Lưu trữ hàng tháng: Tháng Bảy 2013

“SIEU THI PHAT O CHUA “

“SIEU THI PHAT O CHUA ” 

TIỀN LÀM ĐỘNG TÂM, TIỀN SINH BẤT TỊNH

Kính mời quý vị xem một bài viết của

Tỳ Kheo Thích CHÂN TUỆ.

Các Thầy “Thích Đủ Thứ” đã biến Chuà Chiền Cửa Phật thành các “Siêu thị Phật” !!!

Xin mời xem bài viết của Tỳ-Khưu Thích-Chân-Tuệ, Chủ Nhiệm PHTQ.CANADA

TIỀN LÀM ĐỘNG TÂM,

TIỀN SINH BẤT TỊNH

Tỳ-Khưu Thích-Chân-Tuệ.

Tu hành trong hoàn cảnh kinh tế thị trường hiện nay rất khó. Tu trong xã hội Âu Mỹ với nền kinh tế thực dụng càng khó hơn.

Dịch xây chùa và phấn đấu làm trụ trì của các tu sĩ Việt nam tại các xứ Âu Mỹ đang diễn ra như một chiến trường. Tiền! Tiền! Tiền! trở thành tiếng réo gọi, át tiếng cầu kinh và niệm chú. Các thầy đã biến chùa chiền thành các 

              “siêu thị Phật”. 

Thầy chưa có chùa thì lo vận động chạy đôn chạy đáo mua đất mua nhà xây chùa dựng tượng. Thầy có chùa rthì có bao nhiêu là dự án xây dựng để kêu gọi Phật tử đóng góp.

Đồng tiền đã làm cho cửa Thiền thành chợ Trời buôn thần bán thánh.

Không có cách kiếm tiền phàm tục nào ngoài đời mà không có trong các chùa: Xổ số, lô tô, đại nhạc hội, tiệc ăn uống gây quỹ, bán đấu giá, ký sổ cúng dường hàng tháng, mượn vốn không lời… đang trở thành bệnh dịch 

biến cửa chùa là nơi tôn nghiêm thành nhà hàng bán đồ ăn, biến sân chùa thành sân khấu cho ca sĩ hát hỏng nỉ non uốn éo, biến Phật đài trang nghiêm thành nơi bán và ký gởi tượng Phật.

Tất cả những phương tiện hoằng dương chánh pháp thiêng liêng của Phật giáo Đại thừa đang biến thành dịch vụ thương mãi.

Cầu siêu: tiền. 

Dâng sớ cầu an: tiền. 

Ma chay, giỗ kỵ: tiền.

Xuống cấp thấp nhất là các thầy thu tiền và bỏ tiền vào túi. Hình ảnh đọa lạc nhất là có những thầy chuyên nghiệp lên sân khấu, cầm micro thay vì nói pháp thì thao thao nói lời thuyết phục vận động xin tiền. Ôi, hồng ân Tam Bảo, long thần hộ pháp làm sao mà tha thứ được.

Những Phật tử mê tín, đầu óc mù mờ u tối đã xem các thầy chùa như Phật thánh. Họ không hiểu rằng đưa phương tiện vật chất vào tay nhà tu là đang làm thay cho ma quỷ tới phá đường tu thanh tịnh của quý thầy. Khi đầu óc đã dính mắc lo nghĩ tới tiền, tới chùa to tượng lớn, tới thế giới màu mè hình tướng thì vô hình chung nhà tu đã không còn an trú trong giới luật.

Đạo Phật Việt Nam đang đi sai đường trầm trọng vì đang lâm vàohai tình trạng cực đoan. Số các thầy sống ở “cõi trên” thì lo nói toàn những chuyện cao siêu huyền hoặc. Số các thầy đang đoạ lạc vào tham ái thì biến đạo Phật thành mê tín dị đoan để làm phương tiện kiếm tiền.

Thật ra, các thầy ra ngoài giới luật chỉ là nạn nhân (KHÔNG ĐÚNG,Mấy sư bây giờ cũng còn tham sân si).

Thủ phạm chính là những người mang danh Phật tử mà không chịu hiểu Phật, đem vật chất làm sa đọa các thầy (các sư thấy phật tử làm không đúng có quyền từ chối vì sư hiểu rõ thế nào là tu).

Xin các thầy tỉnh táo lại để khỏi trễ đường tu.

Xin các đạo hữu Phật tử hãy cùng nhau đứng ra xây chùa dựng tượng. Nhưng tuyệt nhiên xin đừng làm sa đọa quý thầy bằng cách đưa tiền, chính là đưa thuốc độc đến cho bậc chân tu.

Đức Phật và Thánh chúng ngày xưa ngày ngày khất thực, chỉ cần có miếng ăn đạm bạc ngày một bữa mà nuôi sống xác thân để thanh tịnh tu hành.

Các thầy ngày nay ăn uống có kẻ hầu người hạ, bữa chính bữa phụ thật là đã lạc đường quá xa về xứ Phật.

Đôi điều chân thật nói ra, xin các thầy và Phật tử hoan hỷ suy gẫm.

VP.PHTQ.CANADA

67-a-1

…CỦA MỘT THỜI ĐÃ QUA

Tập Thơ : Giữa Em Và Mùa Thu

x

                   Ngỏ lời

Tôi là hạt phù sa trong dòng nước mát

Bồi đắp cho đời thêm những cây xanh

Là hoa tươi tôi thắm mãi trên cành

Cho ong bướm được vui mùa hút nhụy

Với gió mây tôi là thi sỹ

Để hồn trần ai cũng được lãng du

Với sương đêm tôi là ánh đèn mù

Cho hư ảo không gian thêm tĩnh mịch

Với tình yêu tôi là men kích thích

Thêm say nồng hương sắc một thời xuân

Đời mãi ca như tiếng chuông ngân

Cho thanh, sắc xua lùa bóng tối

Cho ngàn năm và muôn đời tiếp nối

Cho đất trời thôi hết ghen nhau

Để nhân gian không một tiếng kêu sầu

Và mãi mãi như tình yêu tuổi trẻ

Văn Dũng

Đêm Giao Thừa

Xuân chợt đến xuân ùa vào ngực

Pháo tưng bừng pháo xé lòng ai

Ngoài vườn xuân mưa khóc với nhành mai

làn hương mỏng không gian như vỡ mộng

Cây táo ngoài sân cành không lay động

Đất như trời chẳng biết đâu là ta

Chỉ có hương hồn người đã đi xa

Theo xác pháo biết xuân lành hay dữ

Mái lá yên buồn câu ca giao tục ngữ

Theo xuân về ôm ấp một ma thơ

Bức chân dung cha như cũng nghi ngờ

Xuân chếnh choáng hay là ta chếnh choáng

Một chùm pháo hoa ngàn tia ánh sáng

Trăm sắc màu nhưng tắt lụi – đêm say

Đốt cây hương trầm đôi mắt thấy cay cay

Văn Dũng 1 – 1983

Khúc Ca Về Biển

Em đã hát đến trăm lần bài ca về biển

Thấy biển dạt dào trong khúc hát em ca

Nhưng biển ơi  biển có hay không ?

Đôi bờ vai những dòng sông đã bào mòn vách núi

Những dòng sông đã rút cạn nguồn khe suối

Để bãi cát dài và biển mãi mênh mông

Nhưng biển ơi biển có nghe không ?

Sông vẫn chảy nhưng lòng sông rên xiết

Suối đau buồn rừng cây thưa lá biếc

Con nai vàng thương tiếc ngọn cỏ xanh

Sợ cây đau sóc không nỡ chuyền cành

Bầy chim nhỏ lẩn vào trong hang núi

Biển biết không vì thương sông thương suối

Nên thay trời – đời sẽ làm mưa

Để biển mặn như ngày xưa biển có

Và khi trời lặng gió, biển lại về trong khúc hát em ca

Văn Dũng 8 -1983

Đi Giữa Mùa Hè Quê Tôi

Giữa mùa hè quê tôi

Cái nóng làm con sông quằn lại

Những cành cây sắp đến ngày cho trái

Bỗng thành củi khô

Những con chim câu giang cánh hải hồ

Nay thấy tắm mình trong thau nước gạo

Gió ở quê tôi gió lào như bão

Bụi cuốn mù che khuất mặt người yêu

Bóng trẻ thơ lạc trong bóng mây chiều

áo trắng nhuộm trong hoàng hôn tím thắm

+++

Đi giữa mùa hè quê tôi

Nghe ai hát bài ca mùa thu tháng 8

Như mẹ hiền khẽ hát ru con

Tiếng trẻ thơ như tiếng sáo – Cười giòn

Tình yêu nở trên gương mặt

Đi giữa mùa hè quê tôi

Nghe ai hát bài ca mây trời xanh ngắt

Áo trắng như cánh bồ câu

Và tất cả thương đau

Đốt cháy giữa mùa hè đỏ lửa

Nhưng mặt trời muôn thủa

Chưa  một lần biết trái tim đau

Văn Dũng 5 -1984

Chiếc Đồng Hồ

Con đứng đây

Mẹ vào trong chợ

Mẹ tìm bác thợ

Chữa cái đồng hồ đeo tay

Vì kim phút, kim giây

12 giờ không chập

Những niềm vui tràn ngập

Bao nỗi buồn lắt lay

Như kim phút kim giây

Hay bất ngờ dừng lại

Mẹ một thời con gái

Cũng bao nỗi buồn vui

Và trong phút giây thôi

Đất trời như nghiêng ngả

Nắng chao mình trong lá

Gió quay cuồng như say

Cũng chỉ trong phút giây

Mẹ vẫn nhìn ra Mẹ

Văn Dũng 8 – 1985

 Thương

Chuyện đời cứ nghĩ mà thương

Thương người xa lạ lại thương tới mình

Thương em bé quét chợ đình

Thương bà bán chổi một mình xót xa

Thương bàn tay mẹ đã già

Thương em bé mới lên 3 thuộc Kiều

Nghĩ thương , thương đủ trăm điều

Thương con sáo lại chiều chiều qua sông

Nghĩ thương cây lúa ngoài đồng

Công cha đổ đã bao dòng mồ hôi

Thương người ru cháu bên nôi

Ru lâu đến nỗi thành lời ru ta

Thương con đò bến Tam Soa

Với câu ví dặm đã qua một thời

Nghĩ thương miếng trầu têm vôi

Để cau thêm chát cho người sang sông

Thương chi thương đến lạ lùng

Thương người hóa đá tay bồng con thơ

Người về người cứ thẩn thơ

Còn tôi thương – thương cả bài thơ của mình

Văn Dũng 1 – 1986

Người Con Gái Điên

Em đứng đó – Tự Do như đau khổ trên đời

Em cần chi –  ai biết – em cười..

Em hiển diện mà thân không ngà ngọc

Trên bục ngã tư , giữa trưa hè oi nực

Miệng như ánh trăng rằm, mắt nhìn phía trời xa

Giữa ngã tư em bất chợt hiện ra

Đường phải trái , người cứ về xuôi ngược

Em phải chăng – Tự Do của đời không hẹn ước

Múa một mình hát chẳng thành bài ca

Người trên đời , Bắc ghé hay Nam ra

Họ chỉ biết em là người đau khổ

Nhưng chỉ với tôi thôi

Em là người muôn thủa

Muôn thủa Tự Do muôn thủa đau sầu

Văn Dũng 4 – 1982

Trốn

Em có thể trốn anh trốn nhiều lần thêm nữa

Nhưng em thử trốn mình dù chỉ phút giây thôi

Em trốn đi – hãy trốn trong đất trời

Em sẽ gặp với mình trong nỗi nhớ

Anh sẽ là cơn mưa cơn mưa bất ngờ trước ngõ

Để những lúc trốn mình mắt em đầy mưa rơi

Em yêu ơi !  hãy trốn mãi đừng thôi

Để anh hát khúc tình ca muôn thuở

Để anh biết trái tim hồng bao lửa

Cho anh say để gặp gỡ với mình

Với em yêu –  chuyện của chúng mình

Em thì trốn anh đi tìm chẳng gặp

Em để rơi còn anh thì tìm nhặt

Biết ngỡ ai đầy biết ngỡ ai vơi

Hỡi em yêu ! trên trái đất nhiều nơi

Người trốn hết đâu dành riêng một chỗ

Để em yêu – dấu mình trong đó

Mưa vẫn bất ngờ trước ngõ mưa rơi

Văn Dũng 7 – 1985

Hai nửa Cuộc Đời

Khi nói thật anh vừa tròn một nửa

Sống chung tình nên một nửa phải là em

Ta sống như ngày và đêm – ôm trùm lên trái đất

Khi một nửa là màn đêm anh che khuất

Ấy là lúc bình minh em bừng sáng

Ta yêu nhau trái đất hóa cơ mầu

Văn Dũng 10 -1986

Lời Nhắn Gửi

Cô lái thuyền kia chở những gì

Lòng cô mang nặng nỗi buồn chi

Lăn tăn gợn sóng đôi dòng bạc

Nước dưới thuyền trôi hay thuyền đi

+++

Cô có về xuôi ghé biển đông

Biển rộng trời cao nước mặn nồng

Nhắn hộ dùm tôi lời suối nhỏ

Mưa nguồn chớp bể ngóng chờ trông

Văn Dũng  10 – 1986

+++

Anh chờ thư hậu phương

Như hậu phương  chờ tin anh chiến thắng

Sau những phút giây – trận đánh

Trận địa khói mù như sương sớm quê hương

Ta bên nhau tay trong tay đồng đội

Soi nửa đường lê –  bức chân dung chiến trường

Anh chờ thư hậu phương

cho đồng đội anh trước giờ trận đánh

Hòa cùng anh bản tình ca chiến trường

Văn Dũng     4 – 1975

Giữa Em Và Mùa Thu

Giọt nước mắt lăn trên má em

Giọt mùa thu rơi trên lá

Anh đứng dưới nỗi buồn…

hứng những giọt châu rơi

Giọt nước mắt thôi rơi

Giọt mùa thu thôi rụng

Giữa em và mùa thu

Anh một mình

rơi

rụng

chơi vơi . . …

Văn Dũng   10- 1986

Chậm Giờ Ca 3

Khi nhiều người chìm trong giấc ngủ

Thì tôi – người vẫn mặc nguyên bộ quần áo cũ

Lên đường đi làm ca 3

Đường từ nhà tới xưởng máy không xa

Đi rất sớm nhưng thường hay bị chậm

Vì một lẽ không ngoa

Trên đường đi chó đâu mà nhiều thế

Từ những căn nhà , góc phố xô ra

Nhưng sợ nhất là những con chó thật to

từ những căn nhà cửa cao lộng lẫy

Và quả thật bất ngờ lúc ấy

Tôi giật mình lùi lại sau xa

Và chợt nghĩ sao lại thế này nhỉ

Mọi người đã nghe lệnh cấm chó ban ra

Tôi bỗng muốn mọi người thức dậy

Cùng tôi lên đường đi làm ca 3

Văn Dũng    3 – 1990

+++

Ta sống bằng thương yêu

Khi dận hờn mắng mỏ

Và nói lời chia tay

Khi lệ không còn ứa

Hai ta hai vì tinh tú

Xa nhau thì sáng tỏ

Gần nhau hóa lu mờ

Văn Dũng    2 – 1992

+++

Bởi nước ao tù

Nên lắm thòng đong

Bởi khúc sông cong

Nên dòng nước xoáy

Thời nào cũng vậy

Trong trắng – bể dâu

Hoa trái nào sâu

Mới hay hương ngọt

Trăm hay vạn tốt

Một đám người đông

Bịt mũi kinh trông

Cũng nên hương khói

Văn Dũng  6 – 1995

Trẻ Thơ

Tôi lớn rồi người cứ gọi trẻ thơ

Tính hay vui cũng có lúc thẫn thờ

Nói rất thật như trẻ thơ 3 tuổi

Thích lắng nghe tiếng cười reo như suối

Lời ngọt ngào nhè nhẹ tiếng ai ru

+ + +

Tôi lớn rồi người cứ ngỡ trẻ thơ

Người hứa quanh đến lúc lặng như tờ

Cho kẹo ngọt ai ngờ nhân thuốc đắng

Tôi lặng im như trời mây thiếu nắng

Để cuộc đời tôi mãi trẻ thơ

+ + +

Tôi lớn rồi mà người cứ ngây thơ

Lượm hoa rơi mắt chớp chớp không ngờ

Vô tư quá trước giờ ly biệt

Nấp bóng cây xanh cũng chẳng cần chi biết

Tay người trồng nên người mãi ngây thơ

Văn Dũng  8 – 1995

Không Tên

Như loài Cá không tên

Bơ vơ giữa chợ đời

Kẻ giàu sang dè bỉu

Em – người nghèo để rơi

+ + +

Như loài hoa không tên

Giữa ngàn cây không lời

Nắng mưa và bão táp

Vẫn tỏa hương cho đời

+ + +

Như bài ca không tên

Em tự mình hay hát

Khách qua đường lắng nghe

Với bao niềm khao khát

+ + +

Như ngôi sao không tên

Triệu triệu năm như ngủ

Bỗng một đêm  – vũ trụ

Ngôi sao bay sáng trời

Văn Dũng  9 – 1996

Nỗi Niềm Đi Qua

Đã qua rồi màn đêm cô quạnh

Bình minh về nắng trả lại đồng quê

Ngoài xa khơi sóng lại vỗ về

Con thuyền nhỏ lại căng buồm no gió

Ơi biển rộng mênh mông tấm lòng ta đó

Như cuộc đời biển giữ mãi màu xanh

Giữ mãi những gì của tôi và anh

Của quá khứ và ngày mai sắp đến

Để những con thuyền đừng bao giờ quên bến

Để tình người đừng chia tay lưu luyến

Để biển trời mãi mãi là màu xanh

Văn Dũng   3 – 1986

Đêm

Đêm con mèo hoang lang thang

Đêm con chó đi tìm bạn – đực – cái

Đêm góc phố còng lưng –

người đàn bà chờ mong ai khắc  khoải

Giọt vai gầy ru nỗi cực thâu đêm

Giọt đèn vàng xâu sợi chỉ sương êm –

vá víu nỗi buồn cô quạnh

+ + +

Đêm mông lung – ghế đá công viên một người con gái

Ôm gối tựa mình vào kỷ niệm

Gió liêu xiêu – công viên liêu xiêu

Ghế đá giờ thành bia tưởng niệm

Văn Dũng 5 – 1987

Bài Ca Quê Hương

Cha là bài ca

Con là lời bài ca

Mẹ người hát lên bài ca ấy

Quê hương – xứ sở bài ca

+++

Bài ca là mặt trời

Lời ca là tia nắng

Lời mẹ ru ánh nắng ngọt ngào

Quê hương trở mình đất nở đầy sao

+++

Ơi quê hương ! da diết tự ngày nào

Lời mẹ hát giọng cao trầm ấp ủ

Lời mẹ ru đêm quê hương không ngủ

Bốn nghìn năm giọng mẹ vẫn cao trầm

+++

Bốn nghìn năm như lửa , nước âm thầm

Cây đổi lộc đất trở mình đổi dáng

Biển cứ  mặn , sông dài theo năm tháng

Nước vẫn trong nhưng nước cứ vơi đầy

Văn Dũng 5 – 1987

+++

Bóp trán mà cười

Lắng nghe mà điếc

Im lặng mà làm việc

Khóc lên mà vui

Câm đi mà nói

+++

Tôi đi bơ vơ

Tôi cười như mơ

Tôi khóc như thơ

Buồn vui bất ngờ

Nhìn lên trời cao

ngó xuống đất thấp

Vừa ăn vừa ngủ

Tỉnh ra hẫng hờ

Văn Dũng 4 – 1985

+++

Em như cây hoa rừng

Thấy đẹp anh đem về trồng

Đủ bốn mùa  :  xuân – hạ – Thu – đông

Cây vẫn khỏe , hương vẫn thơm

– Màu không còn hoang dại

Và giọt sương buồn giờ đọng lại

một chút nơi cánh hồng

một phần đọng vào mắt anh

Nủa phần rơi vào hoang dại

Và bao nhiêu còn lại

…Tan vào hư vô

Văn Dũng      7 – 1990

Ngõ

Nhà ở đó , ngõ ở đâu

Phía đàng trước hay đàng sau

Đến chơi nhà khách hỏi

Có thể là dòng suối

Cổng ở mãi thượng nguồn

Có thể là niềm thương

Từ trái tim nồng cháy

Cũng có thể là vậy

Phía đàng trước đàng sau

Đứng ngoảnh mặt vào nhau

hai cây tre thẳng đứng

Có thể là nguồn hứng

Với tất cả niềm say

Cũng có thể là đây

Nơi mà tôi đang đứng

Văn Dũng     7 – 1985

+++

Dù anh là lửa rơm

Nhưng đốt cháy em có thể

Em không là muối bể

Nhưng có thể ướp mặn đời anh

+++

Quả bóng tròn , quả bóng lăn

Nhưng không lẽ chẳng lăn bao giờ – cái lưỡi

Quả bóng tròn , quả bóng lăn vào lưới

Lưỡi lăn mình lưỡi chui tọt hang sâu

Văn Dũng    1996

Tình Yêu Người Lính

Khi quen nhau em là thiếu phụ

Tôi là người quân ngũ đã nhiều năm

Em đau thương nước mắt chảy âm thầm

Tôi im lặng giữa ba bề lá đổ

Nhưng vẫn nghĩ về em , niềm vui dang dở

Để đêm hành quân dưới mưa rừng gian khổ

Em hay chăng ! tôi hạnh phúc với riêng mình

+++

Nơi ta gặp nhau điểm nối những con đường

Và tất cả vẫn là mới lạ

Một làn tóc thơm , một nụ cười như quen như lạ

Đôi bàn tay chai sần nay mới được nâng niu

Tôi biết em thích hóng ngọn gió chiều

Bởi gió ấy đi qua biển mặn

Một ly rượu nồng cũng bừng lên sức mạnh

Ta bên nhau sức sống cứ dâng đầy

Văn Dũng  1978

+++

Trời hãy nổi gió lên

Trút vào đầu loài người những cơn thịnh nộ

Những nỗi khổ , bất hạnh , yêu thương !

Đời hãy nổi gió lên

Quất vào anh và em , như gió lào miền trung  quất vào đống                                                                                                       lửa

Để cho anh và em – dẫu khi tàn ngọn lửa

Vẫn gửi được chút áng hồng vào mỗi buổi ban mai

Văn Dũng  1987

+++

Nụ cười là hạt cát

Giọt nước mắt là muối biển khơi

Anh và em là nước mắt – nụ cười

Mặc cho đời thỏa thuê đong và đếm

++

Nụ cười là vầng Trăng

Sương đêm là nước mắt

Em và Anh là vầng Trăng – nước mắt

Vầng Trăng hiền rọi sáng mắt lung linh

Văn Dũng    1987

 

Gọi Nắng

Em đã hát đến trăm lần bài ca gọi nắng

Đông vẫn dài cái lạnh cứ lê thê

Áo em rách vẫn mang trọn câu thề

Vẫn đợi nắng và tâm hồn vẹn trắng

Đã bao đêm dài như ngàn sao thức trắng

Vẫn học bài, sưởi nắng – niềm tin

Bởi những chồi non trên những thân cây tưởng mục nát im lìm

Bởi những ánh mắt thức nhiều đêm thâu đợi nắng

Và hôm nay trên trang giấy trắng

Anh gọi nắng về anh gọi nắng cho em

Văn Dũng 1988

 

Tình

Trăng rằm chưa tỏ đã mờ

Tại mây che bóng hay ngờ trăng non?

Trăng cao nên thấy chon von

Hoa Hồng tuy thắm nhưng còn thờ ơ

Hỏi người người cứ lảng lơ

Làm sao cho có tình – thơ trong đời
Thấy lòng buồn lắm em ơi

Nghĩ mình phận bạc , trách trời không thương

Lòng còn thê thảm vấn vương

Một hình một bóng soi gương lệ nhòa

Đêm khuya văng vẳng tiếng gà

Gửi hồn theo gió tới nhà thăm em

Thấy em ngủ trọn giấc đêm

Môi hiền má thắm như tiên trên đời

Mai kia trăng sáng tuyệt vời

Gió vờn mái tóc anh ngồi bên em

Văn Dũng 1980

 

Rượu

                                    Cạn chén rượu nồng đời hồng như bếp

                                   Phút ấy qua rồi cay đắng lại trào dâng

Ngày xưa nước mắt ai rơi vào men riệu

Để muôn năm riệu tắm vui – buồn

Ngày xưa tình yêu ai ? hòa trong men riệu

Để cho ta những phút say nồng

Riệu có từ mắt em

Tình yêu em nồng thắm

Anh uống suốt đời anh uống mãi không thôi

Văn Dũng 10 – 1985

 

Vô Đề

Ta không dám nói thơ hay là nhờ có nhiều bi kịch

Nhưng thực tế bi kịch nhiều thơ viết rất hay

Tình lung lay – đời mưa mưa bay

Say cảnh đẹp núi sông hùng vĩ

Say những cuộc đời lúc hy sinh chưa kịp nghĩ…

…Mai sau ai là người của tương lai?

Văn Dũng 10 – 1985

 

NGƯỜI LÍNH VỀ THÀNH PHỐ

Tôi mang áo màu xanh đi lạc giữa phố phường

Lạc giữa tiếng cười chao nghiêng ánh điện

Những khóe mắt quầng thâm, những cặp mày lúng liếng

Chẳng xóa được nét buồn bầm chát trên bờ môi

Quê hương ơi! tuổi thơ ấu trong tôi

Vẫn vọng mãi lời ru xưa của mẹ

Nghe tiếng chim cu, buổi trưa hè bắt sẻ

Chợt nghĩ mình đã có một quê hương

Ấu thơ qua đi, tuổi trẻ  tôi lên đường

Đất gửi mẹ tình gửi người yêu dấu

Gửi thời gian những năm tháng vui buồn

Để mỗi lần khi nghĩ tới quê hương…

Văn Dũng    10 – 1985

+++

Ta thiếp đi trong mơ

Kỷ niệm xưa lại về

Bừng tỉnh dậy nắng vàng gọi tương lai

Con đò xưa qua sông còn nhớ bến vơi đầy

Người lính ba lô trên vai ra tiền tuyến

Khuất sau rặng tre già còn bao nỗi niềm thương

Và phía sau xa hơn là những tấm gương…

Soi riêng mình và chung tất cả

Văn Dũng 10 -1985

 

ký ức về bố và mẹ

67-a-1

                Nghệ Sỹ Văn Đồng

Sau ngày miền nam hoàn toàn giải phóng được vài năm thì Bố tôi về hưu.Nhưng cũng kể từ dạo đó, gia đình tôi cứ thỉnh thoảng lại có to tiếng giữa Mẹ tôi và bố tôi. Mỗi lần như thế, Mẹ tôi như 1 vị chỉ huy

Gia đình tôi là một trong những gia đình hồi cư sau cùng về thành phố.Bởi thế miếng đất gia đình tôi ở được khoảng 150m vuông trở lại. Chỉ đủ làm một cái nhà 2 gian và một cái bếp, còn lại phía sau khoảng vài luống rau và một lối đi nhỏ.Bố tôi là một người hiền lành phúc hậu.yêu thích vẻ đẹp thiên nhiên. Bởi thế đất thì chật nhưng ông vẫn cứ trồng đủ các loại hoa, cây cảnh.lại có đắp cả ngũ hành sơn bằng xỉ than và xi măng rất đẹp.

Còn Mẹ tôi là một người sạch sẽ,cẩn thận và nóng tính. Hơn nữa bao nhiêu năm chịu sở chịu khổ cho chồng công tác, bây giờ nhìn thấy hoàn cảnh gia đình, lắm lúc bà cũng không chịu nổi. có lần đi chợ về, trời đã nóng bức , nước nôi thành phố thì khan hiếm phải đi xin hàng xóm từng thùng một vì nhà không có giếng.Thế mà Bố tôi vẫn lấy nước đem tưới cho những khóm hoa.

Mẹ tôi cáu lên nói với bố tôi:

Ông sung sướng thật! liệu ông có nhịn khát suốt cả đời để mà tưới hoa được không? ông thử nhìn xem đất thì chỉ bằng cái lỗ mũi, cái nhà ông đã bằng cái cái bếp của người ta chưa?

Thế mà ông đang còn hoa với chả hòe, ông nghệ sỹ đi cho lắm vào. Ông thử nghĩ xem liệu có  gạo mà không có củi ông có thể có cơm mà ăn được không. Có bó rau thì còn phải có tý muối nữa chứ. Rồi cứ thế bao nhiêu vất vả khổ cực bà tuôn ra tất cả. còn Bố tôi ông vẫn bình tĩnh tưới nốt khóm hoa ở cuối góc nhà mà không hề nói một câu gì

Một lần khác,không phải Bố tôi đem gián những bức tranh ông vẽ lên phên nhà để che dấu sự nghèo nàn rách nát của gia đình mà chính là ông thích những hình thù cổ quái, mà tôi khó hiểu. Ông vẽ cái lưỡi của EDOP, rồi thằng còng làm thằng thẳng ăn, rồi cái đòn xóc hai đầu, con rắn 3 đầu.. còn có cả những bức tranh chống Tàu năm 1979 xâm lược nước ta ở biên giới.,có cả Bạch Đằng giang. Tất cả ông treo lên hết. còn căn nhà vốn đã chật chội, ông còn bày la liệt nào bát chén, bột màu rồi hàng nắm đũa ăn cơm ông bẻ ra làm bút vẽ. Tất cả những thứ đó có vẻ khác thường làm cho hàng xóm già , trẻ , gái trai bàn tán, và có người đi chợ đã nói đến tai Mẹ tôi thế là Mẹ tôi đùng đùng chạy về.

Về đến nhà nhìn thấy bột màu bừa bãi  khắp nền nhà, bát ăn cơm thì cái úp cái ngửa, ngổn ngang trông chẳng khác gì người điên đang làm trò hề cho thiên hạ, thế là Mẹ tôi đùng đùng chạy vào

Giời ơi là giời ! có khổ thân tôi không. Ông thật chẳng thương tôi chút nào cả, nắm đũa tôi vừa mua hôm qua mà bây giờ ông bẻ hết để làm bút. Không biết  ông vẽ những cái này để làm gì cơ chứ . tôi đã phải chịu khổ chịu sở, sớm hôm bòn mót từng xu, thế mà ông! ông thật phá của rồi Mẹ tôi lăn ra giường , khóc lóc kể lể chuyện từ xửa từ xưa đến nỗi lúc này Bố tôi không kìm được nữa, bằng vẻ hơi dận dữ ông nói : bà thì biết cái quái gì?

Nói vừa dứt lời, Mẹ tôi như một người bị điện dật bà bật dậy

À ! Ông bảo tôi không biết cái gì ở cái nhà này à.Đang trong cơn hằn học mẹ tôi tưởng bố tôi đã xúc phạm đến niềm tin yêu bấy lâu của mẹ tôi, thế là bà chạy lại đập tan hết bát chén , bột màu và xé hết tất cả tranh dán trên phên nhà rồi bà dõng dạc nói thật to: từ nay cha con ông cứ ôm nhau mà sống, rồi bà thu vén mấy bộ quần áo và ra đi

Từ hôm mẹ tôi đến ở nhà chị gái tôi Bố tôi ít nói hẳn. có lúc ông ngồi im hằng tiếng đồng hồ, ông chẳng nối gì hết. ông nhìn hết cái nóc nhà bị hở hoác do lâu ngày chưa sửa được, rồi  ông nhìn đến cột nhà, ông nhìn tất cả mọi thứ cứ tưởng chừng những thứ đó từ xưa tới nay bây giờ ông mới gặp. rồi có lúc như chẳng nhìn vào đâu cả, đôi mắt như mơ màng sâu thẳm với bao ý nghĩ trong cuộc đời.

Một hôm Bố tôi đang vẽ, tay trái cầm  chén rượu bỗng ông gọi tôi đến và bảo tôi ngồi xuống chiếc ghế đặt trước mặt ông rồi ông bất đầu nói: con đã bao giờ biết đau khổ chưa? Tôi đang lúng túng không ngờ bố tôi lại hỏi tôi câu đó, tôi đang suy nghĩ để trả lời thì Bố tôi lại nói tiếp.

Con người ta sinh ra phải biết thế nào là đau khổ và phải biết yêu thương. Chỉ có tình yêu thương con người mới cho ta ý nghĩa cuộc sống, rồi ông lấy những bức tranh ông vẽ đặt trước mặt tôi ông giảng giải..

Có một điều làm tôi chưa hiểu nổi . gần đây ông hay làm thơ làm rất nhiều bài.. rồi ông đọc cho tôi nghe một bài ông nói: bài này bố viết cho lời đề tựa những bức ảnh nghệ thuật của bố sắp triển lãm do sở văn hóa tỉnh tổ chức ( bố tôi là nghệ sỹ nhiếp ảnh )

( Bài thơ này tôi không muốn công bố )

Bố tôi đọc xong ông lại rót rượu vào chén, nhấp một tý bố tôi lại nói tiếp : Con ạ nhà ta nghèo khổ thật , nghèo đến nỗi trong nhà cái có giá trị về tiền  bạc là cái phích nước Trung Quốc 2,5 lít nhưng cái đó cũng là của chú Bổn em kết nghĩa của bố tặng hồi miền nam mới giải phóng. Nhưng mà bố rất mừng, con có biết vì sao không?

Thứ nhất là các con mạnh khỏe, học giỏi và biết yêu lao động. thứ hai là suốt mấy mươi năm gắn liền với chiếc máy ảnh Bố cũng  đã có những tác phẩm được giải thưởng ở các cuộc triển lãm ảnh toàn quốc, và ở cộng hòa dân chủ Đức. thứ 3 là .. nói đến đây như có một cảm xúc mãnh liệt đang trào dâng trong tình cảm của bố tôi, ông nói

Bố  có một kỷ niệm và vinh dự mà suốt đời Bố không bao giờ quên  được đó là hai lần Bác Hồ về thăm quê hương. Bố là người được vinh dự đi chụp ảnh phục vụ Bác Hồ.có lần Bác Hồ thấy Bố chụp ảnh say mê Bác Hồ nói với Bố : chú chụp ảnh say mê lắm, chú lại đây chụp chung với Bác một kiểu. nói đến đây bố tôi như nghẹn ngào khó thở vì cảm xúc .Bố tôi không khóc mà nước mắt cứ trào ra. Lúc này tôi có thể đoán chắc Bố tôi đang nghĩ về Bác Hồ.

Một lúc sau với cái vẻ mệt nhọc bố tôi rút cái khăn tay trong túi quần ra và lau những giọt nước mắt còn đọng trên gò má rồi ông nói để Bố đi nghỉ một tý..

Văn Dũng 1985

Dũng at 09/27/2012 03:00 pm comment

cám ơn Đồng Quê đã ghé thăm và cảm nhận. hy vọng chúng ta sẽ cùng nhau chia sẻ trao đổi nhiều

ĐỒNG QUÊ at 09/26/2012 11:17 pm comment

Bức chân dung của cụ thật đẹp .Chất nghệ sỹ đong đầy trong mắt, hiền từ và nhân hậu .

quynhmai112005 at 09/17/2009 02:49 pm comment

Tôi luôn nhớ mãi hình ảnh một ông già râu tóc bạc phơ, làm thơ uống riệu và cho bạn riệu một cái cây. Nhưng khi ban đào cây thì lại bảo “thàng nào đào cây của tao đấy” Chúc gia đình luôn khoẻ

Nguyen Trong Tao at 09/15/2009 05:01 pm comment

Dũng ơi, hồi cụ Đồng mất, anh viếng muộn. Hôm đó anh cũng Phan Hồng Khánh, Trần Khánh… đi bộ đến mộ thắp hương cho cụ, và anh đã rót cả chai rượu lên mộ cụ, vì thương cụ quá. Khi uống rượu vui vẻ, thường đọc bài thơ Đường luật của cụ, rất vui. Anh còn nhớ  mấy câu: Rượu trắng rượu mùi uống tựa bơi Tranh gián trên tường trăm vạn nét Kể chi dưới bếp một đôi lời…   Anh đã đọc thơ của Dũng. Thơ Dũng chân thành mộc mạc và có tình, .Đọc cái đoạn hồi ký này, anh lại thấy xúc động hơn đọc thơ của em. Nếu em viết được nhiều thì cứ viết thoải mái nhé.   Chúc em và gia đình mạnh khỏe. Nhờ em thắp giùm anh nén hương cho các cụ.

 

+++

Ta cứ yêu nhau nhưng xin đừng hẹn ước

Để mỗi phút hờn qua, mãi mãi vẫn yêu

Ta cứ yêu nhau, hãy yêu tròn một nửa

Đễ một nửa mai sau hai đứa mãi theo tìm

+++

Trăng đã lặn tình còn lưu luyến quá

Sương trắng bay che khuất lối anh về

Anh không đi mà cũng chẳng quay về

Cứ ở lại bên tình em say đắm…

Văn Dũng

Tình Biển

Ta nhẹ nhàng in dấu chân vào cát

Sóng biển dịu dàng xóa lấp dấu chân ai

ai đau buồn ai mặn chát vì ai?

Biển vẫn vậy ngàn năm như số phận

Ta tiếc nối ngày xưa , khi đất trời ưng thuận

Không cưới biển về để chỉ mỗi riêng ta

Để đền ngày nay sóng cũng xô đẩy ta

Chút hoài niệm cũng mờ dần trên bãi cát

Nhưng Ta biết

dẫu mênh mông, biển vẫn còn khao khát

Khúc tình đầu khi bạc sóng đêm đông..

Biển và Ta…..

Văn Dũng

Đa Tình

Người ta  thường gọi tôi

Cái anh chàng mộng mơ, đa tình lãng mạn

Và thú thực các bạn

Tôi mộng mơ như tất cả trên đời

Tôi đa tình vì mọi người sống trong tôi

Tôi chia sẻ niềm vui hay nỗi khổ

Và tất cả các bạn trên đời

Nếu một ai trong đó

Khi lìa đời còn nhớ nhắc tên tôi

Thì tất cả các bạn ơi!

Tôi phải sống, phải mộng mơ, đa tình lãng mạn

Vì tôi biết thế giới phải chôn vùi súng đạn

Cái mộng mơ , đa tình vẫn sống mãi muôn nơi

Văn Dũng

Diễu Đời

Đời thì thích khen mà tôi thì không khéo

Dẫu thiên đường, địa ngục hay trần gian

Có đến cả triệu năm , chưa nơi nào là chật cả

Chỉ đổi chỗ cho nhau

Ma quỉ ngự “thiên đường”

Thánh thần rơi vào “địa ngục”

Nắm rau lang trong nhà hàng đã trở thành món ăn đặc sản

Nụ cười chỉ là cái áo khoác ngoài của  những nỗi đau

Đừng lo chi một chỗ đứng nơi nhân tình thái thế

Ngoài kia biển rộng , sông dài còn nhiều nỗi đau

Hãy cứ thử một lần thôi nhé

Chia vui sẻ ngọt với cơ cầu…

Văn Dũng

Nghĩ Về Một Thời

7

Đã một thời tuổi trẻ đi qua

Trang giấy trắng chỉ viết lời kỷ niệm

Mái tóc màu xanh đã gửi vào dĩ vãng

Trên những cánh rừng với những nẻo đường xa

Tuổi hai mươi, ánh mắt – nụ cười hoa

Người để lại trên tuyến đường máu lửa

Nét ngực , bờ vai chuyện tình đôi lứa

Người gói vào áo trấn thủ mùa đông

Gót chân son với đôi má ửng hồng

Người gửi cả vào những ngày gian khó

Mưa bụi Trường Sơn hòa cùng máu đỏ

Bức tranh hồng,  khát vọng một tương lai

++

Chiến tranh qua đi ,ký ức tưởng mờ phai

Hạnh phúc đến lấp đầy bao khoảng trống ?

Cánh vai gầy gánh bao niềm hy vọng

Đội thời gian lên mái tóc điểm sương

Đáy mắt buồn ẩn chứa một làn hương

Khắc tuyệt vọng dưới làn da nâu sạm

Đời chỉ có dăm ba người bạn

Đứa ngược xuôi tất tưởi kiếm tý chồng

Đứa chèo đò , đếm con nước đục trong

Người lạc giữa tiếng nhạo cười góc phố

Thôi mặc đời ! ta có còn chi nữa

Gói vào trong áo trấn thủ mùa đông

Gói vào trong da sắt và xương đồng

Cái tê tái của một thời tuổi trẻ

Văn Dũng

Chia Xa

Đừng có khóc anh chỉ xa một tý

Cho tình thêm nồng

Cho nỗi nhớ đầy vơi

Cho hai ta – thêm khao khát khoảng trời

Để nỗi nhớ hóa thành kỷ niệm đẹp

Em biết không thế gian này rất hẹp

Bước chân buồn gõ nhịp trong lòng anh

Dẫu chia xa nhưng giọt mắt long lanh

Anh vẫn hướng về một đầu nỗi nhớ

Thôi đừng em ! biển ngoài kia sóng vỗ

Mây trên trời gió lại đẩy lên cao

Anh sẽ về cho em thỏa ước ao

Văn Dũng

ĐIỀU MUỐN NÓI

Tôi đã từng yêu thơ

Và cũng biết làm thơ

Từ khi còn nhỏ tuổi

Nhưng mà chưa muốn nói

Vì cuộc chiến chưa xong

Chưa biết được đục trong

Chỉ thấy toàn hương khói

Nên tôi đem cất gói

Tận sâu kín đáy lòng

Tôi đã từng làm thơ

Năm lên mười tám tuổi

Mắt soi rõ đục trong

Là những điều muốn nói

Sâu kín tận đáy lòng

Những vần thơ buồn tủi

Văn Dũng

 

KHÔNG TÊN

Những quả đồi không tên

Những ngôi mộ không tên

Quanh năm chịu mưa gió

Xói mòn bia đá nhỏ

Thành những hình mũi tên

Những quả đồi không tên

Là những cây cung nhỏ

Những bia đá không tên

Hóa thành những mũi tên

Sẽ bắn vào quá khứ

Khắc vào trong lịch sử

Những linh hồn uẩn quanh

Dưới trang bìa màu xanh

Là những hàng chữ đỏ

Bao người nằm trong đó

Cho đất nước yên lành

Văn Dũng

 

Lưu lại một chút cảm nhận

 

Cảm xúc

 

01:41 18 thg 7 2009 bài viết của : Violetbaongoc

Đã vào mùa mưa rồi.

Mấy hôm nay mưa hoài, mưa hoài, ngày nào cũng có mưa.

Mưa đánh thức chồi non thức dậy & mưa cũng đánh thức nỗi buồn trong tôi, một nỗi buồn man mát, nhẹ nhàng, êm dịu, vu vơ. Sao tự nhiên lòng bỗng thấy nao nao, kỳ lạ thật ?

Tối nay, ngồi nhìn mưa rơi, lắng nghe tiếng mưa lộp bộp, lộp bộp trên mái nhà, trên những nhành cây xung quanh, bỗng thấy nhớ ai đó ?.

Mưa thật buồn, nhưng tôi vẫn thích trời mưa. Tôi yêu mưa từ thuở còn thơ cắp sách tới trường & cho đến bây giờ, tình yêu đó vẫn không bị thời gian làm phai mờ trong tâm trí. Tôi yêu mưa, yêu cỏ cây hoa lá, yêu những buổi bình minh ửng hồng tuyệt đẹp, khi ánh nắng còn chưa gay gắt mà chỉ dịu nhẹ, mỏng manh như những sợi tơ vàng. Tôi yêu những chiều hoàng hôn tím nhạt bâng khuâng……….. Ôi ! Tạo hóa thật kỳ diệu.

Có những tác phẩm của trời đất thật tuyệt diệu mà con người không thể vẽ được.

Tôi yêu thiên nhiên lắm, thiên nhiên ơi !

 

bình luận của

 

Dũng14:18 18 thg 7 2009

 

bài viết đầy chất thơ, người bình cũng đầy thơ.( những bình luận của bạn bè  Violet )- thôi thì không dám làm thơ mà chỉ có đôi chút cảm lòng trước áng văn giản dị mà thắm thiết… cái cảm giác đứng trước bình minh sau cơn mưa, khi ánh nắng còn dịu nhẹ, mỏng manh như những sợi tơ vàng.

ôi thật tuyệt vời ! anh chưa được nghe ai nói về một buổi bình minh đẹp đến như thế.có lẽ trước cái bình minh dịu dàng mà như huyền ảo ấy con người như lạc vào cõi mộng. mọi nỗi ưu phiền, cực nhọc đã tan biến, nhường chỗ cho một cảm xúc trào dâng về hạnh phúc của con người. những khát khao ước vọng như được hòa quyện vào một không gian trữ tình đầy màu sắc. không một khúc hát, không một lời ca. nhưng ở đó cái buổi bình minh vẫn cứ ngân ca một âm hưởng bình yên, thơ mộng nhẹ nhàng và mỏng manh. cái thời khắc không mấy ai tìm lại cho mình như một giấc mơ dễ dàng tan biến. – một hoàng hôn tím nhạt, bâng khuâng như ai đó đợi chờ cho cả ngàn năm trong một khoảnh khắc. cái màu tím dễ thương như cất giữ của ta biết bao hoài niệm. một thời , một đoạn đời hay quá khứ. màu tím hoàng hôn như nhắc nhở bao trái tim đã yêu và đang yêu hãy gìn giữ……

 

MẢNH HỒN QUÊ

EcdkpwdDdcngmBMiYNMXKA

Tranh Lâm Chiều Đông
Chiều sóng sánh vàng rơi trên bến cũ

Khóm dừa già ưỡn ngực hứng vàng rơi

Bến sông quê ai tung lưới lên trời

Ôm kỷ niệm vào lòng thuyền –  nỗi nhớ

Người xa quê ai mà không trăn trở

Mảnh hồn làng, một thuở khó mờ phai…

Văn Dũng

 


KHAO KHÁT
Trời chuyển vào xuân
Cây bàng trút dần
Từng chiếc lá nhỏ
Hỡi em gái nhỏ
Chơi dưới gốc bàng
Thấy gì trong đó
từng chiếc lá nhỏ
Từng mảnh thời gia
Đang bay theo gió
Như màu máu đỏ
Máu của cha anh
Sống hết thời xanh
Cho đời bóng mát
Chiều nay rào rạt
Lá đã lìa cành
Vẫn còn khao khát
Trong trái tim mình
Cho đời bóng mát
Cho đời màu xanh
                               Văn Dũng 1996


Hai Con Lợn

Có hai con lợn được ông chủ nuôi chung một chuồng, cho ăn chung một máng, nhưng có một con rất tham ăn. Vì muốn ăn được nhiều hơn , con lợn tham ăn bèn nghĩ ra một kế, và nói với anh bạn lợn.
Cái miệng anh duyên dáng lắm, giá mà mọi người được ngắm anh, nhất là những lúc anh đang ăn,cái miệng sao mà duyên đến thế,Từ tốn ,thong dong và lịch lãm quá. Anh bạn lợn kia tưởng thật , thế là mỗi lần chủ nhà cho ăn, anh lợn tham ăn được những bữa no nê và ngày càng chóng lớn hơn. Nhưng bỗng một hôm vào ngày tháng chạp ( 12 ) đúng vào lúc gà vừa gáy canh 3, cũng là lúc hai anh lợn tỉnh giấc, và cùng lúc đó cả hai anh lợn nghe có tiếng xì xào bàn tán, rồi ông chủ nhà lớn tiếng!
Hãy giết con lợn to , cái thủ đem sang nhà gái…
Anh lợn tham ăn chỉ kịp nghe đến thế rồi nấc lên mấy tiếng, trong lòng ân hận cho tính tham ăn của mình nhưng không kịp nữa rồi,chủ nhà đã đem giây rọ ra chuồng 



Con Chó và Chủ Nhà

Mỗi lần nghe chó sủa rất dai, chủ nhà đều thức dậy,và lần nào cũng may là có kẻ trộm sắp đào nhà. Mỗi lần như vậy chủ nhà lại thưởng cho chó một đùm cơm. Thấy vậy liền mấy đêm sau chó ta càng sủa dai thêm, và mấy lần đều không có kẻ trộm đào nhà , nhưng chủ nhà vẫn thưởng cho chó như những lần trước.

Đến đêm sau tiếp đã quá nửa đêm mà chó vẫn sủa dai ghê gớm. Thấy vậy chủ nhà tay cầm khúc gỗ rón rén mở cửa bước ra nhưng chẳng thấy tên trộm nào cả. Bực mình vì quá mất ngủ, sẵn khúc gỗ trong tay chủ nhà phang luôn vào con chó. Từ đó vì sợ hãi chó ta chỉ thui thủi trong một xó nhà.

Nhưng rồi một hôm tối trời có kẻ trộm rình nhà, nhưng chó ta lại sợ chủ nhà mất ngủ, sợ bị trận đòn oan nên chẳng thèm kêu lên một tiếng. Thế là sáng hôm sau chủ nhà phát hiện thấy mất trộm và chó ta lại bị một trận đòn khiếp vía đến nỗi không dám quay về nhà nữa

 

BodhiDharmaORIGINAL

TUYỆT QUÁN LUẬN


 
       Thô là câu hỏi.
       Duyên Môn xin quyết.
       Chú là lời Đáp,
       Nhập Lý trừ nghi,
       Đó gọi là Tuyệt Quán Luận.
    
I
Xét về Đại Đạo vốn rỗng thênh như hư không, lặng lẽ, sâu xa vi diệu, chẳng thể dùng tâm lĩnh hội, chẳng thể dùng lời tỏ bày. Nay tạm lập ra hai người cùng bàn nhau về chân thật: Thầy tên Nhập Lý, trò hiệu Duyên Môn.
Lúc ấy, Thầy Nhập Lý im lặng không nói năng, Duyên Môn chợt dấy lên hỏi thầy Nhập Lý:
Thế nào gọi là tâm? Thế nào là an tâm?
Đáp: Ông chẳng cần lập tâm, cũng chẳng cần gượng an, chính là an vậy.
Hỏi: Nếu không có tâm, làm sao học đạo?
Đáp: Đạo chẳng phải tâm niệm, đâu ở nơi tâm.
Hỏi: Nếu chẳng phải tâm niệm, sẽ lấy cái gì niệm?
Đáp: Có niệm tức có tâm, có tâm tức trái đạo. Không niệm tức không tâm, không tâm tức đạo chân thật (chân đạo)
Hỏi: Tất cả chúng sanh thật có tâm chăng?
Đáp: Nếu chúng sanh thật có tâm tức là điên đảo. Chỉ vì trong không tâm lập có tâm bèn sanh vọng tưởng.
Hỏi: Không tâm thì có vật gì ?
Đáp: Không tâm tức không vật, không vật tức thiên chân (chân thật vốn sẵn có), thiên chân tức Đại đạo.
Hỏi: Chúng sanh vọng tưởng làm sao diệt được ?
Đáp: Nếu thấy vọng tưởng và thấy diệt là chẳng lìa vọng tưởng.
Hỏi: Chẳng khiến cho diệt, có được hợp đạo lý chăng ?
Đáp: Nếu nói hợp và chẳng hợp cũng chẳng lìa vọng tưởng.
Hỏi: Khi ấy thế nào ?
Đáp: Chẳng khi ấy.
*****
II
Duyên Môn hỏi:
Nói là Thánh nhân, chính đoạn pháp gì, chính được pháp gì mà nói là Thánh ?
Nhập Lý Đáp:
Chẳng đoạn một pháp, chẳng được một pháp, tức là Thánh.
Hỏi: Nếu chẳng đoạn chẳng được đâu khác với phàm?
Đáp: Chẳng đồng. Tại sao? Tất cả phàm phu vọng có cái bị đoạn, vọng có cái để được.
Hỏi: Nay nói phàm có cái để được, Thánh không cái để được, song được và chẳng được có gì khác ?
Đáp: Phàm có cái để được tức có hư vọng. Thánh không cái để được tức không hư vọng. Vì có hư vọng nên có luận đồng, chẳng đồng. Vì không hư vọng nên không có khác, chẳng khác.
Hỏi: Nếu không có khác, đâu lập tên Thánh?
Đáp: Phàm phu và Thánh nhân, cả hai đều là tên, trong tên không có sai khác. Như nói lông rùa, sừng thỏ.
Hỏi: Nếu Thánh nhân đồng với lông rùa sừng thỏ, lẽ ra là hoàn toàn không có, vậy khiến người học vật gì?
Đáp: Ta nói không lông rùa, chẳng nói rùa cũng không. Cớ sao ông lập ra lời gạn hỏi này!
Hỏi: Không lông dụ vật gì ? Rùa dụ vật gì?
Đáp: Rùa dụ cho Đạo, lông dụ cho ngã. Bởi vậy Thánh nhân không ngã mà có Đạo, nhưng kẻ phàm phu kia thì có ngã, có tên, như chấp bướng có lông rùa sừng thỏ.
Hỏi: Nếu như thế, lẽ ra Đạo là có, ngã là không. Nếu là “có không”, đâu chẳng phải cái “thấy có không” ?
Đáp: Đạo chẳng phải có, ngã chẳng phải không. Tại sao? Vì rùa chẳng phải trước không nay có nên chẳng nói có, lông chẳng phải trước có nay không nên chẳng nói không. Đạo và ngã ví theo đó có thể biết.
Hỏi: Người cầu đạo, là một người được chăng? Hay nhiều người được? Hay từng người được? là cùng chung có chăng? Hay xưa nay sẵn có? Hay tu hành thành được ?
Đáp: Đều chẳng đúng như lời ông nói. Tại sao? Nếu một người được, Đạo tức có cùng tận. Nếu nhiều người được, Đạo tức có số lượng. Nếu cùng chung được, phương tiện tức thành rỗng. Nếu xưa nay sẵn có, muôn hạnh luống lập bày. Nếu tu hành mà thành, là tạo tác chẳng phải chân thật.
Hỏi: Rốt ráo thế nào?
Đáp: Lìa tất cả căn lượng, phân biệt, tham muốn.
*****
III
Duyên Môn hỏi :
Phàm phu có thân cũng thấy, nghe, cảm giác, biết ; Thánh nhân có thân cũng thấy, nghe, cảm, biết, vậy trong đó có gì khác ?
Đáp: Phàm phu mắt thấy, tai nghe, thân cảm, ý biết; Thánh nhân tức chẳng vậy, thấy chẳng phải mắt thấy, cho đến biết chẳng phải ý biết. Tại sao ? Vì vượt qua căn lượng.
Hỏi: Cớ sao trong Kinh lại nói Thánh nhân không thấy nghe cảm biết ?
Đáp: Thánh nhân không thấy nghe cảm biết của phàm phu, chẳng phải không cảnh giới Thánh, chẳng bị nhiếp thuộc trong có không, vì lìa phân biệt.
Hỏi: Phàm phu thật có cảnh giới phàm chăng?
Đáp: Thực không vọng có, xưa nay lặng lẽ, chỉ bị hư vọng chấp trước liền sanh điên đảo.
Hỏi: Con chẳng hiểu thế nào là Thánh thấy chẳng phải mắt thấy, Thánh biết chẳng phải ý biết ?
Đáp: Pháp thể khó thấy, thí dụ có thể biết: Như huyền quang( ) soi vật, dường như có chiếu và bị chiếu, mà chẳng phải có con mắt hay chiếu. Lại như âm dương đợi vật, tợ có biết, bị biết, mà chẳng phải có ý hay biết.
*****
IV
Duyên Môn hỏi :
Rốt ráo Đạo thuộc ai?
Đáp: Rốt ráo không chỗ thuộc, như hư không, không chổ nương. Nếu Đạo có hệ thuộc tức có ngăn, có mở, có chủ, có gá (khách).
Hỏi: Thế nào là gốc của Đạo, Thế nào là dụng của pháp ?
Đáp: Hư không là gốc của Đạo, sum la là dụng của pháp?
Hỏi: Trong đó ai tạo tác?
Đáp: Trong đó thực không người tạo tác, tánh pháp giới tự nhiên.
Hỏi: Chẳng phải do nghiệp lực chúng sanh làm ra sao?
Đáp: Bởi người thọ nghiệp, rồi bị nghiệp cột trói, tự nhân mình chứ không do đâu. Nào có rảnh mà đi kết dính biển, gom chứa núi, sắp đặt trời đất.
Hỏi: Vốn nghe Bồ Tát có ý sanh thân, đâu chẳng do sức thần thông ư?
Đáp: Phàm phu có nghiệp hữu lậu, Thánh nhân có nghiệp vô lậu, tuy nghiệp đó cóù hơn kém sai khác, do vì chưa phải đạo tự nhiên. Vì vậy nói “mọi thứ ý sanh thân, ta nói là tâm lượng”.
Hỏi: Đã nói KHÔNG là gốc của Đạo, KHÔNG là Phật chăng?
Đáp: Đúng vậy.
Hỏi: Nếu là KHÔNG, sao Thánh Nhân chẳng khiến chúng sanh niệm KHÔNG mà khiến niệm Phật?
Đáp: Vì chúng sanh ngu si mới dạy cho họ niệm Phật. Nếu bậc có đạo tâm, tức khiến quán thật tướng của thân, quán Phật cũng vậy. Nói thật tướng đó, tức là KHÔNG, không tướng.
*****
V
Duyên Môn hỏi :
Vốn nghe ngoại đạo cũng được năm thần thông, Bồ Tát cũng được, vậy có khác gì với họ ?
Nhập Lý Đáp :
Chẳng đồng. Tại sao? Ngoại đạo cho là có người hay được, Bồ Tát tức chẳng vậy, vì rõ suốt vô ngã.
Hỏi: Từ lúc đầu, người mới học nhập lý chưa trọn, hơi chứng chân như, biết chút diệu lý, cùng với ngoại đạo được năm thần thông, bên nào hơn ?
Đáp: Trước nhận lấy nhập lý hơi chứng, đâu cần họ đạt đến năm thần thông.
Hỏi: Nếu người được năm thần thông, sẽ được đời tôn quý, được đời kính trọng, biết trước việc chưa đến, lại biết việc đã qua, tự ngăn ngừa tội lỗi phạm phải, đâu chẳng hơn sao ?
Đáp: Chẳng đúng. Tại sao? Tất cả người đời phần nhiều tâm chấp trước tuớng, tham duyên theo sự nghiệp, xoay ngược điều ngụy làm loạn chân thật; dù họ có thần thông của Thắng Ý, biện tài của Thiện Tinh, nếu chẳng rõ biết lý thật tướng đều chẳng khỏi bị nạn đất rút.
*****
VI
Duyên Môn hỏi :
Đạo, chỉ riêng ở trong thân hình linh tánh chăng ? Hay cũng ở trong cỏ cây chăng?
Nhâp Lý Đáp :
Đạo không chổ nào chẳng khắp.
Hỏi: Nếu Đạo trùm khắp, cớ sao giết người thì có tội, giết cỏ cây không tội?
Đáp: Nói tội, chẳng tội đều là y cứ trên tình, theo sự, chẳng phải chánh Đạo. Chỉ vì người đời chẳng đạt đạo lý, vọng lập có ngã thân, giết tức có tâm, tâm kết thành nghiệp, tức nói là tội. Cỏ cây vốn vô tình, xưa nay hợp đạo, bởi lý là vô ngã; Vì vậy người giết chẳng suy tính, tức chẳng luận tội và chẳng tội. Bởi người vô ngã hợp đạo, nhìn thân hình như cỏ cây, bị chặt như cây rừng; nên Ngài Văn Thù cầm kiếm bức Cù Đàm, ông Ương Quật cầm đao đâm họ Thích, đây đều hợp đạo, đồng chứng bất sanh. Vì rõ biết huyễn hóa, rỗng không nên chẳng luận tội và chẳng tội.
Hỏi: Nếu cỏ cây lâu nay đã hợp đạo, cớ sao trong kinh chẳng thọ ký cỏ cây thành Phật, chỉ riêng thọ ký cho người?
Đáp: Chẳng phải chỉ riêng thọ ký cho người, cũng thọ ký cho cỏ cây. Kinh nói: “Trong một hạt bụi gồm đủ tất cả pháp”. Lại nói : “Tất cả pháp cũng Như, tất cả chúng sanh cũng Như. Như không hai không sai khác”.
*****
VII
Duyên Môn hỏi :
Như thế lý rốt ráo KHÔNG, sẽ chứng ở đâu?
Nhập Lý Đáp :
Chính ở trong tất cả sắc mà cầu, ở trong lời chính mình mà chứng.
Hỏi: Thế nào chính ở trong tất cả sắc mà cầu? Ở trong lời chính mình mà chứng? Thế nào là trong sắc cầu? Thế nào là trong lời mà chứng ?
Đáp: Không và sắc hợp nhất, lời và chứng không hai.
Hỏi: Nếu tất cả pháp KHÔNG, vì sao Thánh thì thông, phàm thì bít?
Đáp: Vì vọng động nên bít, vì chân thật yên lặng nên thông.
Hỏi: Đã là thật KHÔNG, vì sao chịu huân? Nếu đã chịu huân đâu thành KHÔNG.
Đáp: Nói vọng đó, là bất giác chợt khởi, bất giác chợt động; thực ra trong thể KHÔNG, không có một pháp chịu huân.
Hỏi: Nếu thật KHÔNG, tất cả chúng sanh tức chẳng tu đạo. Tại sao? Vì là tánh tự nhiên?
Đáp: Nếu tất cả chúng sanh hiểu rõ lý KHÔNG, thật cũng chẳng còn tu đạo; chỉ vì đối với KHÔNG, chẳng KHÔNG mà sanh ra mê lầm (hoặc).
Hỏi: Nếu như thế, lẽ ra lìa mê lầm có Đạo, làm sao nói tất cả chẳng phải Đạo ?
Đáp: Chẳng đúng. Chẳng phải mê lầm tức là Đạo, chẳng phải lìa mê lầm là Đạo.Tại sao? Như người đang say chẳng phải tỉnh, đang tỉnh chẳng phải say. Song chẳng lìa say có tỉnh, cũng chẳng phải say tức là tỉnh.
Hỏi: Nếu người đang tỉnh, đẩy cái say đi đâu?
Đáp: Như trở bàn tay, nếu khi đang trở tay, chẳng nên hỏi cái tay ở đâu.
*****
VIII
Duyên Môn hỏi :
Nếu người chẳng đạt lý này, có được nói pháp, giáo hóa chúng sanh chăng ?
Nhập Lý Đáp :
Chẳng được. Tại sao ? Mắt mình chưa sáng, đâu trị được mắt người.
Hỏi: Theo sức trí của mình, phương tiện giáo hóa cho họ, đâu chẳng được sao ?
Đáp: Nếu người đạt đạo lý, có thể gọi là sức trí. Nếu chẳng đạt đạo lý, gọi là sức vô minh. Tại sao? vì giúp thêm sức mạnh cho phiền não chính mình.
Hỏi: Tuy nhiên, chẳng thể đúng như lý giáo hóa người, nhưng tạm dạy chúng sanh tu hành năm giới và mười điều lành, đặt yên nơi trời người, đâu chẳng lợi ích sao ?
Đáp: Tột lý không lợi ích, lại chuốc hai điều tổn. Tại sao ? Vì tự vùi lấp mình và vùi lấp người. Tự vùi lấp mình, nghĩa là tự ngăn ngại với Đạo. Vùi lấp người, nghĩa là chẳng ra khỏi luân hồi trong sáu thú.
Hỏi: Thánh nhân đâu chẳng nói có năm thừa sai khác ư ?
Đáp: Thánh nhân không tâm nói pháp sai khác, chỉ vì tự tâm chúng sanh kia mong mỏi mà ứng hiện ra. Cho nên Kinh nói: “Nếu tâm kia dứt sạch thì không thừa và người thừa, không có thừa dựng lập, ta nói là nhất thừa”.
*****
IX
Duyên Môn hỏi :
Vì sao người chân thật học đạo, chẳng bị người khác rõ, chẳng bị người khác biết?
Đáp: Vật quý báu, chẳng phải là chổ kẻ nghèo khó biết được; người chân thật, chẳng phải là chổ bọn tà ngụy biết được.
Hỏi: Ở đời có người dối trá, chẳng theo chánh lý, bên ngoài hiện oai nghi, mà chuyên ròng nơi sự nghiệp, phần nhiều nam nữ gần gủi nhau, là sao ?
Đáp: Như dâm nữ mời gọi bọn trai, thịt thối nhử bọn ruồi, đây là do danh lợi khiến như thế.
*****
X
Duyên Môn hỏi :
Thế nào Bồ Tát thực hành phi đạo là thông đạt Phật đạo ?
Đáp: Không phân biệt thiện ác.
Hỏi: Sao gọi là không phân biệt ?
Đáp: Đối pháp chẳng sanh tâm.
Hỏi: Đâu không tác giả ư ?
Đáp: Chẳng phải có hay không tác giả ?
Hỏi: Chẳng hiểu biết ư?
Đáp: Tuy biết mà không ngã.
Hỏi: Không ngã, đâu có biết?
Đáp: Biết cũng tự không tánh.
Hỏi: Nói ngã, có gì ngại?
Đáp: Biết là tên cũng chẳng ngại, chỉ e trong tâm có sự.
Hỏi: Có sự có gì ngại?
Đáp: Không ngại tức không sự, không sự hỏi cái gì ngại!
Hỏi: Nếu lựa ra có sự, nhận lấy không sự, làm sao gọi thực hành phi đạo?
Đáp: Thực ra không sự, ông gượng khiến người sanh sự để làm thành vật gì.
Hỏi: Có nhân duyên được sát sanh chăng?
Đáp: Lửa hoang đốt núi, gió mạnh thổi gãy cây, núi lỡ đè thú, nước tràn làm trôi trùng, tâm đồng như thế thì cả người cũng giết được. Nếu có tâm do dự, thấy sống, thấy giết, trong đó chưa hết tâm có, dẫu đến con kiến cũng buộc mạng ông.
Hỏi: Có nhân duyên được trộm cướp chăng?
Đáp: Ong nhặt hoa dưới ao, chim sẻ ngậm thóc trên sân, trâu ăn đậu bên đầm, ngựa nhai lúa ngoài đồng; rốt ráo không khởi cái hiểu vật khác, thì cả núi non cũng bưng lấy đi được. Nếu chẳng như thế, dẫu đến ngọn kim, sợi chỉ, chiếc lá cũng buộc cổ ông làm tôi tớ.
Hỏi: Có nhân duyên được hành dâm chăng?
Đáp: Trời che đất, dương hợp âm, nhà xí thừa tiếp từ trên lọt xuống, suối đỗ vào khe; tâm đồng như thế thì tất cả chỗ làm đều không ngăn ngại. Nếu tình sanh phân biệt, dẫu đến vợ nhà cũng làm ô nhiễm tâm ông.
Hỏi: Có nhân duyên được nói dối chăng?
Đáp: Thốt lời mà không chủ, nói ra mà không tâm, tiếng đồng chuông vang, hơi đồng tiếng gió. Tâm đồng như thế thì nói Phật cũng là không. Nếu chẳng như thế, dẫu đến khen Phật cũng là nói dối.
*****
XI
Duyên Môn hỏi:
Nếu chẳng còn thân kiến, làm sao đi, đứng, ngồi, nằm?
Đáp: Chỉ đi, đứng, ngồi, nằm, đâu cần lập thân kiến.
Hỏi: Đã chẳng còn thân kiến, có được suy nghĩ nghĩa lý chăng?
Đáp: Nếu chấp có tâm, chẳng suy nghĩ cũng có. Nếu rõ không tâm, dù suy nghĩ cũng không. Tại sao? Ví như thiền sư ngồi yên mà dấy lo nghĩ, còn gió mạnh loạn động mà không tâm.
*****
XII
Duyên Môn hỏi:
Nếu có người mới học đạo, chợt gặp nhân duyên, người khác đến làm hại, làm sao đối trị cho hợp đạo?
Đáp: Toàn thể chẳng cần đối trị, tại sao? Cái có thể tránh thì hãy tránh đi, cái không thể tránh cứ để mặc nó. Cái có thể nhẫn thì hãy nhẫn, cái không thể nhẫn thì khóc.
Hỏi: Nếu khóc đâu khác gì với người có ngã kiến?
Đáp: Như chày dộng chuông, tiếng nó tự nhiên phát ra đâu hẳn là có ngã. Nếu ông cố gượng chết để kiềm tâm, nghiến răng chịu đựng, đây chính là còn cái NGÃ rất to.
Hỏi: Sự buồn khóc của người, trong đó có tình động, đâu đồng tiếng chuông vang?
Đáp: Nói đồng và chẳng đồng, chỉ là ông đa sự, vọng tưởng nghĩ lường mà khởi lời hỏi ấy. Nếu không tâm phân biệt thì thể đạo tự nhiên.
Hỏi: Tôi nghe thánh nhân thì binh chẳng làm tổn thương, khổ chẳng làm cong khuất, sắc chẳng thọ, tâm chẳng động, đây nghĩa là sao?
Đáp: Nếu rõ tất cả pháp là vô ngã, thì tiếng và chẳng tiếng, động và chẳng động đều hợp đạo lý, không ngăn ngại.
*****
XIII
Duyên Môn hỏi:
Con thấy có người học đạo, phần nhiều chẳng chuyên ròng giữ giới, chẳng chăm lo gìn giữ oai nghi, chẳng giáo hóa chúng sanh, cứ mặc tình thoải mái, là ý gì?
Đáp: Muốn quên tất cả tâm phân biệt, muốn dứt tất cả kiến chấp có; tuy tợ mặc tình thoải mái mà bên trong thực hành không gián đoạn.
Hỏi: Người tu hành như trên, bèn sanh cái thấy trẻ con cho người khác, làm sao nói dứt kiến chấp?
Đáp: Chỉ dứt kiến chấp của ông, đâu lo gì người khác sanh. Ví như con cá thoát khỏi vực sâu, đâu lo gì người bắt hiềm trách.
Hỏi: Như thế, tức lợi mình, tổn người, đâu gọi là bậc Đại sĩ ?
Đáp: Nếu kiến chấp của ông chẳng sanh, họ tức chẳng sanh. Nay ông lo xa người khác sanh, chính là tự sanh, chẳng phải người khác sanh.
Hỏi: Bên trong thông suốt lý đại thừa, bên ngoài hiện oai nghi tiểu thừa, đâu tổn hại gì đối với pháp?
Đáp: Nay ông cố muốn cho ông già làm trẻ con đùa, đâu ích gì đối với lý!
Hỏi: Như thế bậc Đại sĩ dứt kiến chấp, người nào hay biết được?
Đáp: Người chứng mới rõ, người thực hành mới hay nhận biết.
Hỏi: Bậc đại sĩ như trên cũng hay giáo hóa chúng sanh chăng?
Đáp: Đâu có mặt trời, mặt trăng mà chẳng biết soi, đèn thắp lên mà chẳng sáng.
Hỏi: Tạo phương tiện gì?
Đáp: Thẳng ngay không phương tiện.
Hỏi: Nếu không phương tiện, làm sao lợi ích?
Đáp: Vật đến thì đặt tên, việc đến thì Đáp ứng, không tâm suy tính và có duyên tính trước.
Hỏi: Con nghe Như Lai bảy ngày suy nghĩ mới dấy khởi phương tiện, làm sao nói không có tâm suy tính?
Đáp: Cảnh giới của chư Phật, chẳng phải chỗ nghĩ lường, xét nét biết được.
Hỏi: Phật há nói dối sao?
Đáp: Chân thật chẳng phải hư dối.
Hỏi: Vì sao kinh nói suy nghĩ, nay nói chẳng suy nghĩ ?
Đáp: Là phương tiện nơi cửa giáo hóa.
Hỏi: Phương tiện của chư Phật từ đâu sanh?
Đáp: Chư Phật chẳng sanh, chỉ từ tâm sanh, theo duyên giáo hóa muôn loài, pháp vốn không tên.
*****
XIV
Duyên Môn Hỏi:
1. Con chẳng biết, thế nào gọi là Phật ? Thế nào gọi là Đạo? Thế nào gọi là biến hóa ? Thế nào gọi là thường trụ?
Nhập Lý Đáp:
Giác rõ không vật gọi là Phật. Thông suốt tất cả thứ kia gọi là Đạo. Từ pháp giới sanh ra gọi là biến hóa. Rốt ráo lặng lẽ gọi là thường trụ.
Hỏi: Thế nào gọi tất cả pháp là Phật pháp?
Đáp: Chẳng phải pháp, Chẳng phải phi pháp, là tất cả Phật pháp?
Hỏi: Sao gọi là pháp? Sao gọi là phi pháp? Sao gọi là chẳng phải pháp, chẳng phải phi pháp.
Đáp: Pháp phải gọi là pháp. Pháp quấy gọi là phi pháp. Chẳng phải chỗ phải quấy suy lường được, gọi là chẳng phải pháp chẳng phải phi pháp.
Hỏi: Lời này ai chứng?
Đáp: Lời này chẳng phải ai, thế nào nói chứng?
Hỏi: Không ai thì đâu nói?
Đáp: Không ai không nói, tức lời nói chánh.
Hỏi: Sao gọi là lời nói tà ?
Đáp: Chấp có người nói.
Hỏi: Là ai chấp? Làm sao không chấp?
Đáp: Chấp, chỉ là lời nói. Trong lời nói vốn không lời, người chấp cũng không.
Hỏi: Nếu nói như trên, tức tất cả chúng sanh xưa nay đã giải thoát?
Đáp: Còn không có trói buộc, đâu có người giải thoát.
Hỏi: Pháp này tên gì?
Đáp: Còn không có pháp, huống nữa có tên.
Hỏi: Nếu nói như trên, con càng chẳng hiểu?
Đáp: Thật không pháp hiểu, ông chớ cầu hiểu.
Hỏi: Rốt ráo thế nào?
Đáp: Không có đầu và cuối.
Hỏi: Có phải không nhân quả chăng?
Đáp: Không gốc tức không ngọn
Hỏi: Làm sao nói chứng?
Đáp: Chân thật không lời nói chứng.
Hỏi: Làm sao thấy biết?
Đáp: Biết tất cả pháp như, thấy tất cả pháp bình đẳng.
Hỏi: Tâm nào biết? Mắt nào thấy?
Đáp: Không biết mà biết, không thấy mà thấy.
Hỏi: Ai nói lời này?
Đáp: Như điều ta hỏi.
Hỏi: Thế nào là như điều ta hỏi?
Đáp: Ông hãy tự quán lại lời hỏi, có thể biết câu Đáp.
Khi ấy, Duyên Môn nghĩ đi xét lại, lặng lẽ không nói. Thầy Nhập Lý bèn Hỏi:
Cớ sao ông chẳng nói?
Duyên Môn Đáp:
Con chẳng thấy một pháp như mảy bụi có thể đối nói.
Bấy giờ, Thầy Nhập Lý liền nói với Duyên Môn:
Nay ông tợ thấy lý chân thật.
*****
XV
Duyên Môn hỏi:
Thế nào tợ thấy, chẳng phải chánh thấy sao ?
Nhập Lý Đáp:
Nay chỗ thấy của ông, không có một pháp, như ngoại đạo kia tuy học ẩn hình mà chưa thể dứt bóng quên dấu.
Duyên Môn hỏi:
Làm sao được hình và bóng đều dứt?
Nhập Lý Đáp:
Vốn không tâm cảnh, ông chớ khởi cái thấy sanh diệt.
Hỏi: Phàm phu do đâu hỏi, Thánh nhân do đâu Đáp ?
Đáp: Vì có nghi nên hỏi, vì quyết nghi nên Đáp.
Hỏi: Tôi nghe Thánh nhân không hỏi mà tự nói, thì giải quyết cái gì ? Là có pháp có thể nói chăng? Hay là thấy trước điều nghi của người ?
Đáp: Đều là đối bệnh cho thuốc, như trời nổi sấm tiếng vang động, hẳn có chỗ Đáp ứng.
Hỏi: Bậc Đại Thánh Như Lai đã không có tâm sanh, duyên gì mà hiện ra đời ?
Đáp: Đời thái bình thì cỏ lành duyên đó mà sanh.
Hỏi: Như Lai đã chẳng phải mạng hết, vì sao hiện diệt?
Đáp: Đời đói kém thì năm giống lúa duyên đó mà diệt.
Hỏi: Con nghe Thánh nhân cảm thương mà từ định dậy, xót thương mà giáo hóa quần sanh, rất thông suốt không ngại, đâu đồng với cỏ lành?
Đáp: Định gọi là Pháp thân, Báo thân là nhục thân tứ đại, phân biệt cảnh trước mà ứng khởi ra gọi là hóa thân. Pháp thân thì không có nhân để trói buộc, Hóa thân thì không có duyên giữ lại, ra vào rỗng suốt, nên gọi là không ngại.
Hỏi: Thế nào là nói bi?
Đáp: Chỉ do Hóa thân không lo nghĩ, thể hợp chân không, thương vật mà không tâm, gượng gọi đó là Bi.
Hỏi: Chúng sanh chừng nào tu đạo mới được giống Như Lai?
Đáp: Nếu người chẳng rõ thấu, hằng sa kiếp tu đạo càng chẳng bì kịp. Nếu người ban đầu đã rõ thấu, thì chính ngay thân chúng sanh tức là Như Lai, đâu thể luận là giống, chẳng giống.
Hỏi: Nếu nói như vậy thì Như Lai tức dễ được, làm sao nói tu hành ba đại kiếp ?
Đáp: Rất khó.
Hỏi: Nếu chẳng chuyển tức ngay thân này, làm sao gọi khó ?
Đáp: Khởi tâm dễ, diệt tâm khó; là thân dễ, chẳng phải thân khó; có làm dễ, không làm khó. Cho nên biết, công phu sâu xa khó lĩnh hội, lý nhiệm mầu khó khế hợp, chẳng động tức chân, ba bậc Thánh ít bì kịp.

Khi ấy, Duyên Môn thở dài, tiếng đầy khắp cả mười phương. Chợt im lặng, rỗng toang đại ngộ, trí tuệ thanh tịnh sẵn có tự bao giờ, soi trở lại không nghi ngờ. Mới biết, học đạo rất khó, luống dấy lên điều lo nghĩ trong mộng, liền to tiếng khen ngợi:
– Lành thay ! Lành thay ! Như thầy không nói mà nói, con thật không nghe mà nghe. Nghe và nói hợp nhất, tức lặng yên không lời. Chẳng biết điều đối Đáp của thầy từ trước đến đây, gọi là gì, pháp gì ?
Liền đó, thầy Nhập Lý thân yên chẳng động, nhìn chăm chăm không nói; rồi ngó khắp bốn phía, cười ha ha nói với Duyên Môn :
– Lý tột thì sâu xa vi diệu, không có văn tự. Điều ông hỏi từ trước đến đây đều là lượng khởi (*) tâm sanh. Trong mộng cho là có nhiều thứ, tỉnh rồi không một vật. Ông muốn truyền rộng ở đời, thì tạm mượn lời hỏi xoay ngược tên trở lại, hãy nên thu hết dấu vết. Vì vậy, gọi là Tuyệt Quán Luận.