Lưu trữ hàng tháng: Tháng Ba 2013

TÍN TÂM MINH TỊCH NGHĨA GIẢI

 

TÍN TÂM MINH TỊCH NGHĨA GIẢI
Tác Giả: Thiên Mục Trung Phong Hòa Thượng
Việt Dịch: Tỳ Kheo Thích Duy Lực
LỜI DỊCH GIẢ

Phật Thích Ca nói : “Mọi chúng sanh đều có Phật tánh”, tất cả Phật tử đều tin được. Lại tin Phật tánh chẳng thể giảm bớt, cũng chẳng thể gián đoạn, vì giảm bớt gián đoạn là sanh diệt luân hồi, nếu Phật tánh còn phải luân hồi, thì kiến tánh thành Phật cũng vô ích.
Phật tánh tức là tự tâm, nếu người tin mình có Phật tánh, tức là tin tự tâm. Phật tánh không thể giảm bớt, thì tất cả thần thông trí huệ năng lực saün đầy đủ bằng chư Phật. Phật tánh không thể gián đoạn, thì mọi chúng sanh hiện đang làm Phật.
Vậy, Phật tánh tức là tự tâm, thì tự tâm của mọi người đã saün đầy đủ tất cả năng lực, bằng như chư Phật, thế thì việc lý giải đều là thêm bớt cho tự tâm. Nên Tổ Trung Phong làm bài TÍN TÂM MINH TỊCH NGHĨA GIẢI này, cố tẩy sạch lý giải để hiển bày chánh ngộ, cho bổn lai diện mục (tự tâm) trọn vẹn hiện khắp không gian và thời gian.
Quyển TÍN TÂM MINH TỊCH NGHĨA GIẢI này trích từ Quảng Lục gồm 30 quyển của ngài Trung Phong, in trong tập số 499 của Tích Sa Đại Tạng Kinh.
Vì có người chỉ đem phần nghĩa giải trong MINH này in ra phổ biến, mà lược bỏ những phần khai thị và phủ nhận của ngài Trung Phong, thành điên đảo Phật pháp, liên lụy Tổ Sư, nên chúng tôi dịch hết toàn bộ (gồm 4 phần : khai thị, nghĩa giải, tịch nghĩa giải và kệ kết thúc), để hiển bày ý chính của Tổ, mong độc giả xem xét cho kỹ!

 

THIÊN MỤC TRUNG PHONG HÒA THƯỢNG 
QUẢNG LỤC
TÍN TÂM MINH TỊCH NGHĨA GIẢI
BÀI TỰA CỦA NGÀI TRUNG PHONG

Từng nghe Sơ Tổ Đạt Ma nói đạo trực chỉ bất lập văn tự, nhưng vừa truyền qua hai đời đến đời thứ ba là tổ Tăng Xán, thì lại làm ra bài TÍN TÂM MINH gồm 584 chữ. Vậy có phải là biến gia phong của chư tổ trở lại kiến lập văn tự chăng? Hoặc nói chẳng phải, ấy chỉ là muốn hiển bày cái đạo trực chỉ cho hành giả đời sau được đầy đủ chánh tín, phá tà chấp mà thôi.
TÍN là gì? Là tin bản thể tự tâm rộng lớn như chư Phật, cùng khắp không gian thời gian, khiến cho được tự tin mà ngộ nhập, chẳng nhờ tu chứng; nghĩa là hễ bước vào cửa tin, quyết chẳng lui sụt, nên bài TÍN TÂM MINH nầy với thuyết BẤT LẬP VĂN TỰ của tổ sư trải qua bao đời chẳng trái nhau. Như thế, sự lập ngôn của Tam Tổ thực là chí thành để gánh vác pháp thiền trực tiếp này. Nhưng tiếc rằng những học giả đời nay thường kẹt nơi nghĩa giải, chẳng thể hoát nhiên tự ngộ diệu tâm, thấu rõ nguồn gốc, hợp với chánh tín, lại đem bài TÍN TÂM MINH này làm dẫn chứng đàm luận, giống như mạt vàng rơi vào mắt, thành ra nghịch lại ý Tổ mà chẳng tự biết. Do đó, tôi soạn ra bài này, mỗi đoạn 2 câu, dùng lời và kệ để sáng tỏ bản ý của Tổ, không dám khoe khoang kiến văn cho là thù thắng. Thực ra chỉ muốn quét sạch nghĩa giải, hiển bày chánh ngộ, nhắc nhở người đồng tham, khích lệ chính mình mà thôi. Nếu có người cảm thấy không vừa ý, thì tội của tôi làm sao tẩy sạch, cho nên đặt tên bài này là “TÍN TÂM MINH TỊCH NGHĨA GIẢI”.
CHÁNH VĂN
l. CHÍ ĐẠO VÔ NAN, DUY HIỀM GIẢN TRẠCH
DỊCH
Đạo cùng tột chẳng có gì khó, chỉ vì phân biệt mới thành khó.
LỜI KHAI THỊ
Thể dụng của tự tánh cùng khắp hư không, trí tuệ của con người chẳng thể suy lường. Mở cửa nhà lớn nhiệm mầu vô biên, vượt trên vạn trượng chiều sâu mà không đáy. Cơ xảo của chư Tổ như : Tiếng hét Kim Cang Vương của Lâm Tế sấm sét oanh liệt, muốn nhìn bóng cũng còn khó, huống là thấy hình; Uy thế cây gậy của Đức Sơn như gió bão điện chớp, đuổi theo không kịp. Đào tạo ra chư Tổ chẳng cho mình có công lao, gánh biển vác núi chẳng cần ra sức. Ông già Thích Ca thuyết pháp 49 năm, bàn tay chỉ có thể nắm bắt hư không, 1700 Bạch-niêm-tặc (ám chỉ Tổ Sư đã kiến tánh triệt để) có miệng chỉ có thể treo trên vách tường. Rất saün sàng mà khó hiểu biết, muốn ngay trước mặt chỉ bảo họ, thì gai gốc đã nổi đầy trước cửa.
LỜI NGHĨA GIẢI
Tổ Sư nói “CHÍ ĐẠO VÔ NAN, DUY HIỀM GIẢN TRẠCH”. Người nghĩa giải rằng : 2 câu nầy là cương yếu, cũng là bản chỉ của bài MINH. Nhưng một chữ TIN bao gồm ngộ chứng, chẳng phải chữ tin của tín hạnh. Cũng như các vị trong hội Pháp Hoa, lãnh hội quyền trí nhập vào thật trí, lập ra Phẩm Tín Giải để tỏ bày nguyện vọng. Chư Tổ thấy đó gọi là Chí-đạo, Chư Phật chứng đó gọi là Bồ-đề, chúng sanh mê đó gọi là Vô-minh, giáo môn hiển bày đó gọi là Biển-giác, đều là tên gọi khác biệt của một tâm, cho đến bao gồm danh tướng, thấu nhập sắc không, muôn ngàn đề mục, đường lối dù khác nhau, đâu có sai trái tốt xấu, cũng không có ngăn cách mê ngộ, tất cả đều do đây mà hiển bày. Như cây bách của Triệu Châu, vòng kim cang của Dương Kỳ, cái chậu đất bể của Mật Am, bánh sắt có nhân của Đông Sơn, giống như dị đoan cùng tà pháp sôi nổi, vậy thì biết lời nói “CHÍ ĐẠO” đã hiện hành rồi. Do đó, thông suốt lý sự, dung thấu cổ kim, cho là “VÔ NAN” đã thành lời thừa. Nhưng thánh phàm nhiễm tịnh, trước mắt toàn chân, nếu sanh ra tình thức phân biệt thì trái hẳn với chí-thể (tự tánh), nên mới nói “DUY HIỀM GIẢN TRẠCH” vậy. Lời văn sau này dù khác, thảy đều không ngoài ý này.
TỊCH NGHĨA GIẢI (tịch là phủ nhận), RẰNG
Hình như giống nhau, giống mà chẳng đồng. Lại, hai chữ CHÍ ĐẠO, dẫu cho ông dùng hết ý thức để giải thích, đối với tông chỉ của VÔ NAN, cần phải tương ưng mới được. Nếu chẳng phải tự tâm khai ngộ, âm thầm khế hợp bất khả tư nghì, dứt hẳn tri kiến, siêu việt ngữ ngôn danh tướng, muốn trông thấy tông chỉ của VÔ NAN, chẳng những xa cách như trời với đất, ở nơi căn và cảnh tương đối, đủ thứ sai biệt, nếu không thể ngay đó giải thoát, mà muốn đem cái đạo lý vô nan không giản trạch đó tồn chứa trong lòng, thì đâu chỉ nhận giặc làm con mà thôi! Nên ở đây chẳng thể quên lời.
KỆ KẾT THÚC, RẰNG
Chí đạo không nên chê lựa chọn,
Chớ nói lựa chọn đọa phàm tình.
Cần phải đâm mù mắt mẹ đẻ.
Ban ngày đốt đèn đọc “MINH” này.
2. ĐẢN MẠC TẮNG ÁI, ĐỒNG NHIÊN MINH BẠCH
DỊCH
Chỉ đừng yêu ghét thì rõ ràng minh bạch.
LỜI KHAI THỊ
Thẳng chẳng phải tùng, co chẳng phải gai, thông chẳng phải hư không, nghẽn chẳng phải vách tường, là đầu búa không lỗ ném ngay mặt. Trái lại, thẳng vẫn là tùng, co vẫn là gai, thông vẫn là hư không, nghẽn vẫn là vách tường, vậy trời xanh nước rộng dính liền như cũ. Đêm qua người Ba Tư bắt được tên chánh tặc Tây Thiên trong Nam Hải, đợi trời sáng đốt đèn xem, thì ra Bác Hai Vương ở làng Đông.
LỜI NGHĨA GIẢI
Tổ sư nói “ĐẢN MẠC TẮNG ÁI, ĐỒNG NHIÊN MINH BẠCH”, người nghĩa giải cho rằng : Chán sanh tử, ham niết bàn là yêu ghét; bỏ phiền não, lấy bồ đề là yêu ghét, hễ ở nơi pháp thánh phàm chẳng còn mảy may cảm tình yêu ghét, thì tâm này tự nhiên minh bạch rồi.
TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG
Thôi thôi! Dẫu cho ông tất cả đều chẳng yêu ghét, không màng luôn đến cái TA, nhưng đâu biết cái chẳng yêu ghét đó đã thành yêu ghét rồi! Nếu chẳng phải đích thân thấy chỗ đứng của Tổ Sư (kiến tánh), cứ chú giải như thế, có đúng ý Tổ Sư từ Tây Trúc đến chăng?
KỆ KẾT THÚC, RẰNG
Trời che, đất chở khắp mọi nơi,
Mặt trời chiếu soi chẳng thiếu sót.
Lại muốn ngồi trong nghĩa minh bạch,
Chẳng biết hai chân dính nước sình.
3. HÀO LY HỮU SAI, THIÊN ĐỊA HUYỀN CÁCH
DỊCH
Xê xích mảy may, cách xa trời đất.
LỜI KHAI THỊ
Có căn cứ nhất định, lại không tiêu chuẩn phép tắc, đem hư không lấp hư không, dùng mục đích phá mục đích, mua đá được ngọc, dẫu cho Lục Tổ nói “Chẳng hội”; Đạt Ma nói “Chẳng biết”, đều là dời hoa rủ bướm, chỉ hai đường dây dưa này, đã dẫn khởi gai gốc đầy trời. Bỏ gai gốc, Hải thần chẳng quí Dạ-Minh-Châu, nguyên nắm ném thẳng vào mặt họ.
LỜI NGHĨA GIẢI
Tổ Sư nói “HÀO LY HỮU SAI, THIÊN ĐỊA HUYỀN CÁCH”, người nghĩa giải cho rằng : Pháp môn rộng lớn nầy, dù nói ngộ mê chẳng khác, nếu ngươi còn mảy may tình cảm yêu ghét phân biệt chưa dứt sạch, thì như trời với đất cách nhau quá xa rồi.
TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG
Giải nghĩa như thế giống thì giống, phải thì chưa phải. Tại sao? Vì còn thiếu một tiếng “Ổ” (ngộ), dẫu cho ông mỗi mỗi không sai, lý hợp với đạo, vẫn còn không khỏi cách xa như trời với đất.
KỆ KẾT THÚC, RẰNG
Nói chi có sai và không sai,
Đều thành dụi mắt thấy hoa đốm.
Muốn lìa mảy may việc càng nhiều,
Trời đất xưa nay vẫn cách xa.
4. DỤC ĐẮC HIỆN TIỀN, MẠC TỔN THUẬN NGHỊCH
DỊCH
Muốn được tự tánh hiện tiền, chớ còn tập khí thuận nghịch.
LỜI KHAI THỊ
Hai không là đôi, một không là chiếc, buông chẳng lìa, nắm chẳng hợp. Dương Kỳ 10 năm đúc thành vòng kim cương, Đạt Ma 9 năm nhìn vỡ vách tường sắt. Lúc cổ Phật chưa sanh, bóng trăng hiện khắp ngàn sông; khi vũ trụ đã thành, gió mát sung mãn mười phương.
Nói thuận chẳng thuận, nói nghịch đâu nghịch,
Quải-giác-linh-dương ăn gậy sắt, trái cân bóp ra nước vàng ròng (Con linh dương lúc ngủ treo sừng trên cây, dưới đất không có dấu tích, thở không ra tiếng, thợ săn khó tìm, dụ cho tự tánh không hình tướng số lượng. Trái cân bóp ra nước là việc vô lý, tự tánh ăn gậy sắt cũng là việc vô lý; hai không là đôi, một không là chiếc…, đều là việc vô lý, pháp nào có thể lý giải thì chẳng phải tự tánh).
LỜI NGHĨA GIẢI
Tổ Sư nói “DỤC ĐẮC HIỆN TIỀN, MẠC TỔN THUẬN NGHỊCH”. Người nghĩa giải cho rằng : Tổ Sư nói đến đây thành có mâu thuẫn, tại sao? Việc này vốn đã hiện tiền, còn muốn đắc cái gì nữa? Kinh nói “Chánh tánh vô bất thông, thuận nghịch giai phương tiện ” (tự tánh khắp hư không chẳng có tương đối, nói thuận nói nghịch đều là phương tiện). Ở đây nếu bảo “MẠC TỔN” thì lại thành đoạn diệt rồi, thật ra ý Tổ Sư chẳng phải vậy, chỉ dùng phương tiện khai thị cho hàng sơ học, cũng như người no (đã ngộ) thì không thèm đồ ăn ngon vậy.
TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG
Im đi, im đi! Tổ Sư ở dưới gót chân ngươi, dẫu cho đạp một cái tan nát, vẫn còn phải tham 30 năm nữa.
KỆ KẾT THÚC, RẰNG
Muốn được hiện tiền đuổi theo vọng,
Chẳng còn thuận nghịch trái vơi chơn.
Sung sướng, đau khổ quên phân biệt,
Cũng là con mắt dính bụi trần.
5. VI THUẬN TƯƠNG TRANH, THỊ VI TÂM BỆNH
DỊCH
Thuận nghịch tranh nhau, ấy là tâm bệnh.
LỜI KHAI THỊ
Bệnh chẳng phải tâm, tâm chẳng phải bệnh, chớ đem cái cây hàng rào hữu lậu, cho là cán gáo múc nước sông. Tâm chẳng lìa thân, cũng chẳng phải tức là thân, cho là khác nhau thì bệnh càng nặng. Giải thích công án ” Nhựt diện Phật” của Mã Tổ thì bệnh nặng càng nặng thêm. Chỗ tình chấp chưa dứt sạch thì dùng cam lồ cũng có thể giết người; khi cơ phong khế hợp thì dùng thuốc độc Tỳ Sương cũng cứu được mạng.
Từ khi phương thuốc đua nhau truyền,
Đầu búa không lỗ sanh nhiều bệnh.
LỜI NGHĨA GIẢI
Tổ Sư nói : “VI THUẬN TƯƠNG TRANH, THỊ VI TÂM BỆNH”, người nghĩa giải cho rằng : sanh tử vô thường là tâm bệnh, kiến văn giác tri là tâm bệnh, tham thiền học đạo là tâm bệnh, thành Phật làm Tổ là tâm bệnh; cần phải quên cả thuận nghịch, bặt cả thánh phàm, muôn niệm đều bỏ, một lối không tịch, chẳng nhờ thuốc thần diệu quí báu, thì cái gọi là “tâm bệnh” đó, tự nhiên không có chỗ đặt để rồi.
TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG
Than ôi! Phật pháp suy đồi, Tổ đình hoang vu, người bị mắc tâm bệnh cùng khắp thế gian, đều là kẻ tri giải nhập tâm, chấp thuốc thành bệnh, đó không phải là việc lạ, dẫu cho Kỳ Bà (thần y đời xưa) tái thế cũng không cứu được bọn này.
KỆ KẾT THÚC, RẰNG
Thuận nghịch tranh nhau tâm sanh bệnh,
Thuận nghịch đều quên bệnh sanh tâm.
Xưa nay tâm bệnh chết liên tiếp,
Lại khoe phương thuốc hay như Thần.
6. BẤT THỨC HUYỀN CHÆ, ĐỔ LAO NIỆM TỊNH
DỊCH
Chẳng biết huyền chỉ, uổng công niệm tịnh.
LỜI KHAI THỊ
Cả đại địa là bánh xe sắt lửa hồng, cả đại địa là đại viên cảnh trí, con chồn con trâu nay vốn chẳng mê. Di Lặc, Thích Ca xưa cũng đâu chứng. Mây trắng lững lờ chẳng nắm chẳng buông, mặt trăng qua lại đâu động đâu tịnh; gom trần sa trong vòng pháp giới, nhốt pháp giới trong hang Thái hư. Lúc một người phát chơn quy nguyên (kiến tánh) thì mười phương hư không thảy đều tiêu mất là thế nào?
Con tò vò nuốt mất núi Tu Di,
Con khỉ giật mình xuất đại định.
LỜI NGHĨA GIẢI
Tổ Sư nói “BẤT THỨC HUYỀN CHÆ, ĐỔ LAO NIỆM TỊNH”. Người nghĩa giải cho rằng : HUYỀN CHÆ tức chí đạo, thể đồng tên khác, nếu chẳng biết được, dẫu cho niệm tịnh trải qua hằng sa kiếp tu chứng đủ loại, cũng là ngoài tâm cầu pháp, chỉ tự thêm lao nhọc, Tổ Sư cũng không chấp nhận.
TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG
Huyền Chỉ như kiếm bén Kim Cang, kẻ chẳng biết cố nhiên là tán thân mất mạng, biết được cũng không khỏi chạm nhằm bị thương. Vậy có phương tiện nào tránh khỏi được hai lỗi này?
KỆ KẾT THÚC, RẰNG
Huyền chỉ có ai tự biết được?
Thích Ca, Di Lặc còn đang mơ.
Đáng thương cho kẻ chìm không tịch,
Cô đơn ở núi lạnh nhiều năm.
7. VIÊN ĐỔNG THÁI HƯ, VÔ KHIẾM VÔ DƯ
DỊCH
Tròn đồng thái hư, không thiếu không dư.
LỜI KHAI THỊ
Vốn chẳng dư thiếu, lại có tính toán. Trang Chu gọi “vạn vật là con ngựa”, Long Môn cho “mười phương là con lừa”. Giống như chung một đường, lại là chẳng cùng lối. Có nước mới được bóng trăng hiện, vô tâm khó đắc Dạ-Minh-Châu.
LỜI NGHĨA GIẢI
Tổ Sư nói “VIÊN ĐỔNG THÁI HƯ, VÔ KHIẾM VÔ DƯ”. Tòng lâm bàn nhau rằng : Tâm này nơi Thánh chẳng thêm, nơi phàm chẳng bớt, tròn như hư không, mỗi mỗi đầy đủ.
TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG
Nói như thế, khác chi người đi tham học các nơi, ngồi chưa ấm chiếu, đem những lời nầy chứa đầy bụng, chỉ có thể dùng để đàm luận mà thôi, hễ gặp một việc nào có dính chút lợi ích của mình, thì cái niệm so sánh đắc thất nổi dậy ùn ùn, muốn khiến cho “VIÊN ĐỔNG THÁI HƯ” đâu có thể được! Đối với việc này cần phải diệu ngộ, ngộ rồi đâu còn cảnh thứ hai để làm đối đãi ư!
KỆ KẾT THÚC, RẰNG
Tò vò làm ổ trên mi muỗi,
Muốn cùng đại bàng nối cánh bay.
Nếu cho hư không chẳng thiếu kém,
Mở mắt bị nhốt trong chiêm bao.
8. LƯƠNG DO THỦ XẢ, SỞ DĨ BẤT NHƯ
DỊCH
Bởi do thủ xả, cho nên bất như (như là đúng như tự tánh).
LỜI KHAI THỊ
Tiến Phước nói “Mạc” (đừng), Triệu Châu nói “Vô” (không), Tuyết Phong phóng ra con ba ba Nam Sơn, Vân Môn đánh chết cá Lý Ngư Đông Hải. Hưng Hóa đi dự trai tăng thôn làng, vào trong cổ miếu tránh gió bão; Đơn Hà thiêu Phật gỗ, làm cho viện chủ rụng lông mày… Những việc kể trên, đã nghi chết biết bao đại trượng phu.
LỜI NGHĨA GIẢI
Tổ Sư nói : “LƯƠNG DO THỦ XẢ, SỞ DĨ BẤT NHƯ”. Người nghĩa giải cho rằng : Tâm này đã tròn như thái hư, không thiếu tướng nào, tất cả đều “NHƯ”. Nếu ngươi ở trong pháp nhiễm tịnh vừa sanh tâm thủ xả, thì “BẤT NHƯ” rồi.
TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG
Nếu là bậc tu sĩ tham học chơn chánh, thấy người nói những lời này, liền phun nước miếng vào mặt họ mà chẳng phải tánh nóng, vì tượng rồng chẳng thể làm mưa được.
KỆ KẾT THÚC, RẰNG
Hai việc thủ xả đã bất như,
Con trâu ai dám gọi con lừa.
Bản thể kim cang khắp pháp giới,
Cũng là dưới hàm trồng lại râu.

9. MẠC TRỤC HỮU DUYÊN, VẬT TRỤ KHÔNG NHẪN
DỊCH
Đừng theo nơi có, chớ trụ nơi không.
LỜI KHAI THỊ
Vạn vật lăng xăng, con người ngu độn, lìa tướng lìa danh, có ai không hiểu. Vì sao Đạt Ma phân da phân tủy, Lâm Tế lập chủ lập tân (khách), làm cho con cháu lăn lộn tìm. (Sơ Tổ Đạt Ma khám xét môn đồ, có kẻ được da, có kẻ được thịt, có kẻ được xương, cuối cùng Huệ Khả được tủy, kế làm Nhị tổ).
LỜI NGHĨA GIẢI
Tổ Sư nói “MẠC TRỤC HỮU DUYÊN, VẬT TRỤ KHÔNG NHẪN”, Người nghĩa giải cho rằng : Cả 2 đều hư huyễn, khởi tâm chấp trước thì thủ xả tranh nhau, một niệm chẳng sanh, thường ở trung đạo, tức là đạo nhân giải thoát.
TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG
Sai lầm! Đợi ngươi biết là giải thoát, đã lọt vào ngoan không rồi. Nếu là bậc ngộ tâm chân thật thì hữu duyên và không nhẫn há ở bên ngoài giải thoát ư!
KỆ KẾT THÚC, RẰNG
Đừng theo nơi có, còn là dễ,
Chớ trụ nơi không, mới thực khó.
Hai đầu khó dễ đều chấm dứt,
Tổ đình y xưa chẳng dính dáng.
10. NHẤT CHỦNG BÌNH HOÀI, DÂN NHIÊN TỰ TẬN
DỊCH
Trọn một bình đẳng, tuyệt nhiên tự sạch.
LỜI KHAI THỊ
Đạo tràng chẳng động, pháp vốn vô sanh. Trăng sáng thấu song cửa, gió mát đầy bình phong, chỗ có Phật chẳng được trụ, dùng sắt gói tim đèn. Chỗ không Phật chạy mau qua, bông đẹp trải gấm lụa. Ngoài ba ngàn dặm tìm bông hái, mười phương hư không đều tiêu mất. Dễ thương lượng, khó định chuẩn, trâu đất đáy biển ăn roi sắt, bên đầu trăm cỏ gió lạnh lùng.
LỜI NGHĨA GIẢI
Tổ Sư nói “NHẤT CHỦNG BÌNH HOÀI, DÂN NHIÊN TỰ TẬN”, Người nghĩa giải cho rằng : Tình chấp thủ xả đã sạch, tri kiến thánh phàm không nơi nương tựa, tự nhiên tất cả chỗ đều bình thường, tất cả chỗ tịch diệt.
TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG
Ban ngày không ngủ, đừng có nói mớ. Như nay mắt thấy sắc, tai nghe tiếng, gọi cái gì bình thường hay không bình thường?
KỆ KẾT THÚC, RẰNG
Tuyệt nhiên sạch hết chẳng ngằn mé,
Bên đầu trăm cỏ mở chánh nhãn.
Sanh tử Niết bàn đều bóp nát,
Chẳng biết bình thường đặt nơi nào.
11. CHÆ ĐỘNG QUY CHÆ, CHÆ CÁNH DI ĐỘNG
DỊCH
Ngăn động trở về tịnh, tịnh ấy càng thêm động.
LỜI KHAI THỊ
Nói quanh lao nhọc danh tướng, nói thẳng chẳng có dài dòng. Nói quanh tạm gác một bên, thế nào là nói thẳng? Trương Tam, ăn gậy sắt, Lý Tứ chịu đớn đau; người sống vào quan tài, người chết đi đưa đám. Quan Âm mất hết thần thông, lại bị con nít chọc ghẹo. Nói thẳng tạm gác một bên, nói quanh lại là thế nào?
Hoa giác ngộ phải trồng nơi tự tánh,
Hạt giống Phật nên gieo trên tâm địa.
LỜI NGHĨA GIẢI
Tổ Sư nói “CHÆ ĐỘNG QUY CHÆ, CHÆ CÁNH DI ĐỘNG”. Người nghĩa giải cho rằng : Chân tâm trạm nhiên luôn luôn bất động, xưa nay lưu chuyển đều do vọng kiến, vậy động đã là vọng, tịnh cũng là vọng, dùng vọng để ngăn vọng, giống như ôm củi chữa lửa, chỉ thêm cháy mạnh. Lấy lời Pháp Sư Tăng Triệu dẫn chứng rằng : “Muốn tìm chỗ bất động, đâu phải buông động để cầu tịnh, ắt phải cầu tịnh ở nơi động. Vì cầu tịnh ở nơi động, dù động mà thường tịnh; chẳng buông động để cầu tịnh, dù tịnh mà chẳng lìa động”. Thế thì, động chẳng tướng động, tịnh chẳng tướng tịnh, như trong Kinh nói “Hai tướng động tịnh rõ ràng không sanh”, bởi vì rõ biết động tịnh đều là cảnh vọng, các vọng đã tiêu thì hai tướng đâu còn!
TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG
Thôi thôi! Động là núi bạc, tịnh là vách sắt. Nếu chưa từng đập nát, mà muốn hai tướng kia không sanh thì còn cách xa quá.
KỆ KẾT THÚC, RẰNG
Ngọn lửa đâu cho ruồi muỗi đậu,
Lưỡi kiếm chẳng cho thân trần đụng.
Nhà kín Đạt Ma không cửa nẻo,
Nắm tay lôi kéo chẳng ai vào.
12. DUY TRỆ LƯỠNG BIÊN, NINH TRI NHẤT CHỦNG
DỊCH
Hễ kẹt hai bên, đâu biết vốn một.
LỜI KHAI THỊ
Nhìn phải nhìn trái, Đông nổi Tây lặn, ló ra đầu búa không lỗ, đập lũng đáy thùng sơn đen. Chân nhân Vô Địa Vị, bạt tai Núi Tu Di một cái, khiến cho Bồ Tát Hư Không Tạng đứng giữa ngã tư đường chấp tay nói rằng : “Cúi xin trân trọng”. Tại sao có những việc trên như thế?
LỜI NGHĨA GIẢI
Tổ Sư nói “DUY TRỆ LƯỠNG BIÊN, NINH TRI NHẤT CHỦNG”, Người nghĩa giải cho rằng : LƯỠNG BIÊN là 2 tướng động tịnh, NHẤT CHỦNG là toàn thể không khác. Đây là lời giải thích 2 câu trên, phải biết động tịnh nhị biên, vọng thì cùng vọng, chân thì cùng chân, đâu có hai thứ.
TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG
Im đi, im đi! Đừng đem kiến giải vô dụng đã học được, để chôn vùi chân tâm của Tổ Sư.
KỆ KẾT THÚC, RẰNG
Thị nhất chủng hay phi nhất chủng,
Thị phi hết chấp có ai biết.
Chớ đem đá rêu xanh trong tuyết,
Cho là cò trắng đứng dưới sông.
13. NHẤT CHỦNG BẤT THÔNG, LƯỠNG XỨ THẤT CÔNG
DỊCH
Vốn một chẳng thông, thì đặt ra hai chỗ là uổng công.
LỜI KHAI THỊ
Nhận nai là ngựa, gọi lu là chuông, xưa nay đem sai chiều theo sai, chẳng khác đem hư không lấp hư không, ngồi rách năm, ba cái bồ đoàn, vỗ tay cười to; đi gãy bảy, tám cây tích trượng, mặt mày hớn hở, quét sạch bệnh chấp Phật Tổ, diệt mất Thiếu Lâm Tông (Thiền Tông), lò rèn lâu năm lửa vẫn hồng.
LỜI NGHĨA GIẢI
Tổ Sư nói “NHẤT CHỦNG BẤT THÔNG, LƯỠNG XỨ THẤT CÔNG”, một số thiền giả bày đặt rằng : Hai câu này là lời kết trước dẫn sau, nói KẾT TRƯỚC là hiển bày chơn lý vốn một; Nói DẪN SAU là trách cái vọng của có và không vậy.
TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG
Nếu là nạp tăng chơn thật, dù nói một nói hai, câu nào cũng quy về tự tông (bản thể), lời nào cũng là ứng dụng. Nếu chẳng như thế, thì nói một đã lọt vào hang ổ rồi, huống là hai ư!
KỆ KẾT THÚC, RẰNG
Nói một xưa nay không chỗ để,
Nói hai đâu có chỗ lập công?
Chỉ vì Bà mẹ dặn quá kỹ,
Liên lụy vợ tôi chấp thấy nghe.
14. KHIỂN HỮU MỘT HỮU, TÙNG KHÔNG BỘI KHÔNG
DỊCH
Trừ bỏ Có thì kẹt nơi Có, đuổi theo KHÔNG lại trái với KHÔNG.
LỜI KHAI THỊ
Đầu chánh đuôi chánh, tâm không mắt không, gặp nhau trong đường hẹp, nói bậy cũng trúng. Cây bách của Triệu Châu, cắt đứt một dòng suối thế gian. Cái bánh sắt có nhân của Đông Sơn, bóng nước bầu trời hiện cây tùng. Voi lớn không đi đường con thỏ, sư tử đâu chịu giẫm dấu chồn.
LỜI NGHĨA GIẢI
Tổ Sư nói “KHIỂN HỮU MỘT HỮU, TÙNG KHÔNG BỘI KHÔNG”. Những người đuổi theo lời nói giải rằng CÓ là vọng có, vì trừ nó mà bị kẹt;
KHÔNG vốn tự không, do muốn đuổi theo nên trái. CÓ là cái có của nhà không; KHÔNG là cái không của nhà có, KHÔNG nhờ có mới hiển, CÓ nhờ không mà bày; vì hiển nên toàn không là có, vì bày nên toàn có là không, dung nhiếp với nhau mà chẳng sai, tương đối lẫn nhau mà chẳng khác. Do đó được biết, trừ nó hay theo nó đều là vọng.
TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG
Sư tử cắn người, đâu chịu đuổi theo cục xương, y văn giải nghĩa, còn không bằng con chó đuổi theo cục xương nữa, mà còn muốn nó rống lên chụp người ném cục xương ấy, thì đâu có thể được!
KỆ KẾT THÚC, RẰNG
Chỉ vì lá bùa dán quá cao,
Giữ cửa vẫn bị quỷ thần vào.
Đâu bằng ở dưới thềm nhà lá,
Suối, mây, trăng, núi làm bạn nhau.
15. ĐA NGÔN ĐA LỰ, CHUYỂN BẤT TƯƠNG ƯNG
DỊCH
Nói nhiều lo nhiều, càng chẳng tương ưng.
LỜI KHAI THỊ
Như nước vào nước, như gương soi gương, tẩy được pháp trần lại kết thành kiến bệnh, làm cho tam thế chư Phật không nhà để về, lịch đại tổ sư chẳng có đạo để chứng. Vì thương xót quan tuần mù mắt phải xem số mạng cho KHÔNG VƯƠNG, đêm khuya lật bàn quẻ ra xem, hư minh lạnh lẽo tự soi nhau. Cho nên nói “ĐA NGÔN ĐA LỰ, CHUYỂN BẤT TƯƠNG ƯNG”.
LỜI NGHĨA GIẢI
Người nghĩa giải cho rằng : Nói nhiều cách đạo càng xa. Lại nói “diệu tâm rỗng nhiên chiếu soi, lấy tịch lặng của bậc Thánh làm tông. Còn dẫn chứng Tổ Đạt Ma dạy “Ngoài tuyệt các duyên, trong tâm không nghĩ tưởng”. Ngoài tuyệt các duyên thì quên lời nói, trong không nghĩ tưởng thì hết niệm lo.
TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG
Ngươi dẫn chứng như thế rồi, vậy có tương ưng với tự tánh hay chưa? Nếu chưa, thì nói chi ngôn ngữ này nọ!
KỆ KẾT THÚC, RẰNG
Do lời hiển đạo, đạo quên lời,
Quên đến không lời cũng vọng truyền.
Thị phi thoát ra ngoài lời nói,
Hư không chẳng miệng biết nói Thiền.
16. TUYỆT NGÔN TUYỆT LỰ, VÔ XỨ BẤT THÔNG
DỊCH
Bặt nói bặt lo, chỗ nào cũng thông.
LỜI KHAI THỊ
Đạo Ngô múa hốt (cây hốt của quan triều đình), Thạch Củng giương cung, Tây Hà sư tử, Trường Sa mãnh hổ, chẳng những bấy giờ tiếng tăm lừng lẫy, cho tới ngày nay gia phong vẫn còn lưu truyền, đến dưới cửa Tổ Sư phải khiến dấu chuột diệt mất. Tại sao như thế? Há chẳng thấy nói “Dùng nia đong gạo khác với cái lít, bàn ủi nấu trà không giống cái ấm”. Cho nên nói “TUYỆT NGÔN TUYỆT LỰ, VÔ XỨ BẤT THÔNG”.
LỜI NGHĨA GIẢI
Hoặc có người y văn giải nghĩa rằng : Bặt nói thì đường ngôn ngữ dứt, bặt lo thì chỗ tâm hành diệt; đường ngôn ngữ dứt thì tịch mà chiếu, chỗ tâm hành diệt thì chiếu mà tịch. Đến đây, Như Lai Thiền và Tổ Sư Thiền có thể xỏ chung một xâu, cũng có cổ nhân bảo họ thôi đi nghỉ đi, khoé miệng lên meo, trên lưỡi mọc cỏ v.v… đều không ngoài lý này.
TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG
Lãnh hội như thế, giống như để nước đá trên ngọn lửa hồng, thật là không biết mắc cở. Nếu quả như lời nói ấy, thì đâu cần Tổ Sư từ Tây Trúc sang!
KỆ KẾT THÚC, RẰNG
Bặt nói bặt lo đồng người gỗ,
“Khi nào thành Phật”, Vĩnh Gia chê.
Chưa ngộ trước lời thông huyền chỉ,
Đem một mảy lông ngăn thiết vi.
17. QUY CĂN ĐẮC CHÆ, TÙY CHIẾU THẤT TÔNG
DỊCH
Trở về cội gốc thì được ý chỉ, đuổi theo chiếu soi lại mất bản tông.
LỜI KHAI THỊ
Như thế, như thế, cho Tây làm Đông; chẳng như thế, chẳng như thế, nhận có là không. Chẳng như thế ở nơi như thế, giống như dùng lưới bắt gió, như thế, ở nơi chẳng như thế, như dùng giấy ướt để nhốt cọp. Tại sao? Há chẳng nghe nói “QUY CĂN ĐẮC CHÆ, TÙY CHIẾU THẤT TÔNG” ư!
LỜI NGHĨA GIẢI
Một số người khéo suy lường rằng : “Bặt nói bặt lo” là trở về cội, “nơi nào cũng thông” là đắc tông chỉ. Nếu ngươi lãnh hội theo nghĩa “về cội đắc chỉ” đó, thì lại đuổi theo chiếu soi làm lạc mất tông chỉ rồi. Nhưng CỘI vốn không chỗ về, CHÆ cũng chẳng thể đắc, chẳng rõ nghĩa này, tự sanh vọng chấp, nói là TUỲ CHIẾU, nếu còn dấu tích chữ CHIẾU, thì tâm tông của chư Phật chư Tổ đã lạc mất quá lâu rồi.
TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG
Quả có lời nói này ư? Nếu thật như thế, thì cũng như kêu những Phật Tổ từ xưa đên đây ăn gậy sắt của Diêm La Vương. Tại sao? Vì họ QUY CĂN ĐẮC CHÆ vậy!
KỆ KẾT THÚC, RẰNG
TÙY CHIẾU, QUY CĂN đồng một việc
Chẳng cần đặc biệt hiển gia phong.
Tâm trộm chưa chết trước cơ xảo,
“ĐẮC CHÆ” đâu khác sự “THẤT TÔNG”.
18. TU DU PHẢN CHIẾU, THẮNG KHƯỚC TIỀN KHÔNG
DỊCH
Phản chiếu chốc lát, hơn cả KHÔNG kia.
LỜI KHAI THỊ
Thấy đến, hành đến, Tông thông thuyết thông, hiển lộ con mắt trời người, mổ ra tấm lòng Phật Tổ. Ngược với vật, đuổi theo vật, giống như khác chẳng phải khác, giết người cứu người, nói đồng chẳng đồng, đều cho đè ngang xuống một lượt, nửa đêm cửa biển mặt trời hồng.
LỜI NGHĨA GIẢI
Tổ Sư nói : “TU DU PHẢN CHIẾU, THẮNG KHƯỚC TIỀN KHÔNG”, hạng người gượng nói đạo lý rằng : Đem sáng, tối, sắc, không, dẫn nghĩa quy về tự kỷ gọi là PHẢN CHIẾU. Phải biết không chẳng tự không bởi tâm nên không; có chẳng tự có, bởi tâm nên có, chúng sanh xa trái tự tâm, vọng thấy Không và Có, mà muốn theo nó hay bỏ nó, đều gọi là điên đảo.
TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG
Lời nói đoán sai. Dưới cửa Thiền Tông, tìm tâm trọn chẳng thể được, ai là người điên đảo?
KỆ KẾT THÚC, RẰNG
Vốn chẳng phải chiếu đâu cần chiếu,
Nói chi chốc lát với lâu dài.
Hễ được kiến tánh siêu danh tướng,
Hai việc lâu mau nghĩa đều sai.
19. TIỀN KHÔNG CHUYỂN BIẾN, GIAI DO VỌNG KIẾN
DỊCH
Không kia chuyển biến, đều do vọng kiến.
LỜI KHAI THỊ
Lư hương chùa cổ, lụa trắng một sợi, ngay đó siêu việt sanh tử, đều là rơi vào phương tiện. Xưa nay chẳng tin tâm tự mê, lại nói Phật pháp không linh nghiệm. Dù có linh nghiệm, ngay đó liền thành Phật, thì vào địa ngục mau như tên bắn.
LỜI NGHĨA GIẢI
Tổ Sư nói: “TIỀN KHÔNG CHUYỂN BIẾN, GIAI DO VỌNG KIẾN”, người nghĩa giải cho rằng : Có là vọng, Không cũng là vọng. Không và Có theo duyên thay đổi chẳng nhất định, muốn được lìa vọng, phải bài trừ cả hai.
TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG
Thôi thôi! Trừ thì mặc tình cho y trừ, nhưng chẳng biết cái vọng sở trừ và cái tâm năng trừ đều chẳng lìa vọng. Nếu chẳng thể luôn cả cái “trừ” đều trừ sạch, muốn thoát khỏi cảnh duyên vọng, khó mong có ngày. Vậy có phương tiện nào để trừ luôn cái “Trừ”?
KỆ KẾT THÚC, RẰNG
KHÔNG đâu có biến, biến phi KHÔNG,
Trong mắt đừng có chứa núi sông.
Ba Tư đáy nước thổi đá lửa,
Mặt trời bay lên cửa biển đông.
20. BẤT DỤNG CẦU CHƠN DUY TU TỨC KIẾN
DỊCH
Chẳng cần cầu chơn, chỉ cần dứt kiến (tri kiến)
LỜI KHAI THỊ
Dựng đứng xương sống như sắt, cầm ngang cây kiếm dài như trời, trong lúc động tịnh nhàn rộn, tất cả nhồi thành một khối. Đã tinh chuyên, lại dũng mãnh, đối với sự thành Phật làm Tổ, chẳng cách một hạt bụi, đụng nhằm Tam Tổ nói nhỏ với Ngài rằng “Khéo léo xem phương tiện, chẳng cần cầu chơn, chỉ cần dứt kiến”.
LỜI NGHĨA GIẢI
Người học giáo lý cho rằng : Kiến chấp có 62 thứ, pháp số nêu ra đủ thứ, chẳng ra ngoài 2 kiến : Đoạn và thường. Cầu chơn rơi vào đoạn kiến, theo vọng rơi vào thường kiến. Kinh Lăng Nghiêm nói “Nói vọng để hiển chơn, Vọng, Chơn là hai vọng, Phi chơn phi chẳng chơn, nói chi kiến sở kiến”. Hễ lìa được tất cả kiến thì toàn thể tức chơn, chẳng cần cầu vậy.
TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG
Phải thì cố nhiên là phải, nhưng Tổ Sư nói “CHÆ CẦN DỨT KIẾN”, vậy kiến làm sao dứt? Nếu như có cái lý của dứt kiến, thì cái lý đó cũng trở thành kiến rồi!
KỆ KẾT THÚC, RẰNG
Tác ý cầu chơn, chơn liền ẩn,
Tận tình dứt kiến, kiến càng sanh.
Ngay cửa dù chẳng trồng gai gốc,
Nhưng đã không ai có lối đi.
21. NHỊ KIẾN BẤT TRỤ, THẬN VẬT TRUY TẦM
DỊCH
Nhị kiến đối đãi chẳng trụ, chớ nên đuổi theo để tìm.
LỜI KHAI THỊ
Dùng mũi kim gọt sắt, nơi mặt Phật cạo vàng, nói KHÔNG thì mảy may chẳng cách, nói CÓ thì bậc Thánh khó tìm. Ban ngày không thấy đường, nửa đêm lại sáng tỏ. Tuyệt đối đãi, lìa cổ kim, người đời đều biết Hồ Hải rộng, xuất ngoại mới thấy nước bùn sâu.
LỜI NGHĨA GIẢI
Tổ Sư nói : “NHỊ KIẾN BẤT TRỤ, THẬN VẬT TRUY TẦM, người nghĩa giải cho rằng : Đã chẳng trụ vọng, cũng chẳng trụ chơn, luôn cái chẳng trụ cũng không trụ, chính ngay khi ấy đủ thứ đại dụng, tất cả toàn chơn, đâu cần lìa cái này để tìm cái khác!
TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG
Ỷ! Như những lời nói tương tự này, có ai không chứa một bụng hay nửa bụng, nhưng muốn gần bên cạnh Tổ Sư thì chưa được.
KỆ KẾT THÚC, RẰNG
Các pháp bổn lai vô sở trụ,
Nơi vô sở trụ bặt truy tầm.
Đêm qua Tây Đỉnh mặt trời lặn,
Sáng nay y cũ chiếu rừng sâu.
22. TÀI HỮU THỊ PHI, PHÂN NHIÊN THẤT TÂM
DỊCH
Vừa có thị phi, thì lăng xăng lạc mất bản tâm.
LỜI KHAI THỊ
Căn chẳng lợi độn, đạo chẳng cạn sâu, Thiền tông có một câu :
“Phi cổ phi kim”, mò không đụng đáy. Tỉnh tọa nơi Đại-viên-cảnh-trí, dù được đụng đáy lại sâu vào rừng rậm tà kiến, Di Lặc, Thích Ca tự biết chẳng có phần, con chồn, con trâu ráng nín sự tức cười.
Đêm cưỡi ngựa sắt chìm đáy biển,
Mò được mũi kim hồi năm xưa.
LỜI NGHĨA GIẢI
Tổ Sư nói “TÀI HỮU THỊ PHI, PHÂN NHIÊN THẤT TÂM”, người ở tòng lâm thường nói : Khắp mười phương thế giới là sa môn tự kỷ, khắp mười phương thế giới là cổ Phật pháp thân. Cho nên nói : lăng xăng chẳng phải vật khác, tung hoành đâu phải bụi trần, chẳng thị cũng chẳng phi, mỗi mỗi đều từ trong tâm diệu minh chảy ra.
TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG
Những lời nói này, tòng lâm gọi là việc thương lượng bình thường, cũng gọi là câu nói chuyển thân (vô trụ), ai cũng dùng 2 câu này để dẫn chứng, xưa nay không biết đã làm ô nhiễm bao nhiêu tâm địa trong sạch, nên bậc đạo nhân chơn thật, quở nó là tạp độc, mắng nó là nước miếng con chồn, có người nào không chịu sự ma mị ấy chăng! Cần phải mửa hết cho mau.
KỆ KẾT THÚC, RẰNG
Nói có thị phi, không thị phi,
Nhà lớn cửa mở đợi ai vào.
Gai gốc đầy trời ngang đường cái,
Đi qua ai chẳng bị vướng y.
23. NHỊ DO NHẤT HỮU, NHẤT DIỆC MẠC THỦ
DỊCH
Hai do một mà có, một cũng đừng nên giữ.
LỜI KHAI THỊ
Mặt trời mọc, mặt trăng lặn, trời đất lâu dài, chỉ có Châu Kim Cang (Đức Sơn) không việc làm. Cầm ngang cây gậy đi dọc đường, có ai hỏi ý Tổ Sư từ Tây Trúc sang, nếu chẳng đánh vào sống lưng thì chụp ngay ngực, rồi nói “Ngậm miệng chó lại”, làm cho sum la vạn tượng híp mắt cười ha hả. Muốn đến nơi phải đợi ba mươi năm sau.
LỜI NGHĨA GIẢI
Tổ Sư nói: “NHỊ DO NHẤT HỮU, NHẤT DIỆC MẠC THỦ”, người nghĩa giải cho rằng : Vừa theo hai, liền mê một, vừa giữ một, liền sanh hai. Nên biết : Hai là chơn vọng, một là tự tâm, cái “HAI” của chơn vọng đã trừ, cái “MỘT” của tự tâm chẳng trụ, gọi là giải thoát trên đường đạo lớn vậy.
TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG
Những lời nói này, ghi nhớ trong lòng cho là tham học, chẳng những chưa đủ tư cách để ăn gậy của Đức Sơn, mà gậy sắt của Diêm La Vương lại không thể thiếu phần cho ông.
KỆ KẾT THÚC, RẰNG
Bảo y một pháp cũng đừng giữ,
Chẳng biết “đừng giữ” chưa thật nghèo.
Đâu bằng say rượu nằm trên thảm,
Rải ném vàng ròng cho mọi người.
24. NHẤT TÂM BẤT SANH, VẠN PHÁP VÔ CỬU
DỊCH
Một tâm chẳng sanh khởi, muôn pháp chẳng đúng sai.
LỜI KHAI THỊ
Tô Châu có, Thường Châu có, sáu lần sáu = ba mươi sáu, bảy lần bảy = bốn mươi chín. Am chủ dựng lên nắm tay, Bá Trượng mở ra hai bàn (tay), sản xuất túi cơm (ám chỉ Tổ Sư) một ngàn bảy, hiện ra đầu thần mặt quỷ. Con tôm đâu từng ra khỏi lưới.
LỜI NGHĨA GIẢI
Tổ Sư nói: “NHẤT TÂM BẤT SANH, VẠN PHÁP VÔ CỬU”, người nghĩa giải dẫn chứng kinh luận rằng : “Tâm sanh mỗi mỗi pháp sanh, tâm diệt mỗi mỗi pháp diệt. Các pháp chẳng tự sanh, các pháp chẳng tự diệt, đều do một tâm biến hiện, một tâm không sanh, các pháp thường trụ”. Cho nên người xưa có lời nói : “Trâu sắt không sợ sư tử rống, giống như người gỗ thấy chim, hoa”, chính là nghĩa này vậy.
TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG
Đúng thì đúng rồi! Nhưng Ngài Vĩnh Gia lại nói : “Ai vô niệm, ai vô sanh? Nếu thật vô sanh thì vô bất sanh, kêu người gỗ-máy đến hỏi thử, dụng công cầu Phật lúc nào thành? Vậy lời nghĩa giải trên dường như trái ngược; xin hỏi : Bất sanh là phải, hay vô bất sanh là phải? Thử xác định xem!
KỆ KẾT THÚC, RẰNG
Vạn pháp xưa nay chẳng đúng sai,
Một tâm đâu có sanh, bất sanh.
Lòng từ dặn dò dù tha thiết,
Tiếng sáo chăn trâu khó hợp đàn.
25. VÔ CỬU VÔ PHÁP, BẤT SANH BẤT TÂM
DỊCH
Chẳng đúng sai thì chẳng phải pháp, cũng chẳng sanh cái tâm chấp “chẳng phải tâm”.
LỜI KHAI THỊ
Núi Thái Hoa không hiểm, Biển mênh mông không sâu, bài thơ “Nguyệt thực” của Lư Đồng đâu có khó đọc, Khúc “Thái Cổ” của Bá Nha thật có tri âm, chỉ có “Ám Hiệu Tử” của Đông Sơn nắm thì không kẽ hở, buông thì rất khó tìm, làm phiền bao nhiêu người lanh lợi, chen lấn tranh giành đến ngày nay.
LỜI NGHĨA GIẢI
Tổ Sư nói: “VÔ CỬU VÔ PHÁP, BẤT SANH BẤT TÂM”, người nghĩa giải cho rằng : hai câu này là ngược lại hai câu trên. Nói “KHÔNG ĐÚNG SAI” thì muôn pháp tự tiêu, “KHÔNG SANH” thì một tâm tự tịch, Pháp tiêu tâm tịch, bản thể của chí đạo rõ ràng, chẳng đợi đắc mà đắc rồi.
TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG
Xưa kia tăng hỏi Triệu Châu : “Học nhân mới vào tòng lâm, xin thầy chỉ dạy” Châu hỏi “ăn cháo rồi chưa?” Tăng nói : “Ăn rồi”. Châu nói : “Rửa chén bát đi!” Tăng ấy ngộ liền. Vậy tăng ấy lúc bấy giờ ngộ chẳng đúng sai ư? Ngộ chẳng phải pháp ư ? Ngộ không sanh ư? Ngộ chẳng phải tâm ư? Xin xác định xem!
KỆ KẾT THÚC, RẰNG
Chỉ vì lỗi chấp chẳng đúng sai,
Sanh tâm đều bởi chấp “không sanh”.
Đêm lạnh vượn khóc trăng đỉnh núi,
Khác đường xưa nay không thể hành.
26. NĂNG TÙY CẢNH DIỆT, CẢNH TRỤC NĂNG TRẦM
DỊCH
Năng theo cảnh diệt, cảnh theo năng mất.
LỜI KHAI THỊ
Đem một lớp khử bỏ một lớp, đường xa mới biết sức ngựa; chẳng đem một lớp khử bỏ một lớp, lâu ngày mới thấy lòng người. Công án 2 lớp; chân đã duỗi thì không rút, ngoài 3000 dặm ai là tri âm?
Từ khi mùa đông người đã về,
Mấy đám mây xuân bọc núi xanh.
LỜI NGHĨA GIẢI
Tổ Sư nói : “NĂNG TÙY CẢNH DIỆT, CẢNH TRỤC NĂNG TRẦM”, người nghĩa giải dẫn chứng lời Vĩnh Gia rằng : “Cảnh không trí thì chẳng rõ, trí không cảnh thì chẳng sanh; trí sanh do rõ cảnh mà sanh, cảnh rõ do trí sanh mà rõ”. Nên biết NĂNG là một tâm, CẢNH là các pháp, năng tức tên khác của trí, cảnh tức biệt hiệu của pháp, cảnh diệt thì tâm năng rõ cũng diệt, tâm không thì cảnh sở hiện cũng mất. Năng và cảnh giúp nhau tồn tại, nhiếp nhau dung thông, vốn không ngăn cách, người không rõ nghĩa này nên gọi là mê.
TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG
Theo lời nói như vậy, gọi là liễu ngộ được chăng? Chẳng những không liễu ngộ, lại như người đói khát ăn muối, càng thêm đói khát mà thôi.
KỆ KẾT THÚC, RẰNG
Đồng biết ánh sáng do đèn hiện,
Cùng nói làn sóng nhờ nước sanh.
Nước cạn, đèn tắt, sóng, ảnh hết,
Mới đáng ngoài cửa ăn roi Tổ.
27. CẢNH DO NĂNG CẢNH, NĂNG DO CẢNH NĂNG
DỊCH
Cảnh do năng thành cảnh, năng do cảnh thành năng.
LỜI KHAI THỊ
Đại Tạng kinh điển là giấy vụn năm xưa, ngàn bảy công án là dây
dưa mục nát, cũng như lá vàng gạt con nít nín khóc, khác chi
đốt ngọn đèn dưới ánh sáng mặt trời! Dẹp qua lớp này rồi lại có
một lớp nữa, có mấy ông tăng được thoát khỏi những sự lừa gạt nầy
?
LỜI NGHĨA GIẢI
Tổ Sư nói : “CẢNH DO NĂNG CẢNH, NĂNG DO CẢNH NĂNG”. Có người y văn giải nghĩa rằng : Cảnh chẳng tự cảnh, vì năng nên cảnh; năng chẳng tự năng, vì cảnh nên năng, năng nhờ cảnh mà sanh, cảnh nhờ năng mà khởi. Phải biết ngoài tâm chẳng pháp, sanh mà bất sanh; ngoài pháp chẳng tâm, khởi mà phi khởi. Tổ Sư đến đây, đem nhất tâm vạn pháp vò thành viên kẹo, chỉ muốn y vui vẻ nuốt vào.
TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG
Hỏi ngược lại họ : “Ông đã từng nuốt được hay chưa? Nếu như chưa, vậy cả thế giới có ai nuốt được chăng? E rằng sau này viên sắt lửa hồng chắc có phần cho ông!
KỆ KẾT THÚC, RẰNG
Vì năng sanh sở, sở sanh năng,
Năng sở đều quên, sanh “Bất Sanh”.
Ốc Trai hút cạn nước biển cả,
Trên nhánh san hô nửa đêm trăng.
28. DỤC TRI LƯỠNG ĐOẠN, NGUYÊN THỊ NHẤT KHÔNG
DỊCH
Muốn biết “hai đoạn”, vốn là “một-không”.
LỜI KHAI THỊ
Không mà chẳng không, cây gậy sừng thỏ chống bể núi bạc vách sắt ; chẳng không mà không. Phất trần lông rùa mở ra gió mát trăng thanh. Động Sơn “ba cân mè”, dính da dính xương; Vân Môn “cục cứt khô”, kẹt vỏ kẹt ruột. Trước mặt nạp tăng thả qua không được, dưới cửa Tổ Sư tái phạm khó tha. Thường khiến trong bụng như kim chích, quăng xuống trong biển rộng sóng to.
LỜI NGHĨA GIẢI
Tổ Sư nói: “DỤC TRI LƯỠNG ĐOẠN, NGUYÊN THỊ NHẤT KHÔNG”. Người nghĩa giải cho rằng : Nói “HAI ĐOẠN� là chỉ tâm pháp của đoạn trên. Nói “MỘT KHÔNG” chẳng phải là cái ngoan không của Thái hư, cũng chẳng phải là cái “không” đoạn diệt của Tiểu-thừa, là cái chơn không vô tướng của linh giác. KHÔNG này là nguồn gốc của chư Phật, là mẹ của vạn linh. Chẳng tiếng chẳng mùi, rõ ràng ở trước các vật. Chẳng hữu chẳng vô, hiển bày bên ngoài lục trần.
TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG
Đã là KHÔNG thì chẳng nên có biết, đã có biết thì chẳng nên gọi là không. Nếu chưa từng nắm tay với Tổ Sư, đích thân đến Biển Giác của Chơn Không, thì nói chi ngôn ngữ này nọ!
KỆ KẾT THÚC, RẰNG
Đào được kho tàng trong chiêm bao,
Lại cưỡi loan phụng lên Bảo Đài.
Suốt đêm vui mừng không kể xiết,
Sáng ngày tỉnh dậy dạ ngẩn ngơ.
29. NHẤT KHÔNG ĐỔNG LƯỠNG, TỀ HÀM VẠN TƯỢNG
DỊCH
Nói một cái KHÔNG đã đồng với hai, một và hai cùng bao hàm vạn tượng.
LỜI KHAI THỊ
Một câu không ích kỷ, muôn người đồng ngưỡng mộ. So bằng vai tổ. Cơ xảo qua bàn tay, Đại Điên đánh thủ tọa; gom tuyết để chôn vàng, Hưng Hóa phạt Duy Na, ra tiếng để ngưng âm thanh. Duy có Thạch-Cảm-Đương, quanh năm suốt tháng, ló đầu ra trước trăm ngàn chúng, xưa nay chẳng ai biết tán thưởng.
LỜI NGHĨA GIẢI
Tổ Sư nói : “NHẤT KHÔNG ĐỔNG LƯỠNG, TỀ HÀM VẠN TƯỢNG”. Người nghĩa giải cho rằng : Tâm chẳng khác với pháp. Là một KHÔNG đồng hai; pháp chẳng khác với tâm, là cùng hàm vạn tượng. Sở dĩ người xưa nói “Thấy sắc liền thấy tâm, chẳng sắc, tâm chẳng hiện”, lại trong kinh nói “Sum la và vạn tượng, do một pháp ấn định”, nên Tổ Sư sáng tỏ nơi đây.
TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG
Giảng kinh thì cho ngươi giảng, nhưng muốn thấy ý chỉ Tổ Sư, khác gì đi Trịnh Châu ra cửa Tào Châu.
KỆ KẾT THÚC, RẰNG
Một chẳng phải chiếc, hai chẳng đôi,
Trăng lạnh đêm khuya, bóng in sông.
Ánh sáng nuốt hết cả vũ trụ,
Còn dời bóng mai lên cửa song.
30. BẤT KIẾN TINH THÔ, NINH HỮU THIÊN ĐẢNG
DỊCH
Chẳng thấy tinh tế thô sơ, đâu có thiên lệch một bên.
LỜI KHAI THỊ
Thiền gọi quan ải, giáo gọi cương yếu, cứu vớt chúng sanh trong tam giới, thi đậu “TÂM KHÔNG” là tiêu biểu, đụng nhằm thằng không ý chí (tự tánh), móc xiềng xích, mở thắt kết, muôn mắt nhìn thẳng, muốn mở mà chẳng mở; trăm người giơ tay, muốn tát mà chẳng tát, đạo giả vô tâm vốn nên như thế, đâu phải khoe tài trước mặt mọi người. Cho nên nói : “BẤT KIẾN TINH THÔ, NINH HỮU THIÊN ĐẢNG”.
LỜI NGHĨA GIẢI
Người nghĩa giải cho rằng : Tâm và pháp đã không, năng và sở đều bặt, thì chúng sanh, chư Phật đồng bản thể, mê ngộ chẳng khác, nên dẫn chứng lời “tức tâm minh” nói : “Đâu quí đâu tiện, đâu nhục đâu vinh, đâu đắc đâu thất, đâu trọng đâu khinh, một đạo hư tịch, vạn vật bình đẳng”.
TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG
Nói chứng cũng giống như được chứng, nhưng vì sự chứng quá giống nhau đi, lại trở thành không giống nhau rồi. Vậy thế nào là chỗ không giống nhau? Thử xác định xem!
KỆ KẾT THÚC, RẰNG
Hét ra tiếng sét khó bịt tai,
Tò vò vác biển vào mi muỗi.
Heo bùn, chó ghẻ cùng mở mắt,
Tam thế Như Lai trọn chẳng hay.
31. ĐẠI ĐẠO THỂ KHOAN, VÔ DỊ VÔ NAN
DỊCH
Bản thể đại đạo rộng khắp hư không, chẳng có khó dễ đối đãi.
LỜI KHAI THỊ
Trộm được y bát vào tay, biết nói “chẳng phải gió động, chẳng phải phướn động”, ngoài y-kim-lan ra còn có vật gì khác? Xô ngã cây nêu trước cửa, hai ông này vô sự sanh sự, dối người dối mình. Bổn lai không kẽ hở, xuyên tạc chẳng dính dáng. Có hiểu được chăng?
Một lần gặp nhau một lần già,
Một lần gió thổi một lần lạnh.
LỜI NGHĨA GIẢI
Tổ Sư nói: “ĐẠI ĐẠO THỂ KHOAN, VÔ DỊ VÔ NAN”, người nghĩa giải cho rằng : Việc này vốn bao trùm nhựt nguyệt hư không, Phật Tổ chẳng biết tên, đại địa chở không nổi, như trời che khắp, như đất nâng khắp, mỗi mỗi viên mãn, người người đầy đủ, đâu còn khó dễ gì để nói! Đây nói KHÓ DỄ là tại người chẳng tại pháp, hễ tin tự tâm là Phật thì dễ, chẳng tin tự tâm là Phật thì khó.
TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG
Theo sự thấy nghe của tôi lại khác; Hễ tin tự tâm là Phật thì khó, chẳng tin tự tâm là Phật thì dễ, vậy cái lý cao tột ở chỗ nào? Lời này hãy gác lại, cũng như Bàng Cư Sĩ nói : “Khó, khó, mười giạ hạt mè bày ra trên cây”, Bà Bàng nói : “Dễ, dễ, ý Tổ Sư trên đầu trăm cỏ”. Linh Chiếu nói : “Chẳng khó cũng chẳng dễ, đói thì ăn cơm, mệt thì ngủ”. Chỗ này nếu phân biệt được 3 cái lưỡi hay dỡ của họ, thì sự khó dễ có thể ngay đó lãnh hội. Nếu không, dẫu cho ngươi hiểu theo lời nói, nói “chẳng dễ chẳng khó”, đâu khác gì con lừa mù muốn đuổi kịp theo bầy, vừa bước chân đã không có đường để đi rồi.
KỆ KẾT THÚC, RẰNG
Bày mè trên cây, mệt thì ngủ,
Nói “đầu trăm cỏ” của ý Tổ.
Ba người đều là không có mắt,
Mò rào mò vách lúc nào thôi.
32. TIỂU KIẾN HỔ NGHI, CHUYỂN CẤP CHUYỂN TRÌ
DỊCH
Sự thấy nhỏ hẹp có chút hồ nghi, muốn gấp lại càng trễ.
LỜI KHAI THỊ
Chuyển tự kỷ vào sơn hà, trâu sắt chìm đầm to; chuyển sơn hà vào tự kỷ, voi già lún bùn sâu. Tự kỷ sơn hà ném bỏ một lượt, lò rèn các nơi không thể thiết lập. Có thiết lập, chẳng khác nắm tay dọa trẻ con.
LỜI NGHĨA GIẢI
Tổ Sư nói: “TIỂU KIẾN HỔ NGHI, CHUYỂN CẤP CHUYỂN TRÌ”, người nghĩa giải cho rằng : Tất cả chúng sanh, từ trước khi kiếp-không (chưa có trời đất) đã cùng tam thế chư Phật đồng thành chánh giác, vốn chẳng thiếu kém, vì tâm này không rõ, tự rơi vào ngu mê mà chẳng biết. Thế nên, chư Phật chư Tổ dùng trăm ngàn phương tiện dẫn dắt khích lệ, khiến họ ngộ nhập. Sở dĩ nói : “Vì một đại sự nhân duyên xuất hiện trên đời”, là việc này vậy. Bởi do người chẳng tin tự tâm là Phật mà muốn tìm cầu ở ngoài tâm, cho nên bị quở là TIỂU KIẾN. Phải biết tâm này vốn sẳn đầy đủ, nói là “mau được thành Bồ Đề” đã thành lời thừa, thật ra đâu có sự mau hay trễ ư!
TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG
Thế thì, hiện nay gọi cái gì là Phật? Nếu chỉ bày không ra, bệnh ở chỗ nào?
KỆ KẾT THÚC, RẰNG
Trời há cho ngồi đáy giếng dòm,
Tận cùng sức thấy cũng thành nghi.
Trở mình nhảy ra ngoài hư không,
Nhướng mày mở mắt đã trễ rồi.
33. CHẤP CHI THẤT ĐỘ, TẤT NHẬP TÀ LỘ
DỊCH
Chấp thật thì lạc mất tông chỉ, ắt phải rơi vào đường tà.
LỜI KHAI THỊ
Núi vô trùng số (bất nhị), nước vô trùng số, Thiện Tài ở trong tiếng khảy móng tay thấy lầu các của Ngài Di Lặc cũng vô trùng số, Chơn nhân Vô-Địa-Vị giữa đường gặp thấy việc bất bình, dùng cây gậy gạch một gạch trên không, mười vạn tám ngàn đường lối nắm gom một lượt, rồi quày đầu lại hét to rằng : “Tình xuyên lịch lịch hán dương thọ, phương thảo thê thê Anh-Võ-Châu”.
(Cỏ non biêng biếc đảo Anh-Võ,
Nắng dọi Trường Giang cây Hán Dương).
Vì sao như thế? há chẳng thấy Tổ Sư nói: “CHẤP CHI THẤT ĐỘ, TẤT NHẬP TÀ LỘ”.
LỜI NGHĨA GIẢI
Gần đây có một số người ở vào địa vị làm thầy, thấy người nói “Khán thoại đầu của cổ nhân, làm công phu miên mật, chẳng uổng phí thời gian để tham cứu việc mình”, liền dẫn chứng hai câu này để bài xích, đối với “CHẤP CHI THẤT ĐỘ”, cho là Phật Pháp đâu có việc này, bởi tất cả sẳn sàng, sao chẳng tự nhận lấy? Lại cố làm bộ điệu của người chết làm chi!
TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG
Nói thế cũng đúng, nhưng không xét đến nguồn gốc, chẳng biết ý Tổ Sư là trách cái chấp sau khi ngộ. Há chẳng thấy Phật Nhãn nói : “Có một hạng người cỡi lừa tìm lừa, lại có hạng người biết được là lừa rồi mà cứ cỡi mãi không chịu xuống”, chính là nói hạng người này chấp lý đã ngộ mà chưa thể quên. Bên ngoài chấp pháp sở ngộ, bên trong chấp tâm năng ngộ, cổ nhân quở là pháp trần, cũng là gai gốc tri kiến. Cho nên Dược Sơn nói vừa có sở trọng, liền thành hang ổ, đều là chấp lý đã ngộ, khiến cho lý ngộ chẳng quên, cho là thật có việc này. Do thấy pháp chẳng viên thông, thành sở chấp của ngoại đạo. Đang mê mà cầu ngộ thì dễ, đã ngộ muốn quên lý thì khó, nếu không gặp bậc đạo sư chơn chánh thẳng tay gông cùm tay chân, đánh đập thống thiết, thì rốt cuộc không thể đến chỗ tự thôi nghỉ. Đối với thuyết này, ông có vừa lòng chăng?
KỆ KẾT THÚC, RẰNG
Chấp tâm chưa hết hoa thường rụng,
Thắt kết đã trừ, quả không xa.
Cứ theo đường tà đi khi trước,
Quày đầu mới thấy mình trần truồng.
34. PHÓNG CHI TỰ NHIÊN, THỂ VÔ KHỨ TRỤ
DỊCH
Buông thì bản thể tự nhiên, vốn chẳng có đi và ở. (Buông : vô trụ).
LỜI KHAI THỊ
Cơ xảo hướng thượng, câu chuyển ngữ cuối cùng, cửa đã mở sẳn. Lòng từ của chư Tổ luôn luôn nhắc nhở hành giả tham thiền ngay đó liền ngộ. Trăng nửa đêm chiếu trên cành hoa mai; ngộ được cứ ngộ, rạng đông say rượu cỡi chim loan. Không cho là Phật pháp cao siêu, cũng không cho là phổ biến việc đời, vậy rốt cuộc như thế nào? Chẳng thấy Tổ Sư nói : “PHÓNG CHI TỰ NHIÊN, THỂ VÔ KHỨ TRỤ” hay sao!
LỜI NGHĨA GIẢI
Người nghĩa giải cho rằng : Tâm chấp đã trừ, tự nhiên tự do tự tại, chẳng chướng chẳng ngại mà động như mây bay, tịnh như cốc thần, đã vô tâm đối với này nọ, thì đâu có phân biệt đi ở? Kinh Viên Giác nói : “Bất cứ lúc nào, chẳng khởi vọng niệm, đối với vọng tâm, cũng chẳng ngưng nghỉ, trụ nơi cảnh vọng, không cần hiểu biết, nơi không hiểu biết cũng chẳng cho là chơn thật không hiểu biết”. Được như thế thì gần với đạo rồi, nghĩa là tình chấp thánh phàm đều sạch, thì bản thể chơn thường hiển lộ, tuyệt hẳn cảnh duyên hư vọng, tức là như như chơn Phật.
TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG
Chửi nhau cho ngươi tạt nước cũng được, nếu đối với ý Tổ Sư, dẫu cho ngươi đem tất cả Đại Tạng kinh điển đều mửa ra, cũng chỉ thành nghiệp thức mênh mông mà thôi.
KỆ KẾT THÚC, RẰNG
Kiến văn giác tri đều bỏ hết,
Vốn chẳng tự nhiên lại tự nhiên.
Ông đi nước Tần, ta nước Lỗ,
Đỉnh đầu ai chẳng đội trời xanh.
35. NHẬM TÁNH HỢP ĐẠO, TIÊU DAO TUYỆT NÃO
DỊCH
Tự tánh là đạo, vốn chẳng phiền não.
LỜI KHAI THỊ
Bùi Tướng Quốc (Bùi Hưu) ôm Phật đến xin đặt tên, Đường Trang Tông đắc được một báu vật ở Trung Quốc, vua chẳng bị địa vị cao cả dời đổi, Thần chẳng bị việc khắp nước nhiễu loạn. Nạp tăng tham thiền giẫm bước khắp mười phương, hình thể chẳng bị vật gì trói buộc, lâu ngày chày tháng ngồi tại chỗ vô sự, vì sao lại chẳng thể đúng như tự tánh? Do cái gì làm chướng ngại?
Năm năm khô héo rừng Bát Nhã,
Năm năm tăng trưởng cỏ vô minh.
LỜI NGHĨA GIẢI
Tổ Sư nói : “NHẬM TÁNH HỢP ĐẠO, TIÊU DAO TUYỆT NÃO”, người nghĩa giải cho rằng : Người Tâm-Không thi đậu tánh chẳng cần nhậm (mặc kệ) mà tự nhậm, đạo chẳng cần hợp mà tự hợp, tự do như mây ra trên núi, tự tại như trăng đi trên không, trong Đại-Viên-Cảnh (tự tánh) có ai chẳng phải vậy?
TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG
Phật Ấn Nguyên Hòa Thượng nói : “Cái cảnh đã ngộ khó nói cho người chưa ngộ hiểu, như với người mù bẩm sinh, nói cho biết mặt trời sáng tỏ, họ dù nghe mà chẳng thể biết được”. Hay người chưa từng buông tay nhào xuống vực thẳm (chưa từng ngộ), mà lại dùng lời “NHẬM TÁNH HỢP ĐẠO” để dẫn chứng, thì cũng như người đói nói ăn mà không ăn, lại tự nói “đã no”, há chẳng phải là dối người ư?
KỆ KẾT THÚC, RẰNG
Mặc cho pháp tánh tự hợp đạo,
Bệnh của Tâm Vương càng khó lành.
Lại muốn cầu cho tuyệt phiền não,
Ba trăm roi sắt chưa phải nhiều.
36. HỆ NIỆM QUAI CHƠN, HÔN TRẦM BẤT HẢO
DỊCH
Nổi niệm thì bị niệm buộc, thành trái với chơn không niệm thì hôn trầm chẳng tốt.
LỜI KHAI THỊ
Đại Tạng giáo điển là sợi dây xích chân, thân vàng trượng sáu (Thân Phật) là một cọng cỏ. Một tiếng hét điếc tai ba ngày của Bá Trượng, một giỏ trầu trút ra của Ngưỡng Sơn. Những lời nói này là miểng ngói hay là châu báu? Nếu ông nói “câu PHẢI cũng quét, câu CHẲNG PHẢI cũng quét; chính là ăn táo mà nuốt hột.
LỜI NGHĨA GIẢI
Tổ Sư nói “HỆ NIỆM QUAI CHƠN, HÔN TRẦM BẤT HẢO”, người nghĩa giải dẫn chứng trong kinh nói “Tâm chẳng bị đạo trói, cũng chẳng gây nghiệp, ấy là người đắc đạo”. Hoặc dẫn chứng lời Đức Sơn nói “Mảy may hệ niệm là nghiệp nhân tam đồ”, còn nói : “Hành giả tham cứu, vừa có mảy may tình chấp mê ngộ, thánh, phàm, thì bị tri kiến mê ngộ thánh, phàm làm mù”, cần phải một vật chẳng dính mắc muôn duyên đều tẩy sạch, mới có thể hợp với chỗ thấy của Cổ nhân.
TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG
Đừng phỉ báng cổ nhân nhé! Cổ nhân nói với ông : “HỆ NIỆM QUAI CHƠN”, nhưng chính cái “một vật chẳng dính mắc” đã là QUAI CHƠN, tức là bị niệm trói rồi.
KỆ KẾT THÚC, RẰNG
Hệ niệm trái chơn, chơn chẳng trái,
Hôn trầm chẳng tốt, tốt nơi nào?
Thùng sơn cứng chắc không lủng đáy (Chưa ngộ),
Thai trâu bụng ngựa đợi ông vào.
37. BẤT HẢO LAO THẦN, HÀ DỤNG SƠ THÂN
DỊCH
Tốt xấu không nên nhọc tinh thần, đâu cần phân biệt sơ hay thân.
LỜI KHAI THỊ
Triệu Châu khám phá rồi, thủy ngân không giả, Vân Môn lỡ lời rồi, A ngùy (phẩn người) chẳng chơn. Tham thiền không linh nghiệm, đụng đâu mê đó, sự thấy là cái gai góc trong mắt, việc nghe là cái bệnh của lỗ tai. Ủa! có việc như thế ư? Chỉ cần nói với họ : Ngẩng mặt ngó ngoài trời, xem ai ló đầu ra?
LỜI NGHĨA GIẢI
Tổ Sư nói : “BẤT HẢO LAO THẦN, HÀ DỤNG SƠ THÂN, người nghĩa giải cho rằng : Do HỆ NIỆM thì trái với Chơn, đã trái với Chơn thì lao nhọc tinh thần, vì nhọc tinh thần ắt phân biệt sơ thân. Phải biết, HỆ NIỆM là cái nhân của sơ thân, SƠ THÂN là cái quả của hệ niệm. Tổ Sư nói hai chữ “KHÔNG CẦN” cũng như việc tự cắn rốn vậy.
TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG
Lời nói này như theo hình mèo mà vẽ con mèo, đại khái vẽ ra cũng giống, nhưng chuột chết còn chẳng thể bắt được, huống là chuột sống ư? Nếu chẳng đích thân một dao cắt dứt mạng căn (chơn tham thật ngộ), thì những lời trên chỉ giúp cho việc luận đàm mà thôi.
KỆ KẾT THÚC, RẰNG
Tốt xấu chẳng nên nhọc tinh thần,
Dùng hết tinh thần càng chẳng thân.
Đâu bằng kẻ ngốc nơi thôn dã,
Ăn no nằm dài hợp thiên chơn.
38. DỤC THỦ NHẤT THỪA, VẬT Ố LỤC TRẦN
DỊCH
Muốn chứng lấy Nhất Phật Thừa, chớ nên chán ghét lục trần.
LỜI KHAI THỊ
Mắt là quang minh pháp thân, tai là âm thanh pháp thân, mũi là trang nghiêm hương pháp thân, lưỡi là thanh tịnh vị pháp thân, thân là phổ giác pháp thân, ý là liễu tri pháp thân, đầy đủ sáu nghìn công đức, thành tựu Nhất-thiết-chủng-trí. Nhưng lúc tứ đại phân tán, xương thịt tan rã, lục căn đều biến diệt, vậy pháp thân đặt ở chỗ nào?
Việc buồn chớ kể với người buồn,
Kể với người buồn, buồn chết đi!
LỜI NGHĨA GIẢI
Tổ Sư nói “DỤC THỦ NHẤT THỪA, VẬT Ố LỤC TRẦN”, người nghĩa giải cho rằng : NHẤT THỪA là biệt danh của tự tâm, lục trần, lục thức, lục căn là biệt hiệu của tự tâm, đâu có thể chứng nhất thừa mà ghét lục trần! Thế thì giống như yêu tay chân mà bỏ vai lưng vậy. Phải biết, Ngộ tâm này thì lục trần tức là nhất thừa, mê tâm này thì nhất thừa tức là lục trần. Bùi Tướng Quốc nói : “Nghịch nó tức phàm, thuận nó tức thánh”. Kinh Lăng Nghiêm nói : “A Nan, ngươi muốn biết cái câu sinh vô minh, là gốc thắt kết khiến ngươi luân hồi trong sanh tử ấy, chính là lục căn của ngươi chứ chẳng phải vật khác. Ngươi lại muốn biết đạo vô thượng Bồ Đề khiến ngươi mau chứng quả tự tại giải thoát, tịch lặng thường trụ ấy, cũng chính là lục căn của ngươi chứ chẳng phải vật khác”.
TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG
Lý giải cũng giống như rất đúng, nhưng cần phải biết : Nhất thừa là hư vọng, lục trần là phỉ báng, ngoài hai lỗi này, còn tránh khỏi được vọng và báng hay không?
KỆ KẾT THÚC, RẰNG
Sắc, thanh, hương, vị và xúc pháp,
Lục trần xưa nay hợp nhất thừa.
Tình chấp lấy bỏ còn chưa dứt,
Lại nơi đất bằng nỗi sóng to.
39. LỤC TRẦN BẤT Ố, HOÀN ĐỔNG CHÁNH GIÁC
DỊCH
Chẳng cho lục trần là tốt hay xấu, thì đồng như chánh giác.
LỜI KHAI THỊ
“Ông Chủ!”, Dạ, dạ, dạ!. Có đường chẳng đi, không dây tự trói. Nói “Lục trần là phải thì trái với chơn, nói lục trần là chẳng phải lại thành lỗi lầm lớn”. Lầm thì lầm, một cọng cỏ hiện thân vàng ròng, đảo ngược cỡi hạc bay lên trời.
LỜI NGHĨA GIẢI
Tổ Sư nói: “LỤC TRẦN BẤT Ố, HOÀN ĐỔNG CHÁNH GIÁC”, người nghĩa giải cho rằng : Chẳng có lục trần, cũng chẳng có chánh giác, đều chỉ là diệu tâm sáng tỏ. Gọi là lục trần cũng được, gọi là chánh giác cũng được. Ông nếu ở nơi diệu tâm sáng tỏ này có chỗ không rõ, thì gọi là chánh giác cũng không rõ, đâu có việc gì khác? Chỉ cái rõ và không rõ này, khiến Phật Tổ nhọc lưỡi mỏi miệng phân ra những điều hơn kém, đều do chẳng tin tự tâm mà ra.
TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG
Xưa có một tú tài, thi cử nhiều lần không đậu, bèn đốt bỏ bút mực, làm l bài thơ “Trở về quê”, chê bai công danh như đàm dãi. Nhưng đến kỳ thi năm tới, vẫn đi vào trường thi như cũ. Người nói lời này cũng chẳng khác như vậy.
KỆ KẾT THÚC, RẰNG
Chẳng ghét lục trần đồng chánh giác,
Đường vào cửa thiền vẫn xa xôi.
Cần phải ra tay bắt hư không,
Phật cùng chúng sanh chôn một hầm.
40. TRÍ GIẢ VÔ VI, NGU NHÂN TỰ PHƯỢC
DỊCH
Người trí tự tại vô tác, kẻ ngu dụng tâm tự trói.
LỜI KHAI THỊ
“Dời chỗ gồ để lấp chỗ trũng, cắt cái dài để nối cái ngắn”, Trang Tử nói lời này tự cho là rất đúng, nhưng kiểm điểm lại, chỉ là tự sanh tính toán, so đo phân biệt. Duy có Mộc thượng tọa (tích trượng) chẳng tốt xấu, cũng chẳng đúng sai, toàn thân chỉ là đen thùi lùi, suốt năm dựa bên gốc thiền sàng.
LỜI NGHĨA GIẢI
Tổ Sư nói : “TRÍ GIẢ VÔ VI, NGU NHÂN TỰ PHƯỢC”, người nghĩa giải cho rằng : Trí chẳng tự trí, do ngộ mà trí : ngu chẳng tự ngu, do mê mà ngu. Người trí ngộ tự tâm, tâm ngộ vốn vô tác, kẻ ngu mê tự tâm, tâm mê còn tự trói. Phải biết, cái vô tác của người ngộ, dù Quỷ thần trời đất cũng chẳng thể khiến cho họ tác; cái tự trói của kẻ mê, dù muôn hiền ngàn thánh cũng chẳng thể mở trói cho họ. Vậy trí và ngu đều do tâm tạo, đâu phải vật bên ngoài mà làm được!
TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG
Chỉ thấy đầu dùi nhọn, chẳng thấy đầu đục vuông. Tại sao? Phải biết vô tác tức tự trói, tự trói tức vô tác. Nếu cho quả thật có hai lối, thì cách Tổ Sư quá xa rồi.
KỆ KẾT THÚC, RẰNG
Kẻ ngu tự trói cần phải mở,
Người trí vô tác trói chặt thêm.
Chẳng dùng dao kiếm đã cắt dứt,
Vì thương đồng tử mất thiên chơn.
41. PHÁP VÔ DỊ PHÁP, VỌNG TỰ ÁI TRƯỚC
DỊCH
Pháp chẳng là pháp, vọng tự chấp trước cho là pháp.
LỜI KHAI THỊ
Toàn thân là bệnh, toàn thân là thuốc, suy nghĩ chẳng đến, thoáng qua trước mặt. Thuốc tức là bệnh, bệnh tức là thuốc, trong hư không dễ nhào lộn, áo vải Thanh Châu khó mặc. Cũng chẳng bệnh, cũng chẳng thuốc, vạn tượng sum la một cục sắt, con lừa Dương Kỳ ba cái chân.
LỜI NGHĨA GIẢI
Tổ Sư nói: “PHÁP VÔ DỊ PHÁP, VỌNG TỰ ÁI TRƯỚC”, người nghĩa giải cho rằng : Trúc xanh biêng biếc đều là Chơn-như, Hoa vàng ngào ngạt đều là Bát Nhã, tất cả thanh, sắc trong hư không pháp giới, tìm một tướng đồng bất khả đắc, tìm một tướng dị cũng bất khả đắc, lìa 2 lối đồng dị này cũng bất khả đắc. Than ôi! Người chẳng rõ lý này, chấp Phật thì bị Phật ngại, chấp pháp thì bị pháp ngại, vậy chấp Phật pháp còn bị chướng ngại, huống là chấp những thứ khác ư!
TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG
Pháp nếu có khác thì chấp trước mới có khác, Pháp đã chẳng khác thì chấp trước cũng chẳng khác, vì sao lại nói VỌNG TỰ CHẤP TRƯỚC ? Chỗ này nhìn Tổ Sư không ra, thì những lời trước đều là hý luận.
KỆ KẾT THÚC, RẰNG
Pháp chẳng có khác, thể vốn đồng,
Thể đồng đâu có pháp hoằng dương?
Đạt Ma chín năm chỉ hướng vách,
Chẳng biết lấy gì truyền gia phong.
42. TƯƠNG TÂM DỤNG TÂM, KHỞI PHI ĐẠI THỐ
DỊCH
Đem tâm dụng tâm, há chẳng phải lầm lớn.
LỜI KHAI THỊ
Tâm, tâm, tâm, khó mò nắm. Ông già Thích Ca, 49 năm nói vuông nói tròn, hoặc tiểu hoặc đại, chú giải chẳng được, sau cùng niêm hoa thị chúng, chính là đem tâm dụng tâm, cũng khó tránh khỏi cái “Há chẳng lầm lớn” này. Đến đây việc đã là bất đắc dĩ, tạm đem cái chánh pháp nhãn tạng, Niết bàn diệu tâm để che lấp lỗi lầm.
LỜI NGHĨA GIẢI
Người nghĩa giải cho rằng : Ông muốn thành Phật là đem tâm dụng tâm, muốn làm Tổ là đem tâm dụng tâm, cho đến muốn thoát sanh tử, trụ Niết Bàn, chứng Bồ Đề, dứt phiền não v.v… đều chẳng ra ngoài “ĐEM TÂM DỤNG TÂM”.
TỊCH NGHĨA GIẢI
Tuy vậy, cũng chỉ nói được một nửa. Phải biết, tâm thể rộng lớn, chẳng thể hạn lượng, ngay đó như đống lửa lớn, đụng vào liền đốt, chạm nhằm liền cháy. Dẫu cho ông chẳng muốn thành Phật làm Tổ v.v… cũng ra khỏi cái “ĐEM TÂM DỤNG TÂM” chẳng được.
KỆ KẾT THÚC, RẰNG
Tức Phật là tâm, tâm là Phật,
Ngay chỗ thừa nhận đã trái xa.
Ca Diếp mĩm cười trước niêm hoa,
Vô sự khi không bày đặt ra.
43. MÊ SANH TỊCH LOẠN, NGỘ VÔ HẢO Ố
DỊCH
Mê sanh tịch lặng và tán loạn, ngộ chẳng tốt, xấu, yêu, ghét.
LỜI KHAI THỊ
Lúc mê là mê cái ngộ, lúc ngộ là ngộ cái mê, mê ngộ cả hai đều quên, đập vỡ cái vỏ vô minh. Vô minh đã tan, mê ngộ cũng hết, vậy hai lối này còn đặt ở chỗ nào? Gỏ cửa dùng ngói, gạch, mặc cho y suy lường.
LỜI NGHĨA GIẢI
Tổ Sư nói: “MÊ SANH TỊCH LOẠN, NGỘ VÔ HẢO Ố”, người nghĩa giải cho rằng : Bản thể chơn tịch, tất cả chẳng còn. Kinh Lăng Nghiêm nói : “Vô lậu chơn tịnh, tại sao trong đó lại có thể dung nạp vật khác? Người chưa ngộ lý này, trước mắt chẳng thấy tịch thì thấy loạn, chẳng thấy động thì thấy tịnh, chẳng biết động cũng là mê, loạn cũng là mê, tịch cũng là mê, cho đến thấy mình ngay đó thành Phật cũng là mê. Hễ thấu rõ được cái tâm mê này thì ngay đó giải thoát, mỗi mỗi thiên chơn, mỗi mỗi minh diệu. đã chẳng thấy loạn, cũng chẳng biết tịch nhị biên đều lìa, trung đạo chẳng lập, thì đâu còn tình chấp tốt xấu để làm chướng ngại ư!
TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG
Nói lời nầy rất gần rồi, nhưng mê từ đâu đến, ngộ do đâu khởi? Nếu biết được chỗ đến chỗ khởi, chẳng cần trừ mê, cả cái ngộ kia cũng không chỗ đặt để, nếu không, cứ đem cái mê cái ngộ theo tánh phân biệt, rốt cuộc chỉ tăng thêm bệnh kiến chấp mà thôi.
KỆ KẾT THÚC, RẰNG
Xưa nay thiên hạ ai từng ngộ?
Không ngộ làm sao nói có mê?
Bỗng nhớ Ôn Châu ngài Vĩnh Gia,
Cớ gì một đêm ngủ Tào Khê.
44. NHẤT THIẾT NHỊ BIÊN, LƯƠNG DO CHÂM CHƯỚC
DỊCH
Tất cả nhị biên đối đãi đều do đo lường suy toán.
LỜI KHAI THỊ
Mở miệng nói nhằm, cất bước đạp phải, tất cả đều sẳn sàng, chẳng tin hãy hành cước. Đợi y đi tới đường cùng, chẳng chỗ ở đậu, áo rách giày lủng, khi ấy xỏ mũi kéo quày đầu (ngộ), mới tin xưa nay uổng công tìm.
LỜI NGHĨA GIẢI
Tổ Sư nói “NHẤT THIẾT NHỊ BIÊN, LƯƠNG DO CHÂM CHƯỚC”. Có người bày đặt chú giải rằng : Vừa thấy có loạn liền thấy có tịch. Phải biết loạn chẳng tự loạn, vì tịch nên loạn; tịch chẳng tự tịch, vì loạn nên tịch, do đó các pháp lăng xăng, mới có sự đối đãi nhau sanh khởi. Nói 2 chữ “CHÂM CHƯỚC” nghĩa cũng giống như 2 chữ “GIẢN TRẠCH” ở đầu bài MINH, vì tình thức “GIẢN TRẠCH” chưa tiêu, thì đối với nhị biên tịch loạn v.v…, kết thành cái niệm “CHÂM CHƯỚC”. Nếu chưa trừ được niệm này thì tất cả chẳng được bất nhị vậy.
TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG
Thế thì cái niệm “CHÂM CHƯỚC” có phương tiện nào để trừ? Nếu chẳng biết phương tiện gì, thì lời ông nói ở trên cũng là do CHÂM CHƯỚC sanh khởi.
KỆ KẾT THÚC, RẰNG
Nhị biên vốn chẳng cần châm chước,
Một đạo bình đẳng cũng vọng truyền.
Gặp việc chưa thoát ngoài ngôn ngữ,
Kiến đồng Phật Tổ cũng xót thương.
45. MỘNG HUYỄN KHÔNG HOA, HÀ LAO BẢ TRÓC
DỊCH
Việc mộng huyễn như hoa đốm trên không, đâu cần nắm bắt cho mệt nhọc!
LỜI KHAI THỊ
Mai rùa đen (vô minh), bụng trống rổng, trái cân sắt (tự tánh), thật cứng chắc. Chỉ có Mộc thượng tọa, chẳng bị người xuyên tạc, sáng cưỡi trâu Thiểm Phủ, chiều cưỡi hạc Dương Châu.
Có khi ban ngày chạy về nhà,
Khi gõ hư không tự vấn đáp.
Khúc hát “Về Quê” tiếng chưa dứt,
Mây bay chân trời lặn ngôi sao.
LỜI NGHĨA GIẢI
Tổ Sư nói: “MỘNG HUYỄN KHÔNG HOA, HÀ LAO BẢ TRÓC”, người nghĩa giải dẫn chứng trong kinh nói : “Tất cả Pháp hữu vi, như mộng huyễn, bọt, bóng, như sương lộ, điện chớp, nên tác quán như thế”. Còn dẫn chứng Ngài Vĩnh Gia nói : “Buông tứ đại, chớ nắm bắt, trong tánh tịch diệt cứ ăn uống, các hạnh vô thường tất cả không, tức là Như Lai Đại Viên Giác”, bèn mặc tình phan duyên, tùy ý tạo tác cho đến hủy phạm giới cấm, phá hoại luật nghi, đều lấy 2 lời này để dẫn chứng.
TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG
Nhưng chẳng biết ngay lúc buông lung tình ý, quả thật thấy những cảnh sở duyên như mộng huyễn không hoa hay không? Nếu thấy là không hoa thì chẳng nên đeo đuổi. Nếu trong lòng còn giữ một mảy may phan duyên đeo đuổi thì chẳng thể cho là mộng huyễn không hoa rồi. Phải biết, thành Phật làm Tổ cũng là mộng huyễn không hoa. Ngoài ra đâu còn cái gì chẳng phải mộng huyễn! Lại càng nên biết, ngay cái thuyết “HÀ LAO BẢ TRÓC” đã là rơi vào mộng huyễn rồi. Việc này nếu chẳng đích thân chứng ngộ, mà chỉ muốn tùy theo ngữ ngôn lý giải, thì chẳng phải ngu là gì?
KỆ KẾT THÚC, RẰNG
Thích Ca nửa đêm thấy ngôi sao,
Cùng hiện bóng nghiệp trước Gương Đài.
Làm thành một thứ mộng điên đảo,
Chẳng biết ai là đắc tiện nghi.
46. ĐẮC THẤT THỊ PHI, NHẤT THỜI PHÓNG KHƯỚC
DỊCH
Đắc, thất, thị, phi, đồng thời buông bỏ.
LỜI KHAI THỊ
Tuyết Phong ném banh gỗ, Phổ Hóa rung chuông sắt, dù nói là đại cơ đại dụng, rốt cuộc trở thành tạo tác, đâu bằng Vương Thái Phó ở trong quốc độ vô sanh, cũng chẳng thiện, cũng chẳng ác, mặc tình ăn no nằm dài ngủ, tùy ý tự tại an lạc, có người đến hỏi Tổ Sư Thiền, bảo y cứ xem cây phướn vàng.
LỜI NGHĨA GIẢI
Tổ Sư nói “ĐẮC THẤT THỊ PHI, NHẤT THỜI PHÓNG KHƯỚC”, người nghĩa giải cho rằng : Trong Nhất Pháp giới chẳng đắc cũng chẳng thất, chẳng thị cũng chẳng phi, chỉ vì vọng tình chợt khởi, dị kiến liền sanh, ở nơi chẳng đắc thất bừng khởi đắc thất, ở nơi chẳng thị phi nổi đủ thứ thị phi. Do đó, Tổ Sư bảo y “đồng thời buông bỏ”, đã là tự chạm dao bén làm cho đứt tay, đất bằng dậy sóng rồi. Đã biết xưa nay vốn không, thì buông bỏ cái gì? Nếu nói có cái lý “có thể buông bỏ, thì đắc, thất, thị phi đặt để ở chỗ nào?
TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG
Ủa! nói “có thể buông bỏ” cũng đáng ăn gậy, nói “không thể buông bỏ” cũng đáng ăn gậy. Tại sao? Vì ông chưa thoát khỏi được đắc thất thị phi vậy.
KỆ KẾT THÚC, RẰNG
Hai tay xòe ra chẳng một việc,
Thị phi đắc thất thảy đều quăng.
Muốn đem cái này thoát sanh tử,
Con rắn siết chặt đôi chân ông.
47. NHÃN NHƯỢC BẤT THÙY, CHƯ MỘNG TỰ TRỪ
DỊCH
Mắt nếu chẳng ngủ, chiêm bao tự dứt.
LỜI KHAI THỊ
Quanh năm ngồi kiết già, suốt ngày miệng như câm, hai mắt ngó trên vách, chẳng biết mong muốn gì. Tham cứu tự kỷ, nửa nghi nửa tin, xem lời cổ nhân, tợ có tợ không. Đến lúc năm cùng tháng tận, trở thành leo cây bắt cá.
Đâu bằng quét sạch cả hư không,
Trong lòng ló ra dạ Minh Châu.
LỜI NGHĨA GIẢI
Tổ Sư nói: “NHÃN NHƯỢC BẤT THÙY, CHƯ MỘNG TỰ TRỪ”, người nghĩa giải cho rằng : Hai câu này là dụ trước hợp sau. Như người mở to đôi mắt, rõ ràng tỉnh táo, thì hôn trầm tự trừ; đã chẳng hôn trầm thì đâu có chiêm bao!
TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG
Nếu làm thí dụ thì được. Nếu chẳng làm thí dụ, thì Tổ Sư cũng đáng ăn gậy. Tại sao? Nay mở mắt đâu từng chẳng phải là chiêm bao!
KỆ KẾT THÚC, RẰNG
Kim Cang chánh nhãn chưa từng ngủ,
Chẳng biết mộng lớn bao giờ thức.
Gởi lời thiền khách cửa Tổ Sư,
Chớ cho Hạc hót là Oanh ca.
48. TÂM NHƯỢC BẤT DỊ, VẠN PHÁP NHẤT NHƯ
DỊCH
Nếu tâm chẳng cho là có khác, thì muôn pháp chỉ là một “NHƯ”.
LỜI KHAI THỊ
Chỗ hành của đạo nhân như lửa tan băng, trước mặt của nạp tăng như băng dập lửa. Ném bỏ hai thứ băng lửa, mặc cho thánh phàm cùng lối. Đạo sĩ không tay vẽ bùa quỷ, Xà Lê mù mắt đọc kinh Phật. Lại còn một chỗ đáng tin cậy : Tò vò nuốt cả Hồ Động Đình.
LỜI NGHĨA GIẢI
Tổ Sư nói: “TÂM NHƯỢC BẤT DỊ, VẠN PHÁP NHẤT NHƯ”, người nghĩa giải cho rằng : Vạn pháp vốn như, do tâm mới thành khác. Ví như núi chẳng tự cao, tâm cho là cao, nước chẳng tự sâu, tâm cho là sâu. Tâm này cho là khác thì muôn ngàn sự vật đều thành khác. Cổ và lưng vốn cùng một thân mà xem nó như 2 nước Sở và Việt, anh em cùng giống nòi mà coi nhau như trời với đất. Vì sự khác nên tình chí thân còn phải khác, huống là phàm với thánh, người với vật. Muốn dung hợp thành một, chẳng sanh yêu ghét này nọ, đâu có thể được!
Kinh nói : “Chưa đạt cảnh duy tâm, khởi đủ thứ phân biệt”, như bọn mù mò voi, như thấy bóng cung trong nước nghi là rắn… Ở nơi chẳng đồng dị bừng khởi đồng dị. Cần phải trị hết bệnh nhặm, chẳng thấy hoa đốm trên không, dung pháp giới về tâm này, như gương soi gương; Chuyển núi sông vào tự kỷ, tợ không hợp không. Đến đây các duyên tịch lặng, tâm niệm im lìm, nhị kiến chẳng sanh, nhất pháp ấn định, mới có thể gọi là phù hợp ý Tổ, khế hội tâm Phật vậy.
TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG
Lời này tạm gác qua một bên. Nay trước mắt sáng, tối, thông, nghẽn, thành, trụ, hoại, không, cảnh tượng lăng xăng, gọi cái gì là tâm bất dị? Ngay đó chỉ bày không ra. Hoặc có người nói : “Mặc cho các pháp hiển bày trước mắt, ta chỉ dùng cái lý “Bất dị” để chiếu soi, tức là chẳng khác”. Ôi, nếu nói như thế, lại càng thêm nhiều khác biệt nữa!
KỆ KẾT THÚC, RẰNG
Tâm chẳng khác biệt đồng vạn pháp,
Nắm tay chỉ thể dọa trẻ con.
Cứ theo hình vẽ đồ cho giống,
Lừa gạt người đời khi nào thôi.
49. NHẤT NHƯ THỂ HUYỀN, NGỘT NHĨ VONG DUYÊN
DỊCH
Một chữ “NHƯ” thể tánh huyền diệu, cùng tột bình đẳng, bặt nhân duyên đối đãi.
LỜI KHAI THỊ
Thiền, thiền, thiền, lìa lý giải, Thích Ca chưa được một nửa, Đạt Ma còn thiếu tám ngàn. Lâm Tế hét tới mỏi miệng, Đức Sơn đánh tới phồng tay, mỗi mỗi kiểm điểm từ đầu, vẫn cách trời đất xa xôi. Tiến tới như vạch sóng tìm nước, thối lui như đào đất tìm trời, chẳng tiến chẳng lui cầu tương ưng, cần phải tham thêm ba mươi năm.
LỜI NGHĨA GIẢI
Tổ Sư nói: “NHẤT NHƯ THỂ HUYỀN, NGỘT NHĨ VONG DUYÊN”, người nghĩa giải cho rằng : Thể tánh của chữ “NHƯ” huyền diệu lại thêm huyền diệu, chẳng vì nhân duyên mà có, chẳng do tự nhiên mà thành. Lìa tứ cú, tuyệt bách phi, Phật nhãn chẳng thể thấy, thánh tâm cũng khó lường. Quăng đại thiên thế giới ra ngoài mười phương, cuốn chặt pháp giới thành một mảy lông. Một không thì tất cả không, chẳng cần mổ xẻ; một có thì tất cả có, đâu cần đào tạo. Trần sa chẳng thể dụ số nhiều, hào ly chẳng thể dụ số ít. Nói “Bặt nhân duyên, tuyệt đối đãi”, tức là thể tánh huyền diệu của một chữ NHƯ vậy.
TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG
Nói thì nói gần đúng, ngươi nếu chứa lời nầy trong lòng, muốn tương ứng với thể tánh huyền diệu của chữ NHƯ, chẳng khác gì ôm lửa trong lòng mà cầu cho đừng cháy.
KỆ KẾT THÚC, RẰNG
Nói NHƯ ngoài NHƯ đâu còn NHƯ?
Núi khe trùng điệp ẩn nhà xưa.
Mặt trời lên cao ngủ mới thức,
Nhàn thấy mục đồng cưỡi ngược lừa.
5O. VẠN PHÁP TỀ QUÁN, QUI PHỤC TỰ NHIÊN
DỊCH
Muôn pháp cùng quán một lượt, tất cả trở về tự nhiên.
LỜI KHAI THỊ
Phật pháp chẳng ở ngoài tâm, thiền đạo đâu lìa trung đạo nhị biên, ngươi nếu khởi tâm tìm cầu, lại xa thập vạn bát thiên. Có gì tam yếu tam huyền, toàn thân chẳng hình bóng, ngay đó lìa ngữ ngôn.
Đạo nhân đâu cần cầu tương ưng,
Xưa nay chưa từng chẳng hiện tiền.
LỜI NGHĨA GIẢI
Tổ Sư nói: “VẠN PHÁP TỀ QUÁN, QUI PHỤC TỰ NHIÊN”, người nghĩa giải dẫn chứng giáo môn nói : “Tùy duyên nên chơn như là vạn pháp, bất biến nên vạn pháp là chơn như”. Còn nói : “Ngoài tâm chẳng có pháp để làm duyên với tâm vốn là tự tâm sanh, lại làm tướng cho tâm”. Lời này so với cái lý “VẠN PHÁP TỀ QUÁN” của Tổ Sư, cũng chẳng cách xa vậy. Hoặc nói : “TỀ QUÁN” cũng là cái bóng của “chẳng lựa chọn”, nếu còn lựa chọn thì chẳng thể TỀ QUÁN rồi.
TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG
Dẫn chứng thì chẳng phải không đúng. Như mặt trời mọc, mặt trăng lặn, ban đêm tối, ban ngày sáng, rõ ràng chẳng thể lẫn lộn. Vậy thì có đạo lý gì để nói TỀ QUÁN? Lìa khỏi lời này, xin cho một tin tức tốt hơn thử xem!
KỆ KẾT THÚC, RẰNG
Vạn Pháp làm sao khiến cho bằng?
Đâu thể trở về lúc tự nhiên.
Xưa nay tri âm rất khó gặp,
Bá Nha, Tử kỳ đi đâu tìm.
51. DẪN KỲ SỞ DĨ, BẤT KHẢ PHƯƠNG TỶ
DỊCH
Bặt hết lý giải, chẳng thể thí dụ.
LỜI KHAI THỊ
“Cái trong điện, cái ngoài tường” của Triệu Châu “Đánh xe đánh bò” của Mã Tổ, “Giơ nắm tay, giơ ngón tay” của Câu Chi, “Ném ba trái banh gỗ” của Tuyết Phong. “Gởi ba tờ giấy trắng” của Huyền Sa. Nói tánh nói tâm nơi Linh Sơn, Nói da nói tủy nơi Thiếu Thất. Tào Động lập ngũ vị quân thần, Qui Ngưỡng lập cửa Thiền Cha Con, “Đầy mắt núi xanh” của Đức Thiều (Quốc Sư), “Nước hồ trước cửa” của Vĩnh Minh… thả đi thì sáng khắp bầu trời, chặn lại thì gió bay muôn dặm, trước lời không ngưng cơ xảo, tiếng nói đâu cho chõ mỏ. Hứ! Tất cả đều là mở mắt đái dầm, đốt nhang dẫn quỷ, tại sao vậy?
LỜI NGHĨA GIẢI
Tổ Sư nói: “DẪN KỲ SỞ DĨ, BẤT KHẢ PHƯƠNG TỶ”, người nghĩa giải cho rằng : Kinh Bát Nhã dùng 100 dụ để dụ Bát Nhã, có kinh khác cũng dùng 100 dụ để dụ giải thoát; còn có người dùng 100 dụ để dụ tâm Bồ Đề, ghi đủ trong kinh sách, đâu có cái lý “Chẳng thể thí dụ”? Phải biết, Bát Nhã, giải thoát, Bồ Đề thì có thể thí dụ, giả sử bỏ hết tất cả danh tướng, thì nhất tâm đều bặt. Ngay khi ấy, còn lập được thí dụ gì chăng? Hoặc theo người xưa nói : “Cò trắng với tuyết chẳng đồng sắc, ánh trăng hoa lau chẳng giống nhau”, lời này há chẳng phải thí dụ ư?
TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG
Ông muốn ở nơi tuyết trắng hoa lau tìm đạo lý, chẳng khác gì nhận màu đỏ của vỏ quít cho là lửa!
KỆ KẾT THÚC, RẰNG
Diễn tả sừng thỏ dài 3 thước,
So với lông rùa ngắn l phân.
Lại có hạng người tánh hàm hồ,
Tai mắt dường như chẳng thấy nghe.
52. CHÆ ĐỘNG VÔ ĐỘNG, ĐỘNG CHÆ VÔ CHÆ
DỊCH
Ngưng động chẳng phải tịnh, động ngưng cũng chẳng phải ngưng.
LỜI KHAI THỊ
Muôn toa xe đồng ray, muôn sự việc đồng lý. Muôn dụng cụ đồng kim loại, muôn làn sóng đồng chất nước. Vạn tượng sum la, thảy đều là ông. Ông nếu không tin, hãy vào bụng của Thích Ca, Đạt Ma đi hành cước trăm ngàn vòng, mới biết tất cả vẫn y như cũ.
LỜI NGHĨA GIẢI
Tổ Sư nói: “CHÆ ĐỘNG VÔ ĐỘNG, ĐỘNG CHÆ VÔ CHÆ”, người nghĩa giải cho rằng : Lòng từ bi thống thiết của Tổ Sư, đem hai bên động tịnh vò thành một khối, nói trắng cho nghe, đại khái đồng ý chỉ của Pháp sư Tăng Triệu nói “Tức tịnh mà động, tức động mà tịnh”, cũng là ý chỉ “VẠN PHÁP TỀ QUÁN”. Chẳng những động tịnh như thế, mà tất cả cảnh duyên cũng đều như thế. Tức tịnh là động. Hoa rụng là do gió xuân đưa; tức động là tịnh, băng tan cũng do mặt trời soi.
Người trí quán pháp chẳng sai biệt,
Kẻ mê do đây khởi điên đảo.
TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG
Lời này tạm gác một bên! Nếu như chẳng động chẳng tịnh, ngay khi ấy, còn có lý lẽ gì để thảo luận hay không? Nói mau, nói mau!
KỆ KẾT THÚC, RẰNG
Động tịnh mống khởi bệnh liền sanh,
Nắm tay kéo nhau vào lửa hồng.
Con voi xưa nay vẫn như cũ,
Bọn mù mò mẫm thảy đều sai.
53. “LƯỠNG KÝ BẤT THÀNH, NHẤT HÀ HỮU NHĨ”
DỊCH
Hai đã chẳng thành, một làm sao có.
LỜI KHAI THỊ
Biển Phật không bờ, sông Thiền không đáy. Nước một thước, sóng một trượng, mãi mãi không thôi. Mã Tổ bảo Bàng Uẩn “một hớp hết nước Tây Giang”; “Tào Nguyên một giọt nước” của Pháp Nhãn, “Câu hết làn sóng” của Thuyền Tử, tất cả thị phi trước kia, chỉ liên lụy cho Hứa Do phải rửa lỗ tai mà thôi. Nước lớn đầy trời, ngập khắp muôn dặm.
Lúc xưa chẳng biết bít nguồn suối,
Đến nay đất bằng nổi làn sóng.
LỜI NGHĨA GIẢI
Tổ Sư nói : “LƯỠNG KÝ BẤT THÀNH, NHẤT HÀ HỮU NHĨ”, người nghĩa giải cho rằng : THỊ chẳng phi không thị, PHI chẳng thị không phi, vừa thấy có thị, trước đã có phi, vừa thấy có phi, trước đã có thị. Cho nên THỊ chẳng tự lập, PHI chẳng độc tồn, PHI là cội của THỊ, THỊ là gốc của PHI. Cho đến chơn, vọng, ngộ, mê, v.v… Tất cả đều vậy. Thế thì, cái hai của thị phi đã trừ, cái nhất của trung đạo đâu còn! Tổ Sư đến đây thật là mổ bụng thấy tâm, từ bi quá lố rồi!
TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG
Nếu hai đã chẳng thành, một cũng không có. Vậy còn có kẻ biết “chẳng thành” “không có” chăng? Nếu nói “KHÔNG”, thì ai biết sự chẳng thành, không có? Nếu nói “Có”, lại gọi là “KHÔNG CÓ” được chăng? Tổ sư đến chỗ này, chỉ có phần đớ lưỡi.
KỆ KẾT THÚC, RẰNG
Chẳng thả xuân về, xuân tự về,
Vườn cây mỗi mỗi hiện xanh tươi.
Bông tím hoa hồng biết đâu kể,
Bươm bướm từng đôi bay khắp nơi.
54. CỨU CÁNH CÙNG CỰC, BẤT TỔN QUỶ TẮC
DỊCH
Cùng tột cứu cánh, chẳng còn qui tắc.
LỜI KHAI THỊ
Mười tấc là thước, mười thước là trượng. Bên Đông mặt trời mọc, bên Tây mặt trời lặn, hỏi khắp mọi người trong vô số quốc độ, có ai chẳng biết? Tại sao nói đến Tổ Sư Thiền, mỗi mỗi ngơ ngác như vách sắt? Còn có câu “Mạc hậu lao quan” rất khó hiểu, chẳng ai che dấu cùng đưa ra một lượt. Ấy là cái gì? Thật là oan uổng!
LỜI NGHĨA GIẢI
Tổ Sư nói : “CỨU CÁNH CÙNG CỰC, BẤT TỔN QUỶ TẮC”, người nghĩa giải cho rằng : Hư không, sắc tướng, lớn nhỏ, dài ngắn trong mười phương pháp giới, tất cả đều là tự kỷ. Tùy chân bước, chẳng rời điền địa của Tổ tông; tùy miệng nói, đều là chơn lý của Cổ Phật. Cho đến ôm vợ mắng Thích Ca, say rượu đánh Di Lặc, đều thành nhất hạnh tam muội, còn nói chi khai, giá, trì, phạm v.v…? Nên Vĩnh Gia cũng nói: “Đại ngộ chẳng kẹt nơi tiểu tiết”.
TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG
Thôi, thôi! Nói cũng nói được quá rõ ràng, nhưng Diêm La Vương chỉ muốn bắt bọn nói những lời này đến cho ăn gậy sắt. Việc này lợi hại ở chỗ nào? Mọi người về nhà tự kiểm điểm xem.
KỆ KẾT THÚC, RẰNG
Tùy tay đem ra tùy miệng bàn,
Phóng túng tung hoành kim chỉ nam,
“CHẲNG CÒN QUI TẮC” lại giữ niệm,
Tụ tánh bất nhị thành hai ba.
55. KHẾ TÂM BÌNH ĐẲNG, SỞ TÁC CÂU TỨC
DỊCH
Khế hợp bản tâm thì tất cả bình đẳng, năng tác sở tác đều tự dứt.
LỜI KHAI THỊ
Voi chúa quày đầu nhìn, sư tử chụp ngược lại, Chơn chẳng che ngụy, khúc (co) chẳng dấu trực (thẳng). Chỉ có tôn giả Kiều Trần Như suốt năm tỉnh tọa, tỉnh tỉnh tịch tịch, cũng chẳng màng đến tháng thiếu là 29, tháng đủ là 30, đêm khuya thi đậu tâm không, thấu qua gai gốc khắp trời.
Nhàn dạo ngoài đồng mở mắt xem,
Hàn mai hoa nở tự tịch mịch.
LỜI NGHĨA GIẢI
Tổ Sư nói : “KHẾ TÂM BÌNH ĐẲNG, SỞ TÁC CÂU TỨC”, người nghĩa giải dẫn chứng trong kinh nói : “Pháp ấy bình đẳng, chẳng có cao thấp, ví như thủy ngân rơi xuống đất, giọt lớn viên tròn lớn, giọt nhỏ viên tròn nhỏ, cả đại địa không có pháp nào chẳng tương ưng với tự tâm”. Lúc Như Lai thành đạo, quán lại hạnh nghiệp tu hành từ nhiều kiếp đều như mộng huyễn, chẳng có kẻ làm, cũng chẳng có kẻ không làm. Cho nên nói : “Tu tập phạn hạnh như hoa đốm trên không; tọa nơi đạo tràng như bóng trăng dưới nước, hàng phục quân ma trong gương, thành tựu Phật sự trong mộng”. Bởi do tâm này chưa thấu rõ, ở nơi bình đẳng thấy bất bình đẳng, vì bất bình đẳng nên tất cả sở tác do đó sanh khởi vậy.
TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG
Kinh Viên Giác nói : “Tánh vốn bình đẳng, người bất bình đẳng nói là bình đẳng, đã đáng ăn 30 gậy, còn dẫn chứng bao nhiêu tri giải, lại càng thêm bất bình đẳng.
KỆ KẾT THÚC, RẰNG
Đã đến quê nhà còn về đâu?
Nằm dài trong am nắng giọi cao.
Trăm ngàn huyền diệu đều quên mất,
Suốt ngày cửa mở chẳng ai vào.
56. HỔ NGHI TỊNH TẬN, CHÁNH TÍN ĐIỀU TRỰC
DỊCH
Hồ nghi dứt sạch, chánh tín vững chắc.
LỜI KHAI THỊ
Trâu cày cấy, chó giữ nhà, mèo bắt chuột, ngựa kéo xe, thấy lửa biết cháy, thấy nước biết ướt, tại sao đối với tự tâm, mỗi mỗi tối như dầu hắc? Nơi nghi lại thêm nghi, nơi chấp chồng thêm chấp. Chẳng cần nghi, cũng đừng chấp, ai biết muôn ngàn sai biệt này, tất cả thánh hiền từ đây nhập.
LỜI NGHĨA GIẢI
Tổ Sư nói : “HỔ NGHI TỊNH TẬN, CHÁNH TÍN ĐIỀU TRỰC”, người nghĩa giải cho rằng : TIN có 2 thứ : Chánh tín và tà tín. Tin tự tâm là Phật, chẳng cầu bên ngoài là chánh tín; chẳng tin tự tâm là Phật, khởi tâm tìm cầu bên ngoài, dù có làm việc lớn, đều gọi là tà tín.
Phải biết, chánh tín cũng có nghi : vì chưa chứng đắc nên phát nghi. Niệm nghi từ cạn vào sâu, lâu ngày không lui sụt, bỗng nhiên niệm nghi bùng nổ, tất cả thấu rõ, gọi là đại ngộ. Nên biết ngộ là quả của tín, tín là nhân của ngộ. Pháp sư Tăng Triệu nói:
“Quả chẳng gồm nhân, vì nhân thành quả”. Thế thì, lúc TIN tức là lúc ngộ, lúc ngộ chẳng khác lúc tin. Bài MINH gọi là TÍN TÂM, chính là ý này vậy.
Phải biết, người đại căn khí vừa nghe đề khởi, như gặp vật cũ, thấu rõ nơi tâm. Quần áo có thể quên mặc, tánh mạng có thể xả bỏ, mà muốn bảo người ấy bỏ chánh tín, dù chốc lát cũng chẳng thể được. Nên cổ nhân nói : “Giả sử bánh xe lửa, xoay chuyển đỉnh đầu tôi, cũng chẳng vì khổ này, làm mất tâm Bồ Đề. “Cái niệm chánh tín nếu thật vững chắc như thế, thì đâu có lẽ nào chẳng được thân chứng!
Ngoài ra, nếu do tà tín mà sanh nghi, nghi mãi không thôi thì phải sanh khởi kiến chấp điên đảo, đuổi theo cảnh duyên hư vọng, ắt đọa địa ngục vô gián.
TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG
Phải thì phải, nếu như TIN tức là ngộ, thì ngộ phải lộn vào Nguồn Linh (tự tánh), đã lộn vào Nguồn Linh, thì cái chữ TIN này, còn đặt để ở chỗ nào? Nếu nói có chỗ để đặt thì xin chỉ ra xem! Nếu không chỗ đặt, thì lời Tổ Sư cũng thành lời thừa rồi.
KỆ KẾT THÚC, RẰNG
Gốc tin chẳng chánh khởi hồ nghi,
Niệm nghi tan rã Chánh tín khởi.
Lời nói rõ ràng được tương tự,
Cách xa Tổ Đình như chân trời.
57. NHẤT THIẾT BẤT LƯU, VÔ KHẢ KÝ ỨC
DỊCH
Tất cả chẳng lưu giữ thì không thể ghi nhớ.
LỜI KHAI THỊ
Đại tâm rộng như hư không, đại trí sáng như mặt trời, đại nghi như đống lửa hồng, đại pháp như vách tường sắt. Bị Lâm Tế tận sức hét cũng chẳng thối lui, bị Đức Sơn thẳng tay đánh cũng chẳng chịu ngừng. Cây cột dây dưa dựng sâu chắc, leo quấn nhánh dây không thôi dứt. Ở trong đó có một kẻ ló đầu ra nói : “Đêm qua bị tôi nhổ tận gốc rồi”. Vậy, cây cột dây dưa đã nắm trong tay, tính đặt để ở chỗ nào?
Trước lời ngoài câu chẳng biết chỗ,
Càng khiến đất bằng thêm lồi lõm.
LỜI NGHĨA GIẢI
Tổ Sư nói : “NHẤT THIẾT BẤT LƯU, VÔ KHẢ KÝ ỨC”, người nghĩa giải cho rằng : Chỗ tâm hành diệt là “tất cả chẳng lưu”, đường ngôn ngữ dứt là “không thể ghi nhớ”; Ngoài không có pháp để bỏ là tất cả chẳng lưu, trong không có tâm để giữ là không thể ghi nhớ. “Liễu liễu kiến, không một vật, chẳng phải người, chẳng phải Phật, hằng sa thế giới như bọt biển, tất cả thánh hiền như điện chớp” cũng là tất cả chẳng lưu; “Đốt hương tỉnh tọa ở Nam đài, suốt ngày tỉnh lặng muôn niệm quên, chẳng phải dứt tâm trừ vọng tưởng, chỉ vì chẳng việc để suy lường” cũng là không thể ghi nhớ.
TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG
Vậy, dẫn chứng cũng được tương tự, dẫu cho ông đem hết ngôn giáo của Phật Tổ dẫn chứng đến cái thúng đựng nước không chảy, chỉ là càng ghi nhớ thêm nhiều mà thôi. Muốn tất cả chẳng giữ, há có thể được ư?
KỆ KẾT THÚC, RẰNG
Tất cả chẳng giữ, càng sanh kiến (giải),
Trọn không ghi nhớ, vẫn còn tri.
Nếu chẳng đích thân về quê nhà,
Bệnh đói, bánh vẽ làm sao trị!
58. HƯ MINH TỰ CHIẾU, BẤT LAO TÂM LỰC
DỊCH
Rổng sáng tự chiếu soi, chẳng lao nhọc tâm lực.
LỜI KHAI THỊ
Đạo cần mỗi ngày một bớt, học cần mỗi ngày một thêm. Bớt đến kiến chấp tiêu mất, thêm đến đầy bụng tức ngực, bỗng nhiên thêm bớt thảy đều quên, tay không về chùa ngồi hướng vách, trong thành Trì Dương Vương-lão-sư, lạnh lẽo khiến người tưởng nhớ mãi. Đừng tưởng nhớ, rổng sáng tự chiếu soi, chẳng phải do tâm lực.
LỜI NGHĨA GIẢI
Tổ Sư nói như thế, người nghĩa giải cho rằng : Trong sạch đã đầy tròn, chẳng dung nạp vật khác gọi là HƯ, hạt châu tự sáng tỏ, ánh trăng tự chiếu soi gọi là MINH. Đã hư mà minh, vật đến liền hiện, là công dụng của tự chiếu, chẳng cho lộn lời nói. Ở đây, nếu thêm một mảy may tâm lực, thì chẳng thể cho là hư minh tự chiếu rồi.
TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG
Dẫn dụ rất là đúng lý, vậy ông thấy hư không phải là chẳng tướng mạo chăng? Xưa nay chưa từng nghe hư không tự nói : “Ta chẳng tướng mạo”. Nếu hư không có thể nói được thì chẳng thể gọi là hư không, giả sử Tổ Sư đã biết có thí dụ này, thì cái lỗi lỡ lời cũng khó tránh khỏi vậy.
KỆ KẾT THÚC, RẰNG
Con dấu vàng ròng tâm ấn tâm,
Cần phải chư Tổ truyền thọ nhau.
Lén lút lượm được cũng vô dụng,
Đâu thể bắt chước nói diệu huyền!
59. PHI TƯ LƯỢNG XỨ, THỨC TÌNH NAN TRẮC
DỊCH
Chỗ lìa suy nghĩ, tình thức khó lường.
LỜI KHAI THỊ
Bột trắng trong tuyết dễ phân ra, thức tức duy tâm; Mực đen trong than khó biện biệt, duy tâm tức thức. Thức chẳng phải tâm, tâm chẳng phải thức. Dưới ánh mặt trời xem trắng đen, trước đài gương sáng hiện xấu đẹp. Lời nói thế này, giống như lời giảng Duy Thức Luận của Pháp sư, trước mặt nạp tăng, làm sao hiển lộ tin tức thiệt?
Chẳng phải tâm, chẳng phải thức, ban đêm chó sủa thôn hoa, mùa xuân oanh hót bờ liễu. Cá kình hút cạn sóng đáy biển, con rồng chạy vào vô-sanh-quốc, khiến Đại Phạm Vương giựt mình thức dậy, thẳng lên đỉnh trời Sắc Cứu Cánh, tát cho hư không một bạt tai, rải xuống long châu trăm ngàn hột, tia sáng lấp lánh rọi áo đẹp.
LỜI NGHĨA GIẢI
Tổ Sư nói: “PHI TƯ LƯỢNG XỨ, THỨC TÌNH NAN TRẮC”, người nghĩa giải cho rằng : Thức là thức của nhà tâm, tâm là tâm của nhà thức, hai thứ này như nước với sữa rất khó phân biệt. Phải biết, thức là nước, tâm là sữa trong nước, nên giáo môn nói : “Vua ngỗng chọn sữa, đâu đồng loài vịt!”. Trong nước đều có sữa, chỉ có vua ngỗng mới biết phân biệt, ngoài ra các thứ thủy tộc đều chẳng biết. Việc này dụ cho trong tất cả thức đều có chơn tâm, chỉ có Phật Tổ mới rõ.
Cái giác chiếu soi của linh tri gọi là tâm, những suy tư, ghi, nhớ, thủ, xả, phân biệt v.v… gọi là thức. Thức có 8 thứ : Lục căn mỗi căn một thức, thứ 7 gọi Mạt Na, thứ 8 gọi A Lại Da cũng gọi là Như Lai Tạng, bảy thức trước là nhánh lá, thức thứ 8 là căn bản. Trong Kinh nói : “Lúc đầu thai thì đến trước, lúc chết thì đi sau, ngộ là Như Lai Tạng, mê là A Lại Da”. Thức này nơi mê thì gìn giữ tất cả nghiệp thiện ác vô ký, xả thân thọ thân từ vô lượng kiếp; nơi ngộ thì giữ gìn tất cả hạt giống Bồ Đề, giải thoát, trí huệ từ lúc vô thỉ. Thức này từ mê vào ngộ, chuyển thành Đại Viên Cảnh Trí, đổi tên mà chẳng đổi thể. Hiện nay ở trong tứ đại, ngũ uẩn, các pháp thánh phàm, ghi nhớ rõ ràng, tác dụng phân biệt, cho đến kiến văn giác tri, tam giới rộn ràng, vạn pháp thăng trầm, mỗi niệm khởi diệt, đều nương nơi thức này mà sanh. Cho nên nói “Vạn pháp duy thức”. Khuê Phong nói : “Pháp sanh vốn không, tất cả duy thức”.
Học giả ngày nay, chẳng thể đem mạng căn một dao cắt đứt, đi khắp tòng lâm, chỉ biết đem cái thông minh của mình dùng để dẫn khởi tình thức, ôm những huyền giải ghi nhớ trong lòng, gặp duyên mống khởi, chẳng biết huyền giải này là thuộc về “tình thức y-thông”, lại chấp cho là khai ngộ. Hoặc lầm nhận cái cảm giác linh động rõ ràng trước mắt này, biện luận thao thao cho là tự kỷ. Giống như Kinh Lăng Nghiêm nói : “Bỏ trăm ngàn biển lớn, chỉ nhận một bọt cho là nước cả biển”. Kinh Viên Giác nói : “Đều là tập khí vọng tưởng phan duyên lục trần, chẳng phải tâm thể chơn thật”. Hòa Thượng Trường Sa nói : “Những người học đạo chẳng biết chơn, chỉ vì xưa nay nhận thức-thần”, Vĩnh Gia nói :
“Tổn pháp tài, diệt công đức, tất cả đều do tâm ý thức” v.v… Chư Phật chư Tổ đã có chỉ bày rõ ràng, mà trong mạt pháp, bệnh này ngày càng nhiều thêm! Nhưng kẻ mắc bệnh này là do lập chí học đạo chẳng chơn chánh mà ra, nếu là quyết chí muốn rời khỏi biển sanh tử thì không chịu dấu mình trong tình thức. Chỉ do ban sơ một niệm muốn hiểu Thiền, hiểu Đạo, hiểu Phật, hiểu Pháp mới thành bệnh này.
Thức này như núi Thiết vi rộng lớn, bao vây họ từ vô thỉ, cũng như thiên binh vạn mã ngày đêm ở trước cửa lục căn, rình sơ hở của họ. Nếu không đủ chí quyết định liễu sanh tử, thì đi đâu cũng phải vào đó.
Tổ Sư làm bài TÍN TÂM MINH này, là mở rộng cửa Thiền cho kẻ hậu
học thoát bỏ tình thức, chỉ tin tự tâm, cất bước liền vào. Nếu
tình thức của học giả còn một mảy may chưa sạch, đọc bài MINH này
trở thành thuốc độc. Sự lợi hại như thế, nên 2 câu đầu nói “CHÍ
ĐẠO VÔ NAN, DUY HIỀM GIẢN TRẠCH”. Chỉ 2 câu này, đem tâm với
thức phân giải rõ ràng. Tại sao? Nói “CHÍ ĐẠO VÔ NAN” tức là chỉ
chơn tâm; “DUY HIỀM GIẢN TRẠCH” tức là phá tình thức, kẻ tình
thức chưa quên, thấy người nói lời này, bèn nói : “Tôi chỉ chẳng
lựa chọn”. Đâu biết chỉ cái “chẳng lựa chọn” này đã là hiểu theo
tình thức rồi, huống là kẻ mỗi mỗi chấp có, gặp cảnh sanh tình ư
!
Nên ý bài MINH này từ đầu đến cuối, nói đi nói lại, chẳng rời bản tâm, chẳng qua vì giúp người học biện rõ tâm với thức mà thôi. Cho nên nói “PHI TƯ LƯỢNG XỨ, THỨC TÌNH NAN TRẮC”.
TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG
Theo lời nói “DUY HIỀM GIẢN TRẠCH”, nay lại ở trong pháp một tâm, chỉ ra tình và thức, ấy là lựa chọn hay chẳng lựa chọn? Nhưng tình và thức, với một tâm quả là khác hay là đồng ư? Người chơn thật học đạo, ở đây nếu chẳng thể xác định, mà muốn thấy ý chỉ TÍN TÂM MINH của Tổ Sư, chẳng phải còn xa xôi ư!
KỆ KẾT THÚC, RẰNG
Chỗ lìa suy nghĩ rất khó lường,
Môn đồ học Phật đều nên rõ.
Ngay đó chẳng biết thiếu vật gì?
Thông minh lanh lợi lại bị lừa.
60. CHƠN NHƯ PHÁP GIỚI, VÔ THA VÔ TỰ
DỊCH
Chơn như Pháp Giới, chẳng người chẳng mình.
LỜI KHAI THỊ
Sư Khoáng không lỗ tai, chí thần (tự tánh) không bản thể, Nguồn Linh không có đáy. Đạt Ma truyền tủy đâu thể được! Xưa kia ở chung chẳng biết tên, hôm nay gặp nhau chẳng phải ngươi. Bóng trăng đẹp mà xuống nước chẳng chìm, gió lạnh lẽo mà sáu cửa tự mở. Chẳng phải tâm, chẳng phải Phật, dây dưa mục leo quấn trước kiếp-không; “Gió chẳng động, phướn chẳng động”, Huệ Năng đắc chí nơi phòng giả gạo.
Linh Chiếu rõ ràng ta chẳng biết,
Mây trăng khe núi tự quen nhau.
LỜI NGHĨA GIẢI
Tổ Sư nói : “CHƠN NHƯ PHÁP GIỚI, VÔ THA VÔ TỰ”, người nghĩa giải cho rằng : CHƠN NHƯ PHÁP GIỚI là tổng danh của một tâm. Ngoài tâm chẳng pháp thì đâu có cái tên gọi TỰ THA? Không những tự tha chẳng lập, cho đến núi sông, đất đai, hữu tình vô tình, đều chẳng thể đắc lại thành có. Dù nói chẳng thể đắc mà có, cũng chẳng ngại an lập vật tượng tự tha. Tại sao? Chơn như pháp giới dụ như vàng, vật tượng tự tha dụ như bông tai, cà rá, dây chuyền…Phải biết vàng là thật thể, các đồ trang sức là quyền danh (tên gọi tạm). THẬT chiều theo QUYỀN thì vật tượng tự tha chẳng ngại an lập, dung quyền về thật thì chỉ thấy chí thể của Nhất Chơn Pháp Giới. Vậy, giả danh của các thứ trang sức chẳng cần trừ mà tự mất rồi. Kẻ mê muội chẳng thông đạt ý chỉ viên dung của Tổ Sư, cho là đoạn diệt, đọa nơi rỗng không, lập cái thuyết “VÔ THA VÔ TỰ”, ở đây cần phải biện bạch cho rõ.
TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG
Biện thì cứ biện, nhưng trong Chơn Như Pháp Giới còn dung nạp được lời biện bạch này chăng?
KỆ KẾT THÚC, RẰNG
Trong chẳng tự kỷ, ngoài chẳng tha (người khác),
Cả gan nuốt trọn trái bí kia.
Thẳng tay tặng người, người chẳng nhận,
Rải cát quăng bùn vẫn y xưa.
61. YẾU CẤP TƯƠNG ƯNG, DUY NGÔN BẤT NHỊ
DỊCH
Gấp muốn tương ưng, chỉ nói bất nhị.
LỜI KHAI THỊ
Biển dụ cho tánh, đất dụ cho tâm, chứa đầy mà chẳng tràn, hứng nặng mà chẳng sụp, dung nạp hư không chẳng ngằn mé, xuyên thấu cổ kim chẳng biên cương. Trước nói “bất lạc”, sau nói “bất muội”, hồ ly tinh đâu phải hai con. Hôm qua nói “định”, hôm nay nói “chẳng định”, cục cứt khô nuốt trọn vào bụng. Biện tài của Duy Ma Cật khiến hàng Bồ Tát bịt miệng; lưỡi bén như kiếm của Văn Thù đã làm thầy cho bảy Phật. Tông ta vốn chẳng dây dưa này, chí lý đâu có ghi bia đá.
Tiếng sóng ngàn sông chìm biển rộng,
Muôn núi hùng vĩ kém đỉnh cao.
LỜI NGHĨA GIẢI
Tổ Sư nói : “YẾU CẤP TƯƠNG ƯNG, DUY NGÔN BẤT NHỊ”, người nghĩa giải cho rằng : Tổ Sư phí sức phân biệt, trước nói “Chỉ chê lựa chọn”, kế nói “một cũng đừng giữ”, “muôn Pháp cùng quán”, “muôn Pháp nhất như” v.v… đều là lý của 2 chữ “Chỉ nói”. Nhưng chư Phật chúng sanh, bản thể bất nhị, nói “Thành Phật” đã là lời thừa, vậy nói : “MUỐN GẤP TƯƠNG ƯNG” dường như thành 2 đoạn rồi. Nếu quả thật có cái lý tương ưng và chẳng tương ưng, thì rõ ràng là nhị, đối với việc này chưa thể không nghi.
TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG
Chỉ e cái nghi này chẳng chơn thật, chẳng vững chắc. Nếu Chơn thật vững chắc, thì cái nghi này sẽ có ngày tự bùng nổ. Nghi này nếu vỡ, thì NHỊ với BẤT NHỊ của tương ưng hay chẳng tương ưng đã thấu rõ trước cơ xảo, lãnh hội ngoài ngôn ngữ, mới biết ơn lớn của Tổ Sư khó đền đáp.
Xưa Ngài Duy Ma Cật bảo chúng Bồ Tát nói Pháp môn Bất Nhị, mỗi mỗi nói xong, lại bị chúng Bồ Tát hỏi ngược lại thì im lặng chẳng đáp. Lúc ấy Văn Thù liền tán thán rằng “Chơn nhập Pháp môn Bất Nhị”. Vậy lời tán thán của Văn Thù sanh khởi từ chỗ nào? Nếu cho im lặng là pháp môn Bất Nhị, thì người bệnh câm và người gỗ máy cũng đều được nhập pháp môn Bất Nhị rồi! Nếu im lặng có thể gọi là pháp môn Bất Nhị, thì ngữ ngôn cũng có thể gọi là pháp môn Bất Nhị cho đến ca hát cười giỡn đều gọi là Bất Nhị ư? Tại sao chỉ khen một mình Duy Ma Cật vậy? Ở đây cần phải thấu rõ ý chỉ mũi kim đụng nhau đúng khớp của 2 vị đại sĩ Văn Thù và Duy Ma Cật, thì lời nói TƯƠNG ƯNG hay CHẲNG TƯƠNG ƯNG trong một tiếng cười đã tẩy sạch rồi.
KỆ KẾT THÚC, RẰNG
Cửa Thiền Tổ Sư tuyệt chi ly,
Đá lửa điện chớp vẫn chậm trì.
Muốn gấp tương ưng nói BẤT NHỊ,
Bà lão nhai cơm, mớm tiểu nhi.
62. BẤT NHỊ GIAI ĐỔNG, VÔ BẤT BAO DUNG
DỊCH
Bất Nhị chẳng phải đồng, Nhị mới có bao gồm.
LỜI KHAI THỊ
Tổ tổ tâm không, Phật Phật đạo đồng. Tâm không thì các ngôi sao cùng hướng về Bắc Đẩu, đạo đồng thì muôn dòng nước đều chảy vào Biển Đông. Hưng Hóa hôm qua dự trai tăng trong làng, đạo ta nhất quán; Đức Sơn đêm nay không trả lời, Công án hai lớp. Bắt Hổ dữ, phân rắn rồng, chẳng phí chút sức của Hải Thần; Nổ sấm sét, phủ mây mù, tiêu hao Long Vương bao nhiêu gió. Mũi kim gọt sắt đè chìm đại địa, vắt nước chỉ mành ngập khắp hư không. chẳng cán nắm, tuyệt cũi lồng, sông Thiền vốn chẳng có đò đưa, vách sắt đâu có cửa nẻo thông.
LỜI NGHĨA GIẢI
Tổ sư nói : “BẤT NHỊ GIAI ĐỔNG, VÔ BẤT BAO DUNG”, hạng người hiểu theo văn tự cho rằng : Kinh Pháp Hoa nói : “Chỉ một sự thật này, ngoài ra đều chẳng chơn”. Còn nói : “Tất cả chư Phật chỉ một Phật thừa, chẳng hai chẳng ba”. Nói MỘT là diệu tâm sáng tròn, thể lìa tu chứng, dọc gồm tam thế, ngang thấu mười phương, sắc, không, sáng, tối lấy đó làm nguồn, thánh phàm mê ngộ lấy đó làm gốc. Cho đến cùng khắp pháp giới, nếu thấy có mảy may chẳng do đó sanh khởi, đều là sở chấp của ngoại đạo, cho nên nói “Sum la và vạn tượng do một pháp ấn định”. Lời “BẤT NHỊ GIAI ĐỔNG, VÔ BẤT BAO DUNG” chẳng thể ở ngoài nghĩa này.
TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG
Nói như thế, tất cả ngôn giáo đã ghi đầy đủ, đâu cần Tổ Sư từ Tây Trúc sang! Phải biết, ngôn giáo như bức tranh hoa của Triệu Xương, cao thấp xa gần, búp nở đậm nhạt, xem rất đẹp mắt, nhưng chẳng phải hoa thật vậy. Nếu chưa thể nơi gót chân một dao cắt đứt cuộn chỉ rối, thì đối với tông chỉ “BẤT NHỊ GIAI ĐỔNG”, đâu thể chỉ miệng nói tai nghe mà đắc được ư!
KỆ KẾT THÚC, RẰNG
Vàng ròng đúc thành trứng gà trống,
Đập nát y xưa vẫn còn nguyên.
Chẳng biết có gì bao trong đó,
Suốt đêm tia sáng rọi càn khôn.
63. THẬP PHƯƠNG TRÍ GIẢ, GIAI NHẬP THỬ TÔNG
DỊCH
Người trí mười phương, đều vào tông này.
LỜI KHAI THỊ
Chí thần vô công dụng, chí thể chẳng hỗn dung, như chuông nơi chánh điện, lỗ tai chẳng nghe động tịnh. Như mùa xuân đến vườn, nhánh hoa tự trắng tự hồng. Ngũ vị quân thần của Động Sơn, đàn tấu trước khi chưa phổ nốt nhạc; bốn thứ chiếu dụng của Lâm Tế, là gia phong đánh roi sắt, vạn linh khó lường. Châu ngọc xoay chuyển trước đường cơ xảo, gió bay sấm sét, mở mắt trên đỉnh đầu. Suy nghĩ chẳng đến, nhanh cũng khó gặp.
Sắp xếp cổ Phật lìa hang ổ.
Đánh cho rắn chết hóa thành rồng.
LỜI NGHĨA GIẢI
Tổ sư nói : “THẬP PHƯƠNG TRÍ GIẢ, GIAI NHẬP THỬ TÔNG”, người nghĩa giải dẫn chứng Kinh Hoa Nghiêm nói : “Cảnh giới của Như Lai, vô lượng bằng hư không, tất cả chúng sanh vào, kỳ thật chẳng chỗ vào”. Kinh Viên Giác nói : “Những người năng nhập. Nếu có năng nhập thì chẳng phải giác nhập”. Phải biết, tông này tất cả chúng sanh vốn đã thâm nhập, đâu có lý nào lại nhập nữa! Chúng sanh đã như vậy, thì người trí không nên lại có sở nhập. Vĩnh Minh nói : “Tâm chơn như vốn chẳng thể lìa”, nhưng kẻ mê dụ là xuất, kẻ ngộ dụ là nhập, làm cho mê ngộ tương đối, thật đâu có sự xuất nhập ư!
TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG
Hãy gác lời này lại! Ông có từng ngộ chưa? Đợi ông chân thật có chỗ ngộ, mới thấy lời của Tổ Sư không dối.
KỆ KẾT THÚC, RẰNG
Đồng nói tông này khó được diệu,
Người trí mười phương cứ bàn nhau.
Nếu chưa buông tay rơi vực thẳm,
Chỗ nhập đâu khác địa ngục môn.
64. TÔNG PHI XÚC DIÊN, NHẤT NIỆM VẠN NIÊN
DỊCH
Tông chỉ chẳng có ngắn dài, muôn năm một niệm, niệm muôn năm.
LỜI KHAI THỊ
Càn là trời, Khôn là đất, thiền chẳng khác giáo; dương là kỳ, âm là ngẫu, giáo đâu lìa thiền. Chỉ vì so đo với nhau, khiến con rắn uốn quanh cùng mình, người chuyên Nhất tâm tam quán, người hay trực chỉ đơn truyền. Nín như núi vách, nói như trời xa, bị kẻ không mặt mũi gặp thấy bất bình, chặn ngang hét một tiếng, khiến cho Đạt Ma cùng Thiên Thai Hiền Thủ câm miệng nín thở, thỏng tay vào thành.
Mỗi người tự quét tuyết trước cửa,
Chớ đem vô minh thấm thức điền.
LỜI NGHĨA GIẢI
Tổ Sư nói : “TÔNG PHI XÚC DIÊN, NHẤT NIỆM VẠN NIÊN”, người nghĩa giải cho rằng : Tổ Sư lấy nhất tâm làm tông, trong pháp giới nhất tâm, cho kiếp là ngày mà chẳng rút ngắn, cho ngày là kiếp mà chẳng dài thêm. Nên xem l niệm là muôn năm, chuyển muôn năm thành l niệm, chẳng dài chẳng ngắn, chẳng ít chẳng nhiều, đâu phải do thần thông mà ra. Chỉ vì pháp vốn như thế.
TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG
Xưa kia có người trí nhà Nho, cho bài “Thọ yểu bằng nhau” là vọng tác, cho “tử sanh như một” là hư dối. Nếu họ biết có cái thuyết “Một niệm muôn năm”, lại càng thêm kinh ngạc. Ấy cũng chẳng lạ gì, bởi chơn tục chẳng cùng lối mà thôi. Người xưa nói : “Nói Chơn thì nghịch với tục, thuận tục thì trái với Chơn”, há chẳng đúng ư! Làm sao khiến họ xé rách lưới tục, cắt đứt căn trần, trở lại xem cái cơ xảo viên thường tự tại, ngắn dài giúp nhau của Tổ Sư, thì cái lỗi lỡ lời mới mong có thể tránh khỏi. Dù vậy, muốn chẳng kẹt nơi ngắn dài, thử nói l câu xem!
KỆ KẾT THÚC, RẰNG
Sát na muôn kiếp chẳng ngắn dài,
Đo lường hư không nói tròn vuông.
Cứ ngay khi ấy chấp là thật,
Đứng xa ngoài cửa giành đúng sai.
65. VÔ TẠI BẤT TẠI, THẬP PHƯƠNG MỤC TIỀN
DỊCH
Chẳng phải có chỗ, chẳng phải không chỗ, mười phương hư không, chính là trước mắt.
LỜI KHAI THỊ
Cảnh Thanh sáu cửa, Lâm Tế tam huyền. Thiên Long giơ ngón tay, Am Chủ dựng nắm tay. Chỗ có Phật chẳng được trụ. Xoá hết Tây Thiên và Đông Độ; chỗ không Phật mau chạy qua, đánh bên Nam, động bên Bắc, chứng chỉ lãnh xong, sáu cửa vắng lặng.
Mở cửa thả ra hạt Dương Châu,
Chẳng cần đem theo mười vạn tiền.
LỜI NGHĨA GIẢI
Tổ Sư nói: “VÔ TẠI BẤT TẠI, THẬP PHƯƠNG MỤC TIỀN”. Hoặc có người dùng ý thức suy lường rằng : Tâm chẳng hình tướng, đạo tuyệt bờ bến. Ngay nơi hình tướng mà chẳng ngại mỗi mỗi phân thân; dựa nơi bờ bến mà đâu ngại trần trần hiển lộ! Trần trần hiển lộ, chẳng lìa chỗ ở thường trạm nhiên; Mỗi mỗi phân thân, tìm mãi biết ông chẳng thể thấy. Ở đây, cái ý chỉ “VÔ TẠI BẤT TẠI, THẬP PHƯƠNG MỤC TIỀN” đã rõ ràng rồi.
TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG
Người nói lời này, đối với việc bị mắng là “dòm bóng để trộm ánh sáng”, thiếu một phần cho y cũng không được. Nếu chẳng thể đích thân hạ thủ phá vở hàng rào thiết vi, mà muốn thấy ý chỉ VÔ TẠI BẤT TẠI của Tổ Sư, khác gì đi Trịnh Châu ra cửa Tào Châu!
KỆ KẾT THÚC, RẰNG
“Ngay chỗ chẳng lìa” là vật gì?
Lấp bít bốn phương khắp thái hư.
Ném ngay trước mặt chẳng che giấu,
Khiến kẻ nhìn thấy bị mắt mù.
66. CỰC TIỂU ĐỔNG ĐẠI, VONG TUYỆT CẢNH GIỚI
DỊCH
Cực nhỏ đồng lớn, quên hẳn cảnh giới.
LỜI KHAI THỊ
Đầu Tử nói “Hoại”, Đại Tùy nói : “chẳng hoại”. Đoạ hai quan ải này, đụng đâu đều chướng ngại. Không chướng ngại, chỉ cần đem hai câu ghép thành một chỗ xem, bèn thấy hạt bụi chẳng nhỏ, hư không chẳng lớn.
Công án saün sàng tuyệt che giấu.
Đáy thùng vì sao chẳng chóng lũng.
LỜI NGHĨA GIẢI
Tổ Sư nói : “CỰC TIỂU ĐỔNG ĐẠI, VONG TUYỆT CẢNH GIỚI”, người nghĩa giải cho rằng : Trước nói “VÔ TẠI BẤT TẠI” tức là đề mục của “CỰC TIỂU ĐỔNG ĐẠI, CỰC ĐẠI ĐỔNG TIỂU”, nên Kinh Lăng Nghiêm nói : “Trên đầu sợi lông hiện cõi Phật, ngồi trong hạt bụi chuyển pháp luân”. Nếu chẳng thấu đạt ý chỉ “VÔ TẠI BẤT TẠI”, thì đụng đâu cũng bị kẹt nơi cảnh giới. Đã bị kẹt nơi cảnh giới thì đâu có lý nào quên hẳn được! Đã chẳng thể quên hẳn cảnh giới thì lớn có tướng lớn, nhỏ có tướng nhỏ, đâu thể dung nhiếp thành một!
TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG
Chỉ như người quên hẳn cảnh giới, còn thấy lớn nhỏ hay không? Nếu nói thấy thì chưa thể quên hẳn; nếu nói không thấy thì đâu khác chi người gỗ đất? Thử nói xem!
KỆ KẾT THÚC, RẰNG
Tu Di chứa bụi người đều nhận.
Bụi chứa Tu di Phật cũng nghi.
Dẫu cho kiến giải siêu tình lượng,
Khắc thuyền mò kiếm đã chậm trì.
67. CỰC ĐẠI ĐỔNG TIỂU, BẤT KIẾN BIÊN BIỂU
DỊCH
Cực lớn đồng nhỏ, chẳng thấy bờ mé.
LỜI KHAI THỊ
Đắc được chẳng phải đắc, thấu rõ đâu có rõ. Tâm địa hoa nở nơi tuyết xuân, Tánh-Thiên nắng rọi băng-hồ (dụ cho Vũ Trụ) sáng, Kim Phụng bay liệng trên nhánh chưa mọc, voi ngọc nhiễu quanh bên cây không bóng. Bá Trượng giúp ông lão giải thoát thân chồn, nghèo nuôi một thân đã là nhiều; Văn Thù chẳng thể xuất định cho cô gái, giàu chê ngàn người ăn vẫn còn ít. Chỉ biết cách núi thấy khói, ai hỏi ra cửa là cỏ. Tất cả saün sàng, không cần tìm kiếm, dẫu trong giày ống chơi kềm búa, cũng là trước cửa đi quanh quẩn.
LỜI NGHĨA GIẢI
Tổ Sư nói : “CỰC ĐẠI ĐỔNG TIỂU, BẤT KIẾN BIÊN BIỂU”. Hạng người nghĩa giải cho rằng : Xưa kia Duy Ma Cật dùng thần lực giải thoát bất tư nghì, đem 32 ngàn tòa sư tử để trong phòng trượng thất, mà phòng nhỏ chẳng thấy chật, tòa lớn chẳng rút nhỏ. Rồi dùng tay phải hái lấy thế giới Diệu Hỷ để vào phòng, nói với đại chúng rằng : “Thế giới kia chẳng lay động, thế giới này chẳng biến đổi”. Đem lớn vào nhỏ, đem nhỏ vào lớn, dung nạp lẫn nhau, phi bỉ phi thử.
Theo kinh nói, thần lực giải thoát bất tư nghì này suốt kiếp chẳng hết, nhưng thần lực này đều từ diệu tâm sáng tỏ chảy ra. Hoặc có người nói : “Nay tôi cũng từng ngộ diệu tâm sáng tỏ này, tại sao chẳng có thần lực? Hoặc đáp rằng : “Phải biết, thần lực này vốn tự đầy đủ, chẳng cần tu chứng, sở dĩ chưa thể hiện tiền vì kẻ sơ tâm nhập đạo, nơi sức định huệ giải thoát chưa đầy đủ. Dù chưa đầy đủ, nhưng bổn giác trong tâm cũng chưa từng mất, khi cơ duyên đến, sẽ tự hiện mà thôi”. Dù nói cơ duyên đến, song cũng không được giữ một niệm tâm đợi chờ. Nếu còn có tâm đợi chờ, liền rơi vào dị kiến. Ví như trẻ sơ sinh, chưa rời tấm tã mà muốn gánh nặng đi xa, có thể được ư? Dù chẳng thể gánh nặng đi xa, nhưng đối với việc gánh nặng đi xa chưa thể hiện tiền, đâu có nghi ngờ kinh sợ gì! Kẻ chơn tham thật ngộ nghe nói thần lực này, tự nhiên chẳng nghi ngờ kinh sợ. Nếu còn một mảy may nghi ngờ kinh sợ tồn chứa trong tâm, thì tâm này chưa từng khai ngộ.
Gần đây, bậc tăng sĩ hành cước, chẳng cầu chánh ngộ, chỉ quý biện tài, lại bậc ở địa vị làm thầy, phần nhiều thuận theo trào lưu, đối với hành giả tham thiền, không dùng cơ xảo nghiêm khắc đánh đập, ai nấy cùng nhau đuổi theo vọng tình, khiến cho Bát Nhã ở tòng lâm bị quét sạch chẳng còn gì! Thật đáng tiếc thay!
Người có chí nên khắc khổ tu hành, lấy đại ngộ làm kỳ hạn, mới báo đáp được ơn sâu của Phật. Đức Phật đã từng nói hết những tệ đoan ngày nay rằng : “Chúng sanh đời mạt pháp, hy vọng thành đạo, chớ cho cầu ngộ. Vì người học rộng nghe nhiều, chỉ thêm đa văn, tăng trưởng ngã kiến”. Lời Phật dù đã cách đây hơn 2000 năm, vẫn như hiện trên bàn tay, đủ thấy lời của bậc Thánh chẳng dối chúng ta vậy!
TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG
Im đi, Im đi! Ông tưởng ngộ rồi là xong ư? Dẫu cho ông chứng đắc thần lực giải thoát bất tư nghì, trong l sát na đem mạng căn của ông già Duy Ma Cật bóp nát. Nếu chưa thể quên được sở chứng của mình, còn ngồi ở chỗ thần dị cho là thù thắng, thì phải đến đây ăn gậy của lão tăng!
KỆ KẾT THÚC, RẰNG
Lớn, nhỏ, mê, ngộ bặt dấu tích,
Trăm ngàn thần lực thảy đều quên.
Hành giả gặp ta giữa đường hẹp,
Cây gậy đánh gãy chưa thể tha.
68. HỮU TỨC THỊ VÔ, VÔ TỨC THỊ HỮU
DỊCH
Có tức là không, không tức là có.
LỜI KHAI THỊ
Nửa đêm giờ Tý, gà gáy giờ Sửu, Thạch Nữ (làm bằng đá) may áo chẳng dấu nối, người gỗ ham uống rượu Bồ Đề. Lúc xế chiều giờ Thân, mặt trời lặn giờ Dậu, voi chúa đi sâu vào núi tuyết, sư tử rống nơi đống lửa hồng. Ngày đêm 12 thời chẳng cần đếm hết, 30 năm sau có người phân rõ. Vô vô vô chẳng vô, hữu hữu hữu đâu hữu gọi là trúc bề thì phạm, chẳng gọi là trúc bề thì trái. Phun hoa hương đầy áo, ông đã có cây gậy, ta cho ông cây gậy, nắm bóng trăng trên bàn tay, tông ta chẳng lập giai cấp, đâu cần cưỡng phân xấu đẹp! Một trần khởi tam muội, nhiều trần nhập chánh thọ, gà vàng đá nhau dưới cây san hô, chó ngọc ngủ trong nụ hoa Chiêm-bặc.
LỜI NGHĨA GIẢI
Tổ sư nói : “HỮU TỨC THỊ VÔ, VÔ TỨC THỊ HỮU”, người nghĩa giải cho rằng : Hữu chẳng tự hữu, Hữu là hữu của nhà Vô : Vô chẳng tự Vô, Vô là vô của nhà Hữu. Hữu chẳng đơn chiếc, vô chẳng độc lập. Người nói HỮU vì trước đã thấy VÔ, sau đó mới nói HỮU. Nếu trong lòng trước chẳng thấy VÔ thì đâu thể ở ngoài đối đãi khi không nói HỮU! Nên biết, vô chẳng vô, vô tức là hữu; hữu chẳng hữu, hữu tức là vô. Lý HỮU VÔ vốn cùng một nguồn, nơi một nguồn, nói HỮU thì dư cái hữu, nói VÔ thì thừa cái vô. Hữu Vô dung nhau đường nói cũng bặt, ấy là ý chỉ “trở về nguồn” vậy.
TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG
Dù vậy, nếu chẳng phấn khởi đại chí, bặt sự tương đối của hữu vô nơi chánh ngộ, cứ khởi tâm phân biệt thì đâu có ngày được ý quên lời ư!
KỆ KẾT THÚC, RẰNG
Trong VÔ nói HỮU, hữu vẫn vô,
Vật này khó vẽ vào họa đồ.
Tức cười Triệu Châu quên trói buộc,
Nói càn : bên nhà treo hồ lô.
69. NHƯỢC BẤT NHƯ THỬ, TẤT BẤT TU THỦ
DỊCH
Nếu chẳng như thế, ắt chẳng cần giữ.
LỜI KHAI THỊ
Lâm Hòa Tịnh thích trồng mai, Đào Uyên Minh chỉ trồng liễu. Cùng là một hạng cao nhã đạm bạc, nhưng cả hai đều lọt vào hang ổ. Đâu bằng kẻ không ý-chí, cắm một cọng cỏ trên miếng đất chẳng âm dương, khiến hoa nở trước khi có ánh nắng mặt trời, trái chín mùi sau khi sương tuyết. Các ngươi suốt ngày đêm lẩn quẩn đoán mò trong đó, có thấy chăng? Thấy thì rất kî dùng mắt nhặm, chưa thấy thì chẳng nên chạy lăng xăng.
LỜI NGHĨA GIẢI
Tổ sư nói :”NHƯỢC BẤT NHƯ THỬ, TẤT BẤT TU THỦ”, người nghĩa giải cho rằng : Đây là lời dặn dò của Tổ Sư, nói phải có một niệm Chơn thật tương ưng với diệu tâm sáng tỏ và khế hợp với bản giác nguồn linh. Nếu chẳng như thế, dù cho biện tài thao thao, đều là sở chấp của ngoại đạo. Hoặc nói : “Nếu chẳng như thế” là quyết định muốn người khế ngộ chơn tâm. “Ắt chẳng cần giữ” là có ý muốn chỉ kẻ chẳng cầu chánh ngộ mà kẹt nơi ngôn thuyết cho là đắc chí. Nói ý này cũng thông.
TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG
Vậy, như hai thuyết này nếu chẳng thể quên thân xả mạng, thề quyết đại ngộ, khi báo thân bỗng mất thì việc ta đâu còn! Chẳng biết người học ở trong bóng mộng huyễn, dựa vào đâu mà chẳng tự cảnh sách!
KỆ KẾT THÚC, RẰNG
Hết chấp HỮU, VÔ, quên sắc, không,
Kẻ trộm tự thú hiến tang vật.
Rẻ bằng vàng ròng, quý như sình,
Xót thương không chỗ để vùi chôn.
70. NHẤT TỨC NHẤT THIẾT, NHẤT THIẾT TỨC NHẤT
DỊCH
Một là tất cả, tất cả là một.
LỜI KHAI THỊ
HAI NĂM là mười, HAI NĂM cũng là bảy, pháp vốn chẳng định, lãnh hội do người. Gọi chúng sanh là chư Phật, bản thể đâu sai; gọi chư Phật là chúng sanh, lý cũng chẳng mất. Bỗng có người ra nói :
“Chúng sanh tự chúng sanh, chư Phật tự chư Phật, đâu thể thánh phàm lẫn lộn”! Khiến cho ông già Thích Ca khi không bị oan, chỉ cần nói với ông ta : “Vô thỉ vọng lưu chuyển, đều do sự chấp này”.
Định tánh phàm phu bị Phật quở,
Thiên thủ Quan Âm xô chẳng ra.
LỜI NGHĨA GIẢI
Tổ Sư nói : “NHẤT TỨC NHẤT THIẾT, NHẤT THIẾT TỨC NHẤT”, hoặc có người dẫn chứng Kinh nói : “Một là một của tất cả, tất cả là tất cả của một, nơi một chẳng ít, nơi tất cả chẳng nhiều, đây là tâm và pháp cùng khắp, một với nhiều dung nhau, chẳng do thần thông làm ra, ấy là pháp vốn như thế”. Thuyết này ghi đủ trong kinh sách, chẳng cần dẫn chứng, nói nhiều thêm phiền, nơi đạo vô ích.
Phải biết, Tổ sư trước tác MINH này, đến chỗ “BẤT NHỊ GIAI ĐỔNG, VÔ BẤT BAO DUNG”, e kẻ hậu học chẳng thông đạt lý viên dung, trước dùng “dài ngắn tương tức (hổ tương), “kế dùng” lớn nhỏ tương tức”, kế nữa dùng “hữu vô tương tức”, nay lại dùng “một nhiều tương tức, đem vô biên thế giới dung thành pháp môn bất nhị, khai thác vũ trụ của vạn vật, mở rộng quê hương của chúng sanh, giúp cho hậu học chẳng cất bước mà đến, chẳng cách mảy trần mà nhập, chẳng ra sức mà thành, chẳng nổi niệm mà chứng nguyện đại từ đã thỏa mãn, công giáo hóa cũng cùng khắp rồi.
TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG
Dù vậy, kẻ mang bức tranh ngựa đi tìm ngựa ngày càng thêm nhiều, phải làm sao xoay mặt họ lại, luôn cả Tổ Sư cùng đuổi ra một lượt, mới biết tri ơn báo ơn. Nếu không, ví như đuôi rùa dính sình mà quét dấu, càng quét càng thêm. Giải nghĩa lời Tổ Sư cũng giống như thế.
KỆ KẾT THÚC, RẰNG
Đại địa vò lại bằng hạt gạo,
Công khai đánh trống mọi người xem.
Mạt vàng trong mắt nếu chưa trừ,
Muốn biết trắng đen cũng khó khăn.
71. ĐẢN NĂNG NHƯ THỊ, HÀ LỰ BẤT TẤT
DỊCH
Nếu được như thế, lo gì chẳng xong.
LỜI KHAI THỊ
Đại tâm chẳng y trụ, đại hóa chẳng dấu tích, đại cơ xảo chẳng cần làm, đại nhiệm vụ chẳng ra sức, chỗ muôn pháp toàn hiển bày, ánh sáng và hình bóng đều diệt;lúc một mảy lông chẳng hiện ra, lại chất đầy như núi.Mối trắng ăn lũng tâm Phật sắt, ruồi xanh đạp gãy lưng trâu vàng. Triệu Châu thấy ông buông chẳng xuống, Yển Khê lại từ chỗ này vào. Tùy tay đem đến, tùy miệng nhổ ra, trí đâu thể biết, thức đâu nhận được.
Bao người ngó nhằm bị mù mắt,
Bất tài thừa kế uổng hứa khả.
LỜI NGHĨA GIẢI
Tổ Sư nói : “ĐẢN NĂNG NHƯ THỊ, HÀ LỰ BẤT TẤT”, người nghĩa giải cho rằng : Kinh Pháp Hoa nói : “Nay ta vì ông bảo nhậm việc này, trọn chẳng hư dối”, tức là ý “ĐẢN NĂNG NHƯ THỊ, HÀ LỰ BẤT TẤT” của Tổ sư, là lời vì người học mà bảo nhậm. Sự chí thành sách tấn thấy rõ ở đây.
TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG
Dù vậy, y quả được như thế hay chưa? Dẫu cho vừa nghe liền gật đầu ba cái đã trễ tám khắc, suy nghĩ chốc lát thì bị bỏ mất quá lâu rồi!
KỆ KẾT THÚC, RẰNG
Như thế, như thế, cứ như thế,
Việc xong lúc nào tìm hỏi ai?
Gỡ được nhiều lớp da mặt sắt,
Đường về quê hương vẫn xa xôi.
72. TÍN TÂM BẤT NHỊ, BẤT NHỊ TÍN TÂM
DỊCH
Tin tự tâm là bất nhị, bất nhị phải tin tự tâm.
LỜI KHAI THỊ
“Tâm là căn, pháp là trần, hai thứ như dấu bụi trên gương”, Vĩnh Gia đại sư nói quá lố, muốn đục mở con mắt trời người, còn như cách biển. Sao chẳng nói : “Tâm phi căn pháp phi trần, cùng chuyển Như Lai chánh pháp luân”? Bỗng có người nói : “Lời Vĩnh Gia như cách biển, lời ông nói như biển cách”, đâu bằng Tam Tổ nói “TÍN TÂM BẤT NHỊ, BẤT NHỊ TÍN TÂM”. Hai câu này như trái cân sắt, muốn đục chẳng lũng. chỉ nói với y : “Im đi, im đi! Kêu đến máu chảy cũng vô dụng, không bằng ngậm miệng qua xuân tàn”.
LỜI NGHĨA GIẢI
Hoặc có người nghĩa giải ý Tổ Sư rằng; chúng sanh mê tâm này đã lâu, nơi một pháp vọng sanh phân biệt, mỗi mỗi phân biệt đều là nhị. Nay thấy mình là tự ắt thấy người là tha, ấy gọi là cái nhị của tự tha. Từ đây sanh khởi vô số phân biệt, nhị lại thêm nhị, dùng toán số thí dụ cũng chẳng thể biết được số lượng, cho nên lòng từ bi của Tổ Sư thái quá, đề ra hai câu “TÍN TÂM BẤT NHỊ, BẤT NHỊ TÍN TÂM” làm chánh ấn (con dấu chánh pháp), ngay đầu thiền giả dùng ấn ấn định, như nắm bâu áo thì cả áo đều xuôi theo. Sấm sét đánh thức người mê mộng, nắng trời rọi khắp đường tối tăm, khiến người mù thấy, người điếc nghe, người nghèo thành giàu, người ngu thành trí. Chẳng lìa căn nhà chiêm bao, cao đăng quốc độ chơn giác, dùng thân huyễn thẳng chứng bản thể kim cang, đáng xưng là thuốc thần trị bệnh sanh tử, là bậc đạo sư hướng dẫn từ phàm vào thánh.
Rất hay, rất hay.
TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG
Khen ngợi tạm ngưng đi! Chính ngay lúc ngộ đạo, cái thuyết “bất nhị” này, còn có chỗ dung nạp hay không? Nếu không có chỗ dung nạp, thì Tổ Sư đến đây cũng đáng ăn gậy.
KỆ KẾT THÚC, RẰNG
Thánh phàm mê ngộ đều bất nhị,
Thấu rõ vốn từ tín tâm ra.
Tâm chẳng sanh diệt ai mê ngộ?
Khi không nhảy vào hầm lửa hồng.
73. NGÔN NGỮ ĐẠO ĐOẠN, PHI KHỨ LAI KIM
DỊCH
Đường ngôn ngữ chấm dứt, chẳng phải quá khứ hiện tại vị lai.
LỜI KHAI THỊ
Nói tâm tâm, phi tâm phi tâm. Tâm là phi tâm, phi tâm là tâm, giở đầu lên kéo chẳng dứt, buông tay xuống lại khó tìm. Những dây dưa này khởi từ Tây Trúc đã hơn 2000 năm, trong đó Tổ Tây Thiên 28 vị, truyền Đông Độ 6 đời, cho đến kẻ ngu độn 1700, bày đặt muôn thứ, trừ mãi chẳng hết, kéo nhánh dẫn dây, thẳng đến ngày nay, biến ra lò rèn trui phàm luyện thánh, hóa thành tòng lâm, ngâm gió vịnh trăng. Bỗng có nhị kiến đua nhau khởi, giúp cho dị-chứng (tu chứng khác biệt) bài xích nhau. Phát thuốc đã nhiều mà bệnh càng thêm nặng, huống là lộn vào độc của tà ma ngoại đạo, thành bệnh bó tay vô phương trị. Ngày nay trị ngựa chết xem như trị ngựa sống.
Im lặng giây lâu nói : “Thuốc cơ xảo gật đầu 3 cái để tỏ ngộ, ngoài ngôn ngữ câu được cá lý ngư”.
LỜI NGHĨA GIẢI
Người nghĩa giải cho rằng : Đã là đường ngôn ngữ chấm dứt, thì bài MINH này chẳng phải lời thừa hay sao! Xem lời “Chẳng phải quá khứ hiện tại vị lai”, mới biết mặt mũi của Tổ Sư còn đây!
TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG
Đừng nên xuyên tạc bậy bạ, làm trò cười cho kẻ bàng quan; họ đâu biết lý vốn viên dung, đạo chẳng thể lìa, đường ngôn ngữ chấm dứt mà lại nói dài dòng đủ thứ, lời giải bừng bừng như lửa. Chẳng phải quá khứ, hiện tại, vị lai, thanh tịnh pháp thân thường tịch diệt, độc dược đề hồ khuấy thành l chén, vàng ròng miểng ngói vò thành l viên. Chỗ dùng không khác lại có tiêu chuẩn, kẻ một chân đạp tới đáy, chẳng có dấu tích; kéo 3 lần chẳng quày đầu, vọng tự tính toán. Thật là Thánh sư của một đời, là mô phạm cho trăm kiếp, rút tủy phượng hoàng ra làm món ăn lạ cho cửa Thiền; lấy gân sư tử, dứt tuyệt tiếng vang nơi nhà chí linh. Dù vậy, nhưng Tổ sư có chịu nhận cơm trà này hay không? Hãy thu dẹp dây dưa, mặc cho luận bàn.
KỆ KẾT THÚC, RẰNG
Chim vẽ chén sành hót nhạc xưa,
Lừa mù đêm khuya đổi giọng ca.
Đường ngôn ngữ dứt, đạo chẳng dứt,
Mặc kệ người đời loạn suy tư.
ĐOẠN TỒNG KẾT
Phi văn phi tự, vô Phật vô tâm. Đem không lấp không, dùng độc trị độc. Công án của Tổ Tăng Xán thường tồn, tiếng tăm của Tông Đạt Ma chẳng suy. Mặc cho người đọc TÍN TÂM MINH, rất kî ghi nhớ lời của Tổ. Thùng sơn đen vô ý đập lũng đáy, ngọc kỳ lân ngay đó kéo quay về. Dùng hết gia tài cổ Phật, làm mù chánh nhãn đương cơ. xin hỏi linh nghiệm ở câu nào?

TÍN TÂM MINH TỊCH NGHĨA GIẢI HẾT. 

TIỂU SỬ TÁC GIẢ
HÀNG CHÂU THIÊN MỤC TRUNG PHONG

Minh Bổn Thiền Sư (1263-1323) họ Tông, người Tiền Đường, mẹ nằm mộng thấy ông già Vô Mông Khai cầm lồng đèn đến nhà, sau đó bà hạ sanh. Ngay khi mới hiểu biết đôi chút, không cần dùng đến tả nữa, là đã biết ngồi kiết già. Vừa biết nói là đã ca ngay bài Tán Phật. Phàm chơi đùa đều làm theo Phật Sự – Chín tuổi, mẹ mất – Mười lăm tuổi, có ý muốn xuất gia. Nhàn xem Truyền Đăng Lục, đến chỗ Am-ma-la nữ hỏi ngài Văn Thù: “Đã biết rõ sanh là lý bất sanh, tại sao lại bị sanh tử lưu chuyển?”. Do đó liền phát nghi.
Sau ngài đi tham vấn hoà thượng Cao Phong Diệu.
Tính ngài Cao Phong Diệu rất nghiêm khắc. Bình thường, khi nói chuyện, ngài không biểu lộ tình cảm ra sắc mặt. Vậy mà, khi vừa gặp ngài Minh Bổn, thì ngài Cao Phong lộ vẻ rất vui mừng, hứa khả cho xuống tóc liền.
Nhân khi tụng kinh Kim Cang, đến chỗ “gánh vác Như Lai”, trong tâm ngài hoát nhiên mở mang, đến khi thấy nước suối chảy, bèn bừng tỏ ngộ. Ngài bèn chạy đến Hòa Thượng Diệu Cao Phong cầu ấn chứng, bị hoà thượng đánh đập đuổi ra.
Một hôm, nhân có lệnh vua tuyển đồng nam đồng nữ vào cung, ngài Minh Bổn đến hỏi hòa thượng Diệu :
Nếu bỗng nhiên có người muốn hòa thượng lấy mấy người đồng nam đồng nữ thì làm sao?
Hòa thượng Diệu đáp :
Ta cứ đưa cây trúc bề cho họ. Sư ngay lời nói, ngộ triệt để.
Hòa Thượng Diệu Cao Phong liền tự đề chân dung, phó chúc kệ cho sư :
Ngã tướng bất tư nghì
Phật tổ mạc năng thất
Độc hứa bất tiếu nhi
Đắc kiến bán biên tỉ
Dịch :
Ngã tướng bất tư nghì
Phật tổ chẳng thể biết
Chỉ hứa thằng du côn
Được thấy nửa bên mũi
Có người hỏi Hòa thượng Diệu :
Trong các đệ tử của ngài, ai hơn, ai kém?
Hòa thượng đáp :
Thủ tọa Nghĩa cố nhiên là cây trúc già, nhưng vẫn còn bảy tám đốt cong. Chỉ duy na Bổn mới thật là cây tre xuất sắc trong rừng tre. Sau này thành đạt không thể hạn lượng.
Sư không ở nơi nào nhất định. Khi thì dưới thuyền, lúc trong am cỏ. Mọi người gọi Sư là “Huyễn Trụ”. Tăng tục giành nhau chiêm lễ, tôn xưng ngài là Cổ Phật miền Giang Nam.
Vua Nhân Tông nhà Nguyên thỉnh sư về triều. Sư từ tạ không đến. Vua ban cho Sư áo cà sa kim lan và phong hiệu là Phật Từ Viên Chiếu Quảng Huệ Thiền Sư.
Sư thường quở người học chỉ quí ngôn thuyết, chẳng cầu thực ngộ.
Ngài nói :
Nay người tham thiền không được linh nghiệm là vì :
1. Không có chí khí chân thực như người xưa.
2. Không lấy sanh tử vô thường cho là việc lớn.
3. Tập khí từ nhiều kiếp đã không buông xuống được, lại không giữ được quyết tâm bền vững, không lui sụt.
Bệnh tại sao?
Đó chỉ vì không nhận biết được căn bản của sinh tử.
Phàm gặp người học, ngài hỏi :
Ngươi gọi cái gì là sanh tử?
Thì họ hoặc mịt mù không trả lời, hoặc trả lời sanh không biết chỗ đến, chết không biết chỗ đi là sanh tử.
Sư nói :
Dẫu cho biết, cũng vẫn là sanh tử!
Hoặc có người nói :
Một niệm khởi là sanh, một niệm diệt là tử.
Sư nói :
Lìa một niệm khởi diệt cũng là sanh tử vậy. Phàm có lời nói đều là nhánh lá thôi, chẳng phải căn bản. Cái căn bản là tánh chân thật viên tròn sáng tỏ vốn chẳng có tướng sinh diệt khứ lai. Chỉ vì bất giác bỗng khởi vọng tâm, lạc mất bổn nguyên, uổng chịu luân hồi, cho nên nói “mê thì sanh tử bắt đầu, ngộ thì luân hồi ngưng nghỉ”. Nên biết sơn hà đại địa, sáng tối, sắc không, ngũ uẩn, tứ đại, cho đến các pháp động tịnh, đều là nguồn gốc của sanh tử. Nếu chưa từng hướng vào pháp chân thực, hoát nhiên siêu ngộ, lại còn ở ngoài ngộ tạo dựng cuộc sống ngồi trong hang ổ, đối với biển sanh tử hoặc còn mảy may chưa tẩy sạch, thì khó tránh được sự mê hoặc của cảnh duyên thù thắng. Từ mê, sanh khởi dị khiến, dù nói đã rõ rồi, chứ thực ra thì chưa. Cần phải thống thiết vì đại sự sinh tử, cho đó là việc trọng đại nhất của mình. Tâm trộm cắp chết sạch mới có thể hy vọng. Nếu còn mảy may kiến chấp thiện ác, lấy bỏ, yêu ghét, dứt nối, thì sanh ra nhánh lá rồi, cần phải cẩn thận.
Ngày 15 tháng 8 năm Quý Hợi, tức năm 1323 dương lịch, ngài thuyết kệ từ giã chúng rằng :
Ngã hữu nhất cú
Phân phó đại chúng
Cánh vấn như hà
Vô bản khả cứ
Dịch
Ta có một câu
Phó chúc đại chúng
Lại hỏi thế nào
Vốn chẳng căn cứ.
Rồi ngài buông bút ngồi mà tịch. Đệ tử xây tháp thờ ngài nơi hướng Tây núi Thiên Mục.
Năm thứ hai niên hiệu Nguyên Thông (1334) vua Thuận Đế nhà Nguyên Truyền cho ba chục quyễn Quảng Lục vào Đại Tạng Kinh và phong ngài hiệu là Phổ Ứng Quốc Sư.
Ghi Chú
Tâm trộm cắp : Ý ngài muốn nói người tham thiền ngoài nghi tình, hễ có nổi lên bất cứ một niệm nào, dù là Bồ đề Niết bàn, cũng đều chướng ngại cho sự kiến tánh, đều gọi là tâm trộm cắp.

VÀI CHÚ GIẢI VỀ THIỀN ĐỐN NGỘ

…… … .  . .  .  .

VÀI CHÚ GIẢI VỀ THIỀN ĐỐN NGỘ

Nguyên Giác Phan Tấn Hải

Phụ Lục 2

KRISHNAMURTI VÀ THIỀN ĐỊNH

 
 Krishnamurti là một nhân vật mang nhiều tính tiền định. Trọn đời ông như một vở kịch được sắp sẵn để mà chơi. Năm 1909, khi ông mười bốn tuổi, bà Annie Besant, chủ tịch Hội Thông Thiên Học, một vận động tổng hợp Triết học Tây phương với giáo lý nhà Phật và Ấn Độ giáo, tuyên bố Krishnamurti là hóa thân của Maitreya (Đức Từ-thị hay Phật Di Lặc). Bà thành lập hội Ngôi Sao để chuẩn bị cho ông – vị giáo chủ tương lai của thế giới đó – khi lớn lên sẽ giảng dạy một giáo lý mới cho thời đại mới.
Năm 1929, Krishnamurti tuyên bố giải tán hội Ngôi Sao. Bấy giờ ông tuyên bố “Truth is a pathless land,” Chân lý là mảnh đất không lối ngõ gì cả. Điều này có thể gợi nhớ tới ngôn ngữ Thiền, con đường không đường, cửa không cửa (vô môn quan). Từ đây, ông đi nhiều nơi trên thế giới để nói về giảng dạy mới này. Ông nói chuyện về gần như là tất cả mọi vấn đề của con người. Phương pháp thường dùng nhất là đối thoại, ông thường đưa ra những câu hỏi, chất vấn, khảo sát về Tâm (Thoughts and feelings) chỉ thẳng cái tánh không thực của nó, sự lập đi lập lại giả tạo của nó. Có thể nhớ tới kinh Phật nói: “Tâm như diễn viên, ý như thằng hề.” Ngôn phong của ông mang nhiều tính phủ định (negation), cũng triệt để như ngôn phong của hệ thống Bát Nhã.
Đức Phật Sống Đạt Lai Lạt Ma đời thứ 14, người được dân tộc Tây Tạng tin tưởng là hóa thân của Đức Quan Âm, đã so sánh Krishnamurti với Nagarjuna (Tổ Long Thọ, người hình thành 5 hệ thống giáo lý nhà Phật, trong đó có giáo lý Tánh Không của Bát Nhã). Năm 1956, Đức Đạt Lai Lạt Ma và Krishnamurti gặp nhau tại Madras, Ấn Độ. Không có sách nào tường thuật buổi gặp nhau này một cách chi tiết. Hai hóa thân Phật này, một Di Lặc và một Quan Âm, đã nói gì với nhau không ai biết, có đấu phép để phân biệt bạn thù không cũng chẳng ai hay. Trang 202-203 của sách Krishnamurti A Biography của bà Pupul Jayakar chỉ ghi vài dòng, trong đó có một chữ “coexperience” của Đức Đạt Lai Lạt Ma phê bình về cuộc nói chuyện đó. Nói theo Thiền là đã ấn chứng cùng vào nhà Tổ, đi chung lối chim bay, thở chung một lỗ mũi với Phật.
Bài này trích dịch từ trong Krishnamurtís Notebook, sách ông viết lúc gần cuối đời, năm 1961, gồm một số đoạn nói lên quan điểm của ông về Thiền định. Nếu so sánh quan điểm này về Thiền của Krishnamurti với pháp Thiền Tào Động, Lâm Tế Tây Tạng, ta thấy rất nhiều điều giống nhau. Nói rõ hơn là, khác chỉ là ở thủ đoạn khai ngộ, Pháp bảo nhậm hoàn toàn như nhau. Nhưng than ôi, còn thấy có một pháp vẫn còn là chưa được.

 

TRÍCH VĂN
Trang 51:
Thiền định là sự vắng mặt của tất cả những gì gọi là ý thức, không phải để tiếp nhận, nhưng để làm vắng mặt, để quét sạch, để trống không tất cả những gì gọi là nỗ lực. Ở đó sẽ là chỗ cho sự vắng lặng, không phải là chỗ được tạo nên bởi tư tưởng và các sinh hoạt trí thức, mà là chỗ (cảnh giới) đó đến qua sự phủ định và phá hoại, khi không còn chút gì của tư tưởng (niệm) và các dự phóng của nó. Chỉ ở Tánh Không mới có Sáng Tạo.
Trang 81:
Thiền định không với một công thức nào hết, không với một động cơ và lý luận nào hết, không một nơi để đến và mục đích nào hết, là một hiện tượng khó tin. Loại Thiền định này không chỉ là một bùng nổ vĩ đại làm trong sạch tất cả nhưng cũng còn là sự chết (1). Ở đây không còn cái gì gọi là ngày mai nữa (Thời gian chấm dứt).
Trang 82:
Không có cái ngày mai trong Thiền định, (vì) không có lý luận gì được với cái chết. Cái chết của hôm qua và ngày mai không để lại chút khoảnh khắc gì trong hiện tại, và thời gian luôn là khoảnh khắc, nhưng sự hủy diệt (thời gian) này là cái hoàn toàn mới. Thiền định là như vậy, không phải là những con toán ngốc nghếch của bộ óc đi tìm sự an toàn. Thiền định là sự hủy diệt cái an toàn, và có cái đẹp tuyệt diệu trong Thiền định, không phải là cái đẹp của những gì được tạo dựng nên bởi con người hay Thiên nhiên, nhưng là cái đẹp của cái vắng lặng. Cái vắng lặng này là cái KHÔNG, trong đó và từ đó tất cả (vạn pháp) lưu xuất và hiện hữu (2).
Trang 142:
Thiền định là cửa ngõ đi vào cái không vô tận (3). (Meditation was an opening into immeasurable emptiness).
Trang 143:
Thiền định sinh khởi ra cái Đó (4), nó thuộc về sự trong sạch (thanh tịnh) bùng vỡ. Sự thanh tịnh của nó không để lại chút manh mún nào hết, nó ở đó, nó là tất cả và không có gì là từng hiện hữu. Khi không có gì hết thì là nó. Nó (Thiền định) là sự thanh tịnh của tất cả các yếu tính. Sự bình an này là cảnh giới vô tận, vô biên giới, của Tánh Không bất khả tư nghị.
Trang 170-171:
Nơi hàng hiên thoảng mùi thơm (nơi ông ở), khi bình minh chưa tới và hàng cây vẫn còn vắng lặng, cái gì là bản chất chính là cái đẹp (LND: essence dịch là bản chất hay yếu tính, có nên dùng chữ Tánh của Thiền không?). Nhưng cái yếu tính này thì không có thể kinh nghiệm. Kinh nghiệm phải chấm dứt, phải chết đi, vì kinh nghiệm chỉ làm củng cố thêm cái đã biết. Cái đã biết thì không bao giờ là bản chất, là yếu tính (LND: nghĩa của chữ yếu tính thường được định nghĩa cách Triết học là, cái gì làm cho nó là nó). Thiền định không bao giờ là một kinh nghiệm xa hơn; nó không chỉ là sự chấm dứt kinh nghiệm, mà sự chấm dứt này chỉ là một đáp ứng tới sự thách thức, lớn hay nhỏ. Nhưng nó (Thiền định) là sự mở ra cánh cửa của Pháp Tánh (the door to essence), mở ra cánh cửa của một lò sưởi, trong đó lửa đang đốt cháy hoàn toàn, không để lại chút tro bụi, không gì còn sót lại nữa. Chúng ta là những cái sót lại, những kẻ nói vâng của nhiều ngàn ngày hôm qua, một chuỗi liên tục của trí nhớ không thôi, của sự lựa chọn và tuyệt vọng. Cái gọi là Đại Ngã và Tiểu Ngã là khuôn mẫu của hiện hữu, và hiện hữu là tư tưởng, và tư tưởng là hiện hữu, với đau khổ không bao giờ chấm dứt. Trong ngọn lửa của Thiền định, tư tưởng chấm dứt cùng với cảm xúc, vì không có cái nào đã là tình yêu cả. Không có Tình yêu thì không có yếu tính; không có Tình yêu thì chỉ có tro bụi mà trên tro bụi này sự hiện hữu của chúng ta hình thành. Chỉ ở trong Tánh Không, mới có Tình yêu (5).
Trang 175; Trong khi ông đang đi bộ:
Vừa khi con đường rẽ về phía đông, cái Đó (otherness) hiện đến. Nó đến chan hòa đổ xuống những làn sóng lớn dày đặc của sự linh thánh vô biên. Như dường các tầng trời mở ra cho cái không-gọi-tên-được hiện đến từ cái vô lượng vô biên đó; Nó đã sống ở đó suốt ngày, tôi (ông khiêm tốn dùng chữ One, ngôi thứ ba) đột nhiên nhận ra và chỉ bây giờ, đang đi bộ một mình trong khi những người bạn khác đã vào ngã quẹo khác, tôi nhận ra sự kiện đó. Và cái gì làm cho sự kiện này khác thường chính là cái đang xảy ra; nó là đỉnh cao của cái trước giờ vẫn đang diễn tiến và không phải là một sự kiện riêng biệt (6). Có ánh sáng, không phải ánh sáng mặt trời hay đèn nến gì của con người, các loại ánh sáng này chỉ tạo nên bóng (shadows) thôi. Nhưng có ánh sáng không tạo nên bóng và nó là ánh sáng.
Trang 148:
Đang đi bộ và nói chuyện, Thiền định vẫn đang tiếp tục trong những lời và vẻ đẹp của đêm. Nó vẫn đang tiếp diễn ở một chiều sâu rộng lớn, trôi chảy bên ngoài và cả bên trong (Tâm). Nó đang bùng nổ và tỏa rộng ra.
Trang 212:
Thiền định là lang thang xuyên qua thế giới của tri thức và xa lìa khỏi nó để thâm nhập vào cái chưa từng được biết, cái không biết (the unknown).
Trang 217:
Thiền định là sự phủ định thuần túy nhất. Sự phủ định này không là kết quả của mọi phản ứng. Để từ chối, và duy trì ở trong sự từ chối này của phủ định đó là hành động không với một động cơ, cũng là Tình yêu vậy.
Trang 219:
Thiền định không phải là con đường của một nỗ lực nào hết. Tất cả nỗ lực chỉ đưa tới mâu thuẫn, đối kháng. Nỗ lực và chọn lựa luôn luôn là nguyên nhân của mâu thuẫn, sẽ làm cho Thiền định trở thành một chạy trốn thực tại, trốn cái đang làm. Thiền định chân chính sẽ đưa tới cái Đó, làm vắng lặng hoàn toàn một bộ óc vốn đã yên tĩnh. Bộ óc chỉ đơn giản là một hành lang cho cái vô lượng vô biên đó, cũng hệt như dòng sông rộng và sâu giữa 2 bờ dốc, cái Khác kỳ lạ này chuyển động với không một phương hướng và thời gian.
Cũng trang 219:
Thiền định là ngọn lửa đốt cháy sạch tất cả thời gian và khoảng cách, tất cả thành tựu và kinh nghiệm. Chỉ có cái Chơn Không vô lượng vô biên nhưng trong đây chính là chuyển động, là Sáng Tạo.
Trang 222:
Thiền định tiếp tục (trong cơ thể ông) với sự vắng lặng đó, và vắng lặng đó chính là Tình yêu. Nó không phải là yêu một vật gì hay người nào, một hình ảnh hay biểu tượng nào, chữ hay tranh. Nó đơn giản là tình yêu, với không một cảm xúc (feeling). Nó tự hoàn toàn trong chính nó, trần truồng, dầy đặc, không một nguyên nhân và phương hướng.
Cùng trang 222:
Trong Thiền định không có sự lập lại, không có sự tiếp nối của thói quen; chỉ có cái chết của tất cả mọi cái đã biết và có những trận mưa hoa của cái bất khả tri (unknown).

 

Ghi Chú:
(1) Có thể gợi nhớ tới một câu trong Thiền: “Đại tử nhất phiên,” một phen chết lớn. Ở đây, hai ý không hoàn toàn trùng nhau. Đoạn này của Krishnamurti còn gợi nhớ tới bài kệ trong Kinh Đại Bát Niết Bàn: “Sinh diệt dĩ diệt, tịch diệt vi lạc.” Tạm dịch là, tất cả những gì gọi là sinh với diệt đều tiêu ma cả rồi, chỉ có cái Tánh Không Vắng Lặng này mới là niềm vui thật thôi.
(2) Điều này lại gợi nhớ tới chủ trương Chơn Không Diệu Hữu của Kinh Pháp Hoa. Trong cái Không chơn thật và tuyệt đối đó mới lưu xuất và hiện hữu cái Có kỳ diệu.
(3) Ngôn ngữ của Bát Nhã lại xuất hiện ở đây.
(4) Chữ cái Đó tạm dịch từ chữ The Otherness. Chữ này trong sách không được định nghĩa rõ ràng. Krishnamurti không có thói quen định nghĩa điều gì cả. Nếu dịch là cái Khác sợ không đúng theo văn mạch. Thấy được cái Đó phải chăng là Thấy Tánh theo ngôn ngữ của Thiền? Xin ghi một phần nguyên văn cho độc giả ghi nhận, chú ý có một chữ is ở thì hiện tại trong toàn văn ở thì quá khứ: “Meditation yeilded to the otherness; It was of shattering purity. Its purity left no residue; it was there, that is all and nothing existed.”
(5) Đoạn này tương hợp với một đoạn kệ trong Kinh Lăng Già: “Viễn ly đoạn thường, thế gian hằng như mộng, tri bất đắc hữu vô, nhi hưng đại bi tâm.”
(6) Cái trước giờ vẫn đang diễn tiến (what had been going on), không hiểu ý Krishnamurti ám chỉ điều gì. Trong văn mạch có thể hiểu theo 2 cách. Chữ cái Đó (cái Khác – otherness) ở đây có thể dịch, mượn chữ nhà chùa, là Tánh, một cách tương hợp. Ở đây, Krishnamurti nhìn Thấy Tánh hiển hiện trước mắt. Nghĩa thứ nhất của cái-trước-giờ-vẫn-đangđiễn-tiến có thể là, ám chỉ cái Tánh đó trước giờ vẫn bất sinh bất diệt bất tăng bất giảm… Nghĩa thứ nhì có thể có là, ông ám chỉ cái trong sách, ông gọi là process. Cái process này bắt đầu với ông từ năm hai mươi tám tuổi (năm 1922), năm ông chuyển hướng giáo lý phủ định tất cả. Có thể nói theo nhà chùa, giai đoạn này của ông là chuyển từ Như Lai Thiền sang Tổ Sư Thiền. Từ đó, ông chịu những cơn đau liên tục ở đầu và xương sống. Theo ông (?) đó là do pháp môn Không có gì để tu hết, nói theo Thiền là pháp bổn như vô pháp, nói theo ông là ở với cái Tánh Không Thường Tịch (nguyên văn là stillness and emptiness). Cuốn Krishnamurtís Notebook này được viết năm 1961, tức bốn mươi năm sau lần Đại Tử Nhất Phiên đó, nhưng cơn đau do process vẫn liên tục. Theo giải thích của bà Pupul Jayakar, tác giả quyển Krishnamurti A Biography, cơn đau do process đó là sự tỉnh thức và đi lên của luồng hỏa hầu trong người Krishnamurti. Bà Pupul Jayakar là bạn thân của Krishnamurti, là phó chủ tịch Krishnamurti Foundation, một triết gia lớn của Ấn Độ. Tuy nhiên, chúng ta không hề nghe Krishnamurti hay một Thiền Sư nào hở môi nói về con rắn đen hay đỏ gì hết. Còn chuyện nghe gì bên tai, thấy gì trước mắt hay đau gì do process đó thì cũng chẳng thấy ai bận tâm. Bởi vì hình như là khi đau quá, thì các Thiền sư vẫn phải đi Bác Sĩ khám bệnh.
MEDITATIONS

 

(Bổ túc cho ấn bản năm 2001)

 

Cuốn Meditations của Krishnamurti, xuất bản bởi nhà Shambala năm 1991, kết tập các lời nói về thiền định của nhà đạo sư dị thường nhất thế kỷ 20, người đã tự giải tán tổ chức tôn giáo mà ông được chọn làm giáo chủ từ khi còn thơ ấu trong khi tổ chức này đã có tới hơn 5 triệu tín đồ. Mặc dù phi bác hết tất cả những gì thuộc về tôn giáo, Krishnamurti vẫn có ngôn ngữ và phong thái của một vị Cổ Phật đi vào cuộc đời, đặc biệt là lời dạy của ông luôn luôn chỉ thẳng vào tâm để hiển tánh. Đây chính là pháp môn Thiền Đốn Ngộ không qua bất kỳ phương tiện nào. Nơi đây tất cả những gì gọi là tông phái, kỹ thuật, thẩm quyền, kinh điển, thần chú đều trở nên vô nghĩa.
Dưới đây là bản Việt dịch do Nguyên Giác thực hiện. Có một điều nên ghi chú, Krishnamurti đôi khi tránh xưng “tôi” (ngôi thứ nhất), và đã dùng chữ “one” (một người, ngôi thứ ba) để tự gọi như cách đứng ngoài mình và nói về mình, có lẽ vì ông không còn thấy có cái gì gọi là tự ngã nữa; người dịch chuyển nghĩa chữ “one” sang Việt ngữ là “bạn” (ngôi thứ hai). Trường hợp này sẽ lẫn lộn với khi dịch chữ “you” cũng là “bạn,” nhưng sẽ tạo một văn phong thống nhất. Thêm nữa, bởi vì người dịch thấy rằng trong pháp môn này thực sự không có gì ngăn cách giữa các ngôi “tôi, người, bạn” chi cả. Bản dịch như sau.
 LỜI ĐẦU
Con người, với mục đích trốn thoát các mâu thuẫn, đã phát minh ra nhiều hình thức thiền định. Những hình thức này dựa vào khát vọng, vào ý chí và vào thúc giục tới thành tựu, và gợi mở mâu thuẫn và cuộc chiến đấu để tới. Nỗ lực tận tình đầy ý thức này thì luôn luôn nằm trong giới hạn của một tâm bị điều kiện hóa, và trong này thì không có tự do. Tất cả mọi nỗ lực để thiền định đều là chối bỏ thiền định.
Thiền định là sự chấm dứt các niệm. Chỉ tới lúc đó mới có một chiều kích khác, nơi vượt ra ngoài thời gian.
Tháng 3.1979.
***
Những đoạn văn dưới đây trích từ các tác phẩm sau:
Krishnamurti’s Notebook, Beginnings of Learning, The Awakening of Intelligence, Beyond Violence, You Are the World, The Flight of the Eagle, The Impossible Question, The Only Revolution, Freedom from the Known, Meditations 1969, Talks with American Students.
***
Tâm thiền định thì vắng lặng. Đó không phải sự vắng lặng mà tư tưởng có thể nhận thức được; đó không phải sự vắng lặng của một đêm im vắng; đó là sự vắng lặng khi niệm—với tất cả hình ảnh, lời và khái niệm của nó—đã hoàn toàn chấm dứt. Tâm thiền định này là một tâm tôn giáo—cái tôn giáo mà không một giáo hội nào, thánh đường nào, hay bài ca nào có thể chạm xúc được.
Tâm tôn giáo là sự bùng nổ của tình yêu. Đó là tình yêu không hề biết tới chia cách. Với nó, xa chính là gần. Đó không phải là một hay nhiều, nhưng là trạng thái tình yêu trong đó mọi chia chẻ đều chấm dứt. Hệt như vẻ đẹp, nó không thuộc về thước đo của ngôn ngữ. Từ riêng cái vắng lặng này, tâm thiền định hoạt động.
***
Thiền định là một trong những nghệ thuật lớn nhất của đời sống—có lẽ là nghệ thuật lớn nhất, và người ta không có thể học từ bất kỳ ai. Đó là vẻ đẹp của nó. Nó không có cái gì gọi là kỹ thuật, và do vậy không có cái gì gọi là thẩm quyền. Khi bạn biết về chính bạn, nhìn chính bạn, nhìn cách bạn đi, cách bạn ăn, những gì bạn nói, những tán gẫu, những căm ghét, những ghen tị—nếu bạn biết hết tất cả những điều đó trong tâm bạn, với không một lựa chọn, đó là một phần của thiền định.
Như vậy, thiền định có thể hiện hữu ngay cả khi bạn đang ngồi trên xe buýt, hay đang đi bộ trong rừng đầy những ánh sáng và bóng mát, hay đang nghe chim hót, hay đang nhìn khuôn mặt của vợ hoặc con bạn.
***
Thật kỳ lạ về cách thiền định trở thành; nó không có chấm dứt mà cũng không có khởi đầu. Nó hệt như giọt mưa: trong giọt nước là tất cả những dòng suối, những sông cả, những đại dương và những thác nước; giọt nước này nuôi lớn trái đất và con người; không có nó, trái đất sẽ là một sa mạc. Không thiền định, trái tim trở thành một sa mạc, một vùng đất hoang.
***
Thiền định là tìm xem tư tưởng, với tất cả những hoạt động của nó, tất cả những kinh nghiệm của nó, có thể tuyệt đối vắng lặng được hay không. Không được dụng tâm, bởi vì ngay khi bạn dụng tâm thì đã vướng vào nhị nguyên (hai đầu). Người nào nói rằng, “Tôi muốn đạt những kinh nghiệm tuyệt diệu, cho nên tôi phải buộc tâm tôi vắng lặng,” thì sẽ không bao giờ thiền định được. Nhưng nếu bạn bắt đầu dò xét, quan sát, lắng nghe tất cả những chuyển động của niệm, những điều kiện hóa của nó, những theo đuổi của nó, những sợ hãi của nó, những niềm vui của nó, nhìm xem cách tư tưởng vận hành, rồi bạn sẽ thấy rằng tư tưởng của bạn trở thành vắng lặng dị thường; sự vắng lặng đó không phải là ngủ yên nhưng chính là tích cực mãnh liệt và do vậy mới thật vắng lặng. Một máy phát điện lớn đang hoạt động hoàn hảo thì khó mà gây nên tiếng động; chỉ khi nào có sức cản mới có tiếng động.
***
Vắng lặng và vô biên đi chung với nhau. Cái vô biên của vắng lặng là cái vô biên của tâm, trong đó không hề có nơi nào gọi được là trung tâm.
***
Thiền định là một công trình gian nan. Nó đòi hỏi hình thức cao nhất của kỷ luật—không phải tùy thuận theo, không phải là bắt chước, không phải là vâng phục—nhưng là một kỷ luật đến từ một tỉnh thức thường trực, không chỉ là những gì ngoài bạn nhưng còn là trong tâm bạn. Như vậy, thiền định không phải là một hoạt động của sự cô lập nhưng là một hành động trong đời sống thường ngày và đòi hỏi sự hợp tác, sự bén nhạy và trí thông minh. Nếu không đặt nền tảng về một cuộc sống ngay chính, thì thiền định trở thành một cuộc đào thoát và như vậy sẽ không có chút giá trị nào. Một cuộc sống ngay chính không có nghĩa là theo đuổi đạo đức xã hội, nhưng chính là tự do, xa lìa khỏi những ghen tị, thèm khát và mong muốn quyền lực—tất cả những thứ này chỉ sinh khởi mâu thuẫn. Cái tự do xa lìa những trạng thái trên không đến từ hoạt động của ý chí, nhưng chỉ bằng cách nhận biết chúng qua tự quán sát.
Không biết về các hoạt động của tự ngã, thiền định sẽ trở thành một hứng cảm và như vậy thì chỉ có rất ít ý nghĩa.
***
Luôn luôn đi tìm những kinh nghiệm siêu vượt, sâu hơn, rộng hơn chính là một hình thức đào thoát khỏi hiện thực của “cái đang là,” cái tự ngã của chúng ta, cái tâm đã điều kiện hóa của chính chúng ta. Một tâm tỉnh thức, thông minh, tự do, tại sao lại thấy cần, tại sao lại phải có, bất kỳ “kinh nghiệm” nào nữa? Ánh sáng là ánh sáng; nó không đòi hỏi thêm chút ánh sáng nào.
***
Thiền định là một trong những thứ dị thường nhất, và nếu bạn không biết nó là gì, thì bạn chỉ hệt như một người mù trong một thế giới của những sắc màu sáng chói, của những bóng tối và của ánh sáng chuyển động. Nó không phải là một vấn đề của trí thức, nhưng khi trái tim bước vào tư tưởng, thì tư tưởng có một phẩm chất hoàn toàn khác; lúc đó nó thực sự là vô giới hạn, không phải chỉ trong khả năng suy nghĩ, hoạt động một cách hiệu quả, nhưng cũng còn trong ý nghĩa của cách sống trong một không gian vô tận nơi mà bạn là một phần của vạn pháp.
Thiền định là vận động của tình yêu. Nó không là tình yêu của một hay của nhiều. Nó y hệt như nước mà bất kỳ ai cũng có thể uống từ bất kỳ bình lọ nào, dù là bình vàng hay bình đất: nó thì không cạn. Và một hiện tượng đặc biệt xảy ra mà không một thứ ma túy hay phương tiện tự thôi miên nào có thể mang đến: nó như dường là tâm đi vào trong chính nó, bắt đầu từ mặt ngoài và càng lúc càng vào sâu, cho tới khi chiều cao và chiều sâu mất đi ý nghĩa, và tất cả những hình thức đo lường đều chấm dứt. Trong trạng thái này, đó là hòa bình toàn diện—không phải sự êm dịu đến từ việc làm cho khoái cảm—nhưng là một thứ hòa bình, một hòa bình có trong nó trật tự, vẻ đẹp, và dầy đặc. Nó có thể bị phá hủy toàn diện, hệt như bạn có thể phá hủy một cánh hoa, và tuy vậy, mặc dù nó rất mực mong manh, nó vẫn thực sự là bất khả hủy diệt. Thiền định này không có thể học từ người khác. Bạn phải khởi đầu mà không biết chút gì về nó, và phải đi từ ngây thơ này tới ngây thơ khác.
Mảnh đất mà tâm thiền định có thể bắt đầu chính là mảnh đất của đời sống thường ngày, của tranh chấp, của nỗi đau và của niềm vui nhanh chóng. Nó phải bắt đầu từ đó, và mang đến trật tự, và từ đó sẽ chuyển động bất tận. Nhưng nếu bạn chỉ quan tâm với chuyện làm cho trật tự, rồi thì chính cái trật tự đó sẽ mang đến giới hạn của chính nó, và bấy giờ thì tâm thức sẽ là tù nhân của chính nó. Trong tất cả những vận động này, bạn phải cách nào đó bắt đầu từ bên bờ bên kia, từ bờ sông bên kia, và không luôn luôn quan tâm với bờ sông bên này hoặc là quan tâm về cách nào để vượt qua sông. Và vẻ đẹp của thiền định là, bạn không bao giờ biết nơi bạn đang đứng, không bao giờ biết nơi bạn đang đi, và không bao giờ biết điểm chấm dứt nơi nào.
***
Thiền định không phải là cái gì khác với đời sống thường ngày; đừng đi về một góc phòng và thiền định trong mười phút, rồi lại trở ra và làm một tay đồ tể—nói trong cách vừa ẩn dụ vừa thực tiễn.
Thiền định là một trong những việc nghiêm trang nhất. Bạn có thể thiền suốt cả ngày, trong văn phòng, với gia đình, khi bạn nói với một người nào đó, “Bố thương con,” khi bạn đang quan tâm tới các con. Nhưng khi bạn giáo dục chúng trở thành các quân nhân, để giết người, để được quốc gia hóa, để thờ phượng lá cờ, giáo dục chúng bước vào bẫy rập này của thế giới hiện đại.
Nhìn tất cả thế đó, nhận thức phần của bạn trong nó, tất cả đó là một phần của thiền định. Và khi bạn thiền định như vậy, bạn sẽ thấy trong nó một vẻ đẹp dị thường; bạn sẽ hành động đúng đắn trong từng khoảnh khắc; và nếu bạn không hành động đúng đắn vào một khoảnh khắc nào đó thì cũng chẳng hề gì, bạn sẽ làm đúng trở lại—bạn sẽ không tốn thì giờ để ân hận. Thiền định là một phần của đời sống, không phải là cái gì dị biệt với đời sống.
***
Nếu bạn sắp xếp để thiền định, nó sẽ không là thiền định. Nếu bạn sắp xếp để tốt lành, những tốt lành sẽ không bao giờ nở hoa. Nếu bạn tu dưỡng khiêm tốn, nó sẽ không còn là khiêm tốn. Thiền định là ngọn gió thổi vào khi bạn để cửa sổ mở; nhưng nếu bạn cố ý để nó mở, cố ý mời gọi nó đến, nó sẽ không bao giờ xuất hiện.
***
Thiền định không phải là một phương tiện cho một cứu cánh. Nó vừa là phương tiện vừa là cứu cánh.
***
Thiền định là cái gì cực kỳ dị thường. Nếu có bất kỳ loại nào của cưỡng bách, của nỗ lực để buộc tư tưởng phải vâng phục, bắt chước, thì nó trở thành một gánh nặng mệt mỏi. Sự vắng lặng mà nó mong mỏi sẽ không còn rõ nữa; nếu nó là cuộc theo đuổi các thị kiến và kinh nghiệm, thì nó sẽ dẫn tới ảo vọng và tự thôi miên. Chỉ ở trong sự bùng khởi các niệm, và như vậy trong việc chấm dứt các niệm, thì thiền định mới có ý nghĩa; tư tưởng chỉ có thể bùng khởi trong tự do, không phải trong những khuôn mẫu luôn mở rộng của kiến thức. Kiến thức có thể cho những kinh nghiệm mới hơn về các cảm xúc lớn hơn, nhưng một tâm đi tìm kiếm kinh nghiệm thì chỉ là ấu trĩ. Trưởng thành chính là sự tự do xa lìa tất cả kinh nghiệm; nó không còn chịu bất kỳ ảnh hưởng nào để hiện hữu hay không hiện hữu.
Trưởng thành trong thiền định là giải thoát tâm ra khỏi kiến thức, vì nó bóp khuôn và kiểm soát tất cả mọi kinh nghiệm. Một tâm, mà là ánh sáng cho chính nó, thì không cần kinh nghiệm. Ấu trĩ là nỗi thèm khát lo tìm các kinh nghiệm rộng hơn và lớn hơn. Thiền định là lang thang xuyên qua thế giới của kiến thức, và xa lìa các trói buộc của nó để bước vào cái không biết.
***
Bạn phải tìm ra cho chính bạn, không xuyên qua bất kỳ ai. Chúng ta đã có các thẩm quyền của các vị thầy, các vị cứu thế, và các đạo sư. Nếu bạn thực sự muốn tìm xem thiền định là gì, bạn phải gạt qua một bên tất cả các thẩm quyền một cách toàn diện và hoàn toàn.
***
Hạnh phúc và niềm vui bạn có thể mua trong bất kỳ chợ nào với một giá. Nhưng an lạc bạn không thể mua được—dù là cho chính bạn hay là cho người khác. Hạnh phúc và niềm vui tùy thuộc vào thời gian. Chỉ trong tự do hoàn toàn, an lạc mới hiện hữu. Niềm vui, cũng như hạnh phúc, bạn có thể tìm, và gặp, trong nhiều cách. Nhưng chúng đến và đi. An lạc—cái cảm giác kỳ lạ của hân hoan—không có động cơ nào. Bạn không có thể tìm nó. Một khi nó hiện ra đó, tùy thuộc vào phẩm chất tâm bạn, nó vẫn ở đó—không thời gian, không nguyên nhân, một điều không đo lường được bởi thời gian. Thiền định không phải là cuộc tìm kiếm niềm vui hay là tìm kiếm hạnh phúc. Ngược lại, thiền định là một trạng thái của tâm trong đó không có một khái niệm hay công thức nào, và do vậy hoàn toàn tự do. Chỉ với một tâm như vậy, niềm an lạc này mới đến—không được tìm kiếm, không được mời gọi. Một khi nó hiện ra đó, cho dù bạn có thể sống trong thế giới với mọi tiếng ồn, với mọi niềm vui và với mọi thô bạo, chúng sẽ không chạm xúc tới tâm đó. Một khi nó hiện ra đó, mâu thuẫn ngưng lại. Nhưng hành động chấm dứt mâu thuẫn thì không nhất thiết là tự do hoàn toàn. Thiền định là vận động của tâm trong tự do này. Trong cái bùng nổ này của an lạc, những con mắt sẽ biến thành ngây thơ, và tình yêu lúc đó là ân sủng.
***
Tôi không biết bạn có từng ghi nhận rằng khi bạn chăm chú hoàn toàn thì sẽ có sự vắng lặng hoàn toàn. Và trong sự chăm chú đó, không có đâu là biên giới, không có đâu là trung tâm, như là “cái tôi” người nhận biết hay là người chăm chú. Chăm chú đó, vắng lặng đó, là một trạng thái của thiền định.
***
Chúng ta hiếm khi lắng nghe tiếng chó sủa, hay tiếng khóc của một trẻ nhỏ, hay tiếng cười của một người đi ngang qua. Chúng ta ngăn cách chúng ta ra khỏi mọi thứ, và rồi từ thế cô lập để nhìn và lắng nghe mọi thứ. Chính sự ngăn cách này hủy diệt như vậy, vì trong đó là tất cả mọi mâu thuẫn và hỗn loạn. Nếu bạn lắng nghe âm thanh của những chuông kia với vắng lặng hoàn toàn, bạn sẽ đang bay trên đó—hay là, đúng ra, âm thanh sẽ chở bạn đi xuyên qua thung lũng và vượt lên đồi. Vẻ đẹp của nó chỉ được cảm nhận khi bạn và âm thanh không ngăn cách nhau, khi bạn là một phần của nó. Thiền định là chấm dứt các ngăn cách không bởi bất kỳ hành động nào của ý chí hay khát vọng.
Thiền định không phải là cái gì ngăn cách khỏi đời sống; nó là cốt tủy của đời sống, là cái rất mực cốt tủy của đời sống hàng ngày. Để lắng nghe các chuông kia, để nghe tiếng cười của người nông dân đó khi anh ta đi ngang qua với vợ, để lắng nghe tiếng chuông trên chiếc xe đạp của cô bé gái khi cô đạp ngang qua: đó là toàn bộ đời sống, và không chỉ là một phần mảnh của nó, lúc đó thiền định mở ra.
***
Thiền định là nhìn vào cái đang là và đi vượt qua nó.
***
Nhận thức không dùng lời, đó là, không một niệm, là một trong những hiện tượng kỳ dị nhất. Lúc đó thì nhận thức nhạy bén hơn rất nhiều, không chỉ với bộ óc, nhưng cũng với tất cả các cảm quan. Nhận thức như vậy thì không phải là cái nhận thức phần mảnh của thông minh, cũng không là chuyện của cảm xúc. Nó có thể được gọi là nhận thức toàn diện, và nó là một phần của thiền định. Nhận thức mà không có người nhận thức trong thiền định là giao tiếp với đỉnh cao và chiều sâu của cái vô tận. Nhận thức này thì hoàn toàn khác biệt với việc nhìn một vật mà không có người nhìn, bởi vì trong nhận thức của thiền định, thì không có vật (để nhìn) và do vậy không có kinh nghiệm. Tuy nhiên, thiền định có thể đến khi mắt mở và bạn bị vây quanh bởi đủ thứ các vật. Nhưng rồi thì những vật này không quan trọng chút nào cả. Bạn nhìn thấy chúng nhưng không có tiến trình của nhận diện, có nghĩa là không có kinh nghiệm.
Thiền định như thế có ý nghĩa gì? Không có ý nghĩa nào; không có tiện ích nào. Nhưng trong thiền định đó, có một vận động của niềm an lạc hân hoan lớn lao mà không có thể bị lẫn lộn với niềm vui. Đó là niềm an lạc hân hoan sẽ cho cái phẩm chất ngây thơ hồn nhiên vào mắt, vào tim và vào óc. Không nhìn đời sống như cái gì hoàn toàn mới, thì đó là thói quen, là chán ngán, là một việc vô nghĩa. Do vậy thiền định là của cái quan trọng lớn nhất. Nó mở cửa tới cái không có thể tính toán, tới cái không có thể đo lường.
***
Thiền định thì không bao giờ trong thời gian; thời gian không có thể đưa tới chuyển hóa; nó có thể mang tới thay đổi, điều này cần được thay đổi lần nữa, y hệt như mọi sự đổi mới. Thiền định từ trong thời gian thì luôn luôn ràng buộc, không có tự do nào trong nó, và khi không có tự do thì sẽ luôn luôn có lựa chọn và mâu thuẫn.
***
Chúng ta phải thay đổi cơ cấu của xã hội chúng ta, cái bất công của nó, cái đạo đức kinh hoàng của nó, cái chia chẻ nó đã tạo ra giữa người và người, những cuộc chiến tranh, cái hoàn toàn thiếu vắng tình yêu và từ bi đang hủy diệt thế giới. Nếu thiền định của bạn chỉ là một chuyện riêng tư, một việc mà bạn thưởng thức riêng tư, thì nó không phải là thiền định. Thiền định ám chỉ tới cái thay đổi triệt để hoàn toàn của tâm và trái tim. Nó chỉ có thể hiện hữu khi có cái cảm quan phi thường của sự vắng lặng trong tâm, và riêng nó mang tới cái tâm tôn giáo. Tâm đó biết cái gì là thiêng liêng.
***
Vẻ đẹp có nghĩa là sự nhạy cảm—một thân xác nhạy cảm, có nghĩa là việc ăn uống đúng đắn, một cách sống đúng đắn. Rồi thì tâm sẽ trở thành vắng lặng, một cách tất yếu và tự nhiên và ngoài cả nhận biết. Bạn không thể làm cho tâm vắng lặng, bởi vì bạn là người gây rối, chính bạn bị quấy nhiễu, lo lắng, rối loạn—làm sao bạn có thể làm cho tâm vắng lặng? Nhưng khi bạn hiểu sự vắng lặng là gì, hiểu nỗi buồn là gì, và nỗi buồn có thể có bao giờ chấm dứt hay không, và khi bạn hiểu được niềm vui, rồi thì từ đó sẽ có một tâm vắng lặng dị thường; bạn không phải tìm kiếm nó. Bạn phải bắt đầu ở lúc khởi đầu, và bước đầu tiên cũng chính là bước cuối cùng, và đây là thiền định.
***
Thiền định là ngây thơ đối với thời gian.
***
Thiền định không phải là một lối thoát ra khỏi thế giới; nó không phải là một hoạt động tự cô lập, vây bủa, nhưng đúng ra là hiểu biết về thế giới và các cách vận hành của nó. Thế giới có rất ít để cống hiến những gì ngoài thực phẩm, áo quần và nơi cư trú, và niềm vui với những nỗi buồn lớn lao của nó.
Thiền định là lang thang ra khỏi thế giới này; bạn phải là một người ngoại cuộc hoàn toàn. Lúc đó thế giới có một ý nghĩa, và vẻ đẹp của những cõi trời và quả đất thì thường tại. Lúc đó tình yêu không phải là niềm vui. Từ đây, tất cả các hành động bắt đầu nhưng đó không phải là kết quả của căng thẳng, của mâu thuẫn, của cuộc tìm kiếm tự hoàn thành chính mình, hay của hình ảnh quyền lực.
***
Nếu bạn cố tâm chọn một thái độ, một tư thế, với mục đích để thiền định, thì nó sẽ trở thành một trò chơi, một đồ chơi của tâm. Nếu bạn quyết định giải phóng mình ra khỏi sự hỗn loạn và đau khổ của đời sống, thì nó trở thành một kinh nghiệm của tưởng tượng—và nó không phải là thiền định. Tâm ý thức hay tâm vô thức không có dính gì trong đó; chúng không ngay cả biết tới mức độ và vẻ đẹp của thiền định—nếu chúng biết, thì bạn chỉ có thể nên đi mua một cuốn tiểu thuyết lãng mạn.
Trong cái chăm chú toàn diện của thiền định, không có sự biết, không có sự nhận biết, không cả hồi nhớ về một điều đã từng xảy ra. Thời gian và các niệm đã hoàn toàn chấm dứt, vì chúng là trung tâm nơi giới hạn chính cái thị kiến của riêng nó.
Chỉ trong khoảnh khắc, tư tưởng biến dạng đi (niệm diệt), và nỗ lực kinh nghiệm và hồi nhớ về nó chỉ còn là danh tự. Và danh tự thì không bao giờ là cái thực thể. Vào cái khoảng khắc đó—một điều không thuộc về thời gian—cái tối hậu là cái tức thì, nhưng cái tối hậu đó không có biểu tượng, thì không thuộc về người nào, không thuộc về thượng đế nào.
***
Thiền định là tìm xem có thể có hay không một cánh đồng, nơi chưa bị ô nhiễm bởi những điều đã biết.
***
Thiền định là sự bùng nở của hiểu biết. Hiểu biết thì không nằm trong biên giới của thời gian; thời gian không bao giờ mang tới hiểu biết. Hiểu biết không phải là một tiến trình tiệm tiến để được gom góp từng chút một, với cẩn trọng và kiên nhẫn. Hiểu biết là cái bây giờ, hoặc không bao giờ; nó là một tia chớp hủy diệt, không phải là một chuyện thuần hóa; nó là sự tan vỡ mà bạn sợ hãi, và do vậy bạn tránh né nó, một cách ý thức hay không. Hiểu biết có thể thay đổi cuộc đời của bạn, cách suy nghĩ và cách hành động; nó có thể dễ chịu hay là không, nhưng hiểu biết là một nỗi nguy hiểm cho tất cả mọi quan hệ. Nhưng không có hiểu biết, thì nỗi buồn cũng tiếp diễn. Nỗi buồn chấm dứt chỉ trong tự hiểu biết, cái nhận biết ra từng các niệm và cảm xúc, từng vận chuyển của ý thức và đó là cái đang bị giấu kín. Thiền định là hiểu biết về ý thức, cái bị giấu kín và cái mở rộng, và về cái chuyển động đang nằm vượt xa tất cả những tư tưởng và cảm xúc.
***
Đó là một trong những buổi sáng đáng yêu trước đó chưa bao giờ có. Mặt trời vừa lên và bạn thấy nó giữa cây thông và cây khuynh diệp. Nó nằm trên các ao hồ, sắc vàng, chói sáng—ánh sáng như thế chỉ có ở những nơi núi đồi và biển cả. Đó là một buổi sáng trong suốt, không một hơi gió, đầy những ánh sáng kỳ lạ đó, mà bạn thấy không chỉ bằng mắt của bạn nhưng là với cả bằng tim. Và khi bạn thấy nó, các tầng trời thì rất gần với mặt đất, và bạn tan mất trong vẻ đẹp. Bạn biết, bạn không bao giờ nên thiền định nơi công cộng, hay là với người khác, hay là tập thể trong một nhóm: bạn chỉ nên thiền định trong cô đơn, trong vắng lặng của đêm hay là trong buổi sáng sớm im vắng. Khi bạn thiền định trong cô đơn, nó phải là cô đơn. Bạn phải hoàn toàn đơn độc, không theo một hệ thống, không theo một phương pháp, không lập đi lập lại các chữ, không theo đuổi một niệm nào, và không uốn nắn một tư tưởng theo khát vọng của bạn.
Sự cô đơn này đến, khi tâm xa lìa tất cả mọi tư tưởng. Khi có ảnh hưởng của khát vọng hay của những chuyện mà tâm đang theo đuổi, hoặc là trong tương lai hay quá khứ, thì không có sự cô đơn. Chỉ ở trong cái vô lượng của hiện tại, sự cô đơn này mới đến. Và rồi, trong bí mật vắng lặng, trong đó tất cả mọi truyền thông đã ngưng bặt, trong đó không có người quan sát với nỗi lo lắng của anh ta, với các vấn đề và khẩu vị ngốc nghếch của anh ta—chỉ tới lúc đó, trong cái cô đơn vắng lặng đó, thiền định trở thành một cái gì không có thể mô tả bằng lời. Lúc đó thiền định trở thành một chuyển động ngoại thân.
Tôi không biết rằng bạn có từng bao giờ thiền định, rằng bạn có từng bao giờ đơn độc, chính riêng bạn, xa hết tất cả mọi thứ, xa mọi người, xa mọi tư tưởng và săn đuổi, rằng bạn có từng bao giờ hoàn toàn đơn độc, không phải là cô lập, không phải là rút lui vào trong một thị kiến hay giấc mơ huyễn ảo nào, nhưng là xa hẳn, đến nỗi trong chính bạn, không có gì có thể nhận biết được, không có gì mà bạn chạm xúc bằng tư tưởng hay cảm xúc, xa đến nỗi rằng trong đơn độc đầy đủ này, cái vắng lặng chân thực trở thành cánh hoa duy nhất, thành ánh sáng duy nhất, và thành cái phẩm chất phi thời gian không có thể đo lường bởi tư tưởng. Chỉ trong thiền định như thế, tình yêu mới hiện hữu. Đừng bận tâm bày tỏ nó: nó sẽ tự bày tỏ chính nó. Đừng sử dụng nó. Đừng cố gắng đưa nó vào hành động: nó sẽ hành động, và khi nó hành động, trong hành động đó sẽ không có ân hận, không có mâu thuẫn, không có cái gì là đau khổ và lao động cực nhọc của con người.
Do vậy, hãy thiền định đơn độc. Hãy lạc mất đi. Và đừng gắng nhớ nơi bạn từng cư trú. Nếu bạn gắng nhớ nó, rồi thì nó sẽ là cái gì đã chết. Và nếu bạn nắm giữ ký ức về nó, thì bạn sẽ không bao giờ đơn độc lần nữa. Do vậy, hãy thiền định trong cái đơn độc vô tận đó, trong cái vẻ đẹp của tình yêu đó, trong cái ngây thơ hồn nhiên đó, trong cái mới mẻ—lúc đó sẽ có niềm an lạc hân hoan thường tại.
Bầu trời thì rất là xanh, cái màu xanh của sau cơn mưa, và những cơn mưa này đã đến sau nhiều tháng nắng hạn. Sau mưa, bầu trời được rửa sạch đi, và các ngọn đồi đang hoan vui, và mặt đất thì đứng lặng. Và từng chiếc lá có ánh sáng mặt trời trên nó, và cảm giác về quả đất thì rất gần với bạn. Do vậy, hãy thiền định trong những an nghỉ rất là bí mật của tim và óc bạn, nơi bạn chưa bao giờ trước đó đặt chân.
***
Thiền định không phải là một phương tiện để đến một cứu cánh; không có điểm để đến, cũng không có việc đi đến; nó là một chuyển động trong thời gian, và ở ngoài thời gian. Tất cả hệ thống, phương pháp, buộc tư tưởng vào thời gian, nhưng sự nhận biết không lựa chọn về từng tư tưởng và cảm xúc, sự hiểu biết các động cơ của chúng, các vận hành của chúng, cho phép chúng bủng nở, là khởi đầu của thiền định. Khi tư tưởng và cảm xúc bùng nở và biến mất, thiền định là chuyển động vượt ngoài thời gian. Trong chuyển động này, có niềm hân hoan cảm khoái; trong cái tánh không toàn triệt, có tình yêu, và với tình yêu, có hủy diệt và sáng tạo.
***
Thiền định là ánh sáng đó ở trong tâm, nó chiếu sáng con đường cho hành động; và không có ánh sáng đó, thì không có tình yêu.
***
Thiền định không bao giờ là kinh cầu. Kinh cầu, lời xin ân sủng, được sinh khởi từ lòng tự xót thương. Bạn cầu nguyện khi bạn trong cảnh khó khăn, khi có nỗi buồn; nhưng khi có hạnh phúc, niềm vui, thì không có van xin ân sủng. Lòng tự xót thương, đã gắn quá sâu trong con người, là cội rễ của ngăn cách. Cái nào mà là ngăn cách, hay là nghĩ chính nó là ngăn cách, có từng tìm kiếm căn cước mình với cái gì đó mà nó không ngăn cách, thì chỉ mang thêm ngăn cách và đau đớn. Từ hỗn loạn này, bạn than khóc tới các tầng trời; hay là tới người chồng của bạn, hay là tới một vài vị thần trong tâm. Tiếng than khóc này có thể tìm ra một câu trả lời, nhưng câu trả lời chỉ là tiếng vọng của lòng tự xót thương, trong sự ngăn cách của nó.
Việc lập lại những lời, những kinh cầu, là tự thôi miên, tự khép kín và hủy diệt. Sự cô lập của tư tưởng thì luôn luôn trong phạm vi của cái đã biết, và câu trả lời cho kinh cầu là đáp ứng của cái đã biết.
Thiền định thì xa hẳn điều này. Trong cánh đồng này, tư tưởng không có thể vào; không có ngăn cách, và do vậy không có căn cước. Thiền định thì mở ngõ; sự bí mật không có chỗ trong nó. Mọi thứ được phơi bày ra, rõ ràng; lúc đó, vẻ đẹp của tình yêu hiện hữu.
***
Trong buổi sáng nay, phẩm chất của thiền định là cái không-gì-hết, cái trống vắng hoàn toàn của thời gian và không gian. Đó là một sự kiện, và không phải là một ý nghĩ hay một nghịch lý của các giả thuyết trái nghịch nhau. Bạn tìm ra cái tánh không kỳ lạ, khi cội rễ của tất cả mọi vấn đề tan biến đi. Cội rễ này là tư tưởng, cái tư tưởng chia chẻ và nắm giữ. Trong thiền định, tâm thực sự trở thành cái trống vắng mọi quá khứ, mặc dù nó có thể sử dụng quá khứ như là niệm. Trạng thái này đi xuyên suốt cả ngày, và vào đêm, giấc ngủ là cái trống vắng của hôm qua, và do vậy, tâm xúc chạm tới cái không còn thời gian.
***
Thiền định không phải là sự kiểm soát đơn giản thân thể và niệm tưởng, cũng không phải là một hệ thống pháp thở vào thở ra. Thân thể phải vắng lặng, mạnh khỏe và không cưỡng ép; sự tinh tế của cảm xúc phải được mài bén và được nuôi dưỡng; và tâm với tất cả những chao động, rối loạn và truy lùng của nó phải chấm dứt. Nó không phải là một sinh vật hữu cơ mà bạn phải bắt đầu với, nhưng đúng ra là tâm với các ý kiến, thành kiến và sở thích phải được nhìn ra. Khi tâm mạnh khỏe, sinh động và mạnh mẽ, thì cảm xúc sẽ được nâng cao và sẽ cực kỳ tinh tế. Lúc đó, thân xác, với sự thông minh tự nhiên riêng của nó, điều mà chưa bị làm hư hỏng bởi thói quen và sở thích, sẽ hoạt động như nó nên là.
Do vậy, bạn phải khởi đầu với tâm, chứ không phải với thân, cái tâm là các niệm và những biến đổi của các biểu hiện của niệm. Sự tập trung đơn giản làm cho niệm hẹp đi, hạn chế đi và dễ vỡ, nhưng sự tập trung đến như một việc tự nhiên khi có sự nhận biết về các lối đi của niệm. Sự nhận biết này không đến từ người suy nghĩ, người chọn lựa và gạt bỏ, người nắm giữ và phủ nhận. Sự nhận biết này thì không có chọn lựa và hiện diện vừa ở ngoài vừa ở trong; nó là dòng lưu chảy giữa cả hai, do vậy sự ngăn cách giữa cái ngoài và cái trong sẽ chấm dứt.
Niệm hủy diệt cảm xúc—cảm xúc là tình yêu. Niện có thể cung ứng chỉ niềm vui, và trong việc săn đuổi niềm vui, tình yêu bị gạt ra một bên. Niềm vui của ăn, của uống, có sự liên tục của nó trong niệm, và chỉ để kiểm soát hay trấn áp niềm vui này, cái mà niệm mang tới thì không có ý nghĩa; nó chỉ tạo ra những hình thức dị biệt của mâu thuẫn và xung đột.
Niệm, đó là chuyện đáng nói tới, không có thể tìm kiếm cái vượt ngoài thời gian, bởi vì niệm chính là ký ức, và kinh nghiệm, trong đó ký ức thì cũng chết hệt như chiếc lá của mùa thu vừa qua.
Nhận biết tất cả những điều này sẽ đưa tới sự chăm chú, cái không phải là sản phẩm của cái phi chăm chú. Nó là cái phi chăm chú mà đã định hình ra những thói quen vui khoái của thân thể và làm tan yếu đi cái dày đặc của cảm xúc. Sự không chăm chú không có thể được biến thành sự chăm chú. Nhận biết về sự không chăm chú mới là sự chăm chú.
Nhìn toàn bộ cái tiến trình phức tạp này chính là thiền định, từ riêng đó sẽ hiện ra cái trật tự trong hỗn loạn này. Trật tự này thì có tính tuyệt đối như là trật tự trong toán học, và từ đó sẽ có hành động—cái hành động tức khắc. Trật tự không phải là thu xếp, vẽ kiểu và từng phần: những cái này đến sau nó. Trật tự đến từ một tâm không bị làm đầy bởi các niệm. Khi niệm vắng lặng, sẽ có tánh không, cái đó là trật tự.
***
Nó thực sự là một con sông đẹp, rộng, sâu, với nhiều thành phố hai bên bờ, trôi tự do không bận tâm và chưa bao giờ bỏ rơi chính nó. Toàn bộ đời sống thì ở đó trên các bờ, các cánh đồng xanh, rừng, những ngôi nhà đơn độc, sự chết, tình yêu và hủy diệt; có những chiếc cầu rộng, dài trên nó, đẹp tuyệt. Những con sông và suối khác nối vào nó, nhưng nó là mẹ của tất cả các dòng sông, những con sông nhỏ và những con sông lớn. Nó thì luôn luôn đầy, luôn luôn tự trong sạch chính nó, và vào đêm thì là một ân sủng khi nhìn ngắm nó, với những sắc màu sậm dần trong mây và dòng nước vàng. Nhưng dòng nước nhỏ xa như vậy, giữa những tảng đá khổng lồ, đá tảng mà như dường tập trung vào việc sản xuất ra nó, là khởi đầu của đời sống, và sự chấm dứt của nó thì vượt quá các bến bờ và các đại dương.
Thiền định y hệt như dòng sông đó, chỉ là nó không có khởi đầu và không có chấm dứt; nó khởi đầu và cái chấm dứt của nó là cái khởi đầu của nó. Không có nguyên nhân nào, và chuyển động của nó là sự làm mới của nó. Nó thì luôn luôn mới, nó không bao giờ thu nhặt để trở thành già; nó không bao giờ bị hư hoại bởi vì nó không có cội rễ trong thời gian. Thật tốt để thiền định, không cưỡng ép nó, không làm bất kỳ nỗ lực nào, khởi đầu với một dòng nước và trôi đi vượt quá thời gian và không gian, nơi mà tư tưởng và cảm xúc không thể vào, nơi kinh nghiệm không hiện hữu.
***
Thiền định là việc buông thả ra hoàn toàn các năng lực.
***
Trong không gian mà tư tưởng tạo ra quanh nó thì không có tình yêu. Không gian này chia cách người với người, và trong nó là tất cả sự trở thành, cuộc chiến của đời sống, nỗi đau đớn và sợ hãi. Thiền định là việc chấm dứt cái không gian này, việc chấm dứt của cái “tôi.” Lúc đó, quan hệ có một ý nghĩa khác hoàn toàn, bởi vì trong không gian đó, cái không gian mà không được tạo ra từ tư tưởng, thì người khác không hiện hữu, bởi vì bạn không hiện hữu.
Lúc đó, thiền định không phải là việc truy tìm một vài thị kiến, bất kể đã được phong thánh thế nào bởi truyền thống. Thay vậy, nó là cái không gian vô tận, nơi mà tư tưởng không có thể vào. Đối với chúng ta, cái không gian nhỏ dựng lập bởi tư tưởng quanh chính nó, cái gọi là cái “tôi,” thì cực kỳ quan trọng, bởi vì đây là tất cả cái gì mà tâm biết, căn cước hóa chính nó với mọi thứ trong không gian đó. Và nỗi sợ hãi về việc không được sinh ra trong không gian đó. Nhưng trong thiền định, khi điều này được hiểu ra, tâm có thể vào trong một chiều kích không gian, nơi mà hành động là không hành động.
Chúng ta không biết tình yêu là gì, bởi vì trong không gian dựng lập bởi tư tưởng quanh chính nó như là cái “tôi,” tình yêu là sự tranh chấp giữa cái “tôi” và cái “không-tôi.” Tranh chấp này, sự tra tấn này, không phải là tình yêu.
Tư tưởng là sự chối bỏ tình yêu, và nó không thể vào trong không gian đó, nơi mà cái “tôi” không hiện hữu. Trong không gian đó, là ân sủng, cái mà con người tìm kiếm và không có thể thấy. Hắn tìm kiếm nó trong các biên giới của tư tưởng, và tư tưởng hủy diệt cái hân hoan sảng khoái của ân sủng này.
***
Niềm tin thì không cần thiết, cũng y hệt như các lý tưởng. Cả hai đều làm tan vỡ cái năng lực cần để theo dõi cái khai mở của sự kiện, cái “đang là.” Niềm tin và lý tưởng là chạy trốn ra khỏi sự kiện, và trong chạy trốn thì không đưa tới chấm dứt buồn phiền. Việc chấm dứt buồn phiền là hành động hiểu biết sự kiện trong từng khoảnh khắc. Không có hệ thống nào hay phương pháp nào đưa tới hiểu biết; chỉ có sự nhận biết không lựa chọn về một sự kiện sẽ làm được điều đó. Thiền định theo một hệ thống là sự lẩn tránh cái sự kiện về cái bạn đang là; thật là quan trọng hơn để hiểu biết chính bạn, cái thay đổi thường trực của các sự kiện về bạn, hơn là thiền định để tìm vàng hay có thị kiến, có cảm giác và có các hình thức giải trí khác.
***
Thiền định vào giờ đó là sự tự do, và nó y hệt như vào trong một thế giới chưa biết của vẻ đẹp và vắng lặng; nó là một thế giới không có hình ảnh, biểu tượng hay chữ lời, không một gợn sóng của ký ức. Tình yêu là sự chết của từng phút một, và từng cái chết là việc làm mới lại tình yêu. Nó không phải là sự gắn bó, nó không có cội rễ; nó nở hoa mà không có nguyên nhân, và nó là một ngọn lửa đã cháy xa khỏi các biên giới, xa khỏi các hàng rào được xây kỹ lưỡng của ý thức. Nó là vẻ đẹp vượt ngoài niệm tưởng và cảm xúc; nó không thể mô tả lại trên khung vải, trong ngôn ngữ hay là trên mặt đá. Thiền định là nỗi hân hoan, và với nó ân sủng sẽ đến.
***
Tình yêu bùng nở chính là thiền định.
***
Trong thiền định, bạn phải tìm ra xem là có hay không một điểm chấm dứt của kiến thức, và do đây là tự do xa lìa khỏi cái đã biết.
***
Trời mưa nặng nề trong cả đêm và ngày, và dưới khe suối dòng nước vấy bùn chảy ra biển, làm nên màu nâu sô cô la. Khi bạn đi bộ trên bờ biển, sóng thì lớn và chúng vỡ tan ra với những lượng cong và sức mạnh lớn lao. Bạn đi bộ ngược gió, và đột nhiên bạn cảm thấy không có gì giữa bạn và bầu trời, và sự mở rộng này là cõi trời. Để mong manh, hoàn toàn khai mở—với các ngọn đồi, với biển và với con người—là cái cốt tủy chân thực của thiền định.
Để không có chống kháng, để không có bờ cản nội tâm với bất kỳ những gì, để thực sự tự do, một cách hoàn toàn, xa lìa khỏi tất cả những đòi hỏi, xung động và thúc giục nhỏ nhặt, với tất cả những giả hình và tranh chấp nhỏ của chúng, là đi bộ trong đời sống với các cánh tay mở rộng. Và đêm đó, đi bộ nơi đó trên mặt cát ướt đó, với các con chim hải âu quanh bạn, bạn cảm thấy cảm giác dị thường của tự do mở rộng và vẻ đẹp lớn lao của tình yêu mà chúng không ở trong bạn hay ở ngoài bạn—nhưng ở mọi nơi.
Chúng ta không nhận thức được quan trọng dường nào việc tự do xa lìa những niềm vui linh tinh và những nỗi đau của chúng, do vậy tâm nên ở nơi đơn độc. Tâm khi hoàn toàn đơn độc mới khai mở được. Bạn cảm thấy tất cả điều này một cách đột nhiên, như một ngọn lớn quét trên mặt đất và xuyên qua bạn. Đó bạn là—trần trụi mọi thứ, trống không—và do vậy hoàn toàn mở rộng. Vẻ đẹp của nó thì không ở trong ngôn ngữ hay trong cảm xúc, nhưng như dường ở khắp mọi nơi—quanh bạn, trong bạn, trên sông hồ và trên các ngọn đồi. Thiền định là thế.
***
Thiền định không phải là sự tập trung, cái tập trung là việc loại trừ ra, là sự cắt rời đi, là một đối kháng và do vậy là một tranh chấp. Một tâm thiền định có thể tập trung, cái tập trung mà nó không phải là một loại trừ, một đối kháng, nhưng một tâm được tập trung thì không có thể thiền định.
***
Trong sự hiểu biết của thiền định, sẽ có tình yêu, và tình yêu không phải là sản phẩm của các hệ thống, của các thói quen, của việc chạy theo một phương pháp. Tình yêu không có thể được bồi đắp bởi tư tưởng. Tình yêu có thể hiện ra khi có vắng lặng hoàn toàn, một vắng lặng mà trong đó người thiền định hoàn toàn vắng mặt; và tâm chỉ có thể vắng lặng khi nó hiểu biết chuyển động riêng của nó trong niệm và cảm xúc. Để hiểu chuyển động này của niệm và cảm xúc, sẽ không có thể bất kỳ một kết án quy lỗi nào trong việc quan sát nó. Để quan sát trong cách như vậy là một kỷ luật, và loại kỷ luật đó thì lưu chảy, tự do, không phải loại kỷ luật của sự vâng phục.
***
Buổi sáng đó, biển trông như một mặt hồ hay là một con sông khổng lồ—không một gợn sóng, và bình lặng đến nỗi bạn có thể thấy phản chiếu của các vì sao vào lúc rạng sáng. Bình minh chưa tới, nên các vì sao, các phản chiếu của bờ đá và ánh đèn phố xa kia đều hiện trên mặt nước. Và khi mặt trời đến nơi chân trời trong bầu trời không mây, nó làm thành một con đường vàng, và thật là dị thường khi thấy rằng ánh sáng của California bao đầy quả đất và từng chiếc lá và từng cọng cỏ.
Khi bạn nhìn ngắm, một niềm vắng lặng lớn đến vào trong bạn. Bộ não tự nó tĩnh lặng, không bất kỳ một phản ứng nào, không một vận động, và kỳ lạ để cảm được cái vắng lặng vô lượng. “Cảm” không phải là ngôn ngữ. Phẩm chất của cái vắng lặng đó, cái ngưng đọng đó thì không được cảm bởi bộ não; nó vượt qua cả bộ não. Não bộ có thể nhận thức, công thức hóa hay vẽ kiểu cho tương lai, nhưng cái tĩnh lặng này vượt ra ngoài phạm vi của nó, vượt ra mọi tưởng tượng, vượt ra mọi thèm khát. Bạn tĩnh lặng đến nỗi thân xác bạn trở thành một phần hoàn toàn của mặt đất, một phần của tất cả những gì tĩnh lặng.
Và khi ngọn gió nhẹ đến từ các ngọn đồi, lay động lá cây, sự tĩnh lặng này, cái phẩm chất dị thường của vắng lặng này, thì không bị quấy động. Ngôi nhà nằm giữa các ngọn đồi và biển, nhìn ra biển. Và khi bạn nhìn ngắm biển, rất mực tĩnh lặng như vậy, bạn thực sự trở thành một phần của tất cả mọi thứ. Bạn là tất cả. Bạn là ánh sáng, và vẻ đẹp của tình yêu. Một lần nữa, để nói “bạn là một phần của tất cả” thì cũng sai: chữ “bạn” thì không thích hợp bởi vì bạn thực sự không ở đó. Bạn không hiện hữu. Chỉ có cái tĩnh lặng đó, cái vẻ đẹp, cái nghĩa dị thường của tình yêu.
***
Những chữ “bạn” và “tôi” ngăn cách sự vật. Sự chia chẻ trong cái tĩnh lặng và vắng lặng kỳ lạ này không hiện hữu. Và khi bạn nhìn ra cửa sổ, không gian và thời gian như dường đã tới điểm chấm dứt, và không gian chia cắt thì không có một thực tính nào. Chiếc lá đó và cây khuynh diệp đó và mặt nước chiếu sáng xanh thì không dị biệt ngăn cách gì với bạn.
Thiền định thực sự rất đơn giản. Chúng ta làm phức tạp nó ra. Chúng ta thêu dệt lên một màng lưới ý tưởng quanh nó—nó là những gì và nó không là những gì. Nhưng nó thì không là những thứ như vậy. Bởi vì nó rất là đơn giản, nó trốn thoát chúng ta, bởi vì tâm chúng ta phức tạp như thế, dựa vào thời gian và bị thời gian bào mòn như thế. Và tâm này chỉ định ra hoạt động của con tim, và rồi rắc rối khởi đầu. Nhưng thiền định đến một cách tự nhiên, với cái thoải mái dị thường, khi bạn đi bộ trên cát hay nhìn ra cửa sổ hay nhìn những ngọn đồi tuyệt đẹp bị đốt cháy bởi nắng mùa hè vừa qua. Tại sao chúng ta là những con người bị tra tấn như vậy, với lệ trong mắt và tiếng cười giả tạo trên môi? Nếu bạn có thể đi bộ đơn độc giữa những ngọn đồi đó hay trong rừng hay dọc theo những đụn cát trắng dài, trong đơn độc đó bạn sẽ biết thiền định là gì.
Cái hân hoan an lạc của đơn độc đến khi bạn không sợ hiện hữu đơn độc—không còn lệ thuộc vào thế giới hay gắn bó vào bất kỳ những gì. Lúc đó, như bình minh kia đến buổi sáng nay, nó đến một cách lặng lẽ, và làm thành một đường vàng trong cái tĩnh lặng rất mực, cái tĩnh lặng ngay từ lúc khởi đầu, cái là cái bây giờ, và cái sẽ hiện hữu luôn luôn ở đó.
***
Thiền định là một chuển động trong cái chưa biết và thuộc về cái chưa biết. Bạn không ở đó, chỉ duy cái chuyển động. Bạn thì quá nhỏ nhặt hay là quá lớn lao cho chuyển động này. Nó không có gì phía sau nó hay phía trước nó. Nó là cái năng lực đó mà tâm niệm không thể chạm xúc được. Tư tưởng là cái hư hỏng, bởi vì nó là sản phẩm của hôm qua; nó bị bắt trong cái lưới của hàng thế kỷ và do vậy nó hỗn loạn, không minh bạch. Hãy làm những gì bạn sẽ làm, cái đã biết không có thể vươn tới được cái chưa biết. Thiền định là sự hấp hối của cái đã biết.
***
Thiền định của một tâm đã hoàn toàn vắng lặng là ân sủng mà con người từng tìm kiếm. Trong vắng lặng này, từng phẩm chất của vắng lặng hiện hữu.
***
Một khi bạn đã đặt nền tảng cho đức hạnh, cái mà là trật tự trong quan hệ, thì sẽ hiện ra phẩm chất này của tình yêu và của sự đang chết, cái mà là toàn bộ đời sống; rồi thì tâm trở thành vắng lặng dị thường, vắng lặng một cách tự nhiên, không phải bị làm cho thành vắng lặng xuyên qua những trấn áp, kỷ luật và kiểm soát, và cái vắng lặng đó thì phong phú vô lượng.
Vượt qua đó, không có ngôn ngữ, không có diễn tả nào có thể khả dĩ. Lúc đó tâm không khảo sát cái tuyệt đối, bởi vì nó không có nhu cầu nào nữa, bởi vì trong cái vắng lặng đó thì có cái mà nó là. Và toàn bộ cái này là ân sủng của thiền định.
***
Sau những trận mưa, những ngọn đồi đẹp dị thường. Chúng vẫn còn nâu với nắng hè, và chẳng bao lâu tất cả những thứ xanh tươi sẽ hiện ra. Trời đã mưa quá nặng nề, và vẻ đẹp của những ngọn đồi đó thì không có thể mô tả được. Bầu trời vẫn còn mây và trong không khí có mùi dâu, bạc hà và khuynh diệp. Thật tuyệt đẹp để hiện hữu giữa chúng, và một niềm vắng lặng kỳ lạ chiếm lấy bạn. Không như biển nằm xa dưới kia, những ngọn đồi thì hoàn toàn tĩnh lặng. Khi bạn nhìn ngắm và dòm chung quanh bạn, bạn đã rời mọi thứ dưới kia trong ngôi nhà nhỏ—quần áo bạn, tâm niệm bạn và những cách sống kỳ dị của đời sống. Nơi đây bạn đang đi rất nhẹ nhàng, không một tâm niệm nào, không bất kỳ gánh nặng nào, và với một cảm xúc về vẻ đẹp và trống không hoàn toàn. Những bụi rậm xanh nhỏ chẳng bao lâu sẽ xanh thêm, và trong vài tuần chúng sẽ có mùi hương mạnh mẽ hơn. Những con chim cút đang gọi và vài con trong chúng bay qua. Không biết tới nó, tâm ở trong một trạng thái thiền định trong đó tình yêu đang nở hoa. Sau hết, chỉ ở trong mảnh đất thiền định hoa này mới có thể nở ra. Nó thì hoàn toàn tuyệt diệu, và một cách kỳ lạ, tất cả trong đêm thúc giục bạn, và khi bạn tỉnh dậy, lâu trước khi mặt trời lên, nó vẫn còn ở đó trong tim bạn với niềm hân hoan dị thường, không vì bất cứ lý do nào cả. Nó ở đó, không nguyên nhân, và say sưa. Nó sẽ hiện hữu ở đó suốt cả ngày mà không cần bạn tìm tòi hay mời gọi nó ở lại với bạn.
***
Nơi đó trên mái hiên thơm, khi bình minh vẫn còn thật xa và cây cối vẫn còn tĩnh lặng, cái gì là cốt tủy thì là vẻ đẹp. Nhưng cái cốt tủy thì không có thể kinh nghiệm được; kinh nghiệm phải chết đi, bởi vì kinh nghiệm chỉ làm mạnh thêm cái đã biết. Cái đã biết thì không bao giờ là cái cốt tủy (tánh).
Thiền định không bao giờ là kinh nghiệm xa hơn; nó không chỉ là việc chấm dứt kinh nghiệm, cái kinh nghiệm là đáp ứng của thách thức, lớn hay nhỏ, nhưng nó là việc mở cửa cho yếu tánh, mở cửa cho một lò sưởi mà ngọn lửa của nó đốt cháy hoàn toàn, không để lại bất kỳ tro bụi nào; không có chút gì còn lại. Chúng ta là những cái còn lại, những người nói vâng của nhiều ngàn ngày hôm qua, một chuỗi liên tục của trí nhớ, của chọn lựa và tuyệt vọng. Cái tôi lớn và cái tôi nhỏ là khuôn mẫu của hiện hữu, và hiện hữu là tư tưởng, và tư tưởng là hiện hữu, với nỗi buồn không bao giờ chấm dứt.
Trong ngọn lửa của thiền định, tư tưởng chấm dứt và cùng với nó là cảm xúc, bởi vì không có cái nào là tình yêu. Không tình yêu, không có yếu tánh; không có nó, chỉ có tro bụi trên đó dựa vào hiện hữu của chúng ta. Từ tánh không, tình yêu hiện hữu.
***
Thiền định là hành động của vắng lặng.
***
Thiền định không có khởi đầu và không có điểm chấm dứt, trong nó không có thành đạt và không có thất bại, không có gom góp và không có loại bỏ; nó là một chuyển động không có tận cùng và do vậy, vượt ra và ở trên thời gian và không gian. Kinh nghiệm nó tức là chối bỏ nó, bởi vì người kinh nghiệm bị buộc vào thời gian và không gian, trí nhớ và nhận thức. Nền tảng của thiền định chân thực là cái nhận biết thụ động, cái tự do toàn diện ra khỏi thẩm quyền và khát vọng, ghen tị và sợ hãi. Thiền định không có ý nghĩa, không bất kỳ ý nghĩa nào hết mà không có tự do này, không có tự biết; khi còn có lựa chọn thì còn chưa tự biết. Lựa chọn đưa tới tranh chấp, cái ngăn cản sự hiểu biết về cái đang là. Lang thang vào một số huyễn tưởng, vào một số niềm tin lãng mạn, thì không là thiền định; não bộ phải tự gột rửa tất cả huyền thoại, ảo vọng và an toàn, và đối diện cái thực tại của sai trái của nó. Không có loạn tâm; mọi thứ thì trong chuyển động của thiền định. Cánh hoa là hình thức, mùi hương, màu sắc và vẻ đẹp đó là cái toàn bộ của nó. Xé nó ra từng mảnh, trong thực tại hay bằng ngôn ngữ, rồi thì không còn là hoa, chỉ là tưởng nhớ về cái đã là, cái mà không bao giờ là hoa. Thiền định là toàn cánh hoa trong cái đang sống động, đang tàn đi, và vẻ đẹp của nó.
***
Thiền định là tự do xa lìa mọi niệm, và là một chuyển động trong cái hân hoan an lạc của sự thật.
***
Trời vắng lặng lúc sáng sớm, và không một cánh chim hay chiếc lá nào quấy động. Thiền định, cái khởi đầu từ những chiều sâu không biết, và tiếp tục với độ dầy đặc thêm, và quét đi, gọt bộ óc vào trong cái vắng lặng hoàn toàn, đào ra những chiều sâu tâm niệm, bứng nhổ gốc rễ cảm xúc, làm trống vắng não bộ của cái đã biết và cái nông cạn của nó. Nó là một cuộc giải phẫu mà không có người điều hành, không có bác sĩ giải phẫu; nó đang tiếp diễn, như một bác sĩ giải phẫu mổ bệnh ung thư, cắt đi từng sớ thịt nhiễm ô, nếu không thì sự nhiễm ô lại lan tràn. Nó đang tiếp diễn, thiền định này, trong một giờ đồng hồ bởi nhìn ngắm. Và nó là thiền định mà không có người thiền định. Người thiền định can thiệp với cái vô dụng và ngốc nghếch của nó, tham vọng và thèm khát. Người thiền định là tư tưởng, được nuôi dưỡng bởi những tranh chấp và thương tích, và tư tưởng (tâm niệm) trong thiền định phải hoàn toàn ngưng lại. Đó là nền tảng của thiền định.
***
Thiền định là siêu vượt thời gian. Thời gian là khoảng cách mà tư tưởng du hàng trong những thành tựu của nó. Du hành thì luôn luôn dọc theo con đường cũ được che phủ với lớp vỏ mới, cảnh trí mới, nhưng luôn luôn là cùng con đường, không dẫn tới đâu—chỉ trừ tới đau khổ và buồn phiền.
Chỉ khi tâm siêu vượt thời gian, thì sự thật mới ngưng là một điều trừu tượng. Lúc đó an lạc hân hoan không phải là một ý tưởng dẫn tới từ niềm vui, nhưng là một thực tại không bằng ngôn ngữ.
Làm cho trống vắng cái tâm thời gian là cái vắng lặng của sự thật, và nhìn thấy nó chính là đang làm (như vậy); do vậy không có ngăn cách giữa cái thấy và cái làm. Trong khoảng cách giữa thấy và làm là những sinh khởi của mâu thuẫn, đau khổ và hỗn loạn. Cái không có thời gian là cái vô tận.
***
Bình minh đến chậm; các vì sao vẫn sáng và cây cối còn thu mình; không chim nào đang gọi, không ngay cả những con cú nhỏ đã cứ rúc rích cả đêm từ cây này tới cây kia. Nó là cái vắng lặng kỳ lạ, chỉ trừ tiếng rì rào của biển. Có mùi hương đó của hoa, lá úa và mặt đất ướt; không khí thì rất là, rất là tĩnh lặng, và mùi hương ở khắp mọi nơi. Mặt đất đang chờ bình minh và ngày sắp tới; có mong đợi, kiên nhẫn và một sự vắng lặng kỳ lạ. Thiền định tiếp diễn với cái vắng lặng đó và cái vắng lặng đó là tình yêu; nó không phải là tình yêu một vật hay một người nào, uy tín hay biểu tượng, ngôn ngữ và hình ảnh. Nó một cách đơn giản là tình yêu, không niềm tin, không cảm xúc. Nó là cái gì đã tự hoàn hoàn trong chính nó, trần trụi, dầy đặc, không cội rễ và phương hướng. Âm thanh của con chim thật xa kia là tình yêu; nó là phương hướng và khoảng cách; nó ở đó ngoài cả ngôn ngữ và thời gian. Nó không phải là một sự xúc động, cái tan đi và thô bạo; biểu tượng, ngôn ngữ có thể được thay thế, nhưng không phải là vật. Trần trụi, nó hoàn toàn mong manh và do vậy không có thể bị phá hủy. Nó có sức mạnh không có thể tìm tới của cái khác đó, cái không thể biết, cái đang đến xuyên qua cây cối và vượt xa cả biển. Thiền định là tiếng chim gọi lên từ tánh không và tiếng gầm rú của biển, đang ầm ầm đánh vào bờ. Tình yêu chỉ có thể ở trong cái hoàn toàn trống vắng. Bình minh xám đang ở xa tận chân tời, và những cây sậm tối thì còn sậm và dầy đặc hơn. Trong thiền định, không có sự lập lại, một tiếp diễn của thói quen; có cái chết của mọi thứ đã biết và cái nở hoa của cái chưa biết. Những vì sao đã biến dạng và những đám mây đã thức dậy với mặt trời đang tới.
***
Thiền định là trạng thái của tâm nhìn vào tất cả mọi thứ với sự chăm chú toàn diện, toàn bộ, không chỉ những phần của nó.
***
Thiền định là sự hủy diệt cái an toàn, và có vẻ đẹp lớn lao trong thiền định, không phải vẻ đẹp của những vật được ráp vào nhau bởi con người hay thiên nhiên, nhưng là của sự vắng lặng. Sự vắng lặng này là cái trống vắng, trong đó và từ đó mọi thứ trôi chảy và hiện hữu. Nó là cái không có thể biết; thông minh và cảm xúc không có thể mở đường tới nó; không có con đường nào dẫn tới nó (thiền định) và một phương pháp tìm tới nó chỉ là phát minh của một bộ óc tham lam. Tất cả những con đường và phương tiện của việc tính toán tự ngã phải bị phá hủy toàn bộ; tất cả việc đi tới hay đi lùi, kiểu cách của thời gian, phải chấm dứt, không có ngày mai. Thiền định là sự hủy diệt; nó là sự hiểm nguy cho những người muốn sống một cuộc đời mặt ngoài và một đời sống của huyễn vọng và huyền thoại.
***
Cái chết mà thiền định mang tới chính là cái bất tử của cái mới lạ.
***

 

Đây là cái gì kinh ngạc hơn nếu bạn gặp nó. Tôi có thể đi vào nó, nhưng sự mô tả không phải là cái được mô tả. Bạn phải nhận biết toàn bộ về nó bằng cách nhìn vào chính bạn—không sách vở, không vị thầy nào có thể dạy bạn điều này. Đừng dựa vào bất kỳ ai, đừng tham dự các tổ chức tinh thần; bạn phải học biết tất cả điều này từ chính bạn. Và nơi đó tâm sẽ khám phá ra những việc cực kỳ dị thường. Nhưng để như vậy, sẽ phải không có phần mảnh manh mún nào, và từ đó là chuyển động, là nhanh chóng, là ổn định dầy đặc. Đối với một tâm như vậy, không có thời gian, và do vậy cuộc sống có một ý nghĩa hoàn toàn khác

 

CHỨNG NGHIỆM TÂM LINH
CỦA NGÀI J. KRISHNAMURTI
(Trích trong Bút Hoa (nhật kí); dịch giả: Ẩn Hạc. 

Jiddu Krishnamurti là một danh nhân giác ngộ; Ngài được Liên Hợp Quốc tôn vinh; được rất nhiều người với đủ mọi thành phần  xã hội – trong đó có Ngài Đạt Lai Lạt Ma & Nhà khoa học danh tiếng-giáo sư tiến sĩ vật lí David Bohm – ngưỡng mộ).
* Sống thì vượt ngoài thời gian, sống là hiện tiền sinh động, nhưng hiện tiền này không lệ thuộc vào thời gian. Sống là chú tâm, không nằm trong biên cương của tư tưởng, trong giới hạn của cảm thức. Từ ngữ dùng để thông tin và, cũng như hình tượng, ngay chính chúng không có một ý nghĩa nào. Cuộc đời luôn luôn là hiện tiền sinh động, thời gian luôn luôn thuộc vào quá khứ, và vì thế vào tương lai. Để cho thời gian (tâm lí) chết đi tức là sống trong hiện tiền. Chính lối sống này là bất tử, chứ không phải cách sống trong ý thức. Thời gian là tư tưởng trong tâm thức, tâm thức thì bị đóng khung. Mạng lưới của tư tưởng, của cảm thức, luôn luôn hằn dấu sợ hãi, đau khổ. Đau khổ sẽ chấm dứt khi thời gian chấm dứt.
* Ngày hôm qua thật lạ lùng. “Bờ bên kia” thường xuyên hiện diện suốt buổi đi dạo ngắn ngủi và vào lúc nghỉ, lại càng mãnh liệt hơn trong khi nói chuyện, duy trì, kéo dài gần hết đêm và vẫn còn đó lúc thức dậy sáng nay, sau một giấc ngủ ngắn. Thân thể mệt nhừ, cần được nghỉ ngơi, lại trở nên yên tĩnh một cách lạ lùng, nhưng phần nhỏ nhất của thân vẫn tỉnh táo và bén nhạy. (…) Tâm là một cái gì kì lạ; tâm tàng chứa trí óc, tư tưởng, tình cảm và cả đến mỗi cảm xúc tinh tế nhất, ảo tưởng, tưởng tượng… Tâm không phải là cộng chung hết cả những yếu tố trên, tuy nhiên không có chúng thì tâm không có; tâm còn hơn hẳn cái nó tàng chứa. Không có tâm thì những yếu tố nó tàng chứa cũng không có nốt; chính qua tâm mà chúng có mặt. (…).
 Ảnh minh họa
(…) Hoạt động của kí ức, kiến thức đang vận dụng, xung đột của dục vọng đối chọi nhau, tìm cầu tự do đều luôn luôn bị rào kín trong giới hạn của trí óc; trí óc có thể thanh lọc, mở rộng, tích lũy những ham muốn của nó, nhưng đau khổ sẽ tồn tại. Khi mà tư tưởng chỉ là sự đáp trả của kí ức, của kinh nghiệm, thì sẽ không chấm dứt được đau khổ. 

Trí óc là một “suy tư” phát xuất từ cái rỗng rang toàn vẹn của tâm; cái rỗng rang này không có trung tâm do đó có khả năng hoạt động vô hạn. Từ cái rỗng rang này sáng tạo sinh ra, nhưng đó không phải là tài khéo của con người. Sáng tạo phát sinh từ cái Không, và đó chính là tình yêu và sự chết.
* Lại thêm một ngày lạ lùng. Vào mọi lúc đều có mặt “bờ bên kia”, dù đi đến đâu, làm việc gì. Trí óc, rất yên tĩnh, không mê ngủ, nhưng tỉnh táo và bén nhạy, hình như tự chuyển động trong chính nó. Có cảm tưởng là quan sát từ một chiều sâu vô hạn. Tuy nhọc mệt, thân vẫn thức tỉnh một cách lạ lùng. Một ngọn lửa cháy sáng không dứt.
* Một buổi sáng tuyệt vời; nhìn về hướng tây, phía bầu trời một màu xanh thẫm, và mọi tư tưởng, mọi xúc cảm đều tan biến; cái nhìn này xuất phát từ cái rỗng không. Trước bình minh, thiền định là cửa ngõ bao la vô tận vào cái bất tri (tâm rỗng rang vô lượng). Không một thứ gì có thể mở cửa, ngoại trừ hủy diệt toàn bộ cái hữu tri. 

Thiền định là sự bùng nổ trong cái hiểu biết. Không phải là hiểu biết nếu không tự tri; học hiểu để tự tri không phải là tích lũy kiến thức; tích lũy sẽ ngăn ngại tự tri, vì học hiểu không phải là tiến trình gia tăng. Học hiểu cũng như hiểu biết, được tiến hành từ sát-na này đến sát-na kia. Tiến trình toàn thể này là sự bùng nổ trong thiền định.
* Thiền định không phải là nghiên cứu; không phải là kiếm tìm, thăm dò, khai phá. Thiền định là bùng nổ và khám phá. Không phải là trí óc bị ngự trị bằng giới luật, cũng không phải tự phân tích chính mình; thiền định chắc chắn không phải là đào luyện để tập trung tư tưởng, tư tưởng len vào trong sẽ chọn lựa và bác bỏ. 

Thiền định đến một cách tự nhiên khi tất cả sự khẳng định và thành đạt, hữu vi hoặc vô vi, đều được thấu triệt và tự rơi rụng một cách dễ dàng. Thiền định là trí óc rỗng rang hoàn toàn. Chính sự rỗng rang đó mới là cốt yếu chứ không phải cái tàng chứa trong trí óc. Chỉ từ sự rỗng rang đó mới có thể có tuệ quán được. 

Đức hạnh phát xuất từ đó, nhưng không phải là luân lí hoặc tư cách đáng kính trong xã hội. Chính từ sự rỗng rang đó phát sinh tình yêu, nếu không thì không phải là tình yêu. Nền tảng của đức hạnh nằm trong sự rỗng rang đó. Đây là chỗ bắt đầu và là nơi chấm dứt mọi sự.
* Sự hủy diệt tâm lí của mọi thứ đã có – và không chỉ là thay đổi bên ngoài – là cốt tủy của trí thông minh. Mọi hành động vô minh đều dẫn đến đau khổ, rối loạn. Đau khổ là vô minh. Ngu si không phải là thiếu kiến thức, mà là thiếu hiểu biết về chính mình; không hiểu biết về chính mình thì không một chút gì có trí tuệ. (…) Không có trí tuệ nếu không có tự tri. Tự tri là một thực tại sống động, không phải là phán đoán. Mọi tự phê đều hàm ý tích lũy, lượng giá từ trung tâm của kinh nghiệm và của kiến thức; chính quá khứ này làm ngăn trở sự hiểu biết thực tại sống động. Theo đuổi sự tự tri là một hành động thông minh.
* Sáng nay thức dậy, vượt trên tất cả thiền định, tất cả tư tưởng và ảo tưởng phát sinh từ cảm thức, ngay trung tâm của trí óc và xa hơn, ngay tâm điểm của tâm thức, ngay chính bản thể của con người, rực chiếu một luồng sáng cực mạnh không mang một chút hình bóng, không bắt nguồn từ một kích cỡ nào. Phép lành ở đó, bất động. Và cùng với phép lành là thần lực vô cùng tận, và một vẻ đẹp vượt trên tư tưởng, cảm thức.
* Tâm thức nhân loại không thể dung chứa cái bao la của sự an nhiên; tâm thức có thể tiếp nhận nhưng không thể tìm kiếm, cũng như đào luyện cái bao la an nhiên đó. Hết cả tâm thức đều phải vô tác, không khởi dục vọng, không tìm cầu cũng như đuổi bắt; chỉ lúc đó mới sinh khởi một cái gì không chung không thủy. Thiền định chính là tâm thức rỗng rang, không phải để tiếp nhận, mà để buông bỏ. (…) Chỉ có thể có sáng tạo trong cái rỗng rang.
* Chiều hôm ấy nó đã ở đó, bỗng chốc tràn ngập khắp phòng… Cảm giác mãnh liệt về chơn mĩ, sức mạnh, vẻ dịu dàng. Những người khác đều nhận ra.
* Hoạt động của trí óc được ấn định trước; suy nghĩ, lí luận, nhưng trí óc hoạt động trong giới hạn, giới hạn không gian và thời gian (tâm lí). Vì vậy trí óc không thể trình bày, cũng không thể hiểu biết cái chung, cái toàn thể. Cái toàn thể đó là tâm; tâm thì rỗng rang, hoàn toàn rỗng rang, và vì rỗng rang nên trí óc nằm trong không-thời gian. Khi được thanh lọc ra khỏi sự ước định về lòng khao khát, ham muốn, tham vọng, trí óc mới có thể hội nhập cái toàn thể. Tình yêu chính là sự toàn vẹn đó.
* Mỗi một mưu đồ của tư tưởng đều phải được hiểu rõ. Mọi tư tưởng đều là phản ứng, mọi ứng xử bắt nguồn từ đó chỉ có nhấn mạnh thêm sự rối loạn và xung đột.
* Chắc chắn bản thể hiện diện suốt cả đêm; sáng nay khi thức giấc, bản thể đã ở đó và hình như tràn ngập toàn bộ đầu và thân. Và tiến trình tiếp tục một cách êm dịu. Muốn được như thế, phải một mình và tĩnh lặng.
* Có một hướng không bắt đầu từ đâu và đi về cái rỗng rang vô cùng, trụ xứ của bản thể vạn vật.
* Trí óc trở nên ti tiện khi nó sử dụng để học hỏi cái bất tri, cái vô lượng. Chức năng hoạt động của nó nằm trong cái hữu tri, nó không thể hoạt động trong cái bất tri (tâm rỗng rang vô lượng). Những sáng chế của nó ở trong phạm vi hữu tri; nó sẽ không bao giờ nắm bắt được sự sáng tạo của cái bất tri, dù cho dùng đến ngôn ngữ hay nghệ thuật. Trí óc không thể biết đến chơn mĩ. Chỉ trong im lặng tuyệt đối, vô ngôn, một sự vô hành không tạo tác, không chuyển động, thì cái bao la vô hạn mới xuất hiện.
* Khá đau đớn trưa hôm qua, và hình như có tăng thêm. Đến gần tối cái linh thiêng hiện hành, thấm nhập cả phòng. Người khác cũng cảm nhận. Suốt đêm tác động cơn đau có phần hòa hoãn, nhưng áp lực và căng thẳng vẫn còn đó, giống như mặt trời phía sau đám mây. Sáng nay rất sớm, mọi sự lại bắt đầu. (…) Mọi cảm thức, mọi xúc động đều liên kết với trí óc, nhưng đó không phải là tình yêu, nhưng cái xuất thần này chính là tình yêu. Trí óc chỉ có thể nhớ lại rất là khó khăn.
(…) Sáng nay thật sớm, phép lành gần như bao phủ hết quả đất, đang tràn ngập khắp phòng. Và theo đó xuất hiện sự tịch tĩnh làm im bặt hết mọi sự vật, một sự bất động chứa đựng tất cả chuyển động.
* Sống với một cái gì là thương yêu cái đó chứ không phải ràng buộc vào cái đó.
* Chấm dứt phiền não nằm trong sự quán chiếu sự kiện thực tế.
* Cái rỗng rang này không phải là một trạng thái ngoan không, trống trải; đó là năng lượng không có trung tâm, không có biên giới.
* Sáng nay dậy sớm để sống trong phép lành. Cơ thể bị bó buộc ngồi yên trước vẻ sáng sủa đó, vẻ đẹp đẽ đó. Sau đó suốt buổi sáng, ngồi trên ghế dài bên lề đường dưới bóng cây, phép lành được cảm nhận trong cái vô lượng vô biên. Phép lành cũng ban cho ta nơi trú ẩn, chỗ bảo bọc, giống hệt cội cây kia với tàng lá, tuy để ánh sáng soi qua vẫn che mát được dưới ánh nắng gay gắt miền núi. Mọi tương giao chính là che mát thấm đượm tự do, và chính tự do bảo đảm cho ta nơi trú ẩn.
* Nếu bạn có tiền, bạn cũng khổ; nếu bạn không có tiền, bạn cũng khổ. (…) Tiền bạc và quyền uy ngự trị không dứt; càng có càng muốn thêm, và cứ như thế vô cùng tận. Nhưng phía sau tất cả tiền bạc và quyền uy ẩn dấu nỗi khổ không tránh được; ta có thể lãng tránh, tìm quên, nhưng khổ đau luôn luôn hiện diện; với nó không thể bàn cãi được và nó ở đó, vết đau hằn sâu mà không gì có thể chữa trị được.
* Bằng vận hành của thời gian (tâm lí) không thể có chuyển hóa được. Phủ nhận thời gian chính là chuyển hóa; có chuyển hóa khi đã loại bỏ những thuộc tính phát sinh từ thời gian tức là thói quen, truyền thống, cải cách, các lí tưởng. Phủ nhận thời gian thì có chuyển hóa, chuyển hóa toàn diện và không phải là thay đổi hình tướng bên ngoài, cũng không phải thay thế một hình tướng này bằng một hình tướng khác. Nhưng thu đạt kiến thức, kĩ thuật, đòi hỏi phải có thời gian, ta không thể cũng chẳng nên chối bỏ; những năng lực này thiết yếu cho cuộc sống hằng ngày. Thời gian cần thiết để đi từ chỗ này đến chỗ khác không phải là ảo tưởng, nhưng mọi hình thức khác của thời gian đều là ảo vọng. Chuyển hóa gồm có chú tâm mà từ đó sinh khởi một hình thức hành động khác. (…).
* Thiền định là ở chỗ làm tâm trống rỗng hết mọi tư tưởng, mọi cảm thức, vì những thứ này làm tan biến năng lực; chúng có tính lặp đi lặp lại, đưa đến những hành động máy móc; hành động này là thành phần cần thiết cho sự sống, nhưng chúng chỉ là một thành phần. Tư tưởng và cảm thức không thể biết thâm nhập vào cái bao la vô tận của sự sống.
* Khi trí óc không còn nuôi dưỡng bằng kí ức, bằng tư tưởng, khi trí óc để cho kinh nghiệm chết đi, thì hoạt động sẽ không còn quy ngã nữa. Lúc đó trí óc sẽ nuôi dưỡng các nơi khác. Và chính nguồn lương thực đó sẽ làm cho tâm thức thành tôn giáo.
* Ra khỏi tư tưởng là đức hạnh, và đức hạnh là tính mẫn cảm mở rộng, là tình yêu. Hãy thương yêu và sẽ không có tội lỗi; hãy thương yêu và cứ làm điều gì bạn muốn, lúc đó sẽ không có đau khổ.
* Trí óc vận hành trong cái manh mún, từng phần, chia chẻ. Nó tự chuyên môn hóa. Nó không bao giờ là cái toàn thể, cái mà nó muốn nắm giữ, muốn hiểu biết nhưng vô hiệu. Vì chính bản chất của nó, nên tư tưởng luôn luôn không toàn vẹn, cảm thức cũng thế; tư tưởng, phản ứng của kí ức chỉ có thể vận hành trong cái đã biết, hoặc lí giải từ kiến thức. 

Trí óc là sản phẩm của sự chuyên môn hóa. Nó không thể vượt lên trên chính nó. Nó chia chẻ và tự chuyên môn hóa thành nhà khoa học, nghệ sĩ, giáo sĩ, luật gia, kĩ thuật gia, nông gia… Nó hoạt động bằng cách phóng chiếu lên giai cấp xã hội, đặc quyền, quyền hành, uy thế của nó. Sự vận hành não bộ và giai cấp xã hội liên kết với nhau chặt chẽ, vì trí óc là một cơ quan tự bảo vệ. Chính từ nhu cầu này mà những yếu tố đối nghịch và chống trái của xã hội phát sinh. Nhà chuyên môn thì không có khả năng nhìn được toàn diện.
(…) Năng khiếu và thiên tư hiển nhiên là nguy hại, vì củng cố tính vị ngã; vì mang tính chia chẻ vụn vặt nên nuôi dưỡng xung đột. Năng khiếu chỉ có giá trị trong sự nhìn thấu toàn diện đời sống, sự nhìn thấu này nằm trong lĩnh vực của tâm chứ không phải của trí óc. Năng khiếu với sự vận hành của nó nằm trong giới hạn của trí óc, do đó năng khiếu trở nên nhẫn tâm, lãnh đạm đối với tiến trình toàn thể của đời sống. Năng khiếu gây ra lòng kiêu hãnh, ham muốn, và sự thành tựu của nó trở thành ưu tiên hàng đầu, nó đưa đến thù ghét, vô trật tự, đau khổ; nó chỉ có giá trị nếu nhận thức được toàn thể sự sống. (…).
(…) Trí óc vận hành bằng cách tự chuyên môn hóa với sự chia chẻ manh mún, với những hoạt động cô lập lại nó trong địa hạt giới hạn của thời gian. Trí óc không có khả năng nhìn thấy toàn thể sự sống; dù có được giáo hóa đến đâu, trí óc cũng chỉ là một phần chứ không phải là toàn thể. Chỉ có tâm mới thấy được cái toàn thể, và phạm vi của tâm bao trùm luôn trí óc; trí óc dù có làm gì đi nữa cũng không thể chứa đựng được tâm.
Để nhìn thấy toàn thể, trí óc phải ở trong trạng thái buông xả. Buông xả hoặc phủ nhận không phải là đối nghịch của khẳng định; những cái đối nghịch đều liên kết với nhau. Sự phủ nhận không có cái đối nghịch. Để có được cái nhìn toàn thể, trí óc phải ở trong trạng thái phủ nhận tuyệt đối; nó không được can thiệp vào bằng cách lượng giá, biện bạch, kết án và tự vệ. 

Trí óc phải im lặng mà không bị ép buộc; ép buộc sẽ làm cho trí óc chết cứng, chỉ có khả năng mô phỏng và tùy hợp. Chính trong trạng thái phủ nhận mà trí óc tĩnh lặng không lựa chọn. Chỉ chính lúc đó cái nhìn toàn thể mới phát sinh. Lúc đó tâm hoàn toàn tỉnh thức, và trạng thái này không gồm có người quan sát cũng như vật bị quan sát, mà chỉ có ánh sáng, chỉ có sáng suốt. Sự đối kháng và xung đột giữa người tư duy và tư tưởng kết thúc.
* Thức dậy sáng nay; mặt trời còn nằm dưới đường chân trời; bình minh đã bắt đầu và thiền định tự dâng cho “bờ bên kia” mà phép lành là sức mạnh và sáng suốt. “Bờ bên kia” đã ở đó chiều hôm qua, ngay lúc mặt trời lặn, rất sáng, bất ngờ. Nhiều ngày nay nó đã không xuất hiện. Thân tự điều hòa theo nhịp độ cuộc sống phố thị và, khi “bờ bên kia” đến, nó biểu lộ một vẻ đẹp, một cường lực đến đỗi mọi sự đều im lìm bất động; nó tràn ngập căn phòng và còn vượt qua đó nữa.
* Có bản thể của thâm cùng ở đó. Bản thể của tư tưởng chính là tâm thái vô niệm. Tư tưởng, dù có tiếp nối với nhau thật thâm sâu, thật rộng lớn, vẫn luôn luôn chóng tàn, phiến diện. Chấm dứt tư tưởng chính là khởi đầu của bản thể. Chấm dứt tư tưởng là phủ định và phủ định thì không có mục tiêu nào xác định. Không có phương pháp, hệ thống để dừng bặt tư tưởng. 

Phương pháp, hệ thống chỉ là xác định tiệm cận với phủ định, và như thế tư tưởng sẽ không bao giờ có thể tự tìm nơi có bản thể của chính nó. Tư tưởng phải dừng bặt để cho bản thể hiển lộ. Bản thể của hữu là phi hữu, và để “thấy” cái thâm cùng của phi hữu, ta phải tự do thoát khỏi cái trở thành. Không thể nào tự do trong sự tương tục, và mọi điều bao hàm sự tương tục đều dính mắc vào thời gian. (…).
* Cô đơn một mình, nhưng không một chút gì cô lập, giống như một giọt nước mưa chứa đựng hết cả nước trên mặt đất.
* Tư tưởng là vật chất và có thể biến thành bất cứ thứ gì, xấu hay đẹp. Nhưng có một cái linh thiêng không phát xuất từ tư tưởng hoặc tình cảm, từ đó tư tưởng đã sống lại. Tư tưởng không thể biết và cũng không thể sử dụng được. Tư tưởng cũng không thể bộc lộ. Nhưng cái linh thiêng đó hiện hữu, không bao giờ biểu tượng hoặc lời lẽ có thể chạm đến được. Cái linh thiêng đó không thể truyền thông được. Đó là một sự kiện thực tế.
Một sự kiện thì phải được nhìn thấy, nhưng cái thấy này độc lập với ngôn từ. Khi sự kiện được diễn giải thì thôi không còn là sự kiện nữa, mà biến thành một cái gì hoàn toàn khác hẳn. Thấy là một điều gì hết sức quan trọng. Cái thấy này vượt ra ngoài không-thời gian, nó ngay đó và trong khoảnh khắc.
(…) Sự hiện diện của nó đang ở đây, tràn ngập khắp phòng, chan rải trên các ngọn đồi, trên những dòng nước, bao phủ hết cả hành tinh.
Đêm vừa qua, như đã xảy ra một hai lần trước đây, thân thể chỉ còn là một cơ quan và không là gì khác, đang vận hành, trống rỗng và bất động.
* Thành công (với tâm lí quy ngã) thật là tàn bạo dưới mọi khía cạnh, dù là chính trị, tôn giáo, nghệ thuật, kinh tài… Thành công đưa đến cứng rắn.
* Chứng nghiệm về bản thể là đỉnh cao của cường lực, của nhạy cảm. Đây là vẻ đẹp vượt trên ngôn ngữ và cảm thức.
* Bận rộn, tuy vậy áp lực và căng thẳng vẫn còn đến trưa.
Dù những hành động cần thiết trong cuộc sống hằng ngày có ra sao đi nữa, thì va chạm và biến động mà cuộc sống đã gieo rắc không nên để lại dấu vết phía sau chúng ta. Chính những dấu vết này tạo ra bản ngã, cá tính, củng cố dần theo dòng đời, và lập thành bức tường hầu như không vượt qua nổi.
* Tỉnh giấc nửa đêm với cảm thức về một sức lực bao la, vô cùng tận. Không phải là sức lực tập trung chung quanh dục vọng hoặc ý muốn, mà là sức lực hiện diện khắp sông núi cây cỏ.

Hành động của con người là thực hành sự chọn lựa, thực hành theo ý muốn; hành động này bao gồm xung đột và đối kháng, từ đó sinh đau khổ. Hành động đó phát xuất từ một nguyên nhân (tâm lí), một động lực, do đó là phản ứng. Nhưng hành động hiện khởi từ sức lực vô ngã thì tự do, thoát khỏi mọi nguyên nhân, động lực; do đó sức lực này vô cùng tận, là bản thể.
* Chân lí không thể nào chính xác, vì cái gì có thể đo lường được thì không phải là chân lí. Chỉ có cái gì không sống động mới có thể đo lường được, chiều cao của nó mới có thể tìm bắt được.
* Sống không phải là trút bỏ hết kinh nghiệm, nhưng không có sự sống khi đất não dày đặc dây mơ rễ má. Khiêm cung không phải là loại bỏ có ý thức cái đã biết, sự loại bỏ này là lòng kiêu ngạo của sự thành tựu; khiêm cung là cái bất tri tuyệt đối, tức là chết đi. Sợ chết chỉ có trong cái đã biết, chứ không phải trong cái ta không biết. Không có sợ hãi đối với cái bất tri; sợ hãi chỉ có khi cái đã biết thay đổi, chấm dứt.
* Mọi hệ thống đều không tránh khỏi khuôn đúc tư tưởng theo một mẫu mực, và chủ nghĩa xu thời sẽ hủy diệt sự bừng nở của thiền định. (…) Không có tự do sẽ không có tự tri và không tự tri tức là không phải thiền định.
*  Tâm thái một mình là rỗng rang; trong ngọn lửa Không này, tâm trở về tươi trẻ và an nhiên. Và chỉ có tính an nhiên này mới có thể nhận được cái phi thời gian, cái mới mẻ không ngừng tự chết đi. Sự chết đi chính là sinh tạo. Không có tình yêu thì không có sự chết đi.
* Đời sống toàn thể bao hàm cái chia chẻ vụn vặt, nhưng cái chia chẻ này sẽ không bao giờ hiểu được cái toàn thể.
* Kiến thức ngăn ngại khám phá. Kiến thức luôn luôn bắt nguồn từ thời gian (tâm lí), từ quá khứ, không bao giờ mang lại tự do. Nhưng kiến thức cần thiết cho hành động, cho tư tưởng; không hành động thì không thể có hiện hữu. Nhưng dù hiền triết, chân chính và cao thượng đến đâu, hành động sẽ không đưa đến chân lí. Không có con đường dẫn đến chân lí.
* Chính sự quan sát tiến trình của tư tưởng, của thời gian (tâm lí) và nỗi sợ hãi, rõ biết toàn diện tiến trình này, chứ không phải chỉ một ý tưởng hoặc một định thức tri thức, sẽ chấm dứt được sợ hãi, trên mặt ý thức lẫn tiềm thức. Tự tri là tỉnh thức và là chấm dứt sợ hãi (tâm lí).
* Sợ hãi nội tâm sẽ biến nhu cầu về an toàn ngoại giới thành một bài toán về giai cấp, về uy tín, về quyền lực, và hậu quả là có đấu tranh tàn bạo.
* Từ bỏ là nhìn thấy sự thật như thị, sai lầm như thị và cái chân thật trong cái sai lầm. Đó là một hành vi chứ không phải một ý tưởng.
* Từ bỏ thời gian (tâm lí) chính là bản chất của cái phi thời gian.
* Thức dậy, tuy còn ngái ngủ, nhận thức được tiến trình kéo dài về đêm, và hơn thế nữa phép lành khai mở. Có cảm thức tác động lên con người. Thần lực đó, sức mạnh đó, ra khỏi và tuôn trào ra ngoài, như một thác nước từ đất phun vọt lên qua những mõ
 m đá. Trong mọi sự này, hạnh phúc lạ thường khôn tả, một sự xuất thần không liên quan gì đến tư tưởng, đến cảm thức.
* Trong ánh chớp tuệ quán này sẽ phát sinh một tri giác mới mẻ.
* Tâm trí tịch lặng và rất tỉnh sáng. Tràn đầy cả đêm cái vô lượng vô biên đó, và kèm theo là thánh phúc.
* Im lặng này là cái Không, từ đó tuôn chảy và cũng từ đó phát xuất sự hiện hữu của vạn vật. Lặng im này là cái bất tri. (…).
Buổi sáng tươi trẻ đến đỗi các ngôi sao vẫn luôn sinh động và lấp lánh. Bình minh hãy còn lâu; tất cả đều yên tĩnh một cách lạ lùng, ngay cả thác nước ầm ĩ cũng câm nín, và những ngọn đồi cũng lặng lẽ.
* Nó theo chúng tôi chí đến giờ đi ngủ và duy trì thành tiếng rì rào suốt đêm. Điều này không thuộc phạm vi kinh nghiệm, nó chỉ ở đó một cách giản dị, bằng một sức mạnh dữ dội, một phép lành.
* Tâm trong tính toàn thể bao trùm cả trí óc, tư tưởng của nó, cảm thức của nó, đang rỗng rang; và từ cái rỗng rang đó, năng lực càng lúc càng thâm sâu, lan rộng, vô lượng. Bởi vì mọi so sánh, mọi lượng giá đều xuất xứ từ tư tưởng tức là thời gian. “Bờ bên kia” là tâm phi thời gian, là hơi thở của chân chất an nhiên và của cái bao la vô tận. Ngôn từ không phải là thực tại; chúng chỉ là một phương tiện truyền thông chứ không phải là cái chân chất an nhiên, cái vô lượng vô biên. Cái trống rỗng là cái một mình.
* Chỉ có một chuyển động duy nhất trong đời sống, bên ngoài lẫn bên trong, không thể chia chẻ được, dù cho có phân biệt. Phân biệt làm cho số đông người chạy theo chuyển động bên ngoài của kiến thức, của ý tưởng, của tín ngưỡng, của quyền hành, an toàn, thịnh vượng, và cứ tiếp nối như thế. Ngược lại, có người lại bám chặt vào một đời sống mạo xưng là nội tâm, thành lập từ ảo ảnh, hi vọng, khát vọng, tĩnh lặng, xung đột và thất vọng. Chuyển động, vì là phản ứng, nên xung chướng với đời sống bên ngoài. Như vậy có đối kháng, tiếp theo là đau khổ, sợ hãi và trốn chạy.
Chỉ có một chuyển động duy nhất bên ngoài lẫn bên trong. Hiểu biết về bên ngoài, không xung đối cũng không kháng nghịch thì chuyển động thật sự của bên trong bắt đầu. Xung đột đã loại trừ, và tuy bén nhạy nhưng ngay đỉnh cao của nhạy cảm, trí óc vẫn đạt được tịch lặng. Chỉ ngay lúc đó, chuyển động nội tâm mới trở nên thật sự và có ý nghĩa.
Từ chuyển động này phát sinh lòng quảng đại, lòng từ bi không bắt nguồn từ lí trí, cũng không phải từ sự từ bỏ có suy nghĩ cân nhắc.

Tuệ Thiền Lê Bá Bôn lược soạn

TRUNG PHONG PHÁP NGỮ

Lời dịch giả

VÀI HÀNG VỀ DỊCH GIẢ NGUYÊN CHÁNH

Dịch giả Nguyên Chánh (còn có tên là Định Huệ) quê quán tại Mỹ Tho, vốn người rất thông minh, uyên thâm Hán học, và thâm hiểu giáo lý nhà Phật, đã dịch nhiều sách Hán tự ra Việt văn. Nhờ những ưu điểm đó nên những sách dịch của ông đều rất có giá trị.

Ông hiện sống tại Việt Nam. Ngoài giờ làm việc, ông còn dạy giúp môn Hán Nôm cho rất đông Tăng Ni.

Trung Phong Pháp Ngữ là một trong những sách mà ông đã dịch.

Ngoài ra, khi dịch Tín Tâm Minh Tịch Nghĩa Giải, dịch giả trong đó có nhiều người phụ giúp, ông Nguyên Chánh là người đã giúp đỡ nhiều nhất.

Thích Duy Lực 

LỜI ĐẦU SÁCH

Quyển TRUNG PHONG PHÁP NGỮ này được hình thành từ sự tuyển dịch một số bài pháp ngữ của Thiền Sư Trung Phong khai thị đồ chúng trong bộ Thiên Mục Minh Bổn Thiền Sư Tạp Lục, 3 quyển, in trong Tục Tạng Kinh, tập số 122.

Nội dung sách tấn người học lập chí lâu bền, gan dạ liều chết hạ thủ công phu tham cứu thoại đầu cho đến khi khối nghi bùng vỡ, hoàn toàn liễu thoát sanh tử. Vì thế, Ngài cực lực bài xích cái thói quen tai hại của người học muốn dùng tri giải để hiểu Phật pháp, thiền đạo, làm chướng cửa ngộ, nhất định không thể nào giải quyết được việc lớn sanh tử, mà trái lại còn thêm lớn ngã kiến, kết chặt gốc rễ luân hồi. Lời khai thị thống thiết đầy nhiệt tình của Ngài có sức thúc giục cảnh tỉnh rất là mãnh liệt khiến người học vừa phấn chí mình, vừa cảm tấm lòng từ bi chỉ dạy của Ngài, mà dốc lòng tinh tấn hành đạo.

Thiền Sư Trung Phong, tên Minh Bổn, họ Tôn, quê ở Tiền-Đường, Hàng Châu, sanh năm Cảnh-Định thứ tư (1263 T.L.) đời vua Lý-Tông triều Nam-Tống.

Sư nối pháp Thiền-Sư Cao-Phong Nguyên-Diệu. Vua Nhân-Tông nhà Nguyên phong hiệu cho Sư là Phật-Từ Quảng-Huệ Thiền-Sư và ban cho cà sa Kim-Lan.

Ngày 14 tháng 8 năm Chí-Trị thứ ba (1323 T.L.) đời vua Anh-Tông, Sư thị tịch. Vua Văn-Tông ban thụy là Trí-Giác Thiền-sư. Vua Thuận-Tông ban thêm hiệu là Phổ-Ứng Quốc-Sư.

Sư có trước tác bộ Quảng Lục 30 quyển, đã được biên vào Tích-Sa Đại Tạng Kinh tập số 599.

KHAI THI ĐỒ CHÚNG

Thiền-sư Phật-Ấn Liễu-Nguyên thống thiết dạy sơ lược như sau:

Một niệm tịnh tâm cuối cùng thành chánh-giác. Từng bước có lợi độn cạn sâu, song sự thành công chỉ ở tại chỗ phát phẫn lập chí. Tôi nay thống thiết dạy đạo tục nên biết bốn điều dễ, và bốn điều khó.

       Cái gì là bốn điều dễ?

  1. Chính mình là Phật, chẳng cần cầu thầy khác. Nếu muốn cúng dường Phật, chỉ cúng dường chính mình, là điều dễ thứ nhất.
  2. Vô-vi(vô tác)là Phật, chẳng cần xem Kinh, lễ Phật, hành đạo, tọa thiền. Đói ăn mệt ngủ, tùy duyên nhậm vận, là điều dễ thứ hai.
  3. Vô-trước là Phật, chẳng cần hủy bỏ hình thể, xa lìa quyến thuộc, núi rừng, chợ búa, nơi nào cũng tự tại, là điều dễ thứ ba.
  4. Vô-cầu là Phật, chẳng cần lập công bồi đức, siêng tu khổ hạnh, hai thứ phước huệ trang nghiêm đều không dính dáng, là điều dễ thứ tư.

Cái gì là bốn điều khó?

TÍN được là điều khó thứ nhất,

NIỆM được là điều khó thứ hai,

NGỘ được là điều khó thứ ba,

TU được là điều khó thứ tư.

Tin nhân quả có thể nói là niềm tin nhỏ, chẳng thể cho là niềm tin lớn. Vậy mà người nghi vẫn nhiều, người tin lại ít. Người tin mà chẳng nghi, trong trăm ngàn người chỉ có một hai người. Huống chi chóng thấy tự-tánh, nhất siêu trực nhập vào việc Như-Lai. Ngàn kinh muôn luận, các thứ tông tích dị kỳ để lại ở thế gian chỉ vì người không có lòng tin. Chư Thánh từ bi rộng lập phương tiện mở sáng bọn mê khiến họ từ cửa tín mà vào. Bởi vì người có niềm tin mới lập hạnh, do đó niềm tin là một điều khó.

Trong suốt ngày đêm chỉ muốn niệm niệm chẳng quên, lúc đi thì đi niệm, lúc ngồi thì ngồi niệm, lúc cử động, nói nín, nằm xuống, đứng dậy đều niệm, lúc làm việc, tiếp vật cho đến khốn khổ hoạn nạn hiểm nguy cũng đều niệm. Thân như cây khô, như tảng đá, như thây chết, như tượng đất, chỉ tâm tâm ở tại đạo; ứng đáp với người như si, như say; nghe tiếng thấy sắc như điếc như đui. Vì thế dụ như mèo rình bắt chuột, tâm và mắt chăm chú nhìn vào một chỗ, lơ đễnh một chút ắt chuột chạy mất; như gà ấp trứng, hơi ấm cần phải liên tục, gián đoạn một chút là không thể thành gà con được. Vì thế niệm nầy là một điều khó.

Niệm đạo vốn phải gìn giữ lâu ngày, còn ngộ đạo ở tại khoảnh khắc. Lúc nhân duyên chưa chín mùi thời tiết chưa đến cơ hội sẵn sàng nên không thấy được. Nhân duyên đã chín mùi, thời tiết đã đến, tuy hình dáng chẳng tiếp xúc mà bỗng nhiên hiện tiền. Khó nói cái thấy của người đã ngộ cho người chưa ngộ nghe, như người mù từ thuở sơ sanh nói cho họ nghe về ánh sáng mặt trời, họ tuy nghe nhưng chẳng thể biết. Người ngộ không còn đạp dấu của lúc chưa ngộ; như người ngủ thức dậy, bảo người ấy làm lại việc trong mộng, tuy người ấy nhớ mà chẳng tìm lại được. Người tham học phải lấy ngộ làm tiêu chuẩn,vì thế cái ngộ nầy lại là một điều khó.

Chưa ngộ phải thường lo niệm,đã ngộ càng phải giữ gìn như bưng đĩa nước, như cầm vật báu, như giữ tròng con mắt, như đi chỗ nguy hiểm, như đối trước vua, trước thầy. Đây là giữ gìn đạo vậy. Giữ gìn tức là tu vậy. Thấy đạo mới tu đạo, chẳng thấy làm sao tu.

Có người hỏi: Đã ngộ rồi đâu cần tu?

Đáp rằng: Tập khí do nhiều kiếp huân tập không thể nhất thời sạch hết, nên cần phải tu. Tu đến vô-tu sau đó mới đồng với Chư Phật. Vì thế cái tu nầy lại là một điều khó.

Cho nên người chẳng biết bốn điều dễ thì có thể làm lành, mà chẳng thể nhập đạo. Người chẳng biết bốn điều khó thì có thể nói về đạo, mà chẳng thể tiến trên đường đạo.

Trong văn trên Thiền-sư Phật-Ấn nói Niệm Đạo, tức ngày nay nói Tham, nói khán.

Trong bốn điều khó, đầu tiên nói niềm tin là khó. Nói tin là muốn người học đạo tin bốn điều dễ ở trước và bốn điều khó ở sau. Vậy niềm tin nầy chẳng phải dễ được. Thứ nhất là nhờ sức Bát-Nhã sâu dày nhiều đời của chính mình, kế đến là nhờ chánh niệm hằng ngày luôn luôn thống thiết vì việc lớn sanh tử thâm nhập vào xương tủy không có khoảnh khắc gián đoạn. Lòng tin đã như vậy thì câu thoại đầu sở tham như người đói được thức ăn, người rét được áo mặc, dẫu ép buộc buông bỏ trọn chẳng thể được. Tâm tham cứu đạo miên mật thì không có lẽ nào không ngộ, ví như đi đường miệt mài đi mãi ngày đêm có lý nào chẳng đến. Ngộ đó là ngộ bốn điều dễ ở trước. Bốn điều dễ này nếu chẳng phải ngộ nhập thì đều gọi là vọng-giải. Người đời nay có chút tư chất thông minh chẳng đợi ngộ nhập, cứ đem tình thức lãnh hội bốn điều dễ nầy rồi tự cho là thật chứng, bèn bỏ hai thứ phước huệ trang nghiêm, vì cho rằng không dính dáng. Luận đàm lý tột chưa từng chẳng đúng, song chẳng dè chưa từng ngộ nhập nên rơi vào trong tình thức phân biệt, suốt ngày nói ăn mà không no bụng. Vả lại, ngộ đã chẳng chân như người chưa đến nhà, muốn ở giữa đường cất nhà để ở, thì nên hay chẳng nên?

Do đó nên biết, đạo đã chẳng ngộ thì tu rất khó vậy.

Hôm nay, khai thị hậu học chỉ dùng thuyết bốn điều dễ, bốn điều khó của Hòa Thượng Phật-Ấn thống thiết trình bày. Các Bồ-Tát học Bát-Nhã ở thiền-đường đều là người xa lìa các thứ thụ hưởng thế gian đến đây cam chịu khổ hạnh, ai mà chẳng nói vì việc lớn sanh tử vô thường, thì nỡ nào để năm tháng trôi qua vô ích.

Trong văn nói như mèo rình bắt chuột, lơ đễnh một chút ắt chuột chạy mất, như gà ấp trứng nếu gián đoạn một chút ắt chẳng thành gà con. Lời nầy đáng tin. Mong mọi người đồng phấn chí sớm ngộ. Minh Bổn tôi hạ nầy ngọa bệnh chẳng thể cùng các huynh đệ luận đạo, cho nên dẫn lời nầy để nhắc nhở. Thời gian qua mau như nước chảy, chớ để về sau hối hận. 

THỊ CHÚNG

Động Sơn qua cầu, Huyền Sa qua núi, Thái Nguyên nghe tiếng tù và, cùng với Thích Ca nửa đêm thấy sao mai mọc đồng một thời tiết, hiện nay ở trên phần các ông không thiếu chút nào!

Xưa hai Tổ Lâm Tế và Đức Sơn, hễ thấy người tham thiền đến, không nỡ lòng dạy bảo, chỉ dùng thủ đoạn (cơ xảo) hét to đánh mạnh, sau nầy thủ đoạn ấy lưu hành chốn tòng lâm, trở thành thường lệ. Thiên hạ tòng lâm nói thiền thao thao mà thật ra chỉ lấy thủ đoạn của Tổ truyền thừa lừa gạt lẫn nhau, khiến cho thuốc hay đến nay thành ra không linh nghiệm.

Tiên sư (Ngài Cao Phong) ba mươi năm thân đứng như vách chỉ lo chữa trị cái việc nầy cho người học, bóp chặt cổ họng không cho ông nói, không cho ông hiểu, cũng không cho ông sanh một niệm thứ hai nào khác. Chỉ hướng lên trên câu thoại đầu, đứng vững gót chân chăm bẳm tham cứu, như gặp kẻ oán địch, như cứu lửa cháy đầu, ngoài bặt cảnh duyên, trong quên tình thức, hầu đợi ông như hạt đậu nổ trong tro lạnh, chết đi sống lại. Ông nếu chưa đến thời tiết nầy, thì quyết chẳng chịu đem ngữ ngôn tương tợ dẫn người đi lầm đường. Phải biết sanh tử vô thường là việc lớn, há người căn khí cạn cợt có thể vượt nổi ư? Người đời nay chẳng hiểu chỗ kiến lập của Phật Tổ thuở xưa, luôn luôn đuổi theo tình cuồng, thức vọng, mở miệng bèn muốn vượt qua Phật Tổ, khi xem đến chí hướng đạo của họ thì không có nửa điểm chân thật chủ tể. Mới đề được câu thoại đầu trong chốc lát, được chút thuần thục liền tự vui mừng, vừa bị hôn trầm, tán loạn cướp đoạt bèn nói căn độn nghiệp sâu. Tình cờ gặp phải vài điều trái ý trước mắt thì tức giận nghiến răng, niệm niệm chẳng dứt. Hoặc nghĩ bậy, tưởng rằng, khởi diệt muôn thứ mà tự chẳng biết, cuồng loạn nằm trong tâm mà tự cho rằng người hành đạo, lý phải như vậy. Trải qua ba năm, năm năm đã chẳng tương ưng, liền sanh tâm lui sụt, bỏ vào trong cái vỏ vô sự cam chịu luân hồi, hạng người như thế rất nhiều. Hoặc chẳng như thế, bèn đem ý thức săn lấy những lời của các thiền sư giả mạo từ xưa đến nay lừa dối Hiền Thánh, muôn điều tạo tác đều là hư-giả đọa-lạc biên kiến, trọn chẳng tự giác.

Muốn cầu một chỗ ổn thỏa, thì hai mươi năm, ba mươi năm chẳng biến chẳng đổi, hướng vào trong bổn tham, chẳng dính với thức trần, lấy ngộ làm cực tắc (cùng tột) như đãi cát tìm vàng. Tòng lâm pháp đạo ngày càng suy đồi, ông có biết chăng? Hôm nay mở to đôi mắt hướng lên tuyệt đỉnh cô phong, thọ người tín thí cúng dường, huống là tự mình cô phụ cái danh tự người hành đạo mà còn cuồng vọng biếng nhác chẳng tự kiểm điểm, đâu biết mai kia trôi giạt vào loài súc sanh chẳng ăn nuốt lẫn nhau kết nghiệp vô gián ư? Người xưa nói: “Tam đồ lục đạo từ vô lượng kiếp đến nay chẳng phải không từng trải qua, đời nay không biết trồng hạnh lành gì mà được gặp nhau dưới chiếc áo ca-sa, nếu chẳng sớm ly tình tuyệt lự bỏ ngủ quên ăn, thời giờ trôi qua, lấy gì nương cậy”.

Núi này từ thuở khai mở đạo tràng đến nay, vào mùa đông lạnh lập kỳ hạn tham thiền. Các ông vào thiền kỳ nầy ắt muốn tìm cái lộn ngược(ý nói là triệt ngộ), chẳng phải môn đình bày đặt ra, cũng chẳng phải cố tự chỉ bày mà là phương thức hiệu nghiệm của tiên-đức dùng để giải quyết xong cái việc của các ông sẵn đủ. Trong giáo nói: “Ta chẳng tiếc thân mạng, chỉ muốn đạo vô thượng”. Ông chỉ thấy tiền bối qua núi, nghe tù-và ngộ một cách dễ dàng, trái lại chẳng biết cái khó của lúc chưa qua núi, chưa nghe tù-và cùng với người bây giờ không khác chút nào vậy. Nếu biết được cái khó ấy thì đạo nào ta cũng hành được.

Đường-chủ, Duy-Na vì thấy tâm chúng giải đãi, thỉnh tôi khuyến khích. Minh Bổn tôi nói hoàn toàn không có lỗ mũi để cho người nắm lấy, chỉ đem việc lớn sanh tử vô thường cho người chân thật vì đạo cố gắng. Nếu không tin, cứ đi hỏi nơi khác.

KIẾT HẠ KHAI THỊ ĐỒ CHÚNG

TẠI THUẬN TÂM AM.

Hôm nay ngày rằm tháng tư, là ngày kiết hạ, phải biết hai ngàn năm trước, trên hội Linh Sơn cũng có ngày rằm tháng tư kiết hạ. Từ đó cho đến ngày nay, tòng lâm các nơi chẳng trái lệ cũ. Chín mươi ngày không dây tự trói, nói là cấm túc, nói là an-cư, lại chẳng biết người chân thật. Học đạo từ một niệm đầu tiên cương quyết liễu thoát việc lớn sanh tử vô-thường thì “túc” nầy ngay nơi đây liền cấm, hạ nầy do đó mà kiết, đem hết năm tháng của trọn cuộc đời làm chín mươi ngày chẳng nhiều, chẳng ít, chẳng bớt, chẳng thêm, để mong cùng việc nầy tương ưng. Về sau gọi đó là thời tiết Phật hoan hỷ, Tăng tự-tứ. Bằng chẳng như thế, chỉ muốn bắt chước thường tình thế gian theo quy củ lễ nhạc chẳng dám vượt qua cho là nhập hạ, chẳng những cô phụ Phật Tổ mà cũng vùi chôn chính mình.

Hôm nay chúng ở am hơn mười người, ai cũng biết có việc nầy, chẳng chịu tự cô phụ, tự chôn vùi, huống là ngay lúc pháp nầy vừa đến, thừa cơ hội nầy phấn khởi một tấm lòng chân thật mạnh mẽ không gián đoạn quyết định chẳng lui sụt, chỉ đề khởi một câu thoại đầu vô nghĩa vô vị. Từ một ngày đầu tiên bắt đầu đứng vững gót chân chẳng được nhúc nhích một chút, kín đáo hạ thủ hướng tới trước, một ngày phải thấy công trình một ngày, một giờ phải thấy ứng nghiệm một giờ. Từ người trên đến kẻ dưới cảnh sách lẫn nhau, mài giũa cho nhau, chẳng tạp duyên, chẳng vọng niệm, chẳng theo vật chuyển, chẳng đuổi theo cảnh, chẳng theo quy củ xưa, chẳng còn phép tắc mới, chẳng chán phàm, chẳng mộ Thánh, cho đến tất cả đều chẳng làm. Chỉ muốn một cái ấy của mình minh bạch. Hốt nhiên bị ông lạnh lùng thấu thoát mới biết chín mươi ngày là cả cuộc đời, cả cuộc đời chính là chín mươi ngày, cho đến hai ngàn năm trước chẳng khác ngày hôm nay, ngày hôm nay chẳng khác hai ngàn năm trước, mắt xích liền nhau trọn không gián đoạn, đây là trường tuyển Phật, tâm không thi đậu về. Ví như chẳng được như vậy thì cái am Thuận-Tâm nầy đâu khác hai hòn núi Thiết-Vi. Đừng cho rằng an-cư vô sự bỏ trôi mùa hạ, biết trước chí nguyện bình-sanh chẳng toại, ở đây có thể thấy vậy.

Am-chủ gởi thư đến thỉnh lời cảnh sách cho chúng, lấy đại sự tham cứu thoại đầu, chẳng những chúng-nhân mà Am-chủ cũng phải tự chiếu cố.

Thiền là bổn lai diện mục của các ông, trừ ngoài cái nầy không có thiền nào có thể tham, cũng không thể thấy, cũng không thể nghe. Ngay cái thấy nghe nầy toàn thể là thiền, lìa ngoài thiền cũng không riêng có thấy nghe cho mình đắc được. Các ông tụ họp nơi đây, mỗi người riêng có một công án chẳng liễu ngộ chứa ở trong gan phổi, chẳng phải là duyên nhỏ đâu! Trong suốt ngày đêm chớ lầm dụng tâm thì tốt. Người xưa nói: “Tham thiền học đạo là lầm dụng tâm, thành Phật làm Tổ là lầm dụng tâm. Trừ ngoài cái nầy ra, lại làm cái gì mới chẳng gọi là lầm dụng tâm?”. Việc nầy hãy gác lại, chẳng hỏi.

Chỉ như các ông mỗi người trong lòng đều vốn có một bổn cổ-thanh-quy (quyển ghi qui củ xưa), chẳng nên phạm vào lúa mạ người. Như canh năm, khi thiền đường đánh bảng khởi tham, chẳng kịp rửa mặt cũng phải theo chúng xuống đất chạy một vòng rồi đợi đại chúng vào thiền đường thì lên tọa cụ ngồi thẳng, hễ nghe bảng khai tịnh đánh thì xếp tọa cụ, đắp ca-sa mang bát đi ăn cháo. Phàm ăn cơm cháo phải xem trên dưới, chúng mau thì mau, chúng chậm thì chậm để chẳng làm động tâm niệm người khác. Huống là cử chỉ động tịnh mỗi mỗi đều có oai nghi phải tuân theo, chớ nói ta là người hành đạo đại ngộ chẳng chấp tiểu-tiết; ngặt vì ông chưa ngộ, đâu thể nói chẳng tuân theo quy củ. Bởi do cái chánh niệm vì đạo chẳng thiết tha vì thế cử chỉ không đàng hoàng cho đến phá phạm luật-nghi, tự mất chánh-nhân, bị người khinh mạn.

Các ông đây mỗi người hãy tự xét kỹ, như pháp tuần thiền đường, thống thiết vì việc lớn sanh tử chưa được rõ ràng, sợ năm tháng trôi suông, bị người đánh một cái chẳng hỏi mình có đau hay không đau đều coi như uống nước cam-lồ, phải phấn khởi dũng mãnh cực lực hướng tới trước, há có thể trở lại sanh giận hờn mà ôm lòng báo oán ư? Sanh tử vô thường là một tập quán tai hại muôn kiếp dao cắt chẳng ra, cưa xẻ chẳng đứt. Ngày nay đã chịu bắt đầu phát tâm chân thật, ở cao trên đảnh lạnh lùng, hận chẳng được kéo dài một ngày ra làm mười ngày, đứng vững gót chân để hạ thủ đi! Hễ thấy mặt trời lặn sau núi thì sanh lòng than tiếc lại qua mất một ngày, đạo nghiệp chưa xong, nhãn quang lạc địa (ý nói là chết) rốt cuộc lấy gì báo đáp ân Phật Tổ, đàn việt. Đợi chi đến lúc tay chân rối loạn; ngày hôm nay lúc bệnh chưa đến thân hãy sớm tìm lấy cái lộn ngược (ngộ) đi!.

Minh Bổn tôi chỗ thấy như thế, lại chẳng từng đem việc dây dưa vô ích dạy bảo cho người, chỉ thực lòng cho biết như thế từ sự chân thật bảo nhau. Tôi muốn thuận theo lời thỉnh của các ông qua am nói chuyện, vì sẵn có việc đi Tây-Sơn, nên phiền Đường-Chủ thay thế tôi bạch với chúng. Mọi người hãy tự tham cứu, chớ nên dễ dãi. Ước mong mọi người chấn chỉnh tinh thần sớm cầu giải thoát, cũng chẳng cho luôn luôn qua sông qua núi tìm nhau, đối với đạo vô ích.

KHAI THỊ CHÚNG PHÁT BỒ-ĐỀ-TÂM

Bồ-Đề-tâm là tiếng Phạn, ở đây gọi là đạo tâm. Các ông nếu không có tâm hướng về đạo thì ngày nay quyết chẳng chịu đến đảnh núi cao nầy mài đũng quần ngày đêm siêng năng cực khổ tham cứu sanh tử. Phải biết cái đạo tâm nầy xa từ nhiều kiếp trước kia đã từng phát khởi, chỉ vì tâm nhiều biếng nhác, ý chạy đuổi phan duyên nên chưa thủ chứng. Đến hôm nay cần phải cắt đứt các duyên, thôi dứt muôn lự, chỉ đề khởi một câu thoại đầu sở tham liều mạng một đời giải quyết cho xong, chẳng phải là việc ngoài bổn phận. Chánh niệm nầy chẳng thể kiên cố miên mật dằng dặc bảo nhậm, lại muốn chợt sanh tình vọng, rồi muốn phát Bồ-Đề-tâm. Đây là hư vọng điên đảo, mất chánh niệm, hướng ra ngoài tìm cầu, trái ngược với chân-tâm, cùng đạo cách tuyệt. Đừng nói phát Bồ Đề tâm một lần, mà một ngày phát ngàn lần muôn lần cũng chẳng bằng một niệm chánh niệm bảo nhậm thoại đầu sở tham. Lại muốn tụng kinh, lễ bái, phát lồ sám hối v.v.. đều theo vọng theo tà, há chẳng thấy trong kinh nói: “Nếu người muốn sám hối nên ngồi thẳng niệm thật tướng”. Phải biết thật tướng cũng là vô niệm. Chỉ cần ông tin được có việc lớn sanh tử, trong suốt ngày đêm đề khởi câu thoại đầu sở tham như cứu lửa cháy đầu là niệm thật tướng vậy. Người huyễn (Ngài Minh Bổn tự xưng) như có một chữ dối gạt các ông, tự cam chịu hằng đọa địa ngục rút lưỡi. Xin duyệt-chúng hãy nói cho những người muốn phát Bồ-Đề tâm biết, nên bỏ ý định đó đi, mà phải dốc lòng hành đạo mới đúng! 

THỊ CHÚNG

Chiều tối hôm trước, Thủ-tọa cùng Duy-na đến am nói gần đến ngày kiết hạ thỉnh tôi nói chuyện với chúng. Tôi nhận lời mời thỉnh, hứa hai ba hôm có rảnh sẽ qua am uống chén trà cùng nhau nói chuyện giây lát để cảnh sách nhau. Chẳng ngờ mưa tầm tã mấy ngày liên tiếp, đường sá trơn trợt bất tiện. Qua đến ngày 12 thì nhân sự hai núi rộn ràng, giao tiếp như thế chẳng toại lòng tránh xa của người huyễn nầy.

Tôi nghĩ rằng, đại chúng của cả thiền đường đều là hàng lão-tham, lúc bình thường đến gõ cửa am chưa từng có ai chẳng đem việc trên bồ đoàn tham vấn, thì đâu có lấy kiết hạ giải hạ làm thời tiết hành đạo. Nếu nói về chí lý, lúc bắt đầu mới phát tâm hướng về đạo, hạ nầy đã từng kiết rồi. Trong suốt ngày đêm khán câu thoại đầu vô nghĩa vô vị chưa được liễu ngộ tức là thời gian ở trong hạ. Hai ba mươi năm thôi thúc đến chỗ tình thức tiêu hết, hốt nhiên mãnh tỉnh (ngộ) được cái ấy, tức là lúc giải hạ, ngày tự-tứ. Há chỉ lấy có chín mươi ngày làm hạ ư?

Tham thiền chẳng linh nghiệm, thường thường chỉ là tâm trộm cắp chưa chết, vì thế năm tháng trôi suông, chứ không phải bệnh nào khác. Nếu tâm trộm cắp nầy chết ở ngày hôm nay thì ngày hôm nay liền tương ưng, chết ở ngày mai thì ngày mai bèn tương ưng.

            Cái gì là tâm trộm cắp?

Hễ lìa câu thoại đầu sở tham ra, riêng thấy có tự kỷ, là tâm trộm cắp; ngoài cái tự kỷ thấy có nhân, có ngã, là tâm trộm cắp; lúc tham được thuần thục biết thuần thục, ấy là tâm trộm cắp; lúc tham chẳng thuần thục biết là chẳng thuần thục, ấy là tâm trộm cắp; lúc thấy có hôn trầm tán loạn, ấy là tâm trộm cắp; lúc chẳng thấy có hôn trầm tán loạn, chỉ có câu thoại đầu sở tham cùng nghi tình giao kết chẳng gián đoạn, ấy là tâm trộm cắp; hễ ở chỗ khán thoại đầu chợt sanh một niệm biết, bất luận là phàm, là Thánh, là chân, là ngụy, nói chung đều là tâm trộm cắp; bỗng có người linh lợi hướng vào chỗ tôi nói để đàm luận dẫn chứng giúp cho một con đường là đạo, là lý, là kiến, là văn, đều cho là chẳng dính dáng đây là trong tâm trộm cắp thêm tâm trộm cắp, Phật cũng chẳng thể cứu chữa. Chỉ cần hết được những tâm trộm cắp, chỉ thế ấy y bổn phận nắm chắc câu thoại đầu sở tham như tượng gỗ tượng đất, như người chết có hơi thở, ngoài chẳng thấy có đại chúng, trong chẳng thấy có tự kỷ, lạnh băng băng, tuyệt kiến văn, như vậy giữ đi, lâu ngày sẽ được tâm không thi đậu về.

Viết dối mấy lời nầy để đền lại lời hứa uống trà nói chuyện trong Am. Minh Bổn tôi qua núi tránh nhân sự mấy ngày, chẳng nên tìm hỏi dấu huyễn ở chỗ nào. Dẫu cho tìm thấy cũng không cùng nhau nói chuyện. Mong Thủ-tọa, Duy-na bạch cho chúng biết.

KHAI THỊ THIỀN NHÂN CHÁNH VĂN

  1.        I. Bổn phận của người xuất gia phải đắc tọa phi y(có chân thật tu hành) mới đáng thọ nhận Trời người cúng dường.

Trong kinh nói Tọa nghĩa là các pháp không, nói Y tức là nhu hòa nhẫn nhục. Thiền Tông nói tọa tức là một niệm chẳng lui sụt, nói y nghĩa là ngộ suốt tự tâm, chẳng mang nhánh lá. Ví như chẳng được như vậy thì sợi chỉ giọt nước chắc chắn phải bồi thường cho thí chủ. Phật Tổ thuở xưa mắt chẳng nỡ thấy, nên khai mở pháp môn cam lồ nầy, chẳng phải cầu ẩn dật, cũng chẳng phải cầu nhàn tản, cũng chẳng phải cầu cao thượng việc ấy để được nổi danh, chẳng phải cầu tích tụ của cải cho nhiều để mưu toan lợi lộc một cách xấu xa. Người xưa ba y một bát, ngoài ra đều coi là vật thừa phải luôn luôn thuyết tịnh (giao bố thí cho người khác) mà chẳng cất chứa. Chỉ thanh bần tự luyện lọc chẳng dám phạm vào lúa mạ, động tâm niệm của người khác, kín đáo dẹp bỏ vọng tình, sâu vào thiền vị thì biện luận giỏi thấy dường như câm, rất khéo thấy dường như vụng, thề ở dưới muôn người, chẳng cao hơn một người. Khiêm tốn hạ mình chẳng ỷ vào sở trường của mình mà xem thường người không có khả năng. Chỉ sợ một niệm chẳng đặt nơi đạo, chẳng khắc kỷ, chẳng lợi vật, chẳng tham cứu tâm. Chánh niệm tham học luôn luôn cố gắng, chẳng đến chỗ ruộng đất của người xưa thì dầu có gặp cảnh thuận chẳng biến, cảnh nghịch chẳng đổi, ắt hy vọng sau nầy vượt lên cao, đến chỗ xa. Được như vậy thì suốt đời chẳng động mà cũng được dạo đi khắp nơi, cũng được đều không gián đoạn.

Thiền nhân Chánh-Văn viết thư đến cầu lời cảnh sách. Tôi thuận tay viết vài lời khai thị. Nếu thật có thể chẳng trái lời nầy ắt chẳng nhục cái danh người tham thiền.

  1.          II. Người xưa học đạo có linh nghiệm là vì tâm trộm cắp chết hết.

Tâm trộm cắp còn một mảy lông chết chẳng hết thì muôn kiếp không có lý tự thành. Nói thẳng ra, chết được một phần tâm trộm cắp thì học được một phần đạo, chết được tâm trộm cắp năm phần thì học được năm phần đạo, tâm trộm cắp hoàn toàn không thì toàn thể là đạo; bởi vì sự chướng đạo của tâm trộm cắp giống như bụi bặm che mất ánh sáng của gương.

Người thời nay chỉ biết có đạo để thành mà chẳng biết có tâm trộm cắp nên hết. Hoặc tâm trộm cắp chưa hết mà muốn đạo được thành, khác gì ngồi ở trong nước mà muốn đừng ướt, xưa nay trong thiên hạ không có lẽ đó.

Thuở xưa, Hòa Thượng Vĩnh Minh thống thiết nói: “Tình sanh trí cách, tưởng biến thể thù”, nghĩa là: tình cảm nổi dậy thì trí huệ bị che lấp, tư tưởng biến đổi thì thân thể cũng theo đó mà biến dạng, khiến công án sẵn sàng, của báu gia truyền chẳng được thọ dụng. Tình sanh tưởng biến tức là biệt danh của tâm trộm cắp mà tôi vừa nói. Muốn cho bất cứ lúc nào tình chẳng sanh, bất cứ chỗ nào tưởng chẳng biến thì cần phải thật đem việc lớn sanh tử để ở trong lòng lấp bít ý căn, tình vừa muốn sanh thì bị nó ngăn, tưởng toan muốn biến liền bị nó đoạt. Ông nếu chẳng thiết tha vì việc lớn sanh tử, ở trong lòng khán câu thoại đầu quyết cầu ngộ chứng mà chỉ một bề đè nén cho tình tưởng kia chẳng sanh chẳng biến, khác chi người đã chết mà còn muốn thở ra hít vô để làm gì!

Người xưa có câu: “Tham thiền không bí quyết, chỉ cần sanh tử thiết”. Lời nầy thật thông suốt cả ba đời, là cội gốc lớn của sự học đạo. Ví như chẳng lấy sanh tử vô thường làm trách nhiệm nặng nề của mình, nằng nặc muốn hiểu thiền, hiểu đạo, mà tham cứu việc nầy, thì giống như bảo người tịch cốc (những người suốt đời không biết đói, không cầu ăn), đi cấy trồng mà chẳng biết đó chẳng phải là việc của họ (vì họ không cần ăn thì cày cấy để làm gì).

Bậc tiền bối ba mươi năm, năm mươi năm chí càng bền, niệm càng thiết, hạnh càng siêng và chẳng chịu có chút gián đoạn, chẳng phải do thầy bạn cảnh sách, tòng lâm khuyến khích, ngôn thuyết chỉ bày, phương tiện khuyến tấn mà được như vậy. Mà bởi cội gốc của các Ngài chỉ là một cái chí nguyện thống niệm sanh tử chưa giải quyết xong. Giả sử đời nầy chẳng xong thì đời nào mới xong! Niệm tấn đạo nếu tự chẳng chân thật thiết tha, dẫu Phật Tổ có thần dị đổi phàm thành Thánh, khiến A-La-Hán khởi tham sân si, tuy cố mà làm đó, quyết chẳng thể lâu được.

Có người vì muốn hiểu đạo mà học đạo, mà không phá được cảnh duyên phù huyễn nổi trước mắt, lại bị cảnh duyên đó làm cho vọng niệm khởi lên chẳng dừng. Vọng niệm đã khởi thì dầu sức học đạo như núi gò, sẽ thấy có ngày bị vọng niệm làm hại. Kinh Lăng Nghiêm nói: “Cuồng tâm nên ngưng nghỉ, ngưng nghỉ tức Bồ Đề”. Cái gì là cuồng tâm? Hễ ngoài việc thống niệm sanh tử, đề câu thoại đầu sở tham ra, dù có làm trăm ngàn điều siêu việt thế gian, đều chẳng khỏi bị chê là cuồng tâm.

Tổ Thiếu-Lâm nói: “Ngoài dứt các duyên, trong không nghĩ tưởng, tâm như tường vách, có thể vào đạo”. Nhưng “vào đạo” gác lại. Tâm nầy có từng như tường vách hay chưa? Nếu chưa mà mong muốn nhập đạo, đó là điều chẳng tự xét.

Tham thiền cả một đời chẳng ngộ, học đạo cả một đời chẳng rõ, chỉ cần chẳng dễ dàng buông bỏ cái chánh niệm nầy để tham để học thì chắc chắn có ngày đến được chỗ cùng tột. Nếu bỏ chánh niệm nầy vọng đem thức tình xuyên tạc, lấy lời người khác làm kiến giải của mình, dẫu hiểu hết cổ kim, tọa đoạn (quét sạch) Phật Tổ cũng đều là dối trình cuồng kiến, tự mang tội lỗi, chẳng phải là điều của người chân thật học đạo làm.

Thiền-nhân Văn gửi thư đến cầu pháp tham thiền, nhân lúc không có khách đến, thuận tay bất giác viết dây dưa như thế, ông như có chí thì lời nầy của tôi cũng chẳng hóa ra vô ích. Hãy cố gắng lên!

KHAI THỊ THIỀN NHÂN KHẢ ÔNG NHIÊN

 Ở HẢI ĐÔNG

  1.        I. Núi sông đất đai chẳng ngại nhãn quang, sáng tối sắc không qui về tự kỷ. Cử tâm động niệm chẳng phải người khác, thấy sắc nghe tiếng xưa nay sẵn sàng.

Vì tự chẳng về, về liền được,

Cảnh đẹp quê hương có ai tranh.

Những lời nói nầy, người có chút thông minh nghe qua đều biết có. Dầu cho ông ghi nhớ được nhiều, nói được thông thuộc, đối với sanh tử tình vọng của chính mình muốn hoàn toàn quét sạch thì xiết bao xa cách như trời với đất. Hiện nay ở bên bờ sanh tử, mở to đôi mắt giữa ban ngày, đối thanh đối sắc, gặp thuận gặp nghịch, hễ có một niệm khởi diệt càng thấy quét sạch chẳng nổi, mà dẫu cho đối với thị phi thuận nghịch mỗi mỗi đều quét sạch được, cái biết quét sạch ấy cũng là lấy trò đồng bóng làm chủ tể, mà sống theo nhà ma quỷ, có dùng được gì!

Hiện nay nhiều nơi dạy người tham thiền phần nhiều chỉ tham những loại thiền nầy, chỉ quý thuyết thông, chẳng cầu tâm ngộ. Nếu cái tâm chí linh này chẳng từng hướng lên trên ruộng đất chân thật triệt ngộ một phen, mặc cho ông lấy cái tư chất thông minh hướng vào trong bụng Thích Ca, Đạt Ma cho đến Lâm Tế, Đức Sơn nhất thời chạy qua trăm vòng, ngàn vòng thấy suốt tim phổi, cũng chính là si cuồng chạy ở bên ngoài vậy.

Người chân thật có chí vì sanh tử, hẳn chẳng chịu đạp bước vào lối mòn nầy. Chỉ nắm lấy một câu thoại đầu sở tham vô nghĩa vô vị đó liền tại trước mắt tương tự như người chết. Duy có một cái tâm chân tham thật cứu, không khởi một chút vọng tưởng muốn hiểu thiền, hiểu đạo. Giả sử chính ngay lúc tham, Thích Ca, Di Lặc đem hết tam muội đổ trút vào bụng ông, ngay lúc ấy ông phải mửa ra hết, tình nguyện suốt đời chẳng hiểu Phật pháp, quyết chẳng ở trước khi chưa ngộ vọng đem ý thức hướng vào sự kỳ-đặc của người khác lập bày, thấm lấy một điểm vào trong tâm thức, đó là đàm dãi con chồn ([1]) hay khiến cho người ta mắt thấy hoa đốm giữa hư không, si cuồng chạy bên ngoài, không giúp được gì cả. Ông nếu tham đến trăm năm sau rõ ràng ở dưới thân mình không có chỗ xu hướng, chính là người tốt thanh tịnh bậc nhất. Ông chỉ cần lòng tin chẳng lui sụt, đời sau quyết định ông có cái thời tiết chân chánh ngộ đạo. Ông nếu muốn gấp hiểu thiền, thì ngay cái gấp nầy chính là hướng vào trong lưới luân hồi rồi vậy. Ngài Qui Sơn nói: “Tông nầy khó được cái chỗ sâu mầu nhiệm của nó, rất cần phải kỹ lưỡng dụng tâm”.

Lão huyễn (Ngài Minh Bổn tự xưng) nói như thế chỉ muốn người quyết liễu việc lớn sanh tử, chẳng muốn người chỉ lo đem tâm thức hướng lên con đường nghĩa lý xuyên tạc cổ kim. Ông nếu vượt qua sanh tử chẳng nổi, phải bước chân nhằm vào thực tế như vậy mà đi! Ông nếu chỉ muốn hiểu Thiền, Phật cũng chẳng giúp gì cho ông được.

Khả-Ông cầu cảnh sách, lão huyễn viết như thế.

  1.          II. Người xưa nói: “Thần quang chiếu khắp(kiến tánh) là đạo quý nhất của muôn đời, vào cửa nầy rồi, chớ còn tri giải”.

Kinh Lăng Nghiêm cũng nói: “Tri kiến lập tri tức gốc vô minh, tri kiến vô kiến tức là Niết Bàn”.

Từ xưa chư Phật, chư Tổ quét sạch tri giải của người học chẳng phải là vô cớ. Bởi vì đạo nầy là pháp môn nhất-tướng bình đẳng, dày như đất đỡ nâng, rộng như trời trùm khắp, không có chỗ nào cho ông đặt tâm, không có chỗ cho ông để ý, không có chỗ cho ông ra sức, nhẫn đến không có chỗ cho ông ngồi, chỉ quý trước lúc chưa đi ỉa (chưa ngộ), xa được liền hành, vừa muốn nghĩ suy thì chẳng dính dáng.

Người thời nay thấy nói như thế, liền đem ý thức ra lãnh hội, rơi vào trong lưới tri giải, chẳng cầu cái ngộ chân chánh. Ông nếu chẳng từng chân chánh nhắm dưới gót chân rõ ràng khai ngộ một phen thì mặc cho ông đem hết những ngữ ngôn tương tự trong Truyền Đăng Lục dùng tâm ý thức gánh vác, y theo người khác để hiểu, luôn luôn nói: “Việc nầy xưa nay đầy đủ, Phật cùng chúng sanh nguyên không thiếu kém, bình thường mặc áo ăn cơm đều là tam muội sẵn sàng, ông muốn đem tâm riêng cầu Phật pháp, trở thành thịt da lành lặn, khoét thành vết thương”. Nói được cũng tương tợ, ngặt vì ông chưa hướng vào chỗ tình quên, thức hết mà ngộ. Vì ông chưa ngộ nên nói càng gần thì thức tình càng mạnh. Nếu là người muốn rõ việc lớn sanh tử thì chẳng chịu khi chưa ngộ lầm giữ lấy tri giải, lầm hiểu Phật pháp. Bất cứ lúc nào cũng chỉ nắm lấy câu thoại đầu vô nghĩa, vô vị để tham, tương tợ như gậm một thanh sắt sống. Sáng gặm chẳng đứt, chiều gặm nữa; năm nay gặm chẳng đứt, sang năm gặm nữa; càng gặm chẳng đứt thì không ngừng gặm, chẳng chịu bỏ ngang. Nói gì ba mươi năm, năm mươi năm, gặm đến chỗ cùng cực, thì có thời tiết đứt gãy. Chỉ cần có lòng tin kiên cố chẳng đổi chẳng dời, muốn gặm đứt thì đâu có lẽ nào không xong việc lớn. Chỉ vì cái chánh niệm hướng đến đạo của ông chẳng kiên cố chẳng miên mật, chưa từng đặt chân vững chắc lên câu thoại đầu sở tham nên ngẫu nhiên thấy người nói tương tợ Bát-Nhã lại đem tâm học giải. Nếu như còn giữ những thứ kiến giải lầm lạc nầy mà muốn chân chánh ngộ-minh, ấy là đi sụt lùi mà muốn tiến tới trước, không có lý nầy vậy.

Thủ-tọa Khả-Ông mang tư chất thông minh, có chí lớn quyết liễu thoát sanh tử, ban đầu vô cớ rước lấy một thứ tương tợ tri giải. Hơn ba năm ở núi, gần đây mới tin được nổi và chẳng bị tri giải làm mê hoặc. Nay khởi niệm nhớ cố hương, lập chí lớn nguyện hết những năm về chiều ra sức tham cứu đến chỗ cùng tận sâu xa để mong chánh ngộ. Ông lại viết thư xin lời cảnh sách, do đó tôi dẫn lời trước để dạy ông. Còn có một câu sau cùng hai tay xin trao gửi:

Phải nên chỗ ngộ cầu siêu việt,

Chớ nhằm bên nghe, giữ kiến tri.

Hãy nhớ lấy! nhớ lấy!

KHAI THỊ THỦ TỌA LINH TẨU CỔ

Tham thiền phải giải quyết xong cái nghi tình sanh tử. Cái nghi nầy đã giải quyết, thì tất cả thị phi sai biệt đồng thời đều giải quyết. Đã giải quyết xong như thế mới biết xưa nay không một vật. Ở chỗ không một vật cũng không có người nghi, cũng không có người sanh tử, cũng không có người giải quyết, cũng không có người nhận lời nói như thế, tất cả đều thâu về tự kỷ, chẳng nghĩ thiện, chẳng nghĩ ác, pháp tánh xưa nay bình đẳng. Đến chỗ này còn nói có một tí ti như vi trần là Phật, là pháp, là thiền, là đạo đều rơi vào vọng duyên. Thiền đạo, Phật pháp còn là vọng thì há nghi cùng chẳng nghi chẳng phải là vọng ư?

Ông nếu thật chưa từng hướng về tự kỷ triệt ngộ một phen chưa thấu suốt nguồn đáy, bèn hướng vào trong tâm trần lao hư vọng phóng túng sanh ra vọng kiến, lấy câu: “Bổn lai vô nhất vật” của người khác, dùng tình ý thức hòa hội suy tính rồi nói không có tam giới để ra, không có Niết Bàn để chứng. Nói được cũng tương tợ, song chỉ là lời nói thôi, nên đều trở thành vọng kiến; tính đem vọng kiến để thoát sanh tử thì có khác nào ôm củi chữa lửa, lửa càng cháy mạnh, thật là vô lý.

Ông nếu chân thật muốn hạ thủ công phu, trước tiên đem cái việc lớn sanh tử vô thường đặt ở trong lòng không cho có chút gián đoạn chỉ đề một câu thoại đầu, hết một báo thân nầy hướng thẳng tới trước đi. Điều thiết yếu là chẳng được nghĩ trước tính sau, hạ thủ công phu được, cũng như thế ấy hạ thủ, hạ thủ công phu chẳng được, cũng như thế ấy hạ thủ. Lâu ngày chẳng thay chẳng đổi, công phu thuần thục, việc hay giỏi đều quên, các vọng đều tiêu, bất giác bất tri ngộ nhập.

Công phu có thuần thục hay không thuần thục, nghi tình có khởi hay không khởi. Người xưa nói: “Tham thiền không bí quyết, chỉ cần sanh tử thiết”. Một cái tâm vì việc lớn sanh tử nầy của ông chí thiết chí chân, chỉ từ trên cái tâm chân thiết đều là nghi tình, tự nhiên chẳng cần buông bỏ hay bày đặt. Làm lâu ngày, cái tâm thiết tha vì sanh tử chẳng gián đoạn thì đầu đuôi xuyên suốt, thì còn có pháp nào có thể làm chướng ngại!

Cái chánh niệm vì sanh tử của ông chẳng chân chẳng thiết, chỉ lo cố đề thoại đầu khởi mạnh nghi tình, quyết định chẳng thể khai ngộ. Hễ cố được một lúc thì nghi được một lúc, cái tâm cố làm đó thối một chút thì nghi tình cũng theo đó mất luôn.

Chỉ cần ở chỗ công phu chẳng thuần thục, chẳng nên cố khởi nghi tình, chỉ cần đem sanh tử vô thường suy nghĩ một bận xem, thấy đến không biết phải làm sao, không có phương tiện có thể phá trừ, duy có một câu thoại đầu. Lại mạnh mẽ đề khởi cùng nó hạ thủ đi, hạ thủ được, cũng như thế ấy hạ thủ, hạ thủ chẳng được, cũng như thế ấy hạ thủ. Hạ thủ đến chỗ chẳng biết làm thế nào, bèn là lúc công phu thuần thục, cũng chẳng nên nghĩ là thuần thục, chỉ đầu đuôi nối nhau hạ thủ đi! Hạ thủ như thế mà chẳng triệt chứng thì thật vô lý!

Nói khó nói dễ đều do người đó dùng sự suy lường của mình mà phân biệt, chứ thật ra tuyệt không có khó dễ. Như Đức Sơn thấy thổi tắt cây đuốc, liền lãnh hội, Linh Vân thấy hoa đào, ngay khi ấy lãnh hội. Cơ duyên như thế là dễ hay khó. Phải biết ở trên phần của Đức Sơn, Linh Vân là dễ, ở trên phần người khác thì chẳng phải dễ. Ông nếu chẳng lấy việc lớn sanh tử làm nhiệm vụ nặng nề của mình, quyết ý tham vấn nguyện cầu chánh ngộ, dẫu cho đem 1700 công án, mỗi mỗi chú giải để cho ông hiểu, có thể nói là dễ đấy. Song chẳng biết hiểu lời nói là dễ, thấu được sanh tử tình vọng kia thì khó đó lại khó. Chỉ cần tin được một câu thoại đầu liên tục tham cứu, cũng chẳng cần hỏi là dễ hay khó. Lâu ngày tâm tánh sáng suốt thì khó cùng với dễ chẳng cần phải nói.

Chữ “KHÔNG” và “Sau khi chết, thiêu rồi, cái gì là tánh của ta” đã là hai lớp, dù tôi có chỉ ông thoại đầu thì chẳng xiết lộn xộn, công phu càng thấy đa đoan. Hôm nay ông chỉ cần đem hai câu thoại đầu kể trên xem câu nào được thuần thục hơn, rồi chỉ lấy một câu khán được thuần thục đó, đứng vững gót chân, cứ như thế một niệm muôn năm hạ thủ đi. Hạ thủ không ngừng, một chỗ thấu thì ngàn muôn chỗ đồng thời thấu. Hạ thủ đến chỗ quên cả mê ngộ, mất hết Thánh phàm, nhìn lại thấy một ngàn bảy trăm  tắc công án đều là lời nói dư, chỉ là mạt vàng làm loà mắt mà thôi. Hãy kỹ lưỡng, hãy kỹ lưỡng!

Ba năm nay, tôi không viết chữ cũng không nói chuyện với người, vì ông từ xa đến hỏi, bất giác nói dây dưa như thế. 

KHAI THỊ THỦ TỌA UYÊN Ở HẢI ĐÔNG

Trên công phu nói khởi nghi tình, phải biết nghi tình vốn không có những việc chỉ bảo truyền thụ, cũng không có hình dạng, cũng không có tri giác cũng không có cán nắm, cũng không có xu hướng, cũng không có phương tiện, cũng không có tạo tác an bài v.v… lại không riêng có đạo lý có thể sắp đặt chỉ bảo được để làm cho ông khởi nghi.

Chỗ gọi là nghi đó, chỉ là một việc lớn sanh tử ngay nơi bản thân ông chưa từng sáng tỏ, chỉ nghi việc lớn sanh tử nầy vì sao từ vô lượng kiếp đến nay trôi lăn mãi đến ngày hôm nay là cái lỗ mũi nào. Lại vì sao từ ngày nay bị trôi vào tận đời vị lai, quyết định có ngày nào xong? Chỉ cái nầy là chỗ nghi. Từ xưa Phật Tổ đều từ cái nghi nầy nghi mãi chẳng thôi tự nhiên đường tâm bặt, tình vọng tiêu, tri giải hết, năng sở quên, bất giác hốt nhiên tương ưng, tức là thời tiết của nghi tình vỡ.

Người xưa cũng chẳng từng đi khán thoại đầu, tham công án, lên bồ đoàn làm hình thức, mà chỉ thiết tha ở trên việc lớn sanh tử khởi nghi, đi ba ngàn dặm, năm ngàn dặm tìm gặp thiện tri thức, chưa kịp cởi giày cỏ đã liền nói ngay: “Con vì việc lớn sanh tử, vô thường nhanh chóng”. Ngàn người, muôn người đều như thế, xuất gia như thế, hành cước (du phương) như thế, cầu thiện tri thức như thế, học đạo như thế, chẳng làm cái việc thứ hai nào khác, giả sử có cũng chẳng làm.

Từ đời sau đến ngày nay, dưới Thiền Tông chẳng nên có những lời dây dưa phổ biến, thường thường chân chưa bước vào cửa đã bị một thứ ngữ ngôn nầy dẫn dụ đem đi vào trong hang ổ dây dưa trói buộc, gọi là Phật pháp, gọi là Thiền đạo, bị cuốn vào trong lưới tri giải chẳng được xuất đầu, chỉ thêm đa văn là sở tri chướng, đối với đạo chẳng từng có chút dính dáng. Các bậc tôn túc gần đây chẳng nỡ thấy trong tùng lâm có một tệ bệnh nầy, chưa đợi ông mở miệng, chỉ đem một câu thoại đầu vô nghĩa vô vị quăng ra trước mặt người học, chỉ muốn ông buông bỏ tất cả thân tâm, thế giới, các duyên tạp niệm và thiền đạo, Phật pháp, ngữ ngôn, văn tự v.v…Chỉ dạy ông hướng lên trên câu thoại đầu nầy khởi đại nghi tình tham cứu đi!

Chính ngay lúc tham cũng chẳng phải muốn rõ Phật pháp mà tham, cũng chẳng phải muốn hiểu thiền đạo mà tham, cũng chẳng phải muốn cầu tất cả tri giải mà tham. Chỗ dụng tâm tham chỉ là chính mình có cái việc lớn sanh tử vô thường mà không biết làm sao? Vì thế tham đến chỗ thoại đầu vỡ thì việc lớn sanh tử cũng theo đó đều vỡ. Chỗ việc lớn sanh tử rõ thì tất cả ngữ ngôn văn tự cũng theo đó đều rõ. Ngoài sanh tử ra, không riêng có thoại đầu. Ngoài thoại đầu ra không riêng có sanh tử.

Từ xưa cổ nhân chỉ nghi sanh tử mà liễu ngộ đạo, người thời nay chỉ nghi thoại đầu mà liễu ngộ đạo. Cái việc khởi nghi tình dường như có khác, nhưng cái đạo ngộ kia thật không xưa không nay, không tạp không khác.

Chính đương lúc nghi thoại đầu cũng chớ cầu phương tiện, cần phải tin tham thiền không có phương tiện; cũng chớ cầu xu hướng, phải biết tham thiền không có xu hướng; cũng chớ cầu cán nắm, phải biết tham thiền không có cán nắm. Nói phương tiện thì câu thoại đầu là phương tiện, câu thoại đầu là xu hướng, câu thoại đầu là cán nắm. Chỉ cần tin được nổi, dựa được ổn. Đời nầy tham câu thoại đầu, quyết định phải ở trên câu thoại đầu nầy thấu triệt, như chưa thấu triệt cũng không sao, chỉ vì tự mình thiếu sự gan dạ, thiếu sự kiên cố, thiếu sự bất thoái chuyển, thiếu niềm tin và sự nắm chắc mà thôi. Chỉ cần nắm được chánh niệm tham câu thoại đầu cho chắc, cũng đừng để ý đến hôn trầm tán loạn, cũng đừng để ý đến động tịnh nói nín, cũng đừng để ý đến sanh, già, bệnh, chết, cũng đừng để ý đến khổ vui thuận nghịch, cũng đừng để ý đến thành tựu hay chẳng thành tựu v.v… cho đến trừ cái chánh niệm tham câu thoại đầu nầy ra,dẫu cho tam thế chư Phật, lịch đại Tổ Sư đồng thời hiện ra trước mặt đem pháp yếu vô thượng đệ nhất nghĩa đế trút vào trong bụng ta, cũng cần phải lập tức mửa ra, và cũng đừng để ý đến các Ngài. Bởi vì việc nầy chẳng ở trên Phật Tổ, chẳng ở trên cảnh duyên, chẳng ở trên văn tự, chẳng ở trên tri giải, chỉ ở chỗ tột cùng là ông tin được việc lớn sanh tử vô thường. Vì chẳng biết phải làm sao để giải quyết vấn đề sanh tử nên phải tham thoại đầu của cổ nhân. Trừ một cái niệm tham thoại đầu của cổ nhân nầy ra còn muốn hướng vào trong một niệm thứ hai tìm kiếm thì giống như vạch sóng tìm nước vậy. Cổ nhân nói:”Mật ở bên ông”. Và đâu từng có một pháp cho người để thấy nghe, để nắm giữ. Hôm nay dạy ông khán câu thoại đầu đã là bất đắc dĩ rồi. Nếu ngoài câu thoại đầu nầy ra, lại suy nghĩ tính toán càng không dính dáng. Lâu ngày, về sau công phu thuần thục, thời tiết đến, nghi tình vỡ. Phải biết nghi đó, tham đó cho đến cùng câu thoại đầu quy về tự kỷ, lại không có một pháp có lý lẽ, cũng không có một pháp là liễu hay chẳng liễu, cho nên trong Kinh nói: “Sum-la vạn tượng, một pháp sở ấn”. Chỉ một pháp cũng không có chỗ tìm, há có câu thoại đầu ư? Chỉ cần tin nhận, quyết chẳng gạt nhau.

Thiền nhân Uyên ở Hải Đông hằng ngày ở trong tăng đường, nhân khán thoại đầu chưa xong, viết thư cầu chỉ dạy, tôi viết vài lời đáp ông như thế.

KHAI THỊ THIỀN NHÂN VÔ ĐỊA LẬP

Bốn chữ “hồi quang phản chiếu” là cảnh giới độc thoát phàm tình, siêu nhập lãnh vực đại ngộ. Ông công phu chưa tới chỗ nầy thì quang làm sao hồi, chiếu làm sao phản. Ông nếu chưa chân chánh ngộ minh hễ có lý để hồi để phản đều là tự dối. Vì ngộ đến chỗ triệt thì tâm quang chẳng đợi hồi mà tự hồi, giác chiếu chẳng đợi phản mà tự phản. Vì không có đối đãi nên cũng không có quang để hồi, cũng không có chiếu để phản, ấy là nhất hạnh tam muội. Từ xưa, Phật Tổ đều nhằm vào chỗ nầy đặt gót, chứ chẳng phải chỗ ý thức tình vọng có thể đến.

Hiện nay có một bọn người ngu si ở chỗ vắng lặng thâu cái thấy nghe tuyệt kiến văn tương tợ như gỗ đá, gọi là hồi quang phản chiếu, chiếu như thế ấy ba mươi năm,niệm niệm muốn thoát sanh tử chẳng được.

Chỉ cần mạnh mẽ đề khởi câu: “Triệu Châu vì sao nói chữ KHÔNG?”. Ngày đêm tham cứu, đi cũng nghi, ngồi cũng nghi. Chính đương lúc khán như thế, điều thiết yếu là chẳng được tưởng là hồi quang phản chiếu. Chỗ tham cứu chẳng được, chính là lúc tán thân bỏ mạng. Lâu ngày thuần thục hốt nhiên khai ngộ, chẳng từng tự biết mà hồi quang phản chiếu hoàn tất vậy. Nếu còn cho là hồi quang phản chiếu thì vẫn y như xưa, chưa được ngộ.

Thiền nhân Vô-Địa-Lập cầu lời cảnh sách, tôi viết như thế. 

KHAI THỊ THƯỢNG CHỦ PHÙ

Như nói trong 24 tiếng đồng hồ làm chủ chẳng được, chẳng biết lìa câu thoại đầu sở tham nầy ra, lại gọi cái gì làm chủ? Phải biết chính câu thoại đầu nầy là chủ của ông. Chỉ cần thường khiến cho câu thoại đầu sở tham nầy chẳng lìa tâm niệm, ấy là làm được chủ, cũng chẳng nên nghĩ là làm được chủ. Ý của người xưa trước kia chẳng từng nói đến “làm chủ”, như Tổ Qui-Sơn nói: “Có làm chủ tể chớ theo nhân tình” là lời nói tạm thời sách phát sự tinh tấn cho người, chứ chẳng phải đạo.

Lại nói ở trên hôn trầm, tán loạn, thị phi, nghịch thuận khán thoại đầu. Lời nầy không có đạo lý khó hiểu, chỉ tại ông hiểu chẳng được, cố sanh tri kiến. Như đang khi khán thoại đầu chợt các cảnh hôn trầm, tán loạn, thuận nghịch hiện tiền thì phải phấn chấn tinh thần hướng vào trong hôn trầm, tán loạn khán, lâu ngày hôn trầm, tán loạn, tình vọng thuận nghịch tự tiêu. Có người thấy các cảnh hôn trầm, tán loạn, thuận nghịch nầy hiện tiền bèn sanh nghi, rồi lầm cho rằng chắc còn có phương tiện nào khác để trừ khử các thói quen hôn trầm, tán loạn v.v…Lại đổ lỗi cho căn khí, túc nghiệp, các thứ cảnh duyên, vừa khởi tâm nầy thì ở trên hôn trầm, tán loạn chồng thêm hôn trầm tán loạn, ở trong thuận nghịch lại thêm thuận nghịch. Vì thế dạy ông lúc hôn trầm tán loạn chỉ ở trên hôn trầm tán loạn khán, cũng chẳng phải có vật gì khác để khán, cũng chẳng phải khán hôn trầm, tán loạn là vật gì? Cũng chẳng dạy ông ở trong hôn trầm tán loạn, thuận nghịch v.v… tìm cái lỗ mũi nào khác. Chỉ dạy ông ở trên hôn trầm, tán loạn v.v…chỉ đề khởi thoại đầu tự khán, hằng chẳng buông bỏ, cũng chẳng vọng khởi niệm thứ hai phân biệt đây là hôn trầm, tán loạn, thuận nghịch v.v… Hạ thủ công phu chỉ cần ngộ thoại đầu, chẳng cần ông bài trừ hôn trầm, tán loạn v.v…Ông chỉ cần thống thiết nghĩ đến việc lớn sanh tử vô thường, đơn đề một câu thoại đầu khởi lên đại nghi tình để cầu chánh ngộ. Hễ niệm sanh tử thiết tha thì tự nhiên thoại đầu miên mật. Ở chỗ khán thoại đầu miên mật, hôn trầm tán loạn tự nhiên chẳng hiện. Lúc hạ thủ công phu thấy có hôn trầm tán loạn v.v…tức là cái niệm vì sanh tử của ông chẳng thống thiết, niệm khán thoại đầu chẳng miên mật.

Lại nói ở trên thoại đầu khởi nghi tình sợ rơi vào suy nghĩ. Nói vậy là sai rồi. Người xưa chỉ vì việc lớn sanh tử chưa giải quyết, hai ba mươi năm đi ba ngàn dặm, một muôn dặm, gặp thiện tri thức liền thưa: “Con vì việc lớn sanh tử”, chứ đâu từng khán thoại đầu, khởi nghi tình. Tuy chẳng khán thoại đầu, khởi nghi tình mà cái tâm vì việc lớn sanh tử chưa giải quyết, chính là chỗ nghi của người xưa.

Người tham học thời gần đây có cái khổ là chẳng lấy sanh tử làm việc lớn, lại còn thêm ngữ ngôn rườm rà của Thiền Tông càng nhiều, khiến cho người học chưa bước vào cửa, trước đã lấy sự ghi nhớ ngữ ngôn làm sự nghiệp, khiến cho cái chánh niệm vì sanh tử bị ngăn cách. Cho nên các bậc tôn túc thời gần đây bất đắc dĩ đem câu thoại đầu vô nghĩa vô vị ném vào trong ruộng bát thức của ông, bảo ông bỏ đi tất cả tri giải, chỉ hướng vào chỗ chưa hiểu của câu thoại đầu nghi đi. Cái nghi tình như đụng nhằm núi bạc vách sắt trước mặt không có một bước có thể tiến, vừa khởi niệm thứ hai là rơi vào suy lường. Hễ chẳng khởi niệm thứ hai tức là nghi tình, trong nghi tình nầy tự nhiên cắt đứt tất cả các bệnh tri kiến, giải hội, hốt nhiên ông ở chỗ nghi đụng nhằm lật ngược (ngộ) mới biết như một lời nửa câu của cổ nhân thật là đống lửa lớn, là suy mao kiếm ([2]) chẳng thể phạm được. Hễ dốc lòng tin thì không việc gì chẳng xong.

KHAI THỊ THIỀN NHÂN NHẬT BỔN NGUYÊN

Tâm nầy mê thành sanh tử, ngộ thành Niết Bàn. Vậy cái mê sanh tử hẳn là khó trừ, nhưng trái lại chẳng biết Niết Bàn của ngộ vẫn là mạt vàng rơi vào mắt. Phải biết Bát-Nhã như đống lửa lớn chẳng cho tất cả ghé vào. Ông hạ thủ công phu, tâm chẳng chịu chân thật thiết tha, chẳng thể ở trên một niệm đầu tiên làm mù (không biết gì hết) để tọa đoạn, trong hai mươi bốn tiếng đồng hồ ngây ngây tương tợ như người chết dựa vào câu thoại đầu sở tham, tất cả đều chém đứt. Người học thường ở chỗ tọa chẳng đoạn mà sanh ra sự tính toán sai khác, cho là khó, là dễ, dẫn khởi tình vọng sai biệt lăng xăng giao tiếp, lòng chẳng thể tùy chỗ cắt đứt. Rồi lập mười điều nguyện nặng, muốn dựa vào sức của các nguyện nầy cắt đứt những suy nghĩ vẫn vơ, vọng tưởng hư huyễn như đá đè cỏ, dẫu cho có lập ngàn điều nguyện nặng cũng đè chẳng được, càng thấy xa xôi.

Ông chẳng nghĩ sanh tử vô thường là một đoạn nhân duyên lớn nhất từ vô thỉ. Ông cần muốn tương ưng thì không có phương tiện nào khác hơn là chỉ có một câu thoại đầu sở tham, ngay đây chỉ cần một phiến chánh niệm quyết định chẳng thoái chuyển, chẳng đổi dời, sống cùng nó sống, chết cùng nó chết. Giả sử khi chưa ngộ, ngàn Thích Ca, muôn Di Lặc trút cả bốn biển Phật pháp vào lỗ tai ông cũng đều là trần lao hư vọng chứ chẳng phải cứu cánh. Chỉ vì cái chánh niệm của ông chẳng vững vàng nên điên đảo cuồng vọng ngàn đường muôn lối trọn không có lúc thôi nghỉ.

            Cẩn trọng! cẩn trọng!

Thiền nhân Nguyên hãy cố gắng!

KHAI THỊ THỊ GIẢ TỰ HẢI VĂN

Phật Tổ thuở xưa thống thiết vì việc lớn sanh tử chưa giải quyết xong, nhiều kiếp ở trong biển Bồ Đề huân tập sâu dầy, luyện kỹ chẳng phí phút giây cho đến ở trong pháp Bồ Đề bỏ trăm ngàn muôn ức thân mạng, xem phú quý ân ái chẳng khác nào bụi bay qua mắt. Một niệm chăm chăm đề khởi câu thoại đầu vô nghĩa vô vị của cổ nhân, quên lạnh quên nóng, bỏ ngủ bỏ ăn, chẳng đến chỗ đại phát minh, chỗ hoàn toàn thôi nghỉ thì chẳng thôi. Đủ thế tài như thế, mỗi mỗi thấu đảnh thấu đáy, đầu đuôi xâu suốt với nhau. Sau đó đem chỗ sở đắc đưa vào lò rèn trui đi luyện lại để cho mảy trần sạch hết, trắng trẻo thanh khiết, ở trên bờ sanh tử Niết Bàn dạo chơi tự tại, đây là người tâm không thi đậu về. Đâu có giống như người thời nay gót chân cạn cợt chẳng chịu tử tâm, tử chí hướng vào chỗ chân thật đứng vững gót chân để cầu chân thật giải thoát, chỉ quý ở trên sách vở ghi nhớ, bên miệng nói tai nghe, nhiễm thành thói quen chỉ muốn hiểu thiền là xong. Trái lại, chẳng biết việc lớn sanh tử ở dưới gót chân vẫn y như cũ đen như dầu hắc, chẳng những vô ích mà còn hại nữa.

Thị giả Tự-Hải-Văn cầu lời cảnh sách, tôi khai thị đường tắt nhập đạo như thế.

Hạ thủ công phu chỉ cần tin cho nổi. Từ một niệm đầu tiên tin cho nổi, như vậy ba mươi năm vĩnh viễn chẳng sanh niệm thứ hai. Càng tham chẳng được càng thêm tinh tấn, càng hạ thủ chẳng được càng thêm dũng mãnh. Ông ở chỗ hạ thủ chẳng được, tham chẳng được, chợt sanh một niệm nghi hoặc vọng kiến khởi các thứ tình giải hoặc phàm hoặc Thánh v.v…đều rơi vào hầm sanh tử.

Tham thiền, nếu tham chẳng được chẳng nên nói căn khí chậm lụt, chẳng nên nói nghiệp chướng nặng, chẳng nên nói thời tiết muộn, chẳng nên nói chẳng gặp thiện tri thức. Đại ý chỉ vì một cái chánh niệm vì sanh tử của ông chẳng chân chẳng thiết. Tâm nầy nếu chân thiết, nói gì ba mươi năm, mà ba mươi đời cũng không sợ hãi, cứ mật thiết hướng tới trước tham cứu. Cổ nhân nói:

Điều can trác tận trùng tài trúc

Bất kế công trình đắc tiện hưu.

(Cần câu gãy hết trồng trúc khác

Chẳng tính công trình, được mới thôi.)

Nếu ông chẳng đủ những thể tài nầy thì tham thiền học đạo đều là kiến giải điên đảo. Người học đạo chân chánh cần phải biết.

Thị giả Văn hãy cố gắng, lão huyễn nói như thế. 

KHAI THỊ THIỀN NHÂN Ý

Phật pháp toàn thể của ông đầy đủ, ông vừa chợt sanh một niệm muốn nhằm ở trên Phật pháp nắm lấy thì đã rơi vào ý địa, không bao giờ cùng với Phật pháp tương ưng. Ông nếu chân chánh chẳng chịu bỏ qua việc lớn sanh tử, lại chẳng hướng vào lúc một niệm chưa khởi mà gánh vác, chỉ đem câu thoại đầu :”Khi tứ đại tan rã hướng vào chỗ nào an thân lập mạng?”. Tùy theo ông bất cứ ở chỗ nào đứng ngồi miên mật tham cứu. Chính đương lúc tham, tất cả những nghĩa lý của Kinh điển và ngữ ngôn, công án trong Thiền Tông từ xưa đến nay đã ghi nhớ được đều chẳng được nhớ nửa chữ trong lòng, cũng chẳng được treo nửa chữ ở bên khoé miệng. Trong 24 tiếng đồng hồ ngây ngây tương tự như xác chết biết đi. Chỉ như thế chuyên chú đề câu thoại đầu sở tham, tham cứu lâu ngày chẳng lui sụt thì tự có cái thời tiết siêu nhiên đốn ngộ. Ông nếu chưa đích thân đến cái thời tiết chánh ngộ nầy mà chỉ muốn đem tâm ý thức hướng lên trên ngữ ngôn tương tợ hoà hội tri giải, dẫu cho ông hiểu được một gánh Thiền đạo Phật pháp, đây gọi là “ăn đàm dãi con chồn”, muôn kiếp ông cũng không xong việc.

Thiền nhân Ý hãy nhớ lấy

KHAI THỊ THIỀN NHÂN NHÂN

  1.         1. Chỉ có niềm tin mới khiến cho mình đề khởi câu thoại đầu sở tham bất kể thời hạn, bền bỉ tham đi tự nhiên có lúc ngộ nhập. Chẳng nên ở ngay lúc tham cứu sanh ra tất cả tâm nghi ngờ, lại chẳng nên sanh tất cả tâm cầu mau khai ngộ. Ví như đi đường, gắng sức ắt tự đến nơi.

Lúc tham thoại đầu, hạ thủ công phu, hễ có tất cả kiến văn giác tri kỳ đặc, thù thắng, ứng nghiệm v.v… đều là duyên ma, chỉ cần chẳng sanh tâm chạy theo, lâu ngày tự cởi mở. Ông nếu vừa sanh một niệm tình chấp ưa thích thì rơi vào cảnh ma, tự cho là phát minh, trở thành cuồng loạn.

Ngộ đạo như người đến nhà, cảnh vật trước mắt đều là nhà cũ, mỗi mỗi tự nhiên ổn đáng rõ ràng, không còn có một mảy may nghi hoặc. Nếu như còn nửa điểm nghi hoặc quyết định chẳng phải nhà cũ thì phải tiếp tục tham cứu. Bằng không, thì vọng thành dị kiến.

Tham chữ “Không”, chỉ cần hướng lên trên chữ KHÔNG khởi nghi tình tham Triệu Châu vì sao nói chữ “KHÔNG” nầy?. Trong 24 tiếng đồng hồ chỉ tham như thế. Chính đương lúc tham, chẳng hỏi có suy nghĩ phân biệt hay không suy nghĩ phân biệt. Có suy nghĩ hay không suy nghĩ đều thuộc về vọng tưởng. Hôm nay chỉ muốn ông hướng lên trên câu thoại đầu sở tham khởi nghi tình. Chẳng nên ở trên tất cả cảnh duyên khởi tưởng phân biệt. Hễ ngoài câu thoại đầu sở tham ra, khởi một niệm khác bất luận là niệm về Phật, niệm về Pháp đều là chẳng phải chánh niệm. đều là hạt giống sanh tử.

Người chân thật hạ thủ công phu trong 24 tiếng đồng hồ,niệm niệm như cứu lửa cháy đầu, như một người địch với muôn người, đâu có thì giờ rảnh mà để ý đến thân mạng thế duyên, cũng đâu có thì giờ rảnh để yêu cầu người khai phát, cũng đâu có thì giờ rảnh hỏi người để tìm ngôn cú, tìm giải hội.

Lại có một hạng người ba ngày không được khai phát thì tâm mờ mịt. Bọn nầy đều là người đuổi theo vọng lưu chuyển, chẳng phải là người hạ thủ công phu.

Đại khái, người hạ thủ công phu như kẻ ăn trộm muốn trộm vàng bạc của người, lúc đi cũng muốn trộm, lúc ngồi cũng muốn trộm, lúc rảnh cũng muốn trộm, lúc bận cũng muốn trộm, lại đâu để lộ cái tâm muốn ăn trộm nầy cho người ta thấy. Càng muốn ăn trộm thì càng giấu kín ý muốn. Tâm tâm, niệm niệm như thế lâu ngày chẳng lui sụt thì đến được địa vị của cổ nhân. Đâu giống như người trong 24 tiếng đồng hồ làm chủ không được, chỉ muốn chạy theo vọng tưởng lưu chuyển, cố làm chủ tể, chạy lên bồ đoàn làm hình thức, niệm niệm giong ruổi tìm cầu chẳng chịu thôi nghỉ, đâu tìm được thời tiết tương ưng.

Hãy ghi nhớ!

Thời giờ qua mau như nước chảy, phải nên tự tỉnh! 

KHAI THỊ THIỀN NHÂN DIỆU NHIÊN

Tham thiền chỉ cần tin cho nổi và đến trên câu thoại đầu tham đi, chẳng cần đem ý thức hướng lên trên “nhất” cùng “vạn” suy nghĩ. Ông nếu suy nghĩ nói: “nhất” là vật gì, “vạn” là vật gì, dẫu cho ông chỉ điểm được rõ ràng minh bạch cũng chính là si cuồng chạy ở bên ngoài chẳng bao giờ cùng với đạo tương ưng.

Ông nếu tin nổi thì chẳng cần hỏi NHẤT là NHẤT ở chỗ nào? VẠN là VẠN ở chỗ nào? Ông chỉ lo NHẤT thì chỉ là NHẤT, VẠN chỉ là VẠN. Chỉ cần nhằm dưới “NHẤT quy về chỗ nào?” đứng vững gót chân một niệm vạn niên tham đi! Tham đến lúc tâm không thi đậu về, đại triệt đại ngộ, thì ngay nơi NHẤT mà VẠN, ngay nơi VẠN mà NHẤT,NHẤT chẳng phải VẠN, vạn chẳng phải NHẤT rõ ràng ở trong lòng. Ông nếu chưa ngộ dù cho ông đem NHẤT cùng VẠN nói được nhiều lời hay đẹp cũng đều chẳng ra ngoài vọng tưởng điên đảo. Thượng nhân Nhiên hãy tin lấy! 

KHAI THỊ THIỀN NHÂN HUYỀN

“Triệu Châu vì sao nói chữ KHÔNG?” Chỉ cần trong 24 tiếng đồng hồ miên mật đề khởi đại nghi tình tham đi, chẳng cần nghi câu nầy cùng với các câu thoại đầu “cây bách trước sân” và “núi Tu-Di” là đồng hay là khác. Nếu ông đem ý thức hướng lên trên thoại đầu so sánh thì sẽ dẫn vào trong lưới nghiệp thức không bao giờ ông ngộ được.

Tham thiền cần phải cắt đứt mạng căn sanh tử, không có phương tiện nào khác. Ông chỉ cần cắt đứt các thứ tri kiến giải hội, chỉ nắm chắc câu thoại đầu sở tham chẳng kể năm tháng, tận tình tham đi, chẳng sợ không ngộ. Ông nếu một niệm nắm không chắc thì thấy chỗ hạ thủ của ông chẳng tương ưng, phần nhiều sanh giải hội, đâu có lý nào cái tâm giải hội có thể cắt đứt được mạng căn sanh tử!

Ở quê hương ông, từ trước đến nay không có người nói đến cách hạ thủ công phu, phần đông chỉ hướng lên con đường nghĩa lý tri giải mà đi. Dẫu có hiểu được rõ trong bụng Phật Thích Ca cũng chỉ là nghiệp thức mênh mang. Ngài Qui Sơn nói: “Thiền Tông nầy khó được chỗ nhiệm mầu của nó, rất cần phải kỹ lưỡng dụng tâm”; thật chẳng phải dễ. Chỉ cần dốc lòng chân thật bền lâu tham đi, quyết chẳng dối gạt nhau đâu!

Ngài Triệu Châu nói : “Vì y còn nghiệp thức”. Một lời nầy là con mắt kim cương của Triệu Châu, chẳng nói với người học là “có nghiệp thức”. Ông nếu hướng lên trên nghiệp thức hội thì con mắt kim cương của Triệu Châu đồng thời cũng bị mù mất.

Hôm nay ông chẳng cần hỏi có nghiệp thức hay không nghiệp thức, chỉ đề khởi câu thoại đầu nói trên chẳng quày đầu, chẳng khởi niệm, tham lâu ngày tự nhiên ngộ, chẳng cần sanh một chút tri kiến nào khác; cũng chẳng cần hỏi nghi lớn nghi nhỏ, khởi cùng chẳng khởi. Vừa có tri kiến nầy là quày đầu, khởi niệm rồi vậy. 

KHAI THỊ THƯỢNG NHÂN MỤC

(trong lúc bệnh)

Kinh Di-Giáo nói: “Ví như người chăn trâu cầm roi trông nom chẳng cho nó phạm vào lúa mạ của người”.

Ngài Qui Sơn nói: “Một khi vào đám cỏ, nắm mũi kéo ra”. Tổ Bá Trượng khen: “Ông đúng là người chăn trâu giỏi”.

Phải biết tứ đại là thân bệnh, lục căn là tâm bệnh. Một câu thoại đầu muốn ông tham cứu là thiền bệnh. Một niệm rỗng sáng ngay đó siêu việt, là Phật bệnh. Nói một cách vi tế thì hễ dính vào kiến văn giải hội đều là nguồn gốc của bệnh, huống là ăn uống thất thường, cơ thể sanh bệnh, cái nầy là bệnh ở trong bệnh. Nay muốn trị bệnh nầy cũng không khó, chỉ cần đem câu thoại đầu “Triệu Châu vì sao nói chữ KHÔNG?” đặt ở trên chiếu, bên gối. Đây là thuốc thần đáng giá ngàn vàng. Muốn cho thuốc nầy linh nghiệm, không có cách nào khác hơn là khiến cho trong lòng lạnh băng băng, rỗng lặng lặng, trăm điều chẳng nghĩ, trăm điều chẳng lo, Phật đến, Tổ đến đều để các ngài qua một bên, chẳng cần biết đến, trong lòng không nghĩ trước tính sau, trong ngoài như cây khô, tro lạnh, con quỷ vô thường giết người hiện ra trước đều tọa đoạn một lượt. Hạ thủ như vậy ấy là chăn trâu, ấy là lương y, ấy là thiền trong Niết-Bàn đường, ấy là việc gốc của người xuất gia hành cước. Còn có một câu chưa chỉ bày, đợi ông thuốc bệnh đều quên sẽ nói cho ông nghe.

Thượng nhân Mục trong khi bệnh cầu cảnh sách, tôi viết như thế để cảnh sách ông. 

KHAI THỊ THIỀN NHÂN DẬT

Nghi tình không lớn nhỏ, hễ nghi nặng thì gọi đó là đại nghi, nghi nhẹ thì gọi đó là tiểu nghi.

Sao gọi là nặng? Chỉ nghe nói đến việc lớn sanh tử liền tự mang ở trong lòng, muốn buông xuống buông chẳng được, tương tợ như người rất đói cầu miếng ăn, tự nhiên buông chẳng được, dẫu muốn chẳng khởi cũng chẳng tự do mà chẳng khởi, đây là nặng, cho nên gọi là đại nghi. Có cái đại nghi nầy thì tự nhiên bỏ ngủ quên ăn, thân tâm nhất như, cũng không biết là đại nghi, tự nhiên nghi mãi chẳng thôi. Như người xưa đứng trước sân khán chữ KHÔNG mưa to đến toàn thân đều ướt chẳng biết thân mình ướt, nhân vị tăng bên cạnh gọi, tỉnh lại mới biết trên thân bị mưa ướt. Đây là công phu thuần thục quên cảnh quên duyên, đây là đại nghi. Đương lúc đại nghi trong lòng ông vừa có một niệm biết là đại nghi thì đã lầm rồi, cũng chẳng thành đại nghi. Cảnh giới của đại nghi nầy chẳng thuộc về ông. Ông muốn được cần phải có cái chánh niệm vì sanh tử trong tâm ông chân thật thống thiết, không có một điểm sắp đặt so sánh, lâu ngày chầy tháng đều không gián đoạn tự nhiên hiện tiền. Không có chỗ để ông ra sức, ông hạ thủ công phu đều không có phương tiện, cũng không có chỗ thương lượng. Chỉ cần một cái chánh niệm vì sanh tử chân thật thống thiết lâu ngày tự nhiên siêu việt. Ông vì chẳng rõ cách hạ thủ cho nên mới sanh ra nhiều tri giải.

Hôm nay chẳng cần sanh tất cả giải hội, cũng chẳng cần nói tôi căn tánh hạ liệt, cũng chẳng cần nói tôi đối với bát nhã duyên cạn, cũng chẳng cần hỏi người khác để cầu phương tiện khéo léo uyển chuyển khai thị, hễ có một chút dị kiến đều là tà ma, ngoại đạo. Trong suốt hai mươi bốn tiếng đồng hồ chỉ nắm chặt câu thoại đầu “Triệu Châu vì sao nói chữ KHÔNG?”. Hôm nay tham chẳng được, hôm nay nắm chặt, ngày mai tham chẳng được, ngày mai nắm chặt, cho đến năm nay năm tới, đời nầy đời sau cũng chẳng cần hỏi bao lâu. Hễ tham chẳng thấu, chỉ thế ấy nắm chặt đi, trừ cái chánh niệm dốc cả thân tâm hạ thủ công phu lâu dài nầy ra thì dẫu Thích Ca, Đạt Ma có trút hết thiền đạo vào trong bụng ông cũng cứu ông chẳng được.

Hãy nhớ lấy! Hãy nhớ lấy! 

KHAI THỊ THIỀN NHÂN ANH

  1.           I. Thiền Tông có một hạng người thông minh linh lợi ngay dưới ngữ ngôn của cổ nhân giải hội được tương tự bèn nhận lấy. Lúc ấy cổ nhân chẳng có thời giờ nghiệm lại người ấy ngộ hay chẳng ngộ, nhất thời bỏ qua. Người ấy liền đem cái chỗ nhận của mình dạy người rằng chẳng cần tham thoại đầu chỉ quý sẵn sàng lãnh hội, kéo nhau vào trong lưới tri kiến, lúc nói thì in tuồng như đồng, chỗ làm thì trọn không dính dáng.

Có một hạng người căn cơ ngu độn, thấy nói tham thiền cần phải khán thoại đầu khởi đại nghi tình mới đốn ngộ nhập, ngay đó cứ nắm chặt câu thoại đầu sở tham hai ba mươi năm, đầu đuôi xuyên suốt liền nhau chẳng chịu buông bỏ. Lâu ngày tình vọng tiêu hết, sau khi khai ngộ hễ có người học đến thỉnh-ích, ắt muốn họ hạ thủ công phu khán thoại đầu khởi nghi tình. Những bậc thầy loại nầy dạy người tuy khó thấm vào, song trước sau chẳng làm hư hỏng căn tánh người học.

Từ khi có Thiền Tông đến nay tuy nói: “Trực chỉ nhân tâm”, nhưng vào cửa có muôn đường ngàn lối bất đồng. Bởi vì các bậc thầy tuy đều căn cứ vào một cái lý “trực chỉ” mà theo căn tánh người và chỗ ngộ nhập của chính mình chẳng đồng, vì thế dẫn dụ chẳng đồng, nhưng chỗ chí lý cứu cánh là một, đều là liễu thoát việc lớn sanh tử, ngoài ra không làm việc gì khác. Chúng sanh tâm thức sai khác nhau rất nhiều chẳng thể một phen ỉa(ngộ) liền thôi.

Lại có thuyết nói: “Sau khi ngộ cần phải gặp thiện tri thức”, hoặc có thuyết nói: “Được chỗ ngộ nhập rồi cần phải thật tiễn bảo nhậm”. Đó đều là chỗ ngộ chưa triệt để, còn kẹt ở dị chấp, chẳng thể gỡ niệm cởi trói cho người, cho nên mới có nói: “Gặp thiện tri thức và thật tiễn bảo nhậm”; nếu ngộ triệt để thì không có nói như thế. Cổ nhân tuy chẳng khán công án khởi nghi tình, chỉ vì lúc chưa ngộ, các Ngài dụng tâm cùng với người thời nay khác hẳn. Nếu dạy người thời nay chẳng hạ thủ công phu, thì họ đều ngồi trong cái lưới điên đảo.

Cổ nhân có nói: “Dựa vào người khác để hiểu là làm chướng ngại cửa ngộ của mình”. Kinh Viên Giác nói: “Chúng sanh đời mạt pháp hy vọng thành đạo, chẳng cho cầu ngộ, chỉ thêm đa văn, tăng trưởng ngã kiến”.

  1.                II. Việc lớn sanh tử là từ vô lượng kiếp về trước trôi nổi đến ngày hôm nay, chẳng phải một sớm một chiều mà thành. Hôm nay muốn lật ngược lại cái sanh tử căn trần trôi nổi từ vô lượng kiếp nầy chẳng phải là chuyện dễ!

Phải lấy chí khí quyết định đem hết cuộc đời nầy làm kỳ hạn. Đời nầy nếu chưa xong, thì đời sau, kiếp tới tiếp tục làm nữa! Phải biết việc nầy không có chỗ cho ông ra sức, không có chỗ cho ông nôn nóng, không có chỗ cho ông dụng tình; càng ra sức càng mê muội, càng nôn nóng càng lăng xăng, càng dụng tình càng hôn trầm tán loạn. Chỉ cần tất cả chỗ đều mật mật thiết thiết nắm chắc một câu thoại đầu sở tham, tất cả chỗ chẳng được buông bỏ, chẳng được gián đoạn, chỉ như thế mật mật thiết thiết như mèo chăm rình bắt chuột mà tham cứu đi!

Thứ nhất: chẳng nên lập kỳ hạn.

Thứ hai: chẳng nên tránh huyên náo cầu yên tịnh.

Thứ ba: chẳng nên chọn lựa cảnh duyên.

Thứ tư: chẳng nên đem tâm chờ ngộ.

Thứ năm: chẳng nên tính kể công trình.

Thứ sáu: chẳng nên tìm phương tiện khác.

Thứ bảy: chẳng nên gặp chướng nạn mà lo buồn.

Thứ tám: chẳng nên gặp thuận mà vui mừng.

Thứ chín: chẳng nên sanh tâm khiếp sợ.

Thứ mười: chẳng nên lấy bỏ, nương tựa, chống trái.

Lìa mười việc nầy, chỉ thận trọng giữ lấy câu thoại đầu: “Khi tứ đại tan rã hướng vào chỗ nào an thân lập mạng?”. Hết cuộc đời nầy cho đến đời vị lai, chỉ như thế cứ hướng tới trước. Nếu hiện tại tham chẳng được cũng chẳng nên đổi câu thoại đầu sở tham.

Thiền nhân Anh hãy cố gắng!. 

KHAI THỊ THƯỢNG NHÂN KHÔNG

Ở HẢI ĐÔNG

Phật Tổ chẳng nỡ thấy ông có sanh tử tình thức như ngọn đèn,tựa giọt nước không có lúc tạm dừng. Cái chỗ chẳng dừng ấy chẳng kẹt thanh thì kẹt sắc, chẳng kẹt không thì kẹt có, chẳng kẹt công dụng thì kẹt vô vi, chẳng kẹt thánh thì kẹt phàm, niệm niệm chẳng dừng gặp chỗ nào cũng dính mắc. Chỗ dính mắc ấy là cái sanh tử dao chặt chẳng đứt, cưa xẻ chẳng ra. Phải biết sanh tử tình thức nầy ở trong cứu cánh không biến thành cứu cánh có, tự trói, tự buộc chưa từng có chút gián đoạn.

Ngày nay thật muốn giải quyết xong một đoạn sanh tử chẳng chút gián đoạn nầy thì phải lập tức phát khởi tâm chân chánh, quyết định chẳng gián đoạn, đề khởi câu thoại đầu của cổ nhân một cách miên mật, cùng nó cứu cánh đi! Một đoạn công phu nầy thật không có chỗ cho ông suy lý, không có chỗ cho ông tìm hiểu, không có chỗ cho ông hoà hội, cũng không có chỗ cho ông trốn tránh, chỉ có lòng tin chân thật nầy đưa ông nhập vào mà thôi.

Các vị tôn túc thời gần đây phần đông chẳng lấy việc lớn sanh tử làm điều thiết yếu cho người học. Thường thường chỉ muốn cho người học chóng hiểu thiền đ<

PHÁP NGỮ TRÍCH TỪ BỘ QUẢNG LỤC

Học đạo cần phải đầy đủ năm thứ chánh tín:

  1. 1. Phải tin cái ông chủ mừng giận, buồn vui trong tâm của mình toàn thể cùng với chư phật chẳng thiếu mảy may.
  2. 2. Phải tin từ vô lượng kiếp đến nay cùng sắc thanh, yêu ghét nhiễm thành tập khí lưu chuyển kết thành một thứ sanh tử vô thường, ở trong thân tứ đại niệm niệm trôi chảy, đổi mới không ngừng.
  3. 3. Phải tin người xưa chỉ dạy một lời nửa câu như thanh Ỷ-thiên trường kiếm, luôn luôn bức bách đến chỗ tận cùng để cắt đứt mạng căn của người học.
  4. 4. Phải tin công phu hằng ngày chỉ sợ không làm, chứ làm mãi không ngừng niệm niệm tinh chuyên thì chắc chắn có ngày thấu thoát.
  5. 5. Phải tin sanh tử vô thường chẳng phải là việc nhỏ. Nếu chẳng phấn chí quyết định để mong độc thoát thì không có cách nào để tự khỏi cái khổ tam đồ (địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh).

Lại có ba pháp làm con đường tắt để tấn đạo:

o

      • Mắt huệ sáng
      • Lý tánh thông
      • Chí kiên cố

Mắt huệ sáng thì chiếu phá cảnh giới hiện lượng thân tâm thế gian, tất cả thị phi, yêu ghét, lấy bỏ, được mất, giàu nghèo, thọ yểu, khổ vui v.v… đều là duyên mộng huyễn, trọn không thật nghĩa mà chẳng khởi phân biệt.

Lý tánh thông thì đối với ngữ ngôn danh tướng của Phật Tổ thuở xưa nói ra, cho đến pháp yếu sai biệt của Thánh hiền trong tam-giáo và bách gia chư tử đều hội quy về một nguồn chẳng sanh dị kiến.

Chí kiên cố thì từ ngày hôm nay cho đến tận đời vị lai chẳng hỏi gần xa, nếu chẳng triệt chứng, quyết định chẳng thôi.

Ba pháp nầy, nếu đủ pháp thứ nhất mà thiếu pháp thứ hai và thứ ba, chỉ thành một người vô sự.

Đủ pháp thứ hai mà thiếu pháp thứ nhất và thứ ba, chỉ thành người linh lợi.

Đủ pháp thứ ba mà thiếu pháp thứ nhất và thứ hai, chỉ thành người vác bảng. ([1])

Phải biết đạo nầy như đi đường xa ngàn dặm, nếu đủ pháp thứ nhất và pháp thứ hai, mà thiếu pháp thứ ba là như người đi chín trăm dặm rồi dừng.

Đủ pháp thứ nhất và pháp thứ ba mà thiếu pháp thứ hai thì chẳng khỏi khóc vì lối tẽ.

Đủ pháp thứ hai và thứ ba mà thiếu pháp thứ nhất, tôi biết người nầy chạm vật bị kẹt.

Ba pháp hoàn toàn đầy đủ, tuy chưa cất bước, tôi dám bảo đảm người nầy chẳng khác gì người đã đến nhà, còn phải hỏi về đường lối nữa ư?

Người học đạo không ai chẳng nói sanh tử là việc lớn. Đến khi bị hỏi cái gì là sanh tử, thì mờ mịt không biết đường trả lời. Hoặc có người cho rằng tại người ấy chẳng biết mới hỏi, nên thong thả nói: ông đã chẳng biết sanh tử là cái gì. Nay phát tâm vì sanh tử không phải là hư vọng sao?

Luận về việc lớn sanh tử nếu chẳng biết lý của sanh tử thì gia công học đạo vô ích. Ví như người tịch cốc (khỏi ăn mà sống được), bảo họ cấy cày, dù cho có miễn cưỡng nghe lời, không bao lâu cũng lười biếng bỏ bê. Sao vậy? Vì người tịch cốc đã quên đói thì lúa thóc cũng đâu có chỗ dùng, giống như người học đã không biết manh mối của sanh tử thì tham học để làm gì? Hoặc giả miễn cưỡng cho rằng: “Sanh chẳng biết từ đâu đến, chết chẳng biết đi về đâu, ấy là sanh tử”. Đây thật là lời nói ngông cuồng. Dẫu cho biết được chỗ đến, chỗ đi, thì ngay cái chỗ “biết” đó rõ ràng là sanh tử. Lấy sanh tử để thoát sanh tử, không có lý ấy.

Phải biết sanh tử nguyên không có thể tánh. Nhân mê tự tâm lầm chạy theo luân hồi thành ra có sanh tử. Ví như khí lạnh kết nước thành băng, khí lạnh chợt tiêu thì băng trở lại thành nước. Chất chứa mê nơi tâm, lầm kết sanh tử cũng vậy. Chỗ mê đã ngộ thì tâm thể trạm nhiên (như nước yên lặng trong suốt), muốn tìm sanh tử như người ngủ thức dậy tìm lại việc trong mộng, đâu có lẽ nào được!

Phải biết sanh tử vốn không, nhờ ngộ mới biết Niết Bàn vốn có, vì mê nên không hay. Hoặc chẳng thể triệt ngộ tự tâm mà muốn giải quyết xong việc lớn sanh tử thì có khác nào chẳng rút bỏ củi lửa mà muốn nồi nước đừng sôi, lý đó làm sao có được!

Liễu thoát sanh tử không gì thân thiết hơn ngộ tâm. Ngộ tâm không gì hơn sự lập chí. Quên lạnh nóng, bỏ ăn ngủ, không tình vọng, một niệm nầy ở chỗ động tịnh như binh hùng tướng mạnh phòng thủ thành trì nghiêm ngặt, giặc chẳng thể nào xâm phạm được. Cổ nhân gọi đó là chánh chí. Như vậy tâm như tường vách, thình lình khai ngộ.Ngộ rồi chẳng những sanh tử không tịch mà Niết-Bàn cũng không có chỗ đặt để. Bằng không, thì sanh tử cùng mê vọng giao kết từ nhiều kiếp xa xưa đến tận đời vị lai, lưu chuyển không chút gián đoạn, gọi đó là việc lớn sanh tử, há là lời hư dối ư?

Tâm chẳng mê chẳng đọa sanh tử. Nghiệp chẳng buộc chẳng thọ hình hài. Ái chẳng nặng chẳng vào Ta-Bà. Niệm chẳng khởi chẳng sanh nghiệp lụy. Bởi nhân mê khởi vọng, do vọng sanh chấp. Thuận theo chỗ chấp ấy thì cái niệm yêu thích lăng xăng mống khởi. Nghịch với chỗ chấp ấy thì cái thói quen giận ghét bừng bừng nổi dậy. Tình yêu ghét phát khởi thì dấu vết sanh tử động chuyển trôi chảy đổi mới chẳng dừng, niệm niệm nối nhau, cho đến một khoảnh sát na đủ tám trăm sanh diệt, há đợi trăm năm tắt thở, sau đó mới là sanh tử ư?

Nguyên chỗ mê kia vốn không có tự tánh, cũng không có chỗ khởi, mà chính vì mình từ vô lượng kiếp lâu xa đến nay, chẳng thể hội gốc đạo, mất đi tự tâm mà ra. Ngày hôm nay, muốn được tâm nầy, chẳng bị mê vọng lôi cuốn, không có phương tiện nào khác hơn là chỉ đề khởi câu thoại đầu: “Chết rồi, thiêu xong, cái gì là tánh của ta?”. Trong hai mươi bốn tiếng đồng hồ như cầm thanh kiếm bén kim cương trên tay, trước hết hướng vào trong ruộng thức thứ tám, tận lực chém một nhát như chém một cuộn chỉ rối, một nhát đứt hết. Chỗ thấy của mắt đã đứt, chỗ nghe của tai cũng đứt, cho đến mũi lưỡi thân ý, hương vị xúc pháp đồng thời đều đứt. Việc quá khứ đã dứt, việc hiện tại đang dứt, việc vị lai sẽ dứt. Lục soát hết trong lòng không có cái để dứt, và cái dứt cũng dứt. Cái dứt đã dứt thì cái dứt cũng chẳng thành lập. Cái dứt đã chẳng lập thì cả pháp giới đều là tự tâm. Trong ấy không có cái năng dứt và sở dứt. Năng sở đã không thì thấy nghe hay biết không có chỗ đặt để. Đến chỗ nầy tức là chỗ buông bỏ thân mạng của chư Phật, Bồ Tát, thiện tri thức thuở xưa, cũng là chỗ hoàn toàn thôi nghỉ, chỗ đại giải thoát, chỗ đại an lạc, cũng là tam muội chẳng lìa thế gian mà thành tựu xuất thế gian. Tam muội nầy vào tay, tìm cái yêu cũng chẳng thể được, tìm cái ghét cũng chẳng thể được. Ở chỗ chẳng thể được (bất khả đắc)xem lại các pháp hữu vi thế gian thấy như giấc mộng đêm qua. Như trong Kinh nói:

Tịnh tột ánh sáng thông suốt

Tịch chiếu trùm hư không

Nhìn trở lại thế gian

Giống như việc trong mộng“.

Như hiện nay, người rõ biết việc nầy như mộng, chính đang lúc nói, con người nói nầy cũng là ở trong mộng, hà huống nói xong rồi, âm thanh tan mất, tình theo cảnh đổi thay!

Nhà mộng ba cõi lăn lóc chẳng dừng, nếu chẳng phấn chí ra sức đại tinh tấn gan dạ nhảy một cái ra khỏi cái nhà đại mộng nầy, ở giữa thanh thiên bạch nhật, mặc áo cả cười một tiếng khoái chí bình sanh, nếu quyết lấy mộng đi vào mộng, phan duyên lẫn nhau, chạy theo vọng trần, đọa vào địa ngục Vô-Gián, há chẳng cô phụ từ nhiều kiếp đến nay chư Phật, Bồ-Tát đã vì ông mà gieo hạt giống Bát-Nhã bồ đề ư?

Ông nếu chẳng phải đủ hạt giống sâu dày nầy, đâu được đời nầy ở chỗ giàu sang, trong nhà thập thiện, cho đến phát tâm vào đạo, cà-sa che thân, làm người nối dòng giống Phật. Ngày nay đến chỗ nầy, đã xuất gia rồi, đã làm Tăng rồi, đã gặp thiện tri thức rồi, đã nghe đạo rồi, cái điều ông còn thiếu đó, chỉ cần ra sức làm một phen để đích thân đến chỗ cứu cánh mà thôi. Huống là tuổi chưa già, sức còn sung, nếu chẳng lợi dụng lúc thân nầy còn mạnh khoẻ đi một hơi thẳng đến nhà thì chớp mắt bèn là vô thường, già bệnh đuổi gấp, đến lúc ấy tay chân rối loạn, lỗi sẽ về ai? Đem hết tất cả những cái tham, cái yêu, cái giận, cái si của cả một đời kiểm điểm qua một lượt đều dùng chẳng được. Trái lại, còn bị nó làm chướng ngại, trói buộc, che lấp, xoay chuyển, cuốn trôi, cô phụ cái nhân duyên tốt đẹp, làm người không biết hổ thẹn, bị Phật quở trách.

Phải biết, luân hồi nơi tam giới, ra vào trong bốn loài (Noãn, thai, thấp, hoá), lăn lóc lênh đênh chịu khổ liên tục. Như thế có gì đáng lưu luyến đâu, mà chẳng chịu siêu nhiên độc thoát! Người có chí lẽ nào lại làm như thế! 

TỨC HƯU CA

(Dịch âm)

Đạo nhân chi hưu tức hiện hưu

Bất đãi triêu mộ tính xuân thu

Thử hưu bất cách đệ nhị niệm

Chỉ ư đương niệm cơ toàn thâu.

Hựu vấn:

Đạo nhân hà duyên hưu đắc tốc?

Sanh tử luân hồi như chuyển cốc

Tự hận tòng tiền bất khẳng hưu

Uổng bị trần lao khổ  câu thúc.

Tức kim cánh bất khẳng hưu khứ

Ý mã tình viên lan bất đắc

Tùy thanh trục sắc như khiêu sắc

Miết chuyển cơ luân vô mịch sứ

Túc kim bất hưu hà nhật hưu

Tráng sắc bất đình như thủy lưu

Cổ kim đa thiểu vị hưu giả

Độc lâu đôi tích như sơn khâu.

Hưu phục hưu, cánh hưu hưu

Nhậm thị Bắc Uất Đơn Việt

Thùy quản Nam thiệm Bộ Châu

Chỉ tương nhất có đại hưu tự

Thiên cổ vạn cô vi đồng trù.

Nể bất kiến

Nhị thiên niên tiền Cam Giá chủng

Tẩu nhập Tuyết Sơn đà bất động

Đẳng thị phú quý như băng hoa

Cánh bất đã tha tam giới hống

Tự tòng ma thời nhất hưu trực đáo kim

Hoàng kim khỏa diện quang nghiêm thân

Thiên điệp hồng liên bỗng song túc

Bất nhiễm thế gian phiền não trần.

Tức tiện hưu lai hoàn bất tảo

Cánh bất tức hưu đề áo não

Thế, xuất thế gian nhất tề hưu

Thử thời phương bạt Bồ Đề đạo.

Hữu tận Bồ Đề đạo diệc không

Bạch vân áp toái Tu Di phong

Đáo đầu Phật đã bất yếu tố

Tòng giao tứ hải dương chân phong. 

BÀI CA LIỀN THÔI

Đạo nhân nói thôi, lập tức thôi

Chẳng đợi sáng chiều hay xuân thu

Thôi nầy chẳng cách đệ nhị niệm

Chỉ ngay đương niệm tâm liền thôi.

Có người hỏi:

Đạo nhân vì sao thôi được chóng?

Luân hồi sanh tử, bánh xe quay

Tự hận từ lâu thôi chẳng được

Uổng bị câu thúc khổ trần lao.

Ngày nay còn chẳng chịu thôi đi

Ý mã, tình viên ngăn chẳng được

Theo thanh theo sắc nhảy như rận

Vừa chuyển cơ luân tìm chẳng được.

Hôm nay chẳng thôi, ngày nào thôi

Tuổi trẻ chẳng dừng như nước trôi

Xưa nay bao người chưa thôi nghỉ

Đầu lâu chất lại như núi đồi.

Thôi lại thôi, lại thôi thôi

Mặc kệ Bắc Uất Đơn Việt ([2])

Đâu lo Nam Thiệm Bộ Châu

Chỉ đem một chữ THÔI nầy

Thiên cổ vạn cổ làm bạn lữ

Ông thấy chăng?

Hai ngàn năm trước dòng Cam-Giá ([3])

Chạy vào núi tuyết, lôi chẳng lay

Nhìn xem phú quí như hoa tuyết

Chẳng còn ở trong ba cõi ồn.

Từ đó thôi rồi thẳng đến nay

Mặt vàng ánh sáng trang nghiêm thân

Sen hồng ngàn cánh đỡ chân Phật

Chẳng nhiễm thế gian phiền não trần.

Bây giờ liền thôi còn chẳng sớm

Nếu chẳng liền thôi, luống áo não

Thế, xuất thế gian một lượt thôi

Lúc ấy mới đạt bồ đề đạo.

Thôi hết, bồ đề đạo cũng không

Mây trắng đè nát núi Tu Di

Rốt cuộc Phật cũng chẳng cần làm

Mặc tình bốn biển nổi chân-phong ([4])  

([1]) Người vác bảng: Người chỉ lo hạ thủ công phu một cách tích cực, nhọc mà không thông đường lối

([2])  Là Bắc Cu Lô Châu

[3]) Cam giá là mía. Dòng họ Thích Ca là con cháu của vua Cam Giá.

([4])  Mặc tình hoằng dương Thiền Tông ở khắp nơi.

PHÁP NGỮ TRÍCH TỪ BỘ QUẢNG LỤC

Học đạo cần phải đầy đủ năm thứ chánh tín:

  1. 1. Phải tin cái ông chủ mừng giận, buồn vui trong tâm của mình toàn thể cùng với chư phật chẳng thiếu mảy may.
  2. 2. Phải tin từ vô lượng kiếp đến nay cùng sắc thanh, yêu ghét nhiễm thành tập khí lưu chuyển kết thành một thứ sanh tử vô thường, ở trong thân tứ đại niệm niệm trôi chảy, đổi mới không ngừng.
  3. 3. Phải tin người xưa chỉ dạy một lời nửa câu như thanh Ỷ-thiên trường kiếm, luôn luôn bức bách đến chỗ tận cùng để cắt đứt mạng căn của người học.
  4. 4. Phải tin công phu hằng ngày chỉ sợ không làm, chứ làm mãi không ngừng niệm niệm tinh chuyên thì chắc chắn có ngày thấu thoát.
  5. 5. Phải tin sanh tử vô thường chẳng phải là việc nhỏ. Nếu chẳng phấn chí quyết định để mong độc thoát thì không có cách nào để tự khỏi cái khổ tam đồ (địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh).

Lại có ba pháp làm con đường tắt để tấn đạo:

o

      • Mắt huệ sáng
      • Lý tánh thông
      • Chí kiên cố

Mắt huệ sáng thì chiếu phá cảnh giới hiện lượng thân tâm thế gian, tất cả thị phi, yêu ghét, lấy bỏ, được mất, giàu nghèo, thọ yểu, khổ vui v.v… đều là duyên mộng huyễn, trọn không thật nghĩa mà chẳng khởi phân biệt.

Lý tánh thông thì đối với ngữ ngôn danh tướng của Phật Tổ thuở xưa nói ra, cho đến pháp yếu sai biệt của Thánh hiền trong tam-giáo và bách gia chư tử đều hội quy về một nguồn chẳng sanh dị kiến.

Chí kiên cố thì từ ngày hôm nay cho đến tận đời vị lai chẳng hỏi gần xa, nếu chẳng triệt chứng, quyết định chẳng thôi.

Ba pháp nầy, nếu đủ pháp thứ nhất mà thiếu pháp thứ hai và thứ ba, chỉ thành một người vô sự.

Đủ pháp thứ hai mà thiếu pháp thứ nhất và thứ ba, chỉ thành người linh lợi.

Đủ pháp thứ ba mà thiếu pháp thứ nhất và thứ hai, chỉ thành người vác bảng. ([1])

Phải biết đạo nầy như đi đường xa ngàn dặm, nếu đủ pháp thứ nhất và pháp thứ hai, mà thiếu pháp thứ ba là như người đi chín trăm dặm rồi dừng.

Đủ pháp thứ nhất và pháp thứ ba mà thiếu pháp thứ hai thì chẳng khỏi khóc vì lối tẽ.

Đủ pháp thứ hai và thứ ba mà thiếu pháp thứ nhất, tôi biết người nầy chạm vật bị kẹt.

Ba pháp hoàn toàn đầy đủ, tuy chưa cất bước, tôi dám bảo đảm người nầy chẳng khác gì người đã đến nhà, còn phải hỏi về đường lối nữa ư?

Người học đạo không ai chẳng nói sanh tử là việc lớn. Đến khi bị hỏi cái gì là sanh tử, thì mờ mịt không biết đường trả lời. Hoặc có người cho rằng tại người ấy chẳng biết mới hỏi, nên thong thả nói: ông đã chẳng biết sanh tử là cái gì. Nay phát tâm vì sanh tử không phải là hư vọng sao?

Luận về việc lớn sanh tử nếu chẳng biết lý của sanh tử thì gia công học đạo vô ích. Ví như người tịch cốc (khỏi ăn mà sống được), bảo họ cấy cày, dù cho có miễn cưỡng nghe lời, không bao lâu cũng lười biếng bỏ bê. Sao vậy? Vì người tịch cốc đã quên đói thì lúa thóc cũng đâu có chỗ dùng, giống như người học đã không biết manh mối của sanh tử thì tham học để làm gì? Hoặc giả miễn cưỡng cho rằng: “Sanh chẳng biết từ đâu đến, chết chẳng biết đi về đâu, ấy là sanh tử”. Đây thật là lời nói ngông cuồng. Dẫu cho biết được chỗ đến, chỗ đi, thì ngay cái chỗ “biết” đó rõ ràng là sanh tử. Lấy sanh tử để thoát sanh tử, không có lý ấy.

Phải biết sanh tử nguyên không có thể tánh. Nhân mê tự tâm lầm chạy theo luân hồi thành ra có sanh tử. Ví như khí lạnh kết nước thành băng, khí lạnh chợt tiêu thì băng trở lại thành nước. Chất chứa mê nơi tâm, lầm kết sanh tử cũng vậy. Chỗ mê đã ngộ thì tâm thể trạm nhiên (như nước yên lặng trong suốt), muốn tìm sanh tử như người ngủ thức dậy tìm lại việc trong mộng, đâu có lẽ nào được!

Phải biết sanh tử vốn không, nhờ ngộ mới biết Niết Bàn vốn có, vì mê nên không hay. Hoặc chẳng thể triệt ngộ tự tâm mà muốn giải quyết xong việc lớn sanh tử thì có khác nào chẳng rút bỏ củi lửa mà muốn nồi nước đừng sôi, lý đó làm sao có được!

Liễu thoát sanh tử không gì thân thiết hơn ngộ tâm. Ngộ tâm không gì hơn sự lập chí. Quên lạnh nóng, bỏ ăn ngủ, không tình vọng, một niệm nầy ở chỗ động tịnh như binh hùng tướng mạnh phòng thủ thành trì nghiêm ngặt, giặc chẳng thể nào xâm phạm được. Cổ nhân gọi đó là chánh chí. Như vậy tâm như tường vách, thình lình khai ngộ.Ngộ rồi chẳng những sanh tử không tịch mà Niết-Bàn cũng không có chỗ đặt để. Bằng không, thì sanh tử cùng mê vọng giao kết từ nhiều kiếp xa xưa đến tận đời vị lai, lưu chuyển không chút gián đoạn, gọi đó là việc lớn sanh tử, há là lời hư dối ư?

Tâm chẳng mê chẳng đọa sanh tử. Nghiệp chẳng buộc chẳng thọ hình hài. Ái chẳng nặng chẳng vào Ta-Bà. Niệm chẳng khởi chẳng sanh nghiệp lụy. Bởi nhân mê khởi vọng, do vọng sanh chấp. Thuận theo chỗ chấp ấy thì cái niệm yêu thích lăng xăng mống khởi. Nghịch với chỗ chấp ấy thì cái thói quen giận ghét bừng bừng nổi dậy. Tình yêu ghét phát khởi thì dấu vết sanh tử động chuyển trôi chảy đổi mới chẳng dừng, niệm niệm nối nhau, cho đến một khoảnh sát na đủ tám trăm sanh diệt, há đợi trăm năm tắt thở, sau đó mới là sanh tử ư?

Nguyên chỗ mê kia vốn không có tự tánh, cũng không có chỗ khởi, mà chính vì mình từ vô lượng kiếp lâu xa đến nay, chẳng thể hội gốc đạo, mất đi tự tâm mà ra. Ngày hôm nay, muốn được tâm nầy, chẳng bị mê vọng lôi cuốn, không có phương tiện nào khác hơn là chỉ đề khởi câu thoại đầu: “Chết rồi, thiêu xong, cái gì là tánh của ta?”. Trong hai mươi bốn tiếng đồng hồ như cầm thanh kiếm bén kim cương trên tay, trước hết hướng vào trong ruộng thức thứ tám, tận lực chém một nhát như chém một cuộn chỉ rối, một nhát đứt hết. Chỗ thấy của mắt đã đứt, chỗ nghe của tai cũng đứt, cho đến mũi lưỡi thân ý, hương vị xúc pháp đồng thời đều đứt. Việc quá khứ đã dứt, việc hiện tại đang dứt, việc vị lai sẽ dứt. Lục soát hết trong lòng không có cái để dứt, và cái dứt cũng dứt. Cái dứt đã dứt thì cái dứt cũng chẳng thành lập. Cái dứt đã chẳng lập thì cả pháp giới đều là tự tâm. Trong ấy không có cái năng dứt và sở dứt. Năng sở đã không thì thấy nghe hay biết không có chỗ đặt để. Đến chỗ nầy tức là chỗ buông bỏ thân mạng của chư Phật, Bồ Tát, thiện tri thức thuở xưa, cũng là chỗ hoàn toàn thôi nghỉ, chỗ đại giải thoát, chỗ đại an lạc, cũng là tam muội chẳng lìa thế gian mà thành tựu xuất thế gian. Tam muội nầy vào tay, tìm cái yêu cũng chẳng thể được, tìm cái ghét cũng chẳng thể được. Ở chỗ chẳng thể được (bất khả đắc)xem lại các pháp hữu vi thế gian thấy như giấc mộng đêm qua. Như trong Kinh nói:

Tịnh tột ánh sáng thông suốt

Tịch chiếu trùm hư không

Nhìn trở lại thế gian

Giống như việc trong mộng“.

Như hiện nay, người rõ biết việc nầy như mộng, chính đang lúc nói, con người nói nầy cũng là ở trong mộng, hà huống nói xong rồi, âm thanh tan mất, tình theo cảnh đổi thay!

Nhà mộng ba cõi lăn lóc chẳng dừng, nếu chẳng phấn chí ra sức đại tinh tấn gan dạ nhảy một cái ra khỏi cái nhà đại mộng nầy, ở giữa thanh thiên bạch nhật, mặc áo cả cười một tiếng khoái chí bình sanh, nếu quyết lấy mộng đi vào mộng, phan duyên lẫn nhau, chạy theo vọng trần, đọa vào địa ngục Vô-Gián, há chẳng cô phụ từ nhiều kiếp đến nay chư Phật, Bồ-Tát đã vì ông mà gieo hạt giống Bát-Nhã bồ đề ư?

Ông nếu chẳng phải đủ hạt giống sâu dày nầy, đâu được đời nầy ở chỗ giàu sang, trong nhà thập thiện, cho đến phát tâm vào đạo, cà-sa che thân, làm người nối dòng giống Phật. Ngày nay đến chỗ nầy, đã xuất gia rồi, đã làm Tăng rồi, đã gặp thiện tri thức rồi, đã nghe đạo rồi, cái điều ông còn thiếu đó, chỉ cần ra sức làm một phen để đích thân đến chỗ cứu cánh mà thôi. Huống là tuổi chưa già, sức còn sung, nếu chẳng lợi dụng lúc thân nầy còn mạnh khoẻ đi một hơi thẳng đến nhà thì chớp mắt bèn là vô thường, già bệnh đuổi gấp, đến lúc ấy tay chân rối loạn, lỗi sẽ về ai? Đem hết tất cả những cái tham, cái yêu, cái giận, cái si của cả một đời kiểm điểm qua một lượt đều dùng chẳng được. Trái lại, còn bị nó làm chướng ngại, trói buộc, che lấp, xoay chuyển, cuốn trôi, cô phụ cái nhân duyên tốt đẹp, làm người không biết hổ thẹn, bị Phật quở trách.

Phải biết, luân hồi nơi tam giới, ra vào trong bốn loài (Noãn, thai, thấp, hoá), lăn lóc lênh đênh chịu khổ liên tục. Như thế có gì đáng lưu luyến đâu, mà chẳng chịu siêu nhiên độc thoát! Người có chí lẽ nào lại làm như thế! 

TỨC HƯU CA

(Dịch âm)

Đạo nhân chi hưu tức hiện hưu

Bất đãi triêu mộ tính xuân thu

Thử hưu bất cách đệ nhị niệm

Chỉ ư đương niệm cơ toàn thâu.

Hựu vấn:

Đạo nhân hà duyên hưu đắc tốc?

Sanh tử luân hồi như chuyển cốc

Tự hận tòng tiền bất khẳng hưu

Uổng bị trần lao khổ  câu thúc.

Tức kim cánh bất khẳng hưu khứ

Ý mã tình viên lan bất đắc

Tùy thanh trục sắc như khiêu sắc

Miết chuyển cơ luân vô mịch sứ

Túc kim bất hưu hà nhật hưu

Tráng sắc bất đình như thủy lưu

Cổ kim đa thiểu vị hưu giả

Độc lâu đôi tích như sơn khâu.

Hưu phục hưu, cánh hưu hưu

Nhậm thị Bắc Uất Đơn Việt

Thùy quản Nam thiệm Bộ Châu

Chỉ tương nhất có đại hưu tự

Thiên cổ vạn cô vi đồng trù.

Nể bất kiến

Nhị thiên niên tiền Cam Giá chủng

Tẩu nhập Tuyết Sơn đà bất động

Đẳng thị phú quý như băng hoa

Cánh bất đã tha tam giới hống

Tự tòng ma thời nhất hưu trực đáo kim

Hoàng kim khỏa diện quang nghiêm thân

Thiên điệp hồng liên bỗng song túc

Bất nhiễm thế gian phiền não trần.

Tức tiện hưu lai hoàn bất tảo

Cánh bất tức hưu đề áo não

Thế, xuất thế gian nhất tề hưu

Thử thời phương bạt Bồ Đề đạo.

Hữu tận Bồ Đề đạo diệc không

Bạch vân áp toái Tu Di phong

Đáo đầu Phật đã bất yếu tố

Tòng giao tứ hải dương chân phong. 

BÀI CA LIỀN THÔI

Đạo nhân nói thôi, lập tức thôi

Chẳng đợi sáng chiều hay xuân thu

Thôi nầy chẳng cách đệ nhị niệm

Chỉ ngay đương niệm tâm liền thôi.

Có người hỏi:

Đạo nhân vì sao thôi được chóng?

Luân hồi sanh tử, bánh xe quay

Tự hận từ lâu thôi chẳng được

Uổng bị câu thúc khổ trần lao.

Ngày nay còn chẳng chịu thôi đi

Ý mã, tình viên ngăn chẳng được

Theo thanh theo sắc nhảy như rận

Vừa chuyển cơ luân tìm chẳng được.

Hôm nay chẳng thôi, ngày nào thôi

Tuổi trẻ chẳng dừng như nước trôi

Xưa nay bao người chưa thôi nghỉ

Đầu lâu chất lại như núi đồi.

Thôi lại thôi, lại thôi thôi

Mặc kệ Bắc Uất Đơn Việt ([2])

Đâu lo Nam Thiệm Bộ Châu

Chỉ đem một chữ THÔI nầy

Thiên cổ vạn cổ làm bạn lữ

Ông thấy chăng?

Hai ngàn năm trước dòng Cam-Giá ([3])

Chạy vào núi tuyết, lôi chẳng lay

Nhìn xem phú quí như hoa tuyết

Chẳng còn ở trong ba cõi ồn.

Từ đó thôi rồi thẳng đến nay

Mặt vàng ánh sáng trang nghiêm thân

Sen hồng ngàn cánh đỡ chân Phật

Chẳng nhiễm thế gian phiền não trần.

Bây giờ liền thôi còn chẳng sớm

Nếu chẳng liền thôi, luống áo não

Thế, xuất thế gian một lượt thôi

Lúc ấy mới đạt bồ đề đạo.

Thôi hết, bồ đề đạo cũng không

Mây trắng đè nát núi Tu Di

Rốt cuộc Phật cũng chẳng cần làm

Mặc tình bốn biển nổi chân-phong ([4])  

([1]) Người vác bảng: Người chỉ lo hạ thủ công phu một cách tích cực, nhọc mà không thông đường lối

([2])  Là Bắc Cu Lô Châu

[3]) Cam giá là mía. Dòng họ Thích Ca là con cháu của vua Cam Giá.

([4])  Mặc tình hoằng dương Thiền Tông ở khắp nơi.

PHÁP NGỮ TRÍCH TỪ BỘ QUẢNG LỤC

Học đạo cần phải đầy đủ năm thứ chánh tín:

  1. 1. Phải tin cái ông chủ mừng giận, buồn vui trong tâm của mình toàn thể cùng với chư phật chẳng thiếu mảy may.
  2. 2. Phải tin từ vô lượng kiếp đến nay cùng sắc thanh, yêu ghét nhiễm thành tập khí lưu chuyển kết thành một thứ sanh tử vô thường, ở trong thân tứ đại niệm niệm trôi chảy, đổi mới không ngừng.
  3. 3. Phải tin người xưa chỉ dạy một lời nửa câu như thanh Ỷ-thiên trường kiếm, luôn luôn bức bách đến chỗ tận cùng để cắt đứt mạng căn của người học.
  4. 4. Phải tin công phu hằng ngày chỉ sợ không làm, chứ làm mãi không ngừng niệm niệm tinh chuyên thì chắc chắn có ngày thấu thoát.
  5. 5. Phải tin sanh tử vô thường chẳng phải là việc nhỏ. Nếu chẳng phấn chí quyết định để mong độc thoát thì không có cách nào để tự khỏi cái khổ tam đồ (địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh).

Lại có ba pháp làm con đường tắt để tấn đạo:

o

      • Mắt huệ sáng
      • Lý tánh thông
      • Chí kiên cố

Mắt huệ sáng thì chiếu phá cảnh giới hiện lượng thân tâm thế gian, tất cả thị phi, yêu ghét, lấy bỏ, được mất, giàu nghèo, thọ yểu, khổ vui v.v… đều là duyên mộng huyễn, trọn không thật nghĩa mà chẳng khởi phân biệt.

Lý tánh thông thì đối với ngữ ngôn danh tướng của Phật Tổ thuở xưa nói ra, cho đến pháp yếu sai biệt của Thánh hiền trong tam-giáo và bách gia chư tử đều hội quy về một nguồn chẳng sanh dị kiến.

Chí kiên cố thì từ ngày hôm nay cho đến tận đời vị lai chẳng hỏi gần xa, nếu chẳng triệt chứng, quyết định chẳng thôi.

Ba pháp nầy, nếu đủ pháp thứ nhất mà thiếu pháp thứ hai và thứ ba, chỉ thành một người vô sự.

Đủ pháp thứ hai mà thiếu pháp thứ nhất và thứ ba, chỉ thành người linh lợi.

Đủ pháp thứ ba mà thiếu pháp thứ nhất và thứ hai, chỉ thành người vác bảng. ([1])

Phải biết đạo nầy như đi đường xa ngàn dặm, nếu đủ pháp thứ nhất và pháp thứ hai, mà thiếu pháp thứ ba là như người đi chín trăm dặm rồi dừng.

Đủ pháp thứ nhất và pháp thứ ba mà thiếu pháp thứ hai thì chẳng khỏi khóc vì lối tẽ.

Đủ pháp thứ hai và thứ ba mà thiếu pháp thứ nhất, tôi biết người nầy chạm vật bị kẹt.

Ba pháp hoàn toàn đầy đủ, tuy chưa cất bước, tôi dám bảo đảm người nầy chẳng khác gì người đã đến nhà, còn phải hỏi về đường lối nữa ư?

Người học đạo không ai chẳng nói sanh tử là việc lớn. Đến khi bị hỏi cái gì là sanh tử, thì mờ mịt không biết đường trả lời. Hoặc có người cho rằng tại người ấy chẳng biết mới hỏi, nên thong thả nói: ông đã chẳng biết sanh tử là cái gì. Nay phát tâm vì sanh tử không phải là hư vọng sao?

Luận về việc lớn sanh tử nếu chẳng biết lý của sanh tử thì gia công học đạo vô ích. Ví như người tịch cốc (khỏi ăn mà sống được), bảo họ cấy cày, dù cho có miễn cưỡng nghe lời, không bao lâu cũng lười biếng bỏ bê. Sao vậy? Vì người tịch cốc đã quên đói thì lúa thóc cũng đâu có chỗ dùng, giống như người học đã không biết manh mối của sanh tử thì tham học để làm gì? Hoặc giả miễn cưỡng cho rằng: “Sanh chẳng biết từ đâu đến, chết chẳng biết đi về đâu, ấy là sanh tử”. Đây thật là lời nói ngông cuồng. Dẫu cho biết được chỗ đến, chỗ đi, thì ngay cái chỗ “biết” đó rõ ràng là sanh tử. Lấy sanh tử để thoát sanh tử, không có lý ấy.

Phải biết sanh tử nguyên không có thể tánh. Nhân mê tự tâm lầm chạy theo luân hồi thành ra có sanh tử. Ví như khí lạnh kết nước thành băng, khí lạnh chợt tiêu thì băng trở lại thành nước. Chất chứa mê nơi tâm, lầm kết sanh tử cũng vậy. Chỗ mê đã ngộ thì tâm thể trạm nhiên (như nước yên lặng trong suốt), muốn tìm sanh tử như người ngủ thức dậy tìm lại việc trong mộng, đâu có lẽ nào được!

Phải biết sanh tử vốn không, nhờ ngộ mới biết Niết Bàn vốn có, vì mê nên không hay. Hoặc chẳng thể triệt ngộ tự tâm mà muốn giải quyết xong việc lớn sanh tử thì có khác nào chẳng rút bỏ củi lửa mà muốn nồi nước đừng sôi, lý đó làm sao có được!

Liễu thoát sanh tử không gì thân thiết hơn ngộ tâm. Ngộ tâm không gì hơn sự lập chí. Quên lạnh nóng, bỏ ăn ngủ, không tình vọng, một niệm nầy ở chỗ động tịnh như binh hùng tướng mạnh phòng thủ thành trì nghiêm ngặt, giặc chẳng thể nào xâm phạm được. Cổ nhân gọi đó là chánh chí. Như vậy tâm như tường vách, thình lình khai ngộ.Ngộ rồi chẳng những sanh tử không tịch mà Niết-Bàn cũng không có chỗ đặt để. Bằng không, thì sanh tử cùng mê vọng giao kết từ nhiều kiếp xa xưa đến tận đời vị lai, lưu chuyển không chút gián đoạn, gọi đó là việc lớn sanh tử, há là lời hư dối ư?

Tâm chẳng mê chẳng đọa sanh tử. Nghiệp chẳng buộc chẳng thọ hình hài. Ái chẳng nặng chẳng vào Ta-Bà. Niệm chẳng khởi chẳng sanh nghiệp lụy. Bởi nhân mê khởi vọng, do vọng sanh chấp. Thuận theo chỗ chấp ấy thì cái niệm yêu thích lăng xăng mống khởi. Nghịch với chỗ chấp ấy thì cái thói quen giận ghét bừng bừng nổi dậy. Tình yêu ghét phát khởi thì dấu vết sanh tử động chuyển trôi chảy đổi mới chẳng dừng, niệm niệm nối nhau, cho đến một khoảnh sát na đủ tám trăm sanh diệt, há đợi trăm năm tắt thở, sau đó mới là sanh tử ư?

Nguyên chỗ mê kia vốn không có tự tánh, cũng không có chỗ khởi, mà chính vì mình từ vô lượng kiếp lâu xa đến nay, chẳng thể hội gốc đạo, mất đi tự tâm mà ra. Ngày hôm nay, muốn được tâm nầy, chẳng bị mê vọng lôi cuốn, không có phương tiện nào khác hơn là chỉ đề khởi câu thoại đầu: “Chết rồi, thiêu xong, cái gì là tánh của ta?”. Trong hai mươi bốn tiếng đồng hồ như cầm thanh kiếm bén kim cương trên tay, trước hết hướng vào trong ruộng thức thứ tám, tận lực chém một nhát như chém một cuộn chỉ rối, một nhát đứt hết. Chỗ thấy của mắt đã đứt, chỗ nghe của tai cũng đứt, cho đến mũi lưỡi thân ý, hương vị xúc pháp đồng thời đều đứt. Việc quá khứ đã dứt, việc hiện tại đang dứt, việc vị lai sẽ dứt. Lục soát hết trong lòng không có cái để dứt, và cái dứt cũng dứt. Cái dứt đã dứt thì cái dứt cũng chẳng thành lập. Cái dứt đã chẳng lập thì cả pháp giới đều là tự tâm. Trong ấy không có cái năng dứt và sở dứt. Năng sở đã không thì thấy nghe hay biết không có chỗ đặt để. Đến chỗ nầy tức là chỗ buông bỏ thân mạng của chư Phật, Bồ Tát, thiện tri thức thuở xưa, cũng là chỗ hoàn toàn thôi nghỉ, chỗ đại giải thoát, chỗ đại an lạc, cũng là tam muội chẳng lìa thế gian mà thành tựu xuất thế gian. Tam muội nầy vào tay, tìm cái yêu cũng chẳng thể được, tìm cái ghét cũng chẳng thể được. Ở chỗ chẳng thể được (bất khả đắc)xem lại các pháp hữu vi thế gian thấy như giấc mộng đêm qua. Như trong Kinh nói:

Tịnh tột ánh sáng thông suốt

Tịch chiếu trùm hư không

Nhìn trở lại thế gian

Giống như việc trong mộng“.

Như hiện nay, người rõ biết việc nầy như mộng, chính đang lúc nói, con người nói nầy cũng là ở trong mộng, hà huống nói xong rồi, âm thanh tan mất, tình theo cảnh đổi thay!

Nhà mộng ba cõi lăn lóc chẳng dừng, nếu chẳng phấn chí ra sức đại tinh tấn gan dạ nhảy một cái ra khỏi cái nhà đại mộng nầy, ở giữa thanh thiên bạch nhật, mặc áo cả cười một tiếng khoái chí bình sanh, nếu quyết lấy mộng đi vào mộng, phan duyên lẫn nhau, chạy theo vọng trần, đọa vào địa ngục Vô-Gián, há chẳng cô phụ từ nhiều kiếp đến nay chư Phật, Bồ-Tát đã vì ông mà gieo hạt giống Bát-Nhã bồ đề ư?

Ông nếu chẳng phải đủ hạt giống sâu dày nầy, đâu được đời nầy ở chỗ giàu sang, trong nhà thập thiện, cho đến phát tâm vào đạo, cà-sa che thân, làm người nối dòng giống Phật. Ngày nay đến chỗ nầy, đã xuất gia rồi, đã làm Tăng rồi, đã gặp thiện tri thức rồi, đã nghe đạo rồi, cái điều ông còn thiếu đó, chỉ cần ra sức làm một phen để đích thân đến chỗ cứu cánh mà thôi. Huống là tuổi chưa già, sức còn sung, nếu chẳng lợi dụng lúc thân nầy còn mạnh khoẻ đi một hơi thẳng đến nhà thì chớp mắt bèn là vô thường, già bệnh đuổi gấp, đến lúc ấy tay chân rối loạn, lỗi sẽ về ai? Đem hết tất cả những cái tham, cái yêu, cái giận, cái si của cả một đời kiểm điểm qua một lượt đều dùng chẳng được. Trái lại, còn bị nó làm chướng ngại, trói buộc, che lấp, xoay chuyển, cuốn trôi, cô phụ cái nhân duyên tốt đẹp, làm người không biết hổ thẹn, bị Phật quở trách.

Phải biết, luân hồi nơi tam giới, ra vào trong bốn loài (Noãn, thai, thấp, hoá), lăn lóc lênh đênh chịu khổ liên tục. Như thế có gì đáng lưu luyến đâu, mà chẳng chịu siêu nhiên độc thoát! Người có chí lẽ nào lại làm như thế! 

TỨC HƯU CA

(Dịch âm)

Đạo nhân chi hưu tức hiện hưu

Bất đãi triêu mộ tính xuân thu

Thử hưu bất cách đệ nhị niệm

Chỉ ư đương niệm cơ toàn thâu.

Hựu vấn:

Đạo nhân hà duyên hưu đắc tốc?

Sanh tử luân hồi như chuyển cốc

Tự hận tòng tiền bất khẳng hưu

Uổng bị trần lao khổ  câu thúc.

Tức kim cánh bất khẳng hưu khứ

Ý mã tình viên lan bất đắc

Tùy thanh trục sắc như khiêu sắc

Miết chuyển cơ luân vô mịch sứ

Túc kim bất hưu hà nhật hưu

Tráng sắc bất đình như thủy lưu

Cổ kim đa thiểu vị hưu giả

Độc lâu đôi tích như sơn khâu.

Hưu phục hưu, cánh hưu hưu

Nhậm thị Bắc Uất Đơn Việt

Thùy quản Nam thiệm Bộ Châu

Chỉ tương nhất có đại hưu tự

Thiên cổ vạn cô vi đồng trù.

Nể bất kiến

Nhị thiên niên tiền Cam Giá chủng

Tẩu nhập Tuyết Sơn đà bất động

Đẳng thị phú quý như băng hoa

Cánh bất đã tha tam giới hống

Tự tòng ma thời nhất hưu trực đáo kim

Hoàng kim khỏa diện quang nghiêm thân

Thiên điệp hồng liên bỗng song túc

Bất nhiễm thế gian phiền não trần.

Tức tiện hưu lai hoàn bất tảo

Cánh bất tức hưu đề áo não

Thế, xuất thế gian nhất tề hưu

Thử thời phương bạt Bồ Đề đạo.

Hữu tận Bồ Đề đạo diệc không

Bạch vân áp toái Tu Di phong

Đáo đầu Phật đã bất yếu tố

Tòng giao tứ hải dương chân phong. 

BÀI CA LIỀN THÔI

Đạo nhân nói thôi, lập tức thôi

Chẳng đợi sáng chiều hay xuân thu

Thôi nầy chẳng cách đệ nhị niệm

Chỉ ngay đương niệm tâm liền thôi.

Có người hỏi:

Đạo nhân vì sao thôi được chóng?

Luân hồi sanh tử, bánh xe quay

Tự hận từ lâu thôi chẳng được

Uổng bị câu thúc khổ trần lao.

Ngày nay còn chẳng chịu thôi đi

Ý mã, tình viên ngăn chẳng được

Theo thanh theo sắc nhảy như rận

Vừa chuyển cơ luân tìm chẳng được.

Hôm nay chẳng thôi, ngày nào thôi

Tuổi trẻ chẳng dừng như nước trôi

Xưa nay bao người chưa thôi nghỉ

Đầu lâu chất lại như núi đồi.

Thôi lại thôi, lại thôi thôi

Mặc kệ Bắc Uất Đơn Việt ([2])

Đâu lo Nam Thiệm Bộ Châu

Chỉ đem một chữ THÔI nầy

Thiên cổ vạn cổ làm bạn lữ

Ông thấy chăng?

Hai ngàn năm trước dòng Cam-Giá ([3])

Chạy vào núi tuyết, lôi chẳng lay

Nhìn xem phú quí như hoa tuyết

Chẳng còn ở trong ba cõi ồn.

Từ đó thôi rồi thẳng đến nay

Mặt vàng ánh sáng trang nghiêm thân

Sen hồng ngàn cánh đỡ chân Phật

Chẳng nhiễm thế gian phiền não trần.

Bây giờ liền thôi còn chẳng sớm

Nếu chẳng liền thôi, luống áo não

Thế, xuất thế gian một lượt thôi

Lúc ấy mới đạt bồ đề đạo.

Thôi hết, bồ đề đạo cũng không

Mây trắng đè nát núi Tu Di

Rốt cuộc Phật cũng chẳng cần làm

Mặc tình bốn biển nổi chân-phong ([4])  

([1]) Người vác bảng: Người chỉ lo hạ thủ công phu một cách tích cực, nhọc mà không thông đường lối

([2])  Là Bắc Cu Lô Châu

[3]) Cam giá là mía. Dòng họ Thích Ca là con cháu của vua Cam Giá.

([4])  Mặc tình hoằng dương Thiền Tông ở khắp nơi.

PHÁP NGỮ TRÍCH TỪ BỘ QUẢNG LỤC

Học đạo cần phải đầy đủ năm thứ chánh tín:

  1. 1. Phải tin cái ông chủ mừng giận, buồn vui trong tâm của mình toàn thể cùng với chư phật chẳng thiếu mảy may.
  2. 2. Phải tin từ vô lượng kiếp đến nay cùng sắc thanh, yêu ghét nhiễm thành tập khí lưu chuyển kết thành một thứ sanh tử vô thường, ở trong thân tứ đại niệm niệm trôi chảy, đổi mới không ngừng.
  3. 3. Phải tin người xưa chỉ dạy một lời nửa câu như thanh Ỷ-thiên trường kiếm, luôn luôn bức bách đến chỗ tận cùng để cắt đứt mạng căn của người học.
  4. 4. Phải tin công phu hằng ngày chỉ sợ không làm, chứ làm mãi không ngừng niệm niệm tinh chuyên thì chắc chắn có ngày thấu thoát.
  5. 5. Phải tin sanh tử vô thường chẳng phải là việc nhỏ. Nếu chẳng phấn chí quyết định để mong độc thoát thì không có cách nào để tự khỏi cái khổ tam đồ (địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh).

Lại có ba pháp làm con đường tắt để tấn đạo:

o

      • Mắt huệ sáng
      • Lý tánh thông
      • Chí kiên cố

Mắt huệ sáng thì chiếu phá cảnh giới hiện lượng thân tâm thế gian, tất cả thị phi, yêu ghét, lấy bỏ, được mất, giàu nghèo, thọ yểu, khổ vui v.v… đều là duyên mộng huyễn, trọn không thật nghĩa mà chẳng khởi phân biệt.

Lý tánh thông thì đối với ngữ ngôn danh tướng của Phật Tổ thuở xưa nói ra, cho đến pháp yếu sai biệt của Thánh hiền trong tam-giáo và bách gia chư tử đều hội quy về một nguồn chẳng sanh dị kiến.

Chí kiên cố thì từ ngày hôm nay cho đến tận đời vị lai chẳng hỏi gần xa, nếu chẳng triệt chứng, quyết định chẳng thôi.

Ba pháp nầy, nếu đủ pháp thứ nhất mà thiếu pháp thứ hai và thứ ba, chỉ thành một người vô sự.

Đủ pháp thứ hai mà thiếu pháp thứ nhất và thứ ba, chỉ thành người linh lợi.

Đủ pháp thứ ba mà thiếu pháp thứ nhất và thứ hai, chỉ thành người vác bảng. ([1])

Phải biết đạo nầy như đi đường xa ngàn dặm, nếu đủ pháp thứ nhất và pháp thứ hai, mà thiếu pháp thứ ba là như người đi chín trăm dặm rồi dừng.

Đủ pháp thứ nhất và pháp thứ ba mà thiếu pháp thứ hai thì chẳng khỏi khóc vì lối tẽ.

Đủ pháp thứ hai và thứ ba mà thiếu pháp thứ nhất, tôi biết người nầy chạm vật bị kẹt.

Ba pháp hoàn toàn đầy đủ, tuy chưa cất bước, tôi dám bảo đảm người nầy chẳng khác gì người đã đến nhà, còn phải hỏi về đường lối nữa ư?

Người học đạo không ai chẳng nói sanh tử là việc lớn. Đến khi bị hỏi cái gì là sanh tử, thì mờ mịt không biết đường trả lời. Hoặc có người cho rằng tại người ấy chẳng biết mới hỏi, nên thong thả nói: ông đã chẳng biết sanh tử là cái gì. Nay phát tâm vì sanh tử không phải là hư vọng sao?

Luận về việc lớn sanh tử nếu chẳng biết lý của sanh tử thì gia công học đạo vô ích. Ví như người tịch cốc (khỏi ăn mà sống được), bảo họ cấy cày, dù cho có miễn cưỡng nghe lời, không bao lâu cũng lười biếng bỏ bê. Sao vậy? Vì người tịch cốc đã quên đói thì lúa thóc cũng đâu có chỗ dùng, giống như người học đã không biết manh mối của sanh tử thì tham học để làm gì? Hoặc giả miễn cưỡng cho rằng: “Sanh chẳng biết từ đâu đến, chết chẳng biết đi về đâu, ấy là sanh tử”. Đây thật là lời nói ngông cuồng. Dẫu cho biết được chỗ đến, chỗ đi, thì ngay cái chỗ “biết” đó rõ ràng là sanh tử. Lấy sanh tử để thoát sanh tử, không có lý ấy.

Phải biết sanh tử nguyên không có thể tánh. Nhân mê tự tâm lầm chạy theo luân hồi thành ra có sanh tử. Ví như khí lạnh kết nước thành băng, khí lạnh chợt tiêu thì băng trở lại thành nước. Chất chứa mê nơi tâm, lầm kết sanh tử cũng vậy. Chỗ mê đã ngộ thì tâm thể trạm nhiên (như nước yên lặng trong suốt), muốn tìm sanh tử như người ngủ thức dậy tìm lại việc trong mộng, đâu có lẽ nào được!

Phải biết sanh tử vốn không, nhờ ngộ mới biết Niết Bàn vốn có, vì mê nên không hay. Hoặc chẳng thể triệt ngộ tự tâm mà muốn giải quyết xong việc lớn sanh tử thì có khác nào chẳng rút bỏ củi lửa mà muốn nồi nước đừng sôi, lý đó làm sao có được!

Liễu thoát sanh tử không gì thân thiết hơn ngộ tâm. Ngộ tâm không gì hơn sự lập chí. Quên lạnh nóng, bỏ ăn ngủ, không tình vọng, một niệm nầy ở chỗ động tịnh như binh hùng tướng mạnh phòng thủ thành trì nghiêm ngặt, giặc chẳng thể nào xâm phạm được. Cổ nhân gọi đó là chánh chí. Như vậy tâm như tường vách, thình lình khai ngộ.Ngộ rồi chẳng những sanh tử không tịch mà Niết-Bàn cũng không có chỗ đặt để. Bằng không, thì sanh tử cùng mê vọng giao kết từ nhiều kiếp xa xưa đến tận đời vị lai, lưu chuyển không chút gián đoạn, gọi đó là việc lớn sanh tử, há là lời hư dối ư?

Tâm chẳng mê chẳng đọa sanh tử. Nghiệp chẳng buộc chẳng thọ hình hài. Ái chẳng nặng chẳng vào Ta-Bà. Niệm chẳng khởi chẳng sanh nghiệp lụy. Bởi nhân mê khởi vọng, do vọng sanh chấp. Thuận theo chỗ chấp ấy thì cái niệm yêu thích lăng xăng mống khởi. Nghịch với chỗ chấp ấy thì cái thói quen giận ghét bừng bừng nổi dậy. Tình yêu ghét phát khởi thì dấu vết sanh tử động chuyển trôi chảy đổi mới chẳng dừng, niệm niệm nối nhau, cho đến một khoảnh sát na đủ tám trăm sanh diệt, há đợi trăm năm tắt thở, sau đó mới là sanh tử ư?

Nguyên chỗ mê kia vốn không có tự tánh, cũng không có chỗ khởi, mà chính vì mình từ vô lượng kiếp lâu xa đến nay, chẳng thể hội gốc đạo, mất đi tự tâm mà ra. Ngày hôm nay, muốn được tâm nầy, chẳng bị mê vọng lôi cuốn, không có phương tiện nào khác hơn là chỉ đề khởi câu thoại đầu: “Chết rồi, thiêu xong, cái gì là tánh của ta?”. Trong hai mươi bốn tiếng đồng hồ như cầm thanh kiếm bén kim cương trên tay, trước hết hướng vào trong ruộng thức thứ tám, tận lực chém một nhát như chém một cuộn chỉ rối, một nhát đứt hết. Chỗ thấy của mắt đã đứt, chỗ nghe của tai cũng đứt, cho đến mũi lưỡi thân ý, hương vị xúc pháp đồng thời đều đứt. Việc quá khứ đã dứt, việc hiện tại đang dứt, việc vị lai sẽ dứt. Lục soát hết trong lòng không có cái để dứt, và cái dứt cũng dứt. Cái dứt đã dứt thì cái dứt cũng chẳng thành lập. Cái dứt đã chẳng lập thì cả pháp giới đều là tự tâm. Trong ấy không có cái năng dứt và sở dứt. Năng sở đã không thì thấy nghe hay biết không có chỗ đặt để. Đến chỗ nầy tức là chỗ buông bỏ thân mạng của chư Phật, Bồ Tát, thiện tri thức thuở xưa, cũng là chỗ hoàn toàn thôi nghỉ, chỗ đại giải thoát, chỗ đại an lạc, cũng là tam muội chẳng lìa thế gian mà thành tựu xuất thế gian. Tam muội nầy vào tay, tìm cái yêu cũng chẳng thể được, tìm cái ghét cũng chẳng thể được. Ở chỗ chẳng thể được (bất khả đắc)xem lại các pháp hữu vi thế gian thấy như giấc mộng đêm qua. Như trong Kinh nói:

Tịnh tột ánh sáng thông suốt

Tịch chiếu trùm hư không

Nhìn trở lại thế gian

Giống như việc trong mộng“.

Như hiện nay, người rõ biết việc nầy như mộng, chính đang lúc nói, con người nói nầy cũng là ở trong mộng, hà huống nói xong rồi, âm thanh tan mất, tình theo cảnh đổi thay!

Nhà mộng ba cõi lăn lóc chẳng dừng, nếu chẳng phấn chí ra sức đại tinh tấn gan dạ nhảy một cái ra khỏi cái nhà đại mộng nầy, ở giữa thanh thiên bạch nhật, mặc áo cả cười một tiếng khoái chí bình sanh, nếu quyết lấy mộng đi vào mộng, phan duyên lẫn nhau, chạy theo vọng trần, đọa vào địa ngục Vô-Gián, há chẳng cô phụ từ nhiều kiếp đến nay chư Phật, Bồ-Tát đã vì ông mà gieo hạt giống Bát-Nhã bồ đề ư?

Ông nếu chẳng phải đủ hạt giống sâu dày nầy, đâu được đời nầy ở chỗ giàu sang, trong nhà thập thiện, cho đến phát tâm vào đạo, cà-sa che thân, làm người nối dòng giống Phật. Ngày nay đến chỗ nầy, đã xuất gia rồi, đã làm Tăng rồi, đã gặp thiện tri thức rồi, đã nghe đạo rồi, cái điều ông còn thiếu đó, chỉ cần ra sức làm một phen để đích thân đến chỗ cứu cánh mà thôi. Huống là tuổi chưa già, sức còn sung, nếu chẳng lợi dụng lúc thân nầy còn mạnh khoẻ đi một hơi thẳng đến nhà thì chớp mắt bèn là vô thường, già bệnh đuổi gấp, đến lúc ấy tay chân rối loạn, lỗi sẽ về ai? Đem hết tất cả những cái tham, cái yêu, cái giận, cái si của cả một đời kiểm điểm qua một lượt đều dùng chẳng được. Trái lại, còn bị nó làm chướng ngại, trói buộc, che lấp, xoay chuyển, cuốn trôi, cô phụ cái nhân duyên tốt đẹp, làm người không biết hổ thẹn, bị Phật quở trách.

Phải biết, luân hồi nơi tam giới, ra vào trong bốn loài (Noãn, thai, thấp, hoá), lăn lóc lênh đênh chịu khổ liên tục. Như thế có gì đáng lưu luyến đâu, mà chẳng chịu siêu nhiên độc thoát! Người có chí lẽ nào lại làm như thế! 

TỨC HƯU CA

(Dịch âm)

Đạo nhân chi hưu tức hiện hưu

Bất đãi triêu mộ tính xuân thu

Thử hưu bất cách đệ nhị niệm

Chỉ ư đương niệm cơ toàn thâu.

Hựu vấn:

Đạo nhân hà duyên hưu đắc tốc?

Sanh tử luân hồi như chuyển cốc

Tự hận tòng tiền bất khẳng hưu

Uổng bị trần lao khổ  câu thúc.

Tức kim cánh bất khẳng hưu khứ

Ý mã tình viên lan bất đắc

Tùy thanh trục sắc như khiêu sắc

Miết chuyển cơ luân vô mịch sứ

Túc kim bất hưu hà nhật hưu

Tráng sắc bất đình như thủy lưu

Cổ kim đa thiểu vị hưu giả

Độc lâu đôi tích như sơn khâu.

Hưu phục hưu, cánh hưu hưu

Nhậm thị Bắc Uất Đơn Việt

Thùy quản Nam thiệm Bộ Châu

Chỉ tương nhất có đại hưu tự

Thiên cổ vạn cô vi đồng trù.

Nể bất kiến

Nhị thiên niên tiền Cam Giá chủng

Tẩu nhập Tuyết Sơn đà bất động

Đẳng thị phú quý như băng hoa

Cánh bất đã tha tam giới hống

Tự tòng ma thời nhất hưu trực đáo kim

Hoàng kim khỏa diện quang nghiêm thân

Thiên điệp hồng liên bỗng song túc

Bất nhiễm thế gian phiền não trần.

Tức tiện hưu lai hoàn bất tảo

Cánh bất tức hưu đề áo não

Thế, xuất thế gian nhất tề hưu

Thử thời phương bạt Bồ Đề đạo.

Hữu tận Bồ Đề đạo diệc không

Bạch vân áp toái Tu Di phong

Đáo đầu Phật đã bất yếu tố

Tòng giao tứ hải dương chân phong. 

BÀI CA LIỀN THÔI

Đạo nhân nói thôi, lập tức thôi

Chẳng đợi sáng chiều hay xuân thu

Thôi nầy chẳng cách đệ nhị niệm

Chỉ ngay đương niệm tâm liền thôi.

Có người hỏi:

Đạo nhân vì sao thôi được chóng?

Luân hồi sanh tử, bánh xe quay

Tự hận từ lâu thôi chẳng được

Uổng bị câu thúc khổ trần lao.

Ngày nay còn chẳng chịu thôi đi

Ý mã, tình viên ngăn chẳng được

Theo thanh theo sắc nhảy như rận

Vừa chuyển cơ luân tìm chẳng được.

Hôm nay chẳng thôi, ngày nào thôi

Tuổi trẻ chẳng dừng như nước trôi

Xưa nay bao người chưa thôi nghỉ

Đầu lâu chất lại như núi đồi.

Thôi lại thôi, lại thôi thôi

Mặc kệ Bắc Uất Đơn Việt ([2])

Đâu lo Nam Thiệm Bộ Châu

Chỉ đem một chữ THÔI nầy

Thiên cổ vạn cổ làm bạn lữ

Ông thấy chăng?

Hai ngàn năm trước dòng Cam-Giá ([3])

Chạy vào núi tuyết, lôi chẳng lay

Nhìn xem phú quí như hoa tuyết

Chẳng còn ở trong ba cõi ồn.

Từ đó thôi rồi thẳng đến nay

Mặt vàng ánh sáng trang nghiêm thân

Sen hồng ngàn cánh đỡ chân Phật

Chẳng nhiễm thế gian phiền não trần.

Bây giờ liền thôi còn chẳng sớm

Nếu chẳng liền thôi, luống áo não

Thế, xuất thế gian một lượt thôi

Lúc ấy mới đạt bồ đề đạo.

Thôi hết, bồ đề đạo cũng không

Mây trắng đè nát núi Tu Di

Rốt cuộc Phật cũng chẳng cần làm

Mặc tình bốn biển nổi chân-phong ([4])  

([1]) Người vác bảng: Người chỉ lo hạ thủ công phu một cách tích cực, nhọc mà không thông đường lối

([2])  Là Bắc Cu Lô Châu

[3]) Cam giá là mía. Dòng họ Thích Ca là con cháu của vua Cam Giá.

([4])  Mặc tình hoằng dương Thiền Tông ở khắp nơi.

banner-header

TỔ SƯ THIỀN

Hòa Thượng Thích Duy LựcTiểu sử hòa thượng Thích Duy Lực

(1923 – 2000)

A. THỜI THƠ ẤU
   Sư họ LA húy DŨ hiệu DUY LỰC, tự GIÁC KHAI, sanh ngày 05 tháng 05 năm 1923 tại làng Long Tuyền, huyện Bình Thủy tỉnh Cần Thơ, Việt Nam. Cha La Xương và mẹ Lưu Thị, làm nghề nông.
     Năm lên 7 tuổi, theo cha về quê sống tại làng Long Yên, huyện Phong Thuận phủ Triều Châu tỉnh Quảng Đông Trung Quốc. Sau khi tốt nghiệp phổ thông cấp 1, thì Sư phải nghỉ học theo cha trở lại Việt Nam sinh sống, lúc đó Sư được 16 tuổi (1938). Trú tại tỉnh Cần Thơ

THAM THIỀN CẢNH NGỮ

THAM THIỀN CẢNH NGỮ
Thiền Sư Bác Sơn
Cảnh ngữ là tỉnh giác, hoặc gọi là
kinh sợ. Ví như có kẻ trộm dòm ngó nhà cửa, chủ nhãn ban đêm đốt đèn ngồi đàng
hoàng giữa nhà, đằng hắng ra tiếng, kẻ trộm sợ hãi chẳng dám lén vào. Nếu vừa
ngủ quên thì kẻ trộm thừa cơ lẻn vào cướp đoạt của cải, cho nên giữ thành trì
nghiêm ngặt ban đêm vọng gác đánh mõ cầm canh, bỗng có biến động thì cũng không
sao, vì đã có phòng bị trước.
Con người có cái họa lớn sanh tử là
giấc mộng dài muôn kiếp chẳng tỉnh, huống sáu căn làm môi giới cho giặc hằng
ngày cướp của báu trong nhà. Nếu chẳng phải đấng Đại giác dùng lời thống thiết
cảnh tỉnh thì suốt đời say sưa trong giấc mộng biết đến ngày nào mới tỉnh ngộ.
Chẳng những lúc ngủ làm chủ chẳng được, mà ngay cả ban ngày mở mắt nói mơ rất
nhiều. Cho nên Đại sư Bác Sơn nương sức bi nguyện đến làm Đại Y Vương dùng một
vị Già Đà trị bệnh nghiệp điên cuồng cho mọi người. Do đó, có khai thị năm
chương Cảnh Ngữ về thiền bệnh rất đơn giản thẳng tắt; cái bệnh trong xương tủy
của người tham thiền đều được nói qua. Lời khai thị hạ thủ công phu trong sách
này rất khẩn yếu, thật là một quyển sách mới thiết yếu cho cửa Thiền, cũng là
thuốc tiên cứu thế.
Thiền cũng là giả danh không có thật
thể, làm sao có bệnh? Bởi vì người tham thiền phần nhiều khởi lên chấp tình lầm
hiểu, bị tâm ý thức đánh lừa sát hại, chẳng hướng lên trên cơ cảnh tìm, lại
nhằm vào trong học giải kiếm, hoặc bị ngôn cú cổ nhân làm chướng ngại tâm, hoặc
bị chết chìm trong tử thủy, hoặc ngồi trong cái vỏ vô sự, chẳng phải tâm linh
lợi chết chẳng được, cho nên mạng căn khó cắt dứt, sanh diệt rõ ràng, toàn thân
đều là bệnh của ta, chứ chẳng phải thiền có bệnh. Thậm chí thành cuồng trước ma,
Phật cũng chẳng thể cứu, đây là bệnh nghiệp, chứ chẳng phải thiền bệnh. Giả sử
cho chết được các thứ tâm, mà chẳng chịu hạ thủ công phu cùng với lý pháp thân
tương ưng, chẳng từng đạp lên trên cái ngạch cửa hướng thượng, ngồi ở trong
thùng cơm khinh an tự tại, cái khinh an này chính là thiền bệnh.
Cho nên có vị Tăng hỏi Cổ Đức: Thế
nào là thanh tịnh Pháp thân?
Cổ Đức đáp: Nguồn gốc của vô lượng
bệnh lớn.
Lời này như gai gốc nuốt vào mửa ra
thật khó. Cổ nhân từ trong chân tham thật ngộ, bệnh qua một phen rồi cho các
Ngài duỗi tay tiếp độ chẳng loạn hạ kim, dùi (châm tủy), cần phải gặp người
tuyệt khí tức, biết ngứa ngáy mới chịu chẩn bệnh. Thế nân, biết bệnh mới trừ
được bệnh, chữa mình rồi sau mới chữa người đúng là “người bệnh lâu năm trở
thành thầy thuốc”.
Đại sư Bác Sơn từ trước đến nay tham
cứu đạo này rất là dung thông, ngôn cú nào của Ngài cũng đều trong kinh nghiệm
chứ chẳng phải cố làm ra lời huyền diệu cao siêu, khiến cho người chẳng biết,
mà là cảnh giới thân chứng, thật tu thường ngày, thấy đến, nói đến, làm đến,
dùng đến. Nghĩa lý tinh minh biện tài vô ngại, vì thế Ngài nói sâu sắc về thiền
bệnh như cầm cái gương ngọc của Cung Tần soi thấy gan mật của quần thần một mảy
lông trốn cũng chẳng được. Xưa nay người ngồi giường thiền tự xưng là Thiện tri
thức nói thiền hay như Sư thật là hiếm có. Nhưng thiền bệnh rất khó nói, nói
cũng chẳng làm sao hết được. Bệnh tức là bệnh của Pháp thân, Pháp thân vô số
bệnh đâu có cùng tột. Người cứu bệnh Pháp thân, lấy bệnh làm phương thuốc hay,
lấy bệnh làm cơm nước thường dùng trong nhà, lấy bệnh làm áo lót, là do mình
dùng hay hoặc không hay mà thôi; cổ nhơn du hí ở trong bệnh để làm Phật sự. Bởi
vì thấy rõ Pháp thân vô chủ bệnh tự lành ngay, cho nên Động Sơn nói: “Lão Tăng
lúc xem chẳng thấy có bệnh”; chỉ do vọng tưởng chấp trước nên thiền bệnh đua
nhau sanh. Xưa, Phật nói ma sự của Ngũ ấm trong kinh Lăng Nghiêm và biến kế của
ngoại đạo tức là việc trong thiền bệnh của người thời nay. Vậy chấp tức thành
ma, kế tức là ngoại đạo, chẳng chấp chẳng kế cũng chưa là bệnh. Vì thế nói:
“Chẳng khởi tâm cho là thù thắng thì gọi là cảnh giới lành, nếu cho là chứng
thánh thì liền rơi vào bầy tà”. Kinh Pháp Hoa nói: “Có một vị Đạo sư biết rành
đường thông bít hiểm nạn cho nên có thể dẫn dắt những người kia đến bảo sở”.
Vậy quyển sách này của Đại sư chính là chiếc thuyền cho đời mạt pháp, là con
đường tắt cho kẻ sơ tâm, chẳng những hữu ích cho ngày nay cũng bổ ích cho tương
lai. Người quyết chí muốn tham thiền hạ thủ công phu cầu đại ngộ chịu xem kỹ
sách này thì biết làm cách nào để cho nghi tình phát chẳng khởi liền phát khởi,
gốc bệnh chưa phá liền phá, như vạch cát bày ngọc, cho người tự lấy, như vẹt
màn sương mù thấy bầu trời khiến cho người chẳng mê, như ở trong bước đường
cùng có đường xuất thân, trong câu chết (tử cú) có câu cứu sống người, như hạt
châu tròn lăn trên mâm, chẳng trệ một lời. Diệu dụng của sách này như thế, mọi
người biết ý theo đây dụng tâm thì có thể ngồi hoặc ngủ kiến đạo chẳng tốn
nhiều tiền giày cỏ mà thẳng đến ruộng đất đại an lạc, cùng với Phật Tổ đồng thở
chung một lỗ mũi. Người lấy đây tự cảnh tỉnh rồi cảnh tỉnh người; lại lấy đây
tự chữa lành bệnh rồi chữa lành bệnh cho người, cũng gọi là Hiện tại y vương,
khiến cho mạng mạch Tổ sư lưu thông, quốc mạch cùng huệ mạch đều kiên cố, ngõ
hầu chẳng phụ phương tiện nguyện lực của Đại sư từ bi chỉ dạy.
Niên hiệu Vạn Lịch năm Tân Hợi
(1611) tháng Mạnh Thu.
Tín Châu, đệ tử Lưu Sùng Khánh kính
đề.
Hòa thượng Bác Sơn (1575-1630), họ
Sa, tên Đại Hy, tự là Vô Dị, người đời thường gọi là Ngài là Thiền sư Vô Dị. Sư
năm 16 tuổi phát chí xuất gia, đến chùa Ngõa Quan ở Kim Lăng nghe giảng kinh
Pháp Hoa, cảm khái than: “Cầu điều đó ngay nơi mình, há có thể đuổi theo câu
văn mà được ư!”
Sư bèn bỏ đi Kiến Vô lễ Pháp sư Ngũ
Đài Thông cạo tóc xuất gia. Đầu tiên tu tập Chỉ quán. Sư ngồi tu dưới cội tùng
chẳng biết ngày đêm, muỗi mòng bu đầy trên thân như cắn cây khô, bên trong
chẳng biết có thân tâm, bên ngoài chẳng thấy có núi sông đại địa, trải qua năm
năm, dù lạnh dù nóng cũng không ngừng nghỉ.
Sau đó, Sư đến Pháp sư Hồng, ở núi
Siêu Hoa thọ giới Tỳ kheo, nghe nói Đại sư Thọ Xương Huệ Kinh ở núi Nga Phong
xiển pháp của Tào Động, Sư qua yết kiến, thấy ngài Thọ Xương đầu đội nón lá,
vác cuốc giống như người nhà nông, tâm bèn sanh nghi. Sư bỏ đi về đất Mân (Phước
Kiến) ở núi Bạch Vân Phong ba năm, viết thư trình sở đắc lên Thọ Xương. Thọ
Xương viết thư phúc đáp rằng: “Đó chẳng phải là đệ nhứt nghĩa”. Sư mới biết
mình lầm, bèn đốt thư đi. Sư càng để tâm vào tông thừa, xem lời của Thuyền Tử
nói: “Chỗ ẩn thân không tung tích, chỗ không tông tích chớ ẩn thân”, nghi tình
liền phát khởi, đến nổi quên ngủ quên ăn trải qua hơn một năm. Một hôm Sư xem
Truyền Đăng Lục thấy Triệu Châu bảo Tăng rằng: “Phải ra ngoài ba ngàn dặm gặp
Thiện tri thức mới được”. Sư bất giác tỉnh ngộ, như bỏ được gánh nặng ngàn cân,
tự cho rằng đại ngộ, chạy đến yết kiến Thọ Xương, Thọ Xương chẳng công nhận. Sư
mới hổ thẹn, từ đó y chỉ Thọ Xương nổ lực cầu đạo đến nổi thân hình khô héo,
mặt mũi nám đen, còn da bọc xương mà tinh tấn chẳng lùi.
Một hôm, Thọ Xương nhận lời Ngọc Sơn
thỉnh muốn Sư cùng đi, Sư từ chối. Thọ Xương nói: “Hôm nay có người thuyết pháp
cho ông nghe chóng làm cho ông ngộ”. Sư mới chịu đi. Dọc đường luận về chỉ thú
ngũ vị quân thần, Sư nói lưu lót chẳng ngừng, Thọ Xương đều công nhận, rồi hỏi
lại Sư: “Như lời Phật Ấn nói con kiến biết tìm chỗ tanh đến, ruồi xanh hay đến
chỗ thối tha là thuộc về quân vị hay thần vị?”
Sư đáp: Thuộc về thần vị.
Thọ Xương quở: Sẽ có người cười ông.
-Tại sao trước nói phải mà bây giờ
nói chẳng phải?
-Một chẳng phải thì tất cả chẳng
phải.
Đến Ngọc Sơn, Sư ngồi kiết già trên
tảng đá, bỗng nghe tượng Hộ Pháp Già Lam ngã xuống đất, trong tâm hoát nhiên,
vội làm kệ tụng trình Thọ Xương:
Ngọc Sơn dụ nhứt ngôn
Tâm hưu ngũ lộ tuyệt
Kỳ đà huyền giải hội
Như phất thang nghiêu tuyết
Một ba tỷ kim châm
Hảo nhân duyên thời tiết
Mai nhụy đỉnh khô chi
Đào hoa khai cửu nguyệt
Xúc mục như hưu biện biệt
Cấp thủy than đầu phao thảm can
Nịch sát vô hạn anh hùng khách.
Dịch nghĩa:
Ngọc Sơn dạy một lời
Tâm dứt, ngữ ngôn bặt
Bao nhiêu hiểu huyền diệu
Như tuyết gặp nước sôi
Kim vàng không lỗ trôn
Nhân duyên thời tiết tốt
Cành khô sanh hoa mai
Hoa đào nở tháng chín
Đầu ghềnh nước đổ ném gậy dò
Chìm chết vô hạn anh hùng khách.
Thọ Xương nói: “Một đến nhiều cửa,
lại đến cửa. Bởi vì tâm trí giải tuyệt mà mạng căn chưa dứt”.
Sư càng tự cố gắng, ở riêng trong
Tông thừa đương ngày đêm chẳng chịu ngủ nghỉ. Một hôm, Sư đi cầu xí thấy người
leo cây bèn ngộ chí đạo, chạy đến yết kiến Thọ Xương, vừa vào cửa liền lễ bái.
Thọ xương hỏi: Ngày gần đây như thế
nào?
Sư đáp: Có con đường sống chẳng cho
người biết.
-Vì sao chẳng cho người biết?
-Chẳng biết, chẳng biết.
Thọ Xương nhắc lại công án: “Bà già
đốt am đuổi Tăng” và hỏi “Thủ đoạn bà già như thế nào?”
Sư đáp: Vàng ròng thêm màu mà thôi.
Thọ Xương lại cử câu: “rồng gầm, cọp
rống”, bảo Sư làm kệ tụng.
Sư liền cầm bút lập tức viết:
Sát hoạt tranh hùng các hữu kỳ
Mơ hồ nhục nhãn hạt năng tri
Thổ quang bất toại thời lưu ý
Y cựu xuân phong trục mã đề.
Dịch nghĩa:
Giết cứu tranh hùng đều diệu kỳ
Mơ hồ mắt thịt đâu thể hay
Nói ra chẳng toại lòng ai cả
Du xuân gió mát vẫn y xưa.
Thọ Xương cười nói: Ông hôm nay mới
biết ta chẳng dối gạt ông.
Sư hỏi: Về sau còn có việc gì nữa
hay không?
-Lão Tăng chỉ biết mặc áo ăn cơm.
-Há không có phương tiện ư?
-Ông về sau được ngồi mặc áo, không
còn tính toán là đủ rồi.
Thọ Xương bèn nói kệ truyền pháp:
Bổn nhiên thanh tịnh hằng như nhiên
Khế chứng đa sanh trị hữu duyên
Xúc mục hổn dung giai chi điệu
Thông thân tác dụng tổng hư huyền.
Ngũ tông cực tắc cơ tề quán
Tâm tạng tinh vi lý cộng viên
Bất ngại cổ kim phàm thánh sự
Như Lai thiền hợp Tồ Sư thiền.
Dịch nghĩa:
Xưa nay thanh tịnh hằng như nhiên
Khế chứng nhiều đời gặp hữu duyên
Chạm mắt hổn dung đều chí diệu
Toàn thân tác dụng thảy hư huyền.
Năm tông cực tắc cơ đồng quán
Ba tạng tinh vi lý cũng viên
Chẳng ngại xưa nay việc phàm thánh
Như Lai thiền hợp Tổ Sư thiền.
Lại phó chúc thêm: “Hãy lấy vô tâm
tương tục làm chánh dụng, tận pháp hành trì, đền đáp cái ơn chẳng thể báo đáp
bằng cách làm lợi ích cho người chánh tín có duyên”. Lúc ấy Sư mới 27 tuổi.
Sư qua Nga Hồ thọ giới Bồ tát, ở lại
sáu tháng rồi trở về đất Mân, nhận lời mời thỉnh đến Viện Tổ Ấn ở Tín Châu, sau
đó Sư dời về Bác sơn, bèn trao cho Sư cái nghi quỷ thọ giới để làm Luật sư. Từ
đó Thiền Luật song hành, tông phong rất hưng thạnh. Miền Bắc đến Yên Đô (Bắc
Kinh), miền Nam đến tận Giao Chỉ (Việt Nam), người nghe tiếng Sư mỗi năm tìm
đến có hàng ngàn.
Sư đã từng nhận lời mời đến chùa
Thiên Giới ở Kim Lăng (Nam Kinh) thuyết pháp. Chùa ấy rộng mấy mươi dặm, có thể
dung nạp mấy trăm vạn người, lúc ấy nón giày vân tập chùa thành ra nhỏ. Tổn phí
cơm nước mỗi ngày hơn bạc vạn mà mỗi người chỉ được ăn một chén cơm với vài
cọng rau mà thôi.
Niên hiệu Sùng Trinh năm Canh Ngọ
(1630), Sư từ Kim Lăng trở về, tự nói: “Ta xuất thế quá sớm thì tạ thế cũng sớm”.
Sư bèn sai đệ tử xây tháp. Kiết hạ, Sư trước tác Tông Giáo Thông Thuyết một
quyển, trình bày hết những điều huyền ảo, sách viết chín tháng mới xong. Sư bèn
thị hiện có chút bệnh, đến nửa đêm ngày 17; Sư gọi Thủ tọa Trí Mẫn đến giường
dặn dò áo nghĩa Tông thừa rồi cười.
Thủ tọa hỏi: Hòa thượng an chăng?
Sư đáp: Được chút thọ dụng.
-Còn có cái chẳng bệnh chăng?
-Nóng làm sao ấy!
-Đến đi tự tại thế nào?
Sư đòi bút, viết bốn chữ lớn “Rõ
Ràng Phân Minh”, rồi ném bút, ngồi tịch. Sư thọ 66 tuổi đời, 41 tuổi đạo.
Pháp tôn là Hoằng Hàn, Hoằng Dũ gom
góp Ngữ Lục của Sư thành Quảng Lục ba mươi hai lăm quyển lưu hành ở đời (xem
Tục Tạng Kinh).
Năm sau, Ngày 21 tháng 10 năm Tân Vị
(1631) đem toàn thân Sư nhập tháp trên ngọn Thê Phụng Lãnh ở phía Tây chùa. Sư
để lại ngôn thuyết Pháp thân chia làm chín loại, trong đó bộ Tham Thiền Cảnh
Ngữ là kinh nghiệm của chính Sư đã trải qua, vì người phát tâm Tối thượng thừa,
chỗ đau châm trên mũi dùi, lúc trợt thì đưa gậy cho nắm, thật đáng là linh đơn
thay xương đổi cốt vậy.
CHƯƠNG I 
CẢNH NGỮ KHAI THỊ
NGƯỜI MỚI PHÁT TÂM THAM THIỀN
Tham thiền đầu tiên cần
phải phát tâm phá vỡ sanh tử cho vững chắc, thấy rõ thế giới, thân tâm thảy đều
là giả duyên không có chủ tể. Nếu chẳng phát minh cái lý vĩ đại sẵn có thì tâm
sanh tử chẳng vỡ. Tâm sanh tử đã chẳng vỡ thì làm sao trừ được con quỷ vô
thường giết người trong mỗi niệm chẳng dừng. Hãy đem một niệm này làm viên ngói
gõ cửa, tương tợ như ngồi trong đống lửa lớn muốn cầu thoát ra, đi bậy một bước
chẳng được, dừng lại một bước chẳng được, sanh một niệm khác chẳng được, mong
người khác cứu chẳng được. Ngay lúc ấy chỉ cần chẳng màng đến lửa lớn, chẳng
màng đến thân mạng, chẳng mong người cứu, chẳng sanh niệm khác, chẳng chịu tạm
dừng, chạy thẳng đến trước, chạy được thoát mới là tay tài giỏi.
Tham thiền quý ở chỗ
khởi nghi tình. Cái gì là nghi tình? Như sanh
chẳng biết từ đâu đến, chẳng được chẳng nghi chỗ đến. Tử chẳng biết đi về đâu,
chẳng thể chẳng nghi chỗ đi. Cửa ải sanh tử chẳng phá vỡ ắt nghi tình liền
phát, treo ở trên lông mày, buông cũng chẳng xuống đuổi cũng chẳng đi. Bỗng một
mai đập vỡ khối nghi, hai chữ sanh tử thành cái đồ tầm thường trong nhà. Cổ Đức
nói: “Nghi lớn ngộ lớn, nghi nhỏ ngộ nhỏ, chẳng nghi chẳng ngộ”.
Tham thiền đem chữ tử dán trên trán, coi cái thân tâm máu thịt này như đã chết,
chỉ có một niệm muốn tham cứu hiện tiền. Một niệm này như thanh Ỷ thiên trường
kiếm, nếu chạm nhằm lưỡi bén thì chẳng thể được, nếu bỏ bê để lụt ắt là kiếm ấy
từ lâu không dùng.
Tham thiền sợ nhất là
say đắm cảnh tịnh; cảnh tịnh khiến người ta kẹt trong không tịch mà chẳng hay
chẳng biết. Cảnh động người ta chán, cảnh tịnh phần nhiều chẳng sanh chán, Do
vì người tu hành luôn ở trong chỗ ồn ào, nên một khi được với cảnh tịnh tương
ưng như ăn kẹo ăn mật, như người mệt mỏi lâu thích ngủ, đâu thể tự biết ư?
Ngoại đạo khiến thân tâm
đoạn diệt hóa làm đá cứng cũng từ cảnh tịnh mà vào. Bởi vì lâu ngày chầy tháng
không đó lại không, tịch đó lại tịch, rơi vào vô tri cùng với gỗ đá đâu khác.
Chúng ta hoặc ở nơi cảnh tịnh chỉ muốn phát minh một đoạn đại sự dưới sự y áo
(kiến tánh), chẳng biết ở tại tịnh cảnh mới được, ở trong đại sự cầu tướng tịnh
ấy trọn chẳng thể được, đây gọi là được vậy (kiến tánh rồi thì động tịnh đều
chẳng sanh).
Tham thiền phải ở trong
đó mạnh dạn tiến tới, chẳng gần gũi nhân tình. Nếu theo tình ứng đối thì công
phu hạ thủ chẳng tiến, chẳng những hạ thủ chẳng tiến mà lâu ngày chầy tháng ắt
chắc chắn trở thành ông thầy chạy theo dòng thế tục.
Người tham thiền ngước
lên chẳng thấy trời, cúi xuống chẳng thấy đất, thấy núi chẳng phải là núi, thấy
nước chẳng phải là nước, đi chẳng biết đi, ngồi chẳng biết ngồi, ở giữa ngàn
người muôn người chẳng thấy có một người, khắp thân trong ngoài chỉ là một khối
nghi, có thể nói là khuấy đục thế giới, khối nghi chẳng vỡ chẳng thể thôi nghỉ.
Đây là công phu khẩn yếu.
Thế nào là khuấy đục thế
giới? Cái lý vĩ đại vốn sẵn có từ vô lượng kiếp đến nay chìm chìm lặng lặng
chưa từng động đến, cần phải chính đương nhân phấn chấn tinh thần, xoay trời
chuyển đất, tự có một đoạn thọ dụng ba đào dậy sóng.
Tham thiền chẳng sợ chết
chẳng được sống, mà chỉ sống chẳng được chết. Nếu quả cùng với nghi
tình
 kết lại một chỗ, thì cảnh động chẳng đợi khiển trừ mà tự trừ,
vọng tâm chẳng đợi tịnh mà tự tịnh, cửa sáu căn tự nhiên rỗng rang khoát đạt,
điểm nhằm liền đến, gọi tới liền ứng, lo gì chẳng sống ư?
Công phu tham thiền được
tiến, như mang gánh nặng ngàn cân buông cũng chẳng xuống, tương tự như tìm vật
quan trọng bị đánh mất, nếu tìm không ra lòng quyết chẳng chịu thôi. Trong ấy
chỉ cần chẳng nên sanh chấp, sanh trước, sanh kế. Chấp thành bệnh, trước thành
ma, kế thành ngoại đạo. Nếu được nhứt tâm nhứt ý như tìm vật bị đánh mất thì ba
thứ lỗi trên không có dính dáng, chỗ gọi là: “Sanh tâm động niệm liền trái pháp
thể”.
Tham thiền, lúc cử khởi
thoại đầu cần phải rõ ràng sáng suốt như mèo bắt chuột. Cổ nhân nói: “Chẳng
chém được đứa mọi, thể chẳng thôi”. Bằng không ngồi trong hang quỷ hôn hôn trầm
trầm luống qua một đời có ích gì!
Lúc mèo bắt chuột, nó mở
to đôi mắt, bốn chân sẵn sàng chỉ muốn chụp chuột đưa vào miệng, dẫu cho có gà
chó bên cạnh nó cũng chẳng thèm ngó tới. Người tham thiền cũng vậy, chỉ tức tối
muốn rõ cái lý này, dầu có tám cảnh thay nhau hiện ra trước mắt cũng chẳng màng
đến, vừa có niệm khác, chẳng những chuột và mèo cũng chạy mất.
Tham thiền một ngày phải
thấy công phu ngày đó, nếu lơ láo qua ngày thì trải qua trăm kiếp ngàn đời cũng
chưa có ngày xong, Bác Sơn tôi thuở trước cắm một cây hương, thấy cây hương
tàn, bèn nói: “Công phu y như trước, không có thêm bớt, một ngày mấy cây hương?
Một năm bao nhiêu cây hương?” Và nói: “Tấc bóng dễ qua, thời giờ chẳng đợi
người, đại sự chưa sáng, ngày nào mới xong”. Do sự thống thiết này, càng thêm
cố gắng.
Tham thiền chẳng nên ở
trên công án cổ nhân suy nghĩ giải thích, dẫu cho mỗi mỗi đều lãnh hội được đi
nữa, cùng với chính mình cũng không dính dáng gì cả. Trái lại chẳng biết, một
lời một câu của cổ nhân như đống lửa lớn, đến gần chẳng được, chạm đến chẳng
được, huống là ngồi nằm trong ấy ư? Lại ở trong ấy phân đại phân tiểu, luận
thượng luận hạ, chẳng tán thân mất mạng hầu như ít có.
Việc này chẳng cùng giáo
thừa hợp, cho nên người tu tập Đại thừa lâu năm còn chẳng hiểu chẳng biết,
huống các Tiểu thừa, Thanh văn, Duyên giác; Tam hiền, Thập thánh há chẳng thông
giáo, nghe đến một việc này hàng tam hiền vỡ mật, Thập địa hồn kinh, Bồ tát
Đẳng giác thuyết pháp như mây như mưa độ bất khả tư nghì chúng sanh nhập vô
sanh pháp nhẫn còn bị gọi là sở tri ngu cùng với đạo toàn trái, hà huống là
những người khác ư? Bởi vì việc này từ địa vị phàm phu chóng đồng Phật thể.
Người rất khó tin, người tin là pháp khí, người chẳng tin thì chẳng phải pháp
khí. Người tu hành muốn vào Tông thừa này đều phải từ cửa tin mà
vào. Một chữ tincó cạn, có sâu, có tà, có chánh, chẳng thể biện.
Cạn nghĩa là phàm nhập
pháp môn, ai nói chẳng tin, song chỉ tin pháp môn mà chẳng tin tâm mình.
Sâu thì các Bồ tát thừa
còn chẳng đủ niềm tin, như Hoa Nghiêm Sớ nói: “Thấy có người hay thuyết pháp,
có chúng nghe pháp là chưa vào cửa tin”. Như nói: “Tức tâm tức Phật”, ai nói
chẳng tin, đến khi hỏi: Ông là Phật chăng? Thì lắc đầu từ chối, thừa đương
chẳng nổi. Kinh Pháp Hoa nói: “Tất cả cùng nhau suy nghĩ chẳng thể lường Phật
trí”. Vì sao? Vì có tâm suy nghĩ, bởi niềm tin chẳng đủ mà thôi.
Tà, chánh: Tự tâm tức
Phật gọi là chánh tín, ngoài chấp có pháp gọi là tà tín. “Tức Phật” cần phải
tham cứu cho sáng tỏ tự tâm. Và phải đích thân dẫm đến, tới chỗ chẳng nghi mới
gọi là chánh tín. Còn như mập mờ lầm lạc đoán mò chỉ nói: “Tức tâm tức Phật”
thật chẳng biết tu tâm, gọi là tà tín.
Cổ nhân hái đào cũng định, cuốc đất cũng định, lúc
làm công việc gì cũng định, đâu phải ngồi lâu đè nén khiến tâm chẳng khởi sau
đó mới định ư? Nếu như thế tức là tà định, chẳng phải ý chánh của Thiền.
Lục Tổ nói: “Na Già
thường tại định, không có lúc nào chẳng định”, cần phải thấy suốt bản thể mới
cùng định này tương ứng. Ông già Thích Ca từ Đâu Suất xuống hoàng cung, vào
Tuyết Sơn thấy sao mai mọc, khai thị đại chúng như huyễn, chưa từng xuất định này.
Bằng không, ắt bị cảnh động nhận chìm, đâu thể gọi là định.
Trong cảnh động tìm chỗ
khởi chẳng thể được, trong cảnh tịnh cũng tìm chỗ khởi chẳng thể được. Động
tịnh đã không có chỗ khởi thì lấy cái gì làm cảnh? Hiểu được ý này thì tất cả
đều là một thể định tràn đầy không thiếu.
Tham thiền chẳng được
đắm nhiễm thế pháp. Trong Phật pháp còn đắm nhiễm một điểm cũng chẳng thể được,
hà huống là thế pháp ư? Nếu thoại đầu thật sự hiền tiền, đạp trên băng chẳng
thấy lạnh, đạp trên lửa chẳng thấy nóng, trong rừng gai góc ngang nhiên đi qua
chẳng thấy có chướng ngại, mới có thể ở trong thế pháp hoành hành tự tại. Bằng
không thì đều bị cảnh duyên chuyển; muốn được công phu thành một phiến đến năm
lừa cũng chưa được mộng thấy.
Tham thiền chẳng nên
chạy tìm trên văn cú ghi nhớ ngữ ngôn, chẳng những vô ích mà còn làm chướng
ngại công phu, khiến công phu chân thật trở thành duyên lự, muốn được chỗ tâm
hành bặt há có thể được ư?
Tham thiền sợ nhứt là tỷ
lượng, đem tâm suy lý lời Phật lời Tổ với đạo càng xa, hạ thủ đến Phật Di Lặc
ra đời cũng không dính dáng. Nếu là người nghi tình chóng phát lấp bít hư không
chẳng biết có danh tự hư không, như ngồi ở trong núi bạc, vách sắt chỉ muốn
được một con đường sống. Nếu chẳng được con đường thì làm sao được an ổn. Chỉ
cần như thế hạ thủ đi, thời tiết đến thì tự có sự đảo lộn.
Gần đây có một tà sư dạy
người học chẳng cần hạ thủ công phu. Lại nói: “Cổ nhân chưa từng hạ thủ công
phu”. Lời này rất độc làm mê lầm kẻ hậu sanh, vào địa ngục mau như tên bắn.
Bài minh Tọa thiền của
Thiền sư Đại Nghĩa nói:
Chớ nói tin đạo, chẳng
cần tham,
Cổ Thánh nhắc hoài là chỉ nam.
Tuy nhiên gác cũ nhàn điền địa,
Một phen tiến đến được hay chưa.
Nếu chẳng cần tham cứu
mà nói đắc lý, đó là Di Lặc trời sanh, Thích Ca tự nhiên, bọn người này bị gọi
là người đáng thương xót. Bởi vì tự mình chẳng từng tham cứu, hoặc lấy cổ nhân
một hỏi một đáp liền lãnh ngộ bèn đem thức để hiểu rồi dối gạt người, hoặc gặp
một phen bệnh nặng kêu khổ suốt ngày, những điều hiểu biết bình thường đều
chẳng dùng được, hoặc đến lúc mạng chung như con cua bị bỏ vào nồi nước sôi tay
chân rối loạn, ăn năn đâu kịp.
Thiền sư Hoàng Bá nói:
Xuất trần việc ấy vốn
phi thường,
Nắm chặt đầu dây giữ lập trường.
Chẳng phải một phen sương thấm lạnh,
Hoa mai chi dễ thưởng mùi hương.
Lời này rất thân thiết,
nếu đem bài kệ này luôn luôn cảnh sách thì công phu tự nhiên tấn tới, như đường
dài trăm dặm, bước đi một bước thì ngắn đi một bước, còn nếu đứng một chỗ chẳng
chịu đi thì dẫu nói được sự nghiệp của quê nhà rõ ràng minh bạch cũng chẳng bao
giờ đến nhà, thử hỏi sẽ được cái gì?
Tham thiền khẩn yếu nhất
là chữ thiết. Chữ thiết rất có sức mạnh.
Chẳng thiết ắt lười biếng sanh. Lười biếng sanh thì phóng túng buông lung tâm
ý. Nếu dụng tâm chân thiết thì buông lung lười biếng làm sao sanh được. Phải
biết, một chữ thiết này chẳng lo chẳng đến chỗ ruộng đất cổ
nhân, chẳng lo tâm sanh tử chẳng vỡ. Bỏ một chữ thiết này, cầu Phật pháp nào
khác đều là si cuồng chạy ở ngoài lề, há có thể nói là đồng với hạ thủ công phu
ư?
Một chữ thiết chẳng
những lìa lỗi mà ngay đây lập tức vượt cả ba tánh thiện, ác, vô ký. Một câu
thoại đầu, dụng công rất thiết thì cũng chẳng nghĩ thiện, dụng tâm rất thiết
thì chẳng nghĩ ác, dụng tâm rất thiết thì chẳng rơi vào vô ký. Thoại đầu thiết
thì không tán loạn, thoại đầu thiết thì không hôn trầm, thoại đầu hiện tiền thì
chẳng rơi vào vô ký.
Một chữ thiết là câu rất
thân thiết, dụng tâm thân thiết ắt không kẻ hở, cho nên ma chẳng thể nhập vào,
dụng công thân thiết chẳng sanh tính toán có, không… ắt chẳng rơi vào ngoại
đạo. Người tham thiền đi chẳng biết mình đi, ngồi chẳng biết mình ngồi, nghĩa
là thoại đầu hiện tiền, nghi tình chẳng vỡ, chẳng biết có thân tâm, hà huống
biết có đi, có ngồi!
Tham thiền sợ nhất là
suy nghĩ làm thơ, làm kệ. làm văn, làm phú… Thơ kệ thành ắt gọi là thi Tăng,
văn phú hay ắt gọi là văn tự Tăng, cùng với tham thiền không dính dáng gì cả.
Hễ gặp cảnh duyên nghịch thuận làm động niệm tâm người, liền phải phát giác và
đề khởi thoại đầu chẳng theo cảnh duyên chuyển mới được. Hoặc nói: “Chẳng cần
kíp”. Ba chữ này gây lầm lạc cho người, người học cần phải xét kỹ.
Tham thiền, người ta sợ
rơi vào không. Thoại đầu hiện tiền đâu phải là không. Chỉ cái người sợ không
này bèn không chẳng được, hà huống là thoại đầu hiện tiền.
Tham thiền, nghi tình
chẳng vỡ như đi trên vực sâu, tợ bước trên băng mỏng, mảy may đánh mất chánh
niệm thì tán thân mất mạng, vì nghi tình chẳng vỡ, cái lý vĩ đại chưa sáng, một
hơi thở ra chẳng hít vào là qua đời khác, bị trung ấm kéo dắt không khỏi đi
theo nghiệp thức thay đầu đổi mặt mà chẳng hay chẳng biết. Do đó, trên nghi lại
càng thêm nghi, đề khởi thoại đầu, chẳng rõ quyết định phải rõ, chẳng vỡ quyết
định phải vỡ, ví như bắt kẻ trộm, cần phải có tang vật mới được.
Tham thiền, chẳng được
đem tâm chờ ngộ, như người trên đường đứng ở trên đường chờ đợt đến nhà ắt
không bao giờ đến nhà mà chỉ cần đi thì đến nhà. Nếu đem tâm chờ ngộ thì chẳng
bao giờ ngộ, mà chỉ cần bức bách khiến cho ngộ. Nếu như đại ngộ như hoa sen
chợt nở, như đại mộng chợt tỉnh. Bởi vì mộng chẳng chờ tỉnh, ngủ mùi rồi tự
tỉnh; hoa chẳng đợi nở, thời tiết đến tự nở; tâm chẳng đợi ngộ, lúc nhân duyên
hội hợp thì tự ngộ. Tôi nói: “Lúc nhân duyên tự hội hợp, quý ở chỗ thoại đầu
chân thiết bức bách khiến cho ngộ, chớ chẳng phải chờ ngộ đâu!” Lại lúc ngộ như
vẹt mây mù thấy trời xanh rộng rãi không nương gá (vô y), trời xoay đất chuyển
lại là một cảnh giới đặc biệt.
Tham thiền cần phải khẩn,
chánh, miên mật
 và dung hoát.
Thế nào là khẩn? Mạng người ở trong hơi thở, đại sự chưa rõ, một hơi thở ra chẳng
hít vào, đường trước mịt mờ chưa biết về đâu, chẳng được chẳng khẩn. Cổ Đức
nói: “Như dây gai thấm nước, một bước khẩn cấp một bước”.
Thế nào là chánh? Người học cần phải đủ con  mắt trạch pháp, ba ngàn bảy
trăm Tổ sư đều là gương mẫu cho người tham thiền. Nếu sai mảy may ắt vào lối
tà. Kinh nói: “Chỉ một việc này thật, cái thứ hai nào khác chẳng phải chân”.
Thế nào là miên mật? Lông mày cùng hư không kết chặt, kim châm không lọt, nước
rưới chẳng thấm, chẳng để hở một mảy may. Nếu có một kẻ hở bằng mảy lông ắt ma
cảnh thừa chỗ sơ hở chen vào. Cổ Đức nói: “Một giây phút nào thoại đầu chẳng
hiện tiền thì y như người chết”.
Thế nào là dung hoát? Thế giới rộng trượng thì gương xưa rộng một trượng. Gương
xưa rộng một trượng thì lò lửa rộng một trượng. Quyết chẳng cầu chấp trụ ở một
chỗ như nắm chặt đầu con rắn chết, cũng chẳng rơi vào hai đầu, tự tại thênh
thang. Cổ Đức nói: “Tròn đồng thái hư, không thiếu không dư”. Người thật sự đến
chỗ dung hoát thì trong chẳng thấy có thân tâm, ngoài chẳng thấy có thế giới,
mới được chỗ nhập đầu.
Khẩn mà chẳng chánh ắt
uổng dụng công. Chánh mà chẳng khẩn ắt chẳng thể nhập. Đã nhập cần phải miên
mật mới được tương ưng. Đã tương ưng, cần phải dung hoát mới thành hóa cảnh.
Tham thiền chẳng được có
một mảy lông niệm khác, đi, đứng, nằm, ngồi chỉ đề khởi câu thoại đầu bổn tham
phát khởi nghi tình, tức tối muốn tìm đến chỗ tận cùng. Nếu có mảy lông niệm
khác, người xưa nói là “Tạp độc nhập tâm”, chẳng những tổn thương thân mạng, mà
còn tổn thương huệ mạng, người học chẳng thể chẳng thận trọng.
Tôi nói: Niệm khác nghĩa
là chẳng những pháp thế gian mà cho đến trừ cái tình này ra, tất cả việc tốt
trong Phật pháp cũng đều là niệm khác. Lại, chẳng những việc ở trong Phật pháp
mà cho đến ở trong tâm thể, giữ nó, buông nó, chấp nó, hóa nó, cũng đều là niệm
khác (mất chánh niệm).
Tham thiền, phần đông
đều nói: “Tham chẳng được”, thì cứ ngay chỗ tham không được hãy tham đi, như người
chưa biết đường hãy tìm đường, chứ chẳng nên nói “tìm chẳng được đường”, bèn
thôi sao! Như tìm được đường rồi thì quý ở chỗ đi đến nhà mới thôi, chẳng được
đứng ở trên đường chẳng chịu đi thì đâu có ngày đến nhà.
Tham thiền, tham đến chỗ
chẳng thể dụng tâm, chỗ vực sâu muôn trượng, chỗ sơn cùng thủy tận, chỗ tận
cùng khu ốc, như con chuột chun vào sừng trâu tự có sự dội ngược (ngộ đạo).
Tham thiền sợ nhất là
cái tâm linh lợi, tâm linh lợi là thuốc kỵ của tham thiền, phạm nhầm một chút
dù cho thuốc hay hiện tiền cũng chẳng cứu được. Nếu thật là người tham thiền,
mắt như mù, tai như điếc, lúc tâm niệm vừa mống khởi như đụng nhầm núi bạc vách
sắt; như thế, công phu mới được tương ưng.
Tham thiền được chân
thiết, đem thân tâm cùng thế giới luyện được như thanh sắt, chỉ đợi nó bỗng nổ
tung ra, rồi cần phải gom lại thành đống mới được.
Tham thiền chẳng sợ sai
lầm mà chẳng sợ biết mình quấy. Dẫu cho đang đi ở chỗ sai lầm, nếu chịu có một
niệm biết quấy, ấy là nền tảng thành Phật làm Tổ, là con đường trọng yếu ra
khỏi sanh tử, là vũ khí lợi hại để phá lưới ma. Đại sư Thích Ca ở trong mỗi
pháp của ngoại đạo đều có chứng qua, mà chẳng ngồi ở trong hang ổ ấy, đem bốn
chữ “biết quấy liền bỏ” đi từ phàm phu đến địa vị đại thánh. Ý này chẳng những
ở trong pháp xuất thế mà ở trong pháp thế gian hễ có đánh mất chánh niệm, chỉ
cần phí bốn chữ “biết quấy liền bỏ” thì làm được một con người tốt đẹp trong
trắng.
Nếu ôm chặt lấy chỗ sai
lầm cho là đúng, chẳng chịu biết quấy, dẫu cho Phật hiện tiền cứu người ấy cũng
chẳng được.
Tham thiền chẳng nên
tránh huyên náo cầu tịch lặng, nhắm mắt ngồi trong hang quỷ làm kế sống. Người
xưa gọi là ngồi dưới núi đen tối, ngâm trong nước chết; giúp được cái gì. Chỉ
cần ở trên cảnh duyên mà tham cho được, mới là  chỗ đắc lực. Một câu thoại
đầu ở trên lông mày, trong sự đi ngồi, mặc áo, ăn cơm, tiếp tân đãi khách, chỉ
cần rõ cái chỗ rơi của một câu thoại đầu này, một mai lúc rửa mặt rờ nhằm cái
lỗ mũi nguyên lai rất gần, bèn được ít phí sức (tỉnh lực).
Tham thiền sợ nhất là
nhận thức thần làm Phật sự, hoặc nhướng mày chớp mắt, xoay đầu ngó lại, cho là
có ít nhiều kỳ đặc. Nếu nhận thức thần làm việc chánh thì làm tôi tớ cho ngoại
đạo cũng chẳng được.
Tham thiền cần phải chỗ
tâm hành diệt, điều thiết yếu chẳng nên đem tâm nghiên cứu, suy lý cơ duyên vấn
đáp… Nên ngài Động Sơn nói: “Tham cứu diệu lý thì đánh mất tông chỉ của Thiền,
làm cho cơ dụng linh động trở thành ám muội; hạng người này không đủ tư cách
nói chuyện với nhau. Nếu được triệt ngộ thì mọi tam muội từ trong tự tâm lưu
xuất, suy nghĩ tạo tác ắt cách xa, khác nào như trời với đất”.
Tham thiền chẳng sợ
chẳng được, tham chẳng được cần phải tham cho kỳ được mới là công phu. Cổ Đức
nói: “Không cửa là cửa giải thoát, không ý là ý đạo nhân, quý ở chỗ thể hội
được chỗ vào. Nếu tham chẳng được bèn đánh trống rút lui thì dẫu trăm kiếp ngàn
đời cũng không làm sao tham được”.
Nghi tình phát khởi
buông chẳng xuống, ấy là lên đường; đem hai chữ sanh tử dán trên trán, như cọp dữ đuổi đến, nếu chẳng chạy thẳng về
nhà ắt tán thân mất mạng, còn có thể dừng chân ư?
Tham thiền chỉ ở trên
một tắc công án dụng tâm, chẳng nên giải hội ở trên tất cả công án. Dẫu có thể
giải được thì cũng chỉ là giải chứ chẳng phải là ngộ. Kinh Pháp Hoa nói: “Đem
tâm suy nghĩ đo lường cảnh giới Viên giác Như lai như đem lửa đom đóm đốt núi
Tu di, trọn không thể được”. Ngài Động sơn nói: “Toan đem ý học huyền tông, như
muốn đi về hướng Tây mà quay mặt về hướng Đông”. Người nghiên cứu giải thích
công án cần phải dưới da có máu, biết hổ thẹn mới được.
Tham thiền đề khởi thoại
đầu, chỉ biết nghi tình đập chẳng vỡ ắt không có niệm thứ hai. Quyết chẳng nên
nhằm trên kinh sách dẫn chứng kích động thức tình; tình thức bị kích động ắt
vọng niệm nổi lên, muốn được đường ngôn ngữ dứt, chỗ tâm hành diệt, làm sao
được!
Đạo, chẳng nên rời dù
trong khoảnh khắc, nếu rời thì chẳng phải đạo. Công phu chẳng nên gián đoạn dù
trong khoảnh khắc, nếu gián đoạn thì chẳng phải công phu. Người chân chánh tham
cứu như lửa cháy lông mày, tợ lửa cháy đầu đâu có rỗi rảnh để việc khác làm
động niệm. Cổ Đức nói: “Như một người địch với muôn người, đối diện đâu cho
nháy mắt”. Lời này rất thiết yếu đối với người tham thiền, cần phải biết vậy.
Tham thiền, tự mình tham
chưa triệt ngộ, chỉ nên lo giải quyết chưa xong việc tham cứu của mình, chẳng
nên dạy người, như người chưa đến kinh thành mà nói cho người khác nghe về việc
trong kinh thành, chẳng những dối người mà cũng là dối mình vậy.
Tham thiền ngày đêm
chẳng dám biếng trễ, như Đại sư Từ Minh ban đêm buồn ngủ Ngài dùng mũi dùi đâm
vào mình, và nói: “Người xưa vì đạo quên ăn bỏ ngủ, còn ta nay là người gì?”
Cô nhân vẽ một vòng tròn
bằng phấn, đạo lý chẳng rõ, chẳng bước chân ra ngoài. Người thời nay buông lung
tình ý, đi chơi lêu lổng cho đó là hoạt bát, thật đáng tức cười.
Tham thiền hoặc được
khinh an, hoặc có tỉnh phát, chẳng cho đó là ngộ. Bác Sơn tôi đương thời khán
câu “Không tung tích” của Hòa thượng Thuyền Tử, một hôm nhân xem Truyền Đăng
Lục thấy ngài Triệu Châu dặn ông Tăng rằng: “Phải đi ra ngoài ba ngàn dặm tìm
gặp Thiện tri thức mới được”, bất giác tôi đánh mất cái túi vải như buông gánh
nặng ngàn cân, tự cho là đại ngộ. Đến khi gặp ngài Bảo Phương, tôi mới biết
mình như thanh gỗ vuông tra vào lỗ tròn, nên rất hổ thẹn. Nếu sau khi ngộ chẳng
gặp đại Thiện tri thức, dẫu được an lạc tự tại cũng chưa phải xong.
Ngài Bảo Phương khuyến
khích tôi bằng bài kệ:
Lấy không để quét không
thì công rất lớn,
Lấy có để tìm có thì đức càng nhỏ.
Không nên dùng sự hiểu
biết của mình để phỉ báng Tổ sư.
Chỗ được tiện nghi tức
là mất tiện nghi.
Đây là câu đầu sào trăm
thước tiến bước, người tham thiền cần phải xét kỹ. Tôi thường nói với người
học: “Tôi được hai chữ chẳng phải của ngài Bảo Phương thọ dụng
bất tận”.
Tham thiền chẳng được
cho là đạo lý, cứ miệt mài tham đi mới phát khởi được nghi tình. Nếu cho là đạo
lý thì không tiến tới được, chẳng những việc mình chẳng thấu triệt mà nghi tình
cũng chẳng phát khởi. Như có người hỏi: “Vật đựng trong rương là vật gì?” Thật
chẳng thấy vật người kia chỉ! Người kia lấy chẳng phải là phải, nên chẳng thể
phát nghi. Lại chẳng những chẳng khởi nghi mà còn cho vật kia là vật này, cho
vật này là vật kia. Hiểu lầm như thế, nếu chẳng mở rương ra đích thân thấy qua
một phen thì suốt đời cũng chẳng thể nói chắc được.
Tham thiền chẳng nên cho
là vô sự, phải tức tối muốn sáng tỏ lý này. Nếu cho là vô sự thì suốt một đời
chỉ là người vô sự, một việc lớn dưới y áo chẳng bao giờ xong; như người tìm
vật bị đánh mất, tìm ra mới thôi. Nếu tìm chẳng ra bèn bỏ vào cái vỏ vô sự,
không có ý tìm nữa thì dẫu cho vật bị đánh mất có hiện tiền cũng lầm qua trước
mặt, bởi vì không có ý tìm vật vậy.
Tham thiền chẳng nên cho
là đá nhoáng ánh chớp. Nếu ánh sáng đầu cửa chợt có chợt không thì giúp được
việc gì? Cần phải đích thân thật sự bước đến thấy một phen mới được. Nếu thật
sự đắc ý, như giữa thanh thiên bạch nhật thấy cha mẹ mình, không có cái vui thế
gian nào hơn được.
Tham thiền, chẳng được
nhằm dưới ý căn tính toán; suy nghĩ tính toán khiến công phu chẳng được thành
phiến, chẳng thể phát khởi được nghi tình. Bốn chữ “suy nghĩ tính toán” làm
chướng chánh tín, chướng chánh hạnh và chướng con mắt đạo. Người học đối với nó
phải như sanh oan gia mới khá.
Tham thiền, chẳng được ở
chỗ nêu lên Tông sư mà dùng trí giải để lãnh hội. Nếu dùng trí giải để lãnh hội
thì lầm lạc, chẳng tương ưng với việc tham cứu. Chỉ cần phát khởi nghi tình,
tham cho triệt, không có chỗ lãnh hội tri giải, như lầu gác trong hư không tự
tại vô ngại. Bằng không, nhận giặc làm con, nhận tớ làm chủ. Cổ Đức nói: “Chớ
đem cái yên lừa cho là cái quai hàm của cha” là nghĩa này vậy.
Tham thiền, chẳng được
cầu người nói trắng ra. Nếu nói trắng ra thì hoàn toàn của người khác chứ không
dính dáng gì với mình. Như người hỏi đường đến Trường An, chỉ có thể hỏi đường,
chứ chẳng nên hỏi việc ở Trường An. Người kia có nói rõ ràng mọi việc ở Trường
An, trọn là cái việc của người kia thấy chứ chẳng phải người hỏi đường đích
thân thấy. Nếu chẳng cố gắng tham cứu mà cầu người nói trắng ra, cũng giống như
vậy.
Tham thiền, chẳng phải
niệm công án, niệm tới niệm lui có gì dính dáng, niệm đến lúc ngài Di Lặc hạ
sanh cũng không dính dáng, sao chẳng niệm A Di Phật còn có lợi ích hơn. Chẳng
những bảo chẳng cần niệm mà phải luôn luôn đề khởi thoại đầu, như khán chữ  thì
ở trên chữ vô khởi nghi tình, như khán cây bách thì ở trêncây
bách 
khởi nghi tình, như khán một qui về chỗ nào thì
ở trên qui về chỗ nào khởi nghi tình. Nghi tình phát khởi thì
tận mười phương thế giới là một khối nghi, chẳng biết có thân tâm cha mẹ sanh.
Toàn thân là một khối nghi, chẳng biết có mười phương thế giới, chẳng phải
trong chẳng phải ngoài, đập lại thành một khối; chỉ đợi khối nghi kia tự vỡ như
thùng đứt dây đay, gặp Thiện tri thức, chẳng đợi mở miệng; đại sự xong xuôi mới
vỗ tay cười lớn; nhìn lại sự niệm công án thật giống như chim Anh võ học nói,
nào có dính dáng gì đến đại sự.
Tham thiền chẳng nên
đánh mất chánh niệm,dù trong khoảnh khắc. Nếu đánh mất chánh niệm tham cứu ắt
bị cuốn theo dị đoan, quên quay trở lại. Như người tĩnh tọa chỉ thích tịch
lặng, lấy cái thuần thanh tuyệt điểm cho là Phật sự, đây gọi là mất chánh niệm,
vì rơi vào trong tịch lặng. Hoặc nhận lấy cái hay giảng, hay nói, hay động, hay
tịnh là Phật sự, đây cũng gọi là mất chánh niệm, vì niệm thức thần. Hoặc lấy sự
đè ép vọng tâm không cho mống khởi là Phật sự, đây cũng gọi là mất chánh niệm,
vì vọng tâm đè vọng tâm như đá đè cỏ, lại như lột bẹ chuối, hết lớp này đến lớp
khác, không biết đến ngày nào mới xong. Hoặc quán tưởng thân tâm như hư không,
chẳng khởi niệm như tường vách, đây gọi là mất chánh niệm, vì ngài Huyền Sa
nói: “Nghĩ muốn ngưng tâm thức niệm, nhiếp sự về không tức là rơi vào phái
ngoại đạo chủ trương không vong như người chết hồn chẳng tan”.
Tham thiền, nghi tình
phát khởi, lại cần phải đập cho vỡ, phải xác thật chánh niệm phát đại dũng
mãnh, ở trong khẩn thiết lại càng khẩn thiết mới được. Ngài Kính Sơn nói: “Bậc
đại trượng phu muốn cứu cánh một đoạn đại sự nhân duyên này phải là hạng người
đập vỡ da mặt, tánh tình nóng nảy, dựng đứng xương sống, chẳng thuận nhân tình,
đem cái chỗ nghi xưa nay của mình dán trên trán như thiếu nợ người muôn trăm
quan tiền bị người đòi ngặt không có tiền để trả, chỉ sợ người sỉ nhục, sự kiện
này không gấp cũng phải gấp, không vội cũng phải vội, không lớn cũng phải lớn
thì mới có phần xu hướng (ngộ).
 
CHƯƠNG II 
BÌNH LUẬN CẢNH NGỮ
CỦA CỔ NHÂN KHAI THỊ
Ngài Triệu Châu nói: Ba
mươi năm chẳng tạp dụng tâm, trừ mặc áo ăn cơm là tạp dụng tâm.
BÌNH: Chẳng phải chẳng
dụng tâm mà là chẳng dụng tạp tâm, chỗ gọi là: “Để tâm một chỗ không việc nào
chẳng xong”.
٭
Ngài Triệu Châu nói: Ông
chỉ cần tham cứu lý đạo, ngồi khán hai ba mươi năm, nếu chẳng hội, cứ chặt đầu
lão Tăng đi!
BÌNH: Triệu Châu sao gấp
quá vậy! Mặc dầu như thế, năm tháng dài tìm một người hai ba mươi năm tâm không
đổi khác cũng khó có.
٭
Ngài Triệu Châu nói: Lão
Tăng lúc mười tám tuổi đã biết phá sạch gia sản. 
Lại nói: Ta thuở xưa bị mười hai thời sai sử, hiện
nay sai sử được mười hai thời.
BÌNH: Ở trên gia sản làm
kế sống thì bị mười hai thời sai sử. Phá được gia sản thì sai sử được mười hai
thời. Chợt có một vị Tăng hỏi: “Cái gì là gia sản?” Bác Sơn tôi đáp: “Cởi bỏ
cái đảy da đi, ta sẽ nói cho ông nghe”.
٭
Ngài Triệu Châu nói: Nếu
ông một đời chẳng rời Tòng lâm, chẳng nói năm năm, mười năm, không có người gọi
ông làm người câm, về sau, Phật cũng không làm gì được ông.
BÌNH: “Chẳng nói” tức là
chẳng tạp dụng tâm. Nếu chẳng nhằm dưới y áo tham cứu lý thì rất cách xa vậy.
٭
Thiên Thai Thiều Quốc Sư
nói: Dẫu cho đáp thoại, biện luận như sông dài cũng chỉ thành cái tri kiến điên
đảo. Nếu chỉ quý đáp thoại, biện luận thì có gì khó đâu, chỉ e vô ích đối với
người, trở lại thành tự dối.
BÌNH: Người bây giờ học
được một bụng, bình thường hỏi đi đáp lại, đem Phật pháp làm trò đùa, chẳng
những vô ích, phần nhiều thành tội lỗi, mà nay phóng túng ngữ ngôn rỗng tuếch
cho là tông thừa. Xem lời của cổ nhân nói, da mặt dày bao nhiêu!
٭
Quốc Sư nói: Sở học
trước kia của các Thượng tọa biện luận, vấn đáp, ghi nhớ, nói đạo lý rất nhiều,
vì sao cái tâm nghi chẳng dứt, nghe nói phương tiện đặc biệt của cổ nhân mà
chẳng hội, chỉ vì nhiều hư dối mà ít chân thật.
BÌNH: Biện luận, ghi nhớ
đều thuộc về duyên lự, gốc sanh tử chẳng chặt đứt, làm sao hội được ý của cổ
nhân, vì thế nói: Lời huyền diệu kẹt nơi đầu tâm, trở lại thành ra duyên lự; lý
chân thật ở trước mắt lại trở thành cảnh danh tướng.
٭
Quốc Sư nói: Thượng tọa
chi bằng từ dưới gót chân nhất thời nhìn rõ xem đó là đạo lý gì, có bao nhiêu
pháp môn làm Thượng tọa nghi, cầu giải thích mới biết sở học trước kia chỉ là
cội nguồn sanh tử, làm kế sống trong ngũ ấm, thập bát giới, vì thế cổ nhân nói:
“Chẳng thoát ra kiến, văn, như mò trăng đáy nước”.
BÌNH: Kiến, văn, duyên
lự, người nào chẳng có, song cần phải có sự chuyển biến lớn lao mới được. Nếu
chẳng cùng với công phu tương ưng, xuyên suốt qua cung thủy tinh thì trọn chẳng
dính dáng. Cổ Đức nói: “Tri giải nhập vào tâm như đổ dầu vào bún không làm sao
lấy ra được, phải nên thận trọng”.
٭
Thiền sư Thiệu Nham nói:
Này chư nhân giả! Hôm nay Quốc chủ đến thỉnh chỉ muốn chư nhân giả minh tâm,
ngoài ra không có đạo lý nào khác. Chư nhân giả có minh tâm chưa? Phải chăng là
lúc ngữ ngôn nói cười, lúc nín thinh im lặng, lúc tham tầm Thiện tri thức, lúc
đạo bạn thương lượng, lúc du ngoạn sơn thủy, lúc tai mắt bặt dứt đối cảnh là
tâm của ông chăng? Những kiến giải như trên đều là chỗ chấp của ma mị, đâu phải
minh tâm?
BÌNH: Nói chẳng phải,
nín chẳng phải, thấy nghe chẳng phải, lìa thấy nghe cũng chẳng phải, làm sao
hội? Chỉ cần thiền giả chớ nắm bắt bậy bạ là tốt.
٭
Ngài Thiệu Nam nói: Còn
có một bọn người lìa vọng tưởng trong thân ra, riêng nhận mười phương thế giới
bao hàm nhật nguyệt, thái hư là bổn lai chân tâm, đây cũng là chỗ chấp của
ngoại đạo, chứ chẳng phải minh tâm.
BÌNH: Đây gọi là Thiên
Không ngoại đạo, lại đâu có được thân tâm nhứt như, ngoài thân không thừa ư?
Chính người tham thiền ngày nay chẳng từng gặp Thiện tri thức, tự mình làm chủ
tể, phần nhiều rơi vào kiến chấp này.
٭
Lại nữa, chư nhân giả
muốn hội chăng? Tâm không “Phải”, cũng không “Chẳng phải”. Ông tính chấp nhận
có thể được sao?
BÌNH: Hai thứ trước đều
là bệnh, lỗi ở tại hai chữ chấp nhận. Đoạn trước là thuốc, chỉ cần không chấp
nhận là “Phải” và “Chẳng phải” thì bệnh liền lành.
٭
Thiền sư Thoại Lộc nói:
Đại phàm, tham học vị tất học vấn thoại là tham học, vị tất học đại ngữ là tham
học, vĩ tất học biệt ngữ là tham học, vị tất hiểu rõ ngôn ngữ kỳ đặc trong kinh
luận là tham học. Nếu tham học như vậy, mặc cho ông thông đạt đến mức nào đi
nữa, đối với Phật pháp nếu không thấy rõ ràng (kiến tánh) thì gọi đó là bọn Càn
Huệ. Đâu chẳng nghe: “Thông minh chẳng địch nổi sanh tử, càn huệ há thoát khỏi
cái khổ luân hồi”.
BÌNH: Người thời nay đều
như vậy, đúng là bỏ vàng ròng, lượm ngói gạch; chẳng chịu chân thật tham cứu,
phóng túng tam muội đầu mồm. Như Hương Nghiêm, hỏi một đáp mười, hỏi mười đáp
trăm, chẳng phải người thông đạt sao, mà ở trong Phật pháp không thấy gì cả,
chỉ một câu “Trước khi cha mẹ chưa sanh”, không biết phải làm thế nào. Bọn học
ngữ ngày nay hãy nói xem giúp được cái gì?
٭
Thiền sư Thoại Lộc nói:
Nếu là tham học, cần phải chân thật tham học mới được, lúc đi thì đi tham, lúc
đứng thì đứng tham, lúc ngồi thì ngồi tham, lúc ngủ cũng tham, lúc nói cũng
tham, lúc nín cũng tham, lúc đang làm công việc cũng tham. Lúc nào cũng tham
như thế, hãy nói: Người tham là ai? Cái lời tham cái lời gì? Đến chỗ này, cần
phải tự có chỗ minh bạch mới được. Nếu chẳng như vậy, gọi là bọn vội vàng hấp
tấp ắt không có chỉ thú cứu cánh.
BÌNH: Cần nhất là phải
tham cứu “Cái lời tham là gì? Người tham là ai?” Nếu chẳng tham cứu lời đó,
chẳng biết người tham đó, ấy là luống qua vô ích, chẳng phải tham học.
٭
Ngài Ba Tiêu nói: Như
người đi đường, chợt gặp trước mặt vực âu muôn trượng, sau lưng lửa cháy gấp,
hai bên là rừng gai góc. Nếu chạy về phía trước thì rơi xuống vực sâu, nếu lui
về phía sau thì bị lửa đốt cháy, nếu chạy băng ra hai bên thì bị rừng gai góc
làm chướng ngại. Ngay lúc ấy, làm sao khỏi được? Nếu khỏi được là có con đường
xuất thân, nếu khỏi chẳng được thì mất mạng.
BÌNH: Cần phải chẳng
màng nguy vong mới được cái chỗ triệt đầu, vừa do dự ắt tán thân mất mạng. Lời
này của ngài Ba Tiêu rất khẩn yếu cho việc tham thiền. Người học phần nhiều cầu
tri giải rơi vào trong hang ổ huyền ảo, chẳng lưu ý đến lời này thì luống uổng
một đời.
٭
Ngài Vân Môn nói: Có một
bọn cướp giựt đồ hư giả, lượm đàm giải của người, ghi nhớ được một mớ, một gánh
đồ tạp nhạp, đi khắp nơi khua môi lừa, múa mỏ ngựa, nói năng lưu lót khoe rằng
ta biết cách hỏi từ Thiện tri thức này đến Thiện tri thức khác. Dẫu cho ông từ
sáng hỏi đến tối, trải qua nhiều kiếp thế ấy có từng mộng thấy chăng?
BÌNH: Ngài Vân Môn đương
thời chính là mắng một hai người trong số mười người thôi. Ngày nay phần đông
đều như thế, chưa từng nhằm dưới nạp y thể cứu. Hoặc giả có ngồi trong chốc lát
chẳng hôn trầm cũng tán loạn, bởi vì một bụng tri giải mửa chẳng ra, cắt chẳng
đứt. Nếu là người linh lợi, vừa nghe nói thế ấy, phải biết hổ thẹn mới được.
٭
Ngài Vân Môn dạy chúng:
Các huynh đệ chớ nên dể duôi khiến thời gian trôi qua vô ích, rất cần phải kỹ
lưỡng. Người xưa có nhiều phương tiện để dạy nhau; như ngài Tuyết Phong nói:
“Cả đại địa là tự kỷ của ông”; ngài Giáp Sơn nói: “Trên đầu ngọn cỏ tiến thủ
lão Tăng, trong chợ ồn náo biết được Thiên tử”; ngài Lạc Phổ nói: “Một hai bụi
vừa khởi dậy, đại địa toàn thâu, một đầu sợi lông hiện toàn thân sư tử”. Đều là
chỗ ông nắm lấy, tham tới tham lui, lâu ngày chầy tháng tự nhiên có chỗ vào.
BÌNH: Ba đoạn ngữ lục
này dắt ông vào cửa, song điều thiết yếu là ông phải chịu vào bằng không, thì
đều ở trong hang quỷ làm kế sống. Ông nếu vào được cửa, tự nhiên xong xuôi,
chẳng thấy có sơn hà đại địa, chẳng thấy có tự kỷ, tiến (ngộ) cũng chẳng tiến
(chẳng ngộ) là lời nói hai đầu.
٭
Ngài Vân Môn nói: Ánh
sáng chẳng thấu thoát, có hai thứ bệnh: Một là tất cả chỗ chẳng rõ, trước mắt
có vật. Hai là thấu được tất cả pháp không, mơ hồ in tuồng có vật cũng là ánh
sáng chẳng thấu thoát.
Lại, Phật thân cũng có hai thứ bệnh: Một là được đến
Pháp thân, vì pháp chấp chưa quên, kiến giải của chính mình hãy còn, nên chỉ
ngồi bênh cạnh Pháp thân. Hai là dẫu cho thấu được Pháp thân rồi thân chẳng thể
buông bỏ kiểm điểm kỹ lưỡng lại có chút khí tức gì cũng là bệnh.
BÌNH: Bệnh này toàn do
bên cảnh lượng làm kế sống, chẳng từng tọa đoạn, chẳng từng thấu thoát, chẳng
từng được chuyển thân nhả khí. Chỗ này nếu riêng sanh niệm khác ắt thành ma tác
quái.
٭
Ngài Huyền Sa nói: Bồ
tát học Bát nhã cần phải có đủ đại căn khí, có đại trí huệ thì mới được. Nếu có
trí huệ thì hiện tại liền được giải thoát.
BÌNH: Người đại căn khi
một nghe ngàn ngộ được đại tổng trì. Nói hai chữ “giải thoát” đã là lời phương
tiện. Vì sao? Vì từ xưa đến nay chẳng từng trói buộc.
٭
Ngài Huyền Sa nói: Nếu
là người căn cơ chậm lụt cần phải siêng năng khắc khổ ngày đêm quên nhọc, bỏ
ngủ, quên ăn như đưa ma mẹ, cấp thiết như thế suốt cả một đời đi, rồi được
Thiện tri thức giúp đỡ thật sự khắc cốt tham cứu, thì lo gì chẳng được thành tựu,
huống ngày nay ai là người có đủ tư cách học.
BÌNH: Người khắp quả đất
này đều có đủ tư cách học, chỉ trừ người vô tri, chẳng đủ lòng tin, dẫu cho đức
Phật Thích Ca phóng quang động địa cũng không giúp ích được người ấy.
٭
Ngài Huyền Sa nói: Này
nhân giả! Chớ nên chỉ ghi nhớ ngôn ngữ giống in như niệm thần chú, đáp bước
hướng tới trước miệng niệm lâm râm, bị người nắm đứng lại cật vấn, bí lối, bèn
nổi giận nói: “Hòa thượng chẳng vì tôi đáp thoại”. Học như thế thì rất khổ biết
không?
BÌNH: Ghi nhớ ngôn ngữ,
bị gọi là tạp độc nhập tâm, chướng ngại chánh tri kiến. Người đọc sách ở thế
gian ghi nhớ văn tự nhiều còn chẳng thể dung hóa, hà huống là người tham cứu
pháp xuất thế mà chịu ăn đàm dãi của người khác ư!
٭
Ngài Huyền Sa nói: Có
một bọn Hòa thượng ngồi thiền sàng xưng là Thiện tri thức, được hỏi đến thì lắc
thân động tay, mở mắt lè lưỡi nhìn sửng.
BÌNH: Bọn người này khắp
thân là ma, toàn thân là bệnh, đến ngày ba mươi tháng chạp không khỏi bối rối.
٭
Ngài Huyền Sa nói: Lại có
một bọn nói cái linh đài trí tánh sáng rỡ linh diệu hay thấy hay nghe, nhầm vào
trong thân năm uẩn làm chủ tể. Thế ấy mà làm Thiện tri thức thật là lừa gạt
người.
Biết chăng, ta nay hỏi ông: Ông nếu nhận cái sáng rỡ
linh diệu ấy là cái chân thật của ông, tại sao lúc ngủ quên chẳng còn sáng suốt
linh diệu nữa. Nếu lúc ngủ quên chẳng phải, thì tại sao có lúc sáng rỡ. Ông có
hội chăng? Đây gọi là nhận giặc làm con, là gốc sanh tử, là duyên khí của vọng
tưởng.
BÌNH: Đây là người đùa
tinh hồn, lúc ngủ quên đã làm chủ chẳng được, thì lúc sanh tử đến làm sao đối
phó, cả một đời lầm lẫn, chẳng những lừa gạt người, mà cũng là tự dối gạt mình.
٭
Ngài Huyền Sa nói: Ông
nay muốn được ra khỏi cái thân do năm uẩn chủ tể kia, chỉ cần biết cái thể kim
cương bí mật của ông. Cổ nhân nói với ông: “Viên thành chánh biến trùm khắp sa
giới”.
BÌNH: Thể kim cương bí
mật tức là “Viên thành chánh biến trùm khắp sa giới”. Nói rõ ràng với ông rằng:
“Cần phải toàn thân ngộ nhập mới được”.
٭
Ngài Huyền Sa nói: Phật
đạo thênh thang không có lộ trình, không cửa là cửa giải thoát, không ý là đạo
nhân, chẳng thuộc ba thời gian quá khứ, vị lai, hiện tại, cho nên chẳng thể
thăng trầm. Hễ kiến lập thì trái với lý chân vì chẳng thuộc về tạo tác.
BÌNH: Nếu hội được ý
này, chẳng phí mảy may công hạnh, lập tức thành Phật, hãy còn dư một chữ
“thành”.
٭
Ngài Huyền Sa nói: Động
ắt khởi cái gốc sanh tử. Tịnh ắt say đắm trong sự hôm trầm. Động tịnh đều bặt
thì rơi vào không vong. Động tịnh đều thấu nhận thì mập mờ lầm lạc Phật tánh.
BÌNH: Người tu hành phần
nhiều chán động cầu tịnh, tịnh lâu nghĩ lại muốn động. Cần phải nhướng lông mày
đập vỡ hang ổ động tịnh mới là chỗ đạo nhân dụng tâm.
٭
Ngài Huyền Sa nói: Cần
phải đối trần đối cảnh như cây khô, tro lạnh, gặp lúc ứng dụng chẳng mất cơ
nghi, như gương soi vật chẳng loạn ánh sáng, như chim bay trong hư không chẳng
lẫn lộn không, sắc.
BÌNH: Như cây khô tro
lạnh, bởi vô tâm. Chẳng mất cơ nghi, bởi ứng vật. Há cùng với người “bặt tâm,
diệt trí” như nhau ư? Chẳng loạn ánh sáng, chẳng lẫn lộn không, sắc… tự nó
chẳng làm gì đến mình.
٭
Ngài Huyền Sa nói: Sở dĩ
mười phương bóng dáng, ba cõi tuyệt hành tung, chẳng rơi vào hai đầu, chẳng trụ
nơi chặng giữa, trong ấy còn một mảy lông chẳng hết tức là quyến thuộc ma
vương; trước câu, sau câu, là chỗ khó của người học. Vì thế một câu giữa trời
tâm muôn cửa dứt hẳn sanh tử.
BÌNH: Lời này quý ở chỗ
“Một câu giữa trời tám muôn cửa”, cả mười phương thế giới không một mảy lông hở
trống, không một mảy lông bóng dáng, không một mảy lông dấu vết, đáng gọi là
xán lạn, hoạt bát; Phật Tổ, chúng sanh không có chỗ đặt để, hai chữ sanh tử là
ai nói như thế.
٭
Ngài Huyền Sa nói: Dẫu
cho như bóng trăng dưới đầm nước thu trong trẻo, chạm đến nổi sóng chẳng tan,
như tiếng chuông giữa đêm trường tịch mịch, động đến âm vang không thiếu, vẫn
còn là việc bên bờ sanh tử.
BÌNH: Người tọa thiền
muôn người không có một người đến chỗ này. Dẫu cho đến được đi nữa cũng còn là
việc bên bờ sanh tử, cần phải tự tìm con đường sống mới được.
٭
Ngài Huyền Sa nói: Chỗ
tu hành của đạo nhân như lửa đốt tan băng, trọn không trở lại thành băng nữa;
mũi tên đã lìa dây cung, không trở lại nữa. Vì thế, củi lồng chẳng chịu ở, kêu
gọi chẳng quay đầu, cổ thánh chẳng an bài, đến nay không xứ sở.
BÌNH: Tâm đạo nhân phải
nên như thế. Chỉ cần đem đoạn này, thực hành cho kỹ, tương lai tự nhiên ít phí
sức, dính vào một chút chẳng được. Nếu đem thức tâm suy lý, thì chính đó là
“Nhân địa chẳng chân, đưa đến kết quả cong queo”.
٭
Ngài Huyền Sa nói: Người
thời nay chẳng nghĩ đạo lý trong ấy, dối tự lăn vào trần lao thế sự, chỗ nào
cũng đắm nhiễm, nơi nào cũng trói buộc. Dẫu ngộ đi nữa ắt trần cảnh rộn ràng,
danh tướng chẳng thật.
BÌNH: Chỗ nào cũng đắm
nhiễm, nơi nào cũng trói buộc là do tâm tham cứu chẳng thiết tha, mạng căn
chẳng cắt đứt, chẳng chịu chết đi. Người chân chánh tham học, như đi ngang qua
xứ có độc sâu cổ, chẳng được nếm một giọt nước, mới được chỗ triệt đầu.
 ٭ 
Ngài Huyền Sa nói: Toan
muốn ngưng tâm thức niệm, nhiếp sự về không, nắm mắt che con ngươi, vừa có niệm
khởi mau mau phá trừ, vọng tưởng vi tế vừa sanh liền đè bẹp. Kiến giải như thế
là rơi vào ngoại đạo không vong, người chết mà hồn chưa tan, mờ mờ mịt mịt vô
giác vô tri như bị tai ăn cắp chuông, luống tự dối gạt.
BÌNH: Bệnh ở tại chẳng
khởi nghi tình, chẳng tham cứu công án, chẳng chịu toàn thân nhập lý, chỉ đem
thức tâm đè nén. Dẫu cho lóng lặng đi nữa mà rốt cuộc mạng căn chưa cắt đứt thì
cũng chẳng phải là người tham thiền.
٭
Ngài Huyền Sa nói: Nhân
giả chớ nên lưu luyến lưới ái sanh tử mà bị nghiệp ác lôi đi không có phần tự
do. Dẫu cho ông luyện được thân tâm đồng hư không đi nữa, dẫu cho ông đến chỗ
tinh minh lóng lặng chẳng lay động, cũng chẳng ra ngoài thức ấm. Cổ nhân gọi nó
như dòng nước chảy nhanh, người chẳng biết lầm cho nó là yên lặng.
BÌNH: Thức tâm chẳng
đoạn dứt, dẫu cho luyện được thân tâm như hư không, rốt cuộc cũng bị nghiệp ác
lôi đi. Chỗ tinh minh lóng lặng chẳng lay động, chính là thức ấm, thì làm sao
khỏi được sanh tử. Nói tóm lại, chẳng tham cứu thấu suốt đại lý thì đều là hư
vọng.
٭
Ngài Huyền Sa nói: Tu
hành thế ấy ra khỏi luân hồi chẳng được, thì y như thuở trước bị luân hồi kéo
đi. Vì thế nói: “Các hành vô thường” ngay cả công quả của Tam thừa, như vậy
thật là đáng sợ. Nếu không có con mắt đạo chẳng cứu cánh.
BÌNH: Tóm lại, mấy pháp
ngữ ở trên đều chẳng phải cứu cánh. Người tu hạnh Tam thừa dẫu hành lục độ vạn
hạnh cũng đều là pháp sanh diệt, đối với thật tế lý địa chẳng dính dáng gì!
٭
Ngài Kính Sơn nói: Hiện
nay có một bọn ngoại đạo mắt mình chẳng sáng, chỉ lo dạy người chết đi một cách
ngoan cố, thôi đi, nghĩ đi. Nếu thôi nghĩ như thế, đến ngàn Phật ra đời cũng
thôi nghĩ cũng chẳng được, càng khiến cho tâm mê muội mà thôi.
BÌNH: Chẳng chịu khởi
nghi tình thì mạng căn chẳng cắt đứt. Mạng căn đã chẳng cắt đứt thì thôi cũng
chẳng được, nghỉ cũng chẳng được. Chính hai chữ “thôi nghỉ” này là cội gốc sanh
tử rồi. Dẫu cho trăm kiếp ngàn đời trọn không có ngày xong việc.
٭
Ngài Kính Sơn nói: Lại
có một bọn người dạy người tùy duyên quán đời vong tình mặc chiếu, chiếu tới
chiếu lui, đới qua đới lại, càng thêm mê muội không có ngày xong.
BÌNH: Đã có cái tâm năng
đới, cảnh sở chiếu; năng sở đối lập, chẳng phải vọng là gì? Nếu lấy vọng tâm
làm tham cứu thì đối với tự tâm chẳng được tự tại. Chỉ cần tọa đoạn hai đầu,
năng sở chẳng lập ắt cái vật ngăn trong lồng ngực bị vỡ tan như thùng lủng đáy
vậy.
٭
Ngài Kính Sơn nói: Lại
có một bọn người dạy người chớ lo việc gì cả, chỉ cần thế ấy thôi đi, thôi được
đến chỗ tình niệm chẳng sanh, đến lúc ấy chẳng phải mờ mịt vô tri mà tỉnh tỉnh
rõ ràng. Bọn này rất độc hại làm mù mắt người, chẳng phải là việc nhỏ.
BÌNH: Dẫu đến chỗ tỉnh
tỉnh rõ ràng, đây là pháp đối đãi với tịch, chẳng phải tham cứu. Nếu tham cứu
thì muốn phát minh ngay đại sự. Đã chẳng như vậy, há chẳng phải là kẻ độc hại
sao?
٭
Ngài Kính Sơn nói: Chẳng
luận là bậc tiền bối tham cứu đã lâu, nếu muốn thật sự tịnh thì cần phải cái
tâm sanh tử này vỡ. Và chẳng chấp trước công phu. Nếu tâm sanh tử vỡ thì tự
nhiên được tịnh.
BÌNH: Nghi tình phát
khởi được thì tâm sanh tử ngưng kết lại một chỗ. Nghi tình vỡ ắt tâm sanh tử
vỡ. Ở chỗ vỡ này, cầu tướng động trọn chẳng thể được.
 
CHƯƠNG III 
CẢNH NGỮ KHAI THỊ
LÚC NGHI TÌNH CHẲNG KHỞI
Tham thiền nghi tình
phát chẳng khởi bèn muốn trong giấy mực kiểm thảo văn tự, rộng cầu tri giải,
đem ngôn giáo Phật Tổ xâu vào một dây làm một cái ấn để ấn định, vừa ra một tắc
công án bèn cho là đạo lý, ở trên câu thoại đầu bổn tham chẳng thể phát khởi nghi
tình, gặp người nạn vấn thì chẳng vui, đây là tâm sanh diệt, chứ chẳng chẳng
phải thiền. Hoặc tùy hỏi liền đáp, dựng ngón tay, đưa nắm tay, cầm bút viết
nhanh kệ tụng khai thị, khiến người tham cứu cũng có ý vị, tự cho rằng được đại
ngộ. Trái lại, chẳng biết nghi tình phát chẳng khởi đều là thức tâm sai khiến
như thế. Nếu chịu một niệm biết quấy, toàn thân buông bỏ, tìm gặp Thiện tri
thức cầu con đường vào thì tốt. Bằng không, tâm sanh diệt thắng lướt lâu ngày
thành ra ma dựa chẳng có thể cứu.
Tham thiền nghi tình
phát chẳng khởi ở trên cảnh duyên sanh nhàm lìa, thích đến chỗ tịch tịnh không
người để ngồi bèn lấy đắc lực, cảm thấy có ý tứ, vừa gặp chỗ hơi động một chút,
tâm liền chẳng vui, đây là tâm sanh diệt, chứ chẳng phải thiền. Ngồi lâu ắt
cùng với tịnh cảnh tương ưng; mờ mịt vô tri, bặt dứt đối đãi, dẫu được thiền
định ngưng tâm bất động, thì cũng đâu khác chi với Tiểu thừa. Vừa cảnh duyên ắt
chẳng tự tại, nghe tiếng thấy sắc ắt sanh sợ hãi. Lo vì sợ hãi nên ma có dịp
khuấy rối. Do vì sức ma nên làm các điều bất thiện, một đời tu hành trở thành
vô ích, đều là do lúc ban đầu chẳng khéo dụng tâm, chẳng khéo khởi nghi tình,
chẳng chịu gặp Thiện tri thức, chẳng chịu tin Thiện tri thức. Ở trong chỗ tình
lặng gắng gượng mà làm chủ tể, dẫu gặp Thiện tri thức, chẳng chịu một niệm biết
quấy, ngàn Phật ra đời cũng không làm sao cứu được!
Tham thiền nghi tình
phát chẳng khởi, đem tâm tình thức vọng tưởng đè nén khiến vọng tâm chẳng khởi,
đến chỗ chẳng khởi ắt lóng đứng lặng lặng thuần thanh tuyệt điểm cho đó là công
phu. Vừa gặp Thiện tri thức điểm nhằm chỗ đau như đè trái bàu trên mặt nước,
đây là tâm sanh diệt chứ chẳng phải thiền. Bởi vì đầu tiên chẳng chịu tham
thoại đầu khởi nghi tình, dẫu cho đè nén được đến mức thân tâm chẳng khởi thì
cũng như đá đè cỏ. Nếu chết được thức tâm thành đoạn diệt rồi, chính là rơi vào
ngoại đạo không vong.
Nếu đoạn diệt chẳng
được, lúc gặp cảnh duyên liền dẫn khởi thức tâm, ở chỗ lóng lặng tuyệt điểm cho
là chứng Thánh tự cho rằng được đại ngộ. Phóng túng thì thành điên cuồng, chấp
trước thì thành ma, ở trong thế pháp lừa dối kẻ không biết, tạo ra tội nặng là
làm lui sụt lòng tin của người và chướng đạo Bồ đề.
Tham thiền nghi tình
phát chẳng khởi, đem thân tâm thế giới thảy đều bỏ hết thành không. Không thì
không có chỗ quản đới, không có chỗ nương tựa, chẳng có thân tâm, chẳng thấy có
thế giới, chẳng phải trong, chẳng phải ngoài, đều là một cái không, cho cái
không là thiền, cho rằng không là Phật. Đi cũng là không, ngồi cũng là không,
nhất thiết đều không. Đi dứng nằm ngồi như đi trong hư không, đây là tâm sanh
diệt chứ chẳng phải thiền. Chẳng chấp ắt thành ngoan không mờ mịt vô tri. Chấp
trước ắt thành ma tự cho là đại ngộ. Trái lại chẳng biết là không dính dáng gì
với việc tham thiền. Nếu quả thật người tham thiền phát khởi nghi tình, một câu
thoại đầu như Ỷ Thiên trường kiếm chạm nằm mũi nhọn của nó thì tán thân mất
mạng. Nếu chẳng như vậy, dẫu cho được không đến mức một niệm chẳng khởi, cũng
chỉ là không vô sở tri, chứ chẳng phải cứu cánh.
Tham thiền nghi tình
phát chẳng khởi bèn đem thức tâm cân nhắc xuyên tạc công án cổ nhân cho đây là
toàn đề, là bán đề, là hướng thượng, là hướng hạ, là quân, là thần, là lời kiêm
đới, là lời bình thật, tự cho rằng kiến giải của mình không ai bằng. Dầu mỗi
mỗi nói được đạo lý, cùng với cổ nhân chung một miệng nhả khí, đây là tâm sanh
diệt chứ chẳng phải thiền. Trái lại, chẳng biết một ngôn một ngữ của cổ nhân
như nhai cuộn tơ khiến người nuốt chẳng xuống, nhả chẳng ra, đâu để cho người
ta sanh ra nhiều tri giải dẫn khởi thức tâm. Nếu nghi tình phát khởi, toàn thân
ngộ nhập thì cái thức tâm tri giải này chẳng đợi ông chết đi tự nhiên cũng yên.
Tham thiền nghi tình
phát chẳng khởi, xem thân tâm thuần là giả duyên, trong ấy tự có một vật qua
lại hay động, hay tịnh, không hình không tướng, ở đầu cửa sáu căn phóng quang
động địa, buông ra ắt giáp sa giới, thâu lại ắt chẳng lập mảy trần, nhằm vào
chỗ ấy nhận định, chẳng chịu khởi nghi tình, chẳng chịu tham cứu, rồi cho là
người xong việc, đây là tâm sanh diệt chứ chẳng phải thiền.
Trái lại, chẳng biết tâm
sanh tử chẳng vỡ, lấy những thứ này làm khoái ý, chính là đùa với thức thần,
một mai nhãn quang lạc địa, làm chủ chẳng được bị thức thần lôi đi theo nghiệp
thọ báo. Nếu nghiệp thiện nhiều ắt sanh trong trời người, đến khi bốn tướng,
ngũ suy kéo đến bức bách, bèn cho rằng Phật pháp không linh nghiệm. Do đây phỉ
báng Phật pháp bị đọa vào trong đường địa ngục, ngạ quỷ biết bao nhiêu kiếp mới
được trồi đầu. Do đó xét thấy, tham thiền cần phải gặp Thiện tri thức, nếu tự
làm chủ tể đều dùng chẳng được.
Tham thiền nghi tình
phát chẳng khởi, bèn nhận lấy cái mắt hay thấy, tai hay nghe, lưỡi hay nói, mũi
hay ngửi, tay hay nắm, chân hay đi cho là một chân tánh linh của mình. Nhằm vào
trong ấy suy lường cho là cửa ngộ, gặp người thì trợn mắt, nghiêng tai, tay chỉ,
chân đá cho đó là Phật pháp, đây là tâm sanh diệt chứ chẳng phải thiền; cổ nhân
gọi là như người mắc bệnh kinh phong.
Lại nói: Ở trên thiền
sàng tương tự như làm trò quỷ, diễn tới diễn lui, diễn tới lúc tứ đại phân tán,
ắt diễn chẳng được. Còn có một bọn người ác kiến cho đó là kỳ đặc trao truyền
cho nhau, thọ nhận sự cúng dường của người mà không biết hổ thẹn, gặp người hỏi
pháp thì hét to một tiếng, cười to một tràng. Trái lại chẳng biết từ xưa đến
nay chưa từng tham cứu, mạng căn chưa cắt đứt, dẫu là việc thiện, đều là nghiệp
ma, chẳng phải cứu cánh.
Tham thiền nghi tình
phát chẳng khởi, bèn muốn làm công hạnh hữu vi, hoặc làm giải thoát, hoặc hành
khổ hạnh, mùa đông chẳng hơ lửa, mùa hạ chẳng quạt mát. Người đến xin y phục
liền cởi hết đem cho, cam tâm chết đói, cho đó là giải thoát. Còn nhiều điều
nữa, chẳng thể nói hết. Tóm lại mà luận thì đều là bị cái tâm háo thắng sai
khiến lừa gạt kể không biết. Kẻ không biết kia cho người đó là Phật sống, là Bồ
tát, rồi suốt đời hầu hạ cúng dường. Trái lại, chẳng biết trong giới Phật gọi
là nghiệp ác luật nghi tuy là trì giới mà mỗi bước kết tội. Lại có một bọn
người thiêu thân, đốt tay, lễ Phật, cầu sám hối, cho đó là công khóa, đối với
thế pháp thì đó cũng là việc tốt, song ở trong tham cứu chẳng có ích gì! Cổ Đức
nói: “Cốt đừng ở trên cơ cảnh khác cầu”. Lễ Phật là cơ cảnh, cầu sám hối là cơ
cảnh, tất cả việc tốt trong Phật pháp đều là cơ cảnh. Chẳng phải tôi dạy ông
chẳng làm tất cả việc thiện, song chỉ cần dụng tâm một chỗ thì tất cả việc
thiện này đều hay trợ phát vun bồi thiện căn, mai kia con mắt đạo chợt mở, thì
đốt hương, quét đất đều là Phật sự.
Tham thiền nghi tình
phát chẳng khởi, bèn muốn ngông nghênh, hoạt bát, gặp người thì tự ca, tự múa,
tự mừng, tự vui. Hoặc bên suối dưới rừng, ngâm vịnh nói cười. Hoặc nơi chợ búa
phố phường đi ngang đi dọc tự cho là người xong việc, thấy Thiện tri thức mở
tòng lâm, lập quy cũ, hoặc tọa thiền, hoặc niệm Phật, hoặc làm tất cả việc
thiện thì vỗ tay cười lớn, sanh tâm khinh mạn, phỉ báng. Tự chẳng thể hành đạo,
lại làm chướng người hành đạo. Tự chẳng thể tụng kinh lễ sám. Tự chẳng thể tham
thiền, lại làm chướng người tham thiền. Tự chẳng thể khai mở tòng lâm. Tự chẳng
thể thuyết pháp, lại làm chướng người thuyết pháp. Phàm có Thiện tri thức xuất
thế, bày ra có vài câu vấn nạn ở trước chúng trời người, đáp hơn một câu, hỏi
hơn một câu, hét một tiếng, đánh một tát. Thiện tri thức thấy người đó tương tợ
như quỷ lộng, hoặc chẳng thèm biết tới, người đó bèn nói với mọi người rằng:
“Thiện tri thức ấy chẳng hội cái đạo lý này. Khổ thay! Khổ thay!” Đây là tâm
sanh diệt thắng lướt, lâu ngày ắt rơi vào đường ma tạo nghiệp lớn vô cùng,
hưởng phước mà hết, bị đọa vào địa ngục vô gián. Tuy là nhân thiện mà chiêu lấy
quả ác. Buồn thay!
Tham thiền nghi tình
phát chẳng khởi, cảm thấy sống chung với bất tiện, quá câu thúc, quá phiền
phức, bèn muốn vào núi sâu chỗ không có người để tịnh, hoặc nhập thất để tịnh.
Ban đầu còn gắng làm chủ tể, nhắm mắt ngưng tâm, ngồi kiết già chấp tay hạ thủ
công phu hoặc một năm, hai năm, một tháng, hai tháng chẳng thấy kết quả. Lại có
một bọn người được hai ba ngày, ngồi chẳng nổi nữa, hoặc xem sách, hoặc ngông
nghênh, hoặc làm kệ làm thơ, hoặc đóng cửa ngủ, ngoài hiện oai nghi, bên trong
là trần tục. Lại có một bọn thiếu niên xấu, chẳng biết liêm sĩ, chẳng tin nhân
quả, lén làm dâm dục, gặp người thì khua môi thả ý dối gạt kẻ không biết, tự
nói: “Tôi đã từng gặp Thiện tri thức, tôi được pháp thượng nhân”. Kẻ không biết
tin nhận, cùng bọn đó qua lại kết làm bạn đạo, hoặc dụ làm đồ đệ, người trên
làm kẻ dưới bắt chước, tự chẳng biết quấy, chẳng chịu phản tỉnh. Chẳng chịu gặp
Thiện tri thức, dối tự tôn tự đại thành ra tội đại vọng ngữ. Bọn này thật là
người đáng thương xót. Nay người chán đại chúng muốn ở thất riêng đâu chẳng
kinh sợ ư? Nếu người chân chánh học đạo thận trọng chớ để nảy ra cái ý niệm
này. Tốt nhất nên ở trong chúng tham cứu, huynh đệ cảnh giác nhau, dẫu chẳng
ngộ đạo quyết cũng chẳng rơi vào lối này. Người học chẳng thể chẳng cảnh giác!
 
CHƯƠNG IV 
CẢNH NGỮ KHAI THỊ
LÚC NGHI TÌNH PHÁT KHỞI
Tham thiền nghi tình
phát khởi cùng lý Pháp thân tương ưng, thấy cả đại địa sáng suốt không có mảy
lông chướng ngại bèn muốn thừa đương việc này, chẳng chịu buông tay, ngồi bên
cạnh Pháp thân, do đây mạng căn chẳng cắt đứt, ở trong Pháp thân dường như có
kiến địa, có thọ dụng. Trái lại, chẳng biết toàn là con chứ chẳng phải cha, cổ
nhân gọi đó là “cách câu thân”. Mạng căn chẳng cắt đứt, toàn thân là bệnh, chứ
chẳng phải thiền. Đến chỗ này chỉ cần toàn thân ngộ nhập thừa đương cái việc
lớn, cũng chẳng biết có người thừa đương. Cổ Đức nói: “Vực thẳm buông tay, tự
nhận thừa đương, chết đi sống lại chẳng dối được ai”. Nếu mạng căn chẳng cắt
đứt, toàn là tâm sanh diệt. Nếu mạng căn cắt đứt rồi, chẳng biết chuyển thân
nhả khí thì gọi là người chết, chứ chẳng phải cứu cánh. Mấy đạo lý này chẳng
phải khó hiểu, chỉ tại hành giả chẳng chịu Thiện tri thức. Nếu gặp Thiện tri
thức đụng nhằm chỗ đau lập tức biết đường về, bằng không thì vùi thây muôn dặm.
Tham thiền nghi tình
phát khởi cùng lý Pháp thân tương ưng, khuấy đục thế giới được một đoạn thọ
dụng như dậy sóng cuồn cuộn, hành nhân say đắm sự thọ dụng này, xô chẳng tới,
kéo chẳng lui. Do đây, chẳng được toàn thân ngộ nhập như người nghèo gặp được
một tòa núi báu, rõ ràng biết đó là vàng, song chẳng thể lấy dùng. Cổ nhân gọi
đó là người giữ kho báu, toàn thân là bệnh, chứ chẳng phải thiền. Đến chỗ này
chỉ cần phải màng nguy vong mới cùng Pháp thân tương ưng. Ngài Thiên Đồng nói:
“Khắp cùng Pháp giới thành cơm cả, tha hồ chúi mũi ních cho no”. Nếu chẳng tha
hồ chúi mũi thì như ngồi bên thùng cơm mà chịu chết đói, ở trong biển cả chết
khát, giúp được việc gì! Vì thế nói, sau khi ngộ cần phải gặp Thiện tri thức là
điều rất gương mẫu. Nếu tự thừa đương việc này, chẳng chịu gặp Thiện tri thức
nhổ đinh tháo chốt, đều là người tự dối vậy.
Tham thiền nghi tình
phát khởi cùng lý Pháp thân tương ưng, thấy núi chẳng phải núi, nước chẳng phải
nước, cả đại địa lấp bít không một kẻ hở bằng mảy lông, chợt sanh tâm suy lường
dường như che chướng trước mặt, ngần ngại thân tâm, đề cũng chẳng khởi, đập
cũng chẳng vỡ; khi đề khởi dường như có, lúc buông xuống dường như không, mở
miệng nhả khí chẳng được, dời thân đổi bước chẳng được, chính ngay lúc ấy cũng
chẳng được, đến chỗ này toàn thân là bệnh chứ chẳng phải thiền. Trái lại, cổ
nhân dụng tâm thuần nhứt, nghi tình phát khởi thấy núi chẳng phải là núi, nước
chẳng phải là nước, chẳng sanh tâm suy lường, chẳng khởi niệm khác, cứng cỏi
bức bách; chợt một mai đập vỡ khối nghi, toàn thân là mắt, thấy núi vẫn y
nguyên là núi cũ, nước vẫn y nguyên là nước cũ; sơn hà đại địa từ chỗ nào đến,
tìm một mảy lông dấu vết ngộ trọn chẳng thể được. Đến chỗ ấy, cần phải gặp
Thiện tri thức. Nếu chẳng gặp Thiện tri thức thì cây khô trước núi, trong đường
tẻ lại có đường tẻ. Người nào đến đây mà chẳng dần dà, chẳng bị cây khô làm vấp
ngã, thì Bác Sơn này cùng với người ấy kết bạn đồng tham.
Tham thiền nghi tình
phát khởi cùng lý Pháp thân tương ưng, bèn trầm trầm, tịch tịch, thôi đi, nghỉ
đi, một niệm vạn niên đi, đem nghi tình bỏ vào trong lý Pháp thân chẳng được
thọ dụng, luôn chết đi không hồi hổ, không quản đới, không khí tức toàn bị tử
thủy ngâm chết, tự cho là cực tắc, toàn thân là bệnh chứ chẳng phải thiền. Dưới
hội Thạch Sương, người dụng công loại này rất nhiều, dẫu cho ngồi tịch đứng
chết cũng chẳng được thọ dụng. Nếu nhận được kiền chùy, biết được đau ngứa,
chuyển được thân, nhả được khí mới là người tham thiền. Nếu chẳng biết đau
ngứa, tuy hội được câu Pháp thân, dẫu tọa đoạn mười phương, có dùng được cái
gì? Ngài Thiên Đồng nói: “Tọa đoạn mười phương còn điểm trán, thầm dời một bước
thấy rồng bay”. Cổ nhân có nhiều cảnh ngữ dạy người, có nhiều cát đằng trao
phó, tự người ấy chẳng chịu tham đến thấu triệt mà muốn bắt chước Thiện tri
thức ở trong chỗ thiên quân vạn mã được ngàn tự do trăm tự tại, há chẳng phải là
khó sao?
Tham thiền nghi tình
phát khởi cùng lý Pháp thân tương ưng, ngồi chỗ lóng lặng chẳng lay động, sạch
trọi trơn, không thể nắm bèn buông thân đi, chẳng biết được chuyển vị xoay cơ,
nhằm chỗ này gắng gượng lập chủ tể, kẹt bên cạnh Pháp thân, toàn thân là bệnh
chớ chẳng phải thiền. Ngài Động Sơn nói: “Núi hiểm cảnh lạ, hạc chẳng dừng ở.
Cây linh khác thường, phụng không nương gá”. Phải biết bốn chữ “núi hiểm cây
linh” rất là huyền áo, chẳng phải cứng nhắc. Bốn chữ “chẳng dùng không nương”
rất là hoạt bát, chẳng phải chết cứng một chỗ. Nếu chẳng tham cứu đến chỗ huyền
áo ắt chẳng biết chỗ sâu của sự nhập lý. Nếu chẳng đến chỗ diệu của xoay cơ.
Đạo nhân dụng tâm, dụng đến chỗ chẳng thể dụng, tốt nhứt nên gặp Thiện tri thức
đập vỡ thùng sơn được chỗ triệt ngộ, đâu nên ôm cái ngu như ôm cây đợi thỏ, kẹt
ở một bên, cam tâm làm con hạt trong lồng, con phụng rụng lông ư?
Tham thiền nghi tình
phát khởi cùng lý Pháp thân tương ưng, trước mặt mơ hồ dường như có. Đem cái
chỗ mơ hồ này nghi tới nghi lui định chắc cái tiền cảnh rồi tự cho là nhập lý
Pháp thân, thấy được Pháp giới tánh. Chẳng biết những thứ này là do dụi mắt tạo
thành, toàn thân là bệnh chứ chẳng phải là thiền. Nếu thật là người nhập lý thì
thế giới rộng một trượng, gương xưa rộng một trượng, thân dọc ngang giữa vũ
trụ, tìm căn, trần, khí thế giới trọn chẳng thể được. Lại lấy cái gì làm thân,
lấy cái gì làm cảnh, lấy cái gì làm vật, lấy cái gì làm chỗ mơ hồ. Ngài Vân Môn
cũng chỉ ra bệnh này trong một bài pháp ngữ dài. Nếu rõ được một bệnh này thì ba
thứ bệnh kể trên đều tiêu hết. Bác Sơn tôi, thường bảo người học: Trong Pháp
thân bệnh rất nhiều, chỉ cần bệnh nặng một phen mới biết được gốc bệnh, giả sử
người khắp cả quả đất này tham thiền, chưa có một người nào chẳng bị bệnh Pháp
thân, duy trừ người điếc, đui, câm, ngọng, mới chẳng ở trong phạm vi này.
Tham thiền nghi tình
phát khởi cùng lý Pháp thân tương ưng, thấy cổ nhân nói: “Cả đại địa là một mắt
của Sa môn, cả đại địa là một điểm linh quang của chính mình”, lại dẫn lời
trong Kinh nói: “Trong một hạt bụi bao hàm chân lý của vô biên pháp giới”, bèn
nhằm vào chỗ này lãnh hội, chẳng chịu cầu tiến, sống chẳng được, chết chẳng
được, lấy tri giải này cho đó là ngộ, toàn thân là bệnh chứ chẳng phải thiền.
Trái lại, chẳng biết dẫu cùng lý Pháp thân tương ưng, nếu chẳng thấu thoát thì
toàn là lý chướng, đọa bên cạnh Pháp thân, hà huống bị cái tâm tri giải kéo
dắt, chẳng thể nhập lý sâu xa, con khỉ này nắm chẳng chết nó chẳng chết đi thì
làm sao được chết rồi sống lại! Phải biết, ban đầu phát khởi nghi tình cần phải
cùng lý tương ưng, đã cùng lý tương ưng cần được chỗ thâm nhập; đã được chỗ
thâm nhập cần phải hướng trên đầu núi muôn trượng nhào lộn, buông thỏng tay
xuống tận đáy sông Chương mới là bậc đại nhân dụng tâm. Bằng không, đều là kẻ
nắm lấy sự hư vọng, chứ chẳng phải người gieo giống nhà thiền.
Tham thiền nghi tình
phát khởi cùng lý Pháp thân tương ưng, đi, đứng, ngồi, nằm như ở trong ánh sáng
mặt trời, như ở trong bóng đèn, lạt lẽo không mùi vị. Hoặc toàn thân buông bỏ,
ngồi đến lúc nước lóng ngọc sáng, lúc gió mát trăng trong, chính ngay lúc ấy,
trong ý báo, chánh báo đều thành một phiến cảnh thanh tịnh linh lợi, tự cho đó
là cứu, chẳng được chuyển thân nhả khí, chẳng được thỏng tay vào chợ, lại chẳng
chịu cầu người quyết trạch. Hoặc hướng vào trong chỗ bạch tịnh riêng sanh ra
niệm khác cho đó là ngộ, toàn thân là bệnh chứ chẳng phải thiền. Ngài Thiên
Đồng nói: “Ánh sáng thanh tịnh chiếu vào mắt tợ như không biết đường về, rõ
ràng chuyển thân hãy còn rơi vào địa vị”. Bởi vì ánh sáng thanh tịnh chiếu vào
mắt, há chẳng phải nước lóng ngọc sáng, gió mát trăng trong ư? Rõ ràng chuyển
thân còn tiến được một bước chỉ cần bốn chữ “tợ mê, đọa vị” một ấn ấn định,
hành nhân đến chỗ này, làm sao xử trí, chỉ cần có cuộc chuyển biến lớn, cầm một
cọng cỏ dùng làm thân vàng một trượng sáu, cũng chưa là ngoài bổn phận. Bằng
không, là đóng cọc trên đất chèo ghe, leo cây bắt cá, gọi là người không khí
huyết, dẫu có đánh chết ngàn người muôn người cũng không có tội lỗi gì!
Tham thiền nghi tình
phát khởi cùng lý Pháp thân tương ưng, ở bên cạnh Pháp thân sanh ý tưởng kỳ
đặc, thấy ánh sáng, thấy bông hoa, thấy các thứ tướng lạ, bèn cho là chứng
Thánh, đem những việc lạ này khoe khoang mê hoặc người, tự cho rằng mình đại
ngộ, chẳng dè toàn thân là bệnh, chứ chẳng phải thiền.
Phải biết những cảnh
tượng lạ này hoặc là vọng tâm của mình ngưng kết mà thành, hoặc là cảnh ma thừa
sơ hở mà vào, hoặc là trời Đế Thích biến hóa hiện ra để thử. Vọng tâm ngưng
kết, như người tu Tịnh Độ quán tưởng chẳng dời niệm chợt thấy tượng Phật, tượng
Bồ tát… như trong kinh Lục Quán nói, đều cùng với lý Tịnh Độ hợp, chẳng phải là
yếu môn tham thiền. Thừa sơ hở mà nhập, như trong kinh Lăng Nghiêm lúc năm uẩn
không, tám hành nhân có chỗ chấp trước, ma liền theo ý mà hiện. Biến hóa hiện
ra để thử, như lúc Bồ tát tu hành, trời Đế Thích hóa thân hiện ra quỷ không
đầu, quỷ không ngũ tạng, Bồ tát tâm không sợ hãi. Đế Thích hiện thân mỹ nữ, Bồ
tát không có tâm ái nhiễm. Lại hiện thân Đế Thích lễ bái rằng: “Núi thái có thể
sụp, nước biển có thể cạn, khó có thể làm động tâm bậc thượng nhân kia”. Cho
nên nói: “Tội khéo của bọn người tà đạo kia có tận, còn cái chẳng thấy chẳng
nghe của lão Tăng vô cùng tận”. Nếu người thật sự tham học dẫu đao bén gí trước
mặt, không chút động niệm, hà huống cảnh tướng không thật trong định ư? Đã cùng
lý tương ưng ắt ngoài tâm không có cảnh, tâm năng quán, cảnh sở hiện còn đặt để
ở chỗ nào?
Tham thiền nghi tình
phát khởi cùng lý Pháp thân tương ưng, cảm thấy thân tâm khinh an, động chuyển
thi vi chẳng ngăn ngại nhau. Đây là đạo chánh thiên giao nhau, tứ đại điều hòa
thơ thới chốc lát như vậy, chẳng phải cứu cánh. Người không biết kia bèn buông
bỏ nghi tình, chẳng chịu tham cứu tự cho là được đại ngộ. Trái lại, chẳng biết
mạng căn chẳng cắt đứt, dẫu có thể nhập lý song toàn là thức tâm, vì dùng thức
tâm suy lường, toàn thân là bệnh chứ chẳng phải thiển. Vì nhập lý chẳng sâu,
chuyển thân quá sớm, tuy có tri giải sâu song chẳng được thật dụng. Dẫu được
hoạt cú, tốt nhất nên đến bên suốt dưới rừng bão dưỡng hàm súc, điều thiết yếu
là chẳng nên nóng nảy, muốn dạy người, dối trá tự tôn tự đại. Phải biết đầu
tiên dụng tâm nghi tình phát khởi, lúc kết thành một khối chỉ đợi nó tự vỡ tung
ra mới được thọ dụng. Bằng không hơi có tri giải nhập lý liền buông bỏ nghi
tình, chỗ này quyết định là chết chẳng được, quyết định là tham chẳng triệt;
một đời luống qua chỉ có danh tham thiền mà không thật tham thiền. Dẫu cho đến
mức thỏng tay vào chợ đi nữa cũng chẳng ngại gì gặp Thiện tri thức. Bậc Thiện
tri thức là đại y vương có khả năng chữa được bệnh nặng, là đại thí chủ hay cho
như ý bảo châu. Điều thiết yếu là nên sanh cái lý tưởng tự đủ, chẳng muốn gặp
Thiện tri thức. Phải biết chẳng chịu gặp Thiện tri thức là chấp cái kiến giải
của mình. Bệnh lớn trong thiền không bệnh nào nguy hại hơn bệnh này.
 
CẢNH NGỮ KHAI THỊ  THIỀN GIẢ THAM CÔNG ÁN
Khai Thị Thiền Giả Đổng
Nham Đạt Không:
Thông đạt hư không ngược
sóng bạc
Khéo đem gia sản đều phá sạch
Có mắt chẳng thấy, có tai điếc
Cục thịt đỏ lòm đánh mạnh thêm.
Để cho meo trắng đầy
khóe miệng
Phật pháp trần lao cùng bình đẳng
Chánh niệm, mũi kim đâm chẳng lọt
Da mặt sắt đúc, không nhân tình.
Phi lễ chớ dạy, nhẹ bước
chân
Cử chỉ an tường phải hồi hổ
Dối đem tri kiến, vọng thân sơ
Đập nát khối nghi, phải diệu ngộ.
Chẳng vỡ khối nghi,
chẳng thể thôi
Thả ra trâu cổ của Qui Sơn
Một mai xỏ mũi dắt trở về
Lấp đất che trời một con này.
Khai Thị Thiền Giả Phong
Đình Trí Kiến Tham Công Án Chữ “Vô”:
Con chó Phật tánh không?
Ngay đó tuyệt thân sơ
Như vào sóng ngàn tầm
Chỉ tìm cá đỏ đuôi
Có sừng chẳng phải nó
Không râu chẳng phải ly
Hữu, vô đều dẹp sạch
Dò kiếm ngọc ly long.
Lại như lửa bốn phía
Phía trước một con đường
Lùi bước bị đốt chết
Chạy ngang cũng tan thân.
Lửa dữ chẳng đình chỉ
Muốn sống chớ chần chờ.
Như đi trên miệng vực
Bể sâu một muôn trượng
Dụng ý phải như thế
Giữ lấy cái chốt linh
Có trình phía trước
Nước đến tự thành ngòi.
Khai Thị Thiền Giả Trí
Bạch Tham Công Án “Cục Cứt Khô”:
Thế nào là Phật? – Cục
cứt khô
Đại thiên thế giới một cục sắt
Toàn thân ngồi ở trong cục sắt
Lúc chẳng được ra, nói với ai?
Trí Bạch lễ bái.
Sư nói: Chớ lễ bái, dẫu cho lúc ra được cũng ăn ba
mươi gậy.
Khai Thị Thiền Giả Trí
Bật Tham Công Án 

“Một Câu Thoại Đầu Khởi Từ Chỗ Nào”:
Một câu thoại đầu từ đâu
khởi
Biển sâu khiến cho cạn tới đáy
Một câu thoại đầu đi về đâu
Gió xuân thổi chạm cây sen hồng
Chẳng xét đi, chỉ xét khởi
Đá sụp, vực lở, điếc hai tai
Trong mười hai thời bước chẳng dời
Như muốn dừng ở trên dao nhọn
Chỉ cần lộn ngược một phen xem
Lục địa bình nguyên cứ cất bước
Nam nhi lập chí nên như thế
Ai nói bắt rồng, vuốt râu cọp
Hỏi đường Đài Sơn như thế nào?
Chỉ ở thôn xa hãy đi thẳng.
Khai Thị Cư Sĩ Tâm Dương
Tham Công Án “Không Tung Tích”:
Không tung tích, chớ ẩn
thân
Dựng thẳng xương sống, hành như thế
Vách sắt, núi bạc đều dựa ngã
Mấy lần hoan hỷ, mấy lần sân.
Chỗ ẩn thân không tung tích
Đừng hướng hư không tìm dấu chim
Buông bỏ mặt sắt của mẹ sanh
Tật lê đổ ra nước vàng ròng
Xem qua xét lại, chẳng dạy nhiều.
Lo gì chúng sanh với Phật, ma
Chỉ cần một ngụm đều nuốt hết
Giọt nước trở thành sóng mấy trượng
Đi cũng tham, ngồi cũng cứu
Đá võ ngón tay đều phương tiện
Cỡi ngược ngựa sắt lên Tu di
Suốt đời chẳng nên theo sau người.
Khai Thị Giám Viện Chiếu
Khán Công Án “Muôn Pháp Quy Về Một”:
Muôn pháp quy về một,
một quy về chỗ nào?
Nhướng đôi lông mày như đống lửa lớn
Sống cùng nó đồng sống, chết cùng nó đồng chết
Đi cùng nó đồng đi, đứng cùng nó đồng đứng
Chóng khởi nghi tình, chớ sanh sợ hãi
Như gặp địch thủ dữ dằn chẳng rảnh màng đến việc gì
khác
Gặp cảnh thuận nghịch cần phải khéo hồi hổ
Chẳng biết chỗ về thì theo việc khác
Đập vỡ núi Thiết vi, ngồi xổm trong kho báu
Chớp mắt cùng nhướng mày toàn cơ bày lộ liễu
Áo vải Thanh Châu nặng bảy cân
Trước cửa ngàn cây đào như cũ.
Khai Thị Thiền Giả Phổ
Châu Tham Công Án “Niệm Phật”:
Một câu A Di Đà
Như Châu bỏ vào nước đục
Châu bỏ vào nước tự trong
Phật niệm, vọng tâm liền dứt
Nước tự trong râu ria soi thấy
Bặt mảy trần, mường tượng biết được mặt mẹ sanh
Dang cặp lông mày để làm gì?
Vọng liền dứt, đầm sâu muôn dặm chẳng thấy đáy
Cành san hô trên pha lê xanh biếc
Tuyết giá, băng khô chỉ thế ấy
Chỉ thế ấy, niệm liền không
Canh ba, đầu hôm, mặt trời mọc
Cõi Liên Hoa áo báu, đất vàng
Muôn dòng toàn về trong chỗ chỉ
Trong chỗ chỉ không niệm này
Không niệm, không niệm thành một phiến
Lộ trình mười vạn lập tức biết
Căn trần ấm giới là điện ma ni
Điện ma ni sáng rỡ rỡ
Phật pháp, trần duyên đều chiếu rõ
Chuyển vị, xoay cơ việc thế nào?
Ôi! Sống cũng chẳng nói, chết cũng chẳng nói.
Khai Thị Thiền Giả Quán
Như Khán Công Án “Trước Khi Cha Mẹ Chưa Sanh”:
Trước khi cha mẹ chưa
sanh
Ai là bản lai diện mục?
Buông bỏ tâm can sắt
Đề khởi kiếm xuy mao (thổi lông)
Thế pháp và trần duyên
Như mồi vào ngọn lửa
Vô lượng cửa diệu pháp
Tham thiền linh nghiệm nhất
Chỉ đề câu thoại đầu
Chẳng rơi vào phương tiện
Vạn biệt cùng thiên sai
Đều tan vào một niệm
Trước núi muôn tầm, nước trong đứng lặng
Một bầu trời trong, mây đùn lớp lớp
Đến chỗ này ắt trăng tâm riêng tròn sáng một mình
Dám nói: linh minh hiển hiện, ánh sáng nuốt muôn
cảnh, cảnh chẳng phải ánh sáng
Lại cười: sông lặng sạch như dãy lụa mà chẳng phải
lụa
Chỉ một đường lại phải vào lửa để trui luyện
Lỗ kim nhỏ lúc kim vàng lộ lỗ trôn
Vải Tô Châu cũng là lụa Dương Châu
Tham!
Khai Thị Thiền Giả Tông
Diệu Nguyện Tham Công Án “Suốt Một Ngàn Ngày
”:
Người khéo tấn đạo ngàn
ngày công
Xu hướng như nuốt lật cước bồng
Trong chỗ thanh tịnh vừa mống niệm
Núi Tu Di cách ở bên trong
Một câu thoại đầu như cục sắt
Phật pháp trần lao đều ngăn dứt
Hôn trầm tán loạn thành khối đi!
Chỉ cần khẩn thiết thêm khẩn thiết
Ngàn ngày đồng như trong khoảnh khắc
Đường tâm nẻo ý tuyệt lại qua
Dang cả hai chân vượt lên trên
Lửa nóng, băng lạnh không xá kể
Toàn thân xong vào nước vô sanh
Khéo thoát ra ngoài quy tắc hữu vô
Lấp bít hư không, chẳng màng người
Mới biết đại địa như dầu hắc
Trở mình cầm gậy sống như rồng
Thấu biển xuyên núi chấn cổ phong
Đây là chuyển động sức tam muội
Pháp giới, đầu lông dùng chẳng cùng
Còn việc rốt sau phải hướng thượng
Huyền diệu cơ vi đều chẳng phải
Chẳng hành chỗ của Như Lai hành
Nam nhi tự có xung thiên chí.
Đáp Quan Chủ Lục hỏi:
Hành nhân tham công án, thoại đầu chân thiết, chẳng rơi vào ngũ ấm ma và ngoại
đạo của kinh Lăng Nghiêm.
Xem kỹ năm thứ ma kể
trong kinh Lăng Nghiêm chẳng ra ngoài một chữ chấp. Như sắc ấm minh bạch tiêu
tan các niệm cho đến người này siêu việt được kiếp trược. Xét nguyên do của nó
lấy kiên cố vọng tưởng làm gốc, tức là kiên cố vọng tưởng này chẳng thể dung
hòa, ở trong vọng tưởng tinh nghiên thấy việc lạ lùng hiếm có bèn cho đó là
chứng Thánh, há chẳng phải là chấp ư? Như chẳng cho là chứng Thánh thì gọi là
cảnh giới lành, chẳng cho là chứng tức là chẳng chấp.
Lại trong ngũ uẩn đều
lấy hai chữ vọng tưởng để kết thúc. Một chữ chấp này đầu tiên chẳng thể phá thì
vọng tưởng này là gốc rễ của ma, gốc rễ chẳng trừ, bẻ nhánh không cho nó chẳng
sanh có được chăng? Thậm chí lợi dụng sự hư minh ăn tinh khí kia đều do vọng
tưởng dẫn dắt, chứ chẳng phải ma bên ngoài đến. Ví như cẩn thận giữ gìn cũng
chỉ là trên tuyết thêm sương, đổ dầu vào lửa mà thôi.
Như hư minh vọng tưởng ở
trong thọ ấm, hư minh cũng là vọng tưởng. Bởi vì đầu tiên chưa đến chỗ tìm tâm
chẳng có, chẳng phải vọng là cái gì?
Như dung thông vọng
tưởng ở trong tưởng ấm chương đầu tiên nói: Tâm ưa thích viên minh tức là gốc
vọng trước cùng cảnh dụng thông bèn sanh nhiễm trước. Mười loại đều nói “Tâm ưa
thích…” Bởi vì Thiên ma từng trong cảnh viên minh đến cùng với tâm ưa thích
ngẫu hợp làm ra vô biên nghiệp ma, đâu thể cứu được. Bởi vì hành nhân đầu tiên
tọa một niệm này, vô tâm tức không thích, không thích thì một chữ chấp làm sao
có! Như chương thứ chín nói “Tâm thích nhập diệt, tham cầu cái rỗng không, sâu
nhiệm…” đều là nghiệp ma, cũng là vì ban đầu vọng tâm chẳng phá, đúng là nấu
cát thành cơm, cát chẳng phải là gốc của cơm.
Như u ẩn vọng tưởng
trong hành ấm. Bởi hành ấm lấy trôi chảy đổi dời chẳng dừng làm tánh, cho nên
nói: “Căn nguyên sanh diệt từ đó hiển lộ”. Vì tưởng ấm hết, thấy suốt căn
nguyên trong hành ấm là niệm niệm sanh diệt chẳng dừng. Hành nhân chẳng theo sự
sanh diệt trôi chảy đổi dời, cho nên được chánh tâm đứng lặng sáng suốt. Bấy
giờ Thiên ma chẳng được cơ hội thuận tiện khuấy phá. Nhưng ở trong tánh viên
nguyên lai mống tâm so đo cho nên xét đầu đuôi có nhân, không nhân… Đã có so đo
thì mất chánh biến tri. Hai chữ so đo từ trong u ẩn ra. Văn kinh nói: “Xét thấy
cái u thanh kia chẳng thể thấy suốt nguồn đáy”.
Như điên đảo vọng tưởng
trong thức ấm, nghĩa là cái then chốt lay độn u ẩn chung, sanh ra các loài thế
gian, bỗng được xóa bỏ, sáu căn rỗng lặng không còn rong ruỗi nữa, rỗng lặng vì
không rong ruỗi, không rong ruỗi vì hành ấm hết. 
Hành ấm đã hết, thấy
nghe thông nhau hỗ dụng thanh tịnh. Cho nên nói: “Cùng một các hành không còn
nương vào thức nguyên nhẫn đến tịnh diệu chưa viên bèn sanh thắng giải”. Mười
thức này đều do thức tâm mà sanh thắng giải.
Đã sanh thắng giải, trái xa với viên thông sanh ra
các chủng loại.
Trong thiền môn, người
khéo dụng tâm các thứ ma đều chẳng dính dáng. Ngài Tư Đại nói: “Mười phương chư
Phật bị ta một miếng nuốt ráo, chỗ nào còn có chúng sanh để độ”. Đây là trong
địa vị Phật Tổ lưu lại nó còn chẳng được, huống là tà ma ngoại đạo làm gì được
ông. Muốn được chẳng bị ma phá, chỉ cần toàn thân nhập lý, chẳng đợi khiển trừ,
chẳng đợi gìn giữ, niệm vọng tưởng hết thì nghiệp ma tự hết. Cổ Đức nói: “tốt
nhất ngay gốc hạ một búa, khỏi cho ngoài đốt lại sanh cành”.
Đáp: Chẳng chấp tu
chứng, chẳng bỏ tu chứng.
Môn hạ của Tông ta không
luận lợi độn, hiền ngu, chỉ cần dùng lòng tin mà vào. Đã phát khởi tâm dũng
mãnh như ngồi tại vách sắt núi bạc chỉ cầu thoát ra, các tâm vọng tưởng đều
không thể xâm nhập, công hạnh quán chiếu không cần phải nhớ. Nếu được một niệm
vỡ tung như vẹt mây thấy trời, như được lại vật cũ, thì công hạnh quán chiếu
cũng không có dùng. Chỉ quý cái niệm tham cứu khẩn thiết, tham cứu cũng liên
quan đến công hạnh, song chẳng dùng hai chữ “công hạnh” đặt tên. Như khám phá
thế duyên, tham cứu chí đạo cũng liên quan đến quán chiếu, song chẳng dùng hai
chữ “quán chiếu” đặt tên. Như kinh Viên Giác nói: “Duy trừ người đốn giáo cùng
khắp chẳng tùy thuận”. Nếu cho quán chiếu là sự tu hành thì có tâm năng quán
năng chiếu, ắt có cảnh sở quán sở chiếu, năng sở đối lập, chẳng phải vọng là
gì? Vì thế Thiền tông nói: “Tự mình đứng trong hư không rộng lớn, ngoài tâm
không có cảnh, đem mười phương thế giới cùng thân tâm cha mẹ sanh dung thành
một khối, tọa đoạn hai đầu mới được vào cửa. Một con đường hướng thượng lại cần
phải tự khán, bằng không đều là kế sống của nhà quỷ, đâu có thể nói đồng với tu
chứng. Nếu mập mờ lầm lạc chẳng đến chỗ này, thì gọi là tự dối. Bọn người này
là bọn người đáng thương xót, thật đâu đáng kể. Ngài Nam Nhạc nói: “Tu chứng
thì chẳng không, nhiễm ô thì chẳng được”. Tu ngay cái chẳng nhiễm ô này, mới
gọi là viên tu, còn có chấp được chữ tu này chăng? Chứng ngay cái chẳng nhiễm ô
này, mới gọi là viên chứng, còn có chấp được chữ chứng này chăng? Như thế thì
suốt ngày tu mà không tu, quét đất, đốt hương cho đến vô lượng Phật sự đâu bỏ
phế, chỉ cần chẳng chấp tu chứng mà thôi. Bồ tát Cửu Địa còn vô công dụng hạnh,
huống là hàng Thập Địa. Cho đến hàng Bồ tát Đẳng Giác thuyết pháp như mưa như
mây còn bị ngài Nam Tuyền quở là cùng với đạo hoàn toàn trái, huống là hàng
Thập Địa còn quán chiếu, mà có thể so sánh sự hơn kém với Thiền tông được hay
sao?
-1-
Tham thiền phải người
sắt
Không luận đến kỳ hạn
Cắn chặt hai hàm răng
Chỉ cốt xong đại sự.
Lửa mạnh vạc dầu sôi
Hư không đều nấu nhừ
Một mai chợt đập vỡ
Buông xuống ngàn cân.
-2-
Tham thiền chớ luận lâu
Chẳng cùng trần duyên hợp
Nhướng cao cặp lông mày
Hư không lật lộn ngược
Tu di dẫm thành bụi
Ngay đây tham bốn hữu
Sắt sống chảy vàng ròng
Mới khỏi cái lỗi trước.
-3-
Tham thiền chớ cẩu thả
Ngôn hạnh hợp gương xưa
Tâm thẳng như cây đàn
Chẳng khổ vì lối tẻ.
Đập nát cửa Hoàng long
Ném tuốt lời Vân Môn
Ông Tăng nghèo nàn này
Từ nay chẳng ra cửa.
-4-
Tham thiền không chủ tể
Chỉ cầu tâm chẳng đổi
Muôn thứ và trần lao
Bụi lốc sai biết tới
Cứng cỏi đỡ trời cao
Mạnh dạng tát biển cả
Tuy nhiên chưa triệt đầu
Chắc chắn được đường trước.
-5-
Tham thiền phải xét kỹ
Chớ tính kể công trình
Có điều thì vin điều
Không điều thì kéo lệ
Chẳng thân Phật cùng Tổ 
Lo chi kinh với kệ
Một ngụm đều nuốt hết
Tâm không mới thi đậu.
-6-
Tham thiền phát chánh
tín
Tín chánh động cung ma
Mảnh tuyết vào lò hồng
Thân trần chơi dao bén
Chỉ tìm lên đường sống
Chớ ngâm trong nước chết
Cửa lớn chợt mở toan
 Nhào qua Tỳ Lô ấn. 
-7-
Tham thiền chẳng phải
chơi
Thời giờ qua nhanh chóng
Chí lý rất huyền áo
Đời Tần, dùi mạ vàng
Dốt thay! Tâm trượng phu
Vào tay cần tự phán
Chớ đợi chết bối rối.
-8-
Tham thiền không khéo,
vụng
Một niệm quy siêu việt
Biết bóng trên ngón tay
Tìm thấy trăng trên trời
Bổ ngực ra lấy tim
Cạo sạch lông có máu
Thuật rõ lại ông nghe
Chẳng ngộ nói với ai.
-9-
Tham thiền phải nên sớm
Chờ đợi tuổi già nua
Tai điếc, mắt lờ mờ
Sáng còn, tối khó giữ
Việc vui sướng nhất đời
Đến đây đều bỏ hết
Phật pháp vốn không nhiều
Chỉ cần hiện tại ngộ.
-10-
Tham thiền chớ trị vọng
Trị vọng vẫn thành chướng
Như muốn được cá kình
Quản chi sóng gió lớn
Chí thế tuyệt mảy trần
Vọng tâm là gì chứ!
Thưa cùng người tham thiền 
Môn này thật đáng quý!
 

THIỀN SƯ BÁC SƠN KHAI THỊ VỀ GIẢI NGỘ VÀ CHỨNG NGỘ
Một chữ ngộ, môn hạ Tổ
Sư gọi là thuốc độc, hãy còn chẳng lưu lại, huống là ngộ ư? Nay chẳng tránh
phạm húy, mà nói đến chữ ngộ, khiến trí ngu có chỗ so chọn, tông giáo có chỗ
phân chia, hành giả chẳng sa vào con đường hiểm trở, thật là sự giúp ích trên đường
tu hành.
Luận về thiền có hai thứ
ngộ môn: Một là từ trong văn tự ngữ ngôn được giải ngộ. Hai là từ trên phân
minh tham cứu được triệt ngộ. Người giải ngộ sức yếu. Người triệt ngộ sức mạnh.
Người giải ngộ như nghe người nói vật. Người triệt ngộ như chính con mắt mình
thấy vật. Nghe, thấy tuy một, mà nghi và chẳng nghi, thật cách xa như trời với
đất. Người từ trong văn tự giải chưa được triệt ngộ có hai thứ chướng: Một là
văn tự chứng, hai là lý chướng. Văn tự chướng như người ăn mật, càng ăn càng
thấy ngọt; tìm cầu chân lý sâu mầu ở trong mười hai phần giáo, không dính dáng
gì với việc thoát ly sanh tử, cho nên gọi là chướng. Lý chướng nghĩa là thật tế
đối với lý địa in tuồng rõ ràng, như toàn thân là châu báu song chẳng được thật
dụng, đối với việc sanh tử cũng không dính dáng, cho nên gọi là chướng.
Người trong văn tự giải
chưa được triệt ngộ, có hai thứ mạn: Một là ngã mạn, hai là tăng thượng mạn.
Ngã mạn nghĩa là cho rằng ta đã ngộ, chúng sanh ở trong mê, như chỗ ta thấy,
người khác chẳng biết, do đây khởi mạn. Tăng thượng mạn nghĩa là cho rằng ta đã
vào địa vị Thánh, trên không không có Phật để cầu, dưới không có chúng sanh để
độ, một chữ Phật ta chẳng thích nghe, do đây khởi mạn.
Người trong văn tự giải
chưa được triệt ngộ áo hai thứ tâm khiếp nhược: Một là ta thấy lý đã tột, mà
hạnh chẳng theo kịp, ở trong địa vị Hiền Thánh chưa được chỗ thực tiễn, do đây
khởi tâm khiếp nhược. Hai là chỗ thấy của ta cùng Phật đồng mà thật chẳng được
quả dụng Phật, nên ta không có diệu dụng thần thông quang minh, do đây khởi tâm
khiếp nhược.
Người trong văn tự giải
chưa được triệt ngộ, có hai thứ tưởng an ổn: Một là cho rằng thật tế lý địa
chẳng thọ nhứt trần, núi sông đất đai chẳng ngại nhãn quang; lại nói: “Tròn
đồng thái hư, không thiếu không dư”, trong thể đại viên tìm sư sanh tử qua lại
trọn chẳng thể được, do đây khởi tưởng an ổn. Hai là thấy lý tuy rõ mà chẳng
thể thân chứng. Trong các giáo thừa phần đông quy hướng Tịnh Độ, cho rằng chỉ
có niệm Phật vãng sanh là ổn đáng hơn hết, do đây khởi tưởng an ổn.
(Từ trên đến đây đều là
thiền bệnh).
Người quả thật triệt ngộ
chẳng lấy văn tự làm giải cho hai thứ thật thọ dụng: Một là được chư Phật hóa
nghi. Hai là được chư Phật quả dụng. Hóa nghi nghĩa là trong cõi tịnh, cõi uế
của chư Phật, quyến thuộc của Bồ tát, quyến thuộc Thanh văn, mây hương, mây
hoa, mây tràng phan bảo cái và thiên long bát bộ cùng ta đồng đẳng không khác.
Nếu chẳng như thế là chưa triệt ngộ, vì lý ấy có chừng ngằn. Hai là được chư
Phật quả dụng, nghĩa là ba mươi hai tướng, tám mươi vẽ đẹp cho đến chín mươi
bảy thứ và Pháp thân thanh tịnh và thần thông quang minh, thuyết pháp… cùng ta
đồng đẳng, không hai, không khác. Nếu chẳng như thế là chưa triệt ngộ, vì lý ấy
có chừng ngằn.
Người quả thật triệt ngộ
chẳng lấy văn tự làm giải, đầy đủ diệu hạnh của các Bồ tát, nghĩa là chư Bồ tát
quá khứ, chư Bồ tát vị lai, chư Bồ tát hiện tại, diệu hạnh các Ngài đã làm
trong số kiếp bất khả thuyết thời đồng, xứ đồng, thân đồng, hạnh đồng, trong
khoảng một sát na, một vị trần thảy đều đầy đủ. Nếu chẳng như thế là chưa triệt
ngộ, vì lý ấy có chừng ngằn.
Người quả thật triệt ngộ
chẳng lấy văn tự làm giải, cùng mười hai loại chúng sanh đồng một thể tánh,
thân mình nhập vào thân người, thân người nhập vào thân mình, một thân nhập vào
một thân, nhiều thân nhập vào một thân, thế giới kia nhập vào thế giới này, thế
giới này nhập vào thế giới kia, thế giới nhập vào tự thân, tự thân nhập vào thế
giới, nhập vào tự thân chẳng thấy có thế giới, nhập vào thế giới chẳng thấy có
tự thân, nhiếp lẫn nhau, dung lẫn nhau, không hoại, không tạp. Lại ở trong phần
chúng sanh đồng một bi ngưỡng. Lại ở trong phần chúng sanh khởi đồng thể đại
bi, nghĩa là thiện và ác đều không tự tánh, đều là tự tâm hiện lượng, đã không
có cảnh ngoài tâm, dùng vô tác để hứng từ vận bi chẳng ngại ở trong cái thể vô
tánh mà giải thoát chúng sanh vô tánh. Nếu chẳng như thế là chưa triệt ngộ, vì
lý ấy có chừng ngằn.
Người quả thật triệt ngộ
không lấy văn tự làm giải, cùng mười hai loài chúng sanh đồng một huyễn hóa,
nghĩa là duyên sanh vô tánh, sanh vốn vô sanh; vô tánh duyên sanh, chúng sanh
đâu có thật như huyễn hóa, ta cùng với chúng sanh ở chung. Nếu chẳng như thế
chưa triệt ngộ, vì lý ấy có chừng ngằn.
(Đoạn trên là nói sự thọ dụng của người ngộ tâm,
chẳng phải người giải có thể biết).
Lại nữa, người từ trong
ngữ ngôn giải nên không được triệt ngộ sanh ra vô biên cuồng giải; có người lấy
“Hằng ngày việc không khác, chỉ ta tự biết hay” ma sanh cuồng giải. Có người
lấy “theo dòng nhận được tánh, không mừng cũng không lo” mà sanh cuồng giải. Có
người lấy “thần thông và diệu dụng, gánh nước và bửa củi” mà sanh cuồng giải.
Có người lấy “xưa nay không một vật, chỗ nào dính bụi nhơ” mà sanh cuồng giải.
Có người lấy “đối cảnh tâm luôn khởi, Bồ đề làm sao lớn” mà sanh cuồng giải. Có
người lấy “núi sông và đất đai, toàn lộ thân pháp vương” mà sanh cuồng giải. Có
người lấy “thật tánh vô minh tức Phật tánh, thân không huyễn hóa tức pháp thân”
mà sanh cuồng giải. Có người lấy “vào cửa liền đánh” mà sanh cuồng giải. Có
người lấy “cơ phong đáp hỏi đầu môi lanh lợi” mà sanh cuồng giải. Có người lấy
“chẳng cần tham cứu, ngay đó lập tức gánh vác” mà sanh cuồng giải. Có người lấy
“vào cửa liền mừng” mà sanh cuồng giải. Có người lấy “tập học thi phú từ
chương, công xảo, kỹ nghiệp” mà sanh cuồng giải. Có người lấy “buông bỏ lại
buông bỏ, mở miệng tức là sai lầm” mà sanh cuồng giải. 
Than ôi! Món ăn đề hồ
được thế gian trân quý, gặp bọn người này trở thành thuốc độc. Do vì chánh pháp
suy đồi, tà ma hưng thạnh quyến thuộc nối nhau đầy cả thế gian; người lưu tâm
tới việc sanh tử chẳng thể chẳng trước tiên soi thấu cảnh giới hư vọng này.
Lại có ba câu Cát đằng
chẳng thể nói trắng ra cho cư sĩ rõ. Cổ Đức nói: 
1- Thế nào là thiền?
– Con khỉ leo cây quơ cái đuôi.
2- Thế nào là thiền?
– Lửa hực đổ thêm dầu.
3- Thế nào là thiền?
-Cục gạch.
Những lời này là cát
đằng của Tổ Sư truyền, tuy nhiên phân minh như thế song nói với ông tưởng cũng
rất khó.
(Đáp Thái sư Ngô Quán Ngã hỏi về sự khác nhau giữa
Tông và Giáo).

 
—o0o—
Nguồn:
thuvienhoasen.org
Trình
bày: Nhị Tường
Cập
nhật: 9-2007

QUI SƠN CẢNH SÁCH



QUI SƠN CẢNH SÁCH

KIM ĐÀI giới thiệu
1992-2536
Tâm pháp như nhiên
                        Vạn cổ huy huyền
                        Thủy lưu sơn đảnh
                        Hoa vũ mãn thiên
                                                          Kim Đài 
PHẦN MỘT 
NGƯỜI CHỦ NON QUY
Ngày nọ có Tư Mã Đầu Đà từ Hồ Nam đến yết kiến Bá Trượng và thưa rằng:
–         Đất Quy Sơn là thắng cảnh nên lập đại đạo tràng kết tập bạn pháp.
Bá Trượng hỏi:
–         Lão tăng đến được chăng?
–         Đất Quy Sơn rất là kỳ tuyệt, có thể tụ họp một ngàn năm trăm chúng, nhưng chẳng phải là chỗ ở của Hòa thượng.
–         Sao vậy?
–         Hòa thượng hình xương, núi kia hình thịt, dù có ở, đồ đệ chẳng đầy một ngàn.
–         Trong chúng của ta đây có ai ở được chăng?
–         Đợi xem qua mới biết.
Bá Trượng sai thị giả gọi đệ nhất tọa, tức là ngài Hoa Lâm đến, hỏi:
–         Người này thế nào?
Đầu Đà bảo Hoa Lâm tằng hắng một tiếng và đi vài bước xong, thưa rằng:
–         Người này không được.
Bá Trượng sai thị giả gọi Điển Tọa tức Linh Hựu đến. Đầu Đà thưa:
–         Đây chính là chủ Quy Sơn.
Tối lại Bá Trượng gọi Sư vào thất dặn dò:
–         Ta hóa duyên tại đây. Ông hãy đến thắng cảnh Quy Sơn nối tiếp tông môn của ta và rộng độ kẻ hậu học.
Hoa Lâm hay tin này đến thưa:
–         Con là thượng thủ, tại sao Linh Hựu được trụ trì?
Bá Trượng bảo:
–         Trong chúng đây, nếu ai nói được câu xuất cách sẽ cho trụ trì.
Bá Trượng đặt tịnh bình xuống đất hỏi Hoa Lâm:
–         Không được gọi là tịnh bình, ông gọi là gì?
Hoa Lâm thưa:
–         Không thể gọi là khúc cây.
Bá Trượng quay qua hỏi Linh Hựu, Linh Hựu bèn đạp nhào tịnh bình mà đi.
Bá Trượng cười nói:
–         Đệ nhất tọa thua mất hòn núi rồi vậy.
Bèn phái Điển Tọa đi làm Tổ khai sơn.
o0o
Chỉ cần một cú trình cơ là được phái đi làm Tổ, khỏi cần nhọc sức ngồi mãi chẳng nằm, khỏi cần long đong cầu chơn đoạn vọng. Giơ chân đá phắt một cái, Phật cũng chẳng quản, Tổ cũng chẳng màng, thế mà lại ngồi trên Liên Hoa đài tạng.
Bá Trượng đặt câu hỏi “Không được gọi là tịnh bình, ông gọi là cái gì?”
Nói khác, trước khi có ngữ ngôn, ông gọi là cái gì?
Thủ tọa Hoa lâm nói “không thể gọi là khúc cây”. Khúc cây hay tịnh bình là ngôn ngữ thế gian đặt ra. Đức Phật đã từng nói: “Ta vì tùy thuận thế gian mà gọi như thế”. Gọi là tịnh bình là theo thế gian mà gọi. Gọi là khúc cây là theo thế gian mà gọi. Hoa Lâm đã rơi vào ngôn ngữ thế gian, việc bên xuất thế hãy còn mờ mịt nên Bá Trượng chẳng nhận.
Quy Sơn đạp nhào tịnh bình vượt trên ngôn ngữ, làm nước sông Hoàng Hà chảy ngược, tuy thắng Hoa Lâm nhưng không qua được con mắt Bá Trượng. Dù sao quy Sơn cũng còn nhọc sức với một cú đá như thế. Ngài Pháp Diễn ở núi Ngũ Tổ đã nói “chẳng cần ông tiến trước lùi sau, dựng ngón tay, đưa nắm tay, nhiễu giường thiền, làm người nữ lễ bái, đưa tọa cụ lên, ngàn thứ kỹ lưỡng. Chỉ cần ông ngay một câu nói cho thích hợp, bèn là chỗ ông thấy”.
Đối với tông phong Lâm Tế, nếu trình cơ như thế chỉ mới là chiêu đầu, phải đỡ nổi cả hai chiêu sau mới được ấn khả, nên nói: “Chiêu thứ nhất nếu tiến được cùng Phật Tổ làm thầy, chiêu thứ hai tiến được cùng trời người làm thầy, chiêu thứ ba tiến được thì tự cứu chẳng xong”. Bá Trượng vì còn nương tay, chẳng nỡ ra đòn hay chiêu kế tiếp, bởi vấn đề chỉ để giải quyết người nào làm chủ Quy Sơn mà thôi.
o0o
Non Quy cao vót không bóng người qua lại, là chỗ ở của cọp sói. Điển tọa Linh Hựu đến cất một am cỏ, hằng ngày lượm trái lật trái dẻ làm thức ăn nuôi sống. Đã bảy năm qua, một hôm Sư tự nghĩ: “Đạo cốt tiếp vật lợi sanh, ở một mình chẳng phải”. Sư bèn đi lần xuống núi thấy cọp sói, Sư bảo: “Nếu ta có duyên với núi này, các ngươi nên đi tránh chỗ khác. Nếu ta không có duyên ở đây thì các ngưoi cứ ăn thịt ta đi”. Sư nói xong, các thú dữ đều bỏ đi. Sư trở về am ở yên như trước.
Không bao lâu dân cư dưới chân núi lần lần hay biết, họ rủ nhau kéo lên núi cất một ngôi chùa cho Sư. Sau này theo lời tâu của Liên Soái Lý Cảnh Nhượng, vua ban hiệu chùa là Đồng Khánh, số chúng quy tụ lên đến một ngàn năm trăm người.
Xưa cũng như nay, tập thể nào cũng có kẻ tốt người xấu, chúng của ngài Quy Sơn cũng chẳng thoát khỏi thông lệ này. Ngoài những bậc có căn cơ xuất cách như Ngưỡng Sơn Huệ Tịch, Hương Nghiêm Trí Nhàn, cũng còn biết bao người lôi thôi trà trộn vào. Bài văn cảnh sách ra đời như một liều lương dược làm hồi sinh sức tiến đạo, đã đánh bạt những con vi trùng khoét thủng mạng mạch buổi sơ tâm, đã xuyên thấm vào từng tế bào và tâm não của những người hiến trọn đời mình cho việc giải thoát và lợi ích quần sanh.
PHẦN HAI
 HAI MƯƠI LĂM CÕI
1 – NGHIỆP LỤY THỌ THÂN:
* Thọ thân: thọ thân có hai:
-Phần đoạn sanh tử: sanh tử của phàm phu, vì ái chấp che đậy nên tạo
nghiệp ác mà phải chịu cái khổ sống chết từ phần từ đoạn.
·       Biến dịch sanh tử: sanh tử chuyên biến của bậc thánh đã chứng quả tam thừa.
Ngài Bá Trượng nói: “chỉ cần suốt đời tâm như gỗ đá, chẳng bị ấm giới các nhập, ngũ dục bát phong làm trôi chìm tức nhân sinh tử đã được cắt đứt”.
* Nghiệp và lụy:
Vì còn tạo tác nên gọi là nghiệp.
Vì chịu đủ thứ khổ nên gọi là lụy.
Phàm phu vì lục căn lục trần sai sử nên suốt ngày tạo các nghiệp ác nên phải chịu lụy vào ba đường dữ.
Hàng nhị thừa vì che đậy lục căn, xa lánh lục trần, đắm mình trong không tịch nên vẫn còn tạo nghiệp, còn nghiệp là còn lụy, lụy vào hầm sâu giải thoát, đoạn hột giống Phật.
Ngài Tăng Triệu nói: “muôn lụy có nhiễu, gốc tại vọng tưởng, vọng tưởng đã trừ, muôn lụy đều hết”.
* Chúng duyên:
Kinh Đại Bát Niết Bàn nói: “Như cây chuối nhơn tiếng sấm mà được tăng trưởng. Như cây a-thúc-ca, người nữ rờ chạm đến thì cây này trổ bông. Như cây quít được tử thi thời trái thêm nhiều.
     “Chim công nghe tiếng sấm nổ mà có trứng. Như chim thanh tước uống nước mắt của thanh tước trống mà có trứng. Như chim công mạng thấy chim trống múa bèn có trứng”.
Ấy là chúng duyên vậy. Thân của chúng ta do duyên hòa hợp của cha mẹ mà sanh ra.
* Tứ đại: đất, nước, lửa, gió.
Kinh Đại Bát Niết Bàn nói: “Bồ tát suy xét thân này như cái trấp, đất nước lửa gió như rắn độc; kiến độc, xúc độc, khí độc, nọc độc. Tất cả chúng sanh gặp bốn rắn độc này thời phải mất mạng. Tứ đại cũng như vậy, hoặc kiến chấp làm độc, hoặc chạm xúc làm độc, hoặc hà khí làm độc, hoặc cắn nọc làm độc, do đây nên xa lìa những điều lành.
Bồ tát suy xét bốn rắn độc này có bốn dòng họ: dòng Sát đế lợi, dòng Bà la môn, dòng Tỳ xá, dòng Thủ đà. Tứ đại cũng có bốn chủng tánh: tánh cứng, tánh ướt, tánh nóng, tánh động. Vì thế nên Bồ tát xem Tứ đại đồng chủng tánh với bốn rắn độc.
Bồ tát lại suy xét bốn rắn độc này thường rình hại người: lúc nào sẽ nhìn ngó, lúc nào sẽ chạm xúc, lúc nào sẽ hà hơi, lúc nào sẽ cắn. Tứ đại cũng như vậy, thường rình chờ dịp để hại chúng sinh.
Nếu bị bốn rắn độc hại chết, chẳng đến nỗi phải đọa trong ba đường ác. Nếu bị tứ đại giết hại tất sanh vào ba đường ác. Bốn rắn độc này dầu săn sóc nuôi dưỡng nó nhưng nó cũng thường muốn giết người. Cũng vậy, dầu thường cung cấp nhưng tứ đại cũng luôn kéo dắt người tạo những nghiệp ác. Bốn rắn độc ấy nếu một con sân giận thời sẽ giết người. Tánh tứ đại nếu một đại phát lên cũng có thể hại người. Bốn rắn độc ấy dầu ở chung một chỗ, nhưng tâm tánh của nó đều riêng khác. Tứ đại dầu đồng ở một thân mà tánh của mỗi đại khác nhau. Bốn rắn độc ấy dù có cung kính nó, cũng khó có thể gần gũi nó, tứ đại cũng như vậy. Bốn rắn độc ấy nếu lúc hại người, có được phù chú thuốc men của Sa môn hay Bà la môn thời có thể chữa trị. Tứ đại giết người dầu có Sa môn hay Bà la môn dung thần chú phép tắc cũng chẳng trị được. Như người trí nghe hơi tanh của rắn độc liền tránh xa. Chư Phật Bồ tát nghe hơi hôi của tứ đại cũng liền tránh xa”.
2 – VÔ THƯỜNG TẤN TỐC:
* Vô thường: ở đây chỉ cho sanh già bịnh chết nó đến bất chợt.
Vì nghiệp lực của chúng sanh khác nhau nên sự sanh già bịnh chết của chúng sanh cũng khác nhau. Hàng chư thiên và địa ngục đều có hóa sanh. Ngạ quỷ có hai cách là thai sanh và hóa sanh. Người và súc sanh có bốn cách là thai sanh, noãn sanh, thấp sanh và hóa sanh. Ví như Tỳ Xá Khư  mẹ của Di Già La đẻ ra ba mươi hai cái trứng, thành ba mươi hai đứa con trai, Di Già La là người con trai lớn nhất Đây là trường hợp noãn sanh. Lại, ví như trên đỉnh đầu của Sa La Ba Ly sanh ra một vị Chuyển Luân Thánh Vương, đây là trường hợp thấp sanh (sanh do ẩm ướt).
Trong kinh Đại Bát Niết Bàn có quốc vương tên Thiện Trụ, trên đầu hiện cục bướu, mười tháng sau sanh ra Đảnh Sanh, làm Chuyển Luân Thánh Vương.
Trong chúng Tỳ kheo ni của Phật có một vị Tỳ kheo ni tên A La Bà từ trong đất tự hóa sanh. Vào thời kiếp sơ, loài người đều hóa sanh cả, rồi về sau thường do thai sanh.
* Sát na: Chỉ khoảng thời gian ngắn nhất như trong chớp mi, nháy mắt.
Theo Đại Trí Độ Luận, trong một sát na, tâm tư có sáu mươi lần sanh diệt.
Trong kinh Đại Bát Niết Bàn, phẩm Ca Diếp Bồ tát, Phật nói: “một hơi thở, một nháy mắt, thọ mạng của chúng sanh có bốn trăm lần sanh diệt.”
Ở đệ nhất nghĩa đế, sát na có nghĩa là vô sanh, như trong kinh Lăng Già:
Tất cả pháp chẳng sanh
Đó là nghĩa sát na
Mới sanh liền có diệt
Chẳng vì kẻ ngu thuyết
* Ngạn thọ tỉnh đằng: Cây bờ dây giếng, dụ cho cái gì bấp bênh, không bền chắc.
Kinh Đại Tập ghi: “Xưa có một người vì tránh hai con voi say, nắm dây chuyền xuống giếng. Dưới có ba con rồng phun lửa dương móng. Người kia liền đeo theo cái dây treo giữa chừng. Trên có hai con chuột một đen một trắng cắn dây gần đứt. Bốn bên có bốn con rắn thò đầu le lưỡi muốn cắn. Người kia ngó lên thì hai con voi đã đứng chực trên miệng giếng rồi. Đang lo âu không biết làm thế nào thoát khỏi cái chết, bỗng có bầy ong bay qua nhễu năm giọt mật vào miệng, người kia nuốt lấy mật ấy rồi quên cả sợ sệt nguy hiểm.
Hai con voi say dụ cho sanh tử, sợi dây ví cho mạng căn. Vào miệng giếng là dụ vô thường. Hai con chuột ví ngày tháng thoi đưa. Bốn con rắn dụ tứ đại. Ba con rồng dụ ba độc. Năm giọt mật dụ cho ngũ dục.
3 – LY GIA THẾ PHÁT
* Bên trong siêng công khắc niệm:
Khắc niệm chẳng phải chận đứng tâm như đắp đê ngăn nước. Chẳng để vọng niệm thao túng tự do, cũng chẳng khởi tâm dẹp nó. Để cho vọng niệm thao túng tự do, ấy là phàm phu, khởi tâm dẹp nó là rơi vào hạ thừa.
Khắc niệm đến mức tuyệt cùng là ở nơi niệm mà vô niệm, vô niệm mà niệm, tùy cơ cảm ứng như trăng với nước, như nước với trăng. Nơi nào có nước là ở đó có trăng và tất cả mặt trăng trong nước đều nhiếp về mặt trăng trên trời:
     Nhứt nguyệt phổ hiện nhứt thiết thủy
     Nhứt thiết thủy nguyệt nhứt nguyệt nhiếp
                                           (Chứng Đạo Ca)
Đạo Ngô bảo chúng:
– Ta đau gần muốn chết, bởi trong tâm có một vật để lâu thành bệnh, người nào vì ta dẹp nó?
Thạch Sương bước ra thưa:
– Tâm vật đều phi, dẹp đó thêm bệnh.
Đạo Ngô khen:
– Lành thay! Lành thay.
Khởi tâm dẹp các tư niệm là bệnh. Ấp ủ các tư niệm cũng là bệnh. Chỉ cần tìm tâm thôi, vì tâm chính là nguồn phát sinh ra các tư niệm này.
* Bề ngoài tỏa đức vô tranh:
Vô tranh tức chẳng sanh tâm tranh đấu, chẳng có ý hơn thua, chẳng thấy lỗi người. Vì chẳng thấy lỗi người nên bề ngoài thường tỏa đức vô tranh.
Lục Tổ nói: “Nếu thầy lỗi lầm người, lỗi mình đến bên tả” (nhược kiến tha nhơn phi, tự phi khước thị tả).
Người tu suốt ngày thường kiểm điểm lỗi mình, ấy gọi là vô tranh.
Bên trong siêng công khắc niệm là nhân
Bề ngoài tỏa đức vô tranh là quả.
Ngài Vĩnh Gia nói: “Lặng lẽ dứt ở trong thảnh thơi bày bên ngoài” (Điềm đạm tức ư nội, tiêu tán dương ư ngoại) là đồng với ý trên.
4 – DANH LỢI BÔN TẦM
* Tỳ kheo: có ba nghĩa Khất sĩ, Bố ma và Phá ác. Có ba trường hợp thành Tỳ kheo:
1) Người chứng Thánh quả vô lậu gọi là pháp tánh Tỳ kheo.
2) Được Phật đương thời gọi Thiện Lai Tỳ kheo thì thành Tỳ kheo gọi là Thiện Lai Tỳ kheo.
3) Chư Tăng hòa hợp đúng pháp, bạch tứ yết ma trao giới Tỳ kheo, đây gọi là Tác Pháp Tỳ kheo.
* Thường trụ: có bốn nghĩa:
1) Thường trụ thường trụ: là những món như phòng, nhà, hoa quả, ruộng vườn v.v… Những vật đây thuộc về chùa, không cho mang đi chỗ khác, không được chia ra bán.
2) Thập phương thường trụ: những vật cúng trong chùa, chúng tăng thường ăn, mười phương Tăng đều được dùng.
3) Hiện tiền hiện tiền: Vật của thí chủ cúng cho chúng tăng có mặt trong chùa, các thầy đây có quyền chung hưởng.
4) Thập phương hiện tiền: các vị xuất gia khi qua đời để lại chút ít vật. Nếu trong chúng Tăng chưa làm phép yết ma thì vật ấy thuộc Thập phương Tăng. Đã làm phép yết ma rồi thì vật ấy thuộc về các thầy có mặt trong chùa.
Hai món đầu gọi là của Tăng Kỳ (của chùa).
Hai món sau gọi là của Hiện tiền Tăng.
* Chỉ thú: diệu chỉ của Đạo.
Người xưa khi chưa nghe được diệu chỉ của Đạo là bôn ba đi thưa hỏi người trên, như ngài Tuyết Phong, khi chưa ngộ đạo phải lận đận ba phen Đầu Tử, chín lần Động Sơn, cuối cùng mới thành đạo ở Nham Đầu.
Luận Ngữ nói: “Quân tử mưu đạo bất mưu thực”. Nhà nho đã vì đạo mà quên ăn như thế, Thích tử chúng ta há vì cơm áo mà xuất gia ư?
GIÁO PHÁP VÔ CHUYÊN:
* Pháp tịch: tên khác của tỳ ni
* Liễu nghĩa thượng thừa:
Giáo liễu nghĩa:                                     Giáo bất liễu nghĩa:
– Phân biệt về thanh                              – Phân biệt về trược
– Phi tâm phi Phật                                 – Tức tâm tức Phật
– Thích hợp với người thượng căn                 – Thích hợp với người hạ căn
– Nghịch tục                                          – Tùy tục
Giáo liễu nghĩa là trì. Giáo bất liễu nghĩa là phạm. Phật địa thượng thừa chẳng trì chẳng phạm nên giáo liễu nghĩa và giáo bất liễu nghĩa đều chẳng dùng.
* Giáo lý chưa từng thao thức
   Huyền đạo rất mực khó vào:
Người từng thao thức về giáo lý thường quên ăn bỏ ngủ, có khi bỏ cả thân mạng. Như Thủ tọa Sơ, vì không đáp được câu hỏi của Động Sơn, một đêm trằn trọc thao thức bỏ ngủ, sáng hôm sau tịch. Câu chuyện như sau:
Động Sơn đến Phần đàm yết kiến Thủ tọa Sơ. Thủ tọa sơ dạy chúng có câu:
     Cũng rất kỳ! Cũng rất kỳ
     Phật giới đạo giới chẳng nghĩ nghì
Động Sơn hỏi:
– Phật giới đạo giới chẳng hỏi, người nói Phật giới đạo giới là ai, xin nói một câu?
Thủ tọa làm thinh không đáp. Động Sơn giục:
– Sao chẳng nói đi?
– Nói chẳng được.
– Nói cũng chưa từng nói, cái gì mà nói chẳng được?
Thủ tọa cũng không đáp. Động Sơn thưa:
– Phật với đạo chỉ là danh tự, sao chẳng dẫn kinh?
– Kinh nói thế nào?
– Được ý quên lời.
Thủ tọa bảo:
– Vẫn còn đem ý kinh đến đầu tâm làm thành bệnh.
– Nói Phật giới đạo giới bệnh lớn nhỏ?
Thủ tọa không đáp được, sáng hôm sau tịch. Thời nhơn gọi Động Sơn là hỏi chết Thủ tọa.
Trường hợp của Thượng tọa Minh sau đây suýt chút nữa là bỏ mạng vì đã từng thao thức với đạo:
Thượng tọa Minh ở Hương Giáo hỏi quốc sư Đức Thiều:
– Ngài Ca Diếp mang y trượng sáu của đức Thích Ca để tại núi Kê Túc chờ ngài Di Lặc ra đời để đem y trượng sáu này khoác vào thân ngàn thước của Đức Di Lặc ứng vào vừa vặn. Chỉ như thân đức Thích Ca cao trượng sáu, thân ngài di lặc cao ngàn thước, như vậy thân phải rút ngắn hay y phải nối dài?
Đức Thiều bảo:
– Ông lại hiểu lấy.
Thượng tọa Minh phủi áo bỏ đi ra.
Đức Thiều bảo:
– Kẻ tiểu nhi! Nếu Sơn Tăng đáp lời ông chẳng phải thì nên có nhân quả, nếu ông đáp phải ta sẽ thấy vậy.
Minh trở về bảy hôm sau thổ huyết.
Khi đó Hòa thượng Phù Quang khuyên:
– Ông phải mau đi sám hối.
Minh liền đi đến phương trượng buồn khóc thưa rằng:
– Xin Hòa thượng từ bi nhận cho con sám hối.
Đức Thiều bảo:
– Như kẻ ngã xuống đât, nhơn đất mà đứng dậy, ta chẳng từng dạy ông ngã hay đứng.
Minh thưa:
– Nếu cho con sám hối, con sẽ trọn đời hầu hạ ngài.
Đức Thiều vì Thượng tọa Minh nói kệ:
Chư Phật đạo bằng nhau
Rõ ràng thấy cao thấp
Thích Ca cùng Di Lặc
Như ấn đóng trên bùn
6 – TỰ CHỦ TOÀN VÔ:
         
Chưa rành kinh luật là nhân
Thâu nhiếp đều không là quả
Đây là do thối thất tâm ban đầu.
Theo kinh Đại Bát Niết Bàn, có năm nhơn duyên làm cho Tỳ kheo thối thất:
Một là thích nhiều việc
Hai là ưa nói chuyện đời
Ba là ham ngủ nghỉ
Bốn là gần gũi người tại gia
Năm là ưa dạo đây đó.
* Uy nghi:
Cái dáng tôn nghiêm làm cho người thấy phải sợ gọi là uy. Nghi: dáng dấp.
Uy nghi là cái dáng dấp nghiêm trang làm cho người ta thấy phải sợ, làm cho sanh lòng tôn kính mà bắt chước theo.
Đại Trí Độ Luận ghi: “Sau khi Phật nhập diệt một trăm năm, có vị Tỳ kheo Ưu Ba Cúc Đa được thần thông A La Hán. Khi Phật còn tại thế, có vị Tỳ kheo ni được gặp Phật năm hai mươi tuổi. Lúc Ưu Ba Cúc Đa đắc A La Hán, bà đã được một trăm hai mươi tuổi. Ngài Ưu Ba Cúc Đa muốn gặp vị Tỳ kheo ni để hỏi về oai nghi của Phật, bèn sai người đệ tử đến báo trước với bà.
Bà dùng bát đựng đầy dầu mè đặt ngay cửa để xem oai nghi của vị A La Hán này ra sao. Ngài Ưu Ba Cúc Đa bước qua cửa, làm đổ một ít dầu mè mà không để ý. Khi đã ngồi yên, ngài liền hỏi về dung nghi của Phật ra sao.
Bà đáp rằng: Khi ấy tôi còn nhỏ tuổi, thấy Phật vào tụ lạc, dân chúng đều đảnh lễ. Tôi thấy Phật quang minh, cũng cúi đầu đảnh lễ. Ngay khi vừa cúi xuống thì chiếc xuyến vàng của tôi rơi lăn vào dưới sàn chỗ Phật ngồi. Phật dùng quang minh chiếu sáng chỗ tối ấy, tôi thấy và lượm lên. Do vậy tôi theo Phật thọ giới Tỳ kheo ni.
Ưu Ba Cúc Đa lại hỏi: Khi Phật còn ở đời, oai nghi lễ phép các Tỳ kheo ra sao?
Bà đáp: Phật cũng có lục quần Tỳ kheo vô liêm sỉ, rất là tệ ác, nhưng oai nghi phép tắc của họ hơn ngài nhiều.
– Làm sao bà biết được?
– Tuy tệ ác như vậy nhưng lục quần Tỳ kheo trong các oai nghi đi đứng ngồi nằm không bao giờ mất phép tắc, cho nên họ đến đây, tôi có để dầu ngoài cửa mà dầu chẳng đổ xuống đất. Ngài tuy được sáu thần thông A La Hán mà không bằng họ.
Ngài Ưu Ba Cúc Đa nghe lời ấy rồi rất xấu hổ. Từ đó về sau nhất tâm cẩn thận. Nhất tâm cẩn thận là tướng của thiện nhơn vậy.
7 – XÚC SỰ BẤT THÔNG:
* Xúc sự diện tường: chạm việc đụng vách có nghĩa gặp việc thì trở ngại, mù mịt chẳng giải quyết được như đối diện với tường vách.
Như Hương Nghiêm Trí Nhàn miệng lưỡi lanh lợi, khi còn ở với Tổ Bá Trượng hỏi một đáp mười. Đến khi bị Quy Sơn hỏi: trước khi cha mẹ sanh, bổn lai diện mục của ông là gì? Lúc bấy giờ Hương Nghiêm mù mịt như đối điện với tường vách.
8 – LÂM CHUNG KHỔ CẢNH:
* Lâm hành huy hoắc: khi đi quay quắt. Giờ phút lâm chung như con cua bỏ vào nước sôi, công phu tu hành muôn phần, lúc này chỉ còn một hai phần.
* Hộc xuyên tước phi: lụa thủng chim bay.
Đại Luận nói: “Con chim chun trong các cái bình, lấy lụa bịt miệng bình lại, lụa rách chim bay đi. Cũng như cái thân ta lúc tan rã, thần thức đi theo nghiệp. Cái bình dụ thân tứ đại, lụa dụ mạng căn, chim dụ thần thức. Thần thức tức tâm thức vậy. Do tâm thức nương nơi nghiệp lành nghiệp ác đời trước mà đến chịu quả báo, như chim nọ chun trong cái bình. Bị nghiệp nó buộc như lụa bịt miệng bình. Quả báo nếu hết rồi, thân phải đi theo nghiệp như lụa thủng chim bay đi. Bởi thức tâm nó buộc bằng dây nghiệp ở trong bình sắc thân mà không chỗ nào chẳng đến. Dây nghiệp chưa dứt, đi rồi phải trở lại. Bình bể dây dứt thì đi không trở lại.
9 – CẢNH SÁCH TƯƠNG THÂN:
* Giam ngôn: phong gói lời nói
* Quý: cuối. Tháng cuối mùa gọi là quý.
– Chánh pháp: Chữ chánh cũng như chữ chứng vậy. Nghĩa là sau khi Như Lai diệt độ, trong một ngàn năm đầu, có người vâng thọ giáo pháp bèn hay tu hành liền được chứng quả.
– Tương pháp: chữ tượng cũng như chữ tợ, nghĩa là cả đời tượng pháp đây cũng có giáo pháp, cũng có người tu hành, giống như đời chánh pháp vậy. Nhưng sau khi Như Lai diệt độ hai ngàn năm, có người vâng lãnh giáo pháp, cũng hay tu hành mà phần nhiều ít ai chứng quả.
– Mạt pháp: Chữ mạt nghĩa là ngọn ngành; nghĩa là sau khi Như Lai diệt độ rồi, sau đời chánh pháp tượng pháp mười ngàn năm giáo pháp để lại trong đời, cũng có người vâng lãnh nhưng chẳng có thể tu hành chứng quả.
Tổ Quy Sơn ra đời (771-853) sau khi Như Lai diệt độ non hai ngàn năm, là cuối thời tượng pháp nên gọi là tượng cuối.
10 – XUẤT GIA CÔNG HẠNH
     * Xuất gia:
     – Cắt ái từ thân, phát đại thệ nguyện thay chúng sanh chịu hết các khổ.
     – Nương gần thiện tri thức, nuôi lớn chánh kiến.
– Lìa hai đầu: phiền não cũng bất khả đắc, Niết Bàn cũng bất khả đắc, cái bất khả đắc đó cũng bất khả đắc, đi vào tam giới như dạo hoa viên, ấy gọi là xuất gia.
Có người nói: “Xuất gia vô gia, xứ xứ gia”, xuất gia là kẻ không nhà, bởi đâu cũng là nhà.
* Phát túc siêu phương: Bước đi bặt dấu, đi vào khắp mười phương thế giới mà chẳng dính mắc phương nào nên gọi là siêu phương, cũng gọi là bặt dấu, bởi chẳng để lại dấu vết, chư Thiên tìm chẳng được, Ba Tuần dò chẳng ra.
Theo Động Sơn, có ba con đường gọi là phát túc siêu phương: huyền lộ, đường chim, xòe tay.
Có vị tăng hỏi:
– Bình thường thầy dạy học nhơn đi đường chim, chưa biết thế nào là đường chim?
Động Sơn đáp:
– Chẳng gặp một người.
– Thế nào là đi?
– Cần phải hạ chân vô sự.
– Đi đường chim có phải là bổn lai diện mục không?
– Xà Lê sao điên đảo.
– Chỗ nào là chỗ con điên đảo?
– Không điên đảo sao nhận giặc làm con?
– Thế nào là bổn lai diện mục?
– Chẳng đi đường chim.
Cần phải tới điền địa này mới gọi là phát túc siêu phương.
Như Thiền sư Vân Cư Đạo Ưng cất am cỏ nơi Tam Phong, cả tuần nhựt không xuống đường. Động Sơn thấy lạ hỏi:
– Mấy ngày nay sao ông không đến thọ trai?
Đạo Ưng thưa:
– Có thiên thần cúng dường mỗi ngày.
– Ông vẫn còn kiến giải. Rồi gọi: Ưng am chủ!
– Dạ!
– Chẳng nghĩ thiện, chẳng nghĩ ác là cái gì?
Sư về am lặng lẽ, thiên thần tìm mãi chẳng thấy, trải ba ngày như thế mới thôi cúng dường.
Khi thiên thần tìm mãi chẳng thấy Đạo Ưng, lúc ấy mới gọi là phát túc siêu phương.
Cửu Phong là thị giả của Thạch Sương. Khi Thạch Sương mất, chúng Tăng trong tự viện họp và quyết định chọn vị Thủ tọa làm trụ trì mới. Nhưng Cửu Phong đã đứng lên nói với cử tọa:
– Trước hết chúng ta phải biết rằng Thủ tọa có thực sự hiểu giáo lý của Thầy không đã.
Thủ tọa hỏi:
– Ông định hỏi gì về giáo lý của Thầy?
– Thầy chúng ta thường dạy về bảy “đi thẳng”.
1. Đi thẳng, thôi nghỉ
2. Đi thẳng, buông hết
3. Đi thẳng, thu lạnh nước trong
4. Đi thẳng, muôn năm một niệm
5. Đi thẳng, lò hương miếu cổ
7. Đi thẳng, hương xông gió lặng
Nếu Thủ tọa hiểu nghĩa thật của đi thẳng thì xin ban pháp ngữ, nếu không thì thôi.
Thủ tọa đáp: Một sắc màu, khác cách dùng.
Cửu Phong la lên:
– Đó! Tôi biết ông chẳng hề hiểu giáo lý của Thầy.
– Nếu ông không chấp nhận kiến giải của tôi thì xin đốt một nén hương lên. Nếu tôi không thể chết trước khi hương cháy hết thì tôi xin chịu là không hiểu ý Thầy.
Rồi thì hương được đốt và Thủ tọa bắt đầu ngồi thẳng như một cây gậy. Và kìa, trước khi nén hương cháy hết, vị Thủ tọa đã ngồi mà hóa.
Cửu Phong vỗ vai tử thi, nói:
– Ông muốn ngồi mà tịch hay đứng mà hóa cũng được, còn về ý nghĩa những lời của Thầy, ông vẫn chưa hiểu.
Phải thấy như Cửu Phong kia mới gọi là phát túc siêu phương, Thủ tọa vì còn kẹt nơi danh tướng, trụ ở Nhất tướng nên đối đáp như thế.
11 – NGUYỆN LỰC HÀM TÀNG:
* Ý dục đẳng siêu hà sở: Ý muốn vượt lên ba cõi mà chẳng dính mắc nơi ba cõi.
* Tâm kỳ Phật pháp đống lương: Tâm nguyền trụ cột Phật thừa, kỳ hẹn làm cái gì to lớn cho Phật pháp.
– Thiền sư Nhơn Dũng ở Bảo Ninh đến tham vấn Thiền Sư Minh Giác ở Tuyết Đậu. Minh Giác thầm biết Sư sẽ gánh vác đại pháp, bèn nói cợt Sư là “tọa chủ Anh Tường”. Sư nổi giận xuống núi, trông về Tuyết Đậu làm lễ và thề rằng: “Tôi đời này đi hành cước tham thiền nếu đạo lý chẳng bằng Tuyết Đậu, thề chẳng trở về quê.
Sau này Sư nối pháp Tổ Dương Kỳ.
– Ngài Hiếp Tôn giả tám mươi tuổi mới xuất gia. Những vị Tăng trẻ hỏi ngài: “Việc của người xuất gia, một là tu tập thiền định, hai là học tụng kinh điển, mà ông nay đã già yếu, làm sao tu tiến được?
Tôn giả nghe rồi liền phát thệ: “Tôi nếu không thông ba tạng kinh, không đoạn được ái dục trong ba cõi, không chứng được sáu pháp thần thông và đầy đủ tám món giải thoát, thệ không để hông bén chiếu. Nhờ nguyện lực trên, ngài đắc pháp làm tổ thứ mười.
12 – NGÔN HẠNH TƯƠNG ƯNG:
* Mở lời phải hiệp với tủy kinh:
Lời nói phải đến chỗ rốt ráo tuyệt cùng, dứt mạng căn người học, chẳng rơi bờ mé, chẳng còn vết tích, như chim bay trong không chẳng để dấu, mở bày thật tướng cho người nghe, khiến họ được vào tri kiến của Như Lai.
Như hỏi: “Thế nào là Bồ tát vào pháp môn bất nhị?”, ba mươi mốt vị Bồ tát nơi hội Tịnh Danh đều trả lời theo chỗ thấy của các ngài nhưng chưa vào được chỗ cốt tủy. Chỉ có ngài Duy Ma Cật mặc nhiên vô ngôn, cái im lặng phá thủng nhị biên, mở đường sống cho người.
Bồ Đề Đạt Ma trước giờ lên đường, ngài bèn bảo các đệ tử trình chỗ sở đắc của mình. Bấy giờ ông Đạo Phó bạch:
– Theo chỗ thấy của tôi, chẳng chấp văn tự, chẳng lìa văn tự, đó là chỗ dụng của Đạo.
Tổ nói: “Ông được phần da của tôi”.
Bà Ni Tổng trì bạch:
– Chỗ hiểu của tôi nay như Khánh Hỷ (A Nan) nhìn vào nước Phật A Súc thấy một lần mà không thấy lại được.
Tổ nói: “Bà được phần thịt của tôi”.
Ông Đạo Dục bạch:
– Bốn đại vốn không, năm ấm chẳng thật, chỗ thấy của tôi là không có gì sở đắc hết.
Tổ nói: “Ông được phần xương của tôi”.
Sau cùng đến Huệ Khả, Khả đảnh lễ Tổ rồi cứ thế mà đứng thẳng.
Tổ nói: “Ông được phần tủy của tôi”.
* Luận nói phải nhằm tông cổ đức. Nếu nói không nhằm vào tông của cổ đức, cứ ức tưởng mà nói thì đồng với tà ma ngoại đạo. Muốn nhằm tông, trước phải tâm thông, tâm đã thông rồi thì thuyết mới thông.
Có vị Tăng hỏi Giáp Sơn:
– Thế nào là pháp thân?
Giáp Sơn đáp:
– Pháp thân vô tướng.
– Thế nào là pháp nhãn?
– Pháp nhãn vô tỳ.
Đây là do ức tưởng mà nói.
Đến khi đại ngộ nơi Hoa Đình Thuyền Tử, Giáp Sơn trở về vẫn trả lời như trước. Đây là do kiến địa mà nói. Vì kiến địa mà nói nên nhằm vào tông môn.
Nhưng như thế nào là tâm thông thuyết thông? Lục Tổ nói: “Thuyết thông và tâm thông, như mặt trời giữa không”. Thuyết và tâm cả hai đều quên, rỗng suốt không chỗ nương tựa như mặt trời giữa không, hiển bày trung đạo đệ nhất nghĩa.
Vì mở lời thường hiệp với tủy kinh nên chẳng chống trái với ý Phật. Luận nói lại nhằm tông cổ đức nên chẳng rơi bờ mé của tình thức, chẳng kẹt ngữ ngôn. Quốc sư Trung Phong nói:
Toàn thể không còn chỗ che dấu
Đương cơ chẳng từng kẹt ngữ ngôn
13 – TRẠCH BẠN TƯƠNG GIAO
* Đi xa nương náu bạn hiền
Trú ở phải nên chọn bạn
Các câu này đều nói lên vai trò quan trọng của bạn bè, khi giao du phải rất nên thận trọng. Tục ngữ Việt Nam có câu “Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng” cũng đều nói lên ý này.
Kinh Đại Niết Bàn nói: “Đại Bồ tát xem voi ác cùng bạn ác đồng nhau không khác, vì cùng làm hại thân. Đối với voi ác, Bồ tát chẳng sợ bằng bạn ác, vì voi ác chỉ hại thân mà chẳng hại được tâm. Bạn ác thì hại cả hai thức thân và tâm. Voi ác chỉ làm hại một thân, bạn ác có thể làm hại vô lượng thân lành, vô lượng tâm lành. Voi ác chỉ có thể hại thân hôi nhơ, bạn ác có thể phá hoại tịnh thân cùng tịnh tâm. Voi ác chỉ có thể làm hại nhục thân, bạn ác làm hại đến pháp thân. Bị voi ác giết chẳng sa vào ba đường ác, bị bạn ác giết tất sa vào ba đường ác. Voi ác chỉ là kẻ oán thù của thân, bạn ác là kẻ thù của pháp lành. Do đây nên Bồ tát thường phải xa lìa bạn ác”.
Thiền Lâm Bảo Huấn nói: “Người tu học, ở phải chọn nơi, chơi phải lựa người, mới có thể dứt được những điều tà vạy, gần được người trung chính và nghe được lời nói chân chánh. Xưa kia, Phúc Nghiêm Lương Nhã Hòa thượng thường mến chuộng thể cách ngài Chân Như Triết, song chưa biết ngài thường y phụ cùng ai. Một hôm Hòa thượng thấy ngài Chân Như Triết cùng đi với các ngài Đại Ninh Khoan, Tưởng Sơn Nguyên và Thúy Nham Chân. Hòa thượng Lương Nhã vui mừng khôn xiết và thung dung nói với ngài Chân Như Triết: “Các đại sĩ là bậc long tượng trong pháp môn mà tôi may mắn được theo. Ngày sau, chống đỡ sự đổ nát của Đạo ta, làm rạng rỡ  sự lợi ích trong giáo pháp của các Tổ, hẳn không phải là  ở chỗ phó chúc nhiều lần của tôi mà là ở chỗ gương sáng giao bạn của các ngài vậy”.
* Mỗi mỗi trong veo tai mắt:
Sắc chẳng tự nói rằng sắc, thinh chẳng tự bảo rằng thinh, chỉ vì ai kia đã dính mắc vào đó. Nên Tilopa đã nói với đồ đệ của mình là Naropa bên bờ sông Hằng một câu nói lừng danh như sau: “Không phải các tướng đã trói buộc con trong luân hổi mà chính là sự chấp trước đã trói buộc con. Ôi! Chính sự chấp trước đã làm con là Naropa!”
Nếu chẳng chấp trước, các pháp mỗi mỗi hiển bày, mỗi mỗi trong veo tai mắt. Các pháp xưa nay vốn như thế, chẳng can hệ gì đến ta:
Chư pháp tùng bổn lai
Thường tự tịch diệt tướng
Xuân đáo bách hoa khai
Hoàng oanh đề liễu thượng.
14 – DỤC ĐỨC THAO TÂM:
– Thiền sư Vô Nghiệp nói: “Những vị cổ đức xưa, sau khi hội được yếu chỉ bèn cất am tranh hoặc ở thất đá, nấu cơm bằng lò bễ, trải hơn hai ba mươi năm, danh lợi không bận lòng, tiền của chẳng phiền nghĩ, quên hẳn người đời, ở ẩn chốn núi rừng, vua chúa vời chẳng đến, chư hầu thỉnh chẳng đi. Đâu như chúng ta ngày nay, tham danh mến lợi, chìm đắm trong bụi đời như bọn con buôn”.
– Hòa thượng Lại Toản ở trong thất đá nơi Hoành Sơn. Vua Đường Túc Tông nghe danh sai sứ đến triệu thỉnh. Sứ giả đến thất nói to: Thiên tử có chiếu, Tôn giả nên đứng dậy lễ tạ ơn.
Sư bới trong đống tro mò được một củ khoai nướng lột ăn, nước mũi chảy lòng thòng mà không đáp lời sứ. Sứ giả cười nói: Xin Tôn giả chùi mũi đi. Sư nói: Tôi đâu rảnh vì người tục chùi nước mũi. Sư không đi. Sứ giả trở về tâu vua, vua càng kính phục và tán thán.
– Tosui là một thiền sư người Nhật, đã từng ở nhiều ngôi đền và giảng dạy nhiều nơi khác nhau. Ngôi đền và Tosui ở sau cùng quy tụ rất nhiều đệ tử. Tosui bảo với các môn đồ rằng ông sắp bỏ hẳn việc giảng dạy. Tosui khuyên họ giải tán và đi đâu tùy thích. Sau đó không ai thấy bóng dáng của Tosui đâu cả.
Ba năm sau, một đệ tử khám pháp thấy Tosui chung sống với một số người ăn mày dưới một gầm cầm ở Kyoto. Lập tức anh ta khẩn cầu Tosui chỉ dạy.
Tosui bảo: Nếu anh có thể sống được như ta một đôi ngày thì ta dạy cho.
Thế rồi người đệ tử mặc quần áo ăn mày sống với Tosui được một ngày. Hôm sau, một tên ăn mày ngã ra chết, Tosui và người đệ tử nửa đem mang xác chết chôn nơi một sườn núi. Chôn xong hai thầy trò trở lại gầm cầu.
Phần đêm còn lại, Tosui ngủ rất ngon giấc nhưng người đệ tử không thể chợp mắt được. Sáng hôm sau, Tosui nói: Hôm nay chúng ta khỏi phải đi xin đồ ăn, người bạn đã chết để lại một ít kìa!
Nhưng người đệ tử không ăn được một miếng nào. Tosui bảo: Ta đã bảo anh không thể sống như ta được. Hãy cút đi, đừng làm phiền ta nữa.
15 – THIỀN TÔNG YẾU CHỈ:
Yếu chỉ Thiền tông được gói trọn trong các câu: “Chẳng cần để tâm theo vật, tâm đã chẳng theo vật, vật chẳng ngại tâm”.
Sở dĩ chúng ta bị nghiệp lực thắt buộc là vì để tâm theo vật, để cho căn chạm cảnh. Nếu căn chẳng đến cảnh thì làm người giải thoát. Một khi tâm đã chẳng theo vật thì mười phương thế giới chẳng ngăn ngại tâm, nên Bàng Uẩn nói:
Nếu tự vô tâm nơi vạn vật
Ngại gì vạn vật thường vây nhiễu
Trâu sắt không sợ sư tử rống
Giống như người gỗ xem chim vẽ
Người gỗ bổn thể tự vô tình
Chim vẽ gặp người cũng chẳng kinh
Tâm cảnh như như chỉ như thế
Lo gì bồ đề đạo không thành?
Đạt đến vô tâm quả là chuyện không phải đơn giản một đôi ngày có thể làm được. Như phẩm Phạm Hạnh nói “Ví như hột đậu đá, lúc đã khô lấy dùi ghim trọn không dính được. Phiền não đã cứng rắn cũng như vậy, dầu một ngày đêm nhiếp tâm chẳng tán nhưng khó điều phục được”. Vì thế nên phải rất cẩn trọng.
Tông này khó nắm chỗ diệu
Phải trong tơ tóc dụng tâm
Nếu còn vướng chút nhỏ như sợi tơ trong tâm thì chẳng phải đạp đến đất chân thật. Ngài Vô Nghiệp nói: “Bồ Tát học Bát Nhã không được khinh mạn, như đi trên băng, như chạy trên kiếm bén. Khi lâm chung, một mảy tình phàm lượng thánh chưa sạch, chút bụi tư niệm chưa quên, liền tùy niệm thọ sanh.
Hành giả tham thiền đều phải qua ba giai đoạn sau:
Giai đoạn 1:   Tâm ghé bến mầu
                       
                        Soi xét tinh mật
Giai đoạn 2:   Vạch cùng chỗ tột
                       
Giai đoạn 3:   Tỏ suốt nguồn chơn
Tâm ghé bến mầu tức đã được chỗ vào.
Ngài Trần Tôn Túc nói: “Chưa được chỗ vào như đưa ma me. Đã được chỗ vào như đưa ma me”. Như thế, được chỗ vào chưa phải là xong việc mà phải soi xét tinh mật, vạch cùng chỗ tột.
Ngài Hối Đường Tố Tâm, sau khi được chỗ vào ở ngài Huệ Nam, Hối Đường vẫn thường đến thưa hỏi về ngữ cú của Vân Môn. Huệ Nam bảo:
– Biết là việc bên liền thôi, ông dùng nhiều công phu làm gì?
Hối Đường thưa:
– Chẳng thế, con còn có chút nghi, chẳng đến vô học, đâu hay bảy dọc tám ngang xoay trời chuyển đất?
Huệ Nam hứa nhận.
Nếu chưa đến chỗ cùng tột thì chưa triệt ngộ. Chỗ ngộ có sâu có cạn tùy ở sự kham nhận của mỗi hành giả. Có vị đã ngộ đạo ra làm thầy, khai thị cho đệ tử cũng được ngộ đạo, nhưng đệ tử lại ngộ sâu hơn thầy. Đó là trường hợp của thiền sư Pháp Thới Phật tánh, thủ tọa của thiền sư Viên Ngộ ở Tương Sơn.
Một hôm có một vị sư tên là Trung An ở Linh Nham đến thưa hỏi Phật Tánh, liền nhận được yếu chỉ. Có lần Trung An đến tăng đường dâng thơ thăm hỏi thủ tọa Phật Tánh. Thủ tọa hỏi:
– Giấy trắng huyền sa đây từ đâu lại?
Trung An thưa:
– Yếu này lặng lâu chẳng cần nói gấp. Ngày nay bái trình mong một phen xem.
Thủ tọa liền hét:
Trung An thưa: Tác gia!
Thủ Tọa lại hét.
Trung An lấy thơ liền đánh.
Thủ Tọa suy nghĩ.
Trung An thưa:
Chưa rõ ba tám chín
Chẳng khỏi tự trầm ngâm
Trung An lấy thơ lại đánh một cái, nói
– Khi tiếp, Viên Ngộ cùng Phật Nhãn thấy.
Viên Ngộ bảo:
Đánh thủ tọa ta chết rồi!
Phật Nhãn bảo:
– Quan coi ngựa, kẻ chặt củi, có bằng cớ gì?
Trung An thưa:
– Nói gì là quan coi ngựa kẻ chặt củi, chính là long tượng dày xéo.
Viên Ngộ gọi Trung An đến nói:
– Ông vì  sao đánh thủ tọa năm trăm chúng của ta?
Trung An thưa:
Hòa thượng cũng phải ăn một thoi mới được.
Viên Ngộ nhìn Phật Nhãn le lưỡi.
Phật Nhãn nói: Chưa phải.
Rồi nhìn Trung An nói: “Tay không cầm cây cuốc, thả bộ ngồi lưng trâu, người qua lại trên cầu, cầu trôi nước chẳng trôi” ý thế nào?
Trung An cúi mình thưa:
– Chỗ cúng đều là đến thật.
Phật Nhãn cười nói:
– Xưa nay là người trong thất.
Đến như Trung An kia mới gọi là tỏ suốt nguồn chơn. Việc này phải có thầy ấn chứng mới được. Đời nay có người tự cho mình đã ngộ rồi đi ấn chứng cho người này người kia, đây là trái lắm vậy.
Lục Tổ ngộ đạo khi còn là cư sĩ, còn phải đến Tổ Hoằng Nhẫn để cầu ấn chứng. Vĩnh Gia Huyền Giác ngộ đạo nhơn xem kinh Duy Ma, còn phải đến Lục Tổ cầu ấn chứng Tông môn phải có sự truyền thừa, tức là sự ấn chứng của Thầy. Đời nay, kiếm một vị để ấn chứng cho chỗ thấy của mình thật khó gặp, đây chính là mạt pháp vậy.
Ba giai đoạn trên đây cũng tương tự như ba cửa ải của Tổ Hoàng Long. Người tham thiền phải đi suốt qua ba cửa ải này. “Gặp Phật giết Phật, gặp tổ giết Tổ, gặp La Hán hoặc họ hàng đều giết sạch” mới được làm người tự tại thoát khỏi lưới ma.
Tùng Duyệt Đâu Suất đến lễ thiền sư Thanh Tố, Tố đứng tránh nói:
– Tôi do phước mỏng, tiên sư thọ ký chẳng cho vì người. Duyệt càng thêm cung kính. Tố bảo:
– Vì thương lòng thành của ông, trái lời ký của tiên sư. Ông bình sanh sở đắc như thế nào?
Duyệt thưa đủ sở kiến. Tố bảo:
– Khả dĩ vào Phật mà không thể vào ma.
Duyệt thưa:
– Vì sao?
– Há chẳng thấy cổ nhân nói: “Một câu rốt sau mới đến lao quan”. Trải mấy tháng sau, Tố mới ấn khả cho. Khi Tố chưa ấn khả, Duyệt chỉ ở vào các giai đoạn 1, 2 ở trên mà thôi.
* Pháp tánh: tức là cảnh vật. Tâm không khởi vọng, mỗi pháp toàn chơn, ở loài hữu tình gọi là Phật tánh, ở loài vô tình gọi là pháp tánh.
* Mạc đoạn mạc tục: chẳng xua đuổi nó cũng chằng dính mắc theo nó nên gọi là chẳng xua chẳng mắc. Bởi vì sao? Bởi vì pháp tánh vốn không, khởi tâm trừ khử xua đuổi nó là quấy, là rơi vào hang ổ ngoại đạo, mà dính mắc theo nó tiếp tục mãi như thế là đồng với phàm phu, luân chuyển tam đồ, nên nói mạc đoạn mạc tục.
* Giá biên na biên: bên này bên kia hay nói đây đó mọi bên. Người tham thiền đến trình độ nghe thinh thấy sắc thảy đều bình thường rồi thì mỗi mỗi đều từ nơi hông ngựa lưu xuất, đến điền địa này toàn lý là sự, toàn sự là lý. Vì toàn lý là sự nên chẳng nói sự nói lý. Vì toàn sự là lý nên chẳng nói lý nói sự. Như trái bầu nổi trên mặt nước tự do xoay chuyển bên này bên kia đều được tự tại nên gọi là giá biên na biên ứng dụng bất khuyết.
16 – GIẢI THOÁT TẤT THÀNH:
Tổ Quy Sơn nói: “Đời đời nếu không lui sụt” cũng như trong kinh nói “Chế tâm nhứt xứ”. Quả Phật quyết định có kỳ thì trong kinh nói “Vô sự bất biện”.
Vì vô tâm cho nên không lui sụt.
Vì không lui sụt chỉ có ở vô tâm.
Vì vô tâm nên hồn nhiên trôi vào biển Bát Nhã, gọi là quả Phật quyết định có kỳ.
Phần nhiều chúng ta buông mà buông không được hết, không nghĩ thiện thì nghĩ ác, chẳng được vô tâm nên giải thoát khó thành. Nếu buông được hết, chẳng nghĩ thiện chẳng nghĩ ác, dứt hẳn vọng duyên, độc thoát căn trần thì liền như Phật không khác:
Ngoại tức chư duyên
Nội tâm vô đoan
Tâm như tường bích
Khả dĩ nhập đạo.
* Tam giới: Dục giới, sắc giới, vô sắc giới (xem đồ biểu).
* Nhị thập ngũ hữu:
Dục giới:          3
Sắc giới:         18
Vô sắc giới:      4
Tổng cộng      25 cõi
8 cung trời (từ tứ thiên vương đến phi tưởng phi phi tưởng (xem đồ biểu).
19 – HUYỀN MÔN VÔ LỘ:
 Ngài Viên Ngộ nói: “Người học đạo cần như anh hài. Vinh nhục công danh, nghịch tình thuận cảnh trọn động nó không được. Mắt thấy sắc cùng mùi đồng, tai nghe tiếng cùng điếc đồng, như ngu như ngốc, tâm chẳng động như núi Tu Di. Cái này là chỗ thiền khách chơn thật đắc lực. Cổ nhơn nói: “Trùm chăn phủ đầu muôn sự thôi”. Khi này sơn tăng trọn chẳng hiểu. Nếu hay như thế mới có ít phần tương ưng. Tuy nhiên như thế, dù cho một điểm cũng chẳng lừa được y. Núi như xưa là núi, sông như xưa là sông, không được tạo tác không duyên lự. Như mặt trời mặt trăng vận hành trong hư không chẳng từng tạm nghỉ, cũng chẳng nói ta có bao nhiêu danh tướng. Như trời che khắp, tợ đất chở khắp. Vì không tâm nên trưởng dưỡng vạn vật, cũng chẳng nói ta có bao nhiêu công hạnh. Trời đất vì không tâm nên trường cửu, nếu có tâm chắc có chừng hạn.
Người đắc đạo cũng lại như thế, ở trong cái không dụng mà bày công dụng tất cả nghịch tình thuận cảnh đều dụng từ tâm nhiếp thọ. Đến trong đây cổ nhơn còn quở trách, nói:
Liễu liễu khi liễu vô sở liễu
Huyền huyền chỗ huyền còn phải rầy.
Lại nói:
Vào thánh siêu phàm chẳng tạo thinh
Rồng nằm hằng sợ suối trong xanh
Người đời nếu được hằng như thế
Đại địa đâu từng để một tên
Song tuy thế ấy lại phải nhảy ra khỏi sào huyệt mới được.
18 – TRUNG CĂN THỌ PHÁP:
* Bối diệp: tức tam tạng kinh điển. Phạn ngữ gọi là Bối đa la, Tàu gọi cây ngạn ảnh, cây này giống như cây kè, thẳng và cao, lá dài rộng trơn mịn. Bên Tây Trúc khi tả kinh thường lấy lá cây này mà chép nên gọi Kinh Bối đa la hay kinh Bối diệp.
* Trung lưu chi sĩ: Phật tánh vốn không có thượng hạ cao thấp, chỉ vì người nhận được sai khác chẳng đồng nên thành ra có bực thượng bực trung.
Sở dĩ có sự nhận được sự sai khác chẳng đồng do vì tâm chúng sanh nó vốn khiếp nhược, như gã cùng tử chẳng dám nhận gia tài của Trưởng giả giao phó mà cam chịu làm nghề hốt phân. Trưởng giả thấy con như thế, lòng ông thương xót ngại ngùng.
“Một ngày nọ, đứng trong cửa sổ nhìn ra thấy con ông thân thể ốm gầy, quần áo bẩn thỉu nhơ nhớp, ông liền cởi chuỗi anh lạc, thay quần áo rách rưới, bưng thùng hốt phẩn đến nói với các người làm công rằng: Các ông siêng làm, chớ có lười biếng. Dùng phương tiện ấy để gần gũi con ông. Khi đã quen thân, ông mới bảo: Này cháu, tốt lắm! Cháu nên ở đây chớ đi nơi khác, bác sẽ trả thêm tiền công vừa theo ý muốn của cháu. Bác như cha của cháu, chớ nên suy tính. Vì sao? Vì bác tuổi đã già, còn cháu thì không có lười trễ. Từ nay về sau bác nhận cháu là con.
Bấy giờ gã cùng tử tuy gặp việc vui mừng chưa từng có, nhưng vẫn cho mình là khách và làm công hèn, nên suốt hai mươi năm vẫn nhận việc hốt phân như cũ. Hai mươi năm sau, gã cùng tử quen dần, ra vào tự tại nhưng chỗ ở vẫn y như cũ. Một ngày kia ông trưởng  giả có bịnh, tự biết mình còn sống chẳng bao lâu, bèn đem vàng bạc châu báu, kho tàng giao phó hết cho gã cùng tử và bảo rằng: “Cha nay với con không khác, con phải  cố tâm giữ gìn, chớ để sót mất”. Gã cùng tử nhận lời, nhưng chỗ ở vẫn y như cũ, tâm hạ liệt vẫn hết.
Ngày qua tháng, ông trưởng giả sắp mạng chung, gọi con lại và hội cả trong thân tộc quốc vương, đại thần trong dòng vua chúa và các cư sĩ đều có mặt đông đủ. Ông trưởng giả tuyên bố: “Các người nên biết, gã này là con ta, ta sanh nó ra tại trong thành này nhưng nó bỏ ta đi hoang, trải qua hơn năm mươi năm chịu nhiều cay đắng. Sản nghiệp của ta hôm nay giao hết cho nó”. Khi đó gã cùng tử rất đỗi vui mừng và tự nghĩ: Ta thật không có ý mong cầu của báu này tự nhiên đến”.
Ông trưởng giả dụ cho Phật. Gã cùng tử dụ cho chúng sanh bỏ cha đi hoang, trái giác hợp trần. Làm nghề hốt phân dụ cho kẻ hạ tiện bỏ quên kho báu. Tâm hạ liệt ví như lưu chuyển theo trần cảnh. Cha nay với con không khác ý nói Phật và chúng sanh không hai không khác, bình đẳng tột cùng, chẳng thượng chẳng hạ. Ta thật không có ý mong cầu mà của báu này tự nhiên đến cũng như nói vô tâm thì thoát thể hiện thành.
Nhận được chỗ vô tâm ấy rồi thì chẳng nói thượng lưu trung lưu chi hết mà suốt đời phong lưu: “Quen thói phong lưu chẳng phải vay”.
19 – HỐI THÚC TIẾN TU:
Thời giờ như bóng câu qua cửa sở, được thân người như cát dính móng tay. Vì thế ngài Y Am thiền sư mỗi khi trời ngã bóng về chiều, ngài sa nước mắt than: “Ngày nay vẫn chưa được gì, ngày mai chưa biết công phu ra sao!” Ở trong Tăng chúng không bao giờ ngài thốt ra lời vô ích.
Của mười phương tín thí thật khó tiêu. Nếu ngộ được bổn tâm, mỗi ngày tiêu muôn lượng vàng ròng. Nếu không dù một hột cơm một giọt nước cũng phải nhiều phen đền trả.
20 – TÔN TRỌNG LINH TÁNH:
* Trượng phu: người trí, là hiền thánh đắc đạo. Ngài Tuyết Đường nói “khí thắng chí là tiểu nhân, chí thắng khí là đoan nhân chính sĩ, khí và chí ngang nhau là hiền thánh đắc đạo”. Kẻ gọi là trượng phu thì khí và chí phải bằng nhau.
Phẩm Phạm Hạnh nói rằng “tất cả nam nữ nếu đủ bốn pháp thì gọi là trượng phu: Một là gần gũi thiện tri thức, hai là nghe pháp, ba là tư duy pháp, bốn là y pháp tu hành”
* Bỉ ký trượng phu ngã diệc nhĩ: câu này có hai nghĩa. Thứ nhất là để khuyến khích người học đạo, ai kia đã làm được thì ta cũng làm được. Thứ hai, phải hiểu rằng ngã đây tức Phật tánh, người kia làm Phật được, ta cũng làm Phật được, đã là Phật rồi thì tướng ngã đâu còn? Nhưng tướng chân thật của ngã như thế nào?
Phẩm Như Lai tánh nói: “Ví như hai người làm bạn thân nhau, một người là vương tử, một người là dân hèn, hai người đó thường qua lại với nhau. Lúc đó người nghèo thấy vương tử có một con dao tốt, trong lòng thích muốn. Thời gian sau vương tử mang dao trốn qua nước khác. Một hôm người dân hèn ngủ nhờ nhà người khác, trong giấc ngủ mơ nói con dao! Con dao! Người nhà nghe được bắt nộp vua. Vua gạn hỏi: Nhà ngươi nói con dao, nay ở đâu? Người dân bèn thuật rõ việc trước. Nay nhà vua giết thần, banh xẻ tay chân cũng không thể tìm được con dao. Thần cùng vương tử vốn là bạn thân, trước kia dầu tận mắt thấy được con dao nhưng còn không dám chạm đến, huống lại cố ý lấy.
Vua lại hỏi: Lúc nhà ngươi thấy dao hình dạng giống thứ gì?
Người dân thưa: Tâu Đại vương, thần thấy con dao ấy giống như sừng dê đen.
Vua nghe xong vui mừng cả cười, bảo rằng: Nhà ngươi chớ sợ, ta tha cho ngươi. Trong kho tàng của ta đều không có thứ dao ấy, huống là ngươi thấy con dao nơi vương tử.
Lúc đó nhà vui lại hỏi các quan: Các khanh từng thấy con dao đó chăng? Nói xong vua liền băng hà. Triều thần liền lập vương tử khác lên làm vua.
Tân vương lại hỏi các quan: Các khanh từng thấy con dao đó chăng? Hình dáng nó như thế nào?
Các quan đồng tâu: Chúng thần từng thấy hình nó như sừng dê đen.
Vua nói: Trong kho tàng của ta làm gì có thứ dao hình dạng như vậy.
Lần lượt bốn vị tân vương tra tìm con dao ấy đều chẳng đặng.
Sau đó vị vương tử đào vong ngày trước trở về nước, được tôn làm vua, khi lên ngôi xong, tân vương này lại hỏi các quan: Các khanh thấy con dao đó chăng? Hình dạng nó như thế nào?
Các quan tâu: Chúng tôi đều thấy. Rồi đua nhau trình bày hình dáng của con dao. Người thì nói sắc dao thanh tịnh như hoa sen xanh. Người thì lại nói như sừng dê. Người thì lại nói dao màu hồng đỏ như lửa. Người thì nói dao đen tuyền như rắn đen.
Nhà vua cả cười bảo: Các khanh đều chẳng thấy biết hình dáng thật con dao của ta.
Này thiện nam tử! Bồ Tát xuất hiện nơi đời nói tướng chân thật của ngã cũng như vậy. Nói xong bỏ đi, như vương tử mang con dao trốn qua nước khác.
Người phàm phu ngu mê cho rằng tất cả đều có ngã. Như người dân hèn ngủ nhờ nhà người khác, mơ nói con dao! Con dao!
Hàng Thanh Văn, Duyên Giác hỏi các chúng sanh tướng của ngã như thế nào? Đáp rằng: Tôi thấy tướng ngã lớn bằng ngón tay cái. Có kẻ nói như hột gạo. Có kẻ nói như hột cỏ. Cũng có kẻ nói tướng của ngã ở trong tâm, sáng rỡ như mặt trời.
Những chúng sanh đó đều chẳng biết tướng ngã, như các quan chẳng biết hình dáng của con dao.
Bồ tát nói tướng trạng của ngã, hàng phàm phu chẳng rõ biết, vọng tưởng ra các hình tướng của ngã, nhưng những người nói hình dáng của con dao giống như sừng dê đen.
Các hạng phàm phu đó tuần tự nối nhau mà sanh những tà kiến.
Vì dứt những tà kiến đó nên đức Như Lai hiện ra đời, nói pháp vô ngã. Vương tử bảo các quan: trong kho tàng của ta không có thứ con dao như vậy.
Này thiện nam tử! Hôm nay đức Như Lai nói ngã chơn thật gọi là Phật tánh. Phật tánh như vậy ở trong Phật pháp của ta, như con dao tốt kia”.
Đoạn kinh văn trên, vương tử mang dao trốn qua nước khác dụ cho người đã kiến tánh, nắm chắc con dao trong tay, thấy được tướng chơn thật của con dao. Người dân hèn cùng các quan dụ cho những người còn mê chấp, chạy theo sắc tướng, đâu biết đây là tướng huyễn hóa, chẳng phải tướng chơn thật của ngã. Tiên vương là chủ kho tàng, dụ cho người đã kiến tánh. Nói xong liền băng hà là để cho triều thần mỗi người tự khám phá con dao của mình. Bởi tiên vương có nói ra, đó là phần của vua, đâu có ích gì cho triều thần.
Bốn tân vương dụ cho tứ ma: tử ma, thiên ma, ngũ ấm ma và phiền não ma. Vì trong lòng đã ma mị như thế nên tìm Phật chẳng được.
Như vậy tướng chân thật của con dao chỉ có hai người thấy là tiên vương và vương tử đào vong. Rủi thay, một người băng hà một người đào vong. Bọn triều thần còn lại một bề chạy theo thinh sắc, chẳng bao giờ thấy được tướng chân thật của con dao, nên tân vương sau khi về nước đã nói rằng: Các khanh đều chẳng thấy biết hình dáng thật con dao của ta.
21 – HƯNG PHẤN TINH THẦN:
* Dứt ý quên duyên:
Nghĩa của dứt ý quên duyên chẳng phải là chận đứng vọng niệm. Người tham thiền chẳng chạy theo vọng niệm, cũng chẳng chận đứng vọng niệm. Chạy theo vọng niệm là phàm phu, chận đứng vọng niệm là hạ thừa. Giáo chủ Kỳ Na giáo trong khi nhập định, năm trăm cổ xe lớn đi ngang qua mà chẳng hay biết. Phật pháp chẳng phải lý này.
Hãy nghe Tào Sơn hỏi Tăng: Bồ tát trong định nghe voi lớn qua sông rõ nàng, là xuất phát ở kinh nào? Tăng thưa: Kinh Niết Bàn. Tào Sơn hỏi: Trước định nghe hay sau định nghe? Tăng thưa: Dòng Hòa thượng vậy. Tào Sơn nói: dưới bãi tiếp lấy.
Được như giáo chủ Kỳ Na giáo kia cũng chỉ là ngâm nước chết, là vào hầm sâu giải thoát đen ngòm, đoạn hột giống Phật, che lấp bổn tâm, mê mờ tánh giác.
Ở trong định mà chẳng bị rượu tịnh chấp làm say chìm gọi là dứt ý quên duyên. Ở trong trần mà chẳng theo trần vọng tác nên gọi la hòa quang đồng trần. Như chim bay ngang qua hồ, hồ không có ý soi bóng chim bay ngang. Thế nhưng đâu phải không có hình chim trong hồ, cũng chẳng nói có hình chim trong hồ, hữu vô đều chẳng dùng gọi là dứt ý quên duyên.
* Tâm không cảnh tịch:
Tâm xưa nay vốn chẳng dính mắc vào trần cảnh, thênh thang vô ngại nên gọi là tâm không.
Cảnh xưa nay vốn chẳng khuấy động người, bởi cảnh vốn thường lặng nên gọi là cảnh tịch.
Vì chẳng rõ lý này mà lầm chấp gió động phướng động, chẳng hay tâm động. Nếu ngay đây biết đường về, gió phướng tự gió phướng, tâm thể tự tâm thể, gió phướng chẳng tự gió phướng, tâm thể chẳng tự tâm thể, gió phướng chẳng rời tâm thể, tâm thể chẳng rời gió phướng, ấy là tâm không cảnh tịch vậy.
Tâm thể tự tâm thể bởi tâm thể đâu hay dính mắc.
Gió phướng chẳng tự gió phướng bởi gió phướng chẳng thể tự thành.
Tâm thể chẳng tự tâm thể bởi tâm thể nhơn gió phướng mà hiển lộ.
Tổ Tăng Xán nói:
Lục trần bất ác
Hoàn đồng chánh giác
Trí giả vô vi
Ngu nhơn tự phược.
Trí giả vô vi tức là tâm không
Lục trần bất ác tức là cảnh tịch.
Nếu rõ được như thế thì hoàn đồng chánh giác – Nếu chưa được như thế thì không dây tự trói.
22 – NGHIỆP CỦA NAN ĐÀO:
* Cưỡng tác chủ tể: cố gắng làm chủ. Người tu đến địa vị làm chủ được mình đã là khó lắm rồi. Chiến đấu trăm trận trăm thắng không bằng làm chủ được mình. Thật khó thay! Thế mà vẫn bị các Thiền sư quở trách.
Nam Viện hỏi Phong Huyệt:
– Hạ này ở đâu?
Phong Huyệt thưa:
Đồng qua hạ với thị giả Khoách ở Lộc Môn.
– Kia nói với ông điều gì?
– Trước sau chỉ dạy con một bề làm chủ.
Nam viện liền đánh đuổi ra khỏi phương trượng, nói: Nếu như thế cũng chỉ là loại bại trận, có dùng được gì?
Thế mới biết còn làm chủ tể tức là chưa buông được hết vậy. Bởi nếu buông hết rồi thì vật ngã nhất như, còn nói gì làm chủ nữa:
Diệu hữu chơn không bổn thị đồng
Vật ngã nhứt như chơn pháp hữu
Dạ lan đạo thính huyền trung hữu
Nhậm giao hàn nguyệt chiếu xuân phong.
                                           (Khương Du)
* Nghiệp quả sở khiên thành nan đào ty.:
Khi nghiệp quả đã lôi thì khó mà chạy trốn. Kinh nói: “Chẳng phải bay lên không trung, chẳng phải lặn xuống đáy bể, chẳng phải chui vào hang núi, dù tìm khắp thế gian này, chẳng có nơi nào trốn khỏi ác nghiệp đã gây”. Như vậy chúng ta phải làm thế nào?
Phật dạy: “Phải quan sát tất cả phiền não hữu lậu và nhơn của hữu lậu. Vì người trí nếu chỉ quán hữu lậu mà chẳng quán nhơn của hữu lậu thì không thể dứt các phiền não. Vì người trí quán sát hữu lậu do nhơn này mà sanh, nay ta dứt nhơn này thời lậu chẳng còn sanh. Như y sư trước trừ nhơn của bịnh thời bịnh chẳng còn. Do đây nên người trí trước phải quán sát nhơn, kế đó quán sát quả báo, biết rằng từ nhơn lành sanh ra quả lành, từ nhơn ác sanh quả ác. Khi rõ biết quả báo rồi thời xa lìa nhơn ác. Lại phải quán phiền não nhẹ hay nặng, trước lìa phiền não nặng thời phiền não nhẹ tự mất”.
23 – PHÁP LỮ ĐỒNG NĂNG:
* Pháp lữ: bạn pháp, bạn nương nhau để học đạo.
Thời Tống có hai người bạn, một người tên Đạo Khiêm, học Thiền đã nhiều năm nhưng chưa nhập lý. Được phái đi hành cước phương xa, ông tỏ vẻ thất vọng. Một cuộc viễn du kéo dài đến sáu tháng trời chắc rằng sẽ là một chướng đạo hơn là trợ đạo cho ông. Một ông bạn đồng môn tên là Tông Nguyên thấy thương hại bèn nói: “Tôi sẽ theo ông trên đường hành cước, sẽ làm những gì có thể làm được giúp ông. Thế rồi cả hai lên đường.
Một đêm kia, Đạo Khiêm tuyệt vọng, nài nỉ người bạn đường giúp ông vén màn bí mật của vũ trụ và nhân sinh. Tông Nguyên đáp: “Tôi sẵn sàng giúp ông bất cứ gì, nhưng có năm điều tôi không thể giúp ông được, tự ông phải đảm đương lấy.
Đạo Khiêm xin cho biết là những điều gì. Ông bạn đáp:
Chẳng hạn như khi ông mặc áo ăn cơm thì tôi không thể ăn mặc dùm ông được, ông phải tự mình ăn mặc lấy. Khi ông mắc ỉa mắc đái ông phải tự mình lo liệu, tôi không thể làm thay ông. Sau hết chính là ông, không thể ai khác, phải mang cái thây thúi của ông trong suốt khoảng đường dài.
Khi nghe những lời trên, Đạo Khiêm bỗng nhiên sáng tỏ. Bấy giờ Tông Nguyên mới nói rằng công quả của ông nay đã tròn, từ nay sự đi chung chẳng cần nữa. Thế rồi hai người chia tay.
Bạn pháp như thế thật hiếm có vậy.
24 – TAM GIỚI MỘNG HUYỄN:
* Huyễn thân:
Nhà mộng hoa đốm là dụ cho thân huyễn. Nhà mộng do ngủ mê mà có, hoa đốm do nhặm mắt mà sanh. Mạng căn vốn không, tứ đại giả hợp nên gọi là huyễn.
Như nhà huyễn thuật lấy cây cỏ làm hình nộm, cũng cử động đi đứng như người, xanh vàng đỏ trắng mỗi mỗi đều bày ra. Nếu thâu cái huyễn kia thì các hình nộm chẳng còn. Chúng sanh vì lầm chấp các hình nộm xanh vàng đỏ trắng này mà lăn lóc ba cõi.
Thiền sư Pháp Diễn vào thành, thấy một hàng rào trong là người gỗ, liền lại gần xem. Hoặc thấy đẹp đẽ kỳ lạ, hoặc thấy xấu xa vô kể, chuyển động đi ngồi, xanh vàng đỏ trắng mỗi mỗi thấy rõ. Khi xem kỹ vốn là những miếng vải xanh bọc lại, bên trong có người. Pháp Diễn không thể chịu nổi bèn đến hỏi: – Ông tên gì? Kia nói: – Hòa thượng già xem là xong, hỏi tên làm gì? Đại chúng! Lão tăng bị kia hỏi một câu khiến không lời có thể đáp, không lý có thể bày. Lại có người vì sơn tăng nói được chăng?
Hôm qua trong ấy rơi cành
Ngày nay trong đây nhổ gốc.
Thấy được chỗ cùng tột của cái huyễn này, tưởng không ai bằng Bàng Uẩn, trước khi thị tịch đã an nhiên nói kệ:
Không hoa lạc ảnh
Dương diệm phiên ba.
* Vô minh: mờ ám đối với lý với sự gọi là vô minh.
– Căn bản vô minh: vô minh nơi lý.
– Chi mạt vô minh: vô minh nơi sự.
Một niệm chưa động gọi là căn bản vô minh, cũng gọi là vô thỉ vô minh.
Một niệm đã động gọi là chi mạt vô minh, cũng gọi là nhất niệm vô minh.
Khi tâm đã thông thì phá sạch hai thứ vô minh trên.
Tham thoại đầu tức tham chỗ một niệm chưa động. Nhìn thẳng vào vô thỉ vô minh tức nhìn chỗ một niệm chưa động. Một niệm chưa động ấy là thoại đầu. Một niệm đã động ấy là thoại vỹ. Nói thoại đầu thoại vỹ đều là vô minh, hãy nói một câu thoát khỏi vô minh xem?
Đèn đốt dưới lòng sông
Gà bươi đầu cột phướng
25 – NIẾT BÀN TỊCH TĨNH:
* Tâm cảnh đều quên
Chẳng ghi chẳng nhắc
Cũng đồng với Tứ tổ nói: “Nhứt thiết bất lưu vô khả ký ức, hư minh tự chiếu bất lao tâm lực”.
Ngài Bàn Sơn cũng nói: “Trăng tâm tròn vìn, sáng trùm vạn tượng, sáng không chiếu cảnh, cảnh cũng chẳng còn, sáng cảnh đều quên, lại là vật gì?”.
Pindola, một nhà sư Nhật Bản, khi mang bình bát đi khất thực. Bấy giờ có một thanh niên bịnh cùi đem cơm ra bố thí, chẳng may ngón tay cùi của chàng rơi luôn vào trong bình bát của nhà sư. Pindola về đến tịnh thất. Giờ thọ thực cùng chúng thọ trai. Nhà sư đã bình lặng ăn luôn ngón tay cùi. Trước đây rất lâu xa, người viết có làm thơ tán thán Pindola như sau:
Ăn luôn cả ngón tay cùi
Bát cơm bố thí không người không ta.
Chân Đại đức Pindola
Nghìn sau vang động pháp tòa Tịnh Danh
Tâm cảnh cu quyên tức tâm cảnh cả hai đều chẳng còn, chẳng dính tâm cũng chẳng mắc cảnh, trong ngoài nhứt như, một vật cũng chẳng vướng
Xưa có một vị tăng hỏi ngài Triệu Châu:
– Khi một vật không đem đến thì thế nào?
Triệu Châu đáp:
– Buông hết xuống!
– Một vật không đem đến, buông xuống cái gì?
– Buông không được thì gánh lên.
Tâm cảnh đều quên là đến điền địa này.
* Sáu căn an nhiên
   Đến đi lặng tắt
Là đồng với Chứng Đạo Ca nói.
“Hành diệc thiền tọa diệc thiền
Ngữ mặc động tịnh thể an nhiên.”
Vì thể an nhiên nên “vô sở tùng lai diệc vô sở khứ”, đến mà chưa từng cất bước, đi mà chẳng từng dời gót, sáu căn an nhiên vắng lặng nên Tổ Từ Minh nói “chết cổi áo trời hạ, sanh đắp mền trăng đông”.
Vì sáu căn an nhiên nên thường ly thế sự. Vì đến đi lặng tắt nên bầu bạn cùng trăng mây.
Chọn nơi xa vắng hợp lòng quê
Quanh năm mặc khách đến hay về
Có khi lên thẳng đầu non nguyệt
Cất tiếng cười dòn vọng sơn khê
Đó là Thích sử Lý Tường làm thơ tặng ngài Dược Sơn, nguyên văn như sau:
Tuyển đắc u cư hiệp dã tình
Chung niên vô tống diệc vô nghinh
Hữu thời trực thướng cô phong đảnh
Nguyệt hạ phi vân tiếu nhất thinh.
                             (Lý Tường)
Và đó cũng là tâm trạng của Đại Mai pháp thường
Cây khô nép lạnh rừng dài
Xuân qua mấy độ chẳng thay tấc lòng
Khách tiều gặp chẳng buồn trông
Người thành thôi chớ nhọc lòng tìm nơi
Lá sen kết áo che trời
Hoa tùng lót dạ nở ngời chân mây
Thế nhân đã đến nơi này
Thì thôi lại chuyển am gầy lên non.
Toàn văn như sau:
Tồi tàn khô mộc ỷ hàn lâm
Kỷ độ phùng xuân bất biến tâm
Tiều khách ngộ chi du bất cố
Dĩnh nhơn na đắc khổ truy tầm
Nhất trì hà diệp y vô tận
Sổ thụ tùng hoa thực hữu dư
Cương bị thế nhân tri trú xứ
(Đại Mai Pháp Thường)
* Một tâm chẳng sanh
   Muôn pháp đều bặt.
Lục tổ nói: “Na già thường tại định
                   Không lúc nào chẳng định”.
là tóm thâu toàn bộ ý của nhứt tâm bất sanh.
Ta và pháp giới không hai không khác là nhất. Một niệm chẳng sanh sáng trùm vạn tượng là tâm.
Ta và pháp không hai không khác, chẳng sanh một niệm, sáng tỏ tột cùng gọi là nhứt tâm.
Thói thường, ta không nghĩ thiện thì nghĩ ác. Đâu biết rằng thiện ấy cũng chính là ta, ác ấy cũng chính là ta. Diêm Vương cũng chính là ta, Niết Bàn cũng chính là ta nên Niết Bàn chẳng say đắm ta. Tất cả chúng sinh và ta không hai không khác. Vì tất cả chúng sinh và ta không hai không khác nên độ vô lượng vô số vô biên chúng sinh mà không có chúng sinh nào được độ. Sở dĩ có một phiền não nổi lên bởi vì còn thấy rằng ta và phiền não là hai mặt đối địch. Nếu thấy chắc thật ta chính là phiền não ấy thì phiền não đặt ở chỗ nào? Các nhà dâm cũng chính là ta, các quán rượu cũng chính là ta thì mười phương pháp giới đặt để chỗ nào? Mười phương pháp giới không có chỗ để nên nói vạn pháp cu tức.
Điều này đánh đổ nguyên lý đồng nhất trong triết học Tây phương. A là A, A chẳng thể nào là phi A. Người học Phật nói, gọi là A đó cũng chẳng phải A mới thực sự là A vậy. Gọi là thiên đường đó cũng chẳng phải thiên đường mới thực sự là thiên đường.
Thánh Đức thái tử đã y theo kinh Thắng Man mà phát nguyện rằng: “Nguyện từ nay đến khi đắc quả vô thượng chánh đẳng chánh giác, đối với sắc thân kẻ khác, con không sanh tâm đố kỵ” Vì sao không sanh tâm đố kỵ? Vì chúng sanh ấy chính là ta đó vậy. Thấy một chúng sanh nào trước mắt như thấy chính ta thì cái thấy không còn. Vì cái thấy không còn nên đối đãi hết. Vì đối đãi hết nên không cần phải thể hiện tâm từ mà tâm từ tự đầy đủ.
Bồ tát thấy người nữ trước mắt, trong tâm không sanh tướng nữ. Vì sao không sanh tướng nữ? Vì trí đã muội, vì cảnh đã vắng, nên Bát Nhã Vô Tri Luận nói: “Trí càng muội chiếu càng sáng, thần càng lặng ứng càng mạnh, cảnh càng vắng cảm càng nhạy”. Một khi năng sở càng vong bặt thì càng thầm hợp vô sanh.
Tam Tổ nói: Nhứt tâm bất sanh
                    Vạn pháp vô cữu
Tùng Duyệt Đâu Suất nói:
Đẳng nhàn hành xứ
Bộ bộ giai như
Tuy cư thinh sắc
Ninh trệ hữu vô
Nhứt tâm mi dị
Vạn pháp phi thù
đều nói lên nghĩa của “một tâm chẳng sanh, muôn pháp đều bặt”.
Có bài tụng kèm ở sáu câu cuối của bài cảnh sách:
Tâm cảnh cu quyên
Thông reo đầu ngõ
Mạc ký mạc ức
Không tay xách giỏ
Lục căn di nhiên
Phố chợ không người
Hành trú tịch mặc
Thịt cá đầy rổ
Nhất tâm bất sanh
Chân đội nón cời
Vạn pháp cu tức
Nương mây đạp cỏ.
PHẦN BA
QUY SƠN CẢNH SÁCH VĂN
1 – NGHIỆP LỤY THỌ THÂN  
Phù nghiệp hệ thọ thân
vị miễn hình lụy
bẩm phụ mẫu chi di thể
giả chúng duyên nhi cộng thành
tuy nãi tứ đại phù trì
thường tương vi bội
                   Dịch
Vì nghiệp buộc thọ thân
chưa khỏi hình lụy
nhận di thể của cha mẹ
mượn các duyên mà cộng thành
tuy được bốn đại giữ gìn
lại thường xung đột


 

2- VÔ THƯỜNG TẤN TỐC
Vô thường lão bịnh
bất dữ nhơn kỳ
triêu tồn tịch vong
sát na dị thế
thí như xuân sương hiểu lộ
thúc hốt tức vô
ngạn thọ tỉnh đằng
khởi năng trường cửu
niệm niệm tấn tốc
nhất sát na gian
chuyển tức tức thị lai sanh
hà nãi yến nhiên không quá
          Dịch
Già bịnh bất chợt
chẳng hẹn cùng người
sớm còn tối mất
chớp mi đổi đời
ví như sương xuân móc sớm
thoắt chốc đã không
cây bờ dây giếng
đâu mong bền vững
niệm niệm mau chóng
trong một chớp mi
ngừng thở đã qua đời sau
sao lại chịu yên trôi lọt?


 

3 – LY GIA THẾ PHÁT
Phụ mẫu bất cung cam chỉ
lục thân cố dĩ khí ly
bất năng an quốc trị bang
gia nghiệp đốn quyên kế tự
miến ly hương đảng
thế phát bẩm sư
nội cần khắc niệm chi công
ngoại hoằng bất tranh chi đức
huýnh thoát trần thế
ký kỳ xuất ly       
          Dịch
Cha mẹ chẳng dâng ngon ngọt
sáu thân đã hẳn xa lìa
không tài trị nước an dân
gia tộc bỏ phần thừa kế
xa làng bỏ lệ
cạo tóc theo thầy
bên trong siêng công khắc niệm
bề ngoài tỏa đức vô tranh
xa cách thế trần
cầu mong giải thoát.
4 – DANH LỢI BÔN TẦM
Hà nãi tài đăng giới phẩm
tiện ngôn ngã thị tỷ kheo
đàn việt sở tu
khiết dụng thường trú
bất giải thổn tư lai xứ
vị ngôn pháp nhĩ hiệp cúng
khiết liễu tụ đầu huyên huyên
đãn thuyết nhân gian tạp thoại
nhiên tắc nhất kỳ sấn lạc
bất tri lạc thị khổ nhân          
nẵng kiếp tuẩn trần
vị thường phản tỉnh
thời quang yểm một
tuế nguyệt sa đà
thọ dụng ân phồn
thí lợi nồng hậu
động kinh niên tải
bất nghĩ khí ly
tích tụ tư đa
bảo trì huyễn chất
Đạo Sư hữu sắc
giới húc tỷ kheo
tiến đạo nghiêm thân
tam thường bất túc
nhân đa ư thử
đam vị bất hưu
nhựt vãng nguyệt lai
táp nhiên bạch thủ
hậu học vị văn chỉ thú
ưng tu bác vấn tiên tri
tương vị xuất gia
          Dịch
sao mới bước lên giới bậc
đã vội xưng là tỳ kheo?
ăn của thí chủ
dùng của thường trụ
không xét của ấy từ đâu
lại bảo cúng là phải phép
ăn rồi xúm đầu lép nhép
chỉ nói chuyện tạp nhân gian
một dịp đua vui như thế
chẳng biết vui là khổ nhân
bao kiếp theo trần
chưa từng xét lại
thì giờ trôi chảy
năm tháng bỏ bê
thọ ơn nhiều bề
thí lợi chồng chất
năm này năm khác
chẳng nghĩ xa lìa
chất chứa cho nhiều
nuông chìu xác huyễn
Đạo Sư đã khuyến
Tỷ Kheo noi đường
tu sửa vóc hương
tam thường chẳng đủ
nhiều người như cũ
đắm vị không ngừng
ngày qua tháng lại
vụt đã bạc đầu
người sau chưa nghe chỉ thú
phải nên rộng hỏi bề trên
đâu phải xuất gia
quý cầu y thực
mưu cầu cơm áo?


 

5 – GIÁO PHÁP VÔ CHUYÊN
Phật tiên chế luật
khởi sáng phát mông
quỹ tắc uy nghi
tịnh như băng tuyết
chỉ trì tác phạm
thúc liễm sơ tâm
vi tế điều chương
cách chư ổi tệ
tỳ ni pháp tịnh
tằng vị thao bồi
liễu nghĩa thượng thừa
khởi năng chân biệt
khả tích nhất sanh không quá
hậu hối nan truy
giáo lý vị thường thố hoài
huyền đạo vô nhân khế ngộ
Dịch
Phật trước chế luật
khai sáng chỗ mê
phép tắc oai nghi
sạch như băng tuyết
đình giữ cử phạm
nhiếp tâm buổi đầu
tiết mục tinh sâu
ngăn ngừa tội tạp
tỳ ni yếu pháp
chưa từng trau dồi
liễu nghĩa thượng thừa
tỏ phân sao được
đáng tiếc một đời buông trôi
sau hối khó kịp
giáo lý chưa từng thao thức
huyền đạo rất mực khó vào
6 – TỰ CHỦ TOÀN VÔ
Cập chí niên cao lạp trưởng
không phúc cao tâm
bất khẳng thân phụ lương bằng
duy tri cứ ngạo
vị am pháp luật
tập liễm toàn vô
hoặc đại ngữ cao thanh
xuất ngôn vô độ


 

bất kính thượng trung hạ tọa
bà-la-môn tụ hội vô thù
oản bát tác thanh
thực tất tiên khởi
khứ tựu quai giác
tăng thể toàn vô
khởi tọa chung chư
động tha tâm niệm
bất tồn ta ta quỷ tắc
tiểu tiểu uy nghi
tương hà thúc liễm hậu côn
tân học vô nhân phỏng hiệu
          Dịch
Đến khi tuổi già hạ lớn
bụng rỗng tâm cao
không chịu nương gần bạn đạo
chỉ biết kiêu ngạo
chưa rành kinh luật
thâu nhiếp đều không
hoặc to giọng lớn tiếng
buông lời kém nhã
không kính thượng trung hạ tọa
chẳng khác bà-la-môn bệ rạt
khua ồn chén bát
ăn rồi dậy trước
đi ở trái phép
tăng thể đều không
đứng ngồi chao đảo
động tâm niệm người
chẳng còn tí ti phép tắc
chút chút oai nghi
lấy gì thúc liễm người sau
sơ học do đâu y cứ?
7 – XÚC SỰ BẤT THÔNG
Tài tương giác sát
tiện ngôn ngã thị sơn tăng
vị văn Phật giáo hành trì
nhất hướng tình tồn thô tháo
như tư chi kiến
cái vị sơ tâm dung đọa
thao thiết nhân tuần
nhẫm nhiễm nhân gian
toại thành sơ dã
bất giác lủng chủng lão hủ
xúc sự diện tường
hậu học tư tuân
vô ngôn tiếp dẫn
túng hữu đàm thuyết
bất thiệp điển chương
hoặc bị khinh ngôn
tiện trách hậu sinh vô lễ
sân tâm phấn khởi
ngôn ngữ cai nhân
Dịch
Người cảnh giác cho
liền nói ta là sư núi
chưa nghe Phật dạy gìn dồi
một hướng tình lồng rơm rế
cái thấy như thế
là vì sơ tâm bê trễ
ham hố bời bời
lây lất theo đời
hóa thành cổ lổ
nào hay lóng cóng già yếu
chạm việc đụng vách
hậu học thưa hỏi
không lời dẫn dắt
bí lối nói liều
chẳng hiệp điển kinh
hoặc bị lời khinh
liền trách hậu sinh vô lễ
nổi cơn giận dỗi
môi miệng lướt người
8 – LÂM CHUNG KHỔ CẢNH
Nhất triêu ngọa tật tại sàng
chúng khổ oanh triền bức bách
hiểu tịch tư thổn
tâm lý hồi hoàng
tiền lộ mang mang
vị tri hà vãng
tùng tư thỉ tri hối quá
lâm khát quật tỉnh hề vi
tự hận tảo bất dự du
niên vãn đa chư quá cựu
lâm hành huy hoắc
phạ bố chương hoàng
hộc xuyên tước phi
thức tâm tùy nghiệp
như nhân phụ trái
cường giả tiên khiên
tâm tự đa đoan
trọng xứ thiên trụy
vô thường sát quỷ
niệm niệm bất đình
mạng bất khả diên
thời bất khả đải
nhân thiên tam hữu
ưng vị miễn chi
như thị thọ thân
phi luận kiếp số
Dịch
Một mai nằm bịnh góc giường
các khổ vây dồn bức bách
sớm tối lo nghĩ
trong lòng kinh hoàng
đường trước mờ mịt
chưa biết về đâu
mới biết hối hận không kịp
đến khát mới đào giếng sâu
tự hận sớm chẳng lo tu
về chiều xiết bao tệ ác


 

khi đi quay quắt
khiếp sợ hãi hùng
lụa thủng chim bay
thức tâm tùy nghiệp
như người thiếu nợ
ai mạnh kéo trước
tâm nhiều mối trược
chỗ nặng lôi vào
vô thường quỷ dữ
niệm niệm chẳng dừng
mạng chẳng kéo dài
giờ không chờ đợi
người trời cõi
chưa khỏi trôi lăn
như vậy thọ thân
không luận kiếp số
9 – CẢNH SÁCH TƯƠNG THÂN
Cảm thương thán nhạ
ai tai thiết tâm
khởi khả giam ngôn
đệ tương cảnh sách
sở hận đồng sanh tượng quý
khứ thánh thời diêu
Phật pháp sanh sơ
nhân đa giải đãi
lược thân quản kiến
dĩ hiểu hậu lai
nhược bất quyên căng
thành nan luân hoán
Dịch
Cảm thương than thở
chua xót tơ lòng
lời chẳng thể phong
truyền nhau răn nhắc
hận là cùng sanh tượng cuối
cách Thánh xa thời
Phật pháp chơi vơi
người nhiều biếng trễ
bày chỗ thấy hẹp
khuyên bảo người sau
nếu không bớt kiêu
khó mà chuyển đổi
10 – XUẤT GIA CÔNG HẠNH
Phù xuất gia giả
phát túc siêu phương
tâm hình dị tục
thiệu long thánh chủng
chấn nhiếp ma quân
dụng báo tứ ân
bạt tế tam hữu
nhược bất như thử
lạm xí tăng luân
ngôn hạnh hoang sơ
hư triêm tín thí
tích niên hành xứ
thốn bộ bất di
hoảng hốt nhất sanh
tương hà bằng thị
huống nãi đường đường tăng tướng
dung mạo khả quan
giai thị túc thực thiện căn
cảm tư dị báo
tiện nghĩ đoan nhiên củng thủ
bất quý thốn âm
sự nghiệp bất cần
công quả vô nhân khắc tựu
khởi khả nhất sanh không quá
ức diệc lai nghiệp vô tỳ.
Dịch
Bậc gọi xuất gia
bước đi bặt dấu
tâm hình khác tục
nối thành dòng Phật
rúng động ma quân
đền đáp bốn ơn
cứu giúp ba cõi
nếu chẳng như vậy
trà trộn tăng đoàn
nói sai làm phí
hư hao tín thí
cứ quen đường cũ
tấc bước không dời
hoảng hốt một đời
lấy gì nương cậy
huống chi Tăng tướng rỡ ràng
dung mạo dễ coi
đều do gieo trồng căn lành
cảm nên báo lạ
đâu thể khoanh tay ngồi đợi
chẳng tiếc bóng câu
sự nghiệp chẳng cầu
công quả vô nhân khắc tựu
công quả do đâu thành tựu
đâu phải một đời tàn lụi
nghìn sau cũng chẳng ra gì
11- NGUYỆN LỰC HÀM TÀNG
Từ thân quyết chí phi truy
ý dục đẳng siêu hà sở
hiểu tịch tư thổn
khởi khả thiên diên quá thời
tâm kỳ Phật pháp đống lương
dụng tác hậu lai quy cảnh
thường dĩ như thử
vị năng thiểu phần tương ưng
Dịch
Từ thân quyết khoác pháp y
ý muốn vượt lên ba cõi
sớm tối mong mỏi
đâu thể chần chừ qua giờ
tâm nguyền trụ cột Phật thừa
làm gương đời sau y cứ
thường nguyện như vậy
mới mong đôi phần tương ưng
12 – NGÔN HẠNH TƯƠNG ƯNG
Xuất ngôn tu thiệp ư điển chương
đàm thuyết nãi ban ư kê cổ
hình nghi đĩnh đạc
ý khí cao nhàn
Dịch
Mở lời phải hiệp với tuỷ kinh
luận nói phải nhằm tông cổ đức
hình nghi chững chạc
ý khí ôn nhuần
13 – TRẠCH BẠN TƯƠNG GIAO
Viễn hành yếu giả lương bằng
sác sác thanh ư nhĩ mục
trú chỉ tất tu trạch bạn
thời thời văn ư vị văn
cố vân
“sanh ngã giả phụ mẫu”
thành ngã giả bằng hữu”
thân phụ thiện giả
như vụ lộ trung hành
tuy bất thấp y
thời thời hữu nhuận
hiệp tập ác giả
trưởng ác tri kiến
hiểu tịch tạo ác
tức mục giao báo
một hậu trầm luân
nhất thất nhân thân
vạn kiếp bất phục
Dịch
Đi xa nương náu bạn hiền
mỗi mỗi trong veo tai mắt
trú ở phải nên chọn bạn
thời thời nghe điều chưa nghe
nên nói
“sanh ta là cha mẹ        
thành ta là bằng hữu    
gần gũi người hiền
như đi trong sương móc
tuy không ướt áo
mà thường thấm đượm
giao du kẻ ác
thêm hay thấy ác
sớm tối tạo ác
quả báo trước mắt
chết rồi chìm đắm
khi mất thân người
muôn kiếp khó lại
14 – DỤC ĐỨC THAO TÂM
Trung ngôn nghịch nhĩ
khởi bất minh tâm giả tai
tiện năng tháo tâm dục đức
hối tích thao danh
uẩn tố tinh thần
huyên hiêu chỉ tuyệt
Dịch
Lời ngay tai trái
sao chẳng ghi vào lòng dạ?
mới hay lắng lòng bồi đức
vùi vết chôn tên
ròng rặt tinh thần
nghỉ ngưng rộn náo
15- THIỀN TÔNG YẾU CHỈ
Nhược dục tham thiền học đạo
đốn siêu phương tiện chi môn
tam khế huyền tân
nghiên cơ tinh yếu
quyết trạch thâm áo
khải ngộ chân nguyên
bác vấn tiên tri
thân cận thiện hữu
thử tôn nan đắc kỳ diệu
thiết tu tử tế dụng tâm
khả trung đốn ngộ chánh nhân
tiện thị xuất trần giai tiệm
thử tắc phá tam giới
nhị thập ngũ hữu
nội ngoại chư pháp
tận tri bất thật
tùng tâm biến khởi
tất thị giả danh
bất dụng tương tâm thấu bạc
đãn tình bất phụ vật
vật khởi ngại nhân
nhậm tha pháp tánh chân lưu
mạc đoạn mạc tục
văn thinh kiến sắc
cái thị tầm thường
giá biên na biên
ứng dụng bất thuyết
Dịch
Như muốn tham thiền học đạo
vượt lên cửa ngõ phương tiện
tâm ghé bến mầu
soi xét tinh mật
vạch cùng chỗ tột
tỏ suốt nguồn chơn
rộng hỏi bề trên
nương gần thiện hữu
tông này khó nắm chỗ diệu
phải trong tơ tóc dụng tâm
mới mong đốn ngộ chánh nhân
mở đầu thềm bực xuất trần
thế là phá ba cõi
hoai mươi lăm loài
trong ngoài các pháp
thấy suốt chẳng thật
từ tâm biến khởi
đều là tên suông
chẳng cần để tâm theo vật
tâm đã chẳng theo vật
vật chẳng ngại tâm
mặc cho pháp tánh lưu tràn
chẳng buông chẳng mắc
nghe thinh thấy sắc
thảy đều bình thường
đây đó mọi bên
thọ dụng chẳng thiếu
16 – GIẢI THOÁT TẤT THÀNH
Như tư hành chỉ
thật bất uổng phí pháp nhục
diệc nãi thù báo tứ ân
bạt tế tam hữu
sanh sanh nhược năng bất thoái
Phật giai quyết định khả kỳ
vãng lai tam giới chi tân
xuất một vị tha tác tắc
Dịch
Chỗ làm như thế
thật không uổng mặc áo pháp
cũng là đền đáp bốn ơn
cứu giúp ba cõi
đời đời nếu không lui sụt
quả Phật quyết định có kỳ
là khách qua lại ba cõi
ra vào làm mẫu cho ngườ
17 – HUYỀN MÔN VÔ LỘ
Thử chi nhất học
tối huyền tối diệu
đãn biện khẳng tâm
tất bất tương tram
Dịch
Tâm tông như thế
cùng huyền cực diệu
chỉ lo bền chịu
ắt chẳng dối lừa
18 – TRUNG CĂN THỌ PHÁP
Nhược hữu trong lưu chi sĩ
vị năng đốn siêu
thả ư giáo pháp lưu tâm
ôn tầm bối diệp
tinh sưu nghĩa lý
truyền xướng phu dương
tiếp dẫn hậu lai
báo Phật ân đức
thời quang diệc bất hư khí
tất tu dĩ thử phù trì
trú chỉ uy nghi
tiện thị tăng trung pháp khí
khởi bất kiến ỷ tùng chi cát
thượng tủng thiên tầm
phụ thác thắng nhân
phương năng quảng ích
khẩn tu trai giới
mạc man khuy du
thế thế sanh sanh
thù diệu nhân quả                                  
          Dịch
Như người ở bậc trung thừa
chưa thể chóng vượt
nương nơi giáo pháp thao dượt
ôm tìm kinh bối
gạn tột nghĩa lý
truyền bá phô diễn
tiếp dẫn người sau
báo đền ơn Phật
thì giờ cũng chớ để mất
phải y như thế phù trì
động tĩnh oai nghi
trong Tăng làm hàng pháp khí
chẳng thấy dây leo quấn cội tùng
cao vót ngàn tầm
nhờ gá nhân lành
mà được ích lớn
gấp gìn trai giới
chớ dối bỏ sót
đời đời sanh qua
nhân quả thù diệu
19 – HỐI THÚC TIẾN TU
Bất khả đẳng nhàn quá nhật
ngột ngột độ thời
khả tích quang âm
bất cầu thăng tiến
đồ tiêu thập phương tín thí
diệc nãi cô phụ tứ ân
tích lụy chuyển thâm
tâm trần dị ủng
xúc đồ thành trệ
nhân sở khinh khi
          Dịch
Chẳng thể nhàn hạ qua ngày
lảng lảng qua giờ
chẳng tiếc bóng câu
chẳng cầu thăng tiến
hoang tiêu mười phương tín thí
cũng là cô phụ bốn ơn
bịn rịn cho lắm
tâm trần dễ che
chạm việc rối rắm
người người khinh chê
20 – TÔN TRỌNG LINH TÁNH
Cố vân
“Bỉ ký trượng phu ngã diệc nhĩ
bất ưng tự khinh nhi thoái khuất”
nhược bất như thử
đồ tại truy môn
nhẫm nhiễm nhất sanh
thù vô sở tích
          Dịch
Nên nói
“Kia đã trượng phu ta cũng được
chẳng nên tự khinh mà chùng bước
nếu chẳng như vậy
hoang phế cửa thiền
lê lết một đời
mà không chỗ ích
21- HƯNG PHẤN TINH THẦN
Phục vọng
hưng quyết liệt chi chí
khai đặc đạt chi hoài
cử thố khán tha thượng lưu
mạc thiện tùy ư dung bỉ
kim sanh tiện tu quyết đoán
tưởng liệu bất do biệt nhân
tức ý vong duyên
bất dữ chư trần tác đối
tâm không cảnh tịch
chỉ vị cửu trệ bất thông
          Dịch
Cúi mong
phát dõng mãnh cái chí
lập rộng cao cái nguyền
mỗi mỗi dòm lên thượng lưu
đừng theo thói thường hèn mạt
đời này giải quyết cho xong
do mình chẳng do ai khác
dứt ý quên duyên
chẳng cùng theo trần vọng tác
tâm không cảnh lặng
chỉ vì trệ lâu chẳng thông
22-  NGHIỆP QUẢ NAN ĐÀO
Thục lãm tư văn
thời thời cảnh sách
cưỡng tác chủ tể
mạc tuẫn nhân tình
nghiệp quả sở khiên
thành nan đào tỵ
thanh hòa hưởng thuận
                                 
hình trực ảnh đoan
nhân quả lịch nhiên
khởi vô ưu cụ
cố kinh vân:
“Giả sử bách thiên kiếp
sở tác nghiệp bất vong
nhân duyên hội ngộ thời
quả báo hoàn tự thọ”
cố tri tam giới
hình phạt oanh bán sát nhân
nỗ lực cần tu
mạc không quá nhựt
Dịch
Thuộc làu văn này
giờ giờ cảnh sách
cố gắng làm chủ
chớ lụy tình đời
nghiệp quả đã lôi
khó mong chạy trốn
hình ngay bóng thẳng
tiếng dịu vang êm
nhân quả rành rành
đâu không lo sợ
Nên kinh nói:
“Giả sử trăm nghìn kiếp
nghiệp tạo vẫn không mất
nhân duyên hội đủ rồi
quả báo mình tự chuốc”
Nên biết ba cõi
hình phạt ràng buộc giết người
nỗ lực chuyên tu
ngày đừng qua rỗi
23 – PHÁP LỮ ĐỒNG ĐĂNG
Thâm tri quá hoạn
phương nãi tương khuyến hành trì
nguyện bá kiếp thiên sanh
xứ xứ đồng vi pháp lữ
nãi vi minh viết
          Dịch
Rõ sâu tội lỗi
nên mới khuyên nhau gìn dồi
nguyện trăm kiếp ngàn đời
xứ xứ cùng làm bạn pháp
nên làm minh rằng
24 – TAM GIỚI MỘNG HUYỄN
Huyễn thân mộng trạch
Không trung vật sắc
Tiền tế vô cùng
Hậu tế ninh khắc
Xuất thử một bỉ
Thăng trầm bì cực
Vị miễn tam luân
Hà thời hưu tức
Tham luyến thế gian
Ấm duyên thành chất
Tùng sanh chí lão
Nhất vô sở đắc
Căn bản vô minh
Nhân tư bị hoặc
Quang âm khả tích
Sát na bất trắc
Kim sanh không quá
Lai thế trất tắc
Tùng mê chí mê
Giai nhân lục tặc
Lục đạo vãng hoàn
Tam giới bồ bặc
          Dịch
Thân huyễn nhà mộng
Trong không hoa mắt
Mé trước không cùng
Ngằn sau xa lắc
Nổi đây chìm kia
Lên xuống khổ cực
Chưa khỏi ba luân
Bao giờ thôi dứt
Mê đắm thế gian
Ấm duyên thành chất
Từ sanh đến lão
Toàn không chỗ đắc
Căn bản vô minh
Vốn tự lầm lạc
Thời giờ đáng tiếc
Chớp mi khó bắt
Đời này trôi suông
Đời sau bế tắc
Từ mê đến ngộ
Toàn do sáu giặc
Qua lại sáu đường
Ba cõi lăn lóc
25 – NIẾT BÀN TỊCH TĨNH
Tảo phóng minh sư
Thân cận cao đức
Quyết trạch thân tâm
Khử kỳ kinh cức
Thế tự phù hư
Chúng duyên khởi bức
Nghiên cùng pháp lý
Dĩ ngộ vi tắc
Tâm cảnh câu quyên
Mạc ký mạc ức
Lục căn di nhiên
Hành trú tịch mặc
Nhất tâm bất sanh
Vạn pháp câu tức
          Dịch
Sớm hỏi minh sư
Nương gần cao đức
Chỉ vạch thân tâm
Khử trừ gai góc
Đời tự dối lừa
Cảnh duyên nào bức
Xét cùng pháp lý
Lấy ngộ làm mức
Tâm cảnh đều quên
Chẳng ghi chẳng nhắc
Sáu căn an nhiên
Đến đi lặng tắt
Một tâm chẳng sanh
Muôn pháp đều dứt.
–o0o—
Vi tính: Đông Phương.
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật: 1-9-2007

YẾU CHỈ TU CHỨNG CHO NGƯỜI SƠ HỌC

Yếu Chỉ Tu Chứng Cho Người Sơ Học
Thiền Sư Hám Sơn Đức Thanh
Thiền Sư Hám Sơn Đức
Thanh (1546-1623) là một vị thầy lớn trong Thiền Tông Trung Hoa. Năm 7 tuổi,
cậu bé đã quan tâm về ý nghĩa sống và chết. Năm 9 tuổi, cậu rời nhà để vào chùa
Báo Ân tu học, nơi vị trụ trì là Hòa Thượng Tây Lâm đang giữ chức Gián Nghị tại
triều đình nên khuyến khích các học tăng học cả Tam Giáo – Phật, Nho, Lão. Tới
năm 19 tuổi, ngài xuống tóc, chính thức xuất gia. Năm sau, ngài dự khóa thiền
thất do Thiền Sư Vân Cốc mở tại chùa Thiên Giới, được trao cho tham công án,
“Ai đang niệm Phật?” Trong 3 tháng liền, tâm ngài Hám Sơn không khởi một
niệm, như sống trong mộng, không thấy đại chúng chung quanh…
Một lần, ngài hốt nhiên
hiểu thông giáo lý tương tức trong khi nghe giảng về Kinh Hoa Nghiêm
(Avatamsaka Sutra) và bộ luận Thập Huyền Môn (The Ten Wondrous Gates). Một thời
gian sau, ngài lại trải qua một kinh nghiệm chứng ngộ thâm sâu khác tại Ngũ Đài
Sơn, khi ngài đọc bộ luận Vật Bất Thiên (Things Do Not Move, Vật Không Hề
Chuyển Động) trong tập Triệu Luận (Book of Chao). Ngài sau đó còn trải qua
nhiều lần ngộ đạo nữa.
Sau khi viên tịch, nhục
thân ngài vẫn trụ trong tư thế ngồi kiết già, đưa về thờ tại Chùa Nam Hoa, bên
cạnh nhục thân của Lục Tổ Huệ Năng. Ngài Hám Sơn đã viết chú giải nhiều kinh
luận. Khi hoằng pháp, ngài dạy cho tứ chúng cả Tịnh Độ Tông, khuyến khích lập
các pháp hội Niệm Phật.
Bản Việt dịch dưới đây
dựa theo “Essentials of Practice and Enlightenment for Beginners,” bản Anh
dịch của Guo-gu Shi. Bài viết cô đọng của ngài Hám Sơn gồm ba phần, và sẽ được
dịch tòan văn nơi đây.
(Bắt đầu bản văn.)
I. Cách Để Tu Tập và Đạt
Ngộ
Về cội rễ và nhân duyên
của Đại Sự này, [cái Tánh Phật này] thì đã nằm sẵn trong mọi người; do vậy, nó
đã viên mãn bên trong ngươi, không thiếu gì cả. Điều khó chính là, từ vô thỉ,
hạt giống mê đắm, vọng niệm, thọ tưởng chấp thủ, và tập quán sâu dày đã ngăn
che tánh sáng chiếu diệu này. Ngươi không có thể thực chứng nó bởi vì ngươi
đang chìm đắm trong vọng niệm rời rạc về thân, tâm và pháp giới, miệt mài phân
biệt và say đắm [về cái này và cái kia]. Vì các lẽ đó, ngươi cứ luân hồi sinh
tử bất tận.
Nhưng, tất cả chư Phật và
chư tổ đã xuất hiện trong đời, dùng vô lượng lời nói và các phương tiện thiện
xảo để giảng nghĩa về Thiền và làm sáng tỏ tông nghĩa. Để thích ứng với các căn
cơ chúng sinh khác nhau, tất cả các phương tiện thiện xảo hệt như công cụ để
nghiền nát cái tâm lăng xăng dính mắc, và chứng ngộ rằng ngay từ khởi thủy vốn
thật không có cái gì gọi là “các pháp” (dharmas: vật) hay là [trong ý
nghĩa của] “cái ngã” (self).
Cái thường được hiểu như
là tu tập chỉ có nghĩa là sống thuận theo [bất cứ trạng thái nào của] tâm mà
ngươi ở nơi đó để thanh tịnh hóa, và làm biến đi các vọng niệm và tập quán. Đưa
nỗ lực của ngươi vào đây thì gọi là tu tập. Nếu chỉ trong nhất niệm, mà các
vọng tưởng hốt nhiên ngưng lại, thì [ngươi sẽ] nhận ra bản tâm của ngươi một
cách tận tường, và chứng ngộ rằng nó thì bao la và rộng mở, sáng tỏ và chiếu
diệu – vốn đã sẵn viên mãn và tròn đầy. Trạng thái này, thanh tịnh tự nguyên
thủy, không [chứa] một vật nào, thì gọi là giác ngộ. Ngoài tâm này ra, thì
không hề có cái gì gọi là tu hay chứng. Tự tánh của tâm thì y hệt như một tấm
gương, và mọi dấu vết của vọng niệm và chấp thủ như bụi phủ lên tâm. Khái niệm
của ngươi về các hiện tướng chính là bụi này, và ý thức đầy cảm xúc của ngươi
chính là bụi đó. Nếu tất cả vọng niệm tan biến, tự tánh sẽ hiển lộ ra. Cũng hệt
như khi bụi được lau, thì gương lại phản chiếu rõ ràng. Điều này y hệt như với
Pháp (Dharma: pháp môn).
Tuy nhiên, tập quán, mê
vọng và chấp thủ dính mắc được chồng chất từ vô lượng kiếp đã thành sâu dày.
May mắn, nhờ hứơng dẫn của thiện tri thức, trí tuệ bát nhã vốn sẵn nơi ta có
thể được hiển lộ. Tỉnh ngộ rằng trí tuệ đó vốn đã sẵn nơi mình, chúng ta sẽ có
thể khởi Bồ Đề Tâm và phát sinh đại nguyện để vượt qua sinh tử. Việc nhổ gốc rễ
sinh tử huân tập từ vô lượng kiếp ngay một lần lại là một việc hết sức tinh tế.
Nếu ngươi không có sức mạnh lớn và lòng can đảm đủ để gánh vác đại sự như thế
và cắt đứt thẳng [việc này] không chút do dự, thì [việc này] sẽ cực kỳ khó
khăn. Một vị tổ đã nói, “Việc này y hệt như một người mà kình chống cả vạn
người.” Đó không phải lời hư vọng.
II. Cửa Vào Tu Tập và
Chứng Ngộ
Nói một cách tổng quát,
trong thời mạt pháp này, nhiều người tu mà không mấy người chứng. Cũng có nhiều
người phí sức tu tập mà không mấy ai đón nhận thêm lực dụng tu tập. Tại sao như
thế? Họ không đưa nỗ lực [tu] một cách trực tiếp, và không biết con đường tắt.
Thay vậy, nhiều người chỉ làm đầy tâm trí họ với kiến thức quá khứ của chữ và
ngôn ngữ dựa trên những gì họ đã nghe, hay là họ đo lường các việc bằng cách
phân biệt theo cảm tính, hay là họ đè nén vọng niệm, hay là họ tự trùm hào
quang với ảo cảnh hiện ra ở các căn của họ. Những người này dựa vào lời của
người xưa trong tâm họ và tự cho là thực. Thêm nữa, họ dính vào các chữ này như
cái thấy riêng của họ. Họ không biết rằng, không có cái nào [lời người xưa] hữu
dụng bao nhiêu cả. Đó là cái được gọi là, “nắm giữ lấy cái giác ngộ của
người khác, và làm che mờ cổng giác ngộ của mình.”
Để thiền tập, ngươi trước
tiên phải dẹp bỏ hết mọi kiến thức và hiểu biết, và chỉ nhất tâm đưa tòan lực
của ngươi đặt lên một niệm. Tin vững chắc vào [chân] tâm của ngươi rằng, nguyên
thủy nó thanh tịnh và sáng rõ, không một chút trì trệ nào hết – nó thì sáng và
hòan thiện, và bao trùm khắp Pháp giới. Trong tự tánh, thì không hề có thân,
không hề có tâm, không hề có thế giới, mà cũng không hề có vọng niệm nào, không
hề có bất kỳ thọ tưởng nào. Ngay trong khỏanh khắc này, chính ngay một niệm này
tự nó đã là vô sinh. Tất cả mọi pháp đang hiển lộ trước ngươi bây giờ thực ra
là ảo giác và vô tự tánh – tất cả vạn pháp đó đều là phản chiếu phóng hiện từ
chân tâm của ngươi.
(LND. Câu vừa rồi là dịch
sát nghĩa, nhưng có thể làm dễ hiểu hơn khi chuyển ngữ dài dòng như sau: Tất cả
mọi pháp đang hiển lộ bây giờ trứơc mắt ngươi, đang hiển lộ bên tai ngươi, đang
hiển lộ trứơc mũi ngươi… [với 6 căn]… thực ra là ảo giác và vô tự tánh – tất cả
vạn pháp đó đều là phản chiếu phóng hiện từ chân tâm của ngươi.)
Hãy làm việc như thế để
dẹp hết mọi vọng niệm. Hãy đặt tâm vào quan sát, nhìn xem niệm sinh từ đâu, và
niệm diệt về đâu. Nếu ngươi tu tập như thế này, bất kể lọai vọng niệm nào sinh
khởi, thì chỉ một cái chạm vào thôi là chúng đều sẽ tan ra manh mún. Tất cả sẽ
tan đi và biến mất. Ngươi đừng bao giờ chạy theo, hay tiếp diễn lan man vọng
niệm. Thiền Sư Vĩnh Gia (Yongjia) đã cảnh sách, “Người tu phải cắt đứt cái
tâm [mong muốn] tiếp diễn.” Như thế bởi vì, cái vọng tâm vốn là không gốc
rễ. Ngươi đừng bao giờ xem một vọng niệm nào là thật và tìm cách bám víu nó
trong tâm. Ngay khi niệm khởi lên, hãy thấy nó ngay tức khắc. Khi ngươi nhận ra
niệm đó, thì nó sẽ biến mất. Đừng bao giờ tìm cách đè nén các niệm, nhưng hãy
cho phép các niệm như nó là, hệt như ngươi nhìn một quả bầu trôi nổi trên mặt
nước.
Hãy dẹp hết tất cả thân,
tâm và thế giới của ngươi, và hãy đơn giản đưa ra trước [tâm] một niệm, hệt như
một mũi kiếm xuyên thủng bầu trời. Cho dù là Phật hay Ma xuất hiện, hãy cắt bỏ
hết như một cuộn chỉ rối. Hãy đem tòan bộ nỗ lực và sức mạnh của ngươi, một
cách kiên nhẫn, đẩy tâm ngươi đi tới tận cùng. Cái được biết như là “một
tâm giữ chánh niệm về chân như” có nghĩa rằng chánh niệm tức là vô niệm.
Nếu ngươi có thể quán vô niệm, thì ngươi đang hướng tới trí huệ chư Phật.
Những người tu nào mới
khởi Bồ Đề Tâm nên có tín tâm về giáo lý duy tâm. Phật đã nói, “Ba cõi đều
là tâm thôi, và vạn pháp thực ra là duy thức thôi.” Tòan bộ Phật Pháp chỉ
là giải thích xa thêm về hai dòng này, để cho mọi người có thể phân biệt, hiểu
được và khởi tín tâm vào hiện thực này. Những lối đi của phàm và thánh chỉ là
những lối đi của mê vọng và giác ngộ trong bản tâm ngươi. Ngòai tâm ra, tất cả
các hành nghiệp của thiện và ác đều không thể đạt.
Tự tánh của ngươi thì kỳ
diệu. Nó là cái rất tự nhiên và hồn nhiên, không phải cái gì mà người có thể
“làm cho giác ngộ” [bởi vì ngươi đã sẵn có nó rồi]. Như thế, cái gì ở
đó mà còn bị mê chứ? Mê vọng chỉ để nói về sự thiếu giác ngộ của ngươi rằng tâm
ngươi vốn không hề có một vật, và rằng thân, tâm và thế giới nguyên vốn là rỗng
rang không tịch. Bởi vì ngươi bị ngăn che, cho nên mới có mê vọng. Ngươi đã
luôn luôn xem cái tâm suy lường mê vọng, [cái tâm] cứ thường xuyên sinh ra và
diệt đi, như là có thật. Vì lý do đó, ngươi cũng xem các chuyển biến mê vọng và
các hiện tướng của các cõi của sáu trần (đối tượng của 6 căn) như là có thật.
Nếu hôm nay, ngươi phát
tâm xuất trần và lấy con đường hướng thượng, thì ngươi nên dẹp hết mọi cái thấy
và hiểu biết xưa cũ của ngươi. Nơi đây, không một chút xíu tri thức và khôn
ngoan nào có thể hữu dụng. Ngươi phải, và chỉ phải, nhìn thấu suốt xuyên qua
thân, tâm và thế giới đang hiện tiền, và chứng ngộ rằng chúng đều vô tự tánh. Y
hệt như các ảnh chiếu – chúng cũng giống hệt như ảnh trong gương, hay như trăng
hiện dưới nước.
Hãy nghe tất cả mọi âm
thanh, tiếng nói hệt như gió xuyên qua rừng; hãy thấy tất cả mọi vật nhưng mây
bay trên bầu trời. Vạn pháp đều liên tục lưu chảy, biến đổi; vạn pháp đều hư ảo
và vô tự tánh. Không chỉ thế giới bên ngòai như thế, nhưng chính các vọng niệm
của ngươi, mọi phân biệt khát ái của tâm, và tất cả các hạt giống của đam mê,
tập quán, cũng như mọi phiền não cũng đều không gốc rễ và vô tự tánh.
Nếu ngươi có thể thiền
quán như thế, thì rồi bất cứ khi nào một niệm khởi lên, ngươi sẽ thấy ngay cội
gốc của nó. Đừng bao giờ lơi lỏng để nó đi qua ngươi [mà không thấy xuyên qua
nó]. Đừng để bị nó đánh lừa. Nếu ngươi làm được như thế, thì đó là ngươi đang
thiền tập chân thực. Đừng gom góp các tri kiến, suy tưởng về nó, và đừng tìm
cách thêu dệt một số kiến giải thông minh về nó.
Dù vậy, ngay cả khi phải
nói tới pháp tu thì thực sự y hệt như là lựa chọn cuối cùng. Thí dụ như, khi
phải dùng tới binh khí, thì chúng thực sự không phải là vật kiết tường. Nhưng
chúng được dùng như lựa chọn cuối cùng [trong chiến trận]. Cổ đức đã nói về
việc khảo sát Thiền, và đưa ra thọai đầu (huatou). Những cái này, cũng đều là
các lựa chọn cuối cùng. Ngay cho dù có vô số công án, thì chỉ riêng dùng câu
thọai đầu, “Ai đang niệm Phật đó?” ngươi cũng có thể nhờ nó tăng sức dễ
dàng giữa các tình huống phiền não. Ngay cả khi ngươi có thể dễ dàng được tăng
lực nhờ nó, [thọai đầu này] chỉ đơn giản là một viên ngói [vỡ] để gõ các cánh
cửa thôi. Thực sự, rồi ngươi sẽ phải ném nó đi thôi. Dù vậy, bây giờ thì ngươi
phải dùng nó. Nếu ngươi muốn dùng thoại đầu để tham thiền, ngươi phải có tín
tâm, có quyết tâm không lay động, và phải miên mật. Ngươi phải không vướng chút
xíu nào dao động và bất định. Thêm nữa, ngươi không phải hôm nay làm kiểu này
và ngày mai kiểu khác. Ngươi đừng quan tâm chuyện ngươi sẽ không được giác ngộ,
cũng đừng cảm thấy rằng thọai đầu này không đủ thâm sâu. Tất cả các suy nghĩ
như thế chỉ ngăn trở thôi. Ta phải nói về các thứ đó bây giờ, để ngươi sẽ không
khởi chút ngờ vực nào, khi ngươi đối mặt với gian khó.
Nếu ngươi có thể lấy được
sức mạnh từ năng lực của ngươi, thế giới bên ngòai sẽ không ảnh hưởng tới
ngươi. Tuy nhiên, bên trong, tâm của ngươi có thể khởi lên nhiều lọan tâm mà
[như dường] không vì lý do nào cả. Đôi khi tham dục khởi lên; có lúc bất an
hiện ra. Nhiều trở ngại có thể khởi lên bên trong ngươi, làm cho ngươi cảm thấy
cạn kiệt thân, tâm. Ngươi sẽ không biết nên làm gì. Đó là những nghiệp tập đã
cất chứa trong thức thứ tám của ngươi từ vô lượng kiếp. Hôm nay, nhờ công năng
thiền tập, chúng sẽ xuất lộ ra hết. Vào thời điểm quan trọng này, ngươi phải có
thể nhận ra và nhìn xuyên qua chúng rồi vượt qua [những trở ngại này]. Đừng bao
giờ để bị chúng kiểm sóat và dẫn dắt, và quan trọng nhất là đừng bao giờ xem
chúng như là thật. Vào lúc đó, người phải chấn chỉnh lại, phải can đảm và miên
mật, rồi tận lực bình sinh mà tham thọai đầu. Hãy chăm chú nhìn vào điểm từ đâu
mà niệm sinh khởi, và liên tục dấn tới và hỏi, “Nguyên khởi, không có gì
bên trong tôi, vậy thì từ nơi đâu mà [trở ngại] tới? Cái gì đây?” Ngươi phải
quyết tâm tìm ra tận gốc chuyện này. Cứ liên tục tham như thế, giết sạch tất cả
[vọng hiện] mà không để lại một chút dấu vết nào, cho tới khi ngay cả tới quỷ
thần cũng phải bật khóc. Nếu ngươi có thể tham thiền như thế, tin mừng sẽ tới
với ngươi một cách tự nhiên.
Nếu ngươi có thể đập vỡ
xuyên qua một niệm, thì tất cả vọng tâm đều đột nhiên bị gỡ bỏ. Ngươi sẽ cảm
thấy như một bông hoa trong bầu trời mà không rọi ra bóng [râm] nào, hay là như
một mặt trời sáng đang chiếu ra ánh sáng vô tận vô biên, hay là như hồ nước
trong trẻo, thấy xuyên suốt và rõ ràng. Sau khi kinh nghiệm như thế, sẽ có vô
lượng cảm xúc về ánh sáng và sự nhẹ nhàng thỏai mái, cũng như là một cảm giác
về sự giải thóat. Đây là dấu hiệu tăng lực nhờ tham thiền cho người sơ học.
Không có gì gọi là dị thường hay kỳ vĩ về điều này. Đừng sinh tâm quá vui mừng
trong kinh nghiệm tuyệt đẹp này. Nếu ngươi sinh tâm như thế, con Ma Vui Mừng sẽ
chiếm ngự ngươi, và ngươi sẽ gặp một lọai chướng ngại khác.
Giấu bên trong tạng thức
lại là tập quán nhiều đời và hạt giống tham ái. Nếu ngươi tham thọai đầu mà
không hiệu qủa, hay là ngươi không có thể an định (chỉ) và quán chiếu (quán)
tâm của ngươi, hay chỉ đơn giản rằng ngươi không khép mình tu tập nổi, thì
ngươi nên lễ bái quỳ lạy, tụng đọc kinh điển, và làm lễ sám hối. Ngươi cũng có
thể tụng thần chú để nhận mật ấn chư Phật; nghiệp chướng trở ngại được gỡ nhẹ
đi. Bởi vì tất cả mật chú đều là mật ấn của tâm kim cương của chư Phật. Khi
ngươi dùng chúng, thì hệt như cầm tới chùy kim cương bất họai có thể phá vỡ mọi
thứ. Bất cứ những gì tới gần đều sẽ bị đánh cho tan thành mảnh vụn. Cốt tủy của
tòan bộ mật giáo của chư Phật và chư tổ đều chứa đựng trong mật chú. Do vậy mới
có câu, “Tất cả Như Lai mười phương đã thành đạo chánh đẳng chánh giác
xuyên qua các mật chú như thế.”
Mặc dù các vị Phật đã nói
như thế rõ ràng, các vị tổ sư lo sợ là các lời đó có thể bị hiểu nhầm, nên đã
giữ điều đó làm bí mật, và không sử dụng phương pháp đó. Tuy nhiên, để tăng lực
nhờ sử dụng mật chú, ngươi phải tập chúng thường xuyên sau một thời gian lâu
dài. Nhưng, dù vậy, ngươi đừng bao giờ mong chờ hay tìm kiếm các đáp ứng phép
lạ kỳ bí khi dùng chúng.
III. Giải Ngộ và Chứng
Ngộ
Có những người ngộ trứơc
rồi mới tu sau, và có những người tu trước rồi mới ngộ sau. Ngòai ra, còn có một
dị biệt giữa giải ngộ và chứng ngộ.
Những người nào hiểu được
tâm họ sau khi nghe giáo pháp từ chư Phật và chư tổ sư thì gọi là giải ngộ.
Trong hầu hết trường hợp, những người này rơi vào tri giải kiến thức. Khi chạm
mặt với mọi tình huống, họ sẽ không có thể sử dụng những gì họ đã biết. Tâm của
họ và ngọai vật ở thế đối nghịch nhau. Không có gì gọi là nhất thể hay hòa hài.
Do vậy, họ đối mặt với trở ngại khắp mọi thời. Đó [cái mà họ đã ngộ] được gọi
là “tương tự bát nhã” (prajna in semblance) và không đến từ tu tập
chân chính.
Còn chứng ngộ thì tới từ
thiền tập chân thực và kiên trì, khi mà ngươi tới một chỗ bế tắc, nơi mà núi
đồi trần trụi và sông hồ cạn kiệt. Đột nhiên, [vào lúc mà] một niệm ngưng lại,
ngươi sẽ nhận ra minh bạch bản tâm của ngươi. Vào lúc này, ngươi sẽ cảm thấy
như là chính ngươi gặp lại cha ngươi tại một ngã tư đường – không có nghi ngờ
gì về chuyện này. Nó y hệt như chính ngươi đang uống nước. Cho dù nước lạnh hay
ấm, chỉ có ngươi biết thôi, và không phải là chuyện ngươi có thể mô tả cho
người khác. Đây là thực tu và thực chứng. Trải qua kinh nghiệm như thế, ngươi
có thể sống cái chứng ngộ này trong mọi tình huống của đời sống, và thanh tịnh
hóa [cũng như giải thóat khỏi, cái nghiệp lực đã hiển lộ] dòng ý thức của
ngươi, cái vọng tâm của ngươi và các kiến chấp cho tới khi tất cả các pháp đều
hòa vào Một Tâm Chân Thực (One True Mind, có sách gọi là Nhất Chân Pháp Giới
Tâm). Đây gọi là chứng ngộ.
Trình trạng chứng ngộ này
có thể chia thêm ra, là ngộ cạn và ngộ sâu. Nếu ngươi đưa hết tận lực bình sinh
vào gốc rễ [hiện sinh của ngươi], đập vỡ hang sâu của thức thứ tám, và chớp
nhoáng đảo ngược hầm sâu căn bản vô minh, với một bước nhảy trực tiếp vào [cảnh
giới giác ngộ], rồi thì không còn gì nữa để ngươi học. Cái này [hầm sâu] có gốc
rễ nghiệp lực thâm căn. Sự chứng ngộ của ngươi phải thực sự thâm sâu. Chiều sâu
của những người tu pháp tiệm tu, [mặt khác,] sẽ chỉ nông cạn thôi.
Điều tệ hại nhất là tự
thỏa mãn với chút ít [kinh nghiệm]. Đừng bao giờ tự cho phép rơi vào các kinh
nghiệm hào nhóang được sinh khởi từ các căn của ngươi. Tại sao? Bởi vì thức thứ
tám của ngươi chưa được phá vỡ, nên bất cứ gì mà ngươi kinh nghiệm hay làm đều
sẽ bị bao phủ bởi vọng thức và vọng tâm của ngươi. Nếu ngươi nghĩ rằng ý thức
đó là thực, thì y hệt như nhận lầm tên cướp làm con mình. Cổ đức có nói,
“Người tu chưa thấy được thực tướng chỉ là vì cứ nhận lầm ý thức của họ là
thực; cái mà người ngu nhận là khuôn mặt bản lai của họ thực sự chỉ là gốc rễ
căn bản của sinh tử.” Đây là rào cản mà ngươi phải vượt qua.
Cái được gọi là đốn ngộ
và tiệm tu là chỉ cho người đã trải qua một chứng ngộ thâm sâu, nhưng vẫn còn
tập quán dư lại chưa tức khắc thanh tịnh hóa được. Với những người này, họ phải
thực hiện những công năng từ sự chứng ngộ đã trải qua của họ để đối mặt với mọi
tình huống trong đời sống, và đưa ra sức mạnh từ sức an định (chỉ) và chiếu
sáng (quán) của họ để tâm họ họat dụng trong các tình huống khó khăn. Khi một
phần trong kinh nghiệm của họ ở các tình huống như thế khế hợp [với đạo], thì
họ đã chứng được một phần Pháp Thân. Khi họ xóa tan đi một phần vọng tưởng, thì
một phần trí huệ căn bản sẽ hiển lộ ra. Cốt tủy phải là tu tập liên tục miên
mật. [Với những người này,] sẽ thấy hiệu quả hơn khi họ tu tập trong các tình
huống của đời thực.
(Hết bản văn.)

THAM THIỀN YẾU CHỈ

THAM THIỀN YẾU CHỈ
I. ĐIỀU KIỆN QUYẾT ĐỊNH ĐẦU TIÊN CỦA SỰ THAM
THIỀN.
Mục đích tham thiền là cầu được minh tâm kiến tánh. Muốn thế, phải gạn
lọc các thứ nhiễm ô của tự tâm, thấy rõ mặt thật của tự tánh. Nhiễm ô tức là vọng
tưởng chấp trước. Tự tánh là đức tướng trí tuệ Như Lai. Đức tướng trí tuệ Như Lai,
chư Phật và chúng sanh đồng có đủ, không hai không khác. Nếu rời vọng tưởng
chấp trước là chứng được đức tướng trí tuệ Như Lai của mình; phải thế là Phật,
không phải thế là chúng sanh. Chỉ vì chúng ta từ vô lượng kiếp đến nay mê muội
đắm chìm trong sanh tử, nhiễm ô đã lâu, không thể trong chốc lát thoát được vọng
tưởng, thật thấy bản tánh, vì thế nên phải tham thiền. Điều kiện quyết định đầu
tiên của sự tham thiền là trừ diệt vọng tưởng. Phương pháp trừ vọng tưởng như thế
nào? Đức Phật Thích-ca Mâu-ni nói phương pháp rất nhiều, nhưng rất giản lược
chẳng qua một chữ hết, hết là Bồ-đề. Thiền tông do Tổ sư Đạt-ma truyền sang
Trung Hoa, sau đến đức Lục Tổ, tông phong bủa khắp sáng chiếu cổ kim. Câu rất
khẩn yếu mà đức Tổ sư Đạt-ma và Lục Tổ khai thị cho môn đồ là “Trừ sạch các
duyên, một niệm không sanh”. Trừ sạch các duyên tức là vạn duyên buông hết.
Hai câu: “Vạn duyên buông hết, một niệm không sanh” chính là điều kiện quyết
định đầu tiên của sự tham thiền. Hai câu ấy nếu thực hiện không được, tham thiền
chẳng những nói không thành công mà vào cửa cũng không thể được. Bởi vì vạn
duyên còn ràng buộc, niệm niệm mãi sanh diệt, ông làm sao tham thiền được?
“Vạn duyên buông hết, một niệm không sanh” là điều kiện quyết định đầu
tiên của sự tham thiền, dĩ nhiên chúng ta đã biết. Nhưng phải làm thế nào mới có
thể thực hiện được? Có hai cách:
1- Bậc thượng, một niệm hằng dứt, thẳng đến vô sanh liền chứng Bồ-đề,
không còn một mảy may ràng buộc.
2- Bậc thứ, dùng lý trừ sự, biết rõ tự tánh xưa nay vẫn thanh tịnh, phiền não
Bồ-đề, sanh tử Niết-bàn đều là giả danh không can dự gì đến tự tánh của ta. Muôn
sự muôn vật đều là việc chiêm bao, huyễn hóa, hòn bọt, cái bóng. Sắc thân tứ đại
của ta đây và sơn hà đại địa ở trong tự tánh như hòn bọt ngoài bể cả, mặc tình sanh
diệt không ngại gì bản thể. Ta không nên theo sự sanh, trụ, dị, diệt của tất cả cái
huyễn hóa ấy mà khởi ưa, chán, thủ, xả. Toàn thân buông hết như người chết
không khác, tự nhiên căn, trần, thức, tâm tan biến; tham, sân, si, ái diệt sạch. Mọi
việc đau nhức, khổ vui, đói lạnh, no ấm, vinh nhục, sanh tử, họa phước, kiết hung,
chê khen, được mất, an nguy, khó dễ v.v… nơi thân một mực đẩy chúng ra ngoài.
Có thế mới mong buông hết. Một buông, tất cả đều buông, mãi mãi buông gọi là
vạn duyên buông hết. Vạn duyên buông hết rồi, vọng tưởng tự tiêu, phân biệt
không khởi, các chấp trước hằng xa lìa. Khi ấy, một niệm không sanh, tự tánh
sáng suốt, toàn thể hiện bày. Được vậy là điều kiện tham thiền đã đầy đủ, lại dụng
công chân thật tham cứu mới có thể được minh tâm kiến tánh. Hằng ngày thường có các vị tu thiền đến hỏi câu thoại đầu. Phàm là pháp
vốn không phải pháp, một khi rơi vào ngôn ngữ tức không phải thật nghĩa. Biết
được một tâm này xưa nay là Phật, ngay đó vô sự muôn việc hiện thành, nói tu nói
chứng đều là ma thuyết. Đức Đạt-ma sang Trung Hoa “Chỉ thẳng tâm người, thấy
tánh thành Phật”. Chỉ bày rành rõ tất cả chúng sanh đều là Phật. Thẳng đó nhận
được tự tánh thanh tịnh này, tùy thuận không nhiễm ô, trong hai mươi bốn giờ đi
đứng ngồi nằm tâm không khởi vọng, ấy là hiện thân thành Phật; chẳng cần dụng
tâm dụng lực, cũng chẳng cần tạo tác thi vi, không nhọc một mảy may suy nghĩ
nói năng. Do đó, nói thành Phật là việc rất dễ dàng, rất tự tại, đạt được là tại nơi ta,
không phải cầu bên ngoài. Tất cả chúng sanh trên thế giới này, nếu thật không cam
chịu trường kiếp trầm luân trong tứ sanh lục đạo, hằng đắm chìm nơi bể khổ,
muốn thành Phật được thường, lạc, ngã, tịnh, phải tin lời chân thật của Phật Tổ
“buông hết tất cả, không nghĩ nhớ thiện ác”, mỗi người khả dĩ liền đó thành Phật.
Chư Phật, Bồ-tát và lịch đại chư vị Tổ sư phát nguyện độ hết tất cả chúng sanh,
không phải là không bằng cứ, đâu phải chỉ hứa nguyện suông.
Đã nói ở trên, pháp vốn như vậy, Phật Tổ lắm phen dạy rõ căn dặn kỹ càng,
là chân ngữ thật ngữ, không một mảy hư dối. Phật do lòng đại từ bi không nệ tất
cả chúng sanh từ vô lượng kiếp đến nay mê muội chìm đắm trong biển khổ sanh tử,
vừa ra lại vào, luân chuyển không dừng, mê lầm điên đảo, trái tánh giác hợp vọng
trần. Ví như vàng ròng bỏ vào hầm phẩn, không những chẳng dùng được mà lại
nhơ nhớp quá lắm. Ngài bất đắc dĩ nói ra tám muôn bốn ngàn pháp môn, tùy căn
cơ chẳng đồng của chúng sanh dùng đối trị tham, sân, si, ái v.v… tám muôn bốn
ngàn bệnh tập khí vi tế. Như vàng đã dính các thứ nhơ nhớp, mới dạy người dùng
sạn, bàn chải, nước, vải v.v… để mài giũa, chùi rửa nó. Sở dĩ Phật nói pháp, mỗi
môn đều là diệu pháp, đều có thể liễu thoát sanh tử, thành Phật đạo. Chỉ có vấn đề
hợp cơ hay không hợp cơ, không cần phân biệt pháp môn cao hay thấp. Pháp môn
lưu truyền ở Trung Hoa rất phổ thông là Tông, Giáo, Luật, Tịnh, Mật. Năm pháp
môn này tùy căn tánh và chỗ hứng thú của mỗi người thực hành môn nào cũng tốt.
Quan trọng là trong một môn được thâm nhập, trải thời gian lâu không đổi thay,
như vậy khả dĩ thành tựu.
Về Tông môn chủ trương tham thiền, tham thiền cốt “Minh tâm kiến tánh”,
cần tham suốt được cái “bản lai diện mục của mình”, nên nói: “Giác ngộ tự tâm,
thấy suốt bản tánh”. Pháp môn này phát nguyên từ hội Linh Sơn, Phật đưa cành
hoa sen, ngài Ca Diếp cười chúm chím, đến Tổ sư Đạt-ma truyền sang Trung Hoa,
về sau chỗ hạ thủ công phu đã từng thay đổi. Các bậc Thiền đức trước đời Đường,
đời Tống phần nhiều nghe một lời, hoặc nửa câu được ngộ đạo. Thầy trò truyền
nhau chẳng qua dùng tâm ấn tâm, không có một thật pháp. Ngày thường thưa hỏi,
trả lời cũng chẳng qua tùy cách phá chấp, theo bệnh cho thuốc mà thôi. Từ đời
Tống về sau, người học đạo căn tánh yếu ớt cạn hẹp, nói được mà làm không được.
Ví như nói “buông hết tất cả”, “không nghĩ thiện ác”, thảy đều buông mà không
hết, không nghĩ thiện thì nghĩ ác. Đến thời đại này Tổ sư bất đắc dĩ dùng biện
pháp lấy độc trừ độc, dạy người học tham công án hay khán thoại đầu. Thậm chí
thiết tha cắn chặt một câu “Tử thoại đầu”, dạy phải nghiến ngầm cấp bách không một sát-na lơi lỏng, giống như con chuột khoét rương cắn mãi một chỗ, chưa
thủng thì không dừng. Dạy như vậy, mục đích lấy một niệm trừ muôn niệm. Kỳ
thật, đó cũng là một biện pháp bất đắc dĩ, như mụt nhọt độc trong thân, nếu không
dùng dao mổ thì bệnh khó lành. Công án của cổ nhân rất nhiều, sau này chuyên
dạy khán thoại đầu, khán “Mang thây thúi ấy là gì?”, khán “Trước khi cha mẹ
chưa sanh, thế nào là mặt thật xưa nay của ta?”. Gần đây, các nơi phần nhiều dùng
một câu thoại đầu khán “Niệm Phật là gì?”. Kỳ thật, những câu thoại đầu đều cùng
một loại, đều rất bình thường không có gì kỳ lạ đặc biệt. Có thể ta nói: khán
“Niệm kinh là gì?”, khán “Trì chú là gì?”, khán “Lễ Phật là gì?”, khán “Đi đường
là gì?”, khán “Ngủ mới thức là gì?”… đều cùng một loại như nhau. Sau chữ gì là
đáp án, nó vốn là tâm. Thoại (lời nói) từ tâm khởi, tâm là đầu của thoại. Niệm từ
tâm khởi, tâm là đầu của niệm. Muôn pháp đều từ tâm khởi, tâm là đầu của muôn
pháp. Kỳ thật, thoại đầu tức là niệm đầu, trước niệm chính là tâm. Nói thẳng, trước
khi một niệm chưa sanh là thoại đầu. Do đây, chúng ta biết khán thoại đầu tức là
quán tâm. Trước khi cha mẹ chưa sanh, mặt thật xưa nay tức là tâm. Khán trước
khi cha mẹ chưa sanh, mặt thật xưa nay là quán tâm. Tánh cũng tức là tâm. Câu
“Phản văn văn tự tánh” (xoay cái nghe nghe tự tánh) là phản quán quán tự tâm.
Câu “Viên chiếu thanh tịnh giác tướng” (chiếu khắp tướng giác thanh tịnh), thanh
tịnh giác tướng tức là tâm, chiếu tức là quán. Tâm tức là Phật, niệm Phật tức là
quán Phật, quán Phật tức là quán tâm. Sở dĩ nói “khán thoại đầu” hoặc nói “khán
niệm Phật là gì ”, đều là quán tâm, quán chiếu giác thể tự tâm thanh tịnh, là quán
chiếu Phật tánh của mình. Tâm tức là tánh, tức là giác, tức là Phật, không có hình
tướng chỗ nơi, trọn không thể được, sẵn vậy thanh tịnh, khắp cả pháp giới, không
ra không vào, không qua không lại, chính là xưa nay hiện thành Pháp thân Phật
thanh tịnh. Hành nhân thu nhiếp lục căn “khán từ chỗ một niệm mới sanh”, soi xét
một câu thoại đầu này, khán đến chỗ tự tâm thanh tịnh ly niệm. Lại tiến lên, càng
thầm kín dày dặc, lặng lẽ yên tịnh, tuy tịch mà chiếu, thẳng đó ngũ uẩn đều không,
thân tâm đều vắng lặng, hoàn toàn không có một việc. Từ đây ngày đêm đi đứng
ngồi nằm như như không động, càng lâu công phu càng dày liền được thấy tánh
thành Phật, vượt qua mọi khổ ách. Xưa Tổ sư Cao Phong nói: “Người học đạo hay
khán một câu thoại đầu, như gieo hòn gạch xuống hồ sâu muôn trượng, rơi thẳng
tận đáy, được vậy trong bảy ngày, nếu không khai ngộ, Lão tăng xin dâng thủ cấp”.
Bạn đồng tham thiền! Câu nói của người xưa là chân ngữ, thật ngữ, không phải lời
nói dối trá lừa đảo đâu!
Nhưng, tại sao người hiện thời khán thoại đầu rất nhiều, mà không có mấy
người ngộ đạo? Ấy là do người hiện thời căn cơ không bằng người xưa, cũng tại
người học đạo đường lối tham thiền khán thoại đầu đa số không rành rõ. Có người
tham đông hỏi tây, cầu nam thỉnh bắc, kết quả chỉ là loạn động đến già, một câu
thoại đầu vẫn không rành rõ, không biết thế nào là thoại đầu thì làm sao khán thoại
đầu? Một đời chỉ chấp trước ngôn cú, danh tướng, dụng tâm tại thoại vĩ (đuôi lời
nói) mà thôi. Hoặc có người khán “Tham Phật là gì?”, hoặc “Chiếu cố thoại đầu”,
khán qua khán lại, tham tới tham lui cùng câu thoại đầu đông tây chạy ngược nhau.
Như vậy, làm sao hội ngộ được cái vô vi đại đạo bản nhiên này? Làm sao đến được cái vương vị tất cả không thọ? Hoặc có người bỏ mạt vàng vào con mắt, con
mắt bị mù, làm sao được phóng quang sáng suốt? Đáng thương thay! Đáng thương
thay! Có những người hảo tâm xuất gia chí nguyện phi phàm, mà kết quả chỉ một
bề nhọc công vô ích, rất đáng thương xót! Người xưa nói: “Thà đành ngàn năm
không ngộ, không cam một ngày sai lầm”.
Người tu hành ngộ đạo dễ mà khó, khó mà dễ, giống như vặn nút đèn điện,
biết thì khoảng khảy móng tay đèn cháy sáng trưng, cái đen tối muôn năm liền hết,
không biết thì vặn máy hỏng đèn hư, phiền não càng tăng trưởng. Có một ít người
tham thiền khán thoại đầu bị ma phát điên, thổ huyết, mắc bệnh, bởi vì lửa vô
minh quá to, chấp nhân ngã thật dày, đó là những gương rất rõ ràng. Sở dĩ người
dụng công cốt khéo điều hòa thân tâm, cần phải tâm bình khí hòa, không chướng
ngại, không nhân ngã, đi đứng ngồi nằm khéo hợp với máy huyền diệu.
Pháp tham thiền xưa nay không có phân biệt, chỉ do công phu tu tập, sơ
tham có khó và dễ, lão tham cũng có khó và dễ. Cái khó của người sơ tham là thế
nào? – Vì thân tâm không thuần thục, đường lối chưa rành rõ, dụng công không
đến nơi, nếu trong tâm không chấp cấp bách thì bị bệnh ngủ gật qua ngày, kết quả
thành: “năm đầu sơ tham, năm thứ hai lão tham, năm thứ ba không tham”. Cái dễ
là sao? – Chỉ cần đầy đủ tín tâm, tâm lâu bền và vô tâm. Tín tâm, một là tin tâm ta
đây xưa nay là Phật, cùng chư Phật mười phương và chúng sanh không khác; hai
là tin pháp của đức Phật Thích-ca Mâu-ni nói mỗi pháp đều được liễu sanh thoát
tử và thành Phật đạo. Tâm lâu bền, phải tuyển chọn nhất định một pháp, trọn đời
thực hành, cho đến đời sau và đời sau nữa đều như thế hành trì. Nếu là tham thiền
thì cứ như thế mà tham, nếu niệm Phật thì cứ như thế mà niệm, nếu trì chú thì cứ
như thế mà trì, nếu học giáo lý thì cứ từ văn, tư, tu mà thực hành. Dù tu một pháp
môn nào cũng lấy giới làm căn bản. Nếu đúng như vậy mà thực hành sau này nhất
định thành công. Qui Sơn Lão nhân nói: “Nếu có người hay thực hành pháp này
(tham thiền) ba đời không lui sụt, quả vị Phật quyết định có ngày”. Vĩnh Gia Lão
nhân nói: “Nếu dùng vọng ngữ lừa chúng sanh, hằng đọa địa ngục Bạt Thiệt số
kiếp như cát bụi”. Vô tâm chính là buông hết tất cả, giống hệt như người chết, trọn
ngày tùy chúng làm việc mà không khởi một điểm phân biệt chấp trước, thành một
vị đạo nhân vô tâm. Người sơ tham đầy đủ ba tâm ấy rồi, nếu tham thiền khán
thoại đầu, nên khán “Niệm Phật là gì?”. Ông tự thầm niệm ít tiếng “A Di Đà Phật”,
khán cái niệm Phật đó là gì? Một niệm ấy từ chỗ nào phát khởi? Nên biết, một
niệm ấy không phải từ miệng ta khởi, cũng không phải từ thân thịt ta khởi. Nếu từ
thân miệng ta khởi, khi ta chết rồi thân miệng vẫn còn sao không thể niệm? Phải
biết, một niệm này là từ tâm ta khởi, tức từ chỗ tâm niệm khởi phải chăm chăm
nhìn thẳng nơi đó, như mèo rình chuột, toàn thể tinh thần tập trung vào một chỗ
này, không có niệm thứ hai. Chỉ cần giữ trung bình giữa hoãn và gấp, không cho
gấp quá sẽ phát bệnh chướng. Đi đứng ngồi nằm đều giữ như vậy, lâu ngày công
phu đầy đủ, thời tiết nhân duyên đến, một phen xúc chạm quả dưa chín cuống rụng
bỗng nhiên đại ngộ. Khi ấy, như người uống nước lạnh nóng tự biết, thẳng đến chỗ
không nghi ngờ, như thấy chữ Thập đầu đường đi thẳng về nhà gặp cha rất an vui. Cái khó dễ của người lão tham thế nào? – Lão tham là người đã gần gũi
thiện tri thức, dụng công nhiều năm, đã trải qua một phen luyện lọc thân tâm thuần
thục, đường lối rành rõ, dụng công một cách tự tại không thấy cay đắng. Cái khó
của bậc Thượng tọa lão tham chính là dừng trụ trong chỗ tự tại sáng suốt, nghỉ
trong Hóa thành không đến Bảo sở. Hay tịnh không hay động, không thể được cái
chân thật thọ dụng; thậm chí gặp cảnh sanh tình thủ xả như xưa, ưa chán cũng hiện
rõ. Vọng tưởng thô và tế vẫn nguyên vẹn bền chắc, chỗ dụng công như hòn đá
ngâm nước lạnh không có tác dụng, lâu dần cũng sanh mỏi mệt, trọn không thể
đắc quả khởi dụng. Thượng tọa lão tham! Biết được cái khốn khó này rồi, lập tức
đề khởi câu thoại đầu cũ, phấn chấn tinh thần, đầu sào trăm trượng lại bước vượt
lên, thẳng đến đảnh núi cao chót vót mà đứng, tận đáy biển sâu thăm thẳm mà đi,
buông tay tung hoành, cùng gặp gỡ chư vị Phật Tổ, những cái khốn khó đâu còn,
không dễ là gì?
Thoại đầu tức là nhất tâm, cái nhất tâm này của chúng ta không phải ở
trong, ngoài và chặng giữa, mà cũng ở trong, ngoài và chặng giữa, như hư không
không động mà khắp tất cả chỗ. Sở dĩ thoại đầu không nên đem lên trên, cũng
không nên đè xuống dưới. Đem lên trên thì dẫn khởi tán loạn, đè xuống dưới thì
rơi vào hôn trầm, trái với tánh chất bản tâm, đều không phải là Trung đạo. Các vị
sợ vọng tưởng, cho hàng phục vọng tưởng là rất khó khăn. Tôi xin thưa quí vị,
không nên sợ vọng tưởng cũng không cần phí sức hàng phục vọng tưởng. Các vị
chỉ cần nhận ra vọng tưởng, không chấp trước nó, không tùy thuận nó, cũng chẳng
cần xua đuổi nó, chỉ không cho tiếp tục thì vọng tưởng tự lìa. Nên nói: “Vọng khởi
liền biết, biết vọng liền lìa”. Nếu khéo lợi dụng vọng tưởng khởi công phu, khán
“Vọng tưởng này từ chỗ nào phát sanh?”. Vọng tưởng không tánh chính nó là
không, tức là tâm tánh vốn không của ta, tự tánh thanh tịnh pháp thân Phật ngay
đây được hiện tiền. Xét thật mà nói, chân vọng một thể, chúng sanh và Phật không
hai, sanh tử Niết-bàn, phiền não Bồ-đề đều là bản tâm bản tánh, không cần phân
biệt, không cần ưa chán, không cần thủ xả. Tâm thanh tịnh này xưa nay là Phật,
không nhận một pháp, làm gì có nhiều mối? Tham!

II. THIỀN ĐƯỜNG CHỈ DẠY.
DẪN LỜI DẠY.
Chư vị hằng ngày đến thỉnh tôi chỉ dạy khiến tôi rất hổ thẹn. Chư vị ngày
ngày nhọc nhằn cuốc đất, bửa củi, gánh gạch làm việc quên cả sớm chiều, mà vẫn
không quên tâm niệm cầu giải thoát. Hạt giống thiết tha vì đạo ấy khiến mọi người
đều cảm động. Hư Vân này hổ thẹn không đạo không đức, nói không đến đâu lấy
gì chỉ dạy, chỉ lượm lặt những lời dạy của cổ nhân để đáp lại lời khẩn cầu của chư
vị mà thôi.
B. PHƯƠNG PHÁP NHẬP MÔN DỤNG CÔNG.
Phương pháp dụng công tu hành rất nhiều, hiện tại chỉ tóm lược chỉ bày:
1. ĐIỀU KIỆN QUYẾT ĐỊNH TRƯỚC KHI TU TẬP: a) Tin sâu nhân quả. – Không luận người nào, nếu muốn dụng công tu tập
trước cần phải tin sâu nhân quả. Nếu không tin nhân quả, thực hành càn bướng,
không những tu hành chẳng thành công mà tam đồ cũng khó tránh. Cổ đức nói:
“Muốn biết nhân đời trước hãy xem sự lãnh thọ của đời này, muốn biết quả đời
sau hãy nhìn sự gây tạo hiện tại”. Lại nói: “Giả sử đã tạo nghiệp trăm ngàn kiếp
vẫn không mất, khi nhân duyên hội ngộ quả báo trở lại tự chịu”. Kinh Lăng
Nghiêm nói: “Nhân địa không ngay, quả báo cong vạy”. Cho nên gieo nhân lành
kết quả lành, gieo nhân ác gặt quả ác, trồng dưa được dưa, trồng đậu được đậu là
đạo lý tất nhiên vậy.
Nói đến nhân quả tôi xin thuật hai câu chuyện xưa để chứng minh:
Chuyện vua Lưu Ly giết dòng họ Thích.
Trước đức Phật Thích-ca ra đời, trong thành Ca-tỳ-la-vệ có một làng chài
lưới, trong làng có cái hồ to. Khi ấy, trời hạn nước cạn, bao nhiêu cá trong ao bị
người làng bắt ăn hết, sau cùng còn lại một con cá thật to cũng bị người làm thịt
luôn. Trong làng chỉ có một đứa bé lâu nay không ăn thịt cá, hôm ấy đến thấy con
cá to lấy cây gõ trên đầu nó ba cái rồi đi. Sau này khi đức Thích-ca ra đời, vua Batư-nặc rất kính tin Phật pháp, cưới con gái dòng họ Thích làm vợ, sanh được một
Thái tử đặt tên Lưu Ly. Lúc thơ ấu, Lưu Ly ở bên ngoại tại thành Ca-tỳ-la-vệ học,
một hôm nhân giỡn chơi trèo lên tòa của Phật ngồi, bị người họ Thích rầy mắng
kéo lôi xuống, nên ôm lòng uất hận. Đến khi Lưu Ly lên làm vua, xuất đại binh
đánh thành Ca-tỳ-la-vệ, bắt hết dân cư trong thành giết sạch, chính khi ấy đức
Thích-ca nhức đầu ba ngày. Các vị đệ tử lớn của Phật cầu xin Phật tìm cách giải
cứu dòng họ Thích. Phật nói: “Định nghiệp khó chuyển”. Tôn giả Mục Liên dùng
sức thần thông lấy bình bát đến thâu năm trăm người dòng Thích-ca đem để trên
không trung; khi giặc qua, Ngài đem xuống thả ra, không ngờ khi trút bát thấy tất
cả đều biến thành máu. Các đệ tử lớn đến thưa hỏi Phật, Phật đem việc xưa dân
trong làng ăn cá thuật lại: Con cá lớn ngày xưa là vua Lưu Ly hiện nay, quân đội
của vua Lưu Ly đều là những con cá nhỏ trong hồ. Dân cư trong thành Ca-tỳ-la-vệ
bị giết đều là người ăn cá ngày xưa. Thân Phật chính là đứa bé gõ đầu cá ba cái
ngày xưa, nên hiện tại bị quả báo nhức đầu ba ngày. Vì định nghiệp khó tránh nên
năm trăm người dòng họ Thích tuy được Tôn giả Mục Liên cứu thoát, cũng không
bảo tồn được tánh mạng. Sau này vua Lưu Ly bị đọa địa ngục. Oan oan tương báo
không biết bao giờ hết được. Nhân quả thật đáng sợ vậy.
Chuyện ngài Bá Trượng độ Hồ Ly.
Bá Trượng Lão nhân một hôm vào nhà giảng, giảng xong các thính giả ra
hết, chỉ còn lại một ông già không lui đi. Ngài Bá Trượng hỏi: “Ông còn muốn hỏi
gì?”. Ông ấy thưa: “Con là Dã hồ tinh không phải là người, đời trước con vốn làm
Đường đầu (Trụ trì) ở đây, nhân có người học, hỏi con: ‘Bậc đại tu hành lại rơi
vào luật nhân quả chăng?’. Con đáp: ‘Không rơi nhân quả’. Do đó con bị đọa lạc
làm Dã hồ tinh đã năm trăm năm, không có cách nào thoát thân, mong Hòa thượng
từ bi chỉ dạy cho!”. Ngài Bá Trượng bảo: “Ngươi hỏi lại ta”. Ông ấy bèn hỏi:
“Bạch Hòa thượng! Bậc đại tu hành lại rơi vào nhân quả chăng?”. Tổ Bá Trượng
đáp: “Không lầm nhân quả”. Ông già nghe câu này liền đại ngộ. Ông lễ tạ thưa: “Nay nương lời đáp thay của Hòa thượng khiến con siêu thoát thân Dã hồ, con ở
hang sau núi, mong Hòa thượng lấy lễ tống táng theo nhà sư cho con”. Hôm sau,
Tổ Bá Trượng lại hang sau núi, lấy gậy bới ra có xác con hồ tinh, bèn dùng lễ theo
nhà sư mà an táng.
Chúng ta nghe hai câu chuyện xưa này càng biết rõ nhân quả đáng sợ, tuy
thành Phật vẫn khó khỏi quả báo nhức đầu. Sự báo ứng một mảy may không sai
lạc, định nghiệp thật khó trốn tránh. Chúng ta gắng cẩn thận, gắng dè dặt chớ có
gây nhân.
b) Nghiêm trì giới luật. – Dụng công tu hành trước nhất phải trì giới. Giới
là cội gốc quả vô thượng Bồ-đề, nhân giới sanh định, nhân định phát tuệ, nếu
không trì giới mà tu hành thì không thể được. Trong kinh Lăng Nghiêm dạy rõ
bốn món thanh tịnh, dạy chúng ta rằng: “Không trì giới mà tu chánh định không
thể thoát khỏi trần lao, dù hiện tiền có nhiều trí tuệ, nhiều thiền định cũng rơi vào
tà ma ngoại đạo”. Đó nên biết, trì giới là trọng yếu, người trì giới Long Thiên ủng
hộ, ma ngoại kính sợ. Người phá giới, bọn quỉ gọi là giặc lớn, nó quét dấu chân
của người ấy. Ngày xưa tại nước Kế Tân, gần bên đất già lam có một con độc long
thường khi ra nhiễu hại dân chúng địa phương. Có năm trăm vị A-la-hán nhóm
họp một chỗ dùng sức thiền định đuổi nó đi, rốt cuộc không hiệu quả gì cả. Sau có
một vị Tăng, không cần nhập thiền định chỉ đến gần con độc long nói một câu:
“Hiền thiện ! Hãy tránh xa chỗ này đi”. Con độc long liền đi mất. Các vị A-la-hán
hỏi vị Tăng ấy: “Ông dùng thần thông gì đuổi được con độc long?”. Vị Tăng đáp:
“Tôi không dùng sức thiền định, chỉ do cẩn thận đối với giới, gìn giữ giới khinh
cũng như giới trọng”. Chúng ta tưởng tượng sức thiền định của năm trăm vị Lahán mà không bằng một vị Tăng nghiêm trì giới luật.
Hoặc có người bảo: “Lục Tổ nói tâm bình đâu cần trì giới, hạnh thẳng nào
dụng tham thiền”. Tôi xin hỏi ông: Tâm ông đã bình, hạnh ông đã thẳng chưa? Giả
sử có người con gái đẹp lõa thể đến ôm ông, ông có thể không động tâm chăng?
Có người vô lý mạ nhục đánh đập ông, ông có thể không sanh tâm sân hận chăng?
Ông đã đạt được chỗ không phân biệt oán thân, thương ghét, nhân ngã, phải quấy
chưa? Cẩn thận khi làm được mới nói những lời to ấy, nếu làm không được mà nói
chỉ là nói suông.
c) Tín tâm kiên cố. – Có ý dụng công tu tập trước cần phải có lòng tin bền
chặt. Lòng tin là đầu của Đạo, là mẹ các công đức. Bất luận làm việc gì không có
lòng tin thì làm không xong. Chúng ta cốt liễu thoát sanh tử, điều cần thiết phải có
lòng tin bền chặt. Phật nói: “Tất cả chúng sanh đều có đức tướng trí tuệ Như Lai,
chỉ do vọng tưởng chấp trước không thể chứng được”. Phật lại dạy các thứ pháp
môn để đối trị tâm bệnh của chúng sanh. Chúng ta nên tin lời Phật nói không hư
dối, tin chúng sanh đều có khả năng thành Phật. Sở dĩ chúng ta chưa được thành
Phật, đều do chưa triệt để dụng công đúng như pháp mà thôi. Ví như chúng ta tin
đậu nành làm đậu hũ được, nếu ta không ra công nấu đậu hũ thì đậu nành tự nó
không thể biến thành đậu hũ. Nếu chúng ta đi nấu đậu hũ mà để thạch cao không
đúng lượng, đậu hũ cũng không thể thành. Nếu ta nấu đúng pháp, để thạch cao
đúng lượng quyết định sẽ thành đậu hũ. Người tu hành cũng như thế, không dụng công tu tập cố nhiên không thành Phật, dụng công không đúng pháp Phật cũng
không thể thành. Nếu người tu tập đúng pháp, không lui không hối, quyết định
người này sẽ thành Phật. Cho nên, chúng ta phải tin sâu chính mình xưa nay là
Phật; lại tin sâu y giáo pháp Phật dạy tu hành quyết định thành Phật. Vĩnh Gia
Thiền sư nói: “Chứng thật tướng không nhân pháp, sát-na diệt hết nghiệp A-tỳ,
nếu dùng lời vọng dối chúng sanh, tự chuốc địa ngục (Bạt Thiệt) trần sa kiếp”.
Ngài Vĩnh Gia vì lòng từ bi, cốt định chắc lòng tin cho người đời sau, nên phát lời
thệ rộng lớn như vậy.
d) Quyết định pháp môn tu hành.- Lòng tin đã đủ, lại nên chọn một pháp
môn để tu trì, cần phải không được sớm Tần chiều Sở. Bất luận niệm Phật cũng tốt,
trì chú cũng tốt, tham thiền cũng tốt, điều cần thiết là nhận định một pháp môn
thẳng đó tiến tu hằng không lui sụt. Ngày nay chưa thành công, ngày mai vẫn tiến
hành như thế; năm nay chưa thành công, năm tới vẫn tiến hành như thế; đời này
chưa thành công, đời sau vẫn tiến hành như thế. Qui Sơn Lão nhân nói: “Đời đời
nếu không lui sụt, quả Phật quyết định có ngày”. Có một số người làm mà không
chú ý quyết định, ngày nay nghe vị thiện tri thức này nói niệm Phật hay, liền niệm
Phật được vài ngày; ngày mai nghe vị thiện tri thức kia nói tham thiền hay, lại
tham thiền vài ngày, sang đông tìm tây, một đời kiếm tìm đến chết mà không được
một chút kết quả, rất uổng thay!
2. PHƯƠNG PHÁP THAM THIỀN:
Pháp môn dụng công tuy nhiều mà chư Phật, Tổ sư đều cho tham thiền là
vô thượng diệu môn. Trên hội Lăng Nghiêm Phật dạy Bồ-tát Văn Thù chọn môn
viên thông, ngài Văn Thù chọn môn nhĩ căn viên thông của Bồ-tát Quán Thế Âm
là bậc nhất hơn cả. Chúng ta cần “Phản văn văn tự tánh” (xoay cái nghe nghe tự
tánh) chính là tham thiền. Trong thiền đường này cũng nên giảng một pháp tham
thiền.
a) Tọa thiền nên biết. – Bình thường nhật dụng đều là hành đạo, như vậy
chỗ nào không phải là đạo tràng, cần gì thiết lập thiền đường, cũng không phải tọa
thiền mới là thiền. Nói thiền đường, nói tọa thiền chẳng qua vì chúng ta là chúng
sanh trong thời mạt pháp chướng sâu, tuệ cạn mà tạm thiết lập.
Tọa thiền cần hiểu rõ cách điều dưỡng thân tâm. Nếu không khéo điều, hại
nhỏ là sanh bệnh, hại to là bị ma, thật đáng tiếc vậy. Trong thiền đường đi kinh
hành, hoặc tọa thiền chỗ dụng ý chính là điều thân tâm. Phương pháp điều thân
tâm rất nhiều, nay chọn lọc những điều cần yếu lược nói:
Khi ngồi kiết già phải theo thứ tự, giữ tự nhiên và ngồi ngay thẳng. Không
được để ý ễnh lưng thẳng lên, nếu ễnh thẳng lưng hơi nóng xông lên tụ lại lâu
ngày, con mắt sanh nhiều ghèn, miệng hôi, đầu nóng, không muốn ăn uống, quá
lắm đến thổ huyết. Lại không được để lưng cong đầu cúi nhiều, nếu vậy dễ sanh
hôn trầm. Như biết khi hôn trầm tới, mở mắt to ra, ễnh lưng một cái và động nhẹ
nhẹ hai bên hông, hôn trầm tự nhiên tiêu diệt.
Nếu dụng công cấp bách quá, khi nghe trong lòng bứt rứt nên bỏ hết mọi
việc và xả luôn cả dụng công, dừng nghỉ độ năm mười phút, dần dần thư thái, nhiên hậu đề khởi dụng công. Nếu không như vậy, dồn chứa lâu ngày biến thành
tánh nóng nảy dễ sân, thậm chí phát cuồng bị ma.
Tọa thiền khi có chút thọ dụng (thấy cảnh giới lạ) cảnh giới phát hiện rất
nhiều nói không thể hết, chỉ ta không chấp trước cảnh giới ấy thì nó không làm
ngại ta được. Lời tục nói: “Thấy quái ta không quái, quái tự mất”. Trông thấy yêu
ma quỉ quái đến nhiễu hại ta, ta không cần quan tâm đến nó, cũng không sợ nó hại.
Chính thấy đức Phật Thích-ca đến rờ đầu thọ ký, ta cũng không quan tâm đến,
chẳng nên sanh vui mừng. Kinh Lăng Nghiêm nói: “Không khởi tâm cho mình
chứng Thánh, là cảnh giới lành, khởi tâm cho mình chứng Thánh, tức lạc quần tà”.
b) Hạ thủ công phu – biết chủ khách.- Hạ thủ công phu thế nào ư? Trên hội
Lăng Nghiêm ngài Kiều Trần Như nói hai chữ Khách Trần, chính là chỗ sơ tâm
chúng ta hạ thủ công phu vậy. Ngài nói: “Ví như người hành khách dừng nghỉ nơi
quán trọ, hoặc ngủ hoặc ăn, ăn ngủ xong gói hành lý ra đi, đi không trở về nghỉ lại.
Nếu thật người chủ thì không đi đâu. Như thế suy xét, không ở lại gọi là khách, ở
lại gọi là chủ. Bởi không ở lại nên nghĩa là khách. Lại như buổi sáng trời tạnh, mặt
trời vượt lên, ánh sáng soi qua các kẽ hở, soi rõ các vi trần trong hư không, vi trần
diêu động, hư không yên lặng. Yên lặng là Không, diêu động là nghĩa Trần”.
Khách và trần dụ vọng tưởng, chủ và hư không dụ tự tánh. Người chủ thì thường ở,
không phải như khách hoặc đi hoặc đến, đó là dụ tự tánh thường trụ vốn không
theo vọng tưởng chợt sanh chợt diệt. Nên nói: “Chỉ tự vô tâm với vạn vật, ngại gì
vạn vật thường nhiễu loạn”. Tính chất vi trần tự diêu động vẫn không làm ngại
được cái yên lặng của hư không. Dụ vọng tưởng tánh nó sanh diệt vẫn không làm
ngại được tự tánh như như bất động. Nên nói: “Một tâm không sanh, muôn pháp
chẳng lỗi lầm”.
Trong đây chữ Khách so phần thô, chữ Trần so phần tế. Người mới phát
tâm trước nhận rõ Chủ và Khách, tự không bị nó kéo lôi; tiến lên nhận rõ ràng
Không và Trần, vọng tưởng không thể làm chướng ngại. Nên nói: “Biết được,
không phải oán”. Người hay xét kỹ lãnh hội được chỗ này, sự dụng công tu hành
rất chóng tiến.
c) Thoại đầu cùng nghi tình. – Thời xưa Tổ sư chỉ thẳng tâm người thấy
tánh thành Phật. Như cách an tâm của Tổ Đạt-ma, lối bàn kiến tánh của Lục Tổ,
chỉ cần thẳng đó thừa nhận là xong, không có khán thoại đầu. Đến các Tổ sư sau
này thấy tâm người không bằng cổ nhân, không thể tử tâm như khối đất, mà luôn
tráo trở lăng xăng, mọi người chỉ đếm của báu cho kẻ khác mà lầm nhận là của
mình. Bởi thế nên các Ngài riêng lập môn đình (cảnh riêng) và mỗi vị chỉ ra một
phương pháp, do đó mới dạy người học khán thoại đầu.
Thoại đầu rất nhiều, như: “Muôn pháp về một, một về chỗ nào?” hay
“Trước khi cha mẹ chưa sanh, thế nào là mặt thật của ta?” v.v… nhưng phổ thông
hơn cả là câu “Niệm Phật là gì?”.
Thế nào là thoại đầu? Thoại là lời nói, trước lời nói là đầu. Như niệm A Di
Đà Phật là thoại, trước khi chưa niệm là thoại đầu. Nên nói thoại đầu là cái mé
chưa sanh một niệm. Một niệm vừa sanh đã thành thoại vĩ (đuôi lời nói). Cái mé
chưa sanh một niệm đó gọi là “không sanh”; không loạn động, không mê muội, không đắm nơi tịnh, không rơi vào không, gọi là “không diệt”. Luôn luôn chăm
chú trở lại chiếu soi cái “không sanh không diệt” ấy, gọi là “khán thoại đầu” hoặc
“chiếu cố thoại đầu”.
Khán thoại đầu trước cần phải khởi nghi tình, đó là chỗ nương nhờ của
pháp khán thoại đầu. Sao gọi là nghi tình? Như hỏi niệm Phật là gì? Người người
đều biết chính mình niệm. Nhưng là miệng niệm hay tâm niệm? Nếu thật miệng
niệm, khi ngủ mê vẫn có miệng sao không niệm? Nếu thật tâm niệm, tâm hình
dáng thế nào, lại không có chỗ nơi sờ mó? Nhân chỗ không rõ này, trên chữ gì
phát khởi niệm nghi nhẹ nhàng tế nhị, không cho thô, càng tế càng tốt. Tùy thời
tùy chỗ chăm chú chiếu cố quyết chí nơi niệm nghi này, giống như dòng nước
không có chỗ đoạn, không sanh hai niệm. Nếu niệm nghi còn thì không cần để ý
đến nó, niệm nghi nếu mất lại nhẹ nhàng đề khởi lên. Khi mới dụng tâm thì trong
tịnh, trong động so sánh rất đắc lực. Nhưng cốt không sanh tâm phân biệt, không
quan tâm đến đắc lực hay không đắc lực, không chú ý trong động hay trong tịnh,
ta chỉ nhất tâm, nhất ý dụng công là tốt.
Bốn chữ Niệm Phật là gì, rất quan trọng tại chữ gì, ngoài ra ba chữ kia
chẳng qua là để nói cho to mà thôi. Như “mặc áo, ăn cơm là gì?”, “đại tiểu tiện là
gì?”, “phá vô minh là gì?”, “hay hiểu biết là gì?”, bất luận đi đứng ngồi nằm một
khi đề chữ gì lên là dễ phát niệm nghi, không cần suy nghĩ xét nét để ý mới có.
Cho nên chữ gì trong câu thoại đầu thật tại là một diệu pháp của tham thiền.
Nhưng không phải đem một chữ gì, hoặc bốn chữ niệm Phật là gì coi như danh
hiệu Phật mà niệm; cũng không phải suy nghĩ xét nét câu niệm Phật là gì mà cho
là nghi tình. Có một số người đem bốn chữ niệm Phật là gì ra niệm suốt ngày
không dừng miệng, như thế chi bằng niệm A Di Đà Phật công đức còn hơn. Có
một số người nghĩ quanh tính quẩn, tìm đông kiếm tây cho đó là nghi tình, đâu
biết rằng càng nghĩ càng tính vọng tưởng càng nhiều, giống như người muốn lên
lại bị rơi xuống, cần phải biết vậy.
Người sơ tâm phát niệm nghi rất thô, chợt dứt chợt nối, chợt chín chợt sống,
đều không được nghi tình, chỉ gọi là Tưởng. Lần lần thu nhiếp được tâm cuồng
loạn, niệm đầu cũng kềm giữ được chút ít, mới gọi là Tham. Lại tiến dần dần công
phu thuần thục không nghi mà tự nghi, không biết mình đang ngồi ở chỗ nào, cũng
không biết có thân tâm thế giới, chỉ riêng niệm nghi hiện tiền không gián đoạn, đó
gọi là nghi tình. Thật tế mà nói, lúc đầu chưa kể là dụng công chỉ đả phá vọng
tưởng, đến khi chân nghi hiện tiền mới là giai đoạn chân chánh dụng công. Giai
đoạn này như qua cửa ải lớn rất dễ vào đường tẽ.
Giai đoạn này rất thanh tịnh và vô hạn khinh an, nếu mất một ít giác chiếu
bèn rơi vào trạng thái mê muội nhẹ nhàng. Nếu khi ấy có bậc sáng suốt ở bên, một
phen nhìn qua liền biết người ấy đang mắc tại cảnh giới này, lấy một hương bản
đập xuống, lập tức đầy trời mây mù tan hết, rất nhiều người nhân đây được ngộ
đạo.
Chính khi rất thanh tịnh rỗng rang ấy, nếu nghi tình không còn bèn rơi vào
vô ký, ngồi như cây như đá, hoặc gọi hòn đá ngâm nước lạnh. Đến khi đó cần phải
đề khởi, đề khởi tức là giác chiếu (giác là không mê, tức là tuệ; chiếu là không loạn, tức là định) chăm chú một niệm ấy, lặng lẽ chiếu soi, như như không động,
sáng sủa không mê, rành rõ thường biết, như lạnh nóng rút hơi, một mạch liên tục
không dứt.
Dụng công đến chỗ này cần có con mắt Kim cang không đề khởi thêm, nếu
đề khởi thì đã đầu lại thêm đầu. Xưa có vị tăng hỏi Triệu Châu Lão nhân rằng:
“Một vật khi không đem đến làm thế nào?”. Châu đáp: “Buông hết đi!”. Tăng thưa:
“Một vật không đem đến, buông hết cái gì?”. Châu bảo: “Buông không xuống thì
gánh lên!”. Chính là nói giai đoạn này vậy. Trong cảnh sáng sủa mát mẻ này như
người uống nước lạnh nóng tự biết, không phải nói năng có thể đến được. Người
đến chỗ này tự nhiên sáng suốt, người chưa đến được có nói cũng vô ích. Nên nói:
“Trên đường gặp kiếm khách nên trình kiếm, không phải nhà thơ chớ tặng thơ”.
d) Chiếu cố thoại đầu cùng phản văn văn tự tánh.- Hoặc có người hỏi:
“Câu phản văn văn tự tánh của Bồ-tát Quán Thế Âm sao được gọi là tham thiền?”
– Tôi mới nói chiếu cố thoại đầu chính là dạy ông luôn luôn chăm chú một niệm
hồi quang phản chiếu cái “không sanh không diệt” (thoại đầu). Phản văn văn tự
tánh cũng là dạy ông luôn luôn chăm chú một niệm phản văn văn tự tánh. Hồi
chính là Phản, không sanh không diệt là Tự tánh. Văn và chiếu, tuy lúc xuôi dòng
theo thinh theo sắc, nghe không ra ngoài tiếng, thấy không vượt khỏi sắc, phân
biệt rõ ràng; nhưng khi ngược dòng trở lại quán tự tánh không chạy theo thinh sắc,
chính là một cái tinh minh, Văn và Chiếu đâu phải hai thứ. Chúng ta cần biết, nói
rằng “Chiếu cố thoại đầu”, “Phản văn tự tánh” tuyệt đối không phải dùng mắt xem,
dùng tai nghe. Nếu dùng mắt xem, hoặc dùng tai nghe, ấy là đã chạy theo thinh sắc,
bị vật chuyển gọi là xuôi dòng. Nếu chăm chú trong một niệm “không sanh không
diệt”, không đuổi theo thinh sắc, gọi là ngược dòng. Ấy là “Chiếu cố thoại đầu”,
cũng là “Phản văn tự tánh”.
e) Tâm thiết tha vì sanh tử cùng phát tâm lâu dài. – Tham thiền rất cần tâm
thiết tha vì sanh tử và phát tâm lâu dài. Nếu đối với sự sanh tử không thiết tha thì
nghi tình không phát, công phu khó đạt. Nếu không phát tâm lâu dài, một nóng
mười lạnh thì công phu cũng không thành phiến. Chỉ cần có tâm thiết tha lâu dài
thì chân nghi mới phát. Khi chân nghi phát thì trần lao phiền não không dứt cũng
tự dứt. Khi thời tiết nhân duyên đến tự nhiên nước tụ thành ngòi.
Tôi xin thuật lại một việc cũ chính mắt tôi thấy cho các ông nghe. Lúc
trước, đời Thanh khoảng năm Canh Tý, Liên quân tám nước vào kinh đô, tôi theo
chân vua Quang Tự và Từ Hy Thái hậu chạy giặc. Giữa đường gặp một đoạn phải
chạy bộ về Thiểm Tây, mỗi ngày chạy mấy mươi cây số, luôn mấy ngày không có
cơm. Trên đường gặp một ông già đem dâng vua Quang Tự một miếng khoai rừng,
ăn xong vua hỏi người ấy: “Thứ gì ăn ngon lắm vậy?” Các ông thử tưởng, Hoàng
đế ngày thường rất kiểu cách, rất oai phong, đâu từng đi bộ hơn mấy bước, chưa
từng đói quá nửa bụng, chưa từng ăn hết một miếng khoai rừng. Đến lúc này, kiểu
cách chẳng có, oai phong không còn, lội bộ cũng được, bụng đói cũng chịu, ăn rễ
rau cũng ngon. Vì sao mà ông bỏ hết được? – Vì Liên quân đuổi bắt ông, ông nhất
tâm chạy chết. Đến sau được nghị hòa, ông ngự giá về kinh, kiểu cách lại khởi, oai
phong lại hiện, đi bộ không nổi, bụng đói không được, cái gì không ngon thì nuốt không trôi. Sở dĩ thế, tại khi này ông buông không hết, vì Liên quân không còn
đuổi bắt ông, ông không có tâm chạy chết. Giả sử ông thường đem cái tâm chạy
chết ấy mà tu hành thì thế nào không thành công; đáng tiếc ông không có tâm lâu
dài, gặp thuận cảnh thái độ cũ lại bộc khởi.
Các vị đồng tham thiền! Bọn quỉ vô thường luôn luôn theo đuổi sanh mạng
chúng ta, không bao giờ chúng chịu “nghị hòa”. Chúng ta cần phải phát tâm thiết
tha lâu dài để giải thoát vòng sanh tử. Tổ Cao Phong Diệu nói: “Người tham thiền
cần yếu khắc định ngày thành công, giống như người rơi xuống giếng sâu ngàn
trượng từ sáng đến chiều, từ chiều đến sáng muôn ngàn tư tưởng chỉ chăm chăm
một việc mong ra khỏi giếng, trọn không có niệm thứ hai. Người thực hành được
như vậy, hoặc ba ngày, năm ngày, bảy ngày, nếu không triệt ngộ, Cao Phong ngày
nay phạm tội đại vọng ngữ hằng đọa trong địa ngục Bạt Thiệt”. Cao Phong Lão
nhân vì lòng đại bi thiết tha sợ e chúng ta không phát tâm tha thiết lâu dài, nên
phát lời thề nặng này để bảo chứng cho chúng ta.
g) Dụng công có hai thứ khó và dễ. – Người dụng công có hai thứ khó và dễ:
1.- Sơ dụng tâm khó dễ
2.- Lão dụng tâm khó dễ
1.- Sơ dụng tâm khó dễ.
Sơ dụng tâm khó – Tâm trộm không chết.
Cái thông bệnh của người sơ dụng tâm là vọng tưởng, tập khí buông không
hết, vô minh, cao mạn, tật đố, chướng ngại, tham, sân, si, ái, lười biếng, ăn ngon,
phải quấy, nhân ngã đầy dẫy trong bụng, làm sao tương ưng với đạo? Hoặc có
người là công tử hay ca sĩ xuất gia tập khí không quên, một chút khổ nhọc chịu
không nổi, một miếng không ngon nuốt chẳng vô, làm sao dụng công tu hành?
Người này không chịu tưởng nhớ đức Bổn Sư Thích Ca là hạng nào đi xuất gia mà
chịu khó khổ được như vậy? Hoặc có người biết chút ít văn tự bèn tầm chương
trích cú đem những lời nói của cổ nhân ra phân tích, rồi cho mình là hiểu hoàn
toàn sanh đại ngã mạn; nhưng đến khi bệnh nặng thì rên xiết suốt ngày, hoặc đến
lúc sắp lâm chung thì tay co chân rút, bình sanh chỗ hiểu biết không thực hành
được một điểm, đến khi hấp hối ăn năn sao kịp?
Hoặc người có chút đạo tâm lại không hiểu rõ chỗ hạ thủ công phu. Có
người sợ vọng tưởng cố trừ mà trừ không được, trọn ngày buồn rầu bực tức tự hận
nghiệp chướng nặng nề, nhân đó thối thất đạo tâm. Hoặc có người quyết cùng
vọng tưởng chiến đấu, chăm bẳm chống tay xông hơi, ưỡn ngực trừng mắt giống
vẻ mặt hầm hầm của tên giám sát, quyết cùng vọng tưởng một còn một mất, họ
đâu biết như vậy, vọng tưởng đã đuổi không được, trở lại mang bệnh thổ huyết,
phát cuồng. Hoặc có người sợ rơi vào không, đâu ngờ trước đã sanh ra quỉ; không
vẫn là không chẳng động, ngộ lại ngộ chẳng đến. Hoặc có người khởi tâm cầu ngộ,
ngờ đâu cầu ngộ đạo mong thành Phật đều là đại vọng tưởng; cát không phải là
cơm, cầu đến bao nhiêu năm quyết định cũng không ngộ. Hoặc có người chợt
được yên tịnh một vài cây hương bèn sanh vui mừng, ấy chỉ là con rùa đen mù tìm
bọng cây, ngẫu nhiên đụng nhằm chẳng phải là công phu thật, ma vui mừng sớm
đã nhập vào tâm vậy. Hoặc có người trong chỗ yên tịnh biết được thanh tịnh rất thích, trong chỗ động thì mất thanh tịnh, nhân đó tránh chỗ ồn náo tìm chỗ yên
tịnh, ấy là đã sớm làm quyến thuộc của hai thứ ma vương động tịnh. Các người
như vậy thật rất là nhiều. Kẻ sơ dụng tâm không thấu rõ đường lối tu tập thật là
khó. Có giác mà không chiếu thì tán loạn không thể “đến nhà”. Có chiếu mà
không giác lại “ngồi chết chìm trong nước chết”.
b- Sơ dụng tâm dễ – Buông xuống chỉ để một niệm.
Dụng công tuy nói khó, nhưng hiểu rõ đường lối lại rất dễ. Tại sao sơ dụng
tâm là dễ? – Không có gì khéo, buông hết liền được. Buông hết cái gì? – Buông
hết tất cả vô minh phiền não. Làm sao buông hết được? – Chúng ta coi thân này
như chết vậy. Ông thử chửi thây chết bao nhiêu câu, nó cũng không phát giận,
đánh mấy gậy nó cũng không chống cự, lúc sống ưa phá vô minh bây giờ cũng
không phá, lúc sống ưa danh lợi khi này cũng không màng, lúc sống nhiều thứ tập
nhiễm khi này không có, cái gì cũng không phân biệt, cái gì cũng bỏ hết. Chư vị
đồng tham thiền! Chúng ta mang xác thân này một phen hơi thở ra không trở lại
bèn thành thây chết. Chúng ta sở dĩ buông không hết, chỉ do xem thân này là trọng,
sanh nhân ngã phải quấy thương ghét thủ xả. Nếu nhận định thân này như thây
chết, không quý trọng nó, không chấp nó là ngã thì có cái gì buông không hết? Chỉ
cần buông được hết, trong hai mươi bốn giờ đi đứng ngồi nằm, động tịnh rảnh
rang bận rộn, toàn thân trong ngoài chỉ là một niệm nghi, bình thản không dứt
niệm nghi, không chen niệm nào khác. Một câu thoại đầu như nương Ỹ Thiên
trường kiếm, ma đến ma chết, Phật đến Phật chết, không sợ vọng tưởng thì có cái
gì phá hại ta được? Có cái gì phân động phân tịnh, có cái gì chấp hữu chấp không?
Như quả thật sợ vọng tưởng, ấy là chồng thêm một lớp vọng tưởng. Biết mình
thanh tịnh, thế là đã không thanh tịnh. Sợ rơi vào không, chính đã rớt trong có.
Tưởng thành Phật, đã vào đường ma. Nên nói: “Bửa củi gánh nước đâu không
phải diệu đạo, cày ruộng cuốc đất đều là thiền cơ”. Không phải trong khi ngồi kiết
già mới gọi là dụng công tu hành.
2.- Lão dụng tâm khó dễ.
Lão dụng tâm khó – Đầu sào trăm thước không thể tiến bước.
Thế nào là lão dụng tâm khó? Lão dụng tâm đến giai đoạn chân nghi hiện
tiền, có giác có chiếu vẫn thuộc sanh tử, không giác không chiếu lại rơi vào không
vong, đến cảnh giới này thật là khó. Đa số người đến chỗ này vượt qua không khỏi,
đứng trên đầu sào trăm thước không có cách nào tiến bước. Có một số người nhân
đến cảnh giới này, trong định phát chút ít tuệ hiểu sơ lược một ít công án của cổ
nhân, liền bỏ hết nghi tình, tự cho là đại triệt đại ngộ, ngâm thi vịnh phú, nhướng
mày chớp mắt, xưng là thiện tri thức, thật không biết mình đã rơi vào bè đảng của
ma. Lại có người hiểu lầm ý nghĩa câu của Đạt-ma Lão nhân nói: “Ngoài dứt các
duyên, trong tâm không xao động, tâm như vách tường có thể vào đạo” và câu của
Lục Tổ nói: “Không nghĩ thiện, không nghĩ ác chính khi ấy cái gì là bản lai diện
mục của Thượng tọa”, bèn cho ngồi như cây như đá là hay tuyệt. Hạng người này
cho Hóa thành là Bảo sở, nhận xứ người cho là quê hương, thật là chỗ Bà tử đốt
am và mắng “Các ngươi là người chết”.
Lão dụng tâm dễ – Cứ miên mật đi !  Thế nào là lão dụng tâm dễ? – Đến lúc này chỉ cần không tự mãn, không
bỏ nửa chừng, thầm thầm kín kín dụng công, trong thầm kín lại thầm kín, trong vi
tế lại vi tế, khi thời tiết đến đáy thùng tự bể (đại ngộ). Nếu không tự bể, nhờ thiện
hữu tri thức nhổ đinh rút chốt cho.
Đại sĩ Hàn Sơn có bài tụng:
Chót vót trên đảnh núi,
Bốn phía không mé bờ.
Ngồi tịnh chả ai biết,
Suối lạnh vầng trăng soi.
Trong suối vốn không trăng,
Trời xanh trăng xa thẳm.
Ngâm một bài ca này,
Trong ca thiền chẳng có.
Hai câu đầu nói cái chân thường bày hiện, không thuộc một cái gì, sáng
chiếu khắp đại địa không một mảy chướng ngại. Bốn câu kế nói chân như diệu thể
phàm phu hẳn không thể biết, ba đời chư Phật cũng tìm không được chỗ nơi của ta,
nên nói: “chả ai biết”. Ba câu “Suối lạnh vầng trăng soi v.v…” là Lão nhân dùng
phương tiện thí dụ cảnh giới ấy. Hai câu rốt sau, sợ người nhận lầm ngón tay là
mặt trăng, nên đặc biệt cảnh giác chúng ta “phàm có nói năng không phải là thiền”.
3. KẾT LUẬN:
Chính tôi mới nói ở trên cũng là gỡ rối chỉ đường mà thôi. Phàm có nói
năng đều không phải thật nghĩa. Cổ đức tiếp độ người, nếu không đánh thì nạt, đâu
có vẽ bày lăng xăng vầy. Chẳng qua người nay không thể sánh với người xưa,
miễn cưỡng dùng tay chỉ mặt trăng. Chư vị đồng tham thiền! Cứu cánh ngón tay là
gì? Mặt trăng là gì? Hãy tham đi!

III. LỜI NHẮC KHI THAM THIỀN.
Tâm tức là Phật, Phật tức là giác. Một cái giác tánh này chúng sanh và Phật
bình đẳng không sai biệt; rỗng lặng trọn không có một vật, không thọ một pháp,
không thể tu chứng; sáng suốt mà đầy đủ muôn đức, diệu dụng hằng sa không nhờ
tu chứng. Chỉ vì chúng sanh mê muội trầm luân sanh tử trải qua rất nhiều số kiếp,
tham, sân, si, ái, vọng tưởng chấp trước nhiễm ô đã sâu dày, bất đắc dĩ mới nói tu
nói chứng. Thế nên, nói “tu” cổ nhân cho là một việc chẳng lành, không cách nào
hơn mới tạm dùng vậy thôi.
Thứ nói nhập thất. Quý vị nhập thất trải qua hai mươi mốt ngày. Trong hai
mươi mốt ngày xét ra thân tâm có phần thuần thục, dụng công sánh với trước được
dễ dàng. Quý vị cố gắng đừng để nhân duyên qua mất. Cần yếu trong hai mươi
mốt ngày làm sao cho được nước rút đá lộ, phát minh tâm địa mới khỏi cô phụ cái
cơ duyên khó gặp này.
Hơn hai mươi ngày nay, quý vị từ sáng đến tối thức sớm ngủ trễ, nỗ lực
dụng công, kết quả không ngoài bốn thứ cảnh giới: 1.- Có người đường lối không thông, câu thoại đầu khán không đến, mơ mơ
màng màng theo chúng ngủ gật, không bị vọng tưởng lăng xăng thì bị hôn trầm lôi
kéo.
2.- Có người khán đến câu thoại đầu, có chút ít hiểu bèn chấp chặt, chỉ là
nắm chết cứng hòn gạch gõ cửa, niệm chấp câu thoại đầu “Niệm Phật là gì?”,
thành ra niệm thoại đầu, cho như thế là khởi nghi tình được khai ngộ. Đâu biết đó
là dụng tâm tại thoại vĩ. Nó là pháp sanh diệt không thể đến được chỗ một niệm
không sanh, tạm dùng còn khả dĩ, nếu chấp cho là cứu cánh thật pháp thì mong gì
có ngày ngộ đạo? Gần đây trong thiền tông sở dĩ không có người đạt đạo, phần
nhiều do lầm dụng tâm tại thoại vĩ.
3.- Có người hiểu khán thoại đầu, hay chiếu cố đến hiện tiền một niệm
không sanh. Hoặc hiểu niệm Phật là tâm, tức từ chỗ một niệm phát khởi này thẳng
khán đến tâm tướng vô niệm. Theo dõi lần đến chỗ tịch tịnh, những vọng tưởng
thô đã dứt, được khinh an, liền có các cảnh giới phát hiện. Hoặc không biết thân
tâm mình đang ngồi chỗ nào. Hoặc biết thân được nhẹ nhàng có thể bay bổng lên
trên. Hoặc thấy người, vật đẹp đáng yêu nên sanh tâm hoan hỷ. Hoặc thấy cảnh
giới đáng sợ, khởi tâm kinh khủng. Hoặc khởi tâm dâm dục v.v… nhiều thứ không
phải một, cần biết đó đều là ma, chấp nó bèn thành bệnh.
4.- Có người nghiệp chướng nhẹ nhàng, đường lối rành rõ, dụng công đúng
cách, tiến đúng phương pháp, tâm được thanh tịnh sáng suốt, tất cả vọng tưởng
đều dứt, thân tâm tự tại không có cảnh giới nào khác. Đến chỗ này chấn khởi tinh
thần theo đường lối trước dụng công, chỉ phải chú ý “cây khô trước hang nhiều lối
tẽ”. Có khi đến chỗ này, rồi dừng trụ trong hôn trầm. Có khi đến chỗ này được
chút ít tuệ giải, rồi làm thi làm văn, tự cho là đầy đủ, khởi cống cao ngã mạn.
Bốn cảnh giới trên đều là bệnh, tôi sẽ chỉ quý vị phương thuốc đối trị.
a) Như người câu thoại đầu khán không đến, nhiều vọng tưởng hôn trầm,
ông nên khán lại chữ gì trong câu “Niệm Phật là gì?”. Khán đến khi nào vọng
tưởng hôn trầm còn ít, chữ gì không quên, liền khán đến chỗ một niệm mới phát
khởi. Ở đó đợi đến lúc một niệm không khởi tức là được không sanh. Hay khán
đến một niệm không sanh, gọi là chân khán thoại đầu.
b) Người chấp chặt câu “Niệm Phật là gì?”, dụng tâm tại thoại vĩ, lấy pháp
sanh diệt cho là phải, cũng nên theo ý tứ tôi đã chỉ ở trên, tức là nhắm chỗ một
niệm phát khởi, khán đến một niệm không sanh.
c) Người quán vô niệm đã được tịch tịnh khinh an mà gặp những cảnh giới
khác lạ, ông nên chiếu cố câu thoại đầu cũ, một niệm không sanh, Phật đến Phật
chết, ma đến ma chết, một bề không để ý đến, tự nhiên vô sự không rơi vào chúng
tà.
d) Người vọng niệm đã dứt, thanh tịnh sáng suốt thân tâm tự tại, nên như cổ
nhân nói: “Muôn pháp về một, một về chỗ nào?”. Do một bề tiến đến chỗ cùng
cực, thẳng tiến lên ngọn núi cao chót vót đứng, xuống tận đáy biển sâu thăm thẳm
đi, lại buông tay ngang dọc.
Trở về trước đã nói, đều là đối với người độn căn trong thời mạt pháp mà
chỉ phương pháp. Kỳ thật tông môn thượng thượng nhất thừa này chỉ thú do đức Bổn Sư Thích-ca Mâu-ni ở trong hội Linh Sơn đưa cành hoa sen lên biểu thị là
“Giáo ngoại biệt truyền”. Trải qua chư vị Tổ sư chỉ truyền tâm, chỉ thẳng tâm
người thấy tánh thành Phật, không rơi vào giai cấp, không nhờ tu chứng. Trong
một lời nói, hoặc nửa câu liền thấu rõ không một pháp có thể được, không một
pháp có thể tu, liền đó không khởi vọng duyên tức là như như Phật, đâu cần học
nhiều câu ư?

IV. ĐÊM TRỪ TỊCH UỐNG PHỔ TRÀ DẠY CHÚNG.
Chư vị Thượng tọa! Đêm nay là ba mươi tháng Chạp rồi, đại chúng đều
nhận đã một năm qua, Thường trụ không có món gì ngon cúng dường, xin thỉnh
chư vị uống một chung trà. Chiếu theo sách lịch một năm có bốn mùa Xuân, Hạ,
Thu, Đông; mười hai tháng và hai mươi bốn tiết. Người đời hầu hết đều căn cứ
theo thời tiết mà làm việc. Như nhà nông thì mùa xuân cày, mùa hạ bừa, mùa thu
gieo, mùa đông gặt. Thợ thầy thì khởi công đình công. Buôn bán thì khai trương
kiết trướng. Trường học thì tựu trường bãi trường. Chúng ta người xuất gia thì kiết
chế giải chế, thỉnh chức thối chức. Không một nghề nào mà chẳng căn cứ thời tiết
làm việc. Một số người cho năm qua là rất quan trọng cần phải thu nhặt những
việc đã làm tổng kết lại, đồng thời cần phải nghỉ mấy ngày.
Chúng ta có duyên lành hãnh diện ngày nay đồng ở tại Vân Môn bình yên
qua một năm. Đó là nhờ Phật Tổ Bồ-tát gia hộ và Long Thiên phù trì, cũng do
chúng ta nhiều kiếp tài bồi công đức mới cảm được quả tốt này. Nhưng, chúng ta
được bình yên qua năm không thể quên được những người đang sống trong thống
khổ. Chúng ta không thể thích thú vui cười, cần phải tỉnh xét ăn năn sám hối, tinh
tấn tu hành tự lợi lợi tha, khuếch trương phước tuệ. Những vị già, cái chết đến
trong chớp mắt cần phải tinh tấn dõng mãnh tu hành. Những người trẻ, cũng
không nên lửng lơ qua ngày, phải biết con đường huỳnh tuyền không lựa già hay
trẻ, mồ hoang biết bao người trẻ tuổi. Tóm lại, tất cả đều sớm nỗ lực cầu thoát
khỏi vòng sanh tử mới là thượng kế.
Chúng ta lâu nay mỗi ngày thường uống trà, tại sao hôm nay gọi “uống
“Phổ trà”? Ấy là do lòng nhân từ của tiền bối mượn uống trà để kỉnh tỉnh môn đồ.
Xưa Triệu Châu Lão nhân đạo đức cao siêu, học giả mười phương đến tham học
rất đông. Một hôm, có hai vị tăng mới đến, Triệu Châu chỉ một vị hỏi: “Thượng
tọa từng đến đây chưa?”. Vị tăng thưa: “Chưa từng đến”. Triệu Châu bảo: “Uống
trà đi!”. Lại hỏi vị tăng khác: “Từng đến đây chưa?”. Vị tăng ấy thưa: “Đã từng
đến đây”. Triệu Châu bảo: “Uống trà đi!”. Viện chủ bạch: “Người chưa từng đến
dạy uống trà còn có thể được, người đã từng đến vì sao cũng dạy uống trà đi?”.
Triệu Châu gọi “Viện chủ!”. Viện chủ đáp: “Dạ!”. Triệu Châu bảo: “Uống trà đi!”.
Như thế, cả ba người đều được lợi ích. Sau này truyền khắp thiên hạ “Trà Triệu
Châu”. Lại như Tổ Vân Môn ở đây, có một học giả đến yết kiến, Ngài bèn cầm cái
bánh đưa lên, học giả liền lãnh hội. Sở dĩ thiên hạ lưu truyền “Bánh Vân Môn”,
“Trà Triệu Châu”. Hiện giờ chư vị uống trà, ăn bánh đã ngộ chưa? Nếu như chưa ngộ, phải dùng cách hỏi: “Uống trà là gì?”, “Ăn bánh là gì?”. Đại để người xưa
mỗi niệm hợp đạo, mỗi bước đều vô sanh, nên trải qua một câu kỉnh tỉnh liền được
ngộ đạo. Người nay phạm hạnh chưa trong sạch thường ở trong động, mỗi niệm
sanh diệt che lấp sâu dày, làm sao chỉ dạy pháp, cũng không giáo hóa người khác.
Cho nên chư vị phải buông hết tất cả, không cho phàm tình vọng niệm làm nhiễm
ô cái chân tâm sáng suốt của mình. Cổ nhân nói: “Chỉ dứt hết phàm tình, không
riêng có Thánh giải”. Các ông nay uống trà nếu không biết hương vị của trà, thì
đồng cây đá, nếu biết hương vị của trà, ấy là phàm phu. Làm sao bỏ được hai bên
có và không này, đó là bổn phận của tăng sĩ vậy. Tuy nhiên, siêu thoát hai cái hiểu
biết này vẫn còn sanh hoạt trong hang quỉ. Các ông phải kỹ càng “Buông hết thân
tâm, chớ theo các cơ quan mà chuyển động”, ngay đó tham đi!

V. TU CÙNG KHÔNG TU.
Giảng tu hành, giảng không tu hành đều là câu nói suông. Chúng ta thấu
triệt tâm quang của mình rồi, liền đó không có một việc thì còn cái gì mà nói tu
không tu. Thử xem chỗ hiển bày của Đức Bổn Sư Thích-ca Mâu-ni, xuất gia, hỏi
đạo, sau sáu năm khổ hạnh chứng đạo, khi sao mai mọc, Ngài than: “Lạ thay! Lạ
thay! Tất cả chúng sanh đều có đức tướng, trí tuệ Như Lai, chỉ vì vọng tưởng chấp
trước không thể chứng được. Nếu lìa vọng tưởng là thanh tịnh trí, tự nhiên trí, vô
sư trí tự nhiên hiện tiền”. Về sau nói pháp bốn mươi chín năm, mà Ngài tuyên bố:
“Ta chưa từng nói đến một chữ ”. Sau này, trải qua chư vị Tổ sư một mạch truyền
nối đều nhận định “Tâm, Phật, chúng sanh ba cái không khác”, “Chỉ thẳng tâm
người thấy tánh thành Phật”. Nói ngang, nói dọc, hoặc đánh, hoặc nạt đều vì đoạn
trừ phân biệt vọng tưởng của học giả; cốt cho học giả thẳng đó “biết được bản tâm,
thấy được bản tánh của mình”. Không nương vào một chút phương tiện nói tu nói
chứng. Ý chỉ của Phật Tổ, chúng ta đã thấy rõ ràng lắm vậy .
Một niệm tâm hiện tiền của chúng ta xưa nay vẫn thanh tịnh, vẫn tự đầy đủ,
bủa trùm khắp giáp, diệu dụng hằng sa cùng với chư Phật ba đời không khác. Chỉ
cần không nghĩ thiện, không nghĩ ác, không nghĩ gì cả, liền đó có thể thành Phật,
ngồi một chỗ mà thiên hạ thái bình. Như thế, còn có hạnh nào đáng tu, giảng tu
hành đâu không phải là câu nói suông. Nhưng một niệm tâm hiện tiền của chúng ta
đang hướng ngoại tìm cầu, vọng tưởng chấp trước không thể rời được, từ vô thỉ
đến nay lưu chuyển trong sanh tử, vô minh phiền não nhiễm quá sâu dày, ban đầu
không biết tự tâm là Phật, biết rồi cũng chẳng chịu thừa đương, không thể làm chủ
được, không có cái dũng khí của người tráng sĩ chặt tay, hằng ngày ở trong vọng
tưởng chấp trước. Người bậc thượng, trọn ngày làm thế này thế nọ, cầu thiền cầu
đạo, mà không thể rời được hữu tâm. Người bậc hạ, tham sân si ái bền chặt không
thể phá, chạy ngược với đạo. Hai hạng người này trầm luân trong sanh tử không
biết chừng nào dứt; nếu giảng không tu hành đâu không phải lời nói suông?
Các bậc đại trượng phu nhận định đã thấu triệt, biết rõ muôn sự muôn vật
xưa nay đều là giấc mơ, huyễn hóa, hòn bọt, cái bóng không có tự tánh, nhân và
pháp liền không, muôn duyên đều dứt, một niệm là muôn năm, thẳng đến chỗ vô sanh. Người bàng quan nhìn vào thấy bậc ấy cũng mặc áo, ăn cơm, đi đứng ngồi
nằm như người thường. Đâu biết bậc ấy đang ngồi yên trong nhà thái bình thanh
tịnh của mình, hưởng thọ kho báu vô tận, không khởi tâm không tạo tác, tự do tự
tại, động tịnh đều là như như, lạnh hay nóng chỉ vị ấy tự biết mà thôi. Không
những người, trời, quỷ thần trong tam giới lục đạo nhìn vị ấy không thấu, chính là
chư Phật Bồ-tát cũng chẳng làm gì được người ấy. Đối với bậc này, còn nói cái gì
là tu hành hay không tu hành?
Hạng kế đó, cần phải phát khởi chí hướng, thống thiết nhớ việc chết sống,
phát tâm hổ thẹn, khởi hạnh tinh tấn, hỏi đạo và cố gắng tham thiền; thường cầu
thỉnh các bậc thiện tri thức chỉ dạy lối tắt, phân biệt thế nào là chánh, là tà; tha
thiết giũa mài, lấy nước sông Hán mà rửa, đem ra mặt trời Thu mà phơi, dần dần
càng được tinh thuần trắng sạch. Với hạng người này không thể không nói tu
hành .
Đã nói từ trước đến đây chẳng qua dời trên đổi dưới đều thuộc phương tiện
tạm thời, người mắt sáng xem qua cốt nhận “vạch bùn lấy nước”. Song Tổ đình đã
cuối thu, cách Phật ngày càng xa thẳm, vì ứng hợp căn cơ chúng sanh, bất đắc dĩ
mới giảng giải thế này. Xét thật, giảng tu hành, giảng không tu hành đều là lời nói
suông. Thẳng đó là vô sự, vốn không có một vật, đâu phiền mở miệng. Các Bồ-tát
hội chăng?
D

ĐỐN NGỘ NHẬP ĐẠO YẾU MÔN

LỜI NÓI ĐẦU
Trước đây chúng tôi đã cho ra tập Thiền Căn Bản, do các Thiền sư y trong
kinh rút ra phương pháp tu thiền theo thứ lớp từ thấp lên cao. Đến tập này để tên là
Thiền Đốn Ngộ, căn cứ vào các tác phẩm của các Thiền sư nằm trong hệ thống
Thiền tông do Tổ Bồ-đề-đạt-ma truyền xuống. Tập sách này do góp năm tác phẩm
nhỏ chung lại.
Tác phẩm đầu là Thiền Tông Vĩnh Gia Tập của Thiền sư Huyền Giác, đệ tử
Lục Tổ Huệ Năng. Ngài thông suốt tam tạng giáo điển, lại rành rẽ về phương pháp
tu Chỉ Quán của Tông Thiên Thai. Do đó, trong tác phẩm này Ngài giải thích cách
tu Chỉ Quán và Thiền rất tinh vi, độc giả có thể nhân đó vào cửa đốn ngộ. Thích
Định Huệ, một Thiền sinh tại Thiền Viện Chân Không phiên dịch, chúng tôi xem
lại và cho đứng vào phần đầu của tập sách.
Tác phẩm thứ hai là Đốn Ngộ Nhập Đạo Yếu Môn của Thiền sư Tuệ Hải,
đệ tử Mã Tổ Đạo Nhất, cháu đời thứ ba của Lục Tổ Huệ Năng. Chúng tôi phiên
dịch và đã xuất bản vào năm 1971, nhưng hiện đã hết, nay cho in vào đây cũng là
một cách tái bản cho độc giả tiện việc nghiên cứu.
Tác phẩm thứ ba là Truyền Gia Bảo Thiền Tông Trực Chỉ của Thạch Thành
Kim hiệu Thiên Cơ đời Minh, Ngài là môn đệ dòng Thiền Lâm Tế. Chúng tôi
phiên dịch, chưa xuất bản.
Tác phẩm thứ tư là Tọa Thiền Dụng Tâm Ký của Thiền sư Thiệu Cẩn hiệu
Oánh Sơn dòng Tào Động ở Nhật Bản. Chúng tôi phiên dịch và đã cho in chung
trong quyển Tham Thiền Yếu Chỉ xuất bản vào năm 1962, hiện đã hết.
Tác phẩm thứ năm là Tham Thiền Yếu Chỉ của Hòa thượng Hư Vân, một
Thiền sư Trung Hoa gần chúng ta nhất. Trong tác phẩm này, Ngài dạy nghiêng về
thoại đầu theo lối tu sau này của dòng Lâm Tế. Chúng tôi phiên dịch và đã cho
xuất bản năm 1962, hiện đã hết. Để góp lại làm một tài liệu chung cho phương
pháp tu đốn ngộ, chúng tôi cho in chung trong tập này.
Năm tác phẩm trên mới chỉ là một phần rất nhỏ trong các tác phẩm của
Thiền tông. Nếu phiên dịch hết các tác phẩm về Thiền Đốn Ngộ có thể đến cả trăm
quyển thế này. Vì phương tiện có hạn, chúng tôi cố gắng làm được bao nhiêu thì
mừng bấy nhiêu. Điều cần yếu là độc giả khéo nghiền ngẫm để lãnh hội. Một câu
mà lãnh hội được thì tất cả đều thông.Nếu đọc cả trăm quyển mà không lãnh hội
được vẫn là người đứng ngoài cửa. Một thông tất cả đều thông thì còn nói gì
nhiều gì ít ? Thế nên quý ở chỗ lãnh hội, chớ không quý ở chỗ đọc nhiều. Tuy thế,
người không lãnh hội được, mà đọc nhiều sách Thiền hoặc đọc nhiều lần, lâu ngày
cơ duyên thuần thục tự nhiên lãnh hội.
Về phần lượng, quyển sách này chưa thấm vào đâu; song phần phẩm, nó
thật đáng kể. Nếu là độc giả nghiền nát được văn tự, có thể con đường đốn ngộ
không xa. Nếu là hành giả thì nương vào đây làm kim chỉ nam tiến bước, bảo sở
không mong cũng sẽ đến.
THÍCH THANH TỪ
TU VIỆN CHÂN KHÔNG
Mùa An Cư 1974
THIỀN SƯ HUYỀN GIÁC
?
LỜI DỊCH GIẢ
Quyển Đốn Ngộ Nhập Đạo Yếu Môn là một quyển luận nhỏ, nếu căn cứ
phần lượng mà nói thì không thấm vào đâu đối với tam tạng giáo điển, nếu nhìn
vào phẩm mà bàn là một viên ngọc quý vô giá của Thiền tông nói riêng, của Phật
giáo Đại thừa nói chung. Vì thế, sau khi xem nó, Mã Tổ bảo chúng “Việt Châu có
Đại Châu tròn sáng thấu suốt tự tại không ngại”. Đành rằng Mã Tổ nói Đại Châu
là ngầm ý chỉ Thiền sư Tuệ Hải, song sự thâm ngộ của Thiền sư Tuệ Hải được bày
hiện dưới mắt Mã Tổ qua quyển luận nhỏ này.
Tên Đốn Ngộ Nhập Đạo Yếu Môn nghĩa là “Cửa trọng yếu chóng ngộ vào
đạo”. Người tu hành muốn được mau ngộ tất nhiên phải bước vào cửa này, chớ
không còn cửa nào khác. Bởi vì cửa này là cửa tiến thẳng vào thẳng không quanh
co, không mượn nhiều phương tiện. Tiến thẳng vào thẳng cái gì ? – Tiến thẳng đến
vô sanh, vào thẳng Phật tánh. Những pháp tu khác hầu hết đều chỉ dạy từ từ, từ
thấp lên cao, từ cạn vào sâu. Duy pháp Đốn Ngộ này : “Ngay nơi sanh diệt nhận
vô sanh, ngay nơi phàm phu thấy được Phật tánh”. Ta hãy nghe trong đây định
nghĩa Thiền định : “Vọng niệm chẳng sanh là Thiền. Ngồi thấy bản tánh là Định”.
Thiền không có nghĩa là ngồi, mà trong bốn oai nghi tâm đều thanh tịnh sáng suốt
không có một vọng niệm dấy khởi. Định không có nghĩa chú tâm vào một cảnh,
mà thấy được bản tánh của mình. Bản tánh tức là Phật tánh hay chân tâm. Bản
tánh không sanh không diệt, nên tâm không chạy theo cảnh sanh diệt. Định ấy mới
thật chân định.
Pháp tu Đốn Ngộ này thật đơn giản, mà rất siêu việt. Vì lời dạy rất bình dị
nằm gọn trong một vài câu là đủ tu giải thoát. Như một câu trong đây : “Việc đến
chẳng nhận, tất cả chỗ không tâm”. Mới đọc qua chúng ta thấy nó rất tầm thường,
song nhận xét kỹ sẽ thấy nó hiện đầy đủ “Như Lai Thanh Tịnh Thiền” hay “Kim
Cang Tam-muội ”, “Pháp Hoa Tam-muội” v.v… Thật vậy, “Việc đến chẳng nhận”
tức là tám gió thổi chẳng động. Bởi vì việc lợi, việc suy, việc hủy nhục, việc đề
cao, việc khen ngợi, việc chê bai, việc khổ, việc vui đến, tâm đều không chấp nhận.
Do tâm không chấp nhận nên không động, mà luôn luôn an nhiên trước mọi cảnh.
Thế không phải Đại định là cái gì ? “Tất cả chỗ không tâm”, tức là trong mọi
trường hợp, mọi thời gian không khi nào phóng tâm chạy theo ngoại cảnh. Tâm
không theo cảnh là tâm như như hay là Đại Bát-nhã. Thế là đầy đủ Như Lai Thiền
rồi.
Bởi lời dạy cao siêu chắc thật này, nên Thiền sư Tuệ Hải dám đoan quyết
với chúng ta rằng : “Các ông nếu y theo lời dạy đây tu, mà chẳng được giải thoát,
tôi xin trọn đời thay các ông chịu tội trong Đại địa ngục”. Thiền sư đã khéo dùng
lời vấn đáp để chỉ dạy cho chúng ta dễ trực nhận, mà lại còn dám cam đoan y đó tu
hành sẽ được giải thoát, bằng không Ngài sẽ chịu tội địa ngục thế cho chúng ta.
Thật còn gì đại bi bằng. Nếu chúng ta đủ duyên cầm trên tay quyển luận này mà
không chịu y đó tu hành, thật là chúng ta đã cô phụ ơn Ngài !
Khi phiên dịch quyển luận này, chúng tôi mong quý độc giả cùng chúng tôi
đồng nỗ lực tiến thẳng đường chim mà chư Phật chư Tổ nói chung, Thiền sư Tuệ
Hải nói riêng, đã vạch và đã đi. Mong thay !
Kính ghi
Dịch giả : THÍCH THANH TỪ
TU VIỆN CHÂN KHÔNG
Cuối Xuân Tân Hợi (1971)
?
TIỂU SỬ: THIỀN SƯ TUỆ HẢI (ĐẠI CHÂU)
Sư họ Châu quê ở Kiến Châu, theo Hòa thượng Đạo Trí chùa Đại Vân ở
Việt Châu xuất gia học đạo.
Sơ khởi, Sư đến tham vấn Mã Tổ (Thiền sư Đạo Nhất). Mã Tổ hỏi :
– Từ đâu đi đến ?
Sư thưa :
– Ở Việt Châu chùa Đại Vân đến.
– Đến đây tính cầu việc gì ?
– Đến cầu Phật pháp.
– Kho báu nhà mình chẳng đoái hoài, bỏ nhà chạy đi tìm cái gì ? Ta trong
ấy không có một vật, cầu Phật pháp cái gì ?
Sư lễ bái thưa :
– Cái gì là kho báu nhà mình của Tuệ Hải ?
– Chính nay ngươi hỏi ta là kho báu của ngươi, đầy đủ tất cả không thiếu
thốn, tự do sử dụng, đâu nhờ tìm cầu bên ngoài.
Ngay câu nói này, Sư tự nhận bản tâm không do hiểu biết, vui mừng lễ tạ.
Sư ở lại đây hầu Mã Tổ sáu năm.
Sau vì bổn sư tuổi già, Sư phải về phụng dưỡng. Từ đây, Sư tàng ẩn chỗ
thâm ngộ của mình, hiện bề ngoài như kẻ tầm thường. Sư thầm soạn quyển Đốn
Ngộ Nhập Đạo Yếu Môn này, bị Huyền Ấn là cháu trong Pháp môn lén lấy đem
trình Mã Tổ.
Mã Tổ xem xong, bảo đại chúng :
– Việt Châu có Đại Châu (hạt châu lớn) tròn sáng thấu suốt, tự tại không
ngại.
Khi ấy, ở trong chúng có người biết Sư họ Châu bèn rủ nhau lần lượt tìm
đến thưa hỏi và nương tựa. Từ đó, người ta gọi Sư là Hòa thượng Đại Châu.
Sư từng từ chối không chịu chỉ dạy, nhưng chúng cứ khư khư theo hầu, bất
đắc dĩ Sư phải dùng biện tài vô ngại để giáo hóa.
?
ĐỐN NGỘ NHẬP ĐẠO YẾU MÔN
Cúi đầu đảnh lễ chư Phật khắp mười phương, các chúng Bồ-tát lớn. Nay
con soạn luận này, sợ e không hợp tâm Phật, xin cho con sám hối; nếu hợp tâm
Phật, trọn đem bố thí tất cả hữu tình, nguyện đời sau đều được thành Phật.
*
Hỏi : Phải tu pháp gì chóng được giải thoát ?
Đáp : Chỉ có một môn đốn ngộ là chóng được giải thoát.
– Thế nào là đốn ngộ ?
– Đốn là chóng trừ vọng niệm. Ngộ là ngộ không chỗ được.
– Từ cái gì mà tu ?
– Từ căn bản mà tu.
– Thế nào từ căn bản mà tu ?
– Tâm là căn bản.
– Làm sao biết tâm là căn bản ?
– Kinh Lăng-già nói : “Tâm sanh thì các thứ pháp sanh, tâm diệt thì các thứ
pháp diệt”. Kinh Duy-ma nói : “Muốn được tịnh độ, phải tịnh tâm ấy, tùy tâm ấy
tịnh là Phật độ tịnh”. Kinh Di Giáo nói : “Chỉ kềm tâm một chỗ không việc gì
chẳng xong”. Kinh nói : “Thánh nhân cầu tâm chẳng cầu Phật, ngu nhân cầu Phật
chẳng cầu tâm, trí nhân điều tâm chẳng điều thân, ngu nhân điều thân chẳng điều
tâm”. Kinh Phật Danh nói : “Tội từ tâm sanh lại từ tâm diệt”. Thế nên biết, tất cả
thiện ác đều do tâm mình, do đó nói tâm là căn bản.
Nếu người cầu giải thoát trước phải biết căn bản. Nếu chẳng đạt được lý
này, luống uổng nhọc công, từ nơi tướng bên ngoài mà cầu, thật không thể được.
Kinh Thiền Môn nói : “Từ nơi tướng bên ngoài mà cầu, dù trải qua nhiều kiếp trọn
không thể thành. Từ giác quán (xét soi) bên trong mà tu, bằng khoảng một niệm
liền chứng Bồ-đề”.
– Tu căn bản phải lấy pháp gì để tu ?
– Chỉ tọa thiền, thiền định liền được. Kinh Thiền Môn nói : “Cầu trí Thánh
của Phật, cốt phải thiền định. Nếu không thiền định, thì niệm tưởng xao động, phá
hoại căn lành kia”.
– Thế nào là thiền ? Sao là định ?
– Vọng niệm chẳng sanh là thiền. Ngồi thấy bản tánh là định. Bản tánh là
tâm vô sanh của ông vậy. Định là đối cảnh tâm không sanh, tám gió thổi chẳng
động. Tám gió là: lợi (tài lợi), suy (suy hao), hủy (hủy nhục), dự (đề cao), xưng
(khen ngợi), cơ (chê bai), khổ (đau khổ), lạc (vui vẻ). Nếu người được định như
thế, tuy là phàm phu mà liền vào vị Phật. Vì sao ? Vì kinh Bồ-tát Giới nói :
“Chúng sanh thọ Phật giới, liền vào ngôi vị chư Phật”. Người được như thế gọi là
giải thoát, cũng gọi đến bờ kia, hơn lục độ, vượt khỏi tam giới, là Bồ-tát đại lực, là
bậc Tôn vô lượng lực, là đại trượng phu.
*
– Tâm trụ chỗ nào là trụ ?
– Tâm trụ chỗ không trụ là trụ.
– Thế nào là chỗ không trụ ?
– Chẳng trụ tất cả chỗ, ấy là trụ chỗ không trụ.
– Thế nào là chẳng trụ tất cả chỗ ?
– Chẳng trụ tất cả chỗ là : Chẳng trụ nơi lành dữ, có không, trong ngoài,
chặng giữa, chẳng trụ không, cũng chẳng trụ chẳng không, chẳng trụ định, cũng
chẳng trụ chẳng định, tức là chẳng trụ tất cả chỗ. Chỉ cái chẳng trụ tất cả chỗ, ấy là
chỗ trụ. Người được như thế, gọi là tâm không trụ. Tâm không trụ là tâm Phật.
– Tâm ấy giống vật gì ?
– Tâm ấy chẳng phải xanh vàng đỏ trắng, chẳng phải dài ngắn tới lui, chẳng
nhơ chẳng sạch, chẳng sanh chẳng diệt, yên tịnh thường lặng lẽ. Đó là hình tướng
của bản tâm, cũng là bản thân. Bản thân là thân Phật.
*
– Thân tâm này lấy cái gì để thấy ? Lấy mắt thấy, lấy tai, mũi và thân tâm
v.v… để thấy chăng ?
– Cái thấy này không phải như các thứ thấy đó.
– Đã không như các thứ thấy đó, là lấy cái gì thấy ?
– Là tự tánh thấy. Vì sao ? Vì tự tánh (tánh của mình) xưa nay trong sạch
yên tịnh không lặng, chính trong cái thể không lặng ấy hay sanh cái thấy này.
– Chỉ như thể thanh tịnh còn không thể có, thì cái thấy này từ đâu mà có ?
– Ví như trong gương sáng tuy không có hình tượng, mà có thể thấy tất cả
hình tượng. Vì sao ? Vì gương sáng không tâm. Người học đạo nếu tâm không có
chỗ nhiễm, vọng tâm chẳng sanh, tâm ngã sở (tâm chấp mình và sự vật của mình)
diệt, tự nhiên được thanh tịnh, vì thanh tịnh nên hay sanh cái thấy này.
Kinh Pháp Cú nói : “Trong cứu cánh không, rõ ràng dựng lập, ấy là thiện tri
thức”.
*
– Kinh Niết-bàn trong phẩm Kim Cang Thân nói : “Không thể thấy mà thấy
rõ ràng, không có biết mà không chẳng biết” là thế nào ?
– Không thể thấy, vì cái thể của tự tánh không hình tướng, không thể có,
nên nói : “Không thể thấy”. Song cái thấy không thể được đó, thể nó yên tịnh lặng
lẽ, không có tới lui, chẳng lìa dòng đời, mà dòng đời không lôi cuốn được nó, thản
nhiên tự tại, tức là thấy rõ ràng.
Không có biết, vì tự tánh không hình, vốn không phân biệt, nên nói “không
có biết”. Không chẳng biết, vì trong cái thể không phân biệt ấy đầy đủ hằng sa
diệu dụng. Hay phân biệt tất cả, thì không việc gì chẳng biết, nên nói “không
chẳng biết”. Kệ Bát-nhã nói : “Bát-nhã không biết, không việc gì chẳng biết; Bátnhã
không thấy, không chỗ nào chẳng thấy”.
– Kinh nói : “Chẳng thấy có không là chân giải thoát”. Thế nào là chẳng
thấy có không ?
– Khi chứng được tâm thanh tịnh gọi là có, trong đó chẳng sanh cái tưởng
được tâm thanh tịnh, gọi là chẳng thấy có. Được cái tưởng không sanh không trụ,
mà không khởi tưởng được không sanh không trụ, gọi là chẳng thấy không, nên
nói chẳng thấy có không. Kinh Lăng Nghiêm nói : “Biết thấy lập biết là gốc vô
minh, biết thấy không thấy, đây là Niết-bàn”. Cũng gọi là giải thoát.
*
– Thế nào là không có chỗ thấy ?
– Nếu thấy kẻ nam người nữ và tất cả màu sắc hình tượng, mà ở trong đó
không khởi tâm yêu ghét thì cùng không thấy chẳng khác, ấy là không có chỗ thấy.
– Khi đối tất cả màu sắc hình tượng thì gọi là thấy, khi chẳng đối màu sắc
hình tượng cũng gọi là thấy chăng ?
– Gọi thấy !
– Khi đối vật là có thấy, khi không đối vật làm sao có thấy ?
– Nay nói thấy, không luận đối vật cùng chẳng đối vật. Vì sao ? Vì tánh
thấy thường hằng, khi có vật thì thấy vật, khi không vật thì thấy không. Thế nên
biết, vật tự có đi lại, tánh thấy không có đi lại, các căn (tai, mũi, lưỡi, thân…) cũng
như vậy.
– Ngay khi thấy vật, trong cái thấy có vật chăng ?
– Trong cái thấy chẳng lập vật.
– Ngay khi thấy không vật, trong cái thấy có không vật chăng ?
– Trong cái thấy chẳng lập không vật.
*
– Khi có tiếng là có nghe, khi không tiếng lại được nghe chăng ?
– Cũng nghe.
– Khi có tiếng là từ tiếng có nghe, khi không tiếng làm sao được nghe ?
– Nay nói nghe chẳng luận có tiếng không tiếng. Vì sao ? Vì tánh nghe
thường hằng. Khi có tiếng liền nghe, khi không tiếng cũng nghe.
– Người nghe như thế là ai ?
– Là tánh nghe của mình, cũng gọi là người biết nghe.
*
– Môn đốn ngộ này lấy gì làm Tông (chủ) ? Lấy gì làm Chỉ (chỉ thú) ? Lấy
gì làm Thể ? Lấy gì làm Dụng ?
– Lấy vô niệm (tâm không dấy khởi) làm Tông. Vọng tâm chẳng khởi làm
Chỉ. Lấy thanh tịnh làm Thể. Lấy trí làm Dụng.
– Đã nói vô niệm làm Tông, chưa biết vô niệm là vô niệm nào ?
– Vô niệm là không tà niệm, chớ chẳng phải không chánh niệm.
– Thế nào là tà niệm ? Thế nào là chánh niệm ?
– Niệm có, niệm không là niệm tà, chẳng niệm có không là niệm chánh;
niệm thiện, niệm ác là niệm tà, chẳng niệm thiện ác là niệm chánh; cho đến niệm
khổ vui, sanh diệt, thủ xả, oán thân, yêu ghét thảy đều là niệm tà, chẳng niệm khổ
vui… là niệm chánh.
– Thế nào là chánh niệm ?
– Chánh niệm là chỉ niệm Bồ-đề .
– Bồ-đề có thể được chăng ?
– Bồ-đề không thể được.
– Đã không thể được làm sao chỉ niệm Bồ-đề ?
– Bồ-đề chỉ là danh tự giả lập, thật không thể được. Cũng không có trước
sau được. Vì không thể được nên không có niệm. Chỉ cái không niệm ấy gọi là
chân niệm. Bồ-đề không có chỗ niệm. Không có chỗ niệm tức là tất cả chỗ không
tâm, ấy là không có chỗ niệm.
Những lối giải vô niệm như trên, đều là tùy sự phương tiện giả lập danh tự,
vẫn đồng một thể, không hai không khác. Cốt biết tất cả chỗ không tâm tức là “vô
niệm”. Khi được vô niệm thì tự nhiên giải thoát.
*
– Thế nào là hành hạnh Phật ?
– Chẳng hành tất cả hạnh là hành hạnh Phật, cũng gọi là hạnh chánh, cũng
gọi là hạnh Thánh. Như trước đã nói, chẳng hành có không, yêu ghét v.v… ấy vậy.
Đại luật quyển năm phẩm Bồ-tát nói : “Tất cả Thánh nhân chẳng hành hạnh chúng
sanh, chẳng hành hạnh chúng sanh là hạnh Thánh”.
*
– Thế nào là chánh kiến ?
– Thấy mà không có chỗ thấy là chánh kiến.
– Thế nào thấy mà không có chỗ thấy ?
– Khi thấy tất cả sắc không khởi nhiễm trước. Không nhiễm trước thì không
khởi tâm yêu ghét, ấy là thấy mà không có chỗ thấy. Nếu khi được thấy mà không
có chỗ thấy gọi là con mắt Phật, trọn không có con mắt khác. Nếu khi thấy tất cả
sắc khởi yêu ghét, ấy là có chỗ thấy. Có chỗ thấy là con mắt chúng sanh, trọn
không có con mắt khác làm con mắt chúng sanh, cho đến các căn cũng lại như thế.
*
– Nói lấy Trí làm Dụng, thế nào là Trí ?
– Biết hai tánh không tức là giải thoát. Biết hai tánh chẳng không, thì không
được giải thoát. Ấy gọi là Trí, cũng gọi là rõ tà chánh, cũng gọi hiểu Thể Dụng.
Hai tánh không là Thể, biết hai tánh không là giải thoát. Lại không sanh nghi gọi
là Dụng. Nói hai tánh không là chẳng sanh tâm có không, lành dữ, yêu ghét vậy.
*
– Môn này từ đâu mà vào ?
– Từ bố thí ba-la-mật mà vào.
– Phật nói sáu pháp ba-la-mật (đến bờ kia hay được cứu cánh) là hạnh của
Bồ-tát, tại sao ở đây chỉ nói riêng bố thí ba-la-mật thì đâu thể đầy đủ mà được vào ?
– Người mê không biết năm độ kia (trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định,
trí tuệ) đều nhân bố thí mà sanh. Chỉ tu bố thí thì sáu pháp đều đầy đủ.
– Bố thí vật gì ?
– Bố thí là bỏ hai tánh.
– Thế nào là hai tánh ?
– Bố thí là bỏ tánh thiện ác, bố thí là bỏ tánh có không, tánh yêu ghét, tánh
không chẳng không, tánh định chẳng định, tánh tịnh bất tịnh, tất cả đều cho bỏ hết
thì được hai tánh không. Nếu khi được hai tánh không, cũng chẳng được khởi
tưởng hai tánh không, cũng chẳng được khởi nghĩ tưởng có bố thí, tức là chân thật
hành bố thí ba-la-mật, cũng gọi là muôn duyên đều bặt. Muôn duyên đều bặt, tức
là tất cả pháp tánh không ấy vậy. Pháp tánh không là tất cả chỗ không tâm. Nếu
khi được tất cả chỗ không tâm là không có một tướng có thể được. Vì sao ? Vì tự
tánh không, nên không một tướng có thể được. Không một tướng có thể được là
tướng thật. Tướng thật là tướng Như Lai diệu sắc thân. Kinh Kim Cang nói : “Lìa
tất cả các tướng gọi là chư Phật”.
– Phật nói sáu ba-la-mật, tại sao nay chỉ nói một, cho là đầy đủ, xin nói
nguyên nhân một gồm đủ sáu pháp ?
– Kinh Tư Ích nói : “Ngài Võng Minh gọi Phạm thiên nói : Nếu Bồ-tát bỏ
tất cả phiền não gọi là Bố thí ba-la-mật. Nơi các pháp không có chỗ dính mắc gọi
là Trì giới ba-la-mật. Nơi các pháp không có chỗ xâm phạm gọi là Nhẫn nhục bala-
mật. Nơi các pháp lìa tướng gọi là Tinh tấn ba-la-mật. Nơi các pháp không có
chỗ trụ gọi là Thiền định ba-la-mật. Nơi các pháp không hý luận (nói trò đùa vô
nghĩa) là Trí tuệ ba-la-mật”. Đó gọi là sáu pháp. Nay nói sáu pháp này chẳng khác,
vì tóm lược pháp thứ nhất là bỏ, thứ hai là không khởi, thứ ba là không niệm, thứ
tư là lìa tướng, thứ năm là không trụ, thứ sáu là không hý luận. Sáu pháp như thế,
tùy việc phương tiện tạm đặt tên, chớ đến chỗ diệu lý thì không hai không khác.
Chỉ biết một bỏ thì tất cả đều bỏ, không khởi thì tất cả đều không khởi. Trên
đường mê lầm không khế hội ắt cho có sai khác. Người ngu mắc kẹt trong pháp số,
nên trôi lăn mãi trong sanh tử. Bảo cho các người học đạo, chỉ tu pháp Bố thí là
tròn đầy muôn pháp, huống là năm pháp mà chẳng đủ sao ?
*
– Tam học đẳng dụng, cái gì là tam học ? Thế nào là đẳng dụng ?
– Tam học là giới định tuệ.
– Nghĩa giới định tuệ thế nào ?
– Thanh tịnh không nhiễm là Giới. Biết tâm chẳng động, đối cảnh vắng lặng
là Định. Khi biết tâm chẳng động mà chẳng sanh tưởng chẳng động, khi biết tâm
thanh tịnh mà chẳng sanh tưởng thanh tịnh, cho đến thiện ác đều hay phân biệt, mà
ở trong ấy không nhiễm, được tự tại, ấy gọi là Tuệ.
Nếu khi biết thể của giới định tuệ đều không thể được, thì không phân biệt,
là đồng một thể, ấy gọi là tam học đẳng dụng.
*
– Nếu khi tâm trụ tịnh, chẳng phải chấp tịnh sao ?
– Khi được trụ tịnh, mà chẳng khởi tưởng trụ tịnh, ấy là không chấp tịnh.
– Tâm khi trụ không, chẳng phải chấp không chăng ?
– Nếu khởi tưởng không, gọi là chấp không.
– Nếu khi tâm được trụ chỗ không trụ, chẳng phải chấp chỗ không chỗ trụ
sao ?
– Chỉ cái khởi tưởng không là không có chỗ chấp. Nếu ông muốn thấu rõ,
hiểu được tâm không có chỗ trụ, thì khi ngồi ngay thẳng chỉ biết tâm, chớ suy nghĩ
tất cả vật, tất cả thiện ác đều chớ suy nghĩ, vì việc quá khứ đã đi rồi, chớ suy nghĩ,
thì tâm quá khứ tự bặt, gọi là không việc quá khứ. Việc vị lai chưa đến, chớ mong
chớ cầu, thì tâm vị lai tự bặt, gọi là không việc vị lai. Việc hiện tại đã hiện tại, đối
tất cả việc chỉ biết không chấp, không chấp là chẳng khởi tâm yêu ghét, thì tâm
hiện tại bặt, gọi là không việc hiện tại. Không nhiếp thuộc ba thời, cũng gọi không
ba thời. Nếu khi tâm khởi đi thì chớ theo đi, tâm đi tự bặt. Nếu khi tâm khởi đứng
cũng chớ theo đứng, tâm đứng tự bặt. Ấy là tâm không trụ, là trụ chỗ không trụ
vậy. Nếu tự biết rõ ràng khi trụ nơi trụ, chỉ có vật trụ cũng không có chỗ trụ, cũng
chẳng không chỗ trụ.
Nếu tự biết rõ ràng tâm chẳng trụ tất cả chỗ, gọi là rõ ràng thấy được bản
tâm, cũng gọi là rõ ràng thấy tánh vậy. Chỉ cái tâm chẳng trụ tất cả chỗ ấy, tức là
tâm Phật, cũng gọi là tâm giải thoát, tâm Bồ-đề, tâm vô sanh, sắc tánh không.
Kinh nói : “chứng vô sanh pháp nhẫn” đó vậy.
Nếu ông khi chưa được như thế, phải cố gắng ! Cố gắng ! Cần dụng công
thêm, khi công thành thì tự hội. Nói hội, là tất cả chỗ không tâm, ấy là hội. Nói
không tâm là không cái tâm giả chớ chẳng phải không tâm chân. Tâm giả là tâm
yêu ghét. Tâm chân thật là tâm không yêu ghét. Chỉ không tâm yêu ghét thì hai
tánh không. Hai tánh không thì tự nhiên giải thoát.
*
– Chỉ lúc ngồi thiền dụng công, khi đi có được dụng công chăng ?
– Nay nói dụng công, chẳng riêng khi ngồi, cho đến đi đứng ngồi nằm, làm
công việc, trong tất cả thời đều thường dụng công không gián đoạn ấy gọi là
thường trụ.
*
– Kinh Phương Quảng nói năm thứ pháp thân :
Thật tướng pháp thân
Công đức pháp thân
Pháp tánh pháp thân
Ứng hóa pháp thân
Hư không pháp thân.
Ngay nơi thân mình là thân nào ?
– Biết tâm chẳng hoại là Thật tướng pháp thân. Biết tâm bao gồm vạn tượng
là Công đức pháp thân. Biết tâm không tâm là Pháp tánh pháp thân. Tùy căn cơ
ứng nói là Ứng hóa pháp thân. Biết tâm không hình không thể được là Hư không
pháp thân. Nếu người thấu rõ nghĩa này là biết không chứng. Người không đắc
không chứng là chứng Phật pháp thân. Nếu có chứng có đắc, cho là chứng được ấy
là người tà kiến tăng thượng mạn, gọi là ngoại đạo. Vì cớ sao ? Kinh Duy-ma nói :
“Xá-lợi-phất hỏi Thiên nữ : Ngươi đã được pháp gì, chứng được pháp gì, mà biện
được như thế ? Thiên nữ đáp : Tôi không được không chứng, mới được như thế;
nếu có được có chứng thì ở trong Phật pháp là người tăng thượng mạn”.
*
– Kinh nói Đẳng giác, Diệu giác, thế nào là Đẳng giác ? Thế nào là Diệu
giác ?
– Tức sắc tức không (“Tức sắc tức không”: là thấy sắc mà không tâm; hoặc thấy
tánh sắc tức là không.) gọi là Đẳng giác. Vì hai tánh không, gọi là Diệu giác. Lại
nữa không giác, không không giác, gọi là Diệu giác.
– Đẳng giác cùng Diệu giác là khác hay chẳng khác?
– Vì tùy sự phương tiện giả lập hai tên, chớ bản thể là một không hai không
khác, cho đến tất cả pháp đều như vậy cả.
*
– Kinh Kim Cang nói : “Không pháp có thể thuyết, ấy gọi là thuyết pháp”,
nghĩa đó thế nào ?
– Thể của Bát-nhã cứu cánh thanh tịnh, không có một vật có thể được, ấy
gọi là “không pháp có thể thuyết”. Ngay trong thể không tịch của Bát-nhã, đầy đủ
diệu dụng như hằng sa, tức là không việc gì chẳng biết, “ấy gọi là thuyết pháp”.
Cho nên nói “không pháp có thể thuyết, ấy gọi là thuyết pháp”.
– Kinh nói : “Có người thiện nam thiện nữ thọ trì đọc tụng kinh này, nếu bị
người khinh chê, là người ấy tội nghiệp đời trước lẽ phải sa vào đường ác, do đời
nay bị người khinh chê nên tội nghiệp đời trước liền được tiêu diệt, sẽ được Vô
thượng Chánh đẳng Chánh giác”, nghĩa đó thế nào ?
– Như có người chưa gặp đại thiện tri thức chỉ tạo nghiệp ác, bản tâm thanh
tịnh bị ba độc vô minh che lấp không thể lộ bày, cho nên nói lẽ phải sa vào đường
ác. Do đời nay bị người khinh chê, tức là hôm nay phát tâm cầu Phật đạo, khiến vô
minh diệt hết, ba độc chẳng sanh, thì bản tâm sáng suốt, lại không loạn niệm, các
ác hằng dứt sạch nên đời này bị người khinh chê. Vô minh diệt hết, loạn niệm
chẳng sanh, thì tự nhiên giải thoát, nên nói sẽ được Bồ-đề. Chính khi phát tâm gọi
là đời này, chẳng phải cách đời.
– Kinh lại nói : “Như Lai có ngũ nhãn” thế là sao ?
– Thấy sắc thanh tịnh gọi là Nhục nhãn. Thấy thể thanh tịnh gọi là Thiên
nhãn. Đối các cảnh sắc cho đến thiện ác đều hay phân biệt vi tế, không có nhiễm
trước, ở trong ấy được tự tại, gọi là Tuệ nhãn. Thấy không có chỗ thấy gọi là Pháp
nhãn. Không thấy không không thấy gọi là Phật nhãn.
– Lại, kinh nói Đại thừa Tối thượng thừa, nghĩa ấy thế nào ?
– Đại thừa là Bồ-tát thừa, Tối thượng thừa là Phật thừa.
– Tu thế nào để được thừa này ?
– Người tu Bồ-tát thừa tức là Đại thừa. Chứng Bồ-tát thừa rồi, lại không
khởi quán, đến chỗ không tu, yên tịnh thường lặng lẽ, chẳng thêm chẳng bớt, gọi
là Tối thượng thừa, tức là Phật thừa.
*
– Kinh Niết-bàn nói : “Định nhiều tuệ ít chẳng lìa vô minh, định ít tuệ nhiều
thêm lớn tà kiến, định tuệ đồng nhau gọi là giải thoát”. Nghĩa đó thế nào ?
– Đối tất cả thiện ác đều phân biệt là tuệ; đối với cái bị phân biệt chẳng khởi
yêu ghét, chẳng nhiễm trước nó là định, đây là định tuệ đồng dùng vậy.
– Không bàn không nói gọi là định, chính khi bàn nói được gọi là định
chăng ?
– Nay nói định, chẳng luận nói cùng chẳng nói, vẫn thường định. Vì sao ?
Vì khi dùng tánh định nói năng phân biệt thì nói năng phân biệt cũng là định. Nếu
khi dùng tâm Không để quán sắc, thì lúc quán sắc cũng không. Nếu khi chẳng
quán sắc, chẳng nói chẳng phân biệt cũng không. Cho đến thấy nghe hiểu biết
cũng như thế. Vì cớ sao ? Vì tự tánh không thì đối tất cả chỗ đều không. Không thì
không chấp, không chấp là đồng dùng. Bởi Bồ-tát thường dùng pháp đẳng không
(cả thảy đều không) như thế nên được đến cứu cánh. Cho nên nói “định tuệ đồng
nhau gọi là giải thoát”.
Tôi lại vì ông nói thí dụ để hiển bày, khiến ông tỉnh tỉnh, được hiểu dứt
nghi. Ví như gương sáng khi chiếu soi hình tượng, ánh sáng của gương có động
chăng ? – Chẳng động. Lúc chẳng chiếu cũng động chăng ? – Chẳng động. Tại
sao ? – Vì gương sáng dùng ánh sáng vô tình chiếu, nên khi chiếu chẳng động, khi
chẳng chiếu cũng chẳng động. Vì sao ? Bởi trong vô tình không có động, cũng
không có chẳng động.
Lại như ánh sáng mặt trời khi chiếu thế gian, ánh sáng có động chăng ? –
Chẳng động. Nếu khi chẳng chiếu có động chăng ? – Chẳng động. Vì sao ? – Vì
ánh sáng kia vô tình, dùng ánh sáng vô tình chiếu soi, cho nên chẳng động, chẳng
chiếu cũng chẳng động. Chiếu đó là tuệ, chẳng động là định.
Nếu Bồ-tát dùng pháp định tuệ đồng ấy thì được Vô thượng giác. Cho nên
nói “định tuệ đẳng dụng tức là giải thoát”. Nói vô tình là không phàm tình, chẳng
phải không Thánh tình.
– Thế nào là phàm tình ? Thế nào là Thánh tình ?
– Nếu khởi hai tánh (có không, yêu ghét) tức là phàm tình. Hai tánh không
tức là Thánh tình.
*
– Kinh nói : “Bặt đường nói năng, dứt chỗ tâm nghĩ (ngôn ngữ đạo đoạn,
tâm hành xứ diệt). Nghĩa đó thế nào ?
– Dùng lời nói để hiển bày nghĩa, được nghĩa phải bặt lời. Nghĩa tức là
không, không tức là đạo, đạo thì bặt lời, nên nói “bặt đường nói năng”. Dứt chỗ
tâm nghĩ là được nghĩa thực tế (thực tại) thì chẳng khởi quán, vì chẳng khởi quán
nên vô sanh, vì vô sanh nên tất cả tánh sắc đều không, vì tánh sắc không nên muôn
duyên đều dứt, muôn duyên đều dứt, ấy là “dứt chỗ tâm nghĩ”.
*
– Như như là thế nào ?
– Như như là nghĩa chẳng động. Tâm chân như nên gọi là như như. Thế nên
biết chư Phật quá khứ hành hạnh này được thành đạo; Phật hiện tại hành hạnh này
cũng được thành đạo; Phật vị lai hành hạnh này cũng được thành đạo. Ba đời chư
Phật chỗ tu và chứng đạo không khác, nên nói như như. Kinh Duy-ma nói : “Chư
Phật cũng như, Di Lặc cũng như, cho đến tất cả chúng sanh thảy đều như”. Vì sao?
– Vì Phật tánh chẳng dứt, bởi có tánh vậy.
*
– Tức sắc tức không, tức phàm tức thánh, phải đốn ngộ chăng ?
– Phải.
– Thế nào là tức sắc tức không, tức phàm tức thánh ?
– Tâm có nhiễm tức sắc, tâm không nhiễm tức không, tâm có nhiễm tức
phàm, tâm không nhiễm tức Thánh. Lại, chân không mà diệu hữu là tức sắc, sắc
không có thật là tức không. Nay nói không là tánh sắc tự không, chẳng phải sắc
diệt mới không. Nói sắc là tánh không tự có sắc, không phải sắc hay làm sắc.
*
– Kinh nói : Pháp môn tận (hết) vô tận (không hết) là thế nào ?
– Vì hai tánh Không nên thấy nghe không sanh là tận (hết). Tận là các lậu
(nguyên nhân sanh tử) hết. Vô tận là ở trong thể vô sanh đầy đủ hằng sa diệu dụng,
tùy việc ứng hiện thảy đều đầy đủ, mà trong bản thể cũng không tổn giảm gọi là
vô tận. Ấy là pháp môn tận vô tận vậy.
– Tận cùng vô tận, là một hay khác ?
– Thể là một, nói thì có khác.
– Thể là một tại sao nói có khác ?
– Một là thể của nói, nói là dụng của thể. Vì tùy sự ứng dụng, nên nói thể
đồng mà nói thì khác. Ví như trên trời có một mặt nhật, dưới đất để các thứ chậu
chứa nước đầy, trong mỗi chậu đều thấy có mặt nhật. Các mặt nhật trong chậu
thảy đều tròn đầy cùng mặt nhật trên trời không sai biệt, nên nói thể đồng. Vì tùy
chậu đặt tên nên có sai biệt, do đó có khác. Cho nên bảo thể đồng, nói thì có khác.
Các mặt nhật hiện trong chậu đều tròn đầy, so với mặt nhật chánh trên trời không
có thua kém, nên nói “vô tận”.
– Kinh nói : “Chẳng sanh chẳng diệt”, pháp gì chẳng sanh ? Pháp gì chẳng
diệt ?
– Pháp ác chẳng sanh, pháp thiện chẳng diệt.
– Thế nào là ác ? Thế nào là thiện ?
– Tâm nhiễm lậu (ô nhiễm và trầm luân) là ác. Tâm không nhiễm lậu là
thiện. Chỉ không nhiễm không lậu thì pháp ác chẳng sanh. Khi được không nhiễm
không lậu thì thanh tịnh tròn sáng, lóng yên thường lặng, cứu cánh không dời đổi,
ấy gọi là pháp thiện chẳng diệt. Đây tức là chẳng sanh chẳng diệt vậy.
*
– Trong Bồ-tát Giới nói : “Chúng sanh thọ Phật giới liền vào vị chư Phật, vị
đồng bậc Đại giác rồi, mới thật là con Phật”, nghĩa này thế nào ?
– Phật Giới là tâm thanh tịnh đó vậy. Nếu có người phát tâm tu hành hạnh
thanh tịnh, được tâm không có chỗ thọ, gọi là thọ Phật giới. Chư Phật đời quá khứ
đều tu hạnh không thọ thanh tịnh, được thành Phật đạo. Thời nay có người phát
tâm tu hạnh không thọ thanh tịnh thì cùng chư Phật đồng công đức đẳng dụng
không khác, cho nên nói “vào vị chư Phật”. Như thế, được giác ngộ cùng Phật giác
ngộ đồng. Cho nên nói “vị đồng bậc Đại giác rồi, mới thật là con Phật”. Từ tâm
thanh tịnh sanh trí, trí thanh tịnh gọi là con chư Phật, cũng gọi là thật con Phật.
*
– Nói Phật với Pháp, là Phật có trước hay Pháp có trước ? Nếu Pháp có
trước thì Pháp ấy do Phật nào nói? Nếu Phật có trước thì nương giáo pháp nào
được thành đạo?
– Phật cũng có trước Pháp, cũng có sau Pháp.
– Nhân đâu nói Phật, Pháp có trước sau ?
– Nếu căn cứ Pháp tịch diệt mà nói thì Pháp trước Phật sau. Nếu căn cứ
Pháp văn tự mà nói thì Phật trước Pháp sau. Vì cớ sao ? – Vì tất cả chư Phật đều
nhân nơi Pháp tịch diệt mà được thành Phật, tức là Pháp trước Phật sau.
Kinh nói : “Làm thầy chư Phật, ấy là Pháp vậy”. Sau khi thành đạo rồi, Phật
mới nói rộng mười hai bộ kinh dẫn dắt giáo hóa chúng sanh, chúng sanh nương
nơi pháp Phật giáo hóa tu hành được thành Phật, ấy là Phật trước Pháp sau.
*
– Thế nào là thuyết thông tông chẳng thông ?
– Nói và làm trái nhau, tức là thuyết thông tông chẳng thông.
– Thế nào là tông thông thuyết cũng thông ?
– Nói và làm không sai biệt, tức là thuyết thông tông cũng thông.
– Kinh nói : “Pháp đến chẳng đến, chẳng đến đến” là thế nào ?
– Nói đến mà làm chẳng đến, gọi là đến chẳng đến. Làm đến mà nói chẳng
đến, gọi là chẳng đến đến. Làm nói đều đến, gọi là đến đến.
*
– Phật pháp chẳng hết hữu vi, chẳng trụ vô vi. Thế nào là chẳng hết hữu vi ?
Thế nào là chẳng trụ vô vi ?
– Chẳng hết hữu vi là từ mới phát tâm cho đến ở dưới cội Bồ-đề thành Đẳng
chánh giác, sau đến Song lâm vào Niết-bàn, trong khoảng giữa đó tất cả pháp đều
không bỏ. Ấy là chẳng hết hữu vi.
Chẳng trụ vô vi là tuy tu vô niệm mà chẳng dùng vô niệm làm chỗ chứng.
Tuy tu Không mà chẳng lấy Không làm chỗ chứng. Tuy tu Bồ-đề Niết-bàn vô
tướng vô tác, mà chẳng dùng vô tướng vô tác làm chỗ chứng. Ấy là chẳng trụ vô
vi.
*
– Có địa ngục hay không có địa ngục ?
– Cũng có cũng không.
– Tại sao cũng có cũng không ?
– Vì tùy tâm tạo tất cả nghiệp ác thì có địa ngục. Nếu tâm không nhiễm, vì
tự tánh Không thì không địa ngục.
*
– Chúng sanh chịu tội có Phật tánh chăng ?
– Cũng đồng Phật tánh.
– Đã có Phật tánh thì chính khi vào địa ngục Phật tánh đồng vào chăng ?
– Chẳng đồng vào.
– Vậy chính khi chúng sanh vào địa ngục Phật tánh ở chỗ nào ?
– Cũng đồng vào.
– Đã đồng vào thì khi chúng sanh chịu tội Phật tánh cũng đồng chịu tội
chăng ?
– Phật tánh tuy theo chúng sanh đồng vào, mà chúng sanh chịu tội khổ, Phật
tánh xưa nay vẫn không chịu.
– Đã đồng vào nhân đâu chẳng chịu ?
– Chúng sanh là có tướng, có tướng thì có thành hoại, Phật tánh là không
tướng, không tướng thì tánh Không. Thế nên, tánh chân không không có hoại. Ví
như có người chất củi trong hư không, củi lâu ngày bị mục, hư không chẳng mục.
Hư không dụ Phật tánh, củi dụ chúng sanh. Vì thế, nói đồng vào mà không đồng
chịu.
*
– Chuyển tám thức thành bốn trí, rút bốn trí thành ba thân, vậy mấy thức
chung thành một trí, mấy thức riêng thành một trí ?
– Mắt tai mũi lưỡi thân, năm thức này chung thành Thành sở tác trí. Ý thức
thứ sáu riêng thành Diệu quan sát trí. Tâm thức thứ bảy riêng thành Bình đẳng
tánh trí. Thức hàm tàng thứ tám riêng thành Đại viên cảnh trí.
– Bốn trí này là khác hay đồng ?
– Thể đồng mà tên khác.
– Thể đã đồng tại sao tên khác ?
– Vì tùy sự đặt tên (Câu đáp này trong bản văn thiếu, dịch giả thêm cho đủ
nghĩa.)
– Đã tùy sự đặt tên thì khi một thể, cái gì là Đại viên cảnh trí ?
– Yên tịnh không lặng tròn sáng chẳng động là Đại viên cảnh trí. Đối các
trần không khởi yêu ghét tức là hai tánh Không, hai tánh Không là Bình đẳng tánh
trí. Hay vào cảnh giới các căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân) khéo phân biệt mà chẳng
khởi loạn tưởng, được tự tại là Diệu quan sát trí. Hay khiến các căn tùy sự ứng
dụng, thảy vào Chánh định, không có hai tướng là Thành sở tác trí.
– Rút bốn trí làm ba thân, bao nhiêu trí chung làm một thân, bao nhiêu trí
riêng làm một thân ?
– Đại viên cảnh trí riêng thành Pháp thân. Bình đẳng tánh trí riêng làm Báo
thân. Diệu quan sát trí cùng Thành sở tác trí chung làm Hóa thân. Ba thân này
cũng giả lập tên để phân biệt, cốt cho người chưa hiểu xem. Nếu người liễu đạt lý
này cũng không có ba thân ứng dụng. Vì sao ? Vì thể tánh không tướng, từ gốc
không trụ mà lập, cũng không có gốc không trụ.
*
– Thế nào là thấy chân thân Phật ?
– Chẳng thấy có không, là thấy chân thân Phật.
– Thế nào là chẳng thấy có không, là thấy chân thân Phật ?
– Có nương nơi không mà lập, không nương nơi có mà hiển bày, vốn chẳng
lập có thì không đâu còn. Đã chẳng còn không thì có từ đâu mà có. Có với không
làm nhân cho nhau mà có. Đã làm nhân cho nhau mà có thì thảy đều sanh diệt. Chỉ
lìa hai cái thấy này, tức là thấy chân thân Phật.
– Có Không còn không thể được, huống là dựng lập chân thân, thì căn cứ
vào đâu mà lập ?
– Vì có hỏi nên lập. Nếu khi không hỏi thì tên chân thân cũng không thể lập.
Vì sao ? Ví như gương sáng nếu khi đối vật tượng tức hiện hình tượng, nếu khi
chẳng đối vật tượng trọn chẳng thấy hình tượng.
*
– Thế nào là thường chẳng rời Phật ?
– Tâm không khởi diệt, đối cảnh vắng lặng, trong tất cả thời cứu cánh
không tịch, tức là thường chẳng rời Phật.
*
– Thế nào là pháp vô vi ?
– Là hữu vi vậy.
– Nay hỏi pháp vô vi nhân sao đáp hữu vi?
– Hữu nhân vô mà lập, vô nhân hữu mà hiển. Vốn chẳng lập hữu thì vô từ
đâu mà sanh. Nếu luận về chân vô vi là chẳng chấp hữu vi cũng chẳng chấp vô vi,
ấy là pháp chân vô vi. Vì cớ sao ? Kinh nói : “Nếu chấp tướng pháp là chấp ngã
nhân, nếu chấp tướng phi pháp là chấp ngã nhân. Thế nên, chẳng nên chấp pháp,
chẳng nên chấp phi pháp” tức là được chân pháp vậy. Nếu thấu rõ được lý này là
chân giải thoát, là hội được pháp môn bất nhị.
– Thế nào là nghĩa trung đạo ?
– Nghĩa hai bên vậy.
– Nay hỏi nghĩa trung đạo, tại sao đáp nghĩa hai bên ?
– Hai bên nhân giữa mà lập, giữa nhân hai bên mà sanh. Trước nếu không
có hai bên thì giữa từ đâu mà có ? Nay nói giữa là nhân hai bên mà có. Cho nên
biết, giữa cùng hai bên nhân nhau mà lập, thảy đều vô thường, sắc thọ tưởng hành
thức cũng lại như thế.
*
– Thế nào gọi là năm ấm ?
– Đối sắc nhiễm sắc, theo sắc thọ sanh, gọi sắc ấm. Vì lãnh nạp vào trong
tám gió (lợi, suy, hủy, dự, xưng, cơ, khổ, lạc), ưa tập những thứ tin tà, từ trong sự
lãnh thọ mà sanh, gọi là thọ ấm. Mê tâm chấp tưởng, theo tưởng thọ sanh, gọi là
tưởng ấm. Kết nhóm các hành, theo hành thọ sanh, gọi là hành ấm. Nơi thể bình
đẳng vọng khởi phân biệt dính mắc, theo thức thọ sanh, gọi là thức ấm. Thế nên
gọi là năm ấm
*
– Kinh nói : Hai mươi lăm cõi, thế nào là hai mươi lăm cõi ?
– Là thọ thân đời sau vậy. Thân đời sau là thọ sanh trong sáu đường. Vì
chúng sanh hiện đời tâm mê ưa kết các nghiệp, sau ắt theo nghiệp thọ sanh, cho
nên nói đời sau.
– Ở đời nếu có người chí tâm tu hành được cứu cánh giải thoát, chứng vô
sanh pháp nhẫn, hằng lìa tam giới chẳng thọ thân sau. Người không thọ thân sau là
chứng pháp thân. Pháp thân tức là thân Phật.
– Tên hai mươi lăm cõi làm sao phân biệt ?
– Bản thể là một, vì tùy dụng đặt tên nên có rõ ràng hai mươi lăm cõi. Hai
mươi lăm cõi là mười điều ác, mười điều lành và năm ấm.
– Thế nào là mười điều ác, mười điều lành ?
– Mười điều ác là : Sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, nói thêu dệt, nói hai
lưỡi, nói hung ác và tham, sân, tà kiến. Mười điều lành là ngược lại chẳng làm
mười điều ác trên.
*
– Trước nói vô niệm mà tôi chưa thông tột ?
– Vô niệm là ở tất cả chỗ mà không tâm, không tất cả cảnh, không có những
nghĩ cầu, đối các cảnh sắc hằng không khởi động. Được vô niệm gọi là chân niệm.
Nếu dùng niệm khởi nghĩ làm niệm là tà niệm, chẳng phải chánh niệm. Vì sao ? Vì
Kinh nói : “Nếu dạy người lục niệm (niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm giới,
niệm thí, niệm Thiên) gọi là phi niệm”. Có lục niệm gọi là tà niệm. Không lục
niệm gọi là chân niệm. Kinh nói : “Này thiện nam ! Chúng ta trụ trong pháp vô
niệm được sắc vàng ba mươi hai tướng như thế, phóng hào quang lớn soi khắp các
thế giới, công đức không thể nghĩ bàn, Phật còn nói chẳng hết, huống là các thừa
mà có thể biết”.
Người được vô niệm, sáu căn không nhiễm, tự nhiên được vào tri kiến chư
Phật. Được như thế, gọi là Phật tạng (kho tàng Phật) cũng gọi là Pháp tạng (kho
tàng Pháp) hay bao gồm tất cả Phật, tất cả Pháp. Vì cớ sao ? Vì vô niệm vậy. Kinh
nói : “Tất cả chư Phật đều từ Kinh này xuất sanh”.
– Đã bảo vô niệm thì câu “Vào tri kiến Phật” từ đâu mà lập ?
– Từ vô niệm lập. Vì sao ? Kinh nói : “Từ gốc vô trụ lập tất cả Pháp”. Lại
nói : “Ví như gương sáng, trong gương tuy không hình tượng mà hay hiện muôn
vàn hình tượng. Vì sao ? Vì gương sáng nên hay hiện muôn vàn hình tượng”.
Người học đạo do tâm không nhiễm nên vọng niệm chẳng sanh, tâm ngã nhân diệt,
cứu cánh thanh tịnh, vì thanh tịnh hay sanh tri kiến vô lượng.
*
– Thế nào là đốn ngộ? (Câu này trong văn không có, e bản chữ Hán sót,
dịch giả thêm vào.)
– Đốn ngộ là ngay trong đời này được giải thoát. Làm sao mà biết ? Ví như
sư tử con, khi mới lọt lòng mẹ quả nhiên là sư tử. Người tu đốn ngộ cũng như thế,
ngay khi tu liền vào vị Phật. Như tre mùa xuân sanh măng, cũng ngay trong mùa
xuân măng bằng tre, đồng không có khác. Vì cớ sao ? Vì trong ruột trống. Người
tu đốn ngộ cũng như thế. Vì chóng trừ vọng niệm hằng dứt ngã nhân, cứu cánh
không tịch, cùng Phật bằng nhau, đồng không có khác. Cho nên nói : “Ngay nơi
phàm là thánh”. Người tu đốn ngộ chẳng rời thân này liền vượt tam giới. Kinh nói :
“Chẳng hoại thế gian mà vượt khỏi thế gian, chẳng xả phiền não mà vào Niết-bàn”.
– Người không tu đốn ngộ thì thế nào ?
– Người không tu đốn ngộ, ví như dã can nhập bầy sư tử, trải trăm ngàn
kiếp trọn chẳng được thành sư tử.
*
– Tánh chân như là thật không hay thật chẳng không? Nếu nói chẳng không
tức là có tướng. Nếu nói không tức là đoạn diệt. Tất cả chúng sanh phải nương vào
đâu tu hành để được giải thoát ?
– Tánh chân như cũng không cũng chẳng không. Vì sao? Vì diệu thể chân
như không hình không tướng không thể được, nên nói cũng không. Song trong thể
Không vô tướng đầy đủ diệu dụng hằng sa, không việc gì chẳng ứng hiện, nên nói
cũng chẳng không. Kinh nói : “Hiểu một tức ngàn theo, mê một tức muôn lầm”.
Nếu người giữ một thì muôn việc đều xong, ấy là diệu thuật ngộ đạo. Kinh nói :
“Sum la và vạn tượng đều do một pháp ấn hiện. Thế nào trong một pháp mà sanh
các thứ kiến ? Vì công nghiệp như thế do hành làm gốc”.
*
Nếu người chẳng chịu hàng phục tâm, y cứ văn nghĩa mà cho là chứng ngộ
thì không thể có. Người chấp như thế, là dối mình dối người, mình người đều đọa.
Phải cố gắng ! Cố gắng ! Xét nét kỹ càng. Chỉ việc đến chẳng nhận, tất cả chỗ
không tâm, người được như thế, liền vào Niết-bàn, chứng vô sanh pháp nhẫn, cũng
gọi là pháp môn bất nhị, cũng gọi vô tránh, cũng gọi nhất hạnh Tam-muội. Vì cớ
sao ? Vì cứu cánh thanh tịnh, không ngã không nhân, chẳng khởi thương ghét, là
hai tánh không, là không có chỗ thấy, tức là hoàn tất cái chân như vô đắc.
*
Quyển luận này chẳng truyền cho người không tin, chỉ truyền cho người
đồng kiến đồng hạnh. Phải xem xét người đối trước có tâm thành tín, kham lãnh
thọ không lui sụt, người như thế mới nên vì họ mà nói, chỉ dạy khiến cho họ được
ngộ. Tôi làm quyển luận này là vì người hữu duyên, chẳng phải cầu danh lợi.
Chư Phật nói ra ngàn kinh muôn luận, chỉ vì chúng sanh mê muội, tâm
hạnh chẳng đồng, tùy chỗ tà chấp của họ mà nói pháp đối trị, nên có sai biệt. Nếu
luận về lý giải thoát cứu cánh chỉ là việc đến chẳng nhận, tất cả chỗ không tâm,
hằng lặng lẽ như không, cứu cánh thanh tịnh tự nhiên giải thoát.
Ông chớ cầu hư danh miệng nói chân như, mà tâm tợ khỉ vượn, tức lời nói
việc làm trái nhau, gọi là dối mình, sẽ sa vào đường ác. Chớ cầu cái khoái lạc hư
danh nhất thời, mà chẳng biết nhiều kiếp phải chịu họa ương. Cố gắng! Cố gắng !
Chúng sanh phải tự độ, Phật không thể độ được. Nếu Phật hay độ chúng sanh, thì
chư Phật thời quá khứ số nhiều như cát bụi, lẽ ra tất cả chúng sanh đều được độ
hết. Vì sao chúng ta đến ngày nay vẫn còn trôi lăn trong sanh tử, không được
thành Phật ? Thế nên biết, chúng sanh phải tự độ, Phật không thể độ được. Cố
gắng ! Cố gắng ! Tự mình lo tu hành, chớ ỷ lại vào sức Phật khác. Kinh nói :
“Phàm người cầu pháp chẳng chấp trước Phật mà cầu”.
*
– Ở đời sau, có những nhóm tạp học, làm sao cùng ở chung ?
– Chỉ hòa ánh sáng kia, chẳng đồng nghiệp kia, đồng chỗ mà chẳng đồng ở.
Kinh nói : “Tùy lưu (trôi theo) mà tánh thường vậy”. Người học đạo cần yếu phải
nghĩ “mình vì đại sự nhân duyên là việc giải thoát, thảy đều chẳng dám khinh
người chưa học, kính người mình học như Phật, chẳng đề cao đức của mình, chẳng
đố kỵ điều hay của người, tự xét nét hạnh của mình, chẳng dòm dõ lỗi của người”,
thì ở tất cả chỗ đều không bị chướng ngại, tự nhiên được khoái lạc.
Lặp lại kệ rằng :
Nhẫn nhục đạo thứ nhất,
Trước phải trừ ngã nhân,
Việc đến không thọ nhận,
Là thân chân Bồ-đề .
Kinh Kim Cang nói : “Người thông đạt pháp vô ngã, Như Lai gọi là Bồ-tát
chân thật”. Lại nói : “Chẳng thủ lại chẳng xả, hằng đoạn được sanh tử, tất cả chỗ
không tâm, gọi là con chư Phật”. Kinh Niết-bàn nói : “Như Lai chứng Niết-bàn
hằng đoạn dứt sanh tử”.
Kệ rằng :
Nay ta ý thật rất tốt,
Khi người chê mắng chẳng buồn,
Không lời chẳng nói phải quấy,
Niết-bàn sanh tử đồng đường.
Hiểu thấu bản tông nhà mình,
Vẫn là không có xanh đen,
Tất cả vọng tưởng phân biệt,
Vả biết người đời chẳng rõ.
Gởi lời phàm phu đời sau,
Dẹp hết trong tâm rơm cỏ,
Nay ta ý rất thênh thang,
Chẳng nói, không việc, tâm an.
Thong dong, tự tại, giải thoát,
Đông tây dời đổi dễ dàng,
Trọn ngày không nói lặng yên,
Niệm niệm hướng lý nghĩ xét.
Tự nhiên tiêu dao thấy đạo,
Sanh tử quyết chẳng liên quan,
Nay ta ý thật lạ kỳ,
Chẳng đến trên đời luống dối.
Vinh hoa thảy là giả tạm,
Áo rách cơm hẩm đủ no,
Đi đường gặp người biếng nói,
Người đời đều gọi ta ngu.
Ngoài hiện ngu ngơ ám độn,
Trong tâm sáng tợ lưu ly,
Thầm hợp La-hầu mật hạnh,
Chẳng phải phàm phu kham biết.
Tôi e các ông chẳng hội thấu lý chân giải thoát nên lại chỉ bày các ông.
*
– Kinh Duy-ma nói : “Muốn được tịnh độ phải tịnh tâm ấy”. Thế nào là tịnh
tâm ?
– Dùng cái tịnh cứu cánh làm tịnh.
– Thế nào là dùng cái tịnh cứu cánh làm tịnh ?
– Không tịnh cũng không không tịnh, tức là tịnh cứu cánh.
– Thế nào là không tịnh cũng không không tịnh ?
– Tất cả chỗ không tâm là tịnh, khi được tịnh mà chẳng khởi tưởng tịnh, gọi
là không tịnh. Khi được không tịnh cũng không được khởi tưởng không tịnh, gọi
là không không tịnh.
*
– Người tu hành lấy cái gì làm chứng ?
– Lấy cái chứng cứu cánh làm chứng.
– Thế nào là cái chứng cứu cánh ?
– Không chứng cũng không không chứng, gọi là chứng cứu cánh.
– Thế nào là không chứng và không không chứng ?
– Ở ngoài không nhiễm sắc, thanh v.v… bên trong tâm không khởi vọng
niệm, được như thế gọi là chứng. Khi được chứng mà không khởi tưởng chứng,
gọi là không chứng. Khi được không chứng cũng không khởi tưởng không chứng,
gọi là không không chứng.
*
– Thế nào là tâm giải thoát ?
– Không tâm giải thoát, cũng không không tâm giải thoát, gọi là chân giải
thoát. Kinh nói : “Pháp còn phải xả hà huống phi pháp”. Pháp là có, phi pháp là
không, chỉ chẳng chấp có không là chân giải thoát.
*
– Thế nào đắc đạo ?
– Dùng cái đắc cứu cánh làm đắc.
– Thế nào là cái đắc cứu cánh ?
-Không đắc cũng không không đắc, gọi là đắc cứu cánh.
*
– Thế nào là Không cứu cánh ?
– Chẳng Không cũng chẳng chẳng Không gọi là Không cứu cánh.
*
– Thế nào là chân như định ?
– Không định cũng không không định gọi là chân như định. Kinh nói :
“Không có pháp định gọi là Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, cũng không pháp
định Như Lai có thể nói”. Kinh nói : “Tuy tu Không mà chẳng lấy Không làm
chứng, cũng chẳng được khởi tưởng Không. Tuy tu Định mà chẳng lấy Định làm
chứng, cũng chẳng được khởi tưởng Định. Tuy được Tịnh mà chẳng lấy Tịnh làm
chứng, cũng chẳng được khởi tưởng tịnh”.
Nếu khi được định, được tịnh, được tất cả chỗ không tâm, liền khởi tưởng
được như thế, đều là vọng tưởng, liền bị ràng buộc không thể nói là giải thoát. Nếu
khi được như thế, rõ ràng tự biết, được tự tại, mà chẳng được cho thế là chứng,
cũng chẳng được khởi tưởng như thế là được giải thoát. Kinh nói : “Nếu khởi tâm
tinh tấn là vọng không phải tinh tấn. Nếu người hay trong tâm chẳng vọng là tinh
tấn không có bờ mé”.
*
– Thế nào là trung đạo ?
– Không khoảng giữa cũng không hai bên là trung đạo.
– Thế nào là hai bên ?
– Có tâm kia, có tâm này là hai bên.
– Thế nào là tâm kia tâm này ?
– Bên ngoài dính với sắc thanh gọi là tâm kia. Bên trong khởi vọng niệm là
tâm này. Nếu bên ngoài không nhiễm sắc, gọi là không tâm kia. Bên trong không
khởi vọng niệm, gọi là không tâm này. Thế nên không phải hai bên. Tâm đã không
hai bên thì giữa cũng đâu có được. Được như thế gọi là trung đạo. Thật là Như Lai
đạo. Như Lai đạo là tất cả người giác được giải thoát. Kinh nói : “Hư không chẳng
giữa chẳng hai bên, thân chư Phật cũng vậy”. Nhưng tất cả sắc không, là tất cả chỗ
không tâm vậy. Tất cả chỗ không tâm tức tất cả sắc tánh không. Hai nghĩa chẳng
khác, cũng gọi sắc không, cũng gọi pháp sắc không.
Nếu ông lìa “Tất cả chỗ không tâm”, mà được Bồ-đề giải thoát, Niết-bàn
tịch diệt, thiền định kiến tánh, thì không thể nào có. “Tất cả chỗ không tâm” tức là
được Bồ-đề giải thoát, Niết-bàn tịch diệt, cho đến lục độ đều là chỗ kiến tánh. Vì
cớ sao ? Kinh Kim Cang nói: “Không có một chút pháp có thể được, ấy gọi là Vô
thượng Chánh đẳng Chánh giác”.
*
– Nếu có tu tất cả hạnh đầy đủ thành tựu được thọ ký chăng ?
– Chẳng được.
– Nếu không tu tất cả pháp thành tựu, được thọ ký chăng ?
– Chẳng được.
– Nếu thế ấy, phải do pháp gì được thọ ký?
– Chẳng do có hành, cũng chẳng do không hành, là được thọ ký. Vì cớ sao?
Kinh Duy-ma nói : “Các hạnh tánh tướng đều vô thường”. Kinh Niết-bàn nói :
“Phật bảo Ca Diếp, các hạnh là thường, không có lẽ phải”. Ông chỉ tất cả chỗ
không tâm, là không có hạnh, cũng không không các hạnh, gọi là thọ ký. Nói tất
cả chỗ không tâm, là không tâm yêu ghét vậy. Nói không yêu ghét, là thấy việc tốt
chẳng khởi tâm yêu; thấy việc xấu cũng chẳng sanh tâm ghét .
Không yêu gọi là không tâm nhiễm, chính là sắc tánh không. Sắc tánh
không tức là muôn duyên đều bặt. Muôn duyên đều bặt thì tự nhiên được giải
thoát.
Ông phải xét kỹ đó, nếu khi chưa được tỉnh sáng thấu rõ, thì phải hỏi sớm
chớ có bỏ qua. Các ông nếu y theo lời dạy đây tu, mà chẳng được giải thoát, tôi
xin trọn đời thay các ông chịu tội trong đại địa ngục. Nếu tôi lừa dối các ông, sau
này tôi sanh nơi nào sẽ bị sư tử, cọp, sói ăn thịt. Các ông nếu chẳng y theo lời dạy
đây siêng năng tu hành thì không bảo đảm. Một phen mất thân này muôn kiếp khó
được lại. Phải cố gắng! Cố gắng! Cần phải tự biết .
?
GHI LỜI SƯ ĐÁP CÁC NGƯỜI ĐẾN HỎI
VÀ DẠY CHÚNG
Sư bảo học chúng :
– Tôi chẳng hội thiền, trọn không có một pháp có thể dạy người, không
phiền các ngươi đứng lâu, hãy tự đi đi!
Tuy vậy mà học chúng dần dần thêm đông, ngày đêm thưa hỏi. Sư bất đắc
dĩ vì hỏi giải đáp, biện tài không ngại.
*
Có vài vị Pháp sư đến hỏi :
– Định hỏi một câu, thầy có vui lòng đáp chăng ?
Sư bảo :
– Bóng trăng dưới đầm sâu, mặc ý mò bắt.(Thiền gia cho ngôn ngữ không
thể nói đến chân lý, chỉ nương ngôn ngữ để thấy chân lý ngoài ngôn ngữ. Vì thế
lời giải đáp như bóng mặt trăng hiện dưới đầm. Người muốn thấy mặt trăng thật,
phải nương bóng mặt trăng ấy, mà nhìn ngược lên trời thì mới thấy. Cố chấp bóng
mặt trăng dưới đầm, thì suốt kiếp không khi nào thấy bóng mặt trăng thật.)
– Thế nào là Phật ?
– Hồ nước trong đối diện, chẳng phải Phật là gì? (Tâm thanh tịnh là Phật.
Nếu đối cảnh mà tâm không sanh, chẳng phải Phật là gì ? Vì thế, Sư bảo “Hồ nước
trong đối diện”, tức là tâm đối cảnh chẳng động như hồ nước trong, khi ấy chẳng
phải Phật là cái gì ? Thiền tông chỉ tâm là Phật, chẳng đi cầu Phật bên ngoài. Nếu
đem tâm đi cầu Phật, ấy là vác Phật đi cầu Phật, không bao giờ thấy Phật.)
Các vị ấy đều ngơ ngác, không biết gì cả. Giây lâu có vị lại hỏi :
– Thầy nói pháp gì độ người ?
– Bần đạo chưa từng có một pháp gì độ người.
– Thiền sư nhà tối như thế ?
– Đại đức nói pháp gì độ người ?
– Giảng Kinh Kim Cang Bát-nhã.
– Giảng được bao nhiêu lần ?
– Hơn hai mươi lần.
– Kinh này ai nói ?
Pháp sư tằng hắng lên giọng gắt :
– Thiền sư khéo nói đùa, há không biết Phật nói sao?
– “Nếu nói Như Lai có nói pháp là chê bai Phật,
người ấy không hiểu nghĩa ta nói” (kinh Kim Cang). Nếu nói kinh này
không phải Phật nói tức là phỉ báng kinh. Thỉnh Đại đức nói xem ?
Pháp sư im lặng không đáp được.
Chốc lát, Sư lại hỏi :
– Kinh nói : “Nếu lấy sắc thấy ta, lấy âm thanh cầu ta, người ấy hành đạo tà,
không thể thấy Như Lai”. Đại đức hãy nói cái gì là Như Lai ?
– Đến chỗ này tôi mê hẳn.
– Từ trước đến giờ chưa từng ngộ nói cái gì là mê ?
– Thỉnh Thiền sư vì tôi nói.
– Đại đức giảng kinh hơn hai mươi lượt, lại chưa biết Như Lai ?
Pháp sư lễ bái cầu xin chỉ dạy.
Sư bảo :
– Như Lai là nghĩa Như của các pháp, đâu thể quên được.
– Phải là nghĩa Như của các pháp.
– Đại đức nói, phải cũng chưa phải.
– Văn kinh rõ ràng đâu thể chưa phải ?
– Đại đức Như chăng ?
– Như.
– Cây đá Như chăng ?
– Như.
– Đại đức Như, đồng cây đá Như chăng ?
– Không hai.
– Đại đức cùng cây đá đâu khác ?
Pháp sư không đáp được. Lại khen : “Đây là thượng nhân khó đối đáp
được”. Giây lâu lại hỏi :
– Thế nào được đại Niết-bàn ?
– Chẳng tạo nghiệp sanh tử.
– Thế nào là nghiệp sanh tử ?
– Cầu đại Niết-bàn là nghiệp sanh tử, bỏ nhơ lấy sạch là nghiệp sanh tử, có
đắc có chứng là nghiệp sanh tử, không vượt khỏi môn đối trị là nghiệp sanh tử.
– Thế nào là được giải thoát ?
– Vốn tự không phược (trói buộc) chẳng cần cầu giải thoát, dùng thẳng,
hành thẳng là Vô đẳng đẳng (Phật không ai so bằng gọi là vô đẳng, chư Phật đồng
nhau gọi là đẳng. Vô đẳng đẳng là chỉ cho Phật).
Pháp sư khen :
– Thiền sư như Hòa thượng thật là ít có.
Khen xong, Pháp sư lễ tạ lui ra.
*
Có vị cư sĩ đến hỏi :
– Tức tâm tức Phật, cái gì là Phật ?
Sư bảo :
– Ông nghi cái gì không phải Phật chỉ ra xem ?
Cư sĩ lặng thinh.
Sư nói tiếp :
– Đạt thì khắp cảnh là Phật, chẳng ngộ thì hằng trái xa.
*
Có Luật sư hiệu Pháp Minh đến nói :
– Các Thiền sư phần nhiều rơi vào không.
Sư bảo :
– Trái lại, các Tọa chủ phần nhiều rơi vào không.
Pháp Minh hoảng sợ hỏi :
– Tại sao rơi vào không ?
– Kinh luận là giấy mực văn tự, giấy mực văn tự đều là không (duyên hợp
không thể), dù là trên tiếng dựng lập danh, cú, văn, thân đâu chẳng phải là không.
Tọa chủ bám chặt vào giáo thể, đâu chẳng rơi vào không.
– Thiền sư rơi vào không chăng ?
– Chẳng rơi vào không.
– Sao lại chẳng rơi vào không ?
– Văn tự v.v… đều từ trí tuệ mà sanh, đại dụng hiện tiền đâu thể rơi vào
không.
– Cho biết một pháp không đạt, chẳng gọi là “Tất- đạt”.
– Luật sư chẳng những rơi vào không, lại còn dùng lầm danh ngôn.
Pháp Minh đổi sắc mặt hỏi :
– Lầm chỗ nào ?
– Luật sư chưa rành âm Trung Hoa và Phạn làm sao giảng thuyết ?
– Thỉnh Thiền sư chỉ ra chỗ lầm của Pháp Minh.
– Đâu chẳng biết “Tất-đạt” là tiếng Phạn sao? (Tất-đạt là tiếng Phạn, nói đủ
là Tất-bà-hạt-thích-tha-tất-đà. Trung Hoa dịch là Nhất thiết nghĩa. Xưa dịch âm
Tất-đạt là sai, không đủ âm.)
Pháp Minh tuy nhận thấy lỗi, mà tâm vẫn còn giận, lại hỏi :
– Phàm Kinh, Luật, Luận là lời Phật, đọc tụng, y giáo phụng hành, sao
chẳng thấy tánh ?
– Như chó điên đuổi bóng, sư tử cắn người. Kinh Luật Luận là tự tánh dụng,
người đọc tụng là tánh pháp.
– Phật A Di Đà có cha mẹ và họ chăng ?
– Phật A Di Đà họ Kiều Thi Ca, cha tên Nguyệt Thượng, mẹ tên Thù Thắng
Diệu Nhan.
– Xuất phát từ kinh điển nào ?
– Xuất phát từ tập Đà-la-ni.
Pháp Minh lễ tạ khen ngợi lui ra.
*
Có vị Pháp sư thông Tam tạng đến hỏi :
– Chân như có biến đổi chăng ?
Sư đáp :
– Có biến đổi.
– Thiền sư lầm.
– Đại đức có chân như chăng ?
– Có.
– Nếu không biến đổi quyết định là phàm tăng. Đâu chẳng nghe “Thiện tri
thức hay chuyển ba độc thành ba nhóm tịnh giới, chuyển sáu thức thành sáu thần
thông, chuyển phiền não thành Bồ-đề, chuyển vô minh thành đại trí”. Chân như
nếu không biến đổi, Đại đức thật là ngoại đạo, chủ trương tự nhiên vậy.
– Nếu vậy chân như tức có biến đổi ?
– Nếu chấp chân như có biến đổi cũng là ngoại đạo.
– Thiền sư vừa nói chân như có biến đổi, giờ lại nói không biến đổi, vậy thế
nào thật đúng ?
– Nếu người thấy tánh rõ ràng như hạt minh châu ma-ni hiện sắc, nói biến
đổi cũng được, nói không biến đổi cũng được. Nếu người không thấy tánh nghe
nói chân như biến đổi bèn hiểu biến đổi, nghe nói không biến đổi bèn hiểu không
biến đổi.
Pháp sư khen :
– Nên biết Nam tông (thiền đốn ngộ miền Nam) không thể lường.
*
Đồ đệ đạo Lão đến hỏi :
– Thế gian có pháp nào vượt hơn tự nhiên chăng ?
Sư đáp :
– Có.
– Pháp gì hơn được ?
– Hay biết tự nhiên vậy.
– Nguyên khí là Đạo chăng ?
– Nguyên khí tự nguyên khí, đạo tự đạo.
– Nếu như thế ắt phải có hai ?
– Biết, không hai người.
– Thế nào là tà, thế nào là chánh ?
– Tâm theo vật là tà, vật theo tâm là chánh.
*
Luật sư Nguyên đến hỏi :
– Hòa thượng tu có dụng công chăng ?
Sư đáp :
– Dụng công.
– Dụng công thế nào ?
– Khi đói thì ăn, khi mệt thì ngủ.
– Tất cả người đều như vậy, đồng chỗ dụng công của thầy chăng ?
– Chẳng đồng.
– Tại sao chẳng đồng ?
– Họ khi ăn chẳng chịu ăn, đòi trăm thứ cần dùng; khi ngủ chẳng chịu ngủ,
tính toán ngàn chuyện, do đó chẳng đồng.
Nguyên im lặng.
*
Đại đức Uẩn Quang đến hỏi :
– Thiền sư tự biết chỗ sanh chăng ?
Sư đáp :
– Chưa từng tử đâu cần luận sanh. Biết sanh tức là pháp không sanh, chẳng
lìa pháp sanh nói pháp không sanh. Tổ sư nói : “Chính cái sanh tức không sanh”.
– Người không thấy tánh cũng được như vậy chăng ?
– Tự chẳng thấy tánh chẳng phải không tánh. Vì sao? Vì thấy tức là tánh,
không tánh thì không thể thấy. Thức tức là tánh, nên gọi thức tánh. Liễu tức là
tánh, nên gọi liễu tánh. Hay sanh muôn pháp gọi là Pháp tánh, cũng gọi là Pháp
thân. Tổ sư Mã Minh nói : “Nói là pháp tức tâm chúng sanh. Nếu tâm sanh nên tất
cả pháp sanh, nếu tâm không sanh thì pháp không nương đâu sanh, cũng không
danh tự ”. Người mê chẳng biết Pháp thân không hình tượng, hay ứng vật hiện
hình, bèn nói : “Trúc biếc xanh xanh đều là Pháp thân, hoa vàng mịt mịt thảy đều
Bát-nhã” (thanh thanh thúy trúc tổng thị Pháp thân, uất uất hoàng hoa vô phi Bátnhã).
Hoa vàng nếu là Bát-nhã, Bát-nhã tức đồng vô tình. Trúc biếc nếu là Pháp
thân, Pháp thân tức đồng cây cỏ. Như người ăn măng tức ăn Pháp thân. Những lối
nói như thế đâu thể kể chép hết. Đối diện mê Phật nhiều kiếp mong cầu, trong
pháp thể mà mê lầm chạy tìm kiếm bên ngoài. Thế nên, người hiểu đạo đi đứng
ngồi nằm đều là đạo, người ngộ pháp tung hoành tự tại đều là pháp.
– Hư không hay sanh linh tri chăng ? Chân tâm duyên thiện ác chăng ?
Người tham dục là đạo chăng ? Người chấp phải quấy về sau tâm thông chăng ?
Người xúc cảnh sanh tâm có định chăng ? Người trụ chỗ yên lặng có tuệ chăng ?
Người ôm lòng khinh người có ngã chăng ? Người chấp không chấp hữu có trí
chăng ? Người tầm văn thủ chứng, người khổ hạnh cầu Phật, người lìa tâm cầu
Phật, người chấp tâm là Phật. Những người này hợp đạo chăng ? Thỉnh Thiền sư
mỗi mỗi vì đáp.
– Hư không chẳng sanh linh tri, chân tâm chẳng duyên thiện ác, người chìm
sâu trong tham dục căn cơ cạn, người phải quấy lăng xăng chưa thông, người xúc
cảnh sanh tâm ít định, người yên lặng quên hết là tuệ chìm, người khinh người cao
mạn là ngã mạn, người chấp không chấp có đều ngu, người tầm văn thủ chứng
thêm kẹt, người khổ hạnh cầu Phật là mê, lìa tâm cầu Phật là ngoại đạo, chấp tâm
là Phật là ma.
– Nếu như thế thì rốt ráo không thể có ?
– Rốt ráo là Đại đức, chẳng phải rốt ráo không thể có.
Uẩn Quang vui mừng lễ tạ lui ra
*
Sư thượng đường dạy chúng :
– Các ngươi may mắn tự khéo giữ cái vô sự. Kẻ nhọc nhằn tạo tác là mang
cùm sa ngục chớ gì ? Mỗi ngày từ sáng đến tối bôn ba nói : “Ta tham thiền học
đạo, hiểu thấu Phật pháp”, như thế càng không dính dáng gì. Chỉ chạy theo thinh
sắc biết bao giờ dứt. Bần đạo xưa đến tham vấn Hòa thượng ở Giang Tây (Mã Tổ),
Hòa thượng dạy : “Kho báu nhà của ngươi đầy đủ tất cả, sử dụng tự tại chẳng nhờ
cầu bên ngoài”. Bần đạo từ đây thảy thôi, của báu của mình tùy thân thọ dụng, có
thể nói sống thích thú, không một pháp có thể thủ, không một pháp có thể xả,
chẳng thấy một pháp có tướng sanh diệt, chẳng thấy một pháp có tướng qua lại,
khắp mười phương thế giới không một hạt bụi nào mà chẳng phải của báu nhà
mình. Chỉ quan sát kỹ càng tâm mình một thể Tam bảo thường tự hiện trước,
không thể nghi ngờ. Chớ suy xét, chớ tìm kiếm, tâm tánh xưa nay thanh tịnh. Kinh
Hoa Nghiêm nói : “Tất cả pháp chẳng sanh, tất cả pháp chẳng diệt, nếu hay hiểu
biết như thế, chư Phật thường hiện tiền”. Kinh Tịnh Danh nói : “Quán thân thật
tướng, quán Phật cũng vậy”. Nếu chẳng theo thanh sắc mà động niệm, chẳng theo
tướng mạo mà sanh hiểu, tự nhiên vô sự. Đi ! Chớ đứng lâu. Trân trọng !
Hôm nay đại chúng nhóm họp mãi không giải tán.
Sư hỏi :
– Các ngươi vì cớ sao ở đây mãi không đi ? Bần đạo đã đối diện trình nhau,
lại chịu thôi chăng ? Có việc gì khả nghi, chớ lầm dụng tâm uổng phí khí lực. Nếu
có nghi ngờ, các ngươi tùy ý thưa hỏi.
Có vị hiệu Pháp Uyên hỏi :
– Thế nào là Phật, thế nào là Pháp, thế nào là Tăng, thế nào là một thể Tam
bảo ? Xin Thầy từ bi chỉ dạy.
Sư đáp :
– Tâm là Phật chẳng cần đem Phật cầu Phật, tâm là Pháp chẳng cần đem
pháp cầu pháp. Phật, Pháp hòa hợp không hai là Tăng, tức là một thể Tam bảo.
Kinh nói: “Tâm, Phật, chúng sanh cả ba không khác”. Thân khẩu ý thanh tịnh gọi
là Phật ra đời, ba nghiệp không thanh tịnh gọi là Phật diệt độ. Ví như khi giận thì
không vui, khi vui thì không giận, chỉ một tâm thật không hai thể. Bản trí sẵn vậy,
vô lậu hiện tiền, như rắn hóa thành rồng không đổi vảy, chúng sanh hồi tâm thành
Phật chẳng đổi mặt. Tánh vốn thanh tịnh chẳng đợi tu thành, có chứng có tu tức
đồng người tăng thượng mạn. Chân không chẳng kẹt, ứng dụng không cùng,
không thủy không chung. Người lợi căn đốn ngộ dụng vô đẳng đẳng tức là A-nậubồ-
đề (Vô thượng Chánh giác). Tâm không hình tướng tức là sắc thân vi diệu.
Không tướng tức là thật tướng Pháp thân, thể tánh tướng đều không tức là thân hư
không vô biên. Muôn hạnh trang nghiêm, tức là công đức Pháp thân. Pháp thân
này là gốc của muôn hóa, tùy chỗ đặt tên : Trí dụng không hết gọi là Vô tận tạng
(kho vô tận), hay sanh muôn pháp gọi là Bản pháp tạng (kho gốc các pháp), đủ tất
cả trí gọi là Trí tuệ tạng (kho trí tuệ), muôn pháp về Như gọi là Như Lai tạng (kho
Như Lai). Kinh nói : “Như Lai đó, tức nghĩa Như của các pháp”. Lại nói : “Tất cả
pháp sanh diệt thế gian không có một pháp chẳng về Như ”.
*
Có vị khách hỏi :
– Đệ tử chưa biết Luật sư, Pháp sư, Thiền sư vị nào hơn cả, cúi xin Hòa
thượng từ bi chỉ dạy ?
Sư đáp :
– Luật sư là người mở pháp tạng Tỳ-ni (luật), truyền nề nếp làm mạng sống,
thấu suốt Trì Phạm thông đạt Khai Giá, giữ oai nghi để làm mô phạm, phổ cáo ba
phen yết-ma để làm nhân sơ khởi cho bốn quả (Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-nahàm,
A-la-hán). Nếu chẳng phải là hàng trưởng lão đức dày thì đâu kham đảm
trách.
– Pháp sư là người ngồi tòa sư tử, biện luận thông như nước chảy, đối với
nhiều người đông chúng soi thấu cổng huyền, mở cửa Bát-nhã nhiệm mầu, bình
đẳng bố thí tam luân không tịch. Nếu chẳng phải là hàng long tượng làm sao dám
đảm đương.
– Thiền sư là người nắm được then chốt của đạo, thấu suốt nguồn tâm, ra
vào co duỗi, tung hoành tùy vật ứng hiện; sự lý thảy đồng, chóng thấy Như Lai,
nhổ gốc sâu sanh tử, được Tam-muội hiện tiền. Nếu chẳng phải người an thiền
tịnh lự đến chỗ ấy thảy đều mờ mịt.
Tùy căn cơ thọ lãnh pháp tu, ba môn học tuy khác mà được ý quên lời thì
đồng Nhất thừa đâu sai biệt. Cho nên kinh nói : “Trong cõi Phật ở mười phương,
chỉ có pháp Nhất thừa, không hai cũng không ba, trừ Phật phương tiện nói, chỉ tạm
mượn danh tự, để dẫn đường cho chúng sanh” (Kinh Pháp Hoa).
Khách thưa :
– Hòa thượng thâm đạt ý chỉ của Phật, được biện tài vô ngại.
Lại hỏi thêm :
– Tam giáo Nho, Đạo, Thích là đồng hay khác ?
Sư đáp :
– Người đại lượng dùng đó thì đồng. Kẻ tiểu cơ cố chấp thì khác. Thảy đều
từ trên một tánh khởi dụng, tùy căn cơ thấy sai biệt thành ba, mê ngộ do người,
chẳng phải tại giáo đồng hay khác.
*
Pháp sư Đạo Quang chuyên giảng Duy Thức đến hỏi:
– Thiền sư dùng tâm nào tu đạo ?
Sư đáp :
– Lão tăng không tâm có thể dùng, không đạo có thể tu.
– Đã không tâm có thể dùng, không đạo có thể tu, tại sao mỗi ngày họp
chúng khuyên người học thiền tu đạo?
– Lão tăng còn không có chút đất cắm dùi thì chỗ nào họp chúng lại. Lão
tăng còn không có lưỡi thì đâu từng khuyên dạy người.
– Thiền sư đối diện mà nói dối.
– Lão tăng còn không có lưỡi khuyên người thì đâu biết nói dối.
– Thật tôi không hiểu lời luận nghị của Thiền sư.
– Lão tăng tự cũng chẳng hội.
*
Pháp sư Chí chuyên giảng kinh Hoa Nghiêm đến hỏi:
– Tại sao chẳng nhận “Trúc biếc xanh xanh đồng là Pháp thân, hoa vàng mịt
mịt thảy đều Bát-nhã” ?
Sư đáp :
– Pháp thân không tướng, ứng hiện trong trúc biếc thành hình, Bát-nhã vô
tri đối với hoa vàng mà hiển tướng, chẳng phải trúc biếc hoa vàng kia có Pháp
thân Bát-nhã. Kinh nói : “Chân Pháp thân của Phật giống như hư không, ứng vật
hiện hình như trăng trong nước”. Hoa vàng nếu là Bát-nhã, Bát-nhã tức đồng vô
tình. Trúc biếc nếu là Pháp thân, trúc biếc lại hay ứng dụng. Tọa chủ hội chăng ?
– Chẳng rõ ý này.
– Nếu người thấy tánh nói phải cũng được, nói chẳng phải cũng được, tùy
dụng mà nói, chẳng kẹt phải quấy. Nếu người chẳng thấy tánh nói trúc biếc thì
chấp trúc biếc, nói hoa vàng thì chấp hoa vàng, nói Pháp thân thì kẹt Pháp thân,
nói Bát-nhã mà chẳng biết Bát-nhã. Do đó mà trở thành tranh luận.
Pháp sư Chí lễ tạ lui ra.
*
Có người hỏi :
– Đem tâm tu hành bao lâu được giải thoát ?
Sư đáp :
– Đem tâm tu hành ví như lấy bùn lỏng rửa nhơ. Bát-nhã huyền diệu vốn tự
không sanh, đại dụng hiện tiền chẳng luận thời tiết.
– Phàm phu cũng được như thế chăng ?
– Người thấy tánh thì chẳng phải phàm phu, đốn ngộ thượng thừa thì đã siêu
phàm vượt thánh. Người mê luận phàm bàn thánh, người ngộ siêu vượt sanh tử
Niết-bàn, người mê nói sự nói lý, người ngộ đại dụng cùng khắp. Người mê cầu
đắc cầu chứng, người ngộ không đắc không cầu. Người mê hẹn kiếp xa sẽ chứng,
người ngộ chóng thấy liền.
*
Pháp sư giảng kinh Duy-ma đến hỏi :
– Kinh nói : “Lục sư ngoại đạo kia v.v… là thầy của ngươi, nhân kia xuất
gia, thầy kia bị đọa ngươi cũng theo đó mà đọa. Người thí cho ngươi chẳng gọi
phước điền, cúng dường cho ngươi đọa trong ba đường ác. Chê Phật, hủy pháp,
chẳng vào số chúng, trọn chẳng được diệt độ. Ngươi nếu như thế mới nên nhận
thức ăn” (Kinh Duy-ma). Thỉnh Thiền sư vì giải thích.
Sư đáp :
– Người mê chạy theo sáu căn gọi là Lục sư, ngoài tâm cầu Phật gọi là
ngoại đạo, thấy có vật để thí chẳng gọi phước điền, sanh tâm nhận cúng dường đọa
ba đường ác. Ngươi nếu hay chê bai Phật là chẳng đắm cầu Phật, hủy báng Pháp là
chẳng đắm cầu Pháp, chẳng vào số chúng là chẳng đắm cầu Tăng, trọn chẳng được
diệt độ là trí dụng hiện tiền. Nếu có người hay hiểu được như thế liền được thức ăn
thiền duyệt pháp hỷ.
*
Có vị cư sĩ đến hỏi :
– Có người hỏi Phật đáp Phật, hỏi Pháp đáp Pháp, bảo là pháp môn một chữ,
chẳng biết phải chăng ?
Sư đáp :
– Như chim Anh Võ học nói tiếng người, tự nói chẳng đặng, vì không trí tuệ.
Ví như đem nước rửa nước, đem lửa đốt lửa, trọn không có nghĩa lý gì.
*
Có người hỏi :
– Ngôn với ngữ là đồng hay khác ?
Sư đáp :
– Là một. Bởi vì lời nói (ngôn) thành câu gọi là ngữ. Vả như biện luận thao
thao, ví tợ như nước chảy trong sông lớn, lời hay chồng chập, như hạt châu
nghiêng để trong đồ tròn, mở rộng tên vạn tượng như nước chảy, chia chẻ nghĩa
nhiều như biển cả, đó là ngữ vậy. Ngôn là một chữ hiện bày của tâm. Ở trong chứa
huyền vi, bên ngoài hiện diệu tướng, muôn việc khuấy rối mà chẳng loạn, trong
đục lẫn lộn mà thường phân biệt. Vua Tề vẫn còn hổ thẹn lời của Đại phu, Bồ-tát
Văn Thù còn khen ngợi câu nói của Tịnh Danh, thì người thường làm sao hiểu nổi.
*
Luật sư Nguyên đến hỏi :
– Thiền sư thường nói : “Tức tâm là Phật”, không hợp lý. Vả lại, Bồ-tát
Nhất Địa phân thân ở trăm thế giới chư Phật, Nhị Địa tăng lên gấp mười. Thiền sư
thử hiện thần thông xem ?
Sư đáp :
– Chính mình Xà-lê là phàm hay Thánh ?
– Là phàm.
– Đã là phàm tăng sao lại hỏi cảnh giới như thế ? Kinh nói : “Nhân giả tâm
có cao thấp, chẳng y nơi trí tuệ Phật”, đây là thế.
– Thiền sư mỗi ngày bảo : Nếu ngộ đạo thì thân hiện tiền liền được giải
thoát, cũng không hợp lý.
– Có người trọn đời làm lành, bỗng nhiên ăn cắp đồ người cầm trong tay,
ngay khi ấy thân này phải thân kẻ cắp chăng ?
– Phải.
– Hiện nay thấy tánh rõ ràng, tại sao không được giải thoát ?
– Đời nay hẳn không được, phải trải qua ba đại A-tăng-kỳ kiếp (ba vô số
kiếp) mới được.
– A-tăng-kỳ kiếp lại có số chăng ?
Nguyên lên giọng bảo :
– Đem kẻ cắp so với giải thoát, được thông đạo lý chăng ?
Sư đáp :
– Xà-lê tự chẳng hiểu đạo, không thể chướng tất cả người hiểu, con mắt
mình chẳng mở, không thể chướng tất cả người thấy vật.
Nguyên đổi sắc vừa đi vừa nói :
– Lão già hỗn tạp vô đạo.
Sư bảo :
– Chính đường đi đó là đạo của ông.
*
Pháp sư Tuệ chuyên giảng Chỉ Quán đến hỏi :
– Thiền sư biện biệt được ma chăng ?
Sư bảo :
– Khởi tâm là thiên ma, chẳng khởi tâm là ấm ma, hoặc khởi chẳng khởi là
phiền não ma. Trong chánh pháp ta không có việc như thế.
– Nhất tâm tam quán, nghĩa thế nào ?
– Tâm quá khứ thì đã qua, tâm vị lai thì chưa đến, tâm hiện tại thì không trụ,
ở trong đó lại dùng tâm nào để quán?
– Thiền sư chẳng hiểu Chỉ Quán.
– Tọa chủ hiểu chăng ?
– Hiểu.
– Như Trí Giả Đại sư nói Chỉ để phá Chỉ, nói Quán để phá quán, trụ Chỉ thì
chìm trong sanh tử, trụ Quán thì tâm thần loạn. Thế là, phải đem tâm Chỉ tâm, hay
khởi tâm Quán để quán ? Nếu có tâm quán là pháp thường kiến, nếu không tâm
quán là pháp đoạn kiến, cũng có cũng không là pháp nhị kiến. Thỉnh Tọa chủ xét
kỹ nói xem ?
– Nếu hỏi như thế đều không thể nói được.
– Vậy thì đâu từng Chỉ Quán.
*
Có người hỏi :
– Bát-nhã lớn chăng ?
Sư đáp :
– Lớn.
– Lớn bằng chừng nào ?
– Không có ngằn mé.
– Bát-nhã nhỏ chăng ?
– Nhỏ.
– Nhỏ bằng chừng nào ?
– Xem chẳng thấy.
– Chỗ nào là Bát-nhã ?
– Chỗ nào chẳng phải Bát-nhã ?
*
Pháp sư giảng kinh Duy-ma hỏi :
– Chư Bồ-tát mỗi vị nhập pháp môn Bất nhị, ngài Duy-ma lặng thinh là cứu
cánh chăng ?
Sư đáp :
– Chưa phải cứu cánh. Thánh ý nếu tột thì đến quyển ba lại nói việc gì ?
Pháp sư im lặng giây lát, thưa :
– Thỉnh Thiền sư vì tôi nói ý chưa cứu cánh.
Sư bảo :
– Căn cứ trong kinh thì quyển nhất là “dẫn chúng gọi mười vị đại đệ tử trụ
tâm”. Quyển hai là “chư Bồ-tát mỗi vị nói nhập pháp môn Bất nhị, dùng lời nói để
hiển bày không lời; ngài Văn Thù dùng không lời để hiển bày không lời; ngài
Duy-ma chẳng dùng lời chẳng dùng không lời, cho nên lặng thinh để thâu ngôn
ngữ ở trước”. Quyển ba là “từ chỗ lặng thinh khởi nói, lại hiển thần thông tác
dụng”. Tọa chủ hội chăng ?
– Thật là kỳ quái, đúng thế !
– Cũng chưa đúng thế.
– Tại sao chưa đúng thế ?
– Vả lại, vì để phá tình chấp của người nên nói như thế. Nếu y cứ ý kinh thì
chỉ nói sắc tâm không tịch khiến người thấy bản tánh, dạy bỏ hạnh giả vào hạnh
thật, chớ nhằm trên ngôn ngữ giấy mực mà thảo luận suy tính, cốt hội được hai
chữ Tịnh Danh là đủ. Tịnh là bản thể. Danh là tích dụng. Từ bản thể khởi tích
dụng, từ tích dụng trở về bản thể. Thể và dụng không hai. Bản (xưa) và tích (nay)
không khác. Do đó, cổ nhân nói : “Bản (xưa) tích (nay) tuy khác, chẳng nghĩ bàn
là một vậy. Một cũng chẳng phải một”. Nếu hiểu hai chữ Tịnh Danh là giả hiệu,
lại nói cái gì cứu cánh cùng chẳng cứu cánh ? Không trước không sau, chẳng phải
gốc chẳng phải ngọn, chẳng phải Tịnh chẳng phải Danh, vì chỉ bày cho chúng
sanh bản tánh bất tư nghì giải thoát. Nếu người không thấy tánh, trọn đời chẳng
thấy được lý này.
*
Có vị tăng hỏi :
– Muôn pháp trọn không, thức tánh cũng vậy. Ví như bong bóng nước một
khi tan thì không hợp lại. Thân này chết chẳng sanh trở lại tức là rỗng không thì
chỗ nào mà có thức tánh ?
Sư đáp :
– Bong bóng nhân nước mà có, bong bóng tan đâu thể không nước. Thân
nhân tánh mà có, thân chết đâu thể nói tánh diệt.
– Đã nói có tánh, thử đem ra xem ?
– Ông tin có ngày hôm qua chăng ?
– Tin.
– Ông đem ngày hôm qua đến xem ?
– Ngày hôm qua thật là có, nhưng mà hiện giờ không thể đem đến được.
– Ngày hôm qua không thể đem đến được, chẳng phải không ngày hôm qua,
ông tự không thấy tánh, chẳng phải không có tánh. Nay thấy mặc y, ăn cơm, đi,
đứng, ngồi, nằm đối diện mà chẳng biết, đáng gọi là ngu mê. Ông muốn thấy ngày
hôm qua thì cùng ngày nay chẳng khác. Đem tánh đi tìm tánh muôn kiếp trọn
chẳng thấy, cũng như có người chẳng thấy mặt trời, chẳng phải mặt trời không có.
*
Pháp sư chuyên giảng Thanh Long sớ đến hỏi :
– Kinh nói : “Không pháp có thể nói, ấy gọi là nói pháp”. Thiền sư thể hội
như thế nào ?
Sư đáp :
– Vì thể Bát-nhã cứu cánh thanh tịnh, không có một vật có thể được, ấy gọi
là “không pháp”. Ở trong thể không tịch của Bát-nhã đủ diệu dụng như hà sa, là
không việc gì chẳng biết, ấy gọi là “nói pháp”. Cho nên nói : “Không pháp có thể
nói, ấy gọi là nói pháp”.
*
Pháp sư giảng kinh Hoa Nghiêm hỏi :
– Thiền sư tin vô tình là Phật chăng ?
Sư đáp :
Chẳng tin. Nếu vô tình là Phật thì người sống chẳng bằng người chết, lừa
chết chó chết lẽ ra hơn người sống. Kinh nói : “Phật thân tức là Pháp thân, từ giới
định tuệ mà sanh, từ tam minh lục thông mà sanh, từ tất cả pháp lành mà sanh”.
Nếu nói vô tình là Phật, Đại đức hiện giờ chợt chết liền thành Phật rồi.
*
Có Pháp sư hỏi :
– Trì kinh Bát-nhã công đức rất nhiều, Thầy có tin chăng ?
Sư đáp :
– Chẳng tin.
– Nếu vậy sự linh nghiệm truyền lại hơn mười quyển đều không thể tin sao ?
– Người sống giữ hiếu tự có cảm ứng, không phải xương trắng hay có cảm
ứng. Kinh là chữ giấy mực, chữ giấy mực tánh nó không, thì chỗ nào có linh
nghiệm ? Sự linh nghiệm tại người trì kinh dụng tâm nên thần thông cảm vật. Thử
đem một quyển kinh để trên bàn không có người thọ trì, tự nó có linh nghiệm
chăng ?
*
Có vị tăng hỏi :
– Chưa biết tất cả danh tướng và pháp tướng, nói cùng với nín, thế nào
thông hội liền không có trước sau ?
Sư đáp :
– Khi một niệm khởi xưa nay không tướng không danh, làm sao được nói
có trước sau ? Chẳng rõ danh tướng vốn tịnh, vọng chấp có trước sau. Cổng danh
tướng khóa, chẳng phải chìa khóa trí thì không thể mở. Hễ nói Trung đạo thì bệnh
tại Trung đạo, nói hai bên thì bệnh tại hai bên. Chẳng biết hiện dụng là Pháp thân
Vô đẳng đẳng (Phật). Mê ngộ được mất là pháp của người thường, tự khởi sanh
diệt, chôn vùi chánh trí. Hoặc đoạn phiền não, hoặc cầu Bồ-đề đều là chối bỏ Bátnhã.
*
Có người hỏi :
– Luật sư cớ sao chẳng tin thiền ?
Sư đáp :
– Vì lý sâu kín khó hiển bày, danh tướng dễ giữ. Người không thấy tánh nên
chẳng tin thiền. Nếu người thấy tánh gọi đó là Phật, người biết Phật mới hay tin
vào, Phật chẳng xa người mà người xa Phật. Phật là tâm tạo, mà người mê căn cứ
trong văn tự để tìm. Người ngộ nhằm nơi tâm mà giác, người mê tu nhân đợi quả.
Người ngộ thấu rõ tâm không tướng, người mê chấp vật giữ cái ngã làm mình.
Người ngộ Bát-nhã ứng dụng hiện tiền, người ngu chấp không chấp có sanh kẹt.
Người trí thấy tánh liễu tướng linh thông. Hàng càn tuệ (tuệ khô) biện luận mỏi
miệng, bậc đại trí thấu suốt bản thể tâm an vui. Bồ-tát chạm vật soi tỏ, Thanh văn
sợ cảnh làm mờ tâm. Người ngộ hằng ngày được vô sanh, người mê hiện tiền cách
xa Phật.
*
Có người hỏi :
– Thế nào được thần thông ?
Sư đáp :
– Thần tánh linh thông khắp giáp thế giới như cát bụi núi sông đá vách qua
lại không ngại, trong sát-na đi muôn dặm, qua lại không dấu vết, lửa không thể đốt,
nước không thể chìm. Người ngu tự không tâm trí muốn thân tứ đại này được bay
trong hư không. Kinh nói : “Phàm phu chấp tướng tùy nghi vì họ nói : Tâm không
hình tướng tức là sắc thân vi diệu; không tướng tức là tướng thật, tướng thật thì thể
nó không, gọi là thân hư không vô biên, muôn hạnh trang nghiêm nên gọi là Pháp
thân công đức”. Chính Pháp thân này là gốc của muôn hạnh, tùy công dụng đặt tên,
nói thật chỉ có Pháp thân thanh tịnh.
*
Có người hỏi :
– Kẻ nhất tâm tu hành thì nghiệp chướng đời quá khứ được tiêu diệt chăng ?
Sư đáp :
– Người không thấy tánh chưa được tiêu diệt. Nếu người thấy tánh như mặt
trời giọi sương tuyết. Lại người thấy tánh, ví như gom cỏ bằng ngọn núi Tu Di chỉ
dùng một đóm lửa là cháy rụi. Nghiệp chướng như cỏ, trí tuệ như lửa.
– Thế nào biết được nghiệp chướng hết ?
– Hiện tiền tâm thông thì việc sanh trước sau đều thông. Ví như nhìn thấy
Phật trước Phật sau, muôn pháp đồng thời. Kinh nói : “Một niệm biết tất cả pháp
là đạo tràng vì thành tựu Nhất thiết trí”.
*
Có vị cư sĩ hỏi :
– Thế nào được trụ chánh pháp ?
Sư đáp :
– Cầu trụ chánh pháp là tà. Vì cớ sao ? Vì pháp không có tà chánh.
– Làm sao được thành Phật ?
– Chẳng cần bỏ tâm chúng sanh, cốt đừng ô nhiễm tánh mình. Kinh nói :
“Tâm, Phật và chúng sanh cả ba đều không sai biệt”.
– Nếu hiểu như thế được giải thoát chăng ?
– Vốn tự không phược (trói buộc) chẳng cần cầu giải. Pháp vượt ngoài ngôn
ngữ văn tự, chẳng dùng trong câu số mà cầu; pháp chẳng phải quá khứ hiện tại vị
lai, không thể do trong nhân quả mà khế hội; pháp vượt tất cả, không thể so sánh;
pháp thân không hình tượng, ứng vật hiện hình, chẳng rời thế gian mà cầu giải
thoát.
*
Có vị tăng hỏi :
– Cái gì là Bát-nhã ?
Sư bảo :
– Ngươi nghi cái gì không phải Bát-nhã, thử nói xem ?
– Thế nào được thấy tánh ?
– Thấy tức là tánh, không tánh thì không thể thấy.
– Thế nào là tu hành ?
– Cốt đừng ô nhiễm tự tánh tức là tu hành, chớ tự lừa dối là tu hành, đại
dụng hiện tiền tức là Pháp thân Vô đẳng đẳng (Phật).
– Trong tánh có ác chăng ?
– Trong đây thiện còn chẳng lập.
– Thiện ác đều chẳng lập, đem tâm dùng vào chỗ nào ?
– Đem tâm dùng tâm là đại điên đảo.
– Làm thế nào mới phải ?
– Không làm thế nào, cũng không phải.
*
Có người hỏi :
– Có người chèo thuyền, lườn thuyền cọ chết con ốc con hến, là người chịu
tội hay thuyền chịu tội ?
Sư đáp :
– Người thuyền cả hai đều không tâm, tội chính tại ông. Ví như cuồng
phong thổi gãy cây hại mạng, mà không có người làm, không có người chịu,
nhưng trong thế giới đâu không phải là chỗ chúng sanh chịu khổ.
*
Có vị tăng hỏi :
– Chưa biết “thế thác tình” (gởi tình), “thế chỉ cảnh”, “thế nói nín”, cho đến
“thế nhướng mày chớp mắt” v.v…, làm sao được thông hội ở trong khoảng một
niệm ?
Sư đáp :
– Không có việc ngoài tánh. Người dụng diệu thì động yên đều diệu. Người
tâm chân thì nói nín thảy chân. Người hội đạo thì đi đứng ngồi nằm đều là đạo. Vì
mê tự tánh nên muôn lầm phát sanh.
– Thế nào là pháp có tông chỉ ?
– Tùy chỗ kia lập liền có các nghĩa. Ngài Văn Thù nơi gốc vô trụ lập tất cả
pháp.
– Chẳng đồng thái hư chăng ?
– Ngươi sợ đồng thái hư chăng ?
– Sợ.
– Cái biết sợ là chẳng đồng thái hư.
– Chỗ nói không thể đến, làm sao được hiểu ?
– Nay chính khi ngươi nói, nghi chỗ nào chẳng đến.
*
Có hơn mười vị Túc đức đồng đến hỏi :
– Kinh nói : “Phá diệt Phật pháp”, chưa biết Phật pháp có thể phá diệt
chăng ?
Sư đáp :
– Phàm phu ngoại đạo bảo Phật pháp có thể phá diệt, người Nhị thừa bảo
Phật pháp không thể phá diệt, trong chánh pháp của tôi không có hai cái thấy này.
Nếu luận về chánh pháp chẳng những phàm phu ngoại đạo, cho đến hàng Nhị thừa
chưa đến vị Phật cũng là người ác.
– Pháp chân, pháp huyễn, pháp không, pháp chẳng không mỗi thứ có chủng
tánh chăng ?
– Pháp tuy không có chủng tánh, ứng vật đều hiện. Tâm huyễn nên tất cả
pháp đều huyễn, nếu có một pháp chẳng huyễn thì huyễn ắt có định. Tâm không,
nên tất cả đều không, nếu có một pháp chẳng không thì nghĩa không chẳng lập.
Khi mê thì người theo pháp, lúc ngộ thì pháp do người. Như sum la vạn tượng đến
không là tột, trăm sông các dòng đến biển là tột. Tất cả Hiền Thánh đến Phật là tột.
Mười hai phần kinh, năm bộ Tỳ-ni (luật), năm Vi-đà luận (luận) đến tâm là tột.
Tâm là gốc diệu của tổng trì, là nguồn lớn của muôn pháp, cũng gọi là kho đại trí
tuệ, vô trụ Niết-bàn, trăm ngàn muôn tên thảy là tên khác của tâm mà thôi.
– Thế nào là huyễn ?
– Huyễn không có tướng nhất định, như vòng lửa quay, như thành Càn-thátbà,
như người gỗ bằng máy, như sóng nắng, như hoa giữa hư không, đều không có
pháp thật.
– Sao gọi là thầy đại huyễn ?
– Tâm gọi là thầy đại huyễn. Thân là thành đại huyễn. Danh tướng là đồ ăn
mặc của đại huyễn. Thế giới nhiều như cát bụi không có việc gì ngoài huyễn.
Phàm phu chẳng biết huyễn, nơi nơi mê nghiệp huyễn. Thanh văn sợ cảnh huyễn,
mờ tâm vào tịch diệt. Bồ-tát biết pháp huyễn, đạt thể huyễn, chẳng câu nệ tất cả
danh tướng. Phật là thầy đại huyễn, xoay bánh xe pháp đại huyễn, thành Niết-bàn
đại huyễn, chuyển sanh diệt huyễn, được chẳng sanh chẳng diệt, chuyển cõi ô uế
như cát bụi thành pháp giới thanh tịnh.
*
Có vị tăng hỏi :
– Tại sao chẳng chịu tụng kinh, mà gọi là “khách ngữ” (kẻ học nói) ?
Sư đáp :
– Như chim Anh Võ chỉ học tiếng người mà không hiểu ý người. Kinh là
truyền ý Phật, chẳng nhận được ý Phật mà chỉ tụng, ấy là người học ngữ. Do đó
nên chẳng chịu tụng kinh.
– Không thể lìa văn tự ngôn ngữ mà riêng có ý ?
– Ngươi nói như thế cũng là học ngữ.
– Đồng là ngôn ngữ sao Thầy chẳng nhận lời tôi ?
– Ngươi hãy lắng nghe, trong kinh có đoạn văn rất rõ ràng “Ta nói ra là
nghĩa ngữ mà chẳng phải văn, chúng sanh nói ra là văn ngữ mà chẳng phải nghĩa,
người được ý vượt ngoài lời, người ngộ lý vượt ngoài văn tự, pháp vượt ngôn ngữ
văn tự, đâu thể nhằm trên câu văn mà cầu”. Thế nên, người phát Bồ-đề thì được ý
quên lời, ngộ lý mà lờ kinh, cũng như được cá quên nôm, được thỏ bỏ bẫy.
*
Có Pháp sư hỏi :
– Niệm Phật là “hữu tướng Đại thừa”, ý Thiền sư thế nào ?
Sư đáp :
– Vô tướng vẫn chẳng phải Đại thừa, huống là hữu tướng. Kinh nói : “Phàm
phu chấp tướng” tùy nghi vì họ nói.
– Nguyện sanh Tịnh độ, chưa biết thật có Tịnh độ chăng ?
– Kinh nói : “Muốn được Tịnh độ phải tịnh tâm kia, tùy tâm kia tịnh tức
Phật độ tịnh”. Nếu tâm thanh tịnh thì chính chỗ ở hiện giờ là Tịnh độ. Ví như sanh
trong nhà Quốc vương, nhất định nối nghiệp Quốc vương. Phát tâm hướng Phật
đạo là sanh nơi cõi Phật tịnh. Tâm kia nếu chẳng tịnh thì chính chỗ ở hiện giờ là
uế độ. Tịnh và uế độ là tại tâm chẳng phải tại cõi nước.
– Mỗi ngày nghe nói đạo, chưa biết người nào hay thấy ?
– Người có tuệ nhãn hay thấy.
– Rất thích Đại thừa làm sao học được ?
– Ngộ là được, chẳng ngộ là chẳng được.
– Làm sao được ngộ ?
– Phải quán kỹ.
– Giống vật gì ?
– Giống không vật.
– Thế nào là rốt ráo Không ?
– Không chẳng rốt ráo.
– Thế nào là Hữu ?
– Hữu mà không tướng.
– Chẳng ngộ làm sao ?
– Đại đức tự chẳng ngộ, chẳng phải tại người làm chướng ngại.
– Phật pháp ở nơi ba mé (trong ngoài giữa) chăng ?
– Thấy tại vô tướng chẳng ở ngoài nơi ấy, ứng dụng không cùng, chẳng ở
tại trong, chặng giữa không có chỗ trụ, ba mé không thể được.
– Câu đáp này rất hỗn tạp.
– Chính khi Thầy nói hai chữ “hỗn tạp” là ở trong ở ngoài chăng ?
– Đệ tử xét nghiệm trong ngoài không dấu vết.
– Nếu không dấu vết thì biết rõ lời nói từ trước đến giờ không có hỗn tạp.
– Thế nào được làm Phật ?
– Tâm ấy là Phật, tâm ấy làm Phật.
– Chúng sanh vào địa ngục, Phật tánh có vào chăng ?
– Như hiện nay chính khi làm ác lại có lành chăng ?
– Không.
– Chúng sanh vào địa ngục, Phật tánh cũng như thế.
– Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh là thế nào ?
– Tạo dụng Phật là tánh Phật, tạo dụng kẻ cướp là tánh cướp, tạo dụng
chúng sanh là tánh chúng sanh. Tánh không hình tướng, tùy dụng đặt tên. Kinh
nói : “Tất cả Hiền Thánh đều do pháp vô vi mà có sai biệt” (kinh Kim Cang).
*
Có vị tăng hỏi :
– Thế nào là Phật ?
Sư đáp :
– Rời ngoài tâm thì không có Phật.
– Thế nào là Pháp thân ?
– Tâm là Pháp thân, nghĩa là hay sanh muôn pháp nên gọi là Pháp giới thân.
Luận Khởi Tín nói : “Nói là pháp đó, nghĩa là tâm chúng sanh, tức y tâm này hiển
bày nghĩa Đại thừa”.
– Thế nào là nói có quyển kinh lớn trong hạt bụi nhỏ?
– Trí tuệ là quyển kinh lớn. Kinh nói : “Có quyển kinh lớn lượng bằng thế
giới tam thiên đại thiên, ở trong một hạt bụi nhỏ”. Một hạt bụi là một niệm tâm
trần vậy. Cho nên nói “trong một niệm trần nói ra hà sa bài kệ, người đời tự chẳng
biết”.
– Sao gọi là thành đại nghĩa ? Sao gọi là vua đại nghĩa?
– Thân là thành đại nghĩa. Tâm là vua đại nghĩa. Kinh nói : “Người đa văn
giỏi về nghĩa, mà chẳng giỏi về nói năng, nói năng là sanh diệt, nghĩa chẳng sanh
diệt, nghĩa không hình tướng, ngoài lời nói năng. Tâm là quyển kinh lớn, tâm là
vua nghĩa lớn. Nếu người chẳng biết tâm rành rõ thì không gọi là giỏi nghĩa, chỉ là
người học ngữ.
– Kinh Bát-nhã nói : “Độ chín loài chúng sanh đều vào Vô dư Niết-bàn”, lại
nói “thật không chúng sanh được diệt độ”, hai đoạn văn kinh này làm sao thông
hội ? Người xưa và người nay đều nói “thật độ chúng sanh mà không chấp tướng
chúng sanh”. Tôi vẫn còn nghi, thỉnh thầy vì tôi giải nghi.
– Chín loài chúng sanh trong một thân đầy đủ, tùy tạo nghiệp tùy thành quả.
Vô minh là noãn sanh (sanh bằng trứng), phiền não bao bọc ở trong là thai sanh
(sanh bằng bào thai), nước ái đượm nhuần là thấp sanh (sanh chỗ ẩm ướt), chợt
khởi phiền não là hóa sanh (từ loài này hóa sanh loài khác). Ngộ liền là Phật, mê
gọi là chúng sanh. Bồ-tát chỉ dùng tâm niệm niệm làm chúng sanh. Nếu thấu rõ
niệm niệm nơi tâm, thể nó đều không, gọi là độ chúng sanh. Người trí căn cứ trên
bản tế (tâm) của mình mà độ. Lúc chưa thành hình, chưa thành hình đã không, thì
biết thật không chúng sanh được diệt độ.
Có vị tăng hỏi :
– Ngôn ngữ là tâm chăng ?
Sư đáp :
– Ngôn ngữ là duyên chẳng phải tâm.
– Lìa duyên cái gì là tâm ?
– Lìa ngôn ngữ không tâm.
– Lìa ngôn ngữ đã không tâm, vậy cái gì là tâm ?
– Tâm không hình tướng, chẳng lìa ngôn ngữ, chẳng phải chẳng lìa ngôn
ngữ, tâm thường lặng lẽ, ứng dụng tự tại. Tổ sư nói : “Nếu thấu rõ tâm phi tâm,
mới hiểu tâm tâm pháp”.
*
Có vị tăng hỏi :
– Thế nào là định tuệ đồng học ?
Sư đáp :
– Định là thể, tuệ là dụng, từ định khởi tuệ, từ tuệ về định, như nước với
sóng, một thể lại không có trước sau, gọi là định tuệ đồng học. Phàm kẻ xuất gia
chớ tìm lời theo câu, đi đứng ngồi nằm đều là tánh dụng của ngươi, thì có chỗ nào
cùng đạo không tương ưng? Hãy tự nhất thời thôi dứt đi, nếu chẳng theo gió ngoại
cảnh thì nước tánh thường tự lặng lẽ.
Vô sự, trân trọng !
?

LUẬN TỐI THƯỢNG THỪA

LỜI DỊCH GIẢ
Tập luận này có ba phần : Phần đầu là của Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn, phần thứ
hai và thứ ba là của Thiền sư Hoàng Bá. Phần đầu hẳn là tên “TỐI THƯỢNG
THỪA LUẬN”, phần thứ hai tên “TRUYỀN TÂM PHÁP YẾU”, phần thứ ba
tên “HOÀNG BÁ ĐOẠN TẾ THIỀN SƯ UYỂN LĂNG LỤC”. Hai phần sau
do Thiền sư Hoàng Bá nói ra, ông cư sĩ Bùi Hưu ghi chép lại. Rốt sau là tiểu sử
Thiền sư Hoàng Bá.
Hoàng Bá là cháu bốn đời của ngũ tổ (Hoàng Bá là đệ tử Bá Trượng, Bá
trượng là đệ tử Mã Tổ, Mã tổ là đệ tử Hoài Nhượng, Hoài Nhượng là đệ tử Lục Tổ
Huệ Năng). Tuy ông cháu cách xa nhưng về truyền tâm ấn vẫn không thay đổi.
Ngũ Tổ dạy “giữ chơn tâm” thì Ngài Hoàng Bá dạy “tin tâm này là Phật”. Ngộ
chơn tâm là chơn Phật, chứng chơn tâm viên mãn là quả Phật. Giữ chơn tâm tức là
tin mình có chơn Phật, hằng sống với chơn tâm, tất cả vọng tưởng đều lắng sạch,
tức là viên mãn quả Phật. Vì thế, dù tên “Tối thượng thừa luận” hay “Truyền tâm
pháp yếu” vẫn dạy người ngộ chơn tâm, sống với chơn tâm. Cho nên, tôi ghép cả
ba phần lại mà chỉ để một tên là “Luận tối thượng thừa”.
Ngũ tổ bảo “Giữ chơn tâm”, chúng ta đừng lầm cố kềm hãm tâm mình đến
tiêu ma trở thành như cây như gỗ. Giữ chơn tâm, nghĩa là khi sáu căn tiếp xúc với
sáu trần mà không để tâm chạy theo phân biệt trần cảnh. Tâm chạy theo phân biệt
trần cảnh là vọng tâm, không khởi tâm chạy theo trần cảnh, chỉ hằng biết cảnh mà
không phân biệt là chơn tâm, vọng tâm và chơn tâm không xa, chỉ một phen hồi
đầu là giác (Hồi đầu thị ngạn), đừng tìm kiếm, đừng cầu cạnh bên ngoài. Nếu vị
nào không ngộ chơn tâm để tu hành, nên đọc kinh Lăng Nghiêm từ quyển một đến
quyển tư thật kỹ, lâu ngày có thể thầm hội.
Tôi thầm nguyện cho quí đọc giả khế hội chơn tâm, để thấy Phật pháp Đại
thừa là viên ngọc vô giá để tu hành đến thành Phật quả.
Pháp Lạc Thất
Đầu hạ năm 2513 PL 1969 TL
THÍCH THANH TỪ
LUẬN TỐI THƯỢNG THỪA
Người muốn tiến đến đạo Thánh hiểu ngộ chơn tâm (Thiền tông) cần phải
luận rõ về “tu tâm”. Nếu không gìn giữ tâm thanh tịnh thì tất cả hạnh không do
đâu nhận thấy. Mong các thiện tri thức có biên chép, dụng tâm đừng để sai lạc, e
làm lầm những người sau.
Phàm người tu cần phải biết bản thể, chính nơi thân tâm này xưa nay thanh
tịnh, không sanh không diệt, không có phân biệt, tâm tự tánh thanh tịnh viên mãn
là Bổn Sư, vượt hơn niệm mười phương Chư Phật.
Hỏi : Làm sao biết tâm mình xưa nay thanh tịnh ?
Đáp : Kinh Thập Địa nói : “Trong thân chúng sanh có Phật tánh Kim Cang”.
Ví như mặt trời tròn đầy sáng suốt rộng lớn không ngằn mé. Chỉ vì bị mây đen
ngũ ấm che đậy, như ngọn đèn để trong bình, ánh sáng không thể chiếu soi. Thí
như thế gian tám hướng mây mù đều d