chướng, ngộ cũng là chướng, chúng sanh là chướng, Phật cũng là chướng, thân là chướng, tâm cũng là chướng, sơn hà đại địa là chướng, hư không cũng là chướng. Các ông còn tin chăng? Có người cho rằng: sanh tử là khổ đương nhiên là chướng rồi, Niết Bàn là lạc làm sao lại là chướng được? Chúng sanh là chướng, sao Phật cũng là chướng? Sưn hà là chướng, hư không tại sao cũng là chướng? Nói như vậy thì tôi cần dụng công làm cái gì? Việc trong thiền tông thật là khó tu quá! Đúng đấy! Các ông hồ nghi như vậy nên ta muốn chỉ ra cho các ông, muốn dẫn các ông đi trên đường đi của thiền tông. Nhưng ta chỉ vẽ cho các ông, dẫn đường cho các ông là muốn các ông tự đi, chứ nếu các ông không tự mình đi thì ta không đi thay cho được đâu. Tại sao trong thiền tông muốn nói sanh tử Niết Bàn, chúng sanh Chư Phật, bờ nầy bờ kia, thanh tịnh phiền não, mê ngộ, thân tâm, hư không đại địa đều là chướng? Phải biết rằng tất cả chướng không rời tâm, sanh tử là tâm, chứng Niết Bàn cũng là tâm, cho đến hết thảy hư không đại địa cũng đều là tâm cả. Cái tâm nầy là cái chướng căn bản, căn bản đã chướng thì còn chổ nào không phải là chướng nữa? Các ông muốn lìa cái chướng nầy thì phải có cách nào? Nếu nói: sanh tử khổ là chướng thì lìa bỏ nó, lạc của Niết Bàn cũng là chướng thì cũng bỏ luôn lạc đi; bờ nầy không trụ, bờ kia không trụ, phiền não không trụ, thanh tịnh không trụ, cho đến hư không cũng không trụ. Tóm lại, tất cả trần lao thế giới bên ngoài thân đều bỏ sạch, nhức ngứa trên thân cũng bỏ, vọng tưởng nhiều như cát trong tâm cũng bỏ. Phương pháp trừ bỏ như vậy sai hay không sai? Nhưng trong thiền tông không như vậy. Tại sao như thế? Nếu bỏ từng món một thì chẳng lúc nào hết được; bên nầy dứt thì bên kia sanh, chôn hồ lô trên nước thì không dễ gì được đâu. Đến nhà rồi thì mới có thể đem gốc của nó mà bỏ đi hết được. Thí dụ như mặt trời mặt trăng sơn hà đại địa v.v… tuy là sắc tướng nhiều lắm nhưng đều ở trong một cái hư không, nếu ta muốn bỏ mặt trời mặt trăng, sơn hà đại địa không phải là nhiều lắm sao? Nếu muốn bỏ lần lượt từng món vật cho hết thì e rằng không có bản lĩnh to như thế! Nếu ta có sức lực một tay đặp bể hư không thì còn cái gì nữa? Liễu chướng cũng như vậy thôi. Mặt trăng mặt trời và mọi cái khác cũng giống như những cái chướng nầy nọ của chúng ta, hư không thì cũng như tâm của chúng ta, nếu có thể đem tâm mà liễu bỏ được, thế không phải là trừ bỏ hết tất cả chướng hay sao? Pháp liễu tâm tức là tham thoại đầu; pháp nầy để trên niệm mình mà truy cứu, lâu ngày rồi thì tâm sẽ hết, vọng tưởng cũng sẽ hết, nhân, pháp, đều mất. Lúc bấy giờ thì các ông mới nhận thức Chùa Cao Mân, mới hiểu được lợi ích của câu thoại đầu ở thiền đường! Nhưng sự dụng công ngay bây giờ của các ông cần phải đề lên câu thoại đầu từng giây, từng phút mà truy cứu, chẳng hỏi động tịnh nằm ngồi đi đứng, niệm niệm không gián đoạn, có ngày các ông sẽ đập bể được hư không. Hãy tham đi!

KHAI THỊ Ngày 30 tháng 10 (thất thứ ba ngày đầu)

Pháp luân chưa chuyển thực luân phải chuyển trước. Trong sự khó khăn vô vàn của nhà chùa, dù cho khó khăn đến đâu cũng phải ra sức duy trì cho nên phát khởi thiền thất cho các sư được chuyên tâm tu hành. Cũng vì đạo tâm của các sư thành khẩn cảm động đến hộ pháp long thiên và được nhiều vị trưởng lão ở các nơi phát đại từ bi, thấy nhà chùa đời sống thanh bần mà quan tâm đến đạo niệm của các ông vì thế đặc biệt cung cấp dầu, muốn, gạo, củi để nhà chùa khỏi phải lo lắng, các sư được an tâm tu đạo. Các vị trưởng lão nầy trước kia hoặc là thủ tọa hòa thượng. Tây đường sư phụ, hoặc đường chủ sư phụ, lâu nay vẫn thường quan tâm đến sự thanh bần của đạo tràng. Nhưng các sư đó không thể so sánh với người đại phú được, đều tiện tặn, ăn xài bỏn xẻn, tích tụ tiền bạc do y bát khất thực không dễ gì có được. Không thể nói là cứ ngồi ngồi, đi đi mà trai thực tiêu đi được đâu. Nếu các ông cứ cho như thế mà không có công việc gì khác thì làm sao có thể trang trải được nợ cơm! Người xưa đã nói: “Thốn hương năng tiêu đấu kim (một tấc hương có thể tiêu được đấu vàng)”. Tại sao suốt ngày tọa hương mà không đủ trả được nợ cơm? Thật đúng lắm! Ta muốn hỏi các ông:
Từ sáng đến tối, tấc hương nào tiêu được đấu vàng? và tấc hương nào không tiêu được đấu vàng? Các ông hãy nghiên cứu thử xem? Không phải là việc nhỏ đâu! Ta thấy các ông đối với “tấc hương tiêu đấu vàng” đại khái còn chưa làm được. Đối với việc trang trải nợ cơm, ta không những có thể hứa với các ông mà còn có thể bảo đảm nữa. Ta bảo đảm ở chỗ nào? Là ở chỗ muốn cho các ông đối với câu thoại đầu không biết là ai, cứu cánh là ai, điều đó không hiểu được, rốt ráo là ai cũng còn không hiểu được; suốt ngày tiền niệm là câu thoại đầu, mà hậu niệm cũng là câu thoại đầu. Các ông tự mình đi như vậy thì ta bảo đảm các ông tiêu được cái nợ cơm. Ta muốn hỏi các ông có tham thiền hay không? Các ông đương nhiên trả lời:
“Suốt ngày tôi tham câu thoại đầu không mảy may gián đoạn”, ta hỏi thêm các ông: câu thoại đầu không gián đoạn thì trên thân các ông có áo mặc không, quả đường còn ăn cơm không? Các ông trả lời ta cách nào? Nếu biết sự mặc là áo quần, sự ăn là cơm gạo thì không đúng rồi, tôi không dám bảo đảo đâu! Ngoài ra các ông còn trả lời ra sao nữa, hãy nghiên cứu thử xem? Mặc áo không phải mặc áo, ăn cơm không phải ăn cơm; cũng như người xưa nói mặc áo suốt ngày không dính một sợi chỉ, suốt ngày ăn cơm không cắn một hạt gạo. Nếu các ông tham thiền được như thế thì đầy là bằng chứng ta có thể bảo đảm. Trái lại, ta không những không dám bảo đảm mà ngay cả Phật Thích Ca cũng chẳng dám. Các ông phát tâm, hãy tham đi!

KHAI THỊ Ngày 1 tháng 11 (thất thứ ba ngày thứ hai)

Tham thiền không phải là việc hưởng nhàn. Hôm nay là trong thời kỳ đả thất không cần phải nói lại con đường công phu làm chi nữa, nếu cần phải nói thì không còn đả thất nữa. Vì sao vậy? Vì lúc bình thường cần phải dụng công cho tốt, kịp đến lúc đả thất cần thêm tinh tiến thời ngộ ngay thôi. Nếu muốn nói đường đi trong thời kỳ thất vậy thì, đường đã nhiều lại thêm lắm: vọng tưởng, hôn trầm, chẳng biết đến tham thiền. Không biết đến việc phát khởi nghi tình, phiền não, vô minh v.v… lại càng thêm lắm. Cứ theo như thế mà vẫn còn được gọi là đả thất hay sao? Đả thất cần ở sự khai ngộ cũng như theo đuổi việc thi cử vậy. Kỳ thi không phải là lúc đi học, lúc bình thường cần phải học hành cho tốt. Một khi đã đến nơi trường thi rồi thì chỉ còn lo việc công danh. Giả sử vô trường thi chữ không biết lại còn đi tìm lấy người để hỏi, điều nầy có được không? Đả thất cũng như thế. Trong thời kỳ đả thất còn không hiểu được sự dụng công, lại cũng chẳng hiểu vọng tưởng và tham thiền có như nhau hay không, đầu mối sự phát nghi tình là như thế nào, như thế mà đả thất hay sao? Thật tiếc cho các ông không thể không nói được. Nếu mà không nói thì không những chỗ sâu xa không thấy đến mà chỗ nông cạn cũng chẳng nhìn ra, cho nên ta nay vì các ông mà nói, tham thiền khởi nghi tình là như thế nào? Phải biết câu thoại đầu là như thế nào? Không rõ cứu cánh là ai? Chẳng hiểu được là ai, rốt rào là ai? cũng chẳng biết là ai, không rõ không biết, mơ mơ hồ hồ tức là nghi tình vậy. Vọng tưởng với tham thiền đều là một vọng tưởng, cùng một con đường. Ta nói như thế các ông nghe lại cho là: “tham thiền cũng là vọng tưởng, vậy còn phải tham thiền làm gì? Vọng tưởng hóa ra là lục đạo luân hồi, tham thiền cũng là vọng tưởng vậy tham thiền không phải là luân hồi sao?” Cần phải hiểu được là chỗ khác nhau giữa vọng tưởng của sự tham thiền với vọng tưởng của vọng tưởng là thế nào? Vọng tưởng thì tùy nghiệp chuyển, tham thiền thì tùy tâm chuyển, tùy nghiệp chuyển thì tâm đi trước, các ông đi theo sau tâm. Nghiệp thì chuyển hướng về nẻo luân hồi mà đi, cho nên vọng tưởng là theo nghiệp chuyển, tùy nghiệp thì tất cả là sanh tử. Tham thiền thì tùy tâm chuyển. Tâm là cái gì vậy? Có phải quả tim bằng thịt của các ông không? Thế lấy gì làm tâm của các ông? Tâm, vậy thì ở đâu? Ở trong chăng? Ở ngoài chăng? Hay là ở khoảng giữa hay nơi nào nữa? Thật đáng tiếc! Các ông thật chẳng biết gì? Ta nói đưa chân lên, để chân xuống, đi đứng nằm ngồi, ra vào tới lui, tất cả chỗ nào cũng chẳng mảy may rời tâm cả, vậy có chỗ nào không phải tâm đâu? Ấy chỉ là mình thừa nhận không được thôi. Hôm nay ta hai tay mang đến trước mặt các ông sợ rằng các ông cũng chẳng biết ra được. Thế còn người nào có thể thừa nhận được chăng? Ta dám nói với các ông một người cũng chẳng có. Vậy thì câu thoại đầu đợi các ông tham cứu cho đến chỗ đắc lực, muốn các ông tự mình nhận thức một tí. Ta nói cái gì các ông cũng có thể tin lấy được, nếu công phu không đến được nơi nầy thì dù ta có nói tốt nữa cũng không dễ gì tin được đâu. Nhưng câu thoại đầu này nói là chân như cũng được, nói là Phật tính cũng được, nói là Pháp thân cũng được, nói là tâm cũng xong, phạm vi của nó rất rộng lớn vậy. Thật đáng tiếc cho các ông! Đối với tâm thì tuyệt không biết gì. Hôm nay ta dạy cho các ông hãy lấy câu thoại đầu làm tâm đấy. Câu thoại đầu đến nơi đâu các ông đến nơi đó, câu thoại đầu đi trước các ông đi theo sau. Nói tóm lại, lấy câu thoại đầu để xét tâm ta, hỏi tâm ta, truy cứu tâm ta, lâu ngày đi rồi cũng có thể làm sáng được tâm ta. Đây tất cả sẽ là: vọng tưởng tùy nghiệp chuyển tức là sanh tử, vọng tưởng tùy tâm chuyển tức là minh tâm. Các ông phải thấu đáo thấy được là lời ta có đúng không, việc ta nói là việc của ta, không liên can gì đến các ông, muốn cho các ông dụng công phu đến nơi ấy thì các ông tự mình sẽ thấy thôi, và các ông mới có được sự thụ dụng. Giả sử như lời của ta nói mà các ông đối với bổn phận mình lại không nghe không hỏi, thế thực là đáng tiếc! Đáng buồn! Phải hiểu được là: cái xác thân nầy, thời giờ thì hữu hạn, một khi đã ngã xuống rồi thì không còn gì để truy xét nữa. Tiền đồ thật không kham nghĩ đến. Cần phải nhanh chóng lên. Hãy tham đi!

KHAI THỊ Ngày 2 tháng 11 (thất thứ ba ngày thứ ba)

Về người dụng công có câu rằng: “một người địch với muôn người”, câu nói nầy đối với người xưa thì thật là đúng, nhưng đối với người nay thì không hợp. Tại sao vậy? Vì đạo tâm người xưa sung mãn, trăm lần gãy đổ chẳng trở lui, một lần bạo gan nhảy tới có thể vượt qua được ngay, người nay đạo tâm không vững, cứ một lần gãy đổ thì phải lùi lại ngay, nhiều lần bạo gan nhảy tới cũng chẳng vượt qua được. Mà không bạo gan đối địch thì còn tốt chứ bạo gan đối địch thì trái lại phải đầu hàng. Như vậy làlẽ làm sao? Đó là vì một người chúng ta sức lực thì hữu hạn, muôn người khác mỗi mỗi đèu có sức lực rất lớn. Muôn người là ai? Là tham, sân, si, mạn, nghi và các thứ phiền não vô minh. Muôn niệm nầy thì đã quen thuộc từ lâu không cần các ông đến gần nó, nó cũng tự nhiên tùy thuận các ông. Cái niệm tùy thuận tự nhiên nầy có sức lực vô lượng, muôn niệm thì sức lực lại càng lớn không kể được. Hôm nay một niệm dụng công tham thoại đầu từ lâu chẳng thấy qua cũng như chưa từng làm qua, như vậy làm sao nó tùy thuận các ông mà lại còn muốn các ông đi tìm nó, thuận nó nữa. Rõ ràng cái niệm tìm nó cực nhỏ mà cực lạ, sức lực rất nhỏ. Thí dụ như một gia đình trai gái cháu con cùng với quyến thuộc đều tự nhiên đoàn kết nhất trí, bỗng nhiên có người lạ mặt ở đâu bên ngoài đến nói rằng: “các người hãy đi ra, nhà nầy là của ta”. Các ông xem đấy, thế gia đình đó có chịu nhường người ấy không? Hay là muốn địch lại người ấy? Một mình ông có muốn đuổi họ như thế thì cả gia đình họ sẽ địch lại ông, thế liệu ông có địch lại họ không? Chúng ta một niệm địch muôn niệm cũng như vậy. Muôn niệm vọng tưởng đã quen thuộc là trong nhà saün sàng. Một niệm dụng công phu nầy là còn lạ còn mới, với muôn niệm thì nó không đồng lõa. Các ông nghĩ xem, như một người cùng với cả gia đình đấu tranh thì làm sao một người địch được cả gia đình người ta? Đó cũng là một lý cả. Vậy nếu địch không nổi thì phải có cách nào lo liệu? Không tùy thuận nó được thì bỏ sao? Biện pháp thì có, trước hết cần các ông thấy rõ được nguyên nhân không địch lại họ được là nguyên nhân ở đâu? Rõ được nơi đó thì đương nhiên mới có biện pháp. Nhân vì một người các ông muốn địch lại muôn người. Các ông có niệm địch lại thì ở ngoài mặt tự nhiên sẽ có trạng thái muốn địch lại. Các ông đã có trạng thái muốn địch lại biểu thị ra đương nhiên đó là vì có địch nhân mới có. Kẻ địch thấy ông muốn địch lại họ thì đương nhiên họ muốn địch lại các ông. Tỷ như một người dự bị cùng người khác đánh nhau, nhất định trên tay phải mang dao, đầu đội nón sắt, mình mặc giáp, đứng chỗ đất rộng. Các ông đã có dự định nầy thì đối phương cả vạn người cũng muốn đến để đánh nhau. Bọn họ cũng cần phải cầm dao, cầm súng xúm lại, các ông một khi đã thấy vậy thì còn có dám đánh nữa không? Có phải khi thấy đã muốn đầu hàng rồi không? Thứ nữa, các ông có dự bị cầm dao cầm súng đánh người, không những muôn người muốn đến đánh các ông mà một người hai người thấy được cũng muốn đánh ông nữa. Tại sao vậy? Ông đương đầu với họ thì đương nhiên họ cũng xem ông là đối phương, há có lý nào lại không đánh nhau? Đúng không? Tất cả lời nói trên đều là ví dụ, chúng ta hãy học các ví dụ. Các ông nghĩ rằng: vọng tưởng đến rồi thì mau chóng lấy câu thoại đầu đánh lui nó. Như vậy đánh với nó ba lần, hai lần, bất tri bất giác tùy vọng tưởng mà đi mất đến nửa ngày, biết ra rồi lại cho là: “lạ lùng thay, ta tham thoại đàu muốn hàng phục vọng tưởng ai dè vọng tưởng nổi lên cả nửa ngày mà cũng còn chưa biết”, lại tham thoại đầu nữa, một khắc sau nghiệp chướng nổi dậy, ông vẫn theo như trước mà địch lại, ba lần địch, hai lần địch, bất tri, bất giác lại tùy nghiệp chướng mà đi mất, nổi nghiệp chướng lên cả nửa ngày mới biết. Các ông suốt ngày như thế mà địch với nó, bất tri, bất giác tùy thuận nó, tức là các ông dụng công “một người địch muôn người”, thực ra người đời nay không thể dụng công được. Cần phải làm sao cho muôn người bỏ ác làm lành, tất cả đều đầu hàng, chúng ta chỉ cần chuyện chú giữ lấy câu thoại đầu không rõ ràng cứu cánh là ai? Cũng chẳng biết rốt ráo là thế nào? vọng tưởng đến ta không hỏi, nghiệp chướng đến ta không hỏi. Nói tóm lại, không rời câu thoại đầu. Phật là người nào niệm? Dầu cho nổi tình yêu, nổi vọng tưởng, nổi nghiệp chướng đủ thứ nhiều đến đâu ta cũng không hỏi. Ta vẫn còn giữ lấy câu thoại đầu để khởi nghi tình. Nghi tình phải rõ ràng, mạch lạc, cứ ung dung, ngay thẳng mà tham đi. Vậy thì vọng tưởng nổi lên mặc kệ nó, ta cứ tham câu thoại đầu của ta, mỗi người làm lấy việc của mình, các ông nổi vọng tưởng cũng được, không nổi vọng tưởng cũng được, ta cứ tham thoại đầu mà thôi, cứ giữ cái nghi tình không hiểu mà thôi. Để vọng tưởng nổi cho đã đi, nổi đến hết rồi thì không nổi nữa. Ta vẫn còn tham như thế lâu ngày rồi nó phải đầu hàng ta. Làm cho nó chí tâm quay về, thế không phải là phản vọng quy chân sao? Tỷ như ta mặc chiếc áo vá, đắp chiếc y, đầu đội mũ ngồi xếp bằng một bên đường, cho dù thiên quân vạn mã cầm đao súng đi ngang qua chỗ ta, ta có quan hệ gì đâu? Phải chăng nó đi đường nó, ta không phải là kẻ địch của nó thì làm sao nó lại đánh ta? Lâu ngày nó đi tới, đi lui, đi quen mãi rồi nó còn đến thỉnh giáo, thỉnh ta nói về tâm rất là thân thiện, có phải là quy thuận ta chăng? Các ông tất cả hãy nghĩ xem có đúng không? Ta với nó làm địch tất nó sẽ liều mạng với ta, ta không cùng nó làm địch nó sẽ thân cận ta, tùy thuận ta thôi. Các ông thử nghĩ ta chỉ với câu thoại đầu mà không minh bạch gặp vọng tưởng nào cũng chẳng hỏi, không lấy nó làm bạn xấu, cũng chẳng lấy nó làm bạn tốt, không đến gần nó cũng chẳng xa nó, dụng công tham thiền như thế thì còn gì tốt hơn. Rõ ràng câu thoại đầu nầy mà nhận chân tham cứu không cùng với tát cả vọng tưởng, nghiệp chướng làm bạn, không cùng với thiên, nhơn, A-tu-la làm bạn, cũng không cùng với Chư Phật, Bồ Tát, lịch đại Tổ sư làm bạn. Các ông e sợ mà còn mối hoài nghi mới hỏi: “Nói câu thoại đầu không cùng vọng tưởng, nghiệp chướng làm bạn còn có thể được không cùng Chư Phật, Bồ Tát làm bạn tôi có chỗ không tin”. Đúng đấy! Không tin thì không lạ gì ông, ta muốn hỏi ông: Có tham câu thoại đầu hay không? Giả sử không có tham thì hãy tin lời ta. Hãy tham câu thoại đầu đến rốt ráo xem là ai, cứu cánh là ai? Các ông từ sáng đến tối cứ như thế không gián đoạn, liền không có kẽ hở, chính vào lúc nghi tình đắc lực, các ông hãy mở mắt ra mà xem, Phật có còn không? Tổ có còn không? Đấy, ấy phải là tự các ông đi đến nơi đó thì mới thấy được. Tham đi!

KHAI THỊ Ngày 3 tháng 11 (thất ba ngày thứ ba)

Trình tự của việc tham thiền, đại khái từ đa tâm đến thiểu tâm, do thiểu tâm mà đến nhất tâm, về sau từ từ đạt đến vô tâm, liễu tâm. Đa tâm của các ông bây giờ nhất định chẳng có đâu. Đa tâm là sao? là tất cả cảnh giới bên ngoài, hoặc Thượng Hải, Bắc Bình, hoặc Tô Châu, Nam Kinh cho đến tất cả mọi nơi đều là đa tâm cả. Đa tâm chẳng có thì còn có thiểu tâm, thiểu tâm lại là cái hình sắc thấy được, âm thanh nghe được ở chốn thiền đường, cho đến chỗ thiểu tâm nầy, đại khái là có vậy. Hôm nay nói câu thoại đầu nầy, ngày mai cũng nói câu thoại đầu nầy, lâu ngày rồi sẽ tự biết do thiểu tâm đến nhất tâm, nhất tâm lại là cái tâm tham thoại đầu, còn cái gì khác nữa cũng chẳng có: đi, đứng, nằm, ngồi cũng là cái tâm nầy; mặc áo ăn cơm cũng là cái tâm nầy. Với cái tâm nầy đã quen thuộc rồi thì đối với vô tâm, liễu tâm đều có thể tiếp tục đạt đến được. Đây cũng là trình tự dụng công tham thiền trong thiền tông cũng không phải là giáo môn nói theo lục thức, nhất thức, bát thức, trần sa vô minh. Thiền tông chỉ là: từ nhiều đến ít, từ ít đến không. Nhiều nhất chỉ là nói thô hay tế, đó là phương tiện cùng cực. Lại nữa, câu thoại đầu nầy, các ông thực không ưa nghe “ngày nào cũng nói, nhiều quá đi rồi, chán nãn quá! Mà có cái gì nói đâu, câu thoại đầu ấy một chút mùi vị cũng chẳng có”. Các ông đã không thích nghe mà tại sao ta còn cứ muốn nói câu nhạt nhẽo nầy? Vậy thì ta muốn hỏi các ông: muốn hay không muốn tham thiền? Các ông là người làm việc gì? Nếu là người tham thiền muốn liễu sanh thoát tử, vậy thì sanh tử muốn liễu thoát đó, thiền thì nhất định phải tham. Đa tâm thì người nào cũng có, các ông dùng phương pháp nào mà có thể làm cho đa tâm thành thiểu tâm, làm cho thiểu tâm thành nhất tâm cho đến vô tâm, liễu tâm? Trình tự tham thiền không trải qua con đường nầy tất không thể nào được liễu tâm. Cái pháp tham thoại đầu nầy thì rất xứng đáng, thâu đa tâm thành thiểu tâm, từ thiểu tâm mà đến nhất tâm, vô tâm, liễu tâm. Các ông không tin vào cái pháp nầy, thế các ông có thể tin vào cái pháp nào nữa? Nếu các ông thực không tin, chẳng thèm nghe, ta cũng chẳng cần nói. Câu thoại đầu cũng không có gì là phạm vi lớn cả, chỗ của nó rất nhỏ, một tấc, một phân cũng chẳng có. Nói cho gọn thì có thể nói thật là nhỏ, bỏ nó vào tay cũng được, bỏ xuống chân mà đạp lên cũng được, đặt lên đầu lông mày cũng được. Các ông xem đó mà cho là một việc không đáng kể. Tiếc thay! Tất cả chúng ta đều ở trong căn phòng nhỏ bé nầy, các ông ở trong đó ta cũng ở trong đó, thập phương Chư Phật, lịch đại Tổ sư cũng đều ở trong đó. Các ông còn có một người nào không ở trong đó không? Còn có thể ra khỏi phạm vi bé tí ti nầy không? Ta hỏi các ông: có ra được hay không ra được? Không ra được, đầu thai thành trâu cũng từ nơi nầy ra, ngựa cũng từ nơi nầy ra. Các ông còn có người đứng ra nói: “Tôi không ở trong, tôi đã ra ngoài rồi”. Các ông còn có người nào đứng ra nói như thế không? Đại khái các ông không có người nào như vậy. Giả sử các ông có một người nói:
“Ta đã ở bên ngoài rồi” cũng còn chưa đúng, ông ở bên ngoài, ta ở bên trong, đem bên trong bên ngoài quăng bỏ đi hết thì mới đúng. Nếu trong ngoài đều không vứt bỏ thì chưa được kể là liễu sự. Câu thoại đầu mà các ông không chịu nghe nó không có mùi vị thì kết quả vẫn còn ở trong bụng nó, không ra khỏi phạm vi của nó được một bước. Có bản lĩnh lớn nhất cũng không làm gì nỗi nó. Các ông còn phải tin nó không? Nếu không tin nó thì các ông có bản lĩnh gì ra khỏi phạm vi của nó không? Tại sao muốn nói câu thoại đầu làm cho ta tất cả đều ở trong phạm vi của nó? Bởi vì một câu thoại đầu nầy là ai, rốt ráo không rõ được vì bị nó nhốt lại đến chặt cứng. Cái cửa nầy phá không được tất nhiên thiên đường, địa ngục, thai trâu bụng ngựa cũng không phá được. Chung qui bị nó nhốt lại, nếu muốn phá cửa nầy thì cần phải tham câu thoại đầu. Hãy tham đi!

KHAI THỊ Ngày 4 tháng 11 (thất ba ngày thứ năm)

“Chỗ lạ chuyển thành quen, chỗ quen chuyển thành lạ” nói chung là pháp thế gian và xuất thế gian đều như thế cả. Tỷ như có người ở Chùa Kim Sơn các ông thì sự việc trong Chùa đều biết, không những là nhà cửa, cột kèo, ngói gạch các ông cũng đều đếm qua từng cái, cũng có thể nói là thông thuộc lắm vậy. Ngày nay đến Chùa Cao Mân một chỗ cũng chẳng thông, cái gì cũng không hiểu được, đây hoàn toàn là lạ vậy; đây cũng là cái lý thông thường thôi và mọi người đều thấy được cả. Tuy nhiên Chùa Cao Mân là lạ, Chùa Kim Sơn là quen, các ông được ở Chùa Cao Mân một ngày thì đương nhiên sẽ quen được một ngày. Người mới bắt đầu tuy ở Chùa Cao Mân, nhưng tâm vẫn ở Chùa Kim Sơn, đợi đến khi ở được một năm thì mới quen được một năm, ở cho đến hai mươi năm, ba mươi năm thì đương nhiên Chùa Cao Mân cũng quen thuộc cùng cực. Cao Mân quen được một ngày thì Kim Sơn lạ đi một ngày, Cao Mân quen được một năm thì Kim Sơn lạ đi một năm, ba mươi năm cực quen thuộc Cao Mân rồi thì Kim Sơn cũng cực lạ rồi, đây cũng là lẽ thường. Đối với chúng ta thì dụng công cũng như vậy. Câu thoại đầu từ vô lượng kiếp đến nay chưa thấy qua, lại cũng chưa làm qua, nổi vọng tưởng, nổi nghiệp chướng quen thuộc lắm rồi từ vô lượng kiếp đến hôm nay, chẳng mảy may có giây phút nào lìa khỏi nó. Sống trong vọng tưởng đã rồi nổi nghiệp chướng, nghiệp chướng nổi đã rồi lại khởi tình ái, tình ái khởi đã rồi đi đến chỗ nổi giận, như thế suốt ngày, suốt năm, đời nầy đến đời kia, kiếp nầy đến kiếp kia, không phút nào ngừng nghỉ, tất cả những điều nầy đều quen thuộc cả rồi. Hôm nay muốn các ông tham câu thoại đầu, một chút hình ảnh đều không thấy, một câu thoại đầu mới đề lên vọng tưởng đã nhanh chóng lôi nó đi, gắng sức đề lên một lần nữa, hai lần nữa nhưng tâm vẫn còn ở trong vọng tưởng. Các ông muốn suốt ngày không rời câu thoại đầu, rốt cuộc lại bị vọng tưởng nghiệp chướng dắt đi. Tại sao vậy? Đó tất là vọng tưởng nghiệp chướng thì hoàn toàn quen thuộc còn câu thoại đầu thì xa lạ hoàn toàn, cũng giống như Chùa Kim Sơn thì quen mà Chùa Cao Mân thì lạ vậy. Giả sử như nếu có vọng tưởng thì cũng còn là câu thoại đầu, không có vọng tưởng cũng là câu thoại đầu, nổi nghiệp chướng cũng là câu thoại đầu, chẳng nổi nghiệp chướng cũng là câu thoại đầu, lạ cũng là câu thoại đầu, quen cũng là câu thoại đầu, đề lên được cũng là câu thoại đầu, không đề lên được cũng là câu thoại đầu. Chung qui có thể không ăn cơm, không ngủ nghỉ, nhưng không có câu thoại đầu thì không được. Hôm nay thì lạ, ngày mai cũng lạ, lâu ngày đương nhiên sẽ thành quen, cho đến mỗi năm lại càng thêm quen, hai mươi năm, ba mươi năm chắc chắn sẽ quen thuộc hoàn toàn thôi. Câu thoại đầu từ lạ mà dần dần chuyển thành quen, vọng tưởng nghiệp chướng từ quen mà dần dần chuyển ra lạ. Câu thoại đầu đã quen thuộc rồi thì vọng tưởng nghiệp chướng, thế sự đều sẽ thành xa lạ thôi. Như quen thuộc Chùa Cao Mân xa lạ Chùa Kim Sơn vậy, các ông có một chút tri thức ta nói như thế thì các ông sẽ hiểu được sự quan hệ giữa lạ và quen, thì có phải là cần khổ công tham cứu không? Cần tham cứu lâu dài không?
Tham không được, không có bệnh nào khác, bởi vì quá lạ nên vọng tưởng nghiệp chướng không đánh lui được, không dằn xuống được, muốn được lạ chuyển thành quen, quen chuyển thành lạ đương nhiên cần phải khổ công tham cứu câu thoại đầu, lâu rồi cũng đến một ngày phải thành công thôi. Công phu không dụng được đó là vì ông không triệt để tin vào pháp tham thoại đầu nầy. Tại sao vậy? Bởi vì câu thoại đầu đề lên cũng như núi bạc, vách sắt, kêu ông đi thì ông phải bước chân vào chỗ nào? Chẳng những không có được đường đi mà ngay cả nơi nghỉ chân cũng chẳng có, mở mắt xem thì không thấy đồ vật, lắng tai nghe cũng không nghe được âm thanh, mắt thấy không được, tai nghe không được, chỗ để chân cũng không có, bảo ông đi thì làm sao ông đi được? Ông không đi được ông còn tin được sao. Nhất định là không tin rồi, vì từ vô lượng kiếp đến nay nơi đi đều có hình sắc thấy được, có âm thinh nghe được, có đường đi được. Ngày nay dạy các ông tham câu thoại đầu, cái chỗ nầy không giống như nó đâu: xem không được, nghe không xong, chân không có chỗ đặt xuống thì hình như khổ muốn chết đi. Các ông cho là: “Từ trước nơi nào cũng đến qua rồi, cái chỗ tham câu thoại đầu không đầu không đuôi, chẳng có đông tây, nam bắc, chẳng tư duy trên dưới nầy, không những chẳng có người nào mà ngay cả ta cũng không có được. Chỗ nầy chưa có đến qua làm sao có thể dạy ta tin được, tin cái gì? Có cái gì hãy đưa ta xem, có âm thanh gì hãy cho ta nghe mới được chứ, thì bây giờ tôi mới có thể tin được, thí dụ có một cô gái mặc áo đỏ xanh, mặt mày thật đẹp đẽ, mở miệng nói tiếng nghe rất hay, ông bảo tôi tin thì tôi nhất định tin, bởi vì nhìn thấy sắc đỏ xanh, nghe được tiếng êm dịu, tự mình mắt thấy tai nghe thì phải tin thôi. Hôm nay tham câu thoại đầu rỗng không, cái gì đâu cũng chẳng thấy, lại còn bảo người tin làm sao được, thực là làm cho người ta thấy khó chết đi thôi!” Cũng giống như dạy các ông đi trên hư không vậy, chẳng đi thì không qua được, muốn đi lại đi không đến, không đi cũng buộc phải đi, hôm nay cũng buộc, ngày mai cũng buộc, buộc cho tới không có cách nào thì phải đề câu thoại đầu mà tham. Không có chỗ để chân cũng phải bỏ một chân, không thấy được vật gì, nghe chẳng được âm thanh nào thì chẳng quản gì nó lại cũng từ nơi nầy hướng tới trước mà đi xem, đợi đến khi ông bước một bước hình như có một chỗ để chân xuống, chẳng quản gì nó lại đi thêm một bước nữa, à! có thể đi được rồi, lâu dần đi, từng chút từng chút một bước về phía trước, cứ như thế thì có thể bước ra đến một con đường sáng sủa, cũng như bảo ông đi trên hư không không nơi đặt chân. Cần phải buộc ông đi, hôm nay cũng buộc, ngày mai cũng buộc, cứ buộc tới không có cách nào cũng phải hướng tới trước mà đi từng tí từng tí một. Lâu dần đi thì đi trên hư không cũng có thể đi được, đi quen rồi cũng không thấy quái lạ gì, muốn lăn người, muốn nhào lộn cũng có thể cho ông tự do. Đó là lẽ làm sao? Chẳng có gì khác cả, chỉ là quan hệ giữa lạ và quen. Lạ là không động, nếu quen rồi thì cái gì cũng làm được hết. Tham câu thoại đầu cho quen thuộc rồi lại còn lý gì mà không dụng công phu được nữa đâu. Hãy tham đi!

KHAI THỊ Ngày 5 tháng 11 (thất ba ngày thứ sáu)

Người muốn liễu thoát sanh tử thì phải siêng dụng công phu, người không biết sự sanh tử thì tối ngay sống trong sự khổ cực. Đối với người ở chốn tòng lâm thường tình đều như thế cả, người có chút đạo tâm biết hai chữ sanh tử là lợi hại đương nhiên không liễu thoát nó không được. Việc thế gian có thể ngưng lại một bước nhưng việc sanh tử thì gấp lắm, không cho chậm trể được. Người muốn hành đạo thấy được đả thiền thất họ sẽ mừng lắm, phấn khởi tinh thần tham gia, bởi vì lúc thường thì có nhiều sự phá rối việc công phu, mặc dù phục vụ nhà Chùa là vun trồng cội phúc đối với bổn phận của mọi người thì nói vun trồng cội phúc cũng được, nói là việc quấy rối công phu cũng có thể được. Trong thời kỳ đả thiền thất nầy việc gì cũng khỏi làm thì công phu mới xứng đáng. Một nén hương rồi một nén hương tự mình xem xét mình, nén hương nầy công phu còn đắc lực, nén hương kia nửa nén đắc lực, nửa nén thì không, tự mình xét mình tất cả, tự mình buộc lấy mình, nén hương trước không đến nơi đến chốn nén hương sau có được hơn nửa đắc lực, thì một nén hương nữa có thể đắc lực hoàn toàn. Từng bước từng bước tiến lên. Người muốn liễu thoát sanh tử cứ mãi lo sự tham cứu nầy, và người không có chút đạo tâm sẽ nghĩ rằng: “Ngày thường còn có chút việc để tiêu khiển, còn có thể mượn sự làm việc để giải buồn mà hôm nay đả thiền thất thì hỏng rồi, một chút việc cũng chẳng có, thật làm ta buồn muốn chết đi. Từ sáng đến tối chỉ đi đi, ngồi ngồi trong thiền đường, không thì đi cầu tiêu đại và tiểu tiện trong lúc khai tịnh, ngoài việc quả đường ra thì cũng chẳng thấy được cảnh giới bên ngoài, thực làm cho người ta thấy khổ muốn chết đi, một khắc thời gian cũng không có”. Thế là lý lẽ làm sao? Bởi vì tâm của các ông không có giờ phút nào ngừng được. Ngày thường ngoài việc nổi vọng tưởng, làm công việc, làm rồi lại nổi nghiệp chướng nghiệp chướng nổi đã rồi thì đi ngủ. Mở mắt tỉnh dậy lại nổi vọng tưởng nữa. Hôm nay đả thiền thất không có việc gì để làm, muốn ngủ thì không cho nhưng ông nổi vọng tưởng thì không ai làm gì nổi cho ông được, không những ta mà ngay cả Phật Thích Ca cũng không làm gì được cho ông. Cho ông nổi vọng tưởng nhưng chỉ nổi vọng tưởng thôi thì còn thấy không vui. Ngoài nổi vọng tưởng tâm không còn vật gì để dựa vào. Lo cái tâm cực khổ, lo nén hương dài quá, lo lúc đánh bản thì không hiểu sẽ được ăn món gì hoặc là vị giám hương đánh bản quá mạnh. Tối ngày cứ lo việc nầy không còn việc gì khác. Các ông những người như vậy thì không ít. Nếu không sửa đổi thì ta nói thật, ta không khách sáo với các ông, các ông làm người như vậy tức là tội nhân. Các ông tưởng rằng không có phạm pháp chi thì làm sao gọi là tội nhân? Đúng đấy! Các ông cần phải hiểu tất cả hộ pháp trong ngoài nhà Chùa đều vì các ông dụng công hành đạo để liễu sanh thoát tử. Ai bảo ông là làm cho qua ngày? Ông làm như vậy, không dụng công, không hành đạo thì không phải là tội nhân hay sao? Ta nói đại đa số các ông không dụng công là tội nhân là ta còn ưu đãi các ông đó, các ông có tin không? Các ông cả ngày ba tuần trà, bốn bửa cơm, hai lần nước người ta làm saün sàng để thọ dụng, không dụng công đương nhiên là tội nhân. “Vậy đã nói là tội nhân sao còn ưu đãi chúng tôi?” Ta nói ưu đãi các ông là sao? Các ông cần phải biết: “Hào ly hệ niệm, tam đồ nghiệp nhân” (hễ mảy may niệm nổi lên thì tạo nhân ba ác đạo). Các ông thử nghĩ xem, các ông suốt ngày muôn ngàn niệm cũng có đâu phải mảy may thôi đâu? Một mảy may niệm thì tạo các nghiệp nhân đọa vào ba ác đạo, tương lai sẽ thọ quả ba ác đạo. Một niệm mà có nhiều quả báo như vậy mà các ông niệm nầy qua niệm kia muôn muôn ngàn ngàn không ngưng nghỉ thì chịu quả báo biết bao nhiêu. Vậy ta chỉ nói tội nhân là ưu đãi các ông rồi đó nhưng ta cũng hy vọng mọi người cần tham câu thoại đầu, tham cho đến thông suốt hết mới được. Chỗ nào là chỗ dụng công phu cho được, ta muốn hỏi: các ông có tham câu thoại đầu không? Các ông trả lời: có. Ta lại hỏi: Nghi tình có đắc lực không? Các ông nói đắc lực. Ta lại hỏi thêm: trong khi đắc lực còn có thiện niệm, ác niệm không? Còn có cái niệm thành Phật không, còn có cái niệm độ chúng sanh hay không? Nếu nói đều không có thì luôn cả hai chữ <B>không có <D>cũng không biết. Nói như thế thì được sự thực hành rồi. Muốn các ông tự mình hành đến chỗ nầy thì mới có sự thụ dụng. Các ông nếu thật có công phu như thế, quày đầu lại (ngộ) với câu “niệm Phật là ai?” lẽ nào không mở miệng được! Hôm nay ta hỏi ông: Niệm Phật là ai? các ông không mở miệng được. Ta hỏi nữa thì mặt các ông đỏ hết, không được hỏi nữa, hỏi nữa thì không đúng rồi. Như vậy tức là công phu à! Một người bị người ta hỏi một câu không mở miệng được, hỏi nữa cũng không trả lời được. Các ông làm người như vậy, nếu người có một tí ti học thức đương nhiên cần phải buông bỏ tất cả học vấn cùng tột của mình, chỉ chuyên giữ lấy câu thoại đầu thà chết chứ không buông. Muốn cái đầu của ta thì được, chứ muốn bỏ câu thoại đầu thì không được. Người chức sự bảo trải nệm ngồi, ta cũng không biết trải hay không? Cần nhất là chiếu cố đến câu thoại đầu, quá lắm chỉ là bị đánh hương bản thôi, chung qui bảo ta bỏ câu thoại đầu để đi trải nệm ngồi thì ta không làm, thà chịu hương bản, chúng tôi trước kia dụng công là vậy đó. Thà rằng phạm quy củ bị đánh hương bản chứ bảo ta bỏ câu thoại đầu thì không được. Trong các ông chưa có ai nói công phu là cần thiết hơn cả. Phạm quy củ bị đánh hương bản là việc không đáng kể, chỉ cần có công phu để dụng là được rồi, có được một người như thế chăng? Ta dám nói không có, vậy các ông là người như thế nào? Các ông muốn giữ cái mặt bề ngoài cho tốt, rất sợ mất mặt. Bị đánh hương bản là sự mất mặt rất khó chịu. Cái thứ mặt thối như cứt chó nầy mà giữ nó làm gì. Nhưng các ông muốn giữ cái mặt thúi đó không giám ruồng bỏ nó. Với các bổn lai diện mục rất qúy lại không nghe không hỏi, cho là không cần vì người ta không thấy mà chỉ muốn giữ lấy cái mặt thúi cho tốt là đủ rồi. Như vậy há chẳng đáng tiếc, đáng buồn sao? Các ông cam tâm làm thứ người vô dụng như vậy sao? Các ông còn biết các ông khổ não không? Hôm nay có duyên ta giảng cho các ông nghe, các ông còn không dễ gì nghe nhiều được. Các ông hãy gắng sức tham đi!

KHAI THỊ Ngày 6 tháng 11 (thất ba ngày thứ bảy)

Người dụng công phu thường ngày dụng còn khá. Dù có nổi vọng tưởng, đề lên câu thoại đầu thì vọng tưởng mất tiêu, công phu cũng còn dụng được, lúc tịnh dụng được, lúc động cũng dụng được, hình như niệm niệm cũng không bỏ trống. Hôm nay đả thiền thất thì trái ngược lại, thoại đầu đề không lên, vọng tưởng cũng nổi không được, thanh thanh tịnh tịnh, muốn đề lên không câu thoại đầu để dụng công phu. Đề lên một lần không được, hai lần không được, ba lần không được, đề đến tức ngực cũng đề không lên. Hình như đả thất đã hỏng rồi. Ngày thường tham rất tốt, tại sao đả thất lại dụng công không được? Thôi buông nó cho xong! Còn một thứ người thì đến chỗ nầy lại tưởng rằng: “Tốt lắm, thanh thanh tịnh tịnh, công phu mặc dù đề lên không được, vọng tưởng thì không có, vậy không có vọng tưởng thì đại khái như thế là đúng rồi, không cần dụng công phu nữa, nếu dụng công phu nữa há có phải là nhiều chuyện không?” Cho nên ở chỗ thanh thanh tịnh tịnh nầy hãy nghỉ ngơi đi thôi. “Thiểu số người có chút ít đạo tâm lần mờ trên sự công phu nhất định phải có một thiên sự thực nầy. Tại sao vậy? Chỗ nầy thì dụng công tất phải trải qua, ông muốn dụng công thì phải y theo đường lối nầy mà đi; con đường nầy là người dụng công tất phải đi qua, cũng không có việc lạ gì đáng kể. Mặc dù tất phải có, nhưng tri thức của hai loại người nầy đều không đúng: một loại là đề thoại đầu không lên, đề một lần nữa cũng không lên, đề năm lần, ba lần rồi bỏ luôn, một loại thì không muốn đề lên tưởng rằng đã đến nhà, nhưng sự thực nầy đối với bổn phận các ông thì còn xa lắm, cách xa như trời với đất. Hai loại nầy đều là sai lầm! Tại sao vậy? Lý do đề không lên và không muốn đề đều là do các ông đối với công phu nầy chưa thấy được thấu đáo. Nếu mà thấy được thấu đáo, tự nhiên không có sự đề không lên và không muốn đề rồi bỏ luôn nó. Người dụng công tại sao có con đường nầy? Cần phải hiểu rằng: lúc bình thường đều ở trên thanh sắc mà dụng công, không phải mắt thấy sắc thì tai nghe tiếng; và lúc ấy mặc dù đề câu thoại đầu lên được nhưng vẫn còn trên thô tâm để thấy sắc, nghe tiếng. Cái thô tâm nầy, vọng tưởng cũng có, hôn trầm cũng có, nghiệp chướng cũng có; những cái nầy thường hiện ra, bởi vì thô tâm tất phải như thế. Hôm nay đả thiền thất, thanh sắc bên ngoài đều không được đến trước mắt ông, nghĩa là không cần các ông trừ bỏ thanh sắc, thanh sắc tự nhiên không có. Vì không có thanh sắc bên ngoài nên bên trong cũng không có tư tưởng phân biệt. Có thể gọi là ngoại vô thanh sắc, nội vô phan duyên, vì thanh sắc khởi lên phan duyên, vì phan duyên phân biệt mà nói thanh sắc, vì thanh sắc phan duyên thấy nhau mà nói một thô tâm. Hôm nay thanh sắc đã không thì phan duyên làm sao có được; phan duyên, thanh sắc đều không, thô tâm đương nhiên cũng không có; thô tâm đã không thì tất cả đương nhiên sẽ ngưng lại. Đề cũng đề không lên, dụng công dụng không được, vọng tưởng cũng nổi lên không được. Thanh thanh tịnh tịnh đường đường chánh chánh tức là cái chỗ nầy và cũng là cái thô tâm đã ngưng nghỉ. Thiền tông nói như vậy, không phải như giáo môn nói cái gì là kiến tư hoặc, cái gì là tiền ngũ thức. Thiền tông chỉ nói thanh sắc, thô tâm; thô tâm ngưng nghỉ rồi không phải là hết chuyện mà còn phải tiến tới trước mới đúng. Đã là thoại đầu đề không lên thì làm sao đi? Có cách nào không? Có! Cách nầy đối với hai thứ tri kiến của loại người trên đều có thể hợp dụng. Người mà đề không lên rồi bỏ luôn cũng cần cách nầy. Người không muốn đề tưởng rằng đến nhà, cũng cần cách nầy. Cách nầy là thế nào? Tức là chỗ các ông đề không được, nghĩ ra một phương pháp đó là: “hãy tham câu thoại đầu”. Ông chưa nói tôi đã nói rồi: “đề không lên thì làm sao tham?” Vậy thì đề, buông xuống, lại niệm câu thoại đầu. Mọi người đều có thể niệm được một câu thì cứ ở chỗ niệm mà tham! Chiếu theo như vậy, ở nơi đề không lên nữa, hoặc không muốn đề, là niệm một câu thoại đầu nữa. Từ chỗ năng niệm hạ thủ tham, chỗ hạ thủ nầy nổi lên nghi tình. Ta cho các ông biết; ông không muốn tham nó cũng không nghe ông, nghi tình dâng lên thì tốt lắm! Nhưng mà ta nói tốt xấu là của ta, muốn cho các ông đi được tới chỗ nầy thì các ông mới hiểu được sự chân thật bất hư. Lúc ta ở Chùa Kim Sơn công phu dụng đến chỗ nầy cũng như các ông bây giờ vậy. Đề thì đề không lên, vọng tưởng chẳng cần nói, đương nhiên cũng không nổi được, bởi vì công phu của ta và các ông không giống nhau ở chỗ đó. Ta lúc mới dụng công ta tự mình từng nén hương một mà khảo cứu, mỗi khi gặp nén hương nào khai tịnh trước hết phải tự mình thẩm vấn mình: công phu nén hương nầy ra sao? Còn hôn trầm không? Còn vọng tưởng không? Nếu còn một tí hôn trầm hoặc một tấc hương vọng tưởng thì ngay lúc đó tự mình đánh mình một bạt tai; nén hương sau tự mình trách lấy mình, phải làm sao đốn đến hôn trầm vọng tưởng không còn một tí nào nữa mới được, câu thoại đầu thật ngay thẳng, thật rõ ràng thì ta mới chịu bỏ qua không tự trách mình nữa. Dụng công cho đến chỗ nầy, cho dù đề không lên ta cũng không giống với người, đối với chỗ nầy thì ta không trụ, biết là không phải cảnh giới tốt, cho là cảnh giới tốt ta cũng không trụ. Chỉ muốn tham cứu mới đúng, không có phương pháp thì kiếm một vọng tưởng quen thuộc để suy nghĩ, vừa mới kiếm được chưa nổi lên thì đã mất rồi… Nói Thượng Hải đại vũ đài tốt lắm, lấy nó làm vọng tưởng suy nghĩ thì không được. V-ong tưởng nầy nổi không lên sau đó lại thong thả niệm ra một câu thoại đầu, thử nghĩ xem cái câu thoại đầu nầy từ chỗ nào đến đây? Đã là năng niệm thì tại sao tham không được? Từ chỗ nầy mà hạ thủ, ngưng cho đến hai ngày sau đó lại từ chỗ nầy tham nữa; giống như ba ngày không ăn cơm, thấy được cơm thì có bỏ mạng cũng muốn ăn, thì mới cảm thấy công phu dụng được tốt, lại cứ thế tiến tới. Tình hình đó thì nhiều lắm, đợi các ông dụng công đến chỗ nầy, ta sẽ thương lượng với các ông nữa. Hãy tham đi!

KHAI THỊ Ngày 7 tháng 11 (thất thứ tư ngày đầu)

Ngày trước Phù Thượng Tọa đả thất được 6 ngày thì khai ngộ. Ngài Triệu Châu đả được một thất thì khai ngộ. Quốc Sư Trung Phong đả được hai thất thì khai ngộ. Triệt Tổ Thiên Tuệ chùa ta đả được bốn thất thì khai ngộ. Các ông hôm nay đả được mấy thất rồi có biết không? Ta tuy hỏi thế thì các ông cũng có người nói: “Tôi từ lúc bắt đầu khởi thất đến giờ, sớm tối đều không rõ, ngày nay, ngày mai, mùng một, ngày rằm càng không biết; chỉ mong hiểu được câu thoại đầu thì còn biết đâu là bao nhiêu thất?” Có được loại người nầy thì ta tán thưởng lắm đó! Ta cho các ông biết: hôm nay thất thứ ba đã qua rồi. Người xưa một hai thất đã khai ngộ. Các ông đả được ba thất nhưng đối với việc khai ngộ thì vẫn chưa có tí tin tức gì. Các ông hãy tự hỏi mình, dầu cho không có tin tức nào, chỉ cần không biết đến có ngày giải thất; đại chúng ngủ ông cũng nằm xuống, chẳng biết được là ngủ hay không ngủ, câu thoại đầu rõ ràng minh bạch. Người ta ngồi tôi cũng ngồi, người ta đi tôi cũng đi, nhưng ngồi hay đi đều không biết đến. Mọi người đi về phía trai đường, tôi cũng đi, đi là đi vậy, chứ làm việc gì ta cũng không biết. Mọi người ăn cơm, bát đũa ông cũng không biết cầm. Các ông có sức dụng công phu như thế ba thất không ngộ thì năm sáu thất ta có thể bảo đảm ông quyết sẽ ngộ thôi. Ta muốn các ông có công phu như thế, bằng không thì cái câu khai ngộ ấy không xong rồi. Nhưng mà cái tâm khai ngộ liễu thoát sanh tử thì đương nhiên người nào cũng có, người nào cũng mong. Đối với việc công phu cho đến tùy duyên đứng lên nằm xuống mà không biết có đứng lên nằm xuống, cũng người ta đi đến trai đường mà không biết cầm bát đũa. E rằng các ông chưa tin mà cho rằng: “Nhất định là gạt người ta rồi chứ làm gì có lẽ đó!” Đúng đấy! Chỗ đi của người khác các ông không tin vì chưa thấy đến; hôm nay ta đem chỗ hành của ta bảo cho các ông nghe thì không thể lại không tin nữa, ấy là tự ta đã đi qua, các ông nhất định phải tin. Không phải khi không ta bảo các ông tin, trong đó có một sự thực như thế nầy, ở trai đường không cho bạt tai, việc ấy có liên hệ đến sự dụng công chịu khổ của ta đã qua. Khi ta ở Chùa Kim Sơn dụgn công đến chỗ thực khẩn trương, nghi tình đang cuồn cuộn, ông muốn không tham nó cũng không cho, cứ liên tiếp mãi như thế. Khi đả thất khai bản quả đường ngồi xuống rồi nghi tình thật đắc lực, người ta ăn cơm ta không biết cầm lấy bát đũa; người ta ăn gần xong, ta hé mắt nhìn thấy cơm rau trước mặt ta bèn càm bát đũa lên, sau lại nghĩ: không thể quăng bỏ công phu được, ăn cơm vẫn phải đề công phu cho tốt, lại đẩy mạnh câu thoại đầu; rau cơm không biết lối đi vào miệng cứ ngơ ngơ ngác ngác ngồi ngay ra đấy. Bỗng nhiên buông tay đập bể chén cơm. Sư tăng trực bước đến bạt mạnh một bạt tai làm cho ta đánh rơi luôn bát cơm xuống đất vỡ toang. Sư tăng trực bạt luôn năm ba bạt tai nữa, bạt đến đầu óc ta quay cuồng. Ta bèn nghĩ; đánh, tuy là đáng rồi, công phu cũng phải chiếu cố cho tốt, không thể vì bị đánh đập mà quăng bỏ công phu. Vì thế, phàm nơi nào ta đã ở qua thì ở trai đường không cho bạt tai. Hơn nữa, người ở trong Chùa đều là người lãnh đạo cho nên chỉ cho quát tiếng lớn chứ không cho đánh bạt tai. E rằng các ông không phải như ta vậy, hễ bị đánh đập thì lập tức rút lui ngay. Việc nầy vốn không phải dễ mà lo liệu đâu: lo đầu nầy thì mất đầu kia, lo đến qui củ thì nhất định lo không tròn công phu rồi, và do vậy mà thoái bộ. Cho nên dù cho bên ngoài ra thế nào, việc sanh tử của ta chưa liễu thoát được thì chung quy không chịu bỏ công phu. Các ông muốn khai ngộ tất phải cần ra sức dụng công phu, dụng cho đến lúc đi không biết là đi, ngủ không biết là ngủ, tiểu tiện không biết kéo quần: công phu như vậy không phải là đọa các ông mà đó là cái ta đã đi qua rồi. Ta có một lần lúc đánh hiệu báo đi cầu mà không biết đi hướng nào, đây là công phu đã đến lúc khẩn trương, mọi người ra thiền đường ta cũng đi ra, người ta đi cầu mà ta đi đến điện Vi Đà rồi nhưng cũng không biết là làm việc gì. Vị ban thủ nhìn thấy liền quát lên một tiếng, ta cũng không biết tại sao. Sau lại có vị Tây đường nọ thấy ta liền chỉ tay vào ta mà nói rằng: “đại khái là công phu của ông đứng đắn, tức là quên hẳn tất cả rồi đó! Bây giờ là lúc đi cầu à, ông hãy hướng về phía tây đi!” Nhờ câu nói của người, ta mới biết được. Ta lúc công phu đắc lực có rất nhiều lần nhờ vị sư Tây đường nầy chiếu cố đến, cho đến hôm nay ta còn cảm tạ người: đây là những điều ta đã từng kinh nghiệm qua cả cho nên ta mong các ông cũng hành cho đến được công phu như vậy, quả không phải là gạt các ông đâu. Lại nói câu cảnh sách: các ông đều ở cùng một thiền đường, cùng tham một pháp nhưng cảm quả thì vô vàn sai khác. Trên trời, nhân gian, thai trâu, bụng ngựa, mỗi mỗi đều khác nhau. Hãy tham đi!

KHAI THỊ Ngày 8 tháng 11 (thất tư ngày thứ hai)

Có người hỏi Triệu Châu: “Thế nào là đại đạo?” Châu đáp: “Tâm bình thường là đại đạo”. Lại nói: “Tôi không phải hỏi cái đạo nầy, cái tôi hỏi là đại đạo”. Châu nói: “Đại đạo thông trường an”. Vị hỏi câu nầy ngộ ngay lúc đó. Người xưa ngộ đạo trực tiếp như thế, ngày nay các ông cũng hỏi như vậy, ta cũng đáp như thế các ông có nhanh chóng ngộ đạo được chăng? E rằng các ông làm không được! Nếu nói người xưa là Bồ Tát chuyển thế, La Hán tái lai ấy là gạt người vậy. Cần hiểu được là: sự thực hành của người xưa và các ông không giống nhau, cách xa nhau như trời với đất; người xưa dụng công không kể nóng lạnh, không có đêm ngày, bất luận là nơi nào thì còn nói gì đến đả thất với không đả thất? Ngừơi xưa suốt ngày đêm không để một sát na xa rời công phu cho nên hễ có cơ duyên, một lời, nửa câu lúc đó thì ngộ đạo ngay. Các ông không ngộ được là tại sao vậy? Là vì sự sai lầm lớn: “Lúc khát mới đào giếng”. Ngày thường không mảy may dụng công, cứ cho là lúc thường không cần dụng công, lúc gia hương đả thất mới là lúc dụng công. Lại cho là vào mùa hạ khí trời nóng bức, ngày thường lại phải thượng điện cúng Phật; ngày thường tuân theo quy củ thì cần thiết hơn, những lúc như thế nầy cũng tùy theo đại chúng mà thôi, lúc gia hương đả thất mới là lúc dụng công. Đại khái các ông bị cái tri kiến sai lầm nầy mà bỏ mất thời gian không ít mà người sai lầm cũng không ít. Các ông nghĩ xem lúc khát nước mới đào giếng, người khát chết rồi giếng chưa đào xong phỏng có ích gì? Bách công kỹ nghệ trên thế giới đều phải cần đến 3 năm 5 năm mới có thể học xong để đổi lấy một bát cơm; huống chi cái diệu pháp xuất thế gian nầy của chúng ta thì đâu dễ dàng như thế? Các ông là người có tri thức thì đường nhiên cần phải đừng phân biệt mùa đông trời lạnh cũng như mùa hè trời nóng chỉ cần đề lên câu thoại đầu, ở chỗ không minh bạch mà khổ công tham cứu thường xuyên không dứt, dầu cho nó có nóng nực lắm ta có câu thoại đầu thì đương nhiên sẽ mát mẻ tự tại; dù có lạnh đến đâu ta cũng có câu thoại đầu thì cũng chẳng biết đến lạnh rét là gì. Cứ khổ công tham cứu như thế 3 năm 5 năm muốn khai ngộ đương nhiên sẽ được dễ dàng. Nếu muốn lấy việc gia hương đả thất để dụng công, mà ngày thường lại không thì trong một năm kể ra cũng lãng phí hết chín tháng, chỉ còn dụng công có ba tháng. Các ông thử nghĩ xem có đúng không, còn kể là người dụng công sao? Ta ngày nay đối với các việc trước đả thất và sau khi giải thất mà đem giải bày ra hết, nếu người có tâm liễu thoát sanh tử sẽ tự nhiên biết theo đấy mà làm, cũng không phải ta đơn độc muốn các ông làm như vậy. Ta vốn đã làm như thế rồi; việc ta đã làm qua, nói để các ông nghe. Ở trong các ông có người tri thức hơn ta thì phải vượt trên ta, hoặc có người không bằng ta thì phải theo học. Trước kia ta ở Chùa Kim Sơn lúc dụng công thì ta chẳng bận tâm vấn đè giao thiệp với người chung quanh, ta chỉ chiếu cố đến câu thoại đầu rõ ràng minh bạch chẳng mảy may gián đoạn. Hễ lầm lỗi với người nào cho dù là chức sự, ta cũng chẳng để ý đến. Khi đi đường chỉ chiếu cố đến công phu, gặp vị tri khách ta cũng không biết chấp tay nhường lối. Đi đường có đụng nhau giữa đường làm vị tri khách phải lùi lại quá xa, ông ta bèn quát lên một tiếng. Bấy giờ ta mới nghĩ: không đúng rồi! Va chạm như thế là xúc phạm đến cảm tình, vậy nên tạm bỏ công phu để xin lỗi đi! Lại nghĩ: Không, không thể được! Vì sao ta xuất gia? Ta đã vì sanh tử mà xuất gia, hôm nay việc sanh tử còn chưa liễu thoát ta không thể bỏ công phu để tính chuyện xin lỗi phải với người được. Nếu muốn làm như vậy thì tốt hơn đừng xuất gia. giữ công phu mới, cần nhất, dù cho bị dọa nạt, bị đánh đập ta cũng vui lòng chấp nhận. Xong! Vị ấy không đánh ta mà ta còn phải yêu cầu đánh mấy cái để thử xem công phu của ta như thế nào? Giả sử đập cho vài cái bạt tai, công phu của ta vẫn còn chiếu cố như thường vậy! Như thế là rất tốt, nếu là đánh một bạt tai, câu thoại đầu theo bạt tai mà đi mất, thế thì con người của ta đây còn được xem là người dụng công nữa không? Cho nên phải giữ lấy lập trường nhất định, dù cho bất cứ người nào nạt ta, mắng ta, đánh ta thì chung qui câu thoại đầu vẫn không được bỏ. Đây là chỗ làm người tham thiền của ta. Cứ đi như thế đụng nhau một lần, hai lần thì đương nhiên người ta sẽ không vui. Đến kỳ thay đổi chức sự trong chùa mọi người đều ra thiền đường cả, vị tri khách hỏi vị ban thủ: “Ở trong thiền đường có lão người Hồ Bắc, đi hay chưa?” Vị ban thủ nói: “chưa đi”. Vị tri khách lắc đầu nói: “Cái lão Hồ Bắc nầy xấu lắm, không biết quan chức gì xuất gia mà lúc đi đường cứ kênh kênh kiệu kiệu không xô người nầy cũng đẩy người nọ. Thực là con chim chín đầu trên trời, lão Hồ Bắc dưới đất! Thằng nầy còn không đi thực là đáng ghét”. Những câu nói nầy chính ta đã nghe được, nói chung thì việc sanh tử của ta chưa liễu thoát, mấy việc nhỏ nhặt nầy thì chấp nhứt ông ta làm gì? Lại có một hôm sau khi điểm tâm đi ngoài xong trở lại thiền đường, đang đi giữa đường có vị sư nọ chặn ta lại hỏi: “Bồ Tát ở trên chính điện là nam hay nữ?” Bị hỏi như thế ta hoang mang không trả lời được, ta nói: “không biết” ông ta lại hỏi: “Vị Bồ Tát chính giữa có râu không?” Ta lại không mở miệng được, chỉ trả lời là:
“không biết”. Trên thực tế, ta ở Chùa Kim Sơn đã hai ba năm, khi thượng điện không hề ngẩng đầu lên nhìn thì đâu biết được là Bồ Tát nam hay nữ, có râu hay không râu. Các ông ngày nay còn có người nào như thế không? Ta có được chỗ hành như thế mà ngày nay vẫn còn là người nghiệp chướng. Còn chỗ hành của các ông đâu nếu không được khai ngộ thì còn được liễu thoát sanh tử chăng? Các người thử phát tâm tự hỏi mình xem! Hãy tham đi!

KHAI THỊ Ngày 9 tháng 11 (thất tư ngày thứ ba)

Mỗi khi có người nói: “Dụng công kéo không dài, đối với câu thoại đầu thì cũng biết đề lên, nghi tình cũng biết khởi lên, đắc lực với không đắc lực cũng rõ ràng, tất cả chỉ là kéo không được dài!” Câu nầy có rất nhiều người nói; muốn biết nguyên nhân của nó thì e không dễ dàng gì biết được. Lại nữa, thứ người kéo không dài nếu có chút tri thức thì sẽ kéo được dài, nghĩ đến một cách: lấy cái kéo không dài được quyết định làm cho kéo được dài. Các ông còn có tri thức nầy hay chăng? Phải hiểu được dụng công kéo không dài, không phải ngày hôm nay kéo không dài mà các ông đã từ kiếp vô thủy đến nay đều lặn hụp trong sự kéo không dài! Các ông còn biết đấy: các ông từ kiếp trước đến nay cái vốn đa tu là nhân của sự kéo không dài thì hôm nay làm sao có thể kéo dài được? Nhưng về quá khứ đã gieo nhân kéo không dài thì đương nhiên sẽ cảm lấy quả kéo không dài, đó là lý tất nhiên. Cứ để mặc kệ nó chăng? Mặc kệ thì đầu thai thành trâu, thành ngựa cũng mặc kệ nó, hết thảy đều mặc kệ nó, mặc kệ nó thì đâu còn việc gì nữa? Không gì ngoài việc luân chuyển trong lục đạo! Các ông là người có chút đạo tâm muốn còn chạy luân chuyển trong chốn nầy chăng? Nếu không muốn thì đương nhiên nghĩ đến một biện pháp, phải làm sao cho kéo dài thì mới được! Các ông còn có người nào như thế không? Mỗi người hãy tự hỏi lòng mình xem! Muốn nói đến phương pháp làm sao cho công phu kéo dài được, người xưa chỉ ra con đường nầy bảo chúng ta đi. Sự thực là vì người trung hạ căn trong chúng ta bất đắc dĩ mới nói: Ở trên bổn phận thì đâu cần phải đi đường (ý nói đối với người thượng căn, trong bổn phận của tự tánh thì đâu cần phải đi, vì suốt ngày đêm đã ở trong đó rồi). Ngoảnh đầu là xong, chân quay bước là về đến nhà ngồi an ổn. Nói có một con đường để đi là nói sai lạc ra ngoài rồi! Bởi vì các ông không nhận ra được ngay lúc đó, trước mắt đường đi lại nhiều cho nên bày ra một phương tiện, chỉ ra con đường nầy bảo các ông đi để có thể bỏ hết mọi con đường khác. Tỷ như một nắm tóc trên đầu thì không ít, đường các ông đi so với nắm tóc còn nhiều hơn, ta đương nhiên vì các ông mà đem những con đường nhiều hơn nắm tóc nầy mà bỏ ra ngoài chín từng mây, các ông ngay lúc đó thấy được cái bản lai diện mục thì ta mới mãn nguyện. Tuy nhiên, nếu làm không xong được thì thập phương Chư Phật cũng không thể làm giùm được, hết thảy Bồ Tát, lịch đại Tổ Sư lại càng không thể làm giùm được. Nếu thập phương Chư Phật có thể làm thay cho ông được thì các ông khỏi cần dụng công, Phật nếu thay chúng ta làm thì đâu còn chúng sanh? Được hay không được? Thập phương Chư Phật chỉ có thể chỉ dẫn một con đường, các ông có thể y theo con đường nầy mà đi, có thể bỏ tất cả con đường khác, con đường nầy đi đến đầu mút thì cũng được về nhà. Cho nên thập phương Chư Phật chỉ có thể chỉ ra một con đường bảo các ông đi, các ông đi được thì đương nhiên những con đường khác sẽ bỏ được hết. Thập phương Chư Phật không thể đi thay ông được. Nếu các ông không đi thì thập phương Chư Phật cũng không thể gánh vác cho các ông được! Con đường nầy chính là câu thoại đầu. Con đường ta hôm nay chỉ cho các ông, Phật cùng Bồ Tát, Tổ Sư cũng chỉ con đường nầy. Những con đường các ông đã đi là những con đường nào? Đấy là con đường kéo không dài, từ vô thủy kiếp đến nay đều đi trên con đường kéo không dài nầy. Hôm nay đứng ở chỗ nầy mà muốn kéo được dài thì đương nhiên sẽ không làm được. Đường kéo không dài tuy nhiều nhưng cũng không ra khỏi thân, tâm và thế giới; vì có thân tâm thế giới gom lại một chỗ nên mới biến hóa ra vô số con đường. Các ông đi được con đường câu thoại đầu nầy thì có thể bỏ hết thân, tâm, thế giới, những con đường kéo không dài. Thế sao lại phải nói thân, tâm, và thế giới là kéo không dài? Các ông muốn rõ cái kéo không dài nầy, vì những người trong giáo môn đối với danh từ thì đại khái dễ hiểu, trong thiền tông chỉ nói là kéo không dài mà không nói gì khác cả. Trong giáo môn giảng kéo không dài là gì? Đấy là: sinh, trụ, dị, diệt; sinh cũng là kéo không dài, trụ cũng là kéo không dài, dị cũng là kéo không dài, diệt cũng là kéo không dài. Ta muốn hỏi các ông: “Có tâm không?” Các ông đương nhiên sẽ nói: “Có tâm”, ta lại hỏi các ông:
“Lấy gì làm tâm?” Các ông đương nhiên nói: “Lấy cái năng tri năng giác làm tâm”. Vậy thì năng tri năng giác làm tâm các ông, vậy cái tri giác nầy dài bao nhiêu? Cái tri giác nầy có phải là sinh, trụ, dị, diệt không? Các người suy nghĩ xem: Sinh thì tức khắc sinh ra; một khi đã sinh ra thì phải trụ, trụ thì đâu được bao lâu lại lập tức đổi thành dị, đã dị thì một khi niệm khởi thì phải diệt. Sự sau khi diệt ra thế nào? Các ông thử nghiên cứu đi và trả lời ta một câu. Thật đáng tiếc! Chúng ta sau khi diệt thì lại sinh, trụ, dị, diệt. Vì có tri giác nên mới nói đến tâm, tri giác đương nhiên là sinh, trụ, dị, diệt; sinh, trụ, dị, diệt tức là kéo không dài. Các ông nghĩ xem! Cái tâm kéo không dài nầy có phải hôm nay mới có hay quá khứ đã có? Cội nguồn còn tìm ra được chăng? Trong tương lai lấy cái tâm để suy tính được không? Hiện nay thân chúng ta cao được hơn bốn thước, tương lai sẽ giảm đến còn một hoặc hai thước; cao nhất được bốn mươi trượng. Hiện nay sống được sáu bảy mươi tuổi, trong tương lai sẽ giảm xuống mười tuổi; dài nhất là 8 vạn 4 ngàn tuổi. Các ông nghĩ xem: thân cao có mấy mươi trượng, thọ được 8 vạn 4 ngàn tuổi mà trong đó lại không được rời sanh, già, bệnh, chết. Thân thể từ sinh mà có, bất luận mười tuổi trong tương lai, sáu, bảy chục tuổi ở hiện tại, cho đến 8 vạn 4 ngàn tuổi đều có một ngày phải già. Già rồi thì phải bệnh, bệnh rồi đương nhiên sẽ chết; sau khi chết thì thế nào? Đương nhiên lại sinh, già, bệnh, chết nữa. Cái kéo không dài của sanh già bệnh chết nầy chuyển mãi không dứt, vậy có kỳ hạn chăng? Thân, tâm, thế giới đều như vậy. Thân, tâm, thế giới kéo không dài là còn nói gọn đấy, bằng nói rộng ra thì nhiều lắm, các ông là người có tâm dụng công đương nhiên sẽ nghĩ đến một biện pháp làm sao cho tất cả cái kéo không dài có thể kéo dài được. Chỉ có thể dùng câu thoại đầu, đây là phương pháp trực đạt tâm nguyên. Tâm tuy kéo không dài nhưng tâm nguyên thì còn mãi mãi. Tỷ như giòng nước, nước thì lưu chuyển, nguồn (thủy nguyên) thì không; nếu nguồn mà di chuyển thì đương nhiên cái “chảy đi” không có; vì nguồn không chảy cho nên chảy mãi không thôi. Chúng ta tất cần đạt đến tâm nguyên thì mới có thể kéo dài được. Nhưng cái tâm nguyên nầy đã cách chúng ta bao xa rồi? Ta nói sơ lược các ông nghe, tỷ như ngày nọ đánh bản trong tịnh các ông nghe được, hôm nay đánh bản lại nghe được cho đến ngày mai ngày kia đánh bản cũng nghe được. Ta hỏi các ông: cái nghe của ngày hôm qua, cái nghe của ngày hôm nay cho đến cái nghe của ngày mai ngày kia là một hay là hai cái. Nếu là một thì dài hay không dài? Mọi người hãy nghiên cứu kỹ một chút xem. Phải lĩnh hội một chút ít thì mới được! Giáo môn gọi cái này là chân tâm thường trụ, suốt ngày chẳng rời một bước. Chúng ta muốn triệt lưu quy nguyên (dứt giòng về nguồn) thì phải lấy câu thoại đầu mà khổ công tham cứu, không sợ nó kéo không dài thì mới có thể từ cái kéo không dài nầy mà đạt tới cái chân thường được! Hãy tham đi!

KHAI THỊ Ngày 10 tháng 11 (thất tư ngày thứ tư)

“Tam học kiêm tu, một tham đủ cả”, tam học là giới, định, huệ: Giáo môn đối với tam học thì tu trì hết sức khẩn mật. Tại sao phải nói là kiêm tu? Ấy là trước hết phải trì giới, do giới mà định, định rồi có thể phát huệ. Giới có đại tiểu, định có chính thiên; tuệ phải từ trí mà có tuệ, chỉ nói đến tuệ thôi thì cái tuệ đó chưa rộng rãi, trí tuệ đầy đủ thì mới được gọi là viên tuệ. Trong giáo môn cần phải trải qua bao nhiêu thời kỳ thì mới có thể đạt đến được. Còn thiền tông thì không vậy: một câu thoại đầu thì tam học đủ cả. Tại sao cứ có người nói: “Trong thiền tông chữ giới chẳng nghe nói đến”. Ấy là vì họ không thấy được sự trì giới của thiền tông. Giới của thiền tông thì không phải là đại thừa, tiểu thừa, của ngừơi phổ thông mà là trì cái “vô trước thánh giới”. Ấy là lẽ gì? Các ông hãy đem câu thoại đầu mà đề lên xem, không rõ thì cứ ở chỗ không rõ mà truy cứu, tham vấn. Ta hỏi các ông: còn có thân đi giết người đốt nhà không? Một câu thoại đầu còn chẳng minh bạch ông còn có tâm nói hai chiều, vọng ngữ được chăng? Cũng như tham câu “niệm Phật là ai”, thân bất khả đắc, cứu kính là ai, tâm cũng bất khả đắc; đáo để là ai, bất khả đắc cũng không. Thân bất khả đắc rồi thì đâu còn phạm việc giết người, đốt nhà? Tâm bất khả đắc rồi làm sao còn có tâm trì giới? Cái bất khả đắc cũng không tức là thánh giới của thập phương Chư Phật đều trì hết.
Thứ “vô trước thánh giới” nầy trì phạm đều bất khả đắc thì còn nói gì đại thừa, tiểu thừa. Cái câu nói không trì của thiền tông còn để ở chỗ nào được? Còn chữ định của giáo môn thì thân ngồi ở một nơi, trong tâm muôn duyên chẳng động, ngưng nghỉ cả thân tâm đều không động; tâm không động dễ gì làm được, thì cần phải quán, quán không xong thì phải dùng chiếu, chiếu không xong thì phải nghĩ đến một phương pháp để kiềm chế nó, lần lần kiềm chế cho lâu mới được định, định đến một bước công phu nào thì phát được bước ấy huệ: đại khái là như vậy. Thiền tông thì triệt để trái ngược, không phải cái định đó, mà định trong động; tại sao vậy? Đi hương là động, trải bồ đoàn ngồi xếp bằng cũng là động, dọn nệm cũng là động, từ sáng tới tối đều động. Tuy là động như vậy mà ở trong cái động đó câu thoại đầu thật rõ ràng minh bạch không mảy may gián đoạn. Cái định trong động nầy dù cho hết thảy động cũng không làm động được cái định nầy; vì nó do động làm thành, toàn định là động, toàn động cũng là định. Tại sao tất cả động không làm động được cái định nầy? Các ông hễ cứ đề câu thoại đầu lên, ngay chỗ không minh bạch được đắc lực, cái đẹp nhất Thượng Hải cũng không có, đáo để là ai, cho dù người con gái đẹp nhất đến trước mắt ông, ông cũng không có tâm nào nghĩ đến cô ta. Thượng Hải đã không có thì cái động của Thượng Hải không làm động được nó! Không có tâm để nghĩ đến người nữ, cái động của người nữ cũng không động được nó. Hai thứ động dễ động nhất nầy đều đã không làm động được nó thì còn cái gì làm động nó được nữa? Đạt đến cái định nầy thì được trí huệ như trở bàn tay, ngay lúc đó sẽ đều đầy đủ. Đến được chỗ nầy thì thực sự là: “một tham đủ cả” (phần cảnh sách lược bỏ). Hãy tham đi!

KHAI THỊ Ngày 11 tháng 11 (thất tư ngày thứ năm)

Cái sự tham cứu nầy cần niệm phân minh, tâm tâm trong sạch. Niệm niệm phân minh thì không có vọng tưởng, tâm tâm trong sạch thì không có hôn trầm. Chỉ cần phân minh, vọng tưởng chẳng trừ mà tự trừ; chỉ cần trong sạch, hôn trầm không bỏ mà tự bỏ. Như thế nào là phân minh? Hãy đề lên câu thoại đầu làm cho rõ rệt từng chữ một, niệm Phật là người nào? Cái nghi tình nầy hãy cứ đi thẳng, đi rõ ràng mạch lạc chẳng có một tí mơ hồ thì vọng tưởng làm sao mà có được. Thế nào là trong sạch? Hãy đề lên bốn chữ “niệm Phật là ai” thành khẩn mà tham đi, hai chữ niệm Phật một khi ra khỏi miệng thì cái niệm danh hiệu Phật đã ở trong đó rồi; hai chữ “là ai” tức là người nào? câu hỏi nầy cũng giống như muốn các ông trả lời ta vậy: dù không có người đáp cũng bằng như ta lớn tiếng hỏi người khác. Niệm Phật là người nào? Mỗi chữ đều rõ ràng, tưởng niệm đều trong sạch, lại cũng chẳng phải là bốn chữ “niệm Phật là ai” mơ hồ không rõ, tựa có mà tựa không có, đi qua miệng mà thôi. Ban đầu thì nghĩ muốn dụng công, hễ thoại đầu đề lên thì vọng tưởng đã nổi lên rồi, hoặc là không có tinh thần cảm thấy mệt mỏi, câu thoại đầu đề lên mà không nghi tình gì, chẳng có nghi tình thì một câu là hết. Câu nầy đã mất, nhắm mắt lại như ngủ mà không ngủ, lại đề lên một câu thoại đầu nữa thì ngủ quên đi rồi, đó chính là chẳng phân minh, chẳng trong sạch. Các ông phấn khởi tinh thần cũng như gánh một gánh nặng 120 cân, lại cũng như thực phẩm rất ngon, niệm Phật là người nào vậy? Rất rõ ràng, nghi tình thì thật rõ ràng, không biết là ai, hết sức thành khẩn mà hỏi lại một câu: cứu cánh là ai? Cũng còn chưa rõ được, đáo để là người nào? Các ông có được niệm niệm phân minh như thế, tâm tâm trong sạch như thế, không cho nó được sơ hở chút nào. Ta hỏi ông: vọng tưởng từ nơi nào đến? Hôn trầm từ đâu mà ra? Bởi vì không phân minh, hễ mơ hồ thì vọng tưởng xâm nhập, có chút mơ hồ thì hôn trầm đã lên trên mình, công phu niệm niệm phân minh thì không có vọng tưởng, nổi vọng tưởng lên thì đương nhiên công phu không có. Lại chẳng phải ông muốn dụng công nó lièu mình muốn nổi vọng tưởng, ông không dụng công nó còn nghỉ ngơi một tí. Ông đã dụng công mà nó còn nổi vọng tưởng, đó không phải là hai sao? Đâu có lý lẽ như vậy được. Như con khỉ ở trên cây chuyền sang phía đông, nhảy sang phía tây, lúc cây đào khi cây lý, làm như có đến tám, mười con, chỉ cần định tỉnh để xem lại thì thực tại chỉ là một con, có trên cây đào thì không có trên cây lý. Vọng tưởng cũng vậy, suốt ngày như nổi ngàn muôn cái nhưng kỳ thực chỉ có một cái thôi. “Một cái” nầy vì người trung hạ căn như chúng ta bất đắc dĩ mà nói; nếu không phương tiện mà nói một cái nầy thì các ông lại không có chỗ hạ thủ. Muôn ngàn vọng tưởng đã nói trên thực ra chỉ có một; nổi một vọng tưởng nầy thì đánh mất công phu. Nếu dụng tâm ở trên công phu thì vọng tưởng nổi không lên, cũng như con khỉ ở trên cây nầy thì không ở trên cây kia vậy. Nếu chổ nầy dụng công, chổ kia nổi vọng tưởng thế không phải là hai sao? Không có lẽ như vậy! Các ông phải tự mình thấy đến nơi, không phải cứ ta nói rồi thì xong được đâu. Nếu chỉ muốn ta nói với các ông lại không quan hệ gì hết, như thế thì khổ chết đi! Các ông cũng có người nghe ta nói niệm niệm phân minh, tâm tâm trong sạch bèn đem câu thoại đầu mà niệm liên tiếp, ấy cũng lại là không đúng đâu! Niệm như thế thì không bao lâu tâm khí sẽ đau; cần từng câu từng câu một, không chậm không gấp, rõ ràng trong sáng. Nếu gấp thì bị thương thân, chậm thì dễ nổi vọng tưởng, niệm không rõ ràng trong sáng thì dễ buồn ngủ. Mổi người các ông có thể cứ liên tục rõ ràng mà tham ngay đi. Hãy tự mình đề lên câu thoại đầu xem còn một tí kẽ hở nào không? Nếu qua loa một tí câu thoại đầu dường có dường không thì cái kẽ hở lớn lắm! Văn Thù, Phổ Hiền cũng theo cái chỗ nầy ma đi ra đi vô, heo, dê, trâu, ngựa cũng từ chỗ nầy mà đi vô đi ra. Mỗi người các ông hãy nghĩ xem có còn là việc nhỏ không? Nếu được câu thoại đầu phân minh thì cái kẽ hở nầy phải được bít cho chặt lại rồi Văn Thù, Phổ Hiền cũng chẳng được vô ra; trâu, ngựa, heo, dê cũng dứt hẳn luôn. Vậy không phải là rất tốt sao? Cái kẽ hở nầy tuy bít được song chung quy phải tham câu thoại đầu cho thông, nhất định phải lấy câu “niệm Phật là ai” để tìm cho được mới đúng. Rõ ràng có người niệm Phật đừng có mơ hồ bỏ qua cho đó là xong. Các ông cần phải hiểu: từ vô thủy đến nay bị cái thân, tâm, thế giới nầy trói buộc chặt chẽ, các ông muốn được rời bỏ chốc lát, tơ hào cũng chẳng được đâu! Vì thế mà cứ quanh quẩn trong chốn lục đao luân hồi, chẳng rời xa được một tấc. Hôm nay muốn tham niệm Phật là người nào, đáo để là người gì, cứu cánh là ai, các ông tham cứu như thế, ta hỏi ông: thân có còn không? Thân nhất định là không có, thân đã không có thì tâm nhất định là không có nơi để. Thân tâm đều đã không có thì thế giới còn để được ở chỗ nào? Các ông ở nơi thân tâm và thế giới đều không có nầy, ta hỏi ông thế nào là câu thoại đầu? Các ông hãy tại chỗ nầy mà trả lời ta một câu. Nếu trả lời, không được thì phải ở chỗ trả lời không được nầy đề lên câu thoại đầu mà gấp rút truy cứu, gấp rút tỉnh ngộ. Tương lai thế nào cũng có được một tin tức. Ta nói như thế không ngoài hai câu “thô và tế”, như thế các ông cũng lấy thô tâm mà nghe, muốn nghĩ đến chỗ vi tế thì cần phải từ câu nói về thô nầy mà làm đến chỗ vi tế mới được. Hãy tham đi!

KHAI THỊ Ngày 12 tháng 11 (thất tư ngày thứ sáu)

Người đả thất đại khái đều biết nói: “dụng công hành đạo”. Nói thì cho các ông biết nói; nếu hỏi kỹ lại các ông: vì sao cần phải dụng công hành đạo, sợ rằng đại đa số các ông không hiểu rõ triệt để được. Bởi vì đều là nghe người ta nói: “Ở chốn tòng lâm cần phải dụng công hành đạo!” Bản thân mình thì chưa từng có một kế hoạch đầy đủ nào. Các ông cần biết: việc sanh tử chưa dứt, chỉ cần một hơi thở không trở lại là chết thì con đường đi trước mặt thật vô cùng hiểm trở! Cần có kế hoạch đầy đủ như thế thì tất phải biết: từ vô lượng kiếp về trước lúc ban đầu một niệm chưa động, với thập phương Chư Phật, hết thảy Bồ Tát, Tổ Sư đều đồng nhau không hai không khác. Chúng ta ở trong biển giác nầy, hễ động thì sanh ra niệm, do một niệm nầy sinh ra thì biển giác biến thành biển khổ, tuy nói là biển khổ, nhưng chỉ vì một niệm bất giác vô minh mà có thôi, kỳ thực xưa nay chưa hề rời biển giác mãi cho đến ngày nay tuy kim cổ đã trải qua bao đời, trăm ngàn vạn đời mà một niệm hiện tiền nầy cũng chẳng mảy may phân cách. Vì sao làm chúng sanh? Cần phải hiểu: tuy làm chúng sanh nhưng vốn có Phật tính, với Phật tính của Chư Phật thì không có gì sai khác; cái sai khác đó là do một niệm không giác tạo thành biết bao sanh tử, mãi cho đến giờ vẫn còn tâm tâm tạo sanh tử, niệm niệm tạo sanh tử. Sanh tử là cái gì? Mọi người các ông hãy nghe cho rõ: hư không đại địa là sanh tử, thân của ta đây là sanh tử, tâm cũng là sanh tử; nói chung lại thì có ba thứ:
Ấy là sanh tử của thân, tâm và thế giới. Đã có thân ta, tâm ta, đã có hư không đại địa chúng ta ở: ấy là căn bản của sự sanh tử luân chuyển không dứt của chúng ta. Nhưng thế giới nầy với thân, tâm cũng là bởi một niệm không giác tạo thành; giả sử như các ông phản vọng quy chân, thoát biển khổ mà chứng biển giác thì hư không, thế giới, thân, tâm đều ở trong một niệm nầy của ta; niệm nầy nếu giác thì thân, tâm, thế giới đều bất khả đắc. Chúng ta hiện nay không những không được giác ngộ mà còn tiếp tục tạo vô lượng sanh tử, sự tạo thành ấy như thế nào? Vì có cái thế giới, hư không đại địa nầy cho nên mới có thân thể chúng ta ở trên thế giới; đã có thân rồi thì hẳn phải có tâm, cái tâm nầy lại là cái công cụ tạo nên sanh tử. Trong khoảng một niệm tạo nên sanh tử của mười pháp giới, hiện tiền mỗi một sát na niệm niệm không dừng ấy tức là cái nhân niệm niệm tạo sanh tử của mười pháp giới. Nhân đã tạo thành thì tương lai sẽ cảm quả tơ hào không sai khác, trồng dưa được dưa, trồng đậu được đậu. Nếu các ông gieo nhân Phật thì đương nhiên cảm lấy quả thành Phật. Nếu gieo nhân a-tu-la, địa ngục thì nhất định sẽ nhận lấy quả báo a-tu-la, địa ngục. Như vậy niệm cái gì gieo nhân ấy. Hiện tiền người có niệm, niệm chúng sanh khổ, phát tâm Bồ Đề tức là hướng thượng tu nhân Phật; cái niệm sát, đạo, dâm tức là hướng hạ gieo nhân địa ngục ngạ quỷ súc sanh. Như thế là có mười thứ nhân cảm quả là mười loại pháp giới, ấy là bốn giới thượng: Phật giới, Bồ Tát giới, Duyên Giác giới, Thanh Văn giới gọi là bốn thánh giới. Sáu giới hạ là: thiên giới, nhân giới, a-tu-la giới, địa ngục giới, ngạ quỷ giới, súc sanh giới gọi là sáu giới phàm. Bốn thánh, sáu phàm nói chung là mười pháp giới. Nhân của mười pháp giới nầy đều do một niệm hiện tiền của chúng ta tạo thành. Hãy lấy lời ta nói làm thí dụ: ta nói ở đây, các ông đứng ở đây nghe; ta một người nói các ông trăm người nghe, chỗ hiểu của mỗi người đều không giống nhau. Có người nghe ta nói thì trong lòng vô cùng thanh tịnh tin theo mà thực hành chẳng mảy may nghi hoặc, lúc ấy lại muốn lập định chí hướng không làm đến không được; đấy là nhân thành Phật? Có người trong lòng hoan hỷ phấn chấn: “tương lai ta sẽ liễu thoát sanh tử, còn muốn độ tất cả chúng sanh nữa”; đây là nhân Bồ Tát. Còn có người nghe trong lòng muốn dụng công phu, ở chốn núi non, hang động chịu khổ nhất trên đời; đây là nhân Duyên Giác, Thanh Văn. Lại có người nghe trong lòng cho rằng: “Thầy nói nghe đến hay đấy, nhưng làm có nên đâu? Chúng tôi còn phải trì giới, cầu phúc kia!”, đấy là nhân trời, người. Lại có người nghe rồi trong lòng hậm hực nói: “Chán nản quá! Ngày nào cũng một câu nói nầy, nghe đến chán luôn; hãy nói cho chúng tôi nghe ít chuyện đời mới còn hay hơn!”, đã là chán ghét thì là nhân sân, nhân sân là nhân a-tu-la. Ngoài ra những việc phá giới bỏn xẻn, tham lam, tà dâm, những điều ác đều là nhân tam đồ. Như thế hợp thành nhân của mười loại pháp giới. Cùng trong một câu nói của ta, trăm người các ông nghe rồi đều có sự suy nghĩ bất đồng, ấy là do cái nhân mọi người đã gieo không giống nhau. Nhân của mười pháp giới là sự sanh tử của mười pháp giới. Các ông thử nghĩ: suốt ngày nổi một vọng tưởng bên nầy, nổi một vọng tưởng bên kia, vui vẻ, giận hờn, tất cả phiền não vô minh, gieo một thứ nhân như vậy thì sanh tử còn có lúc dứt không? Còn có ngày nhô đầu ra không? Luôn cả hơi thở cũng không ra được. Các ông nghiên cứu thử xem có phải như thế không? Nhưng sanh tử có nhiều như vậy thì phải cần thế nào mới có thể dứt được? Niệm Phật có thể dứt được không? Ta nói có thể được nhưng niệm Phật chỉ có thể thu tất cả niệm, câu thoại đầu có thể rời tất cả niệm. Tỷ như: các ông nổi vọng tưởng ngay nơi ấy, tạo sanh tử, bận lắm, một câu thoại đầu sẽ nhanh chóng thay ông mà xa rời niệm tạo sanh tử. Mọi người các ông hãy nghĩ: lực lượng câu thoại đầu có mạnh không? Ta nói lực lượng của câu thoại đầu lớn; nói lớn hơn nữa, muốn các ông tin hình như là không phải dễ. Các ông hãy thí nghiệm qua xem là biết thôi. Các ông hãy nổi một vọng tưởng thử xem; ngay trong lúc nổi vọng tưởng ấy hãy đề câu thoại đầu lên cho rõ ràng minh bạch. Đáo để là ai? Cứu cánh là ai? Tham như thế thì bóng dáng vọng tưởng có còn không? Các ông xem đấy, lực lượng câu thoại đầu lớn đến dường nào? Các ông có thể tâm tâm tham như thế, niệm niệm tham như thế được, chuyện về sau ta sẽ cùng các ông thương lượng. Tham đi!

KHAI THỊ Ngày 13 tháng 11 (thất tư ngày thứ bảy)

Đả được bốn thất rồi, công phu của các ông đương nhiên đã có chỗ thâm nhập. Thất đầu không biết dụng công, thất hai biết dụng công, thất ba thì dụng công phu được, thất tư đương nhiên có thâm nhập. Lúc khởi thất nầy có vài vị phải bận: Sư ban thủ của thiền đường mỗi giờ mỗi khắc chiếu cố các ông, nói nhiều rồi sợ các ông động niệm; giảm rồi lại giảm nữa, rất sợ nói thêm một câu lại làm động niệm các ông. Giảng khai thị, công án, điển chương, không mang một câu kinh điển, ngữ lục, cho đến bất cứ cảnh huống nào bên ngoài đều chẳng nói lấy một câu với các ông. Tại sao vậy? Bởi vì cái các ông tham là câu thoại đầu, thành thử tất cả các câu nói khác đều không hợp với pháp nầy, đó chính là điều khổ tâm của họ. Cho đến thấy các ông chỗ nầy cũng không đúng, chỗ kia cũng không đúng, cưỡng trong lòng không được, muốn nói, muốn tỏ bày, nói ra lại e các ông động niệm nên chỉ cho tự mình buông bỏ đi thôi. Điều nầy cũng là thành tựu đạo niệm của các ông. Vị duy na chiếu cố trong và ngoài thiền đường cho đến đi nhiễu hương dài càng sợ các ông ảnh hưởng đến sức khỏe, nhiễu hương ngắn lại sợ tinh thần các ông bất túc, lúc tọa hương thì dễ buồn ngủ, thôi thúc chạy hương thì sợ đánh nhằm lỗ tai các ông, hoặc đánh bị thương làm cho đạo tâm của các ông lui sụt. Suốt ngày cứ để hết tinh thần mà lo cho các ông. Tất cả sư giám hương, hương đăng, tự thủy duyệt chúng, hộ thất trong ngoài, nhà kho, khách đường (tư pháp của nhà chùa) đều là lo cho các ông dụng công hành đạo thành tựu cho các ông đả thất. Hôm nay đả đã được bốn thất rồi mà còn nói chuyện công phu chưa thâm nhập! Quy củ của việc khảo công phu cũng giống như trên, một khi hỏi thì cần phải trả lời, nhưng khi đáp ra thì sẽ làm trời lay, đất động mới được; đã giao hẹn lúc trước rồi: nếu không thì không hỏa táng tức phải thủy táng! (Lược bỏ phần khảo công phu và giải thất)

KHAI THỊ Ngày 15 tháng 11 (thất năm ngày thứ hai)

Những điều ta nói trong bốn thất trước đều là dạy các ông dụng công. Ban đầu không biết dụng công để làm gì, lại cũng chẳng biết cái gì gọi là dụng công, dần dần biết cần dụng công, lại chẳng biết được pháp dụng công như thế nào, hạ thủ nơi nào? Lại nữa, lúc mới biết câu thoại đầu cũng chẳng tin lắm, đây đều là trình tự đã qua của các ông. Cho nên từ trước tới nay cứ nói vì sao mà phải dụng công. Nhưng con đường hạ thủ công phu, đường lối nhiều lắm cho nên cần phải dẫn dắt các ông đi con đường chính nầy, vì các ông mà quét dọn sạch sẽ các chông gai trên đường đi, bảo các ông đi con đường nầy, không cho có tí chướng ngại nào, nói ra từng lớp lang một cho các ông nghe. Hôm nay thì đã đả được bốn thất, các ông không biết cũng biết rồi, không dụng công cũng muốn dụng công, người không chịu đi trên con đường nầy thì cũng theo con đường nầy mà đi đến; mọi người đều đã lên đường không thể có chuyện nói là chưa lên đường được. Muốn vì các ông mà nói chuyện công phu. Nhưng trong lúc các ông còn có một số đông người ngay cả câu thoại đầu cũng không tin tưởng thì làm sao tham, làm sao nổi nghi tình được, một lần cũng chẳng làm lấy một tí gì, người ta bước ông cũng theo đó mà bước, người ta ngồi ông cũng theo đó mà ngồi, căn bản chẳng động đến gót chân thì đâu nói được là đã lên đường và đi con đường chính được? Nếu các ông như vậy thì cái chuyện của công phu có còn muốn nói không? Nếu nói thì cũng chẳng được tác dụng gì. Đáng lẽ thì không mở miệng, nhưng không nói không được; đại khái có một vị lại cần ta nói trình tự công phu, dẫu cho một người cũng không có, ta cũng chẳng vì không có mà không nói. Các ông cho rằng ta chẳng mở miệng được ấy là các ông đã dụng công phu đến chỗ không mở miệng được rồi; các ông thực đã dụng công phu đến chỗ không mở miệng được. Ta đi ba vòng, ta nói cái chẳng nói, các ông nghe cái không nghe: nói cái chẳng nói ấy là chân ngôn, nghe cái không nghe ấy là chân thính, thế thì tốt lắm! Chỉ sợ chẳng phải cái không mở miệng được đó thôi! Bởi vì trình độ công phu của các ông không có tí nào cả. Có thể lời của ta nói ở phía trước, các ông lại theo lời ta nói mà đi ở phía sau, tỷ như đi đường, ta ở trước một dặm, ông ở sau một dặm;
Các ông thấy được ta, ta cũng thấy được các ông, như thế mới đúng. Hôm nay chỉ có mình ta nói ở phía trước, các ông ở phía sau theo không kịp, ta giảng được mười dặm, tám dặm rồi các ông một dặm cũng chưa đi được; các ông không thấy được ta, ta cũng không thấy được các ông. Ta giảng về hướng nam, các ông lại đi về phía bắc, như thế còn đúng được chăng? Lời ta nói ra có còn được gọi là ngôn hành tương ứng chăng? Đã không tương ứng được thì không cần mở miệng sao? Vì công phu các ông không theo kịp ta nên ta không cần mở miệng. Hoặc giả có người nói: “Thầy nói công phu như thế e là nói oan cho người ta”, cũng cho là nói oan người đi, nhưng dù ta nói oan ông thì cũng là chuyện rất tốt, chỉ sợ là không nói oan đó thôi. Các ông có cho là: “Thầy đâu biết được trong lòng người ta”. Tuy tâm ông nằm ở trong bụng ông, người các ông đứng ở nơi nầy, ta nhìn qua một cái thì thấy rõ ràng hết, như cái bình pha lê vậy; thấy rõ tim gan ngũ tạng bên trong chẳng sai tí nào, việc ở trong tâm ngươi, thế ta còn không thấy được chăng? Ta còn nó oan các ông chăng? Việc chốn thiền tông không phải nỏi qua là xong, cũng chẳng phải phó thác cho ngày sau được. Giáo môn khi khai tòa giảng kinh, khi xuống tòa giảng có thể ngủ nghỉ, bước ra ngoài đi tản bộ, bởi vì ngày hôm nay giảng qua rồi thì sự hành để đến ngày sau cũng được. Thiền tông không như vậy, hôm nay phải nói cái hành của ngày hôm nay, ngày mai nói cái hành của ngày mai, điều ta nói lại là điều các ông hành; điều các ông hành lại là điều ta nói, ngôn hành cần tương ứng với nhau; nếu ngôn hành không tương ứng thì đây không phải là việc trong thiền tông. Trong các ông còn nhiều người từ trước khi chưa vào thiền đường tưởng rằng thiền đường rất là cao quý, là nơi xuất thân của pháp của thập phương Chư Phật, Bồ Tát, Chư Tổ Sư, phương pháp của thiền tông rất huyền diệu rất đáng tin tưởng. Hôm nay ở thiền đường thì trái ngược laị, cảm thấy: “Không tốt, bên ngoài nói thiền đường hay tốt thế nào mà từ lúc vào thiền đường đến nay, thất cũng đả được ba, bốn kỳ mà cũng chẳng có gì là đáng kể, thì ra chẳng qua chỉ có thế mà thôi! Ở bên ngoài nghe chuyện người ta nói e là người ta gạt mình! Nay phải tính đến cái việc gì khác để cho mình làm mới được.” Loại người các ông như thế thì thật đáng tiếc, đáng buồn! Đúng là không thể nói được. Ta cũng muốn chỉ cho các ông cái nguyên nhân của loại bệnh này, làm cho các ông biết là bệnh để có thể tiến tới trước được; loại người nầy thì hình bóng câu thoại đầu cũng không có. Ta hỏi ông: Thế câu thoại đầu các ông còn hình bóng nào của nó không? Không những không còn mà còn cho là: “không tốt đâu! những việc tôi học được, điều tôi lãnh hội được v.v… trước kia hễ đề lên một vấn đề gì thì dường như các câu nói đều có thể cuồn cuộn tuôn ra. Hôm nay, ở nơi thiền đường đả thất, thì trái lại văn chương nghĩ không ra như trống trong bụng tựa hồ chẳng tương ứng. Vậy không thể đả thất được nữa! Đả nữa thì sợ biết bao nhiêu điều tôi đã phí công học được ở các Kinh Lăng Nghiêm, Pháp Hoa đều quên đi mất hết! E rằng phải uổng phí biết bao kinh tế, bao nhiêu khốn khổ, như vậy thì thất chẳng mong đả rồi! Chỉ đả làm cho bụng trống không thôi!”. Ông còn có loại tâm lý nầy; ta nói các ông không được làm sai! Đây là việc tốt không phải việc hỏng, các ông có tin không? Ta nói sự học được các ông hãy quên hết, sự lãnh hội các ông hãy quên hết, còn là việc không đáng kể, còn muốn các ông quên luôn cả người học là người gì, ngay cả người lãnh hội được là người gì cũng quên hết luôn. Mọi người các ông hãy lãnh hội ý của ta một chút, cần phải thâm nhập ý của ta thêm một lớp, quên luôn cả câu hỏi của ta về cái các ông học được, có quên người học được chưa? Tiếc thay! Điều học được hãy còn đầy bụng thì nào chịu quên đi được! Ngày ngày ngồi xuống còn muốn dò đi dò lại cứ sợ quên mất, quên cả người học thì làm sao nói cho xong! Trong thiền tông việc đầu tiên là cần các ông quét cho trống rỗng, cần các ông quên hết. Hãy quét cho trống đi, hãy quên hết đi! lúc bấy giờ ta sẽ cùng các ông thương lượng. Vì sao các ông chẳng quét cho trống rỗng? Không chịu quên? Trên thế giới việc gì cũng muốn nói cầu tiến bộ, cho là các ông học theo giáo môn thì cũng muốn tiến bộ. Hôm nay các ông ở thiền đường vì sanh tử đại sự, cầu thành Phật, làm Tổ thì làm sao không nói tiến bộ được? Điều đã học đã lãnh hội quên đi chút ít còn không muốn; các ông tự mình hãy nghĩ xem có đang tiếc không? Vì thế cho nên muốn tất cả các ông nhận thức được, có thể quên đi cái năng học sở học của mình đó là việc tốt, chẳng quên thì còn phải mạnh dạn quên đi mới đúng. Vậy là người các ông không dụng công, chỉ biết đả thất thấy rất tốt, ngồi ngồi, đi đi, ngủ ngủ một chút cũng không sợ, rất là thọ dụng. Người dụng công trái lại nội tâm phiền toái thân tâm chẳng yên. Vì sao vậy? Bởi vì người dụng công ấy biết rằng việc sanh tử chưa liễu thoát thì không được; sanh tử của ta là khổ, sanh tử của chúng sanh ở chốn đại địa lại càng khổ hơn. Nếu muốn làm cho họ lìa khổ ta tất cần lìa khổ trước đã, rồi sau mới độ cái khổ của họ. Ta muốn lìa khổ mà không dụng công thì không được, ta muốn độ chúng sanh thoát khổ mà không dụng công cũng không được. Cho nên từ sáng tới tối khắc khắc công phu, thời thời thực hiện công phu, rất sợ đánh mất công phu. Nói chung, muốn công phu thành phiến, vì không được thành phiến thì phải cứ tự mình trách mình, vì việc đại sự chưa rõ thì như thế chẳng yên. Nhưng mà, mọi người các ông ở đây có còn được nửa số người như thế không? hay là một phần ba! E rằng cũng chẳng có: Giả sử có được một hai thì cũng tốt! Còn kể được là đạo tràng. Nếu một người cũng không có thì câu nầy làm sao nói ra được? Bảo ta mở miệng nói thì có ý vị gì chăng? Các ông hãy nghĩ xem, ta thấy các ông đều có ý nói: “Nhà chùa thật làm khó chúng tôi lắm! Đả được tám thất thì thôi, vì sao phải thêm hai thất nữa! Đây không phải là làm khó chúng tôi sao? Còn nói cho dễ nghe là thành tựu cho chúng tôi! Thành thực chẳng cần nhà chùa thành tựu, giải thất sớm được chút ít để cho chúng tôi được nghỉ ngơi còn sướng hơn”. Đâu còn đòi chuyện tinh tấn, dũng mãnh nữa! Muốn cho sung sướng, thích ý mới đúng. Đúng không? Các ông nghĩ xem như thế còn là người hành đạo chăng? Các ông còn phải thành thực chịu thêm một phen khổ sở, sự ham sung sướng, thích ý, tuyệt đối là không được. Hãy đề lên câu thoại đầu mà tham đi thì mới được sự thọ dụng. Hãy tham đi!

KHAI THỊ Ngày 16 tháng 11 (thất năm ngày thứ ba)

“Một niệm bất giác sanh tam tế, cảnh duyên mới động thành lục thô!” Chuyện trong thiền tông chẳng cần hỏi đến, căn trần, ngũ thức, lục thức, thất thức, bát thức, mà chỉ cần nói đến thô và tế. Đối với câu thoại đầu thì đương nhiên phải nói rồi: vì đây là phương pháp phát minh cái bản hữu của chúng ta. Mặc dù nó có thể phát minh được cái bản hữu không; không nói cũng không làm cho chúng ta hành theo cách nầy được. Hoặc giả có người nói: “Đã có nói, có giảng không phải là giáo môn sao?” Các ông nghĩ thế là sai rồi! Điều mà trong thiền tông có nói, có giảng không giống như của giáo môn, cũng không giống với thiền tông; trái lại thì cũng giống với giáo môn, cũng giống với thiền tông, giống như Phật, như Tổ, giống thì hết thảy đều giốg, đồng thì hết thảy đều đồng. Hôm nay giảng về sự “thô” với các ông: trong thiền tông vốn cái “tế” cũng còn bất khả đắc thì còn nói gì đến “thô”? Kỳ thực là phương tiện của phương tiện, vì các ông là người trung hạ căn cho nên không giảng không được; người thượng căn lợi trí thì mau chóng nhập thẳng vào chẳng nhờ nói “thô” với “tế”. Thế nào là người trung hạ căn? bởi vì so với người thượng căn thì kém một tí cho nên gọi là người trung hạ căn. E rằng gọi là người trung hạ căn là còn khách sáo với các ông. Tại sao vậy? Cái thô nầy các ông có biết chăng? Nó là cái gì? Lớn hay nhỏ? Tròn hay vuông! Các ông có hiểu được chăng? Các ông hiểu được thì nói cho ta biết! Các ông có được người như thế ta cho ông là người trung hạ căn; sợ các ông không có một người nào biết, luôn cả cái hình bóng “thô” nầy cũng không hiểu được thì đâu còn nói được là người trung hạ căn? Nói là người hạ hạ căn còn là miễn cưỡng, nói là trung hạ căn là khách sáo đấy! Nhưng mà cứu cánh cái “thô” nầy là cái thế nào? Được bao to? Sợ còn không dễ gì biết được. Ta cho các ông biết, sợ không dễ gì biết được rõ. Nói sơ lược để các ông nghe: Hôm nay các ông dụng công mà dụng không xong ấy là thô, không tin dụng công ấy là thô, không tin câu thoại đầu là thô, nghi tình không nổi lên được cũng là thô, sợ chịu khổ là thô, muốn sung sướng cũng là thô, ông nói có được bao lớn? Loài hữu tình lớn nhất là Kim-Xí-Điểu cũng chẳng to được như nó. Nó đã có cái to như vậy thì làm sao không thấy? Bởi vì tất cả chúng ta đều ở trong cái thô. Tỷ như mặt trời trên không tuy có mây trắng che lấp, nhưng cũng có ít nhiều ánh sáng; giả sử có một đám mây đen che khuất cả, đưa bàn tay ra cũng nhìn không thấy gì; giả sử có một người suốt đời ở trong chốn tối tăm nầy sống qua ngày, một chân bùn, một chân cứt chó, hỏi đến anh ta “dưới chân là bùn lầy chăng?”. Anh ta đáp “phải”. Lại hỏi “còn có cứt chó hay không?”. Anh ta đáp: “Không có, đấy là bùn”. Chân đạp cứt chó mà cho là đất bùn cũng không biết rốt cuộc hỏi anh ta đất bùn là cái gì thì anh ta lại không mở miệng được. Tại sao vậy? Vì từ trước đến giờ chưa thấy được qua thì làm sao biết được là cái gì? Cũng bằng sự tham thiền trong chúng ta, như mặt trời trên hư không, vì bị nghiệp chướng che khuất mới tựa như một đám mây mù. Ngày nay đã tạo nghiệp, gnày mai cũng tạo nghiệp, lâu dần đi rồi thì cũng như mây đen thôi, giống như mây đen làm cho ánh sáng bổn lai của chúng ta bị che khuất hết. Hôm nay hỏi đến ông: “thô là cái gì?”, không mở miệng được vì không thấy qua thì đâu có biết được? Cũng như thấy bùn ở chỗ đen tối vậy. Các ông nghĩ xem: bị cái thô chướng nầy làm cho ánh sáng bổn lai của các ông bị chướng ngại hết. Hôm nay ở tại nơi nẩy còn cứ cho là: “tốt lắm”. Từ trước đến nay ông đều ở trong cái chướng nầy, ngay cả cái chướng nầy cũng không hiểu được, còn đâu mà nói thô với chẳng thô! câu nói trong thô ngoài thô nầy còn ổn được chăng? Hôm nay bảo các ông việc thiên hạ không cần tin, cần tin cái tự nơi mình, các ông tại sao không tin chính mình? Ấy là bị thô chướng nó làm chướng ngại rồi! Bất cứ pháp môn nào cũng không cần ông tin, chỉ cần các ông tin cái phương pháp của câu thoại đầu nầy. Các ông còn không chịu tin, tại sao vậy? Cũng là bị thô chướng làm cho chướng ngại rồi! Nếu các ông là người có chút ít tri thức hướng thượng, có lòng kiêm quyết thoát sanh tử, nói rằng: “thiên hạ bị nó làm chướng ngại thì có thể được chứ ta thì không thể nào bị nó làm cho chướng ngại; nếu ta bị nó làm cho chướng ngại thì ta còn được kể là người tham thiền sao?” Cứ tự mình thương lượng kế hoạch với mình, cũng không phải là việc kỳ lạ, cũng chẳng phải là việc khó, ấy là không tin vào mình, không tin vào câu thoại đầu. Hôm nay ta không tin không được, cho ông có bị rất nhiều chướng ngại đi nữa, ta vẫn muốn đả phá ông; không có việc khác, chỉ cần tin câu thoại đầu thì có thể đả phá được sự chướng ngại. Bị nó làm cho chướng ngại rồi thì chẳng tin, không bị chướng ngại thì tin liền, điều nầy thật rõ ràng. Ta nói như vậy các ông người có đạo tâm đương nhiên có chỗ lãnh hội. Ta nói các ông không tin câu thoại đầu, xin các ông hãy tin lấy câu thoại đầu chốc lát, đề lên mà tham, đợi đến khi các ông biết được ít mùi vị thì biết là khác rồi! Tại sao vậy? Nếu ông tham câu thoại đầu chốc lát, chẳng minh bạch thì cứ truy cứu chỗ nầy: là người nào? Đáo để là ai? À! Dường như có món đồ vậy, đại khái tức là chính ta vậy! Lại tham cứu nữa, không sai! Chính là ta! Tuy không hoàn toàn tin song chung quy bị ta thấy một tí cũng như mặt trời bị mây đen che trên không, bỗng đâu mây đen tan đi chỉ còn mây trắng vậy. Như thế thì mặt trời bị mây trắng che còn có thể thấy được thì cái bản lai diện mục của ta đã bị cái chướng che khuất cả; ngày hôm nay có dẹp được chút ít chướng ngại đương nhiên sẽ thấy được chút ít, không được hoàn toàn rõ ràng cũng như có một chút mây trắng vậy. Từ sau khi tự mình thấy được, ấy mới là thực tế, từ vô lượng kiếp đến nay chưa từng thấy qua lần nào, các ông hôm nay đã thấy được “mình” rồi. Ta hỏi ông lần nữa: “Có tin câu thoại đâu chăng?” Các ông lại sai rồi! Các ông thấy được mình, tại sao mà thấy được? Các ông phải hiểu: tham câu thoại đầu một phen chịu khổ sở, hôm nay cũng mài, ngày mai cũng giũa; bản thân các ông là do cái khổ của tham câu thoại đầu mới thấy được. Nếu các ông không tin nó thì chẳng phải là vong bản sao? Các ông hãy nghĩ: đúng hay không đúng? Chứng tỏ câu thoại đầu là phương pháp trừ bỏ cái thô chướng của chúng ta. Ấy là phương pháp làm rõ bản lai diện mục của chúng ta. Nếu muốn phát minh cái bản hữu liễu thoát sanh tử mà không nhờ tham thoại đầu thì không được. Các ông hãy phát tâm! Tham đi!

