Lưu trữ hàng tháng: Tháng Mười Một 2013

Mộng Du Tập: Trích Quyển Ba Mươi Chín & Bốn Mươi Sáu


~Trich Quyển Ba Mươi
Chín~
Thành Tâm Dạy Đàm
Chi

       Tâm chẳng chí thành thì chẳng sáng,
       Tánh không tĩnh thì không định,
       Tinh không tụ lại thì chẳng hoàn toàn,
       Thần chẳng ngưng thì không nhàn dật,
       Chí không chuyên nhất thì chẳng hết lòng,
       Khí chẳng nuôi dưỡng thì không hòa,
       Giận tức mà không trừng trị thì không
bình,
       Lòng dục không lấp được thì không bớt,
       Học mà không giảng thì không rộng rãi,
       Hởi mà không biện thì chẳng thông,
       Tiết chẳng lập thì chẳng kiên vững,
       Tháo không giữ gìn thì không cứng mạnh,

       Thế nên cái học của người quân tử ở chỗ
trọng những cái người ta khinh, thêm những cái người ta giảm, lấy những cái
người ta bỏ, được những cái người ta không. Cho nên đạo lớn đức rộng, thân
thông thả, danh được quý trọng; siêu vượt, không ai bì được.

Khắc Tựa Đại Thừa
Khởi Tín Luận

       Đạo “chỉ thẳng” chẳng phải đợi đến Đạt
Ma ở Tây sang, mà đức Thế Tôn của chúng ta đã riêng vì một đại sự này mà xuất
hiện ở đời. Nghĩa là chỉ đem tri kiến Phật để khai ngộ cho chúng sanh. Nên nói
“Chỉ một sự thật này, có cái thứ hai nào khác thì chẳng phải chân”. Xem như thế
thì đức Phật thuyết một đại tạng giáo trong suốt 49 năm đâu có gì chẳng phải là
pháp “trực chỉ nhất tâm”. Chỉ vì chúng sanh căn cơ ám độn, nên Phật đại từ bi
đem tâm lão bà tha thiết rủ mọi phương tiện mà khai thị chỉ cho tất cả quay về
độ nhất nghĩa đế. Than ôi! Cái mê của chúng sanh quá cứng nhắc. Ngay khi Phật
nhập diệt chưa được bao lâu mà tà kiến đã nổi lên, phá hoại chánh pháp. Chẳng
kể ngoại đạo mà thôi, ngay đến đệ tử Phật cũng thân tập quyền thừa chấp đó là
cái thấy của mình, tử diệt chánh pháp, huống nữa là ai khác! Vì thế hai tông
tánh tướng ở Tây Vực, mỗi tông dựng lập môn đình khác nhau thậm chí chia nước
sông mà uống. Sau đó khá lâu, hơn 600 năm, có đại sư Mã Minh xuất hiện làm một
cuộc chấn hưng lớn lao, tốm thâu áo nghĩa của Lăng Già v.v… Một trăm bộ kinh
đại thừa, trước tác Đại Thừa Khởi Tín Luận để phá tà chấp, mở rộng cửa nhất tâm
pháp giới, nhiếp hội tánh tướng vào một nguồn, đưa ba thừa về chỗ chí cực,
khoảng trong một vạn lời. Ngay cho các nhà có nổi lên lại cũng không thể tăng
thêm một chữ. Có thể bảo là tấm gương tròn sáng để tu hành. Than ôi! Mã Minh là
tông sư truyền tâm theo Lăng Già để tạo luận. Đạt Ma là tỵ tổ của Thiền Tông
cũng chỉ Lăng Già để ấn tâm. Sỡ dĩ như thế chính vì sợ người tu hành đời mạt
pháp, chính nhân không được sáng, rơi vào tà kiến mà phá hoại chánh pháp. Sao
người thân giáo gần đây chẳng lo minh tâm, chỉ chấp vào văn tự ngữ ngôn cho là
cứu cánh. Còn người tham thiền lại dùng tu mù làm việc hướng thượng, mạt sát
giáo thừa; cam rơi vào chỗ ngu mê, cố thủ thiên chấp cho là tất đáng? Một cuốn
luận này chính là sách chỉ nam cho cả giáo và thiền vậy; là gương sáng của nhất
tâm, mà so sánh cho là văn tự há chẳng lầm lớn sao! Ô hô! Ở Ấn Độ, cái chấp
tánh tướng đã bị Mã Minh cực lực đả phá… Còn phương này, sự thiên chấp của giáo
thiền thì có Khuê Phong viết “Thiền – Nguyên Thuyên”, Vĩnh Minh lại sưu tập 100
cuốn Tông Canh phát minh yếu chỉ tánh tướng một nguồn, như “Bạch nhật lệ thiên”
mà kể hậu học chẳng thèm nhìn đến. Như thế há là người chơn thật tham cứu đại
sự sao? Tôi lúc trẻ đã bỏ giảng nghĩa. Ban đầu nghe các Kinh chẳng biết nói gì,
liền dốc chỉ tham cứu. Khi tánh được khai mở, trở lại xem văn tự, thì thật là
như đẩy cửa rơi chốt. Nên có viết Lăng Già Bút Ký và Lăng Nghiêm huyền cảnh;
đều là đem giáo thừa chỉ quay về một đường hướng thượng, nhưng mà những người
học tập kinh điển ở đời lại cho là tôi không theo xưa, còn người tham thiền lại
cho tôi là ông thầy văn tự. Tôi tuy lưỡi có dài quét đất cũng chẳng làm sao
được? Không lạ lùng sao? Họ xem Mã Minh, Long Thọ, Khuê Phong, Vĩnh Minh là
người ở ngoài tông môn, cho một đại tạng kinh là giấy lau mủ đàm, lại trách
thuyết phát minh nhất tâm là văn tự, mà chấp cơ duyên của chư Tổ là việc hướng
thượng. Nhưng cơ-duyên không phải là văn tự sao? Tôi bảo là người cố thủ vọng
tưởng, tăng trưởng ngã mạn mà tham thiền, thì chẳng bằng người thân trì kinh
luận là hạt giống chính nhân Bát-Nhã. Lại nữa tham thiền cần lìa tâm ý thức; đã
có thể lìa tâm ý thức để cầu hướng thượng, há chẳng thể lìa văn tự để ngộ ý chỉ
ngoài lời sao? Cái tệ này của pháp môn chẳng phải là lỗi của người học. Bởi vì
thầy trò chánh nhãn chẳng sáng, có lỗi vọng chấp cái thấy của mình.

       Luận này Cựu Tôn Hiền Thủ sớ giải do
Trường Thủy ghi lại quá rắc rối, người học hoang mang, mờ mịt không thể tra
cứu. Tôi theo bản sớ giải cựu, bỏ bớt những chỗ phiền phức, gian lược cho nhất
quán, lời đường như không đầy đủ nhưng vì ý nghĩa bài sớ của Tổ là giải thẳng,
đem bản văn mà sớ cho thông suốt, muốn người học theo ngay một cửa này mà vào.
Như thế thì giáo có thể lìa lời mà được nghĩa, còn thiền cũng chẳng rơi vào
đường tà; là cái chìa khóa cửa lớn để cứu sự mạt-pháp. Bản giải này người xem
phần đông vui mừng vì rất thẳng tắt nên đã khắc ở An Thành Chung Nam. Nay lại
khắc ở Tân An. Người xướng đạo trợ duyên đều là pháp lữ tứ chúng một thời vậy.

Bài Tựa Diệu –
Pháp – Liên Hoa Kinh Thông Nghĩa

       Tôi năm mười chín tuổi cạo tóc theo
tiên sư Vô Cực, nghe Hoa Nghiêm huyền đàm, đối với tông chỉ pháp giới viên dung
có niềm tin chắc thật, đến cái dụng thường trụ của hải-ấn tam muội, chợt khế
ngộ bèn quay về tông pháp giới. Sau nghe kinh Pháp Hoa, bàn về thực tướng, mà
tôi chẳng biết thực tướng ra sao. Lại nghe nói: “Nếu rõ thực tướng thì văn tự
có thể lược bớt. Do đây hoài nghi rất cấp thiết. Mỗi lần bị ép giảng kinh, tôi
đều rất mù mờ. Đến lúc đi hành khước phương Bắc, phàm tham vấn các bậc kỳ túc,
tôi đều đem câu “Thế nào là thực tướng” để thưa hỏi. Nhưng rốt cuộc không có ai
khải phát cho. Tôi mới để chí mộ tham thiền, chuyên tâm vào một đường hướng
thượng. Từ đó tôi dẹp hết văn tự, vào núi Ngũ Đài tập khô thiền, nỗ lực nghiên
cứu việc của chính mình suốt 8 năm, được tự tin chút đỉnh. Tôi trở về Đông Hải,
một hôm chúng thỉnh thuyết kinh Pháp Hoa, giảng đến phẩm Phương Tiện, cảm ơn
Phật thâm sâu, tôi bất giác rơi lệ khóa òa. Đối với ý chỉ thực tướng, một lần
nữa hốt nhiên chẳng còn nghi ngờ. Nhưng đối với lời văn của kinh vẫn chưa thấu
triệt hoàn toàn, dường như vật làm ngại mắt. Không bao lâu, vì việc hoằng pháp,
tôi có xúc phạm đến Hoàng Đế khiến ngài nổi giận đày ra Lôi Dương. Đại sư Đạt
Quán có hẹn với tôi đến Tào Khê lễ bái và đã đến đợi tôi ở Khuông Lô. Khi nghe
tôi gặp nạn, ban đầu cho là chắc chết. Đại sư liền đến trước Phật, hứa tụng một
trăm bộ Pháp Hoa để cầu nguyện cho tôi. Sau tôi về Nam, qua Long Giang, sư đến
từ biệt tôi trên sông, báo cho tôi biết việc hứa tụng kinh. Năm Bính Thân, suốt
3 tháng đi đường, đến qua năm Mậu Tuất, tôi bèn kết pháp xã ở Lũng Bích Thanh
Môn Ngũ Dương, tập họp đệ tử chừng vài chục người, tụng kinh Pháp Hoa để trọn
nguyện trước. Đại chúng thỉnh tôi diễn giảng, đến phẩm Hiện Bảo Tháp, rõ ràng
như gặp vật cũ trong nhà, mới tin đây là Phật chỉ tri kiến Phật; cho đến tám
phẩm sau phẩm Thần Lực, người xưa phán cho là lưu thông. Tôi xem kỹ biết là
không đúng, bèn dùng bốn chữ “khai, thị, ngộ, nhập” để phán toàn kinh này thì
sau là nhập tri kiến Phật. Trong hội những người nghe xong đều vui mừng hớn hở.
Giảng xong, họ yêu cầu tôi ghi lại. Nhân đó tôi đặt tên là kích tiết, đem bốn
chữ thông suốt ý chỉ đầu đuôi một kinh.

*
~Trích Quyển Bốn Mươi
Sáu~
Kính Sơn Tạp Lục

       Sư ở Kính Sơn, cùng đệ tử tiếp kiến,
những lời chỉ dạy hằng ngày đều là ấn chứng và lợi sanh rất là thân thiết,
không nên để thất lạc. Tôi bình thường có thể lãnh ý chỉ mà không thể ghi nhớ.
Sư nói sâu rộng mênh mông mà tôi 10 ngày sau mới khởi ý này cho nên không nhớ
được hoàn toàn đúng lời; thứ tự trước sau. Nay tôi ghi lại được. Những lời
trước và những lời khai thị tiếp. Ghi hết vào làm pháp thoại Kính Sơn để tiện
khắc bản rộng rãi, và không uổng lòng từ của đại sư ban bố.

       Tất cả đại chúng đều cùng một lòng.

       Đệ Tử Chu Lộ ghi.

       Một đại sự này phải bình thực thương
lượng mới được thọ dụng. Đệ nhất chẳng được thích sự huyền diệu, môi mép như
sóng mòi, tôi bảo đó là đùa tinh hồn.

       Việc này nếu không do tham cứu mà vào
thì không đắc lực, nếu không có dùng kinh ấn chứng thì không được chánh tri
kiến, nếu không ở nơi cảnh duyên mà rèn luyện thì cũng chỉ là việc bóng sáng
ngoài cửa. Đến khi gặp cảnh giới bát phong nghịch thuận thì liền bị dao động,
cướp mất, chẳng thấu qua được. Nếu dùng tông nhập, dùng giáo ấn, dùng cảnh
duyên hằng ngày để nghiệm, chỉ ở trên cảnh nhẹ nhàng thoát ra, không tâm dính
mắc thì đó chính là chỗ dụng tâm đắc lực. Có thể lấy cảnh duyên tự khám nghiệm.
Cũng chẳng cần nương hoàn toàn vào lời nói của thiện tri thức mà cho là pháp
thực. Cắn chặt thoại đầu, chẳng phải mong sáng tỏ thoại đầu, mà chỉ nhờ
thoại-đầu để phát nghi, chặt dứt vọng tưởng. Tham cứu cần phải lìa chỗ thoại
đầu mà tham cứu. Hễ hạ được nghi tình mới đắc lực. Cổ Đức nói: “Lìa lưỡi câu ba
tấc, ông làm sao nói?” Người xưa để tâm vào đấy, nghi cho đến lúc tình thức
chẳng tới, lời nói chẳng thông. Chỗ bức bách cùng cực mới vọt ra một chút bóng
sáng. Gọi là Lôi Quang Tam Muội. Chính nên tiến bước, không được vui mừng. Nếu
nhận đây là đúng tức là có chút ít cho là đủ, toàn thể đều bị cái điểm sáng này
che mất; không ló ra được. Về sau phát xuất ra đều bị nó sai khiến, hàm tàng
trong bát thức còn có tập khí nhiều đời chung tử vi tế chợt hiện tiền. Nếu chỗ
dùng sức chẳng được phải mượn sức chú để tiêu trừ chúng.

       Hỏi:
       Chỗ không đồng của trí và thức.

       Đáp:
       + Chỉ là một niệm hiện lượng tối so là
trí, vừa chuyển đến cái thứ hai thì thành tỷ lượng, là rơi vào tình tưởng. Lại
nói: Dính khắn vào tình là thức, không dính khắn vào tình là trí. Cắn chặt
thoại đầu là nắm đứng con đường tình thức đến, chẳng cho khởi niệm thứ hai.

       + Tham ngộ cũng chẳng phải là việc rất
khó. Trong ba tháng vững tâm nhất định thấy chỗ đặt chân. Đệ nhất chẳng được
còn tâm đợi ngộ tức là chờ đợi cái ngộ khác bên ngoài. Ngay đây liền là tấm ván
ngăn, công phu không thể vào lại được.

       + Lại nói: việc này cần phải là người
dũng mãnh mới làm được.

       + Người lợi căn đã nhiều đời được trí
huệ, đời này gặp duyên, ngay đó liền xong. Có người chẳng do tham mà vào, chỉ
cần bảo nhậm thấu thoát như Lục Tổ.

       + Còn người độn căn thì thế nào? Chỉ
cần tự nhận ra mình. Độn căn chẳng có gì khéo, chỉ từ chỗ độn mà đắc lực.

       + Cắn chặt thoạt đầu. Trong tất cả giờ
đều dùng được hết, liền có thể đi trên núi dao, đống lửa. Dùng được nhằm liền
là chỗ được định lực. Nếu có mảy may tránh né, thì toàn thân đọa lạc.

       + Người tham thiền chẳng được ngồi trên
đất sạch trong, khiết bạch. Đây là hầm giam hãm ngàn kiếp muôn đời, tôi muốn vì
chúng nói phá cho rõ ràng nên làm bài ca Đàm Bản.

       + Giáo nhân, tông nhân vốn không hai
nhãn. Sư Vĩnh Minh nêu tông, toàn trích lời kinh để ấn nhập. Sợ người cứ một bề
hướng bên đường không giáo nghĩa mà lầm đặt chân. Nếu không được con mắt giáo
liền rơi vào tà kiến. Tôi chú giải các kinh sách Kim Cang, Pháp Hoa, Lăng Già,
Lăng Nghiêm v.v… theo từ chỗ tình thức chẳng đến, bên đường không giáo nghĩa
vọt ra nắm lấy. Lại muốn đem giáo ấn tông, người học sẽ tự được.

       + Tôi lúc ở Đông Hải, một tối ngồi
thiền, thân và thế giới đều không, hai ấn phát quang, cảnh giới núi sông chấn
động, có chốc lát ngộ nhập, vào được tương-ưng-huệ, chỗ Lăng Nghiêm viết đang
khẩn cấp (trói chặt), hốt nhiên ở trước mắt. Tôi vội vàng đốt đuốc viết, tay
viết không kịp dừng, đến hết canh năm là viết xong Lăng Nghiêm huyền cảnh. Thị giả
ra hầu thấy đuốc tàn còn trên bàn, lấy làm lạ lùng.

       + Bồ Tát đều lấy lợi sanh làm sự
nghiệp. Nếu chẳng thấu qua các pháp thế gian thì không thể đầu cơ lợi sanh
được.

       + Người học Phật trước phải phát tâm
đại bi, phá chấp ngã làm chủ.

       + Công án cũ, người đời nay cứ đem tâm
vọng tưởng đo lường, thì mũi kim cũng chẳng đúng. Dù hội được, nói được, cũng
không có chút sức nào trên phần mình.

       + Trong động hội được dễ vào, trong
tĩnh vào được vô lực. Từ tri kiến người khác mà vào không có sức mạnh, trong tự
tánh mà hội nhập mới đắc lực.

       Hỏi:
       Theo duyên tiến được là thế nào?

       Đáp:
       Duyên có hai. Duyên kiến văn thì có thối
thất, duyên cảnh giới thì không thối thất. Hư thực không đồng.

       Chúng sanh dục nhẫn, nhị thừa sanh
nhẫn, Bồ Tát vô sanh nhẫn, Phật tịch diệt nhẫn. Chỉ một tri kiến Phật là chính.
Lại có tri kiến Bồ Tát, tri kiến nhị thừa, tri kiến chúng sanh, tri kiến ngoại
đạo, các thứ tri kiến này đều sai lầm. Sỡ dĩ Thế Tôn dùng các thứ phương tiện
chỉ cốt người rõ nhất tâm. Nhập vào chánh tri kiến, gọi là tri kiến Phật.

       + Rõ được tâm sanh diệt tịch diệt là rõ
được sanh tử.
       + Thế nào là hướng thượng? Chỉ có cái
buông xuống.
       + Lời Tổ sư; câu câu sống. Người học cho
là pháp thực, thì câu câu chết.
       + Công phu hằng ngày chỉ cần xem thấu vọng
niệm, không bị nó sai sử, chớ không có chỗ dụng tâm nào khác.
       + Nếu lúc quán tất cả không chẳng được thì
sao?

       Chỉ rõ biết là giả thì tất cả có thể
không, tất cả có thể nhẹ.
       + Bồ tát ở Cực Lạc làm việc gì? Tôi cần
phải kéo ông ta ra.
       + Niệm câu A-Di-Đà, vốn đồng với một thoại
đầu, người đời nay lại hiểu là đến Tây Phương.
       + Tất cả là huyễn. Ai ai cũng hiểu được.
Nhưng cần phải có chủ trương tác dụng về huyễn, mới không bị huyễn chuyển. Lúc
tôi ở Hải Ấn, chợt nhớ công án “Lục Tổ nửa đêm bị người đến chặt đầu” liền muốn
học định lực ấy. Mỗi đêm tôi mở cửa tập quán tưởng, giả như có người đến đòi
mượn đầu, tôi cũng hoan hỉ cho ngay. Đêm nay như thế, đêm mai cũng vậy. Lâu
ngày biết mình có sức định. Một đêm, bỗng nghe báo có ăn trộm vào, tôi nói:

       – Hãy gọi họ đến.

       Đốt đuốc sáng, tôi ngồi ngay ngắn không
có chút tâm sợ sệt. Người ấy đến cửa, bò lết không dám vào, một người thật to
lớn. Tôi nói:

       – Trong đây không có gì cả!

       Và sai người vào khố lấy 200 tiền ra
cho.

       Nếu trước không có chủ trương thì đã sợ
hết vía rồi.

       + Khi tôi ở trong núi Ngũ Đài, tiến
huyên náo như trăm vạn cuộc chiến, không có một giây nào yên. Một hôm nghe
tiếng suối thường ngày chảy hết sức mạnh bạo, chợt không nghe nữa. Tôi vừa khởi
nghĩ: “sao vậy?” Lại nghe. Tôi bèn đến chỗ nước phun mạnh nhất, ngồi mấy ngày.
Ngồi lâu, tiếng nước vắng lặng. Từ đây tiếng nước tuy chảy không dứt mà tôi như
không nghe. Sau này ở yên trong núi, không bị tiếng huyên náo làm động nữa.

       + Lúc tôi ở Đông Hải, gặp Hoàng Thái
Hậu sai nội quan đem nhiều bạc đến cho, tôi chẳng dám cự tuyệt. Nhưng độ sức
mình không thể lạm xử dụng, nghĩ đến những nơi đói khát, nên nhờ của Thái Hậu
để bố thí, nội quan không chịu. Tôi liền báo mỗi huyện, những người được nhận
bạc, tạo một tập sách đáp lại. Như vậy, sau hai cung nghe được đều rất vui. Và
đến lúc bị nạn, nhờ sức của một việc này, bèn biết lúc gặp tài vật chẳng thể
cẩu thả.

       + Lúc ở Lãnh Nam, nhân tình chưa thuần
thục. Tại bờ núi tôi không làm sao cho họ quen với mình được; không thể thân
cận. Có một đứa bé muốn đến gần mà sợ tôi. Một hôm tôi học cách sư tử giỡn con,
nên cố gắng chổng ngược thân để làm quen, hái trái rừng cho nó, rồi càng ngày
càng thân, nó không sợ tôi nữa. Từ đó, người ta gặp tôi không còn né tránh, đến
làm quen.

       + Lúc tôi đến thăm Mổ Tổng Phủ. Ông cầm
lại bảo đứng chờ dưới sân. Đến giờ đóng cửa cũng chẳng thấy cho đứng lên. Tôi
hiểu ra bèn ứng tiếng hô tên tuổi xin yết kiến. Quay lại nhìn các cửa thấy
không thể ra được, nó nặng như nghìn cân. Không biết làm sao, tôi lại gắng xưng
tên tiếp kiến. Sau mới được đứng lên đi. Hôm sau tham yết cũng lại như vậy.
Suốt một năm chẳng đếm xỉa gì đến. Những người chung quanh bảo ông ta là quan
võ, đâu biết ông ta phá lệ thường tiếp đãi thiện tri thức. Cuối cùng ông ta hẹn
ngày đông đến yết kiến Vũ Viện, Tông phủ sắm một chiếc thuyền, trang bị thức
ăn, hoa quả, như đãi khách quý rồi mới thỉnh tôi qua thuyền làm lễ mời ngồi trên,
thưa:

       – Chẳng phải tôi không biết tiếp đãi
ngài. Nhưng biết ngài là người khí cốt cao ngạo nên tôi mới như thế để làm
thành cho nhau.

       Ông vui vẻ chuyện trò rồi quỳ gối từ
biệt. Hóa ra trong đám tể quan cũng có người tâm sâu xa như thế! Sao lại nói là
võ biền ư!

       + Đọc sách không để tâm thể nhận thì
không dùng được. Tôi chú giải Lão Tử đến chỗ “Thiên chi đạo, kỳ du trương cung
hồ!” (đạo của Trời giống như dương cung sao!) Thêm mấy ngày, suy nghĩ cho thích
hợp mà không thể được. Tôi bèn mượn người một cây cung, dương lên và treo trên
vách, nằm ngồi đều ngắm nó. Hai ngày sau chợt ngộ chữ “trương” là đối với chữ
“thỉ” (thỉ-trương là một mặt giữ, một mặt buông) mà nói. Lúc buông cung, bệ
cung cao có dư mà dây thấp không đủ thì không dùng được, và khi dương cung, đè
cao mà nâng thấp, lấy bớt chỗ cong mà phụ vào chỗ dây tiêu thì trên dưới quân
bình có thể bắn trúng được. Thiên đạo toàn lấy động làm dụng. Chủ trương cho mà
không chủ trương nhận. Giải thích như thế là thích hợp vậy. Đến hai câu “trọng
vi khinh căn” (nặng là căn bản của nhẹ), cũng phải hết mấy năm, không dám giải
ẩu. Đúng ngay ngày về Nam, tôi ngồi một mình trong thuyền tình cảnh buồn bã.
Cái hiểu về khinh-trọng, tĩnh-tháo chợt hiện rõ trước mắt, mới ngộ ý chỉ lời
của Thái Thượng. Bởi vì chính thân mình thử nghiệm và sau lại thấy. Vậy thì
chưa thể bảo lời trình bày trên giấy chẳng có mùi vị chơn thật. Nên tôi chú
thích một cuốn Đạo Đức Kinh mà trải qua 13 năm mới xong bản thảo, chẳng phải là
sơ sài.

       Tôi viết kinh phải ngưng thần nhập
quán, thể khế tâm Phật, thì đầu mối mới vọt ra. Nếu phải suy nghĩ thì không
dùng trúng rồi.

Cách Thức Giáo Hóa
Chúng Sanh

       Sách nói: Thánh nhân không ra đời thì
vạn cổ như đêm dài đen tối, nên Phật Thích Ca của ta thị hiện ở vương cung, xuất
gia ở Tuyết Sơn, sáu năm khổ hạnh, ngộ đạo thành Phật, rồi thuyết pháp độ sanh
ở vườn Lộc Uyển. Lúc đức Phật chưa ra đời, ở Ấn Độ có 96 phái ngoại đạo, mỗi
phái lập môn đình xưng là sư trưởng. Đến khi Phật thành đạo tuyết pháp, tất cả
ngoại đạo đều quy y xuất gia làm đệ tử Phật, y theo giáp pháp tu hành, chứng
quả A La Hán, nên trên hội Linh Sơn có 1250 người vốn đều là ngoại đạo, ngay
lúc đó, những người tin Phật thì quy y Phật pháp, y giáo vâng làm, còn người
không tin thì sanh kinh nghi cho đến nỗi tạo các ma hại, hủy báng mà bị đọa vào
ác đạo chẳng thể kể. Như thế thì biết ngày nay, những nơi chưa hành theo Phật
pháp đều do lúc Phật chưa ra đời có trí hay ngu, hiền hay bất tiếu; tuy có nghi
hay tin không phải một, đều vì chẳng biết bổn hoài xuất thế của Phật chúng ta
và phép tắc của phương tiện độ sanh có thứ lớp. Nên nay tôi lượt thuật thứ tự
của phương tiện độ sanh cho người chưa nghe, chưa tin Phật pháp, biết chúng ta
là tăng, pháp môn hóa sanh chẳng phải là một việc, một hạnh, một môn mà có thể
vào được; nên nói: “phương tiện có nhiều cửa, quy nguyên tánh chẳng hai”.

       Tóm lại trong 49 năm đều tùy thứ tự căn
cơ lớn nhỏ, sâu cạn, nên nói kinh giáo chẳng nên vượt bực. Mong mọi người nên
biết rõ, chớ cho là lời tầm thường.

       Phật vì một đại sự nhân duyên xuất hiện
ở đời, nghĩa là khai thị cho chúng sanh tri kiến Phật, khiến họ ngộ nhập. Chỉ
một việc này thôi chứ không còn gì khác. Một đại sự là muốn chúng sanh biết
sanh tử là một việc lớn. Tri kiến Phật tức là Phật tánh sẵn có của mỗi một chúng
sanh, do mê Phật tánh này mà thành sanh tử; nay muốn ra khỏi khổ sanh tử, thì
phải lấy sự ngộ tri kiến Phật làm nghĩa đầu tiên. Như thế há chẳng phải Phật
chỉ thẳng tâm người, thấy tánh thành Phật ra khỏi thế gian sao? Như thế thì
Thiền đạo chỉ một đường ngộ tâm, chẳng phải đợi đến Đạt Ma từ tây sang. Nhưng
Phật đặc biệt vì việc này mà ra đời, mà đâu dè chúng sanh nhiều kiếp đến nay,
tham, sân, si, ái, phiền não, ác kiến, mê mờ quá sâu; chẳng kham chỉ nagy cho
đại pháp ngộ tâm. Nên ngài đem pháp Nhất thừa chia ra làm ba, do đây nên mới có
bày ra thứ lớp tam thừa, nghĩa là tiểu thừa, trung thừa, đại thừa. Cho đến có
người không kham nổi pháp tiểu thừa thì ngài bày ra ngũ giới, thập thiện là
thiện quả trời người, để họ khỏi đọa vào cái khổ của 3 đường ác: địa ngục, ngạ
quỷ, súc sanh, nên nói: “Chẳng giữ ngũ giới thì đường Nhân Thiên bị cắt đứt”.
Nay chúng ta là đệ tử Phật, tuân theo Phật dạy, lấy độ sanh làm sự nghiệp. Nếu
không dùng phương tiện thứ lớp, dẫn dụ người vào đạo, rồi một ngày nào đó, đem
đại pháp dạy họ thì ngược lại sẽ khiến họ sanh nghi báng, tự rước cái khổ tam
đồ, đó là đem đề hồ làm thành độc dược, lỗi do không rành dẫn đường. Nên chúng
ta tuân theo lời Phật chế, thiện nam tử tại gia gọi là Ưu-Bà-Tắc, nữ thì gọi là
Ưu-Bà-Di, nên giữ giới để tu quả lành Trời Người.

       Năm giới của người tại gia là:

       1./ Không sát sanh (giới này cảm quả
báo đời sau trường thọ và được quyến thuộc hòa hợp, hiện tại có con cháu hưng
thạnh).
       2/ Không trộm cắp (phàm cái gì không cho
mà lấy đều là trộm. Giới này cảm quả báo sau được giàu có, ăn mặc đầy đủ, cầu
được như ý).
       3./ Không tà dâm (chẳng phải vợ mình mà
sanh dâm dục gọi là tà dâm. Giới này cảm đời sau được vợ trinh lương, cha lành
con hiếu, quyến thuộc lục thân hòa hợp).
       4./ Không nói dối (phàm nói không đúng sự
thật, gây chia rẽ hai bên, gọi là vọng ngữ. Giới này cảm quả báo đời sau, trí
huệ hơn người, lời nói chân thật, ai nghe cũng tin, theo lời dạy mà làm).
       5./ Không uống rượu (Rượu làm hôn mê, rối
loạn tâm tánh, phát cuồng sanh họa, là gốc của nghiệp ác. Giới này cảm quả báo
vị lai, trí huệ minh đạt, sự thấy biết siêu việt).

       Trên đây là năm giới, khi Phật ra đời,
lúc ban đầu vì người tại gia ở đời, đặc biệt đặt ra lời dạy này khiến người y
theo giới tu nhân thì chẳng phụ đời này, khỏi đọa đường ác, mà còn có thể cảm
đời sau không mất thân người, được sống lâu, giàu có con cháu, gia đạo hưng
thịnh, văn minh thành đạt. Phàm đời nay, những người chức cao, quyền trọng, phú
quý phong vinh, thông minh lợi đạt, đều là do giữ năm giới mà được. Năm giới
này cũng là ngũ thường của nhà nho, bất sát là nhân, bất đạo là nghĩa, không tà
dâm là lễ, không uống rượu là trí, không nói dối là tín. Nên Phật pháp phụ giúp
cho vương đạo đem năm giới giáo hóa mọi người thì không tranh tụng, bớt hình
phạt, nhà được an ổn, phong tục được thuần mỹ.

       Đây là lời Phật bày nghi thức đầu tiên
để giáo hóa chúng sanh. Nay người thế tục chẳng biết Phật pháp, toàn là người
không có tâm thích thiện, mà nghịch lại sanh cái thấy báng Phật, báng pháp,
báng tăng. Đó là tự mình cam chịu ngu mê, tự ôm đường khổ. Lại có một hạng
người tuy có thể ăn chay, ăn rau mà không biết con đường tu hành chơn chánh của
Phật pháp, lại nghe theo người tà vô vi, ngoại đạo, chẳng kính Phật Tổ, Trời
Đất, chẳng hiếu để với cha mẹ, không đốt hương, lễ báo Tam Bảo, chỉ chuyên theo
tà hạnh, tà thuyết, người mù dẫn bọn mù, tụ họp nói bậy, cho là truyền pháp, họ
hoàn toàn không biết có con đường tu hành chơn chánh, mà ngược lại báng Phật
Pháp tăng, chấp cứng không giáo hóa được. Đây là người quá sức ngu si, là người
đáng thương xót! Nay chúng ta vâng theo chiếu chỉ, chính đây là những điều đang
cấm.

       Cúi mong các bậc cao minh quân tử ở
đời, hãy biện rõ tà chánh, phải trái. Phàm gặp bọn này, hãy nên khai thị cho họ
bỏ tà chánh, không những hộ trì Phật pháp mà còn hỗ trợ vua cai trị. Học tà,
học chánh đều là một niệm tâm lành. Đáng tiếc vì chẳng biết là tà, mà lầm đọa.
Nay nếu biết là trái, sao lại không bỏ bọn tà mà mà làm người hiền lành chơn
chánh, làm lương dân của đời Thánh?

       Năm giới trên là Phật dạy tu nhân quả
nhân đạo, ngài lại bày đường mười nghiệp-thiện, là nhân quả nhân thiên. Mười
điều thiện là:

       1. Ba nghiệp ác của thân: sát sanh,
trộm cắp, tà dâm. Nếu dứt được 3 điều ác này thì gọi là 3 đường thiện.
       2. Bốn nghiệp ác của miệng: nói láo, ỷ
ngữ, hai lưỡi, ác khẩu, nếu đoạn được bốn điều này gọi là bốn đường lành.
       3. Ba ác nghiệp của ý: tham, sân, si. Nếu
đoạn ba điều này gọi là ba đường lành. Mười điều ác trên, người đời làm hằng
ngày mà chẳng biết. Nay nếu có thể dứt mười điều ác này thì gọi là thập thiện;
là nhân để sanh thiên. Đó là người thuần thiện. Mười điều thiện này chính là
đạo chánh tâm, thành ý, tu thân của nhà nho. Nếu quả có thể tu điều này, thì
hiện đời là Thánh, là Hiền và nhất định cảm đời sau sanh ở thiên cung, hưởng
cái vui thắng diệu. Đây thật sự muôn ngàn lần là hạnh chơn thật. Người đời vì
sao ngu mê chẳng biết, lại chuyên hướng theo tà đạo mà làm cho được? Há chẳng
phải cô phụ tâm này sao?

       Ngũ giới, thập thiện ở trên là đức Phật
của chúng ta đặc biệt vì người tại gia ở đời, bày ra kinh giáo muốn người y
theo đây tu nhân thì chẳng mất phước của trời người. Đây là lời tuyên dạy từ
kim khẩu của Phật chẳng phải lời bàn hư vọng. Nếu không tuân theo đây mà tu,
thì đều là tà đạo, chẳng phải là chánh hạnh. Tuy chịu khổ tâm tu-hành mà đều
không lợi ích, ngược lại còn tăng thêm quả khổ. Đây là dùng khổ bỏ khổ. Đức
Phật chúng ta đã đau khổ với nó quá kỹ rồi. Nay người đời có năm bộ kinh, sáu
cuốn sách, chính là ngoại đạo, tà nhân mà xưng càn là sư trưởng, lén trộm ngôn
cú của Phật Tổ, góp nhặt loạn xạ những lời quê mùa ca vè thế tục để ngu hoặc
dân. Đó là người tà đạo làm loạn chơn lý. Nay thánh-chỉ cấm chính đều là bọn
này. Người tại gia đã có lòng yêu điều thiện, sao chẳng quy y Tam Bảo mà đem
cái thấy tự ỷ thế trí thông minh lanh lợi rồi sanh tâm ma hạ liệt, coi thường
ngũ giới, thập thiện, chẳng thèm làm, cho ưa thích thiền là tối thượng thừa,
chẳng tu ba nghiệp bèn đem công án hiện thành của tổ sư, xem xong vài tắc, ghi
nhớ trong bụng rồi ưa lợi khẩu, khoái dùng cơ phong cho đây là diệu ngộ của
chính mình, hoàn toàn chẳng biết là trái. Hơn nữa lại phỉ báng kinh điển đại
thừa, cho là văn tự chẳng để tâm, cười tăng chân tu thật hành cho là tiểu thừa,
vọng khởi các thứ tà kiến, hoàn toàn chẳng tin có nhân quả tội phước, thậm chí
khinh mạn Phật, khinh mạn pháp, khinh mạn tăng, họ đâu chẳng biết tự rơi vào
hầm nghiệp chướng ngu mê, vợ con xúm lại, đủ các khổ nhiệt não đốt cháy, mà
vọng chỉ trước mắt là đạo. Người ngu si như thế là người rất đáng thương xót!
Mình đã có một niệm tâm hướng thượng, sao chẳng chân chân thật thật, hành công
phu đứng đắn? Đó là chỗ nói: “Nói được mười phần, chẳng bằng hành được một
phần”, cứ nói bậy như thế, ví như người nghèo mà vọng xưng đế vương, tự chuốc
tội bị tru lục, không đáng buồn sao? Xin khuyên các bậc thiện lương ở đời,
người thông minh lợi căn có chí ra khỏi sanh tử, nên tự lượng căn khí của mình,
tham thiền chắc chắn là một đường hướng thượng, vì đây là Phật Tổ chuyên vì
người thượng-thượng-căn mà nói. Các người hãy tự mình kiểm điểm xem có phải là
bậc thượng-thượng-căn không? Quả có thể ngay đây liền rõ hết sanh tử trăm kiếp
chăng? Nếu căn mình chẳng phải là thượng thượng thì nên lượng sức chính mình
chuyên tâm tu môn Tịnh Độ, hồi hướng về Tây Phương, nguyện sanh về Cực Lạc, bỏ
hẳn cái khổ ở Ta-Bà. Một pháp môn này, người từ xưa tu nhân, tăng tục theo đây
ra khỏi sanh tử không thể đếm hết. Chỗ nói: “Vạn người tu vạn người đi” rất là
ổn đáng, là đại pháp môn một mảy chẳng lầm. Tổ Sư nói: “duy có đường tu hành
tắt, chỉ niệm A-Di-Đà Phật”. Vì pháp môn này hoàn toàn không làm người lầm lạc.
Nếu có thể buông hết thân tâm, theo đây tu hành, có quy tắc nên thực hành, tôi
lược dạy ở sau đây:

       Một môn Tịnh Độ, thường thường các bậc
sĩ đại phu bàn luận đều cho là vì người trung hạ căn mà đặt ra. Nhưng không
biết môn này nhiếp hết cả ba căn, không cơ nào chẳng thấu, rất là quảng đại.
Hơn nữa vừa đơn giản lại dễ thực hành. Ngay các tổ sư ngày xưa, sau khi ngộ
đạo, người hồi tâm hướng về Tịnh Độ không phải ít, như các đại Tổ sư Vĩnh Minh,
Trung Phong v.v… chẳng phải chỉ một người. Nhưng tu hành niệm Phật có 3 căn
thượng, trung, hạ, chẳng đồng, nên cửu phẩm ở Tịnh Độ cũng nhận nơi căn cơ mà
có khác biệt.

       Tịnh Độ có 3 loại:

       – Thường Tịch quảng độ
       – Thật báo trang nghiêm độ
       – Phương tiện hữu dư độ. Đây tức là phàm
thánh đồng cư độ.

       Và ba cõi này tu nhân không đồng, nên
chỗ cảm khác biệt. Nay tôi thử nói sơ lược.

       + Thường tịch quảng độ: tức là ở kinh
Viên Giác nói Đại Quang Minh tạng. Trong đây phàm thánh bình đẳng, y báo và
chánh báo không phân biệt. Chỉ có pháp thân Phật trạm nhiên thường tịch, là
cảnh giới chứng pháp thân của chư Phật. Đây chỉ có chư Tổ từ trước một niệm ngộ
ngay pháp thân, diệu khế đồng thể, nhập vào cảnh giới Phật ở. Đấy chính là Tịnh
Độ của người thượng thượng căn. Há có thể coi thường là vì người trung, hạ mà
lập.

       + Thật báo trang nghiêm độ: Đây tức là
20 lớp thế giới Hoa Tạng, là cõi vi diệu của Phật Lô Xá Na của chúng ta, do tu
hành khoáng kiếp chiêu cảm xứng với lượng pháp giới vô tận trang nghiêm như Hoa
Nghiêm nói: Trùng trùng vô tận thế giới trang nghiêm”. Đây là chỗ ở của Báo
Thân Phật, là cõi tịnh độ của bậc Bồ tát Thập Địa chuyển đại pháp luân, là chỗ
mà nhị thừa thanh văn chẳng thấy, chẳng nghe. Đây tức là những người được thọ
ký trên hội Pháp Hoa, đợi tu nhân nhiều kiếp, tương lai sẽ cảm ứng Tịnh Độ một
phần trong cõi này. Đây đâu phải chỗ hạng tầm thường dễ dàng đến được!

       + Phương tiện hữu dư độ: Cũng gọi là
Phàm Thánh đồng cư độ. Đây chính là cõi hóa độ của Phật A-Di-Đà, có 9 phẩm phân
biệt. Vì thế giới Hoa Tạng có 20 lớp. Từ lớp thứ nhất có vi trần số thế giới
cõi Phật vây quanh, dưới nhỏ, trên lớn, như cái tháp lật ngược. Từ đây trở lên
càng tăng gấp bội, đến lớp thứ 13 thì cõi ta bà này là cõi nằm ở trung tâm. Cõi
Cực Lạc và Ta-Bà bằng nhau. Từ giữa đến bên má hoa lá là phía Tây, nên nói qua
18 ngàn cõi Phật là kể luôn cõi Ta-Bà, vì cõi Phật mười phương chỉ có Ta Bà là
cực ác, đất, đá, cát, núi, dơ bẩn tràn đầy, tam đồ bát nạn, các khổ nhóm họp
nên gọi là kham nhẫn, chúng sanh cang cường rất khó điều phục. Nên đức Phật
Thích Ca chúng ta, dù đem thập-thiện để giáo hóa dẫn đạo nhân thiên mà chúng
sanh vẫn chìm trong sanh tử chưa ra khỏi luân hồi. Nếu có tham thiền ngộ tâm,
cũng lại rất khó ngộ ngay, nên ngài thiết lập một môn cầu sanh Tịnh Độ gọi là
vượt ngang ba cõi. Vì nương sức nguyện trong nhân của Phật A-Di-Đà rằng:

       “Chúng sanh trong mười phương thế giới,
nếu có người niệm danh hiệu tôi, mà không sanh nước tôi, thì tôi thề chẳng
thành Phật”. Vì nương nguyện lực này, hễ ai niệm Phật thì Phật Di-Đà nhất định
đến tiếp dẫn được sanh vào cõi Tịnh Độ kia. Cho nên dễ sanh. Nhưng Tịnh Độ này
mở ra 9 phẩm. Nếu người tham thiền ngộ tâm mà chưa thể quên tâm cảnh thì sanh
thượng thượng phẩm. Có người niệm Phật nhất tâm chẳng loạn thì sanh thượng
trung phẩm. Có người tham thiền chưa ngộ mà trì danh tinh thuần, vạn hạnh trang
nghiêm thì sanh thượng hạ phẩm. Nếu người tu vạn hạnh, trì kinh đại thừa,
chuyên trì danh hiệu, chí nguyện vãng sanh thì sanh trong ba phẩm trung.

       Có người tinh trì ngũ giới, thập thiện
chuyên tâm niệm Phật, phát nguyện hồi hướng, chẳng kể tăng hay tục, phần nhiều
sanh ba phẩm hạ. Đây tuy chưa đoạn phiền não, mà nếu được sanh nước đó, gặp
Phật, nghe pháp, cũng ở địa vị bất thối chuyển, nhất định không rơi vào ba cõi
sanh tử. Rồi từ đây phát nguyện trở lại ba cõi để độ sanh, thì đến đi tự tại,
chẳng bị sanh tử khổ não níu giữ. Do đó thiền sư Vĩnh Minh nói: “Nếu được thấy
Di Đà lo gì không khai ngộ”. Một pháp môn này, một đời tinh thành có thể xong.
Đã sanh lên đó rồi sẽ chóng thoát sanh tử, ra khỏi hẳn luân hồi. Pháp môn thẳng
tắt như thế, lại còn lo gì nữa mà không chịu tu, còn coi thường nó ư! Tham
thiền liễu sanh tử khó, còn niệm Phật liễu sanh tử dễ, chỉ cần chúng ta một
niệm tâm chân thật, chịu cực khổ thiết tha thôi. Người từ xưa sanh Tịnh Độ vô
lượng, vô số đều là người đời mắt thấy được, nếu không tin thì có pháp nào đáng
tin nữa? Nay kính khuyên bậc cao minh trí sĩ nên tin tự tâm, chẳng nên tin lầm
thuyết tà. Ở trong pháp môn này, người thiền tịnh kiêm tu rất nhiều. Như Vĩnh
Minh nói: “Tham thiền niệm Phật, niệm Phật tham thiền”:

       Có thiền, có tịnh độ
       Ví như cọp mang sừng
       Hiện đời làm thầy người
       Tương lai làm Phật, Tổ.

       Đây cũng là hạnh tối thượng cùng với
người vọng xưng ngộ đạo đọa vào tội đại vọng ngữ, cách nhau một trời, một vực.
Chỉ vì tất cả chúng sanh tự mê Phật tánh sẵn có nên đọa lạc vào 3 cõi sanh tử,
luân hồi trong sáu đường khổ nạn, suốt kiếp trầm luân, chẳng xa lìa được. Tất
cả đều do tham, sân, si, ái, tạo chứa các ác nghiệp dâm, sát, trộm, vọng ngữ,
rồi xả thân lại thọ thân. Tất cả đều vì dâm dục mà nhận tánh mạng, đời đời,
kiếp kiếp, cha mẹ, vợ con, lục thân quyến thuộc, ân ái buộc ràng. Bị ngọn lửa
lớn trong 3 cõi thiêu đốt, không người nào thoát khỏi được. Nên đức Bổn sư
Thích Ca chúng ta ở cõi Thường Tịch Quang hưng khởi tâm đại bi cứu khổ, xả bỏ
pháp lạc của tự tánh, từ trời Đâu Suất giáng xuống vương cung, nhập vào thai
mẹ, rồi ngài lại bỏ cha mẹ, vợ con, đoạn dứt ân ái thâm trọng của thế gian, bỏ
ngay ngôi vua Kim Luân, chạy vào núi Tuyết, cạo bỏ râu tóc, chịu đói lạnh suốt
sáu năm, hành trì khổ hạnh cho đến ngày ngộ đạo thành Phật. Đây là một lối vì
sanh tử xuất gia bậc nhất. Rồi sau khi thành Phật ngài lại bị ma hại, chịu nạn
kim thương, mã mạch, các thứ kham nhẫn vứt bỏ thân mạng, chịu hết vô lượng nạn
ma oán, thuyết pháp 49 năm. Chỉ là một niệm từ bi vì muốn độ chúng sanh, cứu họ
ra khỏi khổ mà thôi. Chỉ một việc này chớ không còn việc nào khác, nên 1250 đệ
tử trên hội Linh Sơn đều là những bậc anh linh hào kiệt một thời, học hạnh của
Phật, ai nấy đều xa lìa cha mẹ, vợ con, ân ái thế gian, nương Phật tu hành, rồi
liễu ