Lưu trữ hàng tháng: Tháng Sáu 2013

1321343670.phatgiaovnn.com_2

KHO BÁU NHÀ THIỀN – PHẦN 3


Đăng lúc: Thứ tư – 16/05/2012 12:04 – Người đăng bài viết: Thiền Lâm

Hình Thiền

Hình Thiền
Kho Báu Nhà Thiền
Thiền sư Văn Thủ
Dịch giả: Ðịnh Huệ
– – -o0o- – –
Chương 17

Học đạo cần phải lãnh hội chỗ tâm yếu
Lâm Tế ba lần hỏi Hoàng Bá về đại ý Phật pháp, ba lần bị đánh.
Lâm Tế bèn đến Ðại Ngu hỏi:
– Có lỗi hay không lỗi ?
Ðại Ngu nói:
– Hoàng Bá lòng từ bi thống thiết, vì muốn ông được triệt ngộ, mà ông còn đến
hỏi có lỗi hay không lỗi.
Ngay lời nói này, sư liền đại ngộ nói:
– Té ra Phật pháp của Hoàng Bá chẳng có gì đặc biệt.
*
Hưng Hóa đến Ðại Giác làm Viện chủ. Một hôm, Ðại Giác gọi:
– Viện chủ! Ta nghe nói ông đi hành cước về phương nam một lần, đầu gậy
chưa từng đánh trúng một người  hội Phật pháp. Ông dựa vào đạo lý nào mà nói như thế?
Sư liền hét. Ðại Giác liền đánh. Sư lại hét. Ðại Giác lại đánh.
Hôm sau, Sư từ pháp đường đi ra. Ðại Giác mời Viện chủ lại, hỏi:
– Ta nghi hai cái hét của ông ngày hôm qua.
Sư lại hét. Ðại Giác lại đánh. Sư hét nữa. Ðại Giác đánh nữa.
Sư nói:
– Tôi ở chỗ Sư huynh Tam Thánh học được câu khách chủ, hết thảy đều bị sư
huynh đốn ngã. Xin Hòa thượng cho tôi pháp môn an lạc.
           Ðại Giác nói:
– Tên mù này đến đây bị thua rồi, hãy cởi áo nạp ra ta đánh cho một trận.
Ngay lời này, Sư liền hội được đạo lý của Tiên sư Lâm Tế bị Hoàng Bá cho ăn
đòn.
Thiền sư Quy Tỉnh lúc mới đến tham Tây Viện, bèn hỏi:
– Lúc toan hỏi mà chẳng hỏi thì sao?
Tây Viện liền đánh Sư im lặng giây lâu. Tây Viện nói:
– Nếu gọi là đánh thì mày râu đều rụng.
Ngay lời này, Sư liền đại ngộ.
*
Tăng thưa Triệu Châu:
– Học nhân vừa nhập tòng lâm, xin Thầy chỉ dạy.
Triệu Châu bảo:
– Ăn cháo rồi.
– Rửa bát đi !
Vị tăng này hoát nhiên đại ngộ.
Về sau, Ðại sư Vân Môn làm lời niêm rằng: “Hãy nói xem là có chỉ dạy hay không chỉ dạy?
Nếu nói có, thì Triệu Châu  dạy cái gì cho ông Tăng kia?
Nếu nói không, thì  ông Tăng kia làm sao ngộ?”
*
Thiền sư Ðiểu Sào Ðạo Lâm, nhân thị giả Hội Thông đến lạy từ giã thưa:
– Con vì pháp mà xuất gia, Hòa thượng chẳng xót thương chỉ dạy. Nay con xin
đi nơi khác học Phật pháp.
           Sư bảo:
– Nếu là Phật pháp thì ở đây ta cũng có chút ít.
– Thế nào là Phật pháp ở đây của Hòa thượng?
Sư bứt cái lông của vải áo giơ lên thổi ngay mặt, thị giả liền đại ngộ.
*
Thiền sư Long Ðàm Tín một hôm thưa với Thiên Hoàng:
– Con từ khi đến ở đây tới nay không được thầy chỉ dạy tâm yếu.
Thiên Hoàng bảo:
– Từ khi ông đến đây tới nay, ta chưa từng không chỉ dạy tâm yếu.
– Thầy chỉ dạy chỗ nào?
– Ông đem trà đến thì ta tiếp nhận. Ông đem cơm đến, ta vì ông mà ăn. Lúc ông
lễ bái ta gật đầu. Có chỗ nào chẳng chỉ dạy tâm yếu đâu?
Sư cúi đầu im lặng giây lâu.
Thiên Hoàng bảo:
– Thấy thì liền thấy, suy nghĩ tức là trật.
Sư liền ngộ và hỏi:
– Làm sao bảo nhậm?
– Nhậm tánh tiêu dao, tùy duyên phóng khoáng, chỉ cần dứt hết tâm phàm tục
chứ không có thánh giải nào khác.
*
Tăng hỏi Triệu Châu:
– Thế nào là ý Tổ sư từ Ấn Ðộ sang?
Triệu Châu đáp:
– Cây bách trước sân.
– Hòa thượng chớ đem cảnh lừa người.
– Ta chẳng đem cảnh lừa người.
– Hòa thượng chẳng đem cảnh lừa người thì con xin hỏi lại: Thế nào là ý Tổ sư
từ Ấn Ðộ sang?
– Cây bách trước sân.
Ngay lời này, vị Tăng liền đại ngộ.
*
Hòa thượng Diệp Huyện Tỉnh, nhân Tăng thỉnh ích về câu thoại đầu “Cây bách
trước sân” của Triệu Châu, Ngài nói:
– Ta chẳng chối từ nói cho ông, nhưng ông có tin ta chăng?
– Lời Hòa thượng  rất quý trọng, lẽ nào con dám không tin.
– Ông có nghe tiếng giọt mưa rơi trước thềm chăng?
Ông Tăng thoạt nhiên bất giác thất thanh la: A!
Sư hỏi:
– Ông thấy cái đạo lý gì?
Vị Tăng làm bài tụng đáp:
Giọt nước đầu thềm
Rõ ràng từng giọt
Ðập vỡ càn khôn
Ngay đó tâm tuyệt.
*
Hòa thượng Ðộng Sơn Sơ lúc mới tham vấn Vân Môn.
Vân Môn hỏi:
– Vừa từ đâu đến?
Sư thưa:
– Từ Tra Ðộ đến.
– Mùa hạ rồi ông ở đâu?
– Chùa Báo Từ ở Hồ Nam.
– Rời chỗ ấy vào lúc nào?
– Ngày 25 tháng 8.
– Tha ông ba gậy.
Ngày hôm sau, Sư đến thưa hỏi:
– Hôm qua nhờ Hòa thượng tha cho ba gậy, mà con chẳng biết lổi ở chỗ nào?
– Cái túi cơm! Giang Tây, Hồ Nam thế ấy hử!
Ngay lời này, Sư liền đại ngộ và nói:
– Về sau, con sẽ đến chỗ không người, chẳng chứa một hạt gạo, chẳng trồng một cọng rau, tiếp đãi người mười phương tới lui để tháo đinh mở chốt, lột cái khăn thịt mỡ, cởi cái áo sương thúi cho họ và dạy họ thênh thang phóng khoáng làm nạp tăng vô sự, há chẳng khoái sao?
Vân Môn nói:
– Thân ông lớn bằng trái dừa mà mở miệng to như thế.
Sư liền lễ bái.
*
Tôn giả Nghiêm Dương lúc mới đến tham Triệu Châu, hỏi:
– Lúc một vật chẳng đem đến thì thế nào?
Triệu Châu đáp:
– Buông hết đi.
– Ðã là một vật chẳng đem đến thì lấy cái gì để buông hết?
– Buông chẳng được thì gánh đi!
Ngay lời này, Sư liền đại ngộ.
*
Có vị Tăng hỏi Thiền sư Quy Tông Thức Nhãn:
– Phật là gì?
Quy Tông đáp:
– Ta nói với ông, ông có tin không ?
– Lời thật của Hòa thượng, con đâu dám không tin.
– Chỉ là chính ông vậy.
– Tăng nghe lời Ngài nói, suy nghĩ giây lát rồi thưa:
– Con là Phật, còn bảo nhậm như thế nào?
– Một khi con mắt bệnh  thì hoa đốm lăng xăng.
Ngay lời này, Tăng hốt nhiên khế ngộ.
*
Pháp Nhãn đã từng tham Ðịa Tạng. Một hôm, Ngài trình kiến giải nói về đạo lý.
Ðịa Tạng nói với ngài rằng:
– Phật pháp chẳng phải như thế.
Sư thưa :
– Con đã hết lời cùng lý rồi.
Ðịa Tạng bảo:
– Nếu luận về Phật pháp thì tất cả sẵn sàng.
Ngay lời này, Pháp Nhãn đại ngộ.
*
Thiền sư Hương Nghiêm Nhàn đến tham Quy Sơn.
Quy Sơn hỏi:
– Ta nghe nói ông ở chỗ Tiên sư Bá Trượng hỏi một đáp mười, hỏi mười đáp
trăm. Ðó là sự thông minh lanh lợi của ông. Ý giải thức tưởng là căn bản sanh tử. Lúc cha mẹ chưa sanh, ông thử nói một câu xem?
Sư bị câu hỏi này làm mờ mịt. Trở vê, liền đem những văn tự bình nhật đã xem dò
lại để tìm một câu đối đáp, rốt cuộc không được, bèn than:
– Bánh vẽ không no được bụng đói.
Một hôm cuốc cỏ, ngẫu nhiên Sư ném một viên ngói chạm vào cây trúc vang lên một tiếng. Sư hốt nhiên tỉnh ngộ
—o0o—

Chương 18

Học Ðạo Cần Phải Biết Xác Thực Kiến Ðịa Cạn Sâu
Ðại sư Vân Môn nói:
Dẫu cho càn khôn đại địa không mảy may lầm lỗi vẫn còn là chuyển cú, chẳng thấy một sắc mới chỉ là bán đề, lại cần phải biết có cái thời tiết toàn đề nữa.
Ngài Vân Môn nói:
Pháp thân cũng có hai thứ bệnh: Ðược đến pháp thân, mà vì pháp chấp chẳng quên, kiến chấp của mình hãy còn, nên chỉ ngồi bên cạnh pháp thân, đây là một bệnh. Dẫu cho thấu được pháp thân mà buông bỏ chẳng được, kiểm điểm kỹ càng lại có hơi hám gì cũng là bệnh.
Ngài Ðại Huệ nói: Ngày nay, người học Phật pháp lấy sự thấu qua pháp thân làm cùng tột mà ngài Vân Môn trái lại cho đó là bệnh. Chẳng biết thấu qua pháp thân rồi, phải làm gì? Ðến đây như người uống nước lạnh nóng tự biết, chẳng cho hỏi người khác, hỏi người khác ắt là tai họa.
*
Thiền Sư Ðộng Sơn Giới nói:
Thời đại mạt pháp con người nhiều càn huệ, muốn phân biệt chân ngụy, có ba thứ sấm lậu (rỉ chảy):
1/ Kiến sấm lậu: Nghĩa là căn cơ chẳng rời địa vị, rơi vào biển độc. Ngài Minh An nói: Vì cái thấy bị kẹt nơi sở trị, nếu chẳng chuyển vị thì ngồi tại một sắc. Nói là sấm lậu vì ở trong ấy chưa tận thiện, cần phải phân biệt lại tung tích thì mới được tương tục huyền cơ diệu dụng.
2/ Tình sấm lậu: Nghĩa là trí thường hướng theo thuận hoặc nghịch, chỗ thấy thiên khô. Ngài Minh An nói: Vì tình và cảnh viên dung, kẹt nơi thủ xả, trước sau thiên khô, cái giác chiếu soi chẳng hoàn toàn, là sóng thức lưu chuyển, là việc giữa đường, bên bờ. Cần phải mỗi câu phải lìa hai bên chẳng kẹt vào tình và cảnh.
3/ Ngữ sấm lậu: Nghĩa là thể diệu mất tông, cơ muội sau trước. Người học trí ô trược lưu chuyển chẳng ra ngoài cái loại thứ ba này. Ngài Minh An nói: Thể diệu mất tông là kẹt nơi đường ngôi ngữ, câu mất tông chỉ, cơ muội sau trước là kẻ đương cơ tối tăm chỉ nhận trên ngôn ngữ nên tông chỉ chẳng viên mãn. Mỗi câu phải là vô ngữ trong hữu ngữ, hữu ngữ trong vô ngữ thì mới được cái diệu chỉ mật viên.
*
Quốc sư Vô Nghiệp nói:
Giả sử có người ngộ lý có một tri một giải mà chẳng biết phép tắc trong ngộ này là cái cửa nhập lý, bèn cho rằng hằng ra khỏi danh lợi thế gian, rồi vào trong núi ở bên khe, khinh thường bậc thượng lưu đến nỗi khiến tâm lậu chẳng hết, lý địa chẳng sáng, luống đến già chết sự nghiệp không thành, hao phí năm tháng. Dẫu cho có thông minh cũng chẳng địch nổi nghiệp, càn huệ chưa thoát khỏi luân hồi. Giả sử tài ngang Mã Minh, hiểu bằng Long Thọ, chỉ một đời hai đời chẳng mất thân người, do căn tánh sáng suốt đời trước thanh tịnh nên nghe qua liền hiểu.
Truyền Ðăng Lục
*
Thiền sư Viên Ngộ nói:
Người đại tử [1]  đều không có Phật pháp, đạo lý huyền diệu, đắc thất, thị phi, trường đoản. Ðến chỗ này mà thôi nghỉ thì Cổ nhân gọi đó là trên đất bằng người chết vô số, qua được rừng gai góc mới là tay tài giỏi, cần phải thấu qua bờ bên kia mới được. Tuy nhiên như thế, nhưng người đời nay đến được chỗ đất này cũng thật là hiếm có. Hoặc như có người do nương tựa mà được giải hội thì không dính dáng gì. Hòa thượng Mai gọi đó là cái thấy chẳng tinh khiết, Tiên sư Ngũ Tổ gọi đó là mạng căn chẳng cắt đứt, phải một phen đại tử rồi sống lại mới được. Hòa thượng Chiết Trung Vĩnh Quang nói: Ngôn phong nếu sai, quê hương xa vạn dặm, phải trên vực thẳm buông tay, tự chịu đảm đương, chết đi sống lại, dối ông chẳng được, ý chỉ phi thường, người đâu giấu được.
Bích Nham
*
Cổ nhân nói:
“Nương theo lời cần phải hội được tông, chớ tự thiết lập quy củ”. Như người đời nay cho rằng cứ đuổi đi là xong, được thì được đó, nhưng vẫn còn ở trong mịt mờ lầm lạc. Nếu họ đến trước mặt bậc tác giả, các Ngài đem ba yếu ngữ ấn không, ấn bùn, ấn nước để nghiệm họ thì sẽ thấy như cây vuông tra vào lỗ tròn, không thể nào được!
Bích Nham
*
Thiền sư Viên Ngộ nói:
Người học đạo bắt đầu có niềm tin, chán thế gian phiền rộn, rất sợ chẳng được lối vào. Ðã gặp thầy chỉ thị hoặc nhân tự mình phát minh được cái chân tâm mầu nhiệm viên mãn, vốn tự đầy đủ từ xưa đến nay. Chạm cảnh gặp duyên tự biết mình không dính mắc, liền bảo thủ chỗ đó. Sợ chẳng thể ra được nên bèn làm khuôn sáo, ở trên cơ cảnh lập chiếu lập dụng, buông một tiếng hét, một cái đánh, nhướng mày trợn mắt một cách kỳ đặc, lại gặp bậc thầy đắc đạo tước đoạt cho hết những cái tri giải như thế, liền đó khế chứng cảnh giới bổn lai vô vi, vô sự, vô tâm, rồi sau đó mới hổ thẹn vì biết rằng chỗ cứu cánh hãy còn mờ mịt. Chư Thánh còn tìm chỗ khởi của nó chẳng được, huống là người khác! Sở dĩ ngài Nham Ðầu nói: “Người được nó chỉ giữ chỗ nhàn nhàn, trong suốt 24 giờ đồng hồ vô dục, vô y, đâu chẳng phải là pháp môn an lạc!”.
Tâm Yếu
*
Hòa thượng Lạc Phổ thượng đường nói:
Một câu rốt sau mới đến lao quan (cổng kiên cố), bẻ khóa yếu tân (cửa trọng yếu) chẳng chung phàm thánh.
Ta thường nói với các ông: Mặc cho thiên hạ vui hớn hở, ta riêng chẳng chấp nhận. Muốn biết, bậc thượng lưu chẳng nên đem ngôn giáo của Phật Tổ dán trên trán, nếu giống như con quy mang cái hà đồ thì tự chuốc lấy cái điềm táng thân. Con chim phượng hoàng ở trong lưới vàng đến khi nào mới tung cánh được trên bầu trời cao lồng lộng, Phải nên ngoài ý chỉ mà rõ tông thú; chớ hướng vào ngữ ngôn mà nắm lấy cực tắc. Thế nên, người máy bằng đá in tuồng như ông biết xướng khúc Ba Ca thì ông cũng như người đá phải họa lại bản Tuyết Khúc.
Hội Nguyên
Hòa thượng BạchVân Ðoan nói:
Cần phải ngộ mới được! Sau khi ngộ rồi, cần phải gặp thiện tri thức. Nhà ngươi nói: Ngộ rồi là xong, đâu cần gặp thiện tri thức. Nếu ngộ rồi lại gặp thiện tri thức thì đương lúc ra tay làm phương tiện hằn tự có đường xuất thân, chẳng làm mù mắt người học. Còn nếu chỉ ngộ được đầu cây cải khô thì chẳng những làm mù mắt người học mà khi chính mình cử động trước tiên phạm nhằm mũi nhọn bị thương tay.
Hội Nguyên
*
Hòa thượng Ngũ Diện nói:
Có một bọn tham thiền như giã bột lọc trong bình lưu ly, lại động chuyển chẳng được, xông xáo chẳng được, chạm nhằm liền vỡ. Nếu muốn đến chỗ sống linh hoạt thì chỉ cần tham thẳng nơi cái đảy da rách này [ 2 ] . Phải hướng thẳng lên núi cao chót vót buông tay xuống mà cũng chẳng bị vỡ, cũng chẳng bị hư.
Bích Nham
*
Hòa thượng Hối Ðường dạy chúng:
Nếu người chỉ thấu rõ tự kỷ mà chưa ngộ cái trước mắt, người này như có mắt mà không có chân. Nếu ngộ được cái trước mắt mà chẳng thấu rõ tự kỷ, người này như có chân mà không có mắt. Hai người này, trong hai mươi bốn giờ thường có một vật ngăn trong lồng ngực. Vật đã ở trong ngực thì cái tướng bất an thường ở trước mắt. Ðã ở trước mắt thì gặp việc, thành ra bị kẹt, làm sao mà được an ổn? Tổ chẳng nói:
Chấp đó mất chừng (chánh đạo)
Ắt vào đường tà
Buông đó tự nhiên
Thể không đi, trụ
Đó sao!
Chánh Pháp Nhãn Tạng
*
Hòa thượng Diệp Huyện Tỉnh nói:
Tham học cần phải đủ mắt tham học. Kiến địa cần phải được câu kiến địa. Có lúc câu đến mà ý chẳng đến, chỉ là vọng duyên bóng dáng phân biệt của tiền trần. Có lúc ý đến mà câu chẳng đến thì như người mù sờ voi, mỗi người đều nói mỗi khác. Có lúc ý và câu đều đến thì đập vỡ cõi hư không, ánh sáng soi khắp mười phương. Có lúc ý và câu đều chẳng đến, như người không có mắt chạy ngang chạy dọc, hốt nhiên bất giác sa xuống hầm sâu.
Hội Nguyên
Thiền sư Huyền Sa Bị buồn vì đạo pháp khó nói, ít gặp người thượng căn, người học thường dựa theo ngữ ngôn mà sanh tri giải, theo chiếu mất tông, nên Ngài bèn dạy ba câu cương tông:
Câu thứ nhất: Hãy tự đảm đương sẵn sàng đầy đủ, vì cả mười phương thế giới không có người nào khác mà chỉ là ông, lại bảo cái gì là thấy? Cái gì là nghe? Toàn là tại tâm vương ông làm ra, trọn thành bất động trí. Chỉ vì thiệu sự tự đảm đương nên nói là mở cửa phương tiện để khiến ông tin có một phần chân thường lưu chú, cùng xưa tột nay chưa có chẳng thị, chưa có chẳng phi. Nhưng câu này, chỉ thành pháp bình đẳng. Vì sao? Chỉ vì dùng lời để dẹp lời, lấy lý để đuổi lý, bình thường tánh tướng nhiếp vật lợi sanh mà thôi. Vả lại, đối với tông chỉ còn là chỉ biết rõ phía trước mà chẳng biết rõ phía sau, gọi là một vị bình thật, là chứng từng phần pháp thân, chưa có câu xuất cách, chết ở dưới câu, chưa có phần tự do. Nếu biết cái lượng xuất cách thì chẳng bị tâm ma sai khiến và đến trong tay bèn chuyển một cách lỗi lạc, nói là thông đại đạo chẳng rơi vào kiến giải bình thường trong lòng.
Câu thứ hai: Xoay nhân về quả, chẳng mắc vào lý bình thường nhất như, phương tiện gọi là chuyển vị hợp cơ. Sanh sát tự tại, buông bắt tùy nghi, ra sanh vào tử làm lợi ích rộng lớn cho hết thảy chúng sanh, thoát khỏi cảnh sắc dục, ái kiến, phương tiện gọi là Phật tánh đốn siêu tam giới. Ðây gọi là hai lý cùng sáng, hai nghĩa đồng chiếu, chẳng bị hai bên làm động, diệu dụng hiện tiền.
Châu thứ ba: Biết rõ cái gốc tánh tướng đại trí, kiến giải vượt bực, tối sáng rỗng suốt, trùm khắp pháp giới một thể tánh chân thật, đại dụng hiện tiền, ứng hóa cùng khắp mọi nơi, toàn dụng toàn bất dụng, toàn sanh toàn bất sanh, phương tiện gọi là cái cửa từ định.
Chú Thích :
[1] Người đại tử là người hoàn toàn bặt hết tình thức như người chết, để rồi sau đó sống lại với cái tâm chân thật bất sanh  bất diệt sẵn có của mình (hoát nhiên đại ngộ)
[2] Chỉ cho tự  kỷ
—o0o—

Chương 19
Học Ðạo Cần Phải Biết Người Triệt Ngộ Bất Tất Hiềm Tri Giải
Viễn Lục Công nói:
Người chưa thấu triệt thì tham câu chẳng bằng tham ý. Người thấu triệt rồi tham ý chẳng bằng tham câu.
Bích Nham
*
Thiền sư Hoàng Long Tâm sau khi đại ngộ vẫn sống chung lộn với chúng và thường hay vãng quyết cu Vân Môn. Ngài Huệ Nam thấy thế hỏi:
– Biết việc này rồi thì thôi. Ông còn dụng rất nhiều công phu nữa để làm gì?
Sư thưa:
– Dạ chẳng đúng. Hễ còn một mảy mai nghi ngờ là chưa đến hàng vô học, đâu thể tự do tung hoành xoay trời chuyển đất được.
Ngài Huệ Nam công nhận.
Tăng Bảo Truyện
*
Thiền sư Viên Ngộ nói:
Tham học với tiên đức đã lâu, hoặc có người thấy mà chưa thấu, hoặc có người thấm mà chưa sáng tỏ, đó gọi là thỉnh ích. Nếu thấy được thấu mà thỉnh ích thì cần phải ở trên ngữ cú chu toàn, không có ngưng trệ. Còn người tham lâu đã sáng tỏ rồi mà còn thỉnh ích nữa là cho giặc leo thang.
Bích Nham
Hòa thượng Quy Tông nói:
Từ xưa, Cổ đức chẳng phải không có tri giải, song các ngài là bậc cao thượng chẳng đồng với bọn tầm thường hiện nay chẳng tự thành tự lập được. Chớ để thời gian luống qua vô ích!
Ngài Dũng Tuyền nói:
Kiến giải, ngôn ngữ thảy cần phải biết cho thấu triệt, nhưng nếu thức tình chẳng hết thì tôi dám nói là hãy còn luân hồi. Sao vậy? Vì thức lậu chưa hết. Ông chỉ cần dứt hết thức lậu thì bấy giờ mới được tự thành tự lập.
Hội Nguyên
*
Thiền sư Ðại Huệ nói:
Từ xưa, các bậc đại trí huệ đều lấy tri giải làm bè bạn, lấy tri giải làm phương tiện, ở trên tri giải thực hành lòng từ bình đẳng, ở trên tri giải làm các Phật sự như rồng gặp nước, như hổ tựa núi, không bao giờ cho là phiền, chỉ vì các ngài biết rõ được chỗ sanh khởi của tri giải.
Tông Cảnh Lục chép:
Nếu nói trí huệ quấy thì Ðại Trí Văn Thù chẳng nên xưng là Pháp vương tử. Nếu cho đa văn là lỗi thì Tỳ kheo Vô Văn (không nghe chánh pháp) lẽ ra chẳng bị đọa địa ngục. Phải biết lấy trí huệ hợp với đa văn kia để chẳng bao giờ chấp vào lời mà nhận ngón tay cho là mặt trăng, lấy đa văn làm rộng trí huệ kia để khỏi trở thành kẻ quê mùa day mặt vào vách. Sở dĩ nói: “Có trí mà không hạnh là thầy của nước (quốc gia), có hạnh mà không trí là dụng của nước, có trí có hạnh là vật báu của nước, không trí không hạnh là giặc của nước”. Thế nên, trí cần nên học, hạnh cần nên tu, thiếu trí là kẻ thù của đạo, không hạnh là kẻ giặc của nước. Phải biết: Xích xiềng của danh tướng, nếu chẳng phải là chìa khóa trí thì khó mở cho ra; tình tưởng kéo lôi, nếu chẳng phải gươm huệ thì khó mà chặt đứt.
—o0o—

Chương 20

Học Ðạo Cần Phải Biện Câu Khách Chủ

Hòa thượng Lâm Tế nói:
Người tham học rất cần phải kỹ lưỡng như chủ khách gặp nhau, thì liền có ngôn luận qua lại, hoặc ứng vật hiện hình, hoặc toàn thể tác dụng, hoặc nắm cơ quyền hỷ nộ, hoặc hiện bán thân, hoặc cưỡi sư tử, hoặc cưỡi tượng vương.
Như có học nhân chân chánh hét, trước tiên đưa ra bồn keo, thiện tri thức chẳng biện cảnh này, bèn lên trên cảnh của người làm mô làm dạng. Học nhân bèn hét, thiện tri thức chẳng chịu buông. Ðây là bệnh nặng chẳng trị được, gọi là khách xem chủ.
Hoặc là thiện tri thức chẳng đưa ra vật, tùy theo chỗ của bọn học nhân liền đoạt, học nhân bị đoạt đến chỗ chẳng còn gì để buông. Ðây gọi là chủ xem khách.
Hoặc có học nhân đưa một cảnh thanh tịnh ra trước thiện tri thức, thiện tri thức biện được cảnh này, nắm được ném vào hầm. Học nhân nói: “Hay thay! Thiện tri thức”. Thiện tri thức liền bảo: “Dốt! Không biết tốt xấu”. Học nhân bèn lễ bái. Ðây gọi là chủ xem chủ.
Hoặc có học nhân bị mang cùm đeo xích ra trước thiện tri thức, thiện tri thức lại chồng thêm cho một lớp cùm xích nữa. Học nhân vui mừng, bỉ thử chẳng biện. Ðây gọi là khách xem khách.
*
Hòa thượng Thủ Sơn Niệm dạy chúng:
Các thượng tọa chẳng được hét mù hét bậy. Ta thường nói với các ông: Khách thì trước sau vẫn là khách, chủ thì trước sau vẫn là chủ, khách không hai khách, chủ không hai chủ. Nếu có hai khách hai chủ thì hai cái đều thành kẻ mù. Do đó, ta nếu đứng, ông phải ngồi; ta nếu ngồi; ông phải đứng. Ngồi thì vì ông mà ngồi, đứng thì vì ông mà đứng. Tuy nhiên như thế, phải mau để mắt mới được.
—o0o—

Chương 21


Học Ðạo Cần Phải Biện Công Phu Thực Tiễn

Hoàng đế Ðường Tuyên Tông hỏi Thiền sư Hoàng Biện:
– Ðốn kiến là gì? Tiệm tu là gì?
Sư đáp:
– Liền rõ tự tánh cùng Phật không khác là đốn kiến, nhưng vì ô nhiễm huân tập từ vô thỉ nên phải nhờ có tiệm tu để đối trị, khiến thuận theo tánh mà khởi dụng, như người ăn cơm chẳng phải một búng liền no.
*
Hòa thượng Quy Sơn thượng đường dạy:
Tâm của người học đạo phải ngay thẳng chân thật, không dối trá, không có tâm hạnh sau lưng trước mặt lừa phỉnh, bất cứ lúc nào thấy nghe bình thường không chiều uốn, cũng chẳng phải nhắm mắt bịt tai, chỉ cần tâm chẳng chạy theo vật là được. Từ trước, các Thánh chỉ nói: “Bên bợn nhơ là lỗi lầm”. Nếu không có các thứ thấy biết xấu xa, chấp trước theo tình và thói quen vọng tưởng nhiều như thế thì ví như nước mùa thu lóng đứng trong trẻo lặng yên, không động không ngại, gọi người này là đạo nhân, cũng gọi là người vô sự.
Khi ấy, có vị Tăng hỏi:
– Người đốn ngộ rồi còn tu nữa chăng?
Sư bảo:
Nếu người khi thật ngộ được bản tánh thì họ tự biết, tu cùng không tu chỉ là lời nói hai đầu. Như nay có người sơ tâm tuy từ duyên được một niệm đốn ngộ chân lý nơi mình, nhưng vẫn còn tập khí nhiều kiếp từ vô thỉ chưa có thể liền hết, nên cần phải dạy hắn trừ sạch dòng thức tạo nghiệp hiện tại, tức là tu vậy. Không nên nói có một pháp riêng dạy hắn tu hành thú hướng. Từ nghe vào được lý, nghe lý sâu mầu tâm tự tròn sáng không có chỗ mê lầm, hiện thời dù có trăm nghìn diệu nghĩa thăng trầm, hắn vẫn được ngồi mặc áo, tự biết tạo sanh kế.Nói tóm lại, chỗ lý chân thật không nhận một mảy bụi, trong cửa muôn hạnh chẳng bỏ một pháp. Nếu được như vậy là một mình cầm đao xông thẳng vào, lòng phàm thánh sạch, hiện bày chân thường, lý sự không hai, tức Như Như Phật.
Hội Nguyên
*
Ðạt Ma bảo Nhị Tổ:
Chánh pháp nhãn tạng nay ta phó chúc cho ông. Sau khi ta diệt độ hai trăm năm, y ngưng lại chẳng truyền, pháp bủa cùng khắp, kẻ biết đạo thì nhiều, người hành đạo thì ít, kẻ nói lý thì nhiều, người thông lý thì ít, người thầm khế hợp mật chứng hơn cả ngàn muôn. Ông nên xiển dương, chớ khinh người chưa ngộ, một niệm hồi cơ bèn đồng bản đắc.
*
Có vị Tăng hỏi Hòa thượng Ðại Châu:
– Thế nào là tu hành?
Sư đáp:
– Chỉ cần đừng ô nhiễm tự tánh tức là tu hành, đừng tự dối trá tức là tu hành, đại dụng hiện tiền tức là pháp thân vô đẳng đẳng.
Truyền Ðăng Lục
Thiền sư Dũng Tuyền Hân thượng đường dạy:
Ta bốn mươi chín năm tại chỗ này còn có tẩu tác, bọn các ông chở mở miệng to. Kẻ kiến giải thì nhiều, còn người hạnh giải thì trong muôn người mới có một. Kiến giải, ngôn ngữ thảy cần phải cho thấu triệt, nhưng nếu thức tình chẳng hết thì tôi dám nói là hãy còn luân hồi. Sao vậy? Bởi vì thức lậu thì bấy giờ mới được tự thành tự lập.
Hội Nguyên
*
Thiền sư Ðại Huệ nói:
Việc này thật chẳng phải dễ dàng, cần phải sanh lòng hổ thẹn mới được. Thường thường người lợi căn thượng trí được nó chẳng phí sức bèn sanh tâm khinh dễ mà không tu hành. Họ phần đông bị cảnh giới trước mắt cướp đoạt mang đi, làm chủ tể chẳng được, ngày qua tháng lại mê man chẳng tỉnh, đạo lực không thắng được nghiệp lực, nên ma được dịp thuận tiện phá hoại, chắc chắn bị ma nắm quyền sai sử đến lúc mạng chung cũng chẳng đắc lực.
*
Thiền sư Viên Ngộ nói:
Như người học bắn lâu ngày mới bắn trúng đích, ngộ thì khoảng sát na mà công phu tu hành cần phải hàm dưỡng lâu dài. Như con chim bột cưu mới nở ra xương đã đỏ, nuôi dưỡng đút mồi, ngày qua tháng lại lông cánh đầy đủ mới có thể bay liệng cao xa được, do đó người ngộ thấu triệt rồi, còn cần phải điều phục tập khí nữa!
Tâm Yếu
*
Ngài Viên Ngộ nói:
– Lý cần phải đốn ngộ. Sự cần phải tiệm tu.
Tâm Yếu
*
Ngài Nam Tuyền nói: Ta lúc trên mười tám tuổi đã biết tại sinh kế.
Ngài Triệu Châu nói: Ta lúc trên mười tám tuổi đã biết phá tan nhà cửa.
Và nói: Ta ở phương Nam hai mươi năm, trừ hai thời cơm cháo là lúc dụng tâm tạp.
Thiền sư Ðộng Sơn Giới nói: Cần phải tâm tâm không chạm vật, bước bước không chỗ nơi, thường chẳng gián đoạn, mới được chút phần tương ưng.
Truyền Ðăng Lục
*
Thiền sư Ðại Từ Hoàn Trung nói:
Nói được một trượng chẳng bằng làm được một tấc.
Ngài Ðộng Sơn lại nói:
– Nói cái làm chẳng được không bằng làm cái nói chẳng được.
Hòa thượng Hối Ðường Tâm nói:
– Tôi đầu tiên vào đạo tự thị rất dễ, đến khi gặp Tiên sư Hoàng Long rồi, nghĩ lại mọi việc hằng ngày của mình cùng với lý mâu thuẫn rất nhiều, bèn nổi lực tu hành ba năm dẫu cho lạnh lẽo, nóng bức chí thẳng đổi dời. Sau đó, mới được mọi việc đúng như lý, mà nay khạc nhổ, quơ tay cũng đều là ý Tổ sư từ Ấn Ðộ sang.
Thiền Môn Bảo Huấn
*
Hòa thượng Hương Lâm Viễn nói:
Lão tăng phải mất bốn mươi năm mới “nhồi thành một khối” được. Ngài Viên Ngộ nhắc lại lời này để khuyên người muốn triệt ngộ phải siêng năng thực hiện công phu. Thật là có ý!
*
Thiền sư Khuê Phong nói:
Chân lý liền ngộ mà chóng viên mãn, vọng tình muốn dứt phải dần dần mới hết. Chóng viên mãn như trẻ mới sanh ra một ngày mà chi thể đã hoàn toàn đầy đủ. Tiệm tu như nuôi dưỡng nó nhiều năm chí khí mới lập.
Hội Nguyên
*
Thượng thư Ôn Tháo ở Sơn Nam hỏi ngài Khuê Phong:
– Người ngộ lý dứt vọng chẳng kết nghiệp, sau khi mạng chung linh tánh nương tựa vào đâu?
Sư đáp:
Tất cả chúng sanh không ai chẳng đủ giác tánh linh minh không tịch cùng Phật không khác. Chỉ vì từ vô thỉ kiếp đến nay chưa từng liễu ngộ, vọng chấp thân làm ngã tướng nên sanh ra các thứ tình cảm thương, ghét… Theo tình tạo nghiệp, theo nghiệp thọ báo, sanh già bệnh chết nhiều kiếp luân hồi. Nhưng giác tánh trong thân chưa từng sanh tử, như chiêm bao thấy bị đuổi rượt mà thân vốn an nhàn, như nước thành băng mà tánh ướt vẫn không đổi. Nếu hay ngộ được tánh này tức là pháp thân vốn tự vô sanh đâu có nương gá, linh minh chẳng muội, rõ ràng thường biết, không từ đâu đến, cũng không đi về đâu. Nhưng vọng chấp nhiều đời, tập quán thành tánh mừng, giận, buồn, vui vi tế lưu chú. Chân lý tuy nhiên liền đạt mà tình này khó thể dẹp ngay, cần phải luôn luôn giác sát để cho chúng càng ngày càng tổn giảm như gió ngừng liền mà sóng từ từ mới lặng, đâu thể tu một đời mà liền đồng lực dụng của chư Phật. Chỉ nên lấy không tịch làm tự thể chớ nhận sắc thân; lấy linh tri làm tự tâm, chớ nhận vọng niệm. Vọng niệm nếu khởi đều chẳng theo nó thì đến lúc mạng chung nghiệp không trói buộc được, tuy có thân trung ấm mà chỗ đi tự do, trên trời trong người tuỳ ý nương gởi. Nếu niệm thương ghét đã hết thì chẳng thọ thân phần đoạn, tự có thể đổi dở thành hay, đổi thô thành diệu. Nếu vi tế lưu chú tất cả đều lặng hết thì chỉ có viên giác đại trí chói sáng riêng còn, liền tùy cơ ứng hiện trăm ngàn muôn ức hóa thân độ chúng sanh có duyên, gọi đó là Phật.
*
Hòa thượng Viên Ngộ nói:
Thuở xưa, bậc đạo cao đức dày bảo người đã thoát căn trần nên hoằng mật ấn, hai ba mươi năm dụng công phu một cách lạnh lẽo, lặng lặng, vừa có mảy may tri kiến liền quét sạch, cũng chẳng lưu lại dấu vết càn quét. Ở trên bờ bên kia buông tay, quên hẳn toàn thân thì chắc chắn được sống rất thích thú. Chỉ sợ khởi cái biết về hành động ấy thì cái biết đó là tai họa vậy.
Hòa thượng Ðại An nói:
– Ta ở Quy Sơn ba mươi năm nay, ăn cơm Quy Sơn, ỉa cứt Quy Sơn mà chẳng học thiền Quy Sơn, chỉ chăm một con trâu cổ. Nếu nó lạc vào đám cỏ thì kéo nó ra, còn nếu nó chạm vào lúa mạ của người thì đánh lôi ra. Ðiều phục đã lâu, thật dễ thương vì nó đã chịu nghe lời. Nay nó đã biến thành con trâu trắng lồ lộ thường ở trước mặt suốt ngày đuổi cũng chẳng đi.
Chánh Pháp Nhãn Tạng
*
Thiền sư Viên Ngộ nói:
– Sau khi được ý chỉ phải miên mật tương tục giữ gìn khiến không gián đoạn để trưởng dưỡng thánh thai. Dẫu cho gặp cảnh giới ác mà vẫn có khả năng dùng được định lực chánh tri kiến dung nhiếp nó khiến thành một phiến thì cơn biến đổi lớn sanh tử chẳng đủ làm động lòng mình, hàm dưỡng được lâu năm sẽ thành con người vô vi, vô sự, đại giải thoát, đâu chẳng phải là chỗ làm đã xong, việc hành cước đã rồi ư!
Tâm Yếu
*
Thiền sư Hưng Thiện Duy Khoan được vua Hiến Tông thỉnh vào cung, quan Thị lang Bạch Cư Dị từng hỏi rằng:
– Ðã gọi là Thiền sư, tại sao thuyết pháp?
Sư đáp:
– Vô thượng Bồ đề mang ở thân là luật, nói ở miệng là pháp, hành ở tâm là thiền. Ứng dụng có ba, nhưng chỉ một mối. Ví như nước sông Hoài, sông Hán tùy theo chỗ đặt tên, tên tuy chẳng phải một mà tánh nước không hai. Luật tức là pháp, pháp chẳng rời thiền, tại sao trong đó lại lầm khởi phân biệt!
– Ðã không phân biệt thì lấy gì để tu tâm?
– Tâm vốn không tổn thương, đâu cần tu sửa. Không luận nhơ cùng sạch, nhất thiết đừng khởi niệm.
– Nhơ chẳng nên niệm thì phải, còn sạch cũng chẳng nên niệm nữa sao?
– Như không nên bỏ một vật gì hết vào trong con mắt, mạt vàng tuy quý nhưng rơi vào con mắt cũng thành bệnh.
– Vô tu, vô niệm thì đâu có khác gì phàm phu?
Phàm phu vô minh, Nhị thừa chấp trước, lìa hai bệnh này gọi là chân tu. Người chân tu chẳng được siêng, chẳng được quên. Siêng tức là gần với chấp trước. Quên tức là rơi vào vô minh. Ðây là tâm yếu vậy.
Hội Nguyên
*
Hòa thượng Quy Sơn hỏi Ngưỡng Sơn:
– Này Huệ Tịch! Tâm thức ông vi tế lưu chú không đến đã được mấy năm rồi?
Ngưỡng Sơn chưa vội đáp, hỏi vặn lại:
– Hòa thượng không đến đã được mấy năm rồi?
Lúc đó, Tổ Quy Sơn bảy mươi tuổi, đáp Ngưỡng Sơn:
– Lão tăng không đến đã bảy năm rồi.
Ngưỡng Sơn thưa:
– Huệ Tịch con chính đang náo loạn.
Lời bình của ngài Ðại Huệ: Lấy đây mà xét, chỗ này lấy thô tâm nói không để mà dối nhau được chăng? Thật ra, phải là người có lực lượng lớn mới được!
Ðại Huệ Phổ Thuyết
—o0o—

Chương 22


Học Ðạo Cần Phải Ðến Nơi Hoàn Toàn Thôi Nghỉ

Từ lâu tập sách này hoàn thành đến chương Nơi Hoàn Toàn Thôi Nghỉ, tôi không viết thêm nữa.
Một hôm, có một vị tăng hỏi:
– Am chủ trứ tác tập này rất tiện cho người sơ học xem. Nhưng đến chương Nơi Hoàn Toàn Thôi Nghỉ, tại sao Ngài không viết?
Tôi đáp:
– Ta chẳng biết, ta chẳng hội.
Tăng hỏi:
– Am chủ vì sao lời chưa hết?
Tôi vỗ tay cười ha hả. Ông Tăng ấy mù tịt. Tôi làm bài kệ: “Bốn oan nghi trong núi” để trình bày cái chí của mình như sau:
Ði trong núi
Thẳng đường chim chân trần đầu trụi
Gặp hùm beo chạm vuốt nhe nanh
Trở về trong dáng lặng thinh
Cùng ai chiếc gậy thầm kinh nhau kìa!

Ðứng trong núi
Chỉ hằng biết chiều chiều sớm sớm
Khách tới thăm gạn vấn làm chi!
Muôn non nghìn núi uy nghi
Nộ cuồng thét tiếng vang trời đáp ngay.

Ngồi trong núi
Tu Di nọ một tòa ngồi dựa
Ðâu phải là chán mứa Thiền tông
Chỉ hay khéo học đạo nhàn
Ðem manh y rách khâu lần cho vui.

Nằm trong núi
Bụng no nê đánh khò một giấc
Gối êm ru tỉnh mặc an hòa
Mừng thay! Chẳng kẻ tìm ta
May thay! Hàng ế không người tìm mua.

Phụ dịch âm chữ Hán:

Sơn trung hành
Xích cước tiêm đầu điểu đạo bình
Phùng trước đại trùng xúc nha trảo
Quy lai trượng tử ám tương kinh.

Sơn trung trụ
Chỉ thức tùng triêu hựu đáo mộ
Khách lai nhược vấn nhân thập ma
Vạn nhạc thiên phong nổ lực nộ.

Sơn trung tọa
Kháo thủ Tu Di na nhất tọa
Bất thị quyện thiền học lạc đà
Thời bả nạp y dục bổ phá.

Sơn trung ngoạ
Bảo câu câu địa tiêu nhất cá
Mặc diệu thao huy phó chẩm nhi
Hạnh nhiên vô nhân cầu truệ hóa.
—o0o—

Lời Bạt

Cổ đức nói: “Biết nhiều về ngôi hạnh của người xưa là để thành lập chi chí của mình”.
Tiên sư Nhất Ty đã từng ở ẩn trong núi Ðan, những lúc rảnh rang, Sư xem qua các kinh sách Trung Hoa, Thiên Trúc (Ấn Ðộ) thâu thập ngôn hạnh của người xưa biên soạn lại thành một tập sách nhan đề Truy Môn Bảo Tạng Tập (bản dịch này đề Kho Báu Nhà Thiền) gồm ba quyển [3] chia thành hai mươi hai chương. Mở đầu là quyết định lòng tin lấy sự sợ sanh tử làm gốc. Sau cùng lấy sự siêng năng thực hành công phu để đạt đến chỗ hoàn toàn thôi nghỉ mới là cùng tột. Ở trong đó bao gồm những lời dạy như cần phải chọn thầy lựa bạn, lý kiến tánh minh tâm, cho đến con đường hướng thượng, câu tà chánh, khách chủ được phân tích trình bày theo bộ loại. Trong đó lại thêm phần bình luận để chiết trung. Vì thế, sách này được người học luôn luôn truyền nhau gìn giữ như viên ngọc quý.
Khi tôi được xem qua thì thấy từ ngữ dùng lẫn lộn cho nhau rất nhiều, nên mùa đông năm ngoái, tôi xem kỹ lại tập sách này, đại khái tôi có đính chính và thêm dấu chấm câu để tiện cho người sơ học xem, song e rằng vẫn còn nhiều sơ sót. Nay xin đem khắc bản lưu truyền lại đời sau cho hàng hậu tấn. Người đọc nếu y theo những lời dạy trong đây mà thực hành thì ắt thành tựu chí lớn của mình một cách chắc chắn. Bằng như người đời trước có linh cốt đủ siêu tông dị mục thì tập sách này cũng chẳng thành lời thừa với người ấy vậy!
Vĩnh Nguyên, Tiểu Tỳ kheo Huệ Tuần
Cẩn bạt.
—o0o—
[3]Trong bộ Thiền Học Ðại Thành, nguyên tác chữ Hán, thì tập Truy Môn Bảo Tạng chia thành ba quyển. Riêng đây, vì muốn cho các chương được liên tục nên được xếp từ chương I đến chương XXII
Hết.
1321343670.phatgiaovnn.com_

KHO BÁU NHÀ THIỀN – PHẦN 2


Đăng lúc: Thứ tư – 16/05/2012 11:49 – Người đăng bài viết: Thiền Lâm

Hình Thiền
Hình Thiền
Kho Báu Nhà Thiền
Thiền sư Văn Thủ
Dịch giả: Ðịnh Huệ
– – -o0o- – –
 
Chương 8

Học đạo cần phải biết dụng tâm trong lúc bệnh

 

Huyễn Trụ lão nhân nói:
Thân thuộc về báo duyên, ai mà không già bệnh! Tổ Bá Trượng kiến lập Diên Thọ Ðường là ý tại chỗ nầy. Người xưa treo biển “ Diên Thọ Ðường” cốt cho người tỉnh xét hành khổ mà khởì bi trí. Hoặc có câu: “ Người bệnh hoạn dễ sanh phiền não, kẻ mạnh khỏe thường mang lòng trắc ẩn”. Mười phương tụ hội, bốn bể một nhà, đã không có sự khác biệt thân sơ, giàu nghèo thì người bệnh tức mình bệnh, người an tức mình an, cho nên trong kinh nói: “Săn sóc người bệnh là phước điền bậc nhất” thì săn sóc đâu nên không!
Lại nói: Hoặc gặp lúc săn sóc người bệnh ta phải sanh lòng trắc ẩn thầm khởi lòng từ bi quán bệnh của người như của mình, ấm lạnh đói no tùy theo sự cần thiết mà săn sóc, thuốc thang cần dùng luôn luôn thăm hỏi. Người bệnh nếu có hiểu lầm sanh lòng giận dỗi, ta phải ôn tồn đối đáp để người bệnh giữ được chánh niệm, đó là tự lợi, lợi tha vậy.
Thiền sư Viên Ngộ nói:
Lúc thân bị bệnh làm khổ, phải khéo nhiếp tâm đừng để ngoại cảnh làm động, trong tâm cũng chẳng khởi niệm, thường nghĩ sanh tử là việc lớn, vô thường mau chóng, không nên phóng túng. Ở nơi ba nghiệp chỉ một pháp giận hờn là tai họa lớn, ví như có thuận, nghịch, cốt đừng cho tâm giận hờn mà phải để tâm mình rỗng rang. Quán cảnh bên ngoài như thuyền rỗng ngói nổi thì vật, ngã đều lặng lẽ, đến chỗ bất động. Ông nên suy xét kỹ điều đó.
Tâm Yếu
Cổ đức nói:
Sanh ra cũng như mặc áo, chết đi cũng như cởi khố, chẳng lấy sanh tử làm sự thay đổi lớn lao, phải nên biết như thế!
Trong các nổi khổ, cái khổ của bệnh là sâu xa. Trong các việc làm phước, săn sóc người bệnh là phước lớn hơn hết. Thế nên, người xưa thấy người có bệnh làm thiện tri thức, dạy người lấy việc săn sóc người bệnh làm phước điền.
Truy Môn Cảnh Huấn
Săn sóc người bệnh cần phải có năm đức tính Luật Tứ Phần ghi:
1/ Biết người bệnh nên ăn món gì, kiêng cữ món nào.
2/ Chẳng nhờm gớm cứt đái, đàm dãi của người bệnh.
3/ Có lòng thương xót, chứ không phải vì lý do cơm áo mà săn sóc.
4/ Lo lắng thuốc thang.
5/ Nói pháp cho người bệnh nghe để họ hoan hỷ rồi tăng trưởng pháp lành.
Sáu điều lầm lỗi khi săn sóc người bệnh, kinh Tăng Nhất A Hàm ghi:
1/ Chẳng biết thuốc hay
2/ Lười biếng.
3/ Ưa giận, thích ngủ.
4/ Chỉ tham cơm áo.
5/ Chẳng dùng pháp cúng dường.
6/ Chẳng cười nói vui vẻ với người bệnh.
Thích Thị Yếu Lãm
—o0o—

Chương 9

Học đạo cần phải phân biện tà chánh
Văn Khuyến Tham Thiền nói:
Giải phải viên giải rồi trở lại làm Tông sư mắt sáng cho người, tu phải viên tu để chỉ dạy bạn đồng tham. Kẻ sơ tâm bạc phước chẳng khéo gần gũi nương tựa bậc Minh sư nên kiến giải thiên khô, tu hành biếng nhác, hoặc suy tôn cảnh thánh, cô phụ tánh linh của mình, chỉ biết đức tướng thần thông, không tin phàm phu ngộ đạo. Hoặc tự thị ỷ vào tánh thiên chân bác không nhân quả, chỉ nhằm hông ngực mà lưu xuất mà không theo địa vị tu hành. Do đó, nếu pháp sư hiểu cạn không thông giáo pháp, thiền khách rỗng đầu chẳng quý hạnh môn thì đều phạm vào cái lỗi thiên khô nầy vậy.
Truy Môn Cảnh Huấn
Thiền sư Hoài Hải ở núi Bá Trượng nói:
Ta thường khuyên các ông nên sợ pháp trần phiền não như sợ tam đồ thì mới có phần độc lập. Giả sử có một pháp vượt hơn cả Niết bàn cũng không sanh chút lòng quý trọng thì người này mỗi bước đi đều là Phật. nếu chấp cái thanh tịnh giải thoát mình vốn sẵn có đó cho là Phật, cho là Thiền, người có kiến giải như thế là thuộc phái ngoại đạo tự nhiên. Nếu người chấp nhân duyên, có tu hành chứng đắc thì thuộc về phái ngoại đạo nhân duyên. Chấp có, tức là thuộc phái ngoại đạo thường kiến. Chấp không, tức là thuộc phái ngoại đạo đoạn kiến. Chấp cũng có cũng không tức là thuộc phái ngoại đạo biên kiến. Chấp chẳng phải có chẳng phải không tức là thưộc phái ngoại đạo không kiến.
Hiện tại chỉ cần đừng thấy có Phật, có Niết bàn…và không có tất cả những cái thấy có, thấy không…, và cũng không thất cả cái thấy có, thấy không thì mới được gọi là chánh kiến (cái thấy đúng đắn); không hết thảy cái nghe cà cũng không cả cái nghe không thì mới được gọi là chánh văn (cái nghe đúng đắn), ấy gọi là hàng phục ngoại đạo.
Quảng Ðăng Lục
Thiền sư Vạn Am Nhan nói:
Tòng lâm đã đến lúc tà thuyết nổi lên mạnh mẽ, họ nói giới luật chẳng cần giữ, định huệ chẳng cần tập, đạo đức chẳng cần tu, thị dục chẳng cần bỏ, lại dẫn Kinh Duy Ma, Viên Giác để làm chứng, ngợi khen tham, sân, si, sát sanh, trộm cướp, dâm dục là phạm hạnh. Than ôi! Những lời ấy đâu riêng chỉ làm tai hại cho tòng lâm đương thời, mà còn đi hại cho pháp môn chân chánh.
Hạng phàm phu ngu tối tham, sân, ái dục, nhân ngã, vô minh, niệm niệm phan duyên như nước sôi sùng sục trong nồi phải nhờ cách chi mà được trong mát? Bậc thánh xưa nghĩ đến việc lớn ấy, bèn lập ra ba môn học giới, định, huệ để ngăn ngừa ngõ hầu có thể chuyển vọng thành chân được. Ngày nay, đàn hậu tấn giới luật chẳng giữ, định huệ  chẳng tập, đạo đức chẳng tu, duyên lấy sự học rộng luận giỏi để làm lung lạc kẻ ngu si,  muốn dẫn dắt họ trở lại cũng chẳng được. Tôi đoan  chắc rằng những lời nói ấy làm lại đến muôn đời.
Thiền Môn Bảo Huấn
Nói là hại đến muôn đời vì hiện nay có thể thấy nhan nhãn ở chốn Thiền lâm.
Thiền sư Trí Giác nói:
Gần đời mạt pháp, có kẻ điên rồ nói một thứ thiền chỉ học ngoài môi, hoàn toàn không thật ngộ, mỗi hành vi đều ở trong có, mỗi lời nói đều nói không, tự chẳng trách mình bị nghiệp lực lôi kéo, lại dạy người bác không nhân quả, bèn nói uống rượu ăn thịt chẳng chướng Bồ Ðề; trộm cắp, dâm dục chẳng ngại Bát Nhã. Bọn này lúc còn sống bị nhà nước xử phạt, sau khi chết rồi bị đọa vào ngục A tỳ.
Nước ta, (Nhật bản) phép tắc sơ sài, tông phong mỗi ngày một đổ nát, dị kiến đua nhau nỗi dậy. Có nhiều kẻ ham làm thầy người, giáo hóa rộng rãi, đề xướng thạnh hành một loại thiền sai lạc huyễn hoặc kẻ hậu học, cơ hồ đã hơn một trăm năm nay. Hiện giờ ảnh hưởng vẫn còn tiếp tục lan tràn khắp thiên hạ, tưởng chừng như là đến lúc “quyến thuộc của thiên ma trộm y phục Như Lai, phá hoại giáo pháp Như Lai”. Xét về bọn quý tộc thì bên trong thường đam mê tửu sắc, bên ngoài ưa thích săn bắn, trong các việc làm phần nhiều thường lấy việc ác làm vui, chẳng thích làm lành, đó cũng là phận thường của kẻ phú quý ở chốn tòng lâm. Thế nên, họ thường ái mộ thuyết không nhân không quả và họ cũng chẳng thích nghe nói đến nghiệp báo ba đời. Họ nói: “Lão Cù Ðàm nêu bày phương tiện ác”. Họ vừa tựu chức Trụ trì chùa lớn, làm bậc Trưởng lão cao niên, hằng ngày có người lén đến trình kiến giải điên cuồn. Trưởng lão liền mời vào thất kín nói là để trao truyền tâm ấn, lại dẫn ra bao nhiêu cổ tắc, niêm đề hướng thượng để làm chứng. Hàng sĩ phu lúc đó được gãi trúng chỗ ngứa, đến chết cũng chẳng nghi, hạnh lành mỗi ngày một bê trễ, nghiệp ác càng ngày càng tăng thêm, chẳng đợi chết mới vào ngục A tỳ mà ngay lúc còn sống đã bị một đời tủi nhục. Ðáng sợ thay! Phật nói: “Chẳng phải chúng sanh lỗi mà lỗi của tà sư” là cái nghĩa này vậy.
Hòa thượng Tâm Văn Bí nói:
Tăng sĩ nhân tham thiền mà đến nỗi mắc bệnh quá nhiều. Có người mắc bệnh nơi tai mắt, lấy sự nhướng mày trợn mắt, nghiêng tai gật đầu làm thiền. Có người mắc bệnh ở miệng lưỡi, dùng lời nói điên đảo, hét loạn quát càn làm thiền. Có người mắc bệnh ở tay chân, lấy việc tiến trước lùi sau, chỉ đông trỏ tây làm thiền. Có người mắc bệnh ở tâm phúc, lấy sự tột cùng huyền diệu siêu tình ly kiến làm thiền. Căn cứ vào sự thật mà luận thì đều là bệnh. Duy có bậc Tông sư đầy đủ bản sắc mới quan sát thấu đáo đến chổ vi tế, xem qua liền biết được sự lãnh hội hay chưa lãnh hội của họ. Khi họ vừa bước vào cửa, các ngài liền biết chỗ chưa đến đích của  họ, rồi sau đó, các ngài  mới dùng một chùy một trát để lột trần sự khuất tất nhỏ nhiệm, phá tan chỗ ngưng trệ, nghiệm xét chỗ chân giả, định sự thật hư mà không chấp chặt một phương tiện để làm mờ tối chỗ biến thông, khiến cho người bước tới cảnh an lạc vô sự rồi sau đó mới thôi.
Thiền Môn Bảo Huấn
Ngày nay, tìm người mắc bệnh nầy cũng không có được nhiều, đủ biết đạo của Tổ sư suy vi đến bậc nào!
Thiền sư Ðại Huệ nói:
Phật pháp lúc gần đây thật thảm, kẻ làm thầy của người trước tiên đem sự huyền diệu kỳ đặc chứa trong hông ngực ra dạy bảo cho nhau, trao truyền bằng miệng nói tai nghe rồi cho đó là tông chỉ. Hạng người ấy bị tà độc nhập tâm, không thể chữa trị được. Cổ đức gọi đó là người phỉ báng Bát Nhả, ngàn Phật ra đời cũng không sám hối được.
Pháp Ngữ
Lúc gần đây, các loại thiền chuyên môn truyền cho nhau một cách kín đáo chẳng  ra ngoài loại này. Vả lại, đem sự huyền diệu kỳ đặc cho nhau thì có thể được, còn  như cổ tắc của Thiền sư ở các nơi mà thiển cận truyền như vậy thì thật đáng tức cười!
Thiền sư Vô Học Tổ Nguyên nói:
Tôi thấy các huynh đệ Nhật Bản, số người một đời được ngộ không nhiều, là phong tục xứ này chỉ quý tài trí mà không cầu ngộ giải. Thế nên, giả sử có người căn cơ linh lợi thì cũng chỉ lo học rộng các sách vở trong ngoài, ưa thích văn chương xảo ngụy mà chẳng lo tham cứu việc nầy để đến mỗi một đời luống qua trong mê, thật đáng thương xót!
Hoặc có một hạng người tự xưng là đạo nhân mà phần nhiều là người khí lượng chẳng kham học rộng nhớ nhiều, cố lấy việc ngồi thiền làm công nghiệp mà chẳng phân biện được tâm chân thật hướng về đạo, loại người nầy cũng chẳng phải một đời nầy có thể khai ngộ.
Ðến nay đã hơn ba trăm năm mà vẫn thường thấy hai loại bệnh nầy, thật lời của  người đạt đạo nói không sai. Than ôi! Phong tục nước ta quen theo thói tệ như thế, đáng buồn thay!
Quốc sư Vô Nghiệp nói:
Thiên hạ ngày nay hiểu thiền hiểu đạo như số cát sông Hằng, nói Phật nói tâm có trăm nghìn vạn ức mà mảy trần chẳng bỏ thì chưa khỏi luân hồi, ý nghĩ chẳng dứt thì đều phải bị chìm đắm trong sanh tử. Những người như thế, nghiệp quả của chính họ, họ còn không tự biết mà tự dối là tự lợi, lợi tha, tự bảo là bậc thượng lưu ngang hàng với tiên đức. Dẫu cho nói: Việc chạm vào mắt  không gì chẳng Phật sự, chỗ bước chân đi đều là đạo tràng. Nhưng tập quán của những người ấy chẳng bằng một kẻ phàm phu ngũ giới, thập thiện, mà lời của người đó nói ra chê cả hàng Nhị thừa và Bồ Tát Thập Ðịa. Món thượng vị đề hồ là món trân kỳ của thế gian gặp những hạng người nầy nó trở thành thuốc độc.
Ngày gần đây, cái tệ của người học thiền là lấy sự nương vào thức tình để biết làm tỏ ngộ, lấy sự xuyên tạc cơ duyên truyền trao làm tham học, lấy ngôn ngữ bí hiểm kỳ quái làm đề xướng, lấy sự phá hoại luật nghi làm giải thoát, lấy sự kết giao với nhà quyền quý, đút lót để được chức vị làm phương tiện xuất thế.
Trung Phong Quảng Lục 
Thuở xưa có cái tệ nầy, thời gian gần đây cũng giống như thế. Than ôi! Muốn làm cho thuyết ma lui mất, đạo Tổ trở lại lưu hành cũng chẳng thể được. Thảm thay!
Có vị Ðại đức hỏi Thiền sư Ðại Châu Huệ Hải:
– Thái hư hay sanh linh trí chăng? Chân tâm duyên nơi thiện ác chăng? Người tham dục là đạo chăng? Người chấp phải chấp quấy về sau tâm được thông chăng? Người gặp cảnh sanh tâm có định chăng? Người an trụ tịch mặc có huệ chăng? Người ôm lòng ngạo vật có ngã chăng? Người chấp có chấp không có trí chăng? Người tầm văn thủ chứng, người khổ hạnh cầu Phật, người lìa tâm cầu Phật, người chấp tâm là Phật, trí này có xứng với đạo chăng? Xin Thiền sư mỗi mội hãy giải đáp cho.
Sư đáp:
– Thái hư chẳng sanh linh trí. Chân tâm chẳng duyên thiện ác. Người thị dục sâu thì căn cơ cạn. Người phải quấy giao tranh thì tâm chưa thông. Người gặp cảnh sanh tâm thì ít định. Người tịch mặc quên cơ là huệ chìm. Người tâm cao ngạo vật thì ngã lớn. Người chấp không chấp có thì đều là người ngu. Người tầm văn thủ chứng thì càng mắc kẹt. Người lìa tâm cầu Phật là ngoại đạo. Người chấp tâm là Phật ấy là ma.
Ðại đức thưa:
– Nếu như vậy thì cứu cánh không có gì cả sao?
Sư bảo:
– Cứu cánh là đại đức; chứ không phải cứu cánh là không có gì cả.
Truyền Ðăng Lục
Hòa thượng Chân Tịnh Văn nói:
Người đoạn kiến thì đoạn diệt mất tự tâm vốn là tự tánh sáng suốt nhiệm mầu, luôn luôn ngoài tâm chấp không, kẹt vào thiền tịch mặc. Người thường kiến thì chẳng ngộ hết thảy pháp không, chấp trước các pháp hữu vi thế gian cho là cứu cánh.
Chánh Pháp Nhãn Tạng
Tông Cảnh Lục chép:
Thấy duyên mà chẳng thấy thể là thường kiến. Thấy thể mà chẳng thấy duyên là đoạn kiến. Nay từ nhân duyên mà thấy tánh thì chẳng sa vào thường, ở trong chân tánh mà duyên khởi thì chẳng rơi vào đoạn, đó gọi là tri kiến chân chánh.
Ðại sư Lâm Tế nói:
Phàm người xuất gia cần phải phân biện cho được kiến giải bình thường chân chánh, biện Phật, biện ma, biện chân, biện ngụy, biện phàm, biện thánh. Nếu biện được như thế mới gọi là chân thật xuất gia.
Tuy nhiên gác cũ an nhàn
Về đến đó rồi mới nghỉ an.
Thế mà nay, chủ tớ chẳng phân, Phật ma chẳng biện, mang sự tối tăm tự cho là đủ, rồi tự bảo: “Ðây là chỗ an nhàn, đây là chỗ ruộng đất nghỉ ngơi”, thì người  đó chẳng phải là người chân thật xuất gia mà chỉ dung dưỡng phàm phu thôi.
Nếu cầu cho đúng thì trong lúc tâm ý thức chết lặng cần phải có đủ con mắt chánh  pháp mới được.
Thiền sư Huyền Sa Bị nói:
Có một bọn hòa thượng ngồi thiền sàng tự xưng là thiện tri thức, khi được hỏi đến, liền lắc mình, động tay, mở mắt, le lưỡi nhìn sững.
Lại có một bọn nữa nói: Linh đài trí tánh sáng suốt linh diệu hay thấy hay nghe, hướng vào trong thân năm uẩn làm chủ tể.
Bọn người như thế mà xưng là thiện thi thức, thật là dối gạt người.
—o0o—

Chương 10

Học Đạo Cần Phải Biết Học Giải Là Bệnh 
Hòa thượng Lâm Tế nói:
Người học thời nay chẳng đắc đạo là bởi vì nhận danh tự làm tri giải, sao chéo lại trong sách lời của các lão đã chết giấu trong ba lớp, năm lớp chẳng cho người thấy rồi nói là huyền chỉ, lấy làm bảo trọng.
Hòa thượng Tân Phong nói:
Thấy lời dạy của Phật Tổ như sanh oan gia thì mới là có phần tham học.
Hòa thượng Hoàng Bá nói:
Người thời nay chỉ muốn đa trí đa giải, rộng cầu văn nghĩa cho đó là tu hành, mà chẳng biết đa trí, đa giải trở lại thành ra bế tắc, khác gì chỉ biết cho trẻ con uống sữa mà không biết nó có tiêu hay không.
Truyền Tâm Pháp Yếu
Hòa thượng Phù Sơn Viễn nói với Ðạo Ngô Chân rằng:
Người học đạo chưa đến nơi đến chốn tự khoe kiến văn, đuổi theo cơ giải, dùng miệng lưỡi để thắng nhau, khác nào nhà xí bôi đồ nhơ uế chỉ làm tăng thêm mùi hôi thối mà thôi.
Hòa thượng Quy Sơn nói:
Nếu hướng ra ngoài được một tri một giải cho đó là thiền, là đạo thì không dính dáng chút nào, gọi đó là mang cứt vào, nó làm nhơ uế đất tâm của ông, vì thế nói chẳng phải là đạo vậy.
Hội Nguyên 
—o0o—
Chương 11

Học đạo cần phải tu tập tọa thiền
Ðàn Kinh của Lục Tổ chép:
Sao gọi là tọa thiền? Ngoài đối với hết thảy cảnh giới thiện ác tâm niệm không khởi gọi là tọa, trong thấy tự tánh chẳng động gọi là thiền.
Sao gọi là thiền định? Ngoài lìa tướng gọi là thiền, trong chẳng loạn gọi là định. Nếu thấy các cảnh mà tâm không loạn, ấy là thật định.
Kinh Tịnh Danh nói:
Tức thời hoát nhiên trở lại được bản tâm.    
Ngữ Lục của Bàng cư sĩ chép:
Tâm như tức là tọa, cảnh như tức là thiền, như như thảy chẳng gá, đại đạo chẳng trong ngoài, nếu người hiểu như thế, lúc ngủ như không ngủ.
Có người hỏi Thượng tọa Sư Tịnh ở núi Thiên Thai:
– Ðệ tử mỗi đêm ngồi thiền tâm niệm lăng xăng, chưa biết dùng cách gì để nhiếp phục, cúi xin thầy từ bi chỉ dạy.
Sư đáp:
– Như ban đêm ngồi an tọa mà tâm niệm lăng xăng thì hãy đem cái tâm lăng xăng ấy tìm cái chỗ lăng xăng kia, xét biết nó không có chỗ nơi thì cái niệm lăng xăng ấy đâu còn, xét ngược lại cái tâm hay xét kia cũng đâu có.
Lại nữa, cái trí năng chiếu vốn không, cảnh sở duyên cũng lặng, lặng mà chẳng phải lặng, bởi vì không có người hay lặng; chiếu mà chẳng phải chiếu bởi vì không có cảnh bị chiếu. Cảnh, trí đều lặng, tâm tự an nhiên, ngoài không dong ruỗi, trong không trụ định, hai đường đều bặt, một tánh di nhiên, đây là yếu đạo trở về nguồn vậy.
Hội Nguyên     
Thiền sư Lâm Tế nói:
Ông nếu chấp lấy cảnh thanh tịnh bất động, cho đó là phải, thì đó là ông nhận vô minh làm ông chủ.
Lời này ít nhiều làm kinh động kẻ học đòi theo kiểu dáng người chết. Nếu hướng vào chỗ nầy thấy được thấu, đả phá được suốt thì cứu được một nửa.
Ngài Lâm Tế nói:
Có một bọn mù trọc đầu ăn cơm no rồi tọa thiền quán hạnh giữ chặt mỗi niệm không cho sanh khởi, ghét động cầu tịnh, ấy là pháp ngoại đạo. Tổ sư nói: Nếu ông trụ tâm khán tịnh, dấy tâm soi chiếu bên ngoài, nhiếp tâm lóng lặng bên trong, ngưng tâm nhập định, những thứ ấy đều là tạo tác.
Ngày nay, tôi thấy người sơ tâm xưng là tọa thiền phần nhiều chỉ câu thúc được cái đãy da thúi nầy, còn vọng niệm, tư tưởng  thì lăng xăng khởi diệt không ngừng, cùng với cái gọi là trụ bên trong kia còn chưa dính dán thay huống là đối với cái chân thật viên trạm! Rốt cuộc thì cùng cới cái ngồi si ngốc của loài chồn thỏ không khác.
Có vị Tăng hỏi Quốc sư Huệ Trung ở Nam Dương:
– Tọa thiền khán tịnh việc ấy thế nào?
Sư đáp:
– Chẳng nhơ chẳng sạch  thì đâu cần khởi tâm mà khán tướng tịnh!
Thiền sư Ðại Huệ nói:
Chúng sanh cuồng lọan là bệnh. Phật dùng thuốc tịch tịnh ba la mật để điều trị. Nếu bệnh hết mà còn dùng thuốc thì càng thêm bệnh.
Trong nghi tọa thiền của Thiền sư Phật Tâm Tài có ghi:
Phàm người tọa thiền phải đoan thân chánh ý, trong sạch cái tâm rỗng rang của mình, xếp chân ngồi kiết già, thâu cái thấy, xoay cái nghe trở lại, tỉnh tỉnh chẳng ngu muội, lìa hẳng hôn trầm điệu cử. Dẫu cho có nhớ đến việc sắp đến cũng tận tình ném quách, chỉ hướng về chỗ tịnh định chánh niệm xét kỹ biết ngồi là tâm và phản chiếu là tâm, biết có, không, ở giữa, hai bên, trong, ngoài là tâm. Tâm nầy rỗng mà biết, tịch mà chiếu, tròn sáng suốt linh diệu chẳng phải hư vọng.
Nay thấy người tọa thiền gắng sức mà chẳng ngộ là do cái bệnh y theo sự chấp trước, tình gá theo thiên tà, mê muội trái với chánh nhân, uổng công tu hành mà không ngộ là do đây vậy. Nếu như lóng lặng một niệm thầm hợp vô sanh thì gương trí rỗng soi, tâm hoa kiền nở, vô biên kế chấp ngay đó liền tiêu ma, vô minh nhiều đời tức thời tan sạch, như người quên chợt nhớ, như người bệnh được lành, trong lòng vui mừng tự biết sẽ làm Phật, tức là biết ngoài tâm mình ra không có Phật nào khác. Sau đó, thuận theo ngộ mà càng tu, nhân tu mà chứng, nguồn chứng ngộ là ba mà không khác, đây gọi là nhất giải, nhất hạnh tam muội, cũng gọi là vô công dụng đạo.
Hòa thượng Ngưỡng Sơn nói:
Nếu là đệ tử của Tổ tông thì người thượng căn thượng trí một nghe ngàn ngộ được đại tổng trì. Còn như kẻ căn trí yếu kém nếu chẳng chịu tọa thiền để lặng yên niệm lự đến lúc lâm chung ắt phải bối rối.
Thiền sư Huyền Sa Bị nói:
Cho ông luyện  được thân tâm đồng như hư không đi, cho ông đến chỗ tịnh minh lóng lặng chẳng lay động đi, mà nếu chẳng ra khỏi thức ấm, cổ nhân gọi đó là dòng nước chảy nhanh, vì nó chảy quá nhanh nên không biết rồi lầm cho là yên tịnh. Tu hành như thế không thể nào ra khỏi mé luân hồi được, mà y như trước vẫn bị luân hồi nữa.
Hòa thượng Trung Phong nói:
Hoặc có người ngồi chỗ vắng lặng có lúc trần lao tạm dừng trong phút chốc, chợt trong thức ấm hốt nhiên tỉnh ngộ được cái tương tự như đạo lý, bèn y theo đó cho là đúng, rồi dẫn lời trong kinh giáo để làm chứng cho cái bệnh nầy là do thức ấm chưa phá, thật là gốc sanh tử, chứ chẳng phải kiến tánh vậy.
Kinh viên Giác ghi:
Hụê thanh tịnh vô ngại đều nương nơi thiền định mà sanh.
Hòa thượng Triệu Châu nói:
Ông hãy hướng vào dưới lớp y áo ngồi mười năm, nếu chẳng hội thiền thì cứ chặt đầu lão tăng đi.
Cổ đức nói:
Siêu phàm vượt thánh thì cần phải lặng hết các duyên, ngồi chết hay đứng tịch đều phải nhờ vào sức định. 
—o0o—
Chương 12

Học đạo cần phải kiến tánh minh tâm
Ðại sư Ðạt Ma bảo Nhị Tổ:
– Ông chỉ cần ngoài dứt các duyên, trong không nghĩ tưởng, tâm như tường vách thì có thể vào đạo.
Nhị Tổ nói tâm nói tánh đủ thứ mà vẫn không khế hội. Một hôm chợt ngộ, Ngài bèn thưa:
– con đã dứt được các duyên.
Ðạt Ma bảo:
– Không thành đoạn diệt chăng?
– Thưa không.
Ðạt Ma hỏi:
– Ông làm gì?
Nhị Tổ thưa:
– Rõ ràng thường biết, nói chẳng thể đến.
Ðạt Ma bảo:
– Ðây là tâm thể của chư Phật đã truyền, chớ có hồ nghi.
Tông Môn Thống Yếu
Phật bảo A nan:           
Ta thường nói: Thân ông, tâm ông đều là vật hiện trong diệu minh chân tinh diệu tâm, tại sao các ông lại bỏ mất cái bổn diệu viên diệu minh tâm bảo minh diệu tánh ấy mà nhóm họp các duyên dao động bên trong, đuổi theo cái tướng mờ tối nhiễu loạn bên ngoài rồi cho đó là tâm tánh? Một khi mê nó làm tâm thì chắc chắn lầm cho là ở trong sắc thân, mà chẳng biết ngoài sắc thân cho đến núi sông, hư không, đất đai đều là vật trong diệu minh chân tâm, ví như bỏ trăm ngàn biển cả trong trẻo để nhận một bọt nước cho đó là toàn thể biển cả mênh mông.
Kinh Lăng Nghiêm
Vua Dị Kiến hỏi Tôn giả Ba La Ðề:
– Phật là gì?
Tôn giả đáp:
– Thấy tánh là Phật.
– Thầy thấy tánh chưa?
– Tôi thấy phật tánh.
– Tánh ở chỗ nào?
– Tánh ở tại tác dụng v.v…
Tôn giả bèn nói kệ rằng:
Tại thai là thân
Ra đời là người
Tại mắt là thấy
Tại tai là nghe
Tại mũi biết mùi
Tại miệng đàm luận
Tại tay cầm nắm
Tại chân đi chạy
Hiện khắp đều trùm sa giới
Thâu gồm tại một vi trần
Thức giả biết là Phật tánh
Người ngu gọi đó tinh hồn.
Hội Nguyên
Hòa thượng Ðại Ðiên ở Triều Châu nói:
Người học đạo cần phải biết bổn tâm của mình đem tâm chỉ cho nhau thì mới có thể thấy đạo. Tôi thấy đương thời có nhiều người chỉ nhận cái nhướng mày, chớp mắt, một nói một nín, gật đầu ấn khả cho đó là tâm yếu. Những người nầy thật ra họ chưa rõ. Tôi nay nói minh bạch cho các ông nghe, mỗi người phải gắng nhận: Chỉ cần trừ sạch hết các vọng niệm, kiến giải, thì ngay đó là chân tâm của ông. Tâm này, lúc cùng với trần cảnh cả lúc giữ cho yên tịnh hoàn toàn không có chút gì dính dáng. Chính tâm này là Phật, chẳng đợi tu sửa. Sao vậy? vì ứng dụng của nó trọn bất khả đắc, nên gọi là diệu dụng. Bản tâm nầy rất cần phải hộ trì, không nên khinh thường.
Truyền Ðăng Lục  
Thiền sư Bảo Tháp Thiệu Nham dạy chúng:
Các ông được minh tâm chưa? Nếu chưa, thì chẳng lẽ lúc đàm luận nói cười, lúc im lặng không nói, lúc tham tầm thiện tri thức, lúc đạo bạn thương lượng, lúc du sơn ngoạn thủy, lúc tai mắt bặt trần tâm của ông? Kiến giải như trên đều thuộc về ma mị, đâu thể gọi là minh tâm?
Còn có một loại người nữa lìa vọng tưởng trong thân, riêng nhận khắp cả mười phương thế giới bao hàm nhật nguyệt thái hư ở bên ngoài cho đó là chân tâm xưa nay, đây cũng là điều của ngoại đạo chấp, chứ không phải là minh tâm.
Các ông muốn hội chăng? Tâm không phải cũng không chẳng phải, ông toan chấp nhận có thể được sao !
Hội Nguyên  
Hòa thượng Chân Tịnh nói:
Phật pháp vô cùng vi diệu không có hai, những người chưa đến được chỗ vi diệu thì thấy có hay dở đối đãi. Nếu như người đến chỗ vi diệu rồi thì đó là người ngộ tâm. Người đó biết đúng như thật rằng tâm mình rốt ráo xưa nay thành Phật, người đó thật sự tự tại, thật sự an vui, thật sự giải thoát, thật sự thanh tịnh, và hằng ngày chỉ dùng tự tâm, tự tâm biến hóa nắm được liền dùng chứ không luận phải hay không phải, hễ đem tâm toan tính thì liền không phải. Tâm chẳng toan tính thì mỗi mỗi thiên chân, mỗi mỗi minh diệu, mỗi mỗi như hoa sen chẳng dính nước, tâm nầy thanh tịnh còn hơn cả hoa kia. Do đó, mê tự tâm nên làm chúng sanh, ngộ tự tâm nên thành Phật, mà chúng sanh tức Phật, Phật tức chúng sanh, do có mê ngộ mà có Phật, có chúng sanh vậy.
Chánh Pháp Nhãn Tạng
Thiền sư Bá Trượng nói nới Quy Sơn:
Muốn biết nghĩa Phật tánh phải quán thời tiết nhân duyên. Thời tiết đã đến, như mê chợt ngộ, như quên bỗng nhớ, mới biết vật của mình chẳng từ người khác mà được, cho nên Tổ sư nói: “Ngộ rồi đồng chưa ngộ, không tâm cũng không pháp, chỉ cần không có tâm hư vọng chấp phàm chấp thánh, xưa nay tâm pháp vốn tự đầy đủ”. Ông nay đã được như thế, phải khéo tự giữ gìn!
Hội Nguyên
Có vị Tăng hỏi Ngài Ngưỡng Sơn:
– Hòa thượng thấy người đến hỏi thiền hỏi đạo, bèn vẽ một vòng tròn trong đó viết chữ NGƯU, là ý gì?
Ngài Ngưỡng Sơn đáp:
– Cái ấy cũng là việc không đâu. Nếu chợt hội được thì cũng chẳng từ bên ngoài đến. Nếu không hội thì quyết chắc là không biết.
Ta hỏi lại ông: Bậc lão túc ở các nơi, ngay trên cái thân của ông, chỉ ra cái gì là Phật tánh? Nói là phải hay nín là phải, hay chẳng nói chẳng nín là phải, hay lại đều là phải, hay lại đều là không phải? Nếu ông nhận nói là phải thì như người mù sờ đuôi voi. Nếu ông nhận nín là phải thì như người mù sờ tai voi. Nếu ông nhận chẳng nín chẳng nói là phải thì như người mù sờ vòi voi. Nói vật vật đều phải thì như người mù sờ nhằm bốn chân voi. Nếu bảo đều chẳng phải tức là ném bỏ con voi nầy, rơi vào không kiến. Chỗ thấy của các người mù kia chỉ ở nơi danh mạo sai biệt trên con voi. Ðiều tối cần là ông chớ sờ voi, chớ nói thấy biết là phải, cũng chớ nói là không phải. Tổ sư nói:
Bồ đề vốn không cội
Gương sáng cũng không đài
Xưa nay không một vật
Chỗ nào dính bụi nhơ?
Lại nói: “Ðạo vốn không hình tướng, trí huệ tức là đạo, người có kiến giải nầy gọi là chân Bát nhã”. Người có mắt sáng thấy được toàn thể con voi thì thấy tánh cũng như vậy.
Bích Nham
Hòa thượng Nham Ðầu dạy chúng:
Luận về việc trong đại thống cương tông cần phải biết cú(câu), nếu không biết cú thì khó hội được lời nói. Cái gì là cú? Lúc trăm việc chẳng nghĩ gọi là chánh cú, cũng gọi là cư đảnh, cũng gọi là đắc trụ, cũng gọi là lịch lịch (rõ ràng), cũng gọi là tỉnh tỉnh, cũng gọi là chắc thực, cũng gọi là đắc địa, cũng gọi là lúc ấy. Ngay khi ấy đồng phá tất cả thị phi, vừa như thế liền chẳng như thế, bèn lăn trùng trục. Nếu thấy chẳng thấu thì vừa bị người hỏi đến mắt trợn trừng như con dê bị giết chưa chết. Chẳng thấy Cổ Nhân nói: “Hôn trầm chẳng tốt, cần phải chuyển được mới tốt” đó sao?
Chánh Pháp Nhãn Tạng           
Hòa thượng Chương Kỉnh thượng đường dạy:
Chỗ tột cùng của đạo lý là bặt dứt nói năng, thế mà người đương thời chẳng hiểu lại cố tập việc khác cho là công năng. chẳng biết tự tánh vốn chẳng phải trần cảnh mà là cái cửa giải thoát vi diệu có giác chiếu soi chẳng nhiễm chẳng ngại, ánh sáng ấy chưa từng thôi dứt, nhiều kiếp đến nay vốn không biến đổi, giống như mặt trời xa gần đều chiếu, tuy đến với các hình sắc mà chẳng cùng tất cả hòa hợp. Ngọn đuốc linh sáng nhiệm mầu chẳng phải nhờ trui luyện, vì không rõ biết nên chấp vào vật tượng cũng như dụi mắt vọng khởi lên hoa đốm trong hư không, luống tự nhọc nhằn trải qua nhiều kiếp một cách oan uổng. Nếu phản chiếu được thì không có người thứ hai, cử chỉ hành động đều không thiếu thật tướng.
Hội Nguyên
Phù Sơn Viễn Công bảo Thủ tọa Diễn:
Tâm là chủ của cả một thân, là gốc của muôn hạnh. Tâm chẳng diệu ngộ thì vọng tình tự sanh. Vọng tình đã sanh thì thấy lý chẳng rõ. Thấy lý chẳng rõ thì phải quấy nổi lên. Do đó, trị tâm cần phải cầu diệu ngộ, ngộ rồi thì tinh thần điều hòa, tánh khí diềm tĩnh, dung mạo cung kính, hình sắc trang nghiêm, vọng tưởng tình lự đều tiêu dung thành chân tâm. Lấy đây để trị tâm thì tâm tự linh diệu, sau đó dẫn dắt mọi người, chỉ cho họ biết cái chỗ mê thì ai mà chẳng theo học!
Phật dạy:
Tất cả chúng sanh nhận lầm tứ đại làm thân tướng của mình, bóng dáng sáu trần làm tâm tướng của mình, ví như người bệnh mắt thấy hoa đốm trong hư không và thấy mặt trăng thứ hai, nên gọi là vô minh.
Kinh Viên Giác  
Phật dạy:
Ông dùng tâm phan duyên nghe pháp thì pháp nầy cũng là duyên.
Phật dạy:
Dùng tâm suy nghĩ để đo lường cảnh giới viên giác của Như Lai như đem lửa đom đóm đốt núi Tu Di.
—o0o—
Chương 13

Học đạo cần phải dùng công phu thoại đầu làm chủ yếu
Hòa thượng Triệu Châu nói:
Huynh đệ chớ đứng lâu, có việc thì thương lượng, bằng không có việc thì hãy hướng về tự kỷ tham cứu mới tốt!
Thiền sư Viên Thông Ðức nói:
Con mắt đạo chưa sáng thì có sự ứng dụng gì? Vô sự cần nhất phải tham cứu!
Thiền sư viên Ngộ nói:
Chỉ cần khiến cho tâm niệm lóng lặng, chỗ lăng xăng loạn động chính là chỗ tốt nhất để hạ thủ công phu.
Thiền sư Ðại Huệ nói:
Công phu thuần thục thì khua mở cái chốt cửa. Cái gọi là công phu có nghĩa là đem cái tâm suy nghĩ trần lao thế gian quay về đặt trên câu: “Que chùi phân” (1)  khiến tình thức chẳng còn sanh khởi, tương tự như pho tượng bằng gỗ, bằng đất. Lúc cảm thấy tối tăm không hiểu, không có cái lỗ mũi để nắm, ấy là tin tức tốt.
Cổ Ðức nói:
Trên Bát nhã không có công phu luống uổng.
Thiền sư Ðại Huệ nói:
Huynh đệ hạ thủ công phu chẳng cần cử nhân duyên chỉ cần đến chỗ gần gũi mà khán, như Lục Tổ nói với Thượng tọa Huệ Minh: “Ông chỉ cần thiện ác đều chớ nghĩ đến, đương lúc ấy, tất cả chẳng suy nghĩ, cái gì là bản lai diện mục của Thượng tọa Minh?”. Chỉ cần khán như thế.
Ngài Ðại Huệ nói:
Công phu chẳng nên gấp, gấp thì tháo động cũng không nên hưỡn, hưỡn thì hôn trầm.
Thiền sư viên Ngộ nói:
Ông ta tham hoạt cú (2) chẳng tham tử cú, vì dưới hoạt cú tiến được thì muôn kiếp chẳng quên, còn dưới tử cú tiến được thì tự cứu chẳng xong. Nếu muốn cùng Phật Tổ làm thầy thì cần phải biết sử dụng hoạt cú.
Tâm Yếu
Hòa thượng Cao Phong Diệu nói:
Nếu nói là chân thật tham thiền thì cần phải có đủ ba điều quan yếu:
1.      Phải có lòng tin lớn lao rõ biết việc này chắc chắn như dựa vào núi Tu Di.
2.      Phải có phẫn chí mạnh mẽ như gặp kẻ thù giết cha mình, muốn hạ nó ngay một dao đứt làm hai đoạn.
3. Phải khởi đại nghi tình như ở chỗ tối phải tìm nột vật quý, chính ngay lúc muốn lộ ra mà chưa lộ.
Trong suốt ngày đêm nếu đầy đủ ba điều thiết yếu này thì bảo đảm có ngày thành công, chẳng sợ con ba ba quậy ở trong chum. Nếu thiếu đi một điều thì cũng như cái đảnh gãy đi một chân ắt thành vô dụng.
Cao Phong Lục
Ngài Cao Phong nói: “Nghi lấy tin làm thể, ngộ lấy nghi làm dụng. Tin được mười phần thì nghi được mười phần. Nghi được mười phần thì ngộ được mười phần”.
Thảo Ðường đứng hầu ngài Hối Ðường. Ngài Hối Ðường nêu ra câu thoại đầu: Gió, phướn(3)  hỏi Thảo Ðường.
Thảo Ðường thưa:
– Con hoàn toàn không có chỗ vào.
Hối Ðừơng bảo:
– Ông thấy ở thế gian mèo rình bắt chuột chăng? Hai mắt ngó lom lom không chớp, bốn chân bám chặt xuống đất không động đậy, sáu căn chăm chú, đầu đuôi thẳng băng, sau đó chụp lấy không hụt một con chuột nào. Cũng thế, người tu thiền nếu tâm không phan duyên theo việc khác, ý bặt vọng tưởng, sáu căn vắng lặng, ngồi yên tham cứu thì hoàn toàn thành công.
Ðại Huệ Võ Khố
Thiền sư Ðại Huệ nói:
Tâm sanh tử chưa phá vỡ thì toàn thể là một khối nghi tình. Chỉ cần ở trong cái ổ nghi tình cử lên một câu thoại đầu: “Có vị Tăng hỏi ngài Triệu Châu: Con chó có Phật tánh hay không? Triệu Châu đáp: Không”. Ði đứng ngồi nằm chẳng được gián đoạn, lúc  vọng niệm khởi cũng chẳng được đem tâm đè nén mà chỉ cần cử câu thoại đầu này. Nếu lúc tịnh tọa vừa biết có hôn trầm thì lập tức phải chấn chỉnh tinh thần cử câu thoại đầu này chẳng khác nào bà mù thổi lửa chợt lông mày đồng thời bị cháy sạch.
Pháp Ngữ
Ngài Ðại Huệ nói:
Lúc gần đây trong chốn tòng lâm pháp tà đua nhau nổi dậy làm mù mắt chúng sanh không kể xiết. Nếu không dùng công án của Cổ Ðức đề khởi cử giác thì cũng như kẻ đui mù quăng tuốt gậy trong tay, một bước cũng không đi được.
Pháp Ngữ 
Hòa thượng Quy Sơn nói:
Xét cùng tột pháp lý, lấy ngộ làm cực tắc.
Hòa thượng Trung Phong Bổn nói:
Chỉ hướng lên trên câu thoại đầu đang tham, một khi nắm chặt rồi thì cần phải sống đồng sống, chết đồng chết. Thứ nhất là chẳng được cầu phương tiện khác. Thứ hai là chẳng được đổ lỗi cho cảnh duyên. Thứ ba là chẳng được mống khởi một niệm mê tình.
Quảng Lục  
Tham thiền là phải đối địch với sanh tử, chẳng phải nói liễu ngộ bèn xong. Tham thiền phải tỏ đại đạo, sáng nghe chiều chết cũng thỏa lòng. Tham thiền là đẩy cánh cửa lọt vào cối cửa, tối kỵ là hướng ra ngoài tìm cầu. Tham thiền cần phải khởi nghi tình, đại nghi ắt đại ngộ. Tham thiền nạp tử anh linh cử khởi liền biết nơi chốn. Tham thiền là ngộ bản lai diện mục, văn tự ngữ lục khó mà ghi chép nổi. Tham thiền chỉ thẳng tâm người, quý nhất là cần phải tự đảm đương. Tham thiền như đối địch với muôn người, phải chiến đấu đến táng thân mất mạng. Tham thiền như mèo rình bắt chuột không cho chớp mắt. Tham thiền là việc của bậc đại trượng phu, chẳng phải hàng quan tướng có thể làm nổi.
Vô Môn Ngữ Lục 
Hòa thượng Trung Phong bài xích người học đạo chỉ chuộng thông suốt trên ngữ ngôn mà không cầu thật ngộ. Ngài thường nói:
Ngày nay, người tham thiền không linh nghiệm, thứ nhất là không có cái chí khí chân thật như người xưa; thứ hai là không lấy sanh tử vô thường làm việc lớn, thứ ba là buông bỏ công phu mình tu tập, trọng vọng, súc tích từ trước tới nay không nổi, lại không đủ sự lâu dài không lui sụt của thân tâm. Rốt cuộc thì bệnh ở chỗ nào? Kỳ thật là vì chẳng biết cội gốc sanh tử.
Hành Lục 
Hòa thượng Cao Phong nói:
Các huynh đệ mười năm, hai mươi năm cho đến suốt cả cuộc đời mình dứt bặt việc thế tục, quên hết các duyên, chỉ dốc chí cốt để biết rõ việc này mà không thấu thoát được là do bệnh ở chỗ nào? Bổn phận của người xuất gia thử nêu ra xem! Phải chăng từ đời trước không có linh cốt? Phải chăng không gặp Minh sư? Phải chăng một nóng mười lạnh? Phải chăng căn cơ yếu kém, chí khí nhỏ hẹp? Phải chăng là chìm đắm trong trần lao? Phải chăng là trầm không trệ tịch? Phải chăng là tạp độc nhập tâm? Phải chăng là thời tiết chưa đến? Phải chăng là chẳng nghi ngôn cú? Phải chăng là chưa đắc nói đắc, chưa chứng nói chứng? Nếu luận về bệnh nặng thì hoàn toàn chẳng phải là các bệnh đã kể trên. Ðã chẳng phải như đã nói thì rốt cuộc ở chỗ nào? (Tiếng quát).
Dưới đây đòn tay ba cành, trước cái đơn bảy thước (4).
Cao Phong Lục
Thiền sư Phật Giám Cần nói:
Thường thấy các huynh đệ học đạo, có người chẳng cầu liễu ngộ, chỉ chăm vào ngôn thuyết mà muốn thể hội được nhân duyên của cổ nhân, há chẳng phải là cái lầm lớn sao? Cổ nhân chỉ đối bệnh ra toa, tùy cơ cho thuốc nên mới có nhiều đường lối vào cửa như sắn bìm, như ngón tay chỉ mặt trăng, như viên ngói gõ cửa. Ý là nhờ viên ngói gõ để cửa mở, nhờ ngón tay để thấy mặt trăng, nếu như được cửa mở, thấy trăng rồi, viên ngói, ngón tay dùng làm chi nữa!
Ngài Phật Giám nói:
Tham phải thật tham, ngộ phải thật ngộ. Hãy tham cứu cùng tột đến suốt đáy của giáo lý đi! Chẳng phải ngày này hạ được một chuyển ngữ, ngày mai qua được một tắc nhân duyên. Nhân duyên xưa nay số nhiều như cát trong sông đâu có thôi hết! Rốt cuộc chẳng tỏ ngộ tâm địa thì làm sao liễu thoát sanh tử? Như Tổ Ðạt Ma lúc mới sang đây (Trung Hoa), chưa có nhiều tắc nhân duyên như thế mà tại sao vẫn có người ngộ đạo?…
Lại nói: Xin khuyên các huynh đệ chỉ cần tỏ ngộ tâm địa, chớ lo chẳng hội nhân duyên. Nhân duyên xưa nay đó, chẳng nói là nhất thời chẳng khán, mà chỉ cần khán thấu qua một tắc rồi thì ngàn tắc, muôn tắc đều đồng. Nếu nói hội được một tắc này mà chưa hội được tắc kia thì quyết chắc là chưa đúng vậy.
Phổ Ðăng Lục 
Ngài Ðại Huệ nói:
Ngàn nghi, muôn nghi chỉ là một nghi. Cái nghi trên câu thoại đầu vỡ thì ngàn nghi, muôn nghi đồng thời vở hết.  
Thiền sư Viên Ngộ nói:
Thật không khác chi người chết hết thở, sau đó tỉnh lại mới biết rỗng rang đồng thái hư.
Tâm Yếu
Thiền sư Thoại Lộc Bổn Tiên thượng đường dạy:
Ðại phàm, tham học vị tất học vấn thoại (5)  là tham học, vị tất học đại ngữ (6)  là tham học, vị tất học biệt ngữ (7) là tham học, vị tất học hiểu kinh điển là tham học, vị tất học hiểu được ngữ ngôn kỳ đạc của Tổ sư là tham học. Nếu tham học như thế thì dẫu cho ông thông đạt được hết đi nữa, nhưng ở trong Phật pháp ông vẫn là người không thấy đến nơi đến chốn, nên gọi là bọn càn huệ. Há chẳng nghe Cổ đức nói: “Thông minh chẳng địch sanh tử, càn huệ đâu khỏi luân hồi” sao?
Các ông nếu muốn tham học thì phải nên chân thật tham học, lúc đi thì đi tham, lúc đứng thì đứng tham, lúc ngồi thì ngồi tham, lúc nằm thì nằm tham, lúc nói thì cũng nói tham, lúc nín thì cũng nín tham, lúc làm tất cả công việc cũng tham. Ðã lúc nào cũng tham được như trên, thử nói xem: Ai tham? Tham cái gì? Ðến đây cần phải có chỗ minh bạch mới được. Nếu chẳng như thế thì bị gọi là bọn hấp tấp vội vàng, ắt không có được cái yếu chỉ tham cứu hoàn tất vậy.
Hội Nguyên 
Thiền sư Khai Thiện Khiêm nói:
Thời giờ dễ qua, hãy gấp hạ thủ công phu. Không có công phu gì khác hơn là chỉ cần buông bỏ. Chỉ cần đem những gì sở hữu trên tâm thức nhất thời buông bỏ, đấy là công phu thẳng tắt chân chánh. Nếu có công phu nào khác đều là ngu si, điên cuồng chạy ở bên ngoài vậy.
Tấm bảng treo trước cửa am nài Tổ Tâm, am chủ Hoàng Long, có đề:
Thông báo cùng các người học Thiền, nếu muốn thấu tột đạo này, cần nhất phải tự khán, không ai thay thế cho được. Có lúc hoặc khán được nhân duyên, tự có chút ít hoan hỷ, bèn nhập thất thổ lộ, đợi lời phẩm bình phải trái, cạn sâu; còn như chưa phát minh thì thôi.
Ðạo tự hiện ra trước mắt, khổ sở tìm cầu càng thêm mê muội. Ðây là đạo ly ngôn phải ở nơi chính mình tự nhận, chẳng do người khác mà ngộ, phát minh như thế mới gọi là liễu đạt được căn bản sanh tử từ vô lượng kiếp đến nay. Nếu thấy được đạo ly ngôn này tức là thấy tất cả thanh sắc, ngữ ngôn thị phi là đạo, chứ không có pháp nào khác. Nếu chẳng thấy đạo ly ngôn, bèn đem sự hiểu biết các nhân duyên sai biệt trước mắt cho là sở đắc thì chỉ e nhận lầm nhân duyên bóng sáng trước mắt của môn đình mà rốt cuộc chỉ là tự dối mình, uổng phí tâm lực.
Phải nên ngày đêm khắc kỷ tinh thành, đi đứng quán sát xem xét kỹ càng, không có dụng tâm gì khác thì lâu ngày tự nhiên có đường vào, đây chẳng phải một mai một chiều mà học thành sự nghiệp. Nếu chẳng tham thấu như thế thì chẳng bằng xem kinh theo đúng thời khóa tu hành cho qua kiếp sống tàn này, cũng còn hơn nói bậy nói bạ sanh tội phỉ báng chánh pháp. Nếu muốn lúc về già dám bảo đảm thành người vô sự, không còn mối hệ lụy nào thì không ngoài việc hiện nay phải nhập thất hai kỳ giữa tháng và cuối tháng để xin thưa hỏi.
La Hồ Dã Tập
Chú giải:
  (1)   Có vị Tăng hỏi thiền sư Vân Môn: Phật là gì?
Ngài đáp: Que chùi phân (càn thi quyết)
 (2)   Thiền sư Ðộng Sơn Thủ Sơ nói:
“Trong lời có lời gọi là tử cú
Trong lời không lời gọi là hoạt cú”.
  (3)  Nhân gió lay lá phướn trước chùa. Có hai ông Tăng tranh luận. Một ông nói phướn động. Ông kia nói gió động. Cãi qua cãi lại không ra lẽ. Lục Tổ đứng gần đó nói: “Không phải phướn động, không phải gió động mà tâm các ông động đấy!”. Hai ông Tăng giật mình kinh.
(4)  Thiền sàng: Ý ngài bảo hãy ngồi trên thiền sàng nỗ lực tham cứu rồi sẽ tỏ ngộ việc ấy.
(5)  Vấn thoại: là câu hỏi thiền sinh đặt ra lúc Hòa thượng thượng đường.
(6)  Gián thoại: là lời giản trạch bình luận cổ tắc công án.
(7) Ðại ngữ: có hai loại:
a/ thiền sư đặt vấn đề bảo chúng hạ ngữ, chúng không khế hội, thiền sư thay chúng mà hạ ngữ.
b/ Nêu lên cổ tắc mà cổ nhân không có ngữ, bèn thay cổ  nhân mà hạ ngữ.
(8) Biệt ngữ: Cổ tắc có sẵn chuyển ngữ của cổ nhân rồi mà mình hạ một chuyển ngữ khác nữa, gọi là biệt ngữ.
—o0o—
Chương 14

Học đạo cần phải tham cho được một đường thẳng tắt
           
Thiền sư Ðức Sơn Tuyên Giám xuất thế, hễ thấy Tăng vào cửa liền đánh.
Thiền sư Lâm Tế Nghĩa Huyền xuất thế, hễ thấy Tăng vào cửa liền hét.
Pháp ngữ của Ngài Ðại Huệ dạy người sơ lược như sau: Chỉ cần đem cái chỗ bình sanh do tọa thiền mà được, do xem kinh giáo mà được, do ghi nhớ ngữ lục mà được, do lãnh hội lời nói trên cửa miệng Tông sư mà được nhất thời quét qua thế giới khác, rồi bình tĩnh xét nét kỹ lưỡng: Tại sao Ðức Sơn thấy Tăng vào cửa liền đánh? Tại sao Lâm Tế thấy Tăng vào cửa liền hét? Nếu biết được chỗ ứng dụng của hai vị đại lão này thì hằng ngày chạm cảnh gặp duyên chẳng cho là thế đế thông thường, cũng chẳng cho là lý luận Phật pháp, đã không chấp trước hai bên thì phải biết là tự có một con đường sống vậy.
Hòa thượng Bí Ma Nham thường cầm một cây nạng gỗ, mỗi khi có Tăng đến lễ bái, bèn chỉa vào cổ nói: Ma mị nào dạy ông xuất gia? Ma mị nào dạy ông hành cước? Nói được cũng chết dưới cây nạng gỗ này. Nói mau! Nói mau!
Người học ít có kẻ đáp được.
Hội Nguyên 
Hòa thượng Từ Minh, trong thất có giắt một ề thanh gươm, và để một đội giày cỏ, một chậu nước bên cạnh thanh gươm ấy.
Mỗi khi có người vào thất, Ngài bèn nói: “Xem ! Xem !”.
Có người đến bên thanh gươm nghĩ nghị.
Sư bảo: Nguy hiểm ! Táng thân mất mạng rồi! Bèn quát đuổi ra.
Hòa thượng Tử Hồ có dựng một tấm bảng trước sơn môn, trong đó viết:
“Tử Hồ này có một con chó trên cắn đầu người, giữa cắn lưng người, dưới cắn chân người, nghĩ nghị thì táng thân mất mạng”.
Hễ thấy người mới đến, ngài bèn quát : “Coi chừng chó dữ!”.
Tăng vừa quay đầu, Tử Hồ liền trở về phương trượng.
Nham Lục 
Thiền sư Phật Giám Cần, trong thất có để sáu con xúc xắc, mỗi mặt đều có khắc một chấm.     
Tăng vừa vào cửa, Sư quăng ra hỏi: “ Hội chăng?”. Tăng dù nghĩ nghị hay không nghĩ nghị, Sư liền đánh đuổi ra.
Hội Nguyên  
Thiền sư Hối Ðường Tâm, trong thất, Ngài thường đưa nắm tay lên hỏi Tăng: “Nói là nắm tay thì phạm, chẳng nói là nắm tay thì trái, vậy nói là cái gì?
Thiền sư Ðại Huệ, trong thất, thường đưa cây trúc bề lên hỏi Tăng: “Nói là trúc bề thì phạm, chẳng nói là trúc bề thì trái, chẳng được nói, chẳng đưọc không nói. Nói mau! Nói mau!”
Hòa thượng Hương Nghiêm dạy chúng:
Nếu luận về việc này thì như người leo lên cây cao, miệng cắn cành cây, chân chẳng đạp cành, tay không nắm nhánh. Dưới gốc cây chợt có người hỏi:
– Thế nào là ý Tổ sư từ Ấn Ðộ sang?
Chẳng trả lời người kia thì phụ câu hỏi. Bằng trả lời thì táng thân mất mạng. Vậy ngay khi ấy phải làm gì?
Hội Nguyên
Thiền sư Ba Tiêu Thanh dạy chúng:
Ông có một cây gậy, ta cho ông một cây gậy. Ông không có cây gậy, ta lấy cây gậy của ông.
Thiền sư Khai Thiện Khiêm nói:
Sơn tăng thường nói, đi đứng ngồi nằm quyết định chẳng phải, thấy nghe hay biết quyết định chẳng phải, suy nghĩ phân biệt quyết định chẳng phải, ngôn ngữ vấn đáp quyết định chẳng phải. Thử dứt tuyệt bốn con đường này mà khán. Nếu chẳng dứt tuyệt thì chắc chắn chẳng ngộ. Bốn con đường này, nếu dứt tuyệt thì đối với công án:
“Tăng hỏi Triệu Châu:
– Con chó có Phật tánh không?
Triệu Châu đáp:
– Không”.
Và công án:
“Tăng hỏi Vân Môn:
– Phật là gì?
Vân Môn đáp:
– Que chùi phân”.
Chắc chắn ông cười ha hả.
La Hồ Dã Tập 
Hòa thượng Dương Kỳ, trong thất hỏi Tăng:
Gai góc ông làm sao nuốt? Vòng kim cương ông làm sao thấu?
Thiền sư Ðại Huệ trong thất hỏi Tăng:
Chẳng phải tâm, chẳng phải Phật, chẳng phải vật, là cái gì?
Hòa thượng Thạch Ðầu nói: “Thế ấy cũng chẳng được, chẳng thế ấy cũng chẳng được, thế ấy chẳng thế ấy đều chẳng được. Ông phải làm sao?”
Hòa thượng La Sơn nói: “Hội chăng? Chẳng phải thiền, chẳng phải đạo, chẳng phải Phật, chẳng phải pháp, là cái gì?”.
Cổ đức dạy: Việc này chẳng thể lấy hữu tâm cầu, chẳng thể dùng vô tâm đắc, chẳng thể dùng ngôn ngữ tạo, chẳng thể dùng tịch mặc thông.
Ngài Ðại Huệ nói:
Ðây là lời tha thiết bậc nhất của người vào bùn vào nước nói ra, nhưng thường thường người tham thiền chỉ nhớ qua loa như thế mà trái lại không chịu khán kỹ xem đó là cái đạo lý gì?
—o0o—
Chương 15

Học đạo cần phải biết phương tiện Tổ Sư từ bi chỉ dạy
Ðại sư Vân Môn nói:
Cổ nhân có rất nhiều cát đằng (1)  để vì nhau, như Hòa thượng Tuyết Phong nói: “Cảđại địa là ông”. Hòa thượng Giáp Sơn nói: “Trên đầu trăm ngọn cỏ tiến cử lão Tăng, trong chợ búa ồn ào biết được thiên tử”.
Hòa thượng Lạc Phổ nói: “Một trần vừa khởi đại địa toàn thâu, một đầu sợi lông toàn thân sư tử hiện, cả thảy đều là ông”. Hãy nắm lấy lật qua lật lại suy nghĩ xem, lâu ngày chầy tháng tự nhiên có đường vào.
Thiền sư Viên Ngộ nói:
Từ xưa đến nay có rất nhiều vị chẳng tiếc lông mày mà vì người chỉ cho chỗ thấu thoát như: Vân Môn nói: “Cả thể toàn chân”, Lâm Tế nói: “Tọa đoạn đầu báo hóa Phật”, Ðức Sơn nói: “Vô sự nơi tâm, nơi tâm vô sự thì rỗng mà linh, tịch mà chiếu”, Nham Ðầu dạy: “chỉ giữ lấy chỗ nhàn nhàn, trong tất cả thời vô dục, vô y, tự nhiên vượt các tam muội”, Triệu Châu nói: “Ta thấy trăm ngàn người chỉ lo tìm cách làm Phật, mà trong đó khó tìm được một vị đạo nhân vô tâm”. Chỉ cần xét nét kỹ càng những lời này, dứt tâm vọng tưởng lăng xăng thì mai kia mốt nọ chạm cảnh gặp duyên bèn đắc lực vậy.
Tâm Yếu
Ngụy Phủ lão Hoa nghiêm dạy chúng:
Phật pháp ở tại chỗ ứng dụng hằng ngày của ông, tại nơi đi đứng ngồi nằm, nơi uống trà ăn cơm, nơi ngữ ngôn hỏi nhau, nơi công việc phải làm, nếu mống tâm động niệm liền thành chẳng phải. Hội chăng? Ông nếu hội được, tức là người tội nặng mang gông đeo xiềng.
Thiền sư Tuyết Phong Tồn nói:
Mỗi mỗi che trời trùm đất, chẳng còn nói huyền nói diệu, cũng chặng nói tâm nói tánh. Ðột nhiên, lồ lộ một mình như đống lửa lớn đến gần thì bị cháy cả mặt mày, tợ như thanh gươm Thái A hễ do dự thì táng thân mất mạng. Nếu chờ suy nghĩ đình cơ thì không dính dáng.
Bích Nham
Ðại sư Vân Môn nói:
Ông nếu tương đương rồi thì hãy tìm con đường vào. Các đức Phật nhiều như số bụi nhỏ ở dưới gót chân ông, Tam tạng thánh giáo ở trên đầu lưỡi ông. Chẳng bằng ngộ quách đi là tốt!
Thiền sư  Ðại Huệ nói:
Như rồng được nửa chén nước, có thể làm dậy mây mù, giáng trận mưa to, đâu cần đến cái biển lớn như cá côn nói: “Tôi có rất nhiều nước”.
Ngài Ðại Huệ nói: Ở đây ta không có thiền tiến dài theo ngày tháng. Bèn búng ngón tay một cái, rồi nói: Nếu hội thì bãi tham.
Võ Khố
Phật nói:
Không có pháp quyết định gọi là Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, cũng không có pháp quyết định Như Lai có thể nói.
Hòa thượng Lâm Tế nói:
Ta không có một pháp cho người, mà chỉ là trị bệnh và mở trói.
Hòa thượng  Ðức Sơn nói:
Tông ta không ngữ cú, thật không có một pháp cho người.
Thiền sư  Ðại Huệ nói:
Việc này nếu dùng một mảy may công phu để chứng đắc thì như người lấy tay nắm bắt hư không chỉ càng tự nhọc mà thôi.
Lại nói: Chẳng cho dùng tâm ý thức để lãnh hội.
Hòa thượng Lâm Tế nói:
Chẳng để cho một vật câu thúc thì sự giải thoát sẵn sàng.
Hòa thượng Ðịa Tạng Sâm nói:
Nếu luận về Phật pháp thì tất cả sẵn sàng.
Hòa thượng Chân Tịnh nói:
Tất cả sẵn sàng, lại khiến ai hội?
Ghi chú:
(1). Cát đằng là loại giây leo như sắn bìm, ở đây chỉ cho phương tiện ngữ ngôn dùng để khai thị, chứ không phải thật pháp. 
—o0o—
Chương 16

Học đạo cần phải thấu suốt một đường hướng thượng
Tăng hỏi Hòa thượng Triệu Châu:
           – Con chó có Phật tánh hay không ?
           Triệu Châu đáp:
– Không.
*
Có vị Tăng hỏi một bà già:
– Ðường về Ðài Sơn đi ngã nào?
Bà già đáp:
– Ði thẳng.
Vị tăng vừa đi năm ba bước, bà già nói:
– Rõ khéo! Cái ông Tăng này lại đi như thế.
Về sau có người đem câu chuyện này hỏi ngài Triệu Châu, Triệu Châu nói:
– Hãy đợi ta đi khám phá bà già này đã!
Hôm sau, Ngài đi và cũng hỏi như vậy, bà già cũng đáp y như vậy.
*
Triệu Châu đến chỗ của một am chủ hỏi:      
– Có chăng? Có chăng?
Am chủ đưa nắm tay lên.
Sư nói:
– Nước cạn không phải chỗ cập thuyền.
Sư bèn bỏ đi. Lại ghé vào một am chủ khác hỏi:
– Có chăng? Có chăng?
Am chủ cũng đưa nắm tay lên.
Sư hỏi:
– Buông được, bắt được, giết được, cứu được.
Am chủ bèn cúi lạy.
*
Tăng hỏi Hòa thượng Thanh Bình:
– Thế nào là Ðại thừa?
Sư đáp:
– Giây giếng.
– Thế nào là Tiểu thừa?
– Vợt tre.
– Thế nào là vô lậu?
– Gáo gỗ.
Hòa thượng Nam Tuyền, nhân hai nhà đông và tây tranh nhau một con mèo, Ngài
bèn đưa con mèo lên, nói:
– Ðại chúng nói được thì cứu được con mèo, nói không được thì giết.
Chúng không đáp được. Nam Tuyền bèn chém chết con mèo.
Chiều tối, Triệu Châu về. Nam Tuyền đem việc này thuật lại cho Triệu Châu
nghe. Triệu Châu liền cởi giày để lên đầu đi ra.
Nam Tuyền nói:
– Nếu có ông ở nhà thì cứu được con mèo.
*
Tăng hỏi Hòa thượng Ðộng Sơn :
– Phật là gì?
Sư đáp:
– Ba cân mè.
*
Tăng hỏi Ðại sư Vân Môn:
– Phật là gì?
Sư đáp:
Que chùi phân.
*
Tăng hỏi Hòa thượng Dương Kỳ:
– Phật là gì?
Sư đáp:
– Lừa ba chân đi khập khễnh.
*
Tăng hỏi Triệu Châu:
– Phật là gì?
Sư đáp:
– Trong điện đó!
*
Bàng cư sĩ hỏi Mã Tổ:
– Ai là người chẳng cùng muôn pháp làm bạn lứa?
Tổ đáp:
– Ðợi khi nào ông một ngụm uống cạn nước Tây Giang ta sẽ trả lời cho ông.
Bàng cư dĩ hoát nhiên đại ngộ, làm bài tụng:
Mười phương đồng tụ hội
Người người học vô vi
Ðây là trường tuyển Phật
Tâm không, thi đậu về.
Tăng hỏi Hòa thượng Nham Ðầu:
– Lúc buồm xưa chưa treo thì thế nào?
Sư đáp:
– Cá nhỏ nuốt cá lớn.
Tăng lại hỏi như trước.
Sư đáp:
– Sau vườn, lừa ăn cỏ.
*
Hòa thượng  Ðại Quy An nói:
– Hữu cú, vô cú như dây bìm bám vào cây.
Sơ Sơn hỏi:
– Bỗng gặp lúc cây nhã bìm khô thì thế nào?
Sư cười ha hả, đi về phương trượng.
*
Hòa thượng Bảo Thọ khai đường nói pháp, Tam Thánh xô ra một ông Tăng. Sư
liền đánh.
Tam Thánh nói:
– Vì người mà làm như thế, chẳng những làm mù mắt ông Tăng này mà còn làm mù mắt cả thành Trấn Châu.
Pháp Nhãn nói:
– Chỗ nào là chỗ làm mù mắt người?
Sư ném cây gậy xuống, liền đi về phương trượng.
*
Hòa thượng Tam Thánh thượng đường nói:
– Ta gặp người thì ra, ra thì chẳng vì người.
Ngài Hưng Hóa nói:
– Ta gặp người thì chẳng ra, ra thì bèn vì người.
( Còn tiếp )
1321343670.phatgiaovnn.com_-1

KHO BÁU NHÀ THIỀN – PHẦN 1

Đăng lúc: Thứ tư – 16/05/2012 11:36 – Người đăng bài viết: Thiền Lâm

Hình Thiền

Hình Thiền
Kho Báu Nhà Thiền

Thiền sư Văn Thủ
Dịch giả: Ðịnh Huệ
– – -o0o- – –
Mục lục

PHẦN 1

Tựa của Lương Tài Nguyên Minh
Bạt của Huệ Tuần
Chương 1
Lòng tin quyết định
Chương 2
Sanh tử là việc lớn
Chương 3
Chẳng phạm phép tắc Phật Tổ
Chương 4  
Lòng hổ thẹn
Chương 5
Chọn Thầy lựa bạn
Chương 6  
Tin nhận đúng như thật
Chương 7
Học ngôn hạnh người xưa
PHẦN 2
Chương 8
Dụng tâm trong lúc bệnh
Chương 9
Phân biện tà chánh
Chương 10
Học giải là bệnh
Chương 11
Tu tập tọa thiền
Chương 12
Kiến tánh minh tâm
Chương 13
Công phu thoại đầu làm chủ yếu
Chương 14
Tham thẳng tắt một đường
Chương 15
Phương tiện Tổ sư từ bi chỉ dạy
Chương 16
Con đường hướng thượng
PHẦN 3
Chương 17
Lãnh hội chỗ tâm yếu
Chương 18
Kiến địa cạn sâu
Chương 19
 Ngộ bất tất hiềm tri giải
Chương 20
Biện câu khách chủ
Chương 21
Công phu thực tiễn
Chương 22
Nơi hoàn toàn thôi nghỉ
Tựa
Ðạo vốn vô ngôn; do ngôn mà hiển đạo, thế nên có mạn lục, có bảo huấn, có bút ngữ, có võ khố.
Nay đây, có Hòa thượng Văn Thủ, tự Nhất Ty (1607 – 1648) người nước Nhật Bản, lúc đầu ở ẩn nơi Tây Cương thuộc đất Lạc Tây, về sau Ngài về núi Ðan mai danh ẩn tích. Nhưng các hàng xuất gia khắp chốn hải hồ tìm đến bên Ngài kết am tranh tu học số đông không kể xiết. Rốt cuộc, danh Ngài thấu đến cửu trùng, vua thỉnh Ngài trụ trì hai chùa Pháp Thường và Linh Nguyên, ban hiệu là Ðịnh Huệ Minh Quang Phật ÐảnhQuốc Sư. Những khi nhàn rỗi, Ngài xem lại gương xưa góp nhặt những di ngôn, vãng hạnh của Phật Tổ và thêm vào đó lời phẩm bình biên tập lại thành bộ Truy Môn Bảo Tạng Tập (trong bản dịch nầy tạm lấy nhan đề là Kho Báu Nhà Thiền). Bộ sách nầy thật là cây đuốc huệ trong đường tăm tối, là thuốc hay cho người bệnh, chẳng những lợi cho người đương thời mà cũng là tiếp độ kẻ hậu côn, thật không có gì hơn vậy.
Than ôi! Vào niên hiệu Bảo Vĩnh vì ảnh hưởng thời cuộc nên đâu có khắc bản và muốn lưu hành trong đời cũng không làm sao được.Ngày gần đây, có một vị Tăng phát tâm khắc lại tập này để rộng truyền bá lưu thông, lúc khởi công có nhờ tôi viết bài tựa. Từ chối không được, tôi đành phải quên mình kiến thức hẹp hòi mà viết vài lời quê kệch để ở đầu sách. Các vị tham huyền thừa sức xem qua bộ sách nầy hết lòng khâm phục, mỗi chữ mỗi lời quả biết là cốt tủy của Quốc sư vậy.
Ở đây, phải chăng do ngôn mà hiển đạo? Vậy thì, mở rộng kho báu lấy ra của báu nhà mình là đây vậy. Tuy nhiên, chìa vàng khóa ngọc nay về tay ai, chớ nói Tân La tại Hải Ðông!
Tiền Hoa Nhạc, Lương Tài Nguyên Minh
Cẩn soạn                  
—o0o—

Chương 1


Học đạo cần phải sanh lòng tin quyết định
Phật dạy:
Lòng tin là gốc đạo; là mẹ các công đức, nuôi lớn hết thảy các pháp lành, dứt trừ lưới nghi, ra khỏi dòng ái, mở bày đạo Vô Thượng Niết bàn.
Lại nói: Lòng tin hay tăng trưởng trí công đức. Lòng tin hay đưa người đến địa vị Như Lai.
Kinh nói: Lòng tin hay dứt hẳn gốc phiền não.
Lại bảo: Lòng tin có khả năng làm cho người mau chứng được môn Giải thoát.
Hòa thượng Cao Phong Diệu nói:
Bậc thượng như Phật như Tổ vượt lên bờ bên kia, chuyển bánh xe pháp lớn nhiếp vật lợi sanh, không có một vị nào chẳng do từ trong một chữ TIN nầy nên chẳng thành Thánh đạo, lại bị rơi vào địa ngục.
Hoa Nghiêm Quán nói:
Có tin mà không hiểu thì tăng trưởng vô minh. Có hiểu mà không tin thì thêm lớn tà kiến. Tin hiểu thông suốt mới là gốc của sự tu hành.
Lại nói: Có lòng tin mà không tin pháp giới thì lòng tin ấy là tà.
Thiền sư Ðại Hụê nói:  
Ðủ chánh tín, lập chánh chí, đấy là nền tảng để thành Phật làm Tổ.
Ngài Xá Lợi Phất nói:
Dùng lòng tin được vào, chứ chẳng phải do phần trí của tôi.
Luận Trí Ðộ nói:
Phật dạy, nếu người có lòng tin thì có thể vào trong biển pháp lớn của ta, có thể được quả Sa môn, không uổng cạo tóc, nhuộm áo. Nếu người không có lòng tin thì không thể vào biển pháp lớn của ta, như cây khô chẳng sanh hoa quả, chẳng đắc quả Sa môn, dẫu có cạo tóc, nhuộm áo, đọc các kinh điển, có khả năng hỏi, có khả năng đáp đi nữa, ở trong Phật pháp cũng chỉ vô ích không được chi cả. Do vì nghĩa này nên trong Phật pháp trước hết phải lấy lòng tin làm căn bản.
Kinh nói: Biển lớn Phật pháp do lòng tin mà vào được.
—o0o—
Chương 2

Học đạo cần phải tin được sanh tử là việc lớn

Quốc sư Vô Nghiệp nói:
Chỉ vì cơm ăn áo mặc mà dối Hiền lừa Thánh, cầu được thí chủ mang cơm áo đến; bậc có con mắt trí hụê biết được tâm người, coi đó như ăn máu mủ, rồi phải đền trả lại cho người.
Lại nói: Lúc lâm chung còn một mảy lông tình phàm lượng thánh chẳng hết, một mảy trần chưa quên thì theo niệm thọ sanh năm ấm nặng nhẹ như vào thai lừa bụng ngựa, cho đến chốn địa ngục một phen vào lò lửa vạc sôi thì những điều ghi nhớ, ức tưởng, kiến giải, trí hụê từ trước nhất thời đều mất hết, y như trước trở lại làm thân con muỗi con kiến.
(1) Người học Phật ngày nay lấy sự tích tập học hỏi nhiều ngày làm công phu, chẳng ra ngoài tám chữ: “ghi nhớ, ức tưởng, kiến giải, trí hụê.” Những thứ này nếu như nhất thời mất đi thì lấy cái gì đối địch với sanh tử? Người học Phật chân chánh đâu chẳng lo lắng ư!
Thiền sư Ðại Hụê nói:
Như tôi lúc chưa ngủ, điều Phật ngợi khen thì y theo đó mà làm, điều Phật quở trách tôi chẳng dám phạm. Trước kia y chỉ nơi thầy, tự thực hiện công phu được chút sở đắc thì lúc tỉnh thức đều được thọ dụng. Song đến lúc lên giường mơ màng nửa thức nửa ngủ thì làm chủ tể không được, mộng thấy được vàng bạc thì trong mộng mừng rỡ vô hạn, mộng thấy người dùng dao gậy bức hiếp và các cảnh giới dữ dằn thì trong mộng sợ hãi kinh hoàng. Tôi tự nghĩ: Thân nầy hãy còn, chỉ có ngủ mà làm chủ không được, huống là khi đất, nước, lửa, gió phân tán, các thứ khổ bừng dậy làm sao chẳng bị lôi kéo, nghĩ đến đây mới bắt đầu lo lắng.
Ngài Diệu Hỷ (2) từ năm hai mươi đến năm ba mươi sáu tuổi trong lòng ôm một mối nghi lớn. Một hôm, bỗng nhờ một lời nói của Thiền sư Viên Ngộ, ngài mới được an ổn, bởi vì ngài có lòng sợ sanh tử rất thiết tha, lúc chẳng rõ pháp đối địch với sanh tử, ngài không chịu thôi nghỉ. Người học đạo ngày nay ban đầu không có chánh niệm sợ sanh tử, chỉ đem tâm chí thô thiển tham thiền học đạo, mới được chút ít kiến giải đã cho là đủ. Than ôi! Cổ kim khác nhau là chổ này vậỵ.
Sách Nhân Thiên Bảo Giám chép:
Thiền sư Trí ở núi Vân Cái, Hồ Nam, ban đêm ngồi trong phương trượng bỗng nghe mùi cháy khét và tiếng gông xiềng, liền thấy có một người mang gong có lửa, ngọn lửa còn cháy bập bùng không dứt, cái đuôi gong tựa vào then cửa.
Trí kinh sợ hỏi:
– Ông là ai mà phải khổ sở thế này?
Người mang gông đáp:
– Tôi tên Thủ Ngung, trước kia trụ ở núi này, vì không biết nên tôi đem vật đàn việt cúng chúng tăng ra tạo tăng đường mà nay tôi phải chịu cái khổ nàỵ
Trí hỏi:
– Làm thế nào để được khỏi ?
Ngung đáp:
– Xin ông vì tôi thiết trai cúng dường chúng tăng bằng giá tăng đường thì tôi có thể khỏị
Trí đem của cải mình bồi thường đúng như lời Ngung nói. Một đêm, nằm mộng thấy Ngung đến nói: “Nhờ sức của thầy, tôi được khỏi khổ địa ngục sanh vào trời người, ba đời sau tôi sẽ được làm tăng”.
Ngày nay cái then cửa hãy còn vết cháỵ
Thanh Quy
Con Vương Kinh Công tên là Phương hay làm điều bất thiện. Sau khi Phương chết, Kinh Công bỗng thấy Phương mang xiềng sắt đứng tựa cửa. Nhân đó, Kinh Công mới sửa nhà thành chùa để truy tiến phước cho Phương ở cõi âm.
Danh Thần Ngôn Hạnh Lục

Thiền sư Sơn Am Thứ Trung nói:
Ngài Nghĩa Ðoạn Nhai ở núi Thiên Mục, Hàng Châu, gặp ngài Cao Phong nhận được y chỉ, người quy hướng rất đông. Sau khi chết, Nhai báo mộng sanh vào nhà họ Tề ở Ngô Hưng; về sau làm tăng tên Thoại Ứng tự Bảo Ðàm, từ nhỏ đến lớn mỗi ngày thọ người lễ bái cúng dường, Lúc tôi ngụ ở Thiên Giới, ngẫu nhiên Bảo Ðàm cũng ở đó, sống với nhau một thời gian khá lâu, tôi quan sát hành vi của ông ấy thấy cũng trung bình như người thường không khác.
Tiền thân thật là người phi thường sao lại liền quên điều đã tu tập đời trước như thế! Người xưa nói: “Thanh văn còn mờ tối lúc xuất thai, Bồ Tát còn u mê khi cách ấm”. Thế nên, người tu hành há chẳng thận trọng ư!
Sơn Am Tạp Lục
Lại nói:
Niên hiệu Hồng Vô, mùa đông năm Canh Tuất, Ðiền Tử Trung từ Phụng Hóa đến thăm tôi ở Thái Bạch, cùng ở chung với nhau một thời gian khá lâu. Một hôm, tôi nói: “Kinh Kim Cang Bát Nhã, cõi Diêm La khen đó là kinh công đức, cho nên người đời tiến công thường hay đọc tụng kinh này”.
Tử Trung bèn thệ thọ trì kinh ấy suốt đời.
Một hôm, nhằm ngày giỗ mẹ, Tử Trung phát tâm tụng kinh này một trăm biến để tiến vong. Buổi sáng, vừa ngồi dậy trên giường mới tụng được chín biến, thấy quỷ tốt dắt một bà lão mang gông đến quỳ trước giường, đầu tóc che mặt, nhìn kỹ mới biết là vong mẫu. Tử Trung bối rối chẳng phải biết làm sao, chốc lát quỷ tốt dẫn đi như là muốn mở gong. Lúc đó, Tử Trung khóc lớn, hận không tụng kinh và hỏi han mẹ kịp thời. Tôi nói: “Công đức kinh này rất lớn, chẳng thể thí dụ được, nên Tử Trung phát tâm trì tụng thì liền thầm cảm được cõi âm khiến cho mẹ con được gặp nhau để cởi sự khổ não. Ô hô!  To tát thay!”.
Sơn Am Tạp Lục
Thiền sư Huyền Sa Bị nói:
Ngày nay nếu chẳng được liễu đạt thì sáng mai vào thai lừa bụng kéo cày chở nặng hàm thiết mang yên cối xay mài giã, nấu đốt trong nước sôi lửa bỏng không phải là dễ chịu, phải nên sợ hãi!
Tôn  giả Cưu Ma Ða La nói:
Quả thiện ác có ba thời. Kẻ phàm phu chỉ thấy người nhân từ yểu mạng, kẻ hung bạo sống lâu, kẻ ác nghịch gặp điều lành, người trung nghĩa mắc điều dữ, bèn cho rằng không có nhân quả tội phước, mà chẳng biết rằng nhân quả theo nhau như bóng theo hình, như vang theo tiếng không sai một mảy, dẫu cho trải qua trăm nghìn muôn kiếp cũng chẳng tiêu mòn.
Kinh nói:
Giả sử trải qua trăm nghìn kiếp, nghiệp tạo tác cũng chẳng mất. Lúc nhân duyên hội ngộ thì quả báo đến phải tự chịu.
Quốc sư Vô Nghiệp nói: Than ôi! Ðược thân người như đất dính móng tay, mất thân người như đất khắp quả đất. Thật đau đớn thay!
—o0o—
Chương 3

Học đạo cần phải chẳng phạm phép tắc của Phật Tổ
Trí Luận nói:
Học tập sách sở bên ngoài Phật pháp như cầm dao cắt bùn, bùn không đứt mà dao bị cùn lụt. Lại như gió ánh mặt trời khiến cho mắt người ta bị tối.
Tăng lữ ngày nay chưa hiểu được nửa bổn kinh, một quyển lục, mà lại tập tành thơ văn và học các sách vở bên ngoài, thật đáng xót thương! Tuy nhiên bậc cao tăng thuở xưa học thông các môn bên ngoài, rành các sách vở , chẳng có ý gì khác hơn là xô dẹp ngọai đạo, trợ giúp cho sự giáo hóa của đạo Phật mà thôi. Vì vậy, đuổi bọn nho cuộc kiến, dẹp bọn tục sĩ thiên chấp để thành người hộ pháp cho cả trong lẫn ngoài là sự lão thông ấy vậy. Như Ðại Ðiện đối với Hàn Dũ, Minh Giáo đối với Âu Dương, đều là loại người này, há đồng với các ông Tăng tầm thường ngày nay khoe khoang tài năng, tham danh cầu lợi ư!
Xin thưa cùng hàng đạo lưu là, vật chứa có giới hạn, tuổi đời có số lượng, hãy giữ gìn dao chớ có cắt bùn, chớ đọc các sách thơ văn ngoại điển, nếu may mắn có gặp được văn tự của Phật Tổ, công phu nếu có sức thừa thì nên xem các lời dạy ấy.
Thiền sư Trí Giác nói:
Nếu chẳng bỏ dâm thì dứt hết thảy hạt giống thanh tịnh. Nếu chẳng bỏ rượu thì dứt hết thảy hạt giống trí huệ. Nếu chẳng bỏ trộm cắp thì dứt hết thảy hạt giống phước đức. Nếu chẳng bỏ ăn thịt thì dứt hết thảy hạt giống từ bi.
Như nay người học thiền đối với dâm dục, trộm cắp, rượu thịt này, mà thật suốt một đời không phạm, cũng đủ để gọi là gieo hạt giống Phật. Ngoài ra, các lỗi lầm vi tế khác cũng được dứt hết, bởi vì không phạm bốn điều kể trên là điều kiện thuận lợi khiến cho người ta thường học đạo vô tâm vậy.
Kinh Lăng Nghiêm nói:
Tâm dâm chẳng trừ thì trần lao không thể nào ra được, nếu dẫu có đa trí, thiền định hiện tiền mà nếu chẳng dứt tâm dâm ắt rơi vào đường ma. Nếu người chẳng dứt tâm dâm mà tu thiền định thì như nấu cát muốn thành cơm, trãi qua trăm nghìn kiếp chỉ được gọi cát nóng. Ông dùng thân dâm cầu diệu quả Phật, dẫu được diệu ngộ cũng là dâm căn, căn bản thành dâm, luân chuyển tam đồ ắt chẳng ra được. Phải làm cho động cơ dâm của thân tâm đều dứt, tánh dứt cũng không thì đối với Phật bồ đề mới có hy vọng.
Kinh Công Ðức Viên Mãn nói:
Tỳ kheo đời mạt pháp dâm dục lẫy lừng ngày đêm, đến nỗi phạm đến trẻ nhỏ, bên ngoài tương tự như Tăng, nội tâm như ngoại đạo. Tuy nam nữ riêng có khác mà nghiệp nhân sở niệm cũng chỉ là một.
Cận cố đến nay, đệ tử thiền môn cho việc phạm nam sắc(đồng tính luyến ái nam) là thường. Thói quen theo thế tục lâu ngày thành tệ, không còn biết đó là quấy, thậm chí có người đã nhận danh dự “trí thức” mà cũng không kiêng sợ. Sao họ lại lầm lẫn điên cuồng như thế?
Thiết nghĩ: Họ đắm nhiễm nam sắc, sợi dây thân ái, tật đố ràng buộc còn hơn người trần tục đam mê nữ sắc. Phàm Sa môn lấy đại sự của Phật Tổ làm niệm thì đâu còn thì giờ mà đam mê thị dục của chốn trần tục! Trong hội của Sơn tăng tôi, chẳng cho lỡ miệng nói ra một câu chuyện đời, hà huống cùng với Sa di nhỏ tuổi nói đùa giỡn cợt.
—o0o—
Chương 4

Học đạo cần phải sanh lòng hổ thẹn
Trong Văn Thích Nạn, Thủ tọa Hy Nhan nói:
Xuất gia làm Tăng đâu phải là việc nhỏ, chẳng phải để cầu sự an ổn thảnh thơi, chẳng phải để cầu sự no ấm, chẳng phải để cầu danh lợi, mà vì sanh tử, vì chúng sanh, vì dứt phiền não, ra khỏi bể tam giới, nối huệ mạng Phật. Ngày nay cách Phật đã xa, chánh pháp suy đồi, ngươi đâu dám làm càn như vậy ư!
Kinh Bảo Lương nói: “Tỳ kheo chẳng tu pháp Tỳ kheo, cả đại thiên không có chỗ phun nước miếng…” Mang tấm thân sáu thước mà không có trí huệ, Phật gọi là “si Tăng” (ông Tăng ngu si). Có ba tấc lưỡi mà không thuyết pháp được, Phật gọi là” á dương Tăng” (ông Tăng câm như dê). Tợ Tăng mà chẳng phải Tăng, tợ tục mà chẳng phải tục, Phật gọi đó là “điểu thử Tăng” (ông Tăng chim chuột),  cũng gọi là cư sĩ trọc.
Hòa thượng Lại Am Xu nói:
Kinh Lăng nghiêm chép: Thế nào là kẻ mượn y phục ta bán đứng Như Lai, tạo các thứ nghiệp? nếu người chẳng dùng giới nhiếp tâm thì dù chổ hiểu biết có ngang với Phật Tổ cũng chưa khỏi bán đứng Như Lai. Tạo các thứ nghiệp, huống là kẻ tầm thường ư!
Ngài Cao Am trụ ở Vân Cư, mỗi khi thấy người xuất gia vào thất Ngài mà chẳng khế được cơ, Ngài liền nắm áo người ấy mà nghiêm sắc mặt trách: “Cha mẹ nuôi dưỡng thân ông, thầy bạn tạo thành chí ông; ông không bị sự đói lạnh bức bách, không bị sự nhọc nhằn lính tráng. Thế mà ông chẳng tinh tấn cho thành đạo nghiệp, ngày sau có mặt mũi nào nhìn cha mẹ, thầy bạn”. Nghe lời này, có người rơi lệ. Hiệu lệnh của Ngài nghiêm khắc như thế.
Thiền Môn Bảo Huấn
Pháp lệnh của cổ nhân cảm người đến thế. Sư Tăng ngày xưa chí thành cầu đạo như vậy.  Ngày nay tuy đã hơn năm trăm năm sau, nếu có vị sư nào chân thật học đạo, đọc đến lời ấy đâu khỏi chẳng chạnh lòng!
Hòa thượng Vân Phong duyệt, tiểu tham lược nói:
Ðâu chẳng thấy trong kinh nói: “Thà lấy sắt nóng quấn thân, chẳng thọ y phục của người tín tâm; thà lấy nước đồng sôi đổ vào miệng, chẳng thọ thức ăn của người tín tâm…”.  Nếu Thượng tọa được như vầy: Biến đất đai thành vàng ròng, khuấy nước sông dài làm tô lạc thì Thượng tọa mới xứng đáng nhận của cúng dường. Bằng chưa được như thế thì cho đến giọt nước tấc tơ cũng phải mang lông đội sừng kéo cày trả nợ cho người.
—o0o—
Chương 5

Học đạo cần phải chọn Thầy lựa bạn
Tiên Thánh nói:
Thà có thể phá giới như núi Tu Di, chứ không nên để tà sư huân một tà niệm nhỏ như hạt cải vào trong tàng thức, như đổ dầu vào bùn hẳn không thể lấy ra được.
Ðại Huệ Thư
Phật dạy:
Nếu các chúng sanh tuy tìm bạn lành  mà gặp người tà kiến chưa được chánh ngộ, đây gọi là chúng tánh ngoại đạo, lỗi của tà sư chẳng phải lỗi của chúng sanh.
Kinh Viên Giác   
Thiền sư Viên Ngộ nói:
Học đạo trước tiên phải chọn thầy, đã được bậc thiện tri thức chân chánh có đủ mắt hụê rồi thì phải y chỉ theo để quyết trạch việc lớn sanh tử.
Tâm Tiếu
Ngài Chí Công nói:
Chẳng gặp bậc minh sư xuất thế, uổng uống thuốc đại thừa.
Truyền Tâm Pháp Yếu
Kinh Thi Ca Việt nói:
Ðệ tử hầu Thầy có năm việc:
1.      Phải cung kính thầy.
2.      Phải biết ơn thầy.
3.      Phải vâng lời thầy dạy.
4.      Phải nghĩ nhớ mãi đến thầy.
5.      Phải tán thán thầy khi thầy vắng mặt.
Thích Thị Yếu Lãm
Thiền sư Quy Sơn Hựu nói:
Sanh ta ra là cha mẹ, thành đạt ta là bạn hữu. Gần gũi bạn lành như đi trong sương móc, tuy không ướt áo mà luôn luôn nhuận thấm. Học theo kẻ ác, thêm sự thấy biết ác, ngày đêm tạo ác, hiện tại chịu quả báo, sau khi chết bị trầm luân.
Hòa thượng Trạm Ðường bảo ngài Diệu Hỷ:
Cuối đời tượng pháp, Tỳ kheo phần nhiều bên ngoài chạy theo vật, bên trong chẳng minh tâm, dẫu có làm việc rộng lớn cũng không phải là cứu cánh. Bởi vì chỗ nương tựa hèn kém nên mới như thế, như con nhặn bám vào đuôi trâu chỉ đi được vài bước, nếu nó bám vào đuôi ngựa giỏi thì có thể lướt gió đi xa một ngày ngàn dặm, đó là do chỗ nương tựa thù thắng. Thế nên, người học ở phải chọn nơi, đi phải lựa bạn, mới có thể xa bọn tà ngụy, gần người trung chánh để nghe được lời chân chánh vậy.
Thiền Môn Bảo Huấn
Kinh Nhân Quả nói:
Bạn hữu có ba sắc thái cần phải có:
1.      Thấy lỗi liền can gián.
2.      Thấy có việc tốt, sanh lòng tùy hỷ.
3.      Gặp tai nạn, khổ sở không bỏ nhau.
Luật Tứ Phần nói:
Ðủ bảy sắc thái sau đây mới thành bạn thân:
1.      Việc khó làm hay làm.
2.      Việc khó cho hay cho.
3.      Việc khó nhẫn hay nhẫn.
4.      Việc kín đáo nói cho nhau biết.
5.      Che chở cho nhau.
6.      Gặp khổ chẳng bỏ nhau.
7.      Nghèo nàn chẳng khinh nhau.
Kinh Thi Ca Việt nói:
1.      Thấy bạn làm ác, kéo đến chỗ vắng can ngăn.
2.      Có việc khẩn cấp phải mau đến cứu hộ.
3.      Có việc riêng tư không nói cho người khác nghe.
4.      Thường kính trọng lẫn nhau.
5.      Có việc tốt, phải nhiều ít chia cho nhau.
Thích Thị Yếu Lãm.
Bậc thiện tri thức khó được gặp gỡ, ví như từ trên cõi trời Phạm Thiên ném một hạt cải xuống ghim trên đầu một mũi kim ở hạ giới còn dễ hơn gặp minh sư bạn đạo. Ðược nghe chánh pháp rất khó, như chín mươi sáu phái ngoại đạo ở Tây Thiên (Ấn Ðộ) đều cầu xuất ly, song vì gặp phải tà sư nên trái lại bị chìm trong sanh tử.
Tông cảnh Lục
—o0o—
Chương 6


Học đạo cần phải nhận đúng như thật
Lục Tổ, một hôm bảo chúng:
Tự tâm các ông là Phật, chớ có hồ nghi. Ngoài ra không một vật có thể kiến lập, đều là bản tâm sanh ra muôn pháp, cho nên kinh nói: “Tâm sanh các pháp sanh, tâm diệt các pháp diệt”. Nếu muốn thành tựu chủng trí cần phải đạt được Nhất tướng tam muội và Nhất hạnh tam muội. Nếu ở tất cả chổ mà không trụ tướng, ở trong tướng ấy chẳng sanh thương ghét, cũng chẳng lấy bỏ, chẳng nghĩ đến sự lợi ích, thành hoại v. v…, an nhàn, điềm tĩnh, rỗng rang đạm bạc, đó gọi là Nhất tướng tam muội. Nếu tất cả chỗ đi đứng ngồi nằm thuần nhất trực tâm, chẳng động đạo tràng liền thành Tịnh độ, đó gọi là Nhất hạng tam muội.
Tăng hỏi Thiền sư Bá Trượng:
– Thế nào là pháp yếu Ðại thừa đốn ngộ?
Sư đáp:
– Các ông trước dứt các duyên, bặt hết muôn việc, hết thảy các pháp thiện cùng bất thiện, thế gian cùng xuất thế gian, chớ có ghi nhớ, chớ có nghĩ tưởng, buông xả thân tâm cho nó tự tại, tâm như gỗ đá không còn phân biệt, tâm không dấy niệm, đất tâm không trống không thì mặt trời trí hụê tự hiện. Chỉ cần dứt hết thảy phan duyên tham, sân, ái thủ, tình chấp cấu tịnh sạch hết, đối với ngũ dục, bát phong chẳng động, chẳng bị cái thấy, nghe, hay, biết ràng buộc, chẳng bị các cảnh làm mê lầm thì tự nhiên đầy đủ thần thông diệu dụng, đó là người giải thoát.
Ðối với tất cả cảnh, tâm không loạn không tịnh, không nhiếp, không tán, vượt qua tất cả thanh sắc, không có vướng mắc, gọi đó là Ðạo nhân.
Lại bảo: Luận về người học đạo, nếu gặp các thứ khổ vui, vừa lòng hay trái ý, tâm vẫn không lui sụt, chẳng màng tới danh tiếng, lợi dưỡng, áo cơm, chẳng ham công đức lợi ích, chẳng bị pháp thế gian làm vướng bận, không thân, không ái, khổ vui chẳng bận lòng, áo xấu che thân, cơm hẩm đỡ dạ, ngây ngây như ngu như điếc, mới có chút phần tương ưng. Nếu ở trong tâm học nhiều tri giải, cầu phước, cầu trí đều là sanh tử, đối với lý nào có ích gì? Trái lại, bị gió tri giải thổi trôi vào trong biển sanh tử.
Lại nói: Ba thừa giáo dùng để trị các bệnh tham, sân… Nay đây, niệm niệm nếu có các bệnh tham, sân … thì trước tiên cần phải trị nó mà chẳng cần tìm cầu nghĩa cú, tri giải; tri giải thuộc về tham, tham biến thành bệnh. Nay chỉ cần lìa tất cả các pháp có, không, cũng lìa cả cái lìa, thấu qua ba câu thì tự nhiên cùng Phật không khác, đã tự là Phật, lo gì Phật không biết thuyết pháp! chỉ e chẳng phải Phật nên bị các pháp có, không ràng buộc chẳng được tự do, vì lý chưa lập mà trước đã có phước trí, bị phước trí lôi đi như kẻ hèn sai khiến người sang; chẳng bằng trước lập lý rồi sau hãy có phước trí.
Hội Nguyên
Mã Ðại sư nói:
Ðạo chẳng cần tu, chỉ cần đừng ô nhiễm. Cái gì là ô nhiễm? Hễ có tâm sanh tử, tạo tác, hướng về đều là ô nhiễm. Nếu muốn lãnh hội ngay đạo nầy thì tâm bình thường là đạo. Tâm bình thường là tâm không tạo tác, không thị phi, không thủ xả, không đoạn thường, không phàm, không thánh. Kinh nói “Chẳng phải hạnh phàm phu, chẳng phải hạnh Hiền Thánh, ấy là hạnh Bồ Tát”. Nay chỉ cần đi đứng ngồi nằm ứng cơ nhiếp vật thảy đều là đạo.
Truyền Ðăng Lục
Hòa thượng Hoàng Bá dạy:
Nếu muốn thành Phật thì hết thảy Phật pháp đều chẳng cần học, chỉ cần học sự không mong cầu, không dính mắc. Tám muôn bốn ngàn pháp môn đối trị tám muôn bốn ngàn phiền não chỉ là môn giáo hóa nhiếp dẫn.
Lại bảo: Chỉ cần tùy duyên tiêu nghiệp cũ, đừng tạo thêm nghiệp mới nữa.
Hòa thượng Ðức Sơn thượng đường dạy:
Nếu ở nơi mình vô sự thì chớ có vọng cầu, vọng cầu mà được thì cũng chẳng phải được. Ông chỉ vô sự ở nơi tâm, vô tâm ở nơi sự thì rỗng mà linh, không mà diệu. Nếu trên đầu lông cho nói gốc ngọn đều là tự dối. Sao vậy? Vì một mảy may hệ niệm là nghiệp nhân của tam đồ, chớp mắt tình sanh là gong xiềng muôn kiếp. Danh thánh, hiệu phàm đều là tiếng rỗng, tướng đẹp hình xấu đều là sắc huyễn, ông muốn cầu nó mà được không hệ lụy chăng! Hay chán nó để thành ra họa lớn? Rốt cuộc chỉ vô ích mà thôi.
Hội Nguyên
Hòa thượng Lâm Tế nói:
Ðã khởi niệm rồi chớ nối tiếp, chưa khởi niệm thì chẳng nên khởi, còn quý hơn ông mười năm hành cước.
Thiền sư Viên Ngộ nói:
Chỉ cần một niệm không sanh, để cho thong thả; vừa có thị phi, thị ngã, đắc thất chớ đi theo nó; ấy là suốt ngày lẫn đêm đích thân tham học với thiện tri thức chân chánh của nhà mình, lo gì việc nầy chẳng xong! Cần nhất là phải tự khán .
Tâm Yếu
Hòa tượng Tuyết  Ðường Hạnh nói:
Ta thường nói cới các huynh đệ là chẳng cần leo lên cơ cảnh khác. Cái gì gọi là cơ cảnh? Phật là cơ cảnh, pháp là cơ cảnh huống chi các việc văn chương tạp nhạp ư? Nếu giữ được nhàn nhàn thì tự nhiên rỗng mà linh, lặng mà diệu, như trái bầu thả trên mặt nước thênh thênh không bị ràng buộc, đụng đến liền động chuyển, thật là đại tự tại vậy.
Thập Di Lục
Hòa thượng Lại An dạy chúng:
Các ông đến An nầy tìm cầu cái gì? Nếu muốn làm Phật thì các ông tự là Phật, lại trốn nhà bỏ đi như hươu khát nước đuổi theo bóng nắng thì đến lúc nào mới được tương ưng? Các ông muốn làm Phật, chỉ cần không có các thứ tâm chúng sanh điên đảo phan duyên, vọng tưởng ác giác, dục vọng bẩn thỉu thì đó là tâm chánh giác Phật đầu tiên của ông, còn phải hướng đến chỗ nào nữa mà tìm !
—o0o—
CHƯƠNG 7


Học đạo cần phải biết học lấy ngôn hạnh của người xưa
Thiền sư Viên Ngộ nói:
Phật đạo thênh thênh, phải siêng năng cực khổ lâu ngày mới có thể thành tựu được. Ðệ tử Tổ sư chặt tay đứng dưới tuyết, lưng mang đá giã gạo, gánh lúa, đẩy xe, làm vườn, nấu cơm, khai phá ruộng nương, bố thí nước trà, gánh đất, kéo cối đều là lập chí đoạn tuyệt thế tục, mãi mãi tự cường thì mới có thể viên thành sự nghiệp. Do đó, nói: Chưa có một pháp nào từ trong sự lười biếng giải đãi sanh.
Tâm Yếu
Thiền sư Viên Ngộ nói:
Tăng sĩ phải thống thiết với việc sanh tử, lo tiêu diệt sự chướng ngại của tri kiến tri giải, chứng triệt để cái nhân duyên lớn mà Phật Tổ đã truyền trao, chớ ham danh tiếng, hãy lui về chỗ chân thật đợi hạnh giải đạo đức đầy đủ, càng mai danh ẩn tích lại càng được người biết đến, các vị Thánh và Thiên long sẽ khen ngợi người này.
Ngài Hoàng Long nói:
Người chưa thấy tánh chẳng nên an nhiên khoanh ay bắt chước không làm, không tu.
Minh Xu Hội Yếu       
Hòa thượng Ngũ Tổ Diễn nói:
Ngày nay người học đạo ở chốn tòng lâm thanh danh không nổi bật, chẳng được người tin tưởng, bởi vì giới hạnh không trong sạch, con người chẳng đứng đắn. Hoặc như vì cầu danh tiếng, lợi dưỡng mà phô trương cái vẻ hào nhoáng bên ngoài bèn bị bậc thức giả chê cười, cho nên cái lý yếu diệu bị ngăn che, tuy có đạo đức như Phật Tổ mà vẫn bị người nghe thấy nghi ngờ chẳng tin. Các ông sau này nếu có làm Trụ trì hãy lấy đây để tự cố gắng.
Diễn Tổ nói:
Cổ nhân thích nghe lỗi mình, mừng chỗ mình làm được điều lành, thường bao dung kẻ hãm hại mình, hậu đại kẻ ẩn chứa điều ác đối với mình, khiêm nhường để chơi với bạn, siêng năng để giúp đỡ chúng, chẳng vì sự được mất mà sanh hài lòng, nên ánh sáng rực rỡ chiếu khắp cả xưa nay vậy.
Thiền sư Tung Nhạc Nguyên Khuê nói:
Phải có tâm vì chúng sanh mà không có tâm nghĩ đến thân mình.
Hội Nguyên
Tăng sĩ hằng ngày dụng tâm đều không qua việc này.
Hòa thượng Ðại Giác Liễn nói:
Họa hoạn chứa ở chỗ sâu kín, phát ra tứ chỗ khinh suất.
Hòa thượng Quy Sơn nói:
Cử chỉ động tịnh nên theo bậc thượng lưu, chớ nên bắt chước theo bọn quê hèn.
Châu Hối Anh hỏi ngài Hối Ðường:
Người quân tử chẳng may có chút lỗi nhỏ mà có người nghe thấy, họ liền chỉ ra, còn kẻ tiểu nhân suốt ngày tạo ác mà chẳng bị cho là lỗi. Tại sao vậy?
Ngài Hối Ðường đáp:
Ðức của người quân tử ví như ngọc tốt, nếu bên trong có tỳ vết liền thất lộ ra bên ngoài, cho nên người thấy, họ cho rằng lạ chẳng thể không chỉ ra. Còn kẻ tiểu nhân hằng ngày làm các việc đều ác nên đâu cần phải nói.
Hòa thượng Hoàng Long Nam nói:
Tổn mình thì lợi người, lợi mình thì tổn người, cho nên sự được mất đâu có dễ gì cân nhắc!
Ngài Hoàng Long nói:
Cái học của Thánh hiền không phải vội vàng hấp tấp mà có thể thành được, mà cần phải tích lũy. Sự cần thiết của tích lũy là chuyên cần, ngăn dứt thị hiếu, tu hành chớ lười mỏi, về sau mở rộng đến chỗ đầy đủ mới có thể cùng tận được cái huyền diệu của thiên hạ.
Anh Thiệu Võ nói:
Vật lớn nhanh thì ắt gãy sớm, công chóng thành thì ắt dễ hoại. Chẳng nghĩ đến kế lâu dài mà thành công vội đều chẳng phải cái tư cách vĩ đại trường cửu. Ngày xưa, thị giả Mai ban đêm ngồi mãi không nằm, dùng gỗ tròn làm gối, vừa ngủ thì gối động, giận mình tỉnh dậy ngồi yên như cũ, và cho đó là sự thường. Hoặc có người nói là dụng tâm thái quá. Mai đáp: “Tôi đối với Bát nhã duyên phận mỏng manh; nếu chẳng khắc khổ gắng chí thì e những quen mê lầm mống khởi”.
Thiền Môn Bảo Huấn
Hòa thượng Thủy An Nhất nói:
Xưa, các ngài Ðại Ngu, Từ Minh, Cốc Tuyền, Long Nha kết bạn với nhau cùng đến tham vấn ngài Phần Dương. Ðất Hà Ðông lạnh lắm, mọi người đều sợ, chỉ có Từ Minh là người có chí học đạo ngày đêm không lười mỏi, ban đêm ngồi thiền buồn ngủ bèn lấy dùi tự đâm vào thân và than rằng: “Cổ nhân vì việc lớn sanh tử mà không ăn, không ngủ; ta là hạng người nào mà lại dám phóng túng buông lung? Lúc sống thì vô ích, khi chết không để tiếng tăm về sau, ấy là tự bỏ mình vậy”.
Ngày Từ Minh giã từ, Phần Dương than rằng: “Sở Viên nay đi, đạo của ta theo y về phương Ðông vậy.”
Hòa thượng Linh Nguyên Thanh nói:
Bậc Tiên triết nói: Học đạo mà ngộ được đạo là khó, đã ngộ rồi gìn giữ được là khó, đã gìn giữ được mà làm được đó mới là khó. Nay đương khi làm thì sự khó khăn còn hơn ngộ và gìn giữ, bởi vì ngộ và gìn giữ chỉ cần tinh tấn cố gắng nơi bản thân mà thôi, còn làm thì phải có tâm bình đẳng thề đến chết luôn luôn lấy việc tổn mình lợi người làm nhiệm vụ. Nếu tâm không bình đẳng, thệ nguyện không kiên cố thì sự tổn ích sẽ đảo lộn, bèn rơi vào hạng thầy chạy theo dòng thế tục, ấy là điều đáng sợ vậy!
Ngài Linh Nguyên bảo Viên Ngộ:
Tăng sĩ dầu có tư cách kiến đạo mà nếu chẳng qua giai đoạn khắc khổ trui rèn thì đến khi phát dụng ắt thô bạo, chẳng những không bổ ích cho giáo môn mà còn e chuốc lấy cái họa nhục nhã nữa!
Hòa thượng Viên Ngộ nói:
Làm người ai không lỗi. Có lỗi mà hay sửa chữa, đó là điều lành lớn vậy! Xưa nay đều khen người biết sửa lỗi là bậc hiền, chứ không lấy người không lỗi cho là đẹp, cho nên việc làm của con người từ bậc thượng trí cho đến kẻ hạ ngu không ai tránh khỏi lầm lỗi, chỉ có người trí mới hay sửa lỗi làm lành, còn kẻ ngu phần nhiều hay che giấu lỗi lầm, tô điểm điều quấy. Sửa lỗi làm lành thì đức mỗi ngày một sáng, ấy gọi là quân tử. Còn trang sức lỗi lầm thì ác càng thêm nhiều, đây gọi là kẻ tiểu nhân. Thế nên, thấy việc nghĩa bỏ qua là chuyện thường tình; thấy điều lành vui theo là chỗ chuộng của bậc hiền đức. Vậy mong ông hãy được ý quên lời là hơn vậy!
Ngài Viên Ngộ bảo Phật Giám:
Sư ông Bạch Vân mỗi khi hành động cân nhắc một việc gì đều căn cứ theo xưa. Sư ông thường nói: “Làm việc mà chẳng căn cứ theo người xưa thì không phải phép. Tôi biết nhiều về ngôn hạnh của người xưa là để thành tựu cái chí của mình, nhưng chẳng phải tôi đặc biệt hiếu cổ, mà bởi vì người đời nay chẳng đủ phép tắc để cho tôi bắt chước”.
Hòa thượng Bạch Vân Ðoan nói:
Thủ đạo an bần là bổn phận của tăng sĩ. Người vì sự khốn cùng hay hiển đạt mà ý chí tiêu tan hay dời đổi thì chưa đủ tư cách học đạo vậy.
Hòa thượng Phật Giám Cần bảo Phật Ðăng Tuân:
Bậc cao thượng chẳng lấy danh vị làm vinh, người đạt lý chẳng bị sự ép ngặt làm khốn, còn như vì mang ơn mà ra sức báo đáp, thấy lợi lộc mà trung thành, đều là chỗ làm của những kẻ trung hạ.
Ngài Phật Giám nói:
Nếu chẳng lo vì đạo thì tâm tiết tháo chẳng cao xa, xử thân thường nhàn hạ thì dụng chí không lớn. Cổ nhân đã nếm đủ mùi gian lao hiểm trở rồi mới hưởng được sự an vui suốt đời. Bởi vì việc khó khăn thì chí mới sắc bén, khắc khổ thì lo nghĩ mới sâu xa, mới có thể chuyển họa thành phước, chuyển vật làm đạo được. Tôi thấy người học đạo phần nhiều chạy theo vật dục mà quên đạo, trái với chỗ sáng mà vào chỗ tối, trang sức chỗ bất tài của mình để dối gạt người, tự cho mình là người trí, cưỡng ép người làm cái việc không thể làm nổi rồi khinh người rồi cho rằng mình cao. Làm như vậy là để dối người mà chẳng biết có bậc tiên giác chẳng thể dới được; làm như vậy là để che đậy người mà chẳng biết có cái công luận chẳng thể che đậy. Cho nên, kẻ tự cho mình là cao thì người lại cho là thấp.
Hòa Thượng Phật Nhãn Viễn nói:
Người ở chốn tòng lâm, lời nói việc làm, cử chỉ động tịnh trước phải trù liệu rồi sau mới làm, chớ nên hấp tấp. Hoặc tự mình không thể quyết đoán được thì nên thưa bậc kỳ cựu, rộng hỏi bậc tiên hiền để mở rộng sự thấy nghe, bổ túc vào chỗ thiếu sót, làm sáng tỏ chổ tối tăm, đâu nên làm khí thế hư ngụy khoe khoang để bày ra chổ xấu của mình! Nếu như trước có lỡ làm một việc sơ thất thì về sau có làm trăm điều hay cũng không cứu cãn được.
Hòa thượng Linh Nguyên nói:
Phàm người hằng ngày soi lại vào bên trong phần nhiều có thể sáng tỏ được, vừa theo sự việc chạy ra bên ngoài liền trái với viên dung, mất đi phát thể. Cho nên, người muốn nghĩ đến nhiệm vụ nối dòng Phật Tổ chỉ dạy dẫn đến kẻ hậu học thường phải tự kiểm trách.
Hòa thượng Tuyết Ðường Hạnh nói:
Người học đạo mà khí thắng chí là tiểu nhân, chí thắng khí là người ngay thẳng, khí cùng chí ngang nhau là hiền thánh đắc đạo. Người cứng cõi chẳng nghe theo lời khuyên răn can gián, đó là cái khí khiến như thế. Người ngay thẳng bị ép buộc làm việc bất thiện thà chết chứ không hai lòng, đó là cái chí nó đưa đến như thế vậy.
Hòa thượng Thảo Ðường Thanh nói:
Ngọn lửa cháy lan cả đồng nội phát sanh từ một đốm lửa nhỏ bé, thế nước lở núi tích chứa từ những giọt nhỏ li ti. Giọt nước thì nhỏ, chỉ một nắm đất có thể lấp ngay được, nhưng đến lúc thế đã mạnh thì nó làm trôi cả gỗ đá, san phẳng cả gò nổng. Ðốm lửa thì nhỏ, một gáo nước có thể dập tắt, nhưng đến lúc thế mạnh thì nó thiêu hủy cả thành ấp, đốt cháy cả núi rừng. Như vậy, nếu đem so sánh với nước ái dục, với lửa sân hận đâu có khác chi!
Ngài Thảo Ðường Thanh nói:
Người học đạo lập thân cần phải chánh đáng, đừng để cho người ta bàn trộm. Nếu một khi bị lời dị nghị thì trọn đời không thể lập thân được.
Hòa thượng Hối Ðường Tâm nói:
Ở trong chúng đông người, người hiền kẻ ác chung lộn, hóa môn rộng lớn, trong đó không dung thân sơ, chỉ tại thiếu sự chọn lọc. Ví như có người tài đức được mọi người ngưỡng mộ thì chẳng nên vì cái điều mình giận mà thưa thớt qua lại với người ấy. Nếu như người kiến thức tầm thường mọi người đều ghét bỏ thì cũng chẳng nên lấy cái điều mình thích mà gần gũi. Như thế thì người hiền tự tiến lên, kẻ ác tự rút lui thì tòng lâm được an ổn vậy.
Hòa thượng Tự Ðắc Huy nói:
Tăng sĩ nếu thật tình muốn hướng về con đường chân chánh thì dầu ngu cũng dùng được, còn nếu ôm lòng tà vạy thì dầu trí rốt cuộc cũng là hại. Ðại khái là người ở chốn lâm hạ tâm chí bất chánh thì dẫu có tài năng đi nữa cũng không thể lập thân được.
Hòa thượng Giản Ðường Cơ sáng suốt, điềm tĩnh, từ bi đối với chúng sanh, tăng sĩ nào có chút lỗi lầm, ngài che chở bảo hộ để thành cái đức của họ. Ngài thường nói: Con người ai mà không có lỗi lầm, biết sửa lỗi lầm là tốt đẹp.
Thiền sư Ðại Hụê nói:
Người học đạo, ngày tháng trôi suông chỉ vì cứ lo kiểm điểm công phu của người khác. Nếu như thường tự kiểm điểm thì đạo nghiệp chóng thành. Hoặc mừng, hoặc giận, hoặc tĩnh lặng, hoặc náo động đều là lúc để cho ta tự kiểm điểm cả.
Ngài Ðại Hụê nói:
Nghịch cảnh dễ phá, thuận cảnh khó phá, gặp nghịch cảnh chỉ cần tốn một chữ NHẪN, định tĩnh giây lát liền qua mất. Gặp thuận cảnh không có chỗ cho ông lẫn tránh, như nam châm gặp sắt, hai thứ tự nhiên đến hợp nhau làm thành một chỗ. 
( Còn tiếp )

LỜI CÁM ƠN

Kính thưa tất cả mọi người! vậy là đã có một quãng thời gian cho chúng ta tìm hiểu về pháp Phật. Tôi hết sức vui mừng vì đã có nhiều người ở nhiều nơi đã đến chia sẻ nguồn thông tin, tài liệu, kinh điển của ĐỨC PHẬT, của các TỔ SƯ THIỀN và phương pháp tu học của các bậc tiền bối.  Là một người tu học theo THIỀN TÔNG (TỔ SƯ THIỀN). Tôi mong muốn được cùng mọi người chia sẻ kinh nghiệm trong quá trình thực hành THAM THIỀN và trao đổi, thảo luận về những kinh nghiệm đó. Cũng vậy, chúng ta cũng có thể cùng nhau thảo luận về những gì còn chưa hiểu rõ trong lời di huấn mà cổ nhân để lại. Để cùng nhau học hỏi. tôi xin được lắng nghe và chia sẻ mọi ý kiến, cùng những lời chỉ bảo của các bậc CAO TĂNG, HÀNH GIẢ. Nếu được như thế tôi xin cúi mình đáp lễ, chân thành  tri ơn cùng tất cả mọi người
Tất cả chúng con xin được tri ân đến ĐỨC PHẬT cùng CHƯ TỔ đã khám phá và trao truyền cho chúng sinh ba cõi con đường GIÁC NGỘ GIẢI THOÁT khỏi sinh tử luân hồi
Địa chỉ : http://conduonggiaithoat.pgvn.org/loi-cam-on/
Email :   phamvandung57@gmail.com

BỒ ĐỀ ĐẠT MA QUÁN TÂM PHÁP – CHÁNH VĂN

Bồ Đề Đạt Ma
Quán Tâm Pháp
Ch ánh V ăn
Thiền Sư Thích Minh Thiền Dịch
Bồ Đề Đạt Ma Quán Tâm Pháp Thích Minh Thiền
Viễn Lưu vô máy Vi Tính Rằm tháng 9 2009 253
THIÊN THỨ NHỨT
LUẬN HUYẾT MẠCH
CHÁNH VĂN * Ba cõi lăng xăng đều từ một tâm.
Phật trước Phật sau đều chỉ dùng tầm truyền tâm,
chẳng lập văn tự.
* Có người hỏi : Nếu không lập văn tự, vậy lấy gì
làm tâm ?
Đáp : Ông hỏi tôi tức là tâm của ông, tôi trả lời với
ông tức là tâm của tôi. Nếu tôi không có tâm thì lấy
đâu biết để trả lời với ông ; ông nếu không có tâm
làm sao ông biết hỏi tôi. Cho nên biết : hỏi tôi tức là
tâm của ông đó.
* Từ lũy kiếp đến giờ, nhẫn đến hành tung hoạt
động bất cứ lúc nào, bất cứ chỗ nào đều là cái tâm
vốn có của ông, đều là Phật vốn có của ông. Cái
nghĩa chính tâm mình là Phật là như thế.
* Ngoài tâm này, rốt-ráo không có Phật nào khác có
thể được. Nếu lìa tâm này mà tìm Bồ-Đề, Niết Bàn
thì thật là không tưởng.
* Tánh chơn thật của tự mình không phải pháp nhân
pháp qủa, đó là nghĩa của tâm
* Tự tâm là Niết-Bàn. Nếu nói ngoài tâm có Phật và
Bồ-Đề có thể được thì thật không tưởng.
* Phật và Bồ-Đề ở chỗ nào ? Ví như có người dang
tay bắt hư-không có được gì không ? Vì sao thế ? vì
hư không chỉ có tên chớ nào có hình tướng ! Bắt đã
chẳng được, bỏ cũng chẳng được. Thế là hư không
không thể bắt được. Trừ tâm này ra mà tìm Phật rốt
rồi không được cũng giống như vậy.
* Phật là tự tâm làm ra. Tại sao lìa tâm mà tìm
Phật !? Phật trước Phật sau chỉ nói về tâm. Tâm tức
là Phật, Phật tức là tâm : ngoài tâm không Phật,
ngoài Phật không tâm. Nếu nói ngoài tâm có Phật,
vậy Phật ở đâu ? Ngoài tâm đã không Phật sao lại
còn làm ra cái thấy có Phật để mà dối gạt lẫn nhau,
rồi không thể rõ được cái tâm vốn có của mình, lại
bị vật vô tình nó nhiếp mất tự do nếu không tin hiểu
như thế, để tự dối gạt thật là vô ích. Phật không lỗilầm,
chúng sanh điên-đảo chẳng biết giác-ngộ tâm
mình là Phật. Nếu biết tự tâm là Phật chớ nên tìm
Phật ngoài tâm.
* Phật chẳng độ Phật, nếu đem tâm tìm Phật là
chẳng biết Phật chỉ là tự tâm.
* Những người đi tìm Phật, hết thảy đều chẳng biết
tự tâm là Phật. Cũng chớ nên đem Phật lễ Phật, đem
tâm niệm Phật. Phật chẳng tụng kinh, chẳng giữ
giới, chẳng phạm giới. Phật không có giữ và phạm,
cũng chẳng tạo thiện tạo ác. Nếu chẳng thấy tánh
niệm Phật tụng kinh, ăn chay giữ giới cũng không
ích lợi gì.
* Niệm Phật chẳng qua được nhân qủa, tụng kinh
chẳng qua được thông minh, giữ giới chẳng qua
được sanh lên cõi trời, bố thí chẳng qua được phước
báo. Tìm Phật quyết định không thể được.
* Nếu tự mình không thấu suốt, thì phải nên tìm
tham học với thiện tri thức nào đã dứt khoát nguồn
cội sanh tử. Nếu chẳng thấy tánh thì không được gọi
là thiện tri thức.
* Nếu không như thế dẫu cho có giảng được hết cả
kinh Phật cũng chẳng khỏi sanh tử luân hồi, vẫn ở
trong 3 cõi chịu khổ mãi mãi.
* Xưa có Tỳ-Kheo Thiện-Tinh giảng được hết cả
kinh Phật nhưng vẫn chẳng khỏi luân-hồi, cũng chỉ
vì chẳng thấy tánh.
* Thiện-Tinh đã như thế, người nay bất qúa giảng
được năm ba bổn kinh luận rồi vội cho là mình thực
hành pháp Phật, đó là thuộc về hạng người mê. Nếu
chẳng biết tự tâm, chỉ tụng không theo mặt chữ của
kinh đều là vô dụng. Nếu muốn tìm Phật phải nên
thấy tánh. Tánh tức là Phật. Phật tức là tự tại, rảnh
rang, vô sự. Nếu chẳng thấy tánh suốt ngày chật vật
dong ruỗi ra ngoài mà tìm, tìm làm sao được !
* Tuy không một vật có thể được nhưng nếu muốn
cầu tỏ ngộ cũng phải nên tham học với thiện tri
thức. Phải thiết tha cầu khổ mà cầu đến bao giờ
được tỏ ngộ bổn tâm.
* Sanh tử việc lớn, không được phép để luống trôi
qua, tự dối gạt vô ích. Dẫu có của qúi như non,
quyến thuộc như cát sông Hằng, mở mắt thấy đó,
khi nhắm mắt rồi ra sao ? Phải biết các pháp hữu vi
đều như giấc mơ, như huyển hóa.
* Nếu chẳng gấp tìm thầy học Đạo, luống uổng một
kiếp trôi qua. Tuy rằng tánh Phật ai cũng vốn tự có,
nhưng nếu chẳng nhờ thầy chỉ-giáo rốt không thể tỏ
ngộ.
* Những bực chẳng nhờ thầy mà tỏ ngộ chỉ là hy
hữu trong muôn một mà thôi. Nếu tự mình được
nhân-duyên hợp ý thánh thì không cần phải tham
học với thiện-tri-thức ; trường hợp này gọi là sanh
ra đã biết còn hơn vậy.
* Nếu chưa được tỏ-ngộ phải nên cần khổ tham
học, nương nơi giáo mới được ngộ. Nếu đã ngộ rồi
chẳng học chả sao, không đồng với người mê. Nếu
chưa minh bạch được đen trắng mà kỳ vọng nói
tuyên-bày giáo-pháp của Phật, chê Phật kỵ pháp.
Những bọn như thế, thuyết-pháp như thế, hết thảy
đều là ma nói, không phải Phật nói, tức là ma
vương, đệ-tử của họ là ma dân. Người mê chịu cho
chúng nó chỉ-huy chẳng được giác-ngộ, đọa vào
biển sanh tử chỉ vì chẳng thấy tánh, vọng xưng là
Phật. Bọn chúng-sanh như thế là đại ma vương, gạtgẫm
tất cả chúng sanh cho vào cõi ma.
* Nếu chẳng thấy tánh dẫu cho giảng được hết kinh
Phật đi nữa cũng chẳng qua là ma nói, là quyếnthuộc
nhà ma, chẳng phải đệ-tử của Phật. Đã chẳng
biện được đen trắng thì căn cứ nơi đâu mà khỏi sanh
tử ? Nếu đã thấy tánh tức là Phật, chẳng thấy tánh
tức là chúng sanh. Nếu lìa tánh chúng sanh mà riêng
có tánh Phật có thể được, vậy Phật hiện ở chỗ nào ?
* Như thế chúng sanh là tánh Phật. Ngoài tánh
không Phật. Phật tức là tánh, ngoài tánh này không
có Phật nào có thể được. Ngoài Phật cũng không có
tánh nào có thể được.
* Hỏi : Nếu chẳng thấy tánh niệm Phật, tụng kinh,
bố-thí, giữ giới, tinh-tấn, mở rộng phúc duyên có
được thành Phật không ? – Đáp : không !
Hỏi : Vì sao không được ?
Đáp : Nếu có chút pháp nào có thể được đều là
pháp hữu vi, là pháp nhân qủa, là pháp thọ báo, là
pháp luân hồi, không khỏi sanh tử, biết chừng nào
mà thành Phật !
* Muốn thành Phật phải thấy tánh. Nếu chẳng giác
ngộ bổn-tánh thì dù có nói những nào nhân, nào qủa
đểu là pháp ngoại-đạo. Nếu là Phật thì chẳng tập
theo pháp ngoại-đạo.
* Phật là người không nghiệp, không nhân qủa, nếu
nói có chút pháp có thể được đều là chê bai Phật đó.
Căn cứ nơi đâu mà được thành Phật ?! Dẫu cho chỉ
trụ-chấp một tâm, một năng, một giải, một thấy
cũng đều bị Phật chẳng thừa nhận. Phật không giữ
và phạm. Tâm tánh vốn không, cũng không phải các
pháp dơ sạch, không tu không chứng, không nhân
không qủa. Phật chẳng giữ giới, chẳng tu thiện
chẳng tạo ác, chẳng tinh tiến, chẳng giải-đãi. Phật là
người vô tác, nếu có tâm đẵm chấp để thấy Phật là
bị không thừa nhận rồi. Phật chẳng phải Phật, đừng
làm ra hiểu Phật, nếu chẳng thấy nghĩa này thì luôn
luôn ở đâu cũng đều là mê-muội bổn tâm, nếu chẳng
thấy tánh mà luôn luôn tưởng-tượng làm ra cái rảnh
rang (vô tác), đó là tội nhân lớn, là người si, rơi vào
ngoan-không vô-ký, ngây ngây như người say,
chẳng phân được tốt xấu. Nếu muốn tu theo pháp vô
tác trước phải thấy tánh, rồi sau dứt các duyên lự
nơi tâm. Nếu chẳng thấy tánh mà được thành Phật,
thì thật là chuyện tưởng tượng. Có người bác cho
rằng không nhân qủa, tha hồ mà tạo nghiệp ác, vọng
nói vốn không, làm ác không tội, con người như thế
sẽ đọa địa ngục vô-gián tối-tăm mãi mãi. Nếu là
người trí không nên hiểu như thế.
* Hỏi : đã nói dầu cho làm lụng, hoạt động, lúc nào
cũng đều là bổn tâm. Vậy khi vô-thường đến với sắc
thân sao lại chẳng thấy bổn-tâm ?
Đáp : Bổn-tâm lúc nào cũng hiện bày, chỉ tại ông
tự chẳng thấy.
* Hỏi : Lúc nào cũng hiện-bày, vì sao chẳng thấy ?
Tổ-sư nói : « Ông có từng nằm mơ lần nào
không ? »
Đáp : Có.
Hỏi : khi ông nằm mơ có phải là bổn thân của ông
không ?
Đáp : Phải
Lại hỏi : Ông nói-năng hoạt-động với ông là một
hay khác ?
Đáp : Không khác
Nói : Nếu đã chẳng khác thì thân của ông đây
cũng chính là pháp-thân vốn có của ông đó. Chính
ngay pháp thân này là bổn-tâm của ông đó. Tâm này
từ lũy-kiếp đến giờ vẫn y nguyên như thế, chưa từng
có sanh tử. Chẳng sanh chẳng diệt, chẳng thêm
chẳng bớt, chẳng dơ chẳng sạch, chẳng tốt chẳng
xấu, chẳng đến chẳng đi, chẳng phải chẳng quấy,
chẳng tướng nam tướng nữ, cũng không phải tướng
tục tướng tăng, không già không trẻ, không thánh
không phàm, không Phật không chúng sanh, không
tu không chứng, không nhân không qủa, không gân
lực, không tướng mạo cũng như hư không, bắt
chẳng được, bỏ chẳng được, núi sông gành đá,
không chướng ngại được, hiển ẩn qua lại tự tại thần
thông, suốt 5 uẩn vượt sanh tử, tất cả nghiệp chướng
đối với pháp thân cũng đều không thể trói buộc
được. Tâm này rất vi diệu khó thấy, chẳng đồng với
cái tâm nghiệp-chướng do trần cảnh tạo nên.
* Cái pháp-thân, tâm tánh này ai ai cũng sẵn có.
Trong tâm ấy động tay máy chân nhất nhất đều
không lìa, nhưng khi hỏi đến đều không thể nói
được, giống như người gỗ. Hết thảy đều tự mình thọ
dụng nhưng sao lại không biết ? Phật nói : tất-cả
chúng sanh đều là mê muội, vì thế nên tạo nghiệp
đọa vào sanh tử, muốn ra rồi lại vào, chỉ vì chẳng
thấy tánh. Chúng sanh nếu chẳng mê tại sao khi hỏi
đến việc trong tâm tánh thì lại không có một người
biết được, tự mình động tay máy chân sao mình
không biết ? Cho nên biết thánh nhơn nói không
lầm, vì người tự mê-muội. Nên biết tánh này rất khó
tỏ, chỉ có Phật mới được tỏ ngộ thôi ; hết thảy
người, trời, chúng sanh đều không tỏ suốt.
* Nếu có trí-huệ tỏ suốt được tâm này thì gọi là
pháp tánh, cũng gọi là giải thoát, sanh tử không trói
buộc được, tất cả pháp không chướng ngại được, thế
gọi là Đại-Tự-Tại-Vương Như Lai. Cũng gọi là
không thể nghĩ bàn, cũng gọi là thánh thể, cũng gọi
là trường sanh bất tử, cũng gọi là đại tiên. Danh tuy
chẳng đồng, thể vẫn là một, bực thánh nhơn nói ra
dẫu có muôn vàn phân biệt cũng đều chẳng lìa tự
tâm. Tâm-lượng rộng lớn ứng-dụng vô cùng, ứng ra
mắt thấy sắc, ra tai nghe tiếng, ra mũi biết mùi, ra
lưỡi biết vị, cho đến hết thảy hành tung hoạt-động
cũng đều là tự tâm. Bất cứ lúc nào, chỉ có bặt đường
ngôn ngữ tức là tự tâm.
* Nên nói sắc Như Lai vô-tận, trí-huệ cũng vô-tận.
Sắc vô-tận là tự tậm, tâm khéo hay phân biệt tất cả
pháp, nhẫn đến tất cả hành-tung hoạt-động cũng đều
là trí huệ. Tâm không hình tướng nên trí-huệ cũng
vô tận. Nên nói sắc Như-Lai vô-tận, trí-huệ cũng
như thế. Còn cái thân tứ-đại tức là cái thân phiềnnão,
thân sanh diệt. Pháp-thân thường-trụ không chỗ
trụ ; pháp-thân của Như-Lai thường chẳng thay đổi
nên kinh nói : chúng sanh nên biết tánh Phật vốn tự
có ; ngài Ca-Diếp chỉ ngộ được bổn-tánh mà thành
Phật. Bổn tánh tức là tâm ; tâm tức là tánh, tánh với
tâm chư Phật không hai, Phật trước Phật sau chỉ
truyền tâm này, ngoài tâm này không có Phật nào
cả. Chúng-sanh điên đảo chẳng biết tự tâm là Phật,
dong-ruỗi ra ngoài mà tìm, suốt ngày chật vật niệm
Phật, lễ Phật, vậy Phật ở đâu ? Chớ nên hiểu như
thế, làm như thế. Chỉ biết bổn-tâm, ngoài tâm không
có Phật nào khác. Kinh nói : Phàm cái gì có tướng
đều là hư vọng.
* Lại nói : Phật ở đâu ? chỗ nào không Phật ? Tự
tâm là Phật, chẳng nên đem Phật lễ Phật, dẫu có
tướng Phật hoặc tướng Bồ Tát hiện tiền cũng quyếtđịnh
chớ nên lễ kỉnh. Tâm ta vắng-lặng vốn không
có tướng như thế. Nếu chấp tướng tức là ma, đều rơi
vào tà đạo, nếu là huyễn từ tâm khởi, lại càng không
nên lễ, lễ là không biết, biết thì chẳng lễ. Nếu lễ là
bị ma nhiếp.
* Sợ hậu-học chẳng biết nên phải biện-bạch như thế
này. Các Phật, Như-Lai trên bổn-tánh đều không có
tướng như thế, phải nên chú-ý. Khi thấy cảnh giới
lạ, quyết định không nên chấp, cũng đừng sanh sợ
hãi, chẳng cần nghi hoặc. Tâm ta bổn-lai thanh tịnh,
đâu có tướng như thế ! Nhẫn đến tướng Thiên-Long,
Dạ-xoa, qủi-thần, Đế-Thích, Phạm-Vương v.v. đi
nữa, cũng chẳng nên sanh tâm kỉnh trọng, cũng
đừng sợ hãi. Tâm ta bổn-lai vắng lặng, tất-cả tướng
đều là tướng hư vọng, chỉ đừng chấp tướng là hơn.
* Nếu khởi tâm thấy Phật thấy pháp và thấy các
tướng Bồ Tát mà sanh kỉnh trọng, tức là tự đọa vào
chúng sanh. Nếu muốn liền được tỏ-ngộ, chỉ đừng
nhận một pháp nào là được. Không cần nói gì thêm.
* Nên kinh nói : phàm cái gì có tướng đều là hưvọng,
đều không có thật. Huyễn, không có tướng
nhất-định, là pháp vô thường. – Chỉ đừng chấp
tướng là hợp với ý thánh. Nên kinh nói : lìa tất-cả
tướng là danh hiệu chư Phật.
* Hỏi : Tại sao không được lễ Phật, Bồ-Tát ?
Đáp : Thiên-Ma-Ba-Tuần, A-Tu-La cũng hiện
thần thông làm được tướng Bồ-Tát và nhiều cách
biến hóa. Đó là ngoại đạo chớ không phải Phật. Phật
là tự tâm, đừng lầm lễ lạy. Chữ Phật là tiếng Ấn-Độ,
theo xứ ta gọi là tánh giác. Giác nghĩa là linh-giác,
ứng cớ tiếp vật, nhướng mày, liếc mắt, động tay
máy chân đều là tánh linh-giác của mình. Tánh tức
là tâm. Tâm tức là Phật. Phật tức là Đạo. Đạo tức là
Thiền. Nội một chữ Thiền, phàm thánh cũng khó
lường được. – Lại nói thấy tánh là Thiền. Nếu chẳng
thấy tánh là không phải Thiền, dẫu cho giảng được
thiên kinh vạn luận, nếu chẳng thấy tánh cũng chỉ là
phàm phu. Đạo cả sâu mầu không thể dùng lời mà
tỏ được hết. Vậy kinh-điển căn-cứ nới đâu mà có
thể đến được. Chỉ thấy bổn-tánh, dầu cho không biết
một chữ cũng là thấy tánh, tức là thánh thể.
* Vốn nó thanh tịnh, không tạp không nhơ. Có nóinăng
điều gì đều là thánh nhơn từ tâm mà khởi
dụng. Dụng và thể bổn-lai là không. Danh ngôn còn
chẳng đến được, vậy 12 bộ kinh bằng cứ nơi đâu mà
đến được ? – Đạo vốn viên thành, chẳng phải tu
chứng. Đạo không phải sắc thinh, vi-diệu khó thấy.
Chỉ như người uống nước, lạnh ấm tự mình biết mà
thôi, không thể nói cho người khác nghe được. Chỉ
có Như-Lai biết được, ngoài ra người, trời các loại
đều không hay biết. Vì trí phàm phu không đến
được nên mới chấp tướng, chẳng rõ tự tâm vốn
vắng-lặng rỗng rang, nên vọng chấp tướng và tất-cả
pháp mới đọa ngoại đạo. Nếu biết các pháp đều từ
tâm sanh thì chẳng nên chấp, chấp là chẳng biết.
Nếu thấy bổn-tánh thì 12 bộ kinh chẳng qua chỉ là
văn-tự rỗng, ngàn kinh muôn luận chỉ cốt để tỏ
tâm ; nếu nói ra liền khế-hợp thì kinh giáo dùng
được vào đâu ! Chí lý hết nói-năng, kinh giáo chỉ là
từ ngữ, thiệt chẳng phải Đạo. Đạo vốn không nói
năng, nói năng là vọng.
* Người tu đêm đến nằm mơ thấy lâu đài, cung
điện, voi ngựa hoặc cây cối, rừng ao v.v.. chớ nên
mống lòng tham đắm, vì hết thảy cảnh ấy đều là chỗ
để thác sanh, điều này phải hết sức chú ý. Lại nữa,
khi lâm chung chẳng nên chấp tướng thì chướng
liền trừ. Nếu tâm nghi phát khởi là bị ma nhiếp.
* Pháp thân bổn lai thanh tịnh không thọ lãnh một
điều gì, chỉ vì mê muội không hay biết nên vọng thọ
báo, vì có tham đắm nên mất tự do, nếu ngộ được
bổn tâm thì chẳng đắm nhiễm.
* Nếu là từ thánh vào phàm thị hiện bao nhiêu tạp
loại tự làm chúng sanh, đó là một việc khác. Nên
thánh nhơn làm nghịch làm thuận đều được tự tại,
tất-cả nghiệp chướng không trói buộc đuợc, đối với
bực ấy có đại oai đức đã lâu cho nên tất cả nghiệp
chướng đều bị chuyển hết. – Thiên đường địa ngục
hết thành vấn đề.
* Còn phàm phu thần thức mê muội, chớ không
phải trong ngoài sáng suốt như thánh nhơn. Nếu có
chỗ nghi thì chớ nên làm, làm là bị trôi lăn theo
sanh tử, khi ăn năn đã muộn. Nghèo cùng khốn khó
đều từ vọng tưởng sanh, nếu ai tỏ được tâm này thì
nên lần lượt khuyên bảo lẫn nhau, chỉ làm mà không
trụ không chấp là vào được tri kiến Như Lai.
* Người mới phát tâm, thần thức chưa định, nếu khi
nằm mơ thấy cảnh lạ hiện đều là tự tâm khởi, quyết
định chớ nghi, không phải ngoài tâm có cảnh. Nếu
mơ thấy ánh sáng như mặt trời tức là tập nghiệp còn
thừa sắp hết, tánh pháp giới hiện. Đó là điềm sẽ
thành Đạo, chỉ tự mình biết chẳng nên nói cho ai
nghe. Hoặc khi dong chơi trong vườn vắng lặng, đi
đứng nằm ngồi mắt thấy ánh sáng; hoặc trong đêm
tối cũng thấy ánh sáng như ban ngày, đừng có lấy
làm lạ, đều là tự tâm muốn hiển hiện. Hoặc nằm mơ
thấy trăng sao tỏ sáng; đó cũng là điềm các duyên
muốn dứt, cũng chớ nên nói cho ai nghe. Còn như
nằm mơ thấy đi trong tối tăm u-ám, đó cũng là tự
tâm phiền não chướng nặng cũng chỉ nên tự biết.
Nếu đã thấy tánh, chẳng cần phải đọc kinh niệm
Phật, học rộng biết nhiều vô ích, còn làm cho thần
thức lại tối thêm. Kinh giáo chỉ để nêu tâm nếu rõ
được tâm đâu cần phải xem kinh giáo. Nếu là từ
phàm vào thánh phải nên ngừng nghiệp dưỡng thần,
tùy phận qua ngày. Nếu là người nhiều sân nhuế
làm cho tánh sanh chướng đạo, tự gạt gẫm vô ích.
* Thánh nhơn ở trong sanh tử tự-tại hiện ẩn ra vào
chẳng định, tất-cả nghiệp-chướng hết thành vấn đề.
Hết thảy chúng-sanh chỉ cần thấy bổn-tánh là tậpnghiệp
liền dứt, thần-thức không bị mê; nhưng phải
là tức thì liền nhận.
* Nếu luống thật ngộ đạo thì đừng chấp tất-cả
pháp, ngừng nghiệp dưỡng thần thì dư tập cũng hết,
tự nhiên minh bạch không cần dụng công. Ngoại
đạo chẳng rõ ý Phật, dụng công rất nhiều mà vẫn
trái với ý thánh. Suốt ngày bo-bo niệm Phật tụng
kinh mà vẫn mê-muội bổn-tánh, chẳng khỏi luân
hồi. Phật là người rảnh rang, đâu cần chật-vật rộng
cầu danh lợi. Chỉ có người chẳng thấy tánh mới đọc
kinh niệm Phật, siêng học, sáu thời hành đạo; ngồi
hoài chẳng nằm, học rộng nghe nhiều và cho đó là
pháp Phật. Chúng-sanh như thế đều là người khinh
pháp. Phật trước Phật sau chỉ nói thấy tánh, các
hành động đều là vô thường. Nếu chẳng thấy tánh
mà vội cho rằng mình đã được đạo vô-thượng Bồ
Đề, đó là hạng tội nhơn lớn. – Muời vị đệ tử lớn của
Phật, ngài A-Nan là người học rộng bực nhứt mà
với Phật còn không biết, chỉ học rộng nghe nhiều.
Hết thảy nhị thừa ngoại-đạo đều không biết Phật,
chỉ biết đếm theo pháp tu chứng, bị đọa vào trong
nhân qủa, đó là chúng-sanh nghiệp-báo chẳng khỏi
sanh tử, trái với ý Phật rất xa, là kẻ khinh Phật đó!
Hạng chúng sanh ấy thuộc Nhứt-xiển-đề. Trong
kinh có nói: kẻ Nhứt-xiển-đề chẳng có lòng tin; nếu
có lòng tin thì người ấy là một vị Phật.
* Nếu chẳng thấy tánh, chớ nên bắt chước chê bai
những người lương thiện, tự dối gạt vô ích. Thiện ác
rõ ràng, nhân qủa phân minh, thiên đường địa ngục
chỉ ở trước mắt, người ngu chẳng biết hiện đọa vào
địa ngục tối-tăm cũng không hay
* Chỉ vì nghiệp nặng nên không thể tin, ví như
người mù chẳng tin người ta nói có ánh sáng, dẫu có
cắt nghĩa thế nào cũng không tin được, vì đã mù lấy
đâu mà phân biệt được sáng tối! Người ngu cũng
thế. Hiện tiền đã bị đọa vào súc-sanh tạp loại, chỉ ở
trong nghèo cùng hạ-tiện, cầu sống chẳng được, cầu
chết cũng chẳng được. Tuy thọ khổ như thế nhưng
dẫu có ai hỏi họ cũng tự gọi mình được yên vui.
Nên biết tất-cả chúng-sanh dẫu sanh vào chỗ vui
thật cũng không hay biết. Hạng người ác như thế,
chỉ vì nghiệp chướng quá nặng nên không thể phát
lòng tin, không tự do được. Nếu thấy được tự tâm là
Phật chớ không phải ở tướng bên ngoài, thì dẫu
bạch-y-cư-sĩ cũng vẫn là Phật. Nếu chẳng thấy tánh
dù có đầu tròn vai vuông cũng là ngoại-đạo.
* Hỏi: Cư-si còn vợ con dâm-dục làm sao thành
Phật được?
Đáp: Chỉ nói thấy tánh; chẳng bàn đến dâm-dục.
Chỉ vì chẳng thấy tánh. Miễn được thấy tánh thì
dâm-dục vốn tự rỗng lặng, tự nhiên dứt trừ, không
còn tham-đắm nữa. Dẫu cho dư tập hãy còn cũng
chẳng làm hại được. Vì sao thế? Vì tự tánh vốn nó
tự thanh-tịnh. Tuy ở trong sắc thân 5 uẩn, tánh nó
cũng vốn thanh tịnh không ô nhiễm. Pháp-thân bổn
lai không thọ, không đói, không khát, không lạnh
nóng, không bịnh hoạn, không ân ái, không quyến
thuộc, không khổ vui tốt xấu, không vắn dài mạnh
yếu, vốn không một vật có thể được. Chỉ vì cố-chấp
cái thân này nên mới có các tướng đói khát, lạnh
nóng, bịnh chướng v.v..
* Nếu chẳng chấp là được tự-tại. Nếu trong sanh tử
mà được tự-tại, chuyển trở lại các pháp, đừng để các
pháp chuyển, cũng như thánh-nhơn, thì ở đâu lại
không yên?
* Nếu tâm có chỗ nghi, quyết-định không thể tự-tại,
không khỏi sanh tử luân-hồi. Nếu thấy tánh thì dẫu
bần cùng hạ tiện, đồ-tể sát sanh cũng vẫn thành
Phật.
* Hỏi : Đồ tể làm nghiệp sát sanh làm sao thành
Phật được ?
Đáp : chỉ nói thấy tánh, chẳng nói tạo nghiệp. Dẫu
có tạo nghiệp thế nào, nghiệp cũng không thể trói
buộc được. Từ lũy kiếp đến giờ, chỉ vì chẳng thấy
tánh nên mới có trôi lăn sa-đọa vào địa ngục, sanhtử
; khi ngộ được bổn-tánh sẽ không tạo nghiệp nữa.
Nếu chẳng thấy tánh, niệm Phật để khỏi nhân qủa
cũng không thể được, không luận là sát-sanh.
* Nếu được thấy tánh, tâm sát liền trừ, nghiệp sát
cũng không thể trói buộc được. Nên chi 27 vị Tổ ở
Tây-Trúc chỉ truyền nhau tâm ấn. Nay ta đến cõi
này cũng chỉ truyền đốn-giáo đại-thừa chính tâm
mình là Phật, chớ chẳng nói đến giữ giới, tinh-tiến,
khổ-hạnh. Nhẫn đến vào nước vào lửa, leo lên
gươm đao, ăn một ngày một bữa, ngồi hoài chẳng
nằm, hết thảy những cái ấy đều là pháp hữu-vi
ngoại-đạo. Nếu rõ được cái tánh linh giác chính là
tánh Phật, Phật trước Phật sau chỉ nói truyền tâm
chớ không có pháp nào khác. Nếu rõ được tâm này,
dẫu phàm-phu không biết một chữ cũng vẫn là Phật,
nếu chẳng rõ tự-tánh linh-giác của mìng, dẫu cho
đem thân này tán ra tro bụi để tìm Phật rốt cũng
chẳng được gì.
* Phật cũng gọi là pháp-thân, cũng gọi là bổn-tâm.
Tâm này không hình tướng, không nhân qủa, không
gân cốt. Vốn như hư không, bắt chẳng được ; chớ
không phải như vật chất, không phải như ngoại đạo
nói. Tâm này chỉ trừ Như-Lai ra, hết thảy chúng
sanh đều mê muội, đều chẳng tỏ ngộ. Nhưng tâm
này không phải lìa cái thân vật-chất này. Nếu thân
tứ-đại này mà lìa tâm là không có sự sống, làm sao
có biết ! Nhẫn đến nói năng vận-động, thấy nghe
hay biết đều là cái động-dụng của tâm. Động là tâm
động, dụng là tâm dụng. Ngoài động-dụng không
tâm, ngoài tâm không động-dụng. Động chẳng lìa
tâm, tâm chẳng lìa động. Lìa động không tâm, lìa
tâm không động. Động là tâm dụng, dụng là tâm
động. Động tức tâm dụng, dụng tức tâm động. –
Chẳng động, chẳng dụng, dụng và thể vốn không,
không vốn không động. Động dụng do tâm, tâm vốn
không động. – Nên kinh nói : « động nhưng không
chỗ động. Suốt ngày đi đến nhưng chưa từng đi đến.
Suốt ngày thấy nhưng chưa từng thấy, suốt ngày
cười nhưng chưa từng cười, suốt ngày nghe nhưng
chưa từng nghe, suốt ngày biết nhưng chưa từng
biết, suốt ngày mừng nhưng chưa từng mừng, suốt
ngày đi nhưng chưa từng đi, suốt ngày đứng nhưng
chưa từng đứng. » Nên kinh nói « bặt đường nói
năng dứt hết nơi chỗ, thấy nghe hay biết vốn tự tròn
vắng, nhẫn đến giận mừng, đau ngứa nào khác
người gỗ, chỉ vì suy tìm cái đau ngứa không thể
được. » Nên kinh nói « nghiệp ác thì được báo khổ,
nghiệp thiện thì được báo vui. » Chớ không phải chỉ
sân bị đọa địa-ngục, mừng được sanh thiên. Nếu rõ
được cái tánh mừng giận vốn không, chỉ đừng chấp
nghiệp là giải-thoát. Nếu chẳng thấy tánh, giảng
kinh quyết không bằng cứ. Nói không sao hết, chỉ
đại-lược tà chánh đôi điều mà thôi.
Tụng rằng :
Tâm tâm tâm không thể tìm
Rộng cùng khắp pháp giới,
Hẹp chẳng chứa đầu kim
Ta vốn cầu tâm chẳng cầu Phật
Biết rõ ba cõi rỗng không vật
Nếu muốn cầu Phật chỉ cầu tâm
Chỉ tâm này, tâm này mới là Phật
*
***
Ta vốn cầu tâm, tâm tự trì
Cầu tâm chẳng được, tự tâm hay.
Tánh Phật chẳng từ ngoài tâm được
Tâm sanh là lúc tội sanh rồi.
Kệ rằng :
Ta vốn đến cõi thế này
Truyền pháp cứu mê tình
Một hoa nở năm cánh
Kết-qủa tự nhiên thành
THIÊN THỨ HAI
LUẬN NGỘ TÁNH
CHÁNH VĂN:
*Vã chăng Đạo là lấy vắng lặng làm thể. Tu là lìa
tướng làm tông.
* Nên kinh nói: Vắng-lặng là Bồ-đề, vì dứt hết các
tướng. Phật nghĩa là giác. Người có tâm giác được
Đạo Bồ-đề nên gọi là Phật. Kinh nói: Lìa tất cả các
tướng là danh hiệu chư Phật.
* Thế mới biết: Có tướng là tướng mà không tướng.
* Không thể dùng mắt thấy, chỉ có thể dùng trí biết.
Ai nghe pháp này mà sanh một niệm lòng tin, phải
biết người đó đã phát tâm đại-thừa, siêu 3 cõi. Ba
cõi tức là tham, sân, si. Đổi tham, sân, si ra thành
giới, định, huệ – tức gọi là siêu ba cõi.
* Nhưng tánh của tham, sân, si cũng không thật, chỉ
tùy-thuận chúng sanh mà nói vậy thôi. Nếu ai có thể
soi trở vào trong thì thấy rõ tánh của tham sân si tức
là tánh Phật. Ngoài tham sân si không có tánh Phật
nào khác.
* Kinh nói: chư Phật từ xưa đến nay thường ở trong
3 độc để nuôi lớn pháp giải thoát mà thành Thế-
Tôn. Ba độc là tham sân si đó.
* Nói đại-thừa, tối thượng-thừa đều là nói chỗ sở-
hành của Bồ-Tát. Không chỗ thừa, không chỗ chẳng
thừa. Suốt ngày thừa mà chưa từng thừa, đó là Phật
thừa.
* Kinh nói: “Không thừa là Phật thừa đó”. Nếu ai
biết được 6 căn không thật, 5 uẩn giả danh, khắp
thân tìm cầu hết thảy đều không có chỗ nhất định.
Phải biết người đó rõ được nghĩa Phật nói.
* Kinh nói: Hang ổ của 5 uẩn là Thiển-viện. Soi trở
vào trong được tỏ ngộ là môn đại-thừa. Há chẳng rõ
lắm sao! Chẳng chứa tất-cả pháp gọi là Thiền-định.
Nếu rõ được câu này thì đi đứng nằm ngồi đều là
Thiền-định.
* Biết tâm là “không”, gọi là thấy Phật. Vì sao thế?
– Vì mười phương chư Phật đều là vô tâm.
* Chẳng thấy tâm gọi là thấy Phật
* Lìa chấp thân chẳng tiếc gọi là đại bố thí.
* Lìa các động, tịnh gọi là đại toạ thiền.
* Vì sao thế? – Vì phàm phu một niềm chấp động,
tiểu thừa một niềm chấp định. Nếu vượt khỏi cái tọa
thiền của tiểu thừa và phàm phu thì gọi là đại tọa
thiền. Nếu nhận được như thế thì tất cả các tướng
chẳng tìm cũng tự rõ, tất cả các bịnh chẳng trị cũng
tự khỏi. Đó là nhờ sức đại thiền định.
* Phàm ai đem tâm mà cầu pháp đều là mê, chẳng
đem tâm cầu pháp là ngộ.
* Chẳng đắm chấp văn tự gọi là giải thoát. Chẳng
nhiễm 6 trần gọi là hộ pháp. Lìa khỏi sanh tử gọi là
xuất gia. Chẳng thọ báo sau này gọi là đắc Đạo.
* Chẳng sanh vọng tưởng gọi là Niết Bàn.
Chẳng kẹt trong vô minh gọi là đại trí tuệ.
* Đến chỗ không phiền não gọi là Bát Niết Bàn.
Đến chỗ không có tướng tâm gọi là qua bờ bên kia.
Khi mê thì có bờ bên đây. Khi ngộ rồi thì bờ bên
đây cũng không có.
* Vì sao thế? – Vì phàm phu một niềm chấp bên
đây, nếu tỏ ngộ được pháp tối thượng thừa thì tâm
chẳng trụ bên đây cũng chẳng qua bên kia, nên lìa
được cả đây kia vậy.
* Nếu thấy bờ bên kia chẳng khác hơn bờ bên đây,
cái tâm của người ấy đã được cái định vô thiền.
* Phiền não gọi là chúng sanh, tỏ ngộ gọi là Bồ đề,
cũng chẳng một chẳng khác, chỉ khác nhau ở mê
ngộ.
* Khi mê có thế gian để ra khỏi, khi ngộ không có
thế gian để ra. Trong pháp bình đẳng chẳng thấy
phàm phu khác với thánh nhơn.
* Kinh nói: pháp bình đẳng nghĩa là phàm phu
không thể nhập, nhị thừa không thể hành. Chỉ có
bực đại Bồ Tát và chư Phật Như Lai có thể hành mà
thôi.
* Nếu thấy sanh khác với tử, động khác với tĩnh đều
gọi là chẳng bình đẳng.
* Chẳng thấy phiền não khác với Niết Bàn, thế mới
gọi là bình đẳng.
* Vì sao thế? Vì phiền não và Niết Bàn cùng một
tánh không. Cho nên người nhị thừa vọng dứt trừ
phiền não, vọng nhập Niết Bàn, tự tạo Niết Bàn để
trói buộc. Còn Bồ Tát biết được tánh phiền não vốn
không, nên chẳng lìa không, thường ở Niết Bàn.
Niết Bàn nghĩa là khơi mà chẳng sanh, tịch mà
chẳng chết, vượt khỏi sanh tử là bát Niết Bàn. Tâm
không có đi và đến là nhập Niết Bàn. Thế mới biết
Niết Bàn tức là tâm không.
* Chư Phật nhập Niết Bàn là ở chỗ không vọng
tưởng, Bồ tát vào đạo tràng là không tham sân si
vậy. Tham là cõi dục, sân là cõi sắc, si là cõi vô sắc.
* Nếu một niệm tâm sanh liền vào 3 cõi, một niệm
tâm diệt là ra 3 cõi.
* Thế mới biết : 3 cõi sanh diệt, vạn pháp có không
đều do một tâm. Phàm nói một pháp là cũng giống
như đập ngói gạch, chẻ tre gỗ vô tình.
* Nếu biết được tâm chỉ là giả danh tạm gọi chớ
không có tướng, thì liền biết cái tâm của tự mình
cũng không phải có không phải không.
* Vì sao thế ? – Vì phàm phu một niệm sanh tâm
gọi là có, tiểu thừa một niệm diệt tâm gọi là không.
Còn Bồ Tát và Phật chưa từng sanh tâm cũng chưa
từng diệt tâm, cho nên gọi không phải có không
phải không. Chỗ này cũng gọi là Trung đạo.
* Thế mới biết: chấp tâm học pháp thì cả tâm lẫn
pháp đều mê. Đừng chấp tâm mà học pháp thì cả
tâm và pháp đều ngộ.
* Phàm mê nghĩa là mê ở trong ngộ, ngộ là ngộ ở
trong mê..
* Con người chánh kiến biết được tâm vốn rỗng
không liền siêu mê ngộ.
* Như thế mới gọi là thấy biết đúng. Sắc chẳng tự
sắc, do tâm nên có sắc.
* Tâm chẳng tự tâm, do sắc nên có tâm.
* Thế mới biết tâm và sắc, cả hai cùng nương nhau
sanh diệt.
* Có là có ở trong không. Không là không ở trong
có. Thế gọi là thấy đúng.
* Vả chăng, nếu thật thấy là không chỗ chẳng thấy,
cũng không chỗ thấy.
* Tuy thấy khắp muời phương, nhưng chưa từng có
thấy. Vì sao thế ? – Vì không chỗ thấy, vì thấy được
cái không thấy, vì thấy không phải thấy.
* Cái mà phàm phu gọi là thấy ấy đều là vọng tưởng
cả.
* Nếu vắng lặng không chỗ thấy mới gọi là thấy
thật.
* Tâm và cảnh đối nhau, cái thấy trong đó phát sanh
* Nếu trong chẳng khởi tâm thì ngoài chẳng sanh
cảnh, cảnh và tâm đều vắng lặng, như thế mới gọi là
thấy thật.
* Chẳng thấy tất cả pháp mới gọi là được Đạo.
Chẳng biết tất cả pháp mới gọi là tỏ pháp.
* Vì sao thế? – Vì thấy và chẳng thấy đều là chẳng
thấy
* Hiểu cùng chẳng hiểu đều là chẳng hiểu. Cái thấy
không phải thấy mới gọi là thật thấy. Cái hiểu
không không hiểu mới gọi là hiểu rộng lớn.
* Vả chăng, thấy đúng nghĩa là không phải cái thấy
có thấy mà là cái thấy trong không thấy. Thật hiểu
nghĩa là không phải cái hiểu trong có tướng, mà là
cái hiểu trong không có tướng. Phàm hễ có cái bị
biết đều gọi là chẳng biết. Không có cái bị biết mới
gọi là thật biết. Biết cùng chẳng biết đều không phải
biết. Kinh nói chẳng bỏ trí tuệ gọi là ngu si. Nếu
tâm là không, hiểu cùng chẳng hiểu đều là thật cả.
Nếu tâm là có, hiểu cùng chẳng hiểu đều là vọng.
* Nếu tỏ ngộ thì pháp theo người. Nếu chẳng tỏ ngộ
thì người theo pháp.
* Nếu pháp theo người thì phi pháp trở thành pháp,
hết thảy pháp đều chơn. Nếu người theo pháp thì
pháp trở thành phi pháp, hết thảy pháp đều trở thành
vọng.
* Cho nên thánh nhơn chẳng đem tâm mà cầu pháp,
cũng chẳng đem pháp mà cầu tâm, cũng chẳng đem
tâm mà cầu tâm, đem pháp mà cầu pháp. Cho nên
tâm chẳng sanh pháp, pháp chẳng sanh tâm. Tâm
pháp đều vắng lặng nên thường ở trong định.
* Tâm chúng sanh sanh thì pháp Phật diệt. Tâm
chúng sanh diệt thì pháp Phật sanh.
* Nếu đã biết tất-cả pháp đều chẳng có tự tánh
riêng, thế gọi là người có Đạo. Biết tâm chẳng thuộc
về của riêng của các pháp – Đó là người thường ở
Đạo tràng.
* Khi mê có tội, ngộ rồi không tội. Vì sao thế ? Vì
tánh tội vốn không.
* Kinh nói: các Phật pháp không có tự tánh riêng,
thật dụng chớ nghi, nghi liền thành tội.
* Vì sao thế ? – Vì tội do nghi hoặc mà sanh.
* Khi mê thì 6 thức 5 ấm đều là pháp phiền não
sanh tử. Khi ngộ thì 6 thức 5 ấm đều là pháp Niết-
Bàn không sanh tử.
* Người học Đạo chớ nên tìm Đạo ở ngoài. Vì sao
thế ? – Vì biết tâm là Đạo.
* Nếu khi được tâm, không có tâm có thể được. Nếu
khi được Đạo, không có Đạo có thể được.
* Nếu nói đem tâm cầu Đạo mà được, thì gọi là tà
kiến.
* Khi mê có Phật có pháp. Khi ngộ không Phật
không pháp.
* Vì sao thế ? Vì ngộ tức là Phật, là pháp. Vả chăng
tu nghĩa là diệt cái thấy có thân riêng thì Đạo thành.
Cũng như hột giống nứt vỏ thì cây nẩy mầm.
* Cái thân sanh tử nghiệp báo luôn luôn vô thường;
là pháp không nhất định, chỉ tùy niệm mà tu, cũng
không nên chán sanh tử hay thích sanh tử.
* Chỉ làm sao trong tâm luôn luôn đừng vọng tưởng
thì khi sống nhập được hữu dư Niết-Bàn, khi chết
vào được vô-sanh pháp nhẫn.
* Khi mắt thấy sắc chẳng nhiễm sắc, tai nghe tiếng
chẳng nhiễm tiếng thì đều là giải thoát.
* Mắt chẳng đắm sắc thì mắt là cửa lễ, tai cũng vậy.
* Nói tóm lại, khi thấy sắc mà thấy được đến tánh
của sắc thì không nhiễm, thường giải thoát.
* Nếu mắc kẹt ở tướng của sắc là thường bị trói
buộc. Nếu chẳng bị phiền não trói buộc thì gọi là
giải thoát, chớ không có giải thoát nào khác hơn.
* Người khéo quán sắc, sắc chẳng sanh tâm, tâm
chẳng sanh sắc, thì sắc và tâm đều thanh tịnh
* Khi không vọng tưởng thì một tâm là một cõi
Phật. Khi vọng tưởng khởi thì một tâm là một cõi
địa ngục.
* Chúng sanh làm ra vọng tưởng, lấy tâm sanh tâm
nên thường ở địa ngục. Bồ-Tát quán sát vọng tưởng
chẳng lấy tâm sanh tâm, nên thường ở cõi Phật. Nếu
chẳng lấy tâm sanh tâm thì tâm tâm đều nhập vào
không, niệm niệm đều qui về tịnh, từ một cõi Phật
đến một cõi Phật. Nếu lấy tâm sanh tâm thì tâm tâm
đều chẳng tịnh, niệm niệm đều qui về động, từ một
địa ngục qua một địa ngục. Khi một niệm khởi thì
liền có 2 nghiệp thiện ác, có thiên đường địa ngục.
Nếu một niệm tâm chẳng khởi thì hai nghiệp đều
dứt, thiên đường địa ngục cũng không.
* Vì “Thể” vốn không phải có, không phải không. Ở
phàm là có, ở thánh là không.
* Thánh nhơn nhờ tâm ‘không’ nên trong lòng rỗng
rang, cùng trời đất đồng lượng.
* Đây đều là chúng trong đại đạo, không phải cảnh
giới của tiểu thừa và phàm phu. Khi tâm được Niết-
Bàn cũng không thấy có Niết-Bàn có thể được. Vì
sao thế ? – Vì tâm là Niết-Bàn. Nếu ngoài tâm còn
thấy có Niết-Bàn, thế gọi là đã nhiễm tà kiến.
* Phải biết tất-cả phiền não đều là hột giống tâm của
Như-Lai ; vì nhờ có phiền não mà được trí huệ.
* Chỉ có thể nói phiền não sanh Như-Lai, nhưng
không thể nói phiền não là Như-Lai. Nên tự tâm là
ruộng nương, phiền não là hột giống, trí tuệ là nẩy
mầm ; còn Như-Lai để dụ như kết qủa lúa thóc.
* Phật ở trong tâm như hương trong cây, giác mục
hết rồi thì lõi hương tự hiện ; phiền não hết rồi thì
Phật tâm tự hiện cũng như vậy.
* Cho nên biết ngoài cây không hương, ngoài tâm
không Phật. Nếu ngoài cây có hương tức là hương
chỗ khác, ngoài tâm có Phật tức là Phật từ ngoài ; là
không phải Phật.
* Trong lòng chứa 3 độc là cõi uế, trong lòng không
3 độc là cõi tịnh. Kinh nói : nếu cõi nước dơ bẩn ác
độc đầy dẫy mà muốn chư Phật xuất hiện thì không
thể có bao giờ ; mà dơ bẩn ác độc là tham sân si mê
muội đó.
* Chư Phật Thế-Tôn chính là cái tâm giác ngộ. Nếu
giác ngộ thì tất-cả nói năng đều là pháp Phật. Nếu
không nói mà nói thì suốt ngày nói đều là Đạo.
* Nếu chấp nói năng thì dầu suốt ngày nín thinh
cũng là phi Đạo.
* Cho nên Như-Lai nói mà không trái với nín, nín
chẳng trái với nói ; nói nín không lìa. Nếu ngộ được
nghĩa nói và nín đây là vào được chánh định. Nếu
nói đúng lúc, nói cũng là giải thoát. Nếu chẳng phải
lúc dẫu nín cũng là trói buộc. Cho nên nói cũng lìa
tướng, nói cũng là giải thoát. Nếu chấp tướng dẫu
nín cũng là trói buộc. – Vả chăng bổn tánh vốn giải
thoát văn tự không thể đến trói buộc được. Pháp
không cao thấp, nếu thấy có cao thấp là không phải
pháp rồi.
* Phi pháp là đò, pháp là người. Người nương đò để
qua sông thì phi pháp tức là pháp. – Nói theo thế tục
thì có nam nữ sang hèn, theo Đạo thì không có nam
nữ sang hèn. Cho nên Thiên nữ ngộ Đạo chẳng đổi
thân nữ, nữ Xa-Nặc thức tỉnh chẳng đổi danh xưng.
* Như thế không phải sang hèn nam nữ đều từ một
tướng đó sao ? ! Thiên-nữ suốt 12 năm tìm tướng nữ
cứu cánh không thể được, thì biết suốt 12 năm tìm
tướng nam cũng không thể được.
* Cái nghĩa 12 năm là 6 căn 6 trần đó. Lìa tâm
không Phật, lìa Phật không tâm. Cũng như lìa nước
không giá, lìa giá không nước.
* Phàm nói lià tâm không phải là nói chạy trốn cái
tâm. Chỉ nói đừng chấp ở phần tướng của tâm mà
thôi. Kinh nói : Chẳng thấy tướng gọi là thấy Phật,
tức là lìa tướng tâm đó. Nói lìa Phật không tâm
nghĩa là nói Phật từ tâm hiện, tâm có thể sanh Phật.
Phật tuy từ tâm sanh, nhưng tâm chưa từng sanh ra
Phật. Cũng như cá sanh ra từ nước chớ không phải
nước đẻ ra cá. Muốn xem cá, chưa thấy cá đã thấy
nước. Muốn quán Phật, chưa thấy Phật đã thấy tâm.
Thế mới biết khi thấy cá là quên nước, khi thấy Phật
là quên tâm. Nếu chẳng quên tâm là còn bị tâm mê
hoặc.
* Chúng sanh với Bồ-Đề cũng như giá với nước. Bị
3 độc làm rối loạn thì gọi là chúng sanh, được 3 giải
thoát thanh tịnh thì gọi là Bồ-Đề. Cũng như nước bị
mùa Đông làm đặc lại thì gọi là giá, bị mùa Hạ làm
lỏng ra thì gọi là nước. Nếu bỏ giá đi thì không có
nước nào khác, nếu bỏ chúng sanh đi cũng không có
Bồ-Đề nào khác.
* Nên biết tánh giá là tánh nước; tánh nước là tánh
giá. Tánh chúng sanh là tánh Bồ-Đề, chúng sanh và
Bồ-Đề đồng một thể tánh cũng như Ô-Đầu và Phụ-
Tử cùng một gốc, chỉ vì thời tiết chẳng đồng. Mê
ngộ khác cảnh nên có 2 tên chúng sanh và Bồ-Đề.
* Cho nên rắn hóa làm rồng mà chẳng đổi vảy,
phàm biến làm thánh mà chẳng đổi mặt, chỉ người
biết tâm thì trí soi trở vào trong, biết thân thì giới
giữ bên ngoài.
* Chúng sanh độ Phật, Phật độ chúng sanh, thế gọi
là Bình đẳng. Chúng sanh độ Phật nghĩa là nhờ
phiền não sanh tỏ ngộ; Phật độ chúng sanh nghĩa là
tỏ ngộ rồi diệt phiền-não. Thế mới biết không phiềnnão
không tỏ ngộ. Thế mới biết không phải phiềnnão
không lấy đâu sanh tỏ ngộ, không phải thức tỉnh
không lấy đâu diệt phiền-não. Khi mê là chúng sanh
độ Phật, khi ngộ là Phật độ chúng sanh. Vì sao thế?
Vì Phật chằng tự thành, đều do chúng sanh độ cả.
Chư Phật lấy vô minh làm cha, tham ái làm mẹ. Vô
minh và tham ái đều là biệt danh của chúng sanh.
Chúng sanh và vô minh cũng như tay trái và tay
phải chớ không phải 2 người.
* Khi mê là mắc kẹt bờ bên đây, khi ngộ là qua
được bờ bên kia. Nếu biết tâm không, chẳng chấp
tướng thì lìa mê ngộ, đã lìa mê ngộ thì không có bên
đây bên kia nữa. Như-Lai chẳng ở bên đây cũng
chẳng ở bên kia, chẳng ở giữa dòng. Vì sao thế? Vì
ở giữa dòng là Tiểu-Thừa, ở bên đây là phàm phu,
bên kia nghĩa là Bồ-Đề.
* Phật có 3 thân là hóa thân, báo thân và pháp thân.
Hóa thân cũng gọi là ứng thân ; Nếu chúng sanh
thường làm điều thiện tức là hóa thân. Khi hiện tu
trí huệ là báo thân. Hiện giác vô vi là pháp thân.
Thường hiện 10 phương, tùy nghi cứu tế, đó là hóa
thân Phật. Nếu dứt mê hoặc tức là Tuyết-Sơn thành
đạo là báo thân Phật. Không nói không năng, không
làm không được, rỗng lặng thường trụ là pháp thân
Phật. Nếu luận chí lý một Phật còn không có thay
làm gì có ba ! Nói có 3 là y cứ theo trí người đời
mà nói, người có 3 bực : người bực hạ trí vọng cầu
phước lực, vọng thấy hóa thân Phật.
* Người bực trung trí vọng dứt phiền não, vọng thấy
báo thân Phật.
* Người bực thượng trí vọng chứng Bồ-Đề, vọng
thấy pháp thân Phật. Người bực thượng-thượng trí
soi trở vào trong tròn lặng tỏ tánh là Phật, chẳng đợi
trừ tâm mà được trí Phật. Biết 3 thân và vạn pháp
đều không thể chấp, không thể nói.
* Đó là tâm giải thoát viên thành đạo cả Kinh nói :
Phật chẳng thuyết pháp, chẳng độ chúng sanh,
chẳng chứng Bồ-Đề là nghĩa thế.
* Chúng sanh tạo nghiệp, nghiệp chẳng tạo chúng
sanh. Đời này tạo nghiệp, đời sau thọ báo, quyết
định không sai. Chỉ có bực chí nhơn nơi thân này
chẳng tạo các nghiệp nên chẳng thọ báo. Kinh nói:
chẳng tạo các nghiệp tự nhiên được Đạo, há chẳng
đúng sao ?! Người hay tạo nghiệp, nghiệp chẳng
hay tạo người. Người nếu tạo nghiệp, nghiệp và
người cùng sanh. Người nếu chẳng tạo nghiệp,
nghiệp và người đều dứt. Thế mới biết nghiệp do
người tạo, người theo nghiệp sanh. Nếu người
chẳng tạo nghiệp, thì nghiệp không theo mà sanh
người. Cũng như người hay hoằng Đạo, Đạo chẳng
hay hoằng người. Phàm phu đời nay thường tạo
nghiệp, vọng nói không báo, há phải không khổ đâu
! Nếu luận chí lý thì tâm trước tạo, tâm sau thọ báo
làm sao thoát được !.
* Nếu tâm trước chẳng tạo thì tâm sau chẳng thọ
báo thì lấy đâu vọng thấy nghiệp báo. Kinh nói : ai
tin có Phật mà nói Phật có khổ hạnh, đó là tà kiến;
nói Phật bị quả báo cây thương vàng và ăn lúa ngựa,
đó gọi là đức tin chẳng đủ, gọi là Nhất-xiển-đề.
Ai tỏ được pháp thánh thì gọi là thánh nhơn, tỏ pháp
phàm thì gọi là phàm phu. Chỉ có thể bỏ pháp phàm
theo pháp thánh, là phàm phu thành thánh vậy. Thế
gian ngu mê, chỉ muốn cầu làm thánh nhơn mà
chẳng tin cái tâm tỏ ngộ là thánh nhơn. Kinh nói :
những kẻ không trí đừng cho nghe kinh này. Kinh
nói : “tâm là pháp”. Người không trí chẳng tin tâm
tỏ ngộ pháp trở thành thánh nhơn ; nên chỉ muốn
tìm cầu bên ngoài, ngưỡng mộ hình tượng màu sắc
v.v.. đều bị đọa vào tà kiến, tâm sanh cuồng loạn.
* Kinh nói : “nếu thấy các tướng không phải tướng
là thấy Như-Lai.” Tám muôn bốn ngàn pháp môn
đều do tâm khởi; nếu tướng tâm thanh tịnh như hư
không liền thoát ly thân tâm vậy. Tám muôn bốn
ngàn phiền não là căn bịnh. Phàm phu khi sống lại
lo chết, khi no lại lo đói, đều gọi là đại mê hoặc.
* Cho nên thánh nhơn chẳng lo trước, chẳng nghĩ
sau, không đắm hiện tại, niệm niệm đều qui Đạo
* Nếu ai chưa ngộ được lý này, thì nên sớm tìm
đường lành trời người, đừng để mất hết cả hai.
* Đêm ngồi kệ rằng :
Canh một ngồi ngay bắt kiết già,
Tĩnh thần lặng chiếu rỗng đồng hư.
Lũy kiếp đến nay không sanh diệt,
Đâu cần sanh diệt diệt Vô-Dư.
Vạn pháp chung qui đều như huyễn
Bổn tâm tự rỗng đâu dụng trừ
Nếu biết tâm tánh phi hình tượng,
Lặng yên chẳng động tự chơn như
*
Canh hai thần lắng chuyển suốt trong
Chẳng khởi ước mơ, chỉ một lòng
Sum-la vạn tượng đều qui Đạo,
Há chấp có không để bịnh chung !
Các pháp bổn lai không Không Có,
Phàm phu vọng tưởng luận cuồng ngông
Nếu tâm chẳng khởi sanh hai pháp,
Còn nói làm chi thánh khác phàm !
*
Canh ba lòng lặng tợ hư không,
Trùm khắp mười phương đều suốt thông
Núi sông ghềnh đá không sao chướng,
Hằng sa thế-giới sẵn ở trong.
Thế giới chơn như cùng bổn-tánh
Cũng không không tánh tức dung thông
Phải đâu chư Phật là như thết,
Hữu tình muôn loại thảy đều đồng.
*
Canh tư không diệt không sanh,
Hư-không pháp-giới đẳng bình như nhau
Đến đi khởi diệt được nào
Có không sáng tối làm sao tỏ tường
Không thấy là cái thấy Thế-Tôn.
Không tên không được là tên Phật mình
Ai có tỏ ngộ biết liền
Chúng sanh mê-muội còn nguyên đui-mù
*
Canh năm Bát-Nhã chiếu vô biên,
Một niệm chẳng khởi ba ngàn suốt qua.
Chơn như bình đẳng muốn thấy là ….
Tịnh tâm không loạn trước mắt ta hiện liền.
Đạo mầu tâm khó suy lường
Chớ nên tìm kiếm cho thêm mệt thần.
Nếu hay vô niệm là chơn,
Tìm cầu càng cách hết đường thấy nghe.
*
* * *
THIÊN THỨ BA
LUẬN PHÁ TƯỚNG
* Luận rằng : Ví có người hỏi : Nếu muốn cầu Đạo
phải tu cách nào cho đưọc chóng tắt nhất ? Đáp: chỉ
có pháp quán tâm nhiếp hết các pháp là chóng tắt
nhất.
* Hỏi: Vì sao mà một pháp nhiếp được hết các
pháp?
Đáp: Vì tâm là nguồn cội của vạn pháp, hết thảy
pháp đều từ tâm sanh. Nếu tỏ được tâm thì vạn pháp
đều đủ. Cũng như cây to, cành lá hoa qủa sum sê
đều từ gốc cả. Khi trồng cây phải chú ý săn sóc ở
gốc cây thì cây mới được sanh sôi. Đốn cây cũng cứ
đốn ở gốc thì toàn thân cây đều chết. Nếu tỏ tâm mà
tu thì dụng lực ít mà thành công dễ ; chẳng tỏ tâm
mà tu phí công vô ích. – Nên biết tất cả thiện ác đều
từ tâm, lìa tâm mà tìm Đạo là việc luống công.
* Hỏi : Vì sao quán tâm gọi là cứu cánh ? Đáp : Bực
đại Bồ-Tát khi thâm nhập vào pháp đại-trí-huệ, biết
được tứ đại vỗn rỗng không vô ngã.
* Thấy được tự tâm khởi dụng có hai mặt khác nhau
: một là tâm nhiễm, hai là tâm tịnh. Hai mặt tâm
pháp này tự nhiên vốn đầy đủ.
* Tuy nhờ duyên hợp, nhưng hai tướng vẫn làm
nhân đối đãi lẫn nhau. Tâm tịnh thích làm nhân
lành, tâm nhiễm thường ưa nghiệp ác. Nếu chẳng
thọ nhiễm thì gọi là thánh, thoát ly các khổ, chứng
cái thật vui.
* Nếu đọa vào tâm nhiễm thì tạo nghiệp, chịu trói
buộc; gọi là phàm, trôi lăn trong ba cõi, chịu muôn
điều thống khổ.
* Vì sao thế ? Vì tâm nhiễm trái chướng với thể
chơn như.
* Nên kinh Thập-Địa nói : Trong thân chúng sanh
có tánh Phật Kim-Cang tròn sáng như mặt trời, rộng
lớn không bờ mé. Vì bị mây 5 ấm che khuất như
đèn bị chậu úp, sáng không hiện được.
* Lại trong kinh Niết-Bàn có nói : hết thảy chúng
sanh đều có tánh Phật, vì bị vô minh che khuất nên
chẳng được giải thoát, tánh Phật tức là tánh giác đó
! Chỉ tự giác và làm cho kẻ khác giác ngộ. Giác ngộ
rõ suốt thì gọi là giải thoát.
* Nên biết tất-cả việc thiện đều lấy giác làm gốc.
Nhờ giác mới có thể hiển hiện các cội công đức, qủa
Niết-Bàn cũng nhân đây mà thành tựu. Quán tâm
như thế có thể gọi là “liễu”.
* Hỏi : Như trên đã nói, tánh Phật chơn như, tất-cả
công đức đều nương nơi giác làm gốc, chằng hay
cái tâm vô minh lấy đâu làm gốc ?
Đáp : Cái tâm vô minh tuy có 84,000 phiền-não tình
dục và hà sa các điều ác đều nhân 3 độc làm gốc, 3
độc là tham sân si đó. Cái tâm 3 độc này tự nó đủ tất
cả khả năng làm ác cũng như cội cây to tuy chỉ có
một, nhưng có biết bao cành lá. Căn cội của 3 độc,
trong mỗi một cái rễ sanh ra các nghiệp ác vô lượng
vô biên không thể tỷ dụ. Tâm ba độc như thế từ
trong bản thể ứng hiện ra 6 căn, cũng gọi là 6 kẻ
giặc, tức là 6 thức đó !
* Do 6 thức này ra vào các căn tham đắm trần cảnh,
tạo thành nghiệp ác trái chướng với chơn thể, nên
gọi là 6 kẻ giặc.
* Tất cả chúng sanh đều bị ba độc 6 kẻ giặc này làm
mê loạn thân tâm, chìm đắm trong sanh tử, luân hồi
trong 6 nẻo chịu các điều đau khổ.
* Cũng như sông rộng mênh mông, bắt nguồn từ
khe suối nhỏ chảy mãi không ngừng, lần ra đến
sóng cuộn ba đào, mịt mờ muôn dặm. Nếu có người
lấp được tận nguồn thì dòng suối đều dứt. Người
cầu giải thoát nếu có thể chuyển 3 độc làm 3 tu tịnh
giới, chuyển 6 kẻ giặc làm 6 Ba-la-Mật tự nhiên lìa
dứt tất-cả nghiệp khổ.
* Hỏi : Sáu nẻo 3 cõi rộng lớn mênh mông, nếu chỉ
quán tâm làm sao thoát khỏi biển khổ vô cùng ?
* Đáp: ba cõi nghiệp báo chỉ từ tâm sanh, nếu được
vô tâm, tuy ở trong 3 cõi nhưng liền thoát ly 3 cõi.
* Ba cõi tức là 3 độc đó. Tham là cõi dục, sân là cõi
sắc, si là cõi vô sắc, nên gọi là 3 cõi. Từ 3 độc này
tạo nghiệp nặng nhẹ, thọ báo chẳng đồng, chia ra 6
nẻo nên gọi là 6 thú.
Hỏi : Sao gọi là nhẹ nặng chia làm 6 nẻo ?
Đáp : Chúng sanh chẳng rõ nhân chánh, quên tâm
tu nghiệp thiện vẫn chưa ra khỏi 3 cõi, sanh về 3
nẻo nhẹ.
* Hỏi: Sao gọi là 3 nẻo nhẹ ?
Đáp: Là vì mê lầm lo tu 10 điều thiện, vọng cầu
khoái lạc chưa khỏi cõi tham, sanh về đường trời.
Mê giữ 5 giới, vọng khởi ghét yêu, chưa khỏi cõi
sân nên sanh về đường người. Mê chấp theo hữu vi,
tin tà cầu phước, chưa khỏi cõi si, nên sanh về nẻo
A-Tu-La. Ba loại như thế gọi là đường nhẹ.
Hỏi : Sao gọi là 3 đường nặng ?
Đáp : Nghĩa là từ tâm 3 độc, chỉ tạo nghiệp ác bị
đọa vào 3 đường nặng. Nếu nghiệp tham nặng thì
đọa vào đường ngạ quỉ, nghiệp sân nặng thì đọa vào
đường địa ngục, nghiệp si nặng thì đọa vào đường
súc sanh.
* Ba đường nặng này thông đồng với ba đường nhẹ,
cộng thành sáu đường. Nên biết tất-cả nghiệp khổ
đều từ tâm sanh. Nếu có thể nhiếp tâm, lìa các tà ác
thì cái khổ trong 3 cõi 6 đường tự nhiên tiêu diệt ;
lìa khổ là được giải thoát.
Hỏi: Như chỗ Phật nói : Ta ở trong 3 vô lượng kiếp
tu vô lượng khó nhọc nay mới thành Phật ; đây ngài
chỉ nói quán tâm, chế ngự 3 độc thì gọi là giải thoát
là tại làm sao ?
Đáp: Lời Phật nói thật không ngoa. Ba vô lượng
kiếp tức là 3 độc đó. Trong cái tâm 3 độc này có vô
số niệm ác, trong mỗi niệm đều là một kiếp cho nên
nói 3 vô số kiếp.
* Tánh chơn như đã bị 3 độc chất che khuất, nếu
chẳng siêu cái tâm có 3 vô lượng ác độc ấy thì làm
sao gọi là giải thoát ! Nay nếu có thể chuyển cái tâm
3 độc này làm 3 giải thoát, thế gọi là đã vượt qua
được 3 vô lượng vô số kiếp. Chúng sanh đời sau
ngu si căn độn, chẳng rõ cách nói bí mật của Như-
Lai bèn cho rằng việc thành Phật không thể tin
được. Như thế há chẳng là làm cho người tu nghi
lầm thối chuyển đạo Bồ-Đề đó sao !
* Hỏi : Bực đại Bồ-Tát do giữ 3 tụ tịnh giới, 6 Ba-
La-Mật mới được thành Phật. Nay ngài bảo người tu
chỉ quán tâm chẳng tu giới hạnh làm sao thành
Phật?
Đáp : Ba tụ-tịnh-giới tức là chế ngự cái tâm ba độc
đó. Chế ngự 3 độc thành vô lượng pháp thiện tụ.
Chữ tụ là gom lại ; vô lượng pháp thiện đều tụ nơi
tâm nên gọi là 3 tụ-tịnh-giới. Còn nói 6 Ba-La-Mật
nghĩa là 6 tịnh căn ; vì 6 căn thanh tịnh chẳng nhiễm
6 trần tức là qua được sông phiền-não đến bến Bồ-
Đề, nên gọi là 6 Ba-La-Mật.
* Hỏi: Như kinh nói : ba tụ-tịnh-giới là thệ dứt tất cả
nghiệp ác ; nguyện tu tất cả việc thiện ; nguyện độ
tất cả chúng sanh. Nay chỉ nói chế ngự cái tâm 3
độc há chẳng không hợp đó sao ?
Đáp: Phật nói ra điều gì là chân thật, bực Đại-Bồ-
Tát trong nhân tu hành của quá khứ là đối ba độc
phát ba thệ nguyện giữ tất cả tịnh giới.
* Đối với tham thì nguyện dứt các điều ác, thường
tu các điều thiện. Đối với sân thì nguyện độ tất-cả
chúng sanh, nên thường tu huệ. Đối với si nhờ hành
trì 3 pháp tịnh Giới Định Huệ ấy nên có thể siêu 3
độc mà thành Phật. Các ác tiêu diệt gọi là đoạn. Vì
hay giữ được 3 tụ-tịnh-giới thì các thiện đều đủ, gọi
đó là tu.
* Vì hay dứt ác tu thiện thì vạn hạnh thành tựu,
mình người đều lợi, giúp khắp quần sanh, nên gọi là
giải thoát.
* Thế mới biết giới hạnh để tu ấy chẳng lìa tự tâm.
Nếu tự tâm thanh tịnh thì tất-cả cõi Phật đều thanh
tịnh.
* Nên kinh nói : hễ tâm dơ bẩn thì chúng sanh dơ
bẩn, tâm trong sạch thì chúng sanh trong sạch.
* Muốn được cõi Phật phải tịnh cái tâm, tùy cái tâm
tịnh thì cõi Phật tịnh, ba tụ-tịnh-giới tự nhiên thành
tựu.
* Hỏi : Như kinh nói : 6 Ba-La-Mật cũng gọi là 6
độ. Nay nói 6 căn thanh tịnh gọi là Ba-La-Mật vậy
chỗ dung thông phải như thế nào ?
Đáp : Muốn tu 6 độ phải tịnh 6 căn, trước hàng
phục 6 kẻ giặc … Hễ xả được giặc mắt, đừng đắm
theo sắc thì gọi là Bố thí. Ngăn được giặc tai, đừng
đắm theo âm thinh thì gọi là giữ giới. Phục được
giặc mũi, không đắm theo mùi thì gọi là nhẫn nhục.
Chế được giặc miệng, không tham theo vị, không
đắm theo giọng, không buông lung theo nói năng
tạp loạn thì gọi là tinh tấn. Hàng được giặc thân,
chẳng đắm theo xúc dục – Rỗng rang chẳng động,
gọi là Thiền-định. Điều phục được giặc ý, chẳng
thuận với vô thường, thường tu giác huệ, gọi là tríhuệ.
Độ nghĩa là chuyên chở. Sáu độ ví dụ cũng như
đò, có thể đưa chúng sanh qua bờ sông bên kia nên
gọi là 6 độ.
* Hỏi : Kinh nói đức Thích Ca khi còn làm Bồ-Tát
đã từng uống 3 đấu 6 thăng sữa mới thành Phật (3
đấu 6 thăng : hơn 3 lít rưỡi). Trước nhờ uống sữa rồi
sau mới chứng quả, há chỉ quán tâm mà được giải
thoát ư ?
Đáp: Đúng thế ! đúng thế ! Phải trước uống sữa rồi
sau mới thành Phật. Nhưng phải biết sữa có hai thứ.
Thứ sữa Phật uống đây không phải là sữa trâu, sữa
bò, sữa dê của thế gian đâu, mà là thanh tịnh pháp
nhũ đó ! Ba đấu tức là 3 tụ-tịnh-giới, 6 thăng là 6
độ. Thành Phật phải nhờ uống thứ sữa pháp thanh
tịnh như thế mới chứng được quả. Nhưng phải biết
đây là một cách nói kín. Nếu hiểu Như-Lai uống các
thứ sữa vật chất thế gian thì thật là lầm lắm ! Chân
như vốn tự là pháp thân vô lậu bất hoại, lìa hẳn tấtcả
các cái khổ thế gian, há lại phải nhờ vật chất bất
tịnh thế gian để khỏi đói khát ! Trong kinh có nói :
thứ bò này chẳng ở cao nguyên, chẳng ở đất thấp,
chẳng ăn lúa cám, chẳng cùng loại bò bô nhập bầy,
màu lông vàng ánh tia. Chữ bò ở đây là để ám chỉ
cho Phật Tỳ-Lô-Giá-Na, vì lòng từ bi rộng lớn,
thương xót tất-cả chúng sanh, nên từ trong pháp thể
thanh tịnh xuất hiện ra thứ sữa pháp 3 tụ tịnh giới và
6 độ vi diệu như thế đề mà nuôi dưỡng cho tất-cả
những ai cầu giải thoát.
* Cái nghĩa bò và sữa thanh tịnh như thế không
những Như-Lai uống vào là được thành đạo, mà dẫu
cho ai uống vào cũng đều được đạo Vô Thượng Bồ-
Đề cả.
* Hỏi : trong kinh nói : Phật dạy chúng sanh cất
chùa, đúc vẽ hình tượng, thắp hương đèn, rải hoa,
ngày đêm 6 thời quanh tháp hành đạo, ăn chay lễ bái
; làm hết thảy công đức ấy đều được thành đạo. Nếu
chỉ quán tâm nhiếp hết các hạnh, như thế té ra bao
nhiêu chuyện kinh nói đều thành hư luống sao ?
Đáp: Phật có nói ra điều gì đều là vô lượng phương
tiện vì tất-cả chúng sanh ngu tối, căn cơ thấp kém
chẳng tỏ nghĩa lý sâu mầu, nên mới mượn việc thế
gian hữu vi để mà thí dụ. Nếu chẳng lo tu hạnh ở
trong, chỉ chạy ra ngoài mà cầu hy vọng được
phước thì thật là vô lý. Nói chùa cũng như nói nơi
thanh tịnh. Nếu dứt trừ 3 độc, thường tịnh 6 căn,
thân tâm rỗng lặng, trong ngoài thanh tịnh, đó là
nghĩa cất chùa. Còn nói đúc vẽ hình tượng là nói tấtcả
chúng sanh mong cầu đạo quả ; cách hạnh giác
để tu là phỏng theo chân dung diệu tướng cuả Như-
Lai, chớ đâu phải nói chuyện hữu vi vật chất. Cho
nên người cầu giải thoát phải lấy thân làm lò, dùng
pháp làm lửa, dùng trí huệ làm thợ khéo, 3 tụ-tịnhgiới
6 độ là khuôn. Ung-đúc chơn như tánh Phật
trong thân cho vào khuôn giới luật.
Nếu kỉnh nhận thực hành đừng cho sai chạy, tự
nhiên thành tựu. Còn nói tượng chân dung là nói
pháp thân thường trụ, vi diệu cứu cánh, chớ không
phải cái thân hữu vi bại hoại. Nếu người cầu đạo
chẳng rõ cái nghĩa ung đúc như thế, vậy vẽ chân
dung bằng cứ nơi đâu mà nói là công đức ?
* Còn nghĩa thắp hương cũng vậy ; là thứ hương
chánh pháp vô vi, xông lên để tẩy sạch các uế
nghiệp ác vô minh, hết thảy đều tiêu diệt. Hương
chánh pháp có mấy thứ : Một là hương Giới, nghĩa
là ý nói hay dứt các ác, hay tu các điều thiện. Hai là
hương Định, nghĩa là tin sâu Đại Thừa, tâm không
thối chuyển. Ba là hương Huệ, là thường quán sát
trở vào trong tự thân tâm. Bốn là hương Giải Thoát,
là dứt hết cả vô minh trói buộc. Năm là hương Giảithoát-
tri-kiến, là xét soi thường tỏ, thông suốt không
ngại. Năm thứ hương như thế gọi là hương tối
thượng, thế gian không sánh được. Phật ở thế gian
bảo các đồ đệ dùng lửa trí huệ đốt thứ hương vô giá
này để cúng dường mười phương chư Phật.- Chúng
sanh đời nay chẳng rõ nghĩa chơn thật của Như-Lai,
chỉ dùng lửa ở ngoài mà thắp các thứ hương vật chất
thế gian để mong cầu phước báo làm kết qủa.
Còn nghĩa rải hoa cũng vậy, là nói công đức đem
chánh pháp mà giảng dạy lợi ích chúng sanh, thấm
nhuần khắp tánh chơn như, bố thí trang nghiêm.
Thứ hoa công đức này Phật thường khen ngợi, cứu
cánh hằng còn không bao giờ héo tàn. Nếu ai rải hoa
như thế sẽ được phước báo vô lượng – Nếu nói Phật
dạy chúng sanh cắt xén bông hoa, tổn thương thảo
mộc cho được hoa để rải thì thật là vô lý. Vì sao thế
? Vì người giữ giới thanh tịnh thì tất-cả sum la vạn
tượng trong trời đất cũng không xúc phạm. Khi lầm
phạm còn có ăn năn thay huống chi là dạy cổ phá
tịnh giới, tổn thương vạn vật để cầu phước báo ;
muốn lợi lại hại, há có như thế sao ?
Lại nữa nói luôn luôn đốt đèn sáng là ý nói cái tâm
chánh giác tỏ suốt ví cũng như đèn sáng. Cho nên ai
muốn cầu giải thoát phải lấy thân làm đài, tâm làm
tim, các giới hạnh làm dầu, trí huệ tỏ suốt làm lửa.
Thường thắp đèn chơn chánh giác, chiếu phá tất-cả
vô minh ngu tối, hay dùng pháp này lần lượt khai thị
lẫn nhau tức là một ngọn đèn mổi ra trăm ngàn ngọn
; cứ như thế mãi mãi vô cùng, nên gọi là Vô-tậnđăng.
* Xưa có Phật tên là Nhiên Đăng, ý nghĩa Nhiên
Đăng là thế. Chúng sanh ngu si chẳng rõ lối nói
phương tiện của Như-Lai, luống làm theo sự, đam
chấp việc hữu vi ; bèn dùng các thứ đèn dầu thế gian
đốt lên luống soi nhà trống, rồi bảo là làm đúng theo
kinh, há chẳng lầm lắm sao ? Vì sao thế ? – Vì Phật
phóng một đạo hào quang trắng ở giữa hai chơn
mày, có thể chiếu suốt 18 ngàn cõi nước phương
Đông, há đợi nhờ đèn dầu thế gian leo nheo như thế
để làm lợi ích ! Gẫm xét cái lý phải chẳng thế sao !
* Lại nữa, 6 thời hành đạo nghĩa là nói nơi 6 căn
luôn luôn thực hành đạo Phật, tu các hạnh giác.
Điều phục 6 căn, mãi mãi không hở, gọi là 6 thời.
Còn quanh tháp hành đạo, chữ tháp nơi đây là ám
chỉ cho thân tâm đó ! Nghĩa thường sanh giác huệ
tuần sát thân tâm luôn luôn chẳng hở, gọi là quanh
tháp. Các bực thánh đã qua đều nhờ thực hành cách
ấy mà được Niết-Bàn. Người đời nay chẳng rõ lý
này, chẳng thực hành nơi tâm, chỉ chấp trở ra mà
tìm, đem cái thân chướng ngại đi quanh tháp thế
gian ngày đêm lũ lượt, luống uổng nhọc công, đối
với chơn tánh không chút lợi ích. Còn nói ăn chay
lại phải càng thêm để ý, nếu chẳng rõ lý này thì
càng nhọc công vô ích. Chữ chay ở chữ Hán là chữ
Trai, mà chữ Trai lại từ chữ Tề mà biến, nhưng chữ
Tề cũng như nghĩa chữ Bình. Nghĩa là tề bình thân
tâm, chẳng để tán loạn.- Chữ ăn nơi đây cũng như
nghĩa chữ giữ. Nghĩa là giữ các giới hạnh, đúng
phép tu hành. Ở ngoài phải ngăn ngừa 6 tình, ở
trong phải chế ngự 3 độc, siêng giác sát, tịnh thân
tâm, biết rõ nghĩa này mới gọi là ăn chay.
* Lại nữa, chữ ăn ở đây có 5 nghĩa:
Một, ăn bằng vui với pháp, nghĩa là giữ y chánh
pháp hoan hỷ vâng làm.
Hai, ăn là vui với Thiền-định, nghĩa là trong ngoài
lặng suốt, thân tâm vui đẹp.
Ba là ăn bằng suy nghĩ, nghĩa là thường nghĩ chư
Phật lòng miệng như nhau.
Bốn là ăn bằng nguyện, nghĩa là đi đứng nằm ngồi
thường cầu nguyện lành.
Năm là ăn bằng giải thoát, nghĩa là tâm thường
thanh tịnh, chẳng nhiễm tục trần.
Năm nghĩa ăn này gọi là ăn chay. Nếu ai chẳng
nhận 5 nghĩa chay tịnh này mà tự hào là ăn chay đều
là làm việc vô lý. Cần nhứt phải dứt cho được cái ăn
mê muội. Nếu phải va chạm gọi là phá trai.
Ăn mê muội nghĩa là thí dụ nghe nói ăn sáng là
chư thiên ăn, trưa là Phật ăn, chiều là súc sanh ăn,
tối là ma quỉ ăn ; nghe thế rồi bữa trưa ráng ăn thật
no để chiều khỏi đói, ăn rồi nằm thở. Như vậy mới
thật là súc sanh ăn !
* Nếu đã phá trai sao gọi là được phước ? – Đời có
người mê chẳng rõ lý này, thân tâm phóng túng theo
các nghiệp ác, tham dục, buông tình, chẳng biết xấu
hổ. Chỉ ăn được ba thứ rau cải rồi tự hào là ăn chay
thì thật là phi lý.
Còn nói lễ lạy đúng theo phép thì ở trong phải tỏ
thông lý thể, ở ngoài thì sự tùy quyền thông. Lý có
khi phải hiện, có khi phải ẩn. Biết được nghĩa như
thế mới gọi là y theo pháp. – Vả chăng lễ nghĩa là
kỉnh, lạy nghĩa là phục. Nghĩa là cung kỉnh chơn
tánh, hàng phục vô minh ; đó là lễ bái. Nếu có thể
dứt trừ lòng ác, thiện niệm hằng giữ ; tuy chẳng hiện
tướng, nhưng đó mới thật là lễ lạy.
* Tướng là pháp tướng. Thế Tôn muốn làm cho
người đời tỏ lòng khiêm tốn cũng là lễ lạy. Nên phải
ở trong khuất phục, ngoài hiện khiêm cung ; nêu cái
bên ngoài để rõ bên trong, tánh tướng như nhau.
Nếu không căn cứ trên pháp lý, chỉ chấp tướng bên
ngoài mà cầu, trong thì mở cửa 3 độc, thường làm
nghiệp ác, ngoài làm ra tướng ghê gớm, trá hiện oai
nghi, chẳng khỏi luân hồi, há thành công đức ? !
Hỏi : Như kinh Ôn-Thất nói : Tắm gội chúng tăng
phước đức vô lượng. Đó là rõ ràng dựa vào sự pháp
mới thành công đức ; nếu là quán tâm có thể tương
ưng được sao ?
Đáp : Nói tắm gội chúng tăng cũng chỉ là một thứ
ẩn ngữ, chớ phải đâu bảo làm theo sự tướng thế gian
! Đức Thế-Tôn thường vì các đệ tử mà giảng kinh
Ôn-Thất để cho thọ trì phép tắm gội, nên mượn việc
thế gian để ví dụ. Mật nói công đức của 7 việc cúng
dường như sau đây : 1 là nước trong, 2 là nhúm lửa,
3 là xà phòng (chất tẩy), 4 là bàn chải, 5 là phấn bột,
6 là dầu ướp, 7 là áo lót. Dùng 7 việc này để ví dụ
cho 7 pháp. Tất cả chúng sanh theo 7 pháp tắm gội
trang nghiêm này, thì có thể trừ được tâm độc vô
minh dơ bẩn. Bảy pháp ấy là :
8) Dùng tịnh giới gội rửa mê lầm cũng như dùng
nước trong gội rửa bụi bặm.
9) Dùng trí huệ quán sát, trong ngoài sáng suốt
cũng như nhúm lửa nấu nước trong.
10) Lừa lọc các điều ác, cũng như xà phòng
rửa sạch dơ bẩn.
11) Chơn thật dứt trừ vọng tưởng, cũng
như bàn chải hay làm sạch miệng hôi.
12) Chánh tín quyết định không nghĩ cũng
như phấn bột dùng để xoa trong thân có thể
ngăn ngừa các chứng phong ngoại cảm.
13) Nhu hòa nhẫn nhục, cũng như dầu ướp
làm thông nhuận mặt da.
14) Biết hổ thẹn ăn năn các nghiệp ác cũng
như áo lót mình để che khuất bớt các chỗ bất
tiện trong cơ thể.
Bảy pháp vừa nói trên là nghĩa bí mật trong kinh.
Lúc đó Như-Lai vì các bực đại thừa lợi căn mà nói,
chớ đâu phải vì phàm phu trí kém mà nói đâu ! Đó
là chỗ người nay không thể rõ. Còn nghĩa Ôn-Thất
cũng là ám chỉ cho thân đó. Cho nên nhúm lửa trí
huệ, nấu nước tịnh giới để tắm gội chơn như tánh
Phật trong thân. Thọ trì 7 pháp để tự trang nghiêm.
Hạng Tỳ-Kheo lúc đó thông minh lanh lợi đều ngộ
ý thánh, theo chỗ nói mà tu hành, công đức thành
tựu, đều chứng quả thánh. Chúng sanh đời nay
không rõ tự sự, đem nước thết gian để tắm rửa cái
thân tứ đại mà tự cho là làm theo kinh ; như thế há
chẳng lầm lắm sao ! Vả lại tánh Phật chơn như đâu
phải thứ có hình ; phiền-não bợn nhơ bổn lai không
tướng. Há có thể đem nước vật chất để gội rửa cái
thân vô vi được sao ? Trên sự đã chẳng tương ưng
làm sao ngộ được đạo ! Nếu muốn thân được tịnh,
phải quán thân này vốn từ tham dục hôi hám dơ bẩn
sanh ra, trong ngoài đầy dẫy ; thế mà muốn gội rửa
cho thân này được sạch thì nào có khác chi rửa
đường mương. Chỉ đừng có đường mương thì mới
sạch cho. Cứ theo đây mà nghiệm thì đủ rõ tắm gội
bên ngoài không phải là ý của Phật vậy.
Hỏi : Kinh nói chỉ chí tâm niệm Phật tất được vãng
sanh về cõi Cực Lạc, chỉ một môn này là được
thành Phật, đâu cần phải quán tâm để cầu giải thoát
? !
Đáp : Niệm Phật nghĩa là phải niệm chánh. Nghĩa
rốt ráo mới là nghĩa chánh, chẳng rốt ráo là tà. Nếu
niệm chánh tất được vãng sanh, niệm tà làm sao đến
được. Phật nghĩa là giác, nghĩa là giác sát thân tâm
đừng để khởi ác. Niệm nghĩa là nhớ, nghĩa là giữ
giới hạnh, đừng vọng tinh tấn. Cần rõ nghĩa như thế
mới gọi là niệm. Nên biết niệm ở nơi tâm, chớ
chẳng phải ở miệng, mượn ngôn ngữ để cầu ý, được
ý phải quên lời. Đã nói niệm danh hiệu Phật cũng
phải biết cái đạo niệm Phật. Nếu tâm không thật,
miệng niệm danh hiệu suông, 3 độc lẫy lừng, chấp
mình chấp người cả bụng ; dùng cái tâm vô minh
vọng cầu thấy Phật luống uổng tốn công. Đến như
tụng với niệm cũng khác nhau. Ở miệng gọi là tụng,
ở tâm gọi là niệm. Nên biết niệm từ tâm khởi, gọi là
môn giác hạnh. Còn tụng ở miệng là tướng âm
thanh, chấp tướng cầu lý thật là không phải. Phải
biết các thánh xưa tu hành đều không phải nói bên
ngoài, mà luôn luôn phải lấy tâm làm chủ, vì tâm là
nguồn cội vạn pháp, tâm là chủ của muôn đức, vắng
lặng thường vui đều bởi ngừng vọng. Ba cõi luân
hồi cũng từ tâm khởi, tâm là cửa của cuộc đời, tâm
là bờ giải thoát. Biết được cửa tâm rồi lo gì khó
thành ! Thấy được tâm rồi lo gì chẳng đạt ! Người
nay thấy biết nông nổi, chỉ biết sự tướng làm công,
hao phí của cải, tổn thương vạn loại. Luống công
xây đắp, gom nhóm vật liệu, vẽ vời rằn ri đem hết
tâm lực, tổn mình mê người, chưa biết tỉnh ngộ có
đâu sợ khó. Hễ thấy việc hữu vi thì nôn nao mê
đắm, còn nói đến vô tướng thì trơ trơ như mê. Chỉ
tham kế quả nhỏ nhen hiện tại ; chớ biết đâu cái khổ
biển cả sau này. Tu học như thế luống thêm nhọc
sức, trái chánh theo tà, vọng nói được phước. Nếu
chỉ có thể nhiếp tâm soi trở vào trong, giác quán ở
ngoài cho tỏ, dứt trừ 3 độc, đóng hết 6 cửa giặc
đừng cho nhiễu loạn ; tự nhiên vô lượng công đức,
bao thứ trang nghiêm, vô số pháp môn đều được
thành tựu, siêu phàm chứng thánh, tận mặt sát một
bên, ngộ trong giây lát, đâu đến nỗi khó khăn. Môn
chơn thật nhiệm mầu đâu thể nào trình bày hết. Nơi
đây chỉ thuật sơ về quán tâm, nói rõ ra chút ít vậy
thôi.
Kệ rằng:
Ta vốn cầu tâm tâm tự gìn
Cầu tâm chẳng được để tâm minh
Tánh Phật chẳng từ ngoài tâm được
Tâm sanh chính là lúc tội sanh
Ta vốn cầu tâm chẳng cầu Phật
Rõ biết ba cõi rỗng – không, suốt
Nếu muốn cầu Phật chỉ cầu tâm,
Chỉ tâm này, tâm này là Phật.

BỒ ĐỀ ĐẠT MA QUÁN TÂM PHÁP – THÍCH MINH THIỀN phần 6

TUẦN THỨ B ẢY
9 – 7 – 1972 (29 – 5 N. Tý)
Đêm hôm qua tôi chợt thức giấc vào khoảng 2 giờ
30, tĩnh-tọa xong tôi nằm – tự nhiên nước mắt bỗng
trào ra. Không phải bởi tôi buồn mà khóc, cũng
không phải bởi có chuyện vui qúa mà đến ra nước
mắt. Không biết là gì mà lòng còn nghe tức tối bực
dọc lạ … Nghiệm kỹ tôi mới nghĩ ra :
Nhớ lại trong kinh, mở đầu hội Pháp-Hoa Phật
nhập định không nói gì cả. Kế đó là cuộc phóng
quang rồi Phật mới mở mắt ra nói chuyện. Bắt đầu
Phật tán thán trí-huệ của chư Phật sâu vô lượng
không thể nghĩ bàn. Đi sâu vào càng đến phần
phương tiện, Phật mới thuật lại sau khi chứng thực
được rồi Phật có nói : Lạ qúa ! tất-cả chúng sanh
đều có đủ trí huệ đức tướng của Như-Lai, nghĩa là y
nguyên như ông Phật, đều có đủ khả năng để thấy
được sự thật. Mà lạ qúa ! Tại sao nó không thấy !
Nhưng tại sao ông Phật đã tỏ tận cùng lý tánh mà
còn lấy làm lạ ? Đó là vấn đề tôi rất bực dọc khi tôi
bước chân đi tu. Ngày một ngày hai, đến khi biết
được lý do tại sao rồi tôi mới yên được. Nhưng đến
phiên mình, thì tôi cũng mang một tâm trạng giống
y như vậy – lạ quá ! không biết tại sao chuyện sự
thật rất giản dị mà đối với mọi người đều trở nên
khó khăn vô cùng ! Bỗng sanh tức tối trong lòng,
mà không biết tức cái gì !
Nghiệm kỹ mới thấy hồi mình biết là cái biết đi
thẳng vào chỗ trọn vẹn bằng trực giác. Đến khi nói
ra cho mọi người nghe, khó ở chỗ là muốn nói bằng
thứ ngôn ngữ các ông Thiền-Sư. Người ngoài nghe
trừ một số rất ít, còn phần đông không sao biết
được. Còn nếu nói cho mọi người đều nghe được thì
đó là ngôn ngữ của lý-trí, chỉ nói ra vấn đề từ cục
riêng rẽ chớ không sao nói trọn được, phải lấy cái
này so sánh cái kia, mượn cái kia so sánh cái nọ.
Rốt cuộc người nghe biết bằng cách tưởng tượng
theo miệng của người nói chớ không phải biết sự
thật ; giống như mị thuật chỉ một vật nói là cái máy,
rồi mình tưởng tượng theo đó mà thấy ra vậy. Thành
ra một thứ nói để đừng biết. Đó là nỗi khổ tâm của
người muốn nói sự thật. Do đó sanh ra một trạng
thái lạ, tức mình mà không biết tức cái gì ! – Đến
chỗ đó, dù ông Phật cũng gặp phải khó khăn. Cho
nên biết khó khăn không phải tại các ông Thiền-Sư
hay tại ông Phật !
Từ đó tôi liên tưởng đến câu chuyện : Ai cũng thấy
khoa học vạn năng, nhưng sự thật chẳng có gì là vạn
năng cả. Vì khoa học chế được vô tuyến truyền hình
làm cho người ở bên kia thế giới biết được chuyện
bên này, ở đây biết được chuyện khắp 5 châu ..
Nhưng điều đáng nói nhất là không ai có thể làm
cho hai người thật giáp mặt nói chuyện mà thật hiểu
nhau được ! Chung qui tôi thấy chỉ có làm cách nào
trở lại với chính lòng mình thì tự nhiên ranh giới
của mỗi người mới có thể xóa bỏ mà cảm thông với
nhau được. Nếu không thì dù hỏi bộ óc điện tử
chăng nữa, bộ óc điện tử ra dấu rồi chúng ta cũng
chỉ nhận hiểu được bằng lối suy nghiệm qua bóng
dọi của ý thức mà thôi. Trong tuần báo khoa học có
thuật một câu chuyện rất thú vị : Một người mang
hai cái đồng hồ đến hỏi bộ óc điện tử ; một đồng hồ
hư và một đồng hồ chạy trễ, hỏi nên dùng đồng hồ
nào. Óc điện tử trả lời nên dùng đồng hồ hư. Hỏi tại
sao? – Đáp rằng dùng đồng hồ hư thì dù sao suốt
ngày đềm cũng còn có 1 giờ đúng ; còn đồng hồ trễ
thì giờ nào cũng bị trễ nên không dùng được !
Thế thì óc điện tử cũng không hơn gì óc con người,
vì nó do con người đẻ ra và để nhận lại bóng dọi của
chính lòng mình mà thôi.
Mãi mê với những ý nghĩ mà thời công phu sáng
đã gần mãn. Mấy câu chú kết thúc hòa với tiếng mõ,
vang cùng tiếng chuông … tôi buông mình trả lại
cho lưu thông . Bỗng thấy tất cả chúng ta không
phải lúc nào cũng mê ; mà hình như trong chúng ta
luôn luôn có hai phần. Một phần tỉnh và một phần
mê, và thường thì phần mê che khuất mất phần tỉnh.
Tôi sực nhớ đến câu thơ của một nhà thi sĩ Việt
Nam : “Đánh tan tục niệm hồi chuông sớm. Gõ vỡ
trần tâm tiếng mõ trưa”.
Quả thật trong khi tịnh, tôi thấy rõ từng ảnh-hưởng
của âm thanh. Tiếng chuông thuộc về âm thanh phá
mê cho bộ óc lý trí. Tiếng mõ thuộc âm thanh ảnh
hưởng thẳng vào Gan rồi đi lên Tim đánh thức trực
giác. Vấn đề ảnh hưởng trở ra của âm thanh, nói ra
ai cũng hiểu, nhưng chuyện chứng thực được ngay
trong lòng thì không thể dễ dàng với tất-cả mọi
người, phương chi con người chúng ta luôn luôn
phóng vọt ra ngoài thì việc chứng thực lại càng khó
khăn hơn. Có nhiều khi ngẫm nghĩ tôi bắt bực cười ;
trong khi chúng ta gặp mặt nhau là gặp cái gì ấy !
Thế mà có lắm người đi tu để kiếm cái gì, chớ
không phải để hiểu sự thật ! Như vậy khi hai người
gặp nhau là giữa 2 người đã có sẵn một tấm vách
ngăn. Người ở bên này nói vói qua người bên kia,
chớ không phải giáp mặt nhau bằng cách chân
thành. Lắm lúc tôi nghĩ mà cứ tức ! Chuyện rất giản
dị, mà cũng đáng buồn cười là vì trong mỗi người
thiếu tấm lòng thiết tha thành thật để khám phá
chính con người của mình, nên hóa ra mê muội
không biết gì hết ! Còn nếu có biết được tất-cả mọi
việc chăng nữa, mà biết bằng cách nhìn ra thì cái
biết đó cũng không mang lại ích lợi gì ! Sự thật mỗi
người đều có một đặc điểm, chỉ có chính mình tự
mê lấy chớ không ai làm cho mình mê hết.
* Hỏi : Như trên đã nói, tánh Phật chơn như, tất-cả
công đức đều nương nơi giác làm gốc, chằng hay
cái tâm vô minh lấy đâu làm gốc ?
Đáp : Cái tâm vô minh tuy có 84,000 phiền-não tình
dục và hà sa các điều ác đều nhân 3 độc làm gốc, 3
độc là tham sân si đó. Cái tâm 3 độc này tự nó đủ tất
cả khả năng làm ác cũng như cội cây to tuy chỉ có
một, nhưng có biết bao cành lá. Căn cội của 3 độc,
trong mỗi một cái rễ sanh ra các nghiệp ác vô lượng
vô biên không thể tỷ dụ. Tâm ba độc như thế từ
trong bản thể ứng hiện ra 6 căn, cũng gọi là 6 kẻ
giặc, tức là 6 thức đó !
Thưa, ở đây chắc ai cũng biết tượng đức Di Lặc có
6 thằng nhỏ bò trên người móc lỗ mũi, móc miệng,
móc tai, móc mắt, móc rún và một thằng vò đầu. Đó
là ý muốn nói vấn đề tai mắt miệng mũi thân và ý
của chúng ta lúc nào cũng phóng vọt ra ngoại cảnh
để quấy nhiễu làm rối ren tâm tánh của chúng ta.
* Do 6 thức này ra vào các căn tham đắm trần cảnh,
tạo thành nghiệp ác trái chướng với chơn thể, nên
gọi là 6 kẻ giặc.
Đây chúng ta có thể nói một cách nôm na cho dễ
hiểu là gió thổi, sóng to làm chướng ngại cho mặt
nước không thể yên lặng được. Nghĩa giản dị vậy.
* Tất cả chúng sanh đều bị ba độc 6 kẻ giặc này làm
mê loạn thân tâm, chìm đắm trong sanh tử, luân hồi
trong 6 nẻo chịu các điều đau khổ.
Vấn đề luân hồi chúng ta mới nghe qua hình như
có vẻ mê hoặc, dị đoan lắm. Nhưng nếu chỉ nhìn ở
hiện tại, chúng ta có dám tự bảo đảm rằng mình
đụng sắc không bị sắc lôi cuốn, mình nghe một bản
nhạc tuyệt vời không bị âm thanh cuốn hút. Và mùi
vị … cũng như tất-cả những chuyện khác đến với
chúng ta mình có bảo đảm là trong lòng mình đã
như mặt nước bằng, không xao xuyến hay không ? –
Và hiện giờ đây chúng ta có 5 giác quan ; nhưng tác
dụng không phải chỉ hạn hẹp ở trong phạm vi 5 giác
quan đó, mà cứu tận khắp người chúng ta đều có đủ
cả 5 giác quan. Tại sao biết thế ? – Vì mỗi khi mũi
chúng ta hít vào thì lỗ chân lông khắp mặt da đều
thở ra ; thết là khắp mặt da đều có miệng. Khi
miệng thở ra, khắp cả mặt da đều hít vào ; thế là
khắp mặt da đều có mũi. Vì thế chúng ta thoa dầu
mới có ảnh hưởng cảm biết nóng hay lạnh. Khi
chúng ta nghe mát nghĩa là cái hít vô nhiều hơn, khi
nghe nóng nghĩa là cái thở ra mạnh hơn. Nếu khắp
mặt da có mũi, miệng lẽ tất nhiên cũng phải có đủ
tai mắt. Một người điếc ngồi trên phản gỗ, muốn gọi
người đó tôi chỉ cần vỗ dưới phản thì họ sẽ quay lại
ngay. Thế là nghe bằng cái đít. Thêm nữa, mặt da có
thể tiếp xúc với tất-cả mọi vật để cảm biết nóng
lạnh, trơn nhám v.v… hình thể cũng như tánh chất
của vật, đó là xúc giác. Như vậy nghĩa là khắp cả
mặt da chúng ta đều có đủ 5 giác quan – Mà bây giờ
đây chúng ta nghe không ngoài lỗ tai, thấy không
ngoài con mắt, ngửi không ngoài lỗ mũi, nếm không
ngoài cái miệng. Thế tất hiện tại chúng ta đã bị đọa
vào trong giác quan rồi !
Phương chi trong khi chúng ta hướng ngoại vọt trở
ra thì bầu bao la khum khum này sẽ trở thành một
tấm gương phản chiếu, có vô số cặp mắt của mình
chiếu ngược trở vào để nhìn mình một cách quái gở
lạ kỳ làm thành một thế mâu thuẫn dọng đầu.
Ngược lại, khi quay trở vào chính con người của
mình, thì cũng ở trong bao la này mà khắp nơi đều
có cái biết của tai mắt miệng mũi của mình nhìn trở
ra theo chiều thuận. Thế nghĩa là hồi nhìn ra là cái
thế mâu thuẫn, nhìn vào là cái thế phá mâu thuẫn.
Chúng ta đã bị đọa vào trong giác quan, lại còn rơi
vào thế hướng ngoại thế là chúng ta bị gói trọn ở
trong vòng mâu thuẫn. Do mâu thuẫn đó mà chúng
ta luôn luôn bị cái thế ngoại cảnh hút, vì chúng ta đã
bị rơi hẳn vào trong cõi hiện tượng vật chất. Ở đình
làng tôi có xảy ra một câu chuyện : một ông đang
thổi kèn cho một đám hát đình, bỗng có một cậu bé
cầm trái me đến xem, đứng trước mặt ông mà cắn
nghe dòn rụm, khiến cho ông thổi ra nước đầy trong
kèn. Ông tức mình đánh lộn với thằng bé, cả hai đều
bị bắt đưa ra trước thầy Hương Quản. Thầy Hương
Quản hỏi : tại sao hai người lại đánh nhau giữa buổi
hội ?
– Ông thổi kèn thưa: tôi đang thổi kèn mà nó lại đem
me ăn trước mặt, làm tôi thổi nước đầy nhóc trong
kèn.
– Cậu bé bảo : bẩm thầy con ăn me miệng con, khi
không ổng đánh con … Thầy Hương Quản nghe ra
cũng chẳng biết phải xử làm sao, bèn phạt cả hai
người rồi đuổi về. Như vậy là ông thổi kèn đó đã bị
trái me nằm sẵn trong bụng tận tự hồi nào ; giờ đây
nghe thấy trái me ngoài, trong ngoài hút nhau mà
ông bị điều khiển. Tất cả những cái khác cũng thế.
Đó là nguyên lý luân hồi.
Thế thì hiện tại đây chúng ta đã không tự chủ
được, lẽ cố nhiên khi chết đến chúng ta không thể
làm chủ được. Nếu chúng ta cho rằng chết là hết, là
bị đọa vào trong chấp đoạn của duy vật. Nếu thấy
chết rồi còn linh hồn bất biến, bỏ xác thân này để
đút vào xác thân khác ; thì bị đọa vào trong chấp
thưòng của duy tâm Âu Châu ; cả hai đều sai cả.
Phương chi về phương diện vật lý, không một vật
nào không phải là tổ hợp, cho đến linh hồn cũng là
do nhiều điều kiện ráp lại. Do đó, vấn đề linh hồn,
vấn đề luân hồi sanh tử không phải là dị đoan. Nên
khi bỏ xác thân này rồi qua thân sau, tượng thai đôi
ba tháng rồi thì quên đứt các chuyện cũ. Nhưng đến
khi trưởng thành thì chuyện cũ đâu hiện ra đó, còn
đủ cả. Vì thế kiếp trước, mình cũng đã từng làm
nhiều chuyện “cọp hùm” (chuyện nam nữ) rồi, đến
kiếp này trải qua mười mấy hai mươi năm bây giờ
hiện tại cũng còn nguyên. Chớ nếu quên dứt đi được
hết thì vấn đề nam nữ chúng ta khỏi phải trở lại nữa.
Do chỗ đó dòng sanh mạng của chúng ta trở thành
từng đoạn, từng đoạn chuỗi hột xỏ xâu lại nên nhà
Phật gọi là “phân đoạn sanh tử”.
Tóm lại, đối với vấn đề sanh tử luân hồi theo tôi hễ
điều gì nghi thì nên để đó, chớ nếu có nghi mà
chống đối nghĩa là mình chẳng muốn biết nó. Bất cứ
vấn đề gì nếu chúng ta chống đối hẳn, hay khinh khi
cho rằng không có, đều là ngăn lấp trí thông minh
của chúng ta cả. Nếu có người hỏi vấn đề luân hồi
ra sao? Khi tôi chưa biết thì tôi phải trả lời thế nào ?
– Theo tôi, vấn đề cái TÔI làm che khuất trí thông
minh, điều đó tôi thấy rõ nên tôi chấp nhận việc
phải phá vỡ cái TÔI để mở sáng trí thông minh
trước, rồi sau đó tức khắc tôi sẽ thấy rõ mọi sự vật.
– Cũng như một người cầm chiếc máy ảnh mà nhảy
tưng tưng thì không thể nào chụp được ảnh cho
chính xác. Điều đó dễ hiểu tôi chấp nhận. Nên thôi,
để bao giờ đứng yên chụp được hình chính xác hẵn
hay ! Còn tôi vội cho vấn đề đó là không hay có đều
là bị đọa vào lãnh vực si mê cả. Vấn đề luân hồi giải
quyết là vậy, chỉ có cách đó để cho mọi người dễ
nhận nhất. Nên chúng ta đừng vội nghĩ chết rồi mới
có luân hồi, mà luân hồi có ngay ở hiện tại đây chỉ
chúng ta không hay mà thôi. Trong kinh thánh
Thiên Chúa cũng có nói : làm ác bị đọa địa ngục,
làm thiện được lên Thiên-Đàng. Đó là nhân qủa. Hễ
nhân qủa có thì tự nhiên vấn đề luân hồi phải có.
* Cũng như sông rộng mênh mông, bắt nguồn từ
khe suối nhỏ chảy mãi không ngừng, lần ra đến
sóng cuộn ba đào, mịt mờ muôn dặm. Nếu có người
lấp được tận nguồn thì dòng suối đều dứt. Người
cầu giải thoát nếu có thể chuyển 3 độc làm 3 tu tịnh
giới, chuyển 6 kẻ giặc làm 6 Ba-la-Mật tự nhiên lìa
dứt tất-cả nghiệp khổ.
Ba độc là tham sân si, đổi ra thành Giới Định Huệ.
Đó là thuật ngữ của nhà Phật.
Giới là tự mình thấy điều vô lý không còn nữa.
Định là lòng lúc nào cũng không xao xuyến và
dong đuổi theo ngoại cảnh.
Huệ là nhờ trong lòng không xao xuyến và dong
đuổi theo ngoại cảnh nên tự nhiên thấy đâu ra đấy.
Nghĩa là đứng yên thì tự nhiên chụp được hình
chính xác.
6 Ba-la-Mật là : Bố-thí, giữ-giới, nhẫn-nhục, tinhtấn,
thiền-định, trí-huệ.
Bố-thí là không còn tâm ôm đồm chứa giữ, hiểu
vấn đề chứa giữ là vô lý nên không làm nữa. Còn
cho người ta để mong hưởng cái gì đó là lòng đi
buôn chớ không phải nghĩa bố thí.
Giữ giới là dùng vấn đề phương tiện để giữ cái
tâm, chớ không phải dùng cái tâm tạo ra phương
tiện để tự trói mình.
Nhẫn nhục là thấy chuyện tranh dành hơn thua là
vô lý, không đi đến đâu nên không làm nữa ; chớ
không phải ráng bậm môi mà nhịn.
Tinh-tiến là biết được cái mê lúc nào cũng nối tiếp,
bây giờ mình trở vào chiều thuận, chiều ngộ cũng
phải nối tiếp. Hồi mê, mê không ngừng nên ngộ
cũng phải giữ cái ngộ không ngừng. Tinh tiến là
nghĩa khác của hộ niệm, thức tỉnh rồi từ đó về sau
phải giữ ý thức đó luôn.
Thiền-định : trong lòng không rối loạn, ngoài
không săn đuổi theo ngoại cảnh gọi là Thiền-định.
Trí-huệ : hễ có định thì mới có trí-huệ, có định là
có huệ, chớ không phải định rồi mới có huệ. Hễ
nước trong ngọc chiếu, mây vẹt trăng soi, không có
trước sau chi cả.
Do đó nghĩa bố-thí, giữ-giới, nhẫn-nhục, tinh-tiến,
thiền-định, trí-huệ là 6 pháp để đưa chúng ta đì vào
nẻo giải thoát; gọi là Ba-La-Mật (đó là danh từ Ấn
Độ). Nên chuyển 3 độc làm thành Giới Định Huệ
nghĩa là chuyển tham sân si thành Giới Định Huệ ;
chuyển nhãn nhĩ tỷ thiệt thân ý, 6 kẻ giặc thành 6
Ba-La-Mật gọi là Lục-Độ hạnh, tự nhiên tất-cả
nghiệp khổ đều dứt. Tiếp đến sẽ có nói thêm một
cách khác.
* Hỏi : Sáu nẻo 3 cõi rộng lớn mênh mông, nếu chỉ
quán tâm làm sao thoát khỏi biển khổ vô cùng ?
Sáu nẻo là : địa-ngục, ngạ-quỉ, súc-sanh, người, ATu-
La, chư Thiên.
A-Tu-La là danh từ Ấn Độ, nghĩa là phi Thiên (tức
là phước cũng như cõi Trời nhưng vẫn còn sân dữ
dội). Do đó 6 nẻo luân hồi là do 6 tác dụng của 6
khía cạnh tâm linh ở trong thân, chịu ảnh hưởng bầu
khí quyện ly tâm hương tâm của địa cầu, cộng với
sự mê lầm gom nhóm của tâm thức tạo thành 6 cách
hấp dẫn để về 6 hiện tượng gọi là 6 nẻo.
3 Cõi là : Cõi dục, cõi sắc và cõi vô sắc.
Cõi dục là hiện tượng nhìn thấy của một kẻ nặng
về vấn đề dục để bị hút về cõi đó. Cõi dục thuộc về
phần thần kinh ở thân dưới.
Cõi sắc : thuộc về thần kinh ở khoảng giữa thuộc
bộ tiêu-hóa ; còn từ chẻn-vừng trở lên thuộc về cõi
vô-sắc. Nói một cách khác hơn, thí dụ từ hồi nào
đến giờ trong tâm tôi gom nhóm hột giống mê sắc,
nghĩa là hột giống ý niệm về dục vọng, thì bây giờ
tôi nhìn ở đâu cũng thấy bằng kiểu đó. Cũng như
thầu khoán thì thấy gạch ngói và xi măng … Thợ
rừng thì nhìn thấy cây tốt hay xấu … Thầy thuốc thì
thấy chỗ nào cũng là thuốc.
Cõi vô-sắc : thuộc về thần kinh hệ ở bộ óc. Nói
một cách khác hơn, khi bị rơi vào cõi lý tưởng phiêu
phiêu phưởng phưởng, cũng như mấy ông nghiện
hút say tột bực rồi thì họ tưởng tượng ra đủ thứ hết.
Nên nghĩa của chữ cõi tùy vào nơi tâm thức của
chúng ta. Khi sống như thế thì lúc chết cũng tùy
theo duyên mà hút theo. Cũng như mọi người khi
sống dục vọng thái qúa thường tìm tới chốn lầu
xanh, thì khi chết họ đầu thai vào xóm đĩ là tự
nhiên.
Bây giờ tôi thấy hình như phải nói như vậy mới
kềm nổi sự lùng tung của khoa học hiện thời.
* Đáp: ba cõi nghiệp báo chỉ từ tâm sanh, nếu được
vô tâm, tuy ở trong 3 cõi nhưng liền thoát ly 3 cõi.
Nghĩa là nếu trong bụng tôi không có chứa vấn đề
dục, thì dù tôi ở xóm đĩ cũng không vì thế mà tôi đĩ.
Có một câu chuyện thế này : Có một ông hiền đi
đến một nơi nọ là xóm ăn cướp, kẹt không có chỗ ở
nên phải dừng chân tạm đó. Được bọn cướp rất
thương yêu thường hay chia sớt giúp đỡ cho, ông ở
đó đã 12 năm rồi mà không ai biết ông là ông hiền.
Một hôm chúng đánh cướp trúng mối lớn, ra về gặp
đàn chó đuổi theo sủa, chúng quất con chó chết
quảy về nấu ca ri ăn, đem cho ông một tô. Ông sợ
chúng nghi không dám từ chối. Ông phải nhận mà
không ăn, bèn đổ ca ri vào cái hũ đậy kín chôn
xuống đất. Rủi thay, ít ngày sau đó nhóm đó bị phát
giác, chánh quyền bắt tra khảo, chúng khai đến tô ca
ri đem cho ông, ông cũng bị mời đến hỏi. Ông thản
nhiên khai sự thật, và bằng cớ đào lên còn nguyên
đó nên ông được vô can. Chừng ấy người ta mới
hay ông là người hiền.
Bởi vậy nên ăn thua ở trong lòng mình, chớ không
phải ở đâu rồi cũng là một thứ như ở nơi đó. Nên
vấn đề cõi không có ranh giới. Thí dụ tôi sợ tu quá
nên vọt ra thế. Muốn cho khỏi đi lính tôi xin vào
nghành cảnh sát, rồi ít lâu sau tôi bị đẩy ra quân đội.
Ra quân đội ít lâu, tôi cũng nhớ lại chuyện tu ; đó là
luật tự nhiên như vậy.
* Ba cõi tức là 3 độc đó. Tham là cõi dục, sân là cõi
sắc, si là cõi vô sắc, nên gọi là 3 cõi. Từ 3 độc này
tạo nghiệp nặng nhẹ, thọ báo chẳng đồng, chia ra 6
nẻo nên gọi là 6 thú.
Hỏi : Sao gọi là nhẹ nặng chia làm 6 nẻo ?
Đáp : Chúng sanh chẳng rõ nhân chánh, quên tâm
tu nghiệp thiện vẫn chưa ra khỏi 3 cõi, sanh về 3
nẻo nhẹ.
Nghĩa là làm thì làm thiện mà không rõ được bổn
tánh, nên sanh về 3 nẻo nhẹ.
* Hỏi: Sao gọi là 3 nẻo nhẹ ?
Đáp: Là vì mê lầm lo tu 10 điều thiện, vọng cầu
khoái lạc chưa khỏi cõi tham, sanh về đường trời.
Mê giữ 5 giới, vọng khởi ghét yêu, chưa khỏi cõi
sân nên sanh về đường người. Mê chấp theo hữu vi,
tin tà cầu phước, chưa khỏi cõi si, nên sanh về nẻo
A-Tu-La. Ba loại như thế gọi là đường nhẹ.
Hỏi : Sao gọi là 3 đường nặng ?
Đáp : Nghĩa là từ tâm 3 độc, chỉ tạo nghiệp ác bị
đọa vào 3 đường nặng. Nếu nghiệp tham nặng thì
đọa vào đường ngạ quỉ, nghiệp sân nặng thì đọa vào
đường địa ngục, nghiệp si nặng thì đọa vào đường
súc sanh.
Thưa, tham nặng mà bị đọa vào đường ngạ quỉ là
chuyện có thể thấy ở ngay hiện tại đây. Lúc tôi chưa
đi tu còn làm thầy thuốc, tôi có gặp một bịnh rất lạ :
Một người đàn bà mắc phải chứng hễ khi ăn thức
ăn ngon, đắt tiền vào là bị đau bụng đi tiêu, khổ sở
đủ kiểu. Bà đi khắp thầy thuốc đều không chữa
khỏi. Đến tôi, tôi quan sát kỹ tướng tá, cách đi đứng
… rồi coi mạch xong tôi nói : bịnh này không thể
xem thường được ! bây giờ tôi không lấy tiền bà
đâu, bà hãy về rồi sáng mai trở lại đây thật sớm tôi
sẽ nói cho bà nghe. – Nghe nói không lấy tiền nên
bà mừng nghe theo. Thế là tôi có mối để vô. Sáng
hôm sau tôi mánh lới hỏi bà : “bây giờ bà có đồng ý
cho tôi nói tột bực thiệt cho bà nghe không? Nếu bà
chịu nghe không phiền thì tôi sẽ nói thiệt cho bà
nghe”.
Bà đồng ý. Tôi nói : bịnh của bà là bịnh “tiền liền
với ruột”. Vì mỗi khi bà ăn món ngon vật lạ bà nhớ
tới đồng tiền nên ruột bà thắt lại không hoạt động
được mà sanh ra bịnh này. Bà nghiệm kỹ xem phải
không?
Bà nghiệm rồi nói : Thầy nói có lý à !
Tôi nói : Được rồi, bây giờ bà có dám quên hẳn
vấn đề tiền, tôi cho bà ít thang thuốc sẽ hết ngay.
Chớ nếu bà còn nhớ đến chuyện đó thì công lao của
tôi đi mất. Bà nghe được đồng ý đàng hoàng, tôi cho
thuốc ít hôm bà khoẻ.
Đó là hiện tại bị đọa vào cõi ngạ quỉ. Ngạ quỉ là
thứ quỉ đói, miệng lớn, bụng lớn mà cổ họng nhỏ
như trôn kim, cũng như cảnh người sống bị thắt ruột
vậy.
Tôi xin kể thêm một chuyện nữa về vấn đề nghiệp
tham :
Tôi có người bạn thuật cho nghe một chuyện :
Người đi đâu hay đem theo cái ruột ngựa đựng tiền,
lúc đó đi chợ nhiều lắm là hai cắc. Một bà già nọ đi
chợ đánh rơi mất 2 cắc. Bà vừa khóc vừa tới lui tìm
kiếm trông rất khổ sở. Ông bạn tôi đi tới thấy vậy,
dừng xe lại hỏi tại sao bà khóc ? Bà kể lể … Ông
liền móc túi cho bà 2 cắc. Bà vội nói : không, tôi có
5 đồng ở trong này đây ! Hỏi vậy tại sao bà còn
khóc ? – Bà nói : bây giờ tôi kể là cả nhà ăn rồi,
chẳng thà chịu đói ngày nay chớ không thể xài nữa
được ! – Ông bạn tôi đành lắc đầu, không biết làm
sao hơn !
Xưa kia ở miền Trung, nhất là miền Quảng Trị
Thừa Thiên lúc bị bão lụt, có nhiều đoàn thuyền nan
đi vào Nam xin gạo. Miền Nam lúc đó giàu gạo nên
cho gạo thật ngon, tới mỗi nhà đều xúc cho một
chén gạo. Họ đem ra thuyền đến mấy giạ gạo, mà
mỗi lần nấu cơm là hốt thêm một nắm lúa trộn vô.
Người ta thấy lạ hỏi làm chi vậy. – Họ nói : để gạo
nguyên ăn ngon rồi ăn nhiều làm sao ! Như thế há
không phải do nghiệp tham mà hiện tại sắp biến
thành ngạ quỉ đó sao ? !
* Ba đường nặng này thông đồng với ba đường nhẹ,
cộng thành sáu đường. Nên biết tất-cả nghiệp khổ
đều từ tâm sanh. Nếu có thể nhiếp tâm, lìa các tà ác
thì cái khổ trong 3 cõi 6 đường tự nhiên tiêu diệt ;
lìa khổ là được giải thoát.
Hỏi: Như chỗ Phật nói : Ta ở trong 3 vô lượng kiếp
tu vô lượng khó nhọc nay mới thành Phật ; đây ngài
chỉ nói quán tâm, chế ngự 3 độc thì gọi là giải thoát
là tại làm sao ?
Đáp: Lời Phật nói thật không ngoa. Ba vô lượng
kiếp tức là 3 độc đó. Trong cái tâm 3 độc này có vô
số niệm ác, trong mỗi niệm đều là một kiếp cho nên
nói 3 vô số kiếp.
Đó là một biện chứng rất khủng khiếp không thể
nói được. Chúng ta đi ra đường gặp một cô nàng
nào vừa ý một chút xíu cạnh tai, sóng mũi, khoé
miệng … về nhà ngồi tưởng tượng nhớ lại thì đã
phải mang một kiếp rồi ! Thế nào cũng tới lúc đụng
nhau sống nửa tháng hay một tháng rồi thôi cũng
được. Đó là sắt với đá nam châm mà. Ghê lắm !
* Tánh chơn như đã bị 3 độc chất che khuất, nếu
chẳng siêu cái tâm có 3 vô lượng ác độc ấy thì làm
sao gọi là giải thoát ! Nay nếu có thể chuyển cái tâm
3 độc này làm 3 giải thoát, thế gọi là đã vượt qua
được 3 vô lượng vô số kiếp. Chúng sanh đời sau
ngu si căn độn, chẳng rõ cách nói bí mật của Như-
Lai bèn cho rằng việc thành Phật không thể tin
được. Như thế há chẳng là làm cho người tu nghi
lầm thối chuyển đạo Bồ-Đề đó sao !
Thật là khoa học và thực tế lắm ! Nếu tôi muốn
mời qúi vị vào trong nhà này thì tôi phải mở cửa,
dọn trống bên trong thì quí vị mới có chỗ vào.
Nên khi muốn biết sự thật vấn đề gì, dù tôi có biết
sẵn một điều gì cũng cứ gác qua đi, kể như tôi chưa
biết gì hết. Đó là điều hay nhất ở trong chuyện học
Đạo. Tôi có dám làm như thế không ? – Nếu không
thì đừng tìm học Đạo làm chi, vì chồng thêm kiến
thức thì bất qúa rồi cũng sẽ trở thành một thứ nghiệp
!.
Nên cất nhà lầu muốn xây cao bao nhiêu cũng phải
có nền cho vững chắc trước. Chúng ta dẫu có kiến
thức nhiều bao nhiêu thì cũng phải gọt rửa tâm hồn
trước. Thiên Chúa cũng có nói : phải dọn mình cho
trong sạch để đón rước Chúa.
Thật ra danh từ Chúa không phải là có một ông
chúa tể ở trên, cũng như cuộc đời này không phải là
một cây thước dài có nấc từ thấp đến cao. Sự thật là
một người khi gọt rửa tâm hồn mình rồi nhìn ra tấtcả
không có vật nào không linh cũng không vật nào
linh. Chừng đó mới thấy tất-cả ở trên một thực thể
lạ lùng tùy theo duyên biến hiện một cách thích thú
; mà chính mình lại là nó. Rổi hễ mình nhìn bằng
hướng linh thì cục đá cục gạch cũng linh, nhìn bằng
hướng không linh thì cái gì cũng không linh. Nên
vấn đề linh với không linh tùy theo chỗ dùng. Mấy
ông thầy phù thủy có thể trổ một khúc cây thành
một cái đầu có 4 mặt xanh, đỏ, trắng, vàng. Đem đặt
lên bàn thờ, mỗi ngày đốt hương cúng, đọc thần
chú. Qua 2,3 năm bất thần một tuần lễ không cúng
thì rồi sẽ biết nó ! – Nó vốn không phải là con đẻ
của mình đó sao ! Chuyện đó giản dị quá !
Nên nếu không biết tận nguồn cội như vậy thì danh
từ Phật, Chúa, hay Thượng Đế … đều là những liều
thuốc độc mình nuốt vào không tiêu mà hại lại
mình. Còn nếu biết quay trở vào trong thấy được sự
thật thì muốn gọi bằng gì cũng được, chẳng sao !
* Hỏi : Bực đại Bồ-Tát do giữ 3 tụ tịnh giới, 6 Ba-
La-Mật mới được thành Phật. Nay ngài bảo người tu
chỉ quán tâm chẳng tu giới hạnh làm sao thành
Phật?
Đáp : Ba tụ-tịnh-giới tức là chế ngự cái tâm ba độc
đó. Chế ngự 3 độc thành vô lượng pháp thiện tụ.
Chữ tụ là gom lại ; vô lượng pháp thiện đều tụ nơi
tâm nên gọi là 3 tụ-tịnh-giới. Còn nói 6 Ba-La-Mật
nghĩa là 6 tịnh căn ; vì 6 căn thanh tịnh chẳng nhiễm
6 trần tức là qua được sông phiền-não đến bến Bồ-
Đề, nên gọi là 6 Ba-La-Mật.
Nghĩa là hằng ngày chúng ta phải dùng con mắt,
mỗi khi có ý thức thấy một cái gì nghĩa là cái đó ở
sâu trong lòng chúng ta đã từng thấy rồi. Cũng như
ông thổi kèn thấy thằng bé ăn me mà không thổi
được, là bởi đã qua ông từng nếm vị me, thấy trái
me. Hột giống của quá khứ còn đủ trong lòng chúng
ta, để mỗi khi gặp đúng hình bóng đó đi qua lập tức
hột giống đó sống lại, chúng ta lôi cái cũ trong bụng
ra để chồng thêm vào cho cái mới. Đó là điều rất
quan hệ. Nên mắt chúng ta có nhìn thấy sắc cũng
chỉ là chuyện tự nhiên, sắc đầu thể làm đắm mình
được. Chỉ có chúng ta đem ý niệm chồng thêm lên
để đi theo nó nên mới bị đắm sắc. – Nên phải làm
thế nào tôi nhìn vật gì là y nguyên vật đó, đừng
thêm ý niệm gì nữa thì tự nhiên vật không hút tôi
được. Qua 6 căn : tai mắt miệng mũi thân ý đều giữ
như vậy thì chuyện hết thành vấn đề. Còn nếu
không giữ được vậy thì chúng ta hoàn toàn bị động
hút theo ngoại cảnh.
Chính tôi thấy có một bà già tuổi độ 50, nghèo
phải đi làm mướn. Một hôm vo gạo nấu cơm chiều,
sửa soạn đem bắc lên bếp, bỗng nghe tiếng Út-TràÔn
từ máy phát thanh cất giọng đưa một câu hát rao
thật mùi để quảng cáo cho tuồng hát tối. Tiếng ca
xuống giọng bà cũng theo đó ríu-ríu đặt nồi cơm
xuống đất, vội đi vay tiền để đêm đến đi gặp Út-
Trà-Ôn.
Khi chưa đi tu, tôi có được xem một vở hài kịch do
ông Trần-văn-Trạch đóng. Ông mặc một bộ đồ 4, 5
thứ kiểu, quần áo xốc-xếch, mặt mày tùm lum ; ông
ca một bài gồm 4, 5 thứ tiếng, diễn vai một người
mang thân chạy giặc đến ở mướn nhà người ta. Gặp
trúng nhà ông nghệ sĩ có tài nhưng nghèo mạt kiếp.
Ở mấy tháng rồi mà không được lãnh tiền lương,
anh buồn muốn bỏ đi. Mỗi lần ngỏ ý thì ông nghệ sĩ
đem đàn ra đánh. Nghe tiếng nhạc ông lại đi không
được, đành ở lại ! Ông nhạc sĩ đánh đàn, ông Trầnvăn-
Trạch bị hút theo âm điệu, bộ tướng cũng rung
chuyển theo. Ở hàng ghế khán giả, một ông Pháp
cũng bị hút theo điệu bộ ông Trần-văn-Trạch, ngồi
trên ghế mà rung mình theo điệu nhạc. nước mắt
nước mũi chảy tùm lum mà không hay ; làm cho tôi
cũng phải một bữa cười gần đứt ruột ! Chuyện bị
hút là vậy. Nếu không bị sức hấp dẫn của ngoại
cảnh đối với 6 giác quan tức là chúng ta đã được tự
tại.
* Hỏi: Như kinh nói : ba tụ-tịnh-giới là thệ dứt tất cả
nghiệp ác ; nguyện tu tất cả việc thiện ; nguyện độ
tất cả chúng sanh. Nay chỉ nói chế ngự cái tâm 3
độc há chẳng không hợp đó sao ?
Đáp: Phật nói ra điều gì là chân thật, bực Đại-Bồ-
Tát trong nhân tu hành của quá khứ là đối ba độc
phát ba thệ nguyện giữ tất cả tịnh giới.
Nghĩa là phát lòng thệ nguyện để phá trừ ba độc.
thí dụ nói : tôi bằng lòng giúp đỡ tất-cả người nghèo
khó. Thế là hồi đó tôi đã có một thái độ để đối trừ
lòng keo kiết. Còn nếu tôi nghĩ rằng giúp đỡ người
nghèo khó để kiếp sau tôi được hưởng cái gì ; thì
không những hồi đó tôi không đối trừ được lòng keo
kiết mà tôi còn chồng thêm một lòng tham kiểu mới
bằng cách mua bán.
* Đối với tham thì nguyện dứt các điều ác, thường
tu các điều thiện. Đối với sân thì nguyện độ tất-cả
chúng sanh, nên thường tu huệ. Đối với si nhờ hành
trì 3 pháp tịnh Giới Định Huệ ấy nên có thể siêu 3
độc mà thành Phật. Các ác tiêu diệt gọi là đoạn. Vì
hay giữ được 3 tụ-tịnh-giới thì các thiện đều đủ, gọi
đó là tu.
Nghĩa là không phải cạo trọc, ăn chay ở chùa mới
là tu. Nhưng tôi nói vậy không phải là xúi người ta
ăn mặn. Sự thật hễ quay trở vào thì tất-cả pháp thiện
đều hiện, tự nhiên vậy. Thế mới gọi là tu.
* Vì hay dứt ác tu thiện thì vạn hạnh thành tựu,
mình người đều lợi, giúp khắp quần sanh, nên gọi là
giải thoát.
Thưa, tất-cả vạn pháp trên thế gian này như một
con dao 2 lưỡi, hễ có bề lợi tất có bề hại. Hễ tham
bề lợi thì phải lãnh luôn bề hại. Cũng như hễ may
đối với phe này thì rủi đối với phe kia, rủi ở phe này
thì may đối với phe kia vậy. Nên làm cách nào để
cho tất-cả đều có lợi mà không có hại thì mới là
chánh pháp. Muốn được thế thì chỉ có cách quay trở
vào mình là hay nhất.
* Thế mới biết giới hạnh để tu ấy chẳng lìa tự tâm.
Nếu tự tâm thanh tịnh thì tất-cả cõi Phật đều thanh
tịnh.
Nói cách khác, hễ tâm thanh tịnh thì có cõi Phật ;
tâm không thanh tịnh thì không có cõi Phật. Hay có
thể nói hễ tâm chúng sanh còn sạo sục thì không có
thánh hiền ở đâu mà tìm ; hễ tâm hết sạo sục thì
chính mình là thánh hiền, và nhìn ra ai là thánh hiền
ai là phàm tục tức khắc biết. Nếu tâm chúng ta còn
sạo sục thì tự nơi mình còn không thể biết làm gì
biết được ai !
Nên hỏi quỉ thần là gì, và quỉ thần có thiệt hay
không sao bằng hỏi : mình là gì? Mình có thiệt hay
không ? – Nếu biết được vậy thì biết được quỉ thần.
Nếu không biết được mình là gì thì hỏi quỉ thần làm
sao biết !- Cũng như có người hỏi Khổng Tử : chết
rồi ra sao ? Ông hỏi lại : Sống ra sao ? Đáp : không
biết. Khổng Tử mới nói : Sống còn không biết làm
sao biết chết !
Nên khi tâm còn sạo sục thì không thể sống bình
yên được.
* Nên kinh nói : hễ tâm dơ bẩn thì chúng sanh dơ
bẩn, tâm trong sạch thì chúng sanh trong sạch.
Nói một cách khác hơn, khi trong tâm tôi nổi lên ý
muốn ăn trộm thì nguyên con tôi chỗ nào cũng là ăn
trộm, mỗi tế bào tôi đều có mùi ăn trộm. Khi trong
tâm tôi khởi lòng thánh hiền thì mỗi tế bào tôi đều
có mùi thánh hiền.
* Muốn được cõi Phật phải tịnh cái tâm, tùy cái tâm
tịnh thì cõi Phật tịnh, ba tụ-tịnh-giới tự nhiên thành
tựu.
“Cõi” là ở đâu? Nếu chỗ này không phải là tôi ở
đây thì quí ngài đâu có tới đây. Mà nếu tôi là ông
chăn vịt ở đây thì tự nhiên chỉ có đám chăn vịt với
tôi.
* Hỏi : Như kinh nói : 6 Ba-La-Mật cũng gọi là 6
độ. Nay nói 6 căn thanh tịnh gọi là Ba-La-Mật vậy
chỗ dung thông phải như thế nào ?
Đáp : Muốn tu 6 độ phải tịnh 6 căn, trước hàng
phục 6 kẻ giặc … Hễ xả được giặc mắt, đừng đắm
theo sắc thì gọi là Bố thí. Ngăn được giặc tai, đừng
đắm theo âm thinh thì gọi là giữ giới. Phục được
giặc mũi, không đắm theo mùi thì gọi là nhẫn nhục.
Chế được giặc miệng, không tham theo vị, không
đắm theo giọng, không buông lung theo nói năng
tạp loạn thì gọi là tinh tấn. Hàng được giặc thân,
chẳng đắm theo xúc dục – Rỗng rang chẳng động,
gọi là Thiền-định. Điều phục được giặc ý, chẳng
thuận với vô thường, thường tu giác huệ, gọi là tríhuệ.
Độ nghĩa là chuyên chở. Sáu độ ví dụ cũng như
đò, có thể đưa chúng sanh qua bờ sông bên kia nên
gọi là 6 độ.
Nghĩa là có thể giúp cho chúng ta từ mê sang giác.
* Hỏi : Kinh nói đức Thích Ca khi còn làm Bồ-Tát
đã từng uống 3 đấu 6 thăng sữa mới thành Phật (3
đấu 6 thăng : hơn 3 lít rưỡi). Trước nhờ uống sữa rồi
sau mới chứng quả, há chỉ quán tâm mà được giải
thoát ư ?
Đáp: Đúng thế ! đúng thế ! Phải trước uống sữa rồi
sau mới thành Phật. Nhưng phải biết sữa có hai thứ.
Thứ sữa Phật uống đây không phải là sữa trâu, sữa
bò, sữa dê của thế gian đâu, mà là thanh tịnh pháp
nhũ đó ! Ba đấu tức là 3 tụ-tịnh-giới, 6 thăng là 6
độ. Thành Phật phải nhờ uống thứ sữa pháp thanh
tịnh như thế mới chứng được quả. Nhưng phải biết
đây là một cách nói kín. Nếu hiểu Như-Lai uống các
thứ sữa vật chất thế gian thì thật là lầm lắm ! Chân
như vốn tự là pháp thân vô lậu bất hoại, lìa hẳn tấtcả
các cái khổ thế gian, há lại phải nhờ vật chất bất
tịnh thế gian để khỏi đói khát ! Trong kinh có nói :
thứ bò này chẳng ở cao nguyên, chẳng ở đất thấp,
chẳng ăn lúa cám, chẳng cùng loại bò bô nhập bầy,
màu lông vàng ánh tia. Chữ bò ở đây là để ám chỉ
cho Phật Tỳ-Lô-Giá-Na, vì lòng từ bi rộng lớn,
thương xót tất-cả chúng sanh, nên từ trong pháp thể
thanh tịnh xuất hiện ra thứ sữa pháp 3 tụ tịnh giới và
6 độ vi diệu như thế đề mà nuôi dưỡng cho tất-cả
những ai cầu giải thoát.
Đây là những đoạn dùng ẩn ngữ trong kinh nhà
Phật. Có những ví dụ rất lạ : ông Phật ví với con bò,
Bồ-Tát ví với con sư tử. Có rất nhiều cách nói, nếu
không hiểu được ý muốn nói thì chúng ta cứ chạy
theo ví dụ thôi.
* Cái nghĩa bò và sữa thanh tịnh như thế không
những Như-Lai uống vào là được thành đạo, mà dẫu
cho ai uống vào cũng đều được đạo Vô Thượng Bồ-
Đề cả.
Ý muốn nói nếu là 3 tụ-tịnh-giới và 6 Ba-La-Mật
thì ai cũng cần.
* Hỏi : trong kinh nói : Phật dạy chúng sanh cất
chùa, đúc vẽ hình tượng, thắp hương đèn, rải hoa,
ngày đêm 6 thời quanh tháp hành đạo, ăn chay lễ bái
; làm hết thảy công đức ấy đều được thành đạo. Nếu
chỉ quán tâm nhiếp hết các hạnh, như thế té ra bao
nhiêu chuyện kinh nói đều thành hư luống sao ?
Đáp: Phật có nói ra điều gì đều là vô lượng phương
tiện vì tất-cả chúng sanh ngu tối, căn cơ thấp kém
chẳng tỏ nghĩa lý sâu mầu, nên mới mượn việc thế
gian hữu vi để mà thí dụ. Nếu chẳng lo tu hạnh ở
trong, chỉ chạy ra ngoài mà cầu hy vọng được
phước thì thật là vô lý. Nói chùa cũng như nói nơi
thanh tịnh. Nếu dứt trừ 3 độc, thường tịnh 6 căn,
thân tâm rỗng lặng, trong ngoài thanh tịnh, đó là
nghĩa cất chùa. Còn nói đúc vẽ hình tượng là nói tấtcả
chúng sanh mong cầu đạo quả ; cách hạnh giác
để tu là phỏng theo chân dung diệu tướng cuả Như-
Lai, chớ đâu phải nói chuyện hữu vi vật chất. Cho
nên người cầu giải thoát phải lấy thân làm lò, dùng
pháp làm lửa, dùng trí huệ làm thợ khéo, 3 tụ-tịnhgiới
6 độ là khuôn. Ung-đúc chơn như tánh Phật
trong thân cho vào khuôn giới luật.
Nếu kỉnh nhận thực hành đừng cho sai chạy, tự
nhiên thành tựu. Còn nói tượng chân dung là nói
pháp thân thường trụ, vi diệu cứu cánh, chớ không
phải cái thân hữu vi bại hoại. Nếu người cầu đạo
chẳng rõ cái nghĩa ung đúc như thế, vậy vẽ chân
dung bằng cứ nơi đâu mà nói là công đức ?
Nghĩa là tận cùng nguồn tâm tánh của mình thì gọi
là chân dung.
* Còn nghĩa thắp hương cũng vậy ; là thứ hương
chánh pháp vô vi, xông lên để tẩy sạch các uế
nghiệp ác vô minh, hết thảy đều tiêu diệt. Hương
chánh pháp có mấy thứ : Một là hương Giới, nghĩa
là ý nói hay dứt các ác, hay tu các điều thiện. Hai là
hương Định, nghĩa là tin sâu Đại Thừa, tâm không
thối chuyển. Ba là hương Huệ, là thường quán sát
trở vào trong tự thân tâm. Bốn là hương Giải Thoát,
là dứt hết cả vô minh trói buộc. Năm là hương Giảithoát-
tri-kiến, là xét soi thường tỏ, thông suốt không
ngại. Năm thứ hương như thế gọi là hương tối
thượng, thế gian không sánh được. Phật ở thế gian
bảo các đồ đệ dùng lửa trí huệ đốt thứ hương vô giá
này để cúng dường mười phương chư Phật.- Chúng
sanh đời nay chẳng rõ nghĩa chơn thật của Như-Lai,
chỉ dùng lửa ở ngoài mà thắp các thứ hương vật chất
thế gian để mong cầu phước báo làm kết qủa.
Còn nghĩa rải hoa cũng vậy, là nói công đức đem
chánh pháp mà giảng dạy lợi ích chúng sanh, thấm
nhuần khắp tánh chơn như, bố thí trang nghiêm.
Thứ hoa công đức này Phật thường khen ngợi, cứu
cánh hằng còn không bao giờ héo tàn. Nếu ai rải hoa
như thế sẽ được phước báo vô lượng – Nếu nói Phật
dạy chúng sanh cắt xén bông hoa, tổn thương thảo
mộc cho được hoa để rải thì thật là vô lý. Vì sao thế
? Vì người giữ giới thanh tịnh thì tất-cả sum la vạn
tượng trong trời đất cũng không xúc phạm. Khi lầm
phạm còn có ăn năn thay huống chi là dạy cổ phá
tịnh giới, tổn thương vạn vật để cầu phước báo ;
muốn lợi lại hại, há có như thế sao ?
Lại nữa nói luôn luôn đốt đèn sáng là ý nói cái tâm
chánh giác tỏ suốt ví cũng như đèn sáng. Cho nên ai
muốn cầu giải thoát phải lấy thân làm đài, tâm làm
tim, các giới hạnh làm dầu, trí huệ tỏ suốt làm lửa.
Thường thắp đèn chơn chánh giác, chiếu phá tất-cả
vô minh ngu tối, hay dùng pháp này lần lượt khai thị
lẫn nhau tức là một ngọn đèn mổi ra trăm ngàn ngọn
; cứ như thế mãi mãi vô cùng, nên gọi là Vô-tậnđăng.
Đúng nghĩa Thiền là phải như vậy. Rõ-ràng lắm !
* Xưa có Phật tên là Nhiên Đăng, ý nghĩa Nhiên
Đăng là thế. Chúng sanh ngu si chẳng rõ lối nói
phương tiện của Như-Lai, luống làm theo sự, đam
chấp việc hữu vi ; bèn dùng các thứ đèn dầu thế gian
đốt lên luống soi nhà trống, rồi bảo là làm đúng theo
kinh, há chẳng lầm lắm sao ? Vì sao thế ? – Vì Phật
phóng một đạo hào quang trắng ở giữa hai chơn
mày, có thể chiếu suốt 18 ngàn cõi nước phương
Đông, há đợi nhờ đèn dầu thế gian leo nheo như thế
để làm lợi ích ! Gẫm xét cái lý phải chẳng thế sao !
Sự thiệt trí huệ thì vốn vô lượng vô biên.
* Lại nữa, 6 thời hành đạo nghĩa là nói nơi 6 căn
luôn luôn thực hành đạo Phật, tu các hạnh giác.
Điều phục 6 căn, mãi mãi không hở, gọi là 6 thời.
Còn quanh tháp hành đạo, chữ tháp nơi đây là ám
chỉ cho thân tâm đó ! Nghĩa thường sanh giác huệ
tuần sát thân tâm luôn luôn chẳng hở, gọi là quanh
tháp. Các bực thánh đã qua đều nhờ thực hành cách
ấy mà được Niết-Bàn. Người đời nay chẳng rõ lý
này, chẳng thực hành nơi tâm, chỉ chấp trở ra mà
tìm, đem cái thân chướng ngại đi quanh tháp thế
gian ngày đêm lũ lượt, luống uổng nhọc công, đối
với chơn tánh không chút lợi ích. Còn nói ăn chay
lại phải càng thêm để ý, nếu chẳng rõ lý này thì
càng nhọc công vô ích. Chữ chay ở chữ Hán là chữ
Trai, mà chữ Trai lại từ chữ Tề mà biến, nhưng chữ
Tề cũng như nghĩa chữ Bình. Nghĩa là tề bình thân
tâm, chẳng để tán loạn.- Chữ ăn nơi đây cũng như
nghĩa chữ giữ. Nghĩa là giữ các giới hạnh, đúng
phép tu hành. Ở ngoài phải ngăn ngừa 6 tình, ở
trong phải chế ngự 3 độc, siêng giác sát, tịnh thân
tâm, biết rõ nghĩa này mới gọi là ăn chay.
Thưa, nói vậy không phải là biều đừng ăn chay.
Nhưng muốn nói chúng ta đừng ỷ lại vào việc ăn
chay để mong một lát nữa thành cái gì, như thế
không phải.
* Lại nữa, chữ ăn ở đây có 5 nghĩa:
Một, ăn bằng vui với pháp, nghĩa là giữ y chánh
pháp hoan hỷ vâng làm.
Hai, ăn là vui với Thiền-định, nghĩa là trong ngoài
lặng suốt, thân tâm vui đẹp.
Ba là ăn bằng suy nghĩ, nghĩa là thường nghĩ chư
Phật lòng miệng như nhau.
Bốn là ăn bằng nguyện, nghĩa là đi đứng nằm ngồi
thường cầu nguyện lành.
Năm là ăn bằng giải thoát, nghĩa là tâm thường
thanh tịnh, chẳng nhiễm tục trần.
Năm nghĩa ăn này gọi là ăn chay. Nếu ai chẳng
nhận 5 nghĩa chay tịnh này mà tự hào là ăn chay đều
là làm việc vô lý. Cần nhứt phải dứt cho được cái ăn
mê muội. Nếu phải va chạm gọi là phá trai.
Ăn mê muội nghĩa là thí dụ nghe nói ăn sáng là
chư thiên ăn, trưa là Phật ăn, chiều là súc sanh ăn,
tối là ma quỉ ăn ; nghe thế rồi bữa trưa ráng ăn thật
no để chiều khỏi đói, ăn rồi nằm thở. Như vậy mới
thật là súc sanh ăn !
* Nếu đã phá trai sao gọi là được phước ? – Đời có
người mê chẳng rõ lý này, thân tâm phóng túng theo
các nghiệp ác, tham dục, buông tình, chẳng biết xấu
hổ. Chỉ ăn được ba thứ rau cải rồi tự hào là ăn chay
thì thật là phi lý.
Còn nói lễ lạy đúng theo phép thì ở trong phải tỏ
thông lý thể, ở ngoài thì sự tùy quyền thông. Lý có
khi phải hiện, có khi phải ẩn. Biết được nghĩa như
thế mới gọi là y theo pháp. – Vả chăng lễ nghĩa là
kỉnh, lạy nghĩa là phục. Nghĩa là cung kỉnh chơn
tánh, hàng phục vô minh ; đó là lễ bái. Nếu có thể
dứt trừ lòng ác, thiện niệm hằng giữ ; tuy chẳng hiện
tướng, nhưng đó mới thật là lễ lạy.
Nghĩa là lạy để phá cái kỳ khôi ngã mạn chớ
không phải lạy để cầu xin, chúng ta dùng pháp chớ
không phải để pháp nó dùng.
* Tướng là pháp tướng. Thế Tôn muốn làm cho
người đời tỏ lòng khiêm tốn cũng là lễ lạy. Nên phải
ở trong khuất phục, ngoài hiện khiêm cung ; nêu cái
bên ngoài để rõ bên trong, tánh tướng như nhau.
Nếu không căn cứ trên pháp lý, chỉ chấp tướng bên
ngoài mà cầu, trong thì mở cửa 3 độc, thường làm
nghiệp ác, ngoài làm ra tướng ghê gớm, trá hiện oai
nghi, chẳng khỏi luân hồi, há thành công đức ? !
Hỏi : Như kinh Ôn-Thất nói : Tắm gội chúng tăng
phước đức vô lượng. Đó là rõ ràng dựa vào sự pháp
mới thành công đức ; nếu là quán tâm có thể tương
ưng được sao ?
Đáp : Nói tắm gội chúng tăng cũng chỉ là một thứ
ẩn ngữ, chớ phải đâu bảo làm theo sự tướng thế gian
! Đức Thế-Tôn thường vì các đệ tử mà giảng kinh
Ôn-Thất để cho thọ trì phép tắm gội, nên mượn việc
thế gian để ví dụ. Mật nói công đức của 7 việc cúng
dường như sau đây : 1 là nước trong, 2 là nhúm lửa,
3 là xà phòng (chất tẩy), 4 là bàn chải, 5 là phấn bột,
6 là dầu ướp, 7 là áo lót. Dùng 7 việc này để ví dụ
cho 7 pháp. Tất cả chúng sanh theo 7 pháp tắm gội
trang nghiêm này, thì có thể trừ được tâm độc vô
minh dơ bẩn. Bảy pháp ấy là :
1) Dùng tịnh giới gội rửa mê lầm cũng như dùng
nước trong gội rửa bụi bặm.
2) Dùng trí huệ quán sát, trong ngoài sáng suốt
cũng như nhúm lửa nấu nước trong.
3) Lừa lọc các điều ác, cũng như xà phòng rửa
sạch dơ bẩn.
4) Chơn thật dứt trừ vọng tưởng, cũng như bàn
chải hay làm sạch miệng hôi.
5) Chánh tín quyết định không nghĩ cũng như
phấn bột dùng để xoa trong thân có thể ngăn
ngừa các chứng phong ngoại cảm.
6) Nhu hòa nhẫn nhục, cũng như dầu ướp làm
thông nhuận mặt da.
7) Biết hổ thẹn ăn năn các nghiệp ác cũng như
áo lót mình để che khuất bớt các chỗ bất tiện
trong cơ thể.
Bảy pháp vừa nói trên là nghĩa bí mật trong kinh.
Lúc đó Như-Lai vì các bực đại thừa lợi căn mà nói,
chớ đâu phải vì phàm phu trí kém mà nói đâu ! Đó
là chỗ người nay không thể rõ. Còn nghĩa Ôn-Thất
cũng là ám chỉ cho thân đó. Cho nên nhúm lửa trí
huệ, nấu nước tịnh giới để tắm gội chơn như tánh
Phật trong thân. Thọ trì 7 pháp để tự trang nghiêm.
Hạng Tỳ-Kheo lúc đó thông minh lanh lợi đều ngộ
ý thánh, theo chỗ nói mà tu hành, công đức thành
tựu, đều chứng quả thánh. Chúng sanh đời nay
không rõ tự sự, đem nước thết gian để tắm rửa cái
thân tứ đại mà tự cho là làm theo kinh ; như thế há
chẳng lầm lắm sao ! Vả lại tánh Phật chơn như đâu
phải thứ có hình ; phiền-não bợn nhơ bổn lai không
tướng. Há có thể đem nước vật chất để gội rửa cái
thân vô vi được sao ? Trên sự đã chẳng tương ưng
làm sao ngộ được đạo ! Nếu muốn thân được tịnh,
phải quán thân này vốn từ tham dục hôi hám dơ bẩn
sanh ra, trong ngoài đầy dẫy ; thế mà muốn gội rửa
cho thân này được sạch thì nào có khác chi rửa
đường mương. Chỉ đừng có đường mương thì mới
sạch cho. Cứ theo đây mà nghiệm thì đủ rõ tắm gội
bên ngoài không phải là ý của Phật vậy.
Hỏi : Kinh nói chỉ chí tâm niệm Phật tất được vãng
sanh về cõi Cực Lạc, chỉ một môn này là được
thành Phật, đâu cần phải quán tâm để cầu giải thoát
? !
Đáp : Niệm Phật nghĩa là phải niệm chánh. Nghĩa
rốt ráo mới là nghĩa chánh, chẳng rốt ráo là tà. Nếu
niệm chánh tất được vãng sanh, niệm tà làm sao đến
được. Phật nghĩa là giác, nghĩa là giác sát thân tâm
đừng để khởi ác. Niệm nghĩa là nhớ, nghĩa là giữ
giới hạnh, đừng vọng tinh tấn. Cần rõ nghĩa như thế
mới gọi là niệm. Nên biết niệm ở nơi tâm, chớ
chẳng phải ở miệng, mượn ngôn ngữ để cầu ý, được
ý phải quên lời. Đã nói niệm danh hiệu Phật cũng
phải biết cái đạo niệm Phật. Nếu tâm không thật,
miệng niệm danh hiệu suông, 3 độc lẫy lừng, chấp
mình chấp người cả bụng ; dùng cái tâm vô minh
vọng cầu thấy Phật luống uổng tốn công. Đến như
tụng với niệm cũng khác nhau. Ở miệng gọi là tụng,
ở tâm gọi là niệm. Nên biết niệm từ tâm khởi, gọi là
môn giác hạnh. Còn tụng ở miệng là tướng âm
thanh, chấp tướng cầu lý thật là không phải. Phải
biết các thánh xưa tu hành đều không phải nói bên
ngoài, mà luôn luôn phải lấy tâm làm chủ, vì tâm là
nguồn cội vạn pháp, tâm là chủ của muôn đức, vắng
lặng thường vui đều bởi ngừng vọng. Ba cõi luân
hồi cũng từ tâm khởi, tâm là cửa của cuộc đời, tâm
là bờ giải thoát. Biết được cửa tâm rồi lo gì khó
thành ! Thấy được tâm rồi lo gì chẳng đạt ! Người
nay thấy biết nông nổi, chỉ biết sự tướng làm công,
hao phí của cải, tổn thương vạn loại. Luống công
xây đắp, gom nhóm vật liệu, vẽ vời rằn ri đem hết
tâm lực, tổn mình mê người, chưa biết tỉnh ngộ có
đâu sợ khó. Hễ thấy việc hữu vi thì nôn nao mê
đắm, còn nói đến vô tướng thì trơ trơ như mê. Chỉ
tham kế quả nhỏ nhen hiện tại ; chớ biết đâu cái khổ
biển cả sau này. Tu học như thế luống thêm nhọc
sức, trái chánh theo tà, vọng nói được phước. Nếu
chỉ có thể nhiếp tâm soi trở vào trong, giác quán ở
ngoài cho tỏ, dứt trừ 3 độc, đóng hết 6 cửa giặc
đừng cho nhiễu loạn ; tự nhiên vô lượng công đức,
bao thứ trang nghiêm, vô số pháp môn đều được
thành tựu, siêu phàm chứng thánh, tận mặt sát một
bên, ngộ trong giây lát, đâu đến nỗi khó khăn. Môn
chơn thật nhiệm mầu đâu thể nào trình bày hết. Nơi
đây chỉ thuật sơ về quán tâm, nói rõ ra chút ít vậy
thôi.
Kệ rằng:
Ta vốn cầu tâm tâm tự gìn
Cầu tâm chẳng được để tâm minh
Tánh Phật chẳng từ ngoài tâm được
Tâm sanh chính là lúc tội sanh
Ta vốn cầu tâm chẳng cầu Phật
Rõ biết ba cõi rỗng – không, suốt
Nếu muốn cầu Phật chỉ cầu tâm,
Chỉ tâm này, tâm này là Phật.
Luận Phá-Tướng đến đây là hết.
Thưa quí vị thiện hữu ! nghe qua 3 thiên luận rồi,
tôi chỉ mong chúng ta nên nhìn và kiểm điểm lại
cuộc tu hành của tất-cả chúng ta ngày nay là đúng
hay sai, và 3 thiên luận này có hợp lý hay không để
chúng ta chỉnh đốn lại cuộc sống đạo của chúng ta.
Sanh tử đối với biển cộng nghiệp ngày nay không
thể là chuyện trò đùa, chẳng ai thay thế cho ai được
cả. Mong tất-cả chúng ta nên nghĩ lại.
*
* * * *
HỘI TÔNG TỰ
Kết tập xong ngày 15-12 Qúy Sửu
– (1973) P.L 2517 –

BỒ ĐỀ ĐẠT MA QUÁN TÂM PHÁP – THÍCH MINH THIỀN phần 5

TUẦN THỨ SÁU
2 – 7 – 1972 (22 – 5 N. Tý)
THIÊN THỨ BA
LUẬN PHÁ TƯỚNG
Tôi rất bằng lòng ở điểm chúng ta – với một con
người rất bình thường – cùng nhau tột bực chân thật
để học hỏi. Với tôi, tất-cả những cái lạ xin gạt qua
hết. Nếu tôi chuộng cái lạ thì giờ đây cũng có vô số
người theo tôi. Nhưng đó là người ta theo cái lạ chớ
không phải theo tôi, cũng không phải theo Đạo.
Cũng như một người có thế lực thì có nhiều người
bon chen đi theo, đó là họ dong ruỗi theo thế lực
chớ không phải tìm Đạo. Do đó tôi bằng lòng với
việc tột bực chân thật với một con người bình
thường, xác thịt, nói chuyện về vấn đề con người, về
vấn đề sống mà không chen một chút xíu gì gọi là
cầu kỳ lạ lùng hết. Nên hễ ai chuộng cái thực thì đến
đây cùng học hỏi, không thích cái thực thì lần hồi
người ta sẽ tản đi. Ở đây tôi luôn luôn chỉ nhắm vào
sự thật mà nói.
Giờ đây chúng ta bắt đầu vào thiên thứ ba:
* Luận rằng : Ví có người hỏi : Nếu muốn cầu Đạo
phải tu cách nào cho đưọc chóng tắt nhất ? Đáp: chỉ
có pháp quán tâm nhiếp hết các pháp là chóng tắt
nhất.
Chữ “quán tâm” ở đây cũng như chữ soi trở vào
trong của Lục-Tổ vậy. Tất cả kinh điển nhà Phật,
ngàn kinh muôn pháp chung qui chỉ có pháp quay
trở vào trong chính con người của mình là pháp đi
thẳng chóng tắt nhất.
Con người sở dĩ khác hơn các loài thú-vật chẳng
qua chỉ là việc biết trở vào với chính con người của
mình. Nên nếu sợ quay về với chính con người của
mình, nghĩa là sợ giáp mặt với sự thật ; lẽ cố nhiên
là mình đã chấp nhận một cuộc sống chồng chất
kiến thức. Thế thì con người cũng là một sinh vật rất
đầy đủ khả-năng hơn tất-cả các sinh vật khác mà
thôi. Do đó con người cũng như con dao hai lưỡi,
như gươm bén, nếu không biết dùng vào việc lợi ích
lẽ tất nhiên sẽ dùng vào việc tai hại. Nên nếu con
người không trở về với mình thì so với các loài vật
khác còn thú vật hơn nhiều lắm. Đó là điều rất dĩ
nhiên không ai chối cãi được. Bằng cớ là bây giờ
chúng ta có thể nào tưởng tượng được ở trong loài
vật chưa hề có những thái độ đối đãi với nhau như
loài người đối đãi với loài người. – Con vật cấu xé
nhau bất qúa là một con cắn chết một con, còn loài
người có thể một người giết hằng triệu người. Cũng
như chỉ có con người mới đè cổ con gà con vịt cắt
cổ mà khấn :”Con gà con vịt ở dơ ở dáy đầu thai
kiếp khác làm ăn”. Loài vật không có kiểu đó. Nên
biết khi bộ óc con người phát triển qúa mạnh mà
không biết trở về với con người của mình, thì con
người sẽ thú vật hơn con thú nhiều lắm. Nhưng thú
vật dưới một hình thức mới mẻ, nên chúng ta nhìn
thấy bề ngoài cũng hấp dẫn như thường !
Do đó vấn đề trở lại với lòng không phải là việc
riêng của chùa chiền hay của ông Giáo-Chủ nào cả,
mà cũng không có ai là người đầu cơ được. Đó là
việc bổn phận của mỗi người đều phải làm như vậy.
– Và theo tôi, ý nghĩa của bổn phận một con người
hay bổn phận một công dân ít ra phải nhắm vào
điểm đó mới có nghĩa thật. Nên đối với ngày xưa,
trở về với con người của mình gọi là tu là điều
chánh pháp nhất. Vì đối với ngày xưa, nghiệp chung
còn nhẹ hơn nghiệp riêng, và con người ở xứ nào
sống theo xứ ấy. Nhưng ngày nay nghiệp riêng của
mỗi người đã nặng quá rồi, mà nghiệp chung lại
càng nặng hơn. Quả địa cầu trở nên vô cùng bé nhỏ
với thế vật chất năm châu họp chợ, tinh thần thì sát
mặt nhau mà lòng vẫn cách muôn trùng biển cả. Do
đó, theo tôi vấn đề trở về với mình là một điều
không ai được quyền chểnh mảng hết cả. – Nếu ai
đã chán ngán vấn đề giặc giã rồi thì phải như vậy.
Nhưng nếu còn sợ giặc, còn than khổ, mà sợ việc
trở về với mình, thế thì bất qúa là mình nói láo với
mình mà thôi, chẳng có sự thật chút nào hết. Nên tôi
thường hay đặt câu hỏi : “Có thể nào chúng ta vẫn
ăn uống, đi đứng, vẫn phát minh học hỏi … mà vẫn
không bị vướng vào vòng tục lụy được không ?” Đó
là câu hỏi từ trước tới giờ tôi thường nêu ra.
Còn vấn đề tôn giáo tín ngưỡng, theo tôi đối với
ngày nay nó đã đi đến chỗ cùng đường. Nhưng bởi
cái thế lười biếng của loài người chỉ thích nằm nhà
thương, thích uống thuốc ngủ, do đó vẫn còn hấp
dẫn đối với phần đông. Nhưng ở trong cơ vật chất
năm châu họp chợ, với lòng người cạn cợt, thì vấn
đề tôn giáo tín ngưỡng đã mãn nhiệm kỳ. Vì sao
thế? Vì qủa địa cầu càng hẹp, tôn giáo tín ngưỡng
càng giáp mặt nhau, thì sẽ chóng đi đến chiến tranh
cuối cùng cũng như bệnh tật cuối cùng. Tôi thường
hay nói : Cuối cùng con người phải lãnh hai hiện
tượng : một là bịnh ung thư tổng thể, hai là chiến
tranh tôn giáo, chiến tranh ý thức hệ ; đó là chưa kể
nạn nước lụt, lửa cháy và bão.
Phương chi, nếu chúng ta chịu khó tưởng tượng :
mỗi người chúng ta trên quả địa cầu này nếu cùng
xuất gia đi tu hết , thì rồi sẽ cũng phải trở về với
cảnh nhà ai nấy ở, và mỗi người cũng phải tự làm tự
sống. Khi xưa tôi chưa đi tu, tôi nhớ có một người
hỏi một vị đại đức : Nếu trọn hết thế gian này đều tu
thì cõi này thành ra cõi chết thì sao? Vị đại đức nói :
điều đó là tưởng tượng chớ không bao giờ có thật
được. Trả lời như thế là cũng có lối thoát, nhưng
không phải là lưu thông. Chớ sự thật mỗi người đều
cùng xuất gia thì mỗi người đều trở về nhà, đều tu.
Nghĩa là vẫn một cảnh, mà phát tâm tu.
Do đó, ngay bây giờ vấn đề trở về với chính con
người của mình là một vấn đề vô cùng quan trọng,
không phải là đối với riêng ai, mà mỗi người đều
phải tự lo liệu. Bạn tôi là ông Nguyễn-Bá-Tước, khi
đọc Nội-Kinh rồi ông thấy thương tôi, thấy như
chuyện đó tôi chỉ lo cho một mình ông vậy. Tôi nói
: thật tình tôi lo cho ông là tôi lo cho thiên hạ, hễ
duyên gần cái nào thì lo cho cái ấy trước. Sự đời
vốn không hai, có việc nào là việc riêng tư !
Nhưng khốn đốn là chúng ta thường thường mắc
phải cái bịnh bò tới chớ không chịu trở lui vào con
người cuả mình ; nên cứ đi tìm cái vững để chỉ gặp
tất-cả những cái không vững. Như thế nghĩa là sâu
kín trong lòng chúng ta vẫn còn nghi sẽ có một pháp
nào vững hơn. Bởi thế nên hóa ra không vững. Sự
thật, một người khi đã tột bực tuyệt vọng rồi thì mới
chịu yên. Cũng như khi xưa người pháp chiếm tỉnh
Định Tường, lúc đó Thủ-Khoa-Huân trấn thủ.
Người Pháp bắt được ông đem lên đài xử tử. Ông
nghĩ đã đến lúc không còn làm gì được hơn, nên
ông bình tâm làm một bài thơ khẳng khái, để lại đến
ngày nay đã trở thành bất hủ. Do đó chỉ có trong
những khi tuyệt vọng hay khi đã thấy hết rồi thì
lòng người mới thiệt hết sạo sực. Bởi vậy nếu gặp
cảnh không vững mà mình còn chưa thiệt vững, lại
còn nghĩ tìm cách nào để tạm vững hơn thì không
bao giờ được. Nên tôi thường hay nói ở trong chúng
ta đều luôn luôn có toan tính, nương dựa. – tất-cả
mọi lãnh vực trong lòng mình đều có tính toán trước
hết. Nên bao giờ mưu mô trong lòng ngừng dứt thì
cuộc sống hiện tại này mới yên.
Bởi vậy việc trở về với mình ; nói thì dễ nhưng
chúng ta chớ coi thường, vì chính chỗ đó là then
máy. Nếu chúng ta không hằng soi trở lại, thì vấn đề
bản thân của chúng ta trong cuộc sống hằng ngày
đối với tất cả những tiếp xúc, ăn uống, và sâu hơn
nữa là những biến hóa của tâm tư v.v… chúng ta sẽ
không tài nào nắm vững sự kiểm soát được. Nên tôi
nói hầu hết chúng ta gần như là bị cái bịnh bò tới,
không lưu tâm đến vấn đề trở vào. Chính như con
người của tôi, khi tu độ 2 năm tôi rất lưu tâm đến
vấn đề tâm. Nhưng trong tâm tôi bị lệch nhìn trở ra
một chút, nhất là thấy qúi Thầy học kinh sách nhiều
quá làm cho tôi nôn, sợ theo không kịp người ta ;
nên rốt cuộc cũng chẳng tới đâu. Tới cuối cùng đục
nước thấy cái lội trở ra không xuể nữa. Tôi bằng
lòng đứng lại để soi trở vào chính con người của
mình. Bừng tỉnh ra mới thấy rõ từng chút, từng chút
trong con người của mình. Nên tôi nói chỉ có việc
dám đứng lại để soi trở vào trong là một nguyên tắc
thiết yếu nhất. Nếu vọng niệm tôi chưa đã thèm với
sự lội ra thì việc đứng lại sẽ không dễ gì đứng được.
Nhưng nhờ có thiện tri thức nói ra điều đó, may ra
chúng ta có phần nào nháng lên thấy được cái lý để
tin tưởng mà quay trở vào. Đó là một trong những
từng lớp của việc soi trở vào trong.
Thêm nữa chúng ta phần nhiều rất sợ sự thật.
Chúng ta luôn luôn đề cao sự thật, nhưng rất khó
thật với chính mình, huống chi là thật với kẻ khác.
Dù chúng ta là nhà giáo dục hay là chánh phủ cũng
vị tất đã dám thật ! (không hẳn có địa vị mà là dám
thật). Đó là điều chúng ta phải thận trọng lưu tâm.
Nên tóm lại, trong việc trở về với mình tuy có
nhiều cách, nhưng bước trước nhất là phải dám tột
bực thành thật với mình. Ví như thấy mình yếu đuối
không dám ngó ngay vào trong sự thật, thì tự chấp
nhận ngay là mình yếu đuối không dám nhìn thẳng
vào sự thật. Như thế có cơ mình sẽ dám nhìn thẳng.
Còn né tránh nó là không khi nào mình nhìn thẳng
được. Chỉ cần tột bực thành thật, theo dõi mình từng
ly từng tí, thì tất-cả những gì đến với mình biến hóa
con người mình ra sao, mới có thể biết được. Đó là
cách làm của những người luôn luôn thích giáp mặt
với sự thật, đương đầu với những biến động để giáp
mặt sự thật xem ra sao. Đến khi cùng cực rồi thấy
không có gì vững nữa, bỗng nhiên hồi ấy mình
vững. Đó là một cách.
Hoặc như king Kim-Cang dạy cho chúng ta quán
xét từ vật chất đến tinh thần, từ thân đến tâm … nếu
thấy được tất-cả đều là tổ hợp, tất-cả đều là mâu
thuẫn một cách thật rõ ràng ; và lúc nào cũng thấy
được như thế thì mọi vấn đề sẽ giải quyết được dễ
dàng, tới nơi tới chốn. Nên tôi thường hay nói, một
ông thầy tu ngồi lại để khám phá chính con người
của mình, với một vị bác sĩ tốt nghiệp y khoa cũng
theo đuổi vấn đề khám phá con người. Cuối cùng cả
hai đều thấy xác thân con người là một mớ tổ hợp
của những phần tử cực nhỏ, muốn gọi là tế bào hay
gọi là gì cũng được. Nhưng ông thầy tu đối với vấn
đề vật chất, sắc tướng lòng vẫn thản nhiên. Trái lại
vị bác sĩ thì không thể thản nhiên được. Tại sao vậy
? – Là tại thấy ngoại cảnh làm đối tượng khám phá,
mà bỏ quên việc soi trở vào chính con người của
mình. Do đó, kết qủa biết thì vẫn như nhau mà lý
với sự lại là hai nẻo. Cho nên biết nếu không quay
trở vào thì cái biết chẳng qua là thứ chồng thêm
kiến thức, và con người chỉ còn là một sinh vật chở
đầy nhóc kiến thức thế thôi. Đó là một cách.
Thêm nữa, có nhiều người lại không hợp với điểm
đó, mà lại đòi hỏi có sự giúp đỡ của Thiện tri thức,
bằng cách chỉ cho tạm thời quay trở vào trong dứt
hẳn những nghĩ tưởng để nghiệm xem bản sắc của
tâm linh ra sao ; tạm thời được rơi vào giữa ánh
sáng tâm linh ấy, để có được một cặp mắt không bị
méo mó, không bị thiên lệch phiến diện. Rồi từ đó
mới bắt đầu nhìn sự vật để khám phá chíng con
người của mình, cũng như khám phá ngoại cảnh ;
nhìn đến đâu sẽ rõ ràng, tỏ rõ đến đấy. – Như thế
cũng chẳng khác nào chúng ta muốn nhìn trọn một
qủa địa cầu, phải có dịp ngồi phi thuyền vượt thẳng
ra không gian nhìn lại quan sát địa cầu mới thấy rõ.
Nên vấn đề quay trở vào con người của mình để
giáp mặt với hiện tại của tâm linh, rồi từ đó khám
phá mọi sự vật cũng tương tự như vậy. Đó cũng là
một cách.
Cho nên sống mỗi người mỗi nết, chết mỗi người
mỗi tật, đau mỗi người mỗi chứng, thuốc mỗi người
mỗi thang. Chúng ta gặp nhau đây không phải là
vấn đề qúi vị mong được truyền dạy cho một phép
lạ gì, hay là vấn đề tôi mong thu được nhiều người
theo phe cho oai. Không phải thế. Nhưng tôi nói
chẳng những cho quí vị nghe mà tôi cũng nghe.
Cũng như quí vị nghe đây không phải chỉ để quí vị
nghe mà còn giúp cho tôi nữa. Do chỗ đó, trong tôi
có tất-cả mọi người, trong tất cả mọi người đều có
tôi. Nghe như vậy nói như vậy mới đúng nghĩa nghe
đúng nghĩa nói. Và nếu chúng ta không dám phanh
phui hết sự thật ra, thì cuộc học hỏi của chúng ta
bằng lòng kéo dài ra vô lượng kiếp. Nên ở đây tôi
phải dám nói thẳng ra sự thật, tôi phải dám cố gắng
mà lớn lên cho bằng lời.
Nếu tôi nói như vậy mà chỉ còn độ 3,4 người đến
cùng nói chuyện, thì cũng còn hơn có được hằng
triệu người nghe mà chỉ đi theo vì thế lợi. Do đó,
theo tôi “nhơn sanh quí thích chí”. Hễ ai đã thèm sự
đời, muốn đi ra cứ việc ra, chúng ta sẽ cùng nhau
nói chuyện. Còn nếu thấy chưa đã thèm cuộc đời,
còn muốn thò tay vô nữa thì cứ việc làm. Cuộc đời
là một lò cừ, nên có câu hát rằng.
“Lò cừ nung nấu sự đời,
Bức tranh vân cẩu vẽ người tang thương” là vậy.
Hỏi: Thưa, nghĩa học Đạo có phải là tự mình
ngừng dứt các duyên thì sẽ tự rõ được mình, chớ
không phải cố đi tìm mình mà thấy được ?
Đáp: thật ra, nếu ai còn lội đi tìm, thì tôi biết người
đó chưa có thấy, hay ví dù có gặp được cũng chỉ là
thứ giả, chớ không phải thứ thiệt. Tôi nói lội đi tìm
đây là lòng phóng ra, chớ không phải là mình tránh
sự gặp gỡ với nhau. Không thể nào tôi đi tìm chân
lý, Chúa, hay Thượng đế, hay Phật … mà có thể gặp
được. Chỉ trừ khi lòng tôi thiệt hết sạo sục; Bỗng
dưng bừng tỉnh ra mới hay tôi chính là chân lý.
Lắm khi tôi cứ thắc mắc với vấn đề có Thượng-đế
hay không có Thượng-đế … Nhưng thật ra dù có
Thượng-Đế hay không, hằng ngày tôi vẫn phải làm
để sống, phải tu học để sửa đổi con người của tôi,
không ai làm thế cho tôi được cả. Thế thì tại sao
bỗng dưng tôi lại dựng lên một chuyện sạo sục vô lý
thế ! Lẽ cố nhiên có cái để mình gọi là Thượng-đế
hay không, điều đó không quan hệ. Đã không quan
hệ thì chúng ta phải coi chừng chữ Thượng-đế là do
chúng ta bày đặt ra mà thôi ! Vì nếu có bình tĩnh
một chút thì mới thấy rằng chúng ta có thể tự làm để
sống được, có thể học hỏi để tự sửa đổi được …
Đến chỗ tận cùng là thằng người có thể trở thành
ông Thánh, ông Tiên hay ông Phật .. nghĩa là trở
nên một người rất bình thường, một người đã cùng
với bao la đồng nhất. Khi ấy mới hay ra Thượng-đế,
Phật, Trời hay Chúa … chỉ là mình, chớ chẳng có
chi lạ !
Thưa, tôi nói vậy không phải là tôi thấy chỉ có
mình tôi mà không có quí vị ở ngoài tôi. Tất cả đều
là hiện tượng thì tôi cũng là một thứ hiện tượng.
Nên nếu tôi quay trở vô, cái TÔI của cái chấp hiện
tượng này mất đi, thì tất-cả trong qúi vị đều có tôi,
trong tôi có tất cả qúi vị. Cuộc sống này là đồng
nhất, tương quan, trật tự, biến hóa, lưu thông. Trở
lại nguồn gốc, cứ để y nguyên nó vậy đừng thêm gì
nữa. Nhưng lạ thay, chúng ta cứ ngồi tằn nắm lấy.
Chỉ cột thêm vô !
Hỏi : Thưa, theo nghĩa Thiền-học thì càng tìm
càng không thấy. Nhưng thực tế trong cuộc sống thì
càng tìm gạo mới có gạo, càng kiếm tiền mới có tiền
… như vậy lẽ phải ở đâu?
Đáp : Thưa, ngừng chỗ đó tôi nói cho nghe. Khốn
đốn cho chúng ta là khi có một bao gạo thì mình
thấy có, mà mất đi một hai ngàn thì không hay. Tôi
kể một chuyện xảy ra ở chùa này để mọi người thận
trọng. Một hôm có người đem cho chùa một rổ rau
đắng biển thật ngon. Tôi nói, ăn chay dùng rau đắng
biển không tốt, nhất là vào mùa lạnh, nên đem cho
người ăn mặn dùng tốt hơn ; đừng nên tiếc, vì ăn
vào rồi sẽ phải uống thuốc tốn nhiều hơn giá tiền rổ
rau ấy nữa ! Mọi người thấy tiếc uổng không nghe
tôi, đem nấu canh ăn. Ăn xong mỗi người đều phải
uống 2,3 thang thuốc. Thế thì khi có rổ rau mình chỉ
thấy cái có, còn khi đau mất tiền thuốc thì không
nghĩ tới ! Nên phần nhiều chúng ta chỉ thấy ở bề có
mà không thấy được bề không ; và thấy được bề nhỏ
chớ không thấy được bề lớn. – Trong tượng pháp
của nhà Phật có một bức tượng vẽ đức Phật cầm
bình bát ném xuống sông Găng và nói : Nếu qủa
chân lý có thật, thì bình bát ta ném xuống sông sẽ
ngược dòng trở lại với ta. Ném xong, bình bát trôi
ngược trở lại. – Nếu chúng ta cứ tin là câu chuyện
như vậy để lội đi tìm những thứ đó, thì tôi chắc chắn
là học Phật suốt kiếp mãn đời rồi cũng chỉ gặp ma
chớ không gặp Phật. Theo tôi hiểu thì giản dị như
thế này : Bao tử của người đời là bình bát bằng
sàng, còn bao tử của người tu qúi hơn nên bằng
vàng. Ở Ấn-Độ bình bát gọi là “Ứng lượng khí”, tức
là bằng cái bao tử của mỗi người. Vậy trong chỗ
không lời, bức tượng ấy muốn nói với chúng ta rằng
: đừng có sợ đói ! Ở trong bao la này vốn bất tăng
bất giảm, không mất đi đâu cả. Người nào sợ đói thì
mới bị mất. Cũng như những người bị lâm cảnh đói
thiếu, nếu lòng sợ đói thì cao lắm là 7-8 ngày chết,
còn nếu bằng lòng nhịn đói thì một tháng hơn cũng
chưa chết. Nên biết hễ bằng lòng cái gì thì cái đó trở
nên đẹp, cũng như hễ không bằng lòng thì thấy đủ
thứ mất mát. Tôi biết có rất nhiều người đang có đủ
ăn mà lòng vẫn sợ đói, thấy thiếu rồi lo lắng lặn lội
đi làm thêm, để rồi bị giựt hụi, lỗ lã … phải cố công
làm để trả nợ !
Tôi nhắc lại là mình học thì phải biết áp dụng. Thí
dụ trong thân tôi xảy ra một chỗ ngứa ; nếu tôi bằng
lòng cái đó không thèm gãi, thì ngứa tới mức đó
thôi, lần hồi nó sẽ tan đi. Nhưng nếu tôi quên, tay
tôi mò tới thì cái ngứa sẽ nhân lên, càng gãi chỗ
ngứa càng nổi lớn ra. – Cũng như trên trường chánh
trị, hễ phía đàn áp phe xuống đường mạnh chừng
nào, thì xuống đường càng leo thang mạnh chừng
ấy. – Nên biết rằng việc tuy nhỏ vậy nhưng khó
thâm nhập lắm !
* Hỏi: Vì sao mà một pháp nhiếp được hết các
pháp?
Đáp: Vì tâm là nguồn cội của vạn pháp, hết thảy
pháp đều từ tâm sanh. Nếu tỏ được tâm thì vạn pháp
đều đủ. Cũng như cây to, cành lá hoa qủa sum sê
đều từ gốc cả. Khi trồng cây phải chú ý săn sóc ở
gốc cây thì cây mới được sanh sôi. Đốn cây cũng cứ
đốn ở gốc thì toàn thân cây đều chết. Nếu tỏ tâm mà
tu thì dụng lực ít mà thành công dễ ; chẳng tỏ tâm
mà tu phí công vô ích. – Nên biết tất cả thiện ác đều
từ tâm, lìa tâm mà tìm Đạo là việc luống công.
Thật rõ ràng lắm ! Nhưng chữ Tâm là gì? Chúng ta
đừng vội lầm với chữ Tâm thường dùng thuộc về
nghĩa duy tâm của Âu-Châu. Thưa, cái người ta gọi
là duy-tâm hay duy-vật ngày nay chỉ là một hệ
thống dòng họ bên nội, bên ngoại của một đầu ông
cố. Sự thật, tâm hay vật cũng chỉ là một thứ vật chất
mà thôi. Tại sao biết ? Vì Phật đã trình bày cho
chúng ta thấy rõ cái tâm lăng xăng hằng ngày của
chúng ta vốn là một tướng hiện tượng như bao nhiêu
hiện tượng vật chất khác, nên nó chỉ là một thứ vật
chất kết thành bởi những siêu nguyên tử tâm thức,
nghĩa là nó cũng là một hiện tượng tổ hợp như bao
nhiêu hiện tượng tổ hợp khác. Do đó việc tranh
nhau giữa phái duy tâm và duy vật cũng như con
cháu bên nội và bên ngoại tranh nhau miếng đất
hương hỏa, chớ không phải là hai thứ khác.
Còn chữ Tâm ở đây dùng là nghĩa mà Âu-Tây tạm
gọi là Vũ-trụ-tâm (rayonscosmiques), kinh Dịch gọi
là Tâm-thái-hư, hay trong Nội-Kinh lời giải tôi gọi
là tâm Linh-không vô cực đó. Ai có đọc Nội-Kinh
rồi sẽ thấy rõ nghĩa đó. Nhưng hễ nói đến vấn đề
Linh-không vô cực , nói Tâm-thái-hư, nói Vũ-trụ-
tâm thì người ta dễ rơi vào vấn đề ngoại quan triết
học. Nên muốn chứng thực cái Tâm đó là phải
chứng ngay ở trong lòng ; ngừng dứt hết các duyên
nghiệm trở vào trong, thì mới nhận được cái bao la
vô lượng vô biên của Tâm ra sao. Vì thế hôm trước
tôi có đưa ra câu chuyện “Chiếc xe ngựa” của Na-
Tiên Tỳ-Kheo và vua Na-Lan-Đà, với câu hỏi : Tất
cả đều không phải xe, vậy cái gì là xe ?- Cũng như
tất-cả vạn vật, hư không này đều không là tâm của
tôi, vậy cái gì là tâm của tôi ? – Đó chính là nghĩa
của chữ Tâm ở đây. Nên Khổng Tử cũng dựa vào
đó lập ra đạo Trung Dung và đường lối Tu Tề Trị
Bình, đều lấy việc phải trở về với tâm của mình làm
gốc. Do đó Đạo nếu nói lớn thì không có cái nào ở
ngoài, nếu nói nhỏ thì không có cái nào ở trong –
Nghĩa là không có cái thứ hai lọt ra ngoài.
* Hỏi : Vì sao quán tâm gọi là cứu cánh ? Đáp : Bực
đại Bồ-Tát khi thâm nhập vào pháp đại-trí-huệ, biết
được tứ đại vỗn rỗng không vô ngã.
Thưa, chữ Đại-Bồ-Tát đây là chỉ cho người đã soi
rõ nguồn tâm linh của mình rồi, từ đó mới khám phá
mọi việc. Chữ Đại-trí-huệ nghĩa là trí-huệ quan sát
đứng ở trên nguyên lý không hai. Nếu không phải
trở vào chính con người của mình đứng trên nguyên
lý không hai mà quán sát, thì gọi là tiểu-trí-huệ. Biết
được tứ đại vốn rỗng không vô ngã nghĩa là biết
được thân này do 4 yếu tố tổ hợp : yếu tố ẩm ướt,
yếu tố ngăn ngại, yếu tố dao động, và yếu tố ấm
nóng. – Tức là đất, nước, gió, lửa. – Biết được thân
tứ đại nay vốn là tổ hợp, và ở trong mỗi tế bào, mỗi
nguyên tử cũng vẫn tổ hợp. Do đó thân này cũng chỉ
là một hiện tượng như bao nhiêu hiện tượng khác,
không có gì là riêng của nó cả.
* Thấy được tự tâm khởi dụng có hai mặt khác nhau
: một là tâm nhiễm, hai là tâm tịnh. Hai mặt tâm
pháp này tự nhiên vốn đầy đủ.
Thưa, nếu nói về tự tâm, qúi vị có đọc Nội Kinh
đến thiên thứ năm thì sẽ thấy rõ.
* Tuy nhờ duyên hợp, nhưng hai tướng vẫn làm
nhân đối đãi lẫn nhau. Tâm tịnh thích làm nhân
lành, tâm nhiễm thường ưa nghiệp ác. Nếu chẳng
thọ nhiễm thì gọi là thánh, thoát ly các khổ, chứng
cái thật vui.
Sự thật con người chúng ta là một khối bùi nhùi
bằng rơm ; hễ nước đến dễ ngấm, lửa đến dễ cháy.
Nhưng nếu tất-cả những việc đến với chúng ta,
đừng vội chống cũng đừng vội theo, thì tự nhiên
không tiêm nhiễm được. Vì theo tất nhiên là bị
nhiễm, mà chống cũng là bị nhiễm một kiểu khác
nữa. Nên Phật đưa ra nguyên tắc là : Thương không
được gần, ghét không thể xa. Do nguyên tắc đó mà
trong kinh Hoa-Nghiêm Phật nói : Dù chửi Phật đi
nữa, cũng đã kết duyên với Phật chắc lắm rồi ! Như
thế đủ biết lý của Phật sâu mầu cỡ nào !
Bởi vậy Phật kể câu chuyện xưa kia có một bà già
ghét cay ghét đắng Phật – Phật biết tâm lý đó không
thể độ thuận được nên nghĩ cách độ nghịch. Một
hôm Phật nói sẽ đi đến nhà độ bà già ấy. Các vị đệ
tử đều lắc đầu, nghĩ việc chắc khó thành. Nhưng
Phật vẫn thản nhiên đi. Đến độ 3 lần, đều bị chửi đủ
3.- Lúc về đệ tử hỏi Phật độ được không? Phật nói :
độ rồi ! – Nghĩa là khi còn cái Tôi thì dù lớn thế nào
cũng ở trong bàn tay của cái KHÔNG mà thôi. Nhứt
định là chạy không khỏi. Nên có vị Thiền-Sư nói
:”Cái CÓ của mầy có hạn, còn cái KHÔNG của tao
vốn vô cùng”.
Trong kinh Hoa-Nghiêm có nói một câu vô cùng
thắm thía : “Chẳng thà ở dưới địa ngục mà còn được
nghe tiếng niệm Phật, còn hơn ở trên cõi Trời mà
chỉ hưởng yên vui”. Nghĩa là ở trong cảnh khổ bao
giờ cũng dễ nghe pháp, dễ giác ngộ hơn. Còn ở cõi
Trời chỉ hưởng phước, thì hết phước sẽ bị đọa
xuống cõi dưới ; cũng như con nhà giàu có sẵn của
từ thuở nhỏ thì không thể nào biết sử dụng của cải.
Cho nên thà ở địa ngục được nghe pháp, còn hơn ở
cõi Trời hưởng yên vui. Nghĩa là một cách nói khéo
cho chúng ta rằng : đừng ham tu phước, vì tu phước
không phải là tu. Nếu chỉ nói đừng làm phước thì sẽ
sanh ra thứ ích kỷ. Nên phải nói cách nào cho họ
đừng bỏn sẻn mà cũng đừng mong cầu, nếu không
thì làm phước chỉ là một cuộc mua bán.
Do đó chúng ta đọc kinh sách thì nên đọc ở sau
lưng, bề không có chữ mới gặp được kinh thiệt.
Nhưng như vậy chúng ta lại không đọc được ! Cũng
như thầy trò Tam Tạng đi thỉnh kinh, dọc đường về
mở ra thấy giấy trắng không bèn đem đổi lại. Người
phát kinh nói : Tại người xứ ông nghiệp chướng
nhiều quá nên đọc kinh này không được, chớ kinh
vô tự đây mới chính là kinh thiệt đó !
* Nếu đọa vào tâm nhiễm thì tạo nghiệp, chịu trói
buộc; gọi là phàm, trôi lăn trong ba cõi, chịu muôn
điều thống khổ.
Thưa, ba cõi tức là cõi dục, cõi sắc và cõi vô sắc.
Ba cõi ấy không ở đâu lạ hơn là chính trong thân
chúng ta. Học Phật chúng ta nên nhớ nằm lòng
nguyên lý quan trọng nhất là : Phật khéo tháo banh
con người chúng sanh ra để cho thấy hiểu hết rồi
mới thâu lại. Nghĩa là muốn biết hết tất-cả chỉ có trở
về với con người của chính mình trước. Vì con
người là cả bầu bao la và bề mặt địa cầu thu hẹp lộn
ngược trở vào. Qúi vị đã đọc Nội-Kinh, nếu có để ý
về mặt giải phẩu cơ thể sẽ thấy rõ có nhiều điều hay
lắm !
Thí dụ từ thượng từng bầu khí quyển vô đến trung
tâm địa cầu chia làm 3 cặp khí (3 âm 3 dương), thì
thân con người cũng chia ra 3 phần : từ chẻn vừng
trở lên gọi là pháp thiên, từ rún trở xuống gọi là
pháp địa, khoảng giữa gọi là pháp nhơn. Đó là Dịch
lý biểu hiện nghĩa Tam Tài ở trong thân. Nhà Phật
căn cứ vào lý đó mà định ăn sớm mai là chư Thiên
ăn, ăn trưa là Phật ăn, ăn chiều là súc sanh ăn, ăn tối
là ma qủi ăn. Nhưng nghe nói thế, chúng ta lại ra
sức cố ăn cho thật no buổi trưa, để buổi chiều không
ăn, tránh khỏi làm súc sanh ! Chớ không hiểu rằng
đó là Phật muốn mượn vấn đề trong thân để lập
pháp cho được điều hòa. Còn việc lấy bữa trưa làm
chánh là tục lệ tu hành của xứ Ấn Độ, tuy nhiên nó
cũng không phải là việc hiểu rõ về con người.
Vả chăng, nghiệm kỹ vào thân người chúng ta sẽ
thấy ăn bữa sáng vào từ cuống bao tử có điểm tâm
vị là nơi giao dịch với thần kinh tim – sẽ liên lạc
nuôi ở phần trên nhiều hơn. Vì từ chẻn vừng trở lên
là pháp thiên, thuộc về phần ảnh hưởng của ánh
sáng và không khí. Thức ăn buổi sáng vào đều đi
lên nuôi các tế bào của phần thân trên nhiều hơn,
nên gọi là chư Thiên ăn. Do đó những người làm
việc bàn giấy hay làm việc trong nhà, thì buổi sáng
ăn no không được.
Buổi trưa là buổi giữa không khí giao, âm dương
giao nhau ra đến tột bực ngoài bầu khí quyển rồi bắt
đầu trở vào trong ; nên ứng vào người, thức ăn đi
vào lúc đó có ảnh hưởng nhiều ở khoảng giữa thân.
Còn buổi chiều, bầu khí quyển đã đi lần vào đến
trung tâm lòng đất, nên ăn buổi chiều ảnh hưởng
đến phần bên dưới nhiều hơn. Do đó ăn chiều là súc
sanh ăn, ăn tối là qủi ăn.
Về phương diện tâm thức cũng vậy, phần nặng đều
chứa từ rún trở xuống, phần trung bình chứa từ rún
lên đến chẻn vừng, phần nhẹ chứa từ chẻn vừng trở
lên. Nên ở trên thuộc về cõi vô sắc, ở giữa thuộc cõi
sắc, ở dưới thuộc về gan chỉ huy nên gọi cõi dục. Ở
đây chúng ta chỉ đại lược là thế, nếu có đọc Nội-
Kinh thì qúi vị sẽ tường tận hơn về nghĩa 3 cõi trong
thân.
Thêm nữa, nếu chúng ta dong ruỗi theo từng phần
của ngoại cảnh để gom bó vào thân, thì chính ngay
khi sống đây, chúng ta vẫn đuổi theo thèm khát dục
vọng của tai mắt miệng mũi thân ; tất nhiên khi
chết, thành phần nào giàu nhất sẽ làm chủ để điều
động chúng ta trong vòng luân hồi. Do đó khi sống
ở trong mê thì khi chết bị trôi lăn trong 3 cõi, đó là
chuyện dĩ nhiên. Thí dụ bây giờ mình đắm đuối theo
sắc thì đêm sẽ nằm mơ. Nằm mơ mà tưởng là thật
nên mới bị đi theo. Đó chính là dục vọng phóng rọi
ra mà thôi.
Lư-Tín, một nhà bác học cận đại có nói : Thiên hạ
vốn vô sự, chỉ tại người vụng về tự rối ren (thế
thượng bổn vô sự, dung nhơn tự nhiễu chi). – Sự
thật, nếu không có thằng người thì không có vấn đề.
Có vấn đề là chỉ tại thằng người bày đặt mà thôi.
* Vì sao thế ? Vì tâm nhiễm trái chướng với thể
chơn như.
Nghĩa là hễ nổi lên vọng niệm là gây thành mâu
thuẫn nội tại. Chúng ta nhìn thấy sáng tối, động tĩnh,
thân cảnh, mình người … không biết đó là hiện
tượng âm dương tương đối, mà chúng ta lầm hiện
tượng tương đối là định luật mâu thuẫn nên ôm nó
vào lòng làm thành mâu thuẫn nội tại. Mâu thuẫn
nội tại lại được dựng lên tán dương, để rồi dựa vào
đó mà đánh giết lẫn nhau. Chỉ có con người mới
làm kiểu đó !
Có một câu chuyện thật thú vị để nói lên vấn đề
mâu thuẫn là chuyện “Vừa bán mộc vừa bán giáo”:
có một ông gánh hàng đi bán, một đầu gánh đựng
giáo một đầu gánh đựng khiêng. Rao rằng : Khiêng
này vật gì đâm vào cũng không lủng. Rồi lại tiếp :
Giáo này đâm vào vật gì cũng lủng. Có người nghe
ra thấy buồn cười bèn hỏi : bây giờ lấy giáo của ông
đâm vào khiêng của ông thì sao? Ông không trả lời
được.
Cũng như thuyết duy vật gặp phải hai nhược điểm
to tát mà không ai để ý tới là : Chỉ đưa ra hai chữ
“duy vật” tức là đã chấp nhận duy tâm rồi ! Tôi tự
xưng tôi thuộc phe duy vật tức là tôi đã chỉ người
phe khác là duy tâm; nghĩa là tôi vẫn còn ở trong
tương đối. Như thế đâu phải là chân lý ! Đó là
nhược điểm thứ nhất.
Nhược điểm thứ hai là : Duy vật cho tất-cả vũ trụ
này chỉ là hóa trình biến hóa lưu động, nghĩa là tấtcả
đều không thật, đều tổ hợp, đều vô thường. Đã
qua qua rồi, hiện tại không dừng, vị lai chưa đến. –
Lời nói nghe thật lưu thông không khác lời Phật nói,
nhưng sao lại dựa vào đó để kêu gọi người ta giết
nhau mà giành giựt vật chất ? ! Đó là phải chủ nghĩa
rồi ! Thuyết duy vật trở thành lạc hậu vì vừa bán
giáo lại vừa bán mộc.
Thật ra, vấn đề duy tâm và duy vật ngày nay là hai
phe bên nội và bên ngoại của cùng một đầu ông
đánh nhau để dành của hương quả, chớ tâm hay vật
cũng là một thứ vật chất mà thôi. Còn chữ duy tâm
của nhà Phật dùng là bởi không có chữ để nói nên
phải tạm dùng. Sự thật Phật muốn nói là “Tam giới
duy tâm, vạn pháp duy thức”, tức là nghĩa “vạn vật
đồng nhất thể” của Khổng Tử. Nhưng nếu nói “vạn
vật đồng nhất thể” thì chúng ta phải đề phòng mình
bị rơi vào ngoại giáo, triết học ; vì Khổng Tử nói
câu đó là để người nghe phải quay trở vào mà chứng
thực nơi mình. Vì thế kinh Dịch mới nói : “Kiết
hung hối lẫn quan hồ động – Bất động vi đại” (Lành
dữ khổ vui đều bởi động. Chẳng động là to nhất). –
Vậy cái gì động ? Cái gì chẳng động? Tại sao lại
chẳng động ? Chẳng động bằng cách nào ? Nếu
không có MÌNH thì có thành vấn đề không ?- Qủa
thật khi chưa có tôi thì chuyện không thành vấn đề ;
sau khi tôi chết thì chuyện cũng không thành vấn đề
! Nên biết : có chuyện này là tại có TÔI, nên cũng
có đủ thứ hết. Do đó vẫn đề quan trọng là có TÔI,
nếu không nhắm vào chỗ đó thì sẽ bị lạc đường.
Hỏi : Thưa, nếu chỗ quan trọng là chỉ nhắm vào
cái TÔI, tại sao chính Phật, cũng phải tu qua nhiều
kiếp mới thành Phật ?
Đáp : Thưa, chúng ta khỏi phải nói nhiều đời nhiều
kiếp gì hết. Hễ người nào thấy được chỗ quan trọng
đó mà dám buông mình là hết chuyện. Còn thấy
được mà không dám buông thì phải qua 3 A-tăng-tỳ
kiếp chớ nói chi là nhiều đời nhiều kiếp. – Nên tôi
xin kể câu chuyện ông Giáo đến nói chuyện với ông
Thiền-Sư. Ông Giáo hỏi : trong kinh Phật dạy tu
phải qua 3 A-tăng-tỳ kiếp mới đến được, còn Thiền-
Sư lại nói tu liền một kiếp này thành Phật thì đâu có
lý !
Ông Thiền-Sư không trả lời lại hỏi : Thí dụ từ
trước đến giờ ông là người tốt, ngay thẳng, không
gian tham. Rồi một hôm bỗng dưng thấy của qúi
ông động lòng thò tay lấy. Vậy hồi ấy ăn cắp
nguyên con hay chỉ có cánh tay ?
Ông Giáo đáp: Ăn cắp thì ăn cắp nguyên con, sao
chỉ có cánh tay thôi !
Thiền-Sư nói : Ăn cắp thì nguyên con, sao thành
Phật không nguyên con được !
Cho nên chỉ có bằng lòng với không bằng lòng ;
nếu chưa chán còn muốn đi nữa thì cứ đi.
Tôi xin nói thêm về chữ 3 A-tăng-tỳ kiếp của Phật
nói – tức là 3 Vô-lượng kiếp. Nên nhớ đó là thuộc
phần giáo, phần triết học. Nếu học Phật mà không
hiểu cho rành thì chỉ mùi kinh cũng đủ làm cho
chúng ta ra không được. Cứ mỗi một Thái-dương-hệ
là một tiểu thế giới, một ngàn Thái-dương-hệ gọi là
một trung thiên thế giới, một ngàn Trung-thiên thế
giới gọi là một Đại-thiên thế giới. Mà có 3 ngàn
Đại-thiên thế giới như vậy – Tức là vô lượng vô số,
không còn có thể làm toán được nữa. Mà có 3 vô
lượng như thế thì là cả một sự vô lý không có bao
giờ ! Nhưng nên nhớ Phật sở dĩ nói vậy là có tác
dụng để nói : Mày giỏi xài trí óc thì tao cho mày
xài, nhảy cho tới hết đường, chói lòa rồi ngừng. –
Như vậy chúng ta lắng nghe được ý ngoài lời là :
hướng trở ra mà tu thì không thành gì hết. – Nhưng
nếu nói không thành thì e chúng sanh thấy khó mà
bỏ lơ đi, nên buộc lòng Phật phải nói qua 3 A-tăngtỳ
kiếp mới thành. Chỗ đó là lòng từ của Phật, và
cũng là chỗ can trường dữ dội nhất của Phật.
Phật ví bổn tánh chúng ta như mặt đất, những thứ
thâu vào như hột giống. Hột giống thâu vào nếu là
chuyện hữu hạn, tầm thường thường thì nó thuộc
hột giống sanh diệt ; nếu là chuyện cao cả hằng còn
thì thuộc hột giống bất sanh bất diệt. Do đó Phật
thường nói : nếu Phật, Bồ-Tát mà thiệt tình nhìn
thấy có tướng chúng sanh, tướng thọ yểu, tướng
mình người … thì đâu làm việc nổi !- Nên Phật nói
thì cứ nói, mình nghe thì cứ nghe. Vì chuyện Phật
nói vốn bất sanh bất diệt, khi nghe dù muốn giữ hay
không giữ cũng vẫn còn đó ; nếu xô ra nghĩa là lòng
chưa chán cái không thiệt, thì hột giống đó càng đeo
gần mình hơn nữa. Do đó, khi xưa các người tu
chứng nhập rồi phải nhờ các vị Thiền-Sư thử đủ
cách. Thật ra nếu không có thiện-tri-thức thì không
biết lấy đâu mà giác ngộ, cũng như nếu không có
phiền não thì cũng không biết lấy đâu để thức tỉnh.
– Con gà con khi còn trong trứng, trước khi muốn
chun ra phải khai mỏ cho trứng vỡ. Đúng thì trứng
nứt, nếu còn dính vỏ, người ta mới gỡ giúp cho.
Nên sự đời này, lý của nó là cái nhân tổ hợp, chỉ có
thêm điều kiện hay bớt điều kiện mà thôi. Tất cả
mọi việc đều không phải khi không bỗng nhiên mà
có được. Cũng vì thế tổ Huyền-Giác sau khi tỏ ngộ
có nói một câu : “Phấn cốt toái thân vị túc thù” (sau
khi được tỏ ngộ rồi dù tán thân này ra thành tro bụi
cũng chưa đủ đền đáp) – Nói như vậy là bổn phận
của người nhận ; còn nhìn thấy không có công ơn gì
cả là bổn phận của người cho. – Nếu người nhận như
vậy mà xem thường là không phải người biết nhận. –
Người cho nếu thấy có công ơn thì không phải thật
lòng của người cho. Sự đời đến chỗ đó mới thật
thắm thía, thật can trường ! và cũng là một thú vị
cao cả nhất của con người !
* Nên kinh Thập-Địa nói : Trong thân chúng sanh
có tánh Phật Kim-Cang tròn sáng như mặt trời, rộng
lớn không bờ mé. Vì bị mây 5 ấm che khuất như
đèn bị chậu úp, sáng không hiện được.
Nói đèn bị chậu úp cũng như nói mang cặp kính
đen mà đi tìm màu sắc thực của sự vật là vô lý, hay
có thể nói mình ôm máy chụp hình nhảy tưng tưng
thì dù cảnh vật đứng yên cũng không chụp được. –
Nhưng lạ thay ! con người dùng cái máy nào cũng
biết điều chỉnh trước khi dùng, còn dùng cái máy
MÌNH thì cứ để nguyên vậy, có trục trặc cũng mặc !
Tôi nói điều đó hiển nhiên, rõ ràng, dù tuổi nhỏ
cũng dễ thấy. Chỉ việc nhìn lên trời thấy cụm mây
nhỏ bay ngang che khuất mặt trời, thì ở dưới này
liền bị tối. Nên Lục-Tổ nói : Tuy mắt có thấy tối,
nhưng sự thật bề trên sáng bề dưới tối. Khi có luồng
gió quét qua thì trên dưới đều như nhau.
Chữ “ấm” cũng là chữ “uẩn” để chỉ sắc, thọ,
tưởng, hành, thức. Nguyên của chữ “ấm” là chữ âm,
nghĩa là trùm kín lại. Cứ mỗi một uẩn là có 5 uẩn
trùm kín, mà 5 uẩn đều như vậy, thế là 5 lớp chồng
chất bao trùm. – Lãnh vực của sắc là không với sắc
(có); lãnh vực của thọ là xúc với ly ; lãnh vực của
tưởng là nhớ với quên ; lãnh vực của hành là sanh
với diệt; lãnh vực của thức là được với bị. Tóm lại
đó là lãnh vực của những cặp mâu thuẫn. Nếu còn
thấy có mình người, thân cảnh, tâm vật, Phật và
chúng sanh … nghĩa là còn thấy có “cặp” là còn bị
che khuất. Dù mắc kẹt với không cũng là một thứ
mắc kẹt sắc, vì không với sắc là hai bề của sắc ấm.
Còn nếu không kẹt vào “cặp” mà thấy đặc một khối
như bánh đúc thì là không biết gì hết.
Nên thế thường có nói:
“Lồng đèn chậu úp không soi,
Mãn coi nhan sắc quên coi cẳng cùi” là vậy.
* Lại trong kinh Niết-Bàn có nói : hết thảy chúng
sanh đều có tánh Phật, vì bị vô minh che khuất nên
chẳng được giải thoát, tánh Phật tức là tánh giác đó
! Chỉ tự giác và làm cho kẻ khác giác ngộ. Giác ngộ
rõ suốt thì gọi là giải thoát.
Đúng lý ra chỉ nói tự giác là đủ, nhưng vì chúng ta
chỉ nghe được có bề có chữ mà không nghe được bề
không chữ. Do đó nếu chỉ nói tự giác thì sẽ sanh ra
ích kỷ, nên phải nói chỉ có tự giác và giác ngộ kẻ
khác thì cái nghe mới tròn. – Cũng như nói “tận
nhơn lực”, phải thêm câu “tri thiên mạng”. Vì nếu
chỉ nói tận nhơn lực thì chúng ta sẽ cố tận sức làm
để rồi gặp thất bại sẽ chán nản mà tự tử. Còn nếu chỉ
nói “tri thiên mạng” thì chúng ta sẽ ỷ lại số mạng để
không thèm cố gắng làm gì cả. Đó là chỗ đặc sắc
của ngôn ngữ người xưa.
* Nên biết tất-cả việc thiện đều lấy giác làm gốc.
Nhờ giác mới có thể hiển hiện các cội công đức, qủa
Niết-Bàn cũng nhân đây mà thành tựu. Quán tâm
như thế có thể gọi là “liễu”.
Chúng ta đừng hiểu chữ Thiện đây giống như cái
hiểu thường tình là sai rồi ! Đừng tưởng như chuyện
gặp người đi xin thì lấy gạo đem cho, hay mua chim
thả … là pháp lành. Vì nhiều khi chúng ta làm thiện
là mục đích để cầu cho mình được một điều gì …
thì việc đó đã trở thành pháp dữ chớ không còn là
pháp lành nữa, vì đó chỉ là việc mua bán. Chúng ta
phải thận trọng chỗ đó. Tất cả pháp lành đều từ tâm
giác nảy sanh, phải mắc gốc tận tự trung tâm, chớ
không ở trên tướng. – Nếu một người từ trước làm
nghề lùa trâu trộm của người ta , bây giờ tu chứng
rồi không làm chuyện đó nữa. Nhưng với khả năng
cũ người ấy vẫn đi lùa trâu của những tên trộm trâu
mà đem trả lại cho chủ mất trâu. Việc làm như thế
đâu thể gọi là pháp ác !
Sự thật hễ có trứng thì phải nở. Nên theo thường
tình thế gian thì có phân ra ác nhiều hay ít, nhưng sự
thật hễ ác vẫn là ác. – Khi giặc đến mọi người đều
hoảng chạy. Đến lúc về, người chạy gần cười người
chạy xa cho là nhát. Thật ra cùng là nhát cả, vì nếu
dạn sao có chạy ! Do đó mới có câu :”Tọa mật thất
như thông cù, ngự thốn tâm như lục mã” (Ngồi
trong phòng kín như ở ngoài đường cái, chế ngự tấc
lòng như điều khiển 6 ngựa). Và cũng có câu
:”Thốn tâm bất muội, vạn pháp giai minh” (khi lòng
mới chớm phát mà thấy được thì tự nhiên mọi việc
đều được tỏ sáng). Do đó Nội-Kinh còn nói :”Cơ
mầu dấy động, họa phúc liền sanh ; điềm đạm rỗng
rang bịnh nào phát khởi”. Mũi tên đã lắp vào cung,
quan hệ chỉ ở lúc buông tên hay không buông thôi,
nếu tên đã buông thì không bao giờ lấy lại kịp.
Đến đây tôi xin thuật lại câu chuyện của Trang Tử
để mỗi người thưởng thức : Một hôm Trang Tử
mang cung tên đi săn bắn. Đến vườn của một vị
tướng quốc thấy có con chim Phướng to đậu trong
vườn. Thích qúa ông tìm lỗ hổng chui vào. Trên
cành chim Phướng đang đứng rình mồi bất động
như chim gỗ, ông liền lắp đạn vào cung, nhắm vừa
tầm sửa soạn buông. Bỗng thấy lạ, sao chim đứng
im thế kia ! Thì ra, nhìn trước con chim là một chú
bọ ngựa – cũng đang im lìm rình châu chấu con, mà
châu châu kia cũng đang vật lộn với một con sâu
quăn – trông rõ cảnh tượng, Trang-Tử giựt mình,
tay cung bỗng chùn lại. Liền khi ấy lão già giữ vườn
xuất hiện, bắt kẻ đi săn trộm về giam. Ít hôm sau
được trở về, Trang Tử không nói năng gì vào phòng
đóng cửa ở luôn 5 ngày. Lúc ra, học trò đến thăm,
hỏi : Thầy có bịnh gì không?
Ông đáp : Không bịnh gì cả. Nhưng kể từ nay ta
không đi săn nữa.
Học trò hỏi. Trang Tử bèn thuật lại hết câu chuyện
xảy ra.
Nghĩa là hết thảy thế gian đều săn đuổi trở ra, mà
quên rằng phía sau lưng mình cũng đang có người
săn đuổi – Nên đừng săn đuổi nữa là hết chuyện !
Đến đây còn ít thời giờ, tôi xin trình bày vài nhận
định đối với cái cơ tối yếu hiện thời. Theo tôi thấy,
thế tiến triển kỳ lạ của lượn sóng vật chất 5 châu
họp chợ của loài người ngày nay đã đưa con người
vào một tình trạng bế tắc khủng khiếp. Ví như một
người tâm đã thấy tạm lưu thông chăng nữa cũng
khó có một khả năng có thể điểm đâu tất cả những
sinh hoạt vật chất đưa đến với chính con người của
mình. Nên chỉ thiếu vấn đề đương đầu với sinh hoạt
vật chất cũng đủ để bị lượn sóng vật chất nó nhận
chìm. Do đó tất-cả các nguồn thiền học ngày nay
không còn đứng vững nữa. Đó là chỗ tôi đang tột
bực băn khoăn. Mong qúi vị nếu đã đọc NỘI KINH
rồi nên cố gắng lưu tâm – Cho đến đối với một
người có thể nói là thông đạt không có người thứ
hai ở trong giai đoạn này là ông Krishnamurti,
nhưng chỉ vì thiếu vấn đề hiểu biết trên xác thân vật
chất, vấn đề ăn uống sinh hoạt, với tất cả vật chất
đến với mình ; nên ngài rất muốn đặt lại một nền
tảng giáo dục, văn hóa cho loài người cũng tìm
không có cách trọn vẹn được. – Tôi không dám nói
là tôi hơn ông, chỉ nói rằng tôi đã thấy được lối
thoát ở chỗ nào. Tôi đã làm rồi chuyện của tôi và đã
có một đường hướng. Nhưng tôi biết công trình này
phải dày dặn lắm ! Đúng lý ra tất-cả đều phải chầu
về làm việc này mới có thể giúp chúng ta thoát vòng
tục lụy được. Nhưng bây giờ không có ai hơn là qúi
vị có mặt nơi đây, tôi rất mong qúi vị lưu tâm về
hướng đó. Chỉ nhìn trong nhóm người chúng ta hiện
giờ đây đã có bao nhiêu người cận thị. Như thế trọn
đất nước Việt Nam còn bao nhiêu người nữa ; và cả
thể giới sẽ ra sao ! Chúng ta may mắn lắm là biết
tránh được vấn để tủ lạnh, radio, tivi, ngoài ra còn
bao nhiêu vấn đề khác chúng ta chưa biết đến, nên
phải rất thận trọng. – Tôi nói chỉ vấn đề hằng ngày
mua rau cải ngoài chợ ngày nay cũng có lúc làm cho
con người gặp phải bao nhiêu khó khăn. Và vấn đề
loài người đánh nhau để tranh hơn tranh thua cũng
đã làm xáo trộn cả trật tự thiên nhiên, để rồi sẽ đưa
con người đến đâu không ai biết được ! – Nên chỉ có
thâm nhập vào tinh thần NỘI KINH trước thì mới
đủ sức đương đầu với cơ hiện tại. Tôi thẳng thắn nói
rằng chính tôi thấy chuyện của ngày giờ này trước
đây hai, ba mươi năm. Muốn đem nói ra nhưng
chưa đủ cơ duyên cho người nghe. Tôi phải chờ bao
nhiêu năm nay, đến ngày giờ này đã già, tôi không
muốn để sẽ có người phải mang nhiều ân hận, nên
ráng nói ra đây được đến đâu hay đến đấy. Thật ra,
theo tôi thấy hiện nay chưa có một nền tảng giáo
dục, văn hóa, y-khoa … và cả mọi ngành một cách
đúng nghĩa, nên tôi rất băn khoăn. Nghĩa băn khoăn
đây không phải là tôi sợ chết làm không kịp, hay sợ
nhiều người không biết tôi. Nhưng lòng tôi chỉ
thương xót cho cuộc đau khổ của loài người sắp tới
mà thôi. Nên rất mong hàng thức giả hãy cùng lưu
tâm !.

BỒ ĐỀ ĐẠT MA QUÁN TÂM PHÁP – THÍCH MINH THIỀN phần 4

TUẦN THỨ NĂM
25 – 6 – 1972 (15 – 5 N. Tý)
Trước khi tiếp tục 3 thiên luận của Tổ Đạt ma,
cũng
như thường lệ tôi có vài nhận định :
Khi nãy đi vòng quanh chùa tôi thấy được một
chuyện : Chùa này có nuôi 3 con vật : con két,
con
qui, và con vịt. Con két không biết từ đâu, bị
đói
đến đây tìm ăn rồi ở luôn. Nhưng khốn đốn là khi
nó đã quen với mình như thế rồi, đến khi thả ra
ngoài nó sẽ tưởng ai cũng như ở chùa thì nguy
cho
nó lắm ! còn thả ở trong chùa thì nó phá trái
cây
chịu không nổi. Do đó phải nhốt nó vào lồng. –
Còn
con qui người ta đem cúng ; nếu thả ra nó không
biết gì hết sẽ bị người ta bắt, buộc lòng mình
cũng
phải nuôi nó ở trong một cái hồ.
Sự thật, nuôi như vậy cũng là một thứ qui định
một
thứ đóng chuồng nó lại. Nhưng khốn đốn là thả nó
ra, nó không biết gì hết thì cuộc sống không thể
nào
yên lành được. Mà đóng chuồng lại thì cuộc sống
cũng chỉ vất vưởng mà thôi. Chỉ có bao giờ biết
khôn, thì tự nhiên cuộc sống nó có tự do. Dù
mình
không thả ra, nó cũng có cách tự do ; mà thả ra
cũng vẫn sống được yên lành.
Còn con vịt, có lẽ lạc bầy không biết từ đâu đến
trú
mưa ở sau hàng cây tràm. Mình ốm dài ; lưa thưa
ít
sợi lông. Thấy thế chúng tôi lấy thức ăn cho nó
ăn,
ăn xong nó ở luôn sau hè chùa. Cứ thế, cho ăn
xong
nó chỉ đi tới đi lui ở vỉa hè, không cần nhốt,
đến nay
nó trở nên mập mạp, trông điệu bộ nó hài lòng
thảnh
thơi lắm.
Rồi mình thấy trong 3 con, mà 2 con bị nhốt, còn
một con được thả tự do. – Cho nên biết rằng
chúng
sanh ở cõi đời này, nếu không bị kẻ khác
qui-định
thì cũng tự mình qui-định, không bị kẻ khác đóng
khuôn đóng chuồng thì cũng bị tự mình đóng khuôn
đóng chuồng mình. Bao giờ tự biết lấy mình rồi
thì
mình mới có một cuộc sống khám-phá. Chuyện
người qủa thật là một trường bi đát ! Vì thế Lão
Tử
mới nói : « Trời đất bất nhân, coi vạn-vật như
con
chó nộm bằng rơm vậy ». – Thế nên chỉ có một
điều
duy nhất là phải tìm trở về với con người của
mình
thì mới trả lại được tự do cho chính mình. Và
đến
khi đó mới thấy mình với bao-la vốn đồng nhất.
Tôi nói đây, tôi xin chịu trách nhiệm trên ngôn
ngữ. Tôi nói cho đến vấn đề lục thông của nhà
Phật : thiên nhãn, thiên nhĩ, tha tâm, thần túc,
túc
mạng thông, lậu tận thông, cũng không có gì lạ
hết !
Tất cả đều có một nguyên lý sẵn, giản dị. Mỗi
người
là một ông Phật, nhưng vì không biết dùng ông
Phật
nơi mình nên mình làm chúng sanh.
Thêm một điều nữa tôi xin nhắc nhở quí vị lưu
tâm. Phần nhiều cuộc sống chúng ta đều thích đi
tìm
một nguồn tin tưởng. Nên khi nguồn tin tưởng đó
không còn tin tưởng được nữa thì mình bị lạc
loài,
bơ vơ. Đã qua, tôi cũng từng là nhạn nhân của
một
nguồn tin tưởng ; tôi đứng khơi một mình không
dựa vào đâu tôi lại thấy vững hơn ! Nên bao giờ
tôi
thấy tất-cả đều không vững, không còn chỗ nương
tựa nữa, và chính tôi cũng không thể nương tựa
được ; hồi đó tôi buông lòng để cho nó tự yên
lấy.
Do chỗ đó, hình như nếu chưa đến được chỗ không
vững tột cùng đó, con người ta chưa thể yên
được.
Đây là một chuyện có thật xảy ra ở chiến trường,
và cũng có thể xảy ra ở nhiều nơi khác : Hai phe
đánh nhau kéo dài suốt mấy tháng, cuối cùng mỗi
bên còn lại một số lực lượng nhỏ đều bị vây
không
thể tiếp tế được. Máy bay quốc gia đến tiếp tế
liền
bị súng phòng không bên kia bắn, phải nhào đại
bỏ
lương thực xuống. Rủi không trúng cứ đích, rơi
vào
ranh giới giữa 2 bên. Bao gạo mang dấu hiệu 2
bàn
tay bể đổ tung ra. Cả 2 phe đều bị đói đã 5
ngày,
nhìn nhau mà nhiễu nước miếng. Cảm tử xông ra
mang gạo liền bị phe địch bắn chết. Cứ thế, chưa
bên nào no bụng được mà chết mất mấy mạng
người. Hai phe vẫn chờ rình nhau, may 3 hôm trời
không mưa. Cuối cùng, không chịu nổi với cơn đói
mỗi phe cử một người, buông súng, tay không bước
ra, chia đều từng chiếc nón sắt mang gạo về. Cứ
chia như thế mỗi bữa ăn. Thế rồi huề cả 2 bên.
Có lẽ bài học của nhân loại đều phải học bằng
kiểu
ấy, đều phải mua mắc với giá đó ! Câu chuyện chỉ
nhắc đến đây, cho chúng ta thấy Đạo nằm tại chỗ
bao gạo đó. Việc đời qủa thật mênh mông không
đâu kể cho hết ! Bây giờ chúng ta đi tới.
* Thánh nhơn nhờ tâm ‘không’ nên trong lòng rỗng
rang, cùng trời đất đồng lượng.
Thật ra những ai có theo dõi từ trước, thì đối
với
câu này không có gì khó hiểu hết. Hễ quay trở về
với lòng mình ngay từ khi chưa mống niệm khởi
thiện khởi ác, thì tức khắc hồi ấy sẽ thấy được
tâm
lượng của mình bao lớn. Nếu có làm việc, suy tư
trầm ngâm trong lòng thì tức khắc thấy. Chỗ đó
không thể nói gì khác hơn.
* Đây đều là chúng trong đại đạo, không phải cảnh
giới của tiểu thừa và phàm phu. Khi tâm được Niết-
Bàn cũng không thấy có Niết-Bàn có thể được. Vì
sao thế ? – Vì tâm là Niết-Bàn. Nếu ngoài tâm còn
thấy có Niết-Bàn, thế gọi là đã nhiễm tà kiến.
Ai học Phật mà còn nói rằng tôi được tới chỗ nào
… kể như người đó chưa có được. Vì lẽ còn có
người được và có pháp để được.
* Phải biết tất-cả phiền não đều là hột giống tâm
của
Như-Lai ; vì nhờ có phiền não mà được trí huệ.
Thưa, chuyện này nghe thì dễ dàng vậy, nhưng
phải nghiệm kỹ vào trong mới thấy. Tất-cả những
người biết làm ăn đều là những người đã từng có
thiếu thốn. Tất-cả những người có được trí-huệ
đều
là những người có bị phiền não. Vì không có
phiền
não đau khổ, không thể có dễ dàng nên người. Nên
những người được có cha mẹ giàu từ khi mới sanh
ra, thì luôn luôn những người đó chưa biết xài
tiền,
và chưa biết giá trị đồng tiền là gì. Vì thế tôi
rất
ngạc nhiên là những người đi tìm học về ‘Đạo’,
ai ai
cũng cứ tìm về cảnh thuận, mong rằng : nếu gặp
cảnh thuận thì tu mới mau. Đó là một điều hết
sức
sai lầm ở trên tư tuởng. – Nhưng tôi nói vậy
không
phải là luôn luôn tôi xúi chui vào trong đám
giặc mà
tu. Nghĩa tôi muốn nói là người nào hiểu rằng
phải
có cảnh thuận tu mới được, thì chưa hiểu giá trị
của
tu ra sao. Và người nào thấy cảnh thuận mà thích
thì
gặp cảnh nghịch không thể nào chịu nổi, còn
người
nào biết dùng cảnh nghịch thì khi gặp cảnh thuận
càng hay. Nên Thiền học có nói : ‘Cảnh nghịch
như
cây thương đâm trước mặt, dù có to lớn ghê gớm
đến đâu cũng dễ đỡ gạt. Cảnh thuận chẳng khác
nào
mũi tên bắn sau lưng, không những không thấy mà
còn khó đề phòng’. – Do đó Thiện-tri-thức cũng
2 hạng : hạng thấu rõ tâm tánh rồi khai ngộ giúp
mình ; tôi thường nói là Đề-Bà-Đạt-Đa. Vì chưa
bao
giờ có ông Phật nào không từ trong chúng sanh mà
đến. Nên biết hễ không có phiền não đau khổ thì
không có sự kích thích để phát sanh trí huệ. Do
đó
ông giao thiệp với tôi, ông đểu với tôi một,
nghĩa là
ông dạy tôi phải đểu trở lại với ông gấp hai. Và
tôi
đểu với ông gấp 2 để rồi tôi nếm nhân qủa sâu
đậm
hơn. Để rồi cuối cùng cả tôi lẫn ông đều nhận ra
tất-cả những sự đểu giả không xài được gì cả,
nên
cùng nhau buông hết để trở về với trí huệ. Thế
nên
cả người tốt lẫn người xấu, cả cảnh nghịch lẫn
cảnh
thuận đều có công trình giúp chúng ta trở nên
người
cả ; và không có ai là kẻ thù hết.
Do đó Thiền học có nói :‘ Mới tu thì thấy người
ta
quấy mình phải ; tu lâu lâu một chút thì thấy
người
ta có quấy có phải, mình cũng có quấy có phải ;
tu
lâu hơn nữa thì thấy thiên hạ không ai quấy hết,
mình có quấy không quấy thì thôi.
* Chỉ có thể nói phiền não sanh Như-Lai, nhưng
không thể nói phiền não là Như-Lai. Nên tự tâm là
ruộng nương, phiền não là hột giống, trí tuệ là
nẩy
mầm ; còn Như-Lai để dụ như kết qủa lúa thóc.
Cho nên trong kinh Hoa-Nghiêm có nói : chúng
sanh là gốc rễ, người tu là cây cội, Bồ-Tát là
hoa lá,
Phật là qủa – Đó là một cái nhìn suốt khắp không
dư thiếu.
* Phật ở trong tâm như hương trong cây, giác mục
hết rồi thì lõi hương tự hiện ; phiền não hết rồi
thì
Phật tâm tự hiện cũng như vậy.
Thật ra, cây đàn vẫn là cây đàn, tự vốn có những
âm thanh kỳ diệu, nếu được thông qua bàn tay sử
dụng của những bực tài tử – Bổn tánh con người
cũng vốn linh động như vậy. Nếu biết dùng thì sẽ
ra
cái hay cái diệu, không biết dùng thì sẽ ra cái
dở cái
xấu. Nên Phật với chúng sanh chẳng qua chỉ có
cái
biết dùng hay không biết dùng mà thôi.
* Cho nên biết ngoài cây không hương, ngoài tâm
không Phật. Nếu ngoài cây có hương tức là hương
chỗ khác, ngoài tâm có Phật tức là Phật từ ngoài ;
không phải Phật.
Do đó tôi thường hay nói : Nếu không thấy ông
Phật ở ngay trong tâm mình, thì dù ông Phật ở
ngoài
có đến chăng nữa cũng vẫn là chuyện ông Phật với
mình còn riêng biệt, vẫn còn là 2 pháp đối đãi,
chưa
phải là một lẽ đồng nhất. Do đó, nếu soi trở lại
vào
trong con người mình mà thấy được chính ông
Phật,
chính tâm tánh ở nơi mình thì ông Phật ở ngoài
với
ông Phật ở trong mình mới đồng nhất.
Qúi vị tụng kinh Pháp-Hoa, nhớ đến phẩm Bảo-
Tháp có nói : Phật đang giảng hội Pháp-Hoa, bỗng
một cái tháp từ đâu dưới đất trồi vọt lên hư
không.
Phật Thích Ca mới cắt nghĩa rằng Đa-Bảo Như-Lai
tịch đã lâu đời, vì bổn nguyện nên chỗ nào có
giảng
kinh Pháp-Hoa thì hiện đến nghe. – Rồi Phật
Thích
Ca đi lên hư không, lấy ngón tay mở cửa tháp.
Phật
Đa-Bảo ở trong vẫn còn nguyên, liền mời Phật
Thích Ca vào ngồi chung một tòa. Còn các đệ tử
Phật lên không được, phải chờ Phật giúp cho
phương tiện thần lực mới lên được.
Nói như vậy có nghĩa là gì? – Là nghĩa ông Phật
ngoài chỉ là phương tiện, còn trong chính thân
mỗi
con người đều có một ông Phật. Và ông Phật ở
ngoài chẳng qua là cái bóng của ông Phật ở
trong,
nhưng vì chúng sanh mê lầm lâu đời qúa nên ví
cũng như ông Phật đó đã tịch rồi mà còn để trong
tháp vậy. Bây giờ nhờ ông Phật ở ngoài khai ngộ,
mở được cửa tháp, nên Phật ở trong tháp và Phật
ngoài mới ngồi chung một tòa – nghĩa là tuy
không
phải là một nhưng cũng không phải khác.
Tại sao tháp Đa-Bảo vọt lên hư không? – Là vì
cái
thân ngũ uẩn của chúng sanh này là thứ tột bực
lý, tự nhiên mà đặt ra cái tôi không có thiệt.
Tại sao
các đệ tử của Phật lên không được ? – Là tại
không
có thâm nhập vào trong ngũ uẩn được, nghĩa là
chưa
có hành thâm Bát Nhã Ba-La-Mật-Đa nên lên không
được. Nghĩa của chuyện nầy là vậy. Do đó không
thể lặn lội đi tìm ông Phật ở ngoài được ; và
như thế
nghĩa là sao? Thế là kinh Pháp-Hoa muốn nói :
hầu
hết người xuất gia theo Phật chỉ biết ỷ lại ông
Phật
bên ngoài, mà bỏ quên hẳn tâm tánh mình đi nên
không thể đến được. Cái đó có kẻ gọi là Phật;
người
gọi Chúa, người gọi Thượng Đế … đủ thứ ; Bây giờ
chúng ta đừng vội gọi bằng gì mà cũng đừng tìm
nữa. Cứ hãy trở lại để khám phá cho thấy được rõ
chính con người của mình trước, thì tức khắc cái
gọi
là chân lý, là Phật, là Đạo v.v… đến ngay với
mình
không phải mời rước chi hết, vì không ai có thể
đi
tìm gặp một người chưa từng biết tên biết mặt
bao
giờ. Nên nếu săn đuổi đi tìm, may gặp được mà
vội
mừng, thì coi chừng gặp phải thứ gì rồi mình kêu
đại là vậy vị tất là đúng thứ mình kiếm. Do đó
vấn
đề lặn lội đi tìm Phật, tìm Trời, tìm Chúa …
thật
mâu thuẫn vô cùng.
Hãy thử nghĩ một việc làm rất đáng buồn cười của
loài người chúng ta là : trước khi muốn đi xe
đạp, ai
cũng phải thử các bộ phận chính xác đàng hoàng,
rồi mới nhảy lên đi. Đối với xe đạp còn thế,
đàng
này chúng ta dùng cái máy ‘Mình’ lại không cần
đến điều chỉnh chi trước ! Chỉ có phải biết điều
chỉnh máy ‘Mình’ mà thôi, tuyệt đối không thể
khác
hơn được; lúc này lại càng không thể khác hơn
được! Nên nếu nói chân lý là tuyệt đối, chúng ta
cũng phải đề phòng hai chữ tuyệt đối ấy, vì
tuyệt
đối của tôi khác với tuyệt đối của đạo hữu ; mỗi
người đều có một thứ tuyệt đối, một chân lý
riêng
thì nguy mất ! Chỉ có một cách là làm sao tháo
cho
banh guồng máy MÌNH ra. Nhận được mình rồi, thì
tức khắc ngoài mình là cái gì sẽ thấy ngay. –
Cũng
như chúng ta mang kính màu, thì không thể nào
nhìn màu sắc thật của sự vật được. Chỉ có một
cách
là mình gỡ kính màu để xuống thì nhìn đến đâu sẽ
rõ mặt thật của sự vật đến đấy. – Cũng tương tự
như
vậy, khi con mắt có mây thì nhìn thấy một ngọn
đèn
hóa ra hai, nên chỉ còn có cách lột mây ở mắt là
hơn
cả.
Nhưng cái tâm của chúng ta khốn đốn lắm ! Tôi
nhắc lại điều này : là bộ óc điện tử không diệu
bằng
tâm chúng ta đâu ! Như câu chuyện qua cầu khỉ
tôi
đã nói, là nó đã tính trước rồi. Và tất-cả các
cuộc
tiếp xúc của chúng ta đều có tính trước hết cả.
Nên
chúng ta đem nải chuối hay thẻ hương vào chùa
cúng, xem như thành kính lắm, nhưng phải đề
phòng phía sau đó còn có cái gì nữa. Luôn luôn
vậy ! Có nhiều người đem vô một chút xíu cúng
chùa mà vái lung tung bao nhiêu chuyện. Cái đó
tôi
gọi là mục đích hậu trường. – Xưa kia tôi cũng
bị
người ta chửi nhiều lắm vì lẽ đó. Hai vợ chồng
người bạn tôi, vì lẽ cơm không lành canh không
ngọt, bà muốn đem ông gởi vô chùa để tránh việc
đi
chơi ở ngoài, lo việc tu hành cho khoẻ cái thân.
Nhưng đến khi gần tôi lâu, tôi thúc đẩy ông đi
lần
vào chỗ say mê, thì bà lại chửi tôi thậm tệ !
Như vậy
là khi đem qùa chuối hương đền vào quy y là muốn
mượn ông Phật giữ dùm ông chồng. Mục đích hậu
trường tính ghê gớm lắm ! Nên mỗi người đừng sợ
ai hơn sợ mình, đừng thấy thắng ai khó hơn thắng
mình. Nhắc qua thì thấy đời này khó nhất, đáng
sợ
nhất là mình. Nhắc qua thì thấy hình như mình
chở
không kham, nhưng sự thật là vậy.
* Trong lòng chứa 3 độc là cõi uế, trong lòng
không
3 độc là cõi tịnh. Kinh nói : nếu cõi nước dơ bẩn
ác
độc đầy dẫy mà muốn chư Phật xuất hiện thì không
thể có bao giờ ; mà dơ bẩn ác độc là tham sân si
muội đó.
Nói cách khác hơn, trong lòng không còn ôm đồm
chất chứa, ngoài không có vướng bận, tự nhiên là
khoẻ. Nên kinh thánh Thiên-Chúa có nói: Phải dọn
mình cho trong sạch để đón rước Chúa. Nghĩa là
nếu chính mình trong sạch, thì Phật hay Chúa
không
cần mời cũng tức khắc hiện trong lòng mình. Và
trong Tin-Lành-giáo cũng có 2 bức hình, do một
người đã trải qua nhiều kinh nghiệm rồi mới làm
được : một bức hình vẽ người có gương mặt sáng
sủa, hào quang chiếu sáng, có tim trắng; chung
quanh là qủi sứ, rắn, rùa, công, heo, gà, vịt …
các
thú đều tuôn chạy ra hết. Một bức khác vẽ người
gương mặt tiều tụy, không có hào quang, có tim
đen, trong tim có qủi sứ bắt ghế ngồi, ở ngoài
có qủi
lâu la bắt rắn, rùa, công, heo, gà, vịt … thả
vô. Rắn
nghĩa là không thành thật; rùa là chậm lụt ;
công là
khoe khoang ; dê là tánh nam nữ – Hễ trái tim
đen
thì mấy thứ đó nhào vô. Nên cõi nước đó không
đâu
lạ hơn là chính thân mình.
Hôm nay có đủ nhân duyên tôi nói câu này chúng
ta nên lưu tâm : trọn hết 3 tạng kinh điển nhà
Phật,
Phật nói chẳng qua là để mở tâm chúng sanh ra
bằng pháp giới bao la vậy. rồi cũng thu bao la
vào
thân chúng ta mà có ra 3 tạng kinh điển. – Thế
nên
cõi Phật không đâu khác hơn là thân tâm mình.
Thân tâm mê, dơ bẩn, đó là cõi chúng sanh.
* Chư Phật Thế-Tôn chính là cái tâm giác ngộ. Nếu
giác ngộ thì tất-cả nói năng đều là pháp Phật. Nếu
không nói mà nói thì suốt ngày nói đều là Đạo.
Nếu tôi không đạt, nhận ra được nguồn cội tâm
linh của tôi, thì vấn đề nói với không nói như
nhau.
– Và nếu qúi vị đến đây nghe nhận được ý tôi
nói,
thì tự nhiên người nghe không có chấp trên lời,
người nói cũng không có chấp trên pháp. Người
nghe cùng người nói cũng không có cách bức,
không phải là một mà cũng không phải là khác.
Thế
thì dù có nói nhiều đến đâu cũng giống như không
nói. Nên ngài Tu-Bồ-Đề tụng kinh Kim-Cang, chư
Thiên lóng nghe rải hoa khen :‘ Tu-Bồ-Đề tụng
kinh
hay quá!’ – Tu-Bồ-Đề đáp : tôi có nói gì đâu ! Chư
Thiên lại nói : ông không có nói gì, thì chúng
tôi
cũng không nghe gì.
* Nếu chấp nói năng thì dầu suốt ngày nín thinh
cũng là phi Đạo.
Nhiều người nghĩ rằng mình tịnh khẩu 10 hay 20
năm rồi sẽ thành Phật. Sự thật, vấn đề tịnh khẩu
còn
dễ, mà tịnh tâm mới khó. – Mỗi người cứ ngồi
lóng
nghe kỹ sẽ thấy dù mình nín thinh không nói gì,
ở trong nó cũng nói hoài như có 2 – 3 người vậy.
Nên trong chuyện Tây-Du-Ký, Tôn-Ngộ-Không nói
: “Cứ việc nín thinh tận trong bụng, đi hoài
chừng
nào tới thôi “. – Nếu người nào nói là nói, nín
là nín
cho minh bạch, người đó khá lắm rồi.
* Cho nên Như-Lai nói mà không trái với nín, nín
chẳng trái với nói ; nói nín không lìa. Nếu ngộ
được
nghĩa nói và nín đây là vào được chánh định. Nếu
nói đúng lúc, nói cũng là giải thoát. Nếu chẳng
phải
lúc dẫu nín cũng là trói buộc. Cho nên nói cũng
lìa
tướng, nói cũng là giải thoát. Nếu chấp tướng dẫu
nín cũng là trói buộc. – Vả chăng bổn tánh vốn
giải
thoát văn tự không thể đến trói buộc được. Pháp
không cao thấp, nếu thấy có cao thấp là không phải
pháp rồi.
Trong kinh Kim-Cang có câu : ‘Thị pháp bình
đẳng vô hữu cao hạ, thị danh A-Nậu-Đa-La Tam-
Miệu-Tam-Bồ-Đề’. – Nghĩa là tất-cả pháp vốn bình
đẳng, vốn không có cao thấp, chỗ đó gọi là
Vôthượng
Bồ-Đề. Hay nói cách khác, nếu chứng thực
ỏ ngay nơi lòng mình hồi chưa khởi thiện khởi ác
vạn pháp đều đồng một thể tánh. Đó gọi là
Vôthượng
Bồ-Đề.
* Phi pháp là đò, pháp là người. Người nương đò để
qua sông thì phi pháp tức là pháp. – Nói theo thế
tục
thì có nam nữ sang hèn, theo Đạo thì không có nam
nữ sang hèn. Cho nên Thiên nữ ngộ Đạo chẳng đổi
thân nữ, nữ Xa-Nặc thức tỉnh chẳng đổi danh xưng.
Phi pháp là trái với pháp. Ở đây nói phi pháp là
đò,
pháp là người. Người nương đò để qua sông, thì
phi
pháp tức là pháp. Nói một cách khác phiền não
tức
là đò. Con người nương nơi phiền não để sanh trí
huệ.
Thưa, tôi đã từng nói bao nhiêu lần, chuyện tôi
nói
đây không dính dấp gì đến vấn đề học nhiều hay
ít,
có địa vị hay không, lớn tuổi hay nhỏ, nam hay
nữ,
sang hay hèn … hễ nhận ra được là nhận ra ngay.
Nghĩa Đạo là vậy. Cái gì còn kẹt trong cái cặp
không phải Đạo. Thí dụ sáng đối với tối, phải
đối
với quấy, Phật đối với chúng sanh, Cực-Lạc đối
với
Ta-Bà … cái gì còn nằm trong cái cặp thì chưa
phải
là Đạo. Nên hễ vướng trong cặp là vướng trong
tướng, là còn đối đãi.
Nói Thiên-nữ ngộ Đạo chẳng đổi thân nữ là do
trong kinh Duy-Ma có chuyện : Phật phái các vị
đệ
tử Phật đến thăm bịnh Đại-Sĩ Bô-Tát tại gia là
Duy-
Ma-Cật. Cuộc đàm đạo đến hồi hào hứng. Thiên nữ
liền hiện ra tham dự. Ngài Xá-Lợi-Phất thấy
Thiênnữ
đàm đạo như nước chảy bèn hỏi : Sao Thiên-Nữ
không chuyển thân nữ đi ? Cuộc đối đáp kéo dài,
cuối cùng Thiên-nữ dùng thần lực biến
Xá-Lợi-Phất
thành Thiên-nữ, rồi biến Thiên-nữ thành Xá-Lợi-
Phất. – Thiên-nữ bèn hỏi : Sao ngài không chuyển
thân nữ đi ? Xá-Lợi-Phất đáp : ‘Bây giờ cũng
không
biết chuyển làm sao nữa !’ – Thiên-nữ bèn nói :’
Bổn lai không có nam nữ. Hễ kẹt trong nam hay nữ
mới có nói chuyển’. Nói xong Thiên-nữ trả thần
lực
lại bình thường cho Xá-Lợi-Phất.
Còn nói Xa-Nặc thức tỉnh chẳng đổi danh xưng là
cũng một ý như trên. Xa-Nặc là tên người giữ
ngựa
cho Phật khi còn là Thái-Tử. Danh xưng chỉ là
một
thứ tên đặt. Nghĩa là cùng một con người mà khi
thì đau khổ thức tỉnh rồi thì giải thoát, thông
đạt,
yên vui mà vẫn giữ y thân xác, tên tuổi này.
* Như thế không phải sang hèn nam nữ đều từ một
tướng đó sao ? ! Thiên-nữ suốt 12 năm tìm tướng nữ
cứu cánh không thể được, thì biết suốt 12 năm tìm
tướng nam cũng không thể được.
Trong kinh Duy-Ma phẩm Thiên-nữ nói chuyện
với Xá-Lợi-Phất, Thiên-nữ nói :”Tôi ở trong nhà
này 12 năm rổi mà tìm không ra tướng nữ”. Trong
câu nói đó đã hàm ý rằng : Vậy 12 năm rồi tìm ra
tướng nam sao ? ! … 12 năm rồi là đã qua khỏi 6
căn 6 trần. Có nam có nữ là kẹt trong vấn đề
giác
quan. Chớ nếu thoát khỏi tầm tay của 6 căn 6
trần
thì còn đâu là tướng nam tướng nữ !
* Cái nghĩa 12 năm là 6 căn 6 trần đó. Lìa tâm
không Phật, lìa Phật không tâm. Cũng như lìa nước
không giá, lìa giá không nước.
Ở nơi biển lạnh, nước đọng lại thành nước đá. Hễ
bỏ nước đá thì không có nước, bỏ nước thì không
nước đá. Nên biết nước và nước đá vốn không phải
một mà cũng không phải khác.
* Phàm nói lià tâm không phải là nói chạy trốn cái
tâm. Chỉ nói đừng chấp ở phần tướng của tâm mà
thôi. Kinh nói : Chẳng thấy tướng gọi là thấy
Phật,
tức là lìa tướng tâm đó. Nói lìa Phật không tâm
nghĩa là nói Phật từ tâm hiện, tâm có thể sanh
Phật.
Phật tuy từ tâm sanh, nhưng tâm chưa từng sanh ra
Phật. Cũng như cá sanh ra từ nước chớ không phải
nước đẻ ra cá. Muốn xem cá, chưa thấy cá đã thấy
nước. Muốn quán Phật, chưa thấy Phật đã thấy tâm.
Thế mới biết khi thấy cá là quên nước, khi thấy
Phật
là quên tâm. Nếu chẳng quên tâm là còn bị tâm mê
hoặc.
Trong kinh Kim-Cang có câu : “Nhược kiến chư
tướng phi tướng tức kiến Như-Lai “ – Nếu thấy
tấtcả
tướng mà không có kẹt tướng thì thấy được nghĩa
Phật, nghĩa Đạo. Tôi thấy chúng ta đọc kinh đọc
sách, từ xưa tới nay không có ai bù được công
của
người viết. Trong kinh Kim-Cang cũng có nói :
thế
giới không phải là thế giới nên gọi là thế giới.
Chúng sanh không phải là chúng sanh nên gọi là
chúng sanh. Vô-Thượng Bồ-Đề tức không phải Vô-
Thượng Bồ-Đề nên gọi là Vô-Thượng Bồ-Đề. Đã
qua qua rồi, hiện tại không dừng, vị lai chưa
đến.
Thế giới này nếu có chăng chẳng qua chỉ là một
tướng tổ hợp. – Nghĩa là tất-cả mọi vật, cái gì
tướng đều là tổ hợp. Tổ hợp là hợp nhiều phần
nhỏ
để thành ra tướng lớn. Thí dụ : một bức tường do
nhiều viên gạch xây nên, một viên gạch cấu tạo
bởi
nhiều hột cát, một hột cát do nhiều hột bụi, một
hột
bụi do nhiều hột mún, một hột mún do nhiều hột
mín … cứ như thế mà đi mãi cho tới hết thấy
được.
– Thế thì chính con người chúng ta cũng thế, vạn
vật đều thế. Nếu thấu triệt được nghĩa đó thì tự
nhiên ta nhập vào tướng thiệt, tướng rỗng rang
không có vướng bận.
Đi xa hơn nữa, chúng ta có tai, mắt, miệng, mũi,
đều ở phần trên đầu. Khi mũi hít vào thì tất-cả
những thành phần nhỏ trong thân chúng ta đều thở
ra. Nghĩa là mặt da thở ra. Khi miệng thở ra thì
mặt
da hít vào. Thế là khắp mặt da vẫn có mũi miệng
y
như trên mặt. Nếu ai có theo dõi NỘI-KINH sẽ
thấy
tới chỗ đó. Nghĩa là toàn thân chúng ta đều có
tai
mắt miệng mũi, đều có thấy nghe hay biết. Nhưng
chỉ vì chúng ta bị kẹt ở cái đầu, kẹt vào giác
quan
nên thấy đàng trước mà không thấy đàng sau, gnhe
bên này mà không nghe bên kia. Nên phải đợi đến
bao giờ điếc rồi thì cái đít mới nghe, đui rồi
thì
ngón tay mới thấy, mũi tịt rồi thì lỗ tai mới
biết
ngửi. Đó là chuyện dĩ nhiên, trong kinh Lăng-
Nghiêm cũng có nói chớ không có chi lạ hết.
Tôi có một người ông mù từ thuở bé, người ta
mướn bẻ cau. Thường muốn bẻ cau phải leo lên cây
hái thử 3 trái ở 3 hướng bổ thử thấy dầy thì mới
bẻ
buồng cau đó. Còn ông ấy chỉ cần lấy dao gõ dưới
gốc cau 3 cái thì biết được cau đã dầy mà leo
lên bẻ,
khỏi phải thử. Như vậy là ông đã thế con mắt
bằng
lỗ tai rồi ! – Một người điếc ngồi trên bộ ván,
mình
gõ trên bộ ván đầu đằng kia, thì họ quay lại
ngay.
Thế là cách nghe bằng cái đít. Rõ-ràng là vậy,
do đó
vấn đề lục thông cũng chẳng có chi lạ.
Phương chi ở trong bao la này không có chỗ nào
trố__________ng hết. Do đó nếu tự nhìn trở vào, hễ thân này
mắt tai mũi miệng thì khắp trong bao la này đều
mắt tai mũi miệng, mình thấy nghe hay biết suốt
khắp. Còn nếu vọt trở ra, thì tai mắt mũi miệng
ngoài đều quay vô, nên mình bị cái ám ảnh đó. Vì
thế mà hầu hết nhân loại đều mê tín là có thần
quyền. – Và hễ nhìn ra thì bằng cách đảo ngược,
lẽ chịu ảnh hưởng bầu khum của bao la này. Hễ
mình quay trở vô thì cái biết hướng ra khắp theo
chiều thuận. Do chỗ đó mà có ra pháp Phổ Môn thị
hiện của Quan-Thế-Âm, thiên thủ thiên nhãn và
bao
nhiêu pháp thần thông khác trong nhà Phật.
Thế thì tại mình kẹt trong giác quan, nhìn thấy
thân
này như cục đá, như vật đặc kẹo ; mình tạo ra
một
tướng tường đồng vách sắt bằng hư không, nên
không có viên thông được. – Sự thật mỗi người
vốn
viên thông, chỉ vì không biết được chỗ đó mới
hóa
ra chúng sanh. Do đó Phật nói : Không ai không
đủ 32 tướng, không ai không có trí huệ, đức
tướng
của Phật. Nhưng tại vì tâm mê nên các tướng đó
ẩn
lép đi, chỉ còn lại mỗi người một phần nào thôi,
là ý
vậy.
* Chúng sanh với Bồ-Đề cũng như giá với nước. Bị
3 độc làm rối loạn thì gọi là chúng sanh, được 3
giải
thoát thanh tịnh thì gọi là Bồ-Đề. Cũng như nước
bị
mùa Đông làm đặc lại thì gọi là giá, bị mùa Hạ làm
lỏng ra thì gọi là nước. Nếu bỏ giá đi thì không
nước nào khác, nếu bỏ chúng sanh đi cũng không có
Bồ-Đề nào khác.
Nghĩa là tùy duyên biến hóa. Chúng ta thử nghĩ
quả địa cầu này ở giữa hư không chẳng dính vào
đâu, thế mà bây giờ sanh ra đủ thứ con. Đó là
nghĩa
chúng sanh với Bồ-Đề cũng như giá với nước.
* Nên biết tánh giá là tánh nước; tánh nước là
tánh
giá. Tánh chúng sanh là tánh Bồ-Đề, chúng sanh và
Bồ-Đề đồng một thể tánh cũng như Ô-Đầu và Phụ-
Tử cùng một gốc, chỉ vì thời tiết chẳng đồng. Mê
ngộ khác cảnh nên có 2 tên chúng sanh và Bồ-Đề.
Cũng như chúng ta có thể nói : mặt đất chỉ là
mặt
đất, mà lên cây thì có cây độc cây không độc,
sanh
ra người có người tốt người xấu. Bổn tánh con
người cũng vốn như vậy. Hễ biết dùng thì trở nên
người tốt, không biết dùng thì trở nên người
xấu.
* Cho nên rắn hóa làm rồng mà chẳng đổi vảy,
phàm biến làm thánh mà chẳng đổi mặt, chỉ người
biết tâm thì trí soi trở vào trong, biết thân thì
giới
giữ bên ngoài.
Trong một sàn thuốc tể, nếu chúng ta phân tách
được một viên, thì trọn cả những viên kia cũng
thế
thôi. Có khác chăng là người trộn không đều thì
viên phần này nhiều, phần kia ít, chớ cũng không
phải khác. – Con người ai cũng hai lỗ mũi nằm
xuôi, miệng nằm ngang, hai bên hai lỗ tai, ở
trên 2
con mắt … người nào cũng giống người nấy, nhưng
khác nhau ở chỗ từng thành phần bên trong, từng
tâm tánh, chí hướng. Cũng thế, mọi cảnh vật bên
ngoài cùng với chúng ta liền hơ. Nhưng cảnh bên
ngoài dễ biết dễ thấy, chỉ có cái khối ở trong
mình
là khó biết khó thấy nhất mà thôi. Cho nên vấn
đề
học Đạo không ngoài vấn đề Tâm. – Nên nhớ cái
mâu thuẫn ở trong con người chúng ta ngoắt ngoéo
lạ đời lắm ! Một cô gái lớn lên trong cảnh chiến
tranh, thấy ngán chuyện lập gia đình, không muốn
có chồng. Nhưng đến khi gặp một người nào đó có
tánh nết đằm thắm ; hình ảnh đó in vào đầu rồi
cô muốn quên lắm cũng không làm sao quên được. –
Một cách mâu thuẫn nữa là : một mặt sợ nuôi con
nít cực khổ, mà một mặt lại mua búp-bê về may
quần áo để rồi ngắm ! Thật là một sự mâu thuẫn
ngặt nghèo ! Chúng ta vào chùa tu, tăng ni vị
tất đã
khỏi chuyện đó ! Nên có nhiều bà vải bà phước
ham nuôi con nít lắm. Mà hễ nuôi một đứa, tự
nhiên
rồi cũng bị nó trói buộc không khác gì như con một
vậy. Nên vấn đề đi tu mà còn thích con nít là
kiểu
mất cái lu thế cái hũ. Bởi vậy chúng ta phải nên
thận
trọng mà học hỏi về sự biết mình.
Phần nhiều chúng ta đau khổ rồi mới đi tìm Trời
Phật. Việc làm dường như chánh đáng lắm. Nhưng
sự thật, Phật ở đâu mà tìm ! Nếu Phật không là
‘cái
thứ hai’, Phật là cái vô cùng, thì chúng ta
không biết
mặt được làm sao mà tìm ! Có ai đi ra chợ để tìm
gặp người mình chưa từng quen biết bao giờ đâu !
Nên Trời Phật phải đến với mình, miễn là trong
lòng
mình đừng nhóm chứa, tự nhiên trời Phật xuất
hiện.
– Do đó tôi nói rằng : một người đặng không
mừng,
mất không lo, mà có hiểu biết thì cuộc đời người
đó
không có gì là vô phước hết. Nhưng đó không phải
là chuyện dễ ! Chỉ một vấn đề tiền bạc, khi có
hai ba
chục xe bạc với khi không có đồng nào lòng mình
cũng y như vậy; thì dù cho giữ hai ba chục xe
bạc
cũng không sao. Ngược lại, chỉ có cái mẻ kho mà
giữ khít trong lòng ; thì khi có hai ba chục bao
bạc
trong nhà sẽ mang họa ngay. – Nên cảnh này không
có chi là thuận nghịch hết. Thí dụ bây giờ ngừng
hết
giặc, vị tất con người đã có phước – Nếu vấn đề
trong lòng mình chưa có giải quyết. Đó là chỗ
quan
hệ nhất. Bởi vậy nếu không có giải quyết vấn đề
trong lòng mình mà hạ thấp vấn đề tu hành như
ngày nay, cho rằng làm phước là tu. Nhưng chúng
ta
làm mà có biết thết nào là thiệt tu không? ‘Tu’
hay
là vướng vào trong đó rồi mắc kẹt với cái đó mà
không thấy phải quấy được. Nên lắm khi chỉ một
hơi hám câu nói của mình 2,3 chữ có chứa trong
đó
không biết bao nhiêu tai hại cho mình, mà vẫn
không hay tưởng mình tốt lắm. Chỗ đó chúng ta
phải biết hệ trọng lắm !
* Chúng sanh độ Phật, Phật độ chúng sanh, thế gọi
là Bình đẳng. Chúng sanh độ Phật nghĩa là nhờ
phiền não sanh tỏ ngộ; Phật độ chúng sanh nghĩa là
tỏ ngộ rồi diệt phiền-não. Thế mới biết không
phiềnnão
không tỏ ngộ. Thế mới biết không phải phiềnnão
không lấy đâu sanh tỏ ngộ, không phải thức tỉnh
không lấy đâu diệt phiền-não. Khi mê là chúng sanh
độ Phật, khi ngộ là Phật độ chúng sanh. Vì sao
thế?
Vì Phật chằng tự thành, đều do chúng sanh độ cả.
Chư Phật lấy vô minh làm cha, tham ái làm mẹ. Vô
minh và tham ái đều là biệt danh của chúng sanh.
Chúng sanh và vô minh cũng như tay trái và tay
phải chớ không phải 2 người.
Nói thế thật là qúa rõ!
* Khi mê là mắc kẹt bờ bên đây, khi ngộ là qua
được bờ bên kia. Nếu biết tâm không, chẳng chấp
tướng thì lìa mê ngộ, đã lìa mê ngộ thì không có
bên
đây bên kia nữa. Như-Lai chẳng ở bên đây cũng
chẳng ở bên kia, chẳng ở giữa dòng. Vì sao thế? Vì
ở giữa dòng là Tiểu-Thừa, ở bên đây là phàm phu,
bên kia nghĩa là Bồ-Đề.
Nghĩa ở đây muốn nói là mắc kẹt chỗ nào cũng
đều không phải. Chuyện Đạo-lý không có gì khác
hơn là trả cho con người trở về với bổn-tánh vốn
lỏng. Nên Lão-Tử nói : “Quân tử vi thiện nhược
thủy, ủng chi khả dĩ tại sơn, kích chi khả dĩ
quá
tảng, năng phương, năng viên, ủy khúc tùy hình.
Thị
cố Quân tử năng nhu nhi bất nhược, năng cường
nhi bất cang, như thủy chi tánh dã” ( Người học
Đạo
tâm tánh phải lỏng như nước, đắp đập ở trên núi
được, đánh tung qua trán được, đổ trong bầu liền
tròn, sang qua thùng liền vuông, gặp lạnh đông
lại,
gặp nóng liền chảy ra. Nó biến hóa kịp thì kịp
lúc
một cách linh động như vậy, gọi là tánh nước).
Chỉ có cái không có gì hết mới có một sức mạnh
không thể nghĩ bàn. Qúi vị đọc Tam-Quốc-Chí nên
nhớ chuyện Trương-Phi xử tử Nghiêm-Nhan :
Trương-Phi là tướng Tây-Thục, tánh hung dữ nóng
nảy, đụng tới thì chửi, đánh; đi đánh giặc bắt
được
tướng bên địch là Nghiêm-Nhan. Đem Nghiêm-
Nhan ra trói để xử, bày rượu thịt ra bàn vừa ăn
uống
vừa mắng nhiếc Nghiêm-Nhan – Nghiêm-Nhan vẫn
điềm tĩnh không đổi sắc mặt, đến lúc thấy
Trương-
Phi đã mệt bèn hỏi : “làm vậy có mệt không ? Đại
phàm đạo làm tướng, hễ bắt được kẻ địch thì giết
hay tha tùy quyền của mình, sao phải làm chi như
thế cho mệt !”. Câu nói dội đến, Trương-Phi gạt
đổ
bàn ăn nhào xuống, mở trói đỡ Nghiêm-Nhan lên
ghế ngồi, tạ lỗi rồi tha bổng. Từ đó về sau 2
người
trở nên là bạn, không hề đánh nhau nữa. Chỗ đó
mang một ý Thiền đặc biệt, khủng khiếp. Người
nào
muốn đương đầu giáp mặt sự thật, tới giờ phút
chót
phải có khí phách như vậy, là hết chuyện rồi !
Hoặc đương đầu bằng cách thật nhẹ hơ, như
chuyện của ông Diêu và ông Tịnh mà tôi thường kể
: tôi có 2 ông Bác bà con xa, đều làm thầy Pháp.
Ông Tịnh làm theo phản ác, tánh hung dữ mà có vợ
hiền. Còn ông Diêu làm theo phù thủy, tánh hiền
vợ dữ vô cùng. Ông Tịnh tranh thân chủ với ông
Diêu, một hôm uống rượu vào làm nư chửi ông
Diêu đủ điều. Nhà gần bên, bà Diêu nghe về nói
lại :
“Mình ơi mình, thằng Tịnh chửi nát mình, qua mà
coi !”.
Ông Diêu lặng thinh, ngồi ngoáy trấu ăn như
không có chuyện gì xảy ra. Mấy tiếng sau bà vẫn
thấy ông êm rơ, nóng lòng bà nói : “Ông ơi ông,
thằng Tịnh nó chửi nát ông đó, qua mà coi !”.
Ông vẫn ngồi làm thinh, coi như không có mặt bà
vậy. Tới cả giờ đồng hồ sau, bà Diêu tức qúa,
chạy
ra chạy vô nói :”Diêu ơi Diêu ! Thằng Tịnh nó
chửi
nát cha mày ngoài đó, ra mà nghe !”.
Ông vẫn tỉnh bơ, chậm rãi nói :” Ối ! Thằng Tịnh
cha nó nó còn chửi, tôi mấy lăm hơi mà nó không
chửi”!.
Chỉ một câu nói thôi. Thấu đến tai thầy Tịnh,
ông
chửi một bữa thật dữ dội, rồi từ đó về sau chấm
dứt
không hề có chửi nữa. – Đó cũng là một chuyện
không phải dễ làm !
* Phật có 3 thân là hóa thân, báo thân và pháp
thân.
Hóa thân cũng gọi là ứng thân ; Nếu chúng sanh
thường làm điều thiện tức là hóa thân. Khi hiện tu
trí huệ là báo thân. Hiện giác vô vi là pháp thân.
Thường hiện 10 phương, tùy nghi cứu tế, đó là hóa
thân Phật. Nếu dứt mê hoặc tức là Tuyết-Sơn thành
đạo là báo thân Phật. Không nói không năng, không
làm không được, rỗng lặng thường trụ là pháp thân
Phật. Nếu luận chí lý một Phật còn không có thay
làm gì có ba ! Nói có 3 là y cứ theo trí người đời
mà nói, người có 3 bực : người bực hạ trí vọng cầu
phước lực, vọng thấy hóa thân Phật.
Thưa, vọng thấy hóa thân Phật là tưởng tượng qúa
rồi, vọng thấy bóng dọi của cái tâm mình mà
thôi.
* Người bực trung trí vọng dứt phiền não, vọng
thấy
báo thân Phật.
Tại sao lại nói “vọng dứt phiền não” ? – Trong
kinh Lăng-Nghiêm có nói : “Ngay hồi tính trừ
vọng,
hồi đó chính là vọng”. Vì chỉ có ngừng đừng làm
thêm vọng mà thôi, chớ không có nghĩa trừ. Nếu
tôi
trừ cái quấy, tôi sẽ còn lại cái trừ, nghĩa là
còn làm
thêm. Còn nếu tôi ngừng, đừng làm quấy nữa là
hết
chuyện. Nói khác hơn trừ cái quấy nghĩa là biến
tướng đổi cái quấy để lấy cái trừ, chớ không
phải
hồi đó không có việc. Cũng như tôi đang chạy.
Bây
giờ muốn ngừng thì không chạy nữa, chớ không
phải đợi chạy thụt lùi mới gọi là ngừng.
* Người bực thượng trí vọng chứng Bồ-Đề, vọng
thấy pháp thân Phật. Người bực thượng-thượng trí
soi trở vào trong tròn lặng tỏ tánh là Phật, chẳng
đợi
trừ tâm mà được trí Phật. Biết 3 thân và vạn pháp
đều không thể chấp, không thể nói.
Tại vì mê mà thấy có ngoài có trong, nên mới nói
cần phải quay trở vào chính con người của mình.
Sự
thật, nếu mình không có mê, thì chính thân này
còn
không thiệt thay, làm gì có ngoài có trong !
Nhưng
nên nhớ, khi thấy không có gì là thiệt hết, hồi
đó tấtcả
đều thiệt. Cũng như nói : Tất cả không phải là
xe,
vậy cái gì là xe ?
Tất cả đều không phải Phật, vậy cái gì là Phật?
Tất cả đều không phải tôi, vậy cái gì là tôi?
Tất cả đều không phải tâm, vậy cái gì là tâm?
Đến chỗ đó đừng vọng dùng lý trí.
* Đó là tâm giải thoát viên thành đạo cả Kinh nói
:
Phật chẳng thuyết pháp, chẳng độ chúng sanh,
chẳng chứng Bồ-Đề là nghĩa thế.
Nếu nói Phật có thuyết pháp hay không có thuyết
pháp, có độ chúng sanh hay không có độ chúng
sanh
đều là chưa thiệt biết rõ nghĩa Phật muốn nói,
rằng còn rơi vào trong hai tướng đối đãi.
* Chúng sanh tạo nghiệp, nghiệp chẳng tạo chúng
sanh. Đời này tạo nghiệp, đời sau thọ báo, quyết
định không sai. Chỉ có bực chí nhơn nơi thân này
chẳng tạo các nghiệp nên chẳng thọ báo. Kinh nói:
chẳng tạo các nghiệp tự nhiên được Đạo, há chẳng
đúng sao ?! Người hay tạo nghiệp, nghiệp chẳng
hay tạo người. Người nếu tạo nghiệp, nghiệp và
người cùng sanh. Người nếu chẳng tạo nghiệp,
nghiệp và người đều dứt. Thế mới biết nghiệp do
người tạo, người theo nghiệp sanh. Nếu người
chẳng tạo nghiệp, thì nghiệp không theo mà sanh
người. Cũng như người hay hoằng Đạo, Đạo chẳng
hay hoằng người. Phàm phu đời nay thường tạo
nghiệp, vọng nói không báo, há phải không khổ đâu
! Nếu luận chí lý thì tâm trước tạo, tâm sau thọ
báo
làm sao thoát được !.
Không phải nói chi xa xôi, bây giờ nếu mình nghĩ
những chuyện hiểm hóc thì cái mặt, bộ tướng của
mình đã đổi khác, mạch cổ tay cũng đổi khác. Hễ
tâm nghĩ điều gì thì hiện thấy ra ngay. Nên mới
nói
:”Hữu kỳ trung tắc hình ư ngoại”.
* Nếu tâm trước chẳng tạo thì tâm sau chẳng thọ
báo thì lấy đâu vọng thấy nghiệp báo. Kinh nói :
ai
tin có Phật mà nói Phật có khổ hạnh, đó là tà
kiến;
nói Phật bị quả báo cây thương vàng và ăn lúa
ngựa,
đó gọi là đức tin chẳng đủ, gọi là Nhất-xiển-đề.
Ai tỏ được pháp thánh thì gọi là thánh nhơn, tỏ
pháp
phàm thì gọi là phàm phu. Chỉ có thể bỏ pháp phàm
theo pháp thánh, là phàm phu thành thánh vậy. Thế
gian ngu mê, chỉ muốn cầu làm thánh nhơn mà
chẳng tin cái tâm tỏ ngộ là thánh nhơn. Kinh nói :
những kẻ không trí đừng cho nghe kinh này. Kinh
nói : “tâm là pháp”. Người không trí chẳng tin tâm
tỏ ngộ pháp trở thành thánh nhơn ; nên chỉ muốn
tìm cầu bên ngoài, ngưỡng mộ hình tượng màu sắc
v.v.. đều bị đọa vào tà kiến, tâm sanh cuồng loạn.
Trên đời này không việc gì khó bằng trở về với
cái
tâm. Mà học Phật nghĩa là trở về với tâm; nên có
thể
nói không có gì khó cho bằng học Phật.
Trong lịch sử nhà Phật có mấy chuyện này chúng
ta cần để ý :
– Chuyện cây thương vàng. Một hôm Phật đang đi
bỗng dưng xuất hiện một cây thương vàng trên hư
không. Phật đi đến đâu thương cứ bay theo đến
đó,
muốn ghim xuống Phật mà không sao ghim được, vì
Phật có cách ngăn không cho nó ghim xuống. Phật
biết đó là do oan trái kiếp trước bây giờ phải
lãnh
qủa. Nên cuối cùng Phật bằng lòng trả xong oan
trái
đó, bèn đưa chân ra hứng, cây thương liền ghim
xuống. Có điều lạ là nếu Phật không bằng lòng
hứng
thì cây thương không thể đâm, nhưng không làm
sao để nó dừng được.
– Chuyện ăn lúa ngựa : vào ngày an cư kiết hạ,
nhà
vua thỉnh Phật và cả tăng đoàn vào thành đích
thân
cúng dường chu tất. Một hôm, mãi say mê cuộc vui
cùng cung nữ, vua bỏ quên cả tăng đoàn mấy ngày
phải chịu đói. Bỗng một đoàn xe chở lúa ngựa đi
qua. Người lái xe nghe tin ấy, vào bạch Phật xin
tình nguyện cúng dường mấy xe lúa. Phật nhận
lời.
Thầy trò nhờ bữa cháo chịu đựng qua ngày. Đến
khi
nhà vua sực nhớ lại thì đã qua mấy ngày rồi !
Vua
vội vàng làm lễ trai tăng, sám hối. – Thấy thế,
trong
đồ đệ có người hỏi Phật sao có chuyện lạ như vậy
?
Phật chậm rãi kể lại vào muôn kiếp trước, tiền
thân
Phật là một ông vua rất ghét thầy tu. Một hôm có
đoàn tăng lữ khất thực đi qua. Nhà vua bảo :
“đám
này cầu có lúa ngựa mà cho nó ăn !” – Nên bây
giờ
Phật phải lãnh quả báo ăn lúa ngựa.
– Chuyện Phật nhức đầu 3 ngày : Một hôm bỗng
dưng Phật bị nhức đầu, qua 3 ngày rồi khỏi. Đồ
đệ
bèn hỏi : nghe nói bậc La-Hán không còn bịnh
nữa,
mà sao Phật lại bịnh?
Phật mới kể : tiền thân của Phật có một kiếp làm
Thái-Tử. Lúc bé đi chơi gặp người ta tát đầm bắt
được con cá lóc vua. Thái-Tử lấy cây gõ lên đầu
lóc 3 cái ; nên bây giờ Phật bị nhân qủa nhức
đầu 3
ngày.
Những chuyện ấy có thật, nhưng ở đây Tổ-Đạt-Ma
nói rằng : ai tin Phật bị qủa báo cây thương
vàng và
ăn lúa ngựa, người đó đức tin chưa đủ. Ý muốn
nói
ai hiểu như vậy đều là người mắc kẹt trong
tướng;
không thấy được trọn hết sự thật. Nghĩa là mượn
chuyện này để nói lên vấn đề nhân qủa cho người
hạ
đẳng sơ cơ. Nếu ai mắc kẹt trong đó thì không
thể
phóng tầm mắt đến tận nguồn chân lý được.
* Kinh nói : “nếu thấy các tướng không phải tướng
là thấy Như-Lai.” Tám muôn bốn ngàn pháp môn
đều do tâm khởi; nếu tướng tâm thanh tịnh như hư
không liền thoát ly thân tâm vậy. Tám muôn bốn
ngàn phiền não là căn bịnh. Phàm phu khi sống lại
lo chết, khi no lại lo đói, đều gọi là đại mê
hoặc.
Thật cũng đáng lấy làm lạ, vì có nhiều người
đang
sống mạnh khoẻ mà vội lo đi làm Kim-tỉnh để
phòng lúc chết. Bởi thế Trang-Tử muốn phá cái
tâm
ấy, khi sắp chết bèn căn dặn đồ đệ : Lát nữa tôi
chết rồi, mấy người cứ đem lột hết quần áo ra,
rồi
đem vào rừng treo lên cây để cho quạ chim ăn. Đồ
đệ nghe thế vội nói : Sao lại để thầy lõa lồ như
thế
được, thôi để chúng tôi xin phép chôn cất cho
kín
đáo một chút. Trang-Tử bèn nói : mình sống ở mặt
đất, ăn những thứ trên mặt đất ; bây giờ chết đi
sao
lại tư vị cho đám ở dưới ăn mà không cho đám ở
trên !
* Cho nên thánh nhơn chẳng lo trước, chẳng nghĩ
sau, không đắm hiện tại, niệm niệm đều qui Đạo
Giản dị quá ! – Nếu một người đối với việc đã
qua
biết nó qua rồi, thôi không vướng bận. Việc sắp
tới
biết nó chưa tới, thôi không mong mỏi. Việc hiện
tại
biết nó không dừng nên để cho tâm rỗng rang. –
Như thế còn gì khoẻ hơn !
* Nếu ai chưa ngộ được lý này, thì nên sớm tìm
đường lành trời người, đừng để mất hết cả hai.
Tôi không hiểu tại sao Đạt-Ma nói ra câu này !
nói hồi nào? Nói với ai? Nói ở đâu? Tại sao nói?
phải Đạt-Ma nói ra không? Dù cho chính Đạt-Ma
nói ra chăng nữa … vì sao thế ? – Ngày nay tất
cả
loài người đều đắm mê vật chất, lười biếng suy
tư,
tham cầu tìm hầm núp nổi để nương dựa. Tất cả
cửa
tôn giáo tín ngưỡng đều biến thành cửa chợ.
Không
chỗ nào không có bàn tay chánh trị phe đảng mò
vào. Thế giới vật chất đều năm châu họp chợ. Con
người tuy sát mặt nhau mà lòng dạ càng ngày càng
cách muôn sông nghìn biển. Tôn giáo tín ngưỡng
chực biến thành phòng tuyến dẫn hỏa cho chiến
tranh. Đức tin của con người chỉ còn là một thứ
hời
hợt, xuất phát từ lòng tham lam ! … Như thế tại
sao
lại bày thêm những an ủi tạm bợ để cho thêm kéo
dài lê thê dòng sinh mệnh mê muội ? Tại sao
không
đóng bít cửa nhơn thiên để rồi hễ rơi xuống mạnh
thì sẽ được vọt lên mạnh ?! Ta không thấy sao ?
Các loài trùng đóng kén, nếu kén còn có một chỗ
hở
thì nhất định không hóa được.
Vì thế nên theo tôi, câu này đáng lẽ là không
có.
* Đêm ngồi kệ rằng :
Canh một ngồi ngay bắt kiết già,
Tĩnh thần lặng chiếu rỗng đồng hư.
Lũy kiếp đến nay không sanh diệt,
Đâu cần sanh diệt diệt Vô-Dư.
Vạn pháp chung qui đều như huyễn
Bổn tâm tự rỗng đâu dụng trừ
Nếu biết tâm tánh phi hình tượng,
Lặng yên chẳng động tự chơn như
*
Canh hai thần lắng chuyển suốt trong
Chẳng khởi ước mơ, chỉ một lòng
Sum-la vạn tượng đều qui Đạo,
Há chấp có không để bịnh chung !
Các pháp bổn lai không Không Có,
Phàm phu vọng tưởng luận cuồng ngông
Nếu tâm chẳng khởi sanh hai pháp,
Còn nói làm chi thánh khác phàm !
*
Canh ba lòng lặng tợ hư không,
Trùm khắp mười phương đều suốt thông
Núi sông ghềnh đá không sao chướng,
Hằng sa thế-giới sẵn ở trong.
Thế giới chơn như cùng bổn-tánh
Cũng không không tánh tức dung thông
Phải đâu chư Phật là như thết,
Hữu tình muôn loại thảy đều đồng.
*
Canh tư không diệt không sanh,
Hư-không pháp-giới đẳng bình như nhau
Đến đi khởi diệt được nào
Có không sáng tối làm sao tỏ tường
Không thấy là cái thấy Thế-Tôn.
Không tên không được là tên Phật mình
Ai có tỏ ngộ biết liền
Chúng sanh mê-muội còn nguyên đui-mù
*
Canh năm Bát-Nhã chiếu vô biên,
Một niệm chẳng khởi ba ngàn suốt qua.
Chơn như bình đẳng muốn thấy là ….
Tịnh tâm không loạn trước mắt ta hiện liền.
Đạo mầu tâm khó suy lường
Chớ nên tìm kiếm cho thêm mệt thần.
Nếu hay vô niệm là chơn,
Tìm cầu càng cách hết đường thấy nghe.
*
* * *
Luận Ngộ Tánh đến đây là hết.
Tiếp theo đây tôi xin nói đến vấn đề phải khám
phá
‘Thằng Mình” như thế nào? để giúp cho những
người mới đến sau khỏi bị lạc hướng, và những
người đến trước cũng cần phải theo dõi thâm sâu
hơn.
Phần đông chúng ta đều thích nhìn trở ra. Không
bao giờ chúng ta chịu lưu tâm dò dẫm trong con
người của mình. Tại sao có lúc mình muốn làm
phải
mà vẫn không sao làm được, cố tránh làm quấy mà
vẫn bị làm … để rồi có lúc ăn năn đến muốn tự tử
!
Có khi tự tử được cứu rồi, lần khác cũng làm như
thế, để rồi lại tự tử nữa ! Trông thật đáng tội
nghiệp
! Tuy nhiên như vậy đâu phải là con người không
biết phải trái, nhưng vẫn bị làm là tại không có
cách
để thắng nó.
Bởi thế đầu mối kinh Kim-Cang, mở đầu đã có vị
hỏi Phật : “ Bạch Thế-Tôn, như có người muốn tu
vậy phải phát tâm bằng cách nào ? phải hàng phục
tâm mình ra sao ?”. Nghĩa là vô thẳng đề, nhắm
ngay con người của mình mà đặt nền tảng cho việc
tu. Nếu không hiểu con người mình thì học Phật
tức
không học. Kinh Phật chẳng qua là cái gương để
rọi
lại cho thấy lòng mình, chớ không phải học thuộc
để
trả bài với ông Phật !
Chúng ta có thể ví thân con người như chiếc xe
chở hàng cũ đấy ắp. Bộ óc ngóng chuyện sắp tới,
cái
thân chứa chuyện đã qua, trái tim đập nhịp hiện
tại
mà không có sống. Chúng ta ai cũng vậy, lúc nhỏ
sống khác, đến già đi ngược lại. Thí dụ hồi nhỏ
tâm
tánh mình ra sao, sanh con ra lớn lên nó cũng
sống y
như vậy. Bây giờ mình trở về già thấy ngược lại
nên
không bằng lòng nó, chớ sự thật nó làm đúng kiểu
của mình, chỉ tại mình không hiểu thôi. Nên cuộc
sống chúng ta từ nhỏ đến già ngược nhau, thì từ
đầu
năm đến cuối năm cũng ngược nhau, và từ sớm mai
đến chiều cũng ngược nhau, bây giờ muốn thế này
một lát nữa muốn trở ngược khác. Kiếp này đã là
một chùm mâu thuẫn thì kiếp kiếp đã qua cũng là
một chùm mâu thuẫn. Nó đóng cứng và xỏ suốt
thành một xâu thời gian tâm lý. Nên có thể ví
cuộc
đời con người như một chiếc xe chở đầy nhóc,
chạy
trên con đường không được bằng phẳng nên đồ đạc
khua rổn rảng, đó gọi là phiền-não đau khổ.
Nhưng
đường đời làm sao có bằng phẳng được ! Chỉ có
đừng chở thì khua cũng không có. Và chỉ trừ đừng
có xe hơi thì mới không có chở.
Xưa kia có một vị Thiền-Sư tu lâu tưởng mình đã
lưu thông rồi, một hôm đến chơi với một ông
Thiền-
Sư khác nói rằng : khi trước tôi giàu, bây giờ
tôi
nghèo nên không có đất cắm dùi. Ông kia liền nói
:
Anh còn có dùi để không có đất cắm. Tôi thì dùi
còn
không có, lấy đâu đi tìm đất để cắm ! Nên hễ còn
một chút xíu cái ‘có’ là vẫn không phải thiệt
‘không’. Nếu còn cái dùi dù không cắm ở đâu thì
bỏ
trong túi nó cũng ló mũi ra !.
Cũng như hai bài kệ của hai vị Thiền-Sư Việt
Nam, người đời sau đọc ai cũng khen hay mà không
nhận rõ :
Ông thứ nhất nói kệ rằng:
“Phật pháp lưu truyền tám vạn tư,
Học hành không thiếu cũng không dư,
Đến nay tính đà chừng quên hết,
Còn lại trên đầu một chữ ‘Như’”.
Ông thứ hai nói:
“Có thì có tự mảy may,
Không thì cả thế gian này cũng không,
Thử xem bóng nguyệt dòng sông,
Ai hay ai có có không là gì ! …”
Bởi vậy chúng ta hãy lui lại, tế nhị để hiểu xác
thật
con người của mình cho chính chắn hơn nữa.
Tôi thí dụ anh kép xiệc đi dây trên sợi dây căng
thẳng cao 5-7 thước, nếu không cầm cây dù thì
phải
cầm 2 cây gậy. Như vậy là trong bụng anh đã có
tính toán rồi ! Tôi đi ngang một nơi đó nghe đồn
có ma nhiều lắm. Tôi ngại ngùng. Nhưng sở dĩ tôi
dám đi là vì tôi đã ếm câu chú trong lòng, tay
bấm
chặt lại … tưởng rằng tôi không sợ ma chớ đâu
phải
vậy ! Nên tất-cả chúng ta đều có cuộc tính toán
trước. Bởi cuộc tính toán ấy nên tất-cả đều đổ
vỡ.
Nhưng khốn nỗi chúng ta không ai chịu đứng ở
giữa, mà chỉ thích tìm dựa, chỗ này chỗ kia,
hình
như sợ rằng đứng khơi sẽ chết mất. Sự thật nếu
chết thì ông Phật cũng đã chết từ lâu rồi !
Kinh Phật có một câu chuyện mang nhiều ý nghĩa
là Phật đem bình bát bằng vàng ném xuống sông
nói
: nếu ta có chứng được Đạo thì bình bát này
liệng
xuống sông sẽ ngược dòng mà trôi trở lại. Chúng
ta
không cần phải đặt vấn đề bình bát có trôi trở
lại
không. Sự thật đó là một bài kinh không chữ.
Bình
bát là tượng trưng cái bao tử. Liệng bình bát là
nghĩa đã giải quyết rồi vấn đề ăn. Ý muốn nói
rằng
mỗi người đừng có lo ăn. Càng lo ăn chừng nào là
càng đói chừng ấy ! Nhưng nói vậy không phải là
nghĩa không làm việc, mà có nghĩa là đừng chật
vật
vì miếng ăn, nó không mất đi đâu ! Đừng vì miếng
ăn mà tàn hại lẫn nhau.
Do đó khi muốn thấy đưọc sự thật thì tất-cả
chúng
ta nên lưu tâm đến trong lòng của chúng ta khi
chưa
mống lên một ý nghĩ. Hồi ấy cái gì là tâm của
chúng
ta, cái gì là vọng. Đó là chỗ chiêm nghiệm duy
nhất.
Nếu khi nghe mà không nhận ra được ngay thì phải
ráng lưu tâm làm việc. Và điều cần yếu là khi
nghe
đừng đem những gì có sẵn trong bụng mình ra mà
so sánh. Vì nếu sánh giống mới thấy phải, thì
cái
nghe đó không phải thiệt nghe đâu.
Hỏi: Thưa, thế nào là nghĩa quán pháp vô ngã?
Đáp: Thưa, “Quán pháp vô ngã” nếu đi sâu vào thì
có nghĩa là thế giới này nếu có chăng cũng chỉ
một tướng tổ hợp. Nếu ai thấy được cách cấu tạo
của mọi sự vật thì mới biết tất-cả đều chỉ là
hiện
tượng. Có ai biết những tảng đá nổi trên mặt
biển,
đầu tiên là do sóng biển, nhồi cuồn cuộn, lâu
ngày
hóa cứng, kết cấu lại thành tảng đá to, cách sắp
xếp
thật khéo léo. Thật ra ngôn ngữ không thể diễn
tả
hết ý, và lý trí cũng không thể theo dõi được;
chỉ có
tuệ giác mới thấy mà thôi. Lý trí nếu có thấy
được
chăng cũng là một cách quán tưởng, mà quán tưởng
thì chưa phải là thật.
Do đó, nếu muốn chứng thực toàn thân tôi chỗ nào
cũng có tai, mắt, mũi, miệng, tôi phải ngồi lại
tĩnh
tọa, hít vào thở ra thật chậm. Tôi sẽ thấy toàn
thân
tôi do từng phần nhỏ ráp lại, và cũng bằng trực
giác
tôi cảm thấy sự sống hiện diện trên khắp con
người
tôi, từng tế bào cũng thở ra hít vào y như một
con
người.
Tôi muốn nói trong khi tôi đưọc nghe một đoạn
kinh diễn tả bằng ngôn ngữ trực giác, nếu tôi
không
đủ tuệ giác nhận thẳng vô thì tôi còn những
phương
tiện khác để theo dõi như tĩnh tọa … Nhưng tại
sao
lại phải khắc khổ như vậy? – Tại sao các vị bác
giải phẩu biết rõ thân người tổ hợp cũng y như
tôi
nói đây, nhưng mấy ai biết thế mà thoát được sợi
tình ?! – Cũng bởi chúng ta chỉ biết bằng lý trí
nên
không xài được gì. Điều cần yếu là phải chứng
thực
ở ngay nơi mình. Dù học Phật, học Dịch, hay học
Nội Kinh cũng thế, không thể có cách nào khác hơn
được.
Hỏi: “Bổn lai vô nhứt vật”, vậy tâm này với Phật
có mâu thuẫn nhau không?
Đáp: Sự thật chữ tâm hay chữ Phật là tại mình
đặt,
chớ nó không có nói năng gì hết. Nên nhà Nho có
nói: “thiên hà ngôn tai …” Trời có nói gì đâu mà
vạn vật vẫn sanh sôi, bốn mùa vẫn luân lưu. Mình
đặt nào chữ tâm, chữ Phật chẳng qua đều là
phương
tiện, là cách nói. Sự thật không có chữ “Bổn lai
hay “nhứt vật”, cho tới “bổn lai vô nhất vật”
cũng
không có. Mà nếu có bổn lai vô nhất vật thì cũng
thể có đủ thứ. Cũng như ở trong bao la này, khi
mình đã qua khỏi vấn đề lạnh và nóng, thì gặp
một
thứ lạnh cực độ. Tới chỗ đó sẽ dễ dàng biến
thành
lửa hay nước đá. Cũng vì thế ở các miền cực
lạnh,
nước đông đặc, nếu đụng da vỏ lớp sơn ngoài xe
hơi
sẽ bị phỏng ngay.
Do đó, nếu muốn biến hóa vô cùng thì phải vào
chỗ không có gì hết sẽ có đủ thứ.
Hỏi: Thưa, muốn thế có lẽ chúng ta phải cần pháp
tọa Thiền?
Đáp: Thưa, hễ nói tọa Thiền là Thiền đã bị kẹt
vào
cái tọa, và cái tọa chỉ ở trong một góc của
Thiền.
Nếu thấy ngồi là tọa Thiền, thì Thiền đó chỉ ở
trong
cái tọa, bởi vì trong cuộc sống còn có đi, đứng,
nằm.
Do đó nghĩa tĩnh-tọa đây cứ hiểu y như tôi đã
nói,
rồi qúi vị sẽ thấy nó vẫn là Thiền. Còn đặt tên
nó là
tọa Thiền … thì nó sẽ biến thành thứ không có
Thiền gì hết.
Thiền là không là gì cả. Nên nghĩa Thiền thì
không
có lập. Bởi vì phá chưa rồi cái cũ thì không có
lập.
Bao giờ phá đến tận cùng không còn phá được nữa
thì cái còn nguyên lại đó khỏi cần phải lập
thêm.
Nếu thật là cái sân xi măng, vật nào tôi còn
quét trôi
được thì đều là rác, còn lại không gì quét được
nữa
mới là sân xi măng của tôi. Nếu thiệt là thợ đi
thuyền thì ra biển không có sóng sẽ không thấy
thú
vị. Nếu không biết đi biển thì đút đầu ra khơi
sẽ bị
sóng nhận chìm. Nên chỉ cần biết, chớ không cần
đòi hỏi làm sao cho biển đừng có sóng, vì nếu
không có sóng thì cũng không phải là biển.
*

* * *

BỒ ĐỀ ĐẠT MA QUÁN TÂM PHÁP – THÍCH MINH THIỀN phần3

TUẦN THỨ TƯ
18 – 6 – 1972 (8 – 5 N. Tý)
Hôm nay trước khi vào học tiếp, tôi xin đưa ra
một
nhận xét mong quí vị lưu tâm:
Trong một số người đến cùng nhau học Đạo ở đây,
chỉ có bao nhiêu đây mà tôi thấy có đến mấy
người
cận thị; như thế tính ra số người ấy trên đất
nước
Việt Nam và trên thế giới thì sẽ ra sao
?! Một vấn đề
như thế mà người ta vẫn coi thường! Tôi thấy rất
đáng thương tâm. Đó là điểm thứ nhất.
Điểm thứ hai là: Chiều hôm qua cửa chùa bị xét.
Thực ra chuyện đó không có đáng chi, nhưng cũng
có thể gây ra thành tai hại khủng khiếp. Vì nếu
tôi
như người ta, không phải thiệt tu – gặp những
kiểu
đó, thì nếu tôi không theo phe này cũng sẽ theo
phe
kia để chống lại cho vừa ý mình.
Chỉ bao nhiêu đó thôi, mà nếu mình không biết
được mình thì sẽ gây tùm lum ra, để rốt cuộc
càng
không biết được mình cũng không thể biết được
người. Nên ở đây hễ tôi có nói là nói thẳng thắn
không khi nào tránh né, miễn tôi xét thấy việc
tôi
làm không sai và không có gì trái với Đạo.
Chỉ một cái nhìn đó cũng đủ cho chúng ta thấy
cái
tình thế nhân loại đang xuống dốc một cách ghê
gớm. Nên nếu chúng ta nhẹ dạ kiểu đó thì ai điều
khiển mình cái gì cũng được. Do đó Thiền học có
danh từ “Như cẩu trục khối” (Cẩu là chó, trục là
đuổi theo). Nghĩa Thiền học muốn nói rằng: Khi
không biết gì hết về mình thì ngoại cảnh thúc
đẩy
mình sẽ bị chạy theo, cũng như chó bị đuổi theo
cục
đất ném vậy. Đó là hai điểm chúng ta cần lưu
tâm.
Giờ đây chúng ta học tiếp phần “Luận Ngộ Tánh”.
* Thế mới biết: chấp tâm học pháp thì cả tâm lẫn
pháp đều mê. Đừng chấp tâm mà học pháp thì cả
tâm và pháp đều ngộ.
Nghĩa là dù chấp tâm cũng là một thứ chấp. Chấp
là gì? – Là một chữ để chỉ cho sự đóng cứng một
chỗ. Bởi vì vũ trụ này rất sống, không có lúc
nào
chết tê một chỗ ; nên nếu mình đóng cứng lại thì
đó
là chấp.
* Phàm mê nghĩa là mê ở trong ngộ, ngộ là ngộ ở
trong mê..
Nghĩa là chính mình đây là một hiện tượng từ
trong tự tánh xuất hiện. Mỗi người đều vốn có
tánh
Phật. Nhưng vì mê nên gọi là mê ở trong ngộ.
Nhưng cũng y như trên thân chúng sanh này, bây
giờ biết được thân này chỉ là hiện tượng mà
không
kẹt ở trong tướng, nên gọi là ngộ ở trong mê.
Giản
dị như vậy. Ý nói bàn tay vẫn y nguyên là vậy,
trở bên này sấp, trở bên kia ngửa; chớ không
phải là
cái nào khác.
* Con người chánh kiến biết được tâm vốn rỗng
không liền siêu mê ngộ.
Làm sao biết được như thế ? – Mỗi chúng ta cứ để
tâm thanh tịnh đừng nghĩ phải quấy, thiện ác chi
hết; rồi soi trở lại tâm mình thấy nó đặc hay
lỏng,
lớn hay nhỏ, trong hay ngoài … tự nhiên sẽ nhận
ra
được chớ không có chi khó khăn hết.
Khi biết được tâm vốn rỗng không, nghĩa là biết
tất
cả tướng đều là hiện tượng – lòng sẽ không còn
kẹt
vào cái chấp đóng cứng nữa, thì tất nhiên là
siêu mê
ngộ.
Siêu mê ngộ là sao ? – Nghĩa là ở trong tướng mà
không mắc kẹt với tướng, ở trong không mà không
mắc kẹt với không. Đừng hiểu chữ siêu là nghĩa
không ở trong mà nhảy vọt ra tới ngoài; bỏ xác
thân
này để nhảy đi tìm cảnh nào khác. – Siêu nghĩa
vẫn ở trong mà thông suốt ra tới ngoài. Ngoài
với
trong vốn không có, chỉ có đồng nhất; chớ không
phải là bỏ ở trong mà chạy ra ngoài, hay bỏ ở
ngoài
mà chạy vào trong.
* Như thế mới gọi là thấy biết đúng. Sắc chẳng tự
sắc, do tâm nên có sắc.
Có bao giờ cây quạt tự nó ngồi dậy xưng tao đây
quạt! Tại có người ta nên mới có tên quạt và vật
gọi
là quạt. Nhưng có người khác cũng chưa đáng quan
hệ, phải có mình mới có vấn đề. Bởi vì khi chưa
mình, chuyện ở ngoài này có hay không không
thành vấn đề. Chỉ khi có mình rổi mới có vấn đề.
Nên biết trung tâm vấn đề là mình.
* Tâm chẳng tự tâm, do sắc nên có tâm.
Sự thật, nói tâm nói sắc là tại có thân này. Vì
chấp
thân nên mới có sắc và mới sanh tâm. Nên biết
cái
chấp là nguồn cội.
* Thế mới biết tâm và sắc, cả hai cùng nương nhau
sanh diệt.
Hễ có chấp thân thì có chấp tâm.
Kinh Hoa Nghiêm có nói: mỗi người có hai thiên
nhơn đi theo ở hai bên vai, một người tên là
đồng
danh, một người tên là đồng sanh; hễ mình làm
điều
chi họ cũng biên vào sổ. – Cũng như nói đến
Phật,
thì mỗi vị có hai vị Bồ Tát theo hầu. – Hay các
cụ
già ở thôn quê cũng thường nói: “Tụi bây làm gì
thì
làm, coi chừng có 2 bên vai vác làm chứng à !”.
Là vì hễ có chấp thân này thì có phải có quấy,
và có
ôm đồm chấp chứa. Nên hễ có một chút xíu là có
đủ
thứ hết.
* Có là có ở trong không. Không là không ở trong
có. Thế gọi là thấy đúng.
Nghĩa là không một cái “có” nào không là tổ hợp.
Không có tổ hợp nào lại không ở trong tổ hợp, dù
nhỏ đến thế nào cũng vậy.- Thế mới biết: cái
“có”
theo kiểu mình đặt, chẳng qua cũng là một thứ
“không”. Và cái “không” theo kiểu mình đặt chẳng
qua cũng là một thứ “có”. Do đó là có ở trong
không, không là không ở trong có. Thế gọi là
thấy
đúng.
* Vả chăng, nếu thật thấy là không chỗ chẳng thấy,
cũng không chỗ thấy.
Nếu thật thấy thì không có thấy từng lỏm, từng
cục
riêng; nghĩa là thấy khắp. Tôi thấy rằng tôi với
ông
không có dính dấp gì nên tôi ích kỷ thẳng tay,
tôi
nghĩ bài trừ được ông càng tốt. Nhưng sự thật,
nếu
tôi tiêu diệt hết tất cả những gì không phải tôi
thì tôi
cũng phải tiêu diệt luôn.
* Tuy thấy khắp muời phương, nhưng chưa từng có
thấy. Vì sao thế ? – Vì không chỗ thấy, vì thấy
được
cái không thấy, vì thấy không phải thấy.
Nghĩa là con mắt của người thông đạt không có
thấy một vật nào riêng tư, cũng không một vật
nào
đặc kẹo như bánh đúc như cái thấy của con mắt
thường tình. Bởi vì bao la vốn đồng nhất, tương
quan, biến hóa, lưu thông và cũng bất khả phân,
bất
khả hợp.
* Cái mà phàm phu gọi là thấy ấy đều là vọng tưởng
cả.
Nói như vậy không phải là Phật phủ nhận cái thấy
của chúng ta; nhưng vì cái thấy của chúng ta bị
thông qua con mắt và màn lưới của cái tâm mê.
Thí dụ một sắc đẹp từ khi mới tượng trong thai
đến
khi già xuống lỗ đều thay đổi một cách biện
chứng.
Nhưng chúng ta lại chận đứng một khúc mình vừa
mắt nhất; đề rồi nào luyến tiếc, nào kỷ niệm …
xót
thương chồng chất … Thế là chúng ta không thấy
hết, hay là chỉ thấy bằng vọng tưởng. Nên mới có
câu:
“Đêm nay là cuối mùa Đông
Giấy hoen, mũ cũ, mắt dưng lệ thừa
Lần trang kỷ niệm về xưa
Sầu theo dòng chữ như mưa lào rào..”
Như vậy là mang cái cũ đã qua rồi đeo lên cổ,
lấy
cái nặng đó mà cảm thấy sướng.
Thật ra qủa địa cầu này vẫn sống như chúng ta
sống. Nếu chúng ta thử bước tránh ra ngoài vòng
bao la, lớn bằng cái lớn của hư không, rồi quay
nhìn
lại qủa địa cầu nay suốt từ khi nó mới tượng cho
đến
khi lâm chung. Nếu chúng ta quay phim, chiếu lên
màn bạc thật nhanh, chúng ta sẽ thấy rõ qủa địa
cầu
này thật đang sống. Nó cũng thở phình ra thóp
vào
như bao nhiêu cuộc sống khác. – Nhưng thường thì
chúng ta chận một khúc vừa ý để ôm lại, còn khúc
nào ghét thì chận để xô nó ra. Nên ôm đồm chấp
chứa riết rồi nặng qúa đi không nổi, bịnh đó là
tại
chúng ta không có thấy suốt. Do đó kinh Lăng
Nghiêm nói : “Tại vì mình muốn thấy quá nên
không thấy được”. Lão Tử cũng nói :”bởi vì mình
thấy nhiều quá nên mắt hóa ra đui” là nghĩa như
thế.
* Nếu vắng lặng không chỗ thấy mới gọi là thấy
thật.
Đó là nghĩa thấy không có manh mún. Tôi thấy
trong tôi có tất cả mọi người, trong tất cả mọi
người
có tôi. Do đó tôi mới ngồi đây để nói chuyện này
với qúi vị. Chớ nếu tôi thấy mỗi người đều riêng
thì tôi sẽ lo ích kỷ phận tôi, sống đời cho yên
ổn
phần tôi.
* Tâm và cảnh đối nhau, cái thấy trong đó phát
sanh
Nghĩa là tánh biết của mình đụng với cái tướng,
phát ra cái trí, rồi nó đặt tên, phân chia ..
gọi là thấy.
* Nếu trong chẳng khởi tâm thì ngoài chẳng sanh
cảnh, cảnh và tâm đều vắng lặng, như thế mới gọi
thấy thật.
Nếu tôi thấy được tất cả mỗi cảnh vật đều y như
hiện đang có, đừng chồng thêm một ý nghĩ thì
không có cảnh vật nào nao núng tôi được. Nhưng ý
nghĩ nó tới lẹ lắm – Tôi đi ngang cây cầu khỉ,
nếu ở
dưới rạch có nước thì tôi mạnh dạn đi qua, còn
nếu
không có nước là tôi không dám đi. Thế là hồi
tôi đi
hay không dám đi đều đã có tính toán rồi, mà
không
cần thời gian suy nghĩ. Hễ thấy có nước đi qua
dễ,
là hồi đó ở trong tôi đã tính nếu rớt trên mặt
nước
thì tôi cũng biết lội nên không lo. Còn không có
nước mà không dám đi là tôi cũng đã tính rồi,
rủi rớt
xuống dưới bùn qúa sâu thì nguy lắm, nên sợ mà
không dám đi. – Nếu có chuyện gì tới, chúng ta
đừng có một chút tính toán gì ở trong lòng thì
cảnh
sẽ không điều động chúng ta được. Nhưng tai hại
nhất là lòng chúng ta luôn luôn bàn cãi, tính
toán đủ
các thứ ở trong. Thế nên chúng ta đừng nghĩ
rằng;
sao cái tâm tôi nó yên qúa, mà tôi vẫn khổ như
thường! – Đó là chúng ta tưởng tượng vậy thôi,
chớ
không bao giờ có chuyện tâm yên mà vẫn khổ vì
trong tâm chúng ta nó đá banh mà mình cũng không
hay. – nên trong chuyện thầy trò Tam Tạng cãi
nhau
về vấn đề Tâm Kinh, cuối cùng Tôn Ngộ Không nói
:”nghĩa là cứ việc làm thinh, làm thinh tới
trong
ruột, đi hoài chừng nào tới thì thôi !”. Sự thật
là hầu
hết chúng ta không làm thinh được như vậy, hễ
chuyện đụng tới là liền nhảy nhổm ra, nên sự
thấy
biết dễ dàng bị nhầm lẫn. – Đó là chỗ chúng ta
rất
nên lưu tâm.
* Chẳng thấy tất cả pháp mới gọi là được Đạo.
Chẳng biết tất cả pháp mới gọi là tỏ pháp.
Nói đến đây tôi nhớ có người hỏi Ngũ Tổ :”Tại
sao
trong chùa có hơn ngàn người, đủ thứ bậc … đều
học Đạo đã lâu, tại sao Tổ không truyền y bát
cho
các người đó, lại truyền cho một người mới vào
chùa chưa biết đọc, cũng chưa tụng một bài kinh
nào, chưa thọ một giới nào? – Ngũ Tổ trả lời
:”Tại
vì Huệ Năng không biết pháp Phật nên được truyền
y bát”. Câu nói thật chẳng khác nào đóng đinh
vào
lỗ tai chúng ta vậy! Sự thật, đó là ý Tổ muốn
nói
Huệ Năng từ hồi nào đến giờ chưa có kiến thức
nên
nghe chuyện này liền được thấm trọn vào lòng;
còn
các ngươi vì chồng chất kiến thức nhiều qúa nên
cái
nghe chỉ là sơn phết ngoài da chớ không ăn sâu
vào
trong lòng. Tôi ý thức điều đó một cách thâm sâu
cùng. Từ thời Ngũ Tổ đến bây giờ đã qua bao
nhiêu
lâu, Tổ đã nói lên câu đó mà đến bây giờ chúng
ta
cũng chưa thức tỉnh!
Kiến thức tôi nói đây, dù cho kiến thức của Phật
giáo cũng là kiến thức mà thôi. Chúng ta hãy
nhìn
trọn tất cả đại học Phật Giáo Việt Nam
cũng như
Nhật Bản, kể cả đại học Nalanda – đều vẫn làm theo
kiểu chẳng những giữ nguyên cái mê mà còn nuôi
lớn thêm cho thành những con vẹt nhà Phật, chớ
không phải để giúp thêm cho con người có đủ khả
năng tu chứng? Do đó chúng ta thấy nêu lên câu
nói
nghe như rất đúng :”Tu mà không học là tu mù,
học
mà không tu là đải đựng sách”. Nhưng rốt cuộc là
câu nói nêu lên để chơi, mà làm vẫn y như cũ! –
Chỗ
đó Ngũ Tổ có nói rõ lắm : dù cho các ông có giàu
kiến thức phật-giáo đến đâu, cũng chỉ là một thứ
chướng Đạo (gọi là sở tri kiến, có khi Phật dùng
chữ
sở tri ngu). Bởi bị biết nhiều qúa hóa ra ngu,
vì cái
biết đã cản lấp trí huệ. – Thí dụ tôi đi đến một
nơi
mà người ta đồn rằng có ma nhiều lắm. Nghe nói
vậy tôi không biết làm sao, liền bấm ngón tay,
vừa
đọc thần chú vừa đi tới. Như thế tôi nói rằng
tôi
không sợ ma là đâu phải! Đó là tôi đã dựa hẳn
vào
cây cột thần chú và bấm ngón tay mà không sợ vậy
thôi! Nên phần đông chúng ta đều tìm cách đào
tẩu,
tìm hóc để chun vào chớ không cần tìm sự thật;
cho
đến tình trạng hiện nay mà vẫn còn mua hầm núp
nổi để núp chớ không phải là thiệt muốn giáp mặt
sự thật để biết; và điều đáng tội nghiệp nhất là
kiến
thức Phật giáo cũng đã bị rơi vào trong đó. Do
đó
tôi thấy câu nói của Ngũ Tổ là một lời than đối
với
tình trạng đang xuống dốc khủng khiếp của chúng
ta
ngày nay vậy.
Hỏi: Thưa, nếu tai hại đến như thế tại sao Phật
lập
pháp để lại làm chi?
Đáp: Điều đó không có chi lạ. Dù cho tôi có tài
ba
gì, cho đến tất cả chư Phật cũng thế, đều phải
mượn
phương tiện để nói cho chúng ta nghe. Do đó ở
trong cái đồng nhất mà lòng còn vướng 2 tướng,
thì
dù nói có hay đến đâu cũng là ma nói. Nên kinh
Kim Cang có nói :”Không có Phật, cũng không có
pháp để nói nữa”. Nghĩa là sợ mình rơi vào trong
cái nghe, để rồi sẽ thấy có ông Phật ở trên
thiệt cao,
còn mình ở dưới lỗ nẻ; là hai người cách biệt.
Chớ
không thấy được bổn lai không có chia chẻ, không
có 2 tướng. Nên kinh Hoa-Nghiêm có câu:
“Vọng niệm thiên lưu nải hữu khứ lai chi
tướng,
Chơn tâm tuyệt đải bổn vô kim cổ chi
thù”.
Nghĩa là vọng niệm trôi lăn nên có tướng đi
tướng
đến. Sự thật bổn tánh vốn không có hai nên không
có xưa và nay.
Và cũng vì như thế, một lần ông Tu Bồ Đề tụng
kinh Kim Cang xong, chư thiên ứng thanh lên nói
:”Tu Bồ Đề tụng Kim Cang hay qúa !” – Tu Bồ Đề
đáp :”Tôi có nói gì đâu ?” Thiên thần liền ứng
:”
Ông không có nói gì hết, thì tôi cũng không có
nghe
gì hết”. – Nghĩa là người huyển nói người huyễn
nghe, phải hiểu như thết mới đúng lý. Phải đặt
một
nền móng bổn lai vốn không hai tướng để nghe
pháp thì pháp mới chơn. Nên từ mấy năm nay, tôi
luôn luôn đề cao với tất cả chư quí vị thiện hữu
đến
đây nghe – về vấn đề phải nhận cho ra nguồn tâm
linh ngay ở nơi lòng mình trước, rồi nghe cái gì
cũng trúng, nhìn ở đâu cũng trúng. Do đó tôi nói
khi
đang mang kính đen mà muốn nhìn màu sắc đích
thật của sự vật, thì công việc ưu tiên của tôi
là phải
gỡ cặp kính đen để xuống chớ đừng đi tìm cách
nào
khác. Hễ gỡ kính đen để xuống rồi thì tôi nhìn ở
đâu
cũng thấy được mặt thật. Do chỗ đó, tôi thường
khuyên mỗi người nên phải để nằm lòng câu nói
của
ngài Huệ-Năng khi Huệ-Minh đến hỏi pháp :“ Nếu
ông muốn nghe pháp, hãy nên dứt hết các duyên,
đừng mống sanh một ý nghĩ, giây lát ta sẽ nói
cho
nghe”. Giây sau Tổ Huệ Năng mới nói: “Vậy trong
khi không nghĩ thiện nghĩ ác gì hết, cái gì là
tâm
tánh của ngài?”.
Đến chỗ đó thì không có người nói và người nghe,
mà cũng có người nói cũng có người nghe. Và có
thể nói hoài cũng được, mà nín hoài cũng được –
Đó
là chỗ cốt tủy. Chúng ta làm sao mang ý thức đó
đi
vào tất cả hành động hằng ngày, thế là đắc Đạo.
Đắc
Đạo nghĩa là không có được gì hết; nghĩa là vẫn
cuộc sống bình thường này mà vẫn yên ổn, lòng
không sạo sục.
* Vì sao thế? – Vì thấy và chẳng thấy đều là chẳng
thấy
Tôi đã nói qua về 2 cách biết con rùa : một
người
biết thật rõ ràng hình dáng con rùa, thấy cách
sinh
hoạt và nếm vị thịt của nó mà không biết tên gọi
con
vật là gì. Có ngưòi đưa con rùa ra hỏi biết con
không? Người đó đáp không biết! – Một người khác
chỉ biết tên con rùa và nghe tả sơ qua về hình
dáng
của nó. Có người đưa con rùa ra hỏi biết không?
Đáp: biết! đó là con rùa! Do đó biết với không
biết
đều là chưa thiệt biết.
Tôi còn nhớ chuyện một nhà vua nọ rất sợ gặp
thuyết khách. Một hôm phải tiếp sứ giả là một
tay
thuyết khách nổi tiếng. Nhà vua ra điều lệ trước
:
thuyết khách được phép nói tự do, nhưng cấm
không cho thí dụ. -Thuyết khách liền vô đề:
Có một người không từng biết cái nỏ ra sao, vậy
nhà vua sẽ làm cách nào để người đó biết được
cái
nỏ?
Nhà vua đáp: phải thí dụ như có một cây cung …
Thuyết khách liền nói: Ấy, Bệ-Hạ còn phải thí
dụ,
tại sao ngài cấm tôi thí dụ ?!
Thế nên nói phải có thí dụ; đó chẳng qua là mượn
cái nầy để nói cái kia, mượn cái kia để nói cái
nọ mà
thôi. Nếu kẹt trên lời và chữ thì không làm sao
thấy
được ý chánh. Trang-Tử có nói một câu rất hay
:”Nói là mượn lời để diễn tả ý, nghe là nương
nơi
lời để đạt ý. Được ý phải quên lời. Thế mà đời
này
có mấy ai được ý quên lời để mình cùng chơi cho
đỡ buồn!” – Ý Trang-Tử muốn nói tất cả thế-gian
đều kẹt ở trong danh ngôn sắc tướng! Trang-Tử
được xếp vào bậc nhất tài-tử cũng từ chuyện đó.
* Hiểu cùng chẳng hiểu đều là chẳng hiểu. Cái thấy
không phải thấy mới gọi là thật thấy. Cái hiểu
không không hiểu mới gọi là hiểu rộng lớn.
Nghĩa là thấy, hiểu mà còn mắc kẹt và trong
lý-trí
từ vùng, thì không phải là thiệt thấy thiệt
hiểu.
* Vả chăng, thấy đúng nghĩa là không phải cái thấy
có thấy mà là cái thấy trong không thấy. Thật hiểu
nghĩa là không phải cái hiểu trong có tướng, mà là
cái hiểu trong không có tướng. Phàm hễ có cái bị
biết đều gọi là chẳng biết. Không có cái bị biết
mới
gọi là thật biết. Biết cùng chẳng biết đều không
phải
biết. Kinh nói chẳng bỏ trí tuệ gọi là ngu si. Nếu
tâm là không, hiểu cùng chẳng hiểu đều là thật cả.
Nếu tâm là có, hiểu cùng chẳng hiểu đều là vọng.
Nghĩa là nếu tôi còn thấy tôi có sự nghiệp
trí-huệ,
sự nghiệp kiến thức dồi dào qúa : nếu một việc
đã
qua tôi vẫn còn ôm đồm, chấp chứa; đó là một thứ
ngu si. Nên mới nói :”nếu chẳng bỏ trí huệ gọi
ngu si “, nghĩa là còn có sở đắc là không phải
tríhuệ.
Còn nếu tâm không bị chấp sự nghiệp hiểu biết
thì
làm sao cũng trúng. Nên mới nói :” Nếu tâm là
không, hiểu cùng chẳng hiểu đều là thật cả”.
Nghĩa
là nếu chuyện đã qua rồi, chuyện hiện tại không
dừng, chuyện vị lai chưa đến; trong lòng mình cứ
rỗng rang, thảnh thơi, không ôm đồm chất chứa,
không sạo sục đau khổ, thì việc gì đến cũng giải
quyết được dứt khoát.
“Nếu tâm là có thì hiểu cùng chẳng hiểu đều là
vọng”. Cái tâm đặc kẹo tối đen gọi là vô lý, ngu
si.
Ôm đồm kiến thức là sự nghiệp của lý trí. Hai
cái đó
cũng là một thứ bề bên đây và bề bên kia, chấp
và chấp không mà thôi.
* Nếu tỏ ngộ thì pháp theo người. Nếu chẳng tỏ ngộ
thì người theo pháp.
Nếu đã nhận ra được vấn đề nguồn cội của chính
mình, thì mỗi việc niệm Phật tụng kinh … đều là
chuyện mình dùng pháp. Còn nếu chưa có đường
hướng rõ rệt để nhận ra con người của mình, thì
làm theo pháp nào cũng chẳng qua là mê tín, làm
giống, làm theo, là chuyện mình bị pháp nó dùng.
Dù không làm gì hết cũng là một thứ làm giống
làm
theo ; dù không tin gì hết cũng là một thứ mê
tín mà
thôi.
* Nếu pháp theo người thì phi pháp trở thành pháp,
hết thảy pháp đều chơn. Nếu người theo pháp thì
pháp trở thành phi pháp, hết thảy pháp đều trở
thành
vọng.
Kinh Kim-Cang chư gia có nói :”Người chánh
dùng pháp tà thì pháp tà trở nên chánh. Người tà
dùng pháp chánh thì pháp chánh trở nên tà”. Điều
đó không có chi lạ cả ! Nếu biết, đó là tại phía
trong
của tôi, chớ không phải tại phía ngoại cảnh. Do
đó,
khi tôi không thấy được chuyện tụng kinh, niệm
Phật, ăn chay, giữ giới … đều là những phương
tiện,
những pháp tôi dùng để pháp tập khí, để hộ niệm
cho cái tâm tự giác tự ngộ ; và tôi cũng không
biết
gì hết về chính con người của tôi, thì tôi sẽ
cho
những phương tiện đó là chân lý. Để rồi ngày nào
có tụng kinh, tôi kể như ngày đó tôi đã thực
hiện
được chân lý. Nếu ngày nào bận việc không tụng
được, thì trong bụng bức rức khó chịu. Chính hồi
đó
là con ma pháp đang điều khiển tôi. Thế là pháp
đó
biến ra ma rồi ! Nên dù Phật có đến với chúng ta
chăng nữa, điều hệ trọng nhất là ở chúng ta chớ
không phải ở Phật. Dù lương y Biển-Thước Hoa-Đà
sống dậy đến với người bịnh chăng nữa, điều hệ
trọng ở người bịnh chớ không phải ở Biển-Thước
Hoa-Đà ; vì khi người bịnh ngậm miệng không chịu
uống thuốc thì dù có lương y cũng không làm gì
được. Nên mới nói : hễ người chánh dùng tà pháp,
pháp tà hóa ra chánh ; người tà dùng pháp chánh,
pháp chánh hóa ra tà.
Nói đến đây tôi xin nhắc lại câu chuyện đối đáp
của Lục-Tổ : một người đem câu kinh đến hỏi Lục-
Tổ: – Tánh Phật là thường, có phải thế không?
Lục-Tổ nói: Ông nghe lộn rồi đó ! – Tánh chúng
sanh là thường, tánh Phật mới vô thường.
Người kia bỡ ngỡ hỏi : Sao ngài nói trái với
kinh
vậy?
Tổ đáp: Tôi truyền tâm ấn Phật, đâu có nói trái
với
kinh ! – Nếu tánh Phật là thường, vậy chúng sanh
nghiệp báo ở đâu ra ?! Nếu tánh chúng sanh là vô
thường, thì muôn thuở làm gì có người phát Bồ Đề
tâm ?!
Thế là Tổ đã nhìn thấu tới trong trong bụng ông
kia đã bị chấp thường chấp đoạn, mà hiểu lầm cái
thường và vô thường của Phật nói.
Thế mới biết quan hệ là chỉ ở cách dùng. Nên
trong võ thuật Thiếu-Lâm, cốt yếu là luyện cho
con
người trở lại cái dẻo bình thường của gân cốt cả
chiều thuận lẫn chiều nghịch, để khi áp dụng,
không
những không đánh không đỡ, mà chỉ cần tránh kéo
là đối phương bị té rơi vào trong cái không ;
bấy giờ
mới đỡ lên để thuyết pháp. Thiền ở trong
võ-thuật
Thiếu-Lâm là vậy.
Hỏi: Thưa, người hỏi Lục-Tổ câu đó cũng trúng,
tại sao Tổ đáp ngược như thế?
Đáp: Vì ông nói chỉ đứng ở ngoài, thuộc lòng câu
kinh mà hỏi chớ không hiểu gì hết. Còn Lục-Tổ
đáp
vậy là để phá cái mê cho ông đó, chớ không phải
nói theo miệng, không phải nghe người ta nói y
theo
mình liền vội chấp nhận. Cũng như câu chuyện có
2
người đến hỏi phật:
Người thứ nhứt cầm một vật tới hỏi Phật : Cái
này
“có” phải không? – Phật nói : Phải, có.
Lại hỏi : phải cái này có thiệt không? – Phật
đáp :
phải có thiệt. Tất cả đều thiệt, cho tới hư không
cũng thiệt. Nếu hư không có thiệt thì cũng không
tôi với ông.
Người thứ hai cầm một vật khác đem lại hỏi : cái
này không có phải không? – Phật đáp : phải!
không
có.
Lại hỏi : Phải cái này không có thiệt không? –
Phật
đáp : Phải ! không có thiệt. Tất cả đều không
thiệt,
cho tới hư không cũng không thiệt. Nếu hư không
mà thiệt không thì tôi với ông cũng không có.
Nghĩa hiển hiện sự thật trong Thiền học là vậy.
* Cho nên thánh nhơn chẳng đem tâm mà cầu pháp,
cũng chẳng đem pháp mà cầu tâm, cũng chẳng đem
tâm mà cầu tâm, đem pháp mà cầu pháp. Cho nên
tâm chẳng sanh pháp, pháp chẳng sanh tâm. Tâm
pháp đều vắng lặng nên thường ở trong định.
Nghĩa là hư không đứng yên ; chỉ có mình chạy
tới
hay thụt lui làm xáo trộn hư không ; làm ngăn
cách
hư không với mình là hai. Cũng như chúng ta ngồi
trên chiếc xe đậu yên thì không thấy gió. Còn
nếu
mở máy cho xe vọt tới thì đàng trước lướt gió,
đàng
sau bị bụi cuốn đuổi theo. Như vậy là mình ủi
gió để
trúng mình, mà gọi là trúng gió. Nên chỉ cần
đứng
yên lại thì hư không với mình không có cách bức.
Do đó, đem tâm mà cầu pháp hay đem pháp cầu tâm
; đem tâm cầu tâm hay đem pháp cầu pháp đều là
chuyện làm thêm, chưa hoàn toàn chính xác. – Nên
trong Thiền học mới nói : “Bất dụng cầu chơn,
duy
tu tức vọng “. Nghĩa là đừng dùng cách làm thêm
để
tìm cái thiệt, chỉ cần ngừng làm thêm cái mê mà
thôi. Đó là nghĩa tâm pháp đều vắng thì thường ở
trong định.
Hỏi: Thưa, giữa người chất phát và người lão
luyện trong cuộc sống đối với việc chứng ngộ có
khác nhau ra sao?
Đáp: Đối với ngộ thì người chất phát dễ hơn.
Nhưng đối với chứng hoàn toàn thì 2 người đều
khó
như nhau. Tại sao vậy ?- Vì đối với người chất
phát, chưa nếm sự đời thì nghe Đạo dễ nhận ra.
Tuy
đã ngộ thấy nhưng vấn đề chứng vẫn chưa rồi, vì
lòng vẫn còn lóng nghe, còn sạo sục đối với
chuyện
sắp tới. Khác với trường hợp của Lục-Tổ là dòng
sinh mệnh đã qua đã nếm cả sự đời, bây giờ Tổ
thị
hiện nên lòng không còn sạo sục thèm muốn nữa.
Nhờ đó khi nhận ra sự thiệt là tức khắc nhảy vô
đó
liền.
Còn đối với một người đã nhẫn hết chuyện đời,
nghe Đạo tuy khó nhận được liền. Nhưng khi đã
tới
mức cùng, hễ nhận ra được thì chứng cũng mau –
Nên hai trường hợp đó cũng có giống nhau mà cũng
có khác.
Đến đây tôi xin nói cùng tất cả quí vị đến nghe
đây, tôi bảo đảm rằng sự học hỏi cùng nhau của
chúng ta suốt mấy năm nay không khi nào lạc
hướng được. Nếu không tin, quí vị cứ về làm thử
xem có lạc nổi không ! Nhưng chuyện thời gian
nhanh hay chóng tùy theo người hộ niệm, chớ
quyết
định không lạc hướng ; đã biết hướng đi rồi,
quyết
định không phải đi tới khoanh lò xo thứ hai.
Trong kinh Phật có nói đến vấn đề A-La-Hán
muốn xuống địa phủ phải mượn nghiệp. Đó là ý
muốn nói đi theo nẻo A-La-Hán, khi đã đóng cứng
rồi, muốn cho lòng trở lại để thành nguời chứng
qủa
thì khó vô cùng. – Là vì A-La-Hán khi muốn xuống
địa phủ ít nhất phải làm một cái gì để mượn
nghiệp
đi xuống. Nhưng đã mắc kẹt ở trong tốt xấu, có
không thì làm sao làm nổi chuyện đó ! Nên A-La-
Hán chưa chứng qủa được vì chưa lưu thông.
Do đó, việc đặt cái nhân sai lầm thật vô cùng
nguy
hiểm ! Nên trong kinh có nói :” Chẳng thà muôn
kiếp không tỏ ngộ chớ không thà một sớm lầm
đường”. Nghĩa là hãy thận trọng cái nhân, đừng
vội
giải quyết, mà trước phải biết cho rõ sự việc,
đừng
sợ tu lâu không thành Phật. Chỗ quan hệ nhất là
đặt
cái nhân như thế nào đây !
Nếu đã nhận ra ý của tôi nói, nếu tâm không còn
săn đuổi nữa, thì hồi đó chúng ta lọt vào trong
định
hồi nào không hay. Đó là nghĩa của đại định
không
hình không tướng, chớ không phải là thứ định có
xuất nhập.
* Tâm chúng sanh sanh thì pháp Phật diệt. Tâm
chúng sanh diệt thì pháp Phật sanh.
Giản dị quá ! Hễ vọng tâm nổi lên thì pháp Phật
phải diệt, là vì mình còn có biết gì nữa là phải
quấy.
Hễ tâm tỏ ngộ nổi lên thì tự nhiên đâu đó phân
minh, là pháp Phật sanh. Bởi vậy nên Lục-Tổ mới
nói niệm trước mê là Phật làm chúng sanh, niệm
sau
ngộ là chúng sanh thành Phật.
* Nếu đã biết tất-cả pháp đều chẳng có tự tánh
riêng, thế gọi là người có Đạo. Biết tâm chẳng
thuộc
về của riêng của các pháp – Đó là người thường ở
Đạo tràng.
Nghĩa là nếu biết được tất-cả pháp đều không có
thật, đều không thể chấp kẹt. Đó là người ở
Đạotràng.
* Khi mê có tội, ngộ rồi không tội. Vì sao thế ?
tánh tội vốn không.
Nghĩa là hễ khi mê thì có mình, người, thân
cảnh,
có không, phải quấy, được mất, hơn thua, lợi
hại,
sống chết … Vì hễ có, thế tất phải có 2 bề. Nên
đến
khi không có cái “có” nữa, thì tướng còn không
có,
làm gì có hai bề ! Nên tội cũng từ tâm sanh ; mà
hễ
tâm giác ngộ thì chuyện đó hết thành vấn đề.
Cũng
như nếu tôi có cây cột đóng đinh, thì người đi
qua
có xâu thịt, xâu lạp-xưởng … mới máng lên được.
Chớ nếu đừng có cây cột thì không có chỗ máng.
Giản dị như vậy.
* Kinh nói: các Phật pháp không có tự tánh riêng,
thật dụng chớ nghi, nghi liền thành tội.
“Các pháp không có tự tánh riêng” là một cách
nói
khác cũng như câu nói của Khổng Tử : “Vạn vật
đồng nhất thể”. Nên trong bài công phu chiều ở
các
chùa gọi là “Mông Sơn thí thực” có câu:
“Nhược nhơn dục liểu tri tam thế Phật. Ưng quán
pháp giới tánh, nhứt thiết duy tâm tạo”. Nghĩa
nếu ai muốn rõ Phật mười phương ba đời, hay là
tấtcả
Phật – thì nên quan sát để nhận cho thấy được
tánh của bao la, pháp giới, tất-cả đều tại có
mình
nên mới có chuyện.
* Vì sao thế ? – Vì tội do nghi hoặc mà sanh.
Nghi hoặc nghĩa là không có rõ suốt dứt khoát.
Nếu rõ suốt dứt khoát thì tội nghiệp đời trước
hết
thành vấn đề.
* Khi mê thì 6 thức 5 ấm đều là pháp phiền não
sanh tử. Khi ngộ thì 6 thức 5 ấm đều là pháp Niết-
Bàn không sanh tử.
Sự thiệ__________t, con dao thì phải bén, còn mình đem dùng
chém lộn, hay gọt khoai gọt bầu … là chuyện do
mình. Cũng như tai, mắt, miệng, mũi, thân, ý là
chuyện thân người phải có ; nó vốn không có lỗi,
chỉ có mình đem dùng trúng hay trật mà thôi.
Nhưng khốn thay ! Vì chúng ta không có quay trở
vô, nên việc xài dùng hóa ra đều trật hết.
Trang-Tử có kể chuyện ông “Hỗn Độn”; là người
không có mắt tai mũi miệng, thân tròn như trứng
vịt; nhưng trí-huệ linh thông sáng suốt. Hai
nước
láng giềng ở hai bên ông gây chiến, phải mượn
đường thông thương ngang qua nước ông. Sau một
lúc mệt mỏi vì trận chiến, hai vị Quốc vương ghé
nhà ông Hỗn-Độn xin tạm nghỉ. Một hôm thấy ông
Hỗn-Độn thiếu mắt tai mũi miệng, vì cảm tình
thương ông nên hai vua rước thầy lỗ-bang về khai
quang điểm nhãn cho ông có tai mắt mũi miệng …
rồi ông cũng chết luôn !
Nghĩa là khi đã vọt ra là kể như người đó đã
chết.
Nên chúa Giê-Su là con một của đức Chúa Trời mà
bị đóng đinh trên Thập-Tự-Giá, chết chôn xuống 3
ngày sống dậy 40 ngày trở về Trời. Chuyện này
cũng bắt đầu từ chỗ đó.
* Người học Đạo chớ nên tìm Đạo ở ngoài. Vì sao
thế ? – Vì biết tâm là Đạo.
Kinh Pháp-Hoa có nói rằng : tất-cả chư Phật hiện
ra trong đời nay đều chỉ vì có một đại sự nhân
duyên là khai thị cho chúng sanh tỏ ngộ tâm tánh
mà thôi. Ở kinh Pháp-Hoa gọi đó là
“Tri-kiến-Phật”.
Kinh Lăng-Nghiêm gọi là “Đại-Phật-Đảnh Như-Lai
mật nhân”. Kinh Kim Cang gọi là “Vô Thượng Bồ-
Đề” hay “Như-Lai” … ở mỗi nơi đều dùng danh từ
khác nhau nhưng ý diễn tả không có khác. Chỉ con
gà nhưng người ta khéo nấu sẽ có ra mấy chục
món.
Hiển nhiên là vậy chớ không có chi lạ cả.
* Nếu khi được tâm, không có tâm có thể được. Nếu
khi được Đạo, không có Đạo có thể được.
Có người hỏi Lục-Tổ : Ai được cốt tủy của Ngũ-
Tổ ? Lục-Tổ đáp : Ai vô tâm thì được, ai có Đạo
thì
không.
Lại hỏi: Vậy hòa-thượng có được không?
Đáp: Không.
Thế mới biết tâm phải thật thả lỏng mới trả lời
nổi
câu đó.
* Nếu nói đem tâm cầu Đạo mà được, thì gọi là tà
kiến.
Bởi vì nếu đem tâm cầu Đạo mà có được, thì tất
nhiên ngoài tâm còn có một thứ Đạo nữa. Thế là
vẫn
còn lung tung trong đối lập.
* Khi mê có Phật có pháp. Khi ngộ không Phật
không pháp.
Nghĩa là khi mê thấy có chúng sanh, có Phật, có
tất-cả; mỗi pháp đều riêng. Khi ngộ, thấy tất-cả
đều
tuyệt đối bình đẳng, vạn vật đồng nhất thể. Chớ
đừng hiểu lầm là khi ngộ rồi chỉ có một mình ta
thôi. Cũng như có người đọc Krishnamurti rồi nói
:
Khi mình ngộ Đạo rồi, mình chửi người ta cũng
được. Học Đạo kiểu đó thì có ngày chúng giết
chết !
* Vì sao thế ? Vì ngộ tức là Phật, là pháp. Vả
chăng
tu nghĩa là diệt cái thấy có thân riêng thì Đạo
thành.
Cũng như hột giống nứt vỏ thì cây nẩy mầm.
Nghĩa là phá cái chấp ngã thì Đạo thành. Phải
nhắm vào chỗ mê mà phá ; nếu không thì làm tào
lao không tới đâu hết.
* Cái thân sanh tử nghiệp báo luôn luôn vô thường;
là pháp không nhất định, chỉ tùy niệm mà tu, cũng
không nên chán sanh tử hay thích sanh tử.
Người nào chán sanh tử hay thích sanh tử cũng
đều
không phải ; vì đó là làm thêm chớ không có để
tự
nhiên như cái vốn có vậy.
* Chỉ làm sao trong tâm luôn luôn đừng vọng tưởng
thì khi sống nhập được hữu dư Niết-Bàn, khi chết
vào được vô-sanh pháp nhẫn.
Rõ ràng lắm ! Chỉ có làm sao lòng chúng ta đừng
có sạo sục. Nhưng khốn đốn cho chúng ta là thằng
người là một thứ đứng núi này trông núi nọ, ở
đây
ngóng chuyện bên kia, ở bên kia ngóng chuyện bên
nây. Bây giờ ngóng chuyện sắp tới, nhớ chuyện đã
qua, mà hiện tại không có sống. Bịnh đó là tại
chúng
ta không có hiểu biết, do đó mà chúng ta mới học
để
hiểu biết.
Thưa nói đến đây tôi xin trình bày một câu
chuyện
; trong nhà Phật có 2 danh từ thật là mâu thuẫn:
Câu thứ nhứt trong kinh Lăng Nghiêm : “Bất tùy
phân biệt”, nghĩa là đừng đi theo cái phân biệt.
Phân
biệt là tôi biết cái này là cây quạt, cuốn kinh
Nhưng nếu không biết phân biệt gì hết thì tôi là
ngưòi điên.
Đến câu thứ hai lại thấy nói ngược lại : “Nếu ai
khéo phân biệt các tướng thì nghĩa cứu cánh
không
bị lay động”. Đi vào biển kinh nghe hai câu đó
chúng ta không khỏi bị mâu thuẫn lùng tung trong
lòng – Thật ra nỗi sạo sục trong lòng đó là do
không
thông đạt, do mình không biết được mình. Chính
tôi
đây, thành thật mà nói tại tôi không biết mà tôi
cũng
bị một lúc lùng tung, hỏi ai cũng không biết,
bực bội
hết sức ! Sở dĩ có phân biệt là tại tôi thấy có
tốt xấu,
phải quấy, hơn thua, thiện ác, sống chết có thật
tình.
Sở dĩ có cái thấy như thế tại tôi mê lầm, không
thông đạt. – Nếu thiệt tình thông-đạt thì lòng
hết sạo
sục. Nên khi tôi thấy cứu tận không có nghĩa
sống
chết, phải quấy thiệt như mình tưởng, thì tự
nhiên
lòng tôi sẽ yên, thảnh thơi không còn sợ chết
tham
sống nữa. Chuyện thật rõ rệt như vậy, nhưng khi
không hiểu thì nó trở nên rắc rối vô cùng. Nên
Thiền-học nói : hễ chưa thông đạt, thì dù ông
Phật
bằng sắt cũng phải tháo mồ hôi ! Điều đó quan hệ
lắm.
Nên bí quyết để học Phật, trước nhất là học về
con
người của mình. Nếu không lấy cây thước kinh
Phật
để đo trong bụng mình, thì dong ruỗi theo sự
nghiệp
kiến thức của kinh sách, để cuối cùng học thì
học
Phật mà lại thành ma. Tai hại tại chỗ đó. Do vậy
không có một người nào có phước hơn một người
rỗng rang rời rảnh, động dụng đừng mê. Không có
người nào có phước cho bằng trong cuộc sống đã
qua qua rồi, hiện tại không dừng lại, vị lai
chưa đến,
trong lòng không có chấp chứa.
* Khi mắt thấy sắc chẳng nhiễm sắc, tai nghe tiếng
chẳng nhiễm tiếng thì đều là giải thoát.
Nói thì dễ nhưng không phải là chuyện chơi ! Nếu
người nào nhìn sắc mà ráng đừng nhiễm sắc, nghe
tiếng mà ráng đừng nhiễm tiếng, thì người đó tự
làm
cho cái tâm cũng chết luôn. Bởi vì cái tâm đâu
phải
khúc gỗ mà muốn nó đừng nhiễm. Chỉ có thật hiểu
rõ vấn đề rồi bỗng dưng không bị nhiễm nữa. Nhờ
tôi đã biết quá rõ nên việc người ta chửi bới
hay làm
chướng ngại tôi, tôi ít thấy nguy hiểm hơn ở
phần
trong tôi, ở phần ý nghĩ của tôi. Hồi đó tự
nhiên tôi
không nhịn cũng phải nhịn. Như thế không phải là
tôi nhịn cho ông ở ngoài, mà vì tôi sợ đám giặc
trong lòng tôi nổi dậy làm cho tôi nhìn ngoại
cảnh
đều sai lầm. Cả Phật Di Lặc có 6 thằng nhỏ bò
trên
mình móc mắt, mũi, tai, miệng … là do ý nghĩa
đó.
* Mắt chẳng đắm sắc thì mắt là cửa lễ, tai cũng
vậy.
Thật vậy, nếu đã rõ thông được bổn tánh, thì tự
nhiên đối với mọi người dù lớn hay nhỏ, xấu hay
đẹp, mình đều có thái độ kỉnh trọng như nhau. Do
đó mới nói con mắt là cửa lễ. Ngược lại, nếu mắt
đắm sắc thì gặp người tốt mình đi theo, gặp
người
xấu mình phủi ra. Cũng như trong các công sở
ngày
nay, hễ các cô trẻ đẹp vào làm giấy tờ thì được
làm
nhanh chóng, còn các ông nam hay người xấu vào
thì phải chịu chậm trễ, bê tha đủ thứ. Chúng ta
phải
dám nói sự thật, vì dù có phũ phàng đó cũng là
sự
thật. Tôi lúc nhỏ mới biết làm thầy thuốc, trong
bụng mình bị chứa ‘cọp’ nhiều qúa, nên ‘cọp’ ở
ngoài tới mình để ý người đẹp mà săn sóc kỹ hơn.
Do đó cũng phải đề phòng mấy ông thầy thuốc như
thường !
* Nói tóm lại, khi thấy sắc mà thấy được đến tánh
của sắc thì không nhiễm, thường giải thoát.
Nói một cách khác là : “Nếu ai khéo phân biệt
sắc
tướng thì nghĩa cứu cánh không bị lay động”.
Nghĩa
là nếu tôi thấy được tất cả hiện tượng đều tổ
hợp, dù
ở trong hột bụi nhỏ xíu cũng tổ hợp, và tận cùng
của
tổ hợp là cái “không là gì”. Nếu tôi chứng thực
được
điều đó ngay ở trong thân tôi, thì tôi không bị
mắc
kẹt ở sắc nữa, là vì tôi thấy sắc mà thấy được
đến
tánh của sắc.
* Nếu mắc kẹt ở tướng của sắc là thường bị trói
buộc. Nếu chẳng bị phiền não trói buộc thì gọi là
giải thoát, chớ không có giải thoát nào khác hơn.
Nghĩa giải thoát là trong lòng mình hết sạo sục,
hết
sợ hãi, không mong cầu, tham đắm, bon chen mà
vẫn sống cuộc đời y như mọi người ; chớ không có
thứ giải thoát nào khác, mà cũng không có ở một
xứ
nào khác.
* Người khéo quán sắc, sắc chẳng sanh tâm, tâm
chẳng sanh sắc, thì sắc và tâm đều thanh tịnh
Nghĩa là người khéo nhìn sắc thì sắc không làm
mống tâm, không gây tai hại. Sự thật, sắc đâu có
gây tai hại, chỉ có mình mang sắc để tự tại mà
thôi.
Nên có người hỏi Lục-Tổ : nói như Ngài, khi
thông
đạt rồi không cần tụng kinh giữ giới nữa phải
không
? – Tổ đáp : kinh có cắn mổ gì ông đâu ! Cần thì
tụng, không cần thì thôi.
* Khi không vọng tưởng thì một tâm là một cõi
Phật. Khi vọng tưởng khởi thì một tâm là một cõi
địa ngục.
Mỗi người chúng ta nên lưu ý điểm đó. Hễ khi
không có vọng tưởng khởi thì một tâm là một cõi
Phật, nghĩa là tất-cả đều là cõi Phật, vì không
khởi lên hai tướng. Còn khi mê, một mống niệm
ích
kỷ ngu mê nổi lên thì kể là một cõi địa ngục,
như
thế biết rằng 3 A-tăng-kỳ kiếp có hay không
chúng
ta tức khắc biết. Nên nếu không có tâm thì không
cảnh ; nếu không có một duyên cớ gì thì qúi vị
cũng
không có đến đây để chúng ta cùng nhau học hỏi ;
nếu tôi là người nuôi vịt tàu thì cũng không hề
chuyện này.
* Chúng sanh làm ra vọng tưởng, lấy tâm sanh tâm
nên thường ở địa ngục. Bồ-Tát quán sát vọng tưởng
chẳng lấy tâm sanh tâm, nên thường ở cõi Phật. Nếu
chẳng lấy tâm sanh tâm thì tâm tâm đều nhập vào
không, niệm niệm đều qui về tịnh, từ một cõi Phật
đến một cõi Phật. Nếu lấy tâm sanh tâm thì tâm tâm
đều chẳng tịnh, niệm niệm đều qui về động, từ một
địa ngục qua một địa ngục. Khi một niệm khởi thì
liền có 2 nghiệp thiện ác, có thiên đường địa
ngục.
Nếu một niệm tâm chẳng khởi thì hai nghiệp đều
dứt, thiên đường địa ngục cũng không.
Nói tâm khởi thì có thiên đường địa ngục, chúng
ta
đừng hiểu lầm rằng tu lâu rồi chết tê không nghĩ
hết. Nghĩa ở đây muốn nói rằng : chúng ta nghĩ
thì nghĩ, làm gì thì làm, nhưng trong từng giờ
từng
phút từng giây, hãy nên lưu tâm xem chúng ta có
lìa
bổn tánh hay không. Sự thật, tất-cả đều là hiện
tượng huyển hóa, chính mình cũng là hiện tượng
huyển hóa. Nhưng nếu chúng ta không hiểu như vậy
thì dù cho nghe pháp cũng vẫn là bị tạo thiên
đường,
địa ngục, mắc kẹt vào trong hai tướng. Nên dù
nghe
hay nói, làm, cũng đều có cách để cuộc sống chúng
ta cũng nghe cũng nói cũng làm … mà không bị
vướng vào vòng tục lụy được hay không? đó là
điều
quan hệ.
Bởi vì hễ khi trong lòng chúng ta bị vướng kẹt
vấn
đề thời gian không gian, đắm chấp theo tướng mà
lầm không rõ tất-cả hiện tượng đều là huyển hóa vô
thường ; thì tự nhiên chúng ta bị rơi vào trong
hai
tướng đối lập, nghĩa là rơi vào cái cặp – Cái
cặp là
nghĩa thấy có ngày đêm, phải quấy, thiện ác,
nóng
lạnh, được mất, hơn thua, sống chết … đều là
thật.
Nhưng nếu chúng ta không thấy có phải quấy, thiện
ác, ngày đêm, sống chết thì chúng ta là người
điên.
Do đó chúng ta phải ở trong cái ‘thấy’ mà chẳng
mắc kẹt trong cái thấy; nghĩa là thấy được
tất-cả đều
là hiện tượng ; cho đến thời gian không gian chỗ
chúng ta ở đấy chẳng qua cũng là thời gian không
gian của thái-dương-hệ này mà thôi. Biết đâu
chúng
ta bước qua thái-dương-hệ khác, thì thời gian
không
gian cũng đổi khác! Ở đây một ngày một đêm 24
giờ, nhưng ở Bắc và Nam cực thì một ngày một đêm
là một năm, và đến các tinh cầu khác thì lại
khác
nữa. Điều đó phải rất nên lưu tâm.
Nên học Đạo không có gì khác hơn là trả lại con
con người cuả mình cái vốn có. Thân này vốn biến
chuyển theo đà của bao la vũ trụ, càng ngày càng
mới, mới từ giờ từ phút từ giây; đã qua mới,
hiện tại
mới, sắp đến mới … nên lòng chúng ta cũng phải
lỏng y như vậy, thì tự nhiên cuộc sống sẽ yên
ổn.
Ngược lại chúng ta ôm đồm những cái đã qua đóng
cứng lại, mà còn ngóng đến vị lai, để hiện tại
không
có sống. Đó là nguồn gốc của đau khổ. – Tôi biết
nói như thế sẽ có người cho là ích kỷ. Nhưng kỳ
thực nếu một người không thấy như thế thì không
hề có dám ôm trọn cái khổ thế gian vào lòng để
giải quyết ; nếu có chăng nữa rồi cũng không
khỏi
buổi đầu thì do lòng tốt, đến cuối cùng biến
sanh lợi
dụng mà không tự hay như các nhà cách mạng đã
làm. Không nữa cũng sẽ bị chán nản thối chuyển
cái
tâm buổi đầu chớ không hề nguyên vẹn. Đó là chỗ
khác của Nhất-thừa và Tiểu-thừa, thế gian và Đạo
vậy.
* Vì “Thể” vốn không phải có, không phải không. Ở
phàm là có, ở thánh là không.
Tôi xin kể câu chuyện đối đáp cuả một cư-sĩ học
Thiền và Thiền-sư :
Cư-sĩ hỏi : Địa ngục có không ?
Đáp : Có.
Hỏi : Thiên đường có không ?
Đáp : Có.
Hỏi câu nào Thiền-sư cũng đáp có. Bực mình, ông
cư sĩ hỏi lại : Bạch Hòa-thượng, Hoà-thượng nói
vậy mà có bảo đảm trên lời nói không ?
Thiền-sư không trả lời câu hỏi mà hỏi lại rằng :
hôm
nay ông đi gặp ai nói tôi nghe thử.
Thấy hỏi trúng chuyện trong bụng, ông đáp : tôi
đi
có gặp một vị Hoà-thượng.
Thiền-sư hỏi : vậy Hoà-thượng đó có vợ không ?
Đáp : Không.
Hỏi : có con không ? – Đáp : không
Hỏi : Có sự nghiệp không ? – Đáp : không.
Hỏi điều chi cũng đáp không. Thiền-sư lại hỏi
tiếp :
– Còn ông có vợ không ? – Đáp : có
– Có con không ? – Có
– Có sự nghiệp không ? – Có
– « À ! Vậy thì Hoà-Thượng đó nói phải rồi ; còn
ông đâu được quyền nói không ! ».
Cho nên : « Có thì có tự mảy may.
Không thì cả thế gian này cũng không.
Thử xem bóng nguyệt dòng sông,
Ai hay không có có không là gì ! ». là
vậy.
Bây giờ qúi vị có điều chi thắc mắc xin cứ hỏi.
Có người hỏi : Xin thầy nói tiếp cho nghe.
Đáp : Tôi muốn có ai có ngứa chỗ nào thì mới
gãi,
chỉ sợ gãi không trúng chỗ sẽ trầy da !.
Hỏi : Thưa, « Nhứt thiết duy tâm tạo » nghĩa thế
nào
xin cho nghe rõ.
Đáp : Muốn hiểu nghĩa câu nói đó, chúng ta cần
phân biệt kỹ nghĩa duy vật và duy tâm của Âu Tây.
Nghĩa duy tâm theo Âu Tây hiểu rằng một con
người có một linh hồn, khi thân này chết đi thì
chuyển sang thân khác y nguyên vậy – Còn theo
duy vật lại hiểu rằng chết rồi là hết chuyện.
Nhưng
buồn cười là tuy nói vậy nhưng họ vẫn còn nhớ,
còn
vui khổ, còn mang theo … Bây giờ nói đến vấn
đề
duy tâm của nhà Phật, chúng ta nên thận trọng để
hiểu chữ « Tâm » trước khi nói thêm chữ « duy ».
Chắc quí vị vẫn còn nhớ câu chuyện Na-Tiên Tỳ-
kheo và vua Lan-Đà mà tôi đã thuật trong những
tuần trước ; cũng như bây giờ tôi hỏi : cây quạt
này
có phải tâm không ? – Không.
– Ông đây có phải là tâm của tôi không ? – Không
Tất-cả, chúng ta đều không thể nói cái nào là
tâm
của tôi được.
– Tất cả đều không phải tâm ; vậy cái gì là tâm
?
Đó là chỗ mỗi người phải tự nhận thẳng lấy thì
hiểu
được câu : « Nhứt-thiết duy tâm tạo » của Phật
nói.
Hỏi : làm cách nào mới gọi là « Hành thâm Bát
Nhã
Ba-la-mật-đa » ?
Đáp : không có cách nào làm đúng nghĩa « Hành
thâm Bát-Nhã Ba-La-Mật » bằng cách trở vô khám
phá chính con người của mình trước.
Bây giờ chúng ta thử nghĩ xem thân này có tốt
đẹp
y nguyên như vậy hoài không ? hay là sáng, trưa,
chiều nó đều thay đổi khác, kiếp này khác, kiếp
sau
khác. Cho đến tâm của chúng ta cũng vậy, lúc nhỏ
với già ngược nhau. Nên có nhiều người thuở nhỏ
ăn chơi phóng túng sanh con ra cũng một dòng máu
nên lớn lên ăn chơi cũng phóng túng. Đến khi ấy
mình đã già mới hiểu chuyện ăn chơi phóng túng
thất bại, nên trở lại đường tu hành. Còn đứa con
đang lúc lớn, ham ăn chơi phóng túng, chúng ta
không có cách gì cản ngăn, bèn đánh đập mà than
:
con mình sao bất hiếu.
Thử hỏi cái đó của ai mà có ra ? – Đó là cái mâu
thuẫn trong lòng mình từ trước, bây giờ mới hiện
ra
đó !
Nếu nhỏ với già ngược nhau, thì tự nhiên kiếp
này
với kiếp trước, với kiếp qua nữa … cũng khác,
kiếp tới cũng khác. Nếu 10 năm trước với 10 năm
sau có khác thì 1 năm trước với 1 năm sau cũng
khác. Nếu năm trước với năm sau ngược nhau thì
đầu năm với cuối năm cũng ngược nhau và trong
một ngày sớm chièu cũng có mâu thuẫn. Mà sớm
chiều có mâu thuẫn thì chớp con mắt cũng có mâu
thuẫn. Thế thì mình là một cái xe chở đầy nhóc
một
khối mâu thuẫn xỏ xâu chậy khua lổn cổn. Đó gọi
đau khổ. Có suy đến tận cùng rồi chúng ta mới
thấy
thân tâm này là một khối tổ hợp do nhiều thành
phần cực nhỏ. Ở trong cái cực nhỏ cũng do nhiều
thành phần cực mún mín … đến cái không biết
nói
gì nữa, rồi đến cái « không là gì ».
Thưa tôi xin chịu tất cả trách nhiệm với qúi vị
rằng : chỉ cần thấy thiệt rõ tới chỗ đó, khỏi
cần làm
thêm gì nữa hết. Đó gọi là « Hành thâm Bát-Nhã
Ba-La-Mật-Đa ». Tôi cũng chỉ nói đến đó thôi ;
dù tôi có nói thêm cũng chẳng qua là việc làm
thêm
ít cọng ngò trên dĩa cá chưng, không có gì khác
cả.
Quan hệ chỉ ở chỗ đó.
Hỏi : Thưa, người duy vật nói đứng trên khác
quan
để nhận xét sự việc. Vậy khác quan đó có đúng
không ?
Đáp : Hễ nói chủ quan với khách quan khác nhau
đèu là lầm cả. Chủ quan và khách quan đều là chủ
quan. Mà nếu thiệt là khách quan thì tức không
khách quan. Bởi vì bổn lai vốn không có trong
với
ngoài, chủ với khách. Nếu kẹt vào chủ và khách
kẹt vào lý trí mà tính. Chủ là một thứ « Mình »
mang nhãn hiệu « chủ ». Khách là một thứ « Tôi »
mang nhãn hiệu « khách ». Nhưng sự thật cả hai
đều
là chủ quan cả.
Hỏi : Thưa, chúng ta đều phải nhờ phương tiện tu
hành mới có được Phật tánh. Nay thầy nói bổn
tánh
Như-Lai sẵn có, vốn vô thỉ vô chung. Vậy sự thật
sao xin cho nghe rõ.
Đáp : Hay lắm ! Đây, xin ông hãy nghe kỹ : Nếu
bổn tánh là thứ làm ra, thì bổn tánh của tôi,
bổn tánh
của ông và của mọi người đều khác. Cũng như đức
Chúa Trời và Phật của mỗi người đều khác, nên 2
Chúa đụng nhau là có đánh, hay Phật của Ấn Quang
và của Việt Nam Quốc Tự đụng nhau cũng đánh !
Do đó, nếu chân lý, bổn tánh là thứ làm ra, thì
đó
chưa phải là chân lý bổn-tánh.
Thế nên tôi dẹp vấn đề bổn-tánh, chỉ nói cần
phải
khám phá chính con người của mình trước, thì tự
nhiên bổn-tánh hiển hiện, chớ không thể đi tìm
bổntánh
được. Không ai có thể đi tìm một người mà
mình chưa từng biết mặt biết tên bao giờ ! Chỉ
nghe tên người ta đặt mà cùng nhau tranh cãi Trời
lớn hay Phật lớn. Thật vô ly ! Tốt hơn là cứ trở
lại
con người của mình, thấy rõ đích thực tận cội
nguồn
thì mọi việc vỡ toang.
Hôm trước tôi đọc thấy phù hiệu của Thông-Thiên-
Học có hàng chữ : « Không có tôn-giáo nào qua
chân-lý » – tôi nhận thấy người viết câu đó cũng
đã
cố gắng lắm, nhưng vẫn còn ở trong cái Tôi mà
viết.
Theo tôi, nếu thử sửa câu đó lại như thế này thì
quí
vị sẽ nghĩ sao ? « Không có một tôn giáo một
chân
lý nào qua việc cần phải khám phá chính con
người
của mình trước » – Tự nhiên chúng ta thấy rõ
ràng
minh bạch hơn.
Do đó, việc học Đạo cần phá hơn cần lập. Nếu cái
sân của tôi thiệt là xi măng, thì cái gì có thể
quét
được đều là rác rến. Bao giờ không còn gì quét
được
nữa, thì đó mới là sân xi măng của tôi. – Chúa
hay
Phật .. đều là danh ngôn của chúng ta đặt ra.
Bao
giờ phủ nhận hết tất-cả, đến tận từng đáy mà
không
còn phủ nhận được nữa, thì muốn gọi bằng gì cũng
được. Nên một người chưa dám phủ nhận tất-cả thì
người đó cũng không dám chấp nhận tất-cả. Và
cũng do đó mà thế giới này vẫn còn từ cục riêng
tư,
đánh nhau mãi không thôi. Điều này chúng ta phải
rất lưu tâm.
*

* * * *

BỒ ĐỀ ĐẠT MA QUÁN TÂM PHÁP – THÍCH MINH THIỀN phần 2

LUẬN NGỘ TÁNH
CHÁNH VĂN:
*Vã chăng Đạo là lấy vắng lặng làm thể. Tu là lìa
tướng làm tông.
Thưa, sở dĩ nói vắng-lặng hay không vắng-lặng là
tại ở lòng mình. Nói lấy lìa tướng làm tông
nghĩa là
vấn đề tướng – dù tất cả tướng của vũ trụ – cũng
chỉ
là tổ hợp, vô-thường. Hay nói cách khác là chớ
nên
chấp tướng. Chớ không phải nghĩa tướng vốn có
thật, mà mình phải lìa nó.
* Nên kinh nói: Vắng-lặng là Bồ-đề, vì dứt hết các
tướng. Phật nghĩa là giác. Người có tâm giác được
Đạo Bồ-đề nên gọi là Phật. Kinh nói: Lìa tất cả
các
tướng là danh hiệu chư Phật.
Người có tâm giác là sao? – Là người nhận ra
được
tận nguồn tâm linh của mình hồi chưa khởi thiện
khởi ác. – Và lúc nào cũng được như thế gọi là
người có tâm giác, là đạt Đạo.
Nói “lìa tất-cả tướng là danh hiệu chư Phật”. Có
thể nói khác hơn như câu tôi đã hỏi :”Tất-cả đều
không phải tâm, vậy cái gì là tâm?” – 2 câu đó
giá
trị ngang nhau.
Thưa, quí-vị mới đến nghe cách tôi nói đừng vội
cho là khó hiểu. Bởi vì ở đây không phải cắt
nghĩa
để chồng thêm kiến-thức trí-óc, mà cần phải có
một
tác dụng thâm sâu vào tâm-linh. Điều đó phải lưu
tâm.
Câu nói “lìa tất-cả tướng là danh hiệu chư
Phật”,
cũng như nói; Phật vốn không có tướng, tùy tâm
chúng sanh mà hiện tướng”; hay nói cách khác là
:”Bổn lai không có Phật nào ở ngoài. Tự-tánh là
Phật”. – Nên khi săn đuổi ra tìm Phật, thì ông
Phật
của qúy ông với ông Phật của tôi không giống
được.
* Thế mới biết: Có tướng là tướng mà không tướng.
Tại sao vậy? –Vì tất-cả tướng đều tổ-hợp, mà hết
thảy tổ-hợp đều vô thường. – Một viên gạch có vô
số hột cát, một hột cát có vô số hột bụi, một
hột bụi
có vô số hột mún, một hột mún có vô số hột mín …
tới chỗ nhỏ nữa thì mình không thể đặt tên. Do
đó
tất-cả đều vốn không. – Thế mới biết có tướng là
tướng mà không tướng.
* Không thể dùng mắt thấy, chỉ có thể dùng trí
biết.
Ai nghe pháp này mà sanh một niệm lòng tin, phải
biết người đó đã phát tâm đại-thừa, siêu 3 cõi. Ba
cõi tức là tham, sân, si. Đổi tham, sân, si ra
thành
giới, định, huệ – tức gọi là siêu ba cõi.
Chính ở trong thân mình có đủ 3 cõi chớ không có
ở đâu khác hơn. Do đó hễ kẹt vào tham, sân, si
thì
tự nhiên 3 cõi ở ngoài sẽ đến với mình.
* Nhưng tánh của tham, sân, si cũng không thật,
chỉ
tùy-thuận chúng sanh mà nói vậy thôi. Nếu ai có
thể
soi trở vào trong thì thấy rõ tánh của tham sân si
tức
là tánh Phật. Ngoài tham sân si không có tánh Phật
nào khác.
Thưa, đó là câu ở trong Chứng-Đạo-Ca có nói
:”Tánh chúng sanh vốn là tánh Phật”. Trong kinh
Pháp-Bảo-Đàn cũng có nói :”Dù cho chúng sanh ác
độc đến đâu cũng từ bổn tánh xuất hiện”. Vì tất
cả
vạn pháp đều cùng một thể, đều là hiện tượng: dù
chúng sanh hay Phật cũng thế.
* Kinh nói: chư Phật từ xưa đến nay thường ở trong
3 độc để nuôi lớn pháp giải thoát mà thành Thế-
Tôn. Ba độc là tham sân si đó.
Thưa, không một chúng sanh nào không có tánh
Phật, không một người nào trên dòng sinh mệnh
không gặp đắng cay chua-chát, cũng như không một
ông Phật nào không từ chúng-sanh mà ra. Nên chưa
có nếm mùi đắng cay chua chát thì không thể trở
nên thánh hiền được. Vạn cổ khẳng định như thế.
* Nói đại-thừa, tối thượng-thừa đều là nói chỗ sở-
hành của Bồ-Tát. Không chỗ thừa, không chỗ chẳng
thừa. Suốt ngày thừa mà chưa từng thừa, đó là Phật
thừa.
Nghĩa là không mắc kẹt, không đóng cứng là Phật
thừa. Đây muốn chú-thích nghĩa của kinh Kim Cang
gọi là vô-sở trụ. Nên đúng lý ra không có 3 hay
4
thừa gì hết, đó chỉ là chuyện tùy thuận theo thế
gian
mà nói thôi. Hễ thoát tục là thoát tục, chớ
không có
thoát từ từ. Hễ còn một chút xíu tục-lụy là còn
nguyên. – Do đó dầu một hột bụi rơi vào con mắt
cũng đủ che khuất cả bầu trời; một chút xíu mê
lầm
về mình cũng đủ làm mờ tánh linh-năng muôn thuở.
Nên nói đi lần lần là chuyện tùy thuận theo thế
gian,
chớ thật ra không phải vậy.
Có một ông giáo đến hỏi vị Thiền-sư:
Phật nói tu 3 a-tăng-kỳ kiếp mới thành Phật. Còn
thiền sư lại nói thành Phật một lần và liền bây
giờ,
làm sao có lý?
Thiền sư không trả lời hỏi lại: Thí dụ xưa nay
đại
đức là người trong sạch hoàn toàn, không bao giờ
gian-tham. Bất thần đi ngang qua chỗ có vật qúi,
nổi
tánh tham muốn ăn-cắp lấy một ít về xài. Hỏi vậy
chuyện ăn cắp đó chỉ có cái tay hay là nguyên
con?
Ông giáo đáp: hễ ăn cắp là ăn cắp nguyên con;
sao
lại ăn cắp có cái tay không!
Thiền sư bèn nói: Ăn cắp thì ăn cắp nguyên con.
Vậy sao thành Phật lại không thành Phật nguyên
con?
Nên biết hễ kẹt là kẹt. Sự thật vẫn là vậy.
* Kinh nói: “Không thừa là Phật thừa đó”. Nếu ai
biết được 6 căn không thật, 5 uẩn giả danh, khắp
thân tìm cầu hết thảy đều không có chỗ nhất định.
Phải biết người đó rõ được nghĩa Phật nói.
Thưa nhiều lần tôi có nói: Chúng ta hãy thử dứt
hết
các duyên, đừng móng sanh một điều nghĩ tưởng.
Rồi hãy soi trở vào lòng, nghiệm xem cái gì là
tâm
tánh của mình, cái gì không phải là tâm tánh của
mình?
Ai làm chuyện đó sẽ thấy câu :”Nếu ai biết được
6
căn không thật, 5 uẩn giả danh, khắp thân tìm
cầu
hết thảy đều không có chỗ nhất định. Phải biết
người đó rõ được nghĩa Phật nói.” – Câu này ăn
khớp với câu tôi vừa nêu lên hỏi.
* Kinh nói: Hang ổ của 5 uẩn là Thiển-viện. Soi
trở
vào trong được tỏ ngộ là môn đại-thừa. Há chẳng rõ
lắm sao! Chẳng chứa tất-cả pháp gọi là Thiền-định.
Nếu rõ được câu này thì đi đứng nằm ngồi đều là
Thiền-định.
Câu này rất quan-hệ! Nói “hang ổ của 5 uẩn là
Thiển-viện. Soi trở vào trong được tỏ ngộ là môn
đại-thừa”, nghĩa là không có cảnh chướng cảnh
nghịch, thì không thể lấy đâu để biết được lòng
mình. – Chưa bị người ta chửi thì sẽ không biết
được lòng mình ứng hiện ra sao. Nên một người
hoàn toàn chỉ gặp cảnh thuận, vị tất người đó có
thể
dễ dàng hiểu mình! Cũng như người tu mà định
chui
rút vào một nơi biệt lập, vị tất lòng người đó
đã
được yên! Đó là cảnh yên chớ không phải lòng
mình yên.
* Biết tâm là “không”, gọi là thấy Phật. Vì sao
thế?
– Vì mười phương chư Phật đều là vô tâm.
Thưa, chữ “vô tâm” ở đây không phải là không có
trái Tim; mà là nghĩa không có chấp chứa. Nếu
mình cố quên thì giống như lăn “ru-lô” đè cỏ cú.
Cỏ
lì xuống không lên nổi, nhưng qua một cơn mưa nó
sẽ mọc lại dữ-dội hơn. Cho nên không thể giả đò
quên được. Chỉ đừng có chấp chứa thì chính thân
Bồ-đề.
Sự thật là vậy! – Tuy nhiên nói thì dễ, nhưng
nếu
không một phen tháo mồ hôi, xót con mắt vị tất
đã
thông rõ được!
* Chẳng thấy tâm gọi là thấy Phật
Câu này thật độc đáo! Bởi vì hễ còn tâm để thấy
thì còn kẹt trong hai-tướng. Mà không thấy tâm
thì
là si-mê. Khoảng giữa hai cái đó, không có, làm
sao
thì làm!
Thí dụ: Tôi nhìn trong gương thấy cái đầu của
tôi.
Đó chỉ là cái thấy trong gương thôi. Còn thiệt
thấy
là tay phải rờ đụng đầu, biết chắc chắn tôi có
cái
đầu. Cái đó không còn nghĩa thấy hay không thấy.
Nên nói không thấy cũng không chẳng thấy.
Trong kinh Lăng Nghiêm, Phật có kể chuyện ông
Diễn-Nhã-Đạt-Đa, một hôm tình cờ đi ngang qua
tấm gương thấy đầu mình hiện trên gương.
Hoảnghốt
ông la lên: Người trong gương có đầu, còn đầu
ta sao không thấy ?! Rồi bỗng phát điên cuồng bỏ
chạy. – Người ta theo bắt lại, lấy tay ông cho
rờ đầu
– Bấy giờ thiệt biết đầu của mình, ông dần tỉnh.
Phật
mới kết câu chuyện là : điên từ đâu đến – Và hết
điên từ đâu ra ?!
Thế mới biết: Còn thấy cái tâm, tâm đó chưa phải
thiệ_—_p_M__—t là tâm. Thường thường
mình chỉ thấy được cái
vọng tâm lăng xăng, còn lúc chưa mống khởi thì
không có nghĩa thấy và không thấy. – Nếu không
thấy là mình mê, nếu có thấy là mình cũng chưa
tỉnh.
Hỏi: Thưa, cái thấy đúng là phải thấy khách
quan.
Có phải thế không?
Đáp: Thưa, phải đề phòng chữ khách và chủ, hễ
còn mắc kẹt trong khách và chủ là không phải.
Nên
Thiền học chủ trương phá và trừ, đến khi nào hết
phá được, còn lại cái gì là cái đó đúng.
Nếu cái sân tôi thiệt bằng xi-măng, tất-cả những
trong sân tôi quét trôi được thì đều là rác cả.
Còn lại
mới là cái sân xi-măng của tôi. Chuyện của Chúa
hay của Phật cũng thế thôi. Hễ còn phá được là
không phải. Khi nào hết phá được, còn lại cái y
nguyên đó muốn kêu bằng chi cũng được.
* Lìa chấp thân chẳng tiếc gọi là đại bố thí.
Hầu hết chúng ta tu-hành thường nghĩ rằng: Mình
đã cúng dường bố thí thật nhiều để kiếp sau được
hưởng. Đó chỉ là một cuộc mua bán đổi chác thôi.
Nói vậy không phải là tôi biểu đừng bố thí
cúngdường,
nhưng tôi muốn nói việc làm của chúng ta
phần nhiều xuất-phát từ tâm tham-lam, sợ-hãi.
Ở đây muốn định nghĩa chính xác việc tu-hành nên
nói :”Lìa chấp thân chẳng tiếc là đại bố-thí”.
Một
người không còn mắc kẹt trên cái chấp tôi nữa,
thì
dù bố thí cúng-dường cũng không phải là đổi
chác.
Còn không vậy thì tất cả đền chùa, nhà thờ, nhà
thánh đều biến thành cửa chợ hết. Đem của cải
vật
chất cúng-dường thì của cải vật-chất là tiền;
đem
con vật phóng-sanh là đem tiền để đổi vật cũng
thế
thôi! – Nếu tính buôn ra để lát nữa được cái gì
cho cá-nhân mình thì đều ở phạm-vi mắc kẹt trong
cái Tôi cả. Nên lìa chấp Tôi mà không luyến
tiếc, đó
mới thật là bố-thí cúng-dường. Nếu không hiểu rõ
như vậy thì tu Phật mà sẽ thành Trời. Vì sao thế
?-
Vì bố thí cúng dường thật nhiều được sanh lên
cõi
Trời, hưởng hết phước rồi sẽ đọa xuống nặng nề
hơn.
* Lìa các động, tịnh gọi là đại toạ thiền.
Thưa, phần nhiều hễ nói Thiền thì người ta chấp
vào cái bồ đoàn để ngồi; mà nói Tịnh thì người
ta
chấp xâu chuỗi! Đúng nghĩa của Thiền là không
mắc kẹt trong động và tĩnh. Bởi vì động tĩnh là
hai
mặt của một sự việc. Mắc kẹt trong tĩnh cũng là
một
thứ mắc kẹt trong động thôi.
* Vì sao thế? – Vì phàm phu một niềm chấp động,
tiểu thừa một niềm chấp định. Nếu vượt khỏi cái
tọa
thiền của tiểu thừa và phàm phu thì gọi là đại tọa
thiền. Nếu nhận được như thế thì tất cả các tướng
chẳng tìm cũng tự rõ, tất cả các bịnh chẳng trị
cũng
tự khỏi. Đó là nhờ sức đại thiền định.
Thưa, bịnh đây là bịnh của tinh thần.
Trong lu nước có để cây kim. Nếu cứ lắc cái lu
hoài thì muốn cây kim không thể được, bao giờ
nước lắng yên lại thì tức khắc thấy. Cũng như
đứng
ở phía bên này núi thì không thể thấy người ở
bên
kia núi, còn leo hẳn lên chót núi thì tất cả
những
cảnh chung quanh núi dù không muốn thấy cũng tức
khắc thấy. Nên khi lìa tất cả động, định nghĩa
là trả
cái tâm về mức bình thường thì vạn pháp vốn hiển
rõ, khỏi cần tìm; ông Phật không đợi rước cũng
đến.
Nên Phật có hiệu là “bạn không mời”. Và cũng vì
thế Thiên Chúa có câu “Hãy dọn mình cho trong
sạch để đón rước chúa”. Không phải Chúa hay Phật
đòi hỏi mình phải có đủ lễ mới đến. Mà có nghĩa
là :
tôi đang mang kính đen, nếu muốn tìm màu sắc
thật
sự của sự vật thì không thể được, nên việc đầu
tiên
của tôi phải là gỡ kính đen để xuống, thì màu
sắc
đích thật của sự vật sẽ hiển hiện ngay.
Do đó trong việc học Đạo, hay nhất là chỉ khám
phá con người của mình. Bởi vì tìm Phật, tìm
Chúa
hay tìm chân lý đều không thể được. Làm sao tìm
được cái thứ mình chưa từng biết chứ! Nên điều
chính xác nhất là đừng vướng bận vào trong cái
Tôi,
đừng bị kẹt vào trong cái mê chấp; thì tức khắc
nhìn
đến đâu sự vật sẽ hiển hiện đến đấy. Thế thì dù
có ai
bày ra cách thế nào, dù họ có cho rằng chân-lý
trên
hết chăng nữa, mình cũng vẫn có thể biết được sự
thật. Đành rằng chân lý vốn trên hết, nhưng vẫn
phải đề phòng chân lý của tôi, của ông và của
tất-cả
quí ngài đây có đồng một thứ hay không. Hay là
cùng một danh từ chân lý mà mỗi người hiểu một
cách!
Bởi vậy không thể nào chính xác bằng cách cứ
quay về với cái Tôi, để khi thấu suốt, lòng mình
hết
chấp, hết mê rồi tất cả bộ mặt thật của sự vật
hiển
hiện tức khắc. Khi tôi quá sợ rắn, thì tôi thấy
lúc nào
con rắn cũng chực cắn tôi. Còn khi tôi thiệt
lòng
bình thản, tôi tức khắc thấy rắn cũng có những
hồi
cần nương tôi để đi qua lộ tránh khỏi con diều
con
qụa đang chực xớt nó. – Hay là bởi tôi vốn qúa
nghèo, bây giờ bất thần tôi có được một hai trăm
ngàn – Quí nó qúa, tôi đem cất thật kín, mà lòng
cứ
sợ có người rình thấy, nên một lát tôi chạy ra
đường
coi có ai đi ngang không, một lát tôi vô thăm
thử coi
tiền còn hay mất. Thì tự nhiên đó là tôi kêu ăn
trộm
đến. Nên hễ có tướng giữ của là có tướng ăn trộm
vậy.
* Phàm ai đem tâm mà cầu pháp đều là mê, chẳng
đem tâm cầu pháp là ngộ.
Thưa, hễ nhận ra được thế nào là bổn tâm bổn
tánh
của mình, thì tức khắc vạn pháp vốn đầy đủ,
không
cầu cũng vẫn có. Do chỗ đó Phật có hiệu là “Pháp
vương”. – Bất cứ người nào tỏ ngộ được tâm tánh
rồi cũng đều có chuyện đó. Còn khi chưa tỏ ngộ
tâm
tánh mà vọt ra tìm thì càng tìm càng cách. Cho
nên
càng đi sâu vào chân lý chừng nào tôi càng không
gặp chân lý chừng ấy; càng đi tìm ông Phật chừng
nào tôi càng không gặp ông Phật chừng ấy.
Chỉ có một cách khi trở về với cái Tôi của tôi,
khi
tôi hết mê thì không mời ông Phật cũng tự hiện,
hay
nói khác hơn thì nghĩa thế nào là Phật sẽ hiện
rõ nơi
tôi. – Được như thế thì không đến nỗi xảy ra những
vụ tranh chấp là Trời lớn hay Phật lớn; hay có
những trường hợp trả lời: đó là tôn giáo tín
ngưỡng,
không nên đá động đến. Đó chỉ là những cách giải
quyết đập nhẹp, chớ không phải thấu rõ vấn đề.
* Chẳng đắm chấp văn tự gọi là giải thoát. Chẳng
nhiễm 6 trần gọi là hộ pháp. Lìa khỏi sanh tử gọi
xuất gia. Chẳng thọ báo sau này gọi là đắc Đạo.
Mấy định nghĩa này thật hay! Hầu hết chúng ta
đều
mắc kẹt trong thói “quen sợ tiếng dạ, lạ sợ bộ
đồ”.
Nên cứ nhìn thấy đầu tròn vai vuông thì kể đó là
người tu. Đến khi vào chùa, vẫn nghĩ rằng ai
cũng
tu, rủi gặp những ông đi vào chùa ẩn dương nương
Phật để trốn lính, hay để chùa nuôi cho ăn học
bằng cấp .. Nghe thấy những điều trái chướng rồi
về
chửi thầy chùa người nào cũng vậy hết. – Thiền
học
không nhìn con người bằng cái nhìn ấy. Bất cứ
người nào, dù đạp xích lô, phu bến tàu, ông thầy
tu,
người buôn bán …hễ người nào tỏ ngộ được tâm
tánh của mình, người đó là Phật, dù người đó
không
biết một chữ, hay không từng ở chùa một ngày
nào.
Con nếu chưa thấu suốt con người của mình, dù
mang tướng tăng ở chùa mãn đời cũng là phàm phu,
hay bất qúa chỉ là thầy chùa thôi! Điều đó phải
nên
biết.
Nói “chẳng đắm chấp văn tự gọi là giải thoát”,
tuy
nghe dễ vậy nhưng khó lắm!
Có lần tôi đã kể chuyện con rùa, đưa ra 2 trường
hợp để chúng ta nhận xét thử ra sao:
1) Thí dụ một người chưa từng biết con rùa ra
sao.
Một hôm đến chơi, tôi đưa con rùa cho coi nhưng
không nói tên con vật, rồi tôi làm thịt cho ăn.
Nghĩa
là anh ta đã thấy con vật có hình dáng như vậy,
cách
thế ăn uống .. và đã nếm mùi vị thịt của nó?
Nhưng
đến khi khác, có người cầm con rùa hỏi anh có
biết
con nầy là con gì không? Anh ta vội đáp: thật
tôi
chưa biết!
2) Một người khác cũng chưa từng biết con rùa ra
sao, được tôi chỉ cho biết con này tên con rùa.
Đến
khi gặp một người cầm con rùa hỏi anh biết con
này
không? Đáp: biết, con này là con rùa!
Hỏi vậy trong hai người đó, ai là người thiệt
biết?
Sự thật chính ông trước mới là người thiệt biết,
nhưng hỏi thì họ nói là không biết. Như vậy cái
biết
đó cũng chưa phải là thiệt biết, vì còn mắc kẹt
trong
tên chữ.
Ông thứ nhì trả lời biết liền, cũng là mắc kẹt
trong
cái tên mà thôi! Nên biết danh ngôn nó kẹt lắm!
Cũng như thí dụ tôi tên A; bây giờ có người kêu
tên A của một ông khác ra chửi. Tôi không từng
biết
ông A kia, nên nghe vậy là trong bụng tôi nổi
“bađào”
liền. Vậy tên A đó ở đâu? – Vì vốn hồi mới
sanh ra chưa có, nên biết cái đó do cha mẹ gắn
cho,
chẳng phải ai mang tên A, B gì cả!
Bởi vậy hầu hết chúng ta đều kẹt ở trong danh
ngôn, chớ không phải biết được sự thật. Nên phải
lìa
cái chấp ngữ ngôn văn tự thì mới được giải thoát
vậy.
* Chẳng sanh vọng tưởng gọi là Niết Bàn.
Chẳng kẹt trong vô minh gọi là đại trí tuệ.
Thưa, phần nhiều không có mấy ai hễ khi nói thì
nói đàng hoàng, minh bạch; hễ ngừng nói là ngừng
luôn ở trong bụng, không còn lào xào bàn cãi.
Ngược lại, phần nhiều hễ nói ra thì lắm lúc muốn
nói đàm bang, khi nín thinh thì ở trong lại lào
xào
bàn cãi.
Thế mới biết cái bịnh vọng niệm là bịnh gốc. Và
khi một người chẳng sanh vọng tưởng, chẳng kẹt
trong cái chấp tôi (hay chẳng kẹt trong vô minh)
thì
đi đứng hằng ngày vẫn thảnh thơi, không bị lo
lắng,
phiền não.
* Đến chỗ không phiền não gọi là Bát Niết Bàn.
Đến chỗ không có tướng tâm gọi là qua bờ bên kia.
Khi mê thì có bờ bên đây. Khi ngộ rồi thì bờ bên
đây cũng không có.
Nếu tâm còn tướng là tâm tương đối,chưa phải là
linh tánh (bổn lai diện mục). Chưa phải là bổn
tánh
vốn có của mình.
* Vì sao thế? – Vì phàm phu một niềm chấp bên
đây, nếu tỏ ngộ được pháp tối thượng thừa thì tâm
chẳng trụ bên đây cũng chẳng qua bên kia, nên lìa
được cả đây kia vậy.
Thưa, vấn đề cái “cặp” quan hệ ghê lắm. Chỉ như
vấn đề Nam với Bắc, mà chúng ta có nhiều
người đã
mọc gốc mọc rễ ở trong tâm. Cứ hễ người Nam
nghe nói đến người Bắc là ghét, người Bắc nghe
nói
đến người Nam là ghét. Vì vậy đánh nhau hoài
không dứt. – Nên chỉ có vấn đề chấp tướng, chấp
danh ngôn cũng đủ làm phòng tuyến dẫn hỏa châm
mồi cho trận chiến của cả thế giới dễ dàng.
* Nếu thấy bờ bên kia chẳng khác hơn bờ bên đây,
cái tâm của người ấy đã được cái định vô thiền.
Nghĩa là nếu thấy được cả hai bề lưng và lòng
của
một bàn tay thì thấy được bàn tay thiệt. Nếu
thấy
được hai bề thiện với ác, nghịch với thuận của
một
sự việc thì mới thấy được tận nguồn tâm linh. Hễ
động dụng ra thì có tướng thiện tướng ác. Lui vào
lúc chưa động dụng thì vốn không có hai tướng.
Thế
mới biết: thiện với ác chỉ là đồng tiền hai mặt.
Nếu
không có đen thì làm sao định được trắng; không
trắng làm sao định được đen! Không có những cái
chung quanh tôi làm sao định được cái TÔI !
Không
có thiện thì lấy đâu để định cái ác, không có ác
thì
lấy đâu để định cái thiện! Không có chúng sanh
lấy
đâu có Phật, không có Phật lấy đâu có chúng
sanh!
Nên biết có danh từ Phật là tại có danh từ chúng
sanh. Nếu biết được vậy, mới thấy rõ chúng sanh
với Phật không phải là hai chuyện. Phương chi
chúng ta ở trên qủa địa cầu này – Địa cầu là một
phần tử trong Thái dương hệ ; Thái dương hệ là
phần từ thật nhỏ trong khối ngân hà ; khối ngân
là một phần tử ở trong vô số khối ngân hà trong
không này. – Tôi muốn nói vốn từ cái “không có
hết” mà hiện ra cái “có”. Đến khi có mình rồi,
tưởng
đâu cái MÌNH là chắc thật nên tranh chấp, tàn
hại
lẫn nhau. Những cái đó đều xuất phát từ sự không
hiểu biết, từ lòng không có yêu thương lẫn nhau
cả.
* Phiền não gọi là chúng sanh, tỏ ngộ gọi là Bồ
đề,
cũng chẳng một chẳng khác, chỉ khác nhau ở mê
ngộ.
Điều này rõ lắm. Thí dụ tôi vừa bị mất 20 ngàn
đồng, vì nghèo qúa nên tôi khổ sở đến muốn tự
tử.
Bây giờ có người cho tôi biết: Ở đời muôn sự của
chung. Chuyện đã lỡ mất không tìm được. Bây giờ
nếu khổ thì lại càng kéo dài cái khổ tăng thêm.
Nếu
không khổ thì ngay bây giờ được lời cái không
khổ,
mà mình còn làm được việc khác để sống. Thôi,
nên
bỏ qua chuyện đó đi thì khỏe hơn! – Tôi nghe
được,
nhờ bỏ qua mà khỏe. Vậy cái mệt hồi nãy với cái
khỏe bây giờ có một thằng chớ đâu phải hai! –
Nên
biết hễ mê thì mệt, hết mê thì khoẻ chớ không có
thêm bớt gì hơn!
* Khi mê có thế gian để ra khỏi, khi ngộ không có
thế gian để ra. Trong pháp bình đẳng chẳng thấy
phàm phu khác với thánh nhơn.
Sự thiệt, chính hồi tôi mới đi tu, lòng tôi luôn
bồn
chồn làm sao cho ra khỏi thế gian. Đến khi nhận
ra
được thằng mình là gì rồi, thì thấy không có chỗ
nào
là thế gian hay không thế gian hết. Chỉ có mình
tỏ
ngộ hay không tỏ ngộ mà thôi.
Phần đông chúng ta hồi mới đi tu thì thấy thiên
hạ
đều quấy hết, chỉ có mình phải. Tu một lúc lâu
thấy
thiên hạ có quấy có phải, mình cũng có quấy có
phải. – Tu thật lâu hơn nữa rồi mới thấy thiên
hạ
không ai quấy hết, chỉ có mình quấy hay không
quấy mà thôi. Do đó thằng MÌNH là cái đầu dọc. –
Mình đi ra đường có kẻ hầu trước, người hầu sau,
nên tưởng là mình mạnh lắm; nhưng nhớ lại thì
mình là thứ yếu xìu, có đủ thứ sợ hãi lo âu
trong
lòng. Cũng như đi tu mà ra đường phải có người
hầu. Tự cho là mình oai lắm; nhưng đó chíng là
lòng
sợ người ngoài nhìn mình không to bự mà ra. Nên
rốt cuộc là mình bị mắc kẹt. Chỉ bao nhiêu đó
cũng
khó lắm rồi!
Nên phần đông chúng ta hồi mới tu thì nôn nao đi
tìm lối thoát cho ra khỏi thế gian. Đến khi nhận
ra
được tâm tánh rồi, mới thấy thế gian chính là
cái
tâm của mình, chớ không có ở đâu ra. Khi mê thì
thế gian để thoát, khi ngộ thì không có nghĩa
thế
gian để thoát nữa.
Vấn đề ở trong pháp bình đẳng, không có thấy
phàm phu khác thánh nhơn. Thật ra, tại mình lầm
thánh nhơn là cái gì ở trên cao, còn mình là thứ
dưới đất cáy; thì mới thấy phàm phu khác thánh
nhơn. Bởi vì chính mình mới là người bịnh hoạn
mất bình thường, nên làm thế nào chữa cho hết
bịnh
mất bình thường của mình, thì tự nhiên thấy phàm
phu với thánh nhơn vốn không phải hai. Nếu chúng
ta không có cái thấy đó thì việc dùng pháp sẽ
trở
nên tai hại vô cùng. Thí dụ nhà Phật bày ra pháp
khi
vô tu đốt mấy liều trên đầu, là để tượng trưng ý
nghĩa xả thân cầu Đạo. Nhưng bây giờ thì nó đã
trở
thành cái “ga lông”! Hễ có một hai liều thì càng
tự
cao thêm. Tai hại đến thế!
* Kinh nói: pháp bình đẳng nghĩa là phàm phu
không thể nhập, nhị thừa không thể hành. Chỉ có
bực đại Bồ Tát và chư Phật Như Lai có thể hành mà
thôi.
Nói như vậy không có nghĩa là phàm phu thì muôn
thuở là phàm phu. Đó là nghĩa người nào tỏ ngộ
tâm
tánh, người đó là Bồ Tát. Người nào biết được
tâm
linh, áp dụng hết mọi mặt, thì người đó là Phật.
Người nào chưa phải như vậy, dù có nói gì cũng
chúng sanh nói mà thôi. Chỗ đó Lục Tổ định nghĩa
rất xác thực : “Minh tâm mới là Bồ Tát”. Hễ
không
minh tâm là không phải Bồ Tát. Vậy minh tâm là
gì? – Là tỏ ngộ nguồn tâm tánh của mình. Hễ tỏ
ngộ
suốt nguồn tâm tánh của mình thì tự nhiên 6 độ
muôn hạnh vốn đủ; là vì đến đó không còn hai
tướng nữa. – Do vậy, dù không muốn tạo ra lòng
từ
bi, lòng từ bi cũng vốn sẵn. Nên lòng từ bi
kkhông
phải là thứ đặt tên, không phải là thứ từ bi ở
ngoài
ráp vào, hay là thứ ban ơn nghĩa cho kẻ yếu hơn
mình. Đó là cái thấy tất cả sự đời với mình vốn
chỉ
có một thân thôi. Bây giờ “từ bi” đã biến ra
nghĩa
ban bố, thi ân chớ không còn nghĩa đích thực
nữa.
* Nếu thấy sanh khác với tử, động khác với tĩnh
đều
gọi là chẳng bình đẳng.
Sự thật là mình thì ham sống sợ chết: còn qua
cõi
chết, nó thấy cõi chết mới sống, con người sống
chết. Nên biết chúng sanh hễ ở chỗ nào thì chấp
chỗ
ấy.
Cái chấp tuy vậy nhưng lạ lắm. Tất cả mọi người
không có ai giống ai dù cho thân thể xấu xí,
bịnh
hoạn chăng nữa, cũng vẫn thấy vừa ý, đeo chắc
lấy
thân này. – Chúng ta thử nghĩ: nếu hồi tới lãnh
cái
thân, người ban cho cái thân xấu thì thật mình
không vui. Nhưng lãnh cái thân rồi qua ngày sau,
nó xấu thế nào mình cũng thấy tốt; cũng thấy cần
đeo chắc lấy nó. Qủa thật lạ!
Có lần một người tu Tịnh Độ đến than với tôi:
Thầy ơi Thầy, sao tôi cứ đau hoài chịu gì nổi! –
Tôi
nói: nếu nó không làm vậy thì làm sao chết được!
Vả lại bà muốn mau vãng sanh mà sợ chết quá sao
được! Bà cười. Thành ra một mặt niệm Phật để cầu
mau vãng sanh, một mặt lại sợ chết; một mình mà
mâu thuẫn hai việc.
Thêm nữa, tâm lý con người bình thường ai cũng
sợ chết. Nhưng khi xuông vào cõi tình trường,
được
chết trong vòng tay người khác phái mình thương
yêu thì lại thấy đó là cái “đã” chớ không phải
cái
chết! Cũng như trường hợp đau ban, nếu để người
khác phái nuôi thì dễ chết lắm mà là cái chết
“đã”!
hay trong những cuộc tình duyên của anh em họ,
bị
dòng họ không bằng lòng. Hai người bèn dắt nhau
vào hang núi, đổ dầu lửa, châm hột quẹt đốt rồi
ôm
nhau cùng chết. Vậy là cái chết “đã” chớ đâu
phải
chết khổ. Cái chết “đã” tuy làm vậy nhưng không
phải đó là bằng lòng. Bởi nếu bằng lòng sao lại
khóc! Đó là nghĩa kẹt lắm, vì cuộc sống không
thể y
như ý muốn được, nên bây giờ tìm thử qua cõi bên
kia. – Nên tham sống sợ chết hay tham chết sợ
sống
cũng là một thứ trở hai bề vậy thôi. Sợ sống
khổ, ra
cầu Bình Lợi nhảy xuống để tìm cái yên, thì cũng
một thứ sợ sống, chớ không phải là không khoái
sống. Nếu cuộc sống đừng có lộn xộn thì thích,
kẹt qúa nên mới làm như vậy.
Nên nghĩa ham sống sợ chết là tại mình thấy nằm
làm thinh nhăn răng mà ngán. Sự thật, khi cái
chết
đến liền tức thì, sẽ không có ai sợ hết.
* Chẳng thấy phiền não khác với Niết Bàn, thế mới
gọi là bình đẳng.
Nói cách khác: Nếu thấy sóng với nước không
khác thì mới là bình đẳng. Nếu chỉ nhìn thấy
sóng
có lên lên xuống xuống. Nhìn luôn cả sóng với
nước
thì thấy chỉ toàn là nước. Nên biết: sóng là
hình của
nước, nước là từng đáy của sóng.
* Vì sao thế? Vì phiền não và Niết Bàn cùng một
tánh không. Cho nên người nhị thừa vọng dứt trừ
phiền não, vọng nhập Niết Bàn, tự tạo Niết Bàn để
trói buộc. Còn Bồ Tát biết được tánh phiền não vốn
không, nên chẳng lìa không, thường ở Niết Bàn.
Niết Bàn nghĩa là khơi mà chẳng sanh, tịch mà
chẳng chết, vượt khỏi sanh tử là bát Niết Bàn. Tâm
không có đi và đến là nhập Niết Bàn. Thế mới biết
Niết Bàn tức là tâm không.
Nghĩa là một người trong tâm rỗng rang,
rời-rảnh,
động dụng đừng mê, cuộc sống tự tại, không có bị
cái gì ràng buộc. Đó là Niết Bàn.
* Chư Phật nhập Niết Bàn là ở chỗ không vọng
tưởng, Bồ tát vào đạo tràng là không tham sân si
vậy. Tham là cõi dục, sân là cõi sắc, si là cõi vô
sắc.
Thưa, « si » là cái chết « đã » tôi vừa nói đó.
Còn
tham và sân thì chúng ta ai cũng biết rồi.
* Nếu một niệm tâm sanh liền vào 3 cõi, một niệm
tâm diệt là ra 3 cõi.
Nói cách khác là : Nếu một niệm lià khỏi nguồn
tâm linh của mình thì vào 3 cõi. Một niệm vẫn tỏ
ngộ nguồn tâm linh của mình thì 3 cõi dứt. Bởi
đến chỗ đó không có 2 tướng nữa.
* Thế mới biết : 3 cõi sanh diệt, vạn pháp có
không
đều do một tâm. Phàm nói một pháp là cũng giống
như đập ngói gạch, chẻ tre gỗ vô tình.
Nghĩa là hễ nói có một, là có đủ thứ. Bởi vì
mình
nhìn vào từ tướng, chớ bổn lai vốn không có lìa.
Nếu nói có lìa, tại sao cầm cây quạt quạt nghe
nặng ?! Nếu nói rời từ cục, từ cục, tại sao
chúng ta
nói chuyện với nhau được, tại sao vô tuyến
truyền
thanh truyền hình thực hành được ?
Nhưng phải đề phòng khi tôi dùng trí óc phóng
trở
ra mà nghiệm, tôi cũng thấy được hình như bao la
này không có hai tướng ; nhưng sự thật khi lui
lại
nơi con người tôi thì tham sân si vẫn còn
ngưyên.
Do vậy Phật gọi cái đó là « sở tri ngu », nghĩa
biết qúa hóa ra ngu, vì biết trở ra không phải
là thiệt
biết. Cái biết đó không giúp ích gì cho chính
con
người của mình cả. Cũng như khoa học ngày nay đã
rơi thẳng vào cái mà Phật gọi là « sở tri ngu »
vậy.
Đến đây tôi xin nói thêm qua bộ Tây Du Ký, là
một bộ sách viết theo thể tài lạ kỳ để diễn tả ý
nghĩa
kinh Phật. – « Tôn-Ngộ-Không » là tượng trưng
cho sự hiểu biết bằng cái trí ; nên mặc dù cái
biết đó
có thể lui tới xứ Phật đều được, nghĩa là thấy
được 2
tướng không phân, nhưng cái tên đó chỉ là pháp
danh mà thôi, nên vẫn còn phải đội Kim cô và thờ
Tam Tạng làm thầy. – Do đó lý trí dù đến như
khoa
học ngày nay lên được cung trăng, phóng phi
thuyền
vượt không gian, đổi trái tim, thay tròng mắt
v.v…
cũng vẫn ở trong phạm vi nhân qủa, nghĩa là vẫn
bị
đội niềng Kim Cô. Chừng nào trở vô trong con
người của mình, hoàn toàn tỏ ngộ chính con người
của mình rồi, thì khỏi dùng thước bảng để cạy
Kimcô
cũng tự nó rớt ra. Khi đó trọn nguồn tâm linh
chúng ta mới chảy một chiều ; nên qua tới xứ
Phật
rổi Kim-cô tự rớt hồi nào không hay. Nghĩa là hễ
một người đã giác ngộ thì không ai trói buộc
được.
Nếu chưa giác ngộ mà còn nghinh ngang thì không
lãnh sợi dây chuối cũng lãnh cái còng bằng
« inoxidable » cũng thế thôi !
Bộ sách đó do một người tu chứng viết, trong đó
nhiếp cả Khổng-Mạnh-Lão-Trang và Phật. Vô đề
bằng lối Dịch Lý với văn minh Trung Hoa, cốt để
dùng văn minh Trung Hoa mà diễn tả văn minh Ấn
Độ. – Có lần tôi thử hỏi một ông tăng :
– Ông đọc bộ Tây Du rồi thấy trong đó ai hay
nhất ?
Đáp : Tôn Ngộ Không hay hơn hết.
Tôi nói : Không phải.
Hỏi : Vậy ai hay ?
Tôi nói : Người viết hay hơn hết ! vì tác giả đẻ
ra
được Tôn Ngộ Không mà ! – Người đó nếu chưa
chứng thì không viết được như vậy.
* Nếu biết được tâm chỉ là giả danh tạm gọi chớ
không có tướng, thì liền biết cái tâm của tự mình
cũng không phải có không phải không.
Nghĩa là tâm không phải là thứ đem tướng mà mò
kiếm được, vì thế nên biết được bao la với tâm
ta
không phải là hai, không có trong ngoài. Đây là
nghĩa trong kinh Kim Cang nói : Nếu mắc kẹt vào
trong sắc mà tìm sự thật, mắc kẹt vào âm thanh
tìm sự thật, thì người đó đã lầm rồi, sẽ không
bao
giờ thấy được sự thật (nhược dĩ sắc kiếm ngã, dĩ
âm
thanh cầu ngã, thị nhơn hành tà đạo, bất năng
kiến
Như Lai).
Nói rộng hơn, các nhà khoa học ngày nay, nhìn
cái lớn họ không dám nhìn đến mất cái tướng, mà
nhìn cái nhỏ cũng không dám nhìn đến mất cái
hình.
Vì thế khoa học nhìn cái lớn, bất qúa chỉ tới
các
tướng tinh cầu trong vũ trụ này ; nhìn cái nhỏ
cũng
chỉ tới siêu nguyên tử mà thôi. Đến chỗ máy móc
không thể nhìn được nữa, rồi hoảng sợ quay trở
lại.
Bởi lẽ khoa học chỉ toàn áp dụng ngôn ngữ văn
tự,
lý trí tính toán, máy móc dụng cụ, nên kết qủa
không đi đến đâu. Lý trí cũng như đèn Pin, hễ
pin
nhiều thì cầm rọi được thật xa, nhưng chỉ sáng
suốt
được một hướng thôi, dời sang hướng khác thì
hướng kia sẽ tối. – Nên lý trí khó bắt được sự
thật là
vậy.
Còn tôi nói đây, không phải là cách xài như thế
!
Thí dụ tôi bố trí bóng đèn điện khắp chung quanh
chùa này, công tắc để trong phòng, tôi tắt đèn
đi ngủ
– Đến khuya có người hay ăn trộm đang rình ở
ngoài. Bây giờ tôi bật công tắc, đèn sáng khắp
nơi,
thì tên trộm đó chạy đâu cho thoát !
Mỗi con người chúng ta vì cái thấy bị kẹt ở
trong
con mắt, cái nghe bị kẹt trong lỗ tai, cái ngửi
bị kẹt
ở mũi, cái nếm kẹt ở miệng, cái trí kẹt ở đầu
… từng
khối đều riêng nên cái biết không được suốt
khắp.
Sự thật không phải vậy – Khi mũi hít vô thì trọn
hết
mặt da thở ra, miệng thở ra thì trọn hết da mặt
hít
vô. – Mỗi một tế bào trong thân chúng ta là một
con
người, đều có đủ cơ cấu thấy nghe hay biết. Nên
phải lìa cái TÔI thì cái thấy mới trọn vẹn được.
Chỗ
đó khoa học ngày nay chưa biết chỗ đó cũng là
chỗ
đáng thích thú nhất !
Phương chi, bao la vốn không có vách ngăn. Nếu
có vách ngăn hẳn thì làm sao chế được vô tuyến
truyền hình ! Nhưng chúng ta chế được vô tuyến
truyền hình mà vẫn bị ngu là tại sao ? – Là tại
mình
để sự việc ở ngoài mà nhìn, nên bỏ quên mình ở
ngoài. Cũng như chúng ta học y khoa, mổ bịnh
nhơn
ra ai cũng thấy thân này chỉ là từng phần tổ hợp
chớ
không có gì hết. Nhưng tốt nghiệp ra trường,
đụng
vấn đề sắc thì cũng vẫn bị kẹt như thường, cả
vấn đề
tình tài cũng không qua khỏi được. Còn mấy ông
thầy tu khám phá chính mình trước, nên rồi nhìn
đâu cũng thấy suốt. Nên biết việc gỡ cặp kính
đen
để xuống là việc làm khôn ngoan nhất. Hiển nhiên
vậy !
* Vì sao thế ? – Vì phàm phu một niệm sanh tâm
gọi là có, tiểu thừa một niệm diệt tâm gọi là
không.
Còn Bồ Tát và Phật chưa từng sanh tâm cũng chưa
từng diệt tâm, cho nên gọi không phải có không
phải không. Chỗ này cũng gọi là Trung đạo.
Nghĩa là một đàng ráng phủ nhận cái « có », còn
một đàng mắc kẹt trong cái « có ». Sự thật, nếu
đừng mắc kẹt thì tâm cũng giống như cái gương,
nên còn gọi là gương lòng. Cái gì đi qua thì có
bóng
dọi, bóng này qua tiếp đến bóng khác, chớ không
chứa giữ lại. Trái lại, khi mê thì tâm giống như
phim hình ; hễ bấm thì nó chụp, bấm nữa thì cứ
chụp chồng lên tiếp. Đó không phải là nghĩa
Trung
đạo.
Đến đây còn một khoảng thời gian, tôi xin nói
qua
về chuyện Tây Du. Trong đó có chép chuyện Thầy
Trò Tam Tạng đi đến Tiểu-Lôi-Âm, bị con yêu phá
rối không qua được. Con yêu đó là đồng tử của
ngài
Di Lặc, nhân lúc ông ngủ quên nó lén cắp cái
chặp
chỏa và cái ruột ngựa (còn gọi là đải hậu
thiên),
đem 2 món bửu bối đó xuống làm yêu quái thâu cả
thầy trò Tam Tạng nhốt vào. Quan hệ đáng nói là
cái đải hậu thiên ; đó chỉ là một cái túi bẳng
vải màu
vàng, không có gì ở trong cả nhưng nó thâu hết
thầy
trò Tam Tạng và tất cả những người đến tiếp viện
cho Thầy trò Tam Tạng như Tứ vị công-tào, Ngũ
phương Yết đế …. đều bị kẹt hết. Chỉ có Ngộ
Không
nhờ cái trí nên nhảy khỏi, nhưng vẫn phải tránh
mệt
lắm vì hễ nhảy lên là bị thâu !
Hồi nhỏ đọc chuyện Tây Du, đến đây tôi không
hiểu nói gì cả. Đến khi tôi đi tu trên núi, một
hôm ăn
sáng xong rồi đi đốn cây cất cốc, bỗng tôi sực
nhớ :
Sao lại gọi đó là đải hậu thiên ! Mới nhớ ra hai
chữ
« hậu thiên » theo tinh thần Á Đông là ám chỉ bộ
tiêu hóa, hai đầu trên dưới đều trống. Chính cái
túi
trống hai đầu đó là nền tảng cho cuộc sống mà
cũng
là nguồn cội của vấn đề kinh tế chiến tranh. –
Do đó
hễ còn kẹt vào vấn đề ăn uống kinh tế thì bị đải
hậu
thiên tóm thấu hết. Ông Di-Lặc là người đi vào
nểo
của thức thứ 6, lý trí, còn cái xác bỏ lại là
thẳng
đồng tử và cái đải hậu thiên. Trong kinh Pháp
Hoa
nói tiền thân của Di Lặc là « Cầu Danh Bồ Tát »,
tu
hành mà làm biếng tụng niệm, ưa dựa theo quyền
thế mấy ông nhà giàu, nên kẹt lâu giải thoát.
Tôi sực nghĩ ra thằng đồng tử đó không ai đâu lạ
trận giặc hiện giờ. Đó là trận giặc lấy kinh tế
làm
nền tảng để thắt chặt cái ăn, nắm then máy cái
ăn
mà khơi chiến tranh. Nên bây giờ hầu hết các cửa
chùa, nhà thờ, nhà thánh … đều bị lung lay về
vấn
đề kinh tế. Ai cũng sợ đói, cũng đua nhau vấn đề
mình phải. Do đó tất cả các cửa tôn giáo đều khuyến
khích làm phước ; chớ nếu không đưa vấn đề phước
ra, e rằng không hấp dẫn được Phật tử, thì vấn
đề ăn
của mình sẽ cũng bị ảnh hưởng chăng ?! Thế là
tất
cả đều chạy đua theo việc làm phước. Hiện nay
thế
giới đang lâm vào tình trạng : phe bên kia Cộng Sản
cũng lấy kinh tế làm bàn đạp tính gom thế lực về
mình ; phe tư bản cũng lấy kinh tế làm bàn đạp
để
thao túng vấn đề ăn uống, gom thế lực về mình. –
Tôi bừng thấy hết mọi chuyện – Bỗng tôi hoảng
hốt,
nghĩ rằng bộ Tây Du đã xưa lắm rồi, thế mà người
ta biết đến tình cảnh bây giờ như vậy, qủa thật
không phải là chuyện chơi !
Chúng ta hãy để ý bao nhiêu vấn đề tranh nhau để
phá hoại nền tảng tất cả các dân tộc nhược tiểu,
phá
hoại đến tận cùng tinh thần dân tộc cũng đều lấy
vấn
đề kinh tế làm nền tảng. – Cũng từ chỗ đó, tôi
làm
cho ông thiệt nghèo, để ông không có chỗ theo ai
mà phải theo tôi. Hay tôi giúp cho ông thật dư
dã để
ông bại hoại và sẽ theo phe tôi. – Cũng như tôi
nuôi
con bò, bắt kéo xe làm việc vất vả mà không cho
ăn
thì con bò oán tôi. Còn tôi nuôi con heo cho ăn
đầy
đủ, o bế tắm rửa kỹ lưỡng, thì con heo thấy
khoái ý ;
nhưng không dè tôi làm vậy để một lát tôi bán
được
nhiều tiền ! Hai thế đó cũng là một, thế thôi !
Chúng ta hãy để ý thêm một chuyện này cũng rất
quan hệ : Tôi vẫn còn nhớ rõ khi tôi còn nhỏ,
hãng
thuốc Melia mới lập, đem thuốc cho đồng bào hút
thử. Nhiều người không biết hút, nhưng nghĩ
người
ta cho không mà không lấy là dại ; nên lấy đốt
ngậm
thử. Ít ngày quen lần, muốn hút phải mua. Thế là
hãng thuốc bán được mối. Một lúc thấy bán không
chạy, hãng bèn chế ra ống điếu đem cho để ghim
thuốc vào hút cho oai. Được ống điếu cho không
nữa, nên ai cũng thích ghim vào hút. Đến chừng
đó,
mình nhìn người không có kẹp điếu thuốc, vắt ống
điếu ; thấy như người đó không phải là người ta
vậy ! Đến một lúc thấy đình đốn nữa, hãng làm
mỗi
gói thuốc đều có chụp hình một cô đầm lõa thể đủ
kiểu. – Lâu ngày người ta nếu không ghiền thuốc
thì
cũng ghiền cái hình đó !
Người xưa nói : « Đói cơm khát nước tèm hèm.
No cơm ấm áo lại đòi nọ kia ».
Nên biết thiệt sướng và thiệt khổ tai hại y
nhau,
không có nghĩa lý gì hết. – Nếu không biết như
vậy
thì chết với cả hai thứ đó – Cũng như người Mỹ
sang đây viện trợ cho chúng ta, bày ra phân hóa
học
để bón cây cho tốt. Bình thường đất đai xứ mình
làm không cần bỏ phân mà vẫn tốt, nay bón thêm
phân vào vì tham huê lợi được gấp bội, nhưng chỉ
được 2,3 năm đầu, về sau hễ không có phân thì
đất
chai cứng, cây cỏ héo xèo hết. Nên trái cây
trồng ở
đất bón phân cũng ăn không tốt như trái cây tự
nhiên. Cũng như cơ thể của chúng ta vốn là một
kho
tàng chế hóa các thức ăn uống đưa vào, bây giờ
không có bịnh, mà cứ cho thuốc bổ thêm vào. Lâu
ngày, cơ thể mất khả năng chế hóa mà sanh ra
lười
biếng . Đó là cách viện trợ kiểu Mỹ, là một cách
phá
hoại vậy. Cũng như con nhà giàu phần đông được
tiếp dưỡng đầy đủ đều không ra gì hết.
Do chỗ đó, chỉ có quay trở vào trong mình thì
mới
tránh được gọng kềm kinh tế chánh trị nó xiết
chặt.
Nên tất cả chúng ta, nếu cuộc sống không còn bị
vấn đề kinh tế thao túng thì mới được bình an
yên
ổn.
Hỏi : Thưa, Thầy nghĩ sao về vấn đề châm cứu
hiện nay ? Người Mỹ đang xôn xao về vấn đề Trung
Cộng đã áp dụng châm cứu vào khoa giải phẩu,
ghép da, nhổ răng … không đau đớn mà người vẫn
khoẻ như thường.
Đáp : Thưa, cái đó không có chi lạ hết. Chúng ta
bây giờ tinh thần đã bị phá sản rồi, nên dễ bị
người
ta ý hà lắm ; cho đến người Mỹ cũng bị Trung
Cộng
ý hà, nên đổ sang Trung Cộng tìm học. – Thật ra
chuyện châm cứu ngày nay không còn mang sắc
thái trung thực của nghĩa châm cứu nữa, mà đã đi
vào trong tả đạo bàng môn. Nên chỉ cần về phương
diện kỹ thuật, điều kiện vật chất, và dựa hẳn
vào
kinh nghiệm sống của người trước để lại mà thôi
;
bỏ hẳn chiều hướng trọn vẹn của nền tảng thâm
sâu.
Cũng vì thế mà họ không thể giải nghĩa về lý do
kết
qủa. Như vậy là chỉ thấy chớ không phải hiểu.
Nếu chúng ta tuần tự đi sâu vào trong NỘI KINH,
quyết định khám phá trọn vẹn con người thì sẽ
thấy
rõ chuyện đó không có chi lạ. Nếu chúng ta chạy
đua theo hướng đi ra mãi rồi sẽ thấy đó mà sợ,
sợ
rồi sẽ săn đuổi theo ; thành ra chúng ta đều trở
ra
ngọn hết. Do vậy tôi bằng lòng hạ thấp xuống đến
tận cùng tới gốc, rồi mới đi lên nhánh nhóc ;
thì mới
có được căn bản vững chắc. Nên biết bây giờ
người
ta đang nôn nao, mà tôi vẫn thản nhiên bình tĩnh
làm việc … Do vậy cũng có những người đến đây,
phần nhiều nhìn bề ngoài nghĩ rằng tôi không có
đi
Nhật, đi Tàu hay Pháp Mỹ … là một sự thiếu sót
cho
việc tu học … theo tôi, chân lý không ai có
thể đầu
cơ được, và vốn cũng không phải của riêng ai.
Điểm
này mong quí vị thận trọng nghiệm xét.
*

* * *