KHAI THỊ Ngày 17 tháng 11 (thất năm ngày thứ tư)

Việc lúc sống mọi người đều biết, đều tin; việc sau khi chết, ai cũng chẳng biết, chẳng tin. Vì việc lúc sống đều tự mình mắt thấy thì không thể không tin. Việc sau khi chết vì chưa thấy đến cho nên không tin. Các ông cho là: “Cái xác thân nầy của ta là rất tốt, không thể không yêu qúy nó. Tương lai có được sự thọ dụng bảy, tám chục năm”. Đây là điều các ông tin tưởng nhứt: “Việc sau khi chết tôi chưa thấy thì thầy bảo tôi tin cái gì?” Đại khái người người đều có cái tri kiến ấy. Các ông cho bảy, tám chục năm là dài lắm; các ông phải hiểu được là: quả báo sau khi chết so với bảy, tám chục năm trường của các ông thì chỉ bằng thời gian một tích tắc sau khi chết dù cho ông sống được bảy, tám chục năm. Khảo cứu đến điểm nầy ta thử so sánh một chút: có thể kể cái thời gian bảy, tám chục năm nầy như chớp mắt còn thời gian sau khi chết mới là trường kỳ. Nhưng sự sinh hoạt trường kỳ là do ta ở trong thời gian chớp mắt nầy tạo thành, tạo ra cái sinh hoạt gì thì phải hỏi một niệm hiện tiền của chúng ta là niệm gì. Niệm cố nhiên rất nhiều chúng ta không cần nói nhiều nữa, chỉ nói đến một niệm thôi! Cái niệm nầy cảm được quả gì? Người xưa nói:
“Tơ hào hệ niệm, tam đồ nghiệp nhân” tam đồ là địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Các ông nghĩ xem: nổi lên một chút xíu hệ niệm thì phải chiệu lấy cái quả to lớn như vậy, còn nói suốt ngày nổi vọng tưởng, nổi nghiệp thức thì sao? Cái cảm quả như vậy ta thực không muốn nói. Hơn nữa, các ông hãy nghĩ qua bảy, tám chục năm suốt ngày cứ nổi nghiệp chướng diêm vương đâu còn tha ông nữa. Diêm vương gọi các ông đi, các ông phải đi liền, trể một phút vào mũi các ông, đầu kia thì ở tay Diêm vương. Diêm vương nắm lấy dây lôi thì các ông phải bước, lúc ấy thì kh-ong còn khách sáo nữa, sợ khi so với chúng ta lôi trâu còn lợi hại gấp mấy chục lần! Diêm vương lôi các ông đi, bảo các ông biến thành trâu thì phải thành trâu, bảo biến thành ngựa các ông phải nhanh chóng biến ngựa; các ông có bản lĩnh bao nhiêu đi nữa cũng không được tự do. Kêu ông đi ông phải đi, tạm dừng một chút không được, muốn không đi càng không được nữa. Tiếc thay! Lúc bấy giờ chúng ta chịu khổ chẳng phải do mình nữa. Nhưng biến thành trâu một lần thì cũng chịu được, sợ rằng biến rồi lại biến nữa cho đến xương chất thành núi, sau khi thoát khỏi hình trâu thì mới biến ra cái khác được; Kỳ hạn dài vô cùng, không phải ta nói ra để dọa các ông! Ngày xưa có một vị tỳ kheo già tụng Kinh Kim Cang, tiếng tụng nghe không hay, vị nầy đã chứng được bốn quả, tiếng người lớn tuổi đương nhiên là nghe không hay. Một vị Tỳ kheo trẻ đứng bên nói: “Tiếng thầy tụng Kinh nghe như tiếng chó sủa vậy!” Vị Tỳ kheo già ngay lúc ấy nói: “Thầy nói câu nầy, tương lai sẽ đọa địa ngục rồi, còn phải biến thành chó nữa”. Vị Tỳ kheo trẻ nghe nói kinh sợ quá bèn nhanh chóng cầu sám hối, khóc than khôn xiết. Vị Tỳ kheo già nói: “Thầy sám hối như vậy thì có thể thoát được địa ngục, nhưng không thoát thân làm chó được”. Qua bảy ngày sau vị Tỳ kheo trẻ chết. Diêm vương bắt ông ta làm chó, ông ta còn hỏi Diêm vương: “Tại sao tôi phải biến thành chó?” Câu nói chưa dứt thì ông đã biến thành chó rồi; về sau xương của các kiếp làm chó chất thành đống cao lớn bằng núi Tu Di. Các ông hãy nghĩ xem: “Quả báo của câu nói như thế đấy! Đây không phải là chuyện ta đặt, đó là sách vở người xưa chứng minh các ông không thể không tin được. Mọi người các ông hãy nghĩ: cái sợi dây của Diêm vương buộc vào mũi chúng ta có lợi hại không? Cho các ông có bản lĩnh to bằng trời phỏng có thể đào thoát được không? Các ông quả có muốn tránh khỏi, quyết không muốn đến chỗ của Diêm vương cũng không phải là việc khó, muốn không đi thì không đi, việc thật dễ dàng; sợ các ông còn có điểm không tin: “Diêm vương lợi hại như thế, bản lĩnh ngất trời cũng không thoát được tay ông ta, thầy còn bảo dễ thì tôi còn tin vào đâu được?” Ta muốn nói một bằng chứng xác thật cho các ông nghe thì biết: Về trước có Kim Bích Phong bản lĩnh thật lớn, mùa hè đến nghỉ ở núi Thanh Lương mùa đông đến nghỉ ở phương nam, sung sướng lắm. Ngày nọ Diêm vương gọi tiểu quỷ đến bắt, phải mất nhiều thời gian mới bắt được, ông ta là người có bản lĩnh, bèn hỏi tiểu quỷ: “ngươi bắt ta để làm gì?” Tiểu quỷ nói: “Diêm vương bảo ta đến bắt ngươi” Kim Bích Phong nói: “Ngươi có thể từ bi cho ta được bảy ngày không? Khi ngươi trở lại thì ta sẽ đi cùng”. Tiểu quỷ nói: “Không được!” Khẩn cầu ba lần, tiểu quỷ cũng có lòng từ bi, nói:
“Được, có thể tha cho ngươi được bảy ngày, hãy đi đi, bảy ngày sau ta sẽ trở lại”. Thấy tiểu quỷ đi rồi, sau ông ta liền đề câu thoại đầu lên, ra sức tham cứu “Cứu cánh là ai? Đáo để là ai?”, cho có bỏ mạng cũng không buông. Đến ngày thứ bảy, tiểu quỷ trở lại, chỗ nào cũng tìm, trên trời, dưới đất, trong ngoài hư không đều tìm khắp mà tìm không ra. Ông ta ở trên hư không nói: “Diêm vương bắt ta Kim Bích Phong như lấy xích sắt xích hư không, xích sắt xích được hư không rồi thì mới bắt được ta Kim Bích Phong.” Hay thực, các ông thử nghĩ: bản lĩnh các ông có lớn hơn nữa thì trên trời tránh không được, dưới đất thì khỏi nói; không tránh được trong hư không, ngoài hư không cũng tránh không được, duy có câu thoại đầu mới có thể tránh được. Tránh trong câu thoại đầu mặc cho bản lĩnh của Diêm vương có to lớn hơn nữa cũng chẳng làm gì được. Phật Thích Ca cũng chẳng làm gì được! Như thế câu thoại đầu có phải là cần thiết chăng? Hãy tham đi!

KHAI THỊ Ngày 18 tháng 11 (thất năm ngày thứ năm)

Mới phát tâm dụng công thì sợ vọng tưởng dụng công lâu rồi thì sợ hôn trầm, đó là lý lẽ gì vậy? Bởi vì các ông hoàn toàn sống trong hôn trầm và vọng tưởng, nói sợ hôn trầm vọng tưởng thì cái “sợ” ấy cũng do hôn trầm vọng tưởng tạo ra. Sợ vọng tưởng mà không nổi vọng tưởng thì vọng tưởng hãy còn! Sợ hôn trầm mà không rơi vào hôn trầm thì hôn trầm vẫn còn là hôn trầm! Các ông có hiểu không? Đại khái không phải là chuyện dễ! Dẫu có thể nói các ông hiện tại dụng công đả thất một cái thất đả hơn lúc bình thường ba năm, nhưng cái câu nói dụng công thì đủ thứ sai khác. Có bốn thứ sai khác: thân tinh tấn tâm chẳng tinh tấn, tâm tinh tấn thân chẳng tinh tấn, thân tâm đều tinh tấn, thân tâm đều chẳng tinh tấn. Thế nào là thân tinh tấn? Ấy là đi nhiễu hương và tọa hương không giống nhau: nhiễu hương thì chạy như bay, tọa hương thì bên ngoài tốt lắm nhưng trong tâm lại hôn trầm, vọng tưởng. Tâm tinh tấn thì trên tâm suốt ngày câu thoại đầu sáng sủa rõ ràng, bề ngoài thì cứ nhiễu hương, tọa hương rất bình thường. Cái loại người thân tâm đều chẳng tinh tấn nầy không cần nói nhiều, lục đạo luân hồi là hang ra mãi. Trước khi chưa đả thất tựa hồ như có chỗ nắm lấy; khi dụng công trong lòng nổi vọng tưởng lên còn có chỗ dứt. Đừng hỏi đến chuyện khai ngộ, đối với sự công phu một tí cũng chẳng có thì cái vọng tưởng nầy còn có dứt được chăng? Nếu các ông cứ mãi như thế thì ta thật tiếc cho các ông! tiếc đến tràn nước mắt! Trước khi chưa dụng công, nghiệp chướng cao như núi Tu Di, dầy như đại địa, hiện tại lấy câu thoại đầu hôm nay cũng dùi, ngày mai cũng mài tựa như bớt đi một tí; hôm nay bỗng nổi mạnh lên một cái được như thế sợ so với trước còn cao, còn dầy hơn. Thí dụ như một người mắc nợ lâu, hôm nay nghĩ cách trả, ngày mai cũng nghĩ cách trả, trả nhiều lần rồi chỉ còn chút ít, thình lình đi cờ bạc thua hết một số lớn thì nợ nầy so với nợ trước còn lớn hơn, có đúng không? Vọng tưởng nghiệp chướng còn được cho nó nổi lên không? Dụng công phu không xong còn được mặc kệ nó không? Nhưng hiện tại các ông nổi nghiệp chướng lên mà quên cả bổn phận tham thiền, một ngày kia cũng có thể quày đều trở lại; đã lâu đi rồi, nổi lâu đi rồi thì một ngày kia nổi đã thôi; quày đầu lại mới biết ra ta là một người xuất gia, là ở thiền đường Chùa Cao Mân! Người đến lúc ấy mới hiểu được thì đã trể quá rồi, cho nên muốn các ông giác ngộ sớm một chút thì mới tốt, nợ kéo dài thì phải trả nhiều, nghiệp chướng nổi nhiều thì phải thêm nhiều sanh tử. Còn có chuyện gì khác để nói nữa! Lại nữa, vọng tưởng, nghiệp chướng lúc nầy không cho nổi thì đến trong tương lai sẽ có một thời kỳ còn muốn cho các ông nổi, không nổi không được, bây giờ nổi thì có tội, lúc bấy giờ nổi thì không có tội, lại còn có công. Tại sao vậy? Đây là trình tự công phu của các ông, hành đến chỗ ấy là việc của chỗ ấy. Lúc nào thì có thể nổi vọng tưởng được? Là lúc các ông cần công phu đến chỗ “Lạc đường tự tại” (công phu thành khối), lúc ấy các ông không nổi còn muốn các ông nổi, không nổi không được. Giả như không nổi cũng không đúng, không phải là việc của Thiền tông rồi. Tại sao vậy? Công phu của các ông dụng đến lúc ấy nếu chẳng nổi thì bị công phu làm chướng ngại đi. Các ông có hiểu được chăng? Cái công phu gọi là “lạc đường tự tại” ấy là cảnh giới gì? Ấy là đem câu thoại đầu đề lên giống như nổi vọng tưởng trong hiện tại vậy. Hiện nay suốt ngày cứ ở trong vọng tưởng, không nổi vọng tưởng cũng ở trong vọng tưởng. Lúc ông công phu đến chỗ lạc đường tự tại, nhô đầu ra cũng là câu thoại đầu, cứ nhấc chân cũng là câu thoại đầu, cử tâm là câu thoại đầu, động niệm cũng là thoại đầu v.v… Nói chung, muốn khởi lên một niệm, khác cũng làm không được: công phu đến chỗ nầy, vọng tưởng muốn nổi, nổi không được, nghiệp chướng muốn nổi, nổi không được, cho dù trời xoay đất sụp muốn rời câu thoại đầu cũng rời không được. Nếu trụ ở chỗ nầy cũng không đúng mà cần phải hướng về phía trước mà tiến lên. “Tại sao hướng về phía trước, trời xoay đất sụp muốn động cái niệm thoại đầu cũng không được thì sao tiến vè phía trước được?” Nếu không có chỗ đi không cần các ông đi, lúc bấy giờ mới cho các ông nổi vọng tưởng, nổi nghiệp chướng; nổi cho gấp cho nhanh lên, càng nhiều càng tốt. Tại sao vậy? Lúc nầy nổi một vọng tưởng thì bớt một vọng tưởng, nổi một nghiệp chướng thì bớt một nghiệp chướng. Vọng tưởng nghiệp chướng nếu không nổi thì bị công phu che lấp, như thế là không được, cần phải nổi cho hết rồi mới được vô sự. Tỷ như một ổ trộm lớn có năm, sáu tên suốt năm ăn trộm đồ của ngừơi ta; hôm nay ăn cắp một bình trà bỏ trong nhà, ngày mai ăn cắp một hũ rượu bỏ trong nhà, kẻ ăn cắp dù, kẻ ăn cắp nón; tất cả đều chất đầy trong ổ. Ăn cắp lâu rồi có một ngày bị người ta hàng phục; đầu hàng xong thì rất tốt, rất thái bình. Dầu cho tốt nhưng tang vật vẫn còn, hang ổ cũng còn. Nếu không lôi ra tất cả tang vật, đập bể hang ổ thì không lâu bọn kẻ cắp sẽ muốn trở về nữa. Các ông đem tang vật quăng đi hết rồi đốt rụi cả hang ổ, bọn kẻ cắp có trở lại cũng không có chỗ nào để ở cả, đó chẳng phải là được vĩnh viễn thái bình sao? Công phu cũng như việc tiểu trừ bọn kẻ cắp. Bọn kẻ cắp là gì? Là nhân, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý của các ông, đồ ăn cắp là vọng tưởng, nghiệp chướng, người tiểu trừ kẻ cắp là câu thoại đầu. Hôm nay cũng tham, ngày mai cũng tham; đầu tiên, lực lựơng của cảnh giới bên ngoài và vọng tưởng bên trong rất lớn, mắt hễ động thì đánh mất câu thoại đầu, lỗ tai hễ động cũng đánh mất câu thoại đầu cho đến tỷ, thiệt, thân, ý hễ động thì cũng như vậy. Dụng công lâu rồi con mắt dầu cho động thế nào câu thoại đầu cũng còn, lỗ tai động thoại đầu cũng còn, cho đến thân ý động, thoại đầu cũng còn, cũng như bọn cướp hàng rồi thì công phu “lạc đường tự tại”. Mặc dù công phu “lạc đường tự tại” kẻ trộm đã hàng nhưng tang vật còn đó, hang ổ cũng còn đó, cho nên muốn các ông nổi vọng tưởng, nổi nghiệp chướng nữa, nổi một cái bớt một cái cũng như đem tang vật từng món từng món một bỏ ra ngoài. Đem bỏ hết rồi thì có thể đập phá ổ hang, lúc phá xong rồi thì mới là thật sự thái bình. Nhưng ta muốn hỏi các ông: sau khi thái bình còn có việc làm chăng? Sợ các ông lại không hiểu được nữa! Thế thì cái công phu “lạc đường tự tại” các ông còn chưa dùng đến thì việc phá hang ổ hết tang vật lại càng chưa dùng đến được thì cho có nói thêm việc gì về sau cũng vô dụng. Đợi khi công phu các ông dụng đến chỗ đó rồi thì ta mới nói cho các ông biết. Bây giờ trở lại nói về công phu hiện tại của các ông, ấy là công phu dụng không được, vọng tưởng không nổi không được, nghiệp chướng nổi rồi còn nổi nữa, lấy câu thoại đầu hàng phục nó mà hàng phục không xong; một lần, hai lần không xong, kết cuộc không có biện pháp. Các ông muốn hàng nó; một khi cái tâm muốn hàng phục nó nổi lên thì lại là vọng càng thêm vọng, nghiệp càng thêm nghiệp thì làm sao hàng phục nó được? Nay chỉ cần các ông không ngó tới nó, không hỏi nó, không hàng phục nó, không đè ép nó, chung qui cứ lấy câu thoại đầu của ta mà tham, cứ tham mãi tự nhiên sẽ được lên đường. Đây là việc rất cần! Rất cần! Các ông hãy phát tâm tham đi!

KHAI THỊ Ngày 19 tháng 11 (thất năm ngày thứ sáu)

Theo quá trình công phu đại khái có ba thứ: thứ nhất là cực lạ, thứ nhì là cực quen, thứ ba là phi phàm phi thánh. Ba cái nầy bao gồm tất cả quá trình dụng công của các ông. Dù công phu dụng đến thế nào cũng không ngoài ba thứ nầy. Công phu cực lạ các ông đều rõ thấy được rồi. Thoại đầu tham không vô, muốn tham thoại đầu thì các ông bị vọng tưởng ngăn chận, đề một câu nữa thì vọng tưởng nổi mạnh lên, bị sức mạnh của vọng tưởng nổi lên cướp đoạt một hai cây hương, cho đến liên tiếp cả một ngày cũng không chấm dứt. Bất chợt nhớ lại câu thoại đầu, đề lên được một hai lần thì hôn trầm lại nổi lên, ngủ quên cả nửa ngày mới biết, khi sực tỉnh đề lại câu thoại đầu thì nghiệp chướng, âm thanh, sắc tướng và nhức ngứa trên người v.v… đều là nghịch cảnh làm cho câu thoại đầu bị đánh mất. Đó là lý gì? Bởi vì chúng nó quá quen thuộc còn công phu thì xa lạ quá; kỳ thực tham thiền không có gì kỳ lạ, chỉ cần lấy câu thoại đầu đề lên thường xuyên và khởi nghi tình tham liên tục. Hiện nay đã đả được năm thất rồi, không được bảo là cực lạ, nhất định phải có chút tiến bộ, dù chưa đạt đến chỗ cực quen, hưng công phu đã dụng như vậy dẫu cho là lạ cũng cứ đề lên thoại đầu, đừng buông thả, lâu dần trong một ngày thì có nửa ngày công phu, trong nửa ngày còn lại dù cho màu sắc, âm thanh, vọng tưởng làm đối nghịch, nhưng nửa ngày kia đã được nắm chặt lại trên công phu xét kỹ xem đắc lực hay chẳng đắc lực, cũng như “Niệm Phật là ai”, không hiểu rõ phải hỏi nữa. Đáo để là ai? Truy cứu không xong không thể bỏ qua, phải tự hỏi cho đến minh bạch mới buông tay. Cứ như vậy mà hỏi thẳng, không minh bạch nhất định không ngừng nghỉ. Hỏi mãi như thế, khi quay đầu nhìn lại sẽ thấy công phu có phần đắc lực, lại tiếp tục kiểm điểm cái thân nầy còn có hay không? Tựa như chuyện trong thân mình và ngoài thân mình đều không có liên hệ. Xét kỹ thêm một tí sẽ thấy hình như thân thể không có, vậy thân thể tôi không có thì âm thanh, sắc tướng, nhức ngứa làm sao có được. Công phu hành trì thỉnh thoảng có lúc dẫu thấy trên thân thể không có nhưng hình như còn có một hai cái vọng tưởng nghiệp chướng thình lình xảy ra, vậy thì thế nào? Vì tâm chưa bỏ được, cần ôm câu thoại đầu, không được buông. Cứ tham mãi mãi vọng tưởng nổi lên không được thì hình ảnh của nghiệp chướng cũng mất tiêu luôn. Chỉ có cái chỗ không minh bạch của câu thoại đầu, đến được chỗ nầy rồi thì tâm cũng bất khả đắc, thân quên hẳn, tâm cũng quên hẳn; thân tâm đều quên dù cho sắc tướng đẹp thế nào, âm thanh hay thế nào, nếu không có thân thể thì nó dung thân ở đâu? Tình ái sâu thế nào, nhiều đến đâu mà không có tâm thì nó nương vào đâu để an thân? Thân tâm đều bất khả đắc có thể gọi là công phu hiện tiền còn gọi là công phu cực quen. Cực lạ là phàm phu, nhưng cực quen không phải là hiền thánh, cũng không phải đến chỗ phi phàm phi thánh. Công phu hiện tiền là cảnh giới gì các ông tự mình đều cần đạt đến chỗ đó thì mới thấy được, ta nói mà các ông không đi đến thì cũng bằng không. Thật tội nghiệp cho các ông, đối với việc dụng công mà không nắm chắc tí gì; nếu ta không nói sơ cho các ông biết một chút cũng không được. Sự công phu hiện tiền, tức câu thoại đầu hiện tiền, dù đi đứng nằm ngồi, nổi vọng tưởng nổi nghiệp chướng đều là câu thoại đầu, cũng như lúc cực lạ của các ông suốt ngày chỉ có nổi vọng tưởng, đi đứng nằm ngồi đều trong vọng tưởng, cử tâm động niệm ở trong vọng tưởng, mặc áo ăn cơm ở trong vọng tưởng, đề câu thoại đầu cũng là vọng tưởng, sợ vọng tưởng, trừ vọng tưởng lại là thêm vọng tưởng. Hôm nay, công phu hiện tiền tất cả chỗ nào cũng đều là công phu, dù nổi vọng tưởng nổi nghiệp chướng cũng đều là công phu, cái nầy tức là công phu hiện tiền cũng là cực quen, chưa được kể là xong việc, còn phải là lạ bất khả đắc, quen cũng bất khả đắc, lạ quen đều bất khả đắc mới được gọi là đến chỗ phi phàm phi thánh. Vậy thì trong khi công phu hiện tiền chỉ có câu thoại đầu; các ông đừng tưởng sai lầm đi đến chỗ nầy rồi chỉ có chỗ không hiểu câu thoại đầu, chỉ có cái không minh bạch, không cho có chỗ suy nghĩ, cũng không phải cái không minh bạch mơ mơ hồ hồ, cũng không phải cái không minh bạch cho qua loa; như thế mới thực là công phu hiện tiền. Đó là lý gì? Triệu Châu Thiền Sư nói: “Lão tăng ba mươi năm chẳng tạp dụng tâm. Hễ biết mặc áo ăn cơm là chỗ tạp dụng tâm. Người trong thiên hạ ở chỗ minh bạch, chỉ có lão tăng một mình không ở trong chỗ minh bạch”, đây là một bằng chứng xác thực. Vậy đến đây gọi là đến đích chưa? Chưa, chỉ có thể nói là cái bánh xe sanh tử ngưng lại rồi, không xoay chuyển chứ chưa đạt được đến cuối cùng, cần phải tiến thêm một bước, đến lúc ấy ta mới nói được chuyện bình thường trong gia đình, kể được việc trong nhà, nhưng việc đáng nói bây giờ không phải là việc trong mà mà coi là việc đang đi đường. Các ông vẫn chưa hiểu được sự việc dưới cửa Thiền tông, chuyện phàm phu thành thánh nhơn; đó không phải là việc cứu cánh, không phải là chỗ đặc biệt của Thiền tông. Sao vậy? Địa vị thánh nhơn là việc ở giữa đường, việc đến nhà vẫn còn cách xa một khoảng đường, các ông có hiểu tí nào không? Nếu đi được đến chỗ nầy mới cho là đúng việc của Thiền tông, là chỗ đặc sắc của Thiền tông. Lời nầy chỉ có Thiền tông được nói, ngoài ra không pháp môn nào được nói. Vậy sau khi cực quen rồi dẹp từng lớp từng lớp mãi, dù nói các ông nghe đại khái không dễ gì lãnh hội được, chỉ là từ lạ chuyển thành quen, người ít thiện căn sẽ còn chút ít ngại khi nghe như vậy. Ta nói thêm một thí dụ: chúng ta ở trong thiền đường lâu ngày, nhiễu hương, tọa hương không còn lạ gì, bỗng có người ngoại quốc lỗ mũi cao, mắt sâu, đầu tóc đỏ, thân to lớn, tất cả đều khác với chúng ta; ta nhìn nó, nó lại nhìn ta, ta thấy nó quái lạ, nó thấy ta cũng quái lạ. Mình đi vào, nó cũng đi theo vào; ra, nó cũng theo ra, mình không nói chuyện được với nó, nó cũng không nói chuyện được với mình. Một mình nó, nó không dám ngồi, không dám ăn cơm. Thời gian lâu mình nhìn nó mĩm cười, nó cũng nhìn mình cười; lâu hơn nữa trao đổi được một vài câu qua lại, dần dần quen rồi không còn quái lạ, lâu ngày cùng nhau tham thiền. Lâu nữa, không xong! Nó lại sanh khi dễ chúng ta, rồi mỗi cử động đều phải nghe nó chỉ huy. Lâu ngày ngược lại mình phải lễ lạy nó, các ông tưởng tượng xem trên thế gian có chuyện như vậy chăng? Tình trạng thông thường hiện nay cũng đều như vậy, sự công phu hạ thủ cũng giống vậy. Người ở trong thiền đường cũng như vọng tưởng, nghiệp chướng từ lâu đã quen thuộc, câu thoại đầu như người ngoại quốc xa lạ, khi hạ thủ dụng công đề lên câu thoại đầu thì vọng tưởng xông lên cũng như các ông nhìn nhau với người ngoại quốc, lâu ngày quen thuộc đương nhiên cũng có thể tham được, lâu thêm nữa tham cũng được, không tham cũng được, nổi vọng tưởng cũng được, không nổi vọng tưởng cũng được, đó là cùng tham với nhau rồi, lâu nữa vọng tưởng đứng không yên vì câu thoại đầu đã làm chủ, làm vua. Trên đời phải có cái lý như vậy, dụng công phu cũng là như vậy. Các ông thật đáng thương! Chỉ có một câu thoại đầu đến nay vẫn có người không tin, có phải khổ không? Chúng ta đều là người sáng suốt, ta khuyên các ông ở trên câu thoại đầu dụng khổ công thêm một phen, chịu thêm nhiều oan ức, đối với sự hành đạo mới có thể có chút ít tương ứng nào đó, hãy tham đi!

KHAI THỊ Ngày 20 tháng 11 (thất năm ngày thứ bảy)

Một niệm sai rồi trăm việc đều sai”, ta nói một niệm sai không những trăm việc đều sai mà ngàn việc, muôn việc, tất cả đều sai. Tại sao vậy? Cái căn bản sai thì cái chi nhánh làm sao không sai được! căn bản tức là hiện tiền một niệm của chúng ta nếu một niệm nầy đúng thì ngàn muôn việc đều đúng, nếu một niệm sai thì ngàn muôn việc đều sai. Lục Tổ dạy: “Tự tâm bất ly giả, vô chân hà xứ chân?” (tự tâm không rời cái giả, không chân thì còn chỗ nào chân) đủ có thể chứng minh cái niệm hiện tiền của chúng ta có thể đúng có thể sai, nếu cái niệm nầy của chúng ta đã sai đi rồi thì sẽ tiếp tục mãi không ngừng. Phải biết từ vô lượng kiếp đã sai đến ngày nay, hôm nay được cái sắc thân nầy thì thực là khó lắm! Trong kiếp xưa không biết đã chịu bao nhiêu khổ, nếu mở mắt ra xem thì phải khóc than biết bao nhiêu? Cái sắc thân ở trong lục đạo, tứ sanh, cái sắc thân nào mình chẳng có làm qua? Cái đó đều do một niệm sai mới có. Nầy các thầy! Nếu hôm nay không giải quyết chữ sai nầy đi thì cái khổ ở tương lai còn dài lắm, con mắt nhắm lại, một chân cao, một chân thấp, con đường đi nầy không phải dễ đi, thực là xa xôi khó đến! E rằng cái câu xa xôi khó đến nầy cũng chẳng xong nữa! Tại sao vậy? Nếu các ông biết con đường nầy là xa xôi khó đến mới có thể nói là xa xôi khó đến. Căn bản con đường nầy không biết thì câu xa xôi khó đến ấy để vào đâu? Vậy thì chữ “sai” nầy là không tốt, thì các ông sẽ quay đầu lại nói cữ “đúng” (thị), bởi vì cái sai (phi) đã không tốt rồi, nhứt định dứt nó đi; không có mùi vị gì thì hãy tìm lấy cái đúng mà làm đại khái là tốt rồi. Đúng đấy! Bởi vì đúng là tốt. Đại khái đối với chữ “đúng” nầy các ông không dễ gì hiểu được, nên mới có sự so lường như vậy. Ta hỏi các ông: Tại sao nói rằng đúng là sự tốt? Trong Thiền tông thì không phải vậy, dù không phải vậy nhưng cũng là một con đường phải đi ngang qua. Tại sao Thiền tông nói không phải vậy? Sai tuy không phải là việc tốt, đúng đối với sai mà nói cho là tốt. Nhưng Thiền tông không cho lấy sai làm đúng cũng không cho lấy đúng làm đúng, đúng với sai đều không trụ mới là sự việc trong Thiền tông. Đã là đúng sai đều không trụ thì về sau còn có việc gì không? Có hay không, cần các ông phải tự mình lãnh hội, ta nói không được, tại sao vậy? Nếu ta nói hữu sự thì các ông sẽ hướng về cái hữu mà dụng công, hễ ta nói vô sự thì các ông sẽ hướng trên vô sự mà dụng công, cũng như người xưa nói; “như người uống nước lạnh ấm tự biết”. Vậy thì làm một người như vậy cứu kính là người nào, cái người nầy ta có thể chỉ ra cho các ông: các ông công phu đến chỗ nầy là rất thanh cao, có thể nói là “không cùng với vạn pháp làm bạn”. Một người không làm bạn với hữu tình, cũng không làm bạn với vô tình, thực hành được như vậy là từ chỗ nào làm đến được? Là một niệm hiện tiền; cái một niệm nầy đúng thì toàn thể đều đúng, cái một niệm nầy sai thì toàn thể đều sai, cái nầy các ông sợ còn chưa được rõ, vậy ta cần phải nói qua cho các ông biết; việc thiên hạ đều không đúng! Chỉ có câu thoại đầu mới là “thiệt đúng”. Tại sao nói câu thoại đầu là “thiệt đúng?” Không nhưng ta dám nói mà ta còn dám bảo đảm, các ông sợ còn có điểm không tin. Ta dám nói bảo đảm, không phải chỉ là nói suông thôi đâu, đương nhiên là cần phải có bình luận. Người trên đời không đủ kể thí dụ: Phật Thích Ca, Phật quá khứ đều thỉnh đến đây! Bất cứ vị nào nói chuyện với ta, ta hỏi: “Nầy Phật Thích Ca, câu thoại đầu còn “đúng” hay không? Thí dụ Phật trả lời “không đúng”! Câu thoại đầu nầy chỗ nào nói là đúng được”. Nầy Phật Thích Ca ta nói câu thoại đầu là đúng là nói với người đúng, hay nói với người không đúng hay nói với người lìa đúng lìa sai? “Ta hỏi như vậy thì e rằng Phật Thích Ca trả lời không được. Tai sao vậy? Tùy theo trình độ căn cơ của chúng sanh mà giáo hóa, không như vậy không được. Nếu nói người trong nhà (ý nói người đã kiến tánh) ta hỏi Phật Thích Ca thì đương nhiên Phật trả lời được. Nếu Phật Thích Ca hỏi ta, ta cũng trả lời được. Vậy nếu Phật Thích Ca không trả lời được thì còn ai có thể trả lời được nữa? Không phải vậy! Tuy là không phải, nhưng còn muốn các ông niệm niệm đều có, tâm tâm đều có thì mới có thể kể là đúng được; cái chữ “đúng” nầy, chúng ta nói đến đây là kết thúc. Chúng ta dù nói niệm niệm có được tham, tâm tâm có được tham, muốn tham đến trạng thái nào mới nói được là niệm niệm có, tâm tâm có? Nếu có thể lấy câu thoại đầu để trên tâm mình thì chỉ là một cái không minh bạch mãi, không minh bạch thì không buông tay; thình lình người ta tọa hương, ông thì không biết ngồi, khi đánh dấu hiệu đi cầu mọi người đi cầu tiêu thì ông lại không biết hướng về chỗ nào đi, đây gọi là đi mà không biết đi, ngồi mà không biết ngồi. Cái không biết nầy của ông không phải là cái không biết mơ hồ, không minh bạch, mà trong tâm lại minh minh bạch bạch. Người niệm Phật không biết là người nào cứ một mạch mà tham đi; cũng như tham niệm Phật là ai, niệm Phật là người nào niệm? Đáo để là ai? Cứu cánh là người nào? Đều qui tựu vào chỗ không minh bạch, lấy đại ngộ làm kỳ hạn, không ngộ thì cứ tham. Các ông hãy phát tâm. Hãy tham đi!

KHAI THỊ Ngày 21 tháng 11 (Thất 6 ngày thứ nhất).

Người dụng công phu tưởng rằng công phu của mình tốt lắm, có thể nắm vững được rồi; lúc thân ngồi xuống, tâm cảm thấy nhẹ nhàng, công phu thì thanh thanh tịnh tịnh. Trong lòng cứ cho là: “Tốt lắm rồi! Công phu của ta đã nắm được rồi”. Nhưng theo ta nói thì còn khổ não lắm! Trong chiêm bao cũng còn chưa thể mộng thấy! Đối với người có công phu để dụng thì còn có thể nói là “đắc thiểu vi túc” nhưng ông phải hành đến chỗ đắc thiểu mới có thể nói như vậy được; chỗ thiểu còn chưa đến thì làm sao gọi được là túc? Cái hành này của ông chẳng được gọi là người dụng công phu thì nói gì đến túc? Vậy thì phải làm sao mới là người dụng công phu? Cần phải trong tịnh có công phu, lúc động cũng có công phu, động tịnh đều có công phu. Cái hành này phải thực hành ra làm sao vậy? Nếu mà muốn công phu ở trong tịnh cho tốt xong rồi mới bắt đầu dụng công phu ở trong lúc động thì như thế ba mươi năm, năm mươi năm cũng làm không tốt. Tại sao vậy? Tại ông lấy động, tịnh chia làm hai phần riêng biệt thì làm sao cho tốt được? Lúc động, lúc tịnh, ở giữa động và tịnh công phu đều phải được nắm vững mới có thể nói là động tịnh không chướng ngại cho ông, ông cũng không bị động tịnh chướng ngại. Nếu không nắm vững được chỗ này thì khi tịnh dụng thì bị tịnh chuyển, khi động dụng thì bị động chuyển; làm sao ở giữa hai cửa động tịnh mà công phu không đánh mất thì mới có thể nói: động cũng không động được ông, tịnh cũng không tịnh được ông; dù cho là đỏ, là xanh, là nam, là nữ đều không bị nó chuyển thì mới cho ông là động tịnh nhất như. Mặc dù có công phu như vậy vẫn còn phải khảo sát một tí; một ngày hai mươi bốn tiếng đồng hồ còn có thể dụng công hoàn toàn như vậy được không? Giả sử không hoàn toàn dụng công được như vậy, xin hỏi: “Có mấy tiếng đồng hồ dụng công như vậy?”. Nếu muốn có trong hai mươi bốn tiếng đồng hồ có hai, ba tiếng không ở trong công phu thì ta không dám bảo đảm cho ông được liễu thoát sinh tử, cũng không nói được ông có hy vọng khai ngộ. Không những ta không dám bảo đảm mà Phật Thích Ca cũng không dám bảo đảm; dù cho Phật Thích Ca đứng ngay chỗ này mà các ông có hỏi Phật: “Công phu cần phải một ngày hai mươi bốn tiếng đồng hồ dụng công không gán đoạn chăng?”. Giả sử Phật Thích Ca nói: “Không cần! Một ngày có mười tiếng để nghỉ ngơi, để nói chuyện”. Đúng lắm! Ta muốn hỏi Phật: “Hai mươi tiếng dụng công là trồng cái nhân gì? Năm, sáu tiếng nghỉ ngơi là trồng cái nhân gì?” thì Phật Thích Ca có còn gì để mở miệng? Cho nên ta nói công phu cần phải dụng như vậy! Phật Thích Ca nhất định cũng nói phải dụng như vậy!
Vậy thì trong hai mươi bốn tiếng đồng hồ công phu không gián đoạn, cái công phu này có thể kể được là đã đến nhà chưa? Chưa được đâu, còn sớm lắm! Mười phần công phu mới có được một phần. Ta nói như thế các ông lại tưởng rằng: Công phu dụng đến chỗ này còn nói chỉ có một phần, việc trong Thiền tông thực khó quá! Đúng thế! Bởi vì ông không có tri thức dụng công cho nên nói khó, nếu là người có ít trí thức đương nhiên không nói khó, cần phải dụng công như thế. Tại sao cần phải dụng công như thế? Tại sao nói mười phần chỉ có một? Bởi vì suốt hai mươi bốn tiếng đồng hồ dù công phu của ông được thật đứng đắn, nhưng hễ có bệnh thì hỏng việc rồi! Các ông nghĩ xem! Lúc có bệnh đã dụng qua công phu chưa? Công phu còn được đứng đắn không? Bệnh thì chúng ta đều đã có bị qua rồi, đang lúc bệnh thì có dụng công hay không? Sợ ngay cả cái hình bóng cũng không có! Chúng ta nghiên cứu thử xem: trong khi bệnh có cần dụng công hay không? Nếu nói lúc bệnh không cần dụng công, các ông nói thì được chứ ta thì không dám nói. Theo ta, các ông muốn dụng công phu thì lúc bệnh cần phải dụng công phu đứng đắn hơn ngày thường chút ít mới được. Tại sao cần phải đứng đắn hơn? Đau nhức không biết đau nhức, khổ không biết khổ, chết ta không hiểu được, công phu rõ ràng minh bạch, dù cho trời có nóng hay là lạnh, ta một tí cũng không biết đến, chỉ biết sao công phu còn phải tốt hơn ngày thường, công phu ngày thường tuy là tốt nhưng không có thống khổ thì công phu vẫn chưa được cho là đắc lực. Vậy thì có thể nói: Động không đến ông, tịnh không đến ông, bệnh nặng cũng không đến ông mới gọi là tốt!
Công phu này được đến chỗ cực điểm chưa? Cũng còn chưa đâu, chỉ mới có hai phần thôi. Nói như thế thì ra làm sao? Thực làm cho người ta không biết làm sao mà rờ! Thực khó thay! Ta muốn nói cho các ông biết, muốn các ông được thấy đến nơi đến chốn mới đúng: dù cho động tịnh nhất như, bệnh cũng không động đến ông, ông còn ngủ hay không? Ngủ quên rồi lúc nằm chiêm bao thì công phu ra như thế nào? Các ông tưởng tượng xem: công phu có được đứng đắn không? Ta tuyệt đối không phải nói để làm khó cho các ông! Chiêm bao mọi người đều có trải qua, nếu trong khi ngủ quên mà nằm chiêm bao thì không còn dụng công. Ta cho các ông biết, người xưa có nói: “Nghiệp thức mang mang, vô bản khả cứ” (Nghiệp thức mênh mông, không chỗ căn cứ vào được). Hai câu này thế nào? Cứ theo lời nói như vậy thì lúc nằm chiêm bao nhất định cần phải dụng công. Nếu được trong khi ngủ mà không biết có sự ngủ thì làm sao nằm chiêm bao được? Chiêm bao cũng là câu thoại đầu, không kể ngủ hay không ngủ, tất cả đều không rời công phu mới cho là nắm vững được phần nào, nhưng vẫn chưa thể nói là được mười phần. Tại sao vậy? Người xưa có nói: “Lúc tịnh công phu được mười phần thì lúc tịnh chỉ còn một phần, lúc động công phu được mười phần thì lúc ngủ quên nằm chiêm bao ngủ quên chỉ còn một phần, lúc chiêm bao có được mười phần thì lúc đủ thứ khổ đều tụ lại, sinh tử đến ngay trước mắt thì lại chỉ còn một phần”. Đấy chẳng phải là lời ta nói ra đâu. Công phu tất cần phải dụng đến sự lâm nguy cuối cùng có nắm được mược mười phần, liễu sinh thoát tử mới có phần của ông. Công phu dụng lúc sống không thể dụng thẳng đến sau khi chết, cho nên trước khi chết phải giải quyết cho xong sự sanh tử của chính mình. Ta nói như thế các ông cảm thấy sự việc trong Thiền tông thực khó, thực khó muốn đến lắc đầu, hình như thực hành không được, thực khó lắm rồi! Ta nói không phải vậy, các ông thấy có sự thâm sâu như thế nhưng chúng ta chỉ cần một câu thoại đầu thì xong thôi! Câu thoại đầu ra sao mà lại có lực lượng to lớn như thế?
Chúng ta thí nghiệm thử một tí xem: Đề lên câu thoại đầu rồi thì nghi tình còn, buông thoại đầu xuống thì nghi tình không còn nữa. Các ông làm như thế này thử xem: Đề cầu thoại đầu lên đừng buông nó; trong lúc ấy các ông nghiên cứu thử xem, xem xét thử xem, động còn chướng ngại được nó không? Tịnh còn chướng ngại được nó không? Bệnh còn chướng ngại được nó không? Chiêm bao còn chướng ngại được nó không? Dù cho đủ thứ khổ tụ lại cũng đâu còn sợ gì? Chỉ cần một câu thoại đầu thì đưa ông đến được nhà. Ấy tức là “Nhất siêu trực nhập”. Mặc dù dễ như thế, trực tiếp như thế, rốt cuộc muốn các ông làm đến nơi: đề khởi lên có nghi tình, buông xuống cũng có nghi tình. Công phu dụng đến chỗ này mới đúng. Hãy tham đi!

KHAI THỊ Ngày 22 tháng 11 (Thất 6 ngày thứ hai).

Trong lúc vận chuyển làm việc, công phu phải nắm cho vững, suốt cả ngày đêm công phu phải nắm cho vững. Nếu có được công phu như vậy thì mới có được một tí tương ứng với bổn phận của các ông. Tại sao phải dụng công như thế? Cần phải hiểu: Khi đang công phu có buông bỏ một tí tức là có một tí trống rỗng, cái trống rỗng này tức là kẽ hở thì sinh tử của chúng ta sẽ từ kẽ hở mà trỗi dậy, cái kẽ hở này tức là căn cứ địa phát sinh lục đạo luân hồi.
Các ông tưởng tượng xem: Trong khi công phu có một tí trống rỗng như vậy ấy là chỗ sanh ra sinh tử luân hồi; vậy thì há có lý nào ban ngày dụng công phu còn ban đêm thì khỏi dụng công? Tọa hương thì dụng công, còn đi kinh hành thì khỏi dụng công? Lại nói đến ngủ quên khỏi dụng công thì lại càng không xong rồi; người có cái tri kiến như vậy cũng không phải là ít: ấy là chỗ hiểu lầm lớn của các ông. Cái hiểu lầm này người lầm cũng không ít! Thời gian lầm lẫn cũng không ít! Ta thấy các ông cứ sai lầm mãi như vậy đến ngày nào mới dứt?
Theo sự đả thiền thất thì cần phải dụng công tinh tấn, nên sư Ban Thủ, sư Duy Na đều là những người giúp cho các ông nỗ lực tinh tấn, các ông lại không thèm để ý đến việc đi kinh hành, cứ chạy như bay, mà không có nghi tình, vậy gọi là sự tinh tấn của các ông sao? Vậy còn muốn đả thiền thất làm chi nữa? Nếu lúc đi kinh hành mà không thèm để ý đi như thế nào, chạy như thế nào, vậy thì Hòa Thượng, Ban Thủ, Duy Na chẳng phải là vô dụng sao? Như thế thì ta còn cho phép các ông làm như vậy được sao? Theo quy củ: Kêu đi thì phải đi, kêu chạy thì phải chạy như bay, không được nhầm lẫn một chữ! Ta chỉ dạy các ông dụng công phu, các ông cụng hay không dụng ta còn có thể tha thứ một tí chứ còn quy củ của ta các ông không được sai chạy một chữ nào cả. Cứ theo như các ông: Kêu đi ông không đi, ông còn muốn sống không? Cái thân xác của các ông còn muốn ở thiền đường thêm mấy ngày? Hôm nay ta cho các ông biết: Từ nay về sau người chấp sự kêu các ông đi thì các ông đi, kêu chạy thì phải chạy như bay. Sai suyển một chút mà ta thấy được thì phải đánh ba hương bảng, đánh cho ông gãy xương, có mất mạng hay không ta không cần biết. Các ông cần phải lưu ý cho kỹ! Ta không nói trước cho các ông nghe thì khi hương bảng đánh xuống, các ông sẽ lấy làm lạ mà nói rằng: “Thực vô lý quá, phạm cái quy củ nhỏ này làm sao đến phải bị đánh hương bảng nặng như thế? Thật lợi hại quá! Quy củ Thầy chưa nói cho tôi nghe, nếu Thầy đã nói cho chúng tôi nghe rồi, biết sự lợi hại của quy củ rồi, đương nhiên sẽ nghe lời gọi, bảo chạy thì chạy như bay, ấy cũng có gì đáng kể.” Đúng thế! Các ông phải lưu ý cho kỹ.
Tại sao lại phải như thế? Cần phải hiểu: các ông từ đầu năm đến cuối năm chỉ hy vọng thời trong kỳ đả thiền thất được liễu sinh tử. Trong thời kỳ thiền thất dụng công hoàn toàn nhớ cái tinh tiến. Tinh tiến dũng mãnh sợ còn không thể liễu được sinh tử, lười biếng thì làm sao hữu dụng được? Ngày thường chỉ hy vọng trong thời kỳ đả thất, nay trong thời kỳ thiền thất mà không như vậy thì còn hy vọng thời kỳ nào nữa? Vậy ta đem ông đem ông đánh chết thì còn có tội không? Nhưng mà bảo ông chạy như bay, không phải chạy để chơi, phải làm sao bước chân nào cũng rời công phu, niệm niệm không rời công phu, nếu mà chạy không thì chẳng bằng không chạy! Các ông phải lưu tâm ghi nhớ cho kỹ!
Hiện tại người dụng công phu đều phải nghiên cứu cho thuần thục, cũng như trâu rừng trên núi, muốn trâu rừng làm việc, trước hết phải dạy cho nó thuần thục rồi sau mới có thể dùng được. Các ông xem: Lúc ban đầu mới buộc, nó chạy bên Đông nhảy bên Tây không chịu theo khuôn phép tí nào. Hôm nay dạy nó, ngày mai cũng dạy thì dần dần có thể cùng ông lên đường được rồi; lâu nữa thì có thể theo ông mà chạy. Sau khi đã thuần thục thì khỏi cần buộc dây, nó còn có thể đi trước ông nữa Dụng công phu như thế, ban đầu câu thoại đầu giống như trâu rừng, ông muốn dụng công nó không theo ông dụng, không chỗ này hỏng thì chỗ kia hỏng. Lâu đi rồi thì dụng được tốt thôi, thêm lâu nữa thì sẽ thuần thục, chỉ có một câu thoại đầu cứ dụng thẳng đến. Trước kia thoại đầu đề không được, tất cả là chỉ nổi vọng tưởng; hiện nay vọng tưởng nổi không lên, tất cả chỉ là câu thoại đầu: ban ngày ban đêm đều là công phu, muốn nổi một cái vọng tưởng cũng không được, nếu dụng công được như thế thì có thể gọi là thuần thục rồi.
Tại sao phải dụng như thế? Công phu của chúng ta muốn được thành khối tất nhiên cần phải lên con đường này, theo con đường này mà chạy thẳng đi thì mới có thể đến được công phu thành khối; nếu không theo con đường này chạy đi thì công phu không được thành khối.
Thế nào là công phu không thành khối? Thế nào là công phu thành khối? Hai thứ công phu trên đường đi này, các ông phải thấy cho triệt để thì lúc dụng công phu mới được đúng. Hai chữ thành khối tuyệt không phải là có đồ vật gì, không phải là cục đất hay khúc cây gì, nếu hiểu như vậy thì là sai rồi! Đừng có tưởng lầm. Cái khối này, là khi tham thoại đầu được đắc lực, tâm là thoại đầu, nổi vọng tưởng cũng là thoại đầu, nổi nghiệp chướng đều là thoại đầu, trên thân thể đều là thoại đầu, ở dưới chân là thoại đầu, trong tay đều là thoại đầu, nhãn, nhĩ, tỹ, thiệt, thân v,v… đều là thoại đầu, ngay chỗ này, chỗ đứng cũng là thoại đầu, ngước lên nhìn trời, trời cũng là thoại đầu; tâm như vậy, thân như vậy, hư không cũng như vậy, tất cả cộng chung thành một thoại đầu, tức là thành một khối, không phải khúc cây, cục đất là khối. Cái khối của câu thoại đầu này lan tới chỗ nào cũng là cái khối này, ông muốn đập nó, lấy miếng gỗ đánh nó một cái, miếng gỗ đó cũng thành thoại đầu, lấy cục đá đập nó một cái, cục đá cũng thành thoại đầu luôn. Ta nói như thế là một thí dụ, trong tâm của ông cần phải có một tí lĩnh hội mới được! Công phu như thế tức là công phu thành khối.
Đối với công phu thành khối: thoại đầu đề lên, nghi tình đắc lực, nghi tình cũng là thoại đầu, thoại đầu cũng là nghi tình; sơn hà đại địa là tự thân ta, tự thân lại là tâm, tâm cũng là thân, thân cũng là sơn hà đại địa; giả sử cho cục gạch, miếng gỗ đánh đập một cái, một tí động tịnh cũng không có. Nếu dụng công phu được như vậy là công phu thành khối và dễ đến được quê nhà.
Ta nói như thế, vậy công phu của các ông đã đến chỗ này chưa? Không cần các ông nói ta cũng biết các ông còn chưa dụng công phu được như vậy, các ông chưa dụng đến nơi thì không cần giảng mới phải; nếu không giảng thì các ông khổ não quá? Một tí tri thức dụng công cũng không có; dù cho các ông chưa dụng đến nơi, ta ở phía trước từ từ dẫn các ông đi, các ông cũng có thể theo đến, dù cho ông dụng công chưa đến được thì cũng gieo được một hạt giống đạo.
Các ông người có chí hướng công phu này muốn làm cho đến cũng không có gì, chỉ cần nhận thức là suốt ngày chẳng kể kinh hành, tọa hương, đi ngủ đều phải chiếu cố đến công phu cho tốt, không cho nó bỏ trống chút nào, lúc đi phải nhận chân mà đi, bước nào cũng không rời câu thoại đầu, đang lúc ngồi, nghi tình rõ ràng trong sáng thì tương lai có thể đạt đến công phu thành khối, thành phiến. Hãy tham đi!

KHAI THỊ Ngày 23 tháng 11 (Thất 6 ngày thứ ba).

Người dụng công phu hình như trong tịnh thì dụng được, khi ngồi xuống mà dụng thì công phu trước mắt, muốn nói trong khi động mà dụng công phu thì không dễ đâu! Lúc công phu đứng đắn thì hình như không động được, hễ động một cái thì công phu mất tiêu; còn muốn nói trong động trong tịnh nghi tình thành khối, đập thành phiến lại càng không dễ gì làm được. Đúng thế! Vậy thì nói thực một câu: trong khi động, công phu không dễ gì mà dụng. Tại sao vậy? “Một động, hai động” cái động này chưa hết thì cái động kia đã đến rồi, về sau cứ tiếp tục xong lên mãi mãi như vậy: “Một động, hai động, ba động”, cũng như các ông tọa hương, công phu thấy được lắm, gặp khi khai tịnh thì không phải là động rồi sao? Sau khi khai tịnh thì phải buông chân ra; đã khởi hương rồi thì phải đi tiểu tiện; những chuyện này có thể nói: Khai tịnh buông chân ra là một động hai động, khởi hương tiểu tiện là ba động. Các ông nghĩ xem: Niệm niệm không ngừng động như vậy, cho đến chưa từng ở trong động dụng tâm qua, vì vậy hôm nay muốn trong động dụng công thì sao mà các ông làm được.
Hiện tại chúng ta đã đả được năm, sáu thất, công phu trong khi tịnh các ông đương nhiên đã dụng được rồi. Nay muốn các ông dụng công phu trong khi động thì không dễ gì mà dụng được, tại sao vậy? Bởi vì các ông từ lâu chưa có lưu tâm. Các ông phải hiểu: công phu trong khi tịnh mặc dù đắc lực, hễ có một tí động tác thì lập tức mất liền; giả sử các ông trong khi động mà dụng công phu được thì dù cho tất cả động cũng không động được đến chỗ công phu của các ông, bởi vì công phu của các ông là từ trong khi động mà được thì đâu có sợ gì động nữa?
Các ông cho rằng lúc động thì khó, ta nói không khó! Thứ nhất là muốn các ông có tri thức này, muốn liễu sinh thoát tử tất cần phải dụng công phu trong lúc động, khi trong động mà dụng công được tốt rồi thì mới có thể động tịnh nhất như được. Cái trường kỳ của sinh tử, lợi hại của sinh tử, sinh tử khổ não, nếu không dụng công phu đến động tịnh nhất như thì không thể liễu được: đây là tri thức thức thứ nhất. Thứ hai là phải biết muốn dụng công phu thì bất luận trong động trong tịnh, không được rời khỏi công phu: muốn liễu sinh tử thì tất phải dụng công phu cho đến thành khối thành phiến: đây tức là tri thức thứ hai của các ông. Có được hai tri thức, lập định chí hướng không làm đến thì không được; nếu không công phu cho tốt thì ta không thể là người tham thiền được! Nào là đi, đứng, nằm, ngồi, không hỏi động tịnh, chung qui cứ ôm chặt lấy câu thoại đầu đến chết cũng không buông. Ông có được quyết chí như vậy mà còn sợ làm không tốt sao?
Nhưng mà có quyết chí rồi còn phải biết phương tiện, không hiểu phương tiện thì sẽ làm hỏng việc. Thế nào là hiểu phương tiện? Trước tiên phải biết: Sinh tử không phải một ngày là làm xong, hôm nay muốn hiểu sinh tử cũng không phải là việc gấp được. Vậy phải làm thế nào? Ba năm, năm năm công phu dụng không đến được nhà thì ta cũng dụng, ba mươi năm, năm mưoi năm cho đến kiếp này không xong, kiếp sau làm nữa, kiếp sau làm không xong ta cũng không sửa đổi chí hướng ban đầu; chung qui lấy việc làm cho xong làm kỳ hạn. Lâu cũng được, mau cũng được, lâu hay mau ta không quan tâm, cái tâm rộng lớn tuyệt đối không có tí do dự; làm như vậy mới gọi là biết các phương tiện. Người không hiểu phương tiện, dụng công phu ba ngày không thấy mùi vị gì hoặc là khi tịnh thì dụng, khi động thì không thể dụng; cảm thấy không có mùi vị, thì dụng hay không dụng đâu cần gì nữa? Ấy là không hiểu phương tiện. Đại đa số các ông có còn cái tri thức này không?
Công phu hiện nay, ta thử hỏi các ông: “Công phu trong khi động, tịnh ra như thế nào?”. Các ông nhất định trả lời rằng: “Tiếng bảng buổi sáng lúc tịnh còn có thể được, tiếng bảng buổi trưa có hôn trầm, đến nén hương dưỡng tức, nửa nén hương trên còn khá”. E rằng các ông đều trả lời giống nhau (chúng khẩu đồng âm). Nói như thế thì trong khi tịnh còn chưa hoàn toàn làm cho tốt được còn nói gì đến trong khi động? Không có được một người nào nói: “Tôi mỗi nén hương đều nắm được chắc, chỉ trừ lúc động là không đắc lực thôi”, còn có được người như vậy không? Lại nữa: “Tôi lúc tịnh cũng có công phu dụng, chỉ khi tiếng mõ đánh cho đi cầu mới làm cho công phu của tôi bị đánh mất thôi”. Các ông còn có người nào như vậy không? Có được người như vậy cũng gọi là tốt rồi.
Công phu các ông không làm đến nơi, bịnh tại chỗ nào? Ấy là ở chỗ sợ bị mất mặt, từ sáng đến chiều sợ chạm mặt người, sợ chướng ngại người, chỉ lo sao cho đối với việc này việc nọ không để sai phạm, nếu có sai phạm một chút thì lập tức bị đánh hương bảng, bộ mặt sẽ coi không được, thấy khó chịu! Các ông tưởng tượng xem có phải không, có phải suốt ngày cứ ở trong nhân và ngã mà lưu tâm không? Bởi vì “ngã” sợ bị mất mặt, không được phạm quy củ của người ta, cái cửa này lại nhốt kín ông ở trong. Còn có người nào nói: “Tôi không thể quy củ hay không quy củ! Quy củ là cái thứ hai, câu thoại đầu là thứ nhất, nếu câu thoại đầu của tôi có mảy may bị mất thì cái mạng của tôi cũng mất luôn rồi; tôi có chỗ nào sai lạc thì cứ đánh đi, la rầy cho một trận đi, nhưng cái công phu của tôi thì không thể bị đánh mất được!”. Các ông thực có công phu này thì khi hương bảng có đánh xuống thân ông sẽ không biết đau đớn, la lối ông cũng không cảm thấy khó chịu; đánh chửi đều không hiểu được thì làm sao còn biết đến sợ bị mất mặt? Không phải là an nhiên đi qua cái cửa ngõ khó khăn này hay sao? Nhưng nói không cần quy củ cũng không phải, nếu không cần quy củ thì ông đến thành phóng túng thôi. Kỳ thực người có công phu chân thật, công phu đứng đắn chừng nào thì quy củ giữ tốt chừng đó.
Các ông cho rằng: “Cái chỗ rất khó khăn của công phu là câu thoại đầu dụng đến chỗ thật khó, vậy làm sao đi qua được chỗ cực khó đó?”. Các ông thực dụng đến chỗ khó, muốn qua khỏi chỗ khó đó vốn không phải là việc dễ dàng đâu. Thí dụ câu thoại đầu dụng lên bước tới không được, bước lui cũng không được, bên trái bên phải đều không đi được, đứng ngay chỗ đó cũng không yên ổn. Như trước mặt có người cầm dao, nếu ông bước tới thì họ sẽ cho ông một dao, sau lưng có người cầm súng, hễ lui thì họ bắn ông một phát, bên trái là lửa lớn, bên phải là nước mênh mông, bốn bên đều là hiểm địa, hễ nhúc nhích một cái là mất mạng! Hễ đứng ngay đó bất động thì bốn phía đều gom sát lại cũng phải bị mất mạng. Ta hỏi các ông phải chạy đi đâu? Cái cửa này làm sao qua được? Các ông tịnh tâm để lĩnh hội thử xem. Đây là thí dụ: Các ông lấy cái ý nghĩa thí dụ này để trong tâm mà xem xét thử, lấy câu thoại đầu để chứng minh thử xem phải làm sao mới qua được? Đấy không phải là việc nhỏ đâu! Trong tâm các ông hãy trả lời ta một câu. Nếu trả lời được, nghĩa là trước có dao, sau có súng, bên trái lửa, bên phải nước mà qua được, thì dù cho kiếm thụ đao sơn (rừng kiếm núi đao) cũng qua được, chảo dầu sôi, lò lửa than cũng qua được. Nếu không qua được chỗ này thì chỗ nào cũng không qua khỏi được! Ta lại muốn thảo luận với các ông thêm nữa, người cầm dao trước mặt thật hung dữ chạy đến, dao chỉ cách đầu có hai tấc, súng sau lưng cũng muốn chạm tới thân mình, bên trái lửa cháy ầm ầm, bên phải thì nước như muôn ngựa tràn tới, đến lúc ấy thì cái thân mạng của ông còn muốn giữ được không? Nếu muốn thì phải qua khỏi chỗ đó mới được. Các ông có cách nào qua khỏi được chỗ đó không? Hãy nghĩ trong bụng thử xem. Các ông nếu không có biện pháp nào thì còn có thể gọi là một người dụng công để liễu sinh thoát tử sao? Đáng tiếc thay! Các ông sợ không có biện pháp nào có can đảm mà nói là qua được?
Cái cửa này ta muốn đi giùm cho các ông, không thôi các ông đều qua không được; cái cửa ngõ này không qua được thì dụng công để liễu sinh tử không có phần của ông. Các ông hãy đề công phu lên đi! Ta hỏi các ông: Các ông đang lúc qua không được, lúc đang sợ hãi quá sức, ông lại hỏi: Niệm Phật là ai? Cứu cánh là ai? Đáo để là người nào? Các ông hỏi như thế rồi, ta lại hỏi các ông nữa: Thân của ông ở chỗ nào? Tâm ở chỗ nào? Các ông nghiên cứu thử xem: hỏi như thế đương nhiên thân tâm đều không còn, thân tân đã không còn thì các ông còn sợ dao súng chỗ nào nữa? Cái tướng nước tướng lửa còn hay không? Dù cho hoàn cảnh khó hơn nữa, ta cứ lấy công phu truy cứu thì không phải ngay khi ấy mọi cái đều tan rã, tiêu diệt hết rồi sao?
Vậy cái cửa này qua được rồi thì tất cả hoàn cảnh nào cũng qua được. Cái cửa này ta đã đi qua giùm cho các ông rồi, nhưng việc về sau thì các ông phải tự mình đi. Thí dụ như: Từ Nam Kinh đến Bắc Kinh có xa, Trung Quốc với nước ngoài không sợ ngăn sông cách núi, ta hôm nay đi máy bay một lát thì qua khỏi, có phải là hết sức dễ dàng không! Các ông hãy phát tâm tham đi!

KHAI THỊ Ngày 24 tháng 11 (Thất 6 ngày thứ 4).

Đi cũng thiền, ngồi cũng thiền, nói năng, im lặng, động tịnh thể an nhiên”. Mấy lời này là nói việc trên tâm hạnh từ sáng đến tối của người dụng công phu, tức là muốn các ông động tịnh nhất như, không phân biệt đêm ngày, dụng công đều cần phải như thế. Tai sao cần phải như thế? Không được nghỉ ngơi chăng? Cần phải hiểu: Các ông có công phu chân thật như thế tương lai mới được chỗ ngộ chân thật, nếu các ông có một chỗ nào chưa làm tới nơi thì tương lai chỗ ngộ cũng có một chỗ chưa tới. Chân ngộ là nhất ngộ nhất thiết ngộ, nếu có một tí chưa ngộ thì không được gọi là chân ngộ, cho nên cần cái chân hạnh hiện tại của các ông, cái ngộ tương lai nhất định sẽ được chân.
Nhưng mà ngộ này tuyệt không phải là cầu ngộ, cũng không phải là suy nghĩ ngộ, cũng không phải tùy cái miệng nói ngộ. Muốn chân ngộ cần phải chân hạnh, hành đến nơi thì tự mình sẽ được ngộ. Nhưng các ông cần phải ôm chặt lấy câu thoại đầu, đi cũng tham, ngồi cũng tham, công phu đứng đắc cũng tham, không đứng đắn cũng tham, có vọng tưởng cũng tham, có hôn trầm cũng tham; các ông có tha thiết chịu khổ chịu tham như thế, công phu chân thật bất hư thì còn muốn khai ngộ làm chi nữa? Ta nói không ngộ cũng còn được. Tại sao vậy? Các ông có thiết tha chịu khổ mà tham như thế, chân thật bất hư mà làm thì còn sợ gì tam tai bát nạn? Sợ gì tứ sanh lục đạo? Sanh tử luân hồi? Tất cả đều không sợ!
Vậy không phải là không khai ngộ cũng được chăng? Công phu các ông dụng đến nhà rồi, đâu có lý nào không khai ngộ? Thí dụ: đường đi đến Trấn Giang, Qua Châu, ra cửa chùa đi thẳng về hướng Nam, nhắm mắt phóng chân mà chạy, trên đường có người, ta cũng không hỏi, đến hay không đến cũng không hỏi, chạy suốt một ngày thì đến nơi rồi. Đã đến Qua Châu thì có được nói là chưa đến Qua Châu chăng? Hay là bảo ông chạy về hướng Nam, ông chạy thì phải rồi, nhưng ông mới lên đường, nhìn bên Đông một cái, ngó bên Tây một cái, kiếm người ngồi xuống nói chuyện, uống chén trà rồi hỏi: “Còn được bao xa?”. Các ông như thế thì có còn được đến chăng? Dụng công phu cũng như đi đường, bảo ông đề câu thoại đầu cứ thẳng mà tham đi, đắc lực cũng tham, không đắc lực cũng tham, khai ngộ ta cũng không hỏi, không khai ngộ ta cũng không hỏi, chung quy khi ta đến nơi rồi không khai ngộ cũng không được, công phu của các ông chưa đi đến chỗ, muốn khai ngộ cũng không được. Cũng như đi đường đến Qua Châu rồi, ông nói không phải Qua Châu thì không được! Chưa đến Qua Châu ông nói là qua Châu cũng không được!
Trong các ông có một số đông người bảo cứ thẳng tay mà dụng công, các ông chịu dụng thì cũng như người đi đường đó vậy, nhìn bên Đông, ngó bên Tây như thế tức là vọng tưởng, hôn trầm, hỏi thăm chỗ này có phải là Qua Châu không, sự thật giống y như thế! Các ông dụng công cũng như vậy. “Tôi đã ngộ rồi chứ?”. Thấy thần, thấy quỷ, tự mình xuyên tạc bậy bạ, tự mình bày đặt này nọ, suy nghĩ phân biệt, tự mình làm hỏng mình, còn đổ thừa ai? Các ông còn tưởng gạt người ta là xong, gạt người ta thì được chứ tự gạt mình thì đến lúc chịu quả báo có kêu khổ cũng vô ích! Bởi vì các ông làm nhân không thật, đương nhiên phải chịu quả báo. Cho nên bảo các ông đừng có cầu ngộ, thay vì cầu ngộ thì lấy tâm đó để dụng công phu thì tốt hơn biết bao! Đề câu thoại đầu này, các ông không dụng đến chỗ đi không biết đi, ngồi không biết ngồi mà muốn được một tí thọ dụng thì không thể được, không phải ba ngày, năm ngày, ba tháng, năm tháng thì được đến nhà đâu! Muốn các ông không hỏi đến ngày tháng, cứ đề một câu thoại đầu mà tham thẳng đi, hai ba chục năm mà còn chưa ngộ cũng đừng có nghỉ ngơi. Ta hỏi ông: Niệm Phật là ai? Niệm Phật là người nào? Các ông không ai mở miệng trả lời được. Người thiên hạ đều bị nhốt trong cửa này, các ông có người nào nói: “Người thiên hạ bị nhốt ở trong thì được chứ tôi thì không!”, còn có người nào được như vậy không? Nếu được như vậy thì công phu dụng công trong ba mươi năm của ông, ta hỏi đến niệm Phật là ai, ông hẳn có lời nói rồi. Ta mới hỏi thì ông lập tức trả lời được. Các ông tưởng xem: Người thiên hạ đều bị nó nhốt hết, không mở miệng ra được, chỉ vì “Niệm Phật là người nào?” không thể trả lời được. Khi công phu dụng đến nơi rồi ta hỏi thì ông đáp được, còn công phu của các ông chưa dụng được, thiền cũng không biết tham, mở miệng lại muốn giữ bộ mặt giả: “Ta ngộ rồi, ta biết rồi, ta lĩnh hội rồi!”. Các ông như thế này thì chỉ là kẻ đứng ngoài, chỉ là kẻ nói suông! Có chỗ nào tốt đâu? Ông gạt người ta thì được chứ tự gạt mình thì phải chịu khổ não lắm! Từ hôm nay trở đi có thỉnh khai thị, bất cứ đến phòng của ta hoặc liêu phòng của sư Ban Thủ, không cho nói chuyện gì khác, hể cứ đến thì nói “Niệm Phật là ai?”. Trước kia thỉnh khai thị là các ông hỏi ta, hôm nay ta muốn sửa đổi lại quy củ, không cho các ông mở miệng, hễ ông đến ta hỏi các ông liền: Niệm Phật là người nào? Ông phải nói ngay, ông nói không ra thì ta cho ông một trận hương bảng. Hoặc giả ông không dám mở miệng, trong bụng ông không muốn đi, hễ ta tra xét đến người nào không đi ta sẽ đến thiền đường hối thúc chạy hương, ít nhất cũng phải đánh năm, ba cái hương bảng. Bởi vì công phu không ép buộc không được, không ép thì không tiến bộ được. Nhưng ta hỏi các ông, nếu như các ông nhất định muốn đáp, giả sử đáp sai, không đúng, ta nói cho các ông biết: hương bảng của ta đánh xuống sẽ làm cho các ông chịu không nổi đâu! Nếu thấy mình chưa nắm vững được thì đừng mở miệng, ăn hai cái hương bảng là xong; Nếu mở miệng nói bậy thì ta sẽ chẳng khứng đâu! Các ông hãy phát tâm tham đi!

KHAI THỊ Ngày 25 tháng 11 (Thất 6 ngày thứ năm).

Người trong Thiền tông không được mở miệng nói bậy, giả sử nói sai một câu thì phải bị hư thân mất mạng. Thân ông hư rồi, mạng mất rồi còn kể là việc nhỏ. Vậy thế nào là việc lớn? Trả lời bậy một chữ là đọa xuống địa ngục A tỳ. Ông thấy việc này có còn nhỏ chăng? Tại sao lợi hại như thế? Không phải là ta nói mà lời vàng Phật đã nói: “Chưa chứng nói là chứng, chưa được nói là được, chưa minh nói là minh, chưa ngộ nói là ngộ, là đại vọng ngữ phải đọa địa ngục A tỳ”. Đây là Phật không thể nói sai được. Nói chứng là chứng cái gì? Chưa chứng được Sơ quả, Nhị quả, Tam quả, Tứ quả mà nói đã chứng được rồi. Nói đắc là chưa đắc được Tam minh, Lục thông, Bát giải thoát mà tự mình đã đắc được. Nói minh là chưa có Thiên nhĩ minh, Thiên nhãn minh mà tự nói đã minh, cũng như nói niệm Phật là người nào mà không biết tức là chưa minh, đáp lại được một câu tức là đã minh; vốn đáp không được mà mở miệng đáp một câu tức là tự nói mình đã minh. Nói ngộ là đối với bách thiên tam muội của thập phương chư Phật, vô lượng diệu nghĩa của hết thảy Tổ Sư, một tí chưa ngộ mà tự nói là đã ngộ. Nếu tham câu thoại đầu được ngộ rồi, thì nói trần nói sát vô cùng vô tận, câu thoại đầu này chưa ngộ thì mở miệng không được, như trả lời một câu thì tức là đã nói. Cứ theo như thế thì có phải chăng cứ đáp sai một câu thì phải đọa xuống địa ngục A tỳ? Đại khiếu hoán địa ngục, tiểu khiếu hoán địa ngục đều có phần của ông, cũng như trái cân rớt xuống nước chìm thẳng tận đáy.
Hôm nay các ông có vị tùy tiện đáp bậy một câu, bởi vì ông không hiểu cái thứ nhân này rất lợi hại, ta thấy ông rất đáng thương! Cái câu nói này không phải nói rồi là xong việc! Người xưa đáp sai một câu đọa thân làm cáo chồn năm trăm kiếp – Công án trước Bách Trượng với sau Bách trượng – Nếu các ông thực lấy câu thoại đầu mà tham cho thông suốt rồi thì tự nhiên được miệng chứ không phải không được mở miệng mãi. Khi ông đã đi đến nơi, không những miệng có thể nói chuyện được, mà tai cũng có thể nói chuyện được, mũi cũng nói chuyện được, người xưa đã chẳng nói: “Tận cùng đại địa là miệng của ta”. Vậy so với hư không còn lớn hơn! Ta hỏi ông nữa: Hư không ông có thể nuốt được chăng? Ông đương nhiên đáp: “Tôi đã nuốt xuống rồi!” . Ta lại hỏi nữa: Hư không nuốt xuống rồi thì thân để tại chỗ nào? Phải rặn cho ra, ông phải trả lời ta một câu, không mở miệng không được! Hãy tham!

KHAI THỊ Ngày 26 tháng 11 (Thất 6 ngày thứ sáu).

Người tham thiền công phu đến lúc thâm nhập thì tự nhiên thân tâm đều mất, động tịnh quên cả, cho nên bảo các ông lúc động dụng như thế, lúc tịnh cũng dụng như thế.
Công phu lúc tịnh dụng cách nào, công phu lúc động dụng cách nào. Sở dĩ chia ra động tịnh là vì thực tại đối với các ông là người sơ dụng công, nên bất đắc dĩ mới nói như vậy. Chỉ cần đề câu thoại đầu lên, không minh bạch, nhận chân mà nắm chắc lấy, không cho có một tí ti gián đoạn; ông quả được chân thật bất hư mà dụng công như thế thì ông thử mở mắt ra xem, tâm để chỗ nào? Đương nhiên tâm bất khả đắc. Tâm đã bất khả đắc thì thân cũng đương nhiên bất khả đắc. Tại sao vậy? Vì tâm trụ nơi thân, thân do nơi tâm mà có, có thân thì có tâm, thân với tâm không thể rời nhau. Hôm nay công phu đứng đắn, tâm bất khả đắc, thân cũng bất khả đắc, cái này chẳng phải là làm công phu đến chỗ thân tâm đều mất ư? Động phải do thân động, tịnh cũng phải do tâm tịnh. Trên thân tâm có động, có tịnh tất cần phải phân biệt mới biết. Công phu của ông đến thân tâm bất khả đắc, lấy cái gì mà phân biệt? Đã có phân biệt thì không phải là đã có tâm rồi sao? Tâm đã có thì tất cả đều có, thế còn nói công phu gì nữa? Có công phu thì không có tâm như thế. Đã không có tâm thì quyết định không có phân biệt, đã không phân biệt thì cái tướng động tịnh lại càng bất khả đắc, cho nên nói động tịnh đều quên cả.
Nay các ông đã đả năm, sáu thất rồi mà công phu chưa đến chỗ này, nếu công phu không dụng được đến chỗ này mà trong kỳ thiền thất này muốn được một ít tin tức, muốn được hiểu biết một chút xíu thì cũng không có phần của ông rồi! Nếu liễu sinh thoát tử lại không có phần của ông nữa! Theo như thế thì không phải là đã chịu một phen cực khổ mà cũng như không sao? Hoặc có người từ thiên sơn vạn thủy đến đây, suốt năm chỉ hy vọng trong kỳ đả thất được liễu thoát sinh tử, được khai ngộ cuối cùng (đáy thùng rơi ra). Ta thấy các ông chẳng có người nào làm được cả, cho nên muốn giúp các ông, bắt các ông ở trong thiền đường, muốn các ông chân thật dụng công không có một tí phóng túng, nếu có một tí lười biếng thì lập tức phải thúc hối chạy hương, các chạy hương này thì sẽ làm cho các ông mất mạng! Bảo các ông đi đến liêu phòng, muốn các ông nói, nói không ra thì đánh cho một trần loạn hương bảng! Thế nào là loạn hương bảng? Quy củ hương bảng là: hai, năm, tám, ba, sáu, chín cái này là theo quy củ; loạn hương bảng là lấy hết sức ra mà đánh không hỏi mười cái hay tám cái, đó là loạn hương bảng. Cần phải hiểu cái loạn hương bảng này thật làm cho người ta mất mặt, bị đánh loạn hương bảng rồi mặt mày trông khó coi lắm! Các ông còn có người nào thấy sự đánh loạn hương bảng bị mất mặt là việc không đáng kể chăng?
Trong bụng các ông lại nói: “Cái đánh hương bảng của thúc chạy hương thật nặng quá! Không bằng đến liêu phòng một chút, có bị đánh một trận hương bảng cũng chẳng ăn thua gì, chỉ trôi qua  rồi là xong, ngoài ra còn có gì khác đâu?”. Dụng tâm của các ông đều ở những chỗ này. Hoặc là: “Còn có phòng của sư Ban Thủ nào chưa đến thì phải đi cho có lễ phép một chút! Nếu không đi thì sợ Sư sẽ không vui”. Các ông đều ở những nơi này dụng công phu. Còn có người nào nói: “Không đúng! Đến liêu phòng mà bị một trận loạn hương bảng thì thật còn ý nghĩa gì cả? Người chân tu thì chẳng chịu như vậy. Người thiên hạ bị đánh thì được, chứ tôi không chịu như vậy. Tôi muốn đi chẳng những không bị đánh mà còn muốn nói chuyện ung dung thong thả, người ta còn phải cung kính tôi, đó không phải người nào cũng làm được đâu!” Ta nói với các ông như thế chẳng phải là gạt các ông mà nói cho dễ nghe đâu! Các ông không mở miệng được là tại công phu các ông chưa đến chỗ này; nếu công phu các ông dụng đến nơi rồi thì tự nhiên sẽ nói được.
Lúc ta ở chùa Kim Sơn chưa được bao lâu, chỉ mới hơn một năm, nhưng “Niệm Phật là ai?” đã sớm tin rồi. Lúc tại gia đã dùng cách này để tham nhưng chưa được thâm nhập, cho đến khi ở Kim Sơn được một năm thô vọng đều hết, rồi hai mươi ngày nữa tế vọng cũng hết luôn, cảm thấy thanh thanh tịnh tịnh (cảnh giới vô thủy vô minh), rồi bảy tám ngày sau cảnh giới ấy vẫn y như cũ. Tại sao vậy? Đó là cái cảnh giới trên công phu ắt phải có; công phu của các ông dụng đến chỗ đó cũng sẽ có như thế; thập phương chư Phật, lịch đại Tổ sư cũng đều đã đi qua giai đoạn này. Thô vọng ngưng rồi thì thế nào? Tế vọng ngưng rồi là cảnh giới chi? Ta đã tự mình thấy được, có nói ra cho các ông nghe cũng như không! Vì các ông không biết chỉ làm cho các ông tăng thêm vọng tưởng. Các ông chỉ cần chân thực khẩn thiết lấy câu thoại đầu mà tham, thà chết cũng không buông, các ông hành đến chỗ này thì sẽ tự mình thấy được thôi. Khi ta thô vọng tế vọng đều dứt hết thì khoảng một tháng sau, ngày ấy chính là ngày 26 tháng 9 năm Quang Tự thứ 34 (1900 T. L), trong khi đả thiền thất, vào nén hương thứ sáu buổi tối chợt nghe một tiếng mõ đánh, ta đột nhiên “ồ” lên một tiếng, lúc đó ta cảm thấy giống như nhào lộn trong hư không, từ dười đất lộn lên trời, từ trên trời lộn xuống đất, rồi ta buột miệng than rằng: Cái tự tánh vốn sẵn sàng này, không ngăn cách với ta một chút nào mà sao lại để bị chôn vùi đến nỗi ta phải chịu đau khổ mãi từ xưa cho đến ngày nay? Thực là oan uổng! Còn cảm thấy buồn cười nữa! Cái tốt khác thì ta không dám nói, nhưng sự tự do tự tại thì đã đạt được rồi. Tương lai nói sanh lên cõi trời, ta thích sanh thì đi, không thích thì không đi; giả sử xuống địa ngục, ta chịu đi thì đi, không chịu đi thì thôi, tất cả ta đều có thể tự chủ được. Đối với ngộ thì không có ngộ.
Từ đấy về sau có một vị Thủ Tọa Hòa Thượng, vị này tu hành rất tốt, ông ấy thấy ta cử chỉ khác thường bèn gọi ta đến hỏi: “Niệm Phật là ai?”, rồi bảo ta nói. Ta biết ông ấy muốn thử thách ta rồi đó! Ví như có người hỏi ta việc trong thiền đường liệu ta còn không hiểu chăng? Giả sử ông chưa ở qua thiền đường, nếu có người hỏi ông việc ở trong thiền đường thì ông làm sao biết được? Cứ thế ông ấy với ta một hỏi một trả lời. Ông ta nói: “Ông ngộ rồi!”, ta nói: “Chưa có ngộ”, ông ta nói: “Không phải ngộ thì là do học mà biết được chăng?”, ta nói: “Học cũng không có học”. Lúc ấy do sự vấn đáp như thế làm kinh động cả đại chúng, nên tất cả đều tán thán không thôi. Lúc bấy giờ ta cảm thấy không đúng bèn đắp y mặc áo đi thỉnh họ đừng làm ồn như thế. Ta nói: “Sự tu hành của tôi chưa có thâm nhập đến chỗ cuối cùng, xin các vị thứ lỗi cho tôi mới phải”.
Về sau có một vị sư Tây đường là Từ Bản lão nhân, vị lão nhân này việc tu hành của ông cũng rất tốt, ông rất thích lấy “hoạt cú” tiếp người hậu học. Hoạt tức là cơ phong chuyển ngữ của Thiền Tông; ta thì xưa nay không muốn dùng hoạt cú, bởi vì người thời nay căn tính không bằng người xưa, bảo họ ôm chặt câu thoại đầu tử tham dẫu có chết cũng không rời mà còn không tử được cái tâm, mà dùng hoạt cú thì lại càng tử không được cái tâm nữa, cho nên ta không muốn là vậy. Nhưng trái lại vị sư Tây Đường này lại muốn nói chuyện với ta. Một ngày nọ bấy giờ ông ta đang rửa mặt, đưa cái khăn tay lên, hỏi ta: “đây là cái gì?”, ta nói: “Buông xuống đi”, ông ta nói: “Tôi muốn rửa mặt”, ta nói: “Cũng phải buông xuống!”. Làm cho ông ta không mở miệng được. Những lời nói này các ông nghe rồi chẳng phải bảo các ông học lấy đâu, đừng có tưởng lầm! Chỉ nói cho các ông nghe thôi, muốn các ông biết được việc này là có thể mở miệng được, chứ chẳng phải không mở miệng được mãi mãi. Các ông phải nghe cho rõ, lúc ấy ta chẳng phải giành hơn thua với ông ta, chỉ vì muốn ông ta bỏ cái thói quen ham dùng “hoạt cú” mà thôi, vì căn tánh người đời nay không thích hợp dùng hoạt cú. Nhưng ông ta vẫn không chịu sửa đổi, lại một ngày kia ta đến liêu phòng ông ta uống nước trà, ông ta lấy một quả nhãn lột ra, cái thì đưa ta ăn còn vỏ thì cầm trong tay mà nói: “Cả mười phương hư không đều ở trong cái vỏ này, nói một câu đi!”. Ta nói: “Mười phương hư không đều ở trong cái vỏ này, thế còn thân ông ở chỗ nào? Xin nói một câu đi!”. Một lần nữa lại làm cho ông ta không trả lời được. Các ông nghĩ xem: người đã ngộ thì làm sao không mở miệng được?
Nay ta sở dĩ ép buộc các ông: Ở trong thiền phải đến liêu phòng để cho ta hỏi, nếu không đi thì không được, nếu đi mà nói không ra cũng không được, ép buộc các ông trước hết tuy cảm thấy cái thân này không có chỗ buông nhưng vẫn phải buông, buông mãi cho đến lúc sự buông cũng không còn, tâm cũng không còn có chỗ để, cứ thẳng tay ép buộc cho đến lúc thân tâm các ông buông đến chỗ không còn gì để buông, còn phải ép buộc các ông đến chỗ sơn cùng thủy tận. Đến lúc ấy nếu các ông mở miệng không được ta đương nhiên còn phải lấy luôn mạng của các ông nữa! Các hãy lưu tâm nhớ cho kỹ! Hãy tham đi!

KHAI THỊ Ngày 27 tháng 11 (Thất 6 ngày thứ bảy).

Có đạo hay không có đạo tự mình biết mà người ta cũng biết. Hiện nay muốn các ông mỗi ngày đều đi đến liêu phòng, để trả lời câu niệm Phật là người nào, công phu của mình dụng đến chỗ nào. Nói được hay không nói được, nói ra đúng hay không đúng, tự mình đâu có lý nào lại không biết? Nếu quả thực là không biết, ấy là tại công phu của các ông chưa dụng đến.
Giả sử công phu của các ông chưa dụng đến mà muốn làm bộ mặt giả dối đoán này đoán nọ, kiếm một hai câu nói của người xưa đem ra cho là lời của mình; hễ người ta nghe ông mở miệng ra, đúng hay không đúng, phỏng người ta còn không biết được chăng? Tại sao người ta biết? Dù cho ông ta nói thế nào đi nữa cũng không ra ngoài bốn thứ này, ấy là: Ý đến cú (lời nói) không đến, cú đến ý không đến, ý cú đều đến, ý cú đều không đến. Dù cho các ông có đoán rất hay cũng đều vô dụng, chung quy không ra khỏi bốn thứ này. Cần phải cơ phong ăn khớp, vừa vặn khít khao. Dù cho lời nói của ông là đúng mà đối với chỗ hỏi của ta không ăn khớp, hoặc là chần chừ suy nghĩ một chút thì đều là không đúng rồi. Thế là lý lẽ gì vậy? Người xưa có như thế không? Triệt Tổ Thiên Tuệ là đời thứ nhất chùa Cao Mân gặp vua Ung Chính, cùng là một lời nói mà cái đúng, có cái không đúng. Cái công án này ta kể cho các ông nghe:
Đời Thanh Hoàng đế Ung Chính sau mười năm cầm quyền, chuyên xem kinh điển, nghĩ đến việc đức Thế Tổ (vua Khang Hi) có lạy Ngọc Lâm Quốc sư làm thầy, thắc mắc sư này có sở trường gì đặc biệt mà được làm sư phụ của vua? Nên Ngài bèn tìm Ngữ Lục của Ngọc Lâm Quốc sư để xem; xem rồi mới biết Ngọc Lâm Quốc sư quả đáng làm thầy của cả nước. Vậy thì đã có thầy tất phải có trò nên Ngài bèn phái quan Khâm Sai đại thần tìm kiếm khắp nơi, về sau tìm được Triệt Tổ Thiên Tuệ ở núi Khánh Sơn, lúc ấy Tổ đang làm thư ký ở đó. Mặc dù công phu đã đắc dụng, khẩu đầu thiền cũng học được một tí nhưng gót chân còn chưa chấm đất, lúc ấy Tổ không dám đi nhưng sau trải qua nhiều sự khuyến khích của chư sơn Hòa Thượng nên mới cùng vị Khâm Sai tiến kinh.
Đương thời bấy giờ Hoàng đế Ung Chính muốn hội kiến người xuất gia nên đặc biêt xây dựng một vườn hoa gọi là Viên Minh viên. Cái ý nghĩa vấn đáp sau khi gặp vua, các ông hãy nghe kỹ! Vua hỏi: “Khi cha mẹ chưa sinh ra, mặt mũi bổn lai của ông ra sao?”. Thiên Tổ lúc ấy hình như suy nghĩ chút ít liền đưa nắm tay lên. Các ông còn lĩnh hội chăng? Hôm nay ta ý theo đó mà hỏi các ông, các ông còn có người nào đáp lại ta chăng? Cũng đưa nắm tay lên, đưa lên như thế, không đúng! Các ông còn biết được chăng? Sợ các ông không biết rồi. Hoàng đế thấy Tổ có chút suy nghĩ thì không chịu khứng cho, biết Thiên Tổ gót chân chưa chấm đất cho nên không khứng. Tại sao vậy? “Thiếu thất đình trì, bạch vân vạn lý” (chậm trể một chút, muôn dặm mây trắng), tức là muốn nói chậm trể một chút thì mây trắng đã che khuất hết muôn dặm trời. Vậy muốn làm thế nào mới đúng? Lời hỏi gần dứt thì ông đưa nắm tay lên liền mới là đúng, ngừng lại một tí thì không đúng đâu. Vua Ung Chính thấy Thiên Tổ cũng là bậc pháp khí, có tâm muốn thành cho người bèn nói: “Ông hỏi lại tôi để tôi đáp”. Thiên Tổ lại hỏi: “Muôn tâu bệ hạ, khi cha mẹ chưa sinh ra, mặt mũi bổn lai của Ngài ra sao?”. Vua Ung Chính đưa nắm tay lên thì Thiên Tổ ngộ ngay. Vua Ung Chính quay đầu lại hỏi Thiên Tổ nữa: “Khi cha mẹ chưa sinh ra, mặt mũi bổn lai của ông ra sao?” Thiên Tổ đáp lại bằng bốn câu kệ:
Quyền đầu bất hoàn tác quyền đầu  Hoán tác quyền đầu nhãn nội mâu  Nhất thiết Thánh hiền như điện phất  Đại thiên sa giới hải trung âu.
Nghĩa là:
Nắm tay không gọi là nắm tay  Gọi là nắm tay mắt kéo mây  Hết thảy Thánh hiền như điện chớp  Thế giới chỉ như bọt biển thôi.
Vua Ung Chính lúc ấy nói liền: “Kỳ này như ý, kỳ này như ý”, nói xong liền ban cho hai cây như ý, xuống chiếu cho Tổ phụng chỉ về núi, ban cho y, bát, tích trượng v.v…
Các ông tưởng tượng xem: đáp ra một câu nói, trể một tí thì chưa ngộ; cũng là một lời nói, không trễ tức là ngộ. các ông hôm nay có thể đáp ra được một câu, dù không được phụng chỉ vua nhưng thanh danh cũng là có. Một câu nói này nói ra rồi thì biết được công phu ông đúng hay không, có thể nói là “Ngôn tiền kiến đạo”. Một câu nói vừa ra khỏi miệng thì ông ngộ liền, ấy tức là “Cú hạ thừa đương”. Cho nên muốn các ông đề câu thoại đầu chân thật tham cứu, đi, đứng, nằm, ngồi, ăn cơm, ngủ nghỉ, đều không rời câu thoại đầu này (nghi tình). Có nghi tình tức là có công phu, không có nghi tình tức là không có công phu. Hiện tại các ông muốn khởi nghi tình phải đề câu thoại đầu này, tương lai minh tâm là minh câu này, ngộ là ngộ câu này, liễu cũng là liễu câu này. Chung quy nếu câu này chưa liễu thì sanh tử chưa liễu, cầu này chưa minh thì tâm địa chưa minh. Muốn minh, muốn ngộ, muốn liễu cần phải lấy câu thoại đầu này mà tham cứu đi. Hãy tham!

KHAI THỊ Ngày 1 tháng 12 (Thất thứ 7 ngày thứ ba).

Chỗ ngộ của Thiền Tông có hai thứ: Đại nghi đại ngộ, tiểu nghi tiểu ngộ, không nghi thì không thể nói đến ngộ.
Hai chỗ đại và tiểu ngộ này trước hết phải tạm mượn thí dụ để nói qua thì các ông sẽ rõ đại ngộ ra làm sao, tiểu ngộ ra làm sao, trình tự của đại và tiểu ngộ cần phải rõ ràng một chút. Tiểu ngộ ví như chuột chui vào sừng trâu, đại ngộ ví như chó bò qua vách tường. Các ông có biết không?
Lại nói thêm một thí dụ nữa: như lúc người xưa đi học, tiểu ngộ là kẻ học được ba năm thì đỗ vào đại học, đại ngộ như người học được ba mươi năm mới vào trường đại học. Lý như thế này: học ba năm thi vào được đại học ấy là do sức tinh tiến, nhưng thực tế chưa đọc được hết sách vở, vì vậy tuy ở đại học mà vẫn còn có sách chưa hiểu. Trái lại người học được ba mươi năm rồi thì Ngũ Kinh, Tứ Thư, Chư Tử Bách Gia, quyển nào cũng đều hiểu được hết. Cả hai người này tuy cùng là tú tài nhưng trình độ học vấn đương nhiên khác nhau. Người học được ba mươi năm thì trong bụng cái gì cũng biết, dù không vào đại học cũng hơn người học được ba năm. Nếu so như vậy lại càng hiểu rõ quá trình của đại và tiểu ngộ.
Ta so sánh tiểu ngộ như chuột khoét sừng trâu, kể cho ông biết cách chui như thế nào? Các ông xem, cái sừng ấy hết sức lớn, trong sừng còn có từng lớp, từng lớp thịt, chuột cắn từng lớp, từng lớp cảm thấy rất có mùi vị, chỗ lớn nhỏ gì cũng cắn tới từng lớp, từng lớp một, tuy có mùi vị nhưng nơi càng vào càng nhỏ lại, nhỏ thì nhỏ nhưng càng cắn càng có mùi vị, mặc dù vào trong càng chật hẹp mà lại rất có mùi vị, không chịu bỏ đi được. Thêm nữa, lớn nhỏ gì chuột càng muốn ăn không thể không cắn được. Nơi cắn vào nhỏ lại càng muốn cắn, cắn cho đến lúc cùng muốn xoay người cũng xoay không được; cắn nữa lại càng cắn không được, lớn nhỏ gì cũng muốn ăn, tâm gấp như lửa cháy tràn, cứ liều mạng mà cắn. Các ông thấy đó vỏ sừng vừa dày, vừa cứng, cắn thì cắn không nổi, cắn nữa thì lại cắn không nổi mà không cắn thì không qua được. Trước thì miệng cắn, chân trước bò, sau nữa thì chân sau bò; bỗng nhiên cắn được một chỗ hơi lớn, quay mình lại tưởng là cắn thông rồi có lối rộng tốt để đi. Tốt! Thông rồi! Khai tiểu ngộ là như vậy tức là chưa thông tưởng là thông. Câu thoại đầu không hiểu được, lại truy cứu nữa; đáo để là ai, còn không minh bạch, cứu cánh là ai? Hình như có chút ít mùi vị. Truy cứu nữa lại thấy có ít mùi vị, đã nếm được ít mùi vị đương nhiên sẽ không quăng bỏ. Lại truy cứu nữa: đáo để là ai, phấn khởi tinh thần không truy cho thông thì không thôi. Cứ dụng công phu như vậy ba ngày, năm ngày, ba tháng, nửa năm đương nhiên có chỗ quay đầu lại.
Người xưa có nói: “Dụng đáo sơn cùng thủy tận thời, tự nhiên hữu cá chuyển thân xứ” (dụng công đến chỗ sơn cùng thủy tận, đương nhiên sẽ có chỗ chuyển thân). Khi chuyển được thân này thì sẽ khác rồi; mặc dù lúc đi cũng đi còn đường này, về cũng về con đường này, đường tuy có một nhưng cách đi có khác. Có thể nói là tìm được bổn lai diện mục rồi đấy. Tiểu ngộ này đã khai rồi, có loại người tưởng là vô sự: “Chỗ này là rất tốt lắm, xong cả rồi, hãy ở lại đây thôi!”. Đó là trình tự của tiểu ngộ. Họ tưởng là đường đi mình đã trải qua rồi, dù là đường núi hay đường sông đều đã đi hết, đâu còn đường nào đi nữa! Có phải họ đương nhiên muốn nghỉ không? Cứ tưởng rằng: “Bổn lai diện mục cũng tìm được rồi, còn có việc gì đâu!”. Đúng đấy, nhưng ngộ này là do thân tâm họ dùng sức phấn dũng mà được ngộ; cũng như người mới học được ba năm, không phải nhờ đã học được nhiều mà vào trường đại học, mà là nhờ sức tinh tiến của họ vậy. Công phu này của họ thô và tế đều có. Tại sao? Do sự dũng mãnh của thân thể và công phu tinh vi trong tâm; công phu trên tâm là tế, dũng mãnh trên thân là thô, họ nhờ dụng cả thô và tế nên được ngộ. Cái ngộ này đã đúng chưa? Không đúng! Chưa tới nhà! Tại sao lại không đúng? Giáo môn nói: “Đắc thiểu vi túc” (được ít cho là đủ), Thiền Tông lại nói: “Nhận tặc tác tử” (nhận giặc làm con), hai câu này so sánh rất đúng. Tại sao vậy? Vì ngộ này của họ chưa đến nhà, họ cứ tưởng cái diện mục này là đúng. Cái tiểu ngộ này chỉ là phương tiện quyền, nói cho triệt để là “được ít cho là đủ”. Tại sao Thiền Tông nói “nhận giặc giặc làm con”? Dù tiểu ngộ không nên cho là giặc, mà cũng không nên cho là con; vì họ có được có chút thọ dụng thì đã ngưng nghỉ, chút ít thọ dụng này tuy cũng đúng đấy, nhưng cứ ngỡ mình đã hết khổ nên dừng lại ở chỗ này, lấy đó làm thỏa mãn. Cho nên Phật đã trách rằng: “Tiêu nha bại chủng” (Hạt lúa đã cháy thì không còn làm giống được nữa). Vậy nếu lấy hạt lúa này để gieo thì tương lai sẽ thu hoạch được gì? Nếu các ông muốn lấy tiểu ngộ này cho là đủ, một mình lo việc giải thoát, trên không cầu thành Phật đạo, dưới không nghĩ độ chúng sanh, cho là đủ, thế không phải nhận giặc làm con sao?
Tiểu ngộ đã không tốt thì còn muốn hay không muốn ngộ nữa? Đương nhiên phải muốn! Tại sao vậy? Vì đại tiểu đồng một lý nhưng sự thì khác nhau. Thể của đại ngộ và tiểu ngộ chẳng có hai, thể của tiểu ngộ, ngộ rồi với thể của đại ngộ là đồng. Sự thì lại không. Sự của đại ngộ lầy khổ của chúng sinh làm khổ của mình, tà kiến điên đảo của chúng sinh là gốc chiêu khổ, cần phải nhổ bỏ giùm họ; tùy loại tùy hình, đồng trần tiếp vật, đầy là sự của đại ngộ. Sự của tiểu ngộ là chán sinh tử, sợ mọi ô nhiễm nên tu đạo ở thâm sơn, xa lìa thế gian sinh tử, xem sinh tử như oan gia, xem thế giới như tù ngục, đó là sự của tiểu ngộ. Đại ngộ, tiểu ngộ thể đã đồng thì sao lại có chỗ khác như vậy? Vì trước khi chưa ngộ, công hạnh trên công phu có chỗ khác nhau, như người học ba mươi năm mới vào đại học với người học ba năm cũng vào đại học, hai người này cũng là tú tài, nhưng đối với việc làm thì đương nhiên trỉnh độ có chỗ khác nhau. Vì sao? Người học nhiều dù ông hỏi thế nào, chỗ nào họ cũng đều biết hết, kẻ học ít thì vấn đáp không được chu đáo như họ, tú tài thì đồng nhưng việc làm thì không. Sự của đại, tiểu ngộ có khác biệt là lý lẽ như thế.
Tại sao nói được tiểu ngộ rồi cần phải ngộ nữa? Vì người sau khi tiểu ngộ việc làm tuy có hơn người chưa ngộ nhiều (người chưa ngộ đi đường một chân cao cũng không biết, một chân thấp cũng không biết, một chân đạp nhầm cứt chó, một chân dẫm nhầm cầu tiêu cũng hoàn tòn không biết, đi xuôi, đi ngang như người mù; người khai tiểu ngộ thì khác, dù con mắt đã sáng nhưng chưa thật sáng mà hình ảnh con đường đều thấy được cả, cứt chó, hầm cầu sẽ không đạp phải, đi đường so với người chưa ngộ mau hơn mấy lần), nhưng so với người đại ngộ thì khác nhau như người ở đất bằng nhìn sơn hà đại địa, một người trên đỉnh núi Tu Di xem sơn hà đại địa; sự thấy của hai người đương nhiên khác nhau, nên người tiểu ngộ cần phải ngộ nữa.
Người khai ngộ tại sao ví như con chó bò qua đầu tường? Con chó nhốt trong sân, bốn phía là vách cao lắm không bò qua được. Ông đem chó nhốt vào trong, đương nhiên nó cần phải ăn, lâu không có ăn thì có phải sẽ bị chết đói không? Nó đương nhiên phải trèo, trèo không ra cũng phải trèo, trèo ra thì mới sống, trèo không ra thì bỏ mạng, vậy cứ trèo mãi rồi cũng có thể trèo ra được không? Nhưng người đại ngộ trước khi chưa ngộ, hạnh dụng công thì hành như thế nào? Họ đề lên câu thoại đầu cũng có nghi tình mà không đề lên câu thoại đầu cũng có nghi tình. Đương nhiên trên nghi tình mà dụng công; không dụng công, thôi dụng công cũng ở trong nghi tình. Cái tri thức của họ hiểu được cái đại nghi thuần nhất bất tạp này, từ cái đại nghi này cứ thẳng một đường mà nghi, thời gian lâu thì sẽ đạt đến “trần tận quang sinh!”. Đến khi ấy hoặc không ngộ, nhưng hễ ngộ thì quán triệt khắp cùng trời đất. Cái hành này cách dụng như thế nào? Cần phải hiểu câu thoại đầu này họ không dùng lời nói của người ta đâu. Ta cho các ông biết: Câu thoại đầu này là câu ta giảng, cái dụng công của họ không phải theo câu của ta mà dụng đâu, mà là câu phát xuất từ trong tâm chính họ ra. Trong tâm họ biết câu thoại đầu, cần phải biết trở về với chính mình, muốn từ trong tâm mình phát xuất ra câu thoại đầu, do chỗ này mà phát sinh nghi tình, nghi tức không hiểu niệm Phật là người nào? Chung quy “nghi” này không buông. Lúc đầu hoàn toàn ông không buông nó, dụng lâu rồi các ông tình buông nó cũng không buông được. Nếu các ông không dụng thì cảm thấy trong mình khó chịu, dụng công thì thân tâm dễ chịu. Từ chỗ này buông xuống cũng là công phu, dụng công lại lại càng có công phu; đi, đứng, ngồi, nằm, mặc áo, ăn cơm, tất cả chỉ là công phu. Dụng công được như thế là họ có tri thức khai được đại ngộ, không dụng như vậy thì không được; công đáo tự nhiên thành “qua thục đế lạc, thủy đáo cừ thành” (dưa chín cuống rụng, nước chảy thành dòng), không cần mượn sức dũng mãnh, cho nên công phu của họ là thuần tế vô thô. Họ có cái tri thức này rồi họ cứ một mạch đi thẳng trên đường này thì đương nhiên sẽ có kết quả. Công phu dụng đến chỗ này “chạm nhằm”, “đụng phải” đều được khai đại ngộ. Cũng như con chó muốn trèo qua chỗ ấy, muốn mãi thì bốn chân, mắt, mũi, tai, toàn thân, toàn tâm đều muốn trèo, trèo một lần, hai lần, ba lần thì có thể bò qua được. Đại ngộ cũng vậy, bởi công phu của họ dụng đến lúc này thì tự nhiên sẽ ngộ thôi.
Vậy thì tiểu ngộ như chuột chui sừng trâu, quay đầu trở lại, đường tuy có lớn nhưng vẫn còn là con đường, có đường ấy là có người, cho nên còn người là còn đường đi. Đại ngộ như con chó bò qua vách tường, bò ra được thì xong ngay. Nhưng cái việc bò qua thì từ từ từ ta sẽ giảng cho các ông nghe. Hãy tham đi!

KHAI THỊ Ngày 2 tháng 12 (Thất 7 ngày thứ tư).

“Chính ngay lúc dụng tâm, ngay đó không tâm dụng; không tâm ngay đó dụng, thường dụng ngay đó không”. Bốn câu này là Vĩnh Gia đại sư nói ra. Người dụng công đối với công phu của mấy câu nói nói này cần phải lĩnh hội. Các ông có hiểu được công phu của mấy câu nói này đến chỗ nào không? Để ở chỗ nào không? Các ông đều là người dụng công chẳng lẽ mấy câu nói về công phu này mà không lĩnh hội được sao? E rằng các ông thật chẳng biết. Nay ta giải thích qua cho các ông: Câu thoại đầu đề lên đứng đắn, ngay khi dụng tâm quay lại xem thì thấy chẳng có tâm để mà dụng, lúc không có nổi tâm dụng thì ngay đó đang được dụng, dụng lâu rồi thì cái đang đó cũng không có. Nói như vậy đại khái các ông có thể hiểu rõ được một chút. Nhưng ta nói thế muốn các ông công phu đến chỗ này thì mới có thể lĩnh hội được, nếu không, ông chỉ nghe ta nói mà lĩnh hội được hoặc từ chỗ học mà lĩnh hội thì đều vô dụng cả. Tại sao vậy? Vì việc người ta có dính dáng gì với ông đâu? Thí dụ ra cửa chùa đi Dương Châu trên đường có miếu Long Vương, đền Thổ Địa, có cầu có cống v.v… người đi qua mà không hiểu được chăng? Cái mình học được, cái nghe người ta nói lại thì nói chung chẳng thể nào đáp cho trót lọt cả được. Cái chỗ hành của công phu chân chưa chạm đất đó, ta giảng sơ cho các ông nghe: ngay khi có tâm dụng, ngay đó không có tâm biết, đều không ngoài cái hữu tâm dụng, vô tâm dụng.
Thế nào hữu tâm dụng? Thế nào là vô tâm dụng? Trước hết phải biết câu thoại đầu ta tham là của chính ta, nếu là từ người mà đến thì hữu tâm và vô tâm đều dùng không được. Tại sao vậy? Câu “Niệm Phật là ai?” là câu của người ta, không phải thứ công phu này, đối với cái vô tâm hữu tâm thì còn xa lắm! Cho nên mới nói là không dùng được. Vậy làm sao mới được tương ưng? Trước tiên phải từ trong tâm mình phát xuất cái không biết niệm Phật là người nào, nếu không tìm ra người ấy thì khổ hải vô biên rồi (khổ lắm); có tìm được người đó thì mới ra khỏi biển khổ này được. Cái khẩn thiết này, cái niệm không lo không được, câu thoại đầu ở chỗ này đương nhiên sẽ đắc dụng; cái không rõ ràng (nghi tình) này, niệm niệm có đắc dụng, tâm tâm có đắc dụng thì đều xuất phát từ trong tâm của chính mình ra cả. Đó là cái công phu do chính mình hành đến thì sẽ có công phu thâm nhập. Nếu muốn nghe ta hoặc sư Ban Thủ giảng “người niệm Phật là ai” thì phải tham, tham cho thông, tìm đến được người này thì được ra khỏi biển khổ, nếu tham không thông, người này không tìm được thì biển không ra được. Các ông tưởng tham như thế là đúng, chúng ta tham như vậy thì chỉ là bề ngoài thôi, cái tham như thế không là hôn trâm thì là vọng tưởng. Vì ông là người dụng công ngoài mặt, chính mình thì chẳng làm việc gì, đương nhiên muốn nổi vọng tưởng; trong tâm không có dụng công khẩn thiết, dụng công ngoài mặt thì làm sao kéo dài được? Cho nên không từ tâm của phát xuất ra thì là của người ta thôi. Giả sử là do tâm của các ông phát xuất ra thì đương nhiên sẽ đắc dụng, còn dùng không hết nữa.
Giống như mượn tiền tiêu vậy; mình không có tiền thì muốn mượn tiền của người ta, mình có tiền rồi khổi đi mượn. Tự mình có tiền tiêu là trường hợp nào? Mượn tiền người ta là trường hợp nào? Có thể nói tóm lại lại như vầy: Tham câu thoại đầu không có nghi tình thì cũng giống như niệm thoại đầu, đó tức là dùng câu thoại đầu của người ta. Nếu khi tham câu thoại đầu trong tâm cảm thấy thắc mắc nổi lên nghi tình thì đây mới là câu thoại đầu của chính mình. Tham câu thoại đầu của chính mình tức là tiêu tiền của chính, tham câu thoại đầu của người ta tức là mượn tiền của người ta tiêu vậy. Vì vậy nói: Sai một ly thì cách xa như trời với đất.
Vậy công phu của mình đắc dụng rồi thì các ông còn chịu buông tay ư? Đương nhiên cứ thẳng một đường hướng về phía trước mà dụng đi, thời gian dụng công lâu đi rồi, lúc đó các ông muốn nghỉ một chút cũng không được. Việc nghỉ ấy không phải do ông nữa, vẫn còn câu thoại đầu, muốn buông mà buông không được; không cần các ông tìm nó niệm niệm đều hỏi không dứt; buông cũng không được mà đề cũng không cần đề, công phu không bị gián đoạn chút nào; hữu tâm cũng là dụng mà vô tâm cũng là dụng, hoàn toàn không cần ông có tâm. Có được công phu như vậy thì mới kể là ông đến được lúc vô tâm dụng, cũng gọi là đến thoại đầu. Cái vô tâm này lấy gì mà nghiệm được? Ví dụ như đi cầu, lúc vào cầu tiêu, hay khi bước đi vẫn còn có công phu, chưa mở nắp hầm cầu cũng còn có công phu, kéo quần thì công phu bị mơ hồ rồi, đến khi ngồi xuống thì luôn cả cái mơ hồ cũng không còn. Đến đây thì nghi tình không còn nữa, chỉ còn biết mình ngồi trên bàn cầu. “Cái biết” này… còn kể ông là vô tâm sao? Vô tâm thì không có tâm để biết. Tại sao vậy? “Chẳng thể dùng trí biết, chẳng thể dùng thức hiểu”. Nếu cứ có tâm để biết thì ấy là tâm sinh diệt. Việc từ vô tâm về sau, từ từ ta sẽ giảng cho các ông sau. Hãy tham đi!

KHAI THỊ Ngày 3 tháng 12 (Thất thứ 7 ngày thứ 5).

“Hữu tâm dụng đến chỗ vô tâm, vô tâm không cho hữu tâm biết”. Hai câu nói về công phu này nếu các ông hành đến được thì đối với giai đoạn công phu này mới là thấy được xác thật. Con đường đi này đã gần đến đích, đã sắp ngộ rồi. Dụng công chưa đến chỗ này thì đương nhiên nói đến tâm. Chữ tâm là tổng danh, nói sơ lược có ba thứ ấy là: tán loạn tâm, hữu tâm và vô tâm; dù ông nói thế nào, người dụng công cũng chẳng thể lìa ba thứ tâm này. Thế nào là tán loạn tâm? Ấy là trước khi chúng ta dụng công, nào là tham, sân, si, nào là nhân ngã, nghiệp thức, phiền não v.v… những tâm này gọi chung là tán loạn tâm. Nhưng khi ông ở trong tán loạn tâm này ông lại không biết đó là tán loạn tâm. Thứ tâm này vì quá nhiều như cát vãi chẳng thể kết tụ lại. Hạt cát này không dính với hạt cát kia, tâm niệm chúng ta cũng giống như những hạt cát ấy, không dễ gì bóp dính thành một cục được. Nếu ông có quyết chí không bóp không được thì lâu ngày cũng có thể bóp thành một cục vậy. (Mồ hôi nước mắt ra nhiều thì cũng có thể dính thành một cục được). Ví như công phu của chúng ta ban sơ không hiểu dụng công, cứ ở trong tán loạn tâm cho qua ngày giờ. Những tán loạn tâm này tức là nghiệp thức trần lao thiện ác biến hóa, tạo thành những thứ nghiệp thế gian như sanh tử, thiên đường, địa ngục v.v… Hôm nay tham câu thoại đầu muốn đem cái tâm tạo nghiệp sanh tử thế gian đều ngưng nghỉ hết, chỉ dùng cái pháp thiền xuất thế gian này để lìa khỏi sanh tử, ban sơ không dễ gì làm được cũng như muốn bóp cát thành một cục vậy. Dụng công tham lâu ngày những tạp niệm tán loạn sẽ bớt đi, tham lâu nữa sẽ hết, chỉ còn một câu thoại đầu cũng như cát vãi đã được bóp thánh một cục vậy. Những tán loạn tâm đó đều thu nhiếp lại vào câu thoại đầu này, câu thoại đầu này tức là hữu tâm. Lúc hữu tâm, chỉ thấy được lúc trước đó là tán loạn tâm, chẳng thể thấy được cái vô tâm sau này. Tại sao vậy? Nếu ông không dụng công đương nhiên chẳng biết được hữu tâm. Có tán loạn hay không có tán loạn tất cả đều do chữ “hữu” này mới biết.
Hôm nay dụng công đề lên câu thoại đầu, vọng tưởng liền đến, theo đó mà xem thì chỉ khi dụng công mới biết được cái tâm niệm trước kia là tán loạn lăng xăng, tức là nhờ câu thoại đầu này mới thấy được cái tâm tán loạn kia. Ví như một người xuất thân là kẻ cướp, ở trong hang ổ bọn cướp suốt ngày chỉ nghĩ cách cướp giựt tài sản của người ta, họ đâu có nghĩ mình là kẻ ăn cướp không tốt. Cần phải bảo họ lìa khỏi hang ổ cướp rồi họ mới biết được trước kia họ là ăn cướp, về sau đương nhiên không chịu đi làm việc cướp giựt nữa, cũng như trước kia chưa dụng công không biết tâm mình là tán loạn tâm, tham câu thoại đầu rồi mới biết trước kia là tán loạn tâm không tốt vậy.
Tại sa nói vô tâm chẳng cho hữu tâm biết? Cũng như kẻ ăn cướp này đã biết không tốt, không muốn đi cướp giựt nữa thì phải xa lìa cái hang ổ của bọn cướp mới được. Nếu ông không xa lìa họ, ông muốn làm người tốt cũng không được. Bởi vì họ thấy ông không đi làm ăn cướp cũng muốn ông đi, ông không đi họ cũng không cho ông tự do. Nếu ông xa lìa họ, họ không thấy ông đương nhiên được bình an vô sự. Giả sử bị họ thấy được ông thì ông muốn làm người tốt cũng không được. Ông đã xa lìa hang ổ, bọn cướp không thấy ông, ông mới có thể làm người tốt. Cũng thế, vô tâm ví như người tốt, nếu muốn biết họ là người tốt thì cái năng biết này của ông, tức là hữu tâm, chính là thằng ăn cướp. Cho nên nói là vô tâm chẳng cho hữu tâm biết là vậy. Tóm lại có cái hữu tâm để biết thì không kể ông là vô tâm.
Vậy hiện tại các ông đều là lúc hữu tâm, công phu vô tâm thì chưa đạt đến, nhưng cũng không thể bảo nó là tán loạn tâm được, đây là lời nói sát với thực tế. Nếu nói các ông hãy còn là tán loạn tâm thì chèn ép các ông; dù có vài vị tán loạn tâm cũng không cần nói đến họ. Chúng ta chỉ mới nói đến cái hữu tâm hiện tại này thôi; câu thoại đầu vừa đề lên thì vọng tưởng cũng nổi lên, đã vọng tưởng thì đương nhiên phải có tướng mạo của vọng tưởng cũng như nổi vọng tưởng Thượng Hải thì tướng Thượng Hải hiện ra. Hôm nay bảo các ông tham câu thoại đầu, muốn các ông tự hỏi lại câu thoại đầu trong tâm mình, khởi lên nghi tình, thì không tướng, thực tướng, phi không thực tướng, diệc không diệc thực tướng, tất cả đều không có. Lời nói của Giáo môn hoặc chân như, hoặc nhất chân pháp giới v.v… Thiền tông thì không nói như vậy, câu thoại đầu thì không có nhất thiết tướng. Ta nói thêm để cho các ông nghe, muốn các ông dễ dàng biết được về trình tự của công phu này: trước khi đề lên câu thoại đầu, vọng tưởng cũng có, nghiệp chướng cũng có, lần lần vọng tưởng cũng không nổi mà nghiệp chướng cũng khởi ra, công phu không ngừng đắc dụng, thuần thục thêm nữa, công phu thành phiến, thì mới có thể gọi là “Lạc đường tự tại” được. Nếu các ông đến được mức này, ta có bảo các ông buông bỏ công phu để nổi vọng tưởng thì dù các ông có muốn nổi vọng tưởng cũng không nổi lên được. Chỉ còn thuần một nghi tình miên miên mật mật (liên lục không gián đoạn), tất cả niệm khác đều bặt, có muốn nổi cũng nổi không được. Như thế chân nghi hiện tiền đương nhiên tất cả tướng đều không còn. Chẳng những quỷ thần không thấy ông, Diêm La Vương cũng không thấy ông. Diêm Vương đã không thấy ông thì sanh tử đặt ở chỗ nào? E rằng Phật Thích Ca cũng không thấy, nếu bị Phật Thích Ca thấy đến thì chẳng những có sinh tử lại còn có Niết bàn nữa. Khi chúng ta chân nghi hiện tiền thì sanh tử chẳng trụ, Niết bàn cũng chẳng trụ vậy. Các ông hãy phát tâm, tham đi!

KHAI THỊ Ngày 4 tháng 12 (Thất 7 ngày thứ 6).

Chớ nói vô tâm tức là đạo, vô tâm vẫn cách khoảng đường xa”. Mấy lời nói này với các ông thì thật không có gì để giảng, vì các ông cũng hoàn toàn muốn nghe nữa, bởi trên tâm hạnh các ông còn thiếu xa lắm. Nhưng ta không thể không hết thiên chức của mình để giảng thứ tự lớp lang cho các ông nghe.
Người dụng công đối với danh lợi, vinh quang, oán thân, tham ái, sân hận trên đời v.v… gọi chung là việc thể gian sự cần phải cho nó chết, một tí cũng không còn. Người xưa có đại tử đại hoạt, tiểu tử tiểu hoạt tức là lý này. Sao gọi là tiểu tử? Đó là biệt danh của tiểu ngộ. Đại hoạt là biệt danh của đại ngộ. Vậy tiểu tử là thế nào? Thân tử là tiểu tử, tất cả đau ngứa trên thân mình đều không biết, cũng giống như một “hoạt tử nhân”, thân tuy chết nhưng tâm không chết, tâm vẫn còn sống động, ấy tức là tiểu tử. Thế nào là đại tử? Tức thân tâm đều chết; tâm chết, chỉ cho câu thoại đầu tâm tâm dụng, niệm niệm dụng, bận rộn cũng dụng. Tuy dụng như vậy mà không cho biết là ở trong cái dụng như thế; nếu biết được có câu thoại đầu, có cái dụng trong lúc bận rộn thì tâm chưa chết. Vậy lấy gì chứng cớ rõ ràng được? Tâm ông đại tử rồi ta sẽ hỏi ông: Ông tên gì? Nếu ông trả lời được thì ông chưa chết, nếu ông trả lời không được, không hiểu mình tên gì mới kể là tâm của ông chết rồi. Ta hỏi các ông: đại tử có không? Nay đã được bảy thất rồi, công phu không dụng đến đại tử thì làm sao đạt đến đại hoạt được? Đứng ngay đây các ông hãy tự hỏi lòng xem, cái chết đến được trình độ nào? Nhưng những lời này không phải ta nói bậy, chính ta từng đi qua trên con đường này rồi.
Lời nói người xưa các ông không tin, ta cũng không tin, tại sao vậy? Vì chưa thấy làm sao mà tin được? Nay ta đem việc chính ta đã đi qua, nói cho các ông nghe, đại khái các ông sẽ tin. Khi ta ở chùa Kim Sơn, bốn người cùng ở một căn phòng, gặp đúng tên bốn người đều chữ “Diệu”, trong đó có sư đệ ta là Diệu Phong. Ta một mình nằm dưới đất, ba người kia ngủ trên giường, họ cảm thấy ngại, thường bào ta: “Này thầy! Thầy lên giường nằm đi”. Ta cũng không để ý đến lời họ kêu ta hay không, ta cứ nằm dưới đất. Sư đệ của ta muốn nói chuyện với ta mãi, ta cũng không để ý đến. Ông ấy nói: “Thầy là người Hồ Bắc phải không?”. Ta nói: “Niệm Phật là ai?”. Ông ta nói: “Thầy là Diệu Thọ, pháp hiệu Tịnh Như phải không?”. Ta nói: “Niệm Phật đáo để là ai?”. Ông ta nói: “Ông đại khái là sư huynh tôi!”. Ta nói: “Niệm Phật cứu kính là ai?”. Làm cho ông ta không biết làm thế nào, một mùa Đông hỏi ta mấy lần như vậy, ta đều trả lời như thế, ông ta muốn ta nói một câu khác hơn, nhưng vẫn không được. Đến kỳ nghỉ tháng giêng ta trở về tiểu miếu (chùa Sư phụ), Sư phụ hỏi đến ông ta: “Sư huynh ông ở chùa Kim Sơn ông có biết không?”. Ông ta nói: “Con biết, khi nói chuyện với Sư huynh thì Sư huynh không trả lời đúng câu hỏi nên con không biết đích xác có phải hay không?”. Sư phụ nói: “Hãy mau kêu nó về đây!”. Ông ta lúc đến Kim Sơn nắm chặt tay ta nói: “Tôi nói thầy là Sư huynh của tôi sao thầy không trả lời cho tôi biết? Đúng thầy là Sư huynh của tôi!”. Ta nói: “Niệm Phật là ai?”, ông ta nói: “Không cần biết ai hay không ai, thầy hãy theo tôi về chùa!”. Ta nói: “Niệm Phật là ai?”, ông ta nói: “Sư phụ bảo tôi đến kêu thầy về, thầy không thể không về được”, ta nói: “Niệm Phật là ai?” làm cho ông ta không biết làm cách nào, chỉ lôi cánh ta mà nói: “Thầy sao kỳ cục quá! Bảo về thăm Sư phụ đâu có bao xa, ở Câu Dung thôi, sao không chịu về?”, ta nói: “Niệm Phật là ai?”, ông ta thả ta ra nói: “Thôi! Thôi đi!”, rồi bỏ đi về.
Các ông thử ta lúc ấy những việc cần thiết trong việc giao thiệp nhất đều làm chết tiệt hết, không còn có ta nữa. Các ông được mấy ai hành giống như ta? E rằng các ông không những biết tên người ở quảng đơn phía Đông, phía Tây nữa. Các ông thử nghĩ: Ta làm người như thế này đến nay đã bốn mươi năm vẫn còn là người thường, các ông công phu chưa đạt đến chỗ này thì làm sao khai ngộ được? Thật đáng tiếc! Các ông chưa có một ai bám chặt đến chết câu thoại đầu mà nhận chân ôm chặt tử cú này (thoại đầu) mà cắn mãi; không hỏi khai ngộ hay không, cứ chỉ là dụng công phu, một mạch đi thẳng, chết với câu thoại đầu, chết đến cùng còn sợ không hoạt ư? Nay các ông không những không chịu chết mà còn muốn suy nghĩ này nọ, suy nghĩ một vài câu để sắp đặt, thí dụ như tưởng rằng: “Đúng rồi! Đây chính là công phu của ta!”. Các ông có khổ không? Lại nữa, hoặc có thể chết được một lát, sáng chết đi, tối nghĩ lại: “Không phải! Chết chẳng được danh giá gì, cũng chẳng thích gì câu thoại đầu, cần phải sửa lại câu thoại đầu!”. Ví như sáng gieo mạ, tối muốn gặt lúa ngay, không có lúa gặt, lại cày tiếp rồi lại trồng đậu thì cũng như vậy. Các ông xem! Công phu như vậy mà còn kể được là tham thiền sao? Đại đa số các ông là như vậy. Tự các ông hỏi lại mình xem có đúng hay không đúng.
Theo công phu các ông như vậy, ta còn muốn giảng gì cho các ông nghe nữa không? Tại sao vậy? Ta giảng đến chỗ nào thì muốn các ông hành đến chỗ đó. Cái hành của các ông tức là lời ta giảng, các ông phải hành như vậy mới đúng, mới gọi là “ngôn hành tương ứng”. Ta giảng đến đâu các ông theo không kịp, đó không phải là phí công ta giảng sao? Tuy nói như vậy các ông mấy chục người cũng phải có một vài người công phu thâm nhập; không cần nhiều, chỉ có một người công phu được đến chỗ ta giảng thì chẳng thể nói là không có người nào, đã có một người như thế, đương nhiên ta phải giảng tới nữa cho người đó nghe.
Các ông phải sống chết với câu thoại đầu này, đến cả tên mình cũng không biết, có công hạnh như vậy thì hành ra sao? Muốn các ông dụng câu thoại đầu cho đến lúc không biết luôn là có câu thoại đầu, người không biết, ta cũng không biết. Nhân ngã tại sao cũng không biết? Nhân tức là thế giới hư không, ngã là cái thân bằng xương, bằng thịt này. Giáo môn nói: “Ngoài lục trần, trong lục căn, ở giữa là lục thức”. Thiền tông thì không như vậy, đầu tiên cả thế giới hư không đều quên hết, chết hết. Vậy thì thế giới hư không đã không có thì ta ở chỗ nào? Thân thể này của ta đã chết rồi thì sự đau ngứa trên thân, mặc áo ăn cơm, đói lạnh có còn chăng? Đã không có nhưng cái đó thì nhất định tất cả đều không có. Vậy tên có còn không? Các ông nghĩ xem có đúng không?
Vậy thì trong cũng quên, ngoài cũng quên, chỉ còn câu thoại đầu ở giữa trong chúng ta. Thoại đầu thì cần phải tham, trước thì lịch lịch, minh minh mà tham, sau lại thanh thanh, triệt triệt mà tham, rồi thêm tinh tiến dũng mãnh mà tham.
Các ông tham đến lúc này liên tục không gián đoạn, ta hỏi các ông: “Thế giới, nhân ngã, hư không có còn chăng?”. Ông nói: “Không có”. Tốt lắm! Ta lại hỏi: “Ngã có còn không?”. Ông nói: “Cũng không có!”. Ta nói: “Tốt lắm!”. Ta lại hỏi thêm: “Tâm ông có còn không?”. Ông trả lời: “Không có”. Ta lại hỏi: “Tâm đã không có thì lời nói trong miệng từ đâu lại?”. Nếu ông nói: “có”, thì ta sẽ hỏi ông: “Cái chữ ‘có’ này là ở trên câu thoại đầu hay là câu thoại đầu ở trên chữ ‘có’?”. Các ông thử nghĩ trả lời ta một câu xem! Ta muốn xem công phu của các ông đạt đến trình độ nào? Hãy phát tâm tham đi!

KHAI THỊ Ngày 5 tháng 12 (Thất 7 ngày thứ 7).

Căn trần thức đều bỏ, tâm ý thức đều quên, mười phương hư không đoạn dứt, chẳng còn tên gọi thánh phàm”. Bốn câu này có liên hệ đến việc khai ngộ và tin tức khai ngộ trên đường dụng công phu, chúng ta nghiên cứu thử xem. Nếu người có chút công phu nghe rồi sẽ hiểu ngay. Còn những người không dụng công hoặc không nghe có thâm nhập tí gì, nghe những lời này thì một chút mùi vị cũng không có.
Theo các ông suy nghĩ thì: “Căn trần thức, tâm ý thức đều bỏ hết, quên hết rồi thì không làm gì được nữa”. Các ông nghĩ xem đúng hay không? Khi căn trần thức quên rồi thì lúc ấy các ông sợ rằng đâu thể làm gì được nữa? Các ông không những không muốn quên mà không chịu quên. Vậy đối với loại người như các ông không nên nói những lời này.
Cần giải thích cho các ông: Trong Thiền tông căn là thân, trần là ngoại cảnh. Trong Giáo môn căn là lục căn, trần là lục trần, mỗi căn đối với một trần, trong đó lại có một thức. Thiền tông nói tâm ý thức tức là tâm biết khởi niệm, phân biệt tất cả; nói tóm lại là tâm ý thức. Giáo môn lại không nói như vậy mà nói là tiền ngũ thức, rồi lục thức, thất thức, bát thức. Người dụng công tại sao cần phải bỏ, cần phải quên? Vì những thứ này đã làm ta bị bó buộc từ vô thủy kiếp đến nay; nếu ta không chịu bỏ hết, quên hết thì không biết bị bó buộc đến ngày nào nữa! Nên cần phải bỏ cho sạch hết thì mới có thể làm việc trong nhà mình, mới có thể đi con đường về nhà của ta. Những thứ này đối ta rốt cuộc có quan hệ như thế nào? Cần phải biết rõ: Chúng ta sinh tử không dứt, bởi vì cáí tâm phàm phu hiện nay, vì có tâm nên có thân, có tâm thân nên mới có thế giới, lại bị thân tâm thế giới bó buộc chúng ta quá chặt chẽ. Cho nên muốn dứt thân, tâm, thế giới thì cần phải dứt nhãn, tỹ, thiệt, thân, ý (đây là căn mà căn ở trên thân mình), dứt sắc, thinh, hương, vị xúc, pháp (là trần mà trần lại ở trên thế giới), và dứt luôn thức (thức do tâm mà có), dứt được căn trần là dứt (liễu) được thân, tâm và thế giới. Trong Giáo môn vậy là rất tốt và rất cao, trong Thiền tông  thì là việc chưa đáng kể.
Cái ta giảng hôm nay là của Thiền tông chứ không phải Giáo môn. Tại sao? Thiền tông còn có gì đặc biệt khác hơn? Khác ở chỗ nào? Sự liễu của Giáo môn là cho họ đã dứt được rồi, nay Thiền tông muốn liễu cái liễu của Giáo môn. Thí dụ họ dùng tay để liễu thì ta cần liễu cái tay của họ, họ dùng chân để liễu thì ta cần liễu cái chân của họ. Tại sao? Cần phải biết: Dù lực lượng thân, tâm, thế giới có lớn thế nào cũng không lớn bằng lực lượng “liễu” của thân, tâm, thế giới; chữ “liễu” này của các ông không dễ gì hiểu được. Thí dụ: Tất cả đường đi đều như như thân tâm và thế giới, muốn liễu những con đường này thì cứ dùng chân đi đến cùng tột thì liễu được thôi! Những con đường liễu được đó là do chân đi mà liễu, hai chân này tức là chân để liễu con đường, cũng là chân để liễu thân tâm và thế giới. Lực lượng của hai chân này rất lớn, thiên đường địa ngục cũng do nó, thành Phật làm Tổ cũng là nó, luân hồi lục đạo cũng do nó, làm trâu biến ngựa, thành côn trùng cũng không ngoài nó. Trong Thiền tông muốn liễu thì trước tiên phải liễu hai chân này. Các ông xem: Sự “liễu” này có phải đoạn dứt mười phương hư không? Các ông nghĩ xem công phu như vậy đã đến nhà được chưa? Theo ta thì chưa được. Tại sao? Công phu tuy có nhưng vẫn chưa khai ngộ, gọi là giữa đường. Những lời này vốn chẳng muốn giảng, có giảng cho các ông nghe là vô vị. Nếu như ta nói đến đâu các ôn hành được thì ta cũng nói được, mới có thể nói là thuyết đến đâu hành đến đó. Ta thuyết được các ông hành không được thì còn đâu là tốt được? Tuy nói như thế, nhưng các ông tuy chưa hành đến, ta nói như vậy cho các ông nghe, tương lai các ông cũng sẽ y theo lời ta mà nói cho người khác nghe. Khi các ông hành đến chỗ lời ta giảng thì mới biết được tâm can của ta! Nếu không thì ông nói ta là Diệu Thọ, ta nói không phải, ông nói ta là Lai Quả, ta cũng nói không phải, có thể nói là gặp mặt mà không biết người, vậy các ông còn biết chăng? Đối với Thiền tông những việc này cũng không coi là kỳ lạ.
Nay ta theo thứ tự giảng cho các ông nghe. Sự thật thì không có thứ lớp, không cần đôi chân để đi mới đúng, luôn cả chân cũng không cần đi đầu còn thứ lớp gì nữa? Không phải bốn mươi bốn cấp bực hay năm mươi lăm cấp bực của Giáo môn, tu đến cấp bực nào chứng quả cấp bực đó, từ bước một mà bước, nếu muốn một bước lên hai cấp cũng không được. Thiền tông chẳng những không có cấp bực mà luôn cả chân cũng không cần, nhưng vẫn ngồi trên cao được, so với họ vẫn cao hơn nhiều. Vậy đoạn dứt mười phương bằng cách nào? Cần phải biết nếu có thế giới thân tâm để liễu thì phải có ta năng liễu. Ấy đều là lời nói của Giáo môn: “Có năng có sở, năng sở đều liễu, chính giữa cũng không trụ”, gọi là Tam luân thể không. Thiền tông thì không phải vậy, chỉ cần câu thoại đầu một mạch tiến đến, không rơi vào cấp bực.
Trong Thiền tông có công phu được như vậy có thể gọi là đoạn dứt mười phương chưa? Chưa đâu! Trong Thiền tông cho đó là chưa vào cổng, còn ở giữa đường, còn là kẻ đứng ở ngoài cửa. Tại sao Thiền tông lại có chỗ sâu xa kỳ lạ như vậy? Các ông phải biết người sức yếu mà đến chỗ ngân sơn thiết bích (núi bạc vách sắt) thì không có cách nào vượt qua! Cứ cho ngân sơn thiết bích này không có ngày mở ra được! Nhưng những người có sức mạnh thì ngân sơn thiết bích chẳng thể nhốt được, khi họ đến chỗ đó thì một tay đập bỏ ngân sơn, một chân nhảy qua thiết bích mới là việc của họ. Đợi khi các ông đập bể ngân sơn, nhảy qua thiết bích rồi thì ta mới nói chuyện đoạn dứt mười phương cho các ông nghe! Hãy tham đi!

KHAI THỊ Ngày 6 tháng 12 (thất 8 ngày đầu).

Người dụng công phải có công phu để dụng mới gọi là đạo nhân. Giả sử nói là người dụng công, nhưng đối với sự thực hành của chính mình thì lại không được công phu, sao gọi là đạo nhân được?
Hành đạo cũng như đường, lúc đầu ở ngã tư đường đi qua đi lại thấy đông đảo, tốt quá, người đi lại thì nhiều, cái gì cũng có, lần lần hình như kẻ qua lại ít đi thì bớt náo nhiệt rồi. Đi nữa thì đến chỗ ven vùng sơn dã khó mà thấy được một người, vắng vẻ cả rồi, càng đi nữa thì đến chỗ thâm sơn cùng cốc, một người cũng chẳng có, cảnh vật thanh vắng, đường đi càng nhỏ. Các ông người có dụng công đối với lời nói này ắt thấy rất tương ứng với mình, một điểm, một chữ cũng không sai. Người không dụng công được không biết lời của ta nói là gì, đường phố cũng không biết đường phố ở thị trấn nào, núi cũng không biết núi gì, đường nào cũng chẳng biết đường nào hết, thiệt làm cho người ta mò chẳng ra được! Đại khái các ông có loại tri kiến này. Ta phải nói rõ cho các ông biết: Đây là lời nói về sự công phu, các ông đừng làm ở bề ngoài. Vậy đường đi đã hết, lần lần đến chỗ thâm sơn cùng cốc, đến chỗ này rồi thì còn đường đi nữa không? Đường thì không có để đi, nhưng trên công phu làm sao lãnh hội được? Lúc mới đầu đề lên câu thoại đầu thì vọng tưởng, phiền não, tham ái, si mê v.v… so với ngã tư thành phố còn náo nhiệt hơn, bởi vì quá nhiều; hôm nay cũng câu thoại đầu ngày mai cũng câu thoại đầu, cũng như đi đường vậy, cứ tham chậm chậm; cầu thoại đầu tham lâu ngày rồi thì dần dần vọng tưởng, sân ái, phiền não v.v… đều bớt đi. Lại nữa nghi tình biết đề lên rồi thì lần lần quen thuộc thôi! Nghi tình khi đã quen thuộc thì giống như đến nơi sơn dã vậy, vọng tưởng phiền não khó mà khởi lên được. Tham nữa, khởi nghi tình nữa thì nghi tình này sẽ thành khối thôi. Con đường trước mặt ban đầu càng đi càng nhỏ lại, thanh vắng im lặng; đến bây giờ khi nghi tình thành khối thì cũng không còn đường để đi nữa mà một chút mùi vị cũng không có, cô đơn thanh vắng, nhưng tri kiến các ông tưởng là: “Không đúng! Làm sao người dụng công trên công phu lại tạo thanh vắng làm gì? Náo nhiệt thì tốt biết bao, tại sao lại muốn cô đơn thanh vắng, một chút mùi vị cũng chẳng có làm gì?”.
Đúng vậy! Nhưng ta nói: muốn náo nhiệt để làm gì? Đường đi đã không có, náo nhiệt để chỗ nào? Không có mùi vị thì còn có miệng không? Miệng đã không có thì lưỡi ở đâu? Còn mùi vị hay không? Không có lưỡi thì không thể nào biết được, lưỡi đã không thì mùi vị từ đâu đến? Đối với chữ Thiền đương nhiên cần phải tham. Nhưng công phu hành đến nơi còn nói chi là Thiền? Thí dụ có bệnh mới uống thuốc, bệnh hết rồi còn uống làm gì? Nếu bệnh hết mà còn uống thuốc thì không đúng rồi! Bệnh hết, thuốc nhất định phải bỏ. Lời này các ông có hiểu được chăng? Nếu những lời nói về công phu lúc mới đầu này có chút lĩnh hội thì cũng không cô phụ các ông là người đả thiền thất. Như thế đường ta nói đã đi xong chưa, có còn đứng tại chỗ này hay đã lùi về phía sau rồi? Còn đứng tại chỗ này thì không đúng, không thể xong việc, người đứng trên đường đã không đúng, sụt lùi lại càng không đúng nữa. Đến thì cứ đến! Muốn các ông thối lui phía sau thì phía sau là lửa cháy mạnh, đương nhiên không lùi được, không lùi nhất định phải tiến về phía trước, không tiến cũng phải tiến, đây không phải là việc dễ gì làm được. Muốn duỗi chân ra thì chân không có chỗ để duỗi, muốn đưa tay ra cũng không có chỗ mà đưa, các ông hãy nghĩ xem: cũng như con dòi trong lu mặc dù bò ra không được cũng ráng sức mà bò, chỉ muốn đi trốn, bò qua bò lại còn có thể lăn lộn vài lần. Các ông công phu nghi tình đã thành khối rồi, trong khối này còn được lăn lộn không? Sợ không dễ gì? Bởi vì cái khối này lớn quá, muốn duỗi chân ra thì một tí chỗ hở cũng không có. Trong hư không cũng ở trong khối này, ngoài hư không cũng ở trong khối này, thập phương chư Phật cũng ở trong khối này. Các ông thử nghĩ xem: Chân này duỗi ra chỗ nào? Tay đưa ra chỗ nào? Nhô đầu ra đâu? Muốn duỗi chân một chút thì chỗ đưa chân cũng ở trong khối này, và nhô đầu ra cũng vậy. Không những tay chân, chúng ta còn phải nghiên cứu xem xét rốt cuộc khối này là bao lớn? Con người của ta ở trong hay ở ngoài cái khối này? Bên ngoài còn có chỗ nào, mà ở trong thì tướng mạo ra sao? Các ông đều cần phải thấy được một tí mới tốt, cần phải rõ ràng thấy đến mới đúng; chỉ nghe nói thôi thì vẫn còn là của ta.
Cái khối này lớn lắm, không những hư không bị nó lôi cuốn vào trong mà ngay cả Phật Thích Ca, các đại Bồ Tát, Văn Thù, Phổ Hiền, Quan Âm cho đến thập phương chư Phật đều bị khối này bao gồm vào trong. Thiên đường, địa ngục, sâu bọ con kiến cũng đều ở trong khối này, các ông hiểu hay không? Cần nghiên cứu xem, đây không phải là việc nhỏ đâu. Tại sao? Các ông không nghiên cứu nó cho rõ thì nói làm sao đập bể khối nghi? Làm sao đập vỡ được khối nghi? Nếu nói khối nghi đập bể đích thân nhìn thấy bản lai diện mục là nói bậy! Ông nói ông thấy bản lai diện mục của ông, như vậy còn có bản lai diện mục của ta chăng? Diện mục của người khác có hay không? Cái diện mục này so với nghi tình thì lớn hay nhỏ hơn? Nói câu: “Đập bể khối nghi, đích thân thấy bổn lai diện mục”, đó đều là do các ông học từ bên ngoài mà thôi. Ta hỏi câu thứ nhất thì các ông đều đáp không nổi. Sở dĩ muốn các ông tự mình thấy được, muốn thiết thực thảo luận qua; nếu không thấy được như vậy, thân thiết như vậy, dù cho các ông nói thật đập bể khối nghi thì vẫn còn là kẻ mang mặt nạ (bộ mặt giả)! Phải hiểu là “Vạn lý trình đồ thủy chung bất ly sơ bộ” (đường đi vạn dặm thủy chung không rời bước đầu tiên). Nếu không thấy được rõ ràng thì cứ sai mãi, ngàn sai muôn sai đều do cái sai này. Rất cần yếu là tham đi!

KHAI THỊ Ngày 7 tháng 12 (Thất 8 ngày thừ).

(Giảng sự tích Phật Thích Ca nửa đêm trông thấy sao sáng mà thành đạo và thuyết pháp v.v… Nay lược bỏ).

KHAI THỊ Ngày 8 tháng 12 (Thất 8 ngày thứ 3).

Người hành đạo như trên đường vạn dặm trở về nhà, mà nay đã đi được chín ngàn dặm rồi, chẳng bao lâu nữa thì về đến nhà. Tỷ như đỉnh núi muôn trượng, chúng ta từ chân núi mà trèo lên ngọn, một chân cứt chó, một chân gai góc, muốn tìm một con đường lớn để đi mà không có, chẳng hỏi có đường hay không có đường mà chỉ hướng đi lên; hôm nay cũng trèo, ngày mai cũng trèo thì trèo lên được thôi. Trèo lên thì được rồi, đến đầu ngọn núi chỉ có chỗ để đặt một chân thôi, nhìn xuống là vách núi muôn trượng, động chân thì bước vào hư không, chung quanh đều không còn chỗ. Đến chỗ này rồi đứng lại, dường như là tốt lắm, có thể nói: “Đỉnh núi muôn trượng”, “Đầu sào trăm thước”. Đến nơi này rồi tốt thì tốt nhưng còn thiếu một bước đường, một vạn dặm đi được 99.999 dặm rồi, chỉ thiếu một dặm nữa thì đến cái nhà bản lai của chúng ta; đến được nơi này rồi thì hy vọng vô cùng. Một dặm đường này chỉ cần các ông bước chân là có thể đến nhà, chỉ cần bước chân một chút thôi thì có thể hy vọng thành Phật, hy vọng làm Tổ, cho đến hy vọng siêu Phật việt Tổ cũng ở cái bước này. Tại sao lại phải bước thêm một bước? Chỗ này đương nhiên là không tốt mà người xưa đã nói như thế rồi. Tại sao vậy? Người xưa nói: “Người ngồi trên đầu sào trăm thước tuy là được nhập nhưng mà chưa chân thật”. Ấy là muốn nói: Lúc mà các ông đến đầu sào trăm thước rồi ngồi xuống tại chỗ đó không bước thêm về trước nữa, thì chẳng thể kể là người chân thật về đến nhà. Ta hôm nay muốn hỏi các ông: Công phu có đến được chỗ này chưa? Những lời này là vì các ông cần công phu đến được chỗ này thì mới giảng cho các ông nghe; trong kỳ thất thứ ba giảng mấy lời này là vô dụng vì công phu các ông không dụng đến được nơi này, nếu ở vào lúc bình thường lại càng không xong. Hôm nay đã được bảy, tám thất rồi, công phu đương nhiên phải đến chỗ này, các ông hãy nhủ lòng tự hỏi: Có hay không có? Nếu công phu đến được chỗ này thì tốt lắm! Ta nói như thế thì các ông nhất định lĩnh hội được; bảo các ông bước thêm bước nữa, các ông cũng có thể tin chắc mà bước tới, ấy chẳng phải là rất tốt sao? Không có được công phu như thế thì ta uổng công nói rồi! Còn chỗ nào là có ích đâu? Nhưng không thể vì các ông như vậy mà không nói ra; công phu các ông không dụng đến, thất đả được bảy, tám kỳ rồi, đương nhiên muốn giảng đến chỗ này cho các ông, công phu các không dụng đến, ấy là các ông phụ ta, không phải ta phụ các ông. Nhưng mà “đỉnh núi muôn trượng” chỉ là một ví dụ, về công phu của chúng ta thì lại là như thế nào? Cần các ông lĩnh hội một chút, từ chỗ không biết mà dụng công, một chân cứt chó, hôn trầm vọng tưởng, dụng đến thuần thục cho đến thành khối tự tại, cho đến đỉnh núi muôn trượng. Nhưng mức công phu này làm sao đến được? Lúc công phu đến mức thành khối thì quét bỏ cả tâm, ý, thức mới có thể đạt đến mức này.
Nói cho rõ ràng một chút: Tâm là cái năng tri, tất cả thiện ác, thế gian xuất thế gian là sở tri của tâm, cái tâm này phải lìa bỏ. Ý, nghĩa là tất cả pháp, chẳng kể là pháp Đại thừa hay Tiểu thừa, nếu dùng bộ nào suy nghĩ một chút thì liền rơi vào ý thức, cho nên cũng cần phải lìa bỏ. Đó là chuyện trong Thiền tông, tuyệt không phải là chuyện trong Giáo môn đâu, mọi người cần nhận biết cho rõ ràng. Giáo môn không có chuyện như thế đâu!
Nói đến chữ Thức tức là muốn các ôn nhận chân mà tham thiền! Vậy thế nào là chân tham? Chân tham là vô tham. Ý nghĩa câu nói này ta phải phân biệt dùm cho các ông một chút, vì câu nói này người hiểu lầm rất nhiều. Tại sao vậy? Người không biết dụng công nghe câu nói này rồi bèn nghĩ: “Tốt lắm! Chân tham là vô tham, ta quả không biết tham tức là vô tham, ấy chẳng phải chân vô tham sao? Vậy không cần dụng công nữa rồi!”. Ông cứ cho đấy là rất đúng: “Ta là vô tham”. Kỳ thực cái vô tham này của ông là cái vô tham của lục đạo luân hồi, không phải cái vô tham siêu Phật việt Tổ! Cái vô tham đó là công phu dụng được đến thành khối mà chẳng biết có sự tham chứ chẳng phải là không có tham. Ta hôm trước đã giảng về nghi tình thành khối rồi, thập phương chư Phật, hết thảy Bồ Tát, lịch đại Tổ Sư đều ở trong cái khối nghi này, không cho các ông biết công phu của cái nghi tình thành khối này, tham cho đến chỗ này không biết mình đang tham, đó mới là vô tham. Cái vô tham này của các vị ấy có giống cái vô tham của người hiểu lầm không? Nếu mọi người đã tham và chân tham cái vô tham này, như thế thì cái vô tham này do chân thật dụng công tự nhiên đến chỗ không còn tự biết, còn cho các ông phân biệt chăng? Hễ cứ muốn phân biệt thì rơi vào cái thức ngay! Cho nên không cho tâm biết, không cho ý suy nghĩ, không cho thức hiểu thì mới kể là đến được “đỉnh núi muôn trượng” cũng là “đầu sào trăm thước”.
Ta muốn hỏi các ông công phu có đến chỗ này chưa? Các ông cứ cho việc này là khó lắm, ta bảo là không khó. Các ông cứ tự mở mắt ra xem, nơi các ông đứng là nơi nào? Công phu đến nơi này, há có lẽ nào mà không thấy được chăng? Nhưng mà ta muốn hỏi các ông: “Công phu có dụng đến chỗ này chăng?”. Các ông đáp: “Tôi đến rồi!”. Ta lại hỏi: “Nơi này mở mắt ra xem còn có gì nữa không?”. Các ông cần trả lời ta mới đúng. Còn có người không? Còn có ta không? Còn có Phật không? Còn có Pháp không? Còn có Tăng không? Các ông nếu trả lời ta: “có”, đã nói có thì cái có từ đâu mà có? Nếu nói không có thì các ông ở chỗ nào? Đây không phải là việc nhỏ đâu, ta hỏi các ông, các ông phải biết thật rõ ràng mới đúng. Nếu các ông có thể dụng công phu đến chỗ “đầu sào trăm thước” thì nhất định biết thôi.
Phải hiểu được rằng: “Công phu đến chỗ này thì rất có hy vọng; hễ tiến thêm một bước thì thọ dụng vô cùng”. Hãy tham đi!

KHAI THỊ Ngày 9 tháng 12 (Thất 8 ngày thứ 4).

“Vực thẳm buông tay, chết rồi sống lại” (huyền nhai tán thủ, tuyệt hậu tái tô), hai câu nói này người đã ở chốn thiền lâm đại khái đều có nghe qua. Nhưng mà nghe thì cho ông đã nghe qua, mà hành thì không không cho là các ông hành qua. Tại sao vậy? Nếu ông đã từ chỗ này hành qua một chút, thì hôm nay các ông chẳng phải là một người như thế này.
Đối với công phu hai câu là công phu gì? Cần phải giải thích rõ rệt cho các ông một chút: Thiền tông vốn không mượn lời nói nhưng vì dẫn dắt các ông hành đạo, nếu không nhờ lời nói thì lại chẳng có đường để đi, cho nên ở phía trước ta nói, các ông có thể theo lời ta nói mà hành cho đến, cái lời nói phương tiện này thì không thể hiểu được. Cũng như hôm qua ta nói đến đỉnh nhọn ở trên đầu núi, từ chỗ này mà bước thêm một bước nữa thì lọt vào hư không, thế không phải là vực thằm buông tay sao? Nhưng cái bước này rất là quan trọng. Tại sao vậy? Trước mũi chân là hư không, vậy muốn bước chân này phải bước như thế nào? Cái bước này động được thì phỏng có đường đi không? Không thể bước đi trong hư không được, vậy có người nào làm được cái chuyện bước đi trong hư không chăng? Quả chẳng phải là chuyện chơi! Đối với người công phu đến được chỗ này thì họ tự biết rõ là có con đường này, họ không những buông tay đi mà còn buông chân để chạy nữa, đi qua Đông qua Tây, đi lên đi xuống, tùy họ đi như thế nào cũng có đường đi cả. Người không có được công phu như vậy thì đáng tiếc lắm! Nghe ta nói thì muốn chết đi! Làm sao một người lại một mình đứng được ở chỗ cao như thế, bốn phía đều trống không, nghiêng một chút thì mất mạng liền. Nếu như ta đem các ông đặt lên chỗ ấy, các ông nhất định sợ chết, đâu còn biết được trong hư không có đường đi hay không? Các ông hãy nghĩ đúng không? Nhưng mà thí dụ ở trên không có đường đi thì phải dùng biện pháp nào để có thể đi được? Há chẳng phải là phép thí dụ không hợp chăng? “Thí dụ” thì có nhiều lắm, nói nữa thì lại quá dài. Nhưng mà từ chỗ này cứ bước một bước thì té xuống ngay! Theo ta nói không những phải bước cho té xuống mà còn phải té cho chết nữa, cho đến cái xác tan nát thành bột, một mảy lông cũng không còn mới đúng. Nếu không té cho chết thì cũng chẳng khác như chưa té! Như vậy thì cái công phu này của các ông còn chưa đúng! Tại sao vậy? Ấy là nửa chết mà chưa chết, chỉ thành một kẻ chết giả! Nếu như vậy lại thành quỉ giữ xác. Cho nên cần phải té cho thật nát! Từ chỗ này mới cho các ông được tuyệt hậu tái tô. Khi sống lại rồi thì khác hẳn, không phải như người trước nữa.
Ngày hôm qua ta nói vế tâm, ý, thức cần phải quên đi, nhưng tâm, ý, thức quên rồi thì vẫn còn ở cái ổ tâm, ý, thức, công phu đến chỗ này rồi thì phải lôi cái ổ này đập bể nó đi. Cái ồ là thức thứ bảy và thức thứ tám đó. Có thể bỏ rời thức thứ bảy và thức thứ tám ra thì công phu mới có thể đến chỗ sống lại này được. Nếu không thể lìa bỏ cái ổ này, thành Phật cũng là cái ổ này, làm Tổ cũng là cái ổ này, thiên đường, địa ngục, cầm thú… cũng từ cái ổ này ra, do vậy công phu  nhất định phải đến chỗ này. Ổ một khi đã phá tan thì mới bật ra một tiếng “ồ” (tả sự ngộ). Đáy thùng rơi ra, chuyển mình triệt để, quay đầu chuyển óc, chết rồi sống lại đều là cái “ồ” này. Nhưng cái chỗ này không phải chỉ có nói như thế, người xưa đã từng có những lời nói ra làm bằng chứng vững chắc. Như thế nào vậy? Ấy là: “Đầu sào trăm thước lại bước tới, thập phương thế giới hiện toàn thân”. Đầu sào trăm thước, vách núi muôn trượng đều như nhau cả, như các ông lên đến ngọn sào cao mười trượng cũng như đứng trên đầu ngọn núi đó vậy; trên đầu ngọn núi này lại bước tới một bước nữa; giống như trên đầu sào trăm thước lại bước tới một bước nữa, chết rồi sống lại cũng như thập phương thế giới hiện toàn thân thôi. Hai câu nói này có thể chứng minh công phu chúng ta đến chỗ này rồi thì về đến nhà vậy. Nhìn trở lại thì có còn con người trước chăng? Còn là cái tâm trước không? Các ông nghĩ xem: có phải là con người trước không? Đại khái người là người trước đi, nhưng tâm thì không vậy đâu. Người ta nói: “Ngộ cũng bằng như ngộ”. Nếu nói người cũng như vậy, tâm như vậy là phế bỏ nhân quả rồi! Trước khi chưa ngộ ăn ba chén cơm, ngộ rồi thì vẫn là ba chén cơm, cơm thì vẫn nhự vậy nhưng tâm trước với tâm sau khi ngộ rồi thì khác xa như trời với đất.
Từ nay về sau điều ta nói là hay lắm! E các ông lại tưởng rằng: “Có cái gì tốt đâu? Chẳng đả thất thì mới tốt! Còn như muốn chúng tôi đả hai thất nữa thì làm người ta khổ chết đi thôi! Mà lại nói là tốt chứ!”. Đúng đấy! Ta nói: Trở về sau năm là năm tốt, tháng là tháng tốt, ngày là ngày tốt, các ông còn có người biết không? Không kể các ông công phu hành đến chỗ này hay không đến chỗ này nhưng lời ta nói thì có giảng đến. Trở về sau nữa thì ta chẳng nói như vậy nữa mà lại nói khác đi. Người chưa ngộ trong số các ông, công phu chưa đến, nghe ta nói khác đi thì thấy có điểm không tương ứng, bởi vì trở về sau nữa ta sẽ không nói với loại người như các ông đâu, vậy thì làm gì có sự tương ứng được. Ta giảng với ngộ, ta chiếu cố toàn như vậy, cứ giảng đường đi cho các ông nghe mãi thì thành ra dẹp bỏ người đã ngộ rồi sao? Đối với các ông bất cứ là ta giảng đến nơi nào, mặc dù công phu các ông không dụng đến, nhưng hôm nay ta giảng đến chỗ này thì các ông tất phải hành theo, thế nào cũng phải hành đến chỗ này mới được buông tay. Nếu không hành đến chỗ này, không được cho là cái lời giảng của ta nói và cái sự hành của các ông không giống nhau mà rồi buông bỏ đi, như thế không đúng đâu! Còn cần phải hướng về phía trước mà dụng công. Nếu không lại phụ cái phen công phu khổ tâm này của mình đi thôi. Các ông hãy phát tâm. Tham đi!

KHAI THỊ Ngày 10 tháng 12 (Thất 8 ngày 5).

“Trước khi chưa ngộ việc còn ít, sau khi đã ngộ việc lại nhiều thêm”. Hai câu này câu nói trong Thiền tông, muốn tìm nát ba Tạng, mười hai bộ Kinh cũng tìm không ra.
Lời nói trong Thiền tông và Giáo môn khác nhau chỗ nào? Giáo môn thì không kể tâm hạnh các ông như thế nào mà chỉ cứ nói thẳng đi thôi. Lời nói trong Thiền tông thì lại theo tâm của ông đi đến chỗ nào thì nói chỗ ấy, cái không giống nhau là ở chỗ này.
Các ông hảy đề một câu thoại đầu mà tham cho đến u u nhã nhã, thanh thanh tịnh tịnh không biết đến có người có ta thì còn nói chi đến chuyện khác? Chỉ có câu thoại đầu chẳng có gì khác, như thế thì suốt ngày tự tự tại tại, tịch tịch tỉnh tỉnh. Các ông nghĩ xem: Có phải như vậy không? Đã ngộ rồi thì lại không như thế. Tại sao vậy? Các ông mở mắt ra nhìn một cái thì phải than lớn một tiếng, chẳng ngộ thì thôi, một khi ngộ rồi còn có nhiểu chuyện như thế: nhiều, nhiều lắm! Thí dụ như thế nào? Cũng như: một cái nhà cũ mà chúng ta đã ở ba mươi năm trước, là một căn phòng nho nhỏ, bên trong có đạc, hôm nay đã xa nhà ba mươi năm rồi chưa hề trở lại một lần nào. Bỗng nhiên, hôm nay đến nhà cũ, một chân đạp cửa mở ra, nhìn vào một cái, thấy không được rồi: khói bụi trên bàn, rêu xanh dưới đất dầy cộm! Trong nồi chuột làm tổ, cứt mèo, màng nhện v.v… trước bàn thờ Phật không biết là bao nhiêu! Nhìn thấy như thế còn có muốn nói là một căn phòng chăng? Chỗ nào cũng không ở được, mặc kệ thì không được, cần từ quét dọn từng món một. Còn may mắn là hai con mắt đã mở ra, nếu không phải là mở mắt thì làm sao biết được nhiều việc không tốt như thế? Đây là ví dụ, còn lãnh hội về cái pháp thì sao? Người chưa ngộ suốt ngày cứ ở trong sinh tử, phiền não, nghiệp chướng, vọng tưởng, chẳng có tri giác gì; dù cho biết thì chỉ là nghe người ta nói hoặc thấy được trong Kinh điển, chứ chưa tự bước chân vào chỗ thực tế; thấy được từ bên ngoài, tuy thấy mà cũng như thấy, cho nên khi họ dụng công thì có công phu thôi. Hôm nay bỗng nhiên khai ngộ thì cũng như xa căn phòng trong ngôi nhà cũ đã ba mươi năm rồi, hôm nay mới có một bước mà về nhà vậy; mở mắt ra nhìn một cái thì mới biết ra là còn có nhiều việc như thế! Mà có việc thì đương nhiên phải giải quyết từng việc một.
Cổ nhân đã có câu nói là để chứng minh cái công phu của chúng ta đến được nơi này, cổ nhân nói: “Khi chưa đến ngõ còn mặc ý, khi đến ngõ rồi việc càng nhiều”, ý nghĩa hai câu nói này thì giống như việc ta nói ngày hôm nay thôi. Đối với những ta giảng cùng các ông như thế thì thực không cần phải giảng, chẳng qua trong Thiền tông những lời nói như thế đều là viên nhân, viên chủng cả, các ông tuy công phu chưa đến mà đem cái loại viên chủng này gieo xuống thì việc gặt hái trong tương lai sẽ vô cùng tốt đẹp. Nhưng người trong số các ông nhiều như vậy thì làm sao lại không có người biết đường biết lối? Bắt gió, nắm bóng, những cái không thực mà biết được một tí, hiểu một tí thì cũng không phải là không khó. Vậy thì nhốt gió lại được, nắm bóng lại được cũng kể là việc hiếm có. Thí dụ như khi ta nói chuyện ở trong nhà, các ông tuy chưa vào nhưng nếu đứng ngay ở ngoài cổng cũng có thể nghe được vậy, giả sử có động một bước chân thì đương nhiên sẽ vào được nhà. Sợ các ông cách xa ba ngàn dặm, còn chưa đủ tư cách làm người đứng ở ngoài cổng, ngay cả đến loại này không đủ tư cách thì ông biết còn dụng được gì chăng? Người đến được chỗ này thì có cái thọ dụng này, ông đến được chỗ này rồi, tuy có lắm việc như thế, còn không được cho là nhiều; ông đến được chỗ này rồi không những không sợ nhiều mà muốn càng nhiều càng tốt nữa. Nếu sợ nhiều việc thì lại trở thành một người vác bảng thôi! Đâu còn kể được là người mắt sáng? Người mắt sáng làm việc toàn thể là sự lý viên dung. Người có sức lực xuất chúng nhất khi ngộ như thế thì sự lý không còn trụ, tâm cảnh không còn trụ, Phật cũng không trụ, Tổ lại càng không trụ. Cổ nhân có câu nói: “Đi trên đầu Phật”, trên cái ngộ này thì mới có thần thông, tuy có thần thông nhưng cũng chưa phải là toàn thông, hãy xem các ông căn nào bồi đắp được nhiều thì thông cái căn đó trước.
Nói sơ lược thì có ba loại cửa ải là Sơ Quan, Trùng Quan và Mạt Hậu Lao Quan:
(1) Giai đoạn phá Sơ Quan: Cũng gọi là phá Bản tham tức là kiến tánh. Chưa kiến tánh là mắt mù, nay kiến tánh là người mắt sáng. Đến cửa này lý thì ngộ rồi, sự thì chưa liễu. Sự tức là tập khí.
(2) Giai đoạn phá Trùng Quan: Tập khí là cấu bẩn. Ví như một phẩn lâu ngày, múc từng gáo đổ ra ngoài hết rồi rửa sạch cái thùng nhưng hôi thúi vẫn còn, nên phải cạo cho sạch, cạo sạch rồi vẫn còn hôi thúi vì hôi thúi thấm sâu vào gỗ thùng lâu ngày rồi. Nên phải bỏ luôn cả cái thùng. Tất cả phẩn và hôi thúi đều là bệnh của tâm, bệnh tâm cạo sạch rồi còn phải bỏ luôn cái tâm (vọng tâm) mới được gọi là liễu sự.
Vậy khi tâm sạch rồi, sự liễu rồi, lý cũng thông, sự cũng dung, nên nói: “Sự lý song dung, tâm cảnh vô ngại”. Đây tức là phá Trùng Quan.
(3) Giai đoạn phá Mạt Hậu Lao Quan: Phật, Tổ chẳng trụ, Niết Bàn chẳng trụ, không còn gì để trụ nữa, đến đây thì: “Trên đầu có mắt, sau não đập chùy”, tác dụng của bộ não sạch hết, dụng của Tự tánh hiện tiền, gọi là phá Mạt Hậu Lao Quan tức là cửa ải kiên cố cuối cùng. Đây là sự giải thích đứng đắn về tam quan của tổ Hoàng Long trong Thiền tông vậy.
Nếu thật người có con mắt sáng thì đương nhiên việc càng nhiều càng càng tốt. Tại sao vậy? Vì cái chỗ của người mắt sáng thấy, người khác không thấy được cho nên mới gọi là mắt sáng. Vậy thì, mắt sáng thì mũi có thể sáng được không? Tai cũng có thể sáng được không? Sáng thì tất cả đều sáng mới đúng! Lỗ tai cũng có thể thấy được vật, mắt cũng biết được thơm thối. Năng sở hỗ dung (dung thông với nhau), sự là lý, lý là sự, dụng là thể, thể là dụng, dụng cũng lại là tâm, tâm cũng lại là sự. Cầm hương bảng vào tay là tâm, tâm là hương bảng, tiểu tiện là tâm, tâm cũng là tiểu tiện. Các ông nghĩ xem: Có được cái hỗ dụng này thì còn sợ nhiều việc gì nữa? Nhưng hôm nay các ông là người dụng công phu chưa đến được chỗ này thì cần phải nhận chân tham cứu. Nói chung cần phải dụng công cho đến sau khi đại ngộ rồi thì mới kể là mục đích của các ông. Nếu chưa đến chỗ đó thì không thể buông bỏ công phu đi được. Hiện tại các ông đứng ở nơi đây, ta hỏi các ông: “Đứng ở chỗ nào?”. Các ông nhất định sẽ đáp: “Đứng ở trên gạch”. Đợi các ông đến lúc đó ta lại hỏi các ông: “Đứng ở chỗ nào?”. Các ông nhất định sẽ đáp: “Chẳng phải đứng trên gạch”. Không đứng ở trên gạch thì đứng ở chỗ nào? Hãy tham đi!

KHAI THỊ Ngày 11 tháng 12 (Thất 8 ngày thứ 6).

“Ngộ lý nhất thời, liễu sự xa xôi”, ngộ lý thì trong sát na có thể ngộ được, ngộ rồi thì thời gian liễu sự rất dài, không phải là một ngày, hai ngày mà liễu được. Nhưng ba cái cửa ải của chỗ ngộ trong Thiền tông từ thời Đường, Tống trở về trước không có chuyện Tam quan gì cả, đến thời Tống mới có Thiền sư Hoàng Long lập ra cửa ải Tam quan; Thiền tông thật không có ba cửa này: thứ nhất là Sơ Quan, thứ nhì là Trùng Quan, thứ ba là Lao Quan. Danh từ (tên) của ba cửa ải này tuy trên phương diện dụng công thì có trước sau, nhưng không phải là có thứ công phu nào đặc biệt dùng để phá Sơ Quan, phá Sơ Quan rồi cũng chẳng phải có thứ công phu đặc biệt nào để phá Trùng Quan, cũng chẳng phải phá Trùng Quan xong rồi lại có công phu đặc biệt nào để phá Lao Quan sau chót được, tất cả không phải như vậy. Cần biết là quan thì có ba lớp, sâu cạn chẳng đồng, mà công phu thì chỉ có một câu thoại đầu, sâu cạn là do lực lượng câu thoại đầu lớn hay nhỏ. Tỷ như bắn tên, người lực lượng nhỏ bắn phát tên qua được một mặt trống, người lực lượng mạnh hơn chút ít, một phát tên bắn qua hai mặt trống, người có lực lượng đặc biệt, lực lượng siêu quần xuất chúng thì một phát tên bắn qua được ba mặt trống, tức là lý lẽ này. Phật Thích Ca lực lượng to lớn nhất, một phát tên bắn qua được chín mặt trống. Ba cái mặt trống này cũng giống như ba cái quan ải, dụng công thì tựa như bắn tên vậy. Đối với cái công phu Tam quan này của Thiền tông thì cách thức dụng công như thế nào? Cửa ải làm sao phá? Phá đến cửa nào thì có cảnh giới gì? Tất cần phải nói rõ ràng cho các ông nghe. Nhưng thân tâm ta thật tiếc cho các ông trong thời kỳ đả thất chẳng có người nào công phu được chút tiến bộ sâu xa nào, chẳng từng có được người nào công phu khai được tiểu ngộ, đó là điều ta thật tiếc vô cùng! Ví như nếu trên công phu giống như trên song cửa sổ có một lớp giấy, như mặt trời chiếu qua giấy, tuy cách một lớp giấy nhưng ánh sáng còn có thể chiếu qua được, có được một người như thế thì cũng tốt. Tuy tiếc lắm nhưng ta không thể không vì các ông mà giảng đến. Các ông chỉ cần tham một câu thoại đầu đến khi công phu cùng cực, cái hôm trước ta đã nói qua, cái “chết rồi sống lại” đó, người tương đối có lực lượng hễ ngộ thì phá được bản tham. Nhưng cái ngộ cho là kiến tánh; sinh tử thì cũng cho họ biết sinh từ đâu đến, chết đi về đâu. Tuy tánh thì kiến rồi, nhưng cấu bẩn thì chưa trừ, sinh tử thì cho các ông biết nhưng sự thì chưa liễu. Người có lực lượng lớn một chút thì từ cái ngộ này tánh cũng kiến rồi, tâm cũng minh rồi, lý cũng liễu rồi, sự cũng liễu rồi, tâm cảnh đều quên, cứ như thế mà lần lượt phá ba cửa ải. Chúng ta người hành giả tham thiền thứ nhất cần phải có chánh tri kiến, sinh lòng tin chân chính, một câu thoại đầu lấy ngộ tâm làm kỳ hạn. Các ông hãy phát tâm tham đi!

KHAI THỊ Ngày 12 tháng 12 (Thất 8 ngày thứ 7).

Người chưa khai ngộ cử tâm động niệm đều là vọng tưởng, khai ngộ rồi cử tâm động niệm đều là chân như. Người phá Bản tham rồi đương nhiên là rõ ràng thôi; muốn vì những người các ông công phu chưa đến mà phân biệt rõ rệt một chút, nếu không thì sợ các ông đều lẫn lộn: chúng tôi khi chưa ngộ, cứ vọng tưởng động là một tướng, nổi vọng tưởng Nam Kinh thì tướng Nam Kinh hiện ra ngay, lại nổi vọng tưởng Thượng Hải thì tướng Nam Kinh diệt liền và rồi tướng Thượng Hải theo đó mà hiện ra. Theo đấy suy ra, tướng này sinh tướng kia diệt, tướng này diệt tướng kia sinh, cái kia sinh cái này diệt không bao giờ tạm dừng, ấy là vọng tưởng. Nếu các ông trong lúc vọng tưởng không dừng mà đề lên câu thoại đầu, khi đã đề lên, nghi tình hiện tiền thì tất vọng tưởng tự nhiên bị quét sạch. Vì nghi tình vốn vô tướng và tâm của con người chỉ có một cái, cho nên hễ khởi lên cái vô tướng của nghi tình thì cái hữu tướng của vọng tưởng liền tiêu diệt. Dụng công dần dần sẽ đến cái vô tướng thuần nhất, cái công phu thuần nhất này sẽ tự phá Bản tham. Phá Bản tham rồi tức là vô tướng thuần nhất vậy, sẽ không còn có tí hình bóng vọng tưởng nào cả. Phá Bản tham rồi muốn tìm một chút vọng tưởng cũng không có! Công phu đến bước này thì cử tâm động niệm đều ở trên cái công phu vô tướng này, ăn cơm cũng không rời, mặc áo cũng không bớt một chút, dù cho có nhiều việc khác nữa thì công phu này cũng không bớt giảm; ở nơi này mà lập nên một danh từ gọi là “Chân như”. Hai chữ Chân như mà đối với vọng tưởng mà nói, vì rời vọng tưởng rồi mới nói đến Chân như; không đặt cái danh từ này thì làm sao nói? Tuy miễn cưỡng gọi nó là Chân như, Bản lai diện mục của Chân như đâu phải như vậy? Cứu kính ra sao? Muốn các ông phải tự mình dụng công phu đến chỗ này thì tự mình sẽ biết được; cứ nghe lời ta nói thôi là vô dụng, không những vô dụng, mà dù cho ta nói ra, các ông cũng không tin nữa. Tại sao vậy?
Trước kia có một học giả muốn ta đem Chân như ra giảng cho ông ta nghe, ta nói: “Giảng cho ông nghe, ông có tin chăng?”, ông ta nói: “Tôi tin”. Ông đã tin rồi ta nói cho ông nghe: “Trên đầu Chân như có bốn sừng, trước hai sau hai, có hai cái đuôi, một cái trên mông một cái trên bụng, ông tin chăng?”. Ông ta nói: “Không đúng, đâu có lý như thế? Chân như đâu lại có sừng có đuôi? Dù cho có sừng thì đâu có đến bốn cái, phía trước có mà phía sau lại có nữa? Ở mông có đuôi mà trước bụng lại có đuôi nữa. Há có lý này sao? Tôi không tin”. Ta nói: “Cái này là Chân như thiệt; cái Chân như này ông không tin thì ta nói một cái giả cho ông nghe: Chân như dựng khắp tam tế, ngang khắp mười phương, ở chư Phật không tăng, ở chúng sinh không giảm, vô tịnh, vô nhiễm”. Ông ta nghe rồi nói: “Cái này đại khái là đúng, bảo tôi thì còn được!”. Các ông nghĩ xem: Ta nói chân thật, ông ta không tin, ta nói giả, ông ta lại tin. Hôm nay ta giảng cho các ông nghe, các ông có người nào tin chăng? Các ông không tin rồi! Chung quy phá Bản tham rồi là không còn vọng tưởng. Không có vọng tưởng tức là không có tất cả niệm sinh diệt, niệm có sinh diệt thì có tướng, có tướng thì Diêm Vương có thể bắt được, bắt biến thành trâu thành ngựa thì cũng nghe theo lệnh của ông ta thôi. Chúng ta không có vọng tưởng thì không có tướng, vậy thì Diêm Vương bắt cái gì? Cho nên người phá Bản tham thì nhất định dứt sinh tử; người phá Trùng Quan nhất định không có mộng tưởng, ngủ nghỉ thì vẫn là ngủ nghỉ, chiêm bao thì không có. Tưởng có người nói: “Người khai ngộ của Thiền tông còn có hôn trầm”. Kỳ thực họ chẳng biết Thiền tông cần phải đạt đến một mức nào đó thì mới không có hôn trầm. Vậy cần phải biết người phá Trùng Quan không có mộng tưởng thì còn có cái gì? Phải biết mộng tưởng từ đâu mà ra? Dù cho các ông mộng như thế nào thì cũng không ra khỏi sự tướng thế gian. Người phá Trùng Quan thì lý sự đều liễu, tâm cảnh song dung thì chỗ nào còn thế gian sự? Cho nên người phá Trùng Quan quyết định không có mộng tưởng, có tướng để Diêm Vương thấy được là có sinh tử. Có Chân như thì Diêm Vương không thấy được, mặc dù Diêm Vương không thấy được nhưng Phật Thích Ca thấy được, Phật Thích Ca còn thấy thì có Niết bàn; liễu sinh tử còn phải liễu được Niết bàn. Người phá Lao Quan sau chót thì hôn vọng đều trừ, mộng tưởng diệt sạch; đến chỗ này rồi người ấy không còn hôn trầm, họ đến chỗ này thì sinh tử không còn, Niết bàn cũng không trụ. Nói nhất chân pháp giới thì ngay cái nhất chân pháp giới cũng phải vượt qua. Lại nữa, phá Bản tham là kiến Pháp thân, phá Trùng Quan là chứng Pháp thân. Tại sao nói kiến? Tại sao nói chứng vậy? Thí dụ như thiền đường: người kiến Pháp thân như đứng ở cửa thiền đường, việc trong thiền đường đều thấy được rõ ràng cả nhưng chưa bước vào. Chứng Pháp thân là bước vào thiền đường. Thấu Pháp thân là đi thẳng vào trong khám Duy Ma Cật mà ngồi. Cho nên nói phá bản tham kiến Pháp thân, phá Trùng Quan chứng Pháp thân, phá Lao Quan thấu Pháp thân. Tất cả pháp môn khác công phu cùng tột chỉ có thể đến chỗ chứng Pháp thân thôi, duy có Thiền tông cần phải tiến thêm một bước thấu qua Pháp thân thì mới đúng việc của Thiền tông.
Những lời nói của ta đối với các ông lúc này dù chẳng có ý nghĩa gì cả, bất quá ta giảng như thế các ông dùng tai nghe qua nhưng cũng có thể nói là: “Một khi đã vào tai thì vĩnh viễn là hạt giống đạo”. Có được cái hạt giống này thì tương lai nhất định sẽ được nảy mầm, nảy mầm thì sẽ có kết quả.
Phật dạy: “Nhân nào quả nấy”. Hãy tham đi!

KHAI THỊ Ngày 15 tháng 12 (Thất 9 ngày thứ 3).

“Ta thấy người khác chết, lòng ta nóng như lửa; không phải nóng người khác, nóng sẽ đến phiên ta!”. Đây là lời nói người xưa. Hôm nay sư Đô Giám trong chùa bệnh chưa đầy một ngày mà chết làm mọi người rất thương tiếc! Ông ấy đã làm việc trong chùa mười mấy năm, trước mắt ta không hề sai phạm tí gì. Người khác tuy cũng có được hành trì như thế nhưng cũng có khi không đúng pháp; duy có ông ấy mới được kể hoàn toàn! Ở đây người ta gán cho ta cái biệt hiệu là: “Đối với thanh chúng như Bồ Tát, đối với chức sự như La Sát”. Hai câu này ta cũng thừa nhận là không sai. Nhưng cái khổ tâm của ta sợ mọi người khó biết được! Thật sự cái lập trường của ta đối với thanh chúng và chức sự trong chùa chẳng phải là ý riêng của ta mà là cách đối xử của người xưa. Tỷ như một cái thùng nước bị chảy, chỗ hở thật to thì đương nhiên không đựng nước được lại chẳng bao lâu rồi sẽ vỡ luôn. Ta hỏi các ông: có cách nào làm cho thùng nước khỏi vỡ chăng? Mà còn đựng nước được? Các ông nghĩ xem có cách nào không? Nếu không vượt qua hoặc bằng với cách đối xử của ta thì không được nói cách của ta là không phải. Cách của ta là: “Niêm vòng cho chặt lại”. Cách của các ông có hơn được cách nêm vòng cho chặt lại của ta không? Đừng nói là bọc ván vỏ thùng, bọc đáy thùng hay lấy bùn trét lại phỏng có được không? Có hơn cách nêm vòng cho chặt của ta không? Nếu thùng lại chảy nữa thì nêm vòng thêm một lần thì tự nhiên sẽ thành một cái thùng tốt lại còn đựng nước được! Phải biết là: búa đập lên đục, đục đập lên vòng nêm thì đương nhiên vòng bị thiệt thòi, nhưng thùng thì được thành tựu hoàn hảo. Đây là lý lẽ nhất định: ta ác, ta độc thì cứ mặc kệ cho ta ác ta độc đi! Nếu mà các ông ác thì không được đâu! Tại sao vậy? Cái ác của các ông không phải như cái ác của ta. Các ông là tạo ác nhân, hoặc phá giới, hoặc phá nhà chùa; cái ác nhân các ông tạo ra về sau phải đọa địa ngục. Cái ác của ta là không cho các ông tạo ác nhân, tương lai sẽ không thọ lấy ác quả địa ngục, cho nên hãy cầu cho ta ác, ta ác là việc tốt, các ông ác là việc không tốt. Tại sao hôm nay ta lại nói cái chỗ tốt của vị sư Đô Giám này? Vị sư ấy đã làm việc với ta hơn mười năm, việc cần thiết gì của nhà chùa sư không hề có tí lầm lỗi nào; vẽ một cái vòng, bảo sư đứng vào trong, sư cũng chẳng sai phạm lấy một tí một ly nào, việc thu tô đất ruộng của nhà chùa không được tốt, hễ sư cứ đi là xong, cho có xa nữa thì cũng lo xong tốt đẹp như thế. Ta có ngầm điều tra sư, thấy sư chẳng có tí thói xấu nào, sư không hề hút thuốc, đánh bạc. Có nhiều người rời nhà chùa cứ cho là trong nhà không biết, thuốc cũng hút, bài cũng đánh, như thế thì lúc xuống địa ngục có hối thì cũng đã muộn rồi! Cứ cho là ta không biết, thế còn lẽ nào ta lại không biết chăng? Dù ta không biết được đi thì cái nhân quả còn trốn lánh được không? Cho nên vị sư Đô Giám này ta phải ca tụng là một người tốt. Người tốt là người làm trọn vẹn lúc bình thường. Muốn ta gọi các ông là người tốt thì không dễ đâu! Hôm nay sư bệnh được nửa ngày thì chết, trong lòng ta rất thương tiếc! Loại người này, ta hôm nay tán thán, người đã vì các ông làm việc, ta hy vọng đời sau sẽ còn cộng tác với ta mới tốt! Nhưng thọ mệnh vô thường! Các sư phải biết là người nào phận nấy. Các ông hãy phát tâm tham đi!

KHAI THỊ Ngày 16 tháng 12 (Thất 9 ngày thứ tư).

Trong chúng ta thật rất nhiều người chẳng biết xuất gia vì việc gì, cần phải làm việc gì. Phải hiểu được là: việc của chúng ta thì nhiều lắm, một là phải bố thí, hai phải trì giới, ba phải nhẫn nhục, bốn phải tinh tấn, năm phải thiền định, sáu phải trí tuệ. Lại còn từ bi, hỷ xả v.v… (giảng ý nghĩa lục độ lược bỏ).

KHAI THỊ Ngày 17 tháng 12 (Thất 9 ngày thứ năm).

“Tâm thường chiếu soi đạo lý, niệm niệm đều khế hợp chân thường”. Người ngộ rồi thì tất cả động tác đều hợp lý. Người chưa ngộ nhất định làm không đến được, bởi vì họ chưa ngộ tức là tâm địa chưa minh, lý đương nhiên không thể đạt đến được hoàn toàn. Người chưa ngộ cho mình là mình, lấy người là người. Người ngộ rồi thì không thế, lấy mình làm người, lấy người thiên hạ làm mình, vì thế không giống nhau. Các ông hãy nghĩ xem: Lấy ta làm ta thì đương nhiên trước hết chỗ nào cũng đến ta, mặc áo ăn cơm trước hết phải có ta; đương cũng muốn có được mặc áo tốt, ăn uống được ngon; cái gì trước hết cũng phải có ta rồi sau mới đến người. Người ngộ rồi không như vậy, họ tương phản triệt để, mặc áo thì trước hết muốn người mặc, ông không có quần thì họ có thể không lo cho họ mà cởi của họ cho ông mặc; không có áo, họ cũng cởi cho ông; ăn thì cũng muốn người ăn trước cho no, còn mình thì đói, chẳng gấp gáp tí nào. Vì sao vậy? Vì họ ngộ rồi, tâm của họ không giống như tâm ông, tâm của họ là tâm Bồ Tát, người chưa ngộ là tâm phàm phu. Cho nên kẻ phàm phu, người Bồ Tát, trên trời dưới đất sai khác nhau, ấy là do ngộ với chưa ngộ. Nhưng Bồ Tát và phàm phu không giống nhau chỗ nào? Ta nói một thí dụ thì các ông sẽ dễ hiểu. Thí dụ như người nấu cơm là Bồ Tát, người đun bếp là phàm phu; Bồ Tát và phàm phu cùng lo chung một việc, cùng ở một liều, chỗ hành của họ đương nhiên không giống nhau, phàm phu thì muốn sướng một chút, làm việc thì muốn làm bớt đi một ít, chỗ nào thì cũng muốn chiếm lấy tiện nghi, họ chẳng cần để ý đến người khác có động phiền não hay không, động niệm hay không động niệm, tổn phúc hay không tổn phúc, họ chẳng hỏi đến. Bồ Tát không như thế, việc chịu khổ thì tự mình đi làm, nhường cho người phần tiện nghi, ông sung sướng thì họ mới có khổ để chịu, rất sợ người khác động niệm, động phiền não, thà để tự mình tổn phúc. Cũng như người nấu cơm đến lúc nấu muốn người đun bếp nhóm lửa, khi ấy người đun bếp lại đi nói chuyện với người khác, người nấu cơm tính muốn tự mình nhóm lửa thì không kịp mà không dám kêu người đun bếp về, chẳng thà chắp tay lạy người khác nhóm hộ, chứ không chịu để người đun bếp bị động niệm, sợ người ấy không vui. Người đun bếp về thấy đã có người nhóm lửa hộ rồi mà không nói cám ơn, người nấu cơm còn phải an ủi người đun bếp, nói những lời dễ nghe cho người ấy vui. Các ông nghĩ xem: Bồ Tát làm như thế đó, không dám như kẻ phàm phu đâu! Hiện nay chúng ta đều là phàm phu, chưa có vị nào là Bồ Tát, muốn học làm Bồ Tát cũng có thể học cái hạnh của người nấu cơm này.
Năm Tuyên Thống thứ 2 (1910), chúng tôi ba người đều là người bị thỉnh làm Ban Thủ nhưng không làm, mà phát tâm làm việc khổ trong bếp để đền ơn nhà chùa cho nên xin làm chức hành đơn (lo việc bếp núc). Tôi là Tây đơn ba (lo cơm nước), hai vị kia là Tây đơn nhất (lo thức ăn) và Tây đơn nhì (lo việc củi lửa). Chúng tôi khi mới phát tâm làm khổ hạnh, ba người có hẹn với nhau rằng: “Chúng ta đều là người không nhận chức Ban Thủ, nay làm trong nhà bếp không để xảy ra sự rầy ra than vãn gì. Đừng nói đến việc phải sang khách đường (tư pháp của nhà chùa) để cho người ta xử, nói một câu lớn tiếng để khách đường biết đã là không phải rồi”. Hai người kia đều tán thành. Vào kỳ truyền giới, năm trước có ba người nấu cơm, năm ấy thì chỉ có một mình ta. Năm trước ở đại liêu (nhà bếp lớn) có bốn cái lu lớn để đựng cơm thừa cháo thừa, đến ta thì chẳng còn cái lu nào. Một hôm Tăng lên đến hai trăm người đều là những người đến thọ giới Tỳ Kheo. Một hôm nọ, thúng của ta không đủ dùng bèn đi đến người làm rau mượn, anh ta không chịu, ta mượn đi mượn lại đến ba lần mà anh ta cũng không cho. Vừa khi anh ta có việc đi ra ngoài, ta nhân lúc cần phải nấu cơm bất đắc dĩ mới lấy thúng của anh ta vo gạo, còn chưa vo được thì anh ta trở lại nắm vạt áo của ta giật mà nói: “Chúng ta xuống khách đường đi!”. Ta không chịu đi, anh ta cứ lôi mà không nhúc nhích, ta hướng về anh ta rập đầu nói: “Đồng tham! Đồng tham! Đừng xuống khách đường. Chúng ta khi ra khỏi thiền đường đã có hẹn là không bao giờ xuống khách đường để người ta cười chúng ta”, lại rập đầu thêm ba cái nữa, anh ta mới thả ta ra. Một ngày sau anh ta đắp y mang tọa cụ đến liêu phòng ta cầu sám hối. Các ông nghĩ xem: muốn thành Bồ Tát đạo có phải hành cái nhẫn nhục chăng? Các ông hãy phát tâm! Tham đi!

KHAI THỊ Ngày 18 tháng 12 (thất 9 ngày thứ sáu).

Người chưa ngộ so với người đã đại ngộ thì tiền đồ khác nhau. Nay nói sơ qua cho các ông nghe, nếu không thì mơ hồ không dễ gì phân biệt. Người chưa ngộ thì mắt chưa mở, như người mù vậy. Các ông thử nghĩ: người có tốt gì đâu? Một chân đạp cứt chó, lấy tay mò lấy còn cho là đồ tốt hay đồ ăn ngon. Trái lại đem một chén cơm lại cho anh ta, anh ta lại sợ các ông trêu chọc, nghi ngờ trong cơm có đồ không sạch. Đưa anh ta vào nhà tiêu, anh ta lại cho là rất tốt, ngồi cũng tiện, đứng lên đưa tay ra thì đều có chỗ tựa, đại tiểu tiện đều tiện lợi, thật là tốt. Đưa anh ta lên chánh điện, anh ta lại nói: “Không đúng!” Bốn bề không chỗ dựa, không biết là nơi nào cả. Lại còn cho đó là chỗ đồng trống, chẳng có chỗ để nương tựa vào. “Không tốt! Không tốt! Hãy tìm cho tôi một chỗ tốt để thân đi!”. Các ông nghĩ xem có đáng tiếc không! Có khổ não không? Đem đồ ngon cho anh ta lại sợ là không sạch, để ở chỗ tốt anh ta lại chê là đồng trống. Vì sao? Vì là người không biết được tốt xấu; ấy là điều khổ não thứ nhất của người chưa khai ngộ.
Lại nữa, đến không biết từ đâu đến, đi không biết đi về đâu, việc này là cho nó là không quan trọng, không nói đến nó. Nhưng hiện tiền cái sắc thân này hôm nay chẳng biết việc ngày mai, muốn lo việc yên ổn trong tương lai thì không làm được. Xác thân này sẽ đến nơi nào cũng không làm chủ được. Sau khi chết lại mịt mù không biết chỗ về. Các ông thử nghĩ: Chết rồi đi về đâu, các ông còn biết chăng? Lên thiên đường cũng không biết, xuống địa ngục cũng chẳng hay, biến trâu biến ngựa cho đến biến cái gì cũng không biết, đó là cái khổ não thứ nhì của người chưa khai ngộ. Nói sơ hai loại này, nói thêm nhiều thì không đủ thì giờ. Các ông nghĩ xem: hai cái khổ não này cũng đủ cho các ông chịu khổ rồi! Nếu không tự ngộ thì ai sẽ giúp mình mở mắt ra đây!
Không khai ngộ thì giống như kẻ mù sau trước đều chẳng có chỗ đi. Nguời đã khai ngộ thì khác, lúc ngộ mới biết: “Trước kia ta là người mù mà chẳng biết mình là người mù, hôm nay mới hiểu ra được. Ta đã biết rồi, mở mắt ra nhìn mọi người đều là người mù tối thì ôi quả đáng sợ!”. Các ông nghĩ xem: Người ấy một khi đã mở mắt rồi thì đâu còn chịu ở trong cầu tiêu nữa? Cứt trâu phân chó đâu còn không biết sao? Đến lúc này thì về có đường, đi có chân chẳng phải như lúc mịt mù không biết chỗ về. Nay thấy chúng sinh vẫn là kẻ mù trong biển khổ, bản thân mình đã từng như thế, cho nên mới phát đại tâm cứu độ cho họ. Đến lúc này mới biết thương tiếc và quý cái sắc thân này.
Đối với các ông nay đang dụng công phu mà chưa ngộ thì cho cái thân này là đồ gì? Là “đồ hôi thúi! Đau thì cứ cho nó đau, đói nó lạnh ấm không có gì quan trọng, hư hoại thì cho nó hư hoại, cùng lắm là đổi một thân khác cũng được. Muốn ta buông bỏ công phu để săn sóc cái thân này thì không thể được!”. Vậy mà tại sao ở trên nói đến lúc ngộ còn muốn thương tiếc thân thể, quý trọng thân thể? Vì muốn thân thể này vun trồng cái vạn đức trang nghiêm của chúng ta, cần phải thực hành cái lục độ vạn hạnh của chúng ta. Vì chúng sinh khổ, ông muốn cứu họ, ông không hành cái hạnh Bồ Tát thì làm sao cứu được họ? Không kết duyên với họ thì đâu tin ông hành động Bồ Tát? Kết duyên với chúng sinh có dễ được chăng? Tỷ như: Người đã ngộ rồi hành đạo Bồ Tát, đi đến một nơi kia thấy một người nữ bèn nói: “Chị hai, chị niệm Phật không”. Người nữ ấy quày đầu trở lại nhìn và nói: “Cái ông thầy chùa xấu này, ai là chị hai của ông? Ông còn gọi tôi nữa tôi sẽ cho một trận!”. Người hành đạo Bồ Tát nói: “Tốt! Mời chị đánh cho, mà xin đánh cho mạnh một tí, đánh mỏi tay thì xin nghỉ mệt rồi hãy đánh nữa!” . Bị cô ta đánh cho một trận rồi mừng rỡ mà đi, lại đến một nơi khác hành đạo Bồ Tát. Tóm lại suốt ngày bị ba người đánh, năm người mắng đó là việc tốt, là có lời. Giả sử suốt ngày không ai đánh, không ai mắng là không tốt rồi, là lỗ vốn rồi! Hành đạo Bồ Tát phải như thế, nếu không như thế làm sao kết duyên với chúng sinh? Nếu không có duyên với chúng sinh thì muốn độ họ cũng không được? Điều này chẳng phải ta đặt ra, lúc đức Phật còn tại thế, chúng sinh vô duyên, Ngài cũng chẳng độ được nữa huống là Bồ Tát? Lúc Phật còn tại thế có chúng sinh ở quốc độ nọ, Phật ở nhân địa lâu nay chưa kết duyên với họ, Phật ở trên trời, họ ở dưới đất, Phật xuống đất họ lại xuống nước, chung qui chẳng có lúc nào họ gặp được Phật. Phật ra đời độ chúng sinh cũng chẳng độ được họ, Phật đi đến quốc độ họ, họ cũng chẳng chịu biết đến Phật. Nhưng mà Tôn giả Ca Diếp trong kiếp xưa lúc làm tiều phu thì họ làm ong. Tôn giả đã từng đứng trước ổ ong niệm Phật một tiếng, nên với họ có chút duyên ấy, cho nên Phật bảo Tôn giả Ca Diếp đi độ họ, bấy giờ họ mới được thọ pháp. Mọi người các ông hãy nghĩ: Kết duyên với chúng sinh có phải là việc rất cần chăng? Hãy tham đi!

KHAI THỊ Ngày 20 tháng 12 (Thất 10 ngày đầu).

Chánh pháp của Phật rất khó gặp. Chúng ta là chúng sinh khổ não, nay có thiện căn được thọ làm thân người, lại phát chút đạo tâm tin tưởng đạo pháp chăm lo tu đạo, như thế ắt có sự vun trồng, bồi đắp từ nhiều kiếp rồi, nếu không thì quyết chẳng thế nào đến được nơi này. Nhưng thiện căn tuy có mà cảm không được chánh pháp, lại nhầm lẫn nhận lấy những pháp ngoại đạo, ta thấy khổ lắm! Thật chẳng bằng một người không tu tâm. Tại sao vậy? Người không tu tâm, hiện tại tuy không tu, tương lai một khi gặp cơ duyên cảm thọ chánh pháp, lại có thể phát tâm tu hành thì nhanh chóng có thể chứng quả. Một số ngoại đạo kia tuy cũng có dụng công, cái dụng của họ là tinh, khí, thần; tu là tu tiên đạo như: Địa hành tiên, Phi hành tiên, Không hành tiên, Thiên hành tiên, Tuyệt hành tiên v.v… có mười loại tiên. Trong đó hai thứ Cửu công đạo, Tiên thiên đạo là có thể gần với Thiên đạo, cảm quả tuy được Thiên đạo, nhưng họ cầu thọ chứ không cầu lạc; ấy là ở trời mà bỏ trời, không giống tám thứ tiên kia. Cho đến khi tu thành rồi, nơi ở là trong động Thất Kim Sơn là vùng núi non không người đến, thọ được mười vạn năm. Tại sao lại ở nơi này vậy? Bởi vì, cái tu được họ không cho mọi người biết, sợ ở chung một chỗ với người, truyền đạo thì lại cứ một thầy một trò, không có người thứ ba, ấy là tại không truyền đạo, họ dụng công chỉ là một mình họ mà không cùng tu với người khác, vì vậy tu thành công rồi mà vẫn còn người sống một mình trong Thất Kim Sơn. Hai thứ đạo này tại sao lại tu thành công gần với trời vậy? Khi họ tu nhân thì có tâm lợi người, có tâm làm công đức nhưng chỉ cầu được trường thọ mà dứt dục, vì vậy tu thành công so với cõi trời dục giới cùng thọ mà không cùng vui. Kết quả của họ trong Thất Kim Sơn trên trời lục đạo, thọ mệnh nếu hết vẫn phải đọa lạc và cũng có thể xuống địa ngục. Tại sao vậy? Vì họ chỉ tin đạo họ tốt mà không tin đạo khác. Bảo họ tin Tam bảo họ không những không tin mà lại còn muốn hủy báng, vì nếu họ không báng Tam bảo thì họ không đứng vững được, cho nên họ gieo cái nhân hủy báng này tương lai nhất định chịu lấy quả báo. Những người như thế kiếp xưa gieo nhân tốt, kiếp này không gặp chánh pháp, lại lầm nhận đủ thứ tà kiến thì tương lai sẽ cảm quả không tốt. Ta thật thương tiếc cho họ đến chảy nước mắt. Tu tâm như thế không bằng chẳng tu. Quý thầy hôm nay ở đây tham Tối thượng thừa thiền, tu chánh pháp của thập phương chư Phật, hành tâm hạnh của thập phương chư Phật. Chẳng cầu khai ngộ cứ hành như thế này, cái chánh phạm chánh nhân này rất quý, dùng miệng ta tán thán cũng không hết được! (Tiếp theo là giảng một công án về giáo hóa ngoại đạo đã có ghi trong Tự Hành Lục của Ngài nên lược bỏ).

KHAI THỊ Ngày 21 tháng 12 (Thất 10 ngày thứ nhì).

Thất đã đả được chín kỳ rồi. Việc này trong Thiền tông nói ra rất khó, lại không có tướng để thấy được, không hình để biểu lộ được; việc thế gian thì có tướng để thấy, có hình để khảo sát thì tự nhiên dễ làm.
Nhưng nói việc thế gian dễ cũng chẳng phải dễ, các ông xem: người học làm thợ mộc phải học ba năm, năm năm mới thành, lại học thành rồi có khi còn không ai mướn. Lại nữa học làm thợ mộc nhất định phải cầm búa không được cầm kéo, học thợ may thì nhất định phải cầm kéo không được cầm búa. Lại học thợ may cũng phải học đến ba năm, nếu không cũng học không tốt, ấy cũng là việc khó vậy!
Các ông xem việc của Thiền tông mới thực là dễ dàng! Thấy là thiền, không thấy cũng là thiền, nắm được là thiền, không nắm được cũng là thiền, chân bước tới là thiền, bước lui cũng là thiền. bất cứ dụng công hay chẳng dụng công đều là thiền, thiện niệm ác niệm đều không rời thiền.
Như nói ăn cơm mặc áo là việc rất dễ, nhưng tham thiền so với mặc áo ăn cơm còn dễ hơn nhiều. Hễ cứ tiếp xúc chỗ nào thì chỗ đó là thiền! Chỉ trong khoảng một khảy móng tay là đã dư thời gian để ngộ rồi! Từ nghi đến ngộ không cách đến bề dày của một tờ giấy thì làm sao nói xa? Các ông nghĩ xem: Cái việc dễ như vậy mà các ông lại xem nó là việc khó. Việc này các ông chỉ cần ngay đó thừa đương là được!
Cũng như cầm búa cũng có thể làm thợ may, cầm kéo cũng có thể làm thợ mộc được, thế thì dễ biết bao! Giản tiện biết bao! Nhưng các ông trái lại cứ cho nó là việc khó quá sức, rồi lại lấy việc khó của thế gian mà cho là việc dễ.
Thường thường có người cống cao chẳng chịu việc thực hành của họ, cứ cho người nào cũng chẳng bằng mình, ta so với người đều giỏi hơn; loại người như thế không thể được xem là người trong Thiền tông đâu! Nếu muốn là người chân thật trong Thiền tông thì họ tuyệt không được lấy việc đánh chuông bảng cho hay, đánh hương bảng cho giỏi mà cho là người trong Thiền tông đâu! Như thế là làm sai lạc rồi! Thế lấy gì làm việc trong Thiền tông?
Đối với người căn cơ trung đẳng mà nói, thì trước tiên từ chỗ không biết dụng câu thoại đầu mà nói, thí dụ như: Câu thoại đầu chẳng biết dụng thì cách dụng như thế nào? Đến khi biết dụng rồi thì cách dụng như thế nào? Dụng quen rồi thì cách dụng như thế nào? Cho đến công phu đắc lực, bắt đầu chuyển vào giai đoạn thâm sâu thì cách dụng như thế nào? Tóm lại tất cả các giai đoạn dụng công kể trên đều phải minh bạch rõ ràng.
Đối với người căn cơ thượng đẳng thì từ địa vị phàm phu phải làm việc gì, đến địa vị bậc Thánh phải làm việc gì, chưa ngộ phải làm việc gì, ngộ rồi phải làm việc gì, cũng đều phải thật rõ ràng thì mới kể là người trong Thiền tông được.
Thuở trước ta làm thanh chúng thấy có nhiều người “làm đầu bỏ đuôi”, nói chuyện với nhau phê bình: Ban Thủ này quy củ không thuộc, Ban Thủ kia giảng khai thị không hay, lại còn dây dưa lề mề, Duy Na là người sơ tham, khinh khi người ta đủ thứ, họ tự cho mình hơn hẳn người khác. Đến khi nhà mời họ nhận chức sự thì họ làm rối bời lộn xộn, suốt ngày làm người ta phải phì cười. Ta thấy nhiều lắm! Cái loại người này có còn được xem là nhân tài của Thiền tông không? Đại khái các ông cũng còn khá nhiều người có cái tâm lý này. Loại người này ta xin hỏi: các ông khinh rẻ người ta, các ông biết hai chữ “cảnh sách” của hương bảng lớn như thế nào chăng? Cái bình trà phải cầm như thế nào chăng? Các ông còn biết chăng? Những việc này mặc dù chẳng phải chánh hạnh của Thiền tông cũng là pháp trợ đạo của Thiền tông. Tại sao vậy? Đánh hương bảng được hay, người bị đánh ngay đó liền khai ngộ. Cái cách cầm bình trà người ta nhìn thấy cũng được ngộ. Mắt thấy, tai nghe, thân xúc chạm đều là nhân duyên ngộ đạo. Xưa kia Linh Vân thấy hoa đào nở mà ngộ đạo, Hương Nghiêm nghe tiếng trúc mà ngộ đạo. Những phép tắc lớn nhỏ trong Thiền tông còn có thể điểm nào qua quýt chăng? Ngày trước ta ở chùa Thiên Đồng là Duy Na, trong Thiền đường có một hai người “làm đầu bỏ đuôi”, sớm đã nghe họ nói: “Ồ thiền đường có gì hay đâu? Lời Ban Thủ giảng không hay, quy củ Duy Na lại không thuôc, thực là làm hỏng việc của người ta! Vậy những phép tắc này có cần phải học nữa không? Chỉ là việc không đáng kể!”. Ta biết họ có lòng dạ này. Ta hỏi họ: “Còn thích ở thiền đường không?”. Họ nói: “Tôi thích ở”. Ta nói: “Quy củ ông còn giữ được không?”. Họ nói: “Giữ được!”. Ta nói: “Tốt lắm!”. Hôm ấy lúc đánh hương bảng vào giờ ngọ để khai tịnh uống trà, chén trà đưa vào tay họ, họ nhìn qua hai bên, ta bèn đến đánh cho một trận hương bảng mà chẳng nói một lời với họ. Ấm trà đến rồi họ cũng không biết làm sao nhận trà, ta lại đập thêm một trận hương bảng nữa; uống trà thì gục đầu xuống uống, ta lại cho thêm một trận hương bảng; uống xong một tuần trà đánh được năm, sáu chục hương bảng. Ta quay đầu lại hỏi: “Ông còn thích ăn thêm hương bảng nữa không?”. Họ vô cùng hổ thẹn nói: “Xin Duy Na từ bi cho, nhờ trận hương bảng này của thầy, tôi mới thấy được chỗ thâm sâu của thiền đường, tôi mới thấy được về lúc trước là không đúng; từ nay về sau phép tắc lớn nhỏ gì tôi cũng phải thành thực mà học lấy”. Các ông nghĩ: Loại người này có đáng thương hay không? Họ đã chịu lấy một phen thống khổ này của ta thì mới biết được chỗ đáng quý của thiền đường, mới từ bỏ cái bụng trống rỗng mà kiêu căng ấy của họ đi: quả là một kẻ đại khổ não! Vì sao họ như thế? Phải biết là: Người mới phát tâm ở thiền đường nếu không bỏ cái “ngã kiến” đi thì đều có tâm này; cũng không có gì lạ họ cả, hoàn toàn không phải chỉ có người đó mới là như vậy, tôi xưa kia mới vào thiền đường cũng thấy nhiều người như thế.
Ta thọ giới rồi vào thiền đường, tự mình cứ cho là ở thiền đường nhất định phải liễu sinh thoát tử mới ra khỏi cổng thiền đường. Không ngờ tới chốn thiền đường thấy người ta chỗ này cũng sai chỗ kia cũng sai, ngồi hương buồn ngủ, khai tịnh rồi hoặc là nghỉ hoặc là như học trò gặp lúc thầy đi vắng, không ba hoa thì cũng lên mặt làm thầy, hôm nay thấy như thế, ngày mai cũng thấy như thế, ngày thứ ba lại chẳng thích thấy nữa, không muốn thấy lại, bấy giờ trong tâm phiền toái thật là khó chịu. Cách làm người này của ta không giống cách làm người của người khác. Lúc ở ngoài đời thấy người ta còn nhiều điều không tốt nên ta mới xuất gia; sau đến Phổ Đà Sơn thấy một số người xuất gia mặc quần áo trắng, vớ trắng, dù tây, ta lại thấy không tốt bèn đến Phạm Âm động xả thân (tự tử), ở trên đời ta thấy không tốt nên ta mới không ở đời, ta là loại người như thế. Đến chốn thiền đường lại thấy những điều không tốt như vậy mới tự mình nghĩ lại: “Ta vì sao mà xuất gia? Có phải vì xem lỗi của người ta mà xuất gia, hay là kiếm ăn không được mà xuất gia?”. Tự mình hỏi mình, rồi tự mình nói: “Tất cả đều không phải, vì đạo mà xuất gia”. Ta lại tự mình khảo cứu: “Đã vì đạo mà xuất gia thì phải lo việc đạo! Tại sao phải đi nhìn lỗi của người khác?”. Tự hỏi như thế mới tự mình trách cứ mình, cái này không đúng, cái kia không đúng, tất cả đều tự mình không đúng, tự mình làm quấy làm chướng ngại chính mình. Cho nên người mới phát tâm đều có cái không đúng này; mặc dù là có nhưng cần phải tự mình giác ngộ, nếu không giác ngộ thì suốt đời không thể làm người được. Nếu quả các ông cố giữ lấy cái “ngã kiến” mà không bỏ đi, ta nói: các ông không phải nhân tài của Thiền tông mà là kẻ “làm đầu bỏ đuôi”, sợ nhất định chẳng sai đâu. Mọi người hãy phát tâm tham đi!

KHAI THỊ Ngày 22 tháng 12 (Thất 10 ngày thứ 3).

Chúng ta đều là người đã thọ qua ba đại giới (gồm Sa Di giới, Tỳ Kheo giới, Bồ Tát giới) thì phải gánh vác trách nhiệm đối với sự nghiệp của Bồ Tát mới đúng. Bồ Tát thì hành việc gì? Bồ Tát lấy lục độ vạn hạnh làm sự nghiệp của mình. Hạnh Bồ Tát có lục độ gồm: Bố thí, Trì giới, Nhẫn nhục, Tinh tấn, Thiền định, Trí tuệ.
Bố thí độ là độ cái tham vì thân, khẩu, ý đều tham. Tỷ như: thấy một cái áo của người quá đẹp, trong lòng muốn có cái áo ấy là ý tham; miệng nói “anh bán cho tôi cái áo này đi!”, đấy là khẩu tham; lấy tay sờ một cái, ấy là thân tham; cái loại thân, khẩu, ý tham này không có bố thí độ thì không độ được. Tại sao vậy? Khi thấy cái tốt của người ta, người hành hạnh bố thí không những không nài hỏi người ta mà tự mình xem có cái gì tốt, hoặc áo hay quần, mà có người muốn thì họ còn mang đến bố thí nữa, họ có tâm bố thí nên cái thân, khẩu, ý tham lúc đó tiêu diệt ngay, bố thí có cái công hiệu như vậy.
Nhưng tham và yêu không giống nhau. Tại sao không giống? Yêu vì tham không được nên thành yêu, cái yêu ở trong lòng như keo như sơn, bố thí không thể trừ được, không có giới thì không có cái gì trừ được nó.
Nói đến chữ giới này thì lại càng tiếc cho người đời nay! Chỉ biết tham lam lấy một lúc sung sướng, mà không biết phải chịu khổ bao nhiêu đại kiếp. Phải hiểu được: chúng ta không thể phạm Thánh giới. Tất cả sát, đạo, dâm, vọng đều là Thánh giới. Tại sao gọi là Thánh giới? Phải biết thân thể của ta là Phật thể. Tại sao vậy? Phật dạy: “Hết thảy địa, thủy, hỏa, phong là thân của ta”. Hết thảy địa, thủy, hỏa, phong đã là Phật thể thì cái thân thể của ta cũng do địa, thủy, hỏa, phong mà thành, nên cũng là Phật thể vậy. Giới của Phật chế ra chính là giới của ta. Cho nên gọi là Thánh giới vậy. Thí dụ như phạm dâm giới là phải dùng thân phạm, thân ta là thân Phật, ta phạm giới là phạm Phật giới.
Các ông nên biết: Cái Thánh giới này một khi đã phạm rồi thì quả báo của nó thật đáng sợ! Không phải nói để dọa các ông, phạm giới sát, đạo, dâm, vọng thì ít nhất cũng một đại kiếp ở địa ngục A tỳ, nặng một tí thì ba đại kiếp. Các ông nghĩ xem: Thời phạm giới không quá nữa khắc mà thọ báo cả ba đại kiếp, vậy là có ít không? Tỷ như phạm giới sát, một dao thôi thì có bao lâu đâu? Ăn trộm đồ của người ta thường không quá một tiếng đồng hồ? Phạm giới dâm thì có sung sướng được bao lâu đâu? Giới vọng thì một câu nói có được bao nhiêu thì giờ? Mà chiêu lấy quả báo từ một đại kiếp, cho đến ba đại kiếp ở địa ngục A tỳ; một ngày một đêm ở ngục này bằng tám vạn đại kiếp ở cõi trời Phi phi tưởng, một ngày một đêm ở cõi trời Phi phi tưởng bằng tám vạn kiếp ở nhân gian, tính như thế thì có đáng sợ chăng? Như phạm giới một tiếng đồng hồ mà chịu tội một tiếng đồng hồ thì còn được, nhưng sung sướng một tiếng đồng hồ mà chịu quả báo lâu dài như thế, người có chút tri thức nghe ta nói thế rồi còn có người chảy nước mắt không? Ta thật thương hại các ông! Chảy nước mắt vì các ông! Vì các ông chỉ biết sung sướng mà không biết tương lai phải chịu quả báo đau khổ, đáng thương cũng là ở chỗ ấy.
Giới tại sao có thể độ được cái khổ của bao đại kiếp này? Tỷ như có một người nữ trước mặt ông, tâm ông động rồi thì nhanh chóng phạm thôi; nhưng ở chính hai người lại lấy một miếng ván ngăn cách ra thì có muốn phạm cũng chẳng được. Miếng ván này cũng giống như giới vậy, cho nên trì giới được thì có thể tách rời mọi tội lỗi và lúc ấy tội lỗi liền tiêu diệt. Cho nên dù cái yêu đắm đuối nhất, đừng sợ như keo như sơn, có giới rồi thì có thể độ nó được. Cho nên các ông có thể trì giới thì chẳng phạm giới và rồi chẳng phải chịu lấy cái quả khổ. Lại còn có nhẫn nhục độ sự sân hận, tinh tiến độ biến nhác, thiền định độ tán loạn, trí tuệ độ ngu si. Lục độ này là hạnh nên làm của Bồ Tát. Các ông là người đã thụ đại giới Bồ Tát rồi, tuy không hoàn toàn là Bồ Tát thì cũng nên học làm Bồ Tát. Đây là điều rất cần thiết! Nếu các ông phát tâm thực hành thì phải tham thiền, hễ công phu thành khối tức là trì hết tất cả Thánh giới vậy. Trong giới luật gọi là Thiền giới. Hãy tham đi!

KHAI THỊ Ngày 23 tháng 12 (thất 10 ngày thứ 4).

(Giảng công án Phật Thích Ca xuống biển lấy ngọc Như ý. Lược bỏ).

KHAI THỊ Ngày 24 tháng 12 (thất 10 ngày thứ 5).

(Giảng công án tự mình phát nguyện. Đã ghi trong Tự Hành Lục. Lược bỏ).

KHAI THỊ Ngày 25 tháng 12 (Thất 10 ngày thứ 6).

(Giảng những truyện tích ở chốn Tùng Lâm và Kỳ Viên. Lược bỏ).

KHAI THỊ Ngày 26 tháng 12 (Thất 10 ngày thứ 7).

(Giảng nguồn gốc chính pháp. Tổ 24 Tây Trúc  gặp nạn, Sơ Tổ, Nhị Tổ và Lục Tổ Đông Độ gặp nạn. Lược bỏ).

KHAI THỊ Ngày 27 tháng 12.
KHẢO CÔNG PHU VÀ GIẢI THẤT:

Sư cầm roi trúc nói: “Mười thất đã xong, triệt ngộ chuẩn đích, nhốt lại thả đi, tuyệt gốc tuyệt tích. Thử hỏi: Trong kỳ thất còn có người nào chiêm bao chăng? Nếu không, ấy là kẻ chết; nếu có, ấy là người tục, mọi người kiểm điểm xem!” (Độc giả chớ nên đuổi theo lời nói, cần phải tự ngộ mới được).
Một lúc sau Sư hét lên rằng: “Đại sự chưa minh tâm đã nhác! Lúc nào tu lại thuyết vô sinh? Nếu được chẳng bị thường tình chuyển, uyên nguyên biển đạo càng thấy sâu. Nếu mà không ngộ thì hãy thượng điện (tụng niệm 2 khóa sớm chiều), quả đường đi!”. (Ý nói là cứ tiếp tục làm việc sống thường ngày đi!) GIẢI THẤT!

HẾT

—o0o—

Nguồn: thuvienhoasen.org

Trình bày: Nhị Tường

Cập nhật: 9-2007

BÁ Trượng Quảng Lục

Thiền học

Hoài Hải Thiền Sư – Bá Trượng Quảng Lục
Thích Duy Lực

18/04/2555 12:01 (GMT+7)

Kích cỡ chữ:

Mục lục

  • Bá Trượng Quảng Lục

Ngôn ngữ cần phải phân biệt trắng đen, cần phải biết là lời nói chung hay lời nói riêng, lời nói liễu nghĩa hay bất liễu nghĩa.

Giáo liễu nghĩa phân biệt về thanh (trong), còn bất liễu nghĩa phân biệt về trược (đục). Nói cấu bên pháp uế là phân biệt về phàm, nói cấu bên pháp tịnh là phân biệt về Thánh. Từ chín bộ giáo nói thẳng ra chúng sanh không có mắt, cần phải nhờ người gọt giũa. Nếu nói với người tục tai điếc, cần phải dạy họ xuất gia trì giới, tu thiền học huệ. Nếu là người tục siêu xuất thì không nên dạy họ như thế, như trường hợp các ngài Duy Ma Cật, Phó Đại Sĩ… đối với bậc xuất gia đã thọ giới cụ túc, sức giới, định, huệ đã có mà nói như thế thì gọi là phi thời ngữ (chẳng ứng cơ) cũng gọi là ỷ ngữ (nói thêu dệt), nếu là bậc xuất gia phải nói cấu bên pháp tịnh, phải nói lìa các pháp có, không, lìa tất cả tu chứng, cũng lìa cái lìa nữa. Nếu trong hàng xuất gia tẩy trừ tập nhiễm tham, sân không được cũng gọi là kẻ tục tai điếc, phải dạy họ tu thiền học huệ. Tăng sĩ Nhị thừa đã dứt được bệnh tham sân mà còn trụ nơi vô tham, cho đó là đúng là thuộc về Vô sắc giới, là ngăn trở ánh sáng Phật, là làm thân Phật chảy máu cũng phải dạy họ tu thiền học huệ.

Cần phải biện biệt rõ ràng lời nói thanh, trược. Pháp trược là các danh từ tham, sân, ái, thủ… Pháp thanh là các danh từ Bồ đề, Niết bàn, giải thoát… Cái giác chiếu soi hiện tại chỉ cần đối với hai dòng thanh trược, các pháp Thánh, phàm, sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, các pháp thế gian và xuất thế gian đều chẳng nên có mảy may ái thủ. Đã chẳng ái thủ mà y trụ vào chẳng ái thủ cho đó là phải, ấy là Sơ Thiện, là trụ nơi điều phục tâm, là hàng Thanh Văn, là người đã đến bờ rồi mà còn lưu luyến chiếc bè không chịu bỏ, là đạo Nhị thừa, là quả Thiền na. Đã chẳng ái thủ cũng chẳng y trụ nơi chẳng ái thủ, là Trung thiện, là bán tự giáo vẫn còn là Vô sắc giới khỏi sa vào đạo Nhị thừa, khỏi lạc vào lối Ma Vương, vẫn còn là bệnh Thiền na, là còn bị trói buộc vào Bồ Tát thừa. Đã không y trụ nơi chẳng ái thủ và cũng không khởi cái tri giải về không y trụ, ấy là Hậu thiện, là mãn tự giáo, khỏi rơi vào Vô sắc giới, tránh khỏi bệnh Thiền na, khỏi sa vào Bồ Tát thừa, khỏi bị đoạ vào địa vị Ma vương, là trí chướng, địa chướng, hạnh chướng nên thấy Phật tánh của mình như ban đêm thấy hình sắc. Như nói: Ở địa vị Phật dứt hai thứ ngu: Một là vi tế sở tri ngu, hai là cực vi tế sở tri ngu. Cho nên nói: Có bậc đại trí đập vỡ hạt bụi lấy ra quyển Kinh. Nếu thấu suốt nghĩa ba câu thì chẳng bị ba đoạn sơ, trung, hậu thiện khống chế. Giáo môn thí dụ con hươu ba lần nhảy ra khỏi lưới, gọi là làm Phật ngoại triền, không có vật gì ràng buộc được người này. Đây thuộc về Phật sau đức Nhiên Đăng, là Tối thượng thừa, là Thượng thượng trí, là đứng trên Phật đạo; người này là Phật, có Phật tánh, là Đạo sư, là điều khiển được vô sở ngại phong, là vô ngại huệ, về sau được tự do sai khiến nhân quả phước trí, là làm xe chuyên chở nhân quả, ở nơi sanh không bị sanh nhốt, ở nơi tử không bị từ ngại, ở nơi ngũ ấm như cửa đã mở, không bị ngũ ấm ngăn trở, đi ở tự do, ra vào không khó. Nếu được như thế, không luận thứ bậc hơn kém cho đến thân con kiến, chỉ cần được như thế thì đều là cõi nước thanh tịnh vi diệu không thể nghĩ bàn. Đó còn là lời nói mở trói, họ vốn không thương tích thì đừng làm cho bị thương. Những cái thương tích Phật, thương tích Bồ Tát đều là thương tích (Có nghĩa là chấp Phật là thương tích Phật, chấp Bồ Tát là thương tích Bồ Tát). Phàm nói các pháp “có, không” đều là thương tích. “Có, Không” bao gồm tất cả pháp.

Hàng Thập địa là chúng ở trong dòng nước đục, tự cho là dòng nước thanh, dựng tướng thanh để nói lỗi của tướng trược. Trước kia mười vị đại đệ tử như Xá Lợi Phất, Phú Lâu Na, chánh tín như A Nan, tà tín như Thiện Tinh… mỗi người có một cốt cách riêng, mỗi người có một phép tắc riêng đều bị Đạo Sư (Phật) nói toạc ra là chẳng đúng. Tứ thiền, Bát định, A La Hán…. trụ trong định tám muôn kiếp, họ là người tu hành theo kiến chấp vì bị rượu tịnh pháp làm say nên hàng Thanh Văn nghe Phật pháp không phát được đạo tâm vô thượng, do đó bị gọi là người đoạn thiện căn không có Phật tánh. Kinh nói: “Chỗ gọi là hầm sâu giải thoát đáng sợ, nếu có một niệm tâm lui sụt thì rơi vào địa ngục mau như tên bắn”. Chẳng được nhất định nói lui sụt, cũng chẳng được nhất định nói không lui sụt, như các ngài Văn Thù, Quan Âm, Thế Chí… đến thị hiện đồng loại với Tư Đà Hườn để dẫn dụ, chẳng được nói họ lui sụt, lúc bấy giờ chỉ được gọi là người Tu Đà Hườn thôi. Hiện tại các giác chiếu soi chỉ cần chẳng bị các pháp “có, không” khống chế, thấu suốt nghĩa ba câu và tất cả nghịch thuận thì dầu có nghe trăm nghìn muôn ức đức Phật xuất hiện ở thế gian cũng như không nghe, cũng không y trụ vào chỗ không nghe, cũng không khởi tri giải về sự không y trụ, nói họ là người lui sụt chẳng được, vì số lượng không khống chế họ được, ấy là Phật thường trụ thế gian mà chẳng nhiễm thế gian.

Nói Phật chuyển pháp luân, lui sụt cũng là phỉ báng Phật, Pháp, Tăng. Nói Phật chẳng chuyển pháp luân, chẳng lui sụt cũng là phỉ báng Phật, Pháp, Tăng. Ngài Tăng Triệu nói: “Đạo Bồ Đề không thể suy lường, cao vô thượng, rộng vô cùng, sâu thăm thẳm”. Rơi vào lời nói là bệnh, nói giác chiếu soi cũng còn là không đúng, chỉ là từ trược biện thanh (trong cái đục mà biện biệt cái trong) mà thôi. Nếu cho nói giác chiếu soi hiện nay là đúng, tức là ngoài cái giác chiếu soi còn có cái khác thì đều là ma thuyết. Nếu chấp lấy cái giác chiếu soi hiện tại thì cũng đồng ma thuyết, cũng gọi là tự nhiên ngoại đạo. Nói các giác chiếu soi hiện tại là Phật của chính mình, đó là lời nói thước tấc, là lời tính toán, giống như con chồn (dã can) kêu, vẫn thuộc về cửa keo sơn (chấp trước). Từ trước đến nay chẳng nhận cái tự tri, tự giác là Phật của chính mình mà lại hướng ra ngoài tìm Phật, nhờ thiện tri thức nói ra cái tự tri tự giác để làm thuốc trị cái bệnh hướng ngoại tìm cầu, bệnh hướng ngoại tìm cầu đã lành thì thuốc cũng phải bỏ. Nếu chấp lấy cái tự tri tự giác thì đó là bệnh Thiền na, là định tánh Thanh Văn, như nước đóng băng, toàn băng là nước khó mong cứu được nạn khát; cũng nói: “Bệnh chắc chắn hết, lương y bó tay”.

Vô thỉ chẳng phải là Phật, chớ cho là Phật, Phật là thuốc của chúng sanh, không có bệnh chẳng cần uống thuốc, thuốc và bệnh đều tiêu, thí dụ: như nước trong, Phật là cam thảo hoà với nước, cũng như mật hoà với nước ấy rất là ngon ngọt, nếu xem đó là cùng loại nước trong   thì chẳng đúng, chẳng phải không, vốn là sẵn có, nên cũng nói: Lý này mọi người đều vốn sẵn có. Chư Phật, Bồ Tát được mệnh danh là người chỉ cho biết hạt châu. Từ xưa đến nay nó chẳng phải là vật, chẳng cần biết nó, hiểu nó, không cần cho nó là phải hay chẳng phải, chỉ cần cắt đứt câu đầu hai, cắt đứt câu có, câu chẳng có, cắt đứt câu không, câu chẳng không, dấu vết hai đầu chẳng hiện. Hai đầu kéo ông chằng được, số lượng chi phối ông chẳng được, chẳng phải thiếu thốn, chẳng phải đầy đủ, chẳng phải phàm, chẳng phải Thánh, chẳng phải sáng, chẳng phải tối, chẳng phải hữu tri, chẳng phải vô tri, chẳng phải rang buộc, chẳng phải giải thoát, phải tất cả danh mục. Tại sao không phải là lời nói thật? Nếu cho rằng đục đẽo hư không làm được tướng mạo Phật, hoặc cho rằng hư không là do xanh, vàng, đỏ, trắng làm thành, như nói: Pháp không có so sánh, không thể ví dụ, nên Pháp thân vô vi bất đoạ chư số; nên nói: Thánh thể vô danh chẳng thể nói được, lý như thật của không môn khó ghé, thí dụ như con thái mạt trùng (tên một loại côn trùng đặc biệt rất nhỏ), có thể đậu ở khắp mọi nơi, nhưng không thể đậu được trên ngọn lửa. Ý thức của chúng sanh cũng vậy, có thể duyên ở mọi nơi, nhưng không thể duyên trên Bát Nhã.

Tham học nơi Thiện tri thức để tìm cầu một tri, một giải đó là thiện tri thức ma, vì sanh   ngữ kiến. Nếu phát tứ hoằng thệ nguyện, nguyện độ hết tất cả chúng sanh rồi sau ta mới thành Phật, đó là Bồ Tát pháp trí ma vì thệ nguyện không buông bỏ; nếu trì trai giữ giới, tu Thiền học Huệ đều là thiện căn hữu lậu, dẫu cho ngồi đạo tràng thị hiện thành Đẳng Chánh Giác độ chúng sanh nhiều như số cát sông Hằng thảy đều chứng quả Bích Chi Phật, đó là thiện căn ma, vì khởi tâm tham đắm, nếu đối với các pháp không tham nhiễm, thần lý độc tôn trụ trong Thiền định sâu không còn tiến lên nữa, đó là Tam muội ma, vì đam mê cái vui Thiền định. Niết Bàn chí thượng, ly dục tịch tịnh, là nghiệp ma. Nếu trí huệ thoát lưới ma chưa triệt để thì dẫu cho hiểu được trăm bổn kinh Phật thảy đều là cặn bã địa ngục, tìm sự tương tự như Phật không bao giờ có.

Như nay nghe nói chẳng chấp trước vào tất cả pháp thiện, ác, có, không vv… liền cho đó là rơi vào không, mà chẳng biết rằng bỏ gốc theo ngọn mới chính là rơi vào không. Cầu Phật, cầu Bồ Đề và tất cả pháp có, không… là bỏ gốc theo ngọn, hiện tại chỉ cần ăn đạm bạc sống, mặc áo vá đỡ lạnh, khát thì bụm lấy nước uống, ngoài ra đối với tất cả pháp có, không đều không có mảy may hệ niệm (nghĩ tưởng), người này dần dần sẽ chút phần nhẹ nhàng sáng suốt.

Thiện tri thức chẳng chấp có, chẳng chấp không, thoát được mười câu ma ngữ, nói ra không trói buộc người, có lời nói nào ra chẳng tự xưng là Thầy nói, cũng như tiếng dội trong hang, tiếng nói trùm khắp thiên hạ mà không có khẩu quá (lỗi do từ miệng mình nói ra), đủ sức làm y chỉ cho người. Nếu nói ta biết thuyết, biết giải, nói ta là Hoà thượng, người là đệ tử, cái đó đồng như ma thuyết. Vô cớ nói rằng: Mục kích đạo tồn (mắt thấy đạo còn). Phật hay chẳng phải Phật, Bồ đề, Niết bàn, giải thoát… Vô cớ nói ra một tri, một giải, giơ một cánh tay, dựng một ngón tay bảo là Thiền, là Đạo, lời nói này trói buộc người không biết đến khi nào mới thôi, chỉ là chồng thêm dây trói buộc Tỳ Kheo. Dẫu cho không nói cũng có cái khẩu quá. Thà làm thầy cho tâm, chẳng cho tâm làm thầy.

Giáo bất liễu nghĩa có Thiên nhân sư, có Đạo sư. Trong giáo liễu nghĩa chẳng làm Thiên nhân sự, chẳng cho phép làm thầy, chưa y được huyền giám (tự tánh), tạm y được giáo liễu nghĩa còn có phần thân cận, nếu là giáo bất liễu nghĩa thì chỉ thích hợp để nói trước bọn người tục tai điếc. Nay chỉ cần chẳng y trụ tất cả pháp có, không, cũng không làm cái chẳng y trụ, cũng không khởi cái tri giải về chẳng y trụ, cũng không khởi cái tri giải về chẳng y trụ, đây gọi là đại thiện tri thức, cũng nói: Chỉ có một người đại thiện tri thức là Phật, không có người thứ hai, ngoài ra đều gọi là ngoại đạo, cũng gọi là ma thuyết. Nay chỉ cần nói phá câu hai đầu, không tham nhiễn tất cả cảnh pháp có, không và việc mở trói, ngoài ra không có ngữ cú nào khác để dạy người. Nếu nói ra có ngữ cú khác để dạy người, có pháp khác để cho người, đó gọi là ngoại đạo cũng gọi là ma thuyết.

Cần phải biết lời giáo liễu nghĩa hay giáo bất liễu nghĩa, cần phải biết lời nghịch tục hay lời tuỳ tục, cần phải biết lời nói sống hay lời nói chết, cần phải biết lời thuốc hay lời bệnh, cần phải biết lời ví dụ thuận hay nghịch, cần phải biết lời nói chung hay lời nói riêng. Nói do tu hành được thành Phật, có tu có chứng, thị tâm thị Phật, tức tâm tức Phật, đấy là lời Phật: Là lời nói giáo bất liễu nghĩa, là lời tuỳ tục, là lời nói chung, là lời nhẹ như mang một lon một lít, là lời nói về bên pháp uế, là lời ví dụ thuận, là lời nói chết, là lời nói trước kẻ phàm phu. Chẳng cho do tu hành mà được thành Phật, không tu không chứng, phi tâm phi Phật cũng là lời của Phật: là lời giáo liễu nghĩa, là lời nghịch tục, là lời nói riêng, là lời nặng như mang trăm tạ, là lời nói ngoài giáo tam thừa, là lời ví dụ nghịch, là lời nói về bên pháp tịnh, là lời nói sống, là lời nói trước ngoài có quả vị.

Từ Tu Đà Hườn trở lên thẳng đến bậc Thập địa hễ có lời nói đều thuộc về pháp trần cấu, hễ có lời nói đều thuộc về bên phiền nào, hễ có lời nói đều thuộc về giáo bất liễu nghĩa. Giáo liễu nghĩa là trì, giáo bất liễu nghĩa là phạm. Phật địa không có trì, phạm, nên giáo liễu nghĩa và bất liễu nghĩa và bất liễu nghĩa đều chẳng cho.

Do mạ mà biết đất, từ trược biện thanh. Cái giác chiếu soi hiện tại nếu theo bên thanh mà đến thì có giác chiếu soi, cũng chẳng phải thanh, cũng chẳng phải không thanh, không có giác chiếu soi, cũng chẳng phải thanh cũng chẳng phải không thanh, chẳng phải Thánh, chẳng phải không Thánh; không phải thấy nước đục rồi nói lỗi của nước đục, nếu nước trong thì không có lỗi để nói, nói ra là làm đục nước rồi.

Nếu có cái hỏi  mà không hỏi  cũng có cái nói mà không nói, bởi Phật chẳng vì Phật mà nói pháp. Bình đẳng chân như pháp giới không có Phật nào mà không độ chúng sanh. Phật không trụ Phật gọi là chân phước điền.

Cần phải biện biệt lời chủ khách, tham nhiễm tất cả cảnh pháp có, không, bị tất cả cảnh có, không làm hoặc loạn thì tự tâm là ma vương, chiếu dụng thuộc ma dâm. Cái giác chiếu soi hiện tại chỉ cần chẳng y trụ vào tất cả pháp có, không, pháp thế gian, xuất thế gian; cũng không có tri giải về chẳng y trụ; cũng chẳng y trụ nơi không tri giải thì tự tâm là Phật, chiếu dụng thuộc Bồ Tát. Tâm tâm là chủ tể, chiếu dụng thuộc khách trần, như thấy sóng nói nước, nước ấy chiếu vạn tượng mà không cho là công dụng. Nếu được tích chiếu, chẳng tự do huyền diệu, thì tự nhiên thấu suốt cổ kim, như nói: “Thần vô chiếu công, chí công thường tồn” (1). Người như thế được ở khắp mọi nơi làm Đạo sư.

(1) Thần dụ cho tự tánh; chiếu công = công dụng – chí công = công dụng tối cao. (Công dụng của tự tánh không qua sự tác ý nhưng công dụng ấy đạt đến cực điểm và luôn luôn được như thế).
Tánh thức chúng sanh là tánh keo sơn (chấp trước) vì chưa từng bước lên thềm bực Phật nên thường dính khắn vào các pháp có, không, nay thình lình uống thuốc huyền chỉ không được, thình lình nghe lời xuất cách họ tin chẳng nổi, cho nên đức Phật ngồi dưới cội Bồ đề bốn mươi chín ngày lặng lẽ tư duy. Trí tuệ mênh mông khó nói, không tỷ dụ được, nói chúng sanh có Phật tánh cũng là phỉ báng Phật, Pháp, Tăng, nói chúng sanh không Phật tánh cũng là phỉ báng Phật, Pháp, Tăng. Nếu nói có Phật tánh là chấp trướng báng. Nếu nói không Phật tánh là hư vong báng. Như bảo: Nói Phật tánh có là tăng ích báng (nói thêm), nói Phật tánh không là tổn giảm báng (nói bớt), nói Phật tánh cũng có cũng không là tương vi báng (trái ngược nhau), nói Phật tánh chẳng có chẳng không là hý luận báng (nói bông đùa); nếu không nói thì chúng sanh không có hy vọng giải thoát; còn nếu nói thì chúng sanh lại theo lời nói mà sai tri giải, lợi ít mà hại nhiều. Do đó Ngài nói: “Ta thà không nói pháp, mau nhập Niết Bàn”. Nhưng sau đó tìm về chư Phật quá khứ, thấy các Ngài đều nói pháp tam thừa. Về sau, Phật mới giả lập kệ thuyết, giả lập danh tự, vốn chẳng phải Phật nói với họ là Phật, vốn chẳng phải Bồ Đề, nói với họ là Bồ Đề, Niết Bàn, giải thoát…. Biết họ gánh trăm tạ chẳng nổi tạm cho họ gánh một lon, một lít, biết họ khó tin giáo liễu nghĩa tạm nói với họ giáo bất liễu nghĩa, tạm được pháp lành lưu hành còn hơn là pháp ác. Thiện quả mãn rồi thì ác quả đến, được Phật thì có chúng sanh đến, được Niết Bàn thì có sanh tử đến, được sáng thì có tối đến, chỉ là nhân quả hữu lậu đối đãi nhau; nếu muốn khỏi thấy sự đối đãi chỉ cần cắn đứt câu hai đầu thì số lượng khống chế không được; không Phật, không chúng sanh, không thân, không sơ, không cao, không thấp, bình thường, không đẳng, không đi, không đến, chỉ cần chẳng chấp trước văn tự, cách xa hai đầu thì nó nắm bắt ông chẳng được, tránh khỏi các sự khổ vui, sáng tối đối đãi nhau. Thật lý chân thật cũng chẳng chân thật, hư vọng cũng chẳng hư vọng, không phải là vật có số lượng, thí dụ như không chẳng thể tu sửa được, nếu tâm có một chút tri giải liền bị số lượng khống chế cũng như keo sơn, năm chỗ (ngũ uẩn) đều bị dính mắc thì bị ma vương nắm bắt được, chẳng được tự do về nhà.

Luận về giáo ngữ đều có ba câu liền nhau là sơ thiện, trung thiện và hậu thiện. Sơ là dạy họ phát thiện tâm, trung là phá thiện tâm, hậu mới là thiện tốt. Bồ Tát tức phi Bồ Tát thị danh Bồ Tát. Pháp, phi pháp, phi phi pháp, tất cả đều phải như thế. Nếu chỉ nói một câu hoặc hai câu làm cho chúng sanh vào địa ngục là tội của Pháp sư, nếu đồng thời nói cả ba câu mà họ tự vào địa ngục thì việc ấy không liên can đến Pháp sư. Nói cái giác chiếu soi hiện tại là Phật của mình, là sơ thiện, không chấp lấy cái giác chiếu soi này là trung thiện, cũng không có cái tri giải về sự không chấp lấy là hậu thiện. Những lời trên còn thuộc về Phật sau đức Nhiên Đăng, chỉ là không phàm cũng không thánh chớ nói lầm Phật chẳng phải phàm chẳng phải Thánh. Sơ Tổ Trung Hoa nói: “Vô năng, vô thánh là Phật tánh”. Nếu nói có thần thông biến hoá là Phật thánh thì chín phẩm tinh linh rồng, súc sanh… cho đến các cõi Trời Thích, Phạm trở lên cũng có tinh linh thượng phẩm cũng biết được việc xưa nay trăm kiếp đâu được gọi là Phật ư? Như A Tu La Vương thân gấp đôi núi Tu Di vô cùng to lớn, lúc cùng với trời Đế Thích giao chiến, tự biết sức không bằng bèn dắt trăm muôn binh sĩ chui vào cọng sen ẩn núp, thần thông biện tài cũng không ít nhưng chẳng phải là Phật.

Giáo ngữ có cấp bậc mau chậm, lên xuống bất đồng. Lúc chưa ngộ, chưa giải thoát gọi là tham, sân, ngộ rồi gọi là trí huệ Phật, nên nói: “Không khác người thuở trước, mà chỉ khác cái hành vi thuở trước”.

Hỏi: – Chặt cây cuốc cỏ, khai mương, đào đất có tướng tội báo không?

Sư đáp: – Không thể nhất định nói là có tội hay không tội. Việc có tội hay không tội là do nơi người đó. Nếu tham nhiễm tất cả pháp có, không, có tâm lấy bỏ, không thấu suốt nghĩa ba câu thì nói người này nhất định có tội. Nếu thấu suốt nghĩa ba câu tâm như hư không cũng chẳng có cái nghĩ tưởng hư không thì người này nhất định là không tội, lại nữa, nếu tội đã tạo rồi lại nói là không thấy có tội thật là vô lý. Nếu không tạo tội mà nói là có tội thì cũng là vô lý. Như trong luật nói: “Người hôn mê giết người và chuyển tướng giết người còn không bị tội giết huống là sự truyền thừa củaThiền Tông, chẳng trụ một pháp nào, tâm như hư không, cũng không có tướng hư không thì đem tội để ở chỗ nào?” Cũng nói: “Đạo Thiền chẳng cần tu, chỉ cần đừng ô nhiễm”. Cũng nói: “Chỉ cần tiêu dung hết tâm trong ngoài là được”. Cũng nói: “Về sự chiếu cảnh, đối với tất cả pháp có không đều không tham đắm cũng đừng chấp trước”. Cũng nói: “Phải học như vầy, cái học đó giống như giặt áo dơ, áo là cái sẵn có, dơ bẩn là từ bên ngoài đến”. Nghe nói tất cả pháp có, không, thanh, sắc, như cáu bẩn đừng đem tâm bám lấy. dưới cội Bồ Đề, ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp thuộc về sắc, mười hai phần giáo thuộc về thanh. Nay chỉ cần cắt đứt tất cả dòng nước có, không, thanh, sắc, tâm như hư không, phải học như thế, như cứu lửa cháy đầu mới được, vậy mà đến lúc lâm chung tìm đường quen thuộc cũ để đi còn không được triệt để, huống là đến lúc đó mới điều tâm, mới tập học thì có hy vọng gì!

Lúc lâm chung các cảnh tốt đẹp hiện ra trước mắt, tuỳ theo tâm ưa thích, chỗ nặng chịu trước. Như nay không làm việc ác thì đến lúc đó không có cảnh ác, dầu cho có cảnh ác cũng biến thành tốt đẹp. Nếu e lúc lâm chung kinh sợ điên cuồng, không được tự do, thì cần hiện tại được tự do mới được. Hiện tại đối với mỗi cảnh pháp đều không ái nhiễm, cũng chẳng y trụ vào tri giải, mới là người tự do. Hiện tại là nhân, lúc lâm chung là quả. Nghiệp quả đã hiện thì làm sao lo cho kịp! Lo là phải lo từ trước cho đến ngày nay. Xưa nếu có nay thì nay cũng có xưa, nghĩa là ngày trước có Phật thì ngày nay cũng có Phật. Hiện tại nếu được một niệm chẳng bị tất cả pháp có không quản nhiếp, thì chẳng đến tận vị lai cũng được như vậy. Xưa cũng như nay, Phật chỉ là người, người chỉ là Phật, cũng là Tam muội định, chẳng cần đem định nhập định, chẳng cần đem Thiền tưởng Thiền, chẳng cần đem Phật tìm Phật. Như nói: “Pháp chẳng cầu pháp, pháp chẳng đắc pháp, pháp chẳng hành pháp, pháp chẳng thấy pháp, tự nhiên đắc pháp, chẳng lấy đắc để đắc thêm”. Cho nên Bồ Tát cần phải chánh niệm như vầy: đối với pháp rỗng không độc tồn, cũng không biết cái pháp độc tồn thì trí tánh tự như như, chẳng phải do nhân làm ra cũng gọi là thể kết, cũng gọi là thể tập, chẳng phải là trí biết, chẳng phải là thức biết, bặt chỗ suy lường, tột cái thể ngưng tịch, sự suy nghĩ dứt hẳn như nước biển cạn sạch, sóng không còn sanh khởi nữa.

Cũng nói: Như lượn sóng lăn tăn không gió trên biển cả, cái chợt biết cái lượn sóng lăn tăn ấy là thô trong tế. Quên cái biết ở nơi biết vẫn còn là tế trong tế, là cảnh giới Phật. Từ đây cái biết đầu tiên được gọi là cái đảnh của Tam muội,cũng gọi là vua Tam muội, cũng gọi là nhĩ diệm trí (trí sở tri), nó sanh ra hết thảy các Tam muội, tưới trên đảnh của tất cả các vị Pháp vương tử, Nơi tất cả cõi nước sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, cõi nước đều thảnh Đẳng Chánh Giác, trong ngoài thông đạt đều không có trở ngại thì một sắc một trần, một Phật một sắc, tất cả Phật tất cả sắc, tất cả trần tất cả Phật, tất cả sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp, mỗi mỗi cùng khắp tất cả cõi nước cũng đều như vậy.

Đây là thô trong tế, là cảnh giới thiệu, là tất cả thượng lưu, kiến văn giác tri cũng là tất cả thượng lưu, xuất sanh nhập tử độ tất cả có, không… là thượng lưu, có nói ra điều gì cũng là thượng lưu. Niết Bàn là đạo Vô thượng, là Vô đẳng đẳng chú, là Thuyết đệ nhất, ở trong các thuyết rất là sâu xa, không người nào có thể đến được, là chư Phật hộ niệm. Như thấy sóng trong trẻo thì được nói tất cả nước là trong trẻo, từ đó chảy ra cái dụng công rộng lớn mênh mông cũng là chư Phật hộ niệm. Kinh nói: “Đi, đứng, nằm, ngồi nếu được như vậy, lúc ấy Ta liền hiện thân thanh tịnh quang minh” Lại nói: “Như ông thân bằng, ngữ bằng, ta cũng như vậy, một Phật sát thanh (Phật sát thanh: Một tam thiên đại thiên thế giới), một Phật sát hương, một Phật sát vị, một Phật sát xúc, một Phật sát sự, thảy đều như vậy. Từ đây lên đến thế giới Liên Hoa Tạng cao rộng thảy đều như vậy”.

Nếu giữ lấy cái biết đầu tiên làm tri giải, gọi là đảnh kết, cũng gọi là đoạ cảnh kết, là căn bản của tất cả trần lao. Tự sanh tri kiến, không dây mà tự trói; vì có sở tri nên bị ràng buộc vào thế giới thứ hai mươi lăm cõi. Lại nữa cái làm tan tất cả cửa phiền não trói buộc người cũng là cái biết đầu tiên này mà hàng Nhị thừa cho là Nhĩ diệm thức (thức sở tri), cũng gọi là vi tế phiền não thì liền bèn dứt trừ. Đã dứt trừ xong, gọi là đem thần tánh trở về cái hang không, cũng gọi là bị rượu Tam muội làm say, cũng gọi là bị ma giải thoát buộc. Định lực Nhị thừa làm ra sự thành hoại trong thế giới còn bị lọt vào quốc độ khác mà không biết, cũng gọi là chỗ hầm sâu giải thoát đáng sợ. Còn hàng Bồ Tát thì xa lìa hết thảy.

Người đọc kinh xem giáo, ngữ ngôn đều phải uyển chuyển quay về tự kỷ, bởi vì tất cả ngôn giáo chỉ đều nói về cái tánh giác chiếu soi, nếu không bị tất cả cảnh có không chuyển ấy là Đạo sư của ông. Cái hay chiếu soi tất cả cảnh có không kia là Kim Cang huệ, tức có phần tự do độc lập. Nếu không hiểu được cái đó thì dẫu cho có tụng được mười hai bộ kinh Phật cũng chỉ là thành kẻ tăng thượng mạn, là kẻ khinh Phật, chẳng phải là kẻ tu hành. Chỉ cần lìa tất cả thanh sắc, cũng không trụ ở lìa, cũng không trụ vào tri giải, đó là người tu hành.

Đọc kinh xem giáo nói theo thế gian thì đó là việc tốt, nhưng nếu đem so với người thấu lý mà nói thì đó là người ngu si, bậc Thập địa thoát ra không khỏi, còn bị trôi lặn vào dòng sanh tử. Song tam thừa giáo đều dùng để trị bệnh tham, sân,… Như nay niệm niệm đều có cái bệnh tham, sân, … thì trước tiên cần phải điều trị. Chẳng cần tìm tri giải về nghĩa cú, tri giải thuộc về tham, tham lại biến thành bệnh. Nay chỉ cần lìa tất cả pháp có, không, cũng lìa cả cái lìa, thấu suốt nghĩa ba câu, tự nhiên cùng Phật không khác. Đã tự là Phật còn lo chi Phật không biết nói Pháp. Chỉ sợ chẳng phải Phật, nên bị các pháp có không trói buộc, chẳng được   tự do. Thế nên, lý chưa vững mà trước tiên đã có phước trí thì sẽ bị phước trí lôi đi như kẻ hèn sai khiến người sang, chẳng bằng đầu tiên ngộ lý rồi sau hãy có phước trí. Nếu cần phước trí tức khắc làm ra được. Phước trí xài ra, nắm vàng thành đất, nắm đất thành vàng, biến nước biển thành tô lạc, đập núi Tu Di làm bụi nhỏ, đem bốn biển để vào lỗ chân lông, ở nơi một nghĩa làm vô lượng nghĩa, ở nơi vô lượng nghĩa làm một nghĩa. Cũng nói: “Sẩy chân làm Chuyển Luân Vương, khiến cho nhân dân trong bốn châu thiên hạ một ngày tu hành Thập thiện, phước trí này cũng không bằng phước trí trên”. Cái giác chiếu soi của chính mình (Tự tánh) gọi là Vương (vua). Niệm chấp trước cáp pháp có không, gọi là Chuyển Luân Vương. Hiện tại chỉ cần trong tạng phủ không dung nạp tất cả pháp có không, lìa ngoài tứ cú gọi là “KHÔNG”, “KHÔNG” gọi là thuốc bất tử, vì đối với Vương trước (Tự tánh) mới gọi là thuốc bất tử. Tuy nói là thuốc bất tử với Vương cùng uống, nhưng cũng chẳng phải là hai vật, cũng chẳng phải là một vật. Nếu cho là một, là hai, cũng gọi là Chuyển Luân Vương. Như nay có người dùng phước trí tứ sự cúng dường tứ sinh lục đạo khắp bốn trăm muôn ức a tăng kỳ thế giới, tuỳ theo sự ưa thích của chúng sanh đến mãn tám mươi tuổi rồi, mới nghĩ rằng các chúng sanh này đã già yếu, ta nên đem Phật pháp dạy dỗ họ khiến cho đều đắc quả Tu Đà Hườn cho đến A La Hán. Người bố thí này trước kia bố thí cho chúng sanh tất cả đồ ưa thích, công đức còn là vô lượng, huống chi sau này làm cho đắc quả Tu Đà Hườn cho đến A La Hán, công đức càng thêm vô lượng vô biên mà cũng còn không bằng công đức nghe Kinh tuỳ hỷ của người thứ năm mươi.

Kinh Báo Ân nói: “Ma Da phu nhân sanh năm trăm Thái tử đắc quả Bích Chi Phật. Mỗi vị đều được xây tháp cúng dường lễ bái mà bà than rằng: “Không bằng sanh một đứa con đắc Vô thượng Bồ Đề, ít phí tâm lực của ta” ”. Nay tìm ở trong chúng trăm nghìn muôn đời, có một người đắc đạo thì giá trị bằng tam thiên đại địa thế giới. Do đó ta thường khuyên mọi người phải nên huyền giải tự lý (ngộ), tự lý nếu huyền thì sai khiến được phước trí như người sang sai khiến kẻ hèn, cũng như xe vộ trụ (Phật thừa). Nếu chấp trước cái này làm tri giải thì gọi là hạt châu thường trong búi tóc, cũng gọi là hạt châu có giá, cũng gọi là chở phẩn vào. Nếu chẳng chấp cái này làm tri giải thì như hạt minh châu trong búi tóc nhà vua cũng gọi là vô giá đại bảo, cũng gọi là chở phẩn ra.

Phật chính là người ở ngoài sự trói buộc, lại vào trong vòng trói buộc mà làm Phật. Ngài chính là người bên kia bờ sanh tử, là người bên kia bờ huyền tuyệt lại trở qua bờ bên này làm Phật.   Người cùng khỉ, vượn đều không thể làm được, người dụ cho hàng Thập địa, khỉ vượn dụ cho phàm phu.

Đọc kinh xem giáo, cầu tất cả tri giải chẳng phải là không cho. Dù hiểu được tam thừa giáo là khéo được đồ anh lạc trang nghiêm, được ba mươi hai tướng, nhưng tìm Phật thì chẳng phải. Kinh nói: “Người học giả tham chấp tam tạng Tiểu thừa còn không cho thân cận, huống chi tự cho mình là đúng”. Trong Kinh Niết Bàn, Tỳ Kheo phá giới và danh tự A La Hán bị liệt vào trong mười sáu ác luật nghi, đồng với người săn bắn, lưới cá vì lợi dưỡng mà giết hại sinh vật. Loại kinh Đại Thừa Phương Đẳng cũng như cam lồ mà lại cũng như thuốc độc, tiêu được thì như cam lồ, tiêu không được thì như thuốc độc, Người học kinh xem giáo nếu không hiểu được đó là lời nói sống hay lời nói chết (tử ngữ) thì chắc chắn không thấu nghĩa cú, thà đừng học tốt hơn.
Cũng nói: Cần xem giáo mà cũng cần phải tham học với bậc thiện tri thức, nhất là cần phải tự có mắt để biện biệt lời nói sống hay lời nói chết mới được. Nếu biện tài chẳng được thì chắc chắn thấu qua không nổi, chỉ là chồng thêm dây trói buộc Tỳ Kheo. Vì thế, dạy người học huyền chỉ, không cho học văn tự. Như bảo: Nói thể chẳng nói tướng, nói nghĩa chẳng nói văn, người nói như vậy gọi là chân thuyết. Nếu nói văn tự thì đều là phỉ báng đây gọi là tà thuyết. Bồ Tát nếu nói thì phải nói đúng như Pháp cũng gọi là chân thuyết, phải làm cho chúng sanh trì tâm chẳng trì sự, trì hạnh chẳng trì Pháp, nói người chẳng nói chữ, nói nghĩa chẳng nói văn.
Nói Dục giới không có Thiền đó là lời nói của người chột mắt. Đã nói Dục giới không có thiền thì dựa vào đâu để lên Sắc giới? Đầu tiên ở Nhân địa tu tập hai thứ định, về sau mới lên đến Sơn thiền. Hai thứ định ấy là Hữu tưởng định và Vô tưởng Thiền ở Sắc giới. Vô tưởng định sanh vào các cõi Trời Tứ không ở Vô sắc giới. Dục giới hiển nhiên là có Thiền, Thiền chẳng phải chỉ ở Sắc giới mới có.

Hỏi: Hiện tại nói cõi này có Thiền, là như thế nào?

Sư đáp: Chẳng động chẳng Thiền là Như lai thiền, lìa cái khởi ý tưởng thiền.

Hỏi: Thế nào là hữu tình không Phật tánh và vô tình có Phật tánh?

Sư đáp: Từ người đến Phật là tính chấp Thánh, từ người đến địa ngục là tình chấp phàm. Như nay đối với hai cảnh phàm, Thánh có tâm ái nhiễm thì gọi là hữu tình không Phật tánh. Còn như nay đối với hai cảnh phàm, Thánh và tất cả pháp có không đều không có tâm lấy bỏ, cũng không có luôn cả cái trí giải về không lấy bỏ thì gọi là vô tình có Phật tánh. Do vì không bị tình chấp ràng buộc nên gọi là vô tình chứ không đồng với loài vô tình như gỗ, đá, hư không, hoa vàng, trúc biếc mà cho là có Phật tánh. Nếu nói các loài vô tình ấy có Phật tánh, tại sao trong kinh không thấy thọ ký cho nó thành Phật? Chỉ như cái giác chiếu soi hiện tại chẳng bị hữu tình cải biến, dụ như trúc biếc, không lúc nào chẳng ứng cơ, chẳng bất tri thời, dụ như hoa vàng.
Lại nói “Nếu bước lên bậc thang Phật là vô tình có Phật tánh, còn chưa bước lên nấc thang Phật là hữu tình không Phật tánh”.

Hỏi: – Đại Thông Trí Thắng Phật (Bích Chi Phật) mười kiếp ngồi đạo tràng, Phật pháp chẳng hiện tiền, chẳng được thành Phật đạo là như thế nào?

Sư đáp: – Kiếp nghĩa là mắc kẹt, cũng có nghĩa là trụ. Trụ nơi một điều thiện, mắc kẹt nơi Thập thiện. Ấn Độ nói Phật, Trung Hoa dịch là Giác, là cái giác chiếu soi của chính mình. Người mắc kẹt nơi thiện là người có thiện căn mà không có Phật tánh nên nói Phật chẳng phải hiện tiền, chẳng được thành Phật đạo.

Gặp ác trụ nơi ác, gọi là chúng sanh giác, gặp thiện trụ nơi thiện gọi là Thanh Văn Giác. Chẳng trụ hai bên thiện ác và cho sự chẳng y trụ là đúng, đây gọi là Nhị thừa giác, cũng gọi là Bích Chi Phật giác. Đã chẳng y trụ hai bên thiện ác và cũng chẳng khởi tri giải về chẳng y trụ gọi đó là Bồ Tát giác. Đã chẳng y trụ cũng không cái biết chẳng khởi cái tri giải về không y trụ mới được gọi là Phật giác. Như nói Phật chẳng trụ nơi Phật, gọi là chân phước điền, nếu ở trong nghìn muôn người chợt có một người được như thế thì gọi là của báu vô giá, được ở khắp mọi nơi làm Đạo sư. Chỗ không có Phật nói là Phật, chỗ không có Pháp nói là Pháp, chỗ không có Tăng nói là Tăng, đấy là chuyển đại pháp luân.

Hỏi: – Từ trước Tổ Tông đều có mật ngữ lần lượt truyền cho nhau là như thế nào?

Sư đáp: – Không có mật ngữ. Như Lai không có tạng bí mật. Chỉ cái giác chiếu soi hiện tại, lời nói rõ ràng mà tìm hình tướng không được, đó là mật ngữ. Từ Tu Đà Hườn lên đến Thập địa hễ có ngữ cú đều thuộc về pháp trần cấu, hễ có ngữ cú đều thuộc về giáo bất liễu nghĩa, hễ có ngữ cú đều không đúng. Giáo bất liễu nghĩa đều sai lại còn đòi mật ngữ gì nữa?

Hỏi: – Hư không sanh trong đại giác như một hòn bọt nổi trong biển cả là như thế nào? 
Sư đáp: – Hư không dụ cho bọt, nước biển dụ cho tự tánh. Tự tánh linh giác của chính mình siêu việt hư không, nên nói hư không sanh trong đại giác như một hòn bọt nổi trong biển cả.

Hỏi: – Đốn rừng chớ chặt cây là thế nào?

Sư đáp: – Rừng dụ cho tâm, cây dụ cho thân. Nhân vì nói là “đốn rừng” nên sanh ra sợ hãi, do đó nói đốn rừng chớ chặt cây.

Hỏi: Lời nói như cái mô đất để chịu tên bắn. Lời nói sanh ra không thể nào chẳng bị hại như cái mô đất kia (Mô đất dụ như thân, chịu tên bắn dụ như bệnh, thân đã sanh rồi thì tất nhiên phải có bệnh). Tai hại đã đồng, đúng sai làm sao biện biệt?

Sư đáp: Như hai người bắn tên nhau, hai đầu mũi tên đụng nhau giữa đường, nếu như sai chệch một chút ắt sẽ có kẻ bị thương. Trong hang tìm tiếng, nhiều kiếp cũng không có hình, tiếng ở bên miệng, đúng sai là ở nơi người đến hỏi. Cái hỏi  trở lại thì bị trúng tên, cũng như cái biết huyễn chẳng phải huyễn. Tam Tổ nói: “Chẳng biết huyền chỉ, uổng công niệm tịnh”. Cũng nói: Nhận vật làm cái thấy như nắm miếng ngói bể dùng gì được đâu! Nếu nói chẳng thấy thì có khác gì gỗ đá. Thế nên thấy và chẳng thấy cả hai đều có lỗi. Nay nêu lên một để làm ví dụ cho tất cả.

Hỏi: – Vốn không có phiền não thì ba mươi hai tướng là thế nào?

Sư đáp: – Việc bên Phật vốn không có phiền não, có ba mươi hai tướng chỉ là phàm tình hiện nay thôi.

Hỏi: – Bồ Tát Vô Biên Thân chẳng thấy đảnh tướng của Như Lai là thế nào?

Sư đáp: – Do vì cái thấy hữu biên và vô biên nên chẳng thấy được đảnh tướng của Như Lai. Chỉ như nay không có tất cả cái thấy có và cũng không có cái thấy không, đó gọi là đảnh tướng hiện.

Hỏi: – Như hiện nay các thầy Sa Môn đều nói: Tôi y theo lời Phật dạy học một kinh, một luận, một thiền, một luật, một tri, một giải, đáng thọ nhận bốn sự cúng dường của đàn việt như thế có tiêu được không?

Sư đáp: – Theo như nay chiếu dụng, một thanh, một sắc, một hương, một vị, đối với tất cả pháp có, không, ở trên mọi cảnh đều không có mảy may đắm nhiễm, cũng chẳng y trụ vào sự không đắm nhiễm và cũng không khởi tri giải về sự chẳng y trụ, người được như vậy mỗi ngày ăn muôn lượng vàng ròng cũng tiêu. Như nay chiếu soi tất cả pháp có, không… nơi cửa lục căn dầu có cạo gọt mà đối với tham ái có một mảy may trị chẳng hết thì người này dù cho đến xin thí chủ một hạt cơm, một sợi chỉ, đều phải mang lông đội sừng, kéo cày chở nặng, mỗi mỗi đều phải trả nợ thí chủ mới được, vì họ chẳng y theo Phật. Phật là người vô trước, vô cầu, vô y, như nay cứ lăng xăng tham đi tìm Phật đều là trái vậy. Cho nên nói:

“Nhiều kiếp gần bên Phật, 

Mà chẳng biết Phật tánh.

Chỉ thấy người cứu thế (Phật tánh),

Luân hồi trong lục đạo.

Lâu mới thấy được Phật,

Lại nói Phật khó gặp”.

Ngài Văn Thù là Tổ Sư của bảy Đức Phật cũng gọi vị Bồ Tát đứng đầu thế giới Ta Bà này vô cớ tác ý tưởng thấy Phật, tưởng nghe pháp, nên bị sức oai thần của Phật đày xuống hai hòn núi   Thiết Vi. Chẳng phải Ngài không hiểu, nhưng đặc biệt để làm gương cho người học, để kẻ hậu học đừng có thấy nghe như thế. Chỉ cần không có tất cả pháp, có, không, các kiến chấp có, không, mỗi mỗi đều thấu suốt ngoài ba câu, đây gọi là ngọc báu như ý, cũng gọi là đặt chân lên Bửu Liên Hoa. Nếu có tri kiến Phật, tri kiến Pháp, tri kiến có không gọi là con mắt bệnh, vì cái năng kiến, sở kiến, cũng gọi là kiến trói buộc, cũng gọi là kiến che lấp, cũng gọi là kiến tác nghiệt. Chỉ như nay niệm niệm cùng tất cả kiến, văn, giác, tri và hết thảy trần cấu khử bỏ được hết thì một trần, một sắc đều là một Phật. Dẫu khởi một niệm cũng là một Phật, niệm niệm của thân ngũ ấm quá khứ, hiện tại, vị lai vô lượng vô biên, đây gọi là Phật lấp bít hư không, cũng gọi là phân thân Phật, cũng gọi là Bảo Tháp hiện. Vì thế thường than rằng: “Sinh mạng ngày nay bị tứ đại nắm chặt, thiếu một ngày không sống, thiếu một ngày không chết, phải nhờ một hột gạo, một cọng rau, không được ăn thì bị chết đói, không được uống thì bị chết khát, không được lửa sưởi ấm thì bị chết lạnh, như thế chẳng bằng người đã đạt đạo vào lửa không bị cháy, xuống nước không chìm, muốn cháy liền cháy, muốn chìm liền chìm, muốn sống liền sống, muốn chết liền chết, đi ở tự do, người này có phần tự do vậy”.

Tâm nếu không loạn thì chẳng cần cầu Phật, cầu Bồ Đề, cầu Niết Bàn. Nếu chấp trước cầu Phật là tham, tham biến thành bệnh, nên nói: “Bệnh Phật rất khó trị”. Báng Phật, phỉ Pháp mới được lấy cơm ăn. Người ăn là tánh linh giác của chính mình, cơm vô lậu, thức ăn giải thoát, những lời trên là trị bệnh cho hàng Bồ Tát Thập địa.

Như nay hễ có tất cả tâm mong cầu đều gọi là Tỳ Kheo phá giới, là danh dự A La Hán, đều gọi là con chồn, hiển nhiên là không tiêu được đồ cúng dường của người.

Chỉ cần hiện tại nghe tiếng như vang, ngửi hương như gió, lìa hết tất cả pháp có, không, cũng chẳng trụ nơi lìa, cũng không có tri giải về chẳng trụ. Người này tất cả tội cấu không thể buộc ràng được.

Vì cầu Vô thượng Bồ Đề, Niết Bàn nếu gọi là xuất gia, vẫn còn là nguyện tà, huống là sự tranh luận hơn thua ở thế gian, như nói: “Tôi làm được, tôi hiểu được”. Tham thêm một môn đồ, thương một đệ tử, lưu luyến một chỗ ở, kết duyên với một đàn việt, một manh áo, một chén cơm, một danh, một lợi mà lại nói: “Ta được tất cả đều vô ngại”. Đó chỉ là tự dối mình.

Chỉ cần hiện tại đối với ngũ ấm của mình chẳng bị nó làm chủ. Bị người chặt đứt thân thể ra từng khúc vẫn không có tâm oán tiếc, cũng không phiền. Cho đến việc đệ tử của mình bị người đánh đập từ đầu đến chân, những việc kể trên đều không có một niệm sanh tâm bỉ ngã. Song, nếu còn y trụ nơi không có một niệm trên cho đó là đúng đây gọi là sự nhơ bợn của pháp trần. Hàng Thập địa còn thoát chưa được nên còn bị trôi vào dòng sanh tử. Do đó ta thường khuyên mọi người phải sợ phiền não của pháp trần như sợ tam đồ thì mới có phần độc lập. Giải sử có một pháp nào hơn cả Niết Bàn đi nữa, cũng không sanh ra ý tưởng quý trọng thì người này mỗi bước đi là Phật chẳng cần chân đạp hoa sen, chẳng cần phân thân trăm ức. Nếu hiện tại đối với các pháp có không, có tâm ái nhiễm bằng mảy lông thì dẫu cho chân có đạp hoa sen cũng đồng như ma làm.

Nếu chấp vốn thanh tịnh, vốn giải thoát, tự là Phật, tự là Thiền đạo, có kiến giải này, thuộc về phái ngoại đạo tự nhiên.

Nếu chấp nhân duyên tu thành, chứng đắc, tức thuộc về phái ngoại đạo nhân duyên.

Chấp có tức thuộc về phái ngoại đạo thường kiến.

Chấp không tức thuộc về phái ngoại đạo đoạn kiến.

Chấp cũng có cũng không tức thuộc về phái ngoại đạo biên kiến.

Chấp chẳng có chẳng không tức thuộc về phái ngoại đạo không kiến cũng gọi là ngoại đạo ngu si.
Hiện nay chó khởi các kiến chấp Phật, Niết Bàn… Không có tất cả kiến chấp có không, cũng không có cả cái không kiến chấp nữa, mới được gọi là chánh kiến.

Không có kiến chấp nghe và không nghe, cũng không có cái không có kiến chấp nữa mới được gọi là chánh nghe, ấy gọi là dẹp trừ ngoại đạo.

Không có ma phàm phu đến là đại thần chú, không có ma Nhị thừa đến là đại minh chú, không có ma Bồ Tát đến là vô thượng chú, không có ma Phật đến là Vô đẳng đẳng chú.

Một biến chúng sanh là siểm khúc Tu La (B), hai biến Nhị thừa là siểm khúc Tu La, ba biến Bồ Tát là siểm khúc tu la. Đó là tam biến Tịnh độ (C). Tất cả pháp có, không, phàm, thánh… dụ như quặng vàng; tự mình đúng lý dụ như vàng. Vàng với quặng tách rời nhau thì vàng thật lộ ra. Bỗng người muốn tiền thì liền biến vàng thành tiền cho người ấy dùng. Cũng như bột mì thiệt, nếu có người đến xin bánh liền làm thành bánh cho người đó. Cũng như viên quan hầu cận có trí khéo hiểu được ý nhà vua, vua lúc muốn đi kêu “Tiên đà bà”, liền đem ngựa đến; lúc muốn ăn kêu “Tiên đà bà”, liền đem muối đến. Những việc trên dụ cho người học huyền chỉ khéo thông đạt được thì ứng cơ chẳng sai lầm, nên cũng gọi là lục tuyệt sư tử (tự tánh). Ngài Chí Công nói: “Tuỳ người tạo tác trăm sự biến hoá”. Hàng Bồ Tát Thập địa chẳng đói chẳng no, vào nước không chìm, vào lửa không cháy, ví như muốn cháy cũng chẳng được cháy, vì các vị ấy còn bị số lượng quản định. Phật thì chẳng phải như thế, vào lửa chẳng cháy, còn như   muốn cháy liền cháy, vào nước chẳng chìm, muốn chìm liền chìm. Ngài sử dụng tứ đại được tự do, tất cả sắc là sắc Phật, tất cả thanh là thanh Phật, cặn bã nhơ uế của tâm siểm khúc sạch hết, thấu vượt nghĩa ba câu được nói lời này: Bồ Tát thanh tịnh, đệ tử sáng suốt, có nói ra điều gì chẳng chấp có không, tất cả chiếu dụng chẳng lạc vào thanh hay trược.

Người có bệnh mà không uống thuốc là người ngu. Người không bệnh mà uống thuốc là hàng Thanh Văn. Người chấp quyết định vào một pháp gọi là định tánh Thanh Văn. Người luôn luôn đa văn gọi là Tăng thượng mạn Thanh Văn. Người ham biết các Pháp ngoài tâm gọi là hữu học Thanh Văn. Người trầm không trệ tịch và tự biết mình gọi là vô học Thanh Văn.

Tham, sân, si là độc, mười hai phần giáo là thuốc, độc chưa tiêu hết, thuốc không được bỏ, không bệnh mà uống thuốc, thuốc trở thành bệnh. Bệnh hết mà thuốc không bỏ nên nói bất sanh bất diệt là nghĩa vô thường. Kinh Niết Bàn nói: “Có ba điều ác dục: Một là muốn được tứ chúng vây quanh; hai là muốn mọi người làm môn đồ mình; bà là muốn cho mọi người biết ta là Thánh nhân, là người có trí huệ cao”. Kinh Ca Diếp nói: “Một là muốn cầu thấy Phật vị lai; hai là muốn cầu làm Chuyển Luân Vương; ba là muốn cầu vào dòng Sát Đế Lợi; bốn là muốn được vào hàng Bà La Môn nhẫn đến chán sanh tử cầu Niết Bàn.” Những điều ác dục như vậy trước hết phải dứt trừ. Hiện tại hễ có dấy niệm đắm nhiễm đều gọi là ác dục, đều thuộc về sáu cõi trời dục bị ma Ba tuần cai quản.

Hỏi: – Trong hai mươi năm thường sai đi trừ phẩn là thế nào?

Đáp: – Chỉ cần dứt hết thảy các tri kiến có không, chỉ cần dứt tất cả các sự tham cầu, mỗi mỗi đều thấu suốt nghĩa ba câu thì gọi là trừ phẩn. Còn như nay cầu Phật, cầu Bồ Đề, cầu tất cả pháp có không,… Thì đó là chở phẩn vào, không gọi là chở phẩn ra. Nếu hiện tại khởi ra Phật kiến, Phật giải, hễ có sở kiến, sở cầu, sở trước đều gọi là phẩn hý luận, cũng gọi là thô ngôn, cũng gọ là tử ngữ. Như nói: “Biển lớn không chứa tử thi”. Bình thường nói chuyện chẳng gọi là hý luận. Lời nói biện biệt thanh, trược, gọi là hý luận. Văn trong kinh có nói chung hai mươi mốt thứ “không” là để gạn lọc trần luỵ của chúng sanh.

Bậc Sa môn trì trai, giữ giới, nhẫn nhục, nhu hoà, từ bi, hỷ xả là phép tắc thông thường của Tăng sĩ. Đã biết như thế là rõ ràng làm theo lời Phật dạy, song không nên chấp trước. Nếu hy vọng được Phật, được Bồ Đề và các pháp…. Thì khác nào để tay chạm vào lửa. Ngài Văn Thù nói: “Nếu khởi Phật kiến, Pháp kiến thì sẽ tự hại mình”. Vì thế Ngài Văn Thù cầm gươm bên Phật, ông Ương Quật cầm đao bên Thích thị (Phật). Như nói: “Bồ Tát làm ngũ vô gián mà chẳng bị vào địa ngục Vô gián, vì các Ngài là người huyền thông Vô gián nên không đồng như chúng sanh tạo tội ngũ nghịch Vô gián”.

Từ Ba tuần thẳng đến Phật đều là cáu ghét. Không có mảy may y chấp như thế còn gọi là đạo Nhị thừa, huống chi tranh luận tìm sự hơn thua, nói “Ta làm được, ta hiểu được”   thì chỉ được gọi là tranh luận Tăng, chẳng được gọi là Vô vi Tăng.

Hiện tại chỉ cần không tham nhiễm tất cả các pháp có không thì gọi là vô sanh, cũng gọi là chánh tín. Tin mà còn chấp trước vào tất cả pháp thì gọi là lòng tin chẳng đủ, cũng gọi là lòng tin không trọn vẹn, cũng gọi là lòng tin lệch lạc. Lòng tin chẳng đủ cho nên gọi là Nhất xiển đề. Như nay muốn được hoát nhiên ngộ giải thì chỉ cần nhân pháp đều bặt, nhân pháp đều đứt, nhân pháp đều không, thấu suốt nghĩa ba câu đây gọi là người bất đoạ chư số (không lọt vào số lượng), đó là tin pháp, đó là giới thí, văn huệ… Bồ Tát chịu nhịn chẳng thành Phật, chịu nhịn chẳng làm chúng sanh, chịu nhịn chẳng trì giới, chịu nhịn chẳng phá giới, cho nên nói là không trì, không phạm.

Trí trược chiếu thanh, huệ thanh biết trược. Nơi Phật gọi là chiếu huệ, nơi Bồ Tát gọi là   trí, nơi Nhị thừa và chúng sanh gọi là thức, cũng gọi là phiền não. Nơi Phật gọi là trong quả nói nhân, nơi chúng sanh gọi là trong nhân nói quả. Nơi Phật gọi là Chuyển pháp luân, nơi chúng sanh gọi là Pháp luân chuyển. Nơi Bồ Tát gọi là đồ anh lạc trang nghiêm, nơi chúng sanh gọi là ngũ ấm Tòng lâm. Nơi Phật gọi là bốn địa vô minh, do vì hiểu rõ vô minh nên nói vô minh là đạo thể, chẳng đồng với ám muội vô minh của chúng sanh.

Kia là sở, đây là năng,

Kia là sở văn, đây là năng văn,

Chẳng một, chẳng khác,

Chẳng đoạn, chẳng thường,

Chẳng đến, chẳng đi.

Là lời nói sống, là lời nói vượt ra ngoài khuôn khổ ngữ cú, chẳng sáng, chẳng tối, chẳng Phật, chẳng chúng sanh cũng đều như vậy. Đến, đi, đoạn, thường, Phật, chúng sanh đều là lời nói chết. Khắp hay chẳng khắp, đồng hay dị đoạn hay thường, … đều là cái nghĩa của ngoại đạo. Bát Nhã Ba La Mật là Phật tánh của chính mình cũng gọi là Ma Ha Diễn (Đại thừa). Nếu chấp giữ cái tri giác của mình thì thần ngoại đạo tự nhiên. Không giữ cái giác chiếu soi hiện tại, không cầu Phật, nếu cầu cái khác thì thuộc về ngoại đạo nhân duyên. Sơ Tổ nói: “Tâm có chỗ phải, ắt có chỗ quấy”. Nếu quý một vật ắt thì bị một vật làm mê hoặc, nếu trọng một vật thì bị vật làm mê hoặc. Tin thì bị lòng tin làm mê hoặc, không tin thì lại thành phỉ báng. Thế nên đừng quý, cũng đừng không quý, đừng tin cũng đừng không tin.

Phật cũng chẳng phải là vô vi, tuy chẳng phải là vô vi lại cũng chẳng phải là cái tối tăm yên lặng như hư không. Phật là chúng sanh thân lớn, giác chiếu soi nhiều nhưng thanh tịnh, quỷ tham sân bắt không được. Phật là người ở ngoài vòng trói buộc không có mảy may ái thủ, cũng không có tri giải về không ái thủ, đây gọi là đầy đủ lục độ vạn hạnh, nếu cần đồ trang nghiêm thì thứ nào cũng có, còn như không cần không dùng thì cũng chẳng mất nó. Tự do sai khiến được nhân quả, phước trí là tu hành, chứ chẳng phải nhọc nhằn mang nặng mới gọi là tu hành.
Ba thân một thể, một thể ba thân.

1. PHÁP THÂN THẬT TƯỚNG PHẬT:

Pháp thân Phật không sáng, không tối. Sáng tối thuộc về huyễn hoá. Thật tướng là do đối với hư tướng mà đặt tên, thật ra nó vốn không có tất cả tên gọi, như nói: Pháp thân vô vi bất đoạ chư số, thành Phật cao quý, … đều là lời nhẹ như gánh một lon, một lít. Do tên trược mới được đặt tên thanh nên nói thật tướng Pháp thân Phật, cũng gọi Thanh tịnh Pháp thân Tỳ Lô Giá Na Phật, cũng gọi hư không Pháp thân Phật, cũng gọi Đại Viên Cảnh Trí, cũng gọi đệ bát thức, cũng gọi là Tánh Tông, cũng gọi không tông, cũng gọi là Phật ở cõi không tịnh, không uế, cũng gọi sư tử ở tại hang, cũng gọi Kim cang Hậu đắc trí, cũng gọi Vô cấu đàn, cũng gọi Đệ nhất nghĩa không, cũng gọi Huyền chỉ. Tam Tổ nói: “Chẳng biết huyền chỉ, uổng công niệm định”.

2. BÁO THÂN PHẬT:

Báo thân Phật là Phật dưới cội Bồ Đề, cũng gọi là huyễn hoá Phật, cũng gọi là tướng hảo Phật, cũng gọi là Ứng thân Phật, cũng gọi là viên mãn Báo thân Lô Xá Na Phật, cũng gọi là Bình đẳng tánh trí, cũng gọi là đệ Thất thực, cũng gọi là Thù nhân đáp quả Phật, đồng với số năm mươi hai Thiền na, đồng với A La Hán, Bích Chi Phật, đồng với tất cả Bồ Tát, đồng chịu các khổ sanh diệt mà không đồng nghiệp khổ ràng buộc của chúng sanh.

3. HOÁ THÂN PHẬT:

Hiện tại đối với các pháp có, không đều không tham nhiễm, cũng không cả cái không tham nhiễm, lìa ngoài tứ cú. Tất cả ngôn thuyết biện tài đều gọi là Hoá thân Phật, cũng gọi là Thiên bá ức Hoá thân Thích Ca Mâu Ni Phật, cũng đại thần biến, cũng gọi là Du hí thần thông, cũng gọi là Diệu quan sát trí, cũng gọi là đệ Lục thức.

Cúng dường nghĩa là làm thanh tịnh ba nghiệp. Tiền tế (quá khứ) không phiền não để đoạn, trung tế (hiện tại) không tự tánh để giữ, hậu tế (vị lai) không Phật để thành, đó là Tam tế (tam thế) đoạn, là ba nghiệp thanh tịnh, là Tam luân không, là tam đàn không (Tam đàn: người bố thí, người nhận bố thí, tài vật bố thí). Thế nào là Tỳ Kheo hầu hạ Phật? Đó là người lục căn chẳng lậu, cũng gọi là “Trang nghiêm vô chư lậu”, “Rừng cây trang nghiêm vô chư nhiễm”, “Hoa quả trang nghiêm vô Phật nhãn”. Về pháp nhãn của người tu hành biện biệt thanh trược, cũng không có tri giải về sự biện biệt thanh trược, đây gọi là Ngũ nhãn (nhục nhãn cho đến Phật nhãn).

Kinh Bảo Tích nói: Pháp thân không thể dùng kiến, văn, giác, tri để cầu, Nhục nhãn không thấy được vì nó vô sắc, Thiên nhãn không thấy được vì nó vô vọng, Huệ nhãn không thấy được vì nói lìa tướng, Pháp nhãn không thấy được vì nói lìa hành, Phật pháp nhãn không thấy được vì nó lìa thức. Nếu không có những tri kiến trên thì gọi là Tri kiến Phật. Đồng sắc mà chẳng phải hình sắc nên gọi là chân sắc. Đồng không mà chẳng phải thái hư nên gọi là chân không. Sắc với không cũng là lời nói thuốc với bệnh để trị nhau (chấp sắc lấy không trị, chấp không lấy sắc trị).

Pháp giới quan nói: “Chớ nói tức sắc, chẳng tức sắc, cũng chớ nói tức không chẳng tức không”.

Nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý không lãnh nạp tất cả pháp có không, gọi là chuyển vào đệ Thất địa. Bồ Tát Thất địa không lui sụt thất địa. Từ Bồ Tát Bát địa đến Bồ Tát Thập địa, tâm địa trong sạch để hiện diệu dụng của tự tánh, nói lửa lửa liền cháy.

Từ Sắc giới trở lên bố thí là bệnh; bỏn xẻn tham làm là thuốc. Từ Sắc giới trở xuống bỏn xẻn tham lam là bệnh, bố thí là thuốc.

Hữu tác giới là cắt dứt pháp thế gian, chẳng phải thân tay làm thì không có lỗi. Vô tác giới, cũng gọi là Vô biểu giới, cũng gọi là Vô lậu giới. Hễ có dấy tâm động niệm đều gọi là phá giới. Nay chỉ cần không bị các cảnh có không làm hoặc loạn, cũng chẳng y trụ nơi không hoặc loạn, cũng không có tri giải về chẳng y trụ, đây gọi là biến học (phổ biến) cũng gọi là cần tán niệm (cần = siêng, tán = khen), cũng gọi là Quảng lưu bố.

Lúc chưa ngộ, chưa hiểu gọi là mẹ, ngộ rồi hiểu rồi gọi là con. Cũng không có cái tri giải về ngộ hay không ngộ, hiểu hay không hiểu, đây gọi là mẹ con đều chết. Không có sự ràng buộc của thiện, của ác, của Phật, của chúng sanh; số lượng cũng vậy, nhẫn đến không có sự ràng buộc của tất cả số lượng. Cho nên nói Phật là bậc siêu việt số lượng, vượt ra ngoài các sự ràng buộc.
Tham lam, ưa thích tri giải, nghĩa cú cũng như mẹ thương con, chỉ biết cho con ăn nhiều sữa ngon mà con có tiêu hoá được hay không đều không biết. Những lời này dụ cho:

– Hàng Thập địa thọ sự cúng dường của trời, người là tôn quý phiền não.

– Thiền định sanh vào Sắc giới, Vô sắc giới, là phước lạc phiền não.

– Được thần thông tự tại bay đi ẩn hiện khắp tịnh độ mười phương chư Phật, là nghe pháp phiền não.

– Học từ bi hỷ xả là nhân duyên phiền não.

– Học lý không, bình đẳng, là Trung đạo phiền não.

– Học tam minh, Lục thông là Tứ vô ngại phiền não.

– Học tâm Đại thừa là phát Tứ hoằng thệ nguyện phiền não.

– Sơ địa, Nhị địa, Tam địa, Tứ địa là minh giải phiền não. Ngũ địa, Lục địa, Thất địa là chư tri kiến phiền não. Bát địa, Cửu địa, Thập địa là song chiếu Nhị đế (chân đế và tục đế) phiền não. Cho đến học Phật quả là bá vạn A tăng kỳ chư hạnh phiền não. Chỉ biết tham nghĩa cú tri giải chẳng biết đó là trói buộc phiền não, nên nói: “Dòng sông kiến chấp hay cuốn trôi hương tượng” (loài voi lớn ở Hy Mã Lạp Sơn dụ cho hàng Bồ Tát).

Hỏi: – Thấy chăng?

Đáp: – Thấy.

Lại hỏi: – Sau khi thấy thì thế nào?

Đáp: – Cái thấy không hai.

Đã nói thấy không hai thì không được lấy “kiến” để “kiến” cái “kiến”. Nếu “kiến” lại thêm “kiến” thì thành hai câu đầu. Vậy cái “kiến” trước phải hay cái “kiến” sau phải? Cũng như Kinh Lăng Nghiêm nói: “Kiến kiến chi thời, kiến phi thị kiến. Kiến do ly kiến, kiến bất năng cập” (Hai chữ “kiến kiến” này là chỉ cho “kiến tánh”. Khi đã kiến tánh thì kiến (- trước) không phải là năng kiến cho nên không có tánh để làm sở kiến (- sau). Gọi là kiến còn phải lìa kiến, nếu có năng kiến thì không thấy được tự tánh, cho nên nói: Kiến bất năng cập).

Vì thế không hành kiến pháp, không hành văn pháp, không hành giác pháp, không hành tri pháp, thì chư Phật liền thọ ký cho.

Hỏi: – Kiến pháp đã chẳng phải là lời thọ ký thì dùng cái gì để thọ ký?

Sư đáp: – Người đã ngộ Tông thì chẳng bị tất cả pháp có không trói buộc như giặt áo bẩn vậy, nên nói: Ly tướng gọi là Phật, hư thật đều không còn; trung chỉ độc huyền, huyền đạt một lối (Trung chỉ = tự tánh, độc huyền = bất khả tư nghì. Tự tánh huyền diệu bất khả tư nghì, đạt đến cái huyền diệu ấy chỉ có một đường lối là phải tự ngộ mới được), kẻ đồng đạo hậu tấn (hậu học) khế hợp đến bậc đó, nên nói thọ ký vậy.

Vô minh là cha, tham ái là mẹ. Tự kỷ là bệnh, tự kỷ cũng là thuốc. Tự kỷ là dao giết cha vô minh, mẹ tham ái của chính mình, nên nói giết cha hại mẹ. Đó là một cách nói để phá hết thảy pháp. Người ăn phi thời thực cũng vậy. Hiện tại đắm nhiễm tất cả pháp có không đều gọi là ăn phi thời thực cũng gọi là ác thực, là thức ăn nhơ đựng trong chén báu, là phá giới, là làm nhơ chén, là tạp thực.

Phật là người không cầu, hiện nay tham cầu tất cả pháp có không, hễ có sở tác đều là quấy cả, tức là phỉ báng Phật. Hễ có tham nhiễm đều gọi là thọ thủ (trao tay). Còn như nay không tham nhiễm, cũng chẳng y trụ vào không tham nhiễm, cũng không có tri giải về chẳng y trụ, đây gọi là lửa Bát Nhã, lửa đốt ngón tay là không tiếc thân mạng, là cắt thân ra từng mảnh, là xuất thế gian, là cầm thế gian trong lòng bàn tay ném qua phương khác.

Hiện tại, nếu đối với mười hai phần giáo và tất cả pháp có, không ở trong tạng phủ còn có một mảy may lưu giữ là chưa ra khỏi lưới. Hễ có sở cầu, sở đắc, hễ có khởi tâm động niệm đều là con chồn. Như nay chỉ cần trọng tạng phủ đều vô sở cầu, vô sở đắc thì người này là đại thí chủ, là sư tử rống. Lại cũng chẳng y trụ vào Vô sở đắc, cũng không có tri giải về chẳng y trụ, đây gọi là lục tuyệt sư tử.

Nhân ngã chẳng sanh, các điều ác không khởi, đó là để núi Tu Di vào trong hạt cải, chẳng khởi tất cả tham sân và bát phong, … Đó là hút được hết tất cả nước bốn biển lớn vào miệng. Chẳng thọ nhận tất cả ngữ ngôn hư vong, đó là chẳng lọt vào lỗ tai. Chẳng cho thân tạo các điều ác đối với người, đây là nạp tất cả lửa vào trong bụng. Hiện tại chỉ cần đối với mọi cảnh chẳng mê lầm, chẳng tán loạn, chẳng giận, chẳng mừng, nơi của lục căn của mình phải cạo gọt cho sạch sẽ, đó là người vô sự hơn hẳn tất cả những người tri giải, Đầu đà tinh tấn, gọi là Thiên nhãn, cũng gọi là Liễu chiếu nhãn, cũng gọi là Pháp giới tánh, cũng gọi là xe chở nhân quả.

Hỏi: – Phật xuất thế độ chúng sanh là thế nào?

Đáp: – Niệm trước không sanh, niệm sau không tiếp nối, nghiệp trong niệm trước đã hết gọi là độ chúng sanh. Niệm trước nếu giận hờn thì liền đem thuốc hoan hỷ để trị tức gọi là có Phật độ chúng sanh. Tất cả ngôn giáo chỉ là thuốc trị bệnh, vì bệnh chẳng đồng nên thuốc có khác, cho nên có lúc nói có Phật, có lúc nói không Phật. Lời chân thật dùng để trị bệnh, nếu trị lành được bệnh thời mỗi lần đều là lời chân thật, còn nếu trị bệnh chẳng lành thì mỗi lời đều là lời hư vọng. Lời chân thật thành lời hư vọng vì sanh kiến chấp; lời hư vọng thành lời chân thật vì dứt được điên đảo của chúng sanh. Bởi vì bệnh là hư vong, nên dùng thuốc hư vong để trị.

Phật xuất thế độ chúng sanh là chính bộ giáo ngữ, là giáo ngữ bất liễu nghĩa. Giận hờn và hoan hỷ, bệnh tật và thuốc men đều là tự kỷ chứ không có ai khác, thì chỗ nào có Phật xuất thế, chỗ nào có chúng sanh để độ? Như Kinh Kim Cang nói: “Thật không có chúng sanh được diệt độ”. Cũng nói: “Không ưa thích Phật, Bồ Đề, không tham nhiễm các pháp có không gọi là độ tha, cũng chẳng chấp lấy tự kỷ gọi là tự độ”. Vì bệnh không đồng, thuốc cũng không đồng, cho toa cũng không đồng, không được cố chấp. Y theo Phật, y theo Bồ Đề và các pháp, … đều là cơ sở y. Cho nên người trí chẳng được y theo một pháp nào cả. Lời trong kinh dụ như lá vàng, chẳng biết lý này thì gọi là đồng với vô minh. Như nói: “Bồ Tát thực hành Bát Nhã chẳng nên chấp lấy lời ta và y theo lời dạy”.

Sân như cục đá, ái như nước sông. Hiện nay chỉ cần không sân, không ái là thấu được núi sông, vách đá chỉ là trị bệnh cho kẻ tục tai điếc thôi, còn đa văn biện thuyết là để trị bệnh đau mắt.
Từ người lên đến Phật là đắc, từ người trở xuống địa ngục là thất. Thị phi cũng vậy, Tam Tổ nói: “Đắc thất thị phi, nhất thời buông bỏ”.

Không chấp trụ vào tất cả pháp có không thì gọi là bất trụ hữu duyên, chẳng y trụ vào không, y trụ thì gọi là bất trụ không nhẫn.

Người có kiến giải chấp tự kỷ là Phật, tự kỷ là Thiền, đạo gọi là nội kiến, chấp nhân duyên tu chứng mà thành gọi là ngoại kiến, Ngài Chí Công nói: “Nội kiến, ngoại kiến đều sai”.

Mắt, tai, mũi, lưỡi mỗi cái không tham nhiễm tất cả pháp có, không gọi là thọ trí bốn câu kệ, cũng gọi là Tứ quả Lục nhập không dấu tích, cũng gọi là Lục thông. Hiện tại chỉ cần không bị các pháp có, không làm ngại, cũng chẳng y trụ nơi vô ngại và cũng không có tri giải về chẳng y trụ, đây gọi là Thần thông. Không chấp thần thông này là đúng gọi là Không thần thông. Như bảo: Bồ Tát không thần thông, dấu chân không thể tìm là người hướng lên Phật, là người không thể nghĩ bàn là tự kỷ.

Trời là trí chiếu soi. Khen ngợi liền vui mừng, vui mừng thuộc về cảnh. Cảnh là trời, khen ngợi là người. Trời người giao tiếp cả hai được thấy nhau. Cũng nói: Tịnh trí là trời, chánh trí là người, vốn chẳng phải là Phật mà nói với họ là Phật, gọi là thể kết. Nay chỉ cần chớ có tri giải Phật, cũng chẳng y trụ nơi không tri giải Phật, đây gọi là diệt kết, cũng gọi là chân như, cũng gọi là thể như.

Cầu Phật, cầu Bồ Đề gọi là hiện thân ý. Hiện tại hễ có tất cả tâm cầu thì gọi là hiện thân ý. Như nói: Cầu Bồ Đề tuy là sự mong cầu tốt nhưng mà là chồng thêm trần luỵ. Cầu Phật là Phật chúng, cầu tất cả pháp có không là chúng sanh chúng. Hiện tại đối với các môn sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp… không yêu thích, đối với mọi cảnh không tham đắm, hễ không có mười câu trược tâm là liễu chân thành Phật. Học văn cú, tìm tri giải gọi là duyên nhân thành Phật.

Thấy Phật, biết Phật thì được, nói Phật có biết, có thấy tức là phỉ báng Phật. Nếu nói Phật biết, Phật thấy, Phật nghe, Phật nói thì không được, như nói thấy lửa thì được, mà nói lửa thấy thì không được; như dao cắt vật thì được mà vật cắt dao thì không được. Người biết Phật, người thấy Phật, người nghe Phật, người nói Phật thì trong muôn người không có một, còn người nói Phật biết, Phật thấy, Phật nghe, Phật nói thì nhiều như số cát sông Hẳng, chỉ vì tự mình không có mắt, mượn mắt người khác làm mắt, trong kinh gọi là Tỷ lượng trí, như nay tham lam tri giải Phật cũng gọi là Tỷ lượng trí.

Thí dụ của thế gian là thí dụ thuận, giáo bất liễu nghĩa là thí dụ thuận, giáo liễu nghĩa là thí dụ nghịch, xả bỏ đầu, mắt, não, tuỷ là thí dụ nghịch, như nay chẳng thích các pháp Phật, Bồ Đề … là thí dụ nghịch rất khó buông bỏ; cái thí dụ về đầu, mắt, não, tuỷ có ý nghĩa như sau: chấp trước tất cả các cảnh pháp có không gọi là đầu, bị tất cả các cảnh pháp có, không làm nhiễm loạn gọi là tay, lúc chưa chiếu soi tiền cảnh gọi là não tuỷ.

Bậc Thánh làm nhân phàm là Phật, vào trong chúng sanh thị hiện đồng loại để dẫn dụ hoá đạo, đồng bọn với ngạ quỷ chịu lửa đốt từng nóng xương thuyết pháp Bát Nhã Ba La mật cho chúng nghe, khiến chúng phát tâm. Nếu cứ ở nơi địa vị Thánh thì làm sao đến chỗ họ để dạy dỗ. Phật vào trong các loài để làm thuyền bè cho chúng sanh, cả bọn cùng nhau chịu khổ, nhọc nhằn vô hạn; Phật vào chỗ khổ cũng chịu khổ đồng như chúng sanh, nhưng Phật đi ở tự do chẳng đồng chúng sanh, Phật chẳng phải hư không thì lúc chịu khổ đâu thể không khổ. Nếu nói không khổ thì lời này sai trái. Chớ nên nói bậy: Nói Phật được thần thông tự tại hay không tự tại.

Vả lại, người biết hổ thẹn thì không dám nói Phật là hữu vi hay vô vi, chẳng dám nói Phật là tự do hay không tự do, trừ sự khen ngợi phương thuốc ra, chằng muốn để lộ ra hai điều xấu xí (tương đối). Kinh nói: “Nếu người để Phật Bồ Đề ở bên đúng, người này mắc tội lớn”. Cũng nói: “Như ở trước người không biết Phật pháp nói với họ như vậy thì không lỗi”. Như sữa bò vô lậu hay trị bệnh hữu lậu, loài bò này không ở cao nguyên cũng không ở nơi ẩm thấp, sữa bò này có thể làm thuốc, cao nguyên dụ cho Phật, ẩm thấp dụ cho chúng sanh. Như nói: “Pháp thân Phật trí Như Lai không có bệnh này”. Biện tài vô ngại, bay đi tự tại, bất sanh bất diệt, đây gọi là sanh, già, bệnh, chết đau đớn chập chồng, là lối ăn canh nấm bị bệnh kiết lỵ cũng là tối. Sáng ẩn thì tối bày. Sáng, tối đều quét chớ chấp lấy một bên cũng không có cái không, chấp lấy vốn chẳng sáng chẳng tối. Phật từ cung vua sanh, cưới Da Du Đà La cho đến bát tướng thành đạo, những thị hiện này, hàng Thanh Văn và ngoại đạo vọng tưởng cho đó là thật, như nói: “Chẳng phải thân tạp thực”. Ông Thuần Đà nói: “Tôi biết Đức Như Lai chắc chắn không thọ không ăn”. Nhất là cần phải có đủ hai con mắt soi thấu cả hai đầu sự việc không nên chỉ dùng một con mắt hướng bên này đi tức có bên kia đến. Công đức Thiên, Hắc ám Nữ, người chủ có trí thì đối với cả hai đều không nhận. Hiện tại chỉ cần tâm như hư không thì sự học mới thành.

Cao Tổ (ở Ấn Độ) nói: “Tâm tâm như gỗ đá”.

Tam Tổ nói: “Thiện ác đều chớ nghĩ”.

Tiên Sư (Mã Tổ) nói: “Như người lầm đường chẳng biết phương hướng”.

Ngài Tăng Triệu nói: “Đóng chặt trí, lấp thông minh, tánh giác làu làu”.

Ngài Văn Thù nói: “Tâm đồng hư không nên sự kính lễ không có sở quán, kinh điển sâu xa chẳng nghe, chẳng thọ trì”.

Nay chỉ cần đối với tất cả pháp có, không đều chẳng thấy, chẳng nghe, lục căn lấp bít, nếu học được như thế, trì kinh như thế mới có phần tu hành. Lời này nghe qua thật trái tai, đắng miệng nhưng nếu làm được như thế thì đến đời thứ hai, đời thứ ba, có thể hướng đến chỗ không có Phật, ngồi đại đạo tràng thị hiện thành đẳng chánh giác, biến ác thành thiện, biến thiện thành ác. Dùng pháp ác để giáo hoá hàng Bồ Tát Thập địa, dùng pháp thiện để giáo hoá địa ngục, ngạ quỷ, được hướng chỗ sáng để cởi mở sự ràng buộc của sáng, được hướng chỗ tối để cởi mở sự ràng buộc của tối, nắm vàng thành đất, nắm đất thành vàng, trăm thứ biến hoá tự do. Ở ngoài hằng sa thế giới có người cầu cứu, Phật liền dùng ba mươi hai tướng hiện ra trước người ấy, dùng tiếng giống họ để thuyết pháp, ứng cơ tiếp vật, tuỳ hình cảm hóa, biến hiện vào các loài, lìa ngã, ngã sở là thuộc về việc bên kia còn là tiểu dụng cũng là nằm trong các môn Phật sự. Đại dụng là thân lớn ẩn nơi vô hình, là tiếng to giấu trong hy thanh (tiếng ngoài tần số nghe), như lửa trong gỗ, như tiếng ở trong chuông trống; lúc nhân duyên chưa đến thì không thể nói là có hay không. Báo thân sanh lên cõi trời, bỏ Báo thân này như bỏ đàm dãi. Lục độ, vạn hạnh của Bồ Tát như cõi thây chết để qua sông, như ở lao ngục, trong lỗ cầu xí được thoát ra. Phật mang tấm thân ba mươi hai tướng, tướng ấy bị gọi là áo bẩn nhơ, cũng nói: Nếu nói Phật luôn luôn không thọ thân ngũ ấm thì thật vô lý, Phật chẳng phải là hư không thì đâu thể luôn luôn không thọ, Phật chỉ đi ở tự do không đồng với chúng sanh. Từ một cõi trời đến mội cõi trời, từ một Phật sát đến một Phật sát là pháp thường của chư Phật.

Lại nói: Nếu căn cứ vào tam thừa giáo thì thọ người tín thí cúng dường, họ ở trong địa ngục, Bồ Tát phải thực hành tâm từ bi đồng loại hoá độ để báo ân, chứ chẳng nên thường ở Niết Bàn.
Lại nói: Như lửa, thấy lửa đừng mó tay vào thì lửa chẳng đốt người. Hiện tại chỉ cần không có mười câu trược tâm: tâm tham, tâm ái, tâm nhiễm, tâm sân, tâm chấp, tâm trụ, tâm y, tâm trước, tâm thủ, tâm luyến. Mỗi câu đều có ba câu, hễ thấu suốt được nghĩa ba câu thì tất cả chiếu dụng mặc tình tung hoành, thì tất cả cử động làm việc, nói, nín, khóc, cười đều là Phật huệ. Phiền các vị đã ứng lâu, trân trọng cám ơn.

Hỏi: – Thế nào là pháp yếu nhập đạo Đại thừa đốn ngộ?

Sư đáp: – Trước hết ông phải bặt hết các duyên, dẹp bỏ muôn việc, các pháp thiện hay bất thiện, thế gian và xuất thế gian thảy đều buông bỏ, đừng ghi đừng nhớ, đừng duyên đừng niệm, buông bỏ thân tâm, đều cho tự tại, tâm như gỗ đá, miệng không biện luận, tâm không mống niệm, tâm địa nếu không thì mặt trời trí huệ tự hiện, như tan lớp mây mù thì mặt trời xuất hiện, chỉ cần dứt tất cả phan duyên thì các tình chấp tham sân, ái, thủ, sạch, nhơ, đều hết; đối với ngũ dục, bát phong, tâm chẳng động, chẳng bị cái kiến, văn, giác, tri làm chướng ngại, chẳng bị các pháp làm mê lầm thì tự nhiên đầy đủ tất cả công đức, đầy đủ tất cả thần thông, diệu dụng, đó là người giải thoát.

Đối với tất cả cảnh pháp, tâm không tranh cãi loạn động, không nhiếp, không tan, thấu qua tất cả thanh sắc, không bị vướng mắc gọi là đạo nhân.

Thiện ác, phải quấy đều không dùng, cũng không mến một pháp nào, cũng không bỏ một pháp nào gọi là người Đại thừa.

Chẳng bị tất cả thiện ác, không hữu, cấu tịnh, hữu vi vô vi, thế gian xuất thế gian, phước đức trí huệ, ràng buộc gọi là Phật huệ.

Phải quấy, tốt, xấu, đúng lý, không đúng lý, các thứ tình chấp tri giải đều sạch hết, chẳng còn ràng buộc được, nơi nơi đều tự tại đây gọi là Bồ Tát mới phát tâm được lên địa vị Phật.

Hỏi: – đối với tất cả cảnh làm sao để được tâm như gỗ đá?

Sư đáp: – Tất cả pháp vốn chẳng nói không, chẳng tự nói sắc, cũng chẳng tự nói phải quấy, nhơ sạch, chẳng có tâm trói buộc người, chỉ vì con người tự sanh hư vọng trói buộc, làm ra biết bao thứ tri giải và lãnh hội, khởi ra biết bao loại tri kiến, sanh ra biết bao sự yêu thương, sợ hãi, chỉ cần rõ biết các pháp chẳng tự sanh, đều từ một niệm vọng tưởng điên đảo của mình chấp tướng mà có. Biết tâm và cảnh vốn chẳng đến với nhau, ngay nơi đó chính là giải thoát, mỗi mỗi các pháp, ngay nơi đó là tịch diệt, ngay nơi đó là đạo tràng.

Lại nữa tánh sẵn có, không thể đặt lên, vốn chẳng phải phàm chẳng phải Thánh, chẳng phải nhơ sạch, chẳng phải không hữu, cũng chẳng phải thiện ác, nếu nó cùng với các pháp nhiễm tương ưng gọi là cõi người, cõi trời, cõi Nhị thừa, nếu tâm nhơ sạch đều dứt, chẳng trụ nơi ràng buộc, chẳng trụ nơi giải thoát, không có tất cả tâm lượng hữu vi, vô vi, ràng buộc, giải thoát, thì ở nơi sanh tử mà tâm vẫn tự tại, cứu cánh chẳng hoà hợp với các pháp hư vong, huyễn hoá trần lao, sanh tử, ngũ uẩn, lục nhập… xa lìa tất cả, không y trụ một nơi nào. Chẳng bị pháp nào ràng buộc, đi ở vô ngại, qua lại trong sanh tử tử tương tự như cửa mở.

Người học đạo nếu gặp các thứ khổ vui, việc vừa ý hay không vừa ý mà tâm vẫn không lui sụt, chẳng nghĩ đến tất cả thứ danh tiếng, lợi dưỡng, ăn mặc, chẳng tham tất cả công đức, lợi ích, chẳng bị các pháp thế gian làm vướng mắc, không thân, không mến, bình tâm trước mọi sự khổ vui, áo thô ngừa lạnh, cơm hẩm đỡ lòng, ngây ngây như ngu, như điếc, như câm, thì mới có chút phần tương ưng. Nếu trong tâm ham học rộng, biết nhiều, cầu phước, cầu trí đều là sanh tử, đối với lý đạo vô ích lại bị gió tri giải thổi trôi, chìm trong biển sanh tử.

Phật là người không cầu, nếu cầu tức là trái lý – Lý là lý không cầu, nếu cầu liền mất, nếu chấp thì đồng với hữu vi. Do đó Kinh Kim Cang nói: “Chẳng chấp lấy pháp, chẳng chấp lấy phi pháp, chẳng chấp lấy phi phi pháp”. Lại nói: “Pháp mà đức Như Lai được, pháp này không thực cũng không hư”, chỉ cần suốt đời tâm như gỗ đá, chẳng bị ấm giới các nhập, ngũ dục, bát phong làm trôi chìm tức là nhân sanh tử đã được cắt đứt, đi ở tự do, chẳng bị tất cả nhân quả hữu vi trói buộc, chẳng bị hữu lậu câu thúc, mai kia sẽ trở lại dùng sự không tự trói buộc làm nhân, đồng sự lợi ích, dùng tâm vô trước ứng tất cả vật, dùng huệ vô ngại mở tất cả sự trói buộc cũng gọi là tuỳ bệnh cho thuốc

Hỏi: – Như nay xuất gia thọ giới, thân miệng thanh tịnh, đã đủ các pháp có được giải thoát không?

Sư đáp: – Được chút phần giải thoát mà chưa được tâm giải thoát, cũng chưa được tất cả chỗ giải thoát.

Hỏi: – Thế nào là tâm giải thoát và tất cả chỗ giải thoát?

Sư đáp: – Chẳng cầu Phật, chẳng cầu pháp, chẳng cầu Tăng, nhẫn đến chẳng cầu phước trí, tri giải … Tình chấp nhơ sạch đều dứt hết, cũng chẳng chấp không cầu là phải, cũng chẳng trụ nơi chỗ dứt hết, cũng chẳng mến thiên đường, sợ địa ngục, trói buộc và giải thoát đều vô ngại, tức là thân tâm và tất cả chỗ đều được giải thoát.

Ông chớ cho rằng có được chút phần giới thân miệng ý thanh tịnh là xong, đâu biết rằng: Môn giới, định, huệ như số cát sông Hằng mà vô lậu giải thoát đều chưa dính một mảy lông.

Hãy nỗ lực tiến lên! Hãy dũng mãnh tham cứu! Đừng đợi tai điếc, mắt mờ, mặt nhăn, đầu bạc, già khổ đến thân, buồn thương vương vít rơi lệ dầm dề, trong lòng sợ hãi không có gì để nương tựa và cũng không biết phải đi về đâu. Đến lúc ấy, muốn tay chân không run rẩy cũng không được. Dẫu cho có phước trí, tiếng tăm, lợi dưỡng cũng không cứu được, vì tâm huệ chưa mở, chỉ nghĩ đến các cảnh, chẳng biết phản chiếu, chẳng thấy Phật đạo, nghiệp duyên thiện ác của một đời, tất cả nghiệp ác trong lục đạo, ngũ ấm, hoặc vui, hoặc sợ, từ tham ái của tự tâm hiện ra, biến thành những cảnh thù thắng: nhà cửa xe thuyền tốt đẹp chói lọi hiển hách, chỉ theo chỗ nặng của tham ái, tuỳ nghiệp thọ sanh rồng, súc sinh tốt xấu chưa định được, chẳng chút tự do.

Hỏi: – Thế nào là được phần tự do?

Sư đáp: – Như nay được thì được, hoặc đối với ngũ dục, bát phong, tâm không lấy bỏ, bỏn xẻn, đố kỵ, tham ái, ngã sở đều sạch, nhơ sạch đều quên, cũng như mặt trời trên hư không, chẳng duyên mà chiếu, tâm tâm như gỗ đá, niệm niệm (tham thiền) như cứu lửa cháy đều cũng như voi lớn qua sông cứ băng ngang dòng nước không chút nghi ngờ. Người này thiên đường, địa ngục không câu thúc được.

ĐƯỜNG LỐI THỰC HÀNH THAM TỒ SƯ THIỀN

ĐƯỜNG LỐI THỰC HÀNH
THAM TỒ SƯ THIỀN

Tổ Sư Thiền này là do đường lối chánh thức của Tổ Sư truyền xuống, gọi là tham thiền. Tham thiền không phải là ngồi thiền, ngồi thiền cũng không phải là tham thiền. Nhiều người lầm tưởng rằng ngồi thiền tức tham thiền kỳ thực tham thiền không cần ngồi cũng được. Như Tổ dạy: Phải khi lao động mà tập tham được mới tốt, nếu chỉ thích ngồi yên một chỗ vắng lặng mà tập tham thì khó hy vọng kiến tánh.
Lục Tổ nói: “Đạo do tâm ngộ, bất tại tọa”. Phẩm Tọa thiền trong Pháp Bảo Đàn Kinh nói đến Tọa thiền là tâm tọa (chứ không phải thân tọa) nghĩa là: ngoài đối với tất cả cảnh giới thiện ác tâm niệm chẳng khởi gọi là tọa, trong thấy tự tánh chẳng động gọi là thiền. Vậy thế nào là tham thiền? Chữ tham tức là Nghi, Nghi tức là không hiểu, một việc gì đã hiểu rồi thì hết nghi, hết nghi tức là không có tham, cho nên tham thiền rất chú trọng cái nghi gọi là nghi tình. Muốn khởi lên cái nghi tình phải nhờ câu thoại đầu, gọi là tham thoại đầu. Thế nào là thoại đầu? Theo Ngài Hư Vân giải thích rằng khi muốn nói một câu thoại thì phải khởi niệm rồi mới nói được, lúc chưa khởi niệm muốn nói gọi là thoại đầu, nếu đã khởi niệm muốn nói, mặc dù chưa nói ra cũng đã là thoại vĩ rồi. Hiện nay bắt đầu tham thiền thì chưa đến thoại đầu nhưng cũng không phải ở thoại vĩ, là từ thoại vĩ tiến đến thoại đầu, đang đi ở giữa đường một ngày kia sẽ tiến tới thoại đầu. Lúc ấy câu thoại tự mất, nếu còn câu thoại thì chưa đến thoại đầu. Ngài Hư Vân có thí dụ rằng: “Thoại đầu là cây gậy, nghi tình là đi, như người cụt chân muốn đi phải nhờ cây gậy, cũng như muốn khởi nghi tình phải nhờ câu thoại đầu vậy.
Nói tham thoại đầu, thoại đầu thì nhiều lắm, muôn muôn ngàn ngàn kể không hết, bây giờ tôi chỉ đề ra 5 câu thoại đầu để cho người tham thiền tự mình lựa một câu, câu nào tự mình cảm thấy rất khó hiểu, hiểu không nổi thì câu đó thích hợp cho mình tham. Chỉ được lựa một câu không cho lựa hai câu và sau khi quyết định câu nào rồi không cho đổi qua đổi lại, thẳng tới mà tham đến kiến tánh mới thôi.
Năm câu thoại đầu là:
Khi chưa có trời đất, ta là cái gì?
Muôn pháp về một, một về chổ nào?
Trước khi cha mẹ chưa sanh, mặt mũi bổn lai của ta ra sao?
Sanh từ đâu đến, chết đi về đâu?
Chẳng phải tâm, chẳng phải Phật, chẳng phải vật, là cái gì?
Câu thoại đầu là câu hỏi, có hỏi thì phải có đáp, cũng như câu: “Khi chưa có Trời đất, ta là cái gì?” hỏi thầm trong bụng cảm thấy không hiểu thì đáp không ra, đáp không ra thì càng thấy thắc mắc, chính cái thắc mắc đó gọi là nghi tình. Hỏi câu thứ nhất đáp không ra thì tiếp tục hỏi câu thứ nhì, đáp không ra, tiếp tục hỏi câu thứ ba, cứ tiếp tục hỏi mãi, ngày đêm không ngừng, bất cứ đi, đứng, nằm, ngồi, đang làm công việc tay chân hay bằng trí óc, đi bộ, đi xe, đang ăn cơm, đang đi cầu, đang ngủ mê, đều phải tiếp tục hỏi tới hoài, không giây phút gián đoạn. Người sơ tham thì hay quên cũng như một ngày 24 tiếng đồng hồ, gián đoạn 23 tiếng, tập tham dần dần thì sự gián đoạn giảm bớt còn 22 tiếng, rồi tiếp tục còn 21 tiếng, 20 tiếng v.v… dần dần đến công phu miên mật tức là ngày đêm 24 giờ không giây phút gián đoạn. Khi công phu được thành khối cũng gọi là đến thoại đầu, cũng gọi là đến đầu sào trăm thước. Từ đầu sào trăm thước tiến thêm một bước nữa là kiến tánh, đạt đến chỗ tự do tự tại, được giải thoát vĩnh viễn tất cả khổ.
Người tham Tổ Sư Thiền phải chú ý những điều sau đây:
1 – PHÁ NGÃ CHẤP
Theo Phật pháp, bất cứ tiểu thừa, trung thừa, đại thừa, cho đến tối thượng thừa, chẳng có thừa nào là không phá ngã chấp cả. Nếu không phá ngã chấp thì không được giải thoát cái khổ sanh tử, không được ra khỏi sanh tử luân hồi. Vậy tham thiền phải phá ngã chấp bằng cách nào? Là bằng chín chữ: “Vô sở đắc, vô sở cầu, vô sở sợ” đó là cái căn bản để thực hành phá ngã chấp. Nếu có sở đắc là còn chấp ngã, có sở cầu là còn chấp ngã, có sở sợ là còn chấp ngã.
2 – PHÂN BIỆT HỔ NGHI VÀ CHÁNH NGHI
Tham thiền là chánh nghi. Chánh nghi là chỉ cho tâm nghi, chứ không cho tâm đi tìm hiểu so sánh, để nuôi cái nghi tình cho thật mạnh. Khi nghi tình mạnh tới cùng tột, thình lình bùng nổ gọi là kiến tánh. Kiến tánh là giác ngộ, là biết được chính mình mới làm chủ được mình. Tự làm chủ được mới tự do tự tại được. Tự do tự tại là vĩnh viễn giải thoát tất cả khổ, cho nên gọi là kiến tánh thành Phật. Còn hồ nghi là lấy tâm đi tìm hiểu, hoặc giải thích câu thoại đầu cho ra đáp án, đó không phải là tham thiền, hồ nghi chỉ có thể được giải ngộ, chứ không được chứng ngộ, cũng như nhà khoa học Newton thấy trái táo từ trên cây rơi xuống mà sanh ra nghi vấn: Tại sao trái táo rớt xuống đất mà không bay lên trời? Từ đó, ông lấy tâm đi nghiên cứu tìm hiểu, cuối cùng ngộ được: Lực hấp dẫn vạn vật. Đó là hồ nghi. Hồ nghi chỉ có thể phát minh được đồ dùng của thế gian, chỉ có giá trị đối với thế gian vì không ngộ được chính mình nên không làm chủ mình được, không đạt đến tự do tự tại được.
3- CHẲNG CHO KHỞI BIỆT NIỆM
Ngoài nghi tình ra không cho khởi niệm khác, không cho đè nén vọng tưởng, không cho buông bỏ vọng tưởng, cũng không cho trừ vọng tưởng, vọng tưởng khởi lên bao nhiêu cũng mặc kệ không cần biết tới có vọng tưởng hay không có vọng tưởng, vì nghi tình chính là cây chổi automatic, không cần sự tác ý, tự nó quét sạch tất cả. Vó vọng tưởng cũng quét, không có vọng tưởng nó cũng quét. Nếu nghi tình được miên mật thì tất nhiên vọng tưởng không có kẽ hở mà nổi lên, hễ có khởi lên một niệm khác tức là đã có kẽ hở rồi.
4 – NHÂN QUẢ, NGHI NGỘ
Phải biết nghi là nhân, ngộ là quả. Không có nhân thì không có quả cho nên bất nghi bất ngộ, nhân nhỏ, quả nhỏ, cho nên tiểu nghi, tiểu ngộ, nhân lớn, quả lớn, cho nên đại nghi, đại ngộ. Nếu tham thiền lúc nghi tình nặng, ảnh hưởng đến nhức đầu, tức ngực, khó thở, đó là đại nghi. Khi đó, thì nhức nhiều chừng nào thì tốt chừng nấy, chớ nên sợ, đó là tình hình tốt bởi vì đại nghi sẽ được đại ngộ. Nhưng lúc ngồi mà có tình trạng như vậy thì không được.
Không được thì phải làm sao? Phải mau mau đứng dậy kiếm công việc làm nhưng vẫn phải tiếp tục tham cứu. Nếu tham tới cảm thấy thần kinh căng thẳng quá chịu không nổi thì câu thoại đầu phải đề chậm lại từng chữ một, chậm thật chậm, mỗi chữ kéo dài độ mười giây như vậy sự căng thẳng thần kinh sẽ dần dần được giải tỏa.
5- CHẲNG PHÂN BIỆT TƯ CÁCH
Tham Tổ Sư Thiền không kể sơ tham, lão tham, thông minh, dốt nát, ngu si, người già hay trẻ con. Trong Kinh Pháp Hoa: Long Nữ 8 tuổi được thành Phật. Truyền Đăng Lục (lịch sử thiền tông Trung Hoa) có một cô họ Trịnh 13 tuổi kiến tánh, một cô họ Tô 15 tuổi được kiến tánh và nhiều Tổ ngu si dốt nát cũng tham thiền được kiến tánh. Người tham thiền chỉ cần thống thiết vì việc sanh tử, dũng mãnh tham cứu thì bất cứ người nào cũng có thể kiến tánh thành Phật, không nên tự khinh khả năng thành Phật của mình.
6 – THÂM TIN TỰ TÂM
Tham thiền phải tin tự tâm, nếu chỉ tin pháp môn tham thiền mà không tin tự tâm thì dù tinh tiến đến mức nào cũng không được kiến tánh, nên Ngài Bác Sơn nói: tin có chánh, tà; tin “tự tâm tức Phật” là chánh, ngoài tâm chấp có pháp gọi là tà; “tức Phật” là cần phải tham cứu cho sáng tỏ tự tâm và phải đích thân dẫm đến tới chỗ chẳng nghi mới gọi là chánh tín, còn như mập mờ, lầm lạc, đoán mò chỉ nói “tức tâm tức Phật” mà thật không muốn tham cứu rõ tự tâm thì gọi là tà tín.”
7 – PHẢI NGỘ TỰ TÁNH
“Hàn lu trục khối, sư tử giảo nhân” (Chó Hàn đuổi cục xương, sư tử thì cắn người). Đây là hai câu thí dụ của Tổ Sư, nghĩa là: Một người quăng cục xương, con chó đuổi theo cục xương mà cắn còn con sư tử thì không ngó tới cục xương cứ cắn ngay người đó. Người đó dụ cho tự tánh, cục xương dụ cho lời nói của Tổ, của Phật. Nếu hướng vào lời nói của Tổ, của Phật mà ngộ là con chó, hướng vào tự tánh mà ngộ là con sư tử.
Cổ Đức nói: “Tử ư cú hạ” (chết trong ngữ cú), hướng cử khởi xứ thừa đương (hướng vào chỗ lời nói mà nhận lấy)”, nghĩa là lời nói của Tổ vừa nói ra, vừa
nghe hiểu liền cho đó là ngộ, nhưng sự hiểu ngộ đó còn nằm trong ý thức phân biệt, mặc dù đúng lý thế gian rất lô-gích, nhưng vì chẳng biết cần phải lìa ý thức mới chứng ngộ được. Cho nên bị Tổ chê là Hàn lu (loại chó mực rất thông minh ở nước Hàn).
8 – KHÔNG LỌT VÔ KÝ
Tham thiền nên tránh lọt vào “Vô ký-không”. Pháp môn khác chỉ cầu được dứt niệm, nhưng tham thiền trái lại không cho dứt niệm tức là nghi tình phải luôn luôn tiếp tục, không cho gián đoạn. Nếu không có nghi tình cũng không có vọng tưởng thì lọt vào Vô ký-không là một thứ thiền bệnh, Tổ Sư gọi là “ngâm nước chết”, mặc dù lúc ấy cảm thấy được thanh thanh tịnh tịnh, trong mình cảm thấy nhẹ nhàng nhưng chấp lấy cái đó thì vĩnh viễn không được kiến tánh, chẳng thà có nghi tình, có vọng tưởng còn tốt hơn. Vậy tham thiền nếu chưa đến thoại đầu chớ nên bỏ câu thoại. Có người bỏ câu thoại vẫn còn nghi tình cho là tốt, thực thì không đúng vì có thể bị gián đoạn một khoảng thời gian lâu mà tự mình không hay, lại cũng dễ bị lọt vào vô Ký không nữa.
9 – HÀNH KHỞI GIẢI TUYỆT
Theo giáo-môn thông thường, sự tu hành phải trải qua bốn giai đoạn là: tín, giải, hành, chứng. Ban đầu do tin rồi đi tìm hiểu (giải), theo sự hiểu mà thực hành, vừa thực hành vừa tìm hiểu thêm, vừa hiểu thêm vừa thực hành thêm từng bậc tiến lên chứng từ thập tín, thập trụ, thập hạnh, thập hồi hướng, thập địa cho đến đẳng giác, diệu giác. Đó là cách tu thông thường. Còn Tổ Sư thiền thì không phải vậy. Trước tiên cũng phải có tin, có hiểu, nhưng khi bắt đầu thực hành thì không được tìm hiểu nữa. Thiền môn gọi là “Hành khởi giải tuyệt” tức là đã bắt đầu tham thiền rồi thì sự tìm hiểu kiến giải phải chấm dứt.
Cho nên tham thiền không cho hiểu thiền, hiểu đạo. Tại sao vậy? Vì đang tham thiền là đã có thiền, có đạo rồi. Nếu đi tìm hiểu thiền hiểu đạo nữa thì cũng như mình đã có một cái đầu rồi còn sinh thêm một cái đầu thứ hai nữa. Tổ Sư gọi: “Đầu thượng an đầu” (trên đầu thêm đầu) thì cái đầu thứ hai, không những không có ích cho cái đầu bổn lai, lại còn làm chướng ngại khổ sở cho cái đầu bổn lai nên phải mời Bác sĩ cắt bỏ mới được khôi phục sức khỏe lại.
Vậy hiểu thiền hiểu đạo còn không cho huống là đi tìm hiểu cái khác nữa. Phải biết rằng ham tìm hiểu rất chướng ngại cho sự chứng ngộ. Thế nên “Hành khởi giải tuyệt” là vậy.
10 – CHÚ TRỌNG THỰC HÀNH
Tổ Sư Thiền chỉ chú trọng thực hành không cần lý luận, nhưng khi đang thực hành sẽ tùy theo căn cơ trình độ khác biệt, tình chấp nặng nhẹ, kiến giải cao thấp và sự ham thích bất đồng của mỗi người mà sinh ra muôn ngàn lối tẻ sai biệt, cho nên quyển sách này chỉ được nêu ra những điều thực hành chung,
còn nhiều chi tiết vi tế không thể kể hết ở trong này, phải tùy bệnh mà cho thuốc, vì thế mặc dù cách tham thoại đầu rất dễ nhưng cũng phải có người lão tham hướng dẫn mới được. Nếu tự làm tài khôn mà không đi đúng với tôn chỉ chính xác tủa Tổ Sư Thiền thì sẽ có thể trở thành phỉ báng Phật pháp, tạo tội địa ngục mà tự mình không biết, xin người học thiền để ý cho.

CƠ BẢN THỰC HÀNH 
TỒ SƯ THIỀN
Muốn đạt đến kiến tánh giải thoát, hành giả tham tổ sư thiền cần phải thực hành đúng theo cơ bản như sau:
1 – TIN TỰ TÂM
Thế nào là TIN TỰ TÂM? Phải tin tự tâm mình đồng với Chư Phật chẳng hai chẳng khác, tức là thần thông trí huệ của bản tâm mình không kém hơn Chư Phật một tí nào cả. Vì bản thể và diệu dụng của bản tâm mình cũng như Chư Phật, cùng khắp không gian và thời gian, nên nói tự tánh bình đẳng bất nhị. Nếu kém Phật một tí thì Phật cao hơn chúng sanh, là bất bình đẳng, có cao có thấp là nhị.
Nếu đã tin tự tâm sẳn đầy đủ tất cả năng lực thần thông trí huệ, bản thể và diệu dụng cùng khắp không gian và thời gian, như Phật nói “Ngoài tâm chẳng có pháp” thì đương nhiên thực hành được 9 chữ “VÔ SỞ ĐẮC, VÔ SỞ CẦU, VÔ SỞ SỢ”. Vì đắc là đắc ngoài tâm, cầu là cầu ngoài tâm, bản tâm cùng khắp không gian và thời gian, ngoài không gian chẳng có không gian, ngoài thời gian chẳng có thời gian, vậy thì ngoài còn chẳng có, còn có gì để cho mình đắc để cho mình cầu! Không đắc không cầu thì không còn gì để sợ, như thế không phá ngã chấp cũng tự phá ngã chấp rồi, vì VÔ SỞ ĐẮC, VÔ SỞ CẦU, VÔ SỞ SỢ là dùng để phá ngã chấp, phá hết ngã chấp thì được giải thoát cái khổ sanh tử luân hồi.
Lại nếu không tin tự tâm, chỉ tin pháp môn Tổ Sư Thiền thì dù siêng năng tu tập cách mấy cũng không thể đạt đến kiến tánh. Tại sao? Vì không tin tâm mình thì làm sao tự hiện được bản tâm mình! Tự hiện bản tâm tức là kiến tánh, nên nói tin tự tâm là cơ bản của chánh pháp.
2 – NGHI TÌNH.
Thế nào là NGHI TÌNH? Tức là đề câu thoại đầu hỏi thầm trong bụng, cảm thấy không biết, thiền môn gọi là Nghi Tình. Bất cứ đi đứng nằm ngồi, làm việc bằng tay chân hay trí óc, cho đến lúc ăn cơm, đi cầu, nói chuyện, ngủ mê đều phải có nghi tình. Có nghi tình mới được gọi là tham thiền, nói một cách khác tức là dùng cái tâm không biết (Nghi Tình) của bộ não để chấm dứt tất cả biết của bộ não (1). Dù nói chấm dứt, kỳ thật khỏi cần tác ý chấm dứt, có
nghi tình thì đương nhiên tự nó chấm dứt, vì tất cả biết của bộ não đều là tướng bệnh, cũng là cái biết của người mù. Ví như người mù không thấy mặt trời, hỏi người mắt sáng, người mắt sáng nói “mặt trời có tròn có nóng”, người mắt sáng diễn tả mặt trời thì đúng, nhưng người mù chấp tròn với nóng cho là mặt trời thì không đúng rồi.
Muốn giữ nghi tình trước tiên phải chấm dứt những tìm hiểu biết và ghi nhớ biết, sau chấm dứt luôn cái tùy duyên biết (tùy duyên biết là khỏi cần tìm hiểu cũng biết, như đi đứng nằm ngồi, mặc áo ăn cơm v.v…). Nên Ngài Lai Quả nói “lúc công phu đến thoại đầu thì đi chẳng biết đi, ngồi chẳng biết ngồi”. Công phu đến thoại đầu thì câu thoại tự mất, tất cả biết của bộ não đều hết, khi ấy tham thiền không biết tham thiền, ăn cơm không biết ăn cơm, luôn cả cái không biết cũng không biết luôn. Công phu đến đây là gần kiến tánh, người đời coi mình như người khờ ngốc, nhưng sự thật thì sẽ phát đại trí huệ, cuối cùng cái nghi tình bùng nổ, cái tâm không biết của bộ não cũng tan rã. Bấy giờ cái biết và không biết của bộ não đều sạch, tướng bệnh (tác dụng của bộ não) đã hết, trong sát na đó tướng mạnh (cái biết của bản thể Phật tánh) hiện ra, gọi là kiến tánh thành Phật.
Tổ nói “Tri chẳng có hai người, pháp chẳng có hai thứ”. Tại sao tri chẳng có hai người? Vì cái tri của bản thể gọi là Chánh Biến Tri, cùng khắp không gian và thời gian, chỉ có một cái tri(2), nếu có thêm cái tri của bộ não (không cùng khắp) thì thành hai cái tri, tức là hai người. Sao nói pháp chẳng có hai thứ? Vì tất cả pháp đều do tâm tạo, bản thể của tâm đã cùng khắp không gian và thời gian thì pháp của tâm tạo ra cũng phải cùng khắp như bản tâm, nên nói pháp chẳng hai thứ. Nếu có pháp nào do bộ não chấp nhận là pháp thật thì pháp thứ hai này cũng là tướng bệnh.

GHI CHÚ:
(1) CÁI TÂM KHÔNG BIẾT CỦA BỘ NÃO:
Khi hỏi câu thoại đầu cảm thấy không biết, thì cái tâm ham biết của tập khí lâu đời bất tri bất giác tự mống khởi, rồi tự thành nghi tình. Cái tâm không biết này khác với cái không biết của người khờ ngốc, bệnh tâm thần và sự ngủ mê hay chết giấc, nên nói cái tâm không biết của bộ não là cơ bản của nghi tình. Muốn giữ nghi tình là phải dùng cái tâm không biết, nếu tâm có biết thì không phải nghi tình, tức là không có tham thiền.
(2) Tự tánh bất nhị vốn chẳng phải một, nay nói MỘT chỉ là phương tiện, nếu thật có một thì phải có hai, ba cho đến muôn ngàn.

Ghi chú hết
 


 
—o0o—
Nguồn: thuvienhoasen.org
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật: 9-2007

KINH DUY MA CẬT

…… … ..  . ..  .  .

Kinh Duy-ma-cật Sở Thuyết

Cưu-ma-la-thập dịch Hán

HT. Thích Huệ Hưng dịch Việt

LỜI GIỚI THIỆU

ôn Bất Nhị. Chính đó là phương tiện của Chư Phật, Bồ Tát thị hiện chỉ rõ chỗ diệu dụng của bản tâm thanh tịnh, là PHÁP MÔN GIẢI THOÁT BẤT KHẢ TƯ NGHỊ mà Ngài DUY MA CẬT lặng thinh, đức Văn Thù tán thán, hàng Nhị thừa sửng sốt, không thể lấy trí suy nghĩ phân biệt biết nổi, không thể dùng lời nói luận bàn đến được.
Từ xưa chư Phật, Bồ Tát ra đời giáo hóa chúng sanh, với lòng bi nguyện thâm thiết đều muốn cho tất cả thoát ly cảnh giới triền phược khổ não, đồng hưởng cảnh thanh tịnh an vui giải thoát. Nhưng muốn thực hiện cảnh giới thanh tịnh an vui giải thoát, cốt yếu là mình phải được thanh tịnh như trong kinh nói “TÙY KỲ TÂM TỊNH, TẮC PHẬT ĐỘ TỊNH”.
Sở dĩ thân Phật rực rỡ, cảnh Phật trang nghiêm cũng đều do công đức diệu dụng của bản tâm thanh tịnh lưu xuất. Bản tâm ấy, chúng sanh sẳn có, cũng như chư Phật, không hai không khác, nhưng vì từ lâu cứ mê chấp, đắm nhiễm theo trần duyên mà không hiển bày được đó thôi.
Bộ Kinh “DUY – MA – CẬT” này, tôn yếu hiển bày pháp m
Giáo lý Tối Thượng Thừa này thật siêu thắng, trong đời ít có, khó gặp.
Nay thầy Thích Huệ Hưng gia tâm phiên dịch ra quốc văn, vì thời cơ xứng hiệp, nên được nhân duyên xuất bản.
Nhận thấy pháp Tối Thượng Thừa này rất lợi ích, nên tôi nhứt tâm tùy hỉ giới thiệu cùng các bạn tu hành nào muốn tìm phương GIẢI THOÁT, muốn thực hiện cảnh giới an vui BẤT KHẢ TƯ NGHỊ.
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. GIÁC NGUYÊN PHẬT HỌC ĐƯỜNG                      Mùa Hạ Năm Tân Mão – 1951 Sa môn: LÊ PHƯỚC BÌNH
LỜI NÓI ĐẦU
Kinh “DUY MA CẬT” cũng có tên gọi: Kinh “BẤT KHẢ TƯ NGHỊ GIẢI THOÁT”. Kinh này nói rõ cảnh giới của Đại Bồ Tát chứng nhập.
Bồ Tát thường chẳng những thị hiện thuận hành mà cũng lắm khi thị hiện nghịch hành để hóa độ chúng sinh.
Ngài DUY MA CẬT chính là vị Đại Bồ Tát ở cõi Bất Động, vì trợ duyên đức Thích Ca mà hiện thân cư sĩ đến cõi Ta bà này.
Muốn hiển bản tánh “Bình Đẳng Chơn Thật Không Hai” của chúng sinh sẵn có, Ngài hiện thân có bịnh để chỉ bày các phương pháp phá chấp: có, không, thường, đoạn của Tiểu Thừa và phàm phu ngoại đạo.
Đọc vào kinh ta nhận thấy chẳng những hàng xuất gia mới thật hành được Phật đạo, mà Cư sĩ, Bà la môn cho đến mọi tầng lớp dân chúng cũng đều thật hành được Phật đạo. Có thật hành Phật đạo mới trở về bản tánh “bình đẳng không hai” và đầy đủ diệu dụng giải thoát.
Đạo Phật là đạo chú trọng thật hành, không phải lý thuyết suông.
Bộ Kinh DUY MA CẬT đây hiển rõ rành mạch cả lý thuyết và chỗ thật hành cho đến thế nào là thân chứng. Càng đọc, càng gẫm, càng thật hành, ta sẽ thấy đầy tánh cách từ bi vô ngại rộng lớn bao la của tâm hồn lợi tha triệt để.
Đời đang đắm chìm trong biển khổ mênh mang, người muốn cứu đời chân chính, cần phải có phương pháp chân chính cao siêu. Thấy sự lợi ích của kinh này hướng dẫn mọi người đi đến mục đích cao cả, thoát hẳn muôn sự mê lầm đen tối của tâm hồn chấp trước, ích kỷ, nhỏ hẹp và hành vi khổ lụy nhơn sinh, Dịch giả chẳng nệ gì chỗ hiểu chưa cùng tột và hạnh đức chưa thân chứng đến cảnh giới “bất tư nghị” mà vội cống hiến cho bạn đọc một pho sách chưa từng có.
Vậy có chỗ nào sơ sót mong các bực cao minh phủ chính cho. Rất thâm tạ!
Dịch giả cẩn chí.

LỆ NGÔN

I. Kinh này có phân ra thượng, trung, hạ, 3 quyển, 14 phẩm. Nhưng tôi dịch đây chỉ để luôn một quyển và số mục của các phẩm.
II. Về phẩm II và III, tôi có nêu tên các vị Thanh Văn, Bồ Tát trên mỗi đoạn cho dễ tìm khi quí vị muốn xem.
III.   Ở sau có phụ phần chú thích danh từ. Phàm danh từ nào ở trước có giải rồi sau không giải nữa.
IV. Kinh này không phải là kinh khóa tụng hằng ngày, nhưng nếu quí vị nào phát tâm trì tụng cũng được nhiều lợi ích và công đức vô lượng, như trong phẩm “Thấy Phật A Súc”, phẩm “Pháp cúng dường” và phẩm “Chúc lụy” có nói rõ. Khi tụng kinh này cũng phải y theo nghi thức tụng niệm thường lệ, trước khai kinh, sau hồi hướng như tụng các kinh khác vậy.
Kính dâng Giác LinhBổn Sư Hòa Thượng hiệu CHÁNH THÀNHCHÙA VẠN AN chứng giámĐệ tử: HUỆ HƯNG

~~oOo~~

 

Giới thiệu | 1 | 2 | 4 | 5 | 6 | 7 | 8 | 9 | 10 | 11 | 12 | 13 | 14

KINH PHÁP BẢO ĐÀN GIẢNG GIẢI

LỜI ĐẦU SÁCH
Kinh PHÁP BẢO ĐÀN là một tài liệu thiết yếu cho những người tu theo
Thiền Tông, bởi vì cốt tủy Thiền Tông đều nằm gọn trong những lời dạy đơn giản
bình dị của Lục Tổ. Hơn nữa, Lục Tổ ngộ đạo từ Kinh Kim Cang, nên những lời
Ngài dạy rất gần gũi với kinh. Người tu Thiền học kỹ quyển sách này, sẽ không
còn nghĩ Thiền là cái gì xa lạ với kinh điển. Vì thế, trong các Thiền viện, chúng tôi
đều bắt buộc Thiền sinh phải học kỹ quyển sách này.
Quyển “KINH PHÁP BẢO ĐÀN GIẢNG GIẢI” được in thành sách, do
chúng tôi giảng cho đại chúng tại Thiền viện Thường Chiếu, các Thiền sinh phát
tâm ghi chép từ băng nhựa thành tập, trao chúng tôi xem. Chúng tôi thấy tạm được,
nên chấp nhận cho in. Tuy nhiên, đây là lời giảng toàn văn nói nên khó được hoàn
hảo.
Phần dịch và giảng của chúng tôi khó tránh khỏi nhiều khuyết điểm, vì dịch
trong khi giảng; lại tùy chỗ nhận hiểu đến đâu, chúng tôi giảng đến đấy. Vì thế,
đây chưa phải là chân lý tối hậu, mong quí giả thông cảm cho.

THIỀN VIỆN THƯỜNG CHIẾU
Mùa Xuân năm Nhâm Thân (1992)
THÍCH THANH TỪ
“LƯỢC KHẢO
Tên quyển sách, nói đủ là LỤC TỔ ĐẠI SƯ PHÁP BẢO ĐÀN KINH, nói
gọn là PHÁP BẢO ĐÀN KINH. Thông thường, theo Phật giáo, Kinh là chỉ những
lời dạy của đức Phật do đệ tử ghi lại. Nếu chư vị Bồ-tát hay chư Tổ sau này viết
sách thì gọi là Luận, còn những vị Thiền sư thuyết giảng rồi đệ tử ghi chép lại thì
gọi là Ngữ lục.
Lục Tổ được xem như là một Thiền sư, những lời Ngài giảng được ghi lại,
lý đáng phải gọi là Ngữ lục, nhưng tại sao quyển sách này lại để là Pháp Bảo Đàn
Kinh ? Đây là do lời di chúc của Lục Tổ, Ngài dặn các đệ tử: “Sau khi ta tịch,
muốn làm lợi ích cho người sau, các ngươi nên ghi những lời ta dạy thành một
quyển sách đề tên là Pháp Bảo Đàn Kinh”. Như vậy là y theo lời dạy của Lục Tổ
nên quyển sách này để tên như thế.
Quyển Pháp Bảo Đàn do Thiền sư Pháp Hải, đệ tử của Lục Tổ, trụ trì chùa
Bảo Lâm ghi chép lại. Thế nên những lời được ghi lại đương nhiên là có khi sơ sót
chút ít, có khi được bổ túc cho thành câu, thành văn, vì Lục Tổ chỉ giảng thôi chớ
không có viết. Sách sử chép rằng Lục Tổ không biết chữ, do đó Ngài giảng dạy rồi
đồ đệ ghi, dĩ nhiên có những lời Ngài dạy mà người ghi bỏ sót, cũng như có những
phần mà người sau thấy cần bổ túc cho hay hơn, thành ra có thể sai đi chút ít, đó là
việc thường không thể tránh khỏi.
Quyển Pháp Bảo Đàn cũng được nhiều nhà dịch ra chữ Việt.
DPHẨM THỨ NHẤT: HÀNH DO
DỊCH
Khi ấy Đại sư đến chùa Bảo Lâm tại Thiều Châu, Thứ sử Vi Cừ cùng với
quan liêu vào núi thỉnh Sư đến trong thành, ở chùa Đại Phạm, tại giảng đường vì
chúng khai duyên nói pháp. Sư đăng tòa, Thứ sử quan liêu hơn ba mươi người,
Nho tông học sĩ hơn ba mươi người, Tăng Ni đạo tục hơn một ngàn người đồng
thời làm lễ, nguyện được nghe pháp yếu. Lục Tổ bảo chúng rằng: Này Thiện tri
thức, Bồ-đề tự tánh xưa nay thanh tịnh, chỉ dùng tâm này, thẳng đó trọn được
thành Phật. Này Thiện tri thức, hãy lắng nghe Huệ Năng nói về hành do được pháp.
Nghiêm phụ của Huệ Năng bổn quán ở Phạm Dương, bị giáng đày ra Lãnh Nam,
làm thường dân ở Tân Châu. Thân này bất hạnh, cha lại mất sớm, mẹ góa con côi
dời đến Nam Hải, gian nan nghèo khổ, thường ra chợ bán củi. Khi ấy có một
người khách mua, bảo gánh đến khách điếm, khách nhận củi xong, Huệ Năng lãnh
tiền, lui ra khỏi cửa, thấy một người khách tụng kinh, Huệ Năng một phen nghe lời
kinh, tâm liền khai ngộ, bèn hỏi khách tụng kinh gì. Khách bảo: “Kinh Kim
Cang.” Huệ Năng lại hỏi: “Ở đâu đến thọ trì kinh này ?” Khách bảo: “Tôi từ chùa
Đông Thiền, huyện Huỳnh Mai, Kỳ Châu đến. Chùa ấy do Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn
Đại sư làm chủ giáo hóa, đệ tử có hơn một ngàn người, tôi đến đó lễ bái, nghe
nhận kinh này. Đại sư thường khuyên kẻ tăng người tục chỉ trì kinh Kim Cang liền
được thấy tánh, thẳng đó thành Phật.” Huệ Năng nghe nói, do đời trước có duyên,
mới được một người khách cho Huệ Năng một số bạc là mười lượng để giúp nuôi
dưỡng mẹ già và bảo đến Huỳnh Mai tham vấn Ngũ Tổ.
Huệ Năng an trí mẹ xong liền từ giã ra đi, không hơn ba mươi ngày liền
đến Huỳnh Mai lễ bái Ngũ Tổ. Tổ hỏi: “Ngươi từ phương nào đến, muốn cầu vật
gì ?” Huệ Năng đáp: “Đệ tử là dân Tân Châu thuộc Lãnh Nam, từ xa đến lễ Thầy,
chỉ cầu làm Phật, chớ không cầu gì khác !” Tổ bảo: “Ông là người Lãnh Nam, lại
là người quê mùa, làm sao kham làm Phật ?” Huệ Năng liền đáp: “Người tuy có
Nam Bắc nhưng Phật tánh vốn không có Nam Bắc, thân quê mùa này cùng với
Hòa thượng chẳng đồng, nhưng Phật tánh đâu có sai khác.” Ngũ Tổ muốn cùng tôi
nói chuyện, lại thấy đồ chúng hai bên đông, mới bảo theo chúng làm công tác. Huệ
Năng thưa: “Huệ Năng xin bạch Hòa thượng, tự tâm đệ tử thường sanh trí tuệ,
không lìa tự tánh tức là phước điền, chưa biết Hòa thượng dạy con làm việc gì ?”
Tổ bảo: “Kẻ nhà quê này, căn tánh rất lanh lợi, ông chớ nói nữa, xuống nhà trù
đi.” Huệ Năng lui lại nhà sau, có một người cư sĩ sai Huệ Năng bửa củi, giã gạo,
trải hơn tám tháng. Một hôm, Tổ chợt thấy Huệ Năng, mới bảo: “Ta nghĩ chỗ thấy
của ngươi có thể dùng, nhưng sợ có người ác hại ngươi, nên không nói cùng ngươi,
ngươi có biết chăng ?” Huệ Năng thưa: “Đệ tử cũng biết ý của Thầy nên không
dám đến nhà trên, để người không biết.”
Một hôm, Ngũ Tổ bảo các đệ tử: “Tất cả hãy đến, ta nói với các ông: Người
đời sanh tử là việc lớn, các ông trọn ngày chỉ cầu phước điền, chẳng cầu ra khỏi biển khổ sanh tử, tự tánh nếu mê thì phước nào có thể cứu? Các ông, mỗi người
hãy đi, tự xem trí tuệ của mình, nhận lấy tánh Bát-nhã nơi bản tâm mình, mỗi
người làm một bài kệ đến trình cho ta xem, nếu ngộ được đại ý thì ta trao y pháp
làm Tổ thứ sáu. Phải nhanh đi, không được chậm trễ, suy nghĩ tức là không trúng.
Người kiến tánh ngay lời nói phải thấy, nếu như người này dù khi múa đao giữa
trận cũng được thấy tánh.”(Đây là dụ cho người lợi căn thấy cơ thì làm.)
Chúng được chỉ dạy, trở về họp bàn với nhau: “Tất cả chúng ta không cần
phải lắng lòng dụng ý làm kệ để trình Hòa thượng, đâu có lợi ích gì ? Thượng tọa
Thần Tú, hiện làm Giáo thọ sư, ắt là người được, chúng ta có gắng làm kệ tụng
cũng uổng dụng tâm lực.” Mọi người nghe lời này, thảy đều đồng ý nói: “Chúng ta
về sau y chỉ Thượng tọa Thần Tú, nhọc gì phải làm kệ.”
Thần Tú suy nghĩ: “Các người đều không trình kệ vì ta làm Giáo thọ sư cho
họ, ta cần phải làm kệ trình lên Hòa thượng; nếu không trình kệ thì Hòa thượng
đâu biết được kiến giải trong tâm ta cạn hay sâu ? Ý ta trình kệ, cầu pháp thì tốt,
cầu làm Tổ thì xấu, vì đồng với tâm của kẻ phàm, muốn cướp được ngôi vị Thánh
không khác, nếu chẳng trình kệ thì trọn không được pháp. Rất khó ! Rất khó !”
Trước nhà của Ngũ Tổ có một hành lang ba gian, Ngũ Tổ nghĩ mời ông
Cung Phụng Lư Trân đến vẽ “Lăng-già biến tướng và Ngũ Tổ huyết mạch đồ” để
lưu truyền cúng dường. Ngài Thần Tú làm kệ rồi, mấy phen muốn trình, đi đến
nhà trước thì trong tâm hoảng hốt, khắp thân đổ mồ hôi, nghĩ trình chẳng được.
Trước sau trải qua bốn ngày, đến mười ba lần, trình kệ không được. Thần Tú mới
suy nghĩ: “Chẳng bằng đến dưới hành lang viết (bài kệ), Hòa thượng đi qua xem
thấy, nếu chợt bảo rằng hay thì mình ra lễ bái thưa của Thần Tú làm; nếu nói
không kham, thật uổng công ở núi mấy năm, thọ người lễ bái, lại tu đạo gì ?”
Canh ba đêm ấy, không cho người biết, Ngài tự cầm đèn viết bài kệ ở vách
phương Nam để trình chỗ tâm mình thấy được. Bài kệ rằng:
Thân là cội bồ-đề,
Tâm như đài gương sáng.
Luôn luôn phải lau chùi,
Chớ để dính bụi bặm.
(Thân thị bồ-đề thọ,
Tâm như minh cảnh đài.
Thời thời cần phất thức,
Vật sử nhạ trần ai.)
Ngài Thần Tú viết kệ xong, liền trở về phòng, mọi người đều chẳng biết.
Thần Tú lại suy nghĩ: “Ngày mai Ngũ Tổ thấy bài kệ, nếu hoan hỉ tức ta cùng pháp
có duyên, nếu nói không kham, tự là ta mê, nghiệp duyên đời trước nặng nề,
không hợp được pháp, thật là Thánh ý khó lường.” Trong phòng suy nghĩ, ngồi
nằm chẳng an cho đến canh năm.
Ngũ Tổ đã biết Thần Tú vào cửa chưa được, không thấy tự tánh. Sáng hôm
sau, Tổ gọi ông Lư Cung Phụng đến hành lang phía Nam để vẽ đồ tướng trên vách,
chợt thấy bài kệ, Ngài bảo Cung Phụng rằng: “Thôi chẳng cần phải vẽ, nhọc công
ông từ xa đến. Trong Kinh có nói: Phàm những gì có tướng đều là hư vọng, chỉ đểlại một bài kệ này cho người tụng đọc thọ trì, y bài kệ này tu thì khỏi đọa trong ác
đạo, y bài kệ này tu thì được lợi ích lớn.” Khiến đồ đệ thắp hương lễ bái cung kính
và tụng đọc bài kệ này tức được thấy tánh. Môn nhân tụng bài kệ đều khen: “Hay
thay !”
Đến canh ba, Tổ mới gọi Thần Tú vào trong thất hỏi: “Kệ đó, phải ông làm
chăng ?” Ngài Thần Tú thưa: “Thật là con làm, chẳng dám vọng cầu Tổ vị, chỉ
mong Hòa thượng từ bi xem đệ tử có chút ít trí tuệ chăng ?” Tổ bảo: “Ông làm bài
kệ này chưa thấy được bản tánh, chỉ đến ngoài cửa, chưa vào được trong cửa,
kiến giải như thế tìm Vô thượng Bồ-đề, trọn không thể được. Vô thượng Bồ-đề
phải được ngay nơi lời nói mà biết bản tâm mình, thấy được bản tánh mình chẳng
sanh chẳng diệt, đối trong tất cả thời mỗi niệm mỗi niệm tự thấy, muôn pháp đều
không kẹt, một chân tất cả đều chân, muôn cảnh tự như như, tâm như như
đó tức là chân thật. Nếu thấy được như thế tức là tự tánh Vô thượng Bồ-đề. Ông
hãy đi, một hai ngày sau, suy nghĩ làm một bài kệ khác đem lại tôi xem, bài kệ của
ông nếu vào được cửa, sẽ trao y pháp cho ông”. Ngài Thần Tú làm lễ lui ra, trải
qua mấy ngày, làm kệ cũng không thành, trong tâm hoảng hốt, thần tư bất an, ví
như ở trong mộng, đi ngồi không vui.
Lại hai ngày sau, có một chú bé đi qua chỗ giã gạo, đọc bài kệ này. Huệ
Năng vừa nghe liền biết bài kệ này chưa thấy được bản tánh. Tuy chưa nhờ chỉ
dạy mà sớm đã biết được đại ý, bèn hỏi chú bé: “Tụng đó là kệ gì ?” Chú bé đáp:
“Cái ông nhà quê không biết, Đại sư nói: Người đời sanh tử là việc lớn, muốn
được truyền y pháp, khiến đệ tử làm kệ trình Ngài xem, nếu ngộ được đại ý, liền
trao y pháp làm Tổ thứ sáu. Thượng tọa Thần Tú viết bài kệ Vô tướng ở vách hành
lang phía Nam, Đại sư khiến người đều đọc, y kệ này tu sẽ khỏi đọa đường ác, y
kệ này tu sẽ có lợi ích lớn.”
Huệ Năng thưa: “Thượng nhân, đã hơn tám tháng, tôi ở nhà trù giã gạo,
chưa từng đến nhà trên, mong thượng nhân dẫn tôi đến trước bài kệ lễ bái.”(Có
bản nói: Tôi cũng cần tụng bài kệ này để kết duyên.) Chú bé dẫn Ngài đến trước
bài kệ lễ bái. Huệ Năng bảo: “ Huệ Năng không biết chữ, nhờ thượng nhân vì tôi
đọc.” Khi ấy có quan Biệt Giá ở Giang Châu họ Trương tên Nhật Dụng liền to
tiếng đọc. Huệ Năng nghe rồi bèn nói: “Tôi cũng có một bài kệ, mong Biệt Giá vì
tôi viết.” Quan Biệt Giá nói: “Ông cũng làm kệ nữa sao ? Việc này thật ít có !”
Huệ Năng nói với Biệt Giá rằng: “Muốn học đạo Vô thượng Bồ-đề, không được
khinh người mới học. Kẻ hạ hạ cũng có cái trí thượng thượng, còn người thượng
thượng cũng không có ý trí. Nếu khinh người thì có vô lượng vô biên tội”. Quan
Biệt Giá nói: “Ông chỉ tụng kệ, tôi vì ông viết, ông nếu được pháp, trước phải độ
tôi, chớ quên lời này.” Huệ Năng đọc bài kệ:
Bồ-đề vốn không cây,
Gương sáng cũng chẳng đài.
Xưa nay không một vật,
Chỗ nào dính bụi bặm ?
(Bồ đề bổn vô thọ,
Minh cảnh diệc phi đài. Bản lai vô nhất vật,
Hà xứ nhạ trần ai ?)
Khi viết bài kệ rồi, đồ chúng thảy đều kinh hoàng, không ai mà chẳng xuýt
xoa, mọi người bảo nhau rằng: “Lạ thay ! Không thể do tướng mạo mà đoán người,
đã bao lâu nay sai nhục thân Bồ-tát làm việc.” Tổ thấy cả chúng đều kinh ngạc, sợ
có người làm hại Ngài, mới lấy giày xóa hết bài kệ, nói: “Cũng chưa thấy tánh.”
Chúng cho là đúng. Ngày kế Tổ thầm đến chỗ giã gạo thấy Huệ Năng đeo đá giã
gạo, mới bảo rằng: “Người cầu đạo vì pháp quên mình đến thế ư ?” Tổ lại hỏi:
“Gạo trắng hay chưa ?” Huệ Năng thưa: “Gạo trắng đã lâu, còn thiếu giần sàng.”
Tổ lấy gậy gõ vào cối ba tiếng rồi đi. Huệ Năng liền hội được ý Tổ, đến khi trống
đổ canh ba liền lén vào thất. Tổ lấy cà-sa che chung quanh không để người thấy, vì
nói kinh Kim Cang, đến câu “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”, Huệ Năng ngay lời
đó đại ngộ, thấy tất cả muôn pháp chẳng lìa tự tánh, liền thưa Tổ rằng:
Đâu ngờ tự tánh vốn tự thanh tịnh,
Đâu ngờ tự tánh vốn không sanh diệt,
Đâu ngờ tự tánh vốn tự đầy đủ,
Đâu ngờ tự tánh vốn không dao động,
Đâu ngờ tự tánh hay sanh muôn pháp !
Ngũ Tổ biết Huệ Năng đã ngộ được bản tánh mới bảo: “Chẳng biết bản tâm,
học pháp vô ích, nếu biết được bản tâm mình, thấy được bản tánh mình, tức gọi là
Trượng phu, là Thầy của trời người, là Phật.” Canh ba thọ pháp, người trọn không
biết, Tổ liền truyền pháp đốn giáo và y bát, nói rằng: “Ngươi là vị Tổ đời thứ sáu,
khéo tự hộ niệm, rộng độ chúng hữu tình, truyền khắp đời sau, không khiến cho
đoạn tuyệt. Nghe ta nói kệ :
Hữu tình đến gieo giống,
Nhân đất quả lại sanh.
Vô tình cũng không giống,
Không tánh cũng không sanh.”
(Hữu tình lai hạ chủng,
Nhân địa quả hoàn sanh.
Vô tình diệc vô chủng,
Vô tánh diệc vô sanh.)
Tổ lại bảo: “Xưa Đại sư Đạt-ma ban đầu đến cõi này, người chưa tin nên
mới truyền y này để làm tín thể, đời đời truyền nhau, pháp thì dùng tâm truyền tâm,
đều khiến cho tự ngộ tự giải. Từ xưa Phật Phật chỉ truyền bản thể, thầy thầy thầm
trao bản tâm, y là đầu mối của sự tranh giành, nên dừng ngay nơi ngươi, chớ
truyền nữa. Nếu truyền y này thì mạng của người nhận y cũng như sợi chỉ mành.
Ông phải đi nhanh e người hại ông.” Huệ Năng thưa: “Bây giờ con phải đi đâu ?”
Tổ bảo: “Gặp ấp Hoài thì dừng, gặp ấp Hội thì ẩn.” Huệ Năng canh ba lãnh được y
bát, thưa: “Huệ Năng vốn là người miền Nam, không biết đường đi, làm sao ra
được bến đò ?” Ngũ Tổ bảo: “Ông chẳng phải lo, ta tự đưa ông đi.” Tổ liền đưa
đến bến đò Cửu Giang, Tổ bảo lên thuyền, Ngũ Tổ bèn cầm chèo tự chèo. Huệ
Năng thưa: “Thỉnh Hòa thượng ngồi, để đệ tử chèo.” Tổ bảo: “Phải là ta độ ông.” Huệ Năng thưa: “Khi mê thì Thầy độ, ngộ rồi thì tự độ. Độ tên tuy là một nhưng
chỗ dùng không đồng. Huệ Năng sanh nơi biên phương, tiếng nói không đúng,
nhờ Thầy truyền pháp nay đã được ngộ, chỉ nên tự tánh tự độ.” Tổ bảo: “Như thế !
Như thế ! Về sau Phật pháp do ông mà được thạnh hành, ông đi ba năm, ta sẽ thệ
thế. Nay ông đi an vui, nỗ lực hướng về Nam, không nên nói pháp sớm, Phật pháp
sẽ gặp tai nạn.” Huệ Năng từ giã Ngũ Tổ rồi cất bước đi về phương Nam, trong
khoảng hai tháng đến ngọn núi Đại Dữu.
Ngũ Tổ trở về, mấy ngày không thượng đường, chúng nghi mới đến hỏi:
“Hòa thượng có ít bệnh, ít não chăng ?” Ngài đáp: “Bệnh thì không, mà y pháp đã
về Nam rồi.” Chúng hỏi: “Ai là người được truyền ?” Tổ bảo: “Người có khả năng
thì được.” Chúng liền biết. Khi đó vài trăm người đuổi theo, muốn cướp y bát, một
vị tăng họ Trần, tên Huệ Minh, trước là tướng quân bậc Tứ phẩm, tánh hạnh thô
tháo, hết lòng theo tìm, chạy trước mọi người, đuổi kịp Huệ Năng. Huệ Năng để y
bát trên bàn thạch nói: “Y này là biểu tín, có thể dùng sức mà tranh sao !” Huệ
Năng liền ẩn trong lùm cỏ, Huệ Minh đến cầm y lên mà không nhúc nhích, mới
kêu rằng: “Cư sĩ, cư sĩ ! Tôi vì pháp mà đến chớ không phải vì y.” Huệ Năng bèn
bước ra ngồi trên bàn thạch. Huệ Minh liền làm lễ thưa: “Mong cư sĩ vì tôi nói
pháp.” Huệ Năng bảo: “Ông đã vì pháp mà đến thì nên dứt sạch các duyên, chớ
sanh một niệm, tôi vì ông nói.” Huệ Minh im lặng giây lâu. Huệ Năng bảo:
“Không nghĩ thiện, không nghĩ ác, chính khi ấy cái gì là bản lai diện mục của
Thượng tọa Minh ?” Huệ Minh ngay câu nói đó liền đại ngộ. Lại hỏi: “Ngoài mật
ngữ, mật ý trên, còn có mật ý khác chăng ?” Huệ Năng bảo: “Vì ông nói tức không
phải mật vậy, ông nếu phản chiếu thì mật ở bên ông.” Huệ Minh thưa: “Huệ Minh
tuy ở Huỳnh Mai, thật chưa có tỉnh diện mục của chính mình, nay nhờ chỉ dạy như
người uống nước lạnh nóng tự biết. Nay cư sĩ tức là Thầy của Huệ Minh.” Huệ
Năng bảo: “Ông nếu như thế thì tôi cùng ông đồng thờ Thầy Huỳnh Mai, khéo tự
hộ trì.” Huệ Minh lại thưa: “Huệ Minh từ nay về sau nhằm chỗ nào đi ?” Huệ
Năng bảo: “Gặp Viên thì dừng, gặp Mông thì ở.” Huệ Minh liền lễ từ. Huệ Minh
trở về, xuống núi bảo những người đuổi theo: “Đi trên những đồi núi này trọn
không tìm ra tung tích, phải đi qua đường khác tìm.” Cả chúng đuổi theo đều cho
là đúng. Huệ Minh về sau đổi tên là Đạo Minh, đó là tránh chữ đầu của tên Thầy.
Huệ Năng sau đến Tào Khê lại bị bọn người ác tìm đuổi mới ở nơi Tứ Hội
tị nạn trong đám thợ săn, trải qua mười lăm năm, khi đó cùng những người thợ săn
tùy nghi nói pháp. Những người thợ săn thường bảo giữ giềng lưới, khi Huệ Năng
thấy những con vật mắc lưới đều thả. Mỗi khi đến bữa ăn, hái rau gởi luộc trong
nồi thịt, hoặc có người hỏi thì đáp: “Chỉ ăn rau ở bên thịt.” Một hôm, mới suy nghĩ:
“Thời hoằng pháp đã đến, không nên trọn trốn lánh.” Huệ Năng liền đến chùa
Pháp Tánh ở Quảng Châu, gặp Pháp sư Ấn Tông đang giảng kinh Niết-bàn. Khi ấy
có gió thổi, lá phướn động, một vị tăng nói gió động, một vị tăng nói phướn động,
hai người cãi nhau không thôi. Huệ Năng tiến tới nói: “Không phải gió động,
không phải phướn động, tâm nhân giả động.” Cả chúng đều ngạc nhiên. Ấn Tông
mời Huệ Năng đến chiếu trên gạn hỏi áo nghĩa, thấy Huệ Năng đối đáp, lời nói
giản dị mà nghĩa lý rất đúng, không theo văn tự. Ấn Tông nói: “Cư sĩ quyết định không phải là người thường, đã lâu nghe y pháp của Huỳnh Mai đi về phương
Nam, đâu chẳng phải là cư sĩ ?” Huệ Năng nói: “Chẳng dám.” Ấn Tông liền làm
lễ, xin đưa y bát đã được truyền cho đại chúng xem. Ấn Tông lại thưa: “Huỳnh
Mai phó chúc, việc chỉ dạy như thế nào ?” Huệ Năng bảo: “Chỉ dạy tức không, chỉ
luận về kiến tánh, chẳng luận thiền định giải thoát.” Ấn Tông thưa: “Sao chẳng
luận thiền định giải thoát ?” Huệ Năng bảo: “Vì ấy là hai pháp, không phải là Phật
pháp. Phật pháp là pháp chẳng hai.” Ấn Tông lại hỏi: “Thế nào Phật pháp là pháp
chẳng hai ?” Huệ Năng bảo: “Pháp sư giảng kinh Niết-bàn, rõ được Phật tánh, ấy
là Phật pháp là pháp chẳng hai. Như Bồ-tát Cao Quí Đức Vương bạch Phật: Phạm
tứ trọng cấm, tạo tội ngũ nghịch và nhất xiển-đề v.v… sẽ đoạn thiện căn Phật tánh
chăng ? Phật bảo: Thiện căn có hai, một là thường, hai là vô thường, Phật tánh
chẳng phải thường, chẳng phải vô thường, thế nên chẳng đoạn, gọi là chẳng hai;
một là thiện, hai là chẳng thiện, Phật tánh chẳng phải thiện, chẳng phải chẳng thiện,
ấy là chẳng hai; uẩn cùng với giới, phàm phu thấy hai, người trí rõ thấu tánh nó
không hai, tánh không hai tức là Phật tánh”. Ấn Tông nghe nói hoan hỉ chấp tay
thưa: “Tôi giảng kinh ví như ngói gạch, nhân giả luận nghĩa ví như vàng ròng.”
Khi ấy vì Huệ Năng cạo tóc, nguyện thờ làm Thầy.
Huệ Năng bèn ở dưới cây bồ-đề khai pháp môn Đông Sơn. Huệ Năng được
pháp ở Đông Sơn, chịu tất cả những điều cay đắng, mạng giống như sợi chỉ mành.
Ngày nay được cùng với Sử quân, quan liêu, Tăng Ni, đạo tục đồng ở trong hội
này đâu không phải là duyên của nhiều kiếp, cũng là ở trong đời quá khứ cúng
dường chư Phật, đồng gieo trồng căn lành mới nghe cái nhân được pháp môn đốn
giáo này. Giáo ấy là các vị Thánh trước đã truyền, không phải tự trí Huệ Năng
được, mong những người nghe các vị Thánh trước dạy, mỗi người khiến cho tâm
được thanh tịnh, nghe rồi mỗi người tự trừ nghi, như những vị Thánh đời trước
không khác. Cả chúng nghe pháp đều hoan hỉ làm lễ rồi lui.
GIẢNG
Khi ấy Đại sư đến chùa Bảo Lâm tại Thiều Châu, Thứ sử Vi Cừ cùng với
quan liêu vào núi thỉnh Sư đến trong thành, ở chùa Đại Phạm, tại giảng đường vì
chúng khai duyên nói pháp. Sư đăng tòa, Thứ sử quan liêu hơn ba mươi người,
Nho tông học sĩ hơn ba mươi người, Tăng Ni đạo tục hơn một ngàn người đồng
thời làm lễ, nguyện được nghe pháp yếu.
Trong phẩm này Lục Tổ thuật lại cho toàn chúng nghe về sự tích đắc đạo
của Ngài. Đây là lần thuyết pháp đầu tiên của Ngài, Đại sư tức chỉ Lục Tổ. Lần
đăng tòa đầu tiên này, kể số chúng dự nghe gồm quan liêu hơn ba mươi người, học
sĩ hơn ba mươi người, đó là trên sáu mươi người rồi. Còn Tăng Ni đạo tục, đạo tức
là người xuất gia, tục là cư sĩ, tất cả cộng lại hơn một ngàn người, tức là thời
thuyết pháp đầu tiên hơn một ngàn chúng. Khi đó tất cả đều lễ bái cầu được nghe
pháp yếu.
Lục Tổ bảo chúng rằng: “Này Thiện tri thức, Bồ-đề tự tánh xưa nay thanh
tịnh, chỉ dùng tâm này, thẳng đó trọn được thành Phật.” Ngài nói tự tánh Bồ-đề của mình, xưa nay thanh tịnh, chỉ dùng tâm Bồ-đề
của mình mà tu thì sẽ thẳng đến thành Phật không nghi. Ngài nói thẳng cho chúng
ta biết, ai ai cũng có tánh Bồ-đề, nếu biết ứng dụng tu hành sẽ được thành Phật
không nghi gì cả.
Này Thiện tri thức, hãy lắng nghe Huệ Năng nói về hành do được pháp.
Nghiêm phụ của Huệ Năng bổn quán ở Phạm Dương, bị giáng đày ra Lãnh Nam,
làm thường dân ở Tân Châu. Thân này bất hạnh, cha lại mất sớm, mẹ góa con côi
dời đến Nam Hải, gian nan nghèo khổ, thường ra chợ bán củi. Khi ấy có một
người khách mua, bảo gánh đến khách điếm, khách nhận củi xong, Huệ Năng lãnh
tiền, lui ra khỏi cửa, thấy một người khách tụng kinh, Huệ Năng một phen nghe lời
kinh, tâm liền khai ngộ, bèn hỏi khách tụng kinh gì.
Tiếp đến Ngài yêu cầu chúng lắng nghe Ngài kể lại sự tích, lý do về việc
Ngài được pháp. Thuở trước ông thân Ngài cũng làm quan, sau bị cách chức đày
ra Lãnh Nam làm dân thường tại Tân Châu. Bất hạnh, cha mất sớm, mẹ già dời về
Nam Hải, thật là gian nan nghèo khổ. Ngài thường ra chợ bán củi, một hôm có
người khách mua củi, bảo Ngài gánh đến tiệm, nhận tiền xong vừa ra khỏi cửa
Ngài thấy một người khách tụng kinh. Một phen nghe lời kinh, tâm liền khai ngộ.
Thảnh thơi quá, không có cực như chúng ta hiện nay phải không ? Chúng ta nghe
năm này sang năm khác mà không khai ngộ chi cả. Ngài chỉ cần nghe người ta
tụng liền khai ngộ, mới hỏi khách tụng kinh gì. Chưa biết tên kinh mà đã ngộ rồi !
Khách bảo: “Kinh Kim Cang.” Huệ Năng lại hỏi: “Ở đâu đến thọ trì kinh
này ?” Khách bảo: “Tôi từ chùa Đông Thiền, huyện Huỳnh Mai, Kỳ Châu đến.
Chùa ấy do Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn Đại sư làm chủ giáo hóa, đệ tử có hơn một ngàn
người, tôi đến đó lễ bái, nghe nhận kinh này. Đại sư thường khuyên kẻ tăng người
tục chỉ trì kinh Kim Cang liền được thấy tánh, thẳng đó thành Phật.” Huệ Năng
nghe nói, do đời trước có duyên, mới được một người khách cho Huệ Năng một số
bạc là mười lượng để giúp nuôi dưỡng mẹ già và bảo đến Huỳnh Mai tham vấn
Ngũ Tổ.
Trong đoạn trên Ngài kể lý do đi tìm Ngũ Tổ, chúng ta thấy túc duyên của
Ngài quá dầy, sau này Ngài thường được gọi là nhục thân Bồ-tát. Sanh trong hoàn
cảnh cơ cực nghèo khốn, mồ côi sớm lại dốt nát vì không được học hành, nhưng
vừa nghe một câu kinh liền ngộ, tại sao thế ? Thường chúng ta cho rằng người có
phúc duyên mới được sanh trong những gia đình giàu có, mới thông minh học giỏi.
Còn sanh trong gia đình nghèo, lại mồ côi sớm, không được học hành thì gọi là vô
phước. Tại sao vô phước mà nghe một câu kinh liền ngộ, còn những người có
phước nghe hoài mà không ngộ ? Như vậy ai hơn ai ? Ai có phước hơn ai ? Đó là
điều chúng tôi muốn nhắc cho tất cả quí vị hiểu để khỏi thắc mắc. Nếu nói một đời
này, ra đời, nghe một câu kinh liền ngộ, như trong kinh thường nói: Nhất văn thiên
ngộ (một nghe ngàn ngộ) thì đã là bậc Bồ-tát rồi. Đã là Bồ-tát, tại sao lại thiếu
phước phải sanh trong cảnh côi cút, nghèo nàn, dốt nát ? Như vậy Bồ-tát kém
phước hơn mình sao ? Đó là điều chúng ta thấy đáng hoài nghi, nhưng sự thật
không có gì đáng hoài nghi cả. Chúng ta đã nói Ngài là một vị nhục thân Bồ-tát,
mà Bồ-tát giáo hóa chúng sanh luôn luôn tùy nguyện. Có vị sanh trong cung vua có kẻ hầu người hạ rồi chán đời đi tu, như thế để cho người đời thấy rằng cảnh
vương giả không câu thúc được các Ngài, các Ngài vẫn từ bỏ tất cả để đi tu và
những người sống trong hoàn cảnh sang cả trông gương đó mà phát tâm. Có khi
các Ngài sanh trong gia đình trung lưu, học hành chút ít rồi phát tâm xuất gia, như
thế những người hạng trung lưu thấy các Ngài ở trong hoàn cảnh đó mà tu được
thì mình cũng tu được. Có khi các Ngài nguyện sanh trong cảnh nghèo nàn, dốt nát
mà đi tu để những người nghèo nàn dốt nát thấy mình cũng đồng hoàn cảnh với
các Ngài thì mình cũng đi tu được.
Tóm lại, Bồ-tát muốn cho tất cả chúng sanh đều phát Bồ-đề tâm, nên có khi
thị hiện trong cảnh sang cả, có khi ở trong cảnh bần cùng, nhưng trong bất cứ hoàn
cảnh nào Bồ-tát cũng tu được cả, đó là việc tùy duyên hóa độ của các Ngài. Chúng
ta đừng nghĩ rằng Ngài ít phước hơn mình, không phải thế, đó là vì nguyện của
Bồ-tát, cốt làm sao cho tất cả chúng sanh đều tin rằng mình tu được. Thế là các
Ngài mãn nguyện. Chúng ta đọc sử thấy có những vị trong gia đình trưởng giả
phát tâm tu, có những vị trong gia đình bần hàn phát tâm tu, có vị bỏ quan đi tu
v.v… như thế để hiểu ý nghĩa Bồ-tát, chớ không nên cố chấp bảo rằng Ngài thiếu
phước mà tại sao Ngài lại mau ngộ. Đó là hiện tượng thị hiện của chư Bồ-tát tùy
bản nguyện. Sau khi phát tâm tu, liền có một người bạn giúp Ngài một số tiền để
nuôi mẹ. Quí vị thấy, nếu theo thế gian thì Ngài phạm lỗi bất hiếu phải không ? Vì
có một mẹ một con mà nay bỏ mẹ đi tu, đó là bất hiếu. Như thế chúng ta thấy nếu
giữ chữ hiếu thì Ngài không đi tu được, không thể đem lợi ích cho chúng sanh
được. Thế nên Ngài phải nhờ người giúp một số tiền gởi lại nuôi mẹ già. Nếu bất
hiếu thì buổi đầu Ngài đâu có gánh củi bán để nuôi mẹ, chỉ vì khi ngộ đạo rồi, thấy
chỗ cao siêu của đạo, Ngài mới quyết tâm đi học đạo để tự giác ngộ và giác ngộ
chúng sanh, vì thế Ngài phải cam nhận lỗi không tròn chữ hiếu.
Huệ Năng an trí mẹ xong liền từ giã ra đi, không hơn ba mươi ngày liền
đến Huỳnh Mai lễ bái Ngũ Tổ.
Ngài từ giã mẹ ra đi, không quá một tháng thì đến Huỳnh Mai lễ bái Ngũ
Tổ. Ngày xưa người đi tầm đạo chỉ đi bộ nên đi từ tỉnh này đến tỉnh kia phải cả
tháng trời, còn chúng ta hiện nay đi từ đây ra Huế khoảng một tuần lễ là nhiều, vậy
mà còn than khổ, than cực. Đối với tâm cầu đạo, chúng ta thật không thể sánh với
người xưa.
Tổ hỏi: “Ngươi từ phương nào đến, muốn cầu vật gì ?” Huệ Năng đáp: “Đệ
tử là dân Tân Châu thuộc Lãnh Nam, từ xa đến lễ Thầy, chỉ cầu làm Phật, chớ
không cầu gì khác !” Tổ bảo: “Ngươi là người Lãnh Nam, lại là người quê mùa,
làm sao kham làm Phật ?”
Quí vị thấy Ngũ Tổ là một vị Tổ mà sao Ngài nói bất công vậy ? Ngài dư
biết rằng tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, tất cả chúng sanh đều có thể thành
Phật, thế tại sao đối với người tới học đạo Ngài lại khinh miệt, bảo rằng ngươi là
người Lãnh Nam, là người ở nơi rừng núi, người quê mùa dốt nát, đâu thể kham
làm Phật. Tại kiểu cách phong kiến của Ngài như thế hay là Ngài có ý gì ? Đó là
cách Ngài dọ thử xem sự hiểu biết của người cầu thành Phật này ra sao, nên mới
có thái độ như thế. Huệ Năng liền đáp: “Người tuy có Nam Bắc nhưng Phật tánh vốn không có
Nam Bắc, thân quê mùa này cùng với Hòa thượng chẳng đồng, nhưng Phật tánh
đâu có sai khác.”
Như thế do Ngài nghe một câu mà ngộ, biết được Phật tánh của tất cả đều
đồng nhau.
Ngũ Tổ muốn cùng tôi nói chuyện, lại thấy đồ chúng hai bên đông, mới bảo
theo chúng làm công tác.
Qua câu đối đáp, Ngũ Tổ đã biết khả năng của Ngài như thế nào rồi, nên
muốn cùng Ngài nói chuyện, nhưng thấy chung quanh quá đông, đang lắng nghe, e
bại lộ rồi hại cho Ngài nên bảo Ngài đi xuống làm công tác, nhưng Ngài chưa vừa
ý nên lý luận thêm:
Huệ Năng thưa: “Huệ Năng xin bạch Hòa thượng, tự tâm đệ tử thường sanh
trí tuệ, không lìa tự tánh tức là phước điền, chưa biết Hòa thượng dạy con làm việc
gì ?” Tổ bảo: “Kẻ nhà quê này căn tánh rất lanh lợi, ông chớ nói nữa, xuống nhà
trù đi.”
Bấy giờ Ngũ Tổ “nạt kẻ nhà quê lanh lợi, xuống nhà trù đi”, vì Tổ thấy nói
thêm là có hại.
Huệ Năng lui lại nhà sau, có một người cư sĩ sai Huệ Năng bửa củi, giã gạo,
trải hơn tám tháng.
Ngài Huệ Năng mới lui lại nhà sau, có một cư sĩ sai Ngài giã gạo. Có
quyển sách khác kể thêm: Một hôm Ngũ Tổ xuống thấy Ngài giã gạo, cột sợi dây
ngang lưng đèo thêm một viên đá, vì Ngài ốm quá không đủ sức nặng cho cái chày
đạp cất lên, nên phải đeo thêm một viên đá, thấy thế Tổ mới than: “Người cầu đạo
quên mình đến thế ư ?” Như vậy chúng ta mới thấy công tám tháng giã gạo của
Ngài. Trong tám tháng giã gạo, Ngài đã quên mình, làm việc cực nhọc không kể
đến thân. Có nơi còn tô điểm thêm rằng: Khi giã gạo Ngài đeo đá nên sợi dây siết
vô thịt, lâu ngày thịt bị thúi có giòi, khi Ngài giã gạo, sợi dây chạm vào, giòi rớt ra,
Ngài lượm bỏ lên. Những lời này e hơi quá đáng, còn việc Ngài đeo đá giã gạo thì
các sách đều có nói.
Một hôm, Tổ chợt thấy Huệ Năng, mới bảo: “Ta nghĩ chỗ thấy của ngươi
có thể dùng, nhưng sợ có người ác hại ngươi, nên không nói cùng ngươi, ngươi có
biết chăng ?” Huệ Năng thưa: “Đệ tử cũng biết ý của Thầy nên không dám đến
nhà trên, để người không biết.”
Như thế là thầy trò cảm thông nhau. Nhưng quí vị có thắc mắc về điểm này
hay không ? Thầy trò nói chuyện thì cứ nói, tại sao lại sợ có người hại ? Ở chùa
chớ đâu phải ở chỗ tranh giành quyền thế mà sợ bị hại ? Thuở trước khi đọc tới
chỗ này tôi cũng ngạc nhiên, tại sao nói chuyện đạo lý mà phải sợ có người hại ?
Sau này tôi mới biết sự thật là như vậy. Bởi vì đồ chúng của Ngũ Tổ, cả cư sĩ và
học chúng khoảng hơn một ngàn người, riêng chư Tăng khoảng năm trăm người,
có sách nói bảy trăm vị, ở đấy đã nhiều năm, trong đó lại có ngài Thần Tú là vị
Giáo thọ sư, giảng kinh cho học chúng. Cả năm trăm người, Ngũ Tổ chưa chấp
nhận một người nào, nay một người cư sĩ quê mùa, từ xa mới đến, nếu được Ngũ
Tổ truyền y bát thì thế nào ? Cả năm trăm Tăng chúng nghĩ sao ? Dĩ nhiên là không chấp nhận được, thế nên sợ hại là vì lý do đó. Cũng vì thế sau này chư Tổ
không truyền y bát nữa, nếu còn truyền y bát chắc cái hại cũng còn kéo dài. Tại
sao ? Vì người được truyền y bát là người xứng đáng làm Tổ. Nhưng Tăng chúng
ở chùa đã mấy mươi năm, tu học đã lâu, nay một cư sĩ quê mùa vừa mới đến lại
được làm Tổ thì Tăng chúng nghĩ sao ? Có tức hay không ? Thế nên họ không thể
chấp nhận được, mà không chấp nhận được thì phải hành động như thế nào ? Phải
thủ tiêu ! Nếu trong chúng có người tu học lâu, hiểu đạo sâu, nay được Tổ truyền y
bát thì không có gì phải nghi ngờ, cũng không sợ bị ai hại vì người đó được chúng
kính phục, xứng đáng làm Thầy. Nhưng đây là một cư sĩ, lại quê mùa nữa, đủ điều
kiện để người ta khinh bỉ mà thình lình được làm Tổ thì không ai chấp nhận, thế
nên có thể phải bị hại. Ngũ Tổ hiểu hoàn cảnh đó, Ngài biết người cư sĩ này xứng
đáng kế thừa Ngài mà Ngài không dám để cho chúng biết. Nếu như ngài Thần Tú
có khả năng như thế, chắc không có gì khó khăn cả. Trường hợp của ngài Huệ
Năng rất đặc biệt, nên Ngũ Tổ dè dặt bảo: “Theo ngôn ngữ của ngươi, ta biết
ngươi có thể dùng được nhưng e có người ác hại ngươi, nên không nói chuyện với
ngươi, ngươi biết chăng ?” Lục Tổ thưa: “Con biết ý của Thầy nên con không dám
lên nhà trên”. Con biết phận con nên chỉ ở nhà dưới giã gạo. Như vậy quí vị thấy
ông thầy biết hoàn cảnh của người học trò, mà người học trò cũng biết được hoàn
cảnh của mình, do đó mới đánh lừa được cả chúng, chớ nếu trong hai người, có
một người không biết được hoàn cảnh đó thì có thể bị chúng phát giác sớm rồi.
Một hôm, Ngũ Tổ bảo các đệ tử: “Tất cả hãy đến, ta nói với các ông: Người
đời sanh tử là việc lớn, các ông trọn ngày chỉ cầu phước điền, chẳng cầu ra khỏi
biển khổ sanh tử, tự tánh nếu mê thì phước nào có thể cứu ? Các ông, mỗi người
hãy đi, tự xem trí tuệ của mình, nhận lấy tánh Bát-nhã nơi bản tâm mình, mỗi
người làm một bài kệ đến trình cho ta xem, nếu ngộ được đại ý thì ta trao y pháp
làm Tổ thứ sáu. Phải nhanh đi, không được chậm trễ, suy nghĩ tức là không trúng.
Người kiến tánh ngay lời nói phải thấy, nếu như người này dù khi múa đao giữa
trận cũng được thấy tánh.”
Chúng được chỉ dạy, trở về họp bàn với nhau: “Tất cả chúng ta không cần
phải lắng lòng dụng ý làm kệ để trình Hòa thượng, đâu có lợi ích gì ? Thượng tọa
Thần Tú hiện làm Giáo thọ sư, ắt là người được, chúng ta có gắng làm kệ tụng
cũng uổng dụng tâm lực”. Mọi người nghe lời này, thảy đều đồng ý nói: “Chúng ta
về sau y chỉ Thượng tọa Thần Tú, nhọc gì phải làm kệ.”
Tất cả đều đinh ninh là về sau sẽ y chỉ vị Giáo thọ sư nên không nhọc công
làm kệ trình.
Tôi nhắc lại ý nghĩa lời dạy của Ngũ Tổ. Điểm thứ nhất Ngũ Tổ dạy: Người
đời sanh tử là việc lớn, phải tìm cách thoát khỏi biển khổ sanh tử, chớ trọn ngày
mải lo làm việc phước điền thì phước đó không thể nào cứu được mình, khi mình
chưa thấy đạo, phước đó chưa giúp mình giải thoát. Không cứu được là không cứu
cho mình giải thoát sanh tử. Muốn ra khỏi biển khổ sanh tử, mỗi người phải tự
phát trí tuệ của chính mình, trí tuệ đó phát khởi, mới thoát khỏi biển khổ sanh tử;
nếu chúng ta mải lo việc phước điền thì phước điền đó chỉ giúp chúng ta bớt
nghèo, bớt khổ ở trong sanh tử thôi, chớ không giải thoát sanh tử. Tổ bảo tiếp: “Như vậy mỗi người phải về làm một bài kệ đến trình, nếu người nào làm bài kệ
đúng ý, ta sẽ truyền y pháp làm Tổ thứ sáu.” Nghe như thế cả đại chúng đều xôn
xao. Tại sao các năm về trước Ngài không bảo trình kệ mà ngay lúc này Ngài bảo
trình kệ ? Quí vị thấy ý gì trong việc đó chưa ? Trước khi vị cư sĩ này tới hỏi đạo,
Ngài không bảo chúng trình kệ, khi có vị cư sĩ này thì Ngài lại bảo chúng trình kệ.
Dĩ nhiên chúng ta thấy rõ ý của Ngài. Khi biết có người xứng đáng kế thừa, Ngài
mới bảo chúng trình kệ để thử xem mọi người trình như thế nào để Ngài chọn.
Thế nên đại chúng xôn xao bàn tán phải trình kệ như thế nào. Vì vậy tiếp theo Tổ
dạy thật là kỹ.
Điểm thứ hai Ngũ Tổ bảo rằng: Người thấy tánh dù ở trong chỗ binh đao
vẫn thấy tánh chớ không mất. Người thật tình được đạo thì ở chỗ nào cũng thấy
đạo, chớ không phải nói rằng ngồi chỗ vắng mới thấy đạo, đến chỗ ồn thì hết thấy,
như thế chưa phải là thấy đạo. Quí vị phải nhớ như vậy. Dù ở cảnh nào, thấy đạo
cũng vẫn là thấy đạo, vì đạo ở ngay nơi mình. Mình thấy nó thì ở đâu cũng thấy.
Ngồi chỗ vắng cũng có nó, đến chỗ ồn cũng có nó, chớ đâu phải chỗ ồn không có
đạo, chỗ vắng mới có đạo. Sở dĩ đến chỗ ồn không thấy đạo là vì mình thấy ồn.
Thấy ồn tức thấy ở ngoài, chớ thật tình chúng ta thấy cái chân thật của mình thì ở
đâu cũng có đạo, không phải đợi đến chỗ vắng vẻ mới có. Quí vị phải nhớ kỹ như
vậy. Đó là chỗ Ngũ Tổ chỉ dạy cho tất cả chúng, nhất là Ngài bảo: Nếu suy nghĩ
thì không trúng. Làm kệ mà ngồi cắn bút, bóp trán suy nghĩ thì điều đó không
đúng rồi. Vì thế gần đây tôi hay chê những vị mới tu học sơ sơ hay làm thơ. Tại
sao ? Các Tổ ngày xưa không phải là nhà văn, nhà thơ chi cả, nhưng mỗi hành
động đều đúng với lẽ thật nên vừa xuất khẩu là hợp ý Tổ, không phải ngồi bóp đầu
bóp trán, vì vừa ngồi bóp đầu bóp trán là sai rồi. Khổ nỗi hiện nay có một số người
tu thiền sơ sơ, lâu lâu tổ chức uống trà, người này làm thơ đưa người kia xem,
người kia làm thơ trình người nọ xem rồi phê bình nhau v.v… và cho đó là mình
làm thơ thiền, làm kệ thiền… Đó là thiền gì ? Là thiền loạn tưởng chớ không phải
thật là thiền. Thật là thiền thì khi đối cảnh liền phát hiện chớ không đợi suy nghĩ.
Vì người thấy được lẽ thật nói điều gì cũng đúng lẽ thật, còn người chưa thấy lẽ
thật dù suy nghĩ thế nào cũng không đúng. Thí dụ như chúng ta có đôi mắt sáng
nhìn thấy rõ bình bông trên bàn, nếu có người hỏi bình bông như thế nào, dù
chúng ta không tả rõ tất cả chi tiết, nhưng chúng ta nói bình bông màu xanh, màu
vàng… chúng ta cũng nói đúng. Trái lại, nếu tôi hỏi một người mù bình bông trên
bàn như thế nào thì dù họ suy nghĩ thế mấy cũng không đúng, dù có nghe người ta
nói họ suy nghĩ theo cũng không đúng. Thế nên đã thấy thì dù nói đơn sơ cũng
đúng, còn không thấy dù cố suy nghĩ thế mấy cũng vẫn không đúng. Chỗ này
không phải chỗ suy nghĩ mà được, nhưng nhiều người lại chuộng suy nghĩ, cho
suy nghĩ ra được lẽ đạo. Đó là điều lầm lẫn lớn. Thế nên cái thấy đạo là tự thấy,
chớ không phải suy nghĩ, do đó Ngũ Tổ mới quở: Không nên có dụng tâm, nếu
người thấy tánh dù ở giữa trận cũng thấy.
Sau khi nghe Ngũ Tổ dạy, tất cả chúng đều xôn xao bàn với nhau, chúng
ta có một vị Giáo thọ sư, trên là Tổ, dưới là vị Giáo thọ sư, Tổ chọn vị này dạy
chúng ta, hẳn nhiên vị này phải như thế nào rồi, người dạy chúng ta sẽ là người được kế thừa không còn nghi ngờ gì nữa. Chúng ta đã học với ông ấy tức nhiên
ông ấy đâu có dở, dù chúng ta có làm cũng vô ích, hãy nhường ông ấy cho xong.
Đó là một cái thế dồn vị Giáo thọ sư này đến chỗ bất khả kháng. Ông không muốn
trình, nhưng toàn chúng đều không làm thì làm sao ? Hoàn cảnh đã đưa Thần Tú
đến một cái thế khó xử, vì chính Ngài cũng còn nghi ngờ không chắc là Ngài sẽ
được Tổ chấp nhận.
Thần Tú suy nghĩ: Các người đều không trình kệ vì ta làm Giáo thọ sư cho
họ, ta cần phải làm kệ trình lên Hòa thượng; nếu không trình kệ thì Hòa thượng
đâu biết được kiến giải trong tâm ta cạn hay sâu. Ý ta trình kệ cầu pháp thì tốt, cầu
làm Tổ thì xấu, vì đồng với tâm của kẻ phàm, muốn cướp được ngôi vị Thánh
không khác, nếu chẳng trình kệ thì trọn không được pháp. Rất khó ! Rất khó !
Đó là Ngài tự lượng ý Ngài: Nếu trình kệ để cầu được pháp đó là điều tốt,
nếu trình kệ để cầu làm Tổ đó là xấu vì còn ham danh, ham lợi không khác kẻ
phàm phu. Thật là khó vì nếu không trình kệ thì thầy không biết ý mình làm sao
thầy truyền pháp, nhưng làm kệ, xem như mình muốn làm Tổ !
Trước nhà của Ngũ Tổ có một hành lang ba gian, Ngũ Tổ nghĩ mời ông
Cung Phụng Lư Trân đến vẽ Lăng-già biến tướng và Ngũ Tổ huyết mạch đồ (tức
là huyết mạch truyền trao từ chư Tổ.) để lưu truyền cúng dường. Ngài Thần Tú
làm kệ rồi, mấy phen muốn trình, đi đến nhà trước thì trong tâm hoảng hốt, khắp
thân đổ mồ hôi, nghĩ trình chẳng được. Trước sau trải qua bốn ngày, đến mười ba
lần, trình kệ không được.
Tại sao ? Ai ngăn mà trình không được ? Đó là tại nghi bài kệ của mình
chưa chắc là được, vì mình không có tự ngộ, do suy lý mà nói thì không tin lời
mình là đúng nên muốn trình lại ngại, vì thế trong bốn ngày, mười ba lần đến cửa
rồi thối lui, không trình được, như vậy cái khổ của Ngài lúc đó thật vô cùng !
Thần Tú mới suy nghĩ: Chẳng bằng đến dưới hành lang viết (bài kệ), Hòa
thượng đi qua xem thấy, nếu chợt bảo rằng hay thì mình ra lễ bái thưa: Của Thần
Tú làm; nếu nói không kham, thật uổng công ở núi mấy năm, thọ người lễ bái lại
tu đạo gì ?
Bởi vì Ngài bán tín bán nghi chưa tin mình được đạo, nay phải trình
thẳng, Ngài sợ nếu Ngũ Tổ bảo chưa được thì còn gì thể diện, nên kế hay nhất là
nơi hành lang Ngũ Tổ thường đi qua, Ngài lén viết bài kệ lên đó. Nếu Ngũ Tổ xem
rồi hỏi ai làm bài kệ hay quá thì Ngài ra đảnh lễ thưa: Bạch con làm ! Còn nếu
Ngũ Tổ chê thì lánh mặt cho rồi, mặt mũi nào nhìn đại chúng. Thật là uổng công ở
núi ! Ngài nghĩ đó là kế an toàn nhất. Thế nên người dở mà ở địa vị thấp thì thật
dễ, còn ở địa vị cao thật khó xử vô cùng. Người ta đã suy tôn mình làm Thầy, nếu
mình làm không tròn trách nhiệm, mặt mũi nào nhìn học trò. Đó là cái khổ tâm
của người lớn mà chưa thật lớn !
Canh ba đêm ấy, không cho người biết, Ngài tự cầm đèn viết bài kệ ở vách
phương Nam để trình chỗ tâm mình thấy được. Bài kệ rằng:
Thân là cội bồ-đề,
Tâm như đài gương sáng.
Luôn luôn phải lau chùi, Chớ để dính bụi bặm.
Thế thì thật hay ! Ví dụ thân mình như cây bồ-đề, tâm như đài gương sáng,
cũng hay chứ ! Và đài gương sáng muốn cho sáng mãi thì phải làm thế nào ? Phải
lau, phải chùi, chớ để dính bụi. Như vậy trên phương diện tu hành, bài kệ này thật
là hay. Người mới đọc qua thì thấy bài kệ thật hay, nào những hình ảnh cụ thể,
thân mình giống cây bồ-đề, tâm mình như đài gương sáng, nào khuyên mình tu
một cách cụ thể, hằng ngày lau gương đừng để dính bụi. Nhưng đối với người thấy
tánh thì bài kệ này chưa thấy tánh. Tại sao ? Gương mờ phải lau, đang lau thì làm
sao thấy tánh ? Nếu thấy tánh thì không còn lau nữa. Tại sao ? Vì thể tánh đó bụi
không dính được, còn nghĩ như mặt gương phải lau mãi là chưa thấy tánh. Chúng
ta dốt mà đọc qua còn biết Ngài chưa thấy tánh.
Ngài Thần Tú viết kệ xong, liền trở về phòng, mọi người đều chẳng biết.
Thần Tú lại suy nghĩ: Ngày mai Ngũ Tổ thấy bài kệ, nếu hoan hỉ tức ta cùng pháp
có duyên, nếu nói không kham, tự là ta mê, nghiệp duyên đời trước nặng nề,
không hợp được pháp, thật là Thánh ý khó lường. Trong phòng suy nghĩ, ngồi nằm
chẳng an cho đến canh năm.
Như thế là suốt đêm Ngài trằn trọc mãi, không ngủ được. Viết bài kệ rồi
Ngài cũng vẫn bất an, thật là khổ tâm, vì không biết ngày mai Ngũ Tổ khen hay
chê, khen thì còn được, nếu chê thì còn mặt mũi nào, thế nên ngồi nằm không an
mãi đến canh năm.
Ngũ Tổ đã biết Thần Tú vào cửa chưa được, không thấy tự tánh.
Thật ra Thầy lúc nào cũng biết rõ học trò, nên tuy bảo làm Giáo thọ dạy
chúng, nhưng biết là ngài Thần Tú chưa vào cửa nổi. Vì biết rõ như thế nên tuy
bảo làm kệ nhưng thật ra Ngũ Tổ không nhắm vào ngài Thần Tú, mà Tổ có chỗ
nhắm khác. Để cho công bằng Tổ phải tuyên bố cho tất cả chúng trình kệ, nếu
không như thế mà riêng truyền y pháp cho một người nào khác thì chúng sẽ thắc
mắc. Khi nào chúng trình kệ không được, Tổ truyền y pháp cho người khác, họ
mới không thắc mắc.
Sáng hôm sau, Tổ gọi ông Lư Cung Phụng đến hành lang phía Nam để vẽ
đồ tướng trên vách, chợt thấy bài kệ, Ngài bảo Cung Phụng rằng: “ Thôi chẳng cần
phải vẽ, nhọc công ông từ xa đến. Trong kinh có nói “Phàm những gì có hình
tướng đều là hư vọng”, chỉ để lại một bài kệ này cho người tụng đọc thọ trì, y bài
kệ này tu thì khỏi đọa trong ác đạo, y bài kệ này tu thì được lợi ích lớn”. Khiến đồ
đệ thắp hương lễ bái cung kính và tụng đọc bài kệ này tức được thấy tánh. Môn
nhân tụng bài kệ đều khen: “Hay thay !”
Đây là kế của Ngũ Tổ, nếu Tổ không khen thì không làm sao biết được tác
giả vì dưới bài kệ đâu có ký tên, thế nên Tổ mới khéo bày kế đánh lừa mọi người.
Tổ bảo: Nhọc công Cung Phụng từ xa đến, kinh Kim Cang có nói, phàm những gì
có hình tướng đều là hư vọng, thôi ông không cần phải vẽ đồ tướng, hãy để bài kệ
này cho chúng đọc, người nào y đó tu hành sẽ khỏi đọa trong ba đường ác, sẽ được
lợi ích, sẽ thấy tánh. Tổ lại bảo đồ đệ đốt hương kính cẩn lễ bái bài kệ. Nghe như
thế dĩ nhiên là ngài Thần Tú mừng không kể xiết, Ngài phải nhận là của Ngài làm
chớ đâu còn ẩn tránh nữa, vậy là Ngài đã mắc kế của Ngũ Tổ rồi ! Khi đó tất cảmôn nhân đều tụng và đều khen bài kệ hay. Đệ tử thì thường như thế. Thầy khen
điều gì hay là đồ đệ cũng khen theo, chớ không biết hay ở điểm nào, nghe Thầy
tán dương việc gì thì đệ tử cũng tán dương theo, đó là bệnh chung ! Người học trò
luôn luôn lệ thuộc thầy, nói theo thầy chớ không biết rõ đâu là đúng, đâu là sai.
Đến canh ba, Tổ mới gọi Thần Tú vào trong thất hỏi: “Kệ đó, phải ông làm
chăng?” Ngài Thần Tú thưa: “Thật là con làm, chẳng dám vọng cầu Tổ vị, chỉ
mong Hòa thượng từ bi xem đệ tử có chút ít trí tuệ chăng ?”
Ngài nghĩ rằng Ngũ Tổ khen như vậy là chấp nhận Ngài làm Tổ rồi, nhưng
vì khiêm nhường nên Ngài thưa: Bạch con làm, nhưng con không dám mong cầu
Tổ vị, chỉ trình để Thầy xem con có chút ít trí tuệ chăng ? Đó là lời nói khiêm
nhường, không ngờ :
Tổ bảo: “Ông làm bài kệ này chưa thấy được bản tánh, chỉ đến ngoài cửa,
chưa vào được trong cửa, kiến giải như thế tìm Vô thượng Bồ-đề, trọn không thể
được. Vô thượng Bồ-đề phải được ngay nơi lời nói mà biết bản tâm mình, thấy
được bản tánh mình chẳng sanh chẳng diệt, đối trong tất cả thời mỗi niệm mỗi
niệm tự thấy, muôn pháp đều không kẹt, một chân tất cả đều chân, muôn cảnh tự
như như, tâm như như đó tức là chân thật. Nếu thấy được như thế tức là tự tánh Vô
thượng Bồ-đề. Ông hãy đi, một hai ngày sau, suy nghĩ làm một bài kệ khác đem
lại tôi xem, bài kệ của ông nếu vào được cửa, sẽ trao y pháp cho ông.” Ngài Thần
Tú làm lễ lui ra, trải qua mấy ngày, làm kệ cũng không thành, trong tâm hoảng hốt,
thần tư bất an, ví như ở trong mộng, đi ngồi không vui.
Như thế là Ngũ Tổ thật khéo, thật tâm lý, nếu không thì việc lớn hỏng hết.
Nếu buổi sáng giữa đông đảo chúng vừa khen bài kệ xong, Ngũ Tổ gọi ngài Thần
Tú lại hỏi: Phải ông làm bài kệ này không ? Dĩ nhiên ngài Thần Tú sẽ thưa: Bạch
con làm. Lúc ấy Ngũ Tổ bảo rằng: “Bài kệ này không vào cửa được” thì còn gì thể
diện của ngài Thần Tú. Tuy khen bài kệ, tuy biết tác giả mà Tổ không hỏi liền, đợi
đến canh ba vắng vẻ Tổ mới gọi ngài Thần Tú vào hỏi. Khi ngài Thần Tú nhận là
bài kệ của Ngài, Tổ mới bảo ông chưa vào cửa được. Lúc đó Ngài mới kinh ngạc,
tuy kinh ngạc mà không mất thể diện với đồ chúng. Đó là cái khéo của Ngũ Tổ,
thật là khéo ! Thế nên người lớn muốn cho vẹn toàn với đồ đệ cũng là cực lắm.
Nếu người nóng nảy thì gọi ra hỏi và phê bình ngay giữa đồ chúng đông đảo, như
thế chắc ngài Thần Tú không chịu đựng nổi sự hổ thẹn. Tổ bảo tiếp: Thôi ông trở
về vài ngày làm một bài kệ khác đem đến trình, nếu được ta sẽ trao y pháp cho.
Ngài Thần Tú lễ rồi lui ra. Bấy giờ Ngài còn tinh thần nào làm kệ nữa. Bao nhiêu
cố gắng mới làm được bài kệ đó, nay Ngũ Tổ không chấp nhận thì còn tinh thần
nào để làm bài kệ thứ hai.
Lại hai ngày sau có một chú bé đi qua chỗ giã gạo, đọc bài kệ này. Huệ
Năng vừa nghe liền biết bài kệ này chưa thấy được bản tánh.
Người đến được cảnh đó nghe bài kệ liền biết tác giả bài kệ chưa vô cửa
được. Đó là đệ tử mà còn biết, huống nữa là ông Thầy !
Tuy chưa nhờ chỉ dạy, mà sớm đã biết được đại ý, bèn hỏi chú bé: “Tụng
đó là kệ gì ?” Chú bé đáp: “Cái ông nhà quê không biết, Đại sư nói: Người đời
sanh tử là việc lớn, muốn được truyền y pháp, khiến đệ tử làm kệ trình Ngài xem, nếu ngộ được đại ý, liền trao y pháp làm Tổ thứ sáu. Thượng tọa Thần Tú viết bài
kệ Vô Tướng ở vách hành lang phía Nam, Đại sư khiến người đều đọc, y kệ này tu
sẽ khỏi đọa đường ác, y kệ này tu sẽ có lợi ích lớn.” Huệ Năng thưa: “Thượng
nhân, đã hơn tám tháng, tôi ở nhà trù giã gạo, chưa từng đến nhà trên, mong
Thượng nhân dẫn tôi đến trước bài kệ lễ bái.”
Thật là lời nói khiêm nhường ! Chú bé mà Ngài gọi là Thượng nhân. Ngài
nói: Tôi ở đây làm công quả hơn tám tháng trời, chưa lên tới nhà trên, nay nhờ
Thượng nhân dẫn tôi đến lễ bái bài kệ để kết duyên. Dĩ nhiên là chú bé thích rồi.
Chú bé dẫn Ngài đến trước bài kệ lễ bái. Huệ Năng bảo: “Huệ Năng không
biết chữ, nhờ Thượng nhân vì tôi đọc.” Khi ấy có quan Biệt giá ở Giang Châu họ
Trương tên Nhật Dụng liền to tiếng đọc. Huệ Năng nghe rồi bèn nói: “Tôi cũng có
một bài kệ, mong Biệt giá vì tôi viết.” Quan Biệt giá nói: “Ông cũng làm kệ nữa
sao ? Việc này thật ít có !” Huệ Năng nói với Biệt giá rằng: “Muốn học đạo Vô
thượng Bồ-đề, không được khinh người mới học. Kẻ hạ hạ cũng có cái trí thượng
thượng, còn người thượng thượng cũng không có ý trí. Nếu khinh người thì có vô
lượng vô biên tội.” Quan Biệt giá nói: “Ông chỉ tụng kệ, tôi vì ông viết, ông nếu
được pháp, trước phải độ tôi, chớ quên lời này.”
Quan Biệt giá ban đầu ngạc nhiên nên nói: Ông cũng có kệ nữa sao ? Thấy
quan Biệt giá ngạc nhiên, ngài Huệ Năng biết ông này khinh người, cho mình là
quê mùa dốt nát nên Ngài mới bảo: Kẻ hạ hạ cũng có trí thượng thượng, còn người
được xem là thượng thượng cũng không có ý trí, đừng tưởng người ở cấp cao là
người hay. Nghe thế quan Biệt giá liền bảo: Ông nói đi, tôi viết cho nhưng phải
nhớ là ông được pháp thì độ tôi trước. Thành ra cũng là tham phải không ? Khi
giúp người cũng đòi quyền lợi trước !
Huệ Năng đọc bài kệ:
Bồ-đề vốn không cây,
Gương sáng cũng chẳng đài.
Xưa nay không một vật,
Chỗ nào dính bụi bặm ?
Bồ-đề chỉ cho tánh giác, tánh giác không có hình tướng thì không phải là
cây, đây là bác câu “Thân là cây bồ-đề”. Ngài Thần Tú nói thân này là cây bồ-đề,
Ngài nói trái lại: Bồ-đề là tánh giác, tánh giác thì đâu có hình tướng mà nói là cây.
Câu thứ nhất bác hình thức cây bồ-đề. Đến câu thứ hai ngài Thần Tú nói: “Tâm
như đài gương sáng”, như vậy đài gương sáng là gương sáng hay đài sáng ? Nếu
nói đài gương sáng thành ra nhấn mạnh chữ đài. Gương là tự nó sáng không cần
có đài mới sáng, nếu nói đài gương sáng là đã lầm cái hình thức thứ hai. Đến hai
câu sau “Xưa nay không một vật, Chỗ nào dính bụi bặm”, tức là chỗ chân thật đó
xưa nay không một vật huống nữa là dính bụi bặm ? Ngài Thần Tú nói “Luôn luôn
phải lau chùi, Chớ để dính bụi bặm” nhưng xưa nay nó không dính một vật thì
chùi cái gì ? Đã không có một vật thì có gì dính bụi ? Như thế rõ ràng ngài Huệ
Năng thấy được bản tánh xưa nay không có một hình trạng, không có một tướng
mạo, chính bản tánh đó tự thanh tịnh, không cần lau chùi mới thanh tịnh. Đó là
Ngài đã thấy được, còn ngài Thần Tú không thấy được nên suy nghĩ theo lối tu nặng về hình thức: cái gương có bụi dính nay rán chùi cho hết bụi, đó là chưa thấy
được bản tánh thật vì tánh giác không tướng mạo, đã không tướng mạo thì có gì
nhiễm, có gì dính được nó, thấy rõ được như vậy thì không bao giờ lầm, không
phải lau chùi gì cả. Lau chùi là chỉ hình thức bên ngoài, chớ tánh giác không có
tướng mạo nên nó hằng thanh tịnh, hằng thanh tịnh thì chỗ nào dính bụi mà phải
lau chùi ? Như vậy qua bài kệ này mọi người thấy rõ là Ngài đã vô cửa, còn bài kệ
của ngài Thần Tú chưa vô cửa.
Khi viết bài kệ rồi, đồ chúng thảy đều kinh hoàng, không ai mà chẳng xuýt
xoa, mọi người bảo nhau rằng: “Lạ thay ! Không thể do tướng mạo mà đoán người,
đã bao lâu nay sai nhục thân Bồ-tát làm việc !”
Thế nên, ai đọc bài kệ này cũng giật mình, cả chúng đều ngạc nhiên, thảy
đều kinh hoàng, không ai mà chẳng xuýt xoa. Đồ chúng bảo nhau thật không ngờ,
không nên xem tướng mà đoán người, vì chúng ta thường có bệnh xem tướng đoán
người, ai ăn mặc tề chỉnh, gương mặt sáng sủa thì cho người đó là thông minh, ai
ăn mặc lôi thôi, gương mặt hơi khờ thì cho đó là người quê dốt. Nay chúng mới
ngạc nhiên không ngờ mấy tháng nay mình sai vị nhục thân Bồ-tát làm việc. Như
thế là họ hốt hoảng cho Ngài là Bồ-tát. Nhưng trong đoạn tiếp theo, chúng ta sẽ
thấy Ngũ Tổ thật là người hiểu tâm lý.
Tổ thấy cả chúng đều kinh ngạc, sợ có người làm hại Ngài, mới lấy giày
xóa hết bài kệ, nói: “Cũng chưa thấy tánh.” Chúng cho là đúng.
Người học trò thường như thế. Khi mới đọc bài kệ thì thấy hay hơn bài kệ
trước. Tự biết như vậy, nhưng khi nghe vị thầy bảo cũng chưa thấy tánh và lấy
giày xóa thì cũng nói theo: À, phải rồi cũng chưa thấy tánh và cũng yên tâm như
vậy ! Thế nên người học đạo khi nghe ai bảo điều gì là phải mà mình thấy rõ chưa
phải thì vẫn biết là chưa phải, ai nói điều gì là sai mà mình xét thấy đúng vẫn biết
là đúng, như thế mới có lập trường. Còn người ta bảo “phải” mình thưa phải,
người ta nói “sai” mình cũng dạ sai, rồi theo đó mà khen mà chê là không có lập
trường, đó là cái hại. Nhất là khi đọc sách, người hướng dẫn hoặc người viết sách
khen điều gì, ta cũng khen theo, chê điều gì, ta cũng chê theo, mà không biết hay
dở ở điểm nào, đó là khuyết điểm lớn của người học.
Ngày kế, Tổ thầm đến chỗ giã gạo thấy Huệ Năng đeo đá giã gạo, mới bảo
rằng: “Người cầu đạo vì pháp quên mình đến thế ư ?”
Thật cũng khổ sở ! Tổ thấy ngài Huệ Năng đeo đá giã gạo mới bảo: Người
cầu đạo vì pháp quên mình đến như thế ư ? Tức là nếu cần làm thì cứ làm chẳng
nghĩ đến thân, còn chúng ta như thế nào ? Vào chùa, khi làm việc gì nặng là than
ngay: Ôi, tôi làm không nổi, một mình tôi làm không nổi, phải hai, ba người mới
được; còn Ngài nếu một mình không nổi thì đeo thêm một viên đá cho đủ sức
nặng, đó là vì đạo quên mình. Trái lại nếu vì mình thì thế nào ? Nơi nào dù có đạo
mà cực quá thì bỏ đi tìm chỗ sung sướng hơn; thế nên vì mình thì quên đạo, còn vì
đạo thì quên mình. Người cầu được đạo thì dù khổ cực thế mấy cũng chấp nhận,
người vì mình thì dù nơi có đạo lý nhưng cực nhọc quá cũng bỏ đi tìm nơi khác
sung sướng hơn. Vậy người học đạo phải lấy đây làm gương. Thật ra trong chúng
mấy trăm người, nếu mình yếu không đủ sức nặng để giã gạo thì kêu thêm một người nữa, đâu có hại gì, nhưng Ngài không cần, ví dụ phải sáu mươi kí mới cất
nổi cái chày mà Ngài chỉ có bốn mươi kí thì Ngài đeo thêm viên đá hai mươi kí
nữa là được rồi, không cần gọi thêm người thứ hai. Chính việc làm vì đạo quên
mình của Ngài khiến cho người sau mỗi khi đọc đến đều cảm động và chính Ngũ
Tổ cũng phải khen: “Vì pháp mà quên mình đến thế ư ?”
Tổ lại hỏi: “Gạo trắng hay chưa ?” Huệ Năng thưa: “Gạo trắng đã lâu, còn
thiếu giần sàng.” Tổ lấy gậy gõ vào cối ba tiếng rồi đi. Huệ Năng liền hội được ý
Tổ, đến khi trống đổ canh ba liền lén vào thất. Tổ lấy cà sa che chung quanh
không để người thấy, vì nói kinh Kim Cang, đến câu “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ
tâm”, Huệ Năng ngay lời đó đại ngộ, thấy tất cả muôn pháp chẳng lìa tự tánh, liền
thưa Tổ rằng:
Đâu ngờ tự tánh vốn tự thanh tịnh,
Đâu ngờ tự tánh vốn không sanh diệt,
Đâu ngờ tự tánh vốn tự đầy đủ,
Đâu ngờ tự tánh vốn không dao động,
Đâu ngờ tự tánh hay sanh muôn pháp !
Ngũ Tổ biết Huệ Năng đã ngộ được bản tánh mới bảo: “Chẳng biết bản
tâm, học pháp vô ích, nếu biết được bản tâm mình, thấy được bản tánh mình, tức
gọi là Trượng phu, là Thầy của trời người, là Phật.” Canh ba thọ pháp, người trọn
không biết, Tổ liền truyền pháp đốn giáo và y bát, nói rằng: “Ngươi là vị Tổ đời
thứ sáu, khéo tự hộ niệm, rộng độ chúng hữu tình, truyền khắp đời sau, không
khiến cho đoạn tuyệt. Nghe ta nói kệ:
Hữu tình lai hạ chủng,
Nhân địa quả hoàn sanh.
Vô tình diệc vô chủng,
Vô tánh diệc vô sanh.
Chữ tình không có nghĩa thức tình, chữ tình đây chỉ cho những người đã có
được hạt giống tức là có cái chủng tánh về đạo lý. Người có tình đến nên gieo
giống cho họ, nhân nơi đất mà quả lại sanh, tức là người đã có chủng tánh về đạo
lý này, khi họ đến nên gieo giống cho họ, nhân nơi đất tự tánh của họ sẵn có sẽ
sanh ra quả. Còn vô tình tức là người không có hạt giống đó, không có giống thì
không có tánh, cũng không có sanh. Người không có chủng tử đó mình có gieo
cũng khó mà được, nên nói không tánh cũng không sanh. Đây là bài kệ truyền
pháp.
Tôi lặp lại đoạn này cho quí vị thấy chỗ cần yếu khi ngài Huệ Năng ngộ.
Chúng ta thấy khi nghe đọc một câu kinh Kim Cang Ngài đã ngộ rồi, tại sao tới
đây Ngài lại ngộ nữa ? Như thế lần ngộ trước và lần ngộ sau khác nhau ở điểm
nào ? Thường chúng ta không hiểu kỹ nên thắc mắc, khi trước Ngài cũng ngộ nên
Ngài mới thưa chuyện với Ngũ Tổ, Ngài mới làm bài kệ và được Ngũ Tổ chấp
nhận là vào cửa, đến đây Ngài lại ngộ nữa là ngộ cái gì ? Cái ngộ trước là Ngài
mới thấy “Bản lai vô nhất vật”, nghĩa là thấy thể tánh đó không có một hình tướng,
không có một vật tượng, chỉ là một thể tánh rỗng lặng, vì thấy được chỗ đó nên
vào cửa. Đến chỗ này Ngài thấy thế nào ? Ngài nói : Đâu ngờ tâm mình thanh tịnh, đâu ngờ tâm mình chẳng sanh diệt, nó tự đầy đủ, nó không dao động, nó hay sanh
muôn pháp, như thế đến đây Ngài mới thấy thật thể của bản tâm. Khi trước Ngài
chỉ mới thấy chỗ không có vọng, đó là tánh không, bởi thấy được tánh không nên
mới được vào cửa. Vào cửa chưa phải là xong việc, phải thấy được cái đầy đủ,
thanh tịnh, chưa từng sanh diệt, không dao động và hay sanh muôn pháp, thấy tột
cái đó mới gọi là thấy được bản tánh mình. Như vậy qua đoạn này chúng ta mới
thấy rõ người học đạo không phải ngộ một lần là xong. Trong nhà thiền thường
nói rằng đại ngộ ít ra cũng ba bốn lần, còn tiểu ngộ thì vô số. Tiểu ngộ là sao ? Tỉ
dụ nghe một thời giảng, chúng ta có lóe sáng một điều gì mình thích, thấy điều đó
từ trước đến nay chưa từng biết, nay mình biết, đó là tiểu ngộ. Còn đại ngộ là một
lần nhận ra được thì vui cả năm bảy ngày, nghĩa là điều đó là một việc lớn mà từ
trước đến nay chưa bao giờ mình phát minh được, nay phát minh được, đó là đại
ngộ. Nhưng một lần cũng chưa xong, phải đôi ba lần như thế, thế nên người học
đạo phải có ngộ chớ không ngộ thì khó vào đạo. Ngài Thần Tú hiểu lý kinh mà
chưa ngộ đạo nên vào cửa không nổi.
Đến trường hợp Tổ muốn truyền y pháp cho ngài Huệ Năng. Trước hết là
pháp, muốn truyền pháp, đầu tiên Tổ đem kinh Kim Cang giảng cho Ngài nghe,
nhưng khi giảng kinh, tại sao lại lấy y che hết các cửa sổ không cho ai thấy cả ?
Có phải tại vì truyền pháp thì phải bí mật không ? Vì hoàn cảnh của Tổ là khác. Tổ
biết rằng nếu có người nào hay Tổ truyền cho ngài Huệ Năng họ sẽ chống đối, bởi
vì lúc ấy ngài Huệ Năng chưa cạo tóc, Ngài chỉ giã gạo tám tháng rồi Tổ gọi lên
truyền y bát. Thế nên Tổ phải che kín hết không cho ai thấy, chỉ một thầy một trò,
Tổ giảng kinh Ngài nghe rồi ngộ. Tổ lén truyền pháp xong rồi đưa ra cửa sau đi
luôn không dám cho ở. Còn chúng ta hiện nay, khi truyền pháp có cần che kín như
thế không ? Tỉ dụ tôi có đạo lý gì muốn truyền cho Phước Hảo hay những chú lớn
trong đây, tôi có cần che kín không ? Vì trường hợp của Tổ là trường hợp đặc biệt
phải giấu. Còn trường hợp thông thường, thầy nói đệ tử nghe, nhận hiểu tức là
được đạo. Nay có một số người bắt chước cho đây là mật truyền, gọi vào phòng
che kín lại rồi truyền và nói là y theo Tổ thuở xưa. Thật đúng với câu “ôm cây đợi
thỏ” hay “khắc mạn thuyền mò gươm”, thật là khờ dại ! Hoàn cảnh của người xưa
khác, nay lại bắt chước cái mật đó! Phật pháp không phải mật vì có những trường
hợp quá đặc biệt nên mới mật thôi. Như thế quí vị phải hiểu rõ tinh thần truyền
pháp, không phải là chỉ truyền khi nào có một thầy một trò trong trường hợp đóng
cửa, đó là cái họa, không phải đúng. Tổ khi xưa làm như thế, vì đặc biệt ngài Huệ
Năng là người chưa được mọi người tin tưởng, nếu Tổ để cho họ biết là có hại nên
phải dùng phương tiện đó. Khi truyền pháp Tổ dùng kinh Kim Cang. Thế nên tôi
thường nói với quí vị, đầu tiên chúng ta học kinh Kim Cang để nhân kinh mà nhận
được bản tánh. Những câu sau đây quí vị thấy Ngũ Tổ nói thật là gần. Ngài bảo
rằng: Người học đạo không biết được bản tâm thì học đạo vô ích, học đạo mà
không nhận được bản tâm thì học cái gì ? Học đạo là cốt ngộ được bản tâm mà
không ngộ được tức nhiên là học bên ngoài chớ chưa phải là học đạo. Còn nếu biết
được bản tâm, thấy được bản tánh, đó là Trượng phu, là Thầy của trời người, là
Phật, tức là đủ mười hiệu. Như thế người muốn thành Phật phải y thế mà tu. Sau khi dặn dò, Lục Tổ nhận pháp rồi, Ngũ Tổ truyền y bát, bảo rán gìn giữ. Tổ lại dặn
trong một bài kệ: Nếu người có chủng tử đạo lý đến thì phải rán vì họ mà gieo
giống tức là làm phương tiện để cho họ khai ngộ, chính nơi đất tâm của họ có sẵn
thì mình gieo hạt giống, quả từ đó phát triển sanh khởi không khó; còn người chưa
có chủng tử đó thì không gieo giống được, đã không có chủng tử, có gieo giống
cũng không sanh khởi vì thế mới nói rằng “vô tánh diệc vô sanh”.
Tổ lại bảo: “Xưa Đại sư Đạt-ma ban đầu đến cõi này, người chưa tin nên
mới truyền y này để làm tín thể, đời đời truyền nhau, pháp thì dùng tâm truyền tâm,
đều khiến cho tự ngộ tự giải. Từ xưa Phật Phật chỉ truyền bản thể, Thầy Thầy
thầm trao bản tâm, y là đầu mối của sự tranh giành, nên dừng ngay nơi ngươi, chớ
truyền nữa. Nếu truyền y này thì mạng của người nhận y cũng như sợi chỉ mành.”
Phật cũng truyền cho mình cái bản thể, chư Sư cũng truyền cho mình cái
bản tâm, đó là điều chính yếu. Tại sao khi xưa Tổ Bồ-đề-đạt-ma sang Trung Hoa
truyền y bát, đến đời Lục Tổ, Ngũ Tổ lại cấm truyền y ? Vì ngay đời Tổ Bồ-đề-
đạt-ma, Ngài chỉ mới có vài đệ tử thôi nên người nào xuất sắc hơn thì được Ngài
truyền y để làm bằng chứng cho người sau tin. Đến đời Ngũ Tổ số đệ tử lên đến
năm bảy trăm người, đến Lục Tổ số chúng đông đến cả ngàn người, nay truyền y
cho một người, bao nhiêu người khác ganh tị, tranh giành là cái họa cho người đó.
Thế nên về sau, người nào được pháp rồi, Tổ bảo họ đến một nơi nào đó truyền bá
chớ không giao y cho vì giao y là giao họa cho họ. Chúng ta đã thấy rõ lý do, chớ
thường chúng ta hay cố chấp nói, khi xưa Tổ Bồ-đề-đạt-ma truyền pháp rồi truyền
y bát cho Tổ Huệ Khả, Tổ Tổ truyền nhau tới sáu đời. Sau này không truyền nữa
tức là đến đó không còn Tổ nữa, tức là hết người ngộ rồi, đó là lầm lẫn lớn. Tỉ dụ
như ở đây, trong chúng có cả trăm người nghe chúng tôi giảng dạy, giả sử có một
người trả lời đúng câu tôi hỏi, tôi nói: Người này xứng đáng kế thừa cho tôi. Khi
nghe như thế quí vị tin người đó chưa ? Dĩ nhiên là tin rồi, đâu cần truyền cái gì
nữa. Thế nên, trong các hội chúng sau này, hội nào cũng từ năm trăm đến một
ngàn người, nếu có người nào ngộ đạo, Tổ chỉ nói tỉ dụ như “Trái mai đã chín” là
thiên hạ hiểu rồi, đua nhau tìm tới học chớ không phải truyền y gì cả. Hoàn cảnh
thuở xưa khác, người sau không hiểu cứ cố chấp, nói tại sao sau này không có
truyền y bát, mà truyền y bát để làm gì ? Điều quan trọng là mình phải ngộ đạo,
cho nên nói Phật Phật truyền nhau tâm thể đó, Tổ Tổ truyền nhau bản tâm này,
vậy phải hiểu y bát chỉ để làm biểu tín bên ngoài khi chưa có người biết, còn khi
mọi người đều biết thì nó không cần thiết nữa. Ngũ Tổ bảo tiếp:
“Ông phải đi nhanh, e người hại ông.” Huệ Năng thưa: “Bây giờ con phải
đi đâu ?” Tổ bảo: “Gặp ấp Hoài thì dừng, gặp ấp Hội thì ẩn.” Huệ Năng canh ba
lãnh được y bát, thưa: “Huệ Năng vốn là người miền Nam không biết đường đi,
làm sao ra được bến đò ?” Ngũ Tổ bảo: “Ông chẳng phải lo, ta tự đưa ông đi.” Tổ
liền đưa đến bến đò Cửu Giang, Tổ bảo lên thuyền, Ngũ Tổ bèn cầm chèo tự chèo.
Huệ Năng thưa: “Thỉnh Hòa thượng ngồi, để đệ tử chèo.” Tổ bảo: “Phải là ta độ
ông.” Huệ Năng thưa: “Khi mê thì Thầy độ, ngộ rồi thì tự độ. Độ tên tuy là một
nhưng chỗ dùng không đồng. Huệ Năng sanh nơi biên phương, tiếng nói không
đúng, nhờ Thầy truyền pháp nay đã được ngộ, chỉ nên tự tánh tự độ.” Tổ bảo: “Như thế ! Như thế ! Về sau Phật pháp do ông mà được thạnh hành, ông đi ba năm,
ta sẽ thệ thế. Nay ông đi an vui, nỗ lực hướng về Nam, không nên nói pháp sớm,
Phật pháp sẽ gặp tai nạn.” Huệ Năng từ giã Ngũ Tổ rồi cất bước đi về phương
Nam, trong khoảng hai tháng đến ngọn núi Đại Dữu.
Lục Tổ ở trong hoàn cảnh bị người khinh, nhưng Ngũ Tổ nhìn Ngài ở chỗ
tâm sáng, vì tâm sáng nên xứng đáng được truyền pháp, còn cái hình thức, sự dốt
nát v.v… là những điều bị thiên hạ khinh, người bị khinh mà được truyền pháp làm
Tổ thì thiên hạ tức, do đó có thể bị hại. Thế nên giữa đêm Ngũ Tổ phải cực khổ lén
đưa ngài Huệ Năng đi, có thể hai thầy trò cầm đèn đưa nhau ra bến đò, rồi qua bên
kia sông lên bờ. Ngũ Tổ lại dặn dò: “Ngươi đi rồi, ba năm sau ta sẽ tịch, vậy ngươi
đi bình yên, rán đi về phía Nam, đừng có dạy sớm.” Thật là chí tình !
Ngũ Tổ trở về, mấy ngày không thượng đường, chúng nghi mới đến hỏi:
“Hòa thượng có ít bệnh, ít não chăng ?” Ngài đáp: “Bệnh thì không, mà y pháp đã
về Nam rồi.” Chúng hỏi: “Ai là người được truyền ?” Tổ bảo: “Người có khả
năng thì được.” Chúng liền biết.
Vì họ đã được đọc bài kệ của ngài Huệ Năng nên khi nghe Ngũ Tổ nói họ
liền biết là Ngài. Biết rồi họ có tha không ?
Khi đó vài trăm người đuổi theo, muốn cướp y bát, một vị tăng họ Trần, tên
Huệ Minh, trước là tướng quân bậc Tứ phẩm, tánh hạnh thô tháo, hết lòng theo tìm,
chạy trước mọi người, đuổi kịp Huệ Năng. Huệ Năng để y bát trên bàn thạch nói:
“Y này là biểu tín có thể dùng sức mà tranh sao !” Huệ Năng liền ẩn trong lùm cỏ,
Huệ Minh đến cầm y lên mà không nhúc nhích, mới kêu rằng: “Cư sĩ, cư sĩ ! Tôi
vì pháp mà đến chớ không phải vì y.” Huệ Năng bèn bước ra ngồi trên bàn thạch.
Huệ Minh liền làm lễ thưa: “Mong cư sĩ vì tôi nói pháp.” Huệ Năng bảo: “Ông đã
vì pháp mà đến thì nên dứt sạch các duyên, chớ sanh một niệm, tôi vì ông nói.”
Huệ Minh im lặng giây lâu. Huệ Năng bảo: “Không nghĩ thiện, không nghĩ ác,
chính khi ấy cái gì là bản lai diện mục của Thượng tọa Minh ?” Huệ Minh ngay
câu nói đó liền đại ngộ.
Đây là bài thuyết pháp đầu tiên của Lục Tổ. Ngài thuyết pháp quá đơn giản.
Ngài bảo: Ông dừng tất cả vọng tưởng, đừng nghĩ gì cả. Huệ Minh đứng lặng yên
giây lâu thì Lục Tổ bảo: “Không nghĩ thiện, không nghĩ ác, chính khi ấy cái gì là
bản lai diện mục của Thượng tọa Minh ?” Huệ Minh liền ngộ. Như thế chỉ một câu
nói, Huệ Minh ngộ được bản lai diện mục của mình.
Lại hỏi: “Ngoài mật ngữ, mật ý trên, còn có mật ý khác chăng ?” Huệ Năng
bảo: “Vì ông nói tức không phải mật vậy, ông nếu phản chiếu thì mật ở bên ông.”
Ông đừng hỏi nữa, đã vì ông mà nói rồi thì đâu còn mật. Cái mật là cái ông
biết phản chiếu trở lại đó. Chúng ta thường có bệnh nghe nói chứng được Phật quả
thì có tam minh, lục thông, tứ vô sở úy, thập bát bất cộng v.v… ai nấy đều thích,
nhưng nay nghe nói bản tâm mình thanh tịnh, hằng tri thì thắc mắc: Thế là không
còn gì lạ nữa sao ? Nếu chỉ được cái thanh tịnh hằng tri đó thì có vẻ thường quá,
không có điều gì mật, điều gì quan trọng cả ! Nhưng thật ra chính cái thanh tịnh
hằng tri đó nếu mình sống được, lâu sau tự nhiên có cái mật. Đừng hỏi thêm,
không ai chỉ thêm được điều gì nữa, cái đó là ở nơi mình chớ không phải ở nơi người chỉ. Người chỉ giúp cho mình nhận ra được cái đó, rồi mình sống với nó, lâu
ngày bao nhiêu diệu dụng theo đó mà có, chớ không phải người khác làm cho
mình được. Như vậy là Ngài chỉ rõ mật là tại ông, tức là ông biết phản chiếu, cái
mật ở nơi ông.
Huệ Minh thưa: “Huệ Minh tuy ở Huỳnh Mai, thật chưa có tỉnh diện mục
của chính mình, nay nhờ chỉ dạy như người uống nước lạnh nóng tự biết. Nay cư
sĩ tức là Thầy của Huệ Minh.” Huệ Năng bảo: “Ông nếu như thế thì tôi cùng ông
đồng thờ thầy Huỳnh Mai, khéo tự hộ trì.”
Câu: “Nay nhờ chỉ dạy như người uống nước lạnh nóng tự biết” là câu trình
kiến giải. Như thế Huệ Minh cũng can đảm, là người xuất gia mà dám nhận một
cư sĩ làm thầy.
Huệ Minh lại thưa: “Huệ Minh từ nay về sau nhằm chỗ nào đi ?” Huệ Năng
bảo: “Gặp Viên thì dừng, gặp Mông thì ở.” Huệ Minh liền lễ từ.
Đây là điểm tôi nghi, vì trước đó Ngài chưa biết phải đi đâu, nên hỏi Ngũ
Tổ “con phải đi đâu” thì Ngũ Tổ bảo “phùng Hoài… ngộ Hội v.v…”, nay thình lình
Huệ Minh vừa ngộ hỏi con đi đâu thì Ngài cũng dặn bảo được, thành ra mau quá,
nên tôi nghi. Trong đoạn trước tôi có nói, người sau ghi lại muốn cho có vẻ huyền
bí một chút, nên điểm tô thêm một ít nét, nếu chúng ta kiểm điểm lại thì thấy rõ.
Nếu trước Ngài đã biết tức Ngài không hỏi Ngũ Tổ, vì Ngài chưa biết thân phận
mình, nên phải nhờ Ngũ Tổ định đoạt, trong lúc chạy trốn Ngài đâu có ngày giờ
ngồi tu mà nói tâm Ngài được sáng, biết quá khứ vị lai ? Đến khi Huệ Minh ngộ
hỏi, Ngài liền biết chỗ nào nên ở, chỗ nào nên đi, đó là Ngài biết quá khứ vị lai rồi.
Điều này e là người sau bổ túc, đó là điểm tôi nghi, vì khi nghiên cứu, chúng ta
phải thấy điểm nào là thật, điểm nào là không thật, chớ không thể đọc sao nghe
vậy.
Huệ Minh trở về, xuống núi bảo những người đuổi theo: “Đi trên những đồi
núi này trọn không tìm ra tung tích, phải đi qua đường khác tìm.” Cả chúng đuổi
theo đều cho là đúng. Huệ Minh về sau đổi tên là Đạo Minh, đó là tránh chữ đầu
của tên Thầy.
Huệ Minh nói gạt chúng là đi theo mấy ngọn đồi núi chập chùng này không
tìm ra dấu vết gì cả, thôi tìm đường khác đi, đó là gạt chúng đừng đuổi theo.
Huệ Năng sau đến Tào Khê lại bị bọn người ác tìm đuổi, mới ở nơi Tứ Hội
(Tứ Hội thuộc tỉnh Quảng Đông.), tị nạn trong đám thợ săn, trải qua mười lăm
năm, khi đó cùng những người thợ săn tùy nghi nói pháp. Những người thợ săn
thường bảo giữ giềng lưới, khi Huệ Năng thấy những con vật mắc lưới đều thả.
Mỗi khi đến bữa ăn, hái rau gởi luộc trong nồi thịt, hoặc có người hỏi thì đáp: “Chỉ
ăn rau ở bên thịt.”
Tu theo Ngài cũng hơi dễ, rau luộc trong nồi thịt cũng dễ ăn hơn rau luộc
bằng nước trong. Như thế quí vị thích tu theo cách này không ? Mình ăn rau gởi
luộc trong nồi thịt thôi, không ăn thịt ! Nói thế thì có nhiều vị bắt chước, về nhà vợ
con nấu thịt cũng bỏ rau vào luộc, đến khi ăn thì ăn rau thôi ! Nhưng chúng ta
không nên bắt chước như vậy. Chúng ta phải hiểu hoàn cảnh của Ngài, Ngài còn
hình thức cư sĩ và Ngài cũng giấu không cho người ta biết tung tích của Ngài, nếu Ngài tỏ ra là người tu, sợ người ta biết tung tích thì có hại, nên Ngài giấu hẳn.
Ngài sống như bao nhiêu người tầm thường khác, Ngài cũng làm việc với thợ săn
để mọi người không nghi ngờ, thế nên Ngài không có quyền luộc một nồi rau
riêng sợ người ta nghi, còn chúng ta hiện nay có quyền luộc rau riêng thì cứ luộc,
tại sao muốn gởi trong nồi thịt ? Đó là có ý xấu rồi ! Phải hiểu hoàn cảnh mỗi bên
khác nhau, đừng nghe rồi bắt chước, nói khi xưa Lục Tổ cũng luộc rau trong nồi
thịt thì nay tôi cũng ăn rau bên cạnh thịt có hại chi đâu ? Phải hiểu hoàn cảnh của
Ngài khác, hoàn cảnh của mình khác, mình có quyền luộc rau riêng được thì cứ
luộc riêng, chớ cứ gởi theo kiểu đó mãi chắc là khó coi lắm ! Hiểu như thế mới
thấy ý nghĩa của mỗi phần, chớ nhiều khi chúng ta hay bắt chước người xưa một
cách lố bịch, không đúng. Như thế là Ngài chạy từ nơi Ngũ Tổ đến đây gần một
năm và ở trong đám thợ săn mười lăm năm nữa tức là mười sáu năm trời vất vả !
Một hôm, mới suy nghĩ: Thời hoằng pháp đã đến, không nên trọn trốn lánh.
Huệ Năng liền đến chùa Pháp Tánh ở Quảng Châu, gặp Pháp sư Ấn Tông đang
giảng kinh Niết-bàn. Khi ấy có gió thổi, lá phướn động, một vị tăng nói gió động,
một vị tăng nói phướn động, hai người cãi nhau không thôi. Huệ Năng tiến tới nói:
“Không phải gió động, không phải phướn động, tâm nhân giả động.” Cả chúng
đều ngạc nhiên. Ấn Tông mời Huệ Năng đến chiếu trên gạn hỏi áo nghĩa (Tức là
nghĩa sâu kín.), thấy Huệ Năng đối đáp, lời nói giản dị mà nghĩa lý rất đúng,
không theo văn tự. Ấn Tông nói: “Cư sĩ quyết định không phải là người thường,
đã lâu nghe y pháp của Huỳnh Mai đi về phương Nam, đâu chẳng phải là cư sĩ
?” Huệ Năng nói: “Chẳng dám !” Chẳng dám là lời nói khiêm nhường chấp nhận.
Đến đây tôi nói chuyện phong phan một chút. Quí vị thấy Ngài xuất đầu lộ
diện qua câu chuyện gió động, phướn động. Giả sử như vào ngày rằm tháng tư,
chúng ta treo lá cờ Phật giáo ở trước cửa, gió thổi lá cờ bay phất phới, có hai vị sư
cãi nhau, một người nói gió động, một người nói cờ động, có một người khác lại
nói: đó là tâm hai ông động. Nghe như thế, chúng ta có thấy quan trọng không ?
Cũng thường thôi. Nhưng tại sao khi Ngài nói câu đó cả chúng đều ngạc nhiên ?
Tại sao ? Thật ra vì hiện nay chúng ta thường được nghe câu chuyện đó, chúng ta
đã quen rồi nên không ngạc nhiên. Nếu từ trước đến nay chưa từng nghe, mà thấy
một cư sĩ nói một câu như vậy, tức nhiên mọi người đều lấy làm lạ, nếu một người
xuất gia nói câu đó thì khả dĩ người ta không ngạc nhiên lắm, nay một cư sĩ mà nói
một câu như thế thì mọi người đều biết cư sĩ này hẳn có một cái gì đặc biệt nên
mới ngạc nhiên.
Nay tôi hỏi quí vị: gió động, phướn động, câu nào đúng ? Nếu có phướn mà
không có gió thì phướn động được không ? Trái lại có gió nhưng không có phướn
thì có thấy động không ? Cũng không thấy ! Như thế chúng ta thấy phướn động là
nhân có gió và có phướn. Tướng duyên hợp không phải là một, mà có duyên hợp
mới có động, nếu không có duyên hợp thì không có động, vì thế trên tướng duyên
hợp mà chúng ta chấp một bên, đó là nhìn phiến diện, mà nhìn phiến diện thì
không đúng được lý cứu kính. Bởi vì mỗi bên nhìn một khía cạnh nên ai cũng thấy
mình đúng cả, mà đã đúng rồi thì cãi nhau mãi cũng không ra lẽ. Thế nên, tất cả
pháp trên thế gian này là tùy duyên, vì tùy duyên nên có động tác, có hình tướng v.v… Động tác, hình tướng đều là tướng của duyên, đã là của duyên thì không nên
chấp vào một bên. Chấp vào một bên, nhìn phiến diện là gốc của sự tranh cãi. Trái
lại nếu biết các pháp duyên khởi thì không có gì phải tranh luận, sở dĩ có tranh
luận là do không nhận được lý đó. Thí dụ có người hỏi: Cái bàn do cái gì làm ra ?
Một người bảo: Do gỗ làm ra, người thứ hai bảo: Do ông thợ mộc làm ra. Vậy ai
đúng? Nếu không có gỗ, ông thợ mộc làm được cái bàn không ? Còn nếu không có
ông thợ mộc, gỗ có thành cái bàn không ? Dĩ nhiên thiếu một trong hai điều kiện
trên là không được, đó là chưa kể bao nhiêu vật nhỏ nhặt khác như đinh, bào, đục
v. v… Vì vậy, chúng ta không thể nhìn phiến diện được, nếu chấp một bên là có
tranh cãi, tranh cãi mãi không phân hơn thua, kết quả là đi đến nổi giận rồi đánh
nhau. Thế gian thường xảy ra những cuộc đánh nhau, vì mỗi người đều có lý riêng
của mình, lúc mới cãi còn nóng ít, dần dần ai cũng đỏ mặt rồi đánh nhau, nhưng
kết quả không đi đến đâu cả. Chính đó là sự lầm lẫn của chúng sanh. Do đó chúng
ta biết được lý duyên khởi, các pháp duyên khởi thì ở thế gian này không có gì
phải tranh luận với nhau. Anh nhìn các pháp như thế này là do anh thấy khía cạnh
này của chúng, người kia nhìn các pháp như thế kia là do người đó thấy khía cạnh
khác của các pháp. Không ai đúng toàn diện cả. Nhìn toàn diện thì các pháp không
cố định, tự tánh là không, duyên khởi là lý thật của các pháp. Thế nên chúng ta
thấy rõ, trong câu chuyện phong phan này, do chấp một bên mà có sự tranh cãi.
Để chấm dứt cuộc tranh cãi, Lục Tổ bảo: Tâm nhân giả động ! Tại sao Tổ
bảo tâm các ông động ? Chấp một bên, dấy niệm chấp là tâm động. Chấp là tâm
chấp, nên nói tâm hai ông động, đó là nói chỗ rốt ráo, Ngài chỉ thẳng gốc của sự
tranh cãi là tâm chấp. Dấy niệm chấp là tranh cãi, động là từ cái chấp đó. Dấy
niệm chấp là động, vì thế cả chúng nghe rồi đều hoảng hốt, không ngờ một cư sĩ
lại nói được một câu như vậy. Thế là Ngài xuất đầu lộ diện qua câu chuyện
“phong phan”. Đó là những hình ảnh đẹp, những câu chuyện lý thú trong nhà
Thiền. Đến khi ngài Ấn Tông mời Ngài giảng đạo thì Ngài nói lời giản dị nhưng ý
rất thâm sâu, nên ngài Ấn Tông mới bảo: Nghe y pháp của Ngũ Tổ đã về phương
Nam, vậy chắc là Ngài chớ không phải ai khác. Ngài đáp “không dám”, đó là một
cách chấp nhận.
Ấn Tông liền làm lễ, xin đưa y bát đã được truyền cho đại chúng xem. Ấn
Tông lại thưa: “Huỳnh Mai phó chúc, việc chỉ dạy như thế nào ?” Huệ Năng bảo:
“Chỉ dạy tức không, chỉ luận về kiến tánh, chẳng luận thiền định giải thoát.”
Ngài Ấn Tông là một Pháp sư, trong khi Lục Tổ còn hình thức cư sĩ, nhưng
vừa nghe như thế Ngài liền làm lễ. Sau đó Ngài xin Tổ đưa y bát đã được truyền
cho đại chúng xem. Ngài Ấn Tông hỏi: Tổ Huỳnh Mai chủ yếu chỉ dạy như thế
nào thì Tổ Huệ Năng bảo: Chỉ dạy thì không, chỉ luận về kiến tánh, không luận về
thiền định giải thoát gì cả.
Ấn Tông thưa: “Sao chẳng luận thiền định giải thoát ?” Huệ Năng bảo: “Vì
ấy là hai pháp, không phải là Phật pháp. Phật pháp là pháp chẳng hai.” Ấn Tông
lại hỏi: “Thế nào Phật pháp là pháp chẳng hai ?” Huệ Năng bảo: “Pháp sư giảng
kinh Niết-bàn, rõ được Phật tánh, ấy là Phật pháp là pháp chẳng hai. Như Bồ-tát
Cao Quí Đức Vương bạch Phật: Phạm tứ trọng cấm, tạo tội ngũ nghịch và nhất xiển-đề v.v… sẽ đoạn thiện căn Phật tánh chăng ? Phật bảo: Thiện căn có hai, một
là thường, hai là vô thường, Phật tánh chẳng phải thường, chẳng phải vô thường,
thế nên chẳng đoạn, gọi là chẳng hai; một là thiện, hai là chẳng thiện, Phật tánh
chẳng phải thiện, chẳng phải chẳng thiện, ấy là chẳng hai; uẩn cùng với giới, phàm
phu thấy hai, người trí rõ thấu tánh nó không hai, tánh không hai tức là Phật tánh.”
Ấn Tông nghe nói hoan hỉ chấp tay thưa: “Tôi giảng kinh ví như ngói gạch, nhân
giả luận nghĩa ví như vàng ròng.” Khi ấy vì Huệ Năng cạo tóc, nguyện thờ làm
thầy.
Huệ Năng bèn ở dưới cây bồ-đề khai pháp môn Đông Sơn. Huệ Năng được
pháp ở Đông Sơn, chịu tất cả những điều cay đắng, mạng giống như sợi chỉ mành.
Ngày nay được cùng với Sử quân, quan liêu, Tăng Ni, đạo tục đồng ở trong hội
này đâu không phải là duyên của nhiều kiếp, cũng là ở trong đời quá khứ cúng
dường chư Phật, đồng gieo trồng căn lành mới nghe cái nhân được pháp môn đốn
giáo này. Giáo ấy là các vị Thánh trước đã truyền, không phải tự trí Huệ Năng
được, mong những người nghe các vị Thánh trước dạy, mỗi người khiến cho tâm
được thanh tịnh, nghe rồi mỗi người tự trừ nghi, như những vị Thánh đời trước
không khác.
Cả chúng nghe pháp đều hoan hỉ làm lễ rồi lui.
Đến đoạn này Lục Tổ mới nói pháp không hai cho ngài Ấn Tông nghe.
Pháp nào còn hai thì đó không phải là Phật pháp. Tổ bảo rằng: Thiền định giải
thoát là pháp hai. Nếu là pháp hai tức chưa phải là pháp cứu kính, thế nên nói Phật
pháp là pháp không hai. Tại sao là pháp không hai ? Ngài mới dẫn kinh Niết-bàn
làm bằng chứng. Đoạn dẫn kinh Niết-bàn có nhiều người nghi, Tổ không có đọc
kinh Niết-bàn thì làm sao biết mà dẫn. Nhưng trong một đoạn khác dẫn: Có một
lần Ngài ở trong các làng Hoài, Hội gặp một vị Ni đem quyển kinh Niết-bàn đến
hỏi, Ngài có giải thích, vì thế nên Ngài nhớ, mới dẫn ra làm bằng chứng rõ ràng về
pháp môn bất nhị của Phật. Đó là pháp môn không hai, pháp môn không hai mới
là pháp cứu kính, còn nếu thấy có hai tức chưa phải là cứu kính. Do đó ngài Ấn
Tông mới chấp nhận Ngài giảng kinh giống như ngói gạch còn Tổ luận nghĩa như
vàng ròng. Khi ấy ngài Ấn Tông mới cạo tóc cho Tổ Huệ Năng và thờ Tổ làm
Thầy.
Thế là Tổ nói xong lý do đắc pháp cho tất cả chúng nghe, ai nấy đều hoan
hỉ. Nhưng Tổ nói một cách dè dặt: Pháp môn đốn giáo này là các vị Thánh trước
truyền, chớ không phải do trí của Huệ Năng tự được, vì thế nghe giáo lý của các vị
Thánh trước thì mỗi người rán tịnh tâm nghe rồi trừ nghi và đúng qui cách các vị
Thánh đời trước mà tu hành đừng cho sai khác. Cả chúng nghe rồi, ai nấy đều
hoan hỉ vâng làm. Vậy quí vị có hoan hỉ không ? Nhớ noi gương Tổ nhé ! Dù cực
nhọc cũng nhớ rằng sự cực khổ của mình chỉ có một chút không đáng gì cả, xưa
cần phải đeo đá để giã gạo Tổ vẫn làm kia mà. Giã gạo đã là cực rồi mà còn đeo
thêm đá nữa thì cực biết bao, vậy mà Tổ vẫn làm, huống là chúng ta ngày nay nhổ
cỏ, lặt rau, xách nước là chuyện thường có gì đến nỗi làm không được. Hiểu như
thế rồi, mới thấy học đạo quí ở nhiệt tình. Hết tâm vì đạo thì được đạo, trái lại nếu sợ đau, sợ mệt, sợ chết v.v… thì hết việc đạo, chính những cái sợ đó làm chướng
đạo vậy !
DPHẨM THỨ HAI: BÁT-NHÃ
DỊCH
Ngày khác, Vi Sử quân thưa thỉnh, Tổ đăng tòa bảo đại chúng: “Tất cả nên
tịnh tâm niệm Ma-ha Bát-nhã Ba-la-mật-đa.” Lại bảo: “Này Thiện tri thức, trí Bátnhã Bồ-đề, người đời vốn tự có, chỉ nhân vì tâm mê không thể tự ngộ, phải nhờ
đến Đại thiện tri thức chỉ đường mới thấy được tánh. Phải biết người ngu, người
trí Phật tánh vốn không có khác, chỉ duyên mê ngộ không đồng, nên có ngu có trí.
Nay tôi vì nói pháp Ma-ha Bát-nhã Ba-la-mật, khiến cho các ông, mỗi người được
trí tuệ, nên chí tâm lắng nghe, tôi vì các ông mà nói. Này Thiện tri thức, người đời
trọn ngày miệng tụng Bát-nhã nhưng không biết tự tánh Bát-nhã ví như nói ăn mà
không no, miệng chỉ nói Không, muôn kiếp chẳng được thấy tánh, trọn không có
ích. Này Thiện tri thức, Ma-ha Bát-nhã Ba-la-mật là tiếng Phạn, Trung Hoa dịch là
Đại Trí Tuệ Đến Bờ Kia, nó phải là hành nơi tâm, không phải tụng ở miệng.
Miệng tụng mà tâm chẳng hành như huyễn như hóa, như sương, như điện. Miệng
niệm mà tâm hành ắt tâm và miệng hợp nhau, bản tánh là Phật, lìa tánh không
riêng có Phật.
Sao gọi là Ma-ha ? Ma-ha là lớn, tâm lượng rộng lớn ví như hư không,
không có bờ mé, cũng không có vuông tròn lớn nhỏ, cũng không phải xanh vàng
đỏ trắng, cũng không có trên dưới dài ngắn, cũng không sân không hỉ, không phải
không quấy, không thiện không ác, không có đầu đuôi, cõi nước chư Phật trọn
đồng với hư không; diệu tánh của người đời vốn không, không có một pháp có thể
được, tự tánh chân không cũng lại như thế. Này Thiện tri thức, chớ nghe tôi nói
Không liền chấp không, thứ nhất là không nên chấp không, nếu để tâm không mà
ngồi tĩnh tọa, đó tức là chấp vô ký không. Này Thiện tri thức, thế giới hư không
hay bao hàm vạn vật sắc tượng, mặt trời, mặt trăng, sao, núi, sông, đất liền, suối
khe, cỏ cây rừng rậm, người lành người dữ, pháp lành pháp dữ, thiên đường địa
ngục, tất cả biển lớn, các núi Tu-di, thảy ở trong hư không. Tánh không của người
đời cũng lại như thế. Này Thiện tri thức, tự tánh hay bao hàm muôn pháp ấy là Đại.
Muôn pháp ở trong tự tánh của mọi người, nếu thấy tất cả người ác cùng với lành,
trọn đều không chấp, không bỏ, cũng không nhiễm trước, tâm cũng như hư không,
gọi đó là Đại, nên nói là Ma-ha.
Này Thiện tri thức, người mê miệng nói, người trí tâm hành. Lại có người
mê, để tâm rỗng không ngồi tĩnh tọa, trăm việc không cho nghĩ tự gọi là đại, một
bọn người này không nên cùng họ nói chuyện vì là tà kiến. Này Thiện tri thức, tâm
lượng rộng lớn khắp giáp cả pháp giới, dụng tức rõ ràng, phân minh ứng dụng liền
biết tất cả, tất cả tức một, một tức tất cả, đi lại tự do, tâm thể không bị ngăn ngại
tức là Bát-nhã. Này Thiện tri thức, tất cả trí Bát-nhã đều từ tự tánh sanh, chẳng từ
bên ngoài vào, chớ lầm dụng ý nên gọi là chân tánh tự dụng. Một chân thì tất cả
chân, tâm lượng rộng lớn không đi theo con đường nhỏ, miệng chớ trọn ngày nói không mà trong tâm chẳng tu hạnh này, giống như người phàm tự xưng là quốc
vương trọn không thể được, không phải là đệ tử của ta.
Này Thiện tri thức, sao gọi là Bát-nhã ? Bát-nhã, Trung Hoa dịch là trí tuệ.
Tất cả chỗ, tất cả thời, mỗi niệm không ngu, thường hành trí tuệ tức là Bát-nhã
hạnh. Một niệm ngu tức Bát-nhã bặt, một niệm trí tức Bát-nhã sanh. Người đời
ngu mê, không thấy Bát-nhã, miệng nói Bát-nhã mà trong tâm thường ngu, thường
tự nói ta tu Bát-nhã, niệm niệm nói không nhưng không biết được Chân không.
Bát-nhã không có hình tướng, tâm trí tuệ ấy vậy. Nếu khởi hiểu như thế tức gọi là
Bát-nhã trí.
Sao gọi là Ba-la-mật ? Đây là lời nói của Ấn Độ, Trung Hoa dịch là đến bờ
kia, giải nghĩa là lìa sanh diệt; chấp cảnh thì sanh diệt khởi như nước có sóng mòi,
tức gọi là bờ này, lìa cảnh thì không sanh diệt như nước thường thông lưu, ấy gọi
là bờ kia, nên gọi là Ba-la-mật.
Này Thiện tri thức, người mê miệng tụng, chính khi đang tụng mà có vọng,
có quấy; niệm niệm nếu hành Bát-nhã, ấy gọi là chân tánh. Người ngộ được pháp
này, ấy là pháp Bát-nhã, người tu hạnh này, ấy là hạnh Bát-nhã. Không tu tức là
phàm, một niệm tu hành, tự thân đồng với Phật.
Này Thiện tri thức, phàm phu tức Phật, phiền não tức Bồ-đề. Niệm trước
mê tức phàm phu, niệm sau ngộ tức Phật; niệm trước chấp cảnh tức phiền não,
niệm sau lìa cảnh tức Bồ-đề.
Này Thiện tri thức, Ma-ha Bát-nhã Ba-la-mật tối tôn, tối thượng, tối đệ nhất,
không trụ, không qua cũng không lại, chư Phật ba đời từ trong đó mà ra. Phải dùng
đại trí tuệ này đập phá ngũ uẩn, phiền não, trần lao, tu hành như đây quyết định
thành Phật đạo, biến tam thành giới định tuệ.
Này Thiện tri thức, pháp môn của tôi đây từ một Bát-nhã phát sanh tám
muôn bốn ngàn trí tuệ. Vì cớ sao ? Vì người đời có tám muôn bốn ngàn trần lao,
nếu không có trần lao thì trí tuệ thường hiện, chẳng lìa tự tánh. Người ngộ pháp
này tức là vô niệm, vô ức, vô trước, chẳng khởi cuống vọng, dùng tánh chân như
của mình, lấy trí tuệ quán chiếu, đối với tất cả pháp không thủ không xả tức là thấy
tánh thành Phật đạo.
Này Thiện tri thức, nếu muốn vào pháp giới thậm thâm và Bát-nhã tammuội thì phải tu Bát-nhã hạnh, phải trì tụng kinh Kim Cang Bát-nhã tức được thấy
tánh, nên biết kinh này công đức vô lượng vô biên, trong kinh đã khen ngợi rõ
ràng, không thể nói đầy đủ được. Pháp môn này là Tối thượng thừa, vì những
người đại trí mà nói, vì những người thượng căn mà nói. Những người tiểu căn
tiểu trí nghe pháp này, tâm sanh không tin. Vì cớ sao ? Ví như có một trận mưa
lớn khắp cả cõi nước, thành ấp chợ búa đều bị trôi giạt cũng như trôi những lá táo.
Nếu trận mưa lớn đó mưa nơi biển cả thì không tăng không giảm. Như người Đại
thừa hoặc người Tối thượng thừa nghe kinh Kim Cang thì tâm khai ngộ, thế nên
biết bản tánh họ tự có trí Bát-nhã, tự dùng trí tuệ thường quán chiếu nên không
nhờ văn tự. Thí như nước mưa không phải từ trời có, nguyên là từ rồng mà dấy lên,
khiến cho tất cả chúng sanh, tất cả cỏ cây, hữu tình vô tình thảy đều được đượm nhuần. Trăm sông các dòng đều chảy vào biển cả hợp thành một thể, trí tuệ Bátnhã nơi bản tánh chúng sanh cũng lại như thế.
Này Thiện tri thức, người tiểu căn nghe pháp môn đốn giáo này, ví như là
cỏ cây gốc rể nhỏ, nếu bị mưa to thì đều ngả nghiêng không thể nào tăng trưởng
được. Người tiểu căn cũng lại như thế, vốn có trí tuệ Bát-nhã cùng với người đại
trí không sai biệt, nhân sao nghe pháp không thể khai ngộ ? Vì do tà kiến chướng
nặng, cội gốc phiền não sâu, ví như đám mây lớn che kín mặt trời, không có gió
thổi mạnh thì ánh sáng mặt trời không hiện. Trí Bát-nhã cũng không có lớn nhỏ, vì
tất cả chúng sanh tự tâm mê ngộ không đồng, tâm mê bên ngoài thấy có tu hành
tìm Phật, chưa ngộ được tự tánh tức là tiểu căn. Nếu khai ngộ đốn giáo không thể
tu ở bên ngoài, chỉ nơi tâm mình thường khởi chánh kiến, phiền não trần lao
thường không bị nhiễm tức là thấy tánh.
Này Thiện tri thức, trong ngoài không trụ, đi lại tự do, hay trừ tâm chấp,
thông đạt không ngại, hay tu hạnh này cùng kinh Bát-nhã vốn không sai biệt.
Này Thiện tri thức, tất cả kinh điển và các văn tự, Đại thừa, Tiểu thừa,
mười hai bộ kinh đều nhân người mà an trí, nhân tánh trí tuệ mới hay dựng lập.
Nếu không có người đời thì tất cả muôn pháp vốn tự chẳng có, thế nên biết muôn
pháp vốn tự nhân nơi người mà dựng lập, tất cả kinh sách nhân người mà nói có;
nhân vì trong người kia có ngu và có trí, người ngu là tiểu nhân, người trí là đại
nhân, người ngu hỏi nơi người trí, người trí vì người ngu mà nói pháp, người ngu
bỗng nhiên ngộ hiểu, tâm được khai tức cùng với người trí không có khác.
Này Thiện tri thức, chẳng ngộ tức Phật là chúng sanh, khi một niệm ngộ
chúng sanh là Phật, thế nên biết muôn pháp trọn ở nơi tự tâm, sao chẳng từ trong
tự tâm liền thấy được chân như bản tánh ? Kinh Bồ-tát Giới nói rằng: Bản tánh của
ta nguyên tự thanh tịnh, nếu biết được tự tâm thấy tánh đều thành Phật đạo. Kinh
Tịnh Danh nói: Liền khi đó bỗng hoát nhiên được bản tâm.
Này Thiện tri thức, xưa ta ở nơi Ngũ tổ Nhẫn, một phen nghe liền được ngộ,
chóng thấy chân như bản tánh, nên đem giáo pháp này lưu hành khiến cho người
học đạo chóng ngộ được Bồ-đề. Mỗi người tự quán nơi tâm, tự thấy bản tánh, nếu
tự chẳng ngộ phải tìm những bậc Đại thiện tri thức, người hiểu được giáo pháp Tối
thượng thừa, chỉ thẳng con đường chánh, ấy là Thiện tri thức có nhân duyên lớn,
gọi là hóa đạo khiến được thấy tánh. Tất cả pháp lành nhân nơi Thiện tri thức mà
hay phát khởi. Ba đời chư Phật, mười hai bộ kinh, ở trong tánh của người vốn tự
có đủ, không có thể tự ngộ thì phải cầu Thiện tri thức chỉ dạy mới thấy. Nếu tự
mình ngộ thì không nhờ cầu bên ngoài, nếu một bề chấp, bảo rằng phải nhờ Thiện
tri thức khác mong được giải thoát thì không có lẽ phải. Vì cớ sao ? Trong tự tâm
có tri thức tự ngộ, nếu khởi tà mê vọng niệm điên đảo thì Thiện tri thức bên ngoài
tuy có giáo hóa chỉ dạy, cứu cũng không thể được. Nếu khởi chánh chân Bát-nhã
quán chiếu thì trong khoảng một sát-na vọng niệm đều diệt, nếu biết tự tánh một
phen ngộ tức đến quả vị Phật.
Này Thiện tri thức, trí tuệ quán chiếu, trong ngoài sáng suốt, biết bản tâm
mình, nếu biết bản tâm tức là gốc của sự giải thoát. Nếu được giải thoát tức là Bátnhã tam-muội, tức là vô niệm. Sao gọi là vô niệm ? Nếu thấy tất cả pháp mà tâm không nhiễm trước ấy là vô niệm, dụng tức khắp tất cả chỗ, cũng không dính mắc
tất cả chỗ, chỉ thanh tịnh nơi bản tâm khiến sáu thức ra sáu cửa đối trong sáu trần
không nhiễm không tạp, đi lại tự do, thông dụng không kẹt, tức là Bát-nhã tammuội, tự tại giải thoát gọi là vô niệm hạnh. Nếu trăm vật chẳng nghĩ, chính khi đó
khiến cho niệm bặt đi, ấy là pháp phược, ấy gọi là biên kiến.
Này Thiện tri thức, người ngộ được pháp vô niệm thì muôn pháp đều thông,
người ngộ được pháp vô niệm thì thấy cảnh giới của chư Phật, người ngộ được
pháp vô niệm thì đến địa vị Phật.
Này Thiện tri thức, đời sau người được pháp của ta, đem pháp môn đốn
giáo này, đối với hàng người đồng kiến đồng hành phát nguyện thọ trì như là thờ
Phật, cố gắng tu thân không dám lui sụt thì quyết định vào quả vị Thánh; nhưng
phải truyền trao, từ trước đến giờ, thầm truyền trao phó chớ không được giấu kín
chánh pháp. Nếu không phải là hàng đồng kiến đồng hành, ở trong pháp môn khác
thì không được truyền trao, e tổn tiền nhân kia, cứu kính vô ích, sợ người ngu
không hiểu, chê bai pháp môn này rồi trăm kiếp ngàn đời đoạn chủng tánh Phật.
Này Thiện tri thức, tôi có một bài tụng Vô tướng, mỗi người phải tụng lấy,
người tại gia, người xuất gia chỉ y đây mà tu, nếu không tự tu, chỉ ghi nhớ lời của
tôi thì cũng không có ích gì. Nghe tôi tụng đây:
Thuyết thông và tâm thông,
Như mặt trời giữa không,
Chỉ truyền pháp kiến tánh,
Ra đời phá tà tông.
Pháp thì không đốn tiệm,
Mê ngộ có mau chậm,
Chỉ pháp kiến tánh này,
Người ngu không thể hiểu.
Nói tuy có muôn thứ,
Trở về lý chỉ một,
Phiền não trong nhà tối,
Thường sanh mặt trời tuệ.
Tà đến phiền não sanh,
Chánh đến phiền não dứt,
Tà chánh đều không dùng,
Thanh tịnh mới hoàn toàn.
Bồ-đề vốn tự tánh,
Khởi tâm tức là vọng,
Tâm tịnh ở trong vọng,
Chỉ chánh không ba chướng.
Người đời nếu tu hành,
Tất cả trọn chẳng ngại,
Thường tự thấy lỗi mình,
Cùng đạo tức tương đương. Sắc loại tự có đạo,
Đều chẳng chướng ngại nhau,
Lìa đạo riêng tìm đạo,
Trọn đời không thấy đạo.
Lăng xăng qua một đời,
Kết cuộc tự sanh não,
Muốn thấy đạo chân thật,
Hạnh chánh tức là đạo.
Nếu không có tâm đạo,
Hạnh tối không thấy đạo,
Người chân chánh tu hành,
Không thấy lỗi thế gian.
Nếu thấy lỗi người khác,
Lỗi mình đã đến bên,
Người quấy ta chẳng quấy,
Ta quấy tự có lỗi.
Chỉ dẹp lỗi nơi tâm,
Phá trừ các phiền não,
Yêu ghét chẳng bận lòng,
Duỗi thẳng hai chân ngủ.
Muốn nghĩ giáo hóa người,
Tự phải có phương tiện,
Chớ khiến người nghi ngờ,
Tức là tự tánh hiện.
Phật pháp nơi thế gian,
Không lìa thế gian giác,
Lìa thế tìm Bồ-đề,
Giống như tìm sừng thỏ.
Chánh kiến gọi xuất thế,
Tà kiến là thế gian,
Tà chánh đều dẹp sạch,
Tánh Bồ-đề hiện rõ.
Tụng này là đốn giáo,
Cũng gọi thuyền đại pháp,
Mê nghe trải nhiều kiếp,
Ngộ trong khoảng sát-na.”
(Thuyết thông cập tâm thông,
Như nhật xử hư không,
Duy truyền kiến tánh pháp,
Xuất thế phá tà tông.
Pháp tức vô đốn tiệm,
Mê ngộ hữu trì tật,
Chỉ thử kiến tánh môn, Ngu nhân bất khả tất.
Thuyết tức tuy vạn ban,
Hợp lý hoàn quy nhất,
Phiền não ám trạch trung,
Thường tu sanh tuệ nhật.
Tà lai phiền não chí,
Chánh lai phiền não trừ,
Tà chánh câu bất dụng,
Thanh tịnh chí vô dư.
Bồ-đề bản tự tánh,
Khởi tâm tức thị vọng,
Tịnh tâm tại vọng trung,
Đãn chánh vô tam chướng.
Thế nhân nhược tu đạo,
Nhất thiết tận bất phòng,
Thường tự kiến kỷ quá,
Dữ đạo tức tương đương.
Sắc loại tự hữu đạo,
Các bất tương phòng não,
Ly đạo biệt mích đạo,
Chung thân bất kiến đạo.
Ba ba độ nhất sanh,
Đáo đầu hoàn tự áo,
Dục đắc kiến chân đạo,
Hạnh chánh tức thị đạo.
Tự nhược vô đạo tâm,
Ám hạnh bất kiến đạo,
Nhược chân tu đạo nhân,
Bất kiến thế gian quá.
Nhược kiến tha nhân phi,
Tự phi khước thị tả,
Tha phi ngã bất phi,
Ngã phi tự hữu quá.
Đãn tự khước phi tâm,
Đả trừ phiền não phá,
Tắng ái bất quan tâm,
Trường thân lưỡng cước ngọa.
Dục nghĩ hóa tha nhân,
Tự tu hữu phương tiện,
Vật linh bỉ hữu nghi,
Tức thị tự tánh hiện.
Phật pháp tại thế gian,
Bất ly thế gian giác, Ly thế mích Bồ-đề,
Kháp như cầu thố giác.
Chánh kiến danh xuất thế,
Tà kiến thị thế gian,
Tà chánh tận đả khước,
Bồ-đề tánh uyển nhiên.
Thử tụng thị đốn giáo,
Diệc danh đại pháp thuyền,
Mê văn kinh lụy kiếp,
Ngộ tắc sát-na gian.)
Tổ lại bảo: “Nay ở chùa Đại Phạm nói pháp đốn giáo này, khắp nguyện cả
pháp giới chúng sanh ngay lời nói này đều được thấy tánh thành Phật.” Khi ấy Vi
Sử quân cùng quan liêu đạo tục nghe Tổ nói, không ai mà chẳng tỉnh ngộ, đồng
thời làm lễ đều tán thán: “Lành thay ! Đâu ngờ ở Lãnh Nam có Phật ra đời !”
GIẢNG

Trong bộ Pháp Bảo Đàn, phẩm Bát-nhã là phẩm rất quan trọng, tất cả
chúng ta học, nếu thâm nhập được phẩm này, mới thấy rõ chủ trương, đường lối tu
của Lục Tổ, nên ở đây quí vị nghe hiểu cho kỹ. Tại sao chúng tôi dám nói như thế ?
Vì Lục Tổ ngộ từ kinh Kim Cang, mà kinh Kim Cang tức là Bát-nhã; cái chủ yếu
mà Ngài ngộ được, Ngài diễn đạt lại cho chúng ta biết khiến chúng ta thấy được
tầm quan trọng của nó thì sự tu hành mới khỏi lầm lẫn.
Ngày khác, Vi Sử quân thưa thỉnh, Tổ đăng tòa bảo đại chúng: “Tất cả nên
tịnh tâm niệm Ma-ha Bát-nhã Ba-la-mật-đa.” Lại bảo: “Này Thiện tri thức, trí Bátnhã Bồ-đề, người đời vốn tự có, chỉ nhân vì tâm mê không thể tự ngộ, phải nhờ
đến Đại thiện tri thức chỉ đường mới thấy được tánh. Phải biết người ngu, người
trí Phật tánh vốn không có khác, chỉ duyên mê ngộ không đồng nên có ngu có trí.
Mở đầu Lục Tổ chỉ cho chúng ta thấy rõ rằng, tất cả chúng ta ai cũng sẵn có
đại trí tuệ Bát-nhã. Sở dĩ người quên nó, mê tức là quên, do tâm quên không nhận
được nên gọi đó là ngu; trái lại người tỉnh giác được trí tuệ Bát-nhã thì gọi là trí.
Vì tất cả chúng ta mê nên phải nhờ Thiện tri thức chỉ dạy, nếu chúng ta nhân lời
chỉ dạy của Thiện tri thức, nhận ra được bản tánh mình tức là từ ngu chuyển thành
trí hay là từ mê đổi thành ngộ. Như vậy mê hay ngộ chỉ là do chúng ta biết sống
với trí Bát-nhã hay là bỏ quên nó thôi, chớ không phải có người ngộ khác với
người mê. Vì ai cũng sẵn có, nhưng người biết sống trở lại thì gọi là ngộ, người
quên đi thì gọi là mê, mê ngộ không đồng, lỗi tại quên và nhớ, chớ không có gì lạ
cả. Như vậy từ trí tuệ Bát-nhã, chúng ta suy ra đến Phật cũng thế. Do chúng ta mê
tánh giác nên gọi là chúng sanh, đức Phật ngộ được tánh giác nên gọi là Phật, thế
nên làm chúng sanh hay làm Phật chẳng qua tại mê với ngộ thôi. Cũng thế, chúng
ta thành trí, thành ngu cũng do nhớ, biết trở về với tánh Bát-nhã hay không biết đó
thôi. Vì thế người học đạo không cần tìm những gì xa xôi, chỉ cần phải khai thác
chỗ sâu thẳm nơi mình sẵn có, khai thác được đó là giác, bỏ quên tức là mê, chớđừng tìm cái gì ở bên ngoài. Đó là điểm chủ yếu Lục Tổ nêu lên, Ngài muốn
chúng ta mỗi người nhận ra chớ đừng lầm lẫn tìm kiếm ở đâu khác. Tiếp đến Tổ
dạy:
Nay tôi vì nói pháp Ma-ha Bát-nhã Ba-la-mật, khiến cho các ông, mỗi
người được trí tuệ, nên chí tâm lắng nghe, tôi vì các ông mà nói. Này Thiện tri
thức, người đời trọn ngày miệng tụng Bát-nhã nhưng không biết tự tánh Bát-nhã ví
như nói ăn mà không no, miệng chỉ nói Không, muôn kiếp chẳng được thấy tánh,
trọn không có ích.
Trước hết Ngài chỉ sự lầm lẫn của chúng ta. Ngài bảo có người trọn ngày
cứ tụng Bát-nhã mà không biết tự tánh Bát-nhã. Tự tánh Bát-nhã tức là tánh Bátnhã sẵn nơi mình. Hầu hết Phật tử chúng ta ít có người không thuộc kinh Bát-nhã.
Ai cũng nói ngày nào tôi cũng tụng đôi ba biến Bát-nhã, nhưng nếu có ai hỏi tự
tánh Bát-nhã là gì thì đều không biết ! Như vậy là miệng chỉ tụng mà tâm không
thấy, không đạt được, thế nên Ngài mới nói: Ví như người nói ăn mà không no,
nói tôi ăn bánh bao, tôi ăn bánh mì v.v… cả trăm thứ bánh nhưng rốt cuộc bụng
vẫn đói meo ! Nói ăn chưa phải là ăn, ăn phải thực sự ăn, chỉ nói suông chưa đủ.
Cũng thế, nếu chúng ta tu mà chỉ một bề đọc tụng, đó chỉ có giá trị bên ngoài, chớ
chưa có giá trị thật ở trong, giá trị thật ở trong là giá trị chúng ta nhận được. Đức
Phật vì chúng ta chỉ cái chúng ta đã bỏ quên, nhân lời chỉ đó chúng ta nhận ra nó,
đó là chúng ta biết tụng kinh để thấy tánh; trái lại chúng ta chỉ một bề đọc tụng
cho hay, nhưng không nhận ra Phật muốn chỉ cái gì cho mình, ví như người nói ăn
mà bụng không no, thế nên Tổ mới bảo: “Miệng chỉ nói không, muôn kiếp chẳng
thấy tánh”, như vậy trọn không có lợi ích. Người trí khác hơn người mê ở điểm:
Lục Tổ nghe người tụng một câu, chỉ mới nghe thôi mà đã thấy, còn chúng ta hiện
nay đích thân tụng mà vẫn không thấy gì cả. Đó là điểm khác nhau. Như vậy
chúng ta phải cố gắng lắng nghe lời dạy của Tổ, để biết tinh thần tự tánh Bát-nhã
ra sao, đó là cái chủ yếu mà Ngài cố dạy chúng ta trong phẩm này.
Này Thiện tri thức, Ma-ha Bát-nhã Ba-la-mật là tiếng Phạn, Trung Hoa
dịch là Đại Trí Tuệ Đến Bờ Kia, nó phải là hành nơi tâm, không phải tụng ở
miệng.
Đại Trí Tuệ Đến Bờ Kia hay có chỗ cũng dịch là Trí tuệ cứu kính viên mãn,
trí tuệ đó phải nơi tâm mình phát ra, phải ngộ lấy, chớ không phải tụng suông
ngoài miệng, nếu cứ cho tụng suông là đủ, là chúng ta không hiểu được trí tuệ này,
vì trí tuệ này là trí tuệ của mình nên cần phải hành ở tâm chớ không phải tụng ở
miệng.
Miệng tụng mà tâm chẳng hành như huyễn như hóa, như sương, như điện.
Miệng niệm tâm hành ắt tâm và miệng hợp nhau, bản tánh là Phật, lìa tánh không
riêng có Phật.
Câu này nhiều người dễ hiểu lầm. Lục Tổ dạy: “Miệng tụng mà tâm chẳng
hành như huyễn, như hóa, như sương, như điện v.v…” Ý Ngài như thế nào ? Có
phải tụng kinh Bát-nhã thấy các pháp như mộng, như huyễn, như sương v.v… phải
không ? Hay là nghĩa như thế nào ? Đoạn này ý Ngài bảo: Chúng ta chỉ tụng
suông ở miệng thì việc đó chợt qua rồi mất cũng như huyễn, như hóa, như sương, như điện chớp chớ không có thật. Nếu chỉ tụng suông, khi tụng thì còn nói Bát-nhã,
dừng tụng thì Bát-nhã mất, cũng như sương mù, điện chớp, chợt thấy rồi mất,
không có thật. Thế nên chủ yếu Ngài khuyên chúng ta miệng tụng tâm phải hành,
như thế tâm miệng tương ưng, tâm và miệng hợp nhau tự nhiên chúng ta sẽ thấy
được Phật tánh, chính bản tánh ấy là Phật, lìa bản tánh ra không còn có Phật nào
khác.
Sao gọi là Ma-ha ? Ma-ha là lớn, tâm lượng rộng lớn ví như hư không,
không có bờ mé, cũng không có vuông tròn lớn nhỏ, cũng không phải xanh vàng
đỏ trắng, cũng không có trên dưới dài ngắn, cũng không sân không hỉ, không phải
không quấy, không thiện không ác, không có đầu đuôi, cõi nước chư Phật trọn
đồng với hư không; diệu tánh của người đời vốn không, không có một pháp có thể
được, tự tánh chân không cũng lại như thế.
Tôi giảng rõ lại một lần nữa, chữ Ma-ha nghĩa là lớn, vì tâm lượng của
chúng ta rộng lớn như hư không, tâm lượng đó gọi là tâm lượng Bát-nhã, rộng lớn
không có bờ mé, không có các tướng vuông tròn dài ngắn xanh vàng… cho đến
không có những tâm niệm phải quấy, tốt xấu v.v… Tâm thể đó bao trùm tất cả cõi
nước của chư Phật, giống như hư không; diệu tánh của người đời cũng vậy, vốn
không một pháp có thể được, bởi không một pháp có thể được nên gọi là tự tánh
chân không. Như vậy quí vị hiểu chữ Chân Không tôi đặt cho Tu viện chưa ? Chân
không tức là cái thể thênh thang của Bát-nhã. Bát-nhã là trí tuệ, trí tuệ thênh thang
không có bờ mé, không có giới hạn, không có một vật ở trong, chỉ là cái trí tuệ
rộng thênh thang, trí tuệ đó gọi là chân không. Đó là chỗ mà Lục Tổ bảo là “Bản
lai vô nhất vật” và do đó mà Ngài được vào cửa Thiền.
Bản lai vô nhất vật là tinh thần của chân không, không có một vật, vì thể đó
thênh thang. Ví dụ như trong nhà thiền này, hiện chúng ta gồm cả trăm người tụ
họp nơi đây, khi mãn giờ giảng rồi nhà thiền này như thế nào ? Cả trăm người tụ
hội thì có tiếng ồn, khi tất cả ra khỏi nhà giảng thì nhà giảng trống không. Trống
không là không có người chớ không phải là không có nhà thiền, nhà thiền vẫn có,
nhưng không có người, không có tiếng độïng lao xao nên nói nhà thiền trống.
Cũng thế, hiện tâm chúng ta chứa đủ tham sân si nên thương buồn giận ghét v.v…
luôn đầy ứ trong đó, do đó chưa bao giờ chúng ta thấy được cái thể rỗng lặng sáng
suốt. Sở dĩ chúng ta tu là để loại những niệm tham sân si ra, khi chúng bị loại ra
hết thì chỉ còn một cái trí sáng ngời, đó gọi là chân không; cái không chân thật,
không còn những niệm sanh diệt chứa trong đó. Vậy quí vị thử kiểm lại tâm mình
xem sao, nó là chân không hay nó quá đầy đến độ muốn tràn ra nữa ? Vì thế cả
ngày chúng ta cứ mê muội theo những tướng sanh diệt, nó dẫn chúng ta chạy
ngược chạy xuôi rồi buồn, thương, giận, ghét v.v… do đó mặt mày luôn thay đổi,
không bình tĩnh, điềm đạm. Nay nếu tâm chúng ta loại hết những niệm đó thì khi
ấy tự nhiên là một tâm thể rỗng rang, và tâm thể rỗng rang này gọi là trí tuệ Bátnhã, có chỗ khác gọi là chân tánh hay tự tánh. Quí vị thấy đâu có gì lạ, chính cái
đó sẵn nơi mình, chỉ vì chúng ta không thấy được kho chứa mà chỉ thấy những hạt
giống chứa trong kho, những hạt giống đó ra vào lăng xăng rồi chúng ta chạy theo
chúng mãi, nên quên mất cái kho sáng suốt rỗng rang của chính mình. Khi nào tất cả quí vị không còn một niệm dấy lên, tôi xin hỏi quí vị lúc đó có tri, có giác hay
không ? Tai có nghe, mắt có thấy hay không ? Tướng mạo của cái hay thấy hay
nghe đó như thế nào ? Quí vị thử diễn tả xem ! Khi tất cả vọng tưởng lặng hết chỉ
còn cái thấy cái nghe, nghĩa là cảm giác biết tất cả, nhưng không có một niệm nào,
khi đó quí vị diễn tả thử xem cái thấy nghe đó tướng mạo ra sao. Nếu có tướng
mạo thì có giới hạn, không tướng mạo tức là vô hạn. Nói Đại là như thế, nó không
có giới hạn, nó bao trùm tất cả, nhưng hiện nay nó bị khuôn, bị cuộc trong tứ đại
này thành bị giới hạn; nếu một ngày nào chúng ta sống được với thể tánh đó, rời
khỏi thân này thì nó trùm cả tam giới. Đây giải nghĩa chữ Đại là như thế.
Rộng lớn thênh thang là khi nào không còn một niệm duyên theo cảnh, chỉ
có cái hằng thấy hằng nghe, hay nói gọn hơn là chỉ một tánh giác, đó mới là thênh
thang, mới là rộng lớn. Còn tất cả những niệm tưởng, dù là niệm tưởng hư không
cũng có giới hạn. Chữ Đại là thoát ra ngoài tất cả những tướng trạng đối đãi,
không còn đối đãi nữa thì tướng mạo của tâm thể này hay của trí tuệ Bát-nhã là
như thế. Nói thênh thang là để chúng ta thấy rõ nơi chúng ta có một cái rộng lớn
thênh thang hằng tri hằng giác, mà chúng ta bỏ quên, rồi bám vào những tướng
buồn vui, giận ghét, theo hình sắc, theo âm thanh cho đó là mình, nên chúng ta bị
quyện ở trong ấy, như những cọng cỏ bị cuốn trong bánh xe đang quay vùn vụt
không gỡ ra được, cứ như thế mà trôi lăn trong sanh tử, lên xuống không có ngày
cùng. Nay chúng ta biết gỡ ra, không kẹt vào đó nữa, tự nhiên tâm hồn mình thênh
thang. Đó là chỗ mà chư Phật, chư Tổ cố tình muốn chỉ cho chúng ta. Sống được
với cái đó rồi, mới thấy nó là cái chân thật. Vì thế quí vị mới thấy rõ chủ trương
của đạo Phật dạy chúng ta tu là phải định.
Định là gì ? Tức là dừng các vọng tưởng lăng xăng, vui buồn giận ghét lao
xao. Dừng được chúng rồi mới thấy tâm thể thênh thang, mới đi đến chỗ giác ngộ.
Tất cả phương pháp, không phương pháp nào ngoài định; định là định những vọng
tưởng lăng xăng, mà lâu nay chúng ta cứ chấp nhận là mình, nên nó mới dẫn
chúng ta chạy vùn vụt không phút nào ngừng, cả đến giờ nghỉ cũng không nghỉ,
chạy riết đến nóng đầu, đó là tại chúng ta đã lầm nhận nó là mình ! Như thế bao
nhiêu phương pháp của Phật, Tổ dạy cốt để chúng ta dừng được vọng tưởng, dừng
được rồi mới thấy tâm thể thênh thang của chính mình, tâm thể thênh thang đó gọi
là Ma-ha Bát-nhã. Như thế hàng ngày quí vị tụng ba biến, bảy biến Bát-nhã mà
những chữ đầu có vẻ chưa thấm. Nếu chúng ta thấm các chữ đó rồi thì tụng Bátnhã là để chúng ta sống, chớ không phải tụng suông. Đa số người hiện nay cứ tụng
suông, tụng rồi tíùnh biến để cộng sổ, kể công với Phật, mà không hiểu điểm quan
trọng chính là phải sống trở lại trí tuệ của mình. Chúng ta chỉ nhớ lời Phật dạy mà
không biết trở lại cái thể chân thật của chính mình nên mới lầm lẫn. Nhân giảng
Bát-nhã tôi mới nói cho quí vị biết ý nghĩa chữ Chân Không tên của Tu viện
chúng tôi. Chính chỗ mà đức Lục Tổ chỉ, chỗ không có một vật, vốn không một
pháp có thể được, chỗ đó mới gọi là tự tánh chân không, tức là tánh của chính
mình, thật là rỗng rang không còn một cái gì trong đó. Này Thiện tri thức, chớ nghe tôi nói Không liền chấp không, thứ nhất là
không nên chấp không, nếu để tâm không ngồi tĩnh tọa, đó tức là chấp vô ký
không.
Ngài dạy đừng có nghe Ngài nói không rồi chấp không, như chấp chân
không là không có gì cả, nếu cho thật không có gì cả là lầm. Không có tất cả
những vọng tưởng lăng xăng, chớ cái rỗng rang chân thật đâu phải không, cũng
như tôi đã thí dụ không có người lao xao trong nhà thiền, chớ không phải cái nhà
là không. Nhiều khi chúng ta hiểu lầm nghe nói không là bám vào không, nói là
không ngơ rồi nghĩ tu đến chỗ không ngơ đó làm chi. Thế nên chấp không là một
bệnh, Lục Tổ mới bảo: “Thứ nhất là không nên chấp không, nếu để tâm không
ngồi tĩnh tọa đó là chấp vô ký không.” Có người vì nghe nói giữ tâm mình cho
đừng xao xuyến, đừng loạn động, cho nó không ngơ mới đúng, nên khi ngồi để
tâm không ngơ, nghĩa là không cho nó có gì hết, như vậy đúng không ? Đó là vô
ký không, cái không mà không biết gì cả. Trái lại người biết tu, khi không có vọng
niệm thì cái thể tri giác tràn đầy. Cũng như nghe tôi nói trong nhà thiền không có
người, quí vị biết đây là nhà thiền trống. Nhà thiền trống chớ không phải không có
nhà thiền. Tôi nói trong nhà thiền không có người thì đừng chấp là không có nhà
thiền, không là không người, chớ không phải là không có nhà thiền. Cũng thế
không có những tâm loạn tưởng, chớ không phải không có trí Bát-nhã thênh thang.
Hiểu như vậy thì khi chúng ta lặng hết những vọng tưởng tức trí Bát-nhã thênh
thang hiện tiền, hằng nghe, hằng thấy, như thế làm sao nói là không. Thế mà có
nhiều người đọc kinh Pháp Bảo Đàn đến đoạn này thì sợ, nói rằng: Thầy dạy con
buông xả, đừng để tâm theo vọng tưởng, mãi rồi nó im lìm, nó không ngơ thì lúc
đó lạc vào chỗ chấp vô ký không của Lục Tổ nói rồi ! Đó là đa số người đã lầm
lẫn. Thật ra chúng ta nói không và người không biết mà nói không, hai bên khác
nhau. Người không biết khi nói không là để không ngơ luôn không biết chi cả; còn
chúng ta nói không vọng tưởng, khi vọng tưởng lặng cái tri giác hay cái hằng tri
hằng giác đó hằng nghe hằng thấy. Tôi thường chỉ quí vị tuy không có vọng tưởng,
nhưng mắt vẫn thấy, tai vẫn nghe, tất cả giác quan đều có biết thì làm sao nói
không được. Không là không vọng tưởng chớ cái hằng giác đó đâu có không, như
thế đâu có rơi vào “vô ký không” như Lục Tổ nói. Hiểu thật rõ, quí vị mới không
bị lầm. Thế nên người tu chỉ nhích một tí là sai, khéo một chút là đúng.
Tôi thường nhắc quí vị lời dạy của ngài Huyền Giác: “tỉnh tỉnh lặng lặng
phải” và “lặng lặng tỉnh tỉnh phải”, lặng lặng là không nhưng hằng tỉnh tỉnh, chớ
không phải là không ngơ. Trái lại “tỉnh tỉnh loạn tưởng sai” và “lặng lặng hôn
trầm sai”. Thế nên chúng ta phải thấy rõ lặng trong cái tỉnh, tỉnh trong cái lặng thì
phải. Nếu tỉnh mà loạn thì sai, khi ngồi tỉnh táo mà nghĩ đủ chuyện thì đó là bệnh.
Nếu lặng lặng mà vẫn tỉnh vẫn sáng thì đúng, nếu lặng lặng mà hôn trầm, gật lên
gật xuống là sai. Quí vị nhớ đó là một công thức rõ ràng trong khi tu để biết thế
nào là đúng, thế nào là sai. Có nhiều người ngồi gật lên gật xuống, nói: “Hôm nay
tôi ngồi không có chút vọng tưởng nào”, ngồi ngủ thì làm sao có vọng tưởng. Có
người nói: “Tôi ngồi tỉnh táo” mà thật là nghĩ nhớ đủ chuyện, như thế cả hai đều
sai. Phải tỉnh mà lặng, lặng mà tỉnh mới đúng, chớ lặng mà thiếu tỉnh, tỉnh mà thiếu lặng đều là sai. Quí vị phải nhớ lặng là không, tỉnh là hằng giác, như thế luôn
luôn cạnh cái không có cái giác chớ không phải là không ngơ, nên không lạc vào
vô ký không. Những người không biết, ngồi để tâm không ngơ, đâu biết thế nào là
tỉnh, thế nào là lặng nên rơi vào vô ký không, đó là do không biết được cái tỉnh
trong cái không; trái lại chúng ta không mà tỉnh, chớ không phải chỉ có lặng, đó là
yếu điểm của sự tu.
Này Thiện tri thức, thế giới hư không hay bao hàm vạn vật sắc tượng, mặt
trời, mặt trăng, sao, núi, sông, đất liền, suối khe, cỏ cây rừng rậm, người lành
người dữ, pháp lành pháp dữ, thiên đường địa ngục, tất cả biển lớn, các núi Tu-di,
thảy ở trong hư không. Tánh không của người đời cũng lại như thế.
Trong đoạn này, Ngài dùng hư không để ví dụ cho tánh không của chúng ta,
hư không bao trùm tất cả thế giới, người vật v.v… đều nằm trong hư không. Có thế
giới nào không nằm trong hư không ? Có vật nào không nằm trong hư không ?
Như vậy hư không bao trùm muôn tượng, muôn tượng đều nằm trong hư không.
Lục Tổ bảo tâm tánh chúng ta khi rỗng lặng cũng như thế, rộng như hư không nên
nói tâm như hư không. Như hư không chớ không phải là hư không, nhớ như thế.
Hư không vô tri còn chúng ta hằng giác, như là như cái thể rỗng rang rộng lớn đó,
nhưng một bên vô tri, một bên hằng giác nên khác nhau. Nhiều người không hiểu
nghe nói tâm như hư không, họ tưởng tu rồi tâm thành hư không, đó là sự lầm lẫn
của một số học giả, họ cho Niết-bàn là chỗ không ngơ. Đã không ngơ thì tu làm
chi ? Thế nên phải biết rõ tất cả sự tu hành chủ yếu là đến chỗ rỗng lặng đó, nó có
diệu dụng gì chúng ta mới muốn đến đó, chớ thành không ngơ thì đến làm chi ?
Này Thiện tri thức, tự tánh hay bao hàm muôn pháp ấy là Đại. Muôn pháp
ở trong tự tánh của mọi người, nếu thấy tất cả người ác cùng với lành, trọn đều
không chấp không bỏ, cũng không nhiễm trước, tâm cũng như hư không, gọi đó là
Đại, nên nói là Ma-ha.
Đoạn trước Ngài diễn tả thể đại của tâm, của Bát-nhã, đoạn này Ngài chỉ
chúng ta cách được thể đại đó, tức là Ngài dạy chúng ta tu. Trước hết Ngài bảo tự
tánh của chúng ta bao hàm muôn pháp, nó trùm tất cả. Tất cả muôn pháp đều ở
trong tự tánh; muốn được tánh rỗng rang đó chúng ta phải làm sao. Phải thấy tất cả
người ác, người lành đều không thủ, không xả, cũng không nhiễm trước, tâm như
hư không, đó là Đại. Như thế là được cái tánh rỗng rang đó. Chúng ta được như
thế không ? Thấy người ác thì giận, thấy người hiền thì thương, bình thường mọi
người đều như vậy. Thấy tốt thì thích, thấy xấu thì chê, vì thế mới có nhiễm, có
trước, nên tâm mình luôn luôn có chớ không thể không. Trái lại, nếu thấy tất cả
việc đó mà không dính, không nhiễm, tâm rỗng rang như hư không là được tánh
như hư không. Dễ hay khó ? Quí vị chỉ cần thấy được tất cả mà tâm vẫn như hư
không thì tâm đó rỗng rang, còn nếu thấy mà có thêm điều gì như yêu ghét v.v…
thì nó hết rỗng rang, tức là nó cuốn theo hình ảnh mình thấy. Đó là Tổ dạy chúng
ta tu một cách hết sức đơn giản, như vậy lúc nào chúng ta cũng tu được, đi đâu,
đối tiếp ai… nếu muốn được tâm thênh thang thì phải như thế. Nếu kẹt vào bất cứ
một cái nào là mất thênh thang, đó là chỗ ứng dụng tu rất rõ ràng. Nhiều khi đọc
qua chúng ta không thấy Tổ dạy tu, nhưng khi nghiên cứu kỹ mới thấy Ngài dạy rất rõ. Vậy muốn được cái tánh rỗng rang đó thì, khi thấy tất cả người thiện ác, tốt
xấu v.v… chúng ta đừng thủ, đừng xả, không nhiễm trước thì lúc đó tâm mình
đồng với hư không, thể tâm đồng với hư không, thể đó là thể đại nên gọi là Ma-ha.
Thể đại của tâm mình, thể đại của Bát-nhã thênh thang như hư không, nó không
tướng mạo, nó trùm hết muôn pháp. Muốn được cái thể đó thì phải tu thế nào ?
Đối với tất cả việc tốt xấu, phải quấy của người, chúng ta đừng nhiễm, đừng dính
mắc. Như thế là Đại, là Ma-ha. Mỗi khi tụng Ma-ha Bát-nhã thì quí vị phải nhớ
như vậy, chớ không phải cứ đọc suông là đủ.
Này Thiện tri thức, người mê miệng nói, người trí tâm hành.
Người mê chỉ nói suông ngoài miệng, còn người trí hành ở trong tâm.
Người mê đi đâu cũng nói Bát-nhã, cũng tụng làu làu Bát-nhã ở ngoài miệng, còn
người trí không nói một câu Bát-nhã nào nhưng gặp duyên, gặp cảnh thì không
chạy theo, như thế trong hai người, người nào tu thật ? Một người gặp việc gì cũng
nói đó là không, là hư dối, không thật, chỉ nói suông thôi, nhưng tâm vẫn duyên
theo; còn một người hằng thấy, hằng biết, tâm không duyên với cảnh thì đó gọi là
hành trong tâm. Thế nên tụng ở ngoài miệng với hành trong tâm là hai việc khác
nhau. Hiện nay, đa số người tu chúng ta thích tụng ngoài miệng hơn hành trong
tâm. Kinh nào cũng thuộc làu… rồi lấy đó làm sự nghiệp ! Tụng cho mình, tụng
luôn cả cho người, độ người cũng bằng tụng, như vậy cho là tu Bát-nhã ! Vì thế
chúng ta phải hiểu rõ chân tinh thần của đạo Phật là phải tỉnh giác, tỉnh giác cái
chân thật của chính mình. Nghe kinh để biết điều đúng sai, tà chánh, bỏ những cái
sai, cái tà, trở về cái chánh, cái đúng, như thế mới là học đạo, chớ không phải
chúng ta học thuộc lòng để nói nhiều, tụng nhiều, căn bản là chúng ta phải hành ở
trong tâm, thế mới gọi là người trí biết tu.
Lại có người mê, để tâm rỗng không ngồi tĩnh tọa, trăm việc không cho
nghĩ tự gọi là đại, một bọn người này không nên cùng họ nói chuyện vì là tà kiến.
Tổ quở nặng những người nói để tâm rỗng không, không cho nghĩ gì cả, đó
gọi là đại, bọn người này không nên cùng họ nói chuyện, vì sao ? Vì họ rơi vào tà
kiến. Tâm không ngơ là vô ký không. Vì những người này không biết vọng lặng
thì chân hiện, họ chỉ biết cái vọng thôi mà không biết cái chân, như vậy là tà, tức
là nhìn lệch; chỉ để tâm không ngơ tức nhiên rơi vào không, mà rơi vào không,
không phải tà kiến là gì ? Chúng ta ngồi thiền trăm vật có nghĩ không ? Có niệm gì
không ? Có hai lối niệm: cái niệm dấy lên từng câu, từng lời là cái niệm động, còn
cái niệm hằng nhớ tánh giác của mình, biết mình có tánh giác, hằng sống với cái
tỉnh giác đó thì niệm đó là niệm tỉnh, nên gọi là niệm chân như. Niệm là nhớ, hằng
nhớ tánh giác, không chạy theo vọng tưởng, như vậy đâu phải chúng ta không nghĩ.
Tổ Qui Sơn có nói “Tư lương phi tư lương xứ”, nghĩa là suy nghĩ chỗ không suy
nghĩ, tức là hằng nhớ chỗ không suy nghĩ, chớ không phải là không ngơ. Như vậy
mới hằng giác, chính đó gọi là “nhất niệm vạn niên”, là một niệm muôn năm. Bởi
vì nhớ là tỉnh, quên thì mê, quí vị ngồi một lúc mà quên không biết mình làm gì thì
khi đó muốn gục, hoặc bị dẫn đi chỗ khác. Thế nên mình hằng tỉnh hằng giác,
hằng nhớ mình đang sống bằng tánh giác, chớ không phải là không nhớ, không
nghĩ. Còn người nói ngồi không nghĩ gì hết thì họ rơi vào không ngơ, như vậy không phải tà kiến là gì ? Thế nên đoạn này không giản trạch khéo một chút, thì
người đọc kinh Pháp Bảo Đàn dễ lầm. Quí vị thấy nói để tâm trống không là đúng
thì bị Tổ quở nặng, đám người đó không nên nói chuyện với họ, vì đó là tà kiến.
Chúng ta không nghĩ tới một vật gì ở ngoài, nhưng hằng nhớ chân như hằng nhớ
tánh giác, hằng nhớ nên mới tỉnh, chớ còn quên thì mê rồi. Hằng nhớ tánh giác,
nhớ mà không tìm, tỉnh giác mà không tìm nó, tìm nó là sai, chỗ này thật khó nói,
nhưng phải hiểu thật rõ mới không lầm. Nếu chúng ta cứ đè, không cho nó nghĩ
gì cả, mà nói là Đại, nên bị Tổ quở là tà kiến.
Này Thiện tri thức, tâm lượng rộng lớn khắp giáp cả pháp giới, dụng tức rõ
ràng, phân minh ứng dụng liền biết tất cả, tất cả tức một, một tức tất cả, đi lại tự do,
tâm thể không bị ngăn ngại tức là Bát-nhã.
Ngài chỉ cho chúng ta thấy tâm lượng rộng thênh thang đó nếu dụng tức
liễu liễu thường tri, nếu dùng thì hằng tri hằng giác chớ không phải không ngơ, rõ
ràng ứng dụng chớ không phải là không biết, nghe vẫn hằng nghe, thấy vẫn hằng
thấy, đó gọi là liễu liễu thường tri. Biết tất cả, tất cả tức một, một tức tất cả, tâm
thể đó thênh thang nên bao trùm tất cả. Như tôi nói tất cả núi sông, cây cối,
muôn vật đều nằm trong hư không. Đứng về tất cả cây cối núi rừng v.v… thì rất là
nhiều, nhưng đứng về hư không thì không nhiều. Hư không chỉ có một mà trùm tất
cả muôn vật, nên một là tất cả; tất cả cây cối núi rừng đều không ngoài hư không,
nên tất cả là một. Cũng như vậy, muôn pháp không rời tự tánh, thì đó là tất cả là
một, tự tánh tức là tâm tánh mình, tất cả không rời tâm tánh mình nên nói tất cả là
một. Tâm tánh mình bao trùm tất cả, nên nói một là tất cả. Chúng ta nói hư không
bao trùm vạn tượng, điều đó ai cũng hiểu, nhưng nói tâm mình bao trùm muôn vật
thì ai hiểu nổi ? Nói bao trùm, đừng hiểu nó bao trùm tất cả những hiện tượng.
Muôn vật có tên là từ đâu mà ra ? Muôn vật thành vật này vật vật kia… thành
muôn vật là do tâm, như vậy tâm không trùm muôn vật là gì ?
Nếu không có tâm thì muôn vật có tên muôn vật hay không ? Nếu không có
tâm thì đâu gọi đây là bàn, đây là ly, đây là đồng hồ v.v… Không có tất cả tên đó,
thì muôn vật không thành muôn vật. Tâm trùm muôn vật, muôn vật từ tâm mà ra,
điều đó rất là rõ ràng. Tỉ dụ nơi đây chúng ta có cả trăm người, mỗi người có mỗi
tên khác nhau, nên nói cả trăm người khác nhau. Tên khác nhau là từ đâu có ? Rõ
ràng là từ tâm dấy niệm của cha mẹ hoặc Thầy Tổ ban cho mình một cái danh
thành mỗi người khác biệt nhau. Như vậy sự khác biệt đó là do tâm khởi, nếu tâm
không khởi thì chắc gặp nhau chúng ta không biết chào gọi nhau bằng gì. Như vậy
muôn pháp có là từ tâm. Đa số người không hiểu cứ nghĩ muôn pháp có là từ tâm
mình biến ra, biến cái này nó nhảy ra cái này, biến cái kia nó nhảy ra cái kia,
nhưng không ngờ chính vì tâm mới có tên muôn pháp. Nếu không tâm thì đâu có
tên muôn pháp. Muôn pháp không có tên thì đâu thành muôn pháp. Thế nên nói
tâm trùm muôn pháp là vậy. Đã trùm muôn pháp thì tâm đó rộng lớn, khắp giáp,
nó hằng liễu tri nên khi ứng dụng thì biết tất cả, bởi vì nó an danh tất cả mà không
biết tất cả sao được ? Tất cả tên là một tâm đặt, nói một tâm, quí vị đừng hiểu là
một người, tâm tôi, tâm quí vị cũng là tâm thôi, chúng ta an danh cho mọi sự vật là
tâm của chúng ta, mà tâm thì đâu có hai. Muôn vật từ tâm mà có tên nên nói tất cảlà một; từ tâm đó mà có tên muôn vật nên một là tất cả. Như vậy nhìn hai mặt: một
là tất cả là từ tâm mà đặt muôn tên khác nhau; tất cả là một vì tất cả đều gốc từ
tâm mà có.
Lại tới lui được tự do, không có gì ngăn trở, đó là Bát-nhã. Như vậy Bátnhã là thênh thang nhưng hằng tri hằng giác, chớ không phải thênh thang như hư
không rỗng, không biết gì cả. Cái thể đó, nếu tế nhị một chút là thấy rõ, nhất là khi
ngồi thiền, có những phút giây không có một niệm gì, xem như tâm mình trống
rỗng, nhưng khi ấy mắt vẫn thấy, tai vẫn nghe, mình vẫn biết, như vậy là hằng tri,
hằng giác mà trống rỗng, không phải Bát-nhã là gì ? Ai không có cái đó ? Chính
sống được với cái đó là trở về tâm Phật của mình. Trái lại, nếu không sống với cái
đó mà sống với những buồn thương giận ghét là trở về tâm chúng sanh, tâm tạo
nghiệp. Như vậy ai sống với những buồn thương giận ghét hàng ngày, đó là người
sống với tâm chúng sanh, còn ai biết buông xả, sống với tâm rỗng rang hằng tri
hằng giác không một niệm thương ghét chen lẫn vào, đó là sống với tâm Phật.
Thật là rất gần ! Nơi mình có sẵn một kho báu mà không biết dùng. Nếu người có
kho báu nhưng không biết dùng, lại than nghèo than khổ thì có đáng thương
không ? Có mà không biết dùng rồi than trời trách đất, thật là đáng thương. Vì họ
không biết dùng nên mới khổ, chúng ta thấy cái khổ đó thật đáng thương, vì vậy
đức Phật mới bốn mươi chín năm thuyết pháp độ sanh, nhưng có độ chi đâu. Ngài
có cho chúng ta chi đâu mà gọi là độ, Ngài chỉ cho chúng ta biết chúng ta có cái
đó, sống trở về với cái đó thì hoàn toàn hết khổ, trái lại không sống với cái đó thì
khổ không biết chừng nào dứt.
Này Thiện tri thức, tất cả trí Bát-nhã đều từ tự tánh sanh, chẳng từ bên
ngoài vào, chớ lầm dụng ý nên gọi là chân tánh tự dụng.
Ngài chỉ thật là xác đáng. Ngài bảo: Tất cả trí Bát-nhã đều từ nơi tự tánh
của mình, không phải từ ngoài vào, chớ lầm dụng ý. Như có nhiều người tu cứ
mong thành Phật, hoặc mong Phật đến ấn chứng, như vậy là trông ra ngoài, nhưng
cái đó đâu phải từ ngoài đến, nó sẵn nơi mình, có ở đâu xa mà tìm mà cầu ? Nếu
tìm cầu ở ngoài đó là lầm dụng ý. Ngược lại là chân tánh tự dụng, khéo như vậy
thì tánh chân thật của mình tự mình dùng thôi.
Một chân thì tất cả chân, tâm lượng rộng lớn không đi theo con đường nhỏ,
miệng chớ trọn ngày nói Không mà trong tâm chẳng tu hạnh này, giống như người
phàm tự xưng là quốc vương, trọn không thể được, không phải là đệ tử của ta.
Có người trọn ngày nói không mà trong tâm chẳng không, tỉ dụ như đã xuất
gia rồi nhưng ai làm buồn lòng một chút liền mắng chửi người, khi ấy nếu có
người khác quở tại sao tu mà ác khẩu, tạo nghiệp, thì nói ác khẩu có thật không ?
Nghiệp có thật không ? Như vậy là nói không mà tâm chẳng không. Nếu không thì
đâu có giận, mắng chửi người, nếu giận mắng chửi người thì tâm chưa không.
Tâm chẳng không mà miệng nói không, thì không xứng đáng là đệ tử của Tổ,
huống chi là của Phật. Ai lỡ có bệnh đó thì nhớ, Tổ không chấp nhận làm đệ tử
của Ngài, còn đứng ngoài xa chớ chưa bước vào chùa, người như vậy là người nói
rỗng không có thực hành. Thế nên chúng ta phải hiểu cho thật rõ, khi lỡ có sân si
nếu có ai hỏi tại sao tu mà còn sân si, thì nói tại tôi còn dở, tại tập khí lâu đời, nhưvậy là người tốt. Nếu nghe hỏi tại sao sân si, liền hỏi lại sân si có thật không, thì
kẻ đó đáng ăn đòn, không xứng đáng là đệ tử của Phật. Tôi giản trạch để quí vị
đừng hiểu lầm, khi nghe nói như trên thì vội cho người ấy rất hay, rất hiểu đạo.
Nếu còn sân si là chưa hiểu đạo và nói như thế là nói để che lỗi, kẻ đó là kẻ đáng
tội. Hiểu như thế, quí vị mới thấy chỗ tu chân thật, nên Tổ ví dụ như kẻ thường
dân mà xưng là quốc vương. Có ổn không ? Thế nào cũng bị ngồi khám, hoặc bị
đứt đầu. Cũng như tâm thì có mà miệng nói không, có ngày phải đền tội, vì vậy
Ngài bảo không phải là đệ tử của ta.
Này Thiện tri thức, sao gọi là Bát-nhã ? Bát-nhã, Trung Hoa dịch là trí tuệ.
Tất cả chỗ, tất cả thời, mỗi niệm không ngu, thường hành trí tuệ tức là Bát-nhã
hạnh.
Ngài dạy Bát-nhã là tiếng Phạn, Trung Hoa dịch là trí tuệ. Tất cả chỗ như ở
chùa, ra xóm, đến chợ…, tất cả thời là sáng trưa chiều… lúc nào cũng vậy, mỗi
niệm đều không ngu. Thế nào là mỗi niệm ngu, thế nào là mỗi niệm không ngu ?
Tỉ dụ chúng ta đang đi trên đường, bất chợt nghe trong nhà có hai người đang cãi
nhau, chúng ta dừng lại nghe xem ai phải ai quấy. Niệm dừng lại nghe ai phải ai
quấy là niệm gì ? Là niệm ngu, tức là chạy theo cảnh thì niệm đó gọi là niệm ngu.
Trái lại nếu hằng sống với trí tuệ, không theo, không dính với bất cứ điều gì, đó là
không ngu. Thường hành trí tuệ là hành cái trí không bị kẹt, bị dính nơi mọi cảnh.
Đó là chỗ tôi hay nhắc quí vị. Hoặc nghe tiếng nói, hoặc thấy hình sắc liền phân
biệt hay dở, tốt xấu v.v… đó là người ngu, mải đuổi theo ngoại cảnh nên làm mờ
mắt trí tuệ Bát-nhã. Niệm niệm không ngu là hằng không dấy niệm đuổi theo
ngoại cảnh, lúc nào cũng hằng tỉnh, hằng giác, người được như vậy tức là đã hành
Bát-nhã.
Một niệm ngu tức Bát-nhã bặt, một niệm trí tức Bát-nhã sanh.
Như vừa rồi tôi nói, nếu chúng ta thấy vật gì liền cho là đẹp, đó là niệm ngu.
Ngu thì khi ấy có Bát-nhã không ? Bát-nhã là thấy các pháp như huyễn, nếu thấy
vật đẹp thì vật là thật nên ngu, tức mất Bát-nhã. Trái lại, vừa thấy một vật gì liền
biết đó là tướng duyên hợp không thật, vì biết không thật nên tâm không dính mắc
thì Bát-nhã sanh. Thế nên niệm ngu thì Bát-nhã tuyệt, niệm trí là Bát-nhã sanh.
Tôi giảng cho quí vị thấy cái ngu, cái trí. Thấy người, thấy vật, duyên theo để phân
biệt đẹp xấu hoặc khen chê, đó là niệm ngu; thấy người thấy vật mà khởi quán các
pháp, người vật đều duyên hợp không thật, đó là niệm trí. Niệm ngu thì bị tham
sân si dẫn, niệm trí thì tâm an, biết là huyễn tức nhiên tâm lặng, tức là sống với trí
tuệ Bát-nhã. Hai niệm đó, có niệm này là mất niệm kia. Niệm trí là chúng ta thắp
đèn, đốt đuốc, niệm ngu là chúng ta đi trong đêm không đèn, không đuốc để rồi
phải đau khổ. Quí vị thử nghiệm xem ! Thấy người, thấy vật nhưng luôn luôn sống
với niệm trí thì có đau khổ không ? Hẳn là không. Như vậy rõ ràng khổ hay hết
khổ là do mình sống với trí hay với ngu. Ngu là vô minh, nó dẫn chúng ta đi trong
chốn khổ đau, trầm luân sanh tử. Còn niệm trí là trí tuệ để giác ngộ thành Phật.
Như vậy sự tu hành thật là cụ thể. Nếu đối duyên, đối cảnh chúng ta luôn luôn
sống với niệm trí thì chúng ta giải thoát sanh tử; trái lại đối duyên đối cảnh chúng
ta sống với niệm ngu thì chúng ta luân hồi không cùng. Quí vị thử tập xem, kể từnay rán sống với niệm trí, làm sao trong mười hai giờ ít ra cũng được sáu giờ trí,
nếu không có lời, ít ra cũng đừng lỗ. Nhưng hiện nay quí vị đã sống được mấy giờ
trí ? Thử kiểm lại xem ! Được bao nhiêu ? Trong mười hai giờ chỉ sống được một
giờ rưỡi, chưa đủ cái lẻ nữa thì biết rằng đó là ánh sáng đom đóm. Đêm ba mươi
có ánh sáng đom đóm nên khó tránh khỏi hầm hố. Vì thế chúng ta tu là hiểu cho rõ
lời Phật Tổ dạy và hiểu cho rõ điều mình đang hành, biết mình như thế nào, không
cần phải tìm hỏi mình có căn tu hay không. Tóm lại Tổ dạy rất rõ ràng: một niệm
ngu thì Bát-nhã bặt, một niệm trí thì Bát-nhã sanh, một giờ chúng ta ngu thì giờ đó
không có Bát-nhã, giờ đó là vô minh; còn một giờ chúng ta trí thì đó là giờ Bátnhã, giờ sáng suốt. Như vậy người nào sống trong tỉnh nhiều hơn mê thì bảo đảm
ngày ra đi sẽ đi vào con đường của Thánh Hiền, còn người nào sống với mê nhiều
hơn trí, chắc chắn người đó sẽ đi vào lục đạo, hoặc ba đường trên thiên, nhân, atu-la, hoặc ba đường dưới địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh. Quí vị hãy tự xét là biết,
mình tu mình phải tự giác, tự tri, không cần phải hỏi ai cả. Lại ngu có nghĩa là
theo cảnh, trí có nghĩa là lìa cảnh. Một niệm tâm theo cảnh là ngu, một niệm tâm
lìa cảnh là trí. Trong bốn oai nghi hằng lìa cảnh đó là hằng sống với trí tuệ Bát-nhã.
Người đời ngu mê không thấy Bát-nhã, miệng nói Bát-nhã mà trong tâm
thường ngu.
Miệng nói vật này không thật, vật kia không thật, nhưng gặp vật gì cũng
duyên theo, đó là nói Bát-nhã mà trong tâm thường ngu. Có người khi lý luận nói
cái gì cũng không thật, nói nghe thật hay, nhưng gặp cảnh gặp duyên thì đuổi theo,
đó là người ngu, miệng nói Bát-nhã mà tâm thường ngu.
Thường tự nói ta tu Bát-nhã, niệm niệm nói không nhưng không biết được
chân không.
Miệng luôn luôn nói không nhưng thật không biết được chân không. Chân
không là không có một niệm, một pháp nào chứa chấp ở trong, chỉ có cái hằng tri
hằng giác. Như vậy quí vị từ nay vừa bước đến cổng “Chân Không” phải nhớ chỗ
đó, biết mình phải sống với chân không.
Bát-nhã không có hình tướng, tâm trí tuệ ấy vậy.
Trí tuệ Bát-nhã không có tướng mạo, nó là tâm trí tuệ tức là cái tâm hằng
sáng hằng giác chớ không có gì lạ, nên nói Bát-nhã chỉ là tâm trí tuệ hằng giác của
chúng ta.
Nếu khởi hiểu như thế tức gọi là Bát-nhã trí.
Thường chữ trí tuệ là dịch hai chữ Bát-nhã. Tại sao lại còn nói Bát-nhã trí ?
Nếu nói trí tuệ e có sự lầm lẫn vì người đời nếu khôn ngoan một chút thì nói là
người có trí tuệ, thành ra trí tuệ của người đời là trí tuệ sắp đặt công ăn việc làm
hoặc là trí tuệ tính toán lấn hiếp người… Trí tuệ Bát-nhã là trí tuệ thấy rõ cái chân
thật của tự tâm, biết rõ tự tâm mình cái nào là hư giả, cái nào là chân thật, biết rõ
tự tánh của các pháp, biết các pháp do duyên hợp không thật, tánh là không. Vì thế
để tránh sự hiểu lầm, chữ Bát-nhã phải dịch đủ là Trí tuệ Bát-nhã.
Sao gọi là Ba-la-mật ? Đây là lời nói của Ấn Độ, Trung Hoa dịch là đến bờ
kia, giải nghĩa là lìa sanh diệt. Tôi nhắc lại một lần nữa cho quí vị nhớ, những chữ Phạn mà chúng ta
thường tụng: “Ma-ha Bát-nhã Ba-la-mật”. Ma-ha là lớn, là thênh thang, chỉ cho
tâm thể chúng ta khi không còn một niệm nào dấy khởi. Bát-nhã là trí tuệ, cái trí
tuệ không bị các pháp làm nhiễm, làm chướng tức là đối với tất cả pháp luôn hằng
giác hằng tri nhưng không dính mắc. Ba-la-mật là đến bờ kia, bờ kia là bờ Niếtbàn. Đến bờ kia là đến được bờ Niết-bàn. Bờ Niết-bàn là bờ không sanh diệt, thế
nên nói bên này là bờ sanh tử, bên kia là bờ Niết-bàn. Sanh tử là sanh diệt. Niếtbàn là không sanh diệt, nên đến bờ kia dịch nghĩa là lìa được sự sanh diệt.
Chấp cảnh thì sanh diệt khởi như nước có sóng mòi, tức gọi là bờ này, lìa
cảnh thì không sanh diệt như nước thường thông lưu, ấy gọi là bờ kia, nên gọi là
Ba-la-mật.
Ngài chỉ cho chúng ta phương pháp tu thật là rõ. Thế nào là sanh diệt ? Thế
nào là lìa sanh diệt ? Vừa chấp cảnh thì tâm sanh diệt khởi. Chấp cảnh là thế nào ?
Tỉ dụ thấy người liền chấp người đẹp xấu, hay dở, phải quấy v.v… đó là chấp cảnh;
hoặc thấy vật cũng chấp là đẹp xấu… đó cũng là chấp cảnh. Vừa chấp đẹp xấu thì
niệm thương ghét dấy lên, gọi là tâm sanh diệt. Thế nên nói chấp cảnh thì sanh
diệt khởi, ví dụ như mặt nước bằng mà có gió. Chấp cảnh dụ như gió. Mặt biển
nguyên bằng phẳng, vừa có gió thổi là sóng lớn, sóng nhỏ nổi lên. Sóng lớn sóng
nhỏ nổi lên dụ cho sanh diệt. Vừa chấp cảnh thì tâm sanh diệt khởi. Trái lại lìa
cảnh thì không sanh diệt, như nước thường thông lưu, lìa cảnh tức là thấy cảnh,
thấy người, thấy vật nhưng không có niệm phân tích đẹp xấu… Thấy nghe nhưng
không bị dính gọi là lìa. Lìa cảnh thì tâm sanh diệt không khởi, dụ như nước
không có sóng, nhưng vẫn hằng trôi, hằng chảy. Cũng như vậy, chúng ta không
chấp cảnh, tâm sanh diệt không khởi, nhưng hằng tri giác chớ không phải không
tri không giác, đó gọi là “Ba-la-mật”.
Tóm lại, “Ma-ha” là lớn, “Bát-nhã” là trí tuệ. Tâm thể hay tự tánh của
chúng ta thênh thang, không tướng mạo, nhưng hằng tri hằng giác không dính với
cảnh gọi là trí tuệ, là Bát-nhã. Ba-la-mật là đến chỗ không sanh diệt. Tại sao gọi là
không sanh không diệt ? Bởi vì vừa dính với cảnh thì tâm niệm sanh diệt dấy lên,
còn đối cảnh mà không dính đó là lìa được sanh diệt. “Ma-ha Bát-nhã Ba-la-mật”
từ đâu mà có ? Có sẵn nơi chúng ta. Do đâu mà được? Do biết lìa cảnh, đối cảnh
không chấp. Nếu người nào đối cảnh mà chấp đó là mất. Vậy mỗi khi chúng ta
khởi xướng “Ma-ha Bát-nhã Ba-la-mật” đừng lắng nghe lời người này hay, lời
người kia dở, nên nhớ rõ rằng “Ma-ha Bát-nhã Ba-la-mật” là cái để mình hằng
sống, đó là mình biết tu.
Này Thiện tri thức, người mê miệng tụng, chính khi đang tụng mà có vọng
có quấy; niệm niệm nếu hành Bát-nhã, ấy gọi là chân tánh. Người ngộ được pháp
này, ấy là pháp Bát-nhã; người tu hạnh này, ấy là hạnh Bát-nhã. Không tu tức là
phàm, một niệm tu hành tự thân đồng với Phật.
Giống như chúng ta hiện nay, chính trong khi đang tụng mà đã có vọng
tưởng, có những niệm sai quấy. Ngài nói thẳng người không tu theo Bát-nhã là
phàm, còn một niệm tu hành thì một niệm đó đồng với Phật. Phật là giác, một
niệm tu Bát-nhã tức là một niệm giác, một niệm giác tức là đồng với Phật, đồng một niệm chớ không phải đồng suốt đời. Tổ muốn phá mặc cảm của chúng ta.
Chúng ta cho Phật với mình cách biệt rất xa nên Ngài muốn chỉ Phật với chúng ta
không cách xa, chỉ mê là chúng sanh, ngộ là Phật. Nhưng mê ngộ chia nhiều phần,
ngộ toàn phần hay ngộ một cách viên mãn, khác với ngộ từng ly từng tí. Trong
một giờ đồng hồ tức trong sáu mươi phút, chúng ta không được trọn sáu mươi
phút nhưng được một phút bằng với Phật thì cũng bằng được một phút. Nếu hiện
đời chúng ta chưa hẳn là giác, nhưng được một niệm giác thì niệm đó chúng ta
cũng bằng với Phật. Như vậy chúng ta thấy tại chúng ta không ưng làm Phật, chớ
Phật đâu có cấm chúng ta làm Phật. Có ai ngăn trở quí vị làm Phật không ?
Không một ai, kể cả Phật cũng không ngăn trở, nên Ngài mới nói Ngài là “Vô
thượng giác” tức là người giác mà không ai trên, chớ không phải không ai bằng,
nếu ai ưng giác như Ngài thì bằng Ngài !
Này Thiện tri thức, phàm phu tức Phật, phiền não tức Bồ-đề. Niệm trước
mê tức phàm phu, niệm sau ngộ tức Phật; niệm trước chấp cảnh tức phiền não,
niệm sau lìa cảnh tức Bồ-đề.
Thật là hay ! Lục Tổ dạy thẳng tắt vô cùng. Ngài chỉ cho chúng ta thấy
phàm phu tức Phật, phiền não tức Bồ-đề. Thế nào là tức ? Ngài bảo: niệm trước
mê tức là phàm phu, niệm sau ngộ tức là Phật. Tỉ dụ nhìn bình bông, vừa nhìn liền
phân biệt nhánh trắc đẹp, bông cúc xấu v.v… vừa có niệm phân biệt, đó là mê,
nhưng liền tỉnh giác biết dù đẹp xấu cũng là huyễn hóa. Như vậy niệm trước mê là
phàm phu, niệm sau ngộ là Phật. Có người thứ hai chen vào làm Phật không ?
Cũng chỉ là mình, nhưng niệm trước mê, đó là phàm phu, chuyển niệm sau ngộ là
thành Phật. Như vậy đâu có Phật ngoài phàm phu, phàm phu ngoài Phật, nên nói
phàm phu tức là Phật. Thí dụ thứ hai, như có một món quí kim rơi ngoài đường
hay ở trong nhà một người nào, vừa thấy món quí kim chúng ta dấy niệm nó có giá
trị, vừa dấy niệm tham, liền biết đó là sai quấy, vì người biết đạo lý không được có
niệm tham. Vậy niệm trước là niệm gì ? Niệm sau là niệm gì ? Tất cả những thay
đổi đó đâu có người thứ hai chen vào. Chính ngay người phàm phu trước đổi thành
người giác sau. Người mê trước đổi thành người giác sau, không có một người mê
riêng, một người giác riêng, như vậy không phải “tức” là gì? Như khi còn ở trong
hoàng cung thái tử Tất-đạt-đa là Phật chưa ? Nhưng khi xuất gia, Ngài tu thành
Phật. Cũng là Ngài, con người phàm phu ở trong hoàng cung rồi thành Phật chớ
không phải ai khác. Đó là nói xa, còn Lục Tổ nói thẳng trên niệm, niệm trước mê
là phàm phu, niệm sau ngộ là Phật. Chúng ta thấy phàm phu khác, Phật khác là tự
phỉ báng mình, phỉ báng chánh pháp. Rõ ràng mình với Phật không có khác, chỉ
khác chỗ mê ngộ, mà mê ngộ do nơi mình, niệm trước mê là phàm, niệm sau giác
là Phật !
“Niệm trước chấp cảnh tức phiền não, niệm sau lìa cảnh tức Bồ-đề”. Thí dụ
nghe người nào nói một lời trái tai, vừa chấp đó là lời ngang ngược trái tai, muốn
nổi sân, nhưng liền biết lời nói giả dối không thật thì không giận. Niệm trước vừa
chấp lời nói trái tai liền nổi giận, gọi là chấp cảnh tức phiền não sanh; niệm sau
biết lời nói không thật, nên không chấp liền lìa cảnh, lìa cảnh đó là Bồ-đề. Như
vậy tức phiền não là Bồ-đề đâu có Bồ-đề ngoài phiền não. Nếu tìm Bồ-đề ngoài phiền não thì không cần tu, vì nó ở ngoài, tu là ngay niệm mê đổi thành niệm giác,
ngay phiền não biến thành Bồ-đề. Có nhiều người nói phiền não là phiền não, tại
sao nói phiền não tức Bồ-đề ? Họ cứ nghĩ phiền não là riêng, Bồ-đề là riêng, nhất
là những vị chưa thông kinh Đại thừa hay chấp phiền não khác, Bồ-đề khác,
nhưng thật ra ngay phiền não mà tỉnh lại tức là Bồ-đề. Mê thì phiền não, tỉnh là
Bồ-đề, chúng ta thấy thực tế vô cùng. Phiền não tức Bồ-đề, phàm phu tức Phật là
như thế. Như vậy ai dám khi ai không ? Ngày nay họ là phàm phu, ngày mai họ
giác thành Phật; giờ này họ sân là phàm phu, chốc nữa họ tỉnh cũng là Phật. Đừng
nghĩ ta giác hơn người, vì khi người tỉnh giác người cũng bằng ta. Trên thế gian
này không ai hơn ai cả. Ngay phàm phu tức là Phật, ngay phiền não tức là Bồ-đề.
Người có nhiều phiền não, vì cố chấp nên những gì đến với họ đều biến thành
phiền não; đến khi họ tỉnh, họ xả được cái chấp đó tức nhiên thành Bồ-đề. Không
có Bồ-đề ngoài phiền não, không có Phật ngoài chúng sanh.
Này Thiện tri thức, Ma-ha Bát-nhã Ba-la-mật tối tôn, tối thượng, tối đệ nhất,
không trụ, không qua cũng không lại, chư Phật ba đời từ trong đó mà ra. Phải dùng
đại trí tuệ này đập phá ngũ uẩn, phiền não, trần lao, tu hành như đây quyết định
thành Phật đạo, biến tam thành giới định tuệ.
Tổ ca ngợi Bát-nhã vô cùng. Ngài bảo Bát-nhã là tối tôn, tối thượng, tối đệ
nhất, Bát-nhã là không trụ, không qua, không lại, nghĩa là nó không có những
tướng qua lại, trụ trước gì cả. Tất cả chư Phật ba đời cũng từ Bát-nhã mà ra. Muốn
giác ngộ làm Phật phải từ trí tuệ mà được. Không ai giác ngộ ngoài trí tuệ, nên nói
ba đời chư Phật đều từ đó mà ra. Như vậy phải dùng đại trí tuệ này đập phá phiền
não trần lao ngay trong thân ngũ uẩn. Tu hành như vậy thì quyết định thành Phật
đạo không nghi và người đó đã chuyển tam thành giới định tuệ. Ngay nơi ba
tham sân si chúng ta chuyển thành giới định tuệ, đó là chỗ chân chánh tu hành.
Này Thiện tri thức, pháp môn của tôi đây từ một Bát-nhã phát sanh tám
muôn bốn ngàn trí tuệ. Vì cớ sao ? Vì người đời có tám muôn bốn ngàn trần lao,
nếu không có trần lao thì trí tuệ thường hiện chẳng lìa tự tánh. Người ngộ pháp
này tức là vô niệm, vô ức, vô trước, chẳng khởi cuống vọng, dùng tánh chân như
của mình, lấy trí tuệ quán chiếu, đối với tất cả pháp không thủ không xả tức là thấy
tánh thành Phật đạo.
Đến đây Ngài dạy từ một môn Bát-nhã này sanh ra tám muôn bốn ngàn
trí tuệ. Tại sao đến tám muôn bốn ngàn trí tuệ ? Vì chúng sanh có đến tám muôn
bốn ngàn trần lao, nên người biết tu thì chuyển tám muôn bốn ngàn trần lao thành
tám muôn bốn ngàn trí tuệ. Tôi ví dụ như chúng ta nghe lời nói trái tai, chấp là lời
nói nặng liền giận, khi vừa giận liền thức tỉnh biết tiếng nói không thật nên không
giận, như vậy chúng ta dùng một trí tuệ phá một trần lao. Trên thế gian này, có bao
nhiêu thứ để chúng ta phiền não ? Vật nào đẹp thì muốn lấy, đó là tham, vật nào
xấu thì ghét muốn quăng bỏ, đó là sân v.v… đủ cả tham sân si…! Nếu gặp bất cứ
việc gì, chúng ta đều dùng trí tuệ Bát-nhã để phá dẹp, không cho dính mắc, như
vậy có bao nhiêu phiền não tức có bấy nhiêu trí tuệ. Thế nên tám muôn bốn ngàn
trần lao trở thành tám muôn bốn ngàn trí tuệ. Như vậy để biết rằng trí tuệ không
riêng có, vì đối trần lao mà lập. Do có trần lao nên trí tuệ không thường hiện, nay các trần lao hết thì trí tuệ hiện. Trí tuệ hiện là ngay nơi tự tánh mà hiện, nên nói
chẳng lìa tự tánh. Người ngộ pháp này tức là vô niệm. Vô niệm là không dấy khởi
niệm, vô ức là không nhớ tưởng, vô trước là không dính mắc, chẳng khởi cuống
vọng là không khởi hư dối. Dùng tánh chân như của mình, lấy trí tuệ quán chiếu,
đối tất cả pháp mình không khởi thủ xả, đó là thấy tánh thành Phật đạo. Nghĩa là
chúng ta không dấy niệm, không nhớ tưởng, không chấp trước cũng không lừa dối,
như vậy sống với tự tánh chân thật của mình, hằng dùng trí tuệ quán chiếu để
không lầm, thì đối với tất cả pháp không còn thủ xả tức lìa hai bên. Người được
như thế là thấy tánh thành Phật.
Này Thiện tri thức, nếu muốn vào pháp giới thậm thâm và Bát-nhã tammuội thì phải tu Bát-nhã hạnh, phải trì tụng kinh Kim Cang Bát-Nhã tức được thấy
tánh, nên biết kinh này công đức vô lượng vô biên, trong kinh đã khen ngợi rõ
ràng không thể nói đầy đủ được. Pháp môn này là Tối thượng thừa, vì những
người đại trí mà nói, vì những người thượng căn mà nói. Những người tiểu căn
tiểu trí nghe pháp này tâm sanh không tin. Vì cớ sao ? Ví như có một trận mưa lớn
khắp cả cõi nước, thành ấp chợ búa đều bị trôi giạt cũng như trôi những lá táo.
Nếu trận mưa lớn đó mưa nơi biển cả thì không tăng không giảm. Như người Đại
thừa hoặc người Tối thượng thừa nghe kinh Kim Cang thì tâm khai ngộ, thế nên
biết bản tánh họ tự có trí Bát-nhã, tự dùng trí tuệ thường quán chiếu nên không
nhờ văn tự. Thí như nước mưa không phải từ trời có, nguyên là từ rồng mà dấy lên
khiến cho tất cả chúng sanh, tất cả cỏ cây, hữu tình vô tình thảy đều được đượm
nhuần. Trăm sông các dòng đều chảy vào biển cả hợp thành một thể, trí tuệ Bátnhã nơi bản tánh chúng sanh cũng lại như thế.
Tức là mọi người chúng ta đều có trí tuệ Bát-nhã sẵn trong tự tánh của
mình như là tất cả dòng sông đều chảy về biển chớ không có khác.
Này Thiện tri thức, người tiểu căn nghe pháp môn đốn giáo này, ví như là
cỏ cây gốc rễ nhỏ, nếu bị mưa to thì đều ngả nghiêng không thể nào tăng trưởng
được. Người tiểu căn cũng lại như thế, vốn có trí tuệ Bát-nhã cùng với người đại
trí không sai biệt, nhân sao nghe pháp không thể khai ngộ ? Vì do tà kiến chướng
nặng, cội gốc phiền não sâu, ví như đám mây lớn che kín mặt trời, không có gió
thổi mạnh thì ánh sáng mặt trời không hiện. Trí Bát-nhã cũng không có lớn nhỏ, vì
tất cả chúng sanh tự tâm mê ngộ không đồng, tâm mê bên ngoài thấy có tu hành
tìm Phật, chưa ngộ được tự tánh tức là tiểu căn. Nếu khai ngộ đốn giáo không thể
tu ở bên ngoài, chỉ nơi tâm mình thường khởi chánh kiến, phiền não trần lao
thường không bị nhiễm tức là thấy tánh.
Trong đoạn trên Ngài nói có người tiểu căn, người đại căn, người tiểu trí,
người đại trí. Tại sao có tiểu trí, đại trí, tiểu căn, đại căn ? Trên tánh Bát-nhã
không có sai biệt, nhưng người nghe pháp liền đốn ngộ thì gọi là đại căn, còn
người nghe nhưng không đốn ngộ nên gọi là tiểu trí. Sở dĩ nghe Bát-nhã mà không
ngộ, không hiểu là vì:
– Một là tà kiến của họ sâu nặng, chấp tà kiến là chấp lệch lạc, nghiêng bên
có hoặc nghiêng bên không quá nặng.
– Hai là gốc phiền não của họ sâu dầy, họ hay sân si, đủ các việc lôi thôi… Ngài thí dụ như có một đám mây đen kịt bao phủ bầu trời vào giữa trưa che
kín mặt trời, chúng ta thấy ánh sáng mặt trời mất tiêu, ánh sáng mất là tại mặt trời
không có ánh sáng hay tại cái gì ? Mặt trời lúc nào cũng tỏa ánh sáng đầy đủ và
công bằng. Nhưng khi mây dầy đen quá thì ánh sáng phải chịu khuất. Khi không
thấy ánh sáng là lỗi tại mặt trời hay lỗi tại mây ? Tất cả mọi người ai cũng có trí
tuệ Bát-nhã như là giữa trưa nhất định có mặt trời vậy, nhưng có người nghe pháp
liền ngộ, có người nghe mà không ngộ là tại sao ? Giữa trưa mà không mây, khi
người ta chỉ mặt trời, nhìn lên liền thấy. Trái lại mây dầy quá, dù chỉ mặt trời cũng
không thấy, chỉ thấy bầu trời đen kịt. Đối với trí tuệ của Phật cũng thế, Ngài dùng
trí tuệ đó giảng dạy chúng ta hiểu chỗ ngộ, chỗ sở đắc của Ngài để chúng ta theo
đó tu hành. Nếu nghe nhưng không hiểu gì cả là tại phiền não của chúng ta quá
nhiều, quá sâu; nếu người nào phiền não ít, mỏng thì nghe liền hiểu, mà hiểu thì
tu được. Như thế lỗi không phải tại pháp mà lỗi tại người, pháp thì bình đẳng
nhưng tại người phiền não sâu hay cạn. Biết như vậy, chúng ta thấy nếu căn cơ
chúng ta kém, phiền não dầy, chúng ta phải nỗ lực sao cho phiền não tan và căn cơ
được tăng trưởng, chớ đừng tưởng thật có người đại trí và người tiểu trí, vì trí Bátnhã là bình đẳng, nhưng do các chủng tử tà kiến và chủng tử phiền não nhiều ít mà
thành sai biệt.
Này Thiện tri thức, trong ngoài không trụ, đi lại tự do, hay trừ tâm chấp,
thông đạt không ngại, hay tu hạnh này cùng kinh Bát-nhã vốn không sai biệt.
Trong đoạn này Lục Tổ dạy chúng ta tu. Trong ngoài không trụ là không
trụ trong không trụ ngoài, tức là không chấp trong không chấp ngoài. Đi lại tự do
là trong mọi hoạt động chúng ta không bị chướng ngăn. Hay trừ tâm chấp, tâm
chấp là thế nào ? Tôi nói một ví dụ nhỏ cho quí vị thấy, như có người nhìn bình
bông, phân tích như thế nào đó rồi kết luận bình bông đẹp, nhưng có người ngồi
bên cạnh bảo xấu quá, đâu có đẹp ! Khi đó người ấy nổi sân, tại sao lại nổi sân ?
Vì chấp lời của họ là chân lý, lời người kia không phải chân lý, họ nói đúng, người
kia nói sai… Thế nên tất cả các chấp là gốc của phiền não. Trái lại nếu chúng ta
thấy đẹp, người khác thấy không đẹp chúng ta biết đó là do cái thấy của họ khác
mình, thì không còn tranh chấp. Tỉ dụ chúng ta nói cái này có, người kia nói
không, chúng ta nói: Tôi thấy có, còn huynh thấy không là cái thấy của huynh.
Trái lại nếu chúng ta nói có, người khác nói không, chúng ta nổi giận, đó là chấp.
Vậy tất cả phiền não đều gốc từ tâm chấp mà ra. Quí vị thấy có ai không chấp ?
Nếu người nào không chấp thì người đó không nổi giận, nếu có giận là có chấp !
Thí dụ gần nhất như thầy giáo hay cô giáo dạy học trò, bảo chúng nó giờ nào học
thì học, giờ nào nghỉ thì cũng ngồi chơi có trật tự đừng la to. Nhưng khi chơi nó
hứng la om sòm, khi ấy thầy cô giận muốn phạt nó. Như vậy là mình không tâm lý,
lúc dặn thì chúng nhớ, khi chơi thì chúng quên… vì mình chấp việc chúng không
nhớ lời dặn nên nổi giận. Quí vị nhớ con cái ở nhà cũng vậy, khi chúng ta dạy nó,
thật ra chúng nó biết, nhớ, nhưng khi gặp cảnh chúng nó quên… Cũng như chúng
ta khi nghe kinh thì nhớ, gặp cảnh thì quên, chúng ta quên theo người lớn, chúng
nó quên theo con nít ! Nếu giận chúng nó thì đúng hơn chúng ta phải giận chúng ta.
Nếu không giận mình mà giận chúng nó là mình hơi hẹp lượng đó. Hiểu như vậy, quí vị mới thấy trong cuộc sống này do chấp mà thành hẹp lượng rồi sân hận… đủ
các phiền não. Vì vậy chấp là một cái họa, từ đó sanh ra bao nhiêu thứ bệnh ! Khi
phá chấp rồi thì tâm hồn chúng ta thênh thang vô cùng. Chấp có, chấp không, chấp
phải, chấp quấy… tất cả chấp đều là gốc phiền não. Thế nên phá được tâm chấp rồi
thì trí được thông đạt vô ngại. Người hay tu được hạnh đó gọi là tu Bát-nhã.
Này Thiện tri thức, tất cả kinh điển và các văn tự, Đại thừa, Tiểu thừa,
mười hai bộ kinh đều nhân người mà an trí, nhân tánh trí tuệ mới hay dựng lập.
Nếu không có người đời thì tất cả muôn pháp vốn tự chẳng có, thế nên biết muôn
pháp vốn tự nhân nơi người mà dựng lập, tất cả kinh sách nhân người mà nói có;
nhân vì trong người kia có ngu và có trí, người ngu là tiểu nhân, người trí là đại
nhân, người ngu hỏi nơi người trí, người trí vì người ngu mà nói pháp, người ngu
bỗng nhiên ngộ hiểu, tâm được khai tức cùng với người trí không có khác.
Chúng tôi giải thích cho quí vị thấy Lục Tổ dạy rất là thực tế. Ngài bảo tất
cả kinh điển Phật lập ra, trong đó chia ra Đại thừa Tiểu thừa, cả mười hai bộ kinh
đều nhân nơi người mà lập. Tại sao ? Vì người đời căn tánh bất đồng, có kẻ thấp
người cao nên kinh Phật dạy có khi thấp, có khi cao. Nói thấp gọi là nói cho Tiểu
thừa, nói cao gọi là nói cho Đại thừa. Như vậy kinh điển có sai biệt là nhân trí tuệ
của con người, người thấp thì phải nói theo chỗ thấp, người cao phải giải thích
theo chỗ cao. Tất cả muôn pháp trên thế gian này vốn không có, nhưng hiện có là
do nơi người. Có người mới có muôn pháp. Tại sao ? Như tôi thường nhắc quí vị,
nếu không có tâm trí của con người thì lấy cái gì đặt tên đây là đồng hồ, kia là
bình bông, đó là cái bàn v.v…. Như vậy tất cả các tên sai biệt của muôn pháp gốc
từ nơi người mà lập. Thế nên biết rằng từ kinh điển đến vạn vật có các tên sai biệt,
đều gốc từ tâm trí sai biệt của con người, chớ không phải ngẫu nhiên. Như vậy
không phải đức Phật muốn nói nhiều thứ, sở dĩ Ngài phải nói nhiều là do trình độ
sai biệt của con người; cũng như tất cả sự vật ở thế gian không phải có nhiều thứ
nhưng có nhiều thứ là tại người đặt. Người ta đặt ra thứ này, thứ kia, mỗi thứ mỗi
tên. Tỉ dụ như tất cả chúng ta, nếu cha mẹ không đặt tên mình thì đến đây gặp
nhau chỉ cười chớ không biết ai tên gì mà gọi. Nay có cả trăm tên khác nhau là tại
sao ? Tại vọng thức của cha mẹ chúng ta an bày người này tên A, người kia tên B
v.v… rồi chúng ta thấy có cả trăm tên. Sự thật nếu không có đặt tên thì thấy mặt
nhau là thấy chớ không biết tên gì, nếu không tên thì đâu thành người này người
kia… tất cả chỉ có tên “người”. Tóm lại muôn pháp nhân người mà lập là vì nhân
nơi tâm trí của con người mà đặt tên thành ra muôn pháp, chớ sự thật muôn pháp
không có tên, thành tên là từ nơi người.
Ngài lại giải thích về người ngu và người trí. Người ngu là họ chưa hiểu,
chưa thấy được đạo. Người trí là đã hiểu, đã thấy được đạo. Như vậy người chưa
hiểu, chưa thấy đối với người đã hiểu, đã thấy thì gọi là người ngu, còn người đã
hiểu, đã thấy gọi là người trí. Nhưng cái ngu, trí đó có cố định hay không ? Giả sử
ông A hiểu, ông B chưa hiểu, đối với chỗ hiểu và chưa hiểu thì ông A gọi là trí,
ông B gọi là ngu. Nhưng nay ông B hỏi, ông A nói cho ông B hiểu bằng ông A thì
hai người ai ngu ai trí ? Cả hai đều trí ! Như vậy ngu trí cũng không cố định.
Chúng ta thường tự cao nghĩ rằng ta là trí, người khác là ngu, tưởng ngu trí là thật. Đối với Tổ không phải vậy. Khi chưa biết gọi là ngu, biết rồi cũng là trí. Thí dụ
một đứa bé khi mới vào học lớp một, nó thấy thầy giáo, cô giáo là trí, còn nó là
ngu. Nhưng nếu nó học đến mười mấy năm sau, khi ấy lớp nó học hoặc bằng hoặc
trên thầy giáo, cô giáo nó, như vậy nó đâu còn ngu nữa. Thế nên trí, ngu đâu có cố
định, nhưng chúng ta có tật thấy bất cứ người nào đều cố định là khôn hoặc là dại.
Tóm lại ngu trí chẳng qua là biết và chưa biết; biết thì gọi là trí, chưa biết gọi là
ngu, khi người chưa biết mà biết được rồi thì họ cũng là trí… Từ đó chúng ta suy
ra, chúng sanh với Phật có khác nhau không ? Có cố định chúng sanh là chúng
sanh, Phật là Phật hay không ? Nếu chúng ta hiểu ngu và trí thì chúng sanh với
Phật cũng như vậy. Nay chúng ta chưa giác, chúng ta là chúng sanh, còn Phật đã
giác thì Phật là Phật. Mai kia theo đường lối Phật dạy, chúng ta giác ngộ như Phật
thì khi ấy chúng ta cũng ngang với Phật. Như vậy chúng ta không có mặc cảm là
mình phải làm chúng sanh kiếp kiếp đời đời, mà chỉ có mặc cảm là mình không
chịu giác. Nếu ngày nào tất cả chúng ta đều giác thì đương nhiên chúng ta như
Phật. Vậy phàm phu và Phật không có hai, hai là vì có mê ngộ. Nếu chúng ta bỏ
mê và ngộ như Phật, khi ấy mình với Phật là đồng, không còn hai nữa. Từ nghĩa
ngu và trí đến nghĩa mê giác, chúng ta thấy giống như nhau. Không có một pháp
cố định mà chúng ta lầm tưởng là cố định rồi tự khinh mình, đó là điều dở. Thế
nên Lục Tổ dạy tiếp:
Này Thiện tri thức, chẳng ngộ tức Phật là chúng sanh, khi một niệm ngộ,
chúng sanh là Phật.
Khi chưa ngộ tức Phật là chúng sanh, tại sao ? Nơi mình có Phật sẵn nhưng
mình chưa thấy nên khi ấy ông Phật đó làm chúng sanh; đến khi mình thấy thì thế
nào ? Thì chúng sanh đó nay biến thành Phật. Thế nên nói một niệm ngộ chúng
sanh là Phật. Như vậy giữa mình và Phật không cách biệt bao xa. Theo chúng ta
học thì từ phàm phu lên đến Phật phải trải qua bao nhiêu số kiếp xa thật là xa. Còn
Tổ nói thì quá gần, nghĩa là khi chưa ngộ thì Phật là chúng sanh, còn một niệm
ngộ thì chúng sanh là Phật. Như vậy sở dĩ có chúng sanh, có Phật là tại mê với ngộ,
chớ không phải riêng có một cái cố định là chúng sanh, cố định là Phật. Đó là
điểm then chốt.
Thế nên biết muôn pháp trọn ở nơi tự tâm, sao chẳng từ trong tự tâm liền
thấy được chân như bản tánh ?
Biết rằng muôn pháp đều từ nơi tự tâm, tại sao chúng ta không ngay nơi tự
tâm chóng thấy được chân như, lại đi tìm Phật ở đâu cho xa. Mê thì Phật là chúng
sanh, ngộ thì chúng sanh là Phật, như vậy thành Phật là thành ở trong tự tâm. Mê
ngộ là tâm, vậy tại sao không đào xới ngay trong tâm mình để thành Phật, lại chạy
đi cầu ở chỗ nào làm chi ? Có cần đi lên núi ông Cấm hay Ngũ Đài Sơn v.v… hay
là đi tới những núi thật xa, thật cao tìm chỗ thanh tịnh để tìm Phật không ? Nếu
biết thì ngồi ở giữa chợ cũng có Phật. Vì tâm mình là Phật thì ngay trong tâm, nếu
biết chuyển đương nhiên chúng sanh trở thành Phật, nếu không biết chuyển tức
nhiên Phật làm chúng sanh. Thế nên Lục Tổ cố dạy chúng ta muốn thành Phật thì
chuyển ngay tự tâm mình, đừng tìm kiếm nơi nào khác, tìm nơi khác là lầm ! Vì thế Ngài bảo: Tất cả đều trọn nơi tâm mình, tại sao không ngay trong tâm mình
chóng thấy chân như bản tánh ?
Kinh Bồ Tát Giới nói: Bản tánh của ta nguyên tự thanh tịnh, nếu biết được
tự tâm, thấy tánh đều thành Phật đạo. Kinh Tịnh Danh nói: Liền khi đó bỗng hoát
nhiên được bản tâm.
Tóm lại, trong đoạn này Lục Tổ muốn chỉ chúng ta rõ rằng, thành Phật hay
thành chúng sanh là gốc nơi tự tâm mê hay tự tâm ngộ. Tâm mê là chúng sanh,
tâm ngộ là Phật, nay chúng ta tu, muốn thành Phật phải nhắm vào chỗ nào mà tu ?
Muốn chuyển chúng sanh thành Phật phải chuyển từ đâu ? Từ ngay nơi tâm chớ
không còn lối nào khác ! Như vậy chúng ta không thể nghe nói ông Phật hiện ở
trên núi Cấm rồi nhất bộ nhất bái đến lạy để Ngài chứng minh cho mình được
thành Phật. Chúng ta phải ngay nơi tâm mình khéo chuyển mê thành ngộ thì đó là
Phật. Chúng ta phải đào xới ngay nơi bản tâm chớ đừng tìm kiếm ở đâu xa. Đây là
gốc của sự tu hành.
Này Thiện tri thức, xưa ta ở nơi Ngũ tổ Nhẫn, một phen nghe liền được ngộ,
chóng thấy chân như bản tánh, nên đem giáo pháp này lưu hành khiến cho người
học đạo chóng ngộ được Bồ-đề. Mỗi người tự quán nơi tâm, tự thấy bản tánh, nếu
tự chẳng ngộ phải tìm những bậc Đại thiện tri thức, người hiểu được giáo pháp Tối
thượng thừa, chỉ thẳng con đường chánh, ấy là Thiện tri thức, có nhân duyên lớn,
gọi là hóa đạo khiến được thấy tánh.
Ngài nhắc lại, ngày xưa khi nghe được Ngũ Tổ nói một câu, Ngài liền ngộ
đạo. Khi ngộ đạo, Ngài đem giáo pháp đó chỉ dạy lại cho người học sau này chóng
thấy được Bồ-đề, chóng ngộ được bản tánh. Nay người nào nghe nhưng chưa ngộ
thì nên tìm Thiện tri thức. Thiện tri thức là ai ? Người hiểu được pháp Tối thượng
thừa, biết chỉ thẳng con đường chánh, đó là Thiện tri thức. Có nhiều người nói
Phật Tổ dạy học đạo phải nhờ Thiện tri thức hướng dẫn, nhưng người nào là Thiện
tri thức ? Tùy theo pháp môn, nếu Thiền tông thì Tổ dạy: Thiện tri thức là người
hiểu được pháp Tối thượng thừa và người đó chỉ thẳng con đường chánh cho mình
đi. Có nhân duyên lớn là gì ? Tức là hóa đạo khiến cho người được thấy tánh.
Tất cả pháp lành nhân nơi Thiện tri thức mà hay phát khởi. Ba đời chư Phật,
mười hai bộ kinh, ở trong tánh của người vốn tự có đủ, không có thể tự ngộ thì
phải cầu Thiện tri thức chỉ dạy mới thấy. Nếu tự mình ngộ thì không nhờ cầu bên
ngoài, nếu một bề chấp, bảo rằng phải nhờ Thiện tri thức khác, mong được giải
thoát thì không có lẽ phải.
Đây là chỗ lầm lẫn của một số người tu. Ngài nói: Giáo pháp Tối
thượng thừa này được Phật Tổ chỉ dạy, nếu ngay nơi đó mình ngộ rồi thì thôi, nếu
không ngộ thì phải nhờ Thiện tri thức chỉ dạy để chúng ta nhân đấy mà ngộ. Như
vậy muốn được ngộ là phải nhờ sự chỉ dạy của Thiện tri thức để nhận ra bản tâm,
bản tánh của mình, chớ không phải cầu Thiện tri thức ở bên ngoài để làm cho
mình được giải thoát. Có nhiều Phật tử cứ nghĩ rằng đi đến cầu Thầy, cầu những vị
tu hành cứu mình hết phiền não, làm cho mình hết khổ. Nếu y theo pháp Phật mà
tu thì mỗi người tự giải khổ, chớ có ai làm cho ai hết khổ được ? Có ai làm cho ai
hết phiền não được ? Như hiện nay quí Thầy tu, còn Phật tử chưa tu, quí Thầy muốn dạy cho Phật tử hết phiền não phải dạy thế nào ? Phật dạy các pháp quán
hoặc là nhẫn nhục hoặc là từ bi hoặc là vô thường, hoặc là dùng trí Bát-nhã thấy
các pháp là giả dối v.v… Chúng ta biết ứng dụng các pháp Phật dạy, tu sửa lần lần
hết phiền não, chớ các Thầy không thể nào làm cho Phật tử hết phiền não được.
Vậy khi có phiền não chạy đến cầu Thầy cứu được không ? Chư Tăng chư Ni chỉ
là người đi trước, biết được những gì Phật Tổ dạy, rồi đem những pháp đó chỉ lại,
Phật tử ứng dụng tự nhiên bớt phiền não, chớ không ai làm cho mình hết phiền
não. Nếu trông cầu Thiện tri thức đưa mình đến chỗ giải thoát thì không đúng,
không bao giờ có việc như vậy. Thiện tri thức chỉ cho mình tự tỉnh, tự giác, sau
khi tỉnh giác mình tiến tu mới giải thoát. Nếu người khác làm cho mình giải thoát
được thì thuở xưa những đệ tử gần với Phật nhất như ngài A-nan, ngài La-hầu-la
không cần phải tu. Ngài A-nan là em của Phật, ngài La-hầu-la là con Phật, Phật
thành Phật rồi hai vị đó nhờ Phật độ cũng được giải thoát ? Nhưng học kinh Lăng
Nghiêm, chúng ta thấy ngài A-nan bị Ma-đăng-già dẫn dụ, Ngài khổ sở, hối hận,
khóc bạch với Phật: Con ỷ lại là em của Phật, nay mới thấy nếu con không tu thì
không thể nào giải thoát được. Như vậy chính em đức Phật, con đức Phật mà đức
Phật không độ cho giải thoát được, huống nữa là chư Tăng phàm phu. Như thế để
quí vị hiểu rằng muốn được giải thoát là y theo lời Phật dạy mà tự tu sửa phiền não
che lấp bản tâm. Do tu sửa rồi tự mình sáng, tự mình giác, cái sáng, cái giác đó
làm cho mình được giải thoát, chớ không ai làm cho mình giải thoát cả.
Vì cớ sao ? Trong tự tâm có tri thức tự ngộ, nếu khởi tà mê vọng niệm điên
đảo thì Thiện tri thức bên ngoài tuy có giáo hóa chỉ dạy, cứu cũng không thể được.
Nghĩa là trong tâm mình tự có Thiện tri thức, nếu mình khởi niệm xấu thì
niệm thiện của tâm quở trách cái xấu, cái xấu hết. Niệm thiện biết quở trách cái
xấu là Thiện tri thức của tự tâm. Còn nếu quí vị khởi niệm xấu, ví như ra chợ, ai
nói tức, quí vị giận muốn mắng chửi người, khi ấy Thiện tri thức ở chùa làm sao
gặp quí vị mà khuyên cho kịp. Khi muốn mắng người, chỉ Thiện tri thức của tự
tâm khởi lên mới chận kịp, chớ Thiện tri thức ở chùa xa quá không thể đến chận
kịp. Như vậy để biết rằng cứu mình gần nhất là Thiện tri thức của tự tâm, còn
Thiện tri thức ở xa như thầy bạn khó cứu mình kịp. Thành ra thầy bạn chỉ là người
hướng dẫn cho mình biết đạo lý rồi tự ứng dụng hằng ngày hằng giờ tự tu.
Nếu khởi chánh chân Bát-nhã quán chiếu thì trong khoảng một sát-na vọng
niệm đều diệt. Nếu biết tự tánh một phen ngộ tức đến quả vị Phật.
Phật địa tức là quả vị Phật. Đoạn trước Ngài dạy nếu khởi tâm tà mê, sanh
điên đảo thì Thiện tri thức ở ngoài cứu không được. Đoạn này Ngài dạy nếu
chúng ta khởi tâm chân chánh, dùng trí tuệ Bát-nhã quán chiếu thì chỉ trong
khoảng một sát-na hay là trong khoảng một phút, một giây bao nhiêu vọng niệm
đều hết, đó là tự biết được tự tánh rồi tự ngộ mà đến Phật địa. Chúng ta phải hiểu
thật rõ, Bát-nhã chia ra làm ba phần: Văn tự Bát-nhã, Quán chiếu Bát-nhã và Thật
tướng Bát-nhã. Như quí vị thường tụng một thời ba biến, đọc chữ, đọc nghĩa, đó là
Văn tự Bát-nhã. Còn Quán chiếu Bát-nhã là sao ? Nếu đọc đi đọc lại bài Bát-nhã
đến thuộc làu, đó chỉ là thuộc văn tự thôi. Nay đọc “Quán Tự Tại Bồ-tát hành
thâm Bát-nhã Ba-la-mật-đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không…”, chiếu kiến là quán chiếu. Quán chiếu như thế nào ? Tức ngay thân năm uẩn, chúng ta phân tích
cái gì là sắc uẩn ? Sắc uẩn là phần hình thức vật chất. Trong phần hình thức vật
chất này có những thứ nào kết hợp lại ? Đất nước gió lửa. Cái gì là đất ? Tức là
những chất cứng như tóc, lông, răng, móng, da thịt, gân xương v.v… Cái gì là chất
ướt ? Máu mủ, mồ hôi v.v… Chúng ta phân tích, quán chiếu như thế. Ví như quí vị
đang phiền não vì bị người hiếp đáp hoặc nói xấu v.v… quí vị không nhớ câu họ
nói mà lại quán chiếu thân này có thật hay không, quán kỹ nó do đất nước gió lửa
kết hợp v.v… quán một lúc quí vị còn sân si với câu người ta nói không ? Nếu
quán chiếu thấy thân không thật thì nói tốt, nói xấu, hoặc khen, hoặc chê cũng là
thừa. Thế nên nói khi dùng Quán chiếu Bát-nhã thì tất cả vọng niệm đều diệt. Trái
lại chúng ta cứ đọc Văn tự Bát-nhã mãi nên không diệt được gì cả, rồi nói tôi tu
mấy mươi năm, Thầy dạy tụng Bát-nhã nhưng đến nay phiền não vẫn còn ! Muốn
hết phiền não phải Quán chiếu Bát-nhã, nhờ quán chiếu chúng ta mới thấy rõ thân
là duyên hợp hư giả; từ thân đến tâm cũng xét nó là duyên hợp không thật. Như
vậy cả thân lẫn tâm biết rõ là tướng duyên hợp không thật thì bao nhiêu phiền não
đều hết. Quán chiếu đến đó thì phiền não dứt, Thật tướng Bát-nhã hiện. Như vậy
từ Văn tự đến Quán chiếu, Quán chiếu rồi mới hiện Thật tướng. Chúng ta tu chỉ
mới phần đầu thôi, chỉ Văn tự đã thấy là đủ nên không Quán chiếu, vì thế không
hết phiền não. Quí vị thấy rõ trong kinh Bát-nhã nói: Bồ-tát Quán Tự Tại khi dùng
trí Bát-nhã quán chiếu năm uẩn là không thật liền qua tất cả khổ nạn. Khổ nạn nào
Ngài cũng qua, còn chúng ta vì không quán chiếu nên qua khổ nạn không nổi !
Vậy muốn qua khổ nạn phải quán chiếu chớ không được nói tôi tụng Bát-nhã qua
hết khổ nạn ! Tụng mãi cũng không qua hết, chỉ khi nào quán chiếu như thế mới
hết. Vậy chúng ta thấy rõ trong sự tu hành, muốn diệt phiền não phải dùng trí tuệ
mà diệt, tức là đúng như trong kinh Bát-nhã dạy là hằng dùng trí để quán sát. Như
vậy mới đúng câu: “Mồi đuốc trí tuệ của mình từ đuốc của Phật”. Nhân lời Phật
Tổ dạy, chúng ta đem trí tuệ mình quán chiếu, do đó mới có trí sáng. Nay chúng ta
nghe đọc suông, đọc thuộc lòng, nhưng không quán chiếu thì làm sao có sáng,
không sáng thì làm sao hết phiền não ? Đây là cội gốc của sự tu hành, Tổ dạy
những lẽ thật, chúng ta phải thấy rõ. Thế nên Ngài bảo nếu dứt phiền não thì tự
thấy bản tánh, thấy bản tánh là ngộ, ngộ tức nhiên đến quả vị Phật.
Này Thiện tri thức, trí tuệ quán chiếu trong ngoài sáng suốt, biết bản tâm
mình, nếu biết bản tâm tức là gốc của sự giải thoát. Nếu được giải thoát tức là Bátnhã tam-muội, tức là vô niệm.
Ngài dạy cho chúng ta thấy do dùng trí tuệ Bát-nhã quán chiếu, nên trong
ngoài chúng ta đều rỗng suốt, do đó chúng ta mới nhận ra được bản tâm. Tôi
thường nói với quí vị muốn biết được cái thật thì điều kiện tiên quyết là phải nhận
ra cái giả. Biết được cái giả rõ ràng thì trên cái giả đó mình mới nhận ra mặt thật.
Vì vậy từ Quán chiếu Bát-nhã chúng ta mới thấy được vọng niệm là hư giả, vọng
niệm hết rồi thì tự tánh chân thật mới hiển bày. Tự tánh chân thật hiển bày là mình
thấy được bản tâm của mình; thấy được bản tâm là gốc của giải thoát. Thế nên tôi
thường nói giác ngộ mới giải thoát. Thấy được bản tâm tức là thấy được cái chân
thật, nhân thấy được cái chân thật nên tất cả những vọng tưởng phiền não hư giảkhông còn đủ sức lôi cuốn chúng ta nữa, như vậy mới gọi là thoát ly sanh tử. Nếu
không có giác ngộ thì không bao giờ giải thoát, mà muốn giác ngộ là phải thấy
được cái thật. Muốn thấy cái thật thì trước phải biết cái giả. Muốn biết cái giả phải
dùng trí tuệ Bát-nhã quán chiếu. Chúng ta quán thấy các pháp là duyên hợp hư giả,
nhưng không phải là bi quan, vì chúng ta biết rõ cái giả để nhận ra cái thật, chớ
không phải để chán. Nếu không nhận ra cái thật thì người ta có thể bi quan, còn
chúng ta biết ngay cái giả đó có cái thật, như vậy sự tu mới đưa chúng ta đến chỗ
viên mãn cứu kính. Ngài dạy rằng được giải thoát như thế là được Bát-nhã tammuội, đó là vô niệm.
Sao gọi là vô niệm ? Nếu thấy tất cả pháp mà tâm không nhiễm trước, ấy là
vô niệm.
Thật là đơn giản ! Vô niệm là gì ? Thấy tất cả pháp mà tâm không nhiễm.
Không nhiễm trước là không dính, không mắc. Thấy người, thấy vật, thấy đủ cả,
biết rõ ràng mà không dính mắc nơi người, nơi vật, đó là vô niệm. Còn dính là có
niệm. Suy nghĩ về người, về vật thì sự suy nghĩ đó làm cho chúng ta có niệm
thương ghét… đó là chúng ta dính mắc. Thế nên khi chúng ta thấy tất cả mà không
suy nghĩ việc đó thế này, thế kia v.v… thì đó là vô niệm. Nếu vô niệm thì thế nào ?
Dụng tức khắp tất cả chỗ, cũng không dính mắc tất cả chỗ, chỉ thanh tịnh
nơi bản tâm, khiến sáu thức ra sáu cửa đối trong sáu trần không nhiễm không tạp,
đi lại tự do, thông dụng không kẹt tức là Bát-nhã tam-muội, tự tại giải thoát gọi là
vô niệm hạnh.
Ngài dạy thật là cụ thể. Ngài bảo rằng đối với tất cả pháp mà tâm không
nhiễm, không trước, đó là vô niệm; vì không nhiễm không trước nên dụng khắp tất
cả chỗ nhưng không dính mắc ở tất cả chỗ, chỉ bản tâm mình thanh tịnh. Khi bản
tâm thanh tịnh thì sáu thức ra sáu cửa: Lỗ tai có cái biết của lỗ tai, con mắt cũng có
cái biết của con mắt… , sáu thức ra vào đối tiếp với sáu trần nhưng không dính,
không lẫn trong sáu trần, đi lại tự do, như vậy gọi là Bát-nhã tam-muội. Đừng
nghe nói tam- muội là chánh định rồi tưởng rằng ngồi một chỗ, ngó xuống, tâm
yên hết thì gọi là chánh định Bát-nhã. Làm thế nào sáu căn tiếp xúc sáu trần vẫn
có sáu thức phân biệt, nhưng không dính, không kẹt lẫn trong sáu trần thì đó là
Bát-nhã tam-muội. Như vậy tu Bát-nhã tam-muội dễ hay
khó ? Đâu có bắt chúng ta ngồi một chỗ kềm cho được yên lặng rỗng rang, chỉ làm
sao sáu căn tiếp xúc với sáu trần, có sáu thức theo đó nhưng không dính không kẹt
với sáu trần, đó là Bát-nhã tam-muội. Như thế quí vị có thể cả ngày đi ngoài
đường ngoài chợ mà vẫn Bát-nhã tam-muội như thường. Trái lại nếu bị dính mắc
thì hết tam-muội ! Đấy sự tu hành rõ ràng như thế, nên Ngài nói “khiến cho sáu
thức ra sáu cửa tiếp xúc sáu trần mà không nhiễm, không tạp, đi lại tự do, thông
dụng không kẹt, đó là Bát-nhã tam-muội, tự tại giải thoát gọi là vô niệm hạnh”.
Như vậy không dính không mắc rồi giải thoát tự tại đó gọi là vô niệm hạnh, nghĩa
là cái hạnh vô niệm. Trong khi hành động đối với mọi cảnh, mọi người chúng ta
hằng sống trong vô niệm. Đến đây Ngài mới quở chỗ bệnh:
Nếu trăm vật chẳng nghĩ, chính khi đó khiến cho niệm bặt đi, ấy là pháp
phược, ấy gọi là biên kiến. Qua đoạn này quí vị thấy lối tu của Lục Tổ rõ ràng khác với lối tu của
những người kềm giữ. Ngài nói rằng nếu trăm vật chẳng nghĩ tức là mình chối bỏ
tất cả không dám thấy, không dám biết gì hết, chỉ ngồi một chỗ kềm, đè tâm mình
xuống không cho nó nhớ nghĩ điều gì, chính khi ấy khiến cho niệm bặt đi, nếu
khiến cho niệm bặt là pháp phược. Pháp phược là bị pháp trói. Nghe nói tâm mình
thanh tịnh không động, chúng ta cứ đè cho nó thanh tịnh, không động thì đó là bị
pháp trói, đó là biên kiến chớ chưa phải thấy đạo. Đoạn này phải hiểu kỹ để quí vị
khỏi đâm ra nghi ngờ. Vậy Lục Tổ cho nghĩ hay không cho nghĩ ? Như ngồi suy
nghĩ ông A sớm mai nói cái gì, cô B ban chiều nói điều gì, nghĩ việc này việc kia
v.v… cho là đúng. Chỗ này tôi thấy dễ bị lầm lắm. Tổ bảo trăm vật không nghĩ tức
đè cho niệm bặt đó là biên kiến. Như vậy chúng ta tu thế nào để không phải là biên
kiến ? Tức là phải tu “vô niệm” như Ngài dạy, nghĩa là thấy nghe tất cả mà không
dính không mắc với tất cả. Có người khi ngồi thiền nghe tiếng nói bên ngoài họ sợ
lắm, cho rằng nghe tiếng là động, thấy bóng người đi qua cũng sợ, họ cố đừng
nghe đừng thấy để đè tâm xuống, như vậy là biên kiến. Còn chúng ta ngồi thiền thì
cứ ngồi, người ta nói chúng ta cũng nghe, nhưng không suy nghĩ xem người đó nói
cái gì, khen ai, chê ai… nghe thì biết mình đang nghe. Có ai đi tới cũng thấy và
biết mình đang thấy, chớ không có cái “không biết”. Thành ra hai việc khác nhau,
tôi nói cho quí vị đừng lầm. Nếu ngồi thiền mà sợ tiếng, sợ thấy, sợ tất cả, chỉ đè
tâm mình xuống cho nó lặng, như vậy chỉ có một cách đè thôi, nên không có cái
giác. Trái lại chúng ta ngồi thiền mà hằng giác, tai nghe, mắt thấy, tất cả cơ quan
đều có cảm giác, nhưng không chạy theo trần cảnh bên ngoài. Người ta nói cái gì
mình cũng nghe, biết mà không chạy theo, suy nghĩ thêm cái đó hay dở ra sao, như
vậy không phải là trăm vật không nghĩ. Chỗ này rất tế nhị và đa số người tu hay bị
kẹt trong hai trạng thái: hoặc là không nghĩ tức là đè, hoặc là nghĩ tức là suy nghĩ
đủ thứ… Chúng ta thường bị kẹt vào một trong hai điều đó, chớ không chịu ở
khoảng giữa như Lục Tổ dạy. Chỗ Lục Tổ dạy là thấy nghe đều biết mà không
chạy theo, nghe nói vẫn biết câu nói đó thế nào, người nói là nam hay nữ, biết rõ
ràng nhưng không thêm cái gì trong câu đó; thấy người đi biết người, thấy vật biết
vật, thấy cái gì biết cái ấy nhưng không thêm điều gì trong cái thấy đó. Như vậy
ngồi thiền vẫn tỉnh, vẫn sáng không có đè; hằng thấy hằng biết nên là tỉnh, vì tỉnh
nên với tâm đó mình không bao giờ mất. Nếu chúng ta chỉ đè cho nó lặng xuống
thì một lúc coi như cây khô; nếu nó lặng được như cây khô là vô tri vì không nghe,
không thấy, không biết gì cả, như ngồi chết khô. Cái đó là một sức mạnh nhưng
chính là định của Tiểu thừa, thường trong kinh Đại thừa Phật quở là trầm không
trệ tịch. Còn cái định của Thiền tông, định mà như không định. Người ta nói mình
nghe rõ ràng, nói tiếng nào mình biết tiếng ấy, người ta đi tới đi lui mình thấy rõ
ràng nhưng không chạy theo, đó là định. Bởi vì tâm không dấy khởi, đó là định,
không dấy khởi mà hằng tri hằng giác, đó mới là quí. Chỗ mà Lục Tổ dạy đây là
sáu căn tiếp xúc với sáu trần, sáu thức vẫn ra tiếp nhưng không dính, không mắc
với sáu trần, đó là định, đó là vô niệm, chớ không phải đè là vô niệm. Vì vậy nếu
tu theo Lục Tổ thì ít có dịp ngồi thiền lắm. Khi Lục Tổ còn ở đời, có lần thấy một
ông Tăng ngồi thiền nơi hành lang, Ngài đến kê miệng vào tai thổi phèo một cái; lại một lần khác Ngài thấy một vị Tăng ngồi thiền ở một góc vườn, Ngài cầm gậy
đập. Nhưng sau này các Tổ thấy chúng ta không thực hành nổi lời dạy của Lục Tổ,
sáu căn của chúng ta vừa tiếp xúc thì nó chạy ra hòa với sáu trần rồi, nó dẫn chúng
ta chạy mãi nên chư Tổ bắt ngồi lại cho đỡ một chút. Nhưng việc ngồi của chúng
ta khác hơn, là khi ngồi không có đè, cũng không bặt hết không biết gì, mà là hằng
biết tất cả vật nhưng không chạy theo, nghĩa là kia nói “bách vật bất tư” còn chúng
ta “bách vật hằng tri” nhưng không chạy theo vật nào cả, như thế mới đúng với lời
dạy của Lục Tổ. Hiểu như thế, chúng ta mới thấy Lục Tổ chỉ phương pháp tu rất là
đơn giản, rất là thẳng tắt, đường lối của Lục Tổ là ngay trong cuộc sống hiện tại,
chúng ta hằng hoạt động mà hằng tu, chớ không phải ngồi một chỗ mới tu. Sáu
căn tiếp xúc sáu trần, sáu thức vẫn ra nhưng không bị dính, bị kẹt, đó là thông suốt,
mà thông suốt như vậy gọi là vô niệm hạnh.
Này Thiện tri thức, người ngộ được pháp vô niệm thì muôn pháp đều thông,
người ngộ được pháp vô niệm thì thấy cảnh giới của chư Phật, người ngộ được
pháp vô niệm thì đến địa vị Phật.
Trong đoạn này Tổ khen ngợi pháp môn vô niệm. Người ngộ được pháp
môn vô niệm thì muôn pháp đều thông, nghĩa là pháp nào cũng thấu suốt được.
Vậy muốn đến địa vị Phật, muốn thấy được cảnh giới Phật và muốn thông được tất
cả pháp thì phải tu vô niệm. Vô niệm là gì ? Đoạn trước đã giảng vô niệm là đối
với tất cả cảnh, tất cả xứ, trong tất cả thời mà không dính mắc. Vô niệm là như vậy
và người được như thế là thông tất cả pháp, là thấy được cảnh giới Phật, là đến
được quả vị Phật. Như vậy quí vị thấy thành Phật hình như không khó. Bởi vì đối
với tất cả cảnh mình không dính mắc là được, nhưng không hiểu tại sao chúng ta
không chịu như thế, mà cứ dính mắc hoài ! Đâu cần thêm điều gì, chỉ đừng dính,
đừng mắc là được. Vì vậy khó là tại chúng ta dính mắc, chớ nếu y lời Tổ dạy, gặp
tất cả cảnh mà không dính mắc thì cảnh giới Phật đâu còn khó đối với mình.
Này Thiện tri thức, đời sau người được pháp của ta, đem pháp môn đốn
giáo này, đối với hàng người đồng kiến đồng hành phát nguyện thọ trì như là thờ
Phật.
Ngài nói thêm cho chúng ta biết về sau những người được pháp môn đốn
giáo này tức là pháp môn vô niệm do Tổ dạy, nên đem pháp môn ấy đối với người
mà truyền bá, đối với người đồng tu hành và phát nguyện thọ trì pháp môn đốn
giáo này, những người truyền pháp môn đốn giáo này thì mình thờ kính như là thờ
kính Phật.
Cố gắng tu thân không dám lui sụt thì quyết định vào quả vị Thánh; nhưng
phải truyền trao, từ trước đến giờ, thầm truyền trao phó chớ không được giấu kín
chánh pháp.
Ngài bảo tất cả chúng ta khi nhận hiểu được pháp môn đốn giáo này rồi,
phải y theo sự truyền thừa của các bậc tiền bối mà truyền lại cho kẻ hậu lai, không
được ẩn giấu pháp môn này.
Nếu không phải là hàng đồng kiến đồng hành, ở trong pháp môn khác thì
không được truyền trao, e tổn tiền nhân kia, cứu kính vô ích, sợ người ngu không
hiểu, chê bai pháp môn này rồi trăm kiếp ngàn đời đoạn chủng tánh Phật. Đoạn trước nói gặp người đồng kiến đồng hành, đây nói trường hợp không
phải đồng kiến đồng hành. Chữ tiền nhân kia, ở đây có hai ý: Tiền nhân là người
trước, người hiện đối mặt với mình cũng là người trước, hoặc người thuộc quá khứ
cũng là người trước, trong đoạn này cả hai đều có nghĩa. Đối với người trước như
bậc tôn túc của chúng ta chỉ cho chúng ta pháp môn đốn giáo, pháp đó cao, nay
chúng ta đem chánh pháp cao quí như vậy dạy người trình độ thấp quá, không hợp
nên họ khinh lờn, như vậy là làm cho giá trị người trước bị tổn giảm, đó là tại
chúng ta sai. Đối với người đối diện mình, nếu họ không hiểu nổi pháp môn đốn
giáo, tỉ dụ họ chỉ cần Thầy dạy tu thế nào để đời sau họ sung sướng hơn đời này,
mà chúng ta dạy việc giải thoát, pháp vô niệm thì họ không hiểu gì cả. Như vậy
không có lợi cho họ, không đúng điều họ muốn, dĩ nhiên họ đâm ra chán khinh
pháp cao cả của Phật Tổ, khinh pháp là có tội cũng là tổn giảm cho họ. Thế nên cả
hai đều có tổn giảm. Nhưng ở đây chữ tiền nhân chỉ cho người đối diện nhiều hơn,
vì những câu sau Ngài nói “cứu kính vô ích” nghĩa là chúng ta trao pháp cho họ
rồi làm tổn hại tiền nhân kia, cứu kính là vô ích. “Sợ người ngu không hiểu, chê
bai pháp môn này rồi trăm kiếp ngàn đời đoạn chủng tánh Phật”. Như vậy hình
như nhắm vào người đối diện nhiều hơn. Vì e họ không hiểu rồi khinh chê làm cho
trăm kiếp ngàn đời đoạn chủng tánh Phật. Tại sao ? Ngay nơi tâm mình tức là Phật,
mê là chúng sanh, ngộ là Phật, nay không hiểu, chê pháp đó là sai thì chừng nào
họ tìm ra Phật ? Ngay nơi tâm mình đã có Phật mà không chấp nhận thì bao giờ
tìm ra Phật ? Thế nên đó là làm cho họ trăm kiếp ngàn đời đoạn chủng tánh Phật.
Này Thiện tri thức, tôi có một bài tụng Vô tướng, mỗi người phải tụng lấy,
người tại gia, người xuất gia chỉ y đây mà tu, nếu không tự tu, chỉ ghi nhớ lời của
tôi thì cũng không có ích gì. Nghe tôi tụng đây.
Tổ dạy chung không dạy riêng cho giới nào. Tại gia hay xuất gia, nếu hiểu
được, y như vậy tu đều có lợi, chớ đừng nhớ lời dạy, nhớ suông không có ích gì.
Nhưng đa số chúng ta hiện nay hay thuộc lòng, nghe Tổ nói bài tụng hay quá, cứ
học thuộc làu mà không chịu tu gì cả.
Tiếp theo giải thích từng đoạn bốn câu của bài tụng:
Thuyết thông cập tâm thông,
Như nhật xử hư không,
Duy truyền kiến tánh pháp,
Xuất thế phá tà tông.
Thuyết là chỉ cho giáo lý, tâm chỉ cho Thiền. Mở đầu bài tụng Ngài bảo:
Người học đạo nếu thông cả hai mặt thuyết và tâm thì chẳng khác nào mặt trời ở
giữa hư không. Ngôn ngữ thông, tâm thể cũng thấy được, thì người đó như mặt
trời ở giữa hư không, rọi sáng khắp mọi nơi. Chỉ truyền pháp kiến tánh, ra đời phá
tà tông. Chủ yếu của Lục Tổ là truyền pháp thấy tánh (kiến tánh thành Phật), pháp
đó ra đời để phá những tông tà lệch. Như vậy là nói lập trường, chủ trương của
Ngài, nghĩa là bao nhiêu pháp Ngài chỉ dạy nhắm thẳng chỗ kiến tánh, nếu không
kiến tánh thì chưa đúng chỗ Ngài muốn dạy, kiến tánh tức là nhận ra mình có bản
tánh.
Pháp tức vô đốn tiệm, Mê ngộ hữu trì tật,
Chỉ thử kiến tánh môn,
Ngu nhân bất khả tất.
Ngài bảo pháp không chia là đốn hay tiệm, pháp chỉ như vậy, nhưng đốn
tiệm là tùy theo căn cơ của người. Vì có người mê, có người ngộ nên có mau, có
chậm; mau gọi là đốn, chậm gọi là tiệm. Sở dĩ pháp thành đốn tiệm là tùy căn cơ
mê ngộ của người. Nhưng pháp kiến tánh này người ngu không thể hiểu. Tại sao ?
Bởi vì chỉ thẳng bản tánh cho họ, nếu họ mê không nhận thì làm sao hiểu được.
Thế nên phải nhận ra được bản tánh mình mới hiểu được pháp của Tổ dạy.
Thuyết tức tuy vạn ban,
Hiệp lý hoàn quy nhất,
Phiền não ám trạch trung,
Thường tu sanh tuệ nhật.
Nói tuy có muôn thứ nhưng hợp với lý, trở về lý thì chỉ có một. Ở trong nhà
tối phiền não, thường phải sanh mặt trời trí tuệ. Ngài nói về danh ngôn thì có
muôn thứ, nhưng về lý thật thì chỉ có một, chớ không có nhiều. Dụ như hiện nay
chúng ta học nào là Chân tâm, Phật tánh, nào là Niết-bàn, Chân như v.v… tên thì
cả trăm, nhưng về lý thì chỉ một sự thật đó thôi, chớ không có cái khác. Vì tùy chỗ
mà đặt tên nên kinh luận đặt rất nhiều tên gọi là thuyết, tức là trên danh ngôn, chớ
đến chỗ chân thật chỉ có một, nên nói lý thì trở về một. Điểm quan trọng nhất là
ngay trong nhà tối phiền não, chúng ta phải làm sao cho mặt trời trí tuệ xuất hiện.
Đó mới là việc quan trọng trong sự tu hành. Hiện nay nhà chúng ta tối hay sáng ?
Tối thì phải cho mặt trời trí tuệ mọc lên sẽ hết tối, chớ không có gì khác.
Tà lai phiền não chí,
Chánh lai phiền não trừ,
Tà chánh câu bất dụng,
Thanh tịnh chí vô dư.
Tà đến thì phiền não theo đó sanh, chánh đến thì phiền não hết. Tại sao tà
lai phiền não chí ? Ví như trước mặt chúng ta có người để một vật quí, xong họ đi
vắng. Nếu khi ấy chúng ta dấy niệm tà thì thế nào ? Bao nhiêu phiền não từ đó
sanh. Nếu cũng vật đó, người chủ vắng mặt, nhưng chúng ta có niệm chánh thì
phiền não hết. Như chúng ta vừa có niệm tà, muốn có vật quí ấy thì phiền não dấy
lên; nếu niệm chánh đến, chúng ta tự trách sao mình lại xấu như vậy thì bao nhiêu
phiền não cũng theo đó hết. Như vậy chỉ có một niệm thôi, nhưng sai đi thì bao
nhiêu phiền não dẫn đến. Thế nên trong kinh thường nói “Nhất ba tài động vạn ba
tùy”, tức là một lượn sóng vừa nổi lên, muôn lượn sóng kéo theo. Cũng thế, một
niệm sai thì bao nhiêu niệm khác dẫn, cho nên vừa có một niệm sai là phải dẹp và
phiền não cũng theo đó dứt, như vậy là lấy chánh độ tà. Trong tương đối phải như
thế, nhưng đến chỗ cứu kính thì sao ? Cả tà lẫn chánh đều không dùng, mới hoàn
toàn thanh tịnh không còn thừa gì nữa cả. Vậy là tu từ cái đối đãi, lần lần đến chỗ
vượt khỏi đối đãi. Hiện nay chúng ta trong giai đoạn đầu khéo ứng dụng cái đối
đãi mà tu, rồi lần lần sẽ đi tới chỗ hết đối đãi. Tóm lại, Ngài chỉ cho chúng ta tu từcái đối đãi, khéo tu thì phiền não hết, rồi cả hai bên tà chánh đều buông thì lúc đó
mới là hoàn toàn thanh tịnh.
Bồ-đề bản tự tánh,
Khởi tâm tức thị vọng,
Tịnh tâm tại vọng trung,
Đãn chánh vô tam chướng.
Bồ-đề là giác, cái giác đó ở đâu ? Vốn là tự tánh của mình. Giác vốn không
phải cái gì xa, mà ngay nơi tự tánh của chúng ta, cho nên kiến tánh là thấy Bồ-đề,
là giác. Khởi tâm tức là vọng. Như vậy tự tánh hằng tri hằng giác là Bồ-đề, vừa
dấy niệm lên là vọng. Tâm tịnh ở trong vọng, chỉ ngay đó mà chánh lại thì không
có ba chướng. Ba chướng là gì ? Là nghiệp chướng, phiền não chướng, báo
chướng. Nghiệp chướng là những thói quen, việc làm của mình. Thí dụ như chúng
ta quen hút thuốc, ngày nào không có thuốc thì ngáp tới ngáp lui đó là nghiệp
chướng, vì cái nghiệp quen hút thuốc nay thiếu, nó sanh chướng làm phiền mình.
Đó là nói nghiệp nhỏ, nghiệp lớn cũng vậy. Phiền não chướng tức tham sân si. Báo
chướng tức là thân bệnh hoạn, muốn tu, muốn làm lành làm công đức, nhưng cứ
bệnh mãi nên tu không được. Đa số người tu hiện nay bị ba chướng làm khổ sở
làm trở ngại, có người thì bị nghiệp chướng thói quen dẫn chạy hoài, dừng không
nổi; có người bị phiền não chướng, mỗi lần nghe người nói thế này, thế kia là nổi
sân lên; có người không có hai chướng trên nhưng thân cứ đau mãi. Nay muốn hết
ba chướng, phải làm sao ? Phải ngay trong vọng mà tâm mình thanh tịnh thì ba
chướng hết, nghĩa là những vọng tưởng lặng, tâm thanh tịnh hiện thì chướng dứt.
Vì sống với tâm thanh tịnh thì không có báo chướng, cũng không có nghiệp
chướng, cũng không cả phiền não chướng. Trái lại sống với thân này là bị báo
chướng, nghiệp chướng… Tóm lại, Ngài chỉ cho chúng ta biết rõ bản tánh mình là
Bồ-đề, bản tánh mình là cái hằng tri hằng giác sẵn có. Chưa dấy niệm thì bản tánh
đó là Bồ-đề, vừa dấy niệm là vọng, vọng lặng, tâm thanh tịnh thì thoát khỏi ba
chướng. Thật dễ dàng như vậy đó !
Thế nhân nhược tu đạo,
Nhất thiết tận bất phòng,
Thường tự kiến kỷ quá,
Dữ đạo tức tương đương.
Người đời nếu muốn tu hành thì tất cả trọn không có chướng ngại. Ai tu
cũng được cả, nhưng muốn tu hành cho dễ, trước thường tự thấy lỗi mình. Nếu
thường thấy lỗi của mình tức là hợp với đạo. Trên thế gian này ai cũng tu được cả,
không có lựa người nào, nhưng muốn tu cho gần với đạo là phải thường thấy lỗi
của mình. Thí dụ như đang đi, vừa khởi một niệm gì liền biết niệm là sai, dừng nó
lại, thường thấy như vậy là cùng đạo tương đương. Trái lại, thì cùng đạo không
tương đương.
Sắc loại tự hữu đạo,
Các bất tương phòng não.
Ly đạo biệt mích đạo,
Chung thân bất kiến đạo. Các loại có hình sắc tự có đạo, mỗi cái không phòng não nhau, không làm
chướng ngại nhau, nếu lìa đạo riêng tìm đạo, tức lìa sắc loại v.v… tìm đạo thì trọn
đời không bao giờ thấy đạo. Tại sao sắc có đạo ? Thí dụ như cái đồng hồ này có
đạo không ? Nếu thấy đồng hồ mà chúng ta không dấy niệm gì cả thì có đạo, còn
nếu thấy đồng hồ mà sanh niệm xấu tốt thì không có đạo. Như vậy trên thế gian
này tất cả hình sắc đều không có gì chướng ngại, không có lỗi lầm, chỉ tại tâm
chúng ta chạy theo cảnh nên thành chướng ngại, thành lỗi lầm. Nếu tâm không
theo cảnh thì cảnh đâu có lỗi lầm gì, khi ấy thấy cái gì cũng là thấy đạo cả, cho
nên gọi là “Kiến sắc minh tâm”, thấy sắc biết là mình có cái hay thấy tức nhiên là
thấy đạo rồi ! Như vậy cái gì không phải đạo ? Đâu phải thấy đạo là không thấy gì
cả, nhà cửa cây cối người vật đều là hiện tướng của đạo, nếu tâm mình thấy mà
không dính không mắc. Trái lại nếu tâm mình dính mắc thì đó là chướng ngại, chớ
không phải là đạo. Thế nên, nói tất cả sắc loại đều là đạo. Chúng ta thường nói:
Thế gian này trần tục lắm, cái gì cũng không có đạo lý hết, khó tu lắm ! Phải đi
đâu tu mới hết thấy người, thấy cảnh ? Lên trên núi ở một mình nhưng hết gạo
cũng phải xuống núi gặp người thế gian, quần áo rách rưới cũng phải xuống thế
gian… như vậy trốn ở đâu bây giờ ? Sao bằng ngay trong thế gian này chúng ta
thấy tất cả đều là đạo, như thế mới tu được, chớ trốn tất cả cảnh để cầu đạo thì khi
nào được ? Vì thế Tổ bảo: Ly đạo biệt mích đạo, Chung thân bất kiến đạo, tức là
lìa đạo, lìa cái hiện hữu ở đây đi tìm đạo nơi nào khác thì trọn đời không bao giờ
thấy đạo. Có nhiều người tu không bao giờ hài lòng, ở thành thị thì nói thành thị
ồn quá, muốn đến thôn quê ở, về thôn quê cũng thấy những cái phiền của thôn quê,
muốn vào trong núi cũng gặp những cái phiền của núi… Sự thật đi suốt kiếp cũng
không có chỗ nào như ý mình được, vì mỗi chỗ có cái phiền khác nhau, chỉ là
ngay đó chúng ta đừng dính đừng kẹt thì đó là đạo, đạo ngay trong thế gian.
Ba ba độ nhất sanh,
Đáo đầu hoàn tự áo,
Dục đắc kiến chân đạo,
Hạnh chánh tức thị đạo.
“Ba ba độ nhất sanh” tức là lăng xăng qua một đời, nay ở chỗ này, mai dời
chỗ kia, trọn một đời chưa tìm được chỗ ở. “Đáo đầu hoàn tự áo” là rốt cuộc rồi
cũng tự phiền, tự buồn, không hài lòng. Muốn thấy đạo chân thật, hạnh chánh đó
là đạo rồi, chớ không tìm đâu cả, nghĩa là trong mọi cảnh chúng ta đừng dính mắc
bên này bên kia thì đó là đạo. Ngay cái chánh này là đừng dính mắc hai bên có
không, phải quấy, tốt xấu, thì ngay đó là đạo. Trái lại nếu chúng ta còn có tâm
niệm dính mắc, dù chạy vào rừng hay lên núi lên non cũng không bao giờ thấy đạo.
Như vậy là quá rõ ! Chúng ta phải biết như vậy mà tu. Có những người cứ lăng
xăng nay chỗ này mai nơi kia để tìm đạo, rốt cuộc làm gì có đạo. Thế nên Ngài
dạy lăng xăng qua một đời, cuối cùng rồi tự phiền muộn; muốn thấy đạo chân thật
không gì hơn là hạnh đúng đắn tức là hạnh không kẹt vào bên này hoặc bên kia thì
đạo hiện tiền.
Tự nhược vô đạo tâm,
Ám hạnh bất kiến đạo, Nhược chân tu đạo nhân,
Bất kiến thế gian quá.
Ám hạnh tức là hạnh mờ tối. Tổ dạy vì trong tâm mình không có đạo nên
hạnh mình mờ tối, do đó không thấy đạo. Nếu người chân chánh tu hành thì không
thấy lỗi của thế gian. Trong đoạn trước Ngài bảo người nào không thấy lỗi của kẻ
khác thì người đó gần với đạo, tương đương với đạo. Trong đoạn này Ngài nhắc
người chân chánh tu hành là không thấy lỗi thế gian. Còn chúng ta hiện nay thế
nào ? – Thấy lỗi người nhiều quá ! Ở chung năm, ba chị em thì chị nào cũng có lỗi
cả. Ngồi lại nói chuyện với người khác thì chị số một lỗi này, chị số hai lỗi kia, chị
số ba lỗi nọ… chỉ có mình là không kể lỗi. Vì thấy lỗi thế gian nhiều quá nên
không làm sao gần đạo được. Thế nên Ngài dạy người tu hành chân chánh phải
không thấy lỗi của thế gian.
Nhược kiến tha nhân phi,
Tự phi khước thị tả,
Tha phi ngã bất phi,
Ngã phi tự hữu quá.
Trong đoạn này Ngài chỉ thẳng cho chúng ta thấy căn bản của sự tu hành.
Nếu thấy lỗi của người khác thì lỗi của chính mình đã tới bên tả, tức là bên cạnh
rồi. Người khác quấy, ta chẳng quấy, ta quấy tự nhiên ta có lỗi. Nếu cứ thấy lỗi
người này người kia, đến đâu cũng kể lỗi người tức mình đã có lỗi, lỗi của mình
đã sờ sờ đó rồi ! Điều đó dễ hiểu lắm. Người lỗi ta chẳng lỗi, ta quấy tự ta có lỗi.
Tại sao người lỗi mà ta không lỗi ? Tức là người đó có cái dở, nhưng là chuyện
của họ, chúng ta đừng can thiệp vào, như vậy họ có lỗi mà ta không lỗi. Tại sao cả
ngày chúng ta cứ làm việc thiên hạ, đi xóm này nói chuyện của xóm kia, đi xóm
kia nói chuyện của xóm này. Chúng ta không tự thấy lỗi mà cứ thấy lỗi của người,
rồi chen vào việc của họ, nếu chúng ta chen vào lỗi của người thì ta thành có lỗi.
Nếu chúng ta có lỗi thì tự thấy rồi tự sửa, tại sao chỉ thấy lỗi của người rồi đem
mách người này người kia chi cho thêm phiền, cho thành lỗi ? Thật ra hầu hết
chúng ta đều có bệnh hay đem chuyện người ra nói, còn chuyện của mình, điều
hay thì nói, điều dở thì giấu kín, từ đó sanh ra tự cao. Vì thấy người có lỗi nên ai
cũng thua mình, còn lỗi mình thì giấu mất nên thấy mình cao hơn thiên hạ, đó là
ngã mạn. Trái lại, chúng ta thấy lỗi mình thì đâu có tự cao, đâu dám tự xưng ta
hơn người; không thấy lỗi người thì đâu dám xem người thấp, đâu biết ai dở mà
dám khi, như vậy ngã mạn theo đó hết. Việc tu hành tế nhị như vậy, nếu thấy lỗi
người mà không thấy lỗi mình thì sanh ngã mạn, đó là bệnh làm cho người tu bị
chướng ngại.
Đãn tự khước phi tâm,
Đả trừ phiền não phá,
Tắng ái bất quan tâm,
Trường thân lưỡng cước ngọa.
Tổ nói thật là dễ dàng, chỉ tự mình dẹp lỗi nơi tâm mình, trừ hết các phiền
não, yêu ghét đều không bận lòng thì duỗi thẳng hai chân ngủ. Thương ghét không
có bận lòng thì duỗi thẳng hai chân ngủ khò ! Chúng ta ngủ không được là tại còn thương ghét. Người thương mà xa thì nhớ ngủ không được, người ghét mà gần
cũng tức ngủ không được. Như vậy hai việc làm cho chúng ta ăn không ngon, ngủ
không yên là thương và ghét, nay thương ghét không bận lòng thì duỗi chân ngủ.
Đức Phật cũng đã dạy người nào không bận đến chuyện thương ghét, hơn thua thì
người đó ngủ ngon. Đoạn này Tổ cũng nói như vậy, ai mà yêu ghét không bận
trong lòng thì duỗi thẳng hai chân nằm ngủ. Người đến giờ ngủ, duỗi chân ngủ
khò, đó là người sung sướng. Chắc ai cũng muốn vậy mà làm không được là vì bỏ
hai điều thương ghét chưa được, bỏ không được nên ngủ hết ngon ! Đó là sự thật
trăm phần trăm.
Dục nghĩ hóa tha nhân,
Tự tu hữu phương tiện,
Vật linh bỉ hữu nghi,
Tức thị tự tánh hiện.
Tiếp theo Ngài dạy muốn lợi tha, muốn nghĩ giáo hóa người khác thì tự
mình phải có phương tiện, tức là mình phải thông phải hiểu, như đoạn trước nói
thuyết thông, tâm thông, đó là phương tiện đầu. Muốn giáo hóa người mà mình
chưa có gì cả thì dạy người điều gì ? Nhiều khi dạy không đúng khiến người đi
quàng trong lùm bụi càng khổ hơn, cho nên muốn giáo hóa người thì trước chúng
ta phải có phương tiện, chớ khiến người kia còn nghi ngờ. Dạy là để giải quyết
nghi ngờ cho người thấy đạo, nếu chúng ta dạy mà người càng nghi, không biết
Thầy dạy có đúng lời Phật dạy không, thử hỏi dạy làm gì ? Nếu họ không còn nghi
tức là tự tánh hiện. Chúng ta dạy cho họ hết nghi ngờ, tâm không còn thắc mắc
băn khoăn thì phiền não lặng, phiền não lặng thì tự tánh hiện, đó là căn bản giáo
hóa.
Bốn câu kệ tiếp theo đây, hầu hết người đọc kinh Pháp Bảo Đàn đều thuộc.
Phật pháp tại thế gian,
Bất ly thế gian giác,
Ly thế mích Bồ-đề,
Kháp như cầu thố giác(Có quyển khác ghi là “Kháp như tầm thố giác”.).
Phật pháp ở ngay nơi thế gian này, chớ không ở đâu xa lạ. Không thể lìa thế
gian mà có sự giác ngộ. Đức Phật giác ngộ ngay nơi thân này, cảnh này. Vậy thì
chúng ta giác ngộ cũng là giác ngộ ngay thân cảnh này. Tỉ dụ như ngay trong thân
này chúng ta biết cái nào là giả, cái nào là thật, thấy được chân tánh của mình thì
đó là giác ngộ. Ngay nơi cảnh này chúng ta biết cái gì là tướng duyên hợp, biết rõ
nó thì đó là giác. Như vậy là giác trên cảnh hiện tại, ngay nơi thân hiện tại. Thế
nên nói: Không lìa thế gian mà có giác ngộ, nếu lìa thế gian mà tìm Bồ-đề (tức là
cầu giác ngộ) giống như chúng ta tìm cái sừng của con thỏ. Tìm chừng nào được ?
Chính đoạn này nói lên tinh thần thực tế của Lục Tổ, Ngài chỉ cho chúng ta thấy rõ
sự thật là như thế. Không phải chỉ Lục Tổ mà chư Tổ và cả đức Phật cũng là giác
ngộ ngay nơi cảnh thế gian, vì thế bao nhiêu lời dạy của Phật, bao nhiêu kinh điển
cũng chỉ thẳng cho chúng ta thấy được lẽ thật của cảnh thế gian này. Nếu bỏ thế
gian mà tìm giác ngộ thì đó là chuyện xa xôi, vô nghĩa. Như vậy chủ yếu chúng ta
muốn giác ngộ là phải giác ngộ ngay nơi thế gian. Chánh kiến danh xuất thế,
Tà kiến thị thế gian,
Tà chánh tận đả khước,
Bồ-đề tánh uyển nhiên.
Chánh kiến gọi là xuất thế, tà kiến gọi là thế gian. Tại sao ? Tà kiến là thấy
lệch tức là hiểu lệch, kẹt vào hai bên, hoặc là chấp có chấp không, hoặc là chấp
phải chấp quấy… Chấp lệch một bên là thế gian. Chánh kiến tức là thấy đúng, thấy
không kẹt vào hai bên, đó là xuất thế. Cả hai “chánh” và “tà” đều dẹp hết thì tánh
Bồ-đề hiện rõ ràng không nghi ngờ. Trong những đoạn trước Ngài nói yêu ghét
không bận lòng thì ngủ ngon, hoặc tà chánh đều không dùng thì thanh tịnh đến vô
dư. Trong đoạn này Ngài lặp lại một lần nữa: Cả hai “tà, chánh” đều dẹp thì tánh
Bồ-đề sáng rỡ. Như vậy chúng ta thấy cốt yếu muốn tánh Bồ-đề hiện thì đừng kẹt
hai bên, chớ không có gì lạ.
Thử tụng thị đốn giáo,
Diệc danh đại pháp thuyền,
Mê văn kinh lụy kiếp,
Ngộ tắc sát-na gian.
Bài tụng này gọi là đốn giáo, cũng gọi là thuyền đại pháp, thuyền pháp lớn.
Người mê nghe thì trải qua nhiều kiếp, còn người ngộ nghe thì chỉ trong khoảng
sát-na liền ngộ.
Tóm lại trong bài tụng này Ngài chỉ thẳng cho chúng ta biết rõ đâu là mê,
đâu là ngộ. Tôi giản trạch chủ yếu Ngài dạy chúng ta tu hành là đừng kẹt ở hai bên.
Giai đoạn đầu khi tu phải giữ cái chánh bỏ cái tà, tà đến thì dẹp, chánh đến
thì giữ, dùng chánh phá tà, khi tà hết rồi thì cái chánh cũng phải buông, tà chánh
đều không dùng thì đến chỗ thanh tịnh.
Thứ hai là phải thấy mình chớ đừng thấy người. Thấy lỗi mình nghĩa là
thấy từ vọng tưởng cho đến hành động, ngôn ngữ, điều gì sơ sót mình phải sửa. Tu
là sửa, nếu không thấy lỗi thì làm sao sửa ? Thế nên từ tâm niệm đến thân miệng,
thấy được điều gì sai, điều gì lỗi thì sửa, đó là tu. Trái lại thấy người mà không
thấy mình, đó là lỗi, đó là tạo nghiệp. Vì vậy muốn gần với đạo, người tu phải
hằng thấy mình, đúng tinh thần nhà Thiền gọi là phản quan tự kỷ. Phản quan tức là
soi lại, tự kỷ là chính mình, hằng soi lại chính mình, nhờ soi lại mới thấy mình lỗi,
đó là tu. Chúng ta có tật là hay soi ra ngoài, con mắt luôn nhìn ra, vì thế chỉ thấy
người khác mà không thấy mình. Nay phải nhìn trở vào, soi trở lại mình để thấy
từng hành động, từng tâm niệm, thấy như vậy mới tu được, còn nếu chỉ thấy người
là tu không được. Thế nên người tu Thiền là phải phản quan, đó là gốc của sự tu
hành. Người nào thấy được mình thì cùng với đạo tương đương, tức là gần với đạo.
Điểm thứ ba, Ngài dạy chúng ta tu thì phải hằng dùng tâm chân chánh dẹp
bỏ những tâm tà vạy, nhất là làm sao dứt sạch các thứ phiền não. Muốn dẹp sạch
phiền não thì đừng bận lòng về sự yêu ghét. Yêu ghét không bận lòng thì phiền
não theo đó dứt, trái lại nếu bận lòng về yêu ghét thì phiền não không dứt.
Điểm thứ tư, Ngài chỉ thẳng cho chúng ta thấy tu là tu ngay trong thế gian
này chớ không phải ở nơi nào khác. Ngay trên thế gian mà tỉnh giác đó là tu, nếu bỏ thế gian để tìm nơi huyền bí nào, bỏ thế gian để cầu giác ngộ (thí dụ như xuất
hồn vào trong hư không để tìm đạo) thì đối với Tổ cũng như tìm lông rùa, sừng
thỏ. Phải ngay thế gian mà giác chớ đừng tìm cầu ở đâu xa.
Chúng ta thấy bài tụng tuy dài nhưng có thể tóm lại mấy điểm chánh yếu để
làm then chốt cho sự tu hành. Nếu chúng ta hằng thấy hằng biết như vậy là chúng
ta hằng tu, quí vị nhớ kỹ biết như vậy là tu, chớ không phải thuộc lòng bài tụng
này là tu. Tôi nhắc lại một lần nữa: Yếu chỉ của Ngài dạy chúng ta là đừng thấy lỗi
người mà phải thấy lỗi mình (điểm này tuy ở giữa nhưng đúng ra phải ở đầu) vì
thấy như vậy rất cần thiết cho sự tu, kế đó phải bỏ hai bên, tà chánh đều buông,
tiếp đến cả tắng ái cũng phải dẹp, sau cùng thấy rõ thế gian là đạo, chớ không phải
tìm đạo ở ngoài thế gian.
Tổ lại bảo: “Nay ở chùa Đại Phạm nói pháp đốn giáo này, khắp nguyện cả
pháp giới chúng sanh ngay lời nói này đều được thấy tánh thành Phật”. Khi ấy Vi
Sử quân cùng quan liêu đạo tục nghe Tổ nói, không ai mà chẳng tỉnh ngộ, đồng
thời làm lễ đều tán thán: “Lành thay ! Đâu ngờ ở Lãnh Nam có Phật ra đời !”
Mọi người đều hoan hỉ tán thán: Đâu ngờ ở Lãnh Nam có Phật ra đời. Vì
những lời Tổ nói giống như lời Phật dạy nên khen Ngài cũng như là Phật vậy. Tất
cả không ai mà chẳng tỉnh ngộ, quí vị nghe có tỉnh chưa ? Điều đó là cần đấy !
Phải rán tỉnh !
DPHẨM THỨ BA: NGHI VẤN
DỊCH
Một hôm Vi Thứ sử vì Tổ thiết đại hội trai, trai xong, Thứ sử thỉnh Tổ đăng
tòa, quan liêu sĩ thứ đều thành kính lễ bái, hỏi rằng: “Đệ tử nghe Hòa thượng
thuyết pháp, thật không thể nghĩ bàn, nay có một ít nghi, cúi mong Ngài đại từ đại
bi đặc biệt vì giải nói.”
Tổ bảo: “Có nghi liền hỏi, tôi sẽ vì các ông mà nói.”
Thứ sử thưa: “Hòa thượng nói pháp, đâu không phải là tông chỉ của Tổ
Đạt-ma ư ?”
Tổ bảo: “Đúng vậy !”
Thứ sử thưa: “Đệ tử nghe Tổ Đạt-ma khi mới đến vua Lương Võ Đế, Võ
Đế hỏi: Trẫm một đời cất chùa độ Tăng, bố thí thiết trai có những công đức gì ?
Tổ Đạt-ma bảo: Thật không có công đức. Đệ tử chưa thấu được lẽ này, cúi mong
Hòa thượng vì nói.”
Tổ bảo: “Thật không có công đức, chớ nghi lời của bậc tiên Thánh. Võ Đế
tâm tà, không biết chánh pháp, cất chùa độ Tăng, bố thí, thiết trai đó gọi là cầu
phước, chớ không thể đem phước đổi làm công đức. Công đức là ở trong pháp
thân, không phải do tu phước mà được.” Tổ lại nói: “Thấy tánh là công, bình đẳng
là đức, mỗi niệm không ngưng trệ, thường thấy bản tánh, diệu dụng chân thật gọi
là công đức. Trong tâm khiêm hạ là công, bên ngoài hành lễ phép là đức; tự tánh
dựng lập muôn pháp là công, tâm thể lìa niệm là đức; không lìa tự tánh là công,
ứng dụng không nhiễm là đức. Nếu tìm công đức pháp thân, chỉ y nơi đây mà tạo
là chân công đức. Nếu người tu công đức, tâm tức không có khinh, thường hành
khắp kỉnh. Tâm thường khinh người, ngô ngã không dứt tức là không công, tự
tánh hư vọng không thật tức tự không đức, vì ngô ngã tự đại thường khinh tất cả.
Này Thiện tri thức, mỗi niệm không có gián đoạn là công, tâm hành ngay thẳng là
đức, tự tu tánh là công, tự tu thân là đức. Này Thiện tri thức, công đức phải là nơi
tự tánh mà thấy, không phải do bố thí cúng dường mà cầu được. Ấy là phước đức
cùng với công đức khác nhau. Võ Đế không biết chân lý, không phải Tổ Sư ta có
lỗi.”
Thứ sử lại hỏi: “Đệ tử thường thấy Tăng tục niệm Phật A-di-đà, nguyện
sanh Tây phương, thỉnh Hòa thượng nói, được sanh nơi cõi kia chăng ? Nguyện vì
phá cái nghi này.”
Tổ bảo: “Sử quân khéo lắng nghe, Huệ Năng sẽ vì nói. Thế Tôn ở trong
thành Xá-vệ nói Tây phương dẫn hóa, văn kinh rõ ràng cách đây không xa. Nếu
luận về tướng mà nói, số dặm có mười muôn tám ngàn, tức là trong thân có mười
ác và tám tà, liền là nói xa, nói xa là vì kẻ hạ căn, nói gần là vì những người
thượng trí. Người có hai hạng nhưng pháp không có hai thứ, mê ngộ có khác, thấy
có mau chậm. Người mê niệm Phật cầu sanh về cõi kia, người ngộ tự tịnh tâm
mình, sở dĩ Phật nói: Tùy tâm tịnh liền được cõi Phật tịnh. Sử quân, người phương
Đông chỉ tâm mình tịnh liền không có tội, tuy người phương Tây tâm không tịnh cũng có lỗi. Người phương Đông tạo tội niệm Phật cầu sanh về phương Tây, còn
người phương Tây tạo tội, niệm Phật cầu sanh cõi nào ? Phàm ngu không rõ tự
tánh, không biết trong thân Tịnh độ, nguyện đông, nguyện tây, người ngộ ở chỗ
nào cũng vậy, cho nên Phật nói: Tùy chỗ mình ở hằng được an lạc. Sử quân, tâm
địa chỉ không có bất thiện thì Tây phương cách đây không xa. Nếu ôm lòng chẳng
thiện, niệm Phật vãng sanh khó đến. Nay khuyên Thiện tri thức trước nên dẹp trừ
thập ác tức là đi được mười muôn, sau trừ tám cái tà bèn qua được tám ngàn, mỗi
niệm thấy tánh thường hành bình trực, đến như trong khảy móng tay, liền thấy đức
Phật A-di-đà. Sử quân, chỉ hành mười điều thiện đâu cần lại nguyện vãng sanh,
không đoạn tâm thập ác thì Phật nào đón tiếp. Nếu ngộ được đốn pháp vô sanh,
thấy Tây phương chỉ trong khoảng sát-na. Còn chẳng ngộ, niệm Phật cầu sanh thì
con đường xa làm sao đến được ! Huệ Năng vì mọi người dời cõi Tây phương
trong khoảng sát-na ở trước mắt khiến cho quí vị được thấy, quí vị có muốn thấy
hay chăng ?”
Chúng đều đảnh lễ thưa rằng: “Nếu ở cõi này mà thấy được thì đâu cần
phải nguyện vãng sanh, nguyện Hòa thượng từ bi liền hiện Tây phương khiến cho
tất cả được thấy.”
Tổ bảo: “Này Đại chúng ! Người đời tự sắc thân là thành, mắt tai mũi lưỡi
là cửa, ngoài có năm cửa, trong có cửa ý. Tâm là đất, tánh là vua, vua ở trên đất
tâm, tánh còn thì vua còn, tánh đi mất thì vua mất; tánh ở thì thân tâm còn, tánh đi
thì thân tâm hoại. Phật nhằm trong tánh mà tạo, chớ hướng ra ngoài mà cầu. Tự
tánh mê tức là chúng sanh, tự tánh giác tức là Phật, từ bi tức là Quán Thế Âm, hỉ
xả gọi là Đại Thế Chí, hay tịnh tức là đức Thích-ca, bình trực tức là Phật Di-đà.
Nhân ngã ấy là Tu-di, tà tâm là biển , phiền não là sóng mòi, hại là rồng dữ, hư
vọng là quỉ thần, trần lao là rùa trạnh, tham sân là địa ngục, ngu si là súc sanh.
Này Thiện tri thức, thường làm mười điều lành thì thiên đường liền đến, trừ nhân
ngã thì núi Tu-di ngã, dẹp được tham dục thì biển nước độc khô, phiền não không
thì sóng mòi mất, hại trừ thì rồng cá đều dứt. Ở trên tâm địa mình là giác tánh
Như Lai phóng đại quang minh, ngoài chiếu sáu cửa thanh tịnh hay phá sáu cõi
trời dục, tự tánh trong chiếu ba độc tức liền trừ địa ngục v.v… các tội một lúc đều
tiêu diệt, trong ngoài sáng tột, chẳng khác với cõi Tây phương, không chịu tu như
thế này làm sao đến được cõi kia ?”
Đại chúng nghe nói rồi đều rõ ràng thấy được tự tánh, thảy đều lễ bái, đều
tán thán: “Lành thay !” Thưa rằng: “Khắp nguyện pháp giới chúng sanh nghe một
thời liền ngộ hiểu.”
Tổ bảo: “Này Thiện tri thức, nếu muốn tu hành, tại gia cũng được, không
cần ở chùa, người tại gia mà hay hành như người ở phương Đông mà tâm được
thiện, còn người ở chùa mà không tu cũng như người ở phương Tây mà tâm ác.
Chỉ tâm thanh tịnh tức là tự tánh Tây phương.”
Thứ sử Vi Cừ lại hỏi: “Người tại gia làm sao tu hành ? Cúi xin Ngài vì chỉ
dạy.” Tổ bảo: “Tôi vì Đại chúng làm một bài tụng Vô Tướng, chỉ y đây mà tu,
thường cùng tôi đồng ở không khác, nếu không tu như thế này dù có cạo tóc xuất
gia đối với đạo cũng không có ích gì. Tụng rằng:
Tâm bình không nhọc giữ giới,
Hạnh thẳng không cần tu thiền,
Ân thì nuôi dưỡng cha mẹ,
Nghĩa thì trên dưới thương nhau.
Nhường thì trên dưới hòa mục,
Nhẫn thì các ác không ồn,
Nếu hay dùi cây ra lửa,
Trong bùn quyết mọc sen hồng.
Đắng miệng tức là thuốc hay,
Nghịch tai là lời ngay thẳng,
Sửa lỗi ắt sanh trí tuệ,
Giữ quấy trong tâm không hiền.
Mỗi ngày thường làm lợi ích,
Thành đạo không do thí tiền,
Bồ-đề chỉ hướng tâm tìm,
Đâu nhọc hướng ngoại cầu huyền.
Nghe nói y đây tu hành,
Cực lạc chỉ ngay trước mắt.”
(Tâm bình hà lao trì giới,
Hạnh trực hà dụng tu thiền,
Ân tắc thân dưỡng phụ mẫu,
Nghiã tắc thượng hạ tương lân.
Nhượng tắc tôn ti hoà mục,
Nhẫn tắc chúng ác vô huyên,
Nhược năng toản mộc xuất hoả,
Ứ nê định sanh hồng liên.
Khổ khẩu đích thị lương dược,
Nghịch nhĩ tức thị trung ngôn,
Cải quá tức sanh trí tuệ,
Hộ đoản tâm nội phi hiền.
Nhật dụng thường hành nhiêu ích,
Thành đạo phi do thí tiền,
Bồ đề chỉ hướng tâm mích,
Hà lao hướng ngoại cầu huyền.
Thính thuyết y thử tu hành,
Tây phương chỉ tại mục tiền.)
Tổ lại bảo: “Này Thiện tri thức, thảy phải y kệ đây mà tu hành, nhận lấy tự
tánh, thẳng đó thành đạo. Pháp không đợi nhau, mọi người hãy giải tán, tôi trở về
Tào Khê, chúng nếu có nghi, lại đến hỏi nhau.” Khi ấy Thứ sử quan liêu ở trong hội, kẻ thiện nam tín nữ mỗi người đều
được khai ngộ, tin thọ vâng làm.
GIẢNG
Một hôm Vi Thứ sử vì Tổ thiết đại hội trai, trai xong, Thứ sử thỉnh Tổ đăng
tòa, quan liêu sĩ thứ đều thành kính lễ bái, hỏi rằng: “Đệ tử nghe Hòa thượng
thuyết pháp, thật không thể nghĩ bàn, nay có một ít nghi, cúi mong Ngài đại từ đại
bi đặc biệt vì giải nói.”
Tổ bảo: “Có nghi liền hỏi, tôi sẽ vì các ông mà nói.”
Thứ sử thưa: “Hòa thượng nói pháp, đâu không phải là tông chỉ của Tổ
Đạt-ma ư ?”
Tổ bảo: “Đúng vậy !”
Thứ sử thưa: “Đệ tử nghe Tổ Đạt-ma khi mới đến vua Lương Võ Đế, Võ
Đế hỏi: Trẫm một đời cất chùa độ Tăng, bố thí thiết trai có những công đức gì ?
Tổ Đạt-ma bảo: Thật không có công đức. Đệ tử chưa thấu được lẽ này, cúi mong
Hòa thượng vì nói.”
Tổ bảo: “Thật không có công đức, chớ nghi lời của bậc tiên Thánh. Võ Đế
tâm tà, không biết chánh pháp, cất chùa độ Tăng, bố thí, thiết trai đó gọi là cầu
phước, chớ không thể đem phước đổi làm công đức. Công đức là ở trong pháp
thân, không phải do tu phước mà được.”
Phẩm thứ ba là phẩm Nghi Vấn tức là nếu có những điều nghi ngờ, đem ra
hỏi Lục Tổ.
Điều nghi đầu tiên là khi Tổ Bồ-đề Đạt-ma sang Trung Hoa, đến yết kiến
vua Lương Võ Đế, vua liền hỏi: Trẫm một đời cất chùa độ Tăng, bố thí thiết trai
có những công đức gì ? Tổ Đạt-ma bảo: Thật không có công đức. Chính câu nói
này khiến nhiều người nghi, không biết tại sao làm những điều đó mà không công
đức. Theo sử ghi: Vua Võ Đế thời đó cất mấy trăm ngôi chùa, độ Tăng tu hành rất
đông, thiết trai bố thí và chính nhà vua giảng được kinh. Như vậy Võ Đế cho rằng
những việc làm ấy là đầy đủ công đức, nhưng không ngờ khi hỏi Tổ, Tổ bảo:
Không công đức. Đó là tạt một gáo nước lạnh vào mặt Võ Đế, nhà vua nản quá
không thiết nói chuyện nữa. Vì thế đang đêm Tổ phải lén bỏ đi qua nước Ngụy,
đến chùa Thiếu Lâm, ngồi trong động đến chín năm…
Nhắc lại câu Tổ Đạt-ma trả lời vua Lương Võ Đế, người học Phật chúng ta
không ai không nghi ngờ, cất chùa, độ chư Tăng tu hành, làm nhiều việc phước mà
Tổ bảo không công đức. Thật là vô lý ! Khi làm các việc như vậy, các chùa thường
bảo là công đức vô lượng vô biên, vì sao Tổ Đạt-ma lại nói không công đức ?
Trong phần này Lục Tổ giản trạch: Công đức thuộc về nội tâm, không phải ở bên
ngoài. Công đức là do ngộ đạo đạt được tự tánh, rồi từ tánh khởi dụng, những
dụng ấy gọi là công đức. Còn phước đức là do việc làm bên ngoài mà được, như
cúng dường, bố thí v.v… Vua Võ Đế lầm nghĩa phước đức và công đức là một nên
Tổ nói không công đức. Tổ lại nói: “Thấy tánh là công, bình đẳng là đức, mỗi niệm không ngưng
trệ, thường thấy bản tánh, diệu dụng chân thật gọi là công đức. Trong tâm khiêm
hạ là công, bên ngoài hành lễ phép là đức; tự tánh dựng lập muôn pháp là công,
tâm thể lìa niệm là đức; không lìa tự tánh là công, ứng dụng không nhiễm là đức.
Nếu tìm công đức pháp thân, chỉ y nơi đây mà tạo là chân công đức. Nếu người tu
công đức, tâm tức không có khinh, thường hành khắp kỉnh. Tâm thường khinh
người, ngô ngã không dứt tức là không công, tự tánh hư vọng không thật tức tự
không đức, vì ngô ngã tự đại thường khinh tất cả. Này Thiện tri thức, mỗi niệm
không có gián đoạn là công, tâm hành ngay thẳng là đức, tự tu tánh là công, tự tu
thân là đức. Này Thiện tri thức, công đức phải là nơi tự tánh mà thấy, không phải
do bố thí cúng dường mà cầu được. Ấy là phước đức cùng với công đức khác nhau.
Võ Đế không biết chân lý, không phải Tổ Sư ta có lỗi.”
Thấy tánh tức là đạt được bản tánh mình là công, hành hạnh bình đẳng là
đức. Trong tâm không ngô ngã rồi hành những hạnh cung kính mọi người đó là
công đức v.v…. Như vậy công đức là nhằm thẳng bản tâm mình, ngộ được tự tánh
mình rồi từ đó khởi dụng làm những hành động hợp đạo lý, thuyết pháp độ sanh
hay tu các công hạnh, đó gọi là công đức.
Chúng ta ngày nay hay lầm lẫn cho rằng cất chùa, giúp chư Tăng, bố thí
cúng dường là lập nhiều công đức và tự hào rằng mình làm công đức vô lượng vô
biên cần phải được tán thán, không ngờ làm những việc ấy chỉ là tạo phước đức
mà thôi. Lục Tổ giảng cho Thứ sử Vi Cừ và cả hội chúng hiểu rõ, đừng lầm phước
đức với công đức.
Thứ sử lại hỏi: “Đệ tử thường thấy Tăng tục niệm Phật A-di-đà, nguyện
sanh Tây phương, thỉnh Hòa thượng nói, được sanh nơi cõi kia chăng ? Nguyện vì
phá cái nghi này.”
Điều nghi thứ hai là người tu hành niệm Phật A-di-đà cầu vãng sanh về
Tây phương Cực Lạc, việc ấy như thế nào ?
Tổ bảo: “Sử quân khéo lắng nghe, Huệ Năng sẽ vì nói. Thế Tôn ở trong
thành Xá-vệ nói Tây phương dẫn hóa, văn kinh rõ ràng “cách đây không xa”. Nếu
luận về tướng mà nói, số dặm có mười muôn tám ngàn, tức là trong thân có muời
ác và tám tà, liền là nói xa, nói xa là vì kẻ hạ căn, nói gần là vì những người
thượng trí. Người có hai hạng nhưng pháp không có hai thứ, mê ngộ có khác, thấy
có mau chậm. Người mê niệm Phật cầu sanh về cõi kia, người ngộ tự tịnh tâm
mình, sở dĩ Phật nói: Tùy tâm tịnh liền được cõi Phật tịnh. Sử quân, người phương
Đông chỉ tâm mình tịnh liền không có tội, tuy người phương Tây tâm không tịnh
cũng có lỗi. Người phương Đông tạo tội niệm Phật cầu sanh về phương Tây, còn
người phương Tây tạo tội, niệm Phật cầu sanh cõi nào ?
Tổ giải thích: Niệm Phật cầu sanh về Tây phương là vì người hạ căn; Tây
phương cách chúng ta mười muôn ức cõi, nói xa như vậy là vì kẻ hạ căn. Nếu nói
gần là vì người thượng trí, nói gần là: Tâm mình tịnh là cõi Phật tịnh, nếu tâm
mình thanh tịnh thì ngay đây là Tịnh độ. Như vậy nói xa hay gần là tùy căn cơ,
người mê hay người hạ căn niệm Phật cầu sanh về Tây phương tức về một cõi xa
tít mù; người ngộ hay người thượng trí niệm Phật để tâm thanh tịnh, tâm thanh tịnh tức cõi Phật thanh tịnh, vậy cõi Phật thanh tịnh ở ngay tâm thanh tịnh của
mình.
Tổ lại bảo: Từ đây đến cõi Cực Lạc cách xa mười muôn tám ngàn, là chỉ
cho mười ác và tám tà. Nếu chúng ta hành Thập thiện và tu tám điều chánh (Bát
chánh đạo) là chúng ta qua được mười muôn tám ngàn, đến được cõi Cực Lạc. Cõi
Cực Lạc là do chúng ta hành thiện và thấy đúng, chớ không phải do chúng ta bay
qua không gian đến cõi ấy. Tổ lại nêu vấn đề như chúng ta hiện nay ở cõi Ta-bà
mê lầm tạo tội, nên cố gắng niệm Phật để sanh về Tây phương cho hết tội lỗi; Tổ
bảo người mê tạo tội ở phương Đông, niệm Phật cầu sanh về phương Tây, nếu
người phương Tây lỡ tạo tội, niệm Phật cầu sanh về đâu ? Chẳng lẽ cầu sanh trở
lại phương Đông ? Như vậy điều cần yếu là hết tội chớ không phải cầu sanh về nơi
nào. Nếu chúng ta ở phương Đông mà hết tội thì phương Đông là Cực Lạc; nếu ở
phương Đông tạo tội, cầu về phương Tây, chúng ta mang tâm tham sân si về cõi
Cực Lạc thì cõi Cực Lạc cũng trở thành ô uế. Thí dụ quí Phật tử ở thành phố ồn
náo, lâu lâu lên núi thấy cảnh núi thanh tịnh, mong được lên núi cho thanh tịnh.
Nếu khoảng một trăm vị lên núi, các vị này hay rầy rà gây gổ thì cảnh núi sẽ biến
thành ồn náo như dưới chợ. Như vậy cảnh thanh tịnh là do tâm người thanh tịnh,
sự thanh tịnh cốt ở tâm mình chớ không phải ở cảnh. Chúng ta ngày nay vì yếu
đuối nên ỷ lại, niệm Phật cầu về Cực Lạc; tội lỗi không trừ dẹp, hung dữ vẫn còn,
dù niệm Phật được nhiều chuỗi, thử hỏi có sanh được về cõi kia không ? Trong
kinh A-di-đà có câu: “Bất khả dĩ thiểu thiện căn phước đức nhân duyên đắc sanh
bỉ quốc”, nghĩa là không thể lấy một chút ít phước đức nhân duyên mà được sanh
về cõi kia. Như vậy muốn được sanh về cõi kia, phải đầy đủ phước đức nhân
duyên, tức là ngay đây phải hiền lành, phải thuần thiện mới được. Tổ chỉ thẳng
cho chúng ta phải tịnh tâm mình thì cõi này là Tịnh độ. Nếu không tịnh tâm mà
cầu sanh về cõi kia, điều đó khó thực hiện.
Phàm ngu không rõ tự tánh, không biết trong thân Tịnh độ, nguyện đông,
nguyện tây, người ngộ ở chỗ nào cũng vậy, cho nên Phật nói: Tùy chỗ mình ở
hằng được an lạc. Sử quân, tâm địa chỉ không có bất thiện thì Tây phương cách
đây không xa. Nếu ôm lòng chẳng thiện, niệm Phật vãng sanh khó đến. Nay
khuyên Thiện tri thức trước nên dẹp trừ thập ác tức là đi được mười muôn, sau trừ
tám cái tà bèn qua được tám ngàn, mỗi niệm thấy tánh thường hành bình trực, đến
như trong khảy móng tay, liền thấy đức Phật A-di-đà. Sử quân, chỉ hành mười
điều thiện đâu cần lại nguyện vãng sanh, không đoạn tâm thập ác thì Phật nào đón
tiếp. Nếu ngộ được đốn pháp vô sanh, thấy Tây phương chỉ trong khoảng sát-na.
Còn chẳng ngộ, niệm Phật cầu sanh thì con đường xa làm sao đến được !
Người phàm phu ngu muội không nhận được tự tánh của mình, ngay trong
thân mình đã có sẵn Tịnh độ mà không biết, cứ cầu Tịnh độ ở ngoài. Còn người trí
ngộ được tự tánh của mình, liền thấy tự tánh là Tịnh độ. Nếu chúng ta được chừng
năm phút trong tâm không có niệm thương ghét buồn giận, thì ngay lúc ấy thấy
đây là cõi tịnh. Trái lại nếu trong tâm còn buồn giận thương ghét thì đến chỗ nào
cũng thấy toàn là phiền não. Vì thế chủ yếu của việc tu hành là tịnh ngay tâm mình,
nhận được tự tánh thanh tịnh của mình và sống với nó, đó là Tịnh độ. Người không biết tu, cứ chạy tìm cầu bên ngoài, rốt cuộc không đi đến đâu, vì làm sao
tìm được lẽ thật ở bên ngoài !
Ví dụ như người học trò khôn rán học bài thuộc, đi thi đậu; người học trò
biếng nhác không chịu học bài, khi gần thi lo chạy tìm các thầy giáo năn nỉ xin
giúp đỡ, như vậy làm sao bảo đảm được thi đậu ? Nếu người có thiện chí giúp, ít
nhất chúng ta phải có khả năng tương đương, còn dốt mà muốn thi đậu, việc ấy rất
khó. Sự tu hành cũng như thế, nếu chúng ta không siêng năng hành thiện, dẹp trừ
tội lỗi mà cứ cầu sanh về Cực Lạc, chờ Phật rước, làm sao Phật rước chúng ta về
cõi Phật được, không sợ chúng ta làm nhơ cõi ấy hay sao ? Như hiện nay có người
hung dữ vào chùa xin tu, tuy chúng tôi phải độ người tu hành, nhưng chúng tôi
phải dè dặt vì người hung dữ quá vào chùa làm ồn, chúng tu không được; huống là
cõi Phật thanh tịnh mà đem những người ô uế về làm rối loạn nơi thanh tịnh sao ?
Thế nên phải biết rõ, điều cốt yếu là phải tịnh ngay tâm mình, đó là Tịnh độ.
Huệ Năng vì mọi người dời cõi Tây phương trong khoảng sát-na ở
trước mắt khiến cho quí vị được thấy, quí vị có muốn thấy hay chăng ?”
Chúng đều đảnh lễ thưa rằng: “Nếu ở cõi này mà thấy được thì đâu cần
phải nguyện vãng sanh, nguyện Hòa thượng từ bi liền hiện Tây phương khiến cho
tất cả được thấy.
Tổ bảo: “Này đại chúng ! Người đời tự sắc thân là thành, mắt tai mũi lưỡi
là cửa, ngoài có năm cửa, trong có cửa ý. Tâm là đất, tánh là vua, vua ở trên đất
tâm, tánh còn thì vua còn, tánh đi mất thì vua mất; tánh ở thì thân tâm còn, tánh đi
thì thân tâm hoại. Phật nhằm trong tánh mà tạo, chớ hướng ra ngoài mà cầu. Tự
tánh mê tức là chúng sanh, tự tánh giác tức là Phật, từ bi tức là Quán Thế Âm, hỉ
xả gọi là Đại Thế Chí, hay tịnh tức là đức Thích-ca, bình trực tức là Phật Di-đà.
Nhân ngã ấy là Tu-di, tà tâm là biển độïc, phiền não là sóng mòi, hại là rồng dữ,
hư vọng là quỉ thần, trần lao là rùa trạnh, tham sân là địa ngục, ngu si là súc sanh.
Này Thiện tri thức, thường làm mười điều lành thì thiên đường liền đến, trừ nhân
ngã thì núi Tu-di ngã, dẹp được tham dục thì biển nước độc khô, phiền não không
thì sóng mòi mất, hại trừ thì rồng cá đều dứt. Ở trên tâm địa mình là giác tánh
Như Lai phóng đại quang minh, ngoài chiếu sáu cửa thanh tịnh hay phá sáu cõi
trời dục, tự tánh trong chiếu ba độc tức liền trừ địa ngục v.v… các tội một lúc đều
tiêu diệt, trong ngoài sáng tột, chẳng khác với cõi Tây phương, không chịu tu như
thế này làm sao đến được cõi kia ?”
Đại chúng nghe nói rồi đều rõ ràng thấy được tự tánh, thảy đều lễ bái, đều
tán thán: “Lành thay !” Thưa rằng: “Khắp nguyện pháp giới chúng sanh nghe một
thời liền ngộ hiểu.”
Đến đây Tổ hỏi đại chúng: Các người muốn thấy cõi Cực Lạc không ?
Cả chúng đều hoan nghinh, xin được thấy, nghĩ rằng Tổ có thần thông hiện cõi
Cực Lạc ngay trước mắt. Tổ mới dạy: Muốn thấy cõi Cực Lạc phải ngay nơi tâm
mình thanh tịnh, trừ dẹp những tâm xấu xa ác thì cõi Cực Lạc hiện tiền, không
phải cầu sanh về nơi nào khác. Ngài bảo dẹp tham sân thì địa ngục mất, hết ngu si
thì súc sanh không còn, dẹp phiền não thì sóng mòi lặng, dẹp tâm ác thì biển khô,
dứt ngô ngã thì núi Tu-di ngã. Nếu dẹp sạch được các điều xấu xa nhơ nhớp thì cõi Cực Lạc hiện tiền, không cần chạy đi đâu để tìm Cực Lạc. Thế mà người thế gian
không chịu dẹp cái xấu, cứ một bề đòi về Cực Lạc thì làm sao đến được cõi ấy !
Có nhiều vị tu hành cũng lâu, cũng khá rồi nhưng tâm sân chưa dẹp sạch. Mỗi khi
nghe lời trái tai liền nổi giận rồi bảo: Tánh tôi như vậy ! Nếu thật tánh mình là sân,
như thế là chấp nhận mình ở địa ngục mãi sao ? Đâu biết cái giận chỉ là một thói
quen lâu ngày, biết nó là xấu phải mạnh dạn chừa bỏ, không nên chấp nhận và bảo
đó là tánh của tôi. Điều cốt yếu của sự tu là tịnh tâm mình, tâm mình thanh tịnh rồi,
dù ở đâu cũng là cõi thanh tịnh.
Ví dụ nơi trường học có cậu học trò nhỏ vừa bắt đầu học lớp một, rồi muốn
vào đại học ngay, việc đó được không ? Dù người cai quản đại học có cảm tình
với nó, cũng không thể nào đưa đứa học trò ấy vào đại học được. Đứa học trò phải
học từ từ, xong phần trung học rồi có đủ khả năng mới vào đại học. Việc tu hành
cũng như thế, dù Phật có lòng từ vô lượng, muốn độ chúng ta về cõi Phật, nhưng
nếu chúng ta xấu xa ô nhiễm, thử hỏi Phật có độ về cõi kia được chăng ? Muốn về
cõi Phật, chúng ta phải có đủ khả năng, tức là tâm phải thanh tịnh, thì Phật sẽ đưa
về cõi tịnh, việc ấy là chắc chắn. Tổ lại nói rộng quan niệm của Ngài về việc tu.
Tổ bảo: “Này Thiện tri thức, nếu muốn tu hành, tại gia cũng được, không
cần ở chùa, người tại gia mà hay hành như người ở phương Đông mà tâm được
thiện, còn người ở chùa mà không tu cũng như người ở phương Tây mà tâm ác.
Chỉ tâm thanh tịnh tức là tự tánh Tây phương.”
Như vậy người tại gia mong vào chùa để được yên ổn tu hành, dứt bỏ
những điều xấu dở, nhưng khi vào chùa lại không bỏ những điều xấu dở ấy, vẫn
còn phiền não thì khi ấy sẽ chạy về đâu ? Vì lẽ đó Tổ mới sách tấn chúng ta: Ở đâu
cũng tu được, miễn là biết làm lành, miễn là biết trừ những tâm xấu. Chính việc đó
Tổ đã làm, mười mấy năm Ngài sống chung với nhóm thợ săn dưới hình thức cư sĩ,
tâm Ngài vẫn thanh tịnh. Thế nên Ngài dạy chúng ta ở chùa hay ở nhà mà biết tu
cũng đều tốt, cũng đều quí. Tuy nhiên quí vị không nên hiểu lầm rồi sanh tự cao
ngã mạn nói rằng: “Tôi ở nhà mà làm lành còn hơn các vị ở chùa mà làm ác.” Nếu
các vị ở chùa mà làm lành nữa vẫn còn hơn các vị ở tại gia làm lành một bậc.
Thứ sử Vi Cừ lại hỏi: “Người tại gia làm sao tu hành ? Cúi xin Ngài vì chỉ
dạy.”
Tổ bảo: “Tôi vì đại chúng làm một bài tụng Vô Tướng, chỉ y đây mà tu,
thường cùng tôi đồng ở không khác, nếu không tu như thế này dù có cạo tóc xuất
gia đối với đạo cũng không có ích gì. Tụng rằng:
Tâm bình hà lao trì giới,
Hạnh trực hà dụng tu thiền,
Ân tắc thân dưỡng phụ mẫu,
Nghĩa tắc thượng hạ tương lân.
Người nào tâm bình rồi không nhọc phải giữ giới, hạnh được thẳng rồi
không cần phải tu thiền. Tại sao ? Tâm bình nghĩa là tâm không động, tâm không
động đâu còn tạo nghiệp nữa mà phải trì giới. Tâm bình ví như mặt nước lặng,
bằng phẳng, đâu có sóng gió. Tâm bình đâu có dấy niệm tham sân si. Sở dĩ chúng
ta giữ giới là để ngừa tham sân si, nếu tâm đã bình, đâu còn tham sân si để ngừa ! Thế nên nói: Tâm bình không cần trì giới, hạnh trực không cần phải tu thiền. Hạnh
đây cũng là tâm, tức là tâm hạnh nếu ngay thẳng thì không cần phải tu thiền. Ngay
thẳng là thế nào ? Là không vướng bên này, không kẹt bên kia. Thường chúng ta
hay dấy niệm chạy theo phải quấy tốt xấu, đó là hai bên. Nếu tâm mình ngay thẳng
không kẹt hai bên, còn gì nữa mà tu thiền ? Tu thiền là dứt tâm lăng xăng, nếu tâm
lăng xăng không còn nữa, tu thiền là dư, nên nói hạnh trực không cần tu thiền.
Tuy nhiên nếu tâm chúng ta còn lăng xăng, nghĩ đây nghĩ kia thì cần tu
thiền không ? Dĩ nhiên là cần. Nếu tâm chúng ta chưa bình, gặp việc thì sân si nổi
dậy, có cần giữ giới không ? Tất nhiên là phải giữ giới, nếu không giữ giới, chắc
tạo tội không sao kể xiết. Vì thế tâm chưa bình thì giới là quan trọng, hạnh chưa
trực thì thiền rất thiết yếu. Khi nào tâm bình hạnh trực mới không cần giữ giới và
tu thiền, nếu chưa được như thế mà đem hai câu này ra nói, là một điều lầm lỗi lớn.
Tỉ dụ khi nghe ai khuyên trì giới thì nói: “Tâm bình cần gì trì giới, Tổ đã nói rõ
ràng, các người còn hình thức quá !” Nghe ai dạy tu thiền thì bảo: “Hạnh trực đâu
cần tu thiền, Tổ đã dạy rồi mà !” Nhưng thử hỏi tâm chúng ta đã bình chưa? Hạnh
chúng ta đã trực chưa ? Nếu tự biết tâm mình chưa bình, hạnh chưa trực thì trì giới
và tu thiền rất cần thiết. Người học pháp thông thì ít, chấp thì nhiều, chấp chữ chấp
nghĩa, đem kinh ra nói khoác mà không tu, trở thành công kích người khác, tạo tội
ác khẩu, vậy chúng ta phải cẩn thận. Tóm lại muốn tu thiền, muốn giữ giới không
gì hơn là tâm bình, hạnh trực. Tâm bình, hạnh trực là đủ cả giới, thiền trong đó.
Về cách xử sự tại gia, Tổ dạy: “Ân thì nuôi dưỡng cha mẹ, nghĩa thì trên
dưới thương nhau.” Nói về ân, không ân nào cao bằng ân cha mẹ. Khi đọc đến đây
chúng tôi thấy rõ tâm niệm Phật Tổ không hai. Chính trong kinh Tăng Nhất A
Hàm có một bài kinh nói về báo ân, đức Phật bảo: “Người nào biết đền ân, giả sử
ở xa ta ngàn dặm, cũng như ở bên cạnh ta, người không biết đền ân, dầu đứng hầu
bên cạnh ta, cũng như cách xa ta ngàn dặm.” Phật giải thích: Không ân nào hơn ân
cha mẹ, thân này có từ nơi cha mẹ, nên đem cả sanh mạng bù đắp cho cha mẹ
cũng không phải là quá ! Thế nên người biết đền ân, trước phải nhớ ân cha mẹ, kế
đó biết đền ân những người mình đã chịu ân, những người ấy, Phật bảo là gần với
Phật. Trong đoạn này, Tổ cũng dạy: Người biết ân là phải nuôi dưỡng cha mẹ.
Người biết ân như vậy đối với Tổ đó là người tốt, đối với Phật đó là người gần với
Phật.
Nói về nghĩa, tình thâm nghĩa nặng nhất là tình nghĩa ruột thịt, không gì
hơn tình nghĩa anh chị em, kẻ trên người dưới đều thương nhau. Tương lân là kẻ
trên người dưới đều thương nhau. Như vậy đối với cha mẹ chúng ta hằng nhớ ân
để đền đáp, đối với anh chị em hằng có tâm niệm thương nhau, đó là nền tảng đạo
đức gia đình. Được như thế mới xứng đáng là người Phật tử biết đạo. Nếu chúng
ta đi chùa vái lạy liên miên, khi về nhà gặp cha mẹ thì ngó ngang không chào hỏi,
gặp anh em rầy rà lớn tiếng, người lối xóm nhìn vào sẽ bảo đó là đạo đức giả. Đây
là điều không tốt, chúng ta không thể chấp nhận những người như vậy. Muốn đi
chùa, muốn lạy Phật, trước hết chúng ta phải biết cha biết mẹ rồi biết anh em. Từ
cha mẹ đến anh em chúng ta cư xử tốt, khi vào đạo chúng ta mới là người tốt. Nếu
chúng ta là người ngoan đạo mà ở gia đình là kẻ bất hiếu bất nghĩa, sự ngoan đạo ấy chỉ làm trò cười cho thiên hạ. Nếu trăm người Phật tử đều như vậy, chắc không
ai dám vào đạo Phật nữa, vì vào đạo mà bất hiếu bất nghĩa thì vào làm gì ? Chúng
tôi nhắc lại, người Phật tử chân chánh phải có những bài thuyết pháp sống ngay
nơi mình, nghĩa là trong cuộc sống gia đình phải là người mẫu mực biết làm lành,
làm phải, biết ân cha mẹ, biết tình nghĩa anh em. Nếu chỉ có nếp sống đạo đức ở
chùa mà không áp dụng nơi gia đình, đạo đức ấy không phải thật, vì người Phật tử
không ở chùa thường, chỉ đến chùa một hay hai lần trong tháng, mà ở nhà thường
trực hơn. Nếu sống thường trực nơi gia đình không ra gì thì sống một, hai ngày ở
chùa có nghĩa lý gì đâu. Điều quan trọng là cách cư xử tại nhà: hiếu kính cha mẹ,
thương mến anh em. Cha mẹ anh em là ân là nghĩa, là người ruột thịt gần gũi, nếu
chúng ta không kể đến thì những người ngoài không có tình máu mủ, không ân
nghĩa nặng nề, có làm điều trái ý, chúng ta có thể hại họ được. Tình thương ruột
thịt không có thì tình thương xã hội khó mà tìm được. Hiểu được như vậy mới
thấy rõ Phật, Tổ đều dạy chúng ta điều căn bản là đối với cha mẹ phải lấy ân để
đền đáp, đối với anh em phải lấy nghĩa mà thương mến nhau.
Nhượng tắc tôn ti hòa mục,
Nhẫn tắc chúng ác vô huyên,
Nhược năng toản mộc xuất hỏa,
Ứ nê định sanh hồng liên.
Nhượng tức là nhường. Nhường nhịn nhau trên dưới mới được hòa mục.
Anh em thương nhau chưa đủ, còn phải nhường nhịn nhau mới ổn, kẻ trên người
dưới đều hòa hợp nhau. Người ẩn nhẫn thì những việc ác không còn làm ồn náo họ
nữa. Người không ẩn nhẫn được thường hay mích lòng, bực tức dễ nổi sân si… nên
việc ác làm ồn náo họ mãi. Nếu hay nhẫn được thì mọi sự ồn náo đều dứt sạch.
Tóm lại Tổ dạy chúng ta ở tại gia phải làm sao cho tình anh em không mất, muốn
được như vậy anh em phải nhường nhịn nhau, nhường nhịn nhau mới đem lại hòa
mục, đem lại êm ấm cho gia đình.
Ngài dạy tiếp: Nếu chúng ta hay dùi cây cho ra lửa, trong bùn nhất định hoa
sen hồng mọc lên. Ngài muốn chỉ rằng người tại gia ở trong cảnh ồn náo khó tu,
nhưng trong cảnh ấy mà vẫn cố gắng tiến tu như dùi cây cho ra lửa, như hoa sen
mọc trong bùn. Trong bùn mới có hoa sen còn trên tảng đá sạch sẽ này làm gì có
hoa sen mọc. Vì thế người tại gia gặp nhiều phiền não mà khéo tu cũng như trong
bùn mọc lên hoa sen, cũng như dùi cây ra lửa vậy. Đây là Tổ muốn khuyến khích
người cư sĩ tại gia phải nỗ lực tiến tu dù ở hoàn cảnh khó khăn nào, không vì cảnh
khó mà sanh tâm thối chuyển, như vậy mới biến được dở thành hay.
Khổ khẩu đích thị lương dược,
Nghịch nhĩ tất thị trung ngôn,
Cải hóa tất sanh trí tuệ,
Hộ đoản tâm nội phi hiền.
Khổ khẩu là đắng miệng. Theo quan niệm xưa, thuốc hay tất phải đắng
miệng, lời nói nghịch tai là lời ngay thẳng. Tại sao ? Tỉ dụ chúng ta làm điều gì
quấy, có người gan dạ chỉ lỗi giùm: Huynh làm điều ấy sai. Nếu chúng ta nghe lời
chỉ dạy, biết nhận lỗi, đó là thuốc hay; nếu chúng ta nghe trái tai một chút liền nổi sân lên, đó là không tốt. Nhưng đa số người thế gian, ai cũng như ai đều thích
được khen và không chịu bị chê. Giả sử chúng ta làm quấy một trăm phần trăm
nhưng được người khác khen, chúng ta cũng vui thích. Ví dụ có người ăn trộm,
trong xóm trong làng ai cũng biết mặt. Nếu chú ấy ăn mặc chải chuốt, có người
khen: Chà ! Chú mầy giống như một nhà văn, một tài tử v.v… Thử hỏi chú ấy có
vui lên không ? Có muốn gây với người khen chú không ? Trái lại, nếu gặp chú ăn
trộm ăn mặc chải chuốt, chúng ta liền nói: “Kẻ ăn trộm mà cũng ăn diện bảnh
bao.” Tức nhiên chú ấy sẽ gây với mình ngay. Như vậy người đời lúc nào cũng
thích được khen dù lời khen không đúng sự thật, còn lời nói thẳng dù đúng sự thật
một trăm phần, người đời cũng vẫn giận, đây là nói chung cho tất cả mọi người, kể
cả chúng ta. Vì thế chúng ta nên tập làm sao trước những lời nói trái tai vẫn vui vẻ
nghe để sửa mình. Ai chỉ điều quấy, chúng ta liền nhận lỗi để sửa, như vậy mới là
người biết tu. Những lời trái tai là lời trung thực, chúng ta rán nghe để sửa mình.
Tổ dạy tiếp: Cải quá ắt sanh trí tuệ, còn gìn giữ hay bảo hộ điều quấy trong
tâm là không phải người hiền. Người có lỗi mà che giấu là không phải người hiền,
trái lại người làm quấy mà biết sửa là người trí tuệ. Đây là điều rất thiết yếu cho
việc tu. Đa số chúng ta thường có quan niệm lầm lẫn, cứ nhìn vào người xuất gia,
cho là những thần tượng, là những bậc Hiền Thánh, là những vị đã vượt qua người
thế gian. Nhưng nếu được ở gần các vị ấy một thời gian, mới thấy các vị ấy thỉnh
thoảng cũng lộ ra đôi chút phiền não; lúc bấy giờ các thần tượng đều sụp đổ, các
Phật tử mới than: “Tưởng các vị tu hành là Thánh hết, tại sao còn dở quá vậy ?”
Rồi chán nản không còn muốn tu theo. Như thế, quan niệm đó đúng hay sai ? Đấy
là điều tôi muốn nhắc quí vị. Người tại gia, kể cả người xuất gia, quí vị phải quan
niệm cho đúng. Chúng tôi chưa có ai được vào hàng Thánh, chúng tôi là phàm
Tăng, phàm Ni; đã là phàm tức là đang tu, đang tu tức là chưa sạch. Quí vị nên
nhớ rõ, người nào đang tu tức người đó chưa sạch, như chiếc áo còn đang giặt
chưa phải là áo sạch, nếu sạch rồi không ai giặt nữa. Như vậy còn giặt là còn nhơ,
còn tu là còn khuyết điểm; còn khuyết điểm nên mới tu cho hết điều dở, xấu; hết
khuyết điểm thì tu làm chi nữa, vì đã là Phật rồi. Vì thế đối với người tu, không
nên đòi hỏi các vị ấy phải là thần tượng, phải là hiện thân của chân lý. Tuy nhiên
có thể đòi hỏi các người tu như thế này: Nếu người tại gia xấu một trăm phần thì ít
ra người xuất gia cũng được năm chục phần tốt, chỉ còn năm chục phần xấu, điều
đó khả dĩ được. Người còn tu chưa phải toàn vẹn trăm phần, toàn vẹn là khi nào
thành Phật. Người đang tu hơn được quí vị chừng hai, ba mươi phần trăm, hay khá
lắm là năm mươi phần trăm là được lắm rồi, không nên đòi hỏi quá đáng. Hiểu
như vậy, quí vị mới có thể thông cảm được với người tu và ở gần không chán.
Nhưng người tu có nhiều điểm khác người thế gian, như người thế gian nghe lời
trái tai có thể giận mười năm không bỏ; với người tu thì khác, trong sách có câu
“Tăng hận bất cách túc” nghĩa là Tăng giận không quá một đêm. Như vậy người tu
hay người thế gian đều có giận nhưng người tu chỉ giận chốc lát rồi bỏ. Không nên
đòi hỏi người tu không còn tâm giận, vì tham sân si là ba cái gốc của cõi luân hồi
này, còn ở cõi này tức là còn tham sân si. Khi nào dẹp sạch ba này là chứng quả
A-la-hán; song hiện nay mấy ai chứng quả A-la-hán ? Nhưng có điều hay là người tu khi làm điều dở bị phê bình liền biết hối cải. Tỉ dụ như người biết tu khi vừa nổi
sân liền bị người chỉ lỗi “đó là hắc phong”, người biết tu liền hối hận bỏ ngay.
Như vậy là tốt, là đáng khen, chớ đừng bảo người tu không có giận. Tất cả quí
Phật tử cũng vậy, khi làm việc gì dở, được sự chỉ dạy của người trên, hoặc sự nhắc
nhở của đồng bạn hay tự mình biết điều đó là dở liền bỏ, đó là người trí tuệ. Đừng
bao giờ nghĩ rằng mình không có điều dở, chúng ta có dở, nhưng biết sửa đổi, đó
là tốt, là trí tuệ. Nếu dở mà cứ che giấu trong lòng hoài, đó là người không hiền.
Không hiền là người gì ? Là kẻ dữ. Người che giấu lỗi hoài là kẻ dữ, còn người
hiền có lỗi gì phơi bày ra rồi chừa bỏ, đó là người tốt, người khôn ngoan, người trí
tuệ.
Tóm lại, lời dạy của Tổ thực tế vô cùng,
Ngài chỉ cho chúng ta tu một cách thiết thực. Ngài bảo ở trong gia đình,
trên kính thờ cha mẹ, dưới thương anh em và nhường nhịn nhau cho trong nhà
được an vui, đem lại sự hòa mục, nhẫn nhịn để lòng mình hết ồn náo. Được như
vậy là mình khéo ở trong bùn mà mọc hoa sen. Ngài lại dạy lời nói ngay nghe trái
tai nhưng có lợi, vì đó là lời trung thực cũng như thuốc đắng đã tật vậy; có lỗi liền
biết sửa, đó là trí tuệ, có lỗi mà che giấu thì không phải là người hiền, hay nói
nặng hơn, đó là kẻ dữ.
Nhật dụng thường hành nhiêu ích,
Thành đạo phi do thí tiền,
Bồ-đề chỉ hướng tâm mích,
Hà lao hướng ngoại cầu huyền.
Mỗi ngày thường làm những điều lợi ích cho mọi người, cho chúng sanh.
Nhiêu ích là lợi ích cho nhiều người, cho chúng sanh. Người tu thành đạo không
phải đem tiền thí mà thành đạo; thành đạo là do tu nơi tâm mình, thí tiền chỉ là
phước ở bên ngoài. Thế nên người tu muốn giác ngộ là phải tự tâm mình giác ngộ,
chớ không phải cúng thí nhiều mà giác ngộ. Cúng thí là tạo phước để mình được
những quả tốt cho đời sau, chớ không phải là thành đạo. Bồ-đề chỉ cho tánh giác.
Bồ-đề chỉ hướng trong tâm mà tìm, đâu có nhọc hướng ra ngoài cầu sự huyền diệu.
Muốn giác ngộ phải ngay nơi tâm mình giác, đừng mong tìm ở bên ngoài, bên
ngoài không có những huyền diệu đó.
Thính thuyết y thử tu hành,
Tây phương chỉ tại mục tiền.
Nghe nói y đây tu hành, Cực Lạc chỉ ngay trước mắt. Ngài bảo người nào y
theo bài kệ Ngài dạy mà tu hành thì cõi Cực Lạc ở ngay trước mắt, không có xa
xôi, không có cách mười muôn ức cõi. Vậy muốn thấy Cực Lạc thì hằng ngày ứng
dụng đúng như bài kệ này sẽ thấy Cực Lạc hiện tiền.
Tổ lại bảo: “Này Thiện tri thức, thảy phải y kệ đây mà tu hành, nhận lấy tự
tánh, thẳng đó thành đạo. Pháp không đợi nhau, mọi người hãy giải tán, tôi trở về
Tào Khê, chúng nếu có nghi, lại đến hỏi nhau.”
Khi ấy Thứ sử quan liêu ở trong hội, kẻ thiện nam tín nữ mỗi người đều
được khai ngộ, tin thọ vâng làm.
DPHẨM THỨ TƯ: ĐỊNH TUỆ
DỊCH

Tổ dạy chúng: “Này Thiện tri thức, pháp môn của ta đây lấy Định Tuệ làm
gốc, đại chúng chớ lầm nói Định Tuệ riêng, Định Tuệ một thể không phải là hai.
Định là thể của Tuệ, Tuệ là dụng của Định, ngay khi Tuệ, Định ở tại Tuệ, ngay khi
Định, Tuệ ở tại Định, nếu biết được nghĩa này tức là cái học Định Tuệ bình đẳng.
Những người học đạo chớ nói trước Định rồi sau mới phát Tuệ, trước Tuệ rồi sau
mới phát Định, mỗi cái riêng khác. Khởi cái thấy như thế ấy thì pháp có hai tướng.
Miệng nói lời thiện mà trong tâm không thiện thì không có Định Tuệ, Định Tuệ
không bình đẳng. Nếu tâm, miệng đều là thiện, trong ngoài một thứ, Định Tuệ tức
là bình đẳng. Tự ngộ tu hành không ở chỗ tranh cãi, nếu tranh trước sau tức là
đồng với người mê, không dứt sự hơn thua, trở lại tăng ngã và pháp, không lìa bốn
tướng.
Này Thiện tri thức, Định Tuệ ví như cái gì ? Ví như ngọn đèn và ánh sáng.
Có ngọn đèn tức có ánh sáng, không đèn tức là tối, đèn là thể của ánh sáng, ánh
sáng là dụng của đèn, tên tuy có hai mà thể vốn đồng một, pháp Định Tuệ này
cũng lại như thế.”
Tổ dạy chúng: “Này Thiện tri thức, Nhất hạnh tam-muội là đối với tất cả
chỗ, đi đứng ngồi nằm thường hành một trực tâm ấy vậy. Kinh Tịnh Danh nói:
Trực tâm là đạo tràng, trực tâm là Tịnh độ. Tâm chớ làm những chuyện siểm khúc,
miệng chỉ nói trực, miệng nói Nhất hạnh tam-muội mà không hành trực tâm; còn
hành trực tâm, đối với tất cả pháp chớ có chấp trước. Người mê chấp pháp tướng,
chấp Nhất hạnh tam-muội, chỉ nói ngồi không động, tâm vọng không khởi tức là
Nhất hạnh tam-muội, người khởi hiểu thế này tức là đồng với vô tình, trở lại là
nhân duyên chướng đạo.
Này Thiện tri thức, đạo phải thông lưu, do đâu trở lại ngưng trệ, tâm không
trụ nơi pháp, đạo tức là thông lưu. Tâm nếu trụ pháp gọi là tự phược, nếu nói
thường ngồi không động, ấy chỉ như ngài Xá-lợi-phất ngồi yên trong rừng lại bị
ngài Duy Ma Cật quở trách. Này Thiện tri thức, lại có người dạy ngồi khán tâm
quán tịnh, không động không khởi, từ đây mà lập công khóa, người mê không hiểu
liền chấp thành ra điên cuồng; những người như thế này thật là đông, dạy nhau
như thế, nên biết đó là lầm lớn.”
Tổ dạy chúng: “Này Thiện tri thức, xưa nay chánh giáo không có đốn tiệm,
tánh người tự có lợi và độn, người mê thì lần lần khế hợp, người ngộ thời chóng tu,
tự biết bản tâm, tự thấy bản tánh, tức là không có sai biệt, do đó nên lập giả danh
đốn tiệm. Này Thiện tri thức, pháp môn của ta đây từ trước đến nay, trước lập vô
niệm làm tông, vô tướng làm thể, vô trụ làm bản. Vô tướng là đối với tướng mà lìa
tướng; vô niệm là đối với niệm mà không niệm; vô trụ là bản tánh của người. Ở
thế gian nào là thiện ác, tốt xấu, cho đến những việc oán cùng với thân, ngôn ngữ
xúc chạm, hư dối tranh đua v.v… thảy đều đem về không; không nghĩ trả thù hại lại, trong mỗi niệm không nghĩ cảnh trước, nếu niệm trước, niệm hiện tại, niệm
sau, trong mỗi niệm tương tục không dứt gọi là hệ phược (trói buộc). Đối trên các
pháp mỗi niệm không trụ, tức là không phược, đây là lấy vô trụ làm gốc. Này
Thiện tri thức, ngoài lìa tất cả tướng gọi là vô tướng, hay lìa nơi tướng tức là pháp
thể thanh tịnh, đây là lấy vô tướng làm thể. Này Thiện tri thức, đối trên các cảnh
tâm không nhiễm gọi là vô niệm. Đối trên niệm thường lìa các cảnh, chẳng ở trên
cảnh mà sanh tâm. Nếu chỉ trăm vật chẳng nghĩ, niệm phải trừ hết, một niệm dứt
tức là chết, rồi sẽ sanh nơi khác, ấy là lầm to. Người học đạo suy nghĩ đó, nếu
không biết cái ý của pháp thì tự lầm còn có thể, lại dạy người khác (là không nên),
tự mê không thấy lại còn chê bai kinh Phật, vì thế nên lập vô niệm làm tông. Này
Thiện tri thức, thế nào lập vô niệm làm tông ? Chỉ vì miệng nói thấy tánh, người
mê ở trên cảnh có niệm, trên niệm lại khởi tà kiến, tất cả trần lao vọng tưởng từ
đây mà sanh. Tự tánh vốn không một pháp có thể được, nếu có sở đắc, vọng nói
họa phước tức là trần lao tà kiến, nên pháp môn này lập vô niệm làm tông. Này
Thiện tri thức, vô là vô việc gì ? Niệm là niệm vật nào ? Vô đó là không có hai
tướng, không có các tâm trần lao; niệm là niệm chân như bản tánh. Chân như tức
là thể của niệm, niệm tức là dụng của chân như, chân như tự tánh khởi niệm,
không phải mắt tai mũi lưỡi hay khởi niệm, chân như có tánh cho nên khởi niệm,
chân như nếu không có tánh thì mắt tai sắc thanh chính khi ấy liền hoại. Này
Thiện tri thức, chân như tự tánh khởi niệm, sáu căn tuy có thấy nghe hiểu biết mà
không nhiễm muôn cảnh, mà chân tánh thường tự tại, nên kinh nói Hay khéo phân
biệt các pháp tướng mà đối với nghĩa đệ nhất không có động.”

GIẢNG
Tổ dạy chúng: “Này Thiện tri thức, pháp môn của ta đây lấy Định Tuệ làm
gốc, đại chúng chớ lầm nói Định Tuệ riêng, Định Tuệ một thể không phải là hai.
Định là thể của Tuệ, Tuệ là dụng của Định, ngay khi Tuệ, Định ở tại Tuệ, ngay khi
Định, Tuệ ở tại Định, nếu biết được nghĩa này tức là cái học Định Tuệ bình đẳng.
Những người học đạo chớ nói trước Định rồi sau mới phát Tuệ, trước Tuệ rồi sau
mới phát Định, mỗi cái riêng khác. Khởi cái thấy như thế ấy thì pháp có hai tướng.
Miệng nói lời thiệïn mà trong tâm không thiện thì không có Định Tuệ, Định Tuệ
không bình đẳng. Nếu tâm, miệng đều là thiện, trong ngoài một thứ, Định Tuệ tức
là bình đẳng. Tự ngộ tu hành không ở chỗ tranh cãi, nếu tranh trước sau tức là
đồng với người mê, không dứt sự hơn thua, trở lại tăng ngã và pháp, không lìa bốn
tướng.
Này Thiện tri thức, Định Tuệ ví như cái gì? Ví như ngọn đèn và ánh sáng.
Có ngọn đèn tức có ánh sáng, không đèn tức là tối, đèn là thể của ánh sáng, ánh
sáng là dụng của đèn, tên tuy có hai mà thể vốn đồng một, pháp Định Tuệ này
cũng lại như thế.”
Phẩm này là những điều chủ yếu của sự tu thiền. Thường trong các kinh
hay nói do Định mà được Tuệ, do Định phát ra Tuệ, như vậy chúng ta thấy Định
trước, Tuệ sau; nhưng trong đoạn này Tổ dạy Định Tuệ bình đẳng, không có trước
sau, như vậy thành ra khác. Nói Định trước Tuệ sau là lối nói của Tiểu thừa, còn theo lời Tổ dạy thì Định Tuệ đồng thời. Tại sao ? Điều này khi chúng ta tu rồi tự
nhiên thấy. Tôi chỉ cho quí vị thấy một chút. Tỉ dụ như khi chúng ta ngồi thiền tâm
chúng ta lặng, đó là Định. Nhưng tâm chúng ta lặng mà hằng giác tri, giác tri đó là
gì ? Là Tuệ. Như vậy Tuệ đâu có rời Định. Trong khi Định thì có Tuệ, Tuệ sẵn ở
trong Định, Định Tuệ không tách rời được, nên không thể nói đợi cái này dứt mới
phát cái kia, như vậy là thấy Định Tuệ riêng biệt, thế nên Tổ không chấp nhận. Lối
dạy của Tổ là Định Tuệ đồng thời bình đẳng, không có trước, không có sau. Ngài
dẫn ví dụ như ngọn đèn và ánh sáng. Khi chúng ta đốt ngọn đèn lên, ngay khi
ngọn đèn vừa cháy là có ánh sáng phát ra. Như vậy ngọn đèn là thể, ánh sáng là
dụng, thể dụng không rời nhau. Cũng thế Định là thể, Tuệ là dụng. Khi tâm mình
lặng gọi là Định, bởi lặng nên nó mới sáng, cũng như nước trong thì mới sáng, vậy
cái trong là sáng; cũng như cái gương không có bụi, gương trong thì tự sáng, cái
sáng không tách rời gương trong được. Định Tuệ cũng thế. Khi những vọng tưởng
không dấy khởi thì tâm lặng, đó gọi là Định, và khi Định thì Tuệ đã sẵn ở trong,
nên nói trí tuệ không rời chánh định mà chánh định cũng không rời trí tuệ, hai cái
không hai, không khác, nếu thấy hai, thấy khác, tức nhiên không đúng lẽ thật. Như
ngọn đèn và ánh sáng tuy hai tên nhưng hai cái có tách rời được không ? Nếu nghe
hai tên chúng ta nói cái này riêng cái kia riêng thì không bao giờ đúng; như vậy để
hiểu rõ rằng ngọn đèn và ánh sáng không rời nhau được, thì Định Tuệ cũng không
rời nhau được, đó là thí dụ để hiểu rõ pháp.
Tổ dạy chúng: “Này Thiện tri thức, Nhất hạnh tam-muội là đối với tất cả
chỗ, đi đứng ngồi nằm thường hành một trực tâm ấy vậy. Kinh Tịnh Danh nói:
Trực tâm là đạo tràng, trực tâm là Tịnh độ. Tâm chớ làm những chuyện siểm khúc,
miệng chỉ nói trực, miệng nói Nhất hạnh tam-muội mà không hành trực tâm; còn
hành trực tâm, đối với tất cả pháp chớ có chấp trước.
Tiếp theo Tổ dạy về Nhất hạnh tam-muội. Tam-muội là chánh định. Một
hạnh ở trong chánh định là thế nào ? Nghĩa là trong tất cả chỗ, đi, đứng, ngồi, nằm
chỉ là một trực tâm, gọi là Nhất hạnh tam-muội. Không phải chỉ ngồi thẳng mới là
Nhất hạnh tam-muội. Không phải chỉ ở tại chùa, mà ở tất cả chỗ, nghĩa là ở chợ, ở
xóm làng v.v… đi đứng nằm ngồi đều một trực tâm, đó là Nhất hạnh tam-muội.
Ngài dẫn kinh Tịnh Danh (kinh Duy Ma Cật): “Trực tâm là đạo tràng, trực tâm là
Tịnh độ” nghĩa là tâm mình ngay thẳng đó là đạo tràng, tâm mình ngay thẳng đó là
Tịnh độ. Chữ ngay thẳng này tôi sợ nhiều người hiểu lầm, nên tôi giản trạch rõ
một chút. Có nhiều người nói: Tôi không cần niệm Phật, không cần tụng kinh,
không cần thọ giới, không cần tu thiền gì cả, tâm tôi ngay thẳng là được rồi ! Họ
cho rằng họ thấy thế nào thì nói thế ấy, đó là tâm ngay thẳng. Nói như thế đối với
đạo Phật chưa phải ngay thẳng. Tại sao? Vì còn ở trong “Có, Không, Phải, Quấy”
nên chưa ngay. Khi nói phải, khi nói quấy, khi nói có, khi nói không, thành ra còn
ở hai bên, chớ chưa phải là ngay. Trực tâm đây là không kẹt ở hai bên. Điều này
thật không đơn giản đâu. Đừng nghĩ rằng: “Tôi thấy sao nói vậy” là trực tâm, đó là
trực tâm ở thế gian, còn trực tâm Tổ nói đây là tâm không kẹt hai bên. Người được
như vậy thì ở chỗ nào cũng là đạo tràng, ở chỗ nào cũng là Tịnh độ. Ngài quở: Có những người chỉ nói ở ngoài miệng là trực mà hạnh không
trực, tức là không hành trực tâm; còn người hành trực tâm là đối với tất cả pháp
không có chấp trước, tức là đối với tất cả pháp không dính không kẹt vào bên này
hay bên kia… Như vậy đối với tất cả pháp chớ có chấp trước !
Người mê chấp pháp tướng, chấp Nhất hạnh tam-muội, chỉ nói ngồi không
động, tâm vọng không khởi tức là Nhất hạnh tam-muội, người khởi hiểu thế này
tức là đồng với vô tình, trở lại là nhân duyên chướng đạo.
Người mê không hiểu, chấp trước Nhất hạnh tam-muội, họ cho rằng chỉ
khi ngồi yên bất động, tâm vọng không khởi nữa, đó là Nhất hạnh tam-muội, hiểu
như vậy Tổ cho là đồng với vô tình. Đi, đứng, nằm, ngồi, nơi nơi đều trực tâm, nơi
nơi đừng dính mắc, đó mới là Nhất hạnh tam-muội, chớ không phải ngồi đè cho
tâm lặng xuống không biết gì cả là Nhất hạnh tam-muội. Nếu chỉ đè cho tâm lặng
xuống không biết gì thì Tổ bảo đó là đồng với cây đá, đồng với vô tình, chớ không
phải là tri giác. Lặng mà hằng tri, hằng giác mới đúng. Trái lại đè để tâm không
biết gì đó là đồng với vô tình, là nhân duyên chướng đạo.
Này Thiện tri thức, đạo phải thông lưu, do đâu trở lại ngưng trệ, tâm không
trụ nơi pháp, đạo tức là thông lưu. Tâm nếu trụ pháp gọi là tự phược, nếu nói
thường ngồi không động, ấy chỉ như ngài Xá-lợi-phất ngồi yên trong rừng lại bị
ngài Duy Ma Cật quở trách.
Đạo là phải thông lưu. Thông lưu tức là luôn luôn linh động mà không
dính mắc. Đạo không phải là việc ngồi kềm đè cho tâm lặng yên rồi gọi là đạo, mà
luôn luôn trong mọi động tác đi, đứng, nằm, ngồi đều không dính mắc, đó mới là
đạo. Đạo là thông lưu như vậy. Hiểu như thế, chúng ta mới thấy đạo không phải
do tâm chúng ta kẹt một chỗ, trái lại đối với pháp luôn luôn không dính mắc, đó là
thông lưu. Cũng như một bè cây thả trôi trên sông, nếu bè cây tấp vào bờ nào thì
bè cây đó không trôi suông, vì trôi suông là không bị dính, không tấp vào đâu cả.
Cũng thế đạo hạnh được thông lưu là không dính, không mắc, nếu ai đối tất cả
pháp không dính không mắc, đó là người thấy đạo, trái lại người nào còn dính mắc
thì không thấy đạo, cả đến dính mắc vào pháp mình tu, chấp vào đó để kềm tâm
cũng không thấy đạo nữa, đó là chỗ chân thật.
Nếu tâm chúng ta kẹt vào một pháp nào thì gọi là tự phược. Nếu nói ngồi
yên không động là đạo thì tại sao ngài Xá-lợi-phất ngồi yên trong rừng lại bị ngài
Duy Ma Cật quở trách ? Như vậy việc ngồi yên chưa hẳn là đạo, đạo là thông lưu
tức là không dính không chấp.
Này Thiện tri thức, lại có người dạy ngồi khán tâm quán tịnh, không động
không khởi, từ đây mà lập công khóa, người mê không hiểu liền chấp thành ra
điên cuồng; những người như thế này thật là đông, dạy nhau như thế, nên biết đó
là lầm lớn.
Đây là Tổ muốn chỉ ngài Thần Tú. Ngài Thần Tú dạy ngồi thiền là khán
tâm quán tịnh tức là nhìn tâm mình và nhìn chỗ nó lặng lẽ. Nếu nhìn chỗ lặng lẽ
thì lặng lẽ là cái bị nhìn, không phải mình mà chấp là mình, đó là lầm. Số người
lầm như thế rất nhiều, nếu dạy nhau như vậy là lầm lớn. Tổ dạy chúng: Này Thiện tri thức, xưa nay chánh giáo không có đốn tiệm,
tánh người tự có lợi và độn, người mê thì lần lần khế hợp, người ngộ thời chóng tu,
tự biết bản tâm, tự thấy bản tánh, tức là không có sai biệt, do đó nên lập giả danh
đốn tiệm.
Này Thiện tri thức, pháp môn của ta đây từ trước đến nay, trước lập vô
niệm làm tông, vô tướng làm thể, vô trụ làm bản.
Tông tức là chủ, vô tướng là cái không tướng, bản là gốc. Đây là ba điểm
then chốt trong lối dạy của Lục Tổ: Vô niệm làm tông, vô tướng làm thể, vô trụ
làm bản.
Vô tướng là đối với tướng mà lìa tướng; vô niệm là đối với niệm mà không
niệm; vô trụ là bản tánh của người.
Vô tướng là thế nào ? Ngay nơi tướng mà lìa tướng đó gọi là vô tướng. Tỉ
dụ như ngay bình bông này mà lìa bình bông là thế nào ? Chúng ta cũng nhìn bình
bông, nhưng không có niệm phân biệt đẹp xấu, là ngay bình bông mà lìa bình
bông. Nếu vừa nhìn bình bông liền phân biệt đẹp xấu là dính mắc nơi bình bông,
như vậy lìa bình bông là thấy mà không dính, chớ không phải nhắm mắt đừng thấy
nó mới gọi là lìa. Điểm này phải hiểu thật rõ cho khỏi lầm, nghe nói lìa tướng rồi
đi đâu cũng che mắt lại, không nhìn cảnh vật vì sợ thấy nó là kẹt với tướng. Không
phải như thế. Ngay nơi tướng, thấy vẫn thấy nhưng không thêm niệm gì để phân
biệt, để so sánh thì đó là lìa tướng; nơi tướng mà lìa tướng đó là vô tướng.
Vô niệm là thế nào ? Đối với niệm mà không niệm.
Vô trụ là thế nào ? Bản tánh của người là vô trụ nên mới lập vô trụ làm bản,
tức là bản tánh của chúng ta không dính, không mắc, dính mắc đó là vọng chớ
không phải bản tánh.
Ở thế gian nào là thiện ác, tốt xấu, cho đến những việc oán cùng với thân,
ngôn ngữ xúc chạm, hư dối tranh đua v.v… thảy đều đem về không; không nghĩ trả
thù hại lại, trong mỗi niệm không nghĩ cảnh trước, nếu niệm trước, niệm hiện tại,
niệm sau, trong mỗi niệm tương tục không dứt gọi là hệ phược (trói buộc).
Ở thế gian, tất cả những việc hơn thua, phải quấy, tốt xấu v.v… đều đưa về
không. Tại sao ? Thí dụ việc phải quấy ở thế gian, có cố định hay không ? Một
việc vào ngày xưa là phải, ngày nay cũng phải và muôn đời là phải, hoặc vào ngày
xưa là quấy, ngày nay cũng quấy và muôn đời là quấy. Hay việc phải quấy chỉ tùy
thời ? Vào một thời nào đó đặt cho một việc nào đó là phải thì nó phải, đến một
thời khác đổi nó là quấy thì nó quấy. Như vậy phải quấy đâu có cố định, đã không
cố định thì chấp làm gì ? Không cố định nên nói nó là không. Tôi thí dụ một việc
nhỏ như người Việt Nam ra đường đi phía tay mặt là phải, nếu sang Ấn Độ hay
sang Anh thì đi phía tay trái là phải. Như vậy phải quấy là tùy địa phương và tùy
thời, chớ không cố định. Thế nên chúng ta phải hiểu rõ rằng tất cả những việc phải
quấy chỉ là đối đãi thôi, không có thật; đã không thật mà chấp là chân lý thì sai,
cho nên nói tất cả đều đưa vào không. Cả tốt xấu cũng vậy, ví dụ như có một
người nam hoặc một người nữ thật đẹp, nhưng bất thần một hôm họ bị nổi đơn thì
lúc đó quí vị còn khen người đó đẹp nữa không ? Như vậy cái đẹp xấu không cốđịnh, nó không thật, những cái không thật mà chúng ta chấp, rồi mê say có phải là
điên cuồng hay không ? Nếu không thật thì đưa nó vào không !
Tóm lại, tất cả những phải quấy, tốt xấu, hơn thua đều không thật, nên khi
nó xảy đến liền đưa vào chỗ hư giả thì mọi việc đều an bài. Trái lại, nếu chấp phải,
chấp quấy thì buồn bực phiền não đủ thứ… Đó là Tổ chỉ cho chúng ta một lẽ thật.
Thế nên tất cả đều đưa vào không, “không nghĩ trả thù hại lại, trong mỗi niệm
không nghĩ cảnh trước”, tức là trong mỗi niệm không suy nghĩ về cảnh này cảnh
khác. “Nếu niệm trước, niệm hiện tại, niệm sau, trong mỗi niệm tương tục không
dứt gọi là hệ phược.” Nếu chúng ta quen nghĩ việc này việc kia rồi niệm trước mất,
niệm kế hiện, niệm kế mất, niệm sau hiện liên tục không dừng thì đó là bị trói
buộc. Người nào cứ niệm niệm liên tục là kẻ bị trói buộc. Chúng ta có bị không ?
Tất cả chúng ta đều bị trói buộc là vì niệm niệm không dừng, nên không bao giờ
chúng ta được an ổn. Nếu có những lúc lặng hết niệm, chúng ta đi tới đi lui, hoạt
động mà vẫn an nhiên, đó là tự tại thì cảnh nào cũng là Tây phương, là Tịnh Độ cả.
Như vậy trói buộc là tại niệm của mình trói buộc nên nói là bị phược.
Đối trên các pháp mỗi niệm không trụ, tức là không phược. Đây là lấy vô
trụ làm gốc.
Đối với các pháp chúng ta không dấy niệm dính với nó là không bị trói, nếu
dính với nó là bị trói. Chúng ta cứ nói rằng chúng ta ở trong cõi phiền não trần lao
bị trói buộc, cảnh trói buộc hay ai trói buộc ? Chính mình trói mình, mình trói
mình với vật này, với cảnh kia, nên khi vật đó bị mất mình sầu khổ. Ví như quí
đạo hữu đang mang một chiếc cà rá quí, khi nó rơi mất, hoặc bị ai giật mất thì thế
nào ? Nếu nó mất rồi thôi, thì an lành biết mấy, còn nếu mất rồi về nhà rầu rĩ v.v…
như vậy là chiếc cà rá trói mình hay mình trói chiếc cà rá ? Rõ ràng là mình trói nó.
Nó chỉ là một bộ phận vô tình thôi, vì mình cứ nhớ nó thành mình khổ. Như vậy
để thấy rằng vì chúng ta dính vào các pháp, nên chúng ta thấy pháp trói mình, chớ
sự thật pháp nào có trói mình ! Đây là lấy vô trụ làm gốc. Vô trụ là như thế, tức là
không dính không mắc với pháp nào cả thì đó là vô trụ, đó là sống trở về với bản
tánh của mình, vì bản tánh là vô trụ nên chính bản tánh là gốc.
Này Thiện tri thức, ngoài lìa tất cả tướng gọi là vô tướng, hay lìa nơi tướng
tức là pháp thể thanh tịnh, đây là lấy vô tướng làm thể. Này Thiện tri thức, đối trên
các cảnh tâm không nhiễm gọi là vô niệm. Đối trên niệm thường lìa các cảnh,
chẳng ở trên cảnh mà sanh tâm.
Tổ lại định nghĩa thế nào là lấy vô tướng làm thể. Ngay các tướng chúng ta
không dính mắc các tướng thì pháp thể của mình lúc nào cũng thanh tịnh. Ba điều
này tuy nói là ba, nhưng nhìn kỹ thấy không có khác. Vô tướng là ngay nơi tướng
mà lìa tướng, vô trụ là ngay nơi cảnh mà không dính cảnh, vô niệm là ngay nơi
niệm mà buông xả không khởi; như vậy đối với cảnh không dính, không kẹt,
không dấy niệm chạy theo cảnh thì đó là vô niệm, vô tướng, vô trụ. Rõ ràng là thế !
Nếu chỉ trăm vật chẳng nghĩ, niệm phải trừ hết, một niệm dứt tức là chết,
rồi sẽ sanh nơi khác, ấy là lầm to.
Ngài lại nhắc đến cái bệnh Ngài đã nói trong đoạn trước. Ngài sợ chúng ta
ngồi rồi cứ đè không cho nghĩ gì hết. Phương pháp Tổ dạy chúng ta tuy khó, nhưng nếu biết tu thì rất nhàn. Chúng ta không phải ngồi suốt ba, bốn tiếng đồng
hồ, chúng ta vẫn đi tới đi lui, tiếp xúc mọi cảnh, nhưng trên cảnh mà không dính
cảnh là vô trụ, ngay nơi cảnh mà lìa cảnh là vô tướng, ngay nơi cảnh mà không
dấy niệm là vô niệm. Như vậy Ngài bắt chúng ta đối cảnh chớ không trốn cảnh,
đối cảnh nhưng đi đứng nằm ngồi… trong mọi hoạt động đều thông lưu, không kẹt
trên cảnh, đó là đúng lời dạy của Ngài. Trái lại nếu chúng ta cứ đè tâm mình cho
nó không ngơ thì dứt niệm. Ngài bảo nếu niệm hết là chết, vì niệm là dụng của tâm
thể mà tâm thể bặt rồi tức là chết, chết rồi là đi thọ sanh nơi khác. Như thế là lầm.
Người học đạo suy nghĩ đó, nếu không biết cái ý của pháp thì tự lầm còn có
thể, lại dạy người khác (là không nên), tự mê không thấy lại còn chê bai kinh Phật,
vì thế nên lập vô niệm làm tông. Này Thiện tri thức, thế nào lập vô niệm làm tông ?
Chỉ vì miệng nói thấy tánh, người mê ở trên cảnh có niệm, trên niệm lại khởi tà
kiến, tất cả trần lao vọng tưởng từ đây mà sanh.
Ngài lại giải thích: Tại sao lập vô niệm làm tông ? Vì có nhiều người nói
rằng mình thấy tánh, nhưng trên cảnh lại khởi niệm, rồi trên niệm lại sanh tà kiến.
Tỉ dụ như trên cảnh này, tôi khởi niệm hoa hường đẹp, hoa hường quí. Nếu có
người khác nói hoa hường không quí bằng hoa mẫu đơn chẳng hạn, tức nhiên tôi
không chịu rồi cãi nhau… Hoa là hoa, không tự nói quí tiện. Chúng ta chấp cái này
quí, cái kia tiện thì đó là tà kiến. Trên niệm khởi thêm tà kiến, người nghiêng bên
này, người nghiêng bên kia thành ra chuyện cãi nhau vô ích, do đó sanh ra đủ thứ
trần lao vọng tưởng.
Tự tánh vốn không một pháp có thể được, nếu có sở đắc, vọng nói họa
phước tức là trần lao tà kiến, nên pháp môn này lập vô niệm làm tông.
Tổ chỉ chỗ tu của chúng ta. Người tu thâm sâu rồi thì sống với tự tánh thanh
tịnh. Tự tánh thanh tịnh không có một pháp, như Ngài đã từng nói “bản lai vô nhất
vật”; ở đây Ngài cũng nhắc lại bản tánh không có một pháp. Đã không một pháp
có thể được, nếu vừa hơi yên liền nói tôi được thanh tịnh, rồi nói chuyện họa
phước của người… như ông kia ba tháng nữa sẽ gặp tai nạn, bà này ba tháng nữa
sẽ được phước gặp điều may v.v… thì đó là tà kiến. Chúng ta biết tự tánh vốn
thanh tịnh, không có một pháp thì nói gì là sở đắc, không sở đắc thì có gì mà nói
họa nói phước cho người. Nhưng hiện nay có một số người tu được chút ít hay nói
họa nói phước, nói chuyện quá khứ vị lai v.v…, chúng ta biết những người đó là tà,
không phải là người chân chánh.
Này Thiện tri thức, vô là vô việc gì ? Niệm là niệm vật nào ? Vô đó là
không có hai tướng, không có các tâm trần lao; niệm là niệm chân như bản tánh.
Ngài nhắc lại: Pháp môn của Ngài lập vô niệm làm tông. Vô là vô việc gì ?
Ngài dạy: Vô là tất cả phiền não trần lao không dấy động. Niệm là niệm vật nào ?
Niệm là hằng nhớ chân như tự tánh của mình, hằng nhớ tánh giác của mình, không
chạy theo cảnh…
Chân như tức là thể của niệm, niệm tức là dụng của chân như, chân như tự
tánh khởi niệm, không phải mắt, tai, mũi, lưỡi hay khởi niệm, chân như có tánh
cho nên khởi niệm, chân như nếu không có tánh thì mắt tai sắc thanh chính khi ấy
liền hoại. Này Thiện tri thức, chân như tự tánh khởi niệm, sáu căn tuy có thấy nghe hiểu biết mà không nhiễm muôn cảnh, mà chân tánh thường tự tại, nên kinh
nói Hay khéo phân biệt các pháp tướng mà đối với nghĩa đệ nhất không có động”.
Sau cùng Ngài chỉ cho chúng ta hiểu niệm khởi là từ chân như. Như vậy
chúng ta khởi niệm để niệm chân như thì được, còn khởi niệm chạy theo cảnh thì
sai. Khởi niệm chạy theo cảnh đó là dính với cảnh, còn xoay niệm trở về chân như
là đúng. Nhưng xoay niệm niệm chân như là thế nào ? Là nghe tiếng mà không
chạy theo tiếng, hằng nhớ mình có cái hay nghe, có cái đang nghe mới biết nghe
tiếng; cũng như thấy cảnh mình không phân biệt cảnh đẹp hay xấu mà biết mình
đang thấy, đó là niệm chân như. Hằng nhớ tự tánh của chính mình, nhớ là niệm,
niệm bản tánh của mình đó là niệm chân như.
Tóm lại, trong phần này Tổ nói về Định Tuệ. Theo Tổ, Định Tuệ bình đẳng
không có trước sau, và điểm chủ yếu Tổ dạy chúng ta tu gồm có ba phần: Vô niệm,
vô tướng và vô trụ. Vô niệm là tông, vô tướng là thể, vô trụ là bản. Đó là những
điều thiết yếu trong sự tu hành, ai tu theo Lục Tổ mà không biết ba điều này là
không biết đường lối tu.

DPHẨM THỨ NĂM: TỌA THIỀN
DỊCH
Tổ dạy chúng: Pháp môn Tọa Thiền này vốn không chấp nơi tâm, cũng
không chấp nơi tịnh, cũng chẳng phải chẳng động. Nếu nói chấp tâm, tâm vốn là
vọng, biết tâm như huyễn nên không có chỗ chấp vậy. Nếu nói chấp tịnh, tánh
người vốn là tịnh, bởi vì vọng niệm che đậy chân như, chỉ không có vọng tưởng
thì tánh tự thanh tịnh. Khởi tâm chấp tịnh trở lại sanh ra cái tịnh vọng. Vọng
không có chỗ nơi, chấp ấy là vọng; tịnh không hình tướng trở lại lập tướng tịnh,
nói là công phu, người khởi kiến giải này là chướng tự bản tánh trở lại bị tịnh trói.
Này Thiện tri thức, nếu người tu hạnh bất động, chỉ khi thấy tất cả người,
không thấy việc phải quấy, tốt xấu, lỗi lầm của người tức là tự tánh bất động. Này
Thiện tri thức, người mê thân tuy bất động, mở miệng liền nói việc phải quấy, hay
dở, tốt xấu của người là cùng đạo đã trái nhau, chấp tâm, chấp tịnh tức là chướng
đạo.
Tổ dạy chúng: Này Thiện tri thức, sao gọi là Tọa Thiền ? Trong pháp môn
này không chướng không ngại, ngoài đối với tất cả cảnh giới thiện ác, tâm niệm
chẳng khởi gọi là tọa, trong thấy tự tánh chẳng động gọi là thiền.
Này Thiện tri thức, sao gọi là Thiền định ? Ngoài lìa tướng là thiền, trong
chẳng loạn là định. Ngoài nếu chấp tướng, trong tâm tức loạn; ngoài nếu lìa tướng
tâm tức chẳng loạn, bản tánh tự tịnh tự định, chỉ vì thấy cảnh, suy nghĩ cảnh tức là
loạn; nếu thấy các cảnh mà tâm chẳng loạn ấy là chân định vậy. Này Thiện tri thức,
ngoài lìa tướng tức là thiền, trong chẳng loạn tức là định, ngoài thiền trong định,
ấy gọi là Thiền định. Kinh Bồ-tát Giới nói: Bản tánh của ta vốn tự thanh tịnh. Này
Thiện tri thức, trong mỗi niệm tự thấy được bản tánh thanh tịnh, tự tu, tự hành, tự
thành Phật đạo.
GIẢNG
Tổ dạy chúng: Pháp môn Tọa Thiền này vốn không chấp nơi tâm, cũng
không chấp nơi tịnh, cũng chẳng phải chẳng động. Nếu nói chấp tâm, tâm vốn là
vọng, biết tâm như huyễn nên không có chỗ chấp vậy. Nếu nói chấp tịnh, tánh
người vốn là tịnh, bởi vì vọng niệm che đậy chân như, chỉ không có vọng tưởng
thì tánh tự thanh tịnh. Khởi tâm chấp tịnh trở lại sanh ra cái tịnh vọng. Vọng
không có chỗ nơi, chấp ấy là vọng; tịnh không hình tướng trở lại lập tướng tịnh,
nói là công phu, người khởi kiến giải này là chướng tự bản tánh trở lại bị tịnh trói.
Phẩm này cho chúng ta biết rõ chủ trương của Lục Tổ dạy tọa thiền. Ngài
nêu lên ba điểm trong pháp môn tọa thiền của Ngài: Điểm thứ nhất là “không chấp
tâm”, điểm thứ hai là “không chấp tịnh”, điểm thứ ba là “cũng chẳng phải chẳng
động”, tức là có động, nếu động làm sao tọa thiền ? Đoạn sau Tổ giảng rõ. Tại sao
không chấp tâm ? Tâm mà chúng ta cho là tâm mình, Ngài nói tâm đó nguyên là
vọng. Dấy khởi phân biệt, nghĩ việc này việc kia v.v… cho đó là tâm thì tâm đó
làm sao thật được. Thế nên nếu chấp tâm tức là chấp vọng, nếu chấp vọng là mình, thì đúng hay sai ? Nên nói tâm vốn là vọng, chỉ cần biết nó như huyễn, nghĩa là
biết nó hư giả là được. Người tu phải thấy rõ lẽ thật, không nên chấp, nghe nói tâm
mình mà không biết tâm như thế nào. Những vọng tâm dấy động, nay biết rõ nó là
vọng, tự nhiên nó hết, chấp làm gì.
Lại có nhiều người ngồi nhìn, khi được yên lặng, chấp cái thanh tịnh là
mình, đó là chấp tịnh. Ngài dạy rằng: Tánh người vốn là tịnh, bản tánh mình như
tánh nghe tánh thấy của chúng ta, tịnh hay động ? Vì nó vô tướng, vì nó hằng bất
động nên nó thanh tịnh. Tỉ dụ như cái nghe của mình, nếu tìm lại tướng của nó thì
không có nhưng hằng nghe, cái thấy của mình tìm tướng không có nhưng hằng
thấy, chính cái không tướng đó là thanh tịnh. Như vậy tự nó đã thanh tịnh, tìm tịnh
làm chi. Tìm tịnh thành ra tìm thêm một cái thứ hai nữa, như vậy tự nhiên chúng ta
mất tự tánh của mình mà không hay. Cái nghe, cái thấy cho đến tâm niệm thanh
tịnh của mình, tất cả là một thể thanh tịnh sẵn có của tất cả chúng ta, do vọng niệm
dấy lên che đậy chân như. Chân như chỉ tánh tịnh sẵn có của chúng ta. Vì vọng
niệm dấy lên nên cái tịnh bị khuất, nay chỉ không có vọng tưởng thì tánh tự thanh
tịnh, vì thế chỉ cần không vọng tưởng là đủ, chớ đừng tìm cái thanh tịnh. Nhiều
người không hiểu cứ ngồi tìm cho tướng thanh tịnh hiện ra, đến khi nào có ? Nếu
ngồi yên tịnh, vọng tưởng dấy lên biết là vọng, không theo nó thì vọng lặng xuống,
chân như hay bản tánh thanh tịnh hiện tiền không cần phải tìm, phải chấp, chấp
tịnh là bệnh. Thế nên nói nếu khởi tâm chấp tịnh trở lại sanh tịnh vọng. Tịnh là
không vọng, tự nó là tịnh, tịnh đó mới thật, còn khởi niệm tìm tịnh thì tịnh đó là
tịnh vọng. Vì thế khi tu phải thận trọng, có người nghe nói tâm mình thênh thang
như hư không, lại tưởng tâm mình rộng như hư không, họ tưởng như thế và nói
như vậy là đúng. Thênh thang là tự nó thênh thang, chớ tưởng nó thênh thang thì
cái tưởng đó là bệnh, đây là chỗ lầm lẫn của nhiều người tu. Vọng không có chỗ
nơi, do chấp mà thành vọng. Nếu hiểu thật kỹ thì trong cuộc sống của chúng ta,
việc tu thật là dễ, còn không hiểu thì việc tu thật là khó. Ai tu cũng sợ vọng. Vọng
liên miên không dừng, nhưng thử hỏi tại sao có vọng ? -Tại chấp mà có ! Thí dụ
như tôi đang đi, chợt nghe một đứa bé gọi tên tôi. Nếu tôi cười và đi thẳng thì tôi
có vọng không ? Nếu nghe gọi tên, tôi nghĩ thằng bé hỗn, dám gọi tên người lớn,
vừa nghĩ như thế là bao nhiêu vọng tưởng sanh. Như vậy vừa dấy một niệm chấp
là bao nhiêu vọng tưởng sanh. Trái lại nếu bỏ qua không chấp thì không có vọng
tưởng. Thế nên vọng không có chỗ nơi, nó không thật, do chấp mà thành vọng.
Giả sử quí vị đang ngồi nói chuyện với nhau, có ai lỡ nói một câu quá đáng, nếu
thông qua thì không loạn, nếu chấp vào câu đó cho là họ khi mình hay mỉa mai
mình, vừa có niệm nghĩ như thế là bất an ngay, vậy bất an gốc từ đâu ? Từ chấp
mà ra, nên niệm chấp biến thành vọng. Nếu chúng ta không có niệm chấp thì vọng
không có. Người không chấp thì an ổn. Nếu chúng ta gan dạ, nghe thấy mọi việc
đều không chấp thì chúng ta tu rất dễ. Hiện nay, sở dĩ ai cũng than thở tu khó là tại
chấp; do đây chúng ta mới hiểu rõ ý lời nói “Thiền tông phá chấp” là thế. Nếu hết
chấp thì đâu có vọng. Nay muốn dẹp vọng mà không phá chấp thì làm sao vọng
hết ? Ngồi thiền muốn vọng không khởi, nhưng ai nói câu gì cũng chấp, cũng phân
biệt phải quấy khen chê, như vậy có hết vọng được không ? Hẳn là không. Tột cùng chỗ không yên của chúng ta gốc từ chấp, nếu buông được chấp thì mọi việc
đều yên. Vì thế người tu càng chấp nhiều thì càng khó tu. Người nào mở miệng
nói phải, nói quấy, nói hơn, nói thua, người đó khó tu nhất, còn người nào gặp việc
gì cũng xí xóa bỏ qua thì người đó dễ tu. Thế nên tất cả chấp là gốc của phiền não,
của vọng tưởng, vì thế Tổ bảo: “Vọng không có xứ sở, do chấp thành vọng”, nhớ
điểm đó mới hiểu ý nghĩa “phá chấp” trong Thiền tông.
Tuy nhiên hiện nay có nhiều người hiểu lầm, nghe nói tu thiền phá chấp
mới bày đặt những hình thức lạ đời nói là để phá chấp. Ví dụ như người tu mà ăn
mặc xốc xếch, áo không gài hoặc vô quán ngồi ăn mặn rồi nói tôi phá chấp. Như
vậy phải phá chấp không ? Hay chỉ làm chướng mắt thiên hạ, lại thêm bệnh ? Tất
cả những việc phá chấp như vậy là sự lầm lẫn của những người nông nổi, không
hiểu được ý Tổ, ý Phật, lại đem những lời Phật, Tổ ra để ngụy biện cho những
hành động lầm lẫn tội lỗi của họ, đó không phải là người hiểu đạo. Phá chấp là khi
việc xảy đến hoặc khen chê, hoặc hơn thua, phải quấy, chúng ta không chấp, đó
mới là phá chấp. Vì thế Phật tử hay Tăng Ni phải hiểu thấu đáo lời Phật, Tổ dạy.
Chúng ta biết vọng gốc từ chấp, nếu không chấp là vọng hết, vậy muốn hết vọng
trước tiên phải hết chấp, chớ nếu vẫn cứ chấp thì không bao giờ dẹp hết vọng được.
Cũng như sóng dấy động là bởi gió, muốn sóng lặng trước hết gió phải lặng. Biết
cái nào trước, cái nào sau thì sự tu hành của chúng ta mới không tốn công vô ích.
Nếu chúng ta ngồi cứ đè vọng cho nó lặng xuống, nhưng ai nói chi mình chấp nấy
thì chừng nào mới hết vọng? Kềm mãi rồi đau đầu, rồi phiền não, cho là tu không
hiệu quả gì cả. Không hiệu quả, gốc tại cái chấp của mình. Nói thế để rõ trong việc
tu, việc nào là gốc, việc nào là ngọn, nếu không hiểu thì tu không kết quả, lại sanh
nhọc nhằn.
Vọng tưởng gốc từ chấp mà ra, ai buông được các chấp thì hết vọng tưởng.
Nhưng chấp những gì ? Đó là câu hỏi thiết yếu. Trong phần trên, tôi đã nói lược
qua, chấp là chấp phải quấy, tốt xấu v.v… Ví như tôi nói bình bông này đẹp, nhưng
người có con mắt mỹ thuật khác tôi, nói bình bông không đẹp. Nếu tôi chấp lời nói
của tôi là chân lý thì, tôi nổi giận ngay, trái lại nếu tôi không chấp, tôi chỉ cười,
việc sẽ êm. Mình có cái nhìn khác, người có cái nhìn khác, tại sao bắt người phải
nhìn giống mình ? Cả đến con người mình, sự ăn mặc của mình cũng vậy. Thí dụ
chúng ta cao, người ta nói mình cao như cây tre nêu, mình giận; nếu mình lùn, họ
nói mình lùn tịt mình cũng giận. Tại sao chúng ta giận ? Chỉ vì chấp mình là đẹp
nên ai nói xấu thì mình giận. Giả sử chúng ta đang ăn cơm, có người đến chê thức
ăn của ta thế này thế kia, nếu chúng ta giận là ta cũng chấp rồi. Hoặc chúng ta mặc
chiếc áo, có người chê màu áo là xấu, họ chê mặc họ, mình thích thì cứ mặc,
không phải vì lẽ họ nói sắc áo xấu rồi chiếc áo biến thành xấu nên chúng ta giận
họ. Tóm lại từ ngôn ngữ đến việc ăn mặc, nhà cửa, con cái, tất cả chúng ta đều
chấp là chân lý, là hơn hết nên ai vừa chạm đến là chúng ta nổi sân liền. Nếu cứ
chấp như vậy, chúng ta sẽ phiền não nhiều, vì có người trực tính thấy xấu thì nói
xấu, thấy tốt thì nói tốt, nhưng chúng ta chỉ thích nghe nói tốt, nên nghe nói xấu là
phiền não. Lại có nhiều người xấu tính, thích mỉa mai chơi, thấy chúng ta thích
được khen, sợ bị chê, họ mỉa mai chơi vài lời chúng ta cũng phiền não… Trong cuộc sống hiện tại, chúng ta sống đúng với sở nguyện, còn người chung quanh
cũng có quyền nhìn những gì tốt xấu theo nhãn quan của mỗi người, vậy chúng ta
không nên cố chấp; không cố chấp tức nhiên không có vọng tưởng, giả sử có thì
cũng nhẹ thôi, buông xả sẽ dễ dàng. Nếu buông xả được chấp thì việc tu sẽ dễ
được năm mươi phần trăm rồi, trái lại nếu chấp quá nặng thì việc tu sẽ thật khó.
Nếu cứ cố chấp, dầu phương pháp hay do Phật đem tới cũng không giúp hết vọng
được, vì chấp không bỏ thì vọng không bao giờ dừng, đó là một lẽ thật. Thế nên
khi học đạo một câu nói của Phật, của Tổ đủ cho chúng ta sống, nhưng tiếc là
chúng ta hơi xem thường nên tu không tiến được.
Tóm lại, điểm đầu tiên là vọng gốc từ chấp mà ra, nên chấp tâm cũng là
bệnh. Điểm thứ hai là nhiều người tu cứ khán tịnh, tức là trông thấy cái tịnh,
nhưng tịnh cần gì trông thấy, chỉ không vọng là tịnh, vậy chấp tịnh cũng là tịnh
của vọng chớ không phải là tịnh chân thật.
Này Thiện tri thức, nếu người tu hạnh bất động, chỉ khi thấy tất cả người,
không thấy việc phải quấy, tốt xấu, lỗi lầm của người tức là tự tánh bất động.
Thấy tất cả người, nhưng không thấy việc phải quấy tốt xấu của họ thì
chúng ta đâu có phê bình, không phê bình thì đâu có loạn tưởng. Trái lại thấy ai
chúng ta cũng thấy phải quấy tốt xấu, tự nhiên chúng ta sẽ phê bình, có phê bình
tức nhiên có vọng tưởng, thấy mười người thì mười lần vọng tưởng, vọng tưởng
tức là động. Theo Tổ, không phải người tu ngồi nhắm mắt là hết động. Tổ cho
chúng ta thấy tất cả người, nhưng khi thấy tất cả người, đừng thấy việc phải quấy,
tốt xấu của họ, đó là bất động. Như vậy thấy tất cả người, lúc đó là động nhưng
trong động mà không động, vì nhìn tất cả người nhưng chúng ta không kẹt vào
việc phải quấy tốt xấu của người thì đâu có động. Như vậy phương pháp Tổ dạy
rất là dễ, nhưng cũng rất là khó, là vì không bắt chúng ta ngồi thiền, mắt nhìn
xuống một chỗ, Ngài cho chúng ta tiếp xúc với tất cả, chỉ đừng thấy điều phải
quấy, hay dở của người thì sự tiếp xúc không có lỗi gì cả, tức là động mà bất động.
Còn chúng ta ngồi nhắm mắt nhưng cứ nhớ người này phải, người kia quấy thì
nhắm mắt ngồi yên vẫn là động. Tóm lại Ngài dạy tu hạnh bất động là khi thấy tất
cả người không thấy việc phải quấy, tốt xấu, lỗi lầm của người, “tức là tự tánh bất
động”. Cái bất động đó là cái bất động của tự tánh, cái bất động chân thật, không
do đè hay kềm gì cả.
Này Thiện tri thức, người mê thân tuy bất động, mở miệng liền nói việc
phải quấy, hay dở, tốt xấu của người là cùng đạo đã trái nhau, chấp tâm, chấp tịnh
tức là chướng đạo.
Đến đây Tổ mới quở. Người mê ngồi yên, nghiêm chỉnh lắm, thân không
động nhưng mở miệng thì nói việc phải quấy, hay dở, tốt xấu của người, như vậy
là trái với đạo. Tại sao ? Vì khi nói như thế là tâm đã động, tâm động tức trái với
đạo ! Thấy như thanh tịnh nhưng thật không tịnh. Trái lại nếu thấy tất cả người mà
không thấy việc phải quấy của người thì thân xem như động (vì tới lui, qua lại)
nhưng tâm vẫn không động, đó mới là tự tánh định, tức định của tự tánh. Vậy nên
ngồi thiền hay không ngồi thiền ? Nếu không ngồi thiền thì phải thấy như lời Tổ
dạy mới được, chớ không ngồi thiền lại đến người này người kia rồi về phê bình người này thế này, người kia thế nọ… thì việc không ngồi thiền đó là bệnh, bệnh
nặng ! Tổ dạy thật là đơn giản, Ngài chỉ cho chúng ta thấy chủ yếu của sự tu hành.
Thế nên người tu nếu phải quấy, hay dở, tốt xấu đều không chấp đó là hợp với đạo;
nếu còn chấp là trái với đạo, dầu ngồi yên cũng chưa phải là yên. Sau cùng Ngài
kết thúc: Chấp tâm, chấp tịnh tức là chướng đạo.
Tổ dạy chúng: Này Thiện tri thức, sao gọi là Tọa Thiền ? Trong pháp môn
này không chướng không ngại, ngoài đối với tất cả cảnh giới thiện ác, tâm niệm
chẳng khởi gọi là tọa, trong thấy tự tánh chẳng động gọi là thiền.
Đối với tất cả cảnh giới thiện ác tâm niệm không khởi, đó là tọa; thành ra
tọa này là tâm lặng xuống gọi là tọa chớ không phải ngồi là tọa. Trong thấy tự tánh
chẳng động gọi là thiền. Nhận ra tự tánh bất động của mình là thiền. Giả sử đang
đi ngoài đường mà chúng ta sống được với tự tánh mình, tâm không khởi, đó là
tọa thiền, còn ngồi một chỗ nghiêm chỉnh nhưng không thấy tự tánh, tâm cứ khởi
thì chưa phải là tọa thiền. Lục Tổ dạy tọa thiền thật đặc biệt, Ngài không cố chấp
hình thức, Ngài không dạy ngồi kiết già hay bán già chi cả, nên nhiều người đọc
kinh tìm phương pháp Lục Tổ dạy tọa thiền nhưng không thấy; vì theo Ngài, tâm
không chạy theo cảnh tức là yên, yên là tọa, nhận được tự tánh của mình, sống
được với tự tánh là thiền, tọa thiền là như thế. Người được như vậy là tọa thiền.
Này Thiện tri thức, sao gọi là Thiền định ? Ngoài lìa tướng là thiền, trong
chẳng loạn là định.
Tiếp đến Ngài định nghĩa Thiền định: Ngoài đối tướng không kẹt tướng là
thiền, trong không loạn là định, tu thiền định là tu như vậy. Nhiều khi có người hỏi:
Thưa Thầy, Thầy tu thiền định như thế nào ? Chúng ta thường đáp: Tu thiền định
là phải ngồi kiết già v.v… Đối với Lục Tổ không phải như thế. Thiền định của
Ngài dạy là: Ngoài lìa tướng là thiền, trong tâm không loạn là định; như vậy chúng
ta đi ngoài đường hay cuốc cỏ nhưng ngoài lìa tướng và trong tâm không loạn là
chúng ta đang thiền định. Có khi chúng ta ngồi nơi chợ mà được ngoài lìa tướng,
trong tâm không loạn cũng là chúng ta đang thiền định; trái lại ngồi trên chùa
nhưng cứ nhớ tướng mãi là không phải thiền định. Tổ dạy thật là rõ, chính điểm
này mới thấy được giá trị chân thật của sự tu hành.
Ngoài nếu chấp tướng, trong tâm tức loạn.
Sở dĩ tâm chúng ta loạn là vì chúng ta chấp tướng, nếu không chấp tướng là
tâm mình không loạn. Rốt cuộc loạn cũng từ chấp mà ra. Chấp tướng tức là chấp
tướng đẹp, tướng xấu, tướng hay, tướng dở… Những tướng đó vừa chấp là tâm
loạn, vì thế nói ngoài lìa tướng tức là đối với tất cả tướng mình không chấp đó là
thiền, trong tâm không loạn đó là định.
Ngoài nếu lìa tướng tâm tức chẳng loạn, bản tánh tự tịnh, tự định.
Nếu ngoài lìa tướng thì trong tâm không động, tâm không động đó là bản
tánh mình tự tịnh tự định. Có nhiều người ngồi thiền trông cho được định. Không
cần phải trông, ngồi mà mắt thấy tai nghe nhưng không chạy theo cảnh, đó là lìa
tướng, là thiền; tâm lặng lẽ, không dấy khởi, đó là định, khi ấy gọi là thiền định.
Thiền định như thế mới gọi là Tự tánh thanh tịnh thiền, thiền thanh tịnh của tự
tánh, chớ không phải định là quên hết tất cả, không nghe tiếng, không thấy người, không phải thiền do đè mà tâm yên hay là say trong chấp cảnh. Có nhiều lối dạy tu
thiền như dùng một đề mục, như quán bất tịnh chẳng hạn, người tu theo dõi cảnh
bất tịnh đó, tâm say trong đó rồi quên thân, nghĩa là mượn cảnh mà quên, đó là
thiền Tiểu thừa. Hoặc là tưởng không, tưởng lửa hay tưởng nước…, do tâm tưởng
rồi say trong tưởng, quên thân gọi là định, nhưng đó là định trong tưởng. Định do
Tổ dạy là định của tự tánh nên nó thâm trầm, rất nhẹ, khác hơn tất cả. Định này
không phải kềm mà được, mà do trí phá được chấp, đối cảnh không chấp nên
không kẹt nơi tướng, tâm không động tức đó là tịnh, là định.
Ngài nói đến bệnh của chúng ta:
Chỉ vì thấy cảnh, suy nghĩ cảnh tức là loạn. Nếu thấy các cảnh mà tâm
chẳng loạn, ấy là chân định vậy.
Thấy cảnh liền suy nghĩ cảnh nên loạn, nếu thấy tất cả cảnh, tâm không
loạn, đó là định chân thật. Như vậy trong mọi hành động đi đứng nằm ngồi, và cả
trong việc tiếp xúc với mọi người, làm thế nào cảnh qua rồi tâm không dính mắc
thì không có bệnh và định như thế mới là chân định. Nếu định do chúng ta cố kềm
tâm một chỗ hay mượn một cảnh để trụ tâm thì định đó có xuất có nhập, không
phải là định chân thật. Tâm hằng an tịnh, không dính với cảnh, đó mới là định
chân thật, không xuất không nhập gọi là đại định. Đại định là như thế, chớ không
phải nhập được định rồi quên thân thì gọi là đại định. Tôi nhắc lại: Đi đứng nằm
ngồi không bị cảnh chi phối, tâm hằng lặng lẽ thanh tịnh, đó là đại định, không có
xuất, nhập.
Ngài lặp lại một lần nữa: Này Thiện tri thức, ngoài lìa tướng tức là thiền,
trong chẳng loạn tức là định, ngoài thiền trong định, ấy gọi là Thiền định.
Như vậy bất cứ chỗ nào cũng tu thiền định được cả. Thiền định này không
cần ngồi một chỗ, mắt nhìn xuống. Thiền định này là trong mọi hoạt động, trong
mọi công tác, làm mà không kẹt nơi tướng, không chạy theo cảnh, tâm hằng lặng
lẽ. Cuốc đất cũng thiền định, bửa củi cũng thiền định, nấu cơm cũng thiền định,
như thế mới đúng là thiền định của Lục Tổ dạy. Vì thế mới hiểu tại sao thuở xưa
có một lần Lục Tổ gặp một vị Tăng đang ngồi thiền, Ngài cầm gậy đập cho một
gậy, ông Tăng hoảng chạy. Tại sao Tổ đánh ? Vì chủ yếu của Ngài là thiền định
trong mọi hành động, chớ không đợi ngồi mới gọi là thiền định. Nhưng hiện nay
người nào ngồi lim dim mới nói là thiền định, có nhiều người ngồi tưởng đủ
chuyện cũng nói là thiền định ! Tôi nhắc lại: Thiền định của Tổ dạy là ngoài lìa
tướng, trong tâm không loạn. Ngoài làm thế nào lìa tướng ? Trước tiên nhờ trí tuệ
biết tất cả tướng là hư giả, không quan trọng nên tâm không dính mắc nơi tướng,
đó là lìa tướng, tự nhiên trong tâm không loạn; như vậy lúc nào cũng thiền định, đi
đâu cũng thiền định, ngồi chơi cũng thiền định, cả đến làm công tác cũng thiền
định. Thiền định của Lục Tổ không chướng ngại sự sinh hoạt, nên tổ Bá Trượng
nói: “Một ngày không làm, một ngày không ăn.” Nếu thiền định phải ngồi lim dim
hoài thì ngài Bá Trượng đâu dám nói câu đó.
Tóm lại chúng ta cố làm thế nào để thiền định được trong mọi hoàn cảnh,
nghĩa là trong cảnh nào chúng ta vẫn làm việc và vẫn thiền định. Thiền định này
nếu ứng dụng đến mức thì rất hay, vừa lợi cho mình, vừa lợi cho xã hội. Một Phật tử ở Thành phố Hồ Chí Minh có ruộng gần cầu Bình Lợi, mỗi sáng ông đi xe đạp
đến đó, ông cứ nhìn tới trước và đạp xe thôi, chớ không nhìn gì khác nên đến nơi
mà không hay và cũng không thấy mệt. Giả sử khi nào đang đạp mà ông nghĩ một
việc gì khác thì xe đảo qua, đảo lại, còn nếu cứ nhìn tới, chăm chăm đạp, không
nghĩ gì thì xe chạy đều, không bị đảo. Ứng dụng vào nghề may, nếu người nào
may, cứ chăm chăm trong đường may, không nhìn gì khác cũng không lo ra,
đường chỉ sẽ thẳng và đều… Như vậy càng tu thiền việc làm càng khéo, càng tinh
nhuệ. Nếu cuốc rẫy mà biết tu thiền thì thế nào ? Khi cuốc chúng ta cứ cuốc đừng
nghĩ gì cả, đừng nhìn đồng hồ, đừng nhìn mặt trời… Phần nhiều chúng ta cuốc một
lát thấy hơi mệt liền nhìn mặt trời, nhìn đồng hồ, rồi ngán, ngồi lại hút thuốc, nói
khào… mất bao nhiêu là thì giờ. Trái lại nếu chúng ta chăm chỉ cuốc, không nghĩ
gì cả, đến trưa mà không hay, như vậy vừa có lợi vừa không ngán. Vậy nếu ai biết
ứng dụng đúng thì trong mọi hành động đều tu được. Nếu ngồi thiền mới là tu thì
đó là tiêu cực, vì người ham tu cứ ngồi hoài, không làm gì được cả. Phải vừa tu
vừa làm việc được mới đúng chỗ thiết yếu Lục Tổ dạy, chớ không phải ngồi yên
một chỗ mới gọi là Thiền định.
Ngài định nghĩa rất rõ: Ngoài lìa tướng là thiền, trong tâm không loạn là
định. Chúng ta làm tất cả mà không chạy theo cảnh là lìa tướng, tâm không theo
cảnh thì tâm yên không loạn, như vậy hành động nào cũng là thiền định. Có thế
mới hiểu được câu ông Duy Ma Cật trả lời Đồng tử Quang Nghiêm. Đồng tử từ
thành Tỳ-da đi ra, vừa đến cửa thì gặp ông Duy Ma Cật từ ngoài thành đi vào.
Đồng tử hỏi: “Trưởng giả từ đâu lại ?” Ông Duy Ma Cật trả lời: “Tôi từ đạo tràng
lại.” Thường đạo tràng là chỗ nào ? Là chùa, là nơi ngồi tu, là nơi giảng kinh… Rõ
ràng ông từ ngoài thành vào, tại sao lại nói từ đạo tràng lại ? Người mới đọc chắc
nghĩ: Ông nói không đúng sự thật. Nếu hiểu được lời trên “ngoài lìa tướng là thiền,
trong tâm không loạn là định”, mới hiểu được câu trả lời của ông Duy Ma Cật.
Chỗ nào mà chúng ta thiền định thì chỗ đó là đạo tràng, dù giữa chợ mà lìa tướng,
tâm không loạn thì giữa chợ cũng là đạo tràng, không đợi lên đến Tu viện Chân
Không mới là đạo tràng. Làm thế nào ngồi ngoài chợ mà vẫn là ngồi nơi đạo tràng
đó mới là hay ! Hiểu như thế mới thấy tinh thần Thiền là dạy chúng ta tâm không
dính với cảnh, tức nhiên tâm không loạn, như vậy lúc nào cũng thiền định.
Ngài dẫn:
Kinh Bồ-tát Giới nói: Bản tánh của ta vốn tự thanh tịnh.
Bản tánh chúng ta vốn tự thanh tịnh nên không dính cảnh, không loạn là
sống với bản tánh, sống với bản tánh tức là tự tánh thanh tịnh thiền.
Này Thiện tri thức, trong mỗi niệm tự thấy được bản tánh thanh tịnh, tự tu,
tự hành, tự thành Phật đạo.
Sau cùng Ngài nhắc nhở: Nếu người nào trong mỗi niệm, tức là hằng phút
hằng giây, tự thấy bản tánh thanh tịnh của mình, không nhớ chuyện phải quấy, hay
dở của người, đó là mình tự tu, tự hành và tự thành Phật đạo.
Trong phẩm này trước nói Tọa Thiền sau nói Thiền Định, tuy chia hai
nhưng không phải là hai. Về Tọa Thiền Ngài dạy ngoài không chấp cảnh là tọa,
trong nhận ra được bản tánh là thiền. Ngài lại dạy ngoài lìa tướng là thiền, trong không loạn là định. Như vậy Tọa Thiền hay Thiền Định tuy nói hai nhưng chủ yếu
thật không hai, cũng là cốt không chấp cảnh, không chấp cảnh đó là thiền, tâm an
định, không loạn đó là định. Hiểu như thế tức nhiên hiểu được đường lối tu thiền
của Lục Tổ, đó cũng chính là đường lối của Thiền tông. Không phải chỉ riêng
Thiền tông, chính trong kinh Phật, kinh Duy Ma Cật cũng nói rõ như vậy không
khác. Tất cả kinh Đại thừa, đối với chỗ này đều khế hợp, nên Tổ nói rằng Tổ là
người được truyền tâm ấn của Phật. Ngài đâu có nói khác với Phật, chỉ vì Ngài
không giải thích như trong kinh, Ngài cũng không dùng phương tiện từ thấp đến
cao mà Ngài chỉ thẳng chỗ cứu kính, nên mới nghe chúng ta không hiểu, thấy
dường như khác kinh, chớ sự thật không có khác.
DPHẨM THỨ SÁU: SÁM HỐI
DỊCH
Khi ấy Tổ thấy sĩ thứ bốn phương từ Quảng Châu, Thiều Châu đua nhau
đến trong núi nghe pháp, Tổ mới đăng tòa bảo chúng: “Đến đây, các Thiện tri thức,
tánh này phải từ trong tự tánh mà khởi, trong tất cả thời, mỗi niệm tự tịnh tâm kia,
tự tu, tự hành, thấy Pháp thân của mình, thấy tâm Phật của mình, tự độ, tự giới
mới được, không nhờ đến đây. Đã từ xa đến, một hội ở đây đều cùng có duyên,
nay có thể mỗi vị quì gối, trước tôi vì truyền cho Tự Tánh Ngũ phần Pháp thân
hương, kế đó là trao Vô tướng sám hối.”
Chúng đều quì gối, Tổ bảo:
“Một là Giới hương, tức là trong tâm mình không có quấy, không có ác,
không tật đố, không tham sân, không cướp hại, gọi là Giới hương.
Hai là Định hương tức là thấy các cảnh tướng thiện ác, tự tâm chẳng loạn
gọi là Định hương.
Ba là Tuệ hương là tâm mình không ngại, thường dùng trí tuệ quán chiếu tự
tánh, chẳng tạo các ác, tuy tu các hạnh lành mà tâm không chấp trước, kính bậc
trên thương kẻ dưới, cứu giúp người cô bần, gọi là Tuệ hương.
Bốn là Giải thoát hương tức tự tâm mình không có chỗ phan duyên, chẳng
nghĩ thiện, chẳng nghĩ ác, tự tại vô ngại gọi là Giải thoát hương.
Năm là Giải thoát tri kiến hương tự tâm đã không có chỗ phan duyên thiện
ác, không thể trầm không trệ tịch, tức phải học rộng nghe nhiều biết bản tâm mình,
đạt được lý của chư Phật, hòa quang tiếp vật, không ngã không nhân, thẳng đến
Bồ-đề, chân tánh không đổi, gọi là Giải thoát tri kiến hương.
Này Thiện tri thức, hương này mỗi người tự huân ở trong, chớ hướng ra
ngoài tìm.
Nay tôi vì các ông trao Vô tướng sám hối để diệt tội trong ba đời, khiến
được ba nghiệp thanh tịnh. Này Thiện tri thức, mỗi người đồng thời nói theo lời
tôi :
Đệ tử chúng con, từ niệm trước, niệm hiện nay và niệm sau, mỗi niệm
không bị ngu mê làm nhiễm, từ trước có những nghiệp ác, ngu mê v.v… các tội,
thảy đều sám hối, nguyện một lúc tiêu diệt, hằng không khởi lại.
Đệ tử chúng con từ niệm trước, niệm hiện nay và niệm sau, mỗi niệm
không bị kiêu cuống làm nhiễm, từ trước có những nghiệp ác, kiêu cuống v.v…các
tội, thảy đều sám hối, nguyện một thời tiêu diệt, hằng không khởi lại. Đệ tử
chúng con từ niệm trước, niệm hiện tại và niệm sau, mỗi niệm không bị tật đố làm
nhiễm, từ trước có những nghiệp ác, tật đố v.v… các tội, thảy đều sám hối, nguyện
một lúc tiêu diệt, hằng không khởi lại.
Này Thiện tri thức, về trước là Vô tướng Sám hối. Thế nào gọi là sám ? Thế
nào gọi là hối ? Sám là sám những lỗi về trước, từ trước có những nghiệp ác ngu
mê, kiêu cuống, tật đố v.v… các tội, thảy đều sám hết hằng không khởi lại, gọi đó
là sám. Hối là hối những lỗi về sau, từ nay về sau có những nghiệp ác, ngu mê, kiêu cuống, tật đố v.v… các tội, nay đã giác ngộ, thảy đều hằng đoạn, lại không tạo
lại, ấy gọi là hối, nên gọi là sám hối. Người phàm phu ngu mê, chỉ biết sám lỗi
trước, chẳng biết hối lỗi sau, do vì không hối nên tội trước chẳng diệt, lỗi sau lại
sanh. Tội trước đã chẳng diệt, lỗi sau lại sanh, sao gọi là sám hối được.
Này Thiện tri thức, đã sám hối xong, vì Thiện tri thức phát Tứ hoằng thệ
nguyện, mỗi người phải dụng tâm chánh lắng nghe:
Tự tâm chúng sanh vô biên thệ nguyện độ, Tự tâm phiền não vô biên thệ
nguyện đoạn,
Tự tánh pháp môn vô tận thệ nguyện học,
Tự tánh Vô thượng Phật đạo thệ nguyện thành.
Này Thiện tri thức, cả thảy đâu chẳng nói: Chúng sanh vô biên thệ nguyện
độ, nói thế ấy, vả lại không phải là Huệ Năng độ. Này Thiện tri thức, chúng sanh
trong tâm, chỗ gọi tâm tà mê, tâm cuống vọng, tâm bất thiện, tâm tật đố, tâm ác ,
những tâm như thế trọn là chúng sanh, mỗi người nên tự tánh tự độ, ấy gọi là chân
độ. Sao gọi là tự tánh tự độ ? Tức tự trong tâm những chúng sanh tà kiến, phiền
não, ngu si, đem chánh kiến mà độ. Đã có chánh kiến bèn sử dụng trí Bát-nhã
đánh phá những chúng sanh ngu si mê vọng, mỗi mỗi tự độ, tà đến thì chánh độ,
mê đến thì ngộ độ, ngu đến thì trí độ, ác đến thì thiện độ, độ như thế gọi là chân độ.
Lại phiền não vô biên thệ nguyện đoạn, đem tự tánh Bát-nhã trí trừ tâm tư tưởng
hư vọng ấy vậy. Lại pháp môn vô tận thệ nguyện học, phải tự thấy tánh của mình,
thường hành chánh pháp, ấy gọi là chân học. Lại Vô thượng Phật đạo thệ nguyện
thành, đã thường hay hạ tâm hành nơi chân chánh, lìa mê, lìa giác, thường sanh
Bát-nhã trừ chân trừ vọng, tức thấy được Phật tánh, liền ngay nơi lời nói, liền
thành Phật đạo, thường nhớ tu hành, ấy là pháp nguyện lực.
Này Thiện tri thức, nay phát Tứ hoằng thệ nguyện rồi lại vì Thiện tri thức
mà trao Vô tướng Tam qui y giới. Này Thiện tri thức,
Qui y Giác Lưỡng túc tôn,
Qui y Chánh Ly dục tôn,
Qui y Tịnh Chúng trung tôn.
Từ ngày nay trở đi xưng Giác làm thầy, lại chẳng qui y tà ma ngoại đạo,
dùng tự tánh Tam Bảo thường tự chứng minh, khuyên Thiện tri thức qui y tự tánh
Tam Bảo. Phật là Giác, Pháp là Chánh, Tăng là Tịnh vậy. Tự tâm qui y Giác, tà
mê chẳng sanh, thiểu dục tri túc hay lìa tài sắc, gọi là Lưỡng túc tôn. Tự tâm qui y
Chánh, niệm niệm không tà kiến, vì không tà kiến tức là không nhân ngã cống cao,
tham ái, chấp trước gọi là Ly dục tôn. Tự tâm qui y Tịnh, tất cả cảnh giới trần lao
ái dục, tự tánh đều không nhiễm trước gọi là Chúng trung tôn. Nếu tu hạnh này, ấy
là tự qui y. Phàm phu không hiểu, từ sáng đến tối, thọ tam qui giới, nếu nói qui y
Phật, Phật ở chỗ nào ? Nếu chẳng thấy Phật thì nương vào chỗ nào mà qui, nói lại
thành vọng. Này Thiện tri thức, mỗi người tự quan sát, chớ lầm dụng tâm, kinh
văn rõ ràng nói tự qui y Phật, chẳng nói qui y với Phật khác, tự Phật mà chẳng qui
thì không có chỗ nào mà y được. Nay đã tự ngộ, mỗi người phải qui y tự tâm Tam
Bảo, trong thì điều hòa tâm tánh, ngoài thì cung kính mọi người, ấy là tự qui y vậy. Này Thiện tri thức, đã qui y tự Tam Bảo xong, mỗi người phải chí tâm, tôi
vì nói một thể ba thân tự tánh Phật, khiến các ông thấy được ba thân rõ ràng tự ngộ
tự tánh. Phải nói theo tôi:
Nơi tự sắc thân qui y Thanh Tịnh Pháp Thân Phật,
Nơi tự sắc thân qui y Viên Mãn Báo Thân Phật,
Nơi tự sắc thân qui y Thiên Bá Ức Hóa Thân Phật.
Này Thiện tri thức, sắc thân là nhà cửa không thể nói qui hướng, ba thân
Phật ở trong tự tánh người đời thảy đều có, vì tự tâm mê không thấy tánh ở trong
nên chạy ra ngoài tìm ba thân Như Lai, chẳng thấy ở trong thân có ba thân Phật.
Các ông lắng nghe tôi nói khiến các ông ở trong tự thân thấy được tự tánh có ba
thân Phật. Ba thân Phật này từ nơi tự tánh sanh, chẳng phải từ ngoài mà được.
Sao gọi là Thanh Tịnh Pháp Thân Phật ? Người đời bản tánh là thanh tịnh,
muôn pháp từ nơi tánh mà sanh, suy nghĩ tất cả việc ác tức sanh hạnh ác, suy nghĩ
tất cả việc lành tức sanh hạnh lành. Như thế các pháp ở trong tự tánh như trời
thường trong, mặt trời mặt trăng thường sáng, vì mây che phủ nên ở trên sáng, ở
dưới tối, chợt gặp gió thổi mây tan, trên dưới đều sáng, vạn tượng đều hiện. Tánh
của người đời thường phù du như là mây trên trời kia. Này Thiện tri thức, trí như
mặt trời, tuệ như mặt trăng, trí tuệ thường sáng, do bên ngoài chấp cảnh nên bị
mây nổi vọng niệm che phủ tự tánh không được sáng suốt. Nếu gặp Thiện tri thức,
nghe được pháp chân chánh, tự trừ mê vọng, trong ngoài đều sáng suốt, nơi tự
tánh muôn pháp đều hiện. Người thấy tánh cũng lại như thế, ấy gọi là Thanh Tịnh
Pháp Thân Phật.
Này Thiện tri thức, tự tâm qui y tự tánh là qui y chân Phật. Tự qui y là trừ
bỏ trong tự tánh tâm bất thiện, tâm tật đố, tâm siểm khúc, tâm ngô ngã, tâm cuống
vọng, tâm khinh người, tâm lấn người, tâm tà kiến, tâm cống cao và hạnh bất thiện
trong tất cả thời, thường tự thấy lỗi mình, chẳng nói tốt xấu của người khác, ấy là
tự qui y. Thường tự hạ tâm, khắp hành cung kính tức là thấy tánh, thông đạt lại
không bị ngăn trệ, ấy là tự qui y.
Sao gọi là Viên Mãn Báo Thân Phật ? Thí như một ngọn đèn hay trừ ngàn
năm tối, một trí tuệ hay diệt muôn năm ngu. Chớ suy nghĩ về trước, đã qua không
thể được. Thường phải nghĩ về sau, mỗi niệm mỗi niệm tròn sáng, tự thấy bản tánh.
Thiện ác tuy là khác mà bản tánh không có hai, tánh không hai đó gọi là tánh thật.
Ở trong thật tánh không nhiễm thiện ác, đây gọi là Viên Mãn Báo Thân Phật. Tự
tánh khởi một niệm ác thì diệt muôn kiếp nhân lành, tự tánh khởi một niệm thiện
thì được hằng sa ác hết, thẳng đến Vô thượng Bồ-đề, niệm niệm tự thấy chẳng mất
bản niệm gọi là Báo thân.
Sao gọi là Thiên Bá Ức Hóa Thân Phật ? Nếu chẳng nghĩ muôn pháp thì
tánh vốn như không, một niệm suy nghĩ gọi là biến hóa. Suy nghĩ việc ác là hóa
làm địa ngục, suy nghĩ việc thiện thì hóa làm thiên đường, hại thì hóa làm rồng
rắn, từ bi thì hóa làm Bồ-tát, trí tuệ thì hóa làm thượng giới, ngu si thì hóa làm hạ
giới. Tự tánh biến hóa rất là nhiều, người mê không hay tỉnh giác, mỗi niệm khởi
ác thường đi trong con đường ác, xoay về một niệm thiện, trí tuệ liền sanh, đây gọi
là tự tánh Hóa thân Phật. Này Thiện tri thức, từ Pháp thân suy nghĩ tức là Hóa thân Phật, niệm
niệm tự tánh tự kiến tức là Báo thân Phật, tự ngộ tự tu, tự tánh công đức, ấy là
chân thật qui y. Da thịt là sắc thân, sắc thân đó là nhà cửa, không nói là qui y vậy.
Chỉ ngộ tự tánh ba thân tức là biết được tự tánh Phật. Tôi có một bài tụng Vô
Tướng, nếu người hay trì tụng, ngay nơi lời nói liền khiến cho ông, tội mê từ
nhiều kiếp, một lúc liền tiêu diệt. Tụng rằng:
Người mê tu phước chẳng tu đạo,
Chỉ nói tu phước liền là đạo,
Bố thí cúng dường phước vô biên,
Trong tâm ba ác xưa nay tạo.
Nghĩ muốn tu phước để diệt tội,
Đời sau được phước, tội vẫn còn,
Chỉ hướng trong tâm trừ tội duyên,
Mỗi người tự tánh chân sám hối.
Chợt gặp Đại thừa chân sám hối,
Trừ tà hành chánh tức không tội,
Học đạo thường nơi tự tánh quán,
Tức cùng chư Phật đồng một loại.
Tổ ta chỉ truyền pháp đốn giáo,
Khắp nguyện kiến tánh đồng một thể,
Nếu muốn đời sau tìm Pháp thân,
Lìa các pháp tướng trong tâm sạch.
Nỗ lực tự thấy chớ lơ là,
Một niệm chợt dứt một đời thôi,
Nếu gặp Đại thừa được thấy tánh,
Thành tâm cung kính chấp tay cầu.”
(Mê nhân tu phúc bất tu đạo,
Chỉ ngôn tu phúc tiện thị đạo,
Bố thí cúng dường phúc vô biên,
Tâm trung tam ác nguyên lai tạo.
Nghĩ tương tu phúc dục diệt tội,
Hậu thế đắc phúc, tội hoàn tại,
Đãn hướng tâm trung trừ tội duyên,
Các tự tánh trung chân sám hối.
Hốt ngộ Đại thừa chân sám hối,
Trừ tàø hành chánh tức vô tội,
Học đạo thường ư tự tánh quán,
Tức dữ chư Phật đồng nhất loại.
Ngô Tổ duy truyền thử đốn pháp,
Phổ nguyện kiến tánh đồng nhất thể,
Nhược dục đương lai mích Pháp thân,
Ly chư pháp tướng tâm trung tẩy.
Nỗ lực tự kiến mạc du du, Hậu niệm hốt tuyệt nhất thế hưu,
Nhược ngộ Đại thừa đắc kiến tánh,
Kiền cung hiệp chưởng chí tâm cầu.)
Tổ nói: “Này Thiện tri thức, phải tụng lấy, y đây tu hành, ngay nơi lời nói
mà thấy tánh, tuy cách tôi ngàn dặm như thường ở bên cạnh tôi; nơi lời nói này mà
chẳng ngộ tức là đối diện với tôi mà cách xa ngàn dặm, đâu cần từ xa đến đây.
Trân trọng đi được an vui.”
Cả chúng nghe pháp rồi không ai mà chẳng khai ngộ, đều hoan hỷ phụng
hành.
GIẢNG
Khi ấy Tổ thấy sĩ thứ bốn phương từ Quảng Châu, Thiều Châu đua nhau
đến trong núi nghe pháp, Tổ mới đăng tòa bảo chúng: “Đến đây, các Thiện tri thức,
tánh này phải từ trong tự tánh mà khởi, trong tất cả thời, mỗi niệm tự tịnh tâm kia,
tự tu, tự hành, thấy Pháp thân của mình, thấy tâm Phật của mình, tự độ, tự giới
mới được, không nhờ đến đây. Đã từ xa đến, một hội ở đây đều cùng có duyên,
nay có thể mỗi vị quì gối, trước tôi vì truyền cho Tự Tánh Ngũ phần Pháp thân
hương, kế đó là trao Vô tướng sám hối.”
Trong phẩm Sám Hối này Tổ dạy những phần sau đây: Ngũ phần Pháp thân
hương, Vô tướng sám hối, Tứ hoằng thệ nguyện v.v…
Trước hết chúng tôi giảng về Ngũ phần Pháp thân hương. Đầu tiên Tổ
thấy sĩ thứ từ xa đến núi nghe pháp, Ngài mới bảo: Tánh này ở ngay trong tánh
của mình mà khởi, không phải từ ngoài. Như vậy muốn sống được tự tánh của
mình thì trong tất cả thời mỗi niệm tự tịnh tâm mình, tự tu, tự hành, thấy được
Pháp thân,thấy được tâm Phật của mình, tự độ, tự giới mới được, không phải nhờ
đến núi này.
Bây giờ quí vị đã lỡ đến đây rồi, không lẽ làm thinh. Lẽ ra mỗi người phải
tự tu, tự độ, nhưng quí vị đã đến đây tức là có duyên với nhau. Vậy quí vị hãy quì
gối xuống, trước tôi sẽ truyền cho Tự tánh Ngũ phần Pháp thân hương, rồi sau sẽ
trao cho Vô tướng sám hối.
Chúng đều quì gối, Tổ bảo:
“Một là Giới hương, tức là trong tâm mình không có quấy, không có ác,
không tật đố, không tham sân, không cướp hại, gọi là Giới hương.
Hai là Định hương tức là thấy các cảnh tướng thiện ác, tự tâm chẳng loạn
gọi là Định hương.
Ba là Tuệ hương là tâm mình không ngại, thường dùng trí tuệ quán chiếu tự
tánh, chẳng tạo các ác, tuy tu các hạnh lành mà tâm không chấp trước, kính bậc
trên thương kẻ dưới, cứu giúp người cô bần, gọi là Tuệ hương.
Một là Giới hương, là ngay ở trong tâm mình không có quấy, không có ác,
không có tật đố, không có tham sân và không có cướp hại. Hai là Định hương, tức
là thấy những cảnh tướng tốt xấu lành dữ ở bên ngoài mà tâm mình vẫn an nhiên
bất động. Ba là Tuệ hương, đến đây Tổ dạy từ cao đến thấp, cao là tâm mình vô
ngại, thường dùng trí tuệ quán chiếu tự tánh, kế đó là không tạo những điều ác, và tuy làm các điều lành mà tâm không chấp trước. Không tạo ác có khi làm được,
còn khi tạo các điều lành mà không chấp thì dễ hay khó ? Tỉ dụ như có nhiều
người thật tốt hay làm những điều lành, thấy ai gặp nguy hiểm hoặc nghèo đói,
liền theo khả năng giúp đỡ, thật là tốt, nhưng giúp rồi thì nhớ hoài, giúp người này,
lại kể cho người kia nghe. Như vậy tốt thì tốt, điều thiện thì có làm mà tâm vẫn
còn chấp trước. Cho nên khi mình giúp đỡ ai, rồi mai chiều họ có vẻ quên ân bạc
nghĩa thì mình tức giận. Vì vậy trước là làm điều thiện rồi sau lồng cái ác vào, đến
khi tức giận thì nói nặng lời, hoặc có thể hại người nữa; cho nên trong cái thiện mà
chấp thì nó dễ biến thành ác. Vì vậy chúng ta không làm ác là tốt rồi, mà khi làm
thiện cũng đừng chấp nữa mới thật là hay, còn làm thiện mà chấp cũng không
được. Chính điều này chúng tôi đã thấy khá nhiều qua kinh nghiệm sống. Có một
vị có phương tiện sống dễ dàng, đem một đứa cháu mồ côi về nuôi nấng cho nó ăn
mặc rất là đầy đủ, học hành đàng hoàng. Duy có một điều là khi nổi giận kể công
ơn nuôi dưỡng đủ điều; khi đứa bé lớn lên nghe mãi lời kể ơn nó sanh chán nản, tự
ái, chịu không nổi, rồi bỏ đi. Vì vậy làm ơn mà sau trở thành oán, là vì chấp vào
việc làm thiện của mình. Cho nên chúng ta phải biết rõ điều thiện chúng ta làm rất
tốt, rất đáng khen, nhưng không chấp nữa thì cái tốt mới thật là tốt, đó gọi là Tuệ
hương. Nếu làm thiện mà còn chấp chưa phải là Tuệ hương. Điều ác không làm,
và làm tất cả điều lành lại không có chấp lành đó mới thật là tốt. Kế đến, trên thì
kính người trưởng thượng, dưới thì thương kẻ thấp kém hơn mình, tức là người
trên mình cung kính, kẻ dưới mình thương yêu, đồng thời gặp ai côi cút cô bần
mình giúp đỡ, được như vậy gọi là Tuệ hương.
Tổ dạy thật là kỹ vừa lý vừa sự đầy đủ, lý tức là tâm vô ngại, thường dùng
trí tuệ quán chiếu tự tánh; sự là không làm ác, hằng làm lành mà không chấp, kính
người trên, thương kẻ dưới, cứu giúp người cô bần, như vậy sự lý đầy đủ không
thiếu sót. Nhưng có một ít người học đạo không hiểu thấu đáo, nghe lời Phật lời
Tổ dạy trong kinh phải sống trở về tự tâm tự tánh của mình, rồi cứ chấp như vậy
và nói tôi trở về tự tâm tự tánh, ai làm gì thì làm cũng bất cần. Đó là bệnh chấp lý
mà bỏ sự. Người có trí tuệ biết sống trở về tự tâm tự tánh của mình, nhưng đối với
người ngoài cũng phải có trí tuệ, bỏ ác làm lành; để cho cái lành được viên mãn là
đừng chấp; rồi kính người trên thương kẻ dưới, đó mới là đạo đức. Nếu bảo đạo
đức là trở về tự tâm mình, rồi đối với thiên hạ ngang ngang ngược ngược không kể
ai hết, như vậy gọi là đạo đức chăng? Chúng ta thấy rõ Tổ dạy thật là chí lý, đầy
đủ cả hai mặt lý và sự, không thiên lệch một bên nào. Đó là nói về Tuệ hương.
Bốn là Giải thoát hương tức tự tâm mình không có chỗ phan duyên, chẳng
nghĩ thiện, chẳng nghĩ ác, tự tại vô ngại gọi là Giải thoát hương.
Giải thoát hương là tâm mình không có dính mắc, chữ phan duyên có nghĩa
là vin theo, là dính mắc. Chỗ giải thoát này là tâm không dính mắc với ngoại cảnh,
cũng không mắc kẹt với điều nghĩ lành nghĩ dữ; giải thoát là như vậy. Đừng nghĩ
giải thoát là bay bổng lên mây xanh, mà giải thoát là tâm không chạy theo cảnh,
không bị việc thiện việc ác lôi cuốn, được tự tại vô ngại, gọi đó là Giải thoát
hương. Năm là Giải thoát tri kiến hương, tự tâm đã không có chỗ phan duyên thiện
ác, không thể trầm không trệ tịch, tức phải học rộng nghe nhiều biết bản tâm mình,
đạt được lý của chư Phật, hòa quang tiếp vật, không ngã không nhân, thẳng đến
Bồ-đề, chân tánh không đổi, gọi là Giải thoát tri kiến hương. Này Thiện tri thức,
hương này mỗi người tự huân ở trong, chớ hướng ra ngoài tìm.
Đây là phần sâu hơn khi chúng ta không chạy theo cảnh, không dính cảnh,
cũng không nghĩ thiện, không nghĩ ác, rồi mình mắc kẹt, chìm trong cái lặng lẽ đó,
nên gọi là trầm không thủ tịch. Khi đến đây rồi tức phải học rộng nghe nhiều biết
bản tâm mình, đạt được lý của chư Phật, hòa quang tiếp vật. Thế nào là hòa quang
tiếp vật ? Chúng tôi mượn một thí dụ để hiểu: Như mỗi buổi sáng mặt trời lên,
nhìn lên trên nhà, nếu là nhà tường nhà ngói, nhìn qua những chỗ kiếng, thấy ánh
sáng rọi vào nhà. Nhìn chỗ ánh sáng rọi vào, chúng ta thấy những hạt bụi lẫn lộn
bay. Như vậy ánh sáng là quang, bụi hòa lẫn trong chỗ ánh sáng đó. Nếu là nhà lá,
qua mấy kẽ hở ánh sáng rọi vào nhà, chúng ta thấy bụi bay loanh quanh. Như vậy
hòa quang nói cho đủ là hòa quang đồng trần, tức là đem ánh sáng hòa với bụi, đó
là hình ảnh thí dụ để chỉ người đạt được lý đạo rồi, không chấp ở chỗ thanh tịnh
của mình mà đi vào trong cuộc đời, lăn mình trong cảnh nhớp nhúa của xã hội, để
làm lợi ích chúng sanh. Người đạt đạo thanh tịnh ví dụ như ánh sáng, còn chúng
sanh mê muội ví như bụi, hai cái hòa nhau để mà tiếp dẫn tức là tiếp cứu, lợi tha,
giúp đỡ họ và đưa họ ra khỏi chỗ mê lầm. Khi cứu giúp đời như vậy, người đạt
đạo không có ngã, không có nhân, thẳng đến Bồ-đề, chân tánh không đổi, gọi đó là
Giải thoát tri kiến hương.
Hương thứ năm này, mỗi ngày chúng ta thắp hương cầu nguyện mà thật
không biết chừng nào chúng ta thực hành được. Hương thứ tư (Giải thoát hương)
tuy khó mà còn có thể rán làm, còn hương thứ năm này đúng ra trong mười mục
chăn trâu thuộc mục “buông thõng tay vào chợ”. Chỗ này chúng tôi nhắc lại một
lần nữa cho thật rõ: Giải thoát tri kiến hương là gì ? Tức là tâm mình đã không có
bị phan duyên thiện ác, không nghĩ thiện, không nghĩ ác rồi, mà cũng không mắc
kẹt ở chỗ chìm nơi không, giữ nơi tịch. Không nghĩ thiện, không nghĩ ác rồi, bây
giờ phải học cho nhiều, hiểu cho rộng, biết bản tâm mình, và đạt được lý của Phật
dạy, gọi đó là tâm thông và thuyết thông. Được như vậy rồi phải lẫn lộn trong
quần chúng để dìu dắt và giáo hóa họ. Khi dìu dắt và giáo hóa chúng sanh mà
không thấy ngã, thấy nhân, chỉ một bề đưa họ tới Bồ-đề, mới là viên mãn bản
nguyện. Đó là Giải thoát tri kiến hương. Nếu bây giờ chúng ta qui y cho các Phật
tử, lâu lâu kiểm sổ coi năm nay được mấy trăm người qui y, đó cũng là còn ngã,
còn nhân !
Đến đây chúng tôi nhắc lại, mỗi khi quí vị đến chùa thường nghe niệm Ngũ
phần Pháp thân hương. Một là Giới hương tức là trong tâm mình không quấy,
không ác, không tật đố, không tham sân, không cướp hại, đó là Giới hương. Hai là
Định hương, tức là đối với tất cả cảnh tướng ác hay thiện, tốt hay xấu mình đều
không có loạn, đó là Định hương. Ba là Tuệ hương tức là nơi tâm mình không có
ngăn ngại và thường dùng trí tuệ quán chiếu tự tánh của mình, đó là về lý; về sự
thì phải không làm ác, tu các điều lành mà đừng chấp lành, đồng thời kính bậc trên, thương kẻ dưới, cứu giúp kẻ cô bần, đó là Tuệ hương. Bốn là Giải thoát hương,
tức là tâm mình không có chỗ phan duyên, nghĩa là không chạy theo cảnh cũng
không nghĩ thiện, không nghĩ ác, được tự tại vô ngại, đó là Giải thoát hương. Năm
là Giải thoát tri kiến hương tức là tâm mình đã không chạy theo cảnh bên ngoài rồi,
lại cũng không chìm nơi không, kẹt nơi vắng lặng, mà phải học rộng hiểu nhiều,
biết bản tâm mình rõ ràng, biết lý Phật một cách thấu đáo, để rồi lăn lộn trong
quần chúng tiếp dẫn họ mà không thấy có mình có người, đưa họ thẳng đến Bồ-đề,
không có chướng ngại, đó là Giải thoát tri kiến hương.
Đến phần sám hối, mỗi khi chúng ta sám hối phải thế nào cho đúng ?
Nay tôi vì các ông trao Vô tướng sám hối để diệt tội trong ba đời, khiến
được ba nghiệp thanh tịnh. Này Thiện tri thức, mỗi người đồng thời nói theo lời
tôi:
Đệ tử chúng con, từ niệm trước, niệm hiện nay và niệm sau, mỗi niệm
không bị ngu mê làm nhiễm, từ trước có những nghiệp ác, ngu mê v.v… các tội,
thảy đều sám hối, nguyện một thời tiêu diệt, hằng không khởi lại.
Đệ tử chúng con từ niệm trước, niệm hiện nay và niệm sau, mỗi niệm
không bị kiêu cuống làm nhiễm, từ trước có những nghiệp ác, kiêu cuống v.v… các
tội, thảy đều sám hối, nguyện một thời tiêu diệt, hằng không khởi lại.
Đệ tử chúng con từ niệm trước, niệm hiện tại và niệm sau, mỗi niệm không
bị tật đố làm nhiễm, từ trước có những nghiệp ác, tật đố v.v… các tội, thảy đều sám
hối, nguyện một lúc tiêu diệt, hằng không khởi lại.
Đây là Tổ đã trao pháp Vô tướng sám hối, tức Ngài dạy chúng ta sám hối
từng tâm niệm, niệm trước, niệm hiện nay và niệm sau, mỗi niệm do ngu mê, do
kiêu cuống, do tật đố làm ô nhiễm, tạo thành tội, đều xin sám hối, nguyện một lúc
tiêu diệt, từ đây về sau không có khởi lại. Như vậy sám hối ngu mê, sám hối kiêu
cuống, sám hối tật đố và nguyện không có khởi lại, gọi là “Vô tướng sám hối”.
Ngu mê là si, kiêu cuống là tham, tật đố là sân.Tức là sám hối tất cả tội lỗi do tham
sân si gây ra đều thanh tịnh.
Sau đây Tổ định nghĩa Sám hối là gì.
Này Thiện tri thức, về trước là Vô tướng Sám hối. Thế nào gọi là sám? Thế
nào gọi là hối? Sám là sám những lỗi về trước, từ trước có những nghiệp ác ngu
mê, kiêu cuống, tật đố v.v… các tội, thảy đều sám hết hằng không khởi lại, gọi đó
là sám. Hối là hối những lỗi về sau, từ nay về sau có những nghiệp ác, ngu mê,
kiêu cuống, tật đố v.v… các tội, nay đã giác ngộ, thảy đều hằng đoạn, lại không tạo
lại, ấy gọi là hối, nên gọi là sám hối. Người phàm phu ngu mê, chỉ biết sám lỗi
trước, chẳng biết hối lỗi sau, do vì không hối nên tội trước chẳng diệt, lỗi sau lại
sanh. Tội trước đã chẳng diệt, lỗi sau lại sanh, sao gọi là sám hối được ?
Như vậy sám hối là gì ? Sám là sám những lỗi trước, còn hối là chừa những
lỗi sau. Tỉ dụ như trong chúng ta có một Phật tử đã nguyện trước Tam Bảo giữ
năm giới, trong ấy có giới không uống rượu. Một hôm nhân đi chơi với bạn bè, bất
thần bị rủ vào ngồi quán, khi đó từ chối không được, uống hết một chung rượu.
Đến khi về nhà, nghĩ lại biết mình có lỗi vì đã hứa trước Tam Bảo không được
uống rượu; bữa nay vì bị rủ rê, lỡ uống rượu rồi, tức nhiên phải sám, nghĩa là đến trước Phật hoặc chư Tăng thưa rằng: “Con tên gì, pháp danh gì, trước đã nguyện
giữ giới không uống rượu. Hôm nay vì si mê nên bị bạn bè rủ, con không giữ giới
được, ngày nay con xin sám lỗi trước của con đã làm.” Chỉ sám như vậy chưa đủ,
mà phải hối nữa: “Con nguyện từ nay về sau chừa cải không dám uống rượu nữa.”
Có hối như vậy mới tránh được lỗi trước; nếu chỉ sám lỗi trước thôi, còn từ nay về
sau không dám hứa chừa lỗi, như vậy không khỏi sẽ tái phạm lỗi cũ. Cho nên
chúng ta sám lỗi trước mà cũng phải hứa từ đây về sau nhất định không phạm lại
điều đó nữa, thì mới đủ ý nghĩa sám hối. Đa số chúng ta bây giờ thường sám lỗi
trước thôi, còn phần sau thì để dành lại. Cho nên đến ngày ba mươi, ngày rằm đi
tới chùa sám hối, vài ngày sau phạm y lỗi cũ; rồi đến ngày ba mươi, ngày rằm lại
đi sám hối nữa, như thế hết năm này đến năm kia cũng không hết tội. Đó là vì lầm
lẫn, không hiểu đúng ý nghĩa sám hối. Cho nên phải hiểu sám hối là nguyện sám
lỗi trước, và nguyện chừa lỗi sau, như vậy mới gọi là sám hối.
Này Thiện tri thức, đã sám hối xong, vì Thiện tri thức phát Tứ hoằng thệ
nguyện, mỗi người phải dụng tâm chánh lắng nghe:
Tiếp theo là phần Tứ hoằng thệ nguyện, bài nguyện này chúng ta hằng tụng
trong mỗi buổi chiều tối. Ở đây Tổ dạy chúng ta có khác hơn một chút là:
Tự tâm chúng sanh vô biên thệ nguyện độ,
Tự tâm phiền não vô biên thệ nguyện đoạn,
Tự tánh pháp môn vô tận thệ nguyện học,
Tự tánh vô thượng Phật đạo thệ nguyện thành.
Này Thiện tri thức, cả thảy đâu chẳng nói: Chúng sanh vô biên thệ nguyện
độ, nói thế ấy, vả lại không phải là Huệ Năng độ.
Tổ dạy như vậy, còn chúng ta luôn luôn đọc: “Chúng sanh vô biên thệ
nguyện độ…” như vậy là ai độ mình, hay mình độ ai ? Tổ bảo là không phải Ngài
độ chúng ta được, Tổ dạy chúng sanh đây là chúng sanh ở trong tâm, chớ không
phải chúng sanh bên ngoài. Chúng sanh trong tâm là gì ?
Này Thiện tri thức, chúng sanh trong tâm, chỗ gọi tâm tà mê, tâm cuống
vọng, tâm bất thiện, tâm tật đố, tâm ác , những tâm như thế trọn là chúng sanh,
mỗi người nên tự tánh tự độ, ấy gọi là chân độ.
Cho nên chúng ta học Tổ rồi mới hiểu được ý kinh. Như trong kinh Kim
Cang Phật bảo: “Độ tất cả chúng sanh vào Vô dư Niết-bàn.” Nếu hiểu theo nghĩa
chúng sanh bên ngoài thì không bao giờ hiểu nổi ý kinh. Nhờ Tổ giải chúng ta mới
hiểu chúng sanh đây là chúng sanh ở trong tâm của mình. Chúng sanh trong tâm
mình là chúng sanh nào ? Tức là chúng sanh tà mê, chúng sanh cuống vọng, chúng
sanh bất thiện, chúng sanh tật đố, chúng sanh ác , chính những tâm đó là chúng
sanh, chớ không có chúng sanh nào khác. Tâm tà mê dấy lên là chúng sanh, tâm
cuống vọng dấy lên là chúng sanh, tâm bất thiện dấy lên là chúng sanh, tâm tật đố
dấy lên là chúng sanh, tâm ác dấy lên là chúng sanh, tất cả những tâm đó dấy lên
đều là chúng sanh cả, độ hết tất cả những chúng sanh ấy, cho nên gọi là tự tánh tự
độ, tức là chúng ta độ ngay trong tự tánh của mình, chớ không phải độ ở ngoài, ấy
gọi là chân độ, mới thật là độ chân chánh vậy. Sao gọi là tự tánh tự độ ? Tức tự trong tâm những chúng sanh tà kiến, phiền
não, ngu si, đem chánh kiến mà độ. Đã có chánh kiến bèn sử dụng trí Bát-nhã
đánh phá những chúng sanh ngu si mê vọng, mỗi mỗi tự độ, tà đến thì chánh độ,
mê đến thì ngộ độ, ngu đến thì trí độ, ác đến thì thiện độ, độ như thế gọi là chân độ.
Độ như vậy mới gọi là độ chân thật. Trong chúng ta đâu có người nào ích
kỷ, phải vậy không ? Ngày nào chúng ta cũng độ chúng sanh bên ngoài, nhưng
chúng sanh ngay trong tâm mình, mình không độ. Độ được chúng sanh trong tâm,
mới độ được chúng sanh ở ngoài; chúng sanh trong tâm mà độ không được, thì
chúng sanh ở ngoài không bao giờ độ được, tại sao vậy ? Tỉ dụ chúng sanh tật đố,
chúng sanh sân hại mà mình chưa độ hết, lại độ người ở ngoài, khi tật đố hay sân
hại dấy lên thì thế nào ? Lúc ấy muốn đánh họ, muốn giết họ. Thành ra không thể
nào độ được chúng sanh ở ngoài, nếu chúng sanh ở trong chưa độ được. Vì vậy ở
đây chúng ta phải độ chúng sanh ở trong trước, đó mới thật là độ. Nhưng khổ thay
người tu chúng ta hiện nay muốn làm Bồ-tát quá sớm, lo độ chúng sanh ở ngoài
mà chúng sanh ở trong không chịu độ, cho nên làm Bồ-tát một lúc rồi sanh sân
hận, là vì độ ở ngoài rồi bị kẹt, ban đầu thì rất tốt nhưng sau hết tốt đi, đó là chỗ
lầm lẫn của mình. Cho nên chúng ta lúc nào cũng sẵn sàng độ chúng sanh, mà gần
nhất là chúng sanh trong tâm mình phải rán độ nó trước, sau đó độ chúng sanh ở
ngoài mới được. Độ chúng sanh trong tâm mới là chân độ, đó là tự tâm chúng sanh
vô biên thệ nguyện độ.
Lại phiền não vô biên thệ nguyện đoạn, đem tự tánh Bát-nhã trí trừ tâm tư
tưởng hư vọng ấy vậy.
Tức là đem trí tuệ Bát-nhã của tự tánh mình trừ dẹp những tâm tư hư vọng
v.v… Độ hết những tâm đó gọi là Tự tâm phiền não vô biên thệ nguyện đoạn.
Lại pháp môn vô tận thệ nguyện học, Phải tự thấy tánh của mình, thường
hành chánh pháp, ấy gọi là chân học.
Học đây là học ngay nơi tự tánh của mình, tức là học pháp môn nào mà
ngộ được tự tánh của mình, chớ không phải học những gì khác ở ngoài. Cho nên
nói pháp môn vô tận thệ nguyện học là như vậy.
Lại vô thượng Phật đạo thệ nguyện thành, đã thường hay hạ tâm hành nơi
chân chánh, lìa mê, lìa giác, thường sanh Bát-nhã trừ chân trừ vọng, tức thấy được
Phật tánh, ngay nơi lời nói, liền thành Phật đạo, thường nhớ tu hành, ấy là pháp
nguyện lực.
Tức là phải thấp tâm hạ lòng mình xuống, lìa hai bên mê giác, chân vọng,
nghĩa là không bị mắc kẹt hai bên; ngay nơi một câu hay một lời nói liền thành
Phật đạo. Đó là sức mạnh của nguyện mình.
Tóm lại trong phần “Tứ hoằng thệ nguyện”, Lục Tổ dạy chúng ta thệ
nguyện như sau: Tự tâm chúng sanh của mình, mình phải độ, tự tâm phiền não của
mình, mình cũng phải đoạn. Rồi nguyện học vô tận pháp môn tức là học pháp môn
tự thấy tánh (kiến tánh), do thấy tánh để hành chánh pháp. Rồi do không mắc kẹt
hai bên mê giác, chân vọng, ngay nơi đó liền thành Phật đạo Này Thiện tri thức,
nay phát Tứ hoằng thệ nguyện rồi lại vì Thiện tri thức mà trao Vô tướng Tam qui
y giới. Này Thiện tri thức, Qui y Giác Lưỡng túc tôn,
Qui y Chánh Ly dục tôn,
Qui y Tịnh Chúng trung tôn.
Kế đến Tổ trao Vô tướng Tam qui y giới. Thường ở chùa chúng ta hay đọc:
Qui y Phật Lưỡng túc tôn, Qui y Pháp Ly dục tôn, Qui y Tăng Chúng trung tôn.
Nhưng Lục Tổ lại dạy khác: Qui y Giác Lưỡng túc tôn, Qui y Chánh Ly dục tôn,
Qui y Tịnh Chúng trung tôn. Vậy Giác là giác của tự tâm, Chánh là chánh của tự
tâm, và Tịnh là tịnh của tự tâm, đây là Phật Pháp Tăng của tự tâm; còn chúng ta
qui y Phật Pháp Tăng ở ngoài, cho nên khác nhau ở chỗ đó.
Từ ngày nay trở đi xưng Giác làm thầy, lại chẳng qui y tà ma ngoại đạo,
dùng tự tánh Tam Bảo thường tự chứng minh, khuyên Thiện tri thức qui y tự tánh
Tam Bảo: Phật là Giác, Pháp là Chánh, Tăng là Tịnh vậy.
Như vậy qui y Giác là qui y Phật, đó là Phật của chính mình, không phải
Phật nào khác. Giác, Chánh, Tịnh là sẵn nơi tự tâm của mình, chớ không ở đâu xa.
Tự tâm qui y Giác, tà mê chẳng sanh, thiểu dục tri túc, hay lìa tài sắc, gọi là
Lưỡng túc tôn.
Chữ túc là chân, cũng có nghĩa là đủ. Lưỡng túc tôn là hai cái đầy đủ tức là
tà mê chẳng sanh, thiểu dục tri túc hay lìa tài và sắc, lìa tài lìa sắc đó là lưỡng túc,
hai cái đủ, lìa tà mê là hai cái đủ. Hai cái đó đều lìa được gọi là Lưỡng túc tôn.
Tự tâm qui y Chánh, niệm niệm không tà kiến, vì không tà kiến tức là
không nhân ngã cống cao, tham ái, chấp trước gọi là Ly dục tôn.
Chánh tức là chánh kiến; bởi chánh kiến nên không có tà kiến; bởi không
tà kiến nên mình không có chấp nhân, chấp ngã, cống cao, tham ái, chấp trước, lìa
những tham dục, đó gọi là Ly dục tôn.
Tự tâm qui y Tịnh, tất cả cảnh giới trần lao ái dục, tự tánh đều không nhiễm
trước gọi là Chúng trung tôn.
Qui y Tịnh tức là trở về tâm thanh tịnh của mình, thì tất cả các trần lao, ái
nhiễm v.v… ngay tự tánh mình đều không nhiễm trước, gọi đó là Chúng trung tôn.
Như vậy Tổ đều qui hướng Phật, Pháp, Tăng trở về tự tâm mình.
Nếu tu hạnh nầy, ấy là tự qui y. Phàm phu không hiểu, từ sáng đến tối, thọ
tam qui giới, nếu nói qui y Phật, Phật ở chỗ nào? Nếu chẳng thấy Phật thì nương
vào chỗ nào mà qui, nói lại thành vọng.
Tổ giải thích, như chúng ta phát nguyện trước Tam Bảo: Qui y Phật, thử
hỏi Phật ở đâu ? Nếu nói Phật trên bàn thờ thì Phật có nói câu nào mà nương với
Ngài được ? Còn nếu nói Phật ở Ấn Độ thì Ngài đã tịch hơn hai ngàn năm trăm
năm rồi. Như nói qui y là nương về, nương về với hình tượng không biết nói năng,
hay nương về với Phật xa xưa đã mất từ lâu rồi, đó là nương về cái rỗng. Cho nên
Tổ bảo nương về tánh giác của mình, đó là qui y Phật. Tánh giác nơi mình mới là
thật, mới là chỗ để trở về. Nếu chúng ta không đạt được lý nầy, thành ra nói rỗng,
không có lẽ thật.
Qui y Pháp, pháp tức là Chánh, đây là chánh kiến, hằng thấy được điều tà
ngoại không theo, đó là qui y Pháp. Qui y Tăng, tăng tức là Tịnh, đó là tâm thanh
tịnh của mình. Như vậy Tổ muốn dạy chúng ta xoay trở về tự tâm thanh tịnh của mình, có đầy đủ Tam Bảo, đó mới là qui y chân thật, đó mới là chỗ qui hướng đạt
đạo; còn nếu chúng ta cứ hướng về bên ngoài khơi khơi như vậy, thì biết đến bao
giờ đạt đạo ! Đó là điều căn bản cần phải hiểu. Cho nên trong mỗi thời khóa tụng
kinh đều có hai đợt lạy Tam Bảo: Phần đầu sau khi tán dương Phật rồi, chúng ta
lạy ba lạy là lạy Tam Bảo ở ngoài, tức là Tam Bảo mười phương đã có công giáo
hóa chúng ta. Đến phần cuối khi chấm dứt thời kinh, chúng ta lạy ba lạy: Tự qui y
Phật, tự qui y Pháp, tự qui y Tăng, là lạy Phật, Pháp, Tăng của mình. Đức Phật xa
xưa là bậc trưởng thượng chúng ta lạy là phải, nhưng vì sao mình lạy mình ? Tự
qui y là:
“Tự qui y Phật, đương nguyện chúng sanh, thể giải đại đạo, phát vô thượng
tâm.” Chúng tôi giải thích ý nghĩa của buổi lễ. Tự qui y Phật là trở về nương tựa
ông Phật của mình, tức là tánh giác. Đương nguyện chúng sanh là nguyện cho tất
cả chúng sanh. Thể giải đại đạo là thể nhập và hiểu thấu đạo lớn. Phát vô thượng
tâm là phát tâm vô thượng. Phần trước chúng ta lạy Tam Bảo ở ngoài là vì lòng
thành kính và ngưỡng mộ, còn ở đây mình lạy với tánh cách thệ nguyện, mình biết
trở về Phật của mình, rồi nguyện cho tất cả chúng sanh đều hiểu được đạo lớn và
phát tâm vô thượng. Vì biết trở về ông Phật của mình, mà chúng sanh chưa biết,
nên mình lạy nguyện với Tam Bảo cho tất cả chúng sanh sẽ được như con, tức là
trở về Phật của mình, hiểu được đại đạo và phát tâm vô thượng như con vậy.
“Tự qui y Pháp, đương nguyện chúng sanh thâm nhập kinh tạng, trí tuệ như
hải”. Tức là mình biết trở về với Pháp của nội tâm mình là chánh kiến, nhưng nhớ
đến chúng sanh chưa biết điều đó, nên mình nguyện tất cả chúng sanh đều thâm
nhập được kinh tạng, vào trí tuệ rộng như biển cả.
“Tự qui y Tăng, đương nguyện chúng sanh, thống lý đại chúng nhất thiết vô
ngại.” Khi biết trở về với vị Tăng của mình, tức là tâm thanh tịnh của mình, chúng
ta nguyện tất cả chúng sanh thống lý đại chúng tức là quản lý tất cả chúng, mà
không có chướng ngại. Thường trong nhà Phật nói rằng chúng ta tu làm lợi ích cho
mình cho người thì dễ, nhưng nhiếp chúng là cả một vấn đề. Nhiếp chúng tức là
coi chúng để dạy họ sống hòa thuận an vui không bị phiền não rắc rối, đó là một
chuyện hết sức khó. Cho nên nguyện tất cả chúng sanh quản lý hết chúng mà
không có chướng ngại.
Như vậy mỗi khi lễ Phật rồi, chúng ta đều trở về Tam Bảo của tự tâm, và
không quên nghĩ đến chúng sanh nên nguyện cho tất cả đều được ba điều lớn lao
đó. Mỗi một lần tự qui y rồi, chúng ta lạy Phật một lạy để thệ nguyện của mình
được thực hiện. Biết được ý nghĩa tự qui y là trở về qui hướng với Tam Bảo nơi
mình, đó mới là nghĩa chân thật vậy.
Này Thiện tri thức, mỗi người tự quan sát, chớ lầm dụng tâm, kinh văn rõ
ràng nói tự qui y Phật, chẳng nói qui y với Phật khác, tự Phật mà chẳng qui thì
không có chỗ nào mà y được.
Tức là ông Phật của mình mà mình không chịu trở về, thì không còn chỗ
nào để mình nương được.
Nay đã tự ngộ, mỗi người phải qui y tự tâm Tam Bảo, trong thì điều hòa
tâm tánh, ngoài thì cung kính mọi người, ấy là tự qui y vậy. Này Thiện tri thức, đã qui y tự Tam Bảo xong, mỗi người phải chí tâm, tôi
vì nói một thể ba thân tự tánh Phật, khiến các ông thấy được ba thân rõ ràng tự ngộ
tự tánh.
Sau phần tự qui y Tam Bảo, Tổ nói về một thể ba thân tự tánh Phật. Ba
thân là Pháp thân, Báo thân và Hóa thân, ba thân nầy là tự tánh Phật của chính
mình, đều là tự tánh mình có sẵn, chớ không đâu khác.
Phải nói theo tôi: Nơi tự sắc thân qui y Thanh tịnh Pháp thân Phật, nơi tự
sắc thân qui y Viên mãn Báo thân Phật, nơi tự sắc thân qui y Thiên bá ức Hóa
thân Phật.
Này Thiện tri thức, sắc thân là nhà cửa không thể nói qui hướng.
Nghĩa là sắc thân mình mang đây là nhà cửa để mình tạm trú, chớ không
phải là chỗ để mình qui y, nay mai nó tan rã, làm sao nương tựa nó được.
Ba thân Phật ở trong tự tánh người đời thảy đều có, vì tự tâm mê không
thấy tánh ở trong nên chạy ra ngoài tìm ba thân Như Lai, chẳng thấy ở trong thân
có ba thân Phật. Các ông lắng nghe tôi nói khiến các ông ở trong tự thân thấy được
tự tánh có ba thân Phật. Ba thân Phật này từ nơi tự tánh sanh, chẳng phải từ ngoài
mà được.
Sao gọi là Thanh tịnh Pháp thân Phật ? Người đời bản tánh là thanh tịnh,
muôn pháp từ nơi tánh mà sanh, suy nghĩ tất cả việc ác tức sanh hạnh ác, suy nghĩ
tất cả việc lành tức sanh hạnh lành. Như thế các pháp ở trong tự tánh như trời
thường trong, mặt trời mặt trăng thường sáng, vì mây che phủ nên ở trên sáng, ở
dưới tối, chợt gặp gió thổi mây tan, trên dưới đều sáng, vạn tượng đều hiện. Tánh
của người đời thường phù du như là mây trên trời kia. Này Thiện tri thức, trí như
mặt trời, tuệ như mặt trăng, trí tuệ thường sáng, do bên ngoài chấp cảnh nên bị
mây nổi vọng niệm che phủ tự tánh không được sáng suốt. Nếu gặp Thiện tri thức,
nghe được pháp chân chánh, tự trừ mê vọng, trong ngoài đều sáng suốt, nơi tự
tánh muôn pháp đều hiện. Người thấy tánh cũng lại như thế, ấy gọi là Thanh
tịnh Pháp thân Phật.
Trong đoạn văn trên Tổ giải thích mỗi người chúng ta ai cũng có đủ ba thân
Phật: Thanh tịnh Pháp thân Phật, Viên mãn Báo thân Phật, Thiên bá ức Hóa thân
Phật. Thanh tịnh Pháp thân Phật là gì ? Là chỉ cho mỗi người chúng ta đều có sẵn
bản tánh thanh tịnh, từ bản tánh đó dấy niệm nghĩ lành thì làm lành, dấy niệm nghĩ
dữ thì làm dữ. Tỉ dụ như có mấy đứa bé chừng năm, ba tuổi xuống biển tắm, thấy
sóng nó hỏi: Sóng tại sao mà có, hay sóng từ đâu có ? Người lớn liền trả lời: Sóng
từ nước mà có. Rõ ràng sóng từ dưới nước dấy lên, nếu không có nước làm gì có
sóng được. Nhưng khi nước dấy lên thành sóng rồi, thì thể lặng của nước không
còn. Cũng như vậy, niệm thiện niệm ác từ đâu dấy lên ? Rõ ràng là từ tự tánh
thanh tịnh dấy lên, nếu không có tánh thanh tịnh sẵn thì niệm thiện niệm ác đâu
dấy được. Nhưng mình chỉ nhớ niệm thiện niệm ác mà quên đi tự tánh thanh tịnh,
đó là điều quan trọng của sự tu hành. Bởi có tánh thanh tịnh nên mới dấy niệm
thiện niệm ác, dấy niệm thiện rồi làm thiện, dấy niệm ác rồi làm ác. Cho nên người
biết nghĩ thiện, biết nghĩ ác, biết nghĩ điều nầy, việc kia v.v… gốc là từ tự tánh sẵn
có. Tổ bảo rằng nếu không có tánh thì người đó chết mất rồi. Khi niệm dấy lên, chúng ta mải chạy theo niệm mà quên mất tự tánh, nên Tổ dùng ví dụ sau đây hết
sức rõ ràng: Như mặt trời mặt trăng trong bầu trời trong chiếu sáng, ánh sáng bủa
cùng khắp, chợt có mây kéo đến che phủ mịt mù, nên ở trên sáng ở dưới tối. Khi
gió thổi mây tan thì trên dưới đều sáng tỏ. Bầu trời xanh trong là tỉ dụ cho tự tánh,
do tự tánh trong sạch nên trí tuệ mới hiện, mặt trời là trí, mặt trăng là tuệ. Khi bị
mây che phủ thì bầu trời tối lại, khi mây tan thì ánh sáng mặt trời mặt trăng bủa
cùng khắp. Cũng như vậy, tự tâm chúng ta thanh tịnh, khi vọng niệm vừa dấy khởi
thì trí tuệ bị mờ tối, nếu niệm lặng xuống thì trí tuệ sáng ngời. Như vậy muốn cho
trí tuệ sáng thì đám mây vọng niệm phải tan. Nếu không hiểu điều nầy, tu hành mà
lo luyện phép v.v… làm sao trí tuệ phát hiện được. Khi tất cả mây mù vọng tưởng
tan rồi thì tự tánh Thanh tịnh Pháp thân hiện.
Này Thiện tri thức, tự tâm qui y tự tánh là qui y chân Phật. Tự qui y là trừ
bỏ trong tự tánh tâm bất thiện, tâm tật đố, tâm siểm khúc, tâm ngô ngã, tâm cuống
vọng, tâm khinh người, tâm lấn người, tâm tà kiến, tâm cống cao và hạnh bất thiện
trong tất cả thời, thường tự thấy lỗi mình, chẳng nói tốt xấu của người khác, ấy là
tự qui y. Thường tự hạ tâm, khắp hành cung kính tức là thấy tánh thông đạt lại
không bị ngăn trệ, ấy là tự qui y.
Tự qui y là tự tâm mình trở về với tự tánh mình, đó gọi là qui y chân Phật.
Tự qui y là trừ hết trong tâm mình những điều bất thiện như là tâm tật đố, tâm
siểm khúc, tâm ngô ngã, tâm cuống vọng, tâm khinh người, tâm mạn người, tâm tà
kiến, tâm cống cao, những tâm ác trong tất cả thời mình phải trừ sạch hết. Tổ lại
dạy: Thường tự thấy lỗi mình, không nói lỗi xấu của người khác, đó gọi là tự qui y.
Rồi phải tập thường hạ tâm mình và cung kính người khác, để thấy được bản tánh,
lại không bị ngăn trệ, ấy là tự qui y. Ở chỗ nầy nên hiểu, người thấy tánh khác hơn
người không thấy tánh, người không thấy tánh mà tu, càng tu càng tự cao tự đại tự
mãn; còn người thấy tánh càng tu lại càng thấp mình, càng khiêm hạ, vì sao ? Bởi
vì càng tu càng thấy vô ngã, mà vô ngã thì cái gì cao ? Người không thấy tánh tu
một lúc thấy mình được nhiều công đức, mình có những phép lạ, mình có thần
thông, thấy những điềm tốt, các người khác chưa được, do đó nên sanh tâm khinh
người mà tự cao. Ngược lại người thấy tánh mà tu thì biết thân này, tâm này là hư
giả, bởi biết hư giả nên càng tu càng hạ thấp nó xuống, càng mất nó chớ không cao
nó được, cao nó tức là ngã mạn, là tướng của si mê, mà si mê thì bao giờ giác
được. Hiểu đúng như vậy, mới thấy lời Tổ nói là chân lý. Người tu thường phải
thấp tâm xuống, cung kính người khác, thấy tánh thông suốt, không có ngăn trệ, ấy
là tự qui y.
Sao gọi là Viên mãn Báo thân Phật ? Thí như một ngọn đèn hay trừ ngàn
năm tối, một trí tuệ hay diệt muôn năm ngu.
Điều này có tin được không ? Tỉ dụ như cái nhà tối mịt một ngàn năm, bây
giờ muốn nó sáng lại thì phải bao lâu ? Chỉ cần thắp ngọn đèn đem vào nhà thì
sáng ngay, cái tối ngàn năm phút chốc liền mất. Hiện nay chúng ta tu cũng vậy,
một phen trí tuệ sáng rồi thì cái ngu của muôn năm cũng mất. Như khi tất cả chúng
ta chưa được duyên học đạo thì đối với thân này, đối với vọng tưởng này thấy là
thật mình. Nhưng khi học đạo rồi, có thể nghe Phật, Tổ nói một câu hai câu, chúng ta thấy rõ thân này và vọng tưởng không phải là thật mình. Khi thấy rõ như vậy
tức nhiên cái ngu ngàn đời tự nó mất. Còn nếu không mất luôn thì lâu lâu cái ngu
tái lại, mình lại nhận thấy sự thật nữa, mãi rồi cái ngu cũng phải tan. Như vậy
chúng ta thấy rằng ngọn đèn trí tuệ một phen thắp lên thì cái ngu không bao giờ
còn được. Cho nên nói khi trí tuệ phát ra hay diệt được muôn năm ngu là như vậy.
Chớ suy nghĩ về trước, đã qua không thể được. Thường phải nghĩ về sau,
mỗi niệm mỗi niệm tròn sáng, tự thấy bản tánh.
Ở đây Tổ dạy chúng ta đừng suy nghĩ những lỗi về trước. Giả sử khi trước
chúng ta có làm những điều gì sai lầm, nay đã biết lỗi sám hối rồi thôi, không nên
nhớ mãi các lỗi đã qua rồi buồn tủi tu hành không được. Những lỗi gì qua rồi thì
thành tâm sám hối, nguyện từ nay về sau chừa bỏ, không tái phạm, sám hối xong
là thôi, nếu còn hối hận mãi đó là chướng đạo. Cho nên Tổ bảo chúng ta thường
phải nghĩ về sau, trong mỗi niệm tròn sáng, tự thấy bản tánh.
Thiện ác tuy là khác mà bản tánh không có hai, tánh không hai đó gọi là
tánh thật.
Niệm thiện niệm ác tuy là hai niệm khác nhau, nhưng trên bản tánh nó
không có hai, tánh không hai đó gọi là tánh thật. Tỉ dụ như khi ngồi tu, niệm niệm
dấy khởi, hoặc là niệm lành, hoặc là niệm dữ. Nhưng khi niệm lành hoặc dữ lặng
xuống rồi, thì cái hằng biết đó là lành hay dữ ? Cái hằng biết trong tâm mình nghĩa
là hằng biết lúc có niệm, lúc không niệm, cái hằng biết ấy thuộc về lành hay dữ ? –
Nó không có lành dữ. Cho nên khi dấy niệm, thì niệm niệm khác nhau, có lành có
dữ, khi niệm lặng xuống, chỉ có cái liễu tri thường hằng không có lành dữ, nên nói
tánh không hai mới là tánh thật, còn niệm lành hay dữ không phải là cái thật. Tổ
chỉ dạy rõ như ban ngày không có gì phải nghi ngờ nữa. Dấy niệm lên thì có thiện
ác là thuộc về hai, mà hai thì không thật; niệm thiện hoặc ác lặng xuống trở về bản
tánh, thì bản tánh là không hai, mà không hai mới là tánh chân thật, thật quá rõ
ràng. Thế nên chúng ta muốn sống với tánh chân thật là phải dừng niệm thiện và
ác, nếu không hiểu lý này chúng ta sẽ thắc mắc, bỏ niệm ác thì được, vì sao lại bỏ
niệm thiện ? Bởi vì thiện là đối với ác, những niệm đó còn dấy lên là sanh diệt,
lặng những cái sanh diệt ấy mới là chân thật, cái chân thật ở ngay nơi đó, không
đâu xa. Vì thế nói bản tánh thì không hai, tánh không hai đó gọi là thật tánh.
Ở trong thật tánh không nhiễm thiện ác, đây gọi là Viên mãn Báo thân Phật.
Nghĩa là trong tánh thật không có nhiễm thiện ác, đó là Viên mãn Báo
thân Phật. Như vậy tìm đâu thấy Phật ? Chỉ có lặng hai niệm thiện ác thì Viên mãn
Báo thân Phật hiện tròn đầy, cho nên nói viên là tròn, mãn là đầy, Báo thân Phật là
tròn đầy. Niệm dấy lên là tướng sanh diệt, thiên lệch, hoặc là thiện hoặc là ác, hai
cái thiên lệch đó lặng xuống chỉ còn một tánh giác tròn đầy, đó là Viên mãn Báo
thân Phật. Vì vậy ngay nơi mỗi người đều có Báo thân Phật, vì chúng ta không
lặng được niệm thiện ác cho nên không nhận được, nếu lặng được niệm thiện ác
thì ngay nơi tâm mình đã đầy đủ Báo thân Phật.
Tự tánh khởi một niệm ác thì diệt muôn kiếp nhân lành, tự tánh khởi một
niệm thiện thì được hằng sa ác hết, thẳng đến Vô thượng Bồ-đề, niệm niệm tự thấy
chẳng mất bản niệm gọi là Báo thân. Tự tánh khởi một niệm ác thì diệt muôn kiếp nhân lành, tự tánh khởi một
niệm thiện thì cái ác dù nhiều như số cát sông Hằng cũng đều hết sạch. Những
niệm dấy lên nhưng mình không mất bản niệm, tức là không mất bản tánh hằng tri,
đó gọi là Báo thân. Nói tóm lại, Báo thân Phật là gì ? Là do hai niệm thiện ác lặng
xuống, chỉ còn một tánh giác thanh tịnh tròn đầy, đó là Báo thân Phật.
Sao gọi là Thiên bá ức Hóa thân Phật ? Nếu chẳng nghĩ muôn pháp thì tánh
vốn như không, một niệm suy nghĩ gọi là biến hóa. Suy nghĩ việc ác là hóa làm địa
ngục, suy nghĩ việc thiện thì hóa làm thiên đường, hại thì hóa làm rồng rắn, từ bi
thì hóa làm Bồ-tát, trí tuệ thì hóa làm thượng giới, ngu si thì hóa làm hạ giới. Tự
tánh biến hóa rất là nhiều, người mê không hay tỉnh giác, mỗi niệm khởi ác thường
đi trong con đường ác, xoay về một niệm thiện, trí tuệ liền sanh, đây gọi là tự tánh
Hóa thân Phật.
Nếu mình không khởi duyên với muôn pháp thì tánh mình lặng lẽ như hư
không, không có tướng mạo, dấy niệm suy nghĩ liền biến hóa. Trăm ngàn muôn ức
niệm ác mình biết xoay trở về thiện tức là trở về với tự tánh mình, đó là Hóa thân
Phật. Dấy niệm ác bị dẫn đi trong lục đạo, niệm lành thì dẫn đi đến các cõi lành.
Nếu xoay ngàn muôn ức niệm trở về tự tánh, tức là chuyển cái biến hóa trở về cái
thật, gọi đó là Hóa thân Phật.
Như vậy Tổ chỉ cho chúng ta thấy rõ ba thân Phật:
– Pháp thân là tánh thanh tịnh của mình.
– Báo thân là do lặng được hai niệm thiện ác, chỉ còn cái liễu tri thường
hằng.
– Hóa thân tức là xoay tất cả niệm ác trở về tự tánh.
Này Thiện tri thức, từ Pháp thân suy nghĩ tức là Hóa thân Phật, niệm niệm
tự tánh tự kiến tức là Báo thân Phật, tự ngộ tự tu, tự tánh công đức, ấy là chân thật
qui y. Da thịt là sắc thân, sắc thân đó là nhà cửa, không nói là qui y vậy. Chỉ ngộ
tự tánh ba thân tức là biết được tự tánh Phật.
Nếu căn cứ trên Pháp thân dấy niệm đó là Hóa thân Phật, mỗi niệm mình
đều thấy rõ tự tánh của mình, đó là Báo thân Phật. Chúng ta nói tự qui y nghĩa là
trở về với Pháp thân, Báo thân, Hóa thân Phật của tự tâm, chớ không phải trở về
với thân xác thịt hôi thúi này, thân xác thịt này chỉ là nhà cửa che đậy bên ngoài
không phải là thật. Nếu chúng ta ngộ được tự tánh mình có đủ ba thân Phật tức là
biết được tự tánh Phật. Để kết thúc Tổ bảo:
Tôi có một bài tụng Vô Tướng, nếu người hay trì tụng, ngay nơi lời nói liền
khiến cho ông, tội mê từ nhiều kiếp, một lúc liền tiêu diệt. Tụng rằng:
Mê nhân tu phước bất tu đạo,
Chỉ ngôn tu phước tiện thị đạo,
Bố thí cúng dường phước vô biên,
Tâm trung tam ác nguyên lai tạo.
Tổ nhắc các cư sĩ tu hành: Người mê chỉ biết tu phước mà chẳng tu đạo,
nghĩa là người mê chỉ biết làm phước bên ngoài, mà không biết buông xả các điên
đảo vọng tưởng để trở về tâm thể chân thật. Chỉ nói tu phước liền là đạo, chỉ nói
chúng tôi làm phước, đó là hợp với đạo rồi, đó là tu rồi. Tổ mới giải thích tiếp: Nếu phát tâm bố thí cho kẻ nghèo, người đói, biết phát tâm cúng dường chư Tăng,
chư Ni, đó là có phước nhiều lắm chớ không phải là không, nhưng trong tâm ba ác
xưa nay cứ tạo, tức là ba ác tham sân si trong tâm chúng ta còn hoài. Biết bố thí,
biết cúng dường thì có phước thật, nhưng chưa hết ba . Trong hàng Phật tử chúng
ta có nhiều người biết bố thí, biết cúng dường mà ba vẫn còn nguyên. Muốn hết
ba tức phải hướng về tâm buông xả mới hết, không phải tu phước cúng dường là
hết ba . Nếu ba không hết thì làm sao thoát ly sanh tử, vì vậy nên nói tu phước
không phải là đạo. Ai muốn hưởng phước thì tu hạnh bố thí cúng dường, đó là
phước vô biên, đâu phải không có phước. Nhiều người không hiểu, khi nghe Tổ
dạy phải quay về tự tánh thì nói: Như vậy tôi tu phước cúng dường không có
phước sao ? Phước thì vẫn có, nhưng tham sân si thì không hết.
Nghĩ tương tu phước dục diệt tội,
Hậu thế đắc phước tội hoàn tại,
Đãn hướng tâm trung trừ tội duyên,
Các tự tánh trung chân sám hối.
Các người tu cứ nghĩ rằng mình tu phước bố thí cúng dường là để hết tội,
nhưng thật có hết tội chăng ? Cho nên Tổ dạy tiếp: Tu phước thì đời sau được
phước, nhưng nếu làm tội thì tội vẫn còn, tại sao vậy ? Vì mình làm phước là tạo
nhân phước, thì thọ quả phước, nhưng ba vẫn còn nguyên. Vì vậy có khi làm
phước mà vẫn sân, có khi làm phước mà vẫn có niệm bất bình v.v… cho nên tội
vẫn còn. Nhà Phật thường gọi thân chúng ta hiện tại là thân tổng báo, tổng báo tức
là cái quả báo chung trong đó có lành có dữ, có thiện có ác v.v… người làm lành
nhiều thì hiện ra nhiều tướng tốt gặp nhiều phước duyên, người làm lành ít thì
thiếu tướng tốt, và cũng ít gặp phước duyên, nhưng cũng có một chút phước nên
được sanh làm người. Vì vậy nhiều người có phước thật nhiều, được sanh trong
những gia đình đầy đủ sung sướng, nhưng trái lại họ mang thân tật nguyền, vì sao ?
Vì trong khi làm phước họ vẫn có làm tội, cho nên làm phước thì hưởng phước,
tạo tội thì đền tội, thân tổng báo của chúng ta là như vậy. Chúng ta có thể trong
nhiều đời, làm phước nhiều nên gặp được những điều tốt, điều thiện phù hợp với
sở nguyện của mình, nhưng lâu lâu cũng vẫn có xảy ra tai nạn hay có những điều
bất như ý, đó là vì từ đời trước đã tích lũy nhiều tội, nên bây giờ gặp duyên thì
phải trả quả, chớ không có gì lạ. Hiểu như vậy chúng ta không còn hoang mang
trước những sự việc xảy ra trong cuộc đời mình.
Chỉ hướng trong tâm trừ tội duyên, đó mới là chân sám hối. Chúng ta phải
nhìn thẳng trong tâm mình trừ những tội duyên như là tâm tật đố, tâm bất thiện,
tâm siểm khúc, tâm ngô ngã, tâm hư dối, tâm cuống vọng, tâm khinh người, tâm
mạn người, tâm tà kiến v.v… cứ ngay trong tâm mình dẹp sạch những tâm niệm
đó, vì đó là duyên để tạo tội, nếu chúng ta không nhằm vào đó để dẹp nó, thì làm
sao hết tội được ? Chúng ta chỉ biết tu phước làm lành bên ngoài, thì không bao
giờ đời mình được trọn vẹn an lành. Muốn được an lành, chúng ta phải nhắm
thẳng trong tâm mình, dẹp sạch các duyên tạo tội thì đời sau mới được hết tội. Lục
Tổ đã chỉ cho người tu chúng ta rõ ràng như vậy.
Hốt ngộ Đại thừa chân sám hối, Trừ tà hành chánh tức vô tội,
Học đạo thường ư tự tánh quán,
Tức dữ chư Phật đồng nhất loại.
Chợt gặp pháp sám hối chân thật của Đại thừa, biết trừ những tâm tà, hành
những tâm chánh, đó mới là không tội. Người học đạo thường ở trong tự tánh
mình mà quán sát, tức cùng với chư Phật đồng một loại không khác. Nhìn lại mình
để quán sát tự tánh mình, bỏ những lỗi lầm, dứt các tội duyên để trở về sống với tự
tánh, thì mình với Phật không hai không khác. Nếu nhắm ra ngoài làm việc thì sẽ
cùng với chư Phật khác xa. Đó là Tổ đã chỉ thẳng pháp sám hối của Đại thừa, và
đúng với hạnh của chư Phật.
Ngô Tổ duy truyền thử đốn pháp,
Phổ nguyện kiến tánh đồng nhất thể,
Nhược dục đương lai mích Pháp thân,
Ly chư pháp tướng tâm trung tẩy.
Tổ của tôi chỉ truyền pháp đốn giáo này, khắp nguyện người thấy tánh đồng
một thể. Nếu muốn đời sau tìm thấy được Pháp thân, tức phải lìa các tướng ở trong
tâm, rửa sạch bóng dáng của sáu trần ngay trong tâm mình. Cho nên người tu diệt
vọng là rửa sạch trong tâm mình những niệm tưởng nhớ đến người đến cảnh, đó là
bóng dáng của pháp trần rơi vào tâm thức cần phải tẩy trừ, mới thấy được Pháp
thân.
Nỗ lực tự kiến mạc du du,
Hậu niệm hốt tuyệt nhất thế hưu,
Nhược ngộ Đại thừa, đắc kiến tánh,
Kiền cung hiệp chưởng chí tâm cầu.
Trong các câu kệ chót của bài tụng, Tổ khuyên chúng ta phải nỗ lực tự thấy
chớ có lơ là, du du là lơ là; nỗ lực để tự thấy bản tánh mình, tự biết những niệm
mà buông bỏ. Một niệm dứt là chỉ cho hơi thở cuối cùng vừa thở khì ra mà không
hít lại, thì một đời buông tay. Vì vậy Tổ bảo chúng ta phải nỗ lực tiến tu, chớ có lơ
là, chớ có chần chờ, nếu một phen thở ra mà không hít vào thì một đời buông xuôi.
Nếu gặp những hàng Đại thừa được thấy tánh, phải thành tâm cung kính, hay là
cung kính chấp tay, chí tâm cầu pháp Đại thừa, chớ có lôi thôi khinh thường, bởi
vì người học đạo mà không được Thiện tri thức chỉ dẫn thì một đời tu học cũng
khó mà đến đâu.
Tổ nói: “Này Thiện tri thức, phải tụng lấy, y đây tu hành, ngay nơi lời nói
mà thấy tánh, tuy cách tôi ngàn dặm như thường ở bên cạnh tôi; nơi lời nói này mà
chẳng ngộ tức là đối diện với tôi mà cách xa ngàn dặm, đâu cần từ xa đến đây.
Trân trọng đi được an vui.”
Cả chúng nghe pháp rồi không ai mà chẳng khai ngộ, đều hoan hỉ phụng
hành.
Tóm tắt lại, phẩm Sám Hối này gồm phần văn xuôi trong đó Tổ dạy Ngũ
phần Pháp thân hương v.v… và phần kết thúc là bài tụng Vô tướng văn vần, dễ
hiểu, dễ nhớ, y đó mà tu mới là cái tu chân thật. Tổ dạy rõ ràng tu là phải hướng
về mình, không nên chạy ra ngoài, vì tu bên ngoài không bao giờ hết nghiệp được. Cho nên mỗi buổi tụng kinh chúng ta đều có tự qui y, tự qui y là trở về với mình,
tức là trở về ba thân Phật: Pháp thân, Báo thân, Hóa thân nơi mình sẵn có. Tự qui
y Phật là trở về với Phật của mình, tự qui y Pháp là trở về với Pháp của mình, tự
qui y Tăng là trở về với Tăng của mình. Nơi mình có đủ ba thân Phật, nơi mình có
đủ Tam Bảo, mình phải hướng về đó, nghĩa là phải bỏ hết những niệm xấu như
ngã mạn, cống cao, lừa dối, ác v.v… bỏ cho hết sạch những niệm đó, là biết tự qui
y. Bản tánh thanh tịnh sẵn có gọi là Pháp thân Phật. Buông cả hai niệm thiện ác để
thấy Báo thân Phật, rồi xoay các niệm trở về tự tánh đó là Hóa thân Phật, tức là
chuyển hóa thân trở về thành Phật. Nói tóm lại tự qui y không phải là tự qui y với
thân xác thịt này, mai mốt nó rã rồi còn đâu ! Tự qui y là trở về tự tánh thanh tịnh
là Pháp thân, trở về nơi tự tánh tròn đầy không có hai niệm là Báo thân, trở về tự
tánh mình bằng xoay mọi niệm về nơi tự tánh đó là Hóa thân Phật.
DPHẨM THỨ BẢY: CƠ DUYÊN
DỊCH
Tổ từ được pháp ở Huỳnh Mai, về đến Thiều Châu, thôn Tào Hầu, mọi
người đều không biết (Có bản khác nói: Khi Tổ đi đến thôn Tào Hầu, ở lại hơn
chín tháng, nhưng Tổ tự nói: Không quá hơn ba mươi ngày, liền đến Huỳnh Mai.
Đây là tâm cầu đạo chí thiết, đâu có dừng ở, như vậy cho thời gian đi là không
phải). Có một nho sĩ là Lưu Chí Lược kính trọng Ngài lắm. Chí Lược có người cô
làm Ni tên là Vô Tận Tạng, thường tụng kinh Đại Niết-bàn, Tổ nghe qua liền biết
được diệu nghĩa, mới vì cô Ni giải nói. Ni cầm quyển kinh hỏi chữ. Tổ bảo: “Chữ
thì không biết, nghĩa tức mời hỏi.”
Cô Ni nói: “Chữ còn không biết, sao có thể hiểu nghĩa ?”
Tổ bảo: “Diệu lý của Chư Phật chẳng có quan hệ đến văn tự.”
Cô Ni kinh lạ mới bảo khắp hàng kỳ đức (Kỳ đức: Người lớn tuổi có đức)
trong thôn rằng: “Đây là hàng tu sĩ có đạo, nên thỉnh cúng dường.” Khi ấy có cháu
bốn đời của Ngụy Võ Hầu tên là Tào Thúc Lương và dân cư trong làng đua nhau
đến chiêm lễ Tổ. Khi ấy chùa cổ Bảo Lâm, từ cuối đời Tùy bị binh lửa làm tàn phế,
mới y nơi nền cũ dựng lại ngôi chùa, mời Tổ trụ trì ở đó, không bao lâu thành một
ngôi chùa rất trang nghiêm. Tổ ở đó hơn chín tháng lại bị bọn ác đuổi theo, Tổ bèn
trốn đến trước núi, bị họ phóng hỏa, đốt cỏ cây, Tổ ẩn thân vào trong kẹt đá được
khỏi, trên đá ngày nay dấu Tổ ngồi kiết già và vết nếp y của Tổ vẫn còn, nhân đó
gọi là hòn đá tị nạn. Tổ nhớ Ngũ Tổ dạy đến Hoài và Hội dừng ẩn, Ngài mới ẩn ở
hai ấp ấy.
Tăng Pháp Hải: người quê ở Khúc Giang, Thiều Châu, ban đầu đến tham
vấn Tổ, hỏi rằng: “Tức tâm tức Phật, cúi xin Ngài chỉ dạy.”
Tổ bảo: “Niệm trước chẳng sanh tức tâm, niệm sau chẳng diệt tức Phật;
thành tất cả tướng tức tâm, lìa tất cả tướng tức Phật, nếu tôi nói cho đủ, cùng kiếp
cũng không hết, hãy lắng nghe tôi nói kệ:
Tức tâm là tuệ,
Tức Phật là định,
Định tuệ bình đẳng,
Trong ý thanh tịnh.
Ngộ pháp môn này,
Do ông tập tánh,
Dụng vốn không sanh,
Song tu là chánh.”
(Tức tâm danh tuệ,
Tức Phật nãi định,
Định tuệ đẳng đẳng,
Ý trung thanh tịnh.
Ngộ thử pháp môn, Do nhữ tập tánh,
Dụng bổn vô sanh,
Song tu thị chánh.)
Ngài Pháp Hải ngay lời đó liền đại ngộ, làm bài kệ tán thán:
Tức tâm nguyên là Phật ,
Chẳng ngộ mà tự khinh,
Con biết nhân định tuệ,
Đồng tu lìa các vật.
(Tức tâm nguyên thị Phật,
Bất ngộ nhi tự khuất,
Ngã tri định tuệ nhân,
Song tu ly chư vật.)
Tăng Pháp Đạt: người ở Hồng Châu, xuất gia lúc bảy tuổi, thường tụng
kinh Pháp Hoa, đến lễ Tổ mà đầu không sát đất. Tổ mới quở: “Lễ mà đầu không
sát đất, chi bằng đừng lễ, trong tâm ông ắt có một vật, vậy ông chứa chất sự
nghiệp gì ?”
Pháp Đạt thưa: “Tôi tụng kinh Pháp Hoa đã đến ba ngàn bộ.”
Tổ bảo: “Nếu ông tụng đến muôn bộ, được ý kinh mà chẳng cho là hơn, ắt
cùng với ta sánh vai, nay ông mang sự nghiệp này, trọn không biết lỗi, nghe ta nói
kệ:
Lễ cốt chặt cờ mạn,
Sao đầu không sát đất ?
Có ngã tội liền sanh,
Quên công phước vô tỉ.”
(Lễ bản chiết mạn tràng,
Đầu hề bất chí địa,
Hữu ngã tội tức sanh,
Vong công phúc vô tỉ.)
Tổ lại hỏi: “Ông tên gì ?”
Pháp Đạt thưa: “Tên Pháp Đạt.”
Tổ bảo: “Ông tên Pháp Đạt mà đâu từng đạt pháp.” Lại nói bài kệ:
“Nay ông tên Pháp Đạt,
Chuyên tụng chưa từng thôi,
Tụng rỗng chỉ theo tiếng,
Sáng tâm hiệu Bồ-tát.
Nay ông vì có duyên,
Nay tôi vì ông nói,
Chỉ tin Phật không lời,
Hoa sen từ miệng phát.”
(Nhữ kim danh Pháp Đạt,
Cần tụng vi hưu yết,
Không tụng đãn tuần thanh,
Minh tâm hiệu Bồ tát. Nhữ kim hữu duyên cố,
Ngô kim vị nhữ thuyết,
Đãn tín Phật vô ngôn,
Liên hoa tùng khẩu phát.)
Ngài Pháp Đạt nghe kệ hối hận, tạ lỗi thưa: “Từ nay về sau con sẽ khiêm
cung đối với tất cả. Đệ tử tụng kinh Pháp Hoa mà chưa hiểu được nghĩa kinh, tâm
thường có nghi, Hòa thượng là bậc trí tuệ rộng lớn, cúi mong lược nói nghĩa lý
trong kinh.”
Tổ bảo: “Pháp Đạt, pháp tức rất thâm đạt mà tâm ông chẳng đạt, kinh vốn
là không nghi mà tâm ông khởi nghi. Ông tụng kinh này, lấy cái gì làm tông ?”
Pháp Đạt thưa: “Học nhân căn tánh ám độn, từ trước đến nay chỉ y văn mà
tụng niệm, đâu có biết tông thú.”
Tổ bảo: “Tôi không biết chữ, ông thử lấy kinh tụng một biến, tôi sẽ vì ông
giải nói.”
Pháp Đạt liền to tiếng tụng kinh, đến phẩm Thí Dụ, Tổ bảo: “Dừng ! Kinh
này nguyên lai lấy nhân duyên ra đời làm tông, dù nói nhiều thứ thí dụ cũng không
vượt qua chỗ này. Sao là nhân duyên ? Kinh nói chư Phật Thế Tôn chỉ có một đại
sự nhân duyên mà xuất hiện ở đời, một đại sự đó là Tri kiến Phật. Người đời do
mê bên ngoài nên chấp tướng, mê bên trong nên chấp không. Nếu hay nơi tướng
mà lìa tướng, nơi không mà lìa không thì trong ngoài chẳng mê, nếu ngộ được
pháp này, một niệm tâm khai, ấy là khai Tri kiến Phật. Phật tức là giác, phân làm
bốn môn: Khai giác tri kiến, Thị giác tri kiến, Ngộ giác tri kiến, Nhập giác tri kiến.
Nếu nghe khai thị liền hay ngộ nhập tức là giác tri kiến, chân tánh xưa nay mà
được xuất hiện. Ông dè dặt chớ hiểu lầm ý kinh, nghe trong kinh nói khai thị ngộ
nhập rồi tự cho là Tri kiến của Phật, chúng ta thì vô phần. Nếu khởi cái hiểu này
tức là chê bai kinh, hủy báng Phật vậy. Phật kia đã là Phật rồi, đã đầy đủ tri kiến,
cần gì phải khai nữa. Nay ông phải tin Phật tri kiến đó chỉ là tự tâm của ông, lại
không có Phật nào khác; vì tất cả chúng sanh tự che phủ cái quang minh, tham ái
trần cảnh, ngoài thì duyên (với ngoại cảnh), trong tâm thì lăng xăng, cam chịu lôi
cuốn, liền nhọc đức Thế Tôn kia từ trong tam-muội mà dậy, dùng bao nhiêu
phương tiện nói đến đắng miệng, khuyên bảo khiến các ông buông dứt chớ hướng
ra ngoài tìm cầu thì cùng Phật không hai, nên nói khai Phật tri kiến. Tôi cũng
khuyên tất cả người nên thường khai tri kiến Phật ở trong tâm của mình. Người
đời do tâm tà, ngu mê tạo tội, miệng thì lành tâm thì ác, tham sân tật đố, siểm nịnh,
ngã mạn, xâm phạm người hại vật, tự khai tri kiến chúng sanh. Nếu hay chánh tâm,
thường sanh trí tuệ, quán chiếu tâm mình, dừng ác làm lành, ấy là tự khai tri kiến
Phật. Ông phải mỗi niệm khai tri kiến Phật, chớ khai tri kiến chúng sanh, khai tri
kiến Phật tức là xuất thế, khai tri kiến chúng sanh tức là thế gian. Nếu ông chỉ
nhọc nhằn chấp việc tụng niệm làm công khóa thì nào khác con trâu ly mến cái
đuôi của nó !”
Pháp Đạt thưa: “Nếu vậy thì chỉ được hiểu nghĩa, chẳng cần phải tụng kinh
chăng ?” Tổ bảo: “Kinh có lỗi gì ? Đâu có chướng ngại ông tụng, chỉ vì mê ngộ là tại
người, tổn giảm hay lợi ích là do mình, miệng tụng tâm hành tức là chuyển được
kinh, còn miệng tụng mà tâm không hành tức là bị kinh chuyển. Hãy nghe ta nói
kệ đây:
Tâm mê Pháp Hoa chuyển,
Tâm ngộ chuyển Pháp Hoa,
Tụng lâu không rõ nghĩa,
Cùng nghĩa trở thành thù.
Không niệm niệm là chánh,
Có niệm niệm là tà,
Có không đều chẳng chấp,
Hằng ngồi xe Bạch Ngưu.”
(Tâm mê Pháp Hoa chuyển,
Tâm ngộ chuyển Pháp hoa,
Tụng kinh cửu bất minh,
Dữ nghĩa tác thù gia.
Vô niệm niệm tức chánh,
Hữu niệm niệm thành tà,
Hữu vô câu bất kế,
Trường ngự bạch ngưu xa.)
Pháp Đạt nghe kệ rồi bất giác rơi lệ dầm dề, ngay lời nói liền đại ngộ và
thưa với Tổ: “Pháp Đạt từ xưa đến nay thật chưa từng chuyển Pháp Hoa mà bị
Pháp Hoa chuyển.” Lại thưa: “Kinh nói các vị Đại Thanh-văn cho đến Bồ-tát đều
đem hết khả năng suy nghĩ cùng chung nghĩ lường cũng không thể nào đo được trí
của Phật, ngày nay khiến kẻ phàm phu chỉ ngộ được tự tâm liền gọi là Tri Kiến
Phật, tự chẳng phải là hàng thượng căn nên chưa khỏi nghi báng. Lại kinh nói ba
xe: xe dê, xe nai, xe trâu cùng với xe trâu trắng khác nhau như thế nào ? Cúi xin
Hòa thượng rủ lòng từ khai thị cho.”
Tổ bảo: “Ý kinh rõ ràng, ông tự mê trái. Các hạng người Tam thừa không
thể đo lường được trí tuệ Phật, đó là lỗi tại chỗ đo lường. Dù ông đem tất cả sự suy
nghĩ mà suy xét lại càng thêm xa vời. Phật vốn vì phàm phu mà nói, chẳng phải vì
Phật mà nói, lý này nếu chẳng tin chắc thì sẽ như những vị Thanh-văn trong hội
Pháp Hoa thối tịch vậy. Đâu chẳng biết đã ngồi trên xe Bạch Ngưu lại tìm ba xe
ngoài cửa; huống là kinh văn rõ ràng nhằm ông mà nói, chỉ một Phật thừa, không
có thừa nào khác; hoặc là hai, hoặc là ba cho đến vô số phương tiện, bao nhiêu
nhân duyên thí dụ, ngôn từ nói về pháp ấy đều vì một Phật thừa. Ông sao chẳng
tỉnh, ba xe là giả, là việc thuở xưa, một xe là thật, là việc hiện nay, chỉ dạy ông dẹp
giả trở về thật, sau khi trở về thật, thật cũng không tên. Nên biết có những của báu
trọn thuộc về ông, do ông thọ dụng, lại không khởi tưởng của cha, cũng không
khởi tưởng của con, cũng không khởi tưởng dùng, ấy gọi là trì kinh Pháp Hoa, từ
kiếp này đến kiếp khác, tay không rời quyển kinh, từ sáng đến tối không lúc nào
chẳng tụng kinh.”
Pháp Đạt nhờ chỉ dạy, vui mừng nhảy nhót liền nói kệ khen rằng: Kinh tụng ba ngàn bộ,
Tào Khê một câu quên,
Chưa rõ ý xuất thế,
Đâu hết cuồng nhiều đời.
Dê, nai, trâu quyền lập,
Trước, giữa, sau khéo bày,
Ai biết trong nhà lửa,
Nguyên là vị vua Pháp.
(Kinh tụng tam thiên bộ,
Tào Khê nhất cú vong,
Vị minh xuất thế chỉ,
Ninh yết lụy sanh cuồng.
Dương lộc ngưu quyền thiết,
Sơ trung hậu thiện dương,
Thùy tri hoả trạch nội,
Nguyên thị pháp trung vương.)
Tổ bảo: “Từ nay về sau ông mới đáng gọi là Tăng tụng kinh.”
Pháp Đạt từ đây lãnh hội huyền chỉ, cũng không ngừng tụng kinh.
Tăng Trí Thông: người quê ở An Phong thuộc Thọ Châu, ban đầu xem
kinh Lăng-già đến hơn một ngàn lần nhưng không hiểu được Tam thân Tứ trí, đến
lễ Tổ cầu giải nghĩa này. Tổ bảo: “Ba thân là Thanh tịnh Pháp Thân, đó là tánh của
ông, Viên mãn Báo thân là trí của ông, Thiên bá ức Hóa thân là hạnh của ông vậy.
Nếu lìa bản tánh riêng nói ba thân tức gọi có thân mà không trí, nếu ngộ được ba
thân không có tự tánh tức là rõ bốn trí Bồ-đề. Hãy lắng nghe tôi nói kệ:
Tự tánh đủ ba thân,
Phát minh thành tứ trí,
Chẳng lìa duyên thấy nghe,
Siêu nhiên lên quả Phật.
Nay tôi vì ông nói,
Tin chắc hằng không mê,
Chớ học người tìm cầu,
Trọn ngày nói Bồ-đề.”
(Tự tánh cụ tam thân,
Phát minh thành tứ trí,
Bất ly kiến văn duyên,
Siêu nhiên đăng Phật địa.
Ngô kim vị nhữ thuyết,
Đế tín vĩnh vô mê,
Mạc học trì cầu giả,
Chung nhật thuyết Bồ đề.)
Ngài Trí Thông lại thưa: “Về nghĩa Tứ trí có thể nghe được chăng ?” Tổ bảo: “Đã hiểu ba thân liền rõ Tứ trí, sao lại hỏi ư ? Nếu lìa ba thân riêng
nói Tứ trí, đây gọi là có trí mà không thân, tức đây có trí lại thành vô trí.” Ngài nói
kệ:
“Đại viên cảnh trí tánh thanh tịnh,
Bình đẳng tánh trí tâm không bệnh,
Diệu quan sát trí thấy không công,
Thành sở tác trí đồng Viên cảnh.
Ngũ bát lục thất quả nhân chuyển,
Chỉ dùng danh ngôn không thật tánh,
Nếu ngay chỗ chuyển không dấy niệm,
Ngay nơi ồn náo hằng đại định.”
(Đại viên cảnh trí tánh thanh tịnh,
Bình đẳng tánh trí tâm vô bệnh,
Diệu quan sát trí kiến phi công,
Thành sở tác trí đồng Viên cảnh.
Ngũ bát lục thất quả nhân chuyển,
Đãn dụng danh ngôn vô thật tánh,
Nhược ư chuyển xứ bất lưu tình,
Phồn hưng vĩnh xử na- già định.)
(Như trên nói chuyển thức thành trí, trong kinh nói: Chuyển năm thức trước
làm Thành sở tác trí, chuyển thức thứ sáu làm Diệu quan sát trí, chuyển thức thứ
bảy làm Bình đẳng tánh trí, chuyển thức thứ tám làm Đại viên cảnh trí. Tuy thức
thứ sáu, thức thứ bảy là ở trong nhân chuyển, còn năm thức trước và thức thứ tám
là trên quả chuyển, chỉ chuyển tên mà không chuyển thể.)
Trí Thông liền đốn ngộ được tánh trí nên trình kệ rằng:
“Ba thân nguyên thể ta,
Tứ trí vốn tâm sáng,
Thân trí dung không ngại,
Ứng vật mặc tùy hình.
Khởi tu đều vọng động,
Giữ trụ trái chân tinh,
Diệu chỉ nhân Thầy rõ,
Trọn quên tên nhiễm ô.”
(Tam thân nguyên ngã thể,
Tứ trí bổn tâm minh,
Thân trí dung vô ngại,
Ứng vật nhiệm tùy hình.
Khởi tu giai vọng động,
Thủ trụ phỉ chân tinh,
Diệu chỉ nhân Sư hiểu,
Chung vong nhiễm ô danh.)
Tăng Trí Thường: người ở Quí Khê, Tín Châu, thuở nhỏ xuất gia, chí cầu
thấy tánh, một hôm đến tham lễ, Tổ hỏi: “Ông từ đâu đến, muốn cầu việc gì ?” Sư thưa: “Học nhân gần đây đến núi Bạch Phong ở Hồng Châu lễ Hòa
thượng Đại Thông nhờ chỉ nghĩa kiến tánh thành Phật, nhưng chưa giải quyết
được hồ nghi, từ xa đến đây lễ Hòa thượng, mong Hòa thượng từ bi chỉ dạy.”
Tổ bảo: “Kia có ngôn cú gì ông thử nhắc lại xem.”
Trí Thường thưa: “Trí Thường đến nơi kia, trải qua ba tháng, chưa được chỉ
dạy, vì lòng tha thiết vì pháp nên một hôm riêng vào trượng thất thưa hỏi: Thế nào
là bản tâm, bản tánh của con ?
Ngài Đại Thông nói rằng: Ông thấy hư không chăng ?
Trí Thường đáp: Thấy !
Hòa thượng Đại Thông hỏi: Ông thấy hư không có tướng mạo chăng ?
Trí Thường đáp: Hư không vô hình mà có tướng mạo gì ?
Ngài Đại Thông bảo: Bản tánh của ông ví như hư không, trọn không một
vật có thể thấy, ấy gọi là chánh kiến, không một vật có thể biết ấy gọi là chân tri,
không có xanh, vàng, dài, ngắn, chỉ thấy bản nguyên thanh tịnh, giác thể tròn sáng
tức gọi là thấy tánh thành Phật, cũng gọi là Như Lai Tri Kiến.
Học nhân tuy nghe lời này vẫn chưa giải quyết xong (điều nghi), cúi xin
Hòa thượng chỉ dạy.”
Tổ bảo: “Lời Thầy kia nói vẫn còn kiến tri nên khiến ông chưa rõ, nay tôi
chỉ ông một bài kệ:
Chẳng thấy một pháp còn thấy không,
Giống như mây nổi che mặt nhật,
Chẳng biết một pháp giữ biết không,
Lại như hư không sanh điện chớp.
Tri kiến này bỗng nhiên dấy lên,
Lầm nhận đâu từng hiểu phương tiện,
Ông phải một niệm tự biết lỗi,
Tự kỷ linh quang thường hiển hiện.”
(Bất kiến nhất pháp tồn vô kiến,
Đại tợ phù vân già nhật diện,
Bất tri nhất pháp thủ không tri,
Hoàn như thái hư sanh thiểm điện.
Thử chi tri kiến miết nhiên hưng,
Thác nhận hà tằng giải phương tiện,
Nhữ đương nhất niệm tự tri phi,
Tự kỷ linh quang thường hiển hiện.)
Trí Thường nghe bài kệ rồi tâm ý hoát nhiên, bèn nói kệ rằng:
“Vô cớ khởi tri kiến,
Chấp tướùng cầu Bồ-đề,
Tình còn một niệm ngộ,
Đâu vượt mê ngàn xưa.
Tự tánh giác nguyên thể,
Tùy chiếu luống đổi dời,
Chẳng vào thất Tổ sư, Mờ mịt chạy hai đầu.”
(Vô đoan khởi tri kiến,
Trước tướng cầu Bồ-đề,
Tình tồnnhất niệm ngộ,
Ninh việt tích thời mê.
Tự tánh giác nguyên thể,
Tùy chiếu uổng thiên lưu,
Bất nhập Tổ sư thất,
Mang nhiên thú lưỡng đầu.)
Trí Thường một hôm hỏi Tổ: “Phật nói pháp ba thừa, lại nói Tối thượng
thừa, đệ tử chưa hiểu, cúi mong Ngài vì chỉ dạy.”
Tổ bảo: “Ông xem nơi bản tâm mình, chớ có chấp pháp tướng bên ngoài.
Pháp không có bốn thừa, tâm người tự có những sai biệt. Thấy nghe tụng đọc là
Tiểu thừa, ngộ pháp hiểu nghĩa là Trung thừa, y pháp tu hành là Đại thừa, muôn
pháp trọn thông, muôn pháp đầy đủ, tất cả không nhiễm, lìa các pháp tướng, một
cũng không được, gọi là Tối thượng thừa. Thừa là nghĩa hành, không phải ở miệng
tranh, ông phải tự tu chớ có hỏi tôi, trong tất cả thời, tự tánh tự như.”
Trí Thường liền lễ tạ và hầu Tổ đến trọn đời.
Tăng Chí Đạo: người quê ở Nam Hải, Quảng Châu đến thưa hỏi, thưa rằng:
“Học nhân từ xuất gia, xem kinh Niết-bàn hơn mười năm chưa rõ được đại ý, cúi
mong Hòa thượng thương xót chỉ dạy.”
Tổ bảo : “Chỗ nào ông chưa rõ ?”
Thưa rằng: “Chư hạnh vô thường, là pháp sanh diệt, sanh diệt diệt rồi, tịch
diệt là vui, nơi đây con nghi ngờ.”
Tổ hỏi : “Ông nghi như thế nào ?”
Thưa rằng: “Tất cả chúng sanh đều có hai thân gọi là sắc thân và pháp thân.
Sắc thân vô thường có sanh có diệt, pháp thân có thường không tri không giác.
Kinh nói: Sanh diệt diệt rồi, tịch diệt là vui, chẳng biết thân nào tịch diệt, thân nào
thọ vui ? Nếu là sắc thân, khi sắc thân tịch diệt, bốn đại phân tán, toàn là khổ, khổ
không thể nói vui; nếu pháp thân tịch diệt tức đồng cỏ cây gạch đá, ai sẽ thọ vui ?
Lại pháp tánh là thể của sanh diệt, năm uẩn là dụng của sanh diệt, một thể năm
dụng, sanh diệt là thường, sanh thì từ thể khởi dụng, diệt thì từ dụng nhiếp về thể,
nếu cho lại sanh tức là loài hữu tình không đoạn không diệt, nếu chẳng cho lại
sanh tức là hằng trở về tịch diệt thì đồng với vật vô tình, như thế ắt tất cả pháp bị
sự ngăn cấm của Niết-bàn, còn chẳng được sanh, có gì là vui ?”
Tổ quở: “Ông là Thích tử sao lại tập theo ngoại đạo về đoạn kiến và thường
kiến mà luận nghị về pháp Tối thượng thừa. Cứ theo lời ông nói, tức là ngoài sắc
thân riêng có pháp thân, lìa sanh diệt để cầu tịch diệt, lại suy luận Niết-bàn thường
lạc nói có thân thọ dụng, đây là chấp lẫn về sanh tử, đắm mê cái vui thế gian; nay
ông nên biết, Phật vì tất cả người mê nhận thân năm uẩn hòa hợp làm thể tướng
của mình, phân biệt tất cả pháp cho là tướng ngoại trần, ưa sanh, ghét chết, niệm
niệm đổi dời, không biết là mộng huyễn hư giả, luống chịu luân hồi, lấy thường
lạc Niết-bàn đổi thành tướng khổ, trọn ngày tìm cầu. Phật vì thương những người này, mới chỉ dạy Niết-bàn chân lạc, trong sát-na không có tướng sanh, trong sát-na
không có tướng diệt, lại không có sanh diệt có thể diệt, ấy là tịch diệt hiện tiền.
Chính ngay khi hiện tiền cũng không có cái lượng hiện tiền, mới gọi là thường lạc.
Vui nầy không có người thọ, cũng không có người chẳng thọ, há có tên một thể
năm dụng, huống là lại nói Niết-bàn ngăn cấm các pháp khiến hằng chẳng sanh.
Đây là ông chê Phật hủy pháp. Hãy nghe ta nói kệ:
Đại Niết-bàn vô thượng,
Tròn sáng thường lặng soi,
Phàm ngu gọi là chết,
Ngoại đạo chấp là đoạn.
Những người cầu Nhị thừa,
Cho đó là vô tác,
Trọn thuộc chỗ tình chấp,
Gốc sáu mươi hai chấp.
Dối lập tên hư giả,
Sao đạt nghĩa chân thật,
Chỉ có người vượt qua,
Thông suốt không thủ xả.
Do biết pháp năm uẩn,
Và ngã ở trong uẩn,
Ngoài hiện các sắc tượng,
Mỗi mỗi tướng âm thanh.
Bình đẳng như mộng huyễn,
Không khởi chấp phàm thánh,
Không khởi hiểu Niết-bàn,
Hai bên, ba mé dứt.
Thường hiện dụng các căn,
Mà chẳng khởi tưởng dụng,
Phân biệt tất cả pháp,
Không khởi tưởng phân biệt.
Kiếp hỏa đốt biển cả,
Gió thổi núi chạm nhau,
Chân thường tịch diệt vui,
Tướng Niết-bàn như thế.
Nay tôi gắng gượng nói,
Khiến ông bỏ tà kiến,
Ông chớ theo lời hiểu,
Nhận ông biết ít phần.”
(Vô thượng Đại Niết bàn,
Viên minh thường tịch chiếu,
Phàm ngu vị chi tử,
Ngoại đạo chấp vi đoạn.
Chư cầu nhị thừa nhân, Mục dĩ vi vô tác,
Tận thuộc tình sở kế,
Lục thập nhị kiến bản.
Vọng lập hư giả danh,
Hà vi chân thật nghĩa,
Duy hữu quá lượng nhân,
Thông đạt vô thủ xả.
Dĩ tri ngũ uẩn pháp,
Cập dĩ uẩn trung ngã,
Ngoại hiện chúng sắc tượng,
Nhất nhất âm thanh tướng.
Bình đẳng như mộng huyễn,
Bất khởi phàm thánh kiến,
Bất tác Niết bàn giải,
Nhị biên tam tế đoạn.
Thường ứng chư căn dụng,
Nhi bất khởi dụng tưởng,
Phân biệt nhất thiết pháp,
Bất khởi phân biệt tưởng.
Kiếp hoả thiêu hải để,
Phong cổ sơn tương kích,
Chân thường tịch diệt lạc,
Niết bàn tướng như thị.
Ngô kim cưỡng ngôn thuyết,
Linh nhữ xả tà kiến,
Nhữ vật tùy ngôn giải,
Hứa nhữ tri thiểu phần.)
Chí Đạo nghe kệ đại ngộ, vui mừng nhảy nhót, làm lễ rồi lui.
Thiền sư Hành Tư: sanh tại An Thành, Kiết Châu, họ Lưu, nghe pháp tịch
Tào Khê giáo hóa thạnh hành, Ngài thẳng đến tham lễ, bèn hỏi: “Phải làm việc gì
mà không rơi vào giai cấp ?”
Tổ hỏi: “Ông từng làm việc gì đến ?”
Ngài thưa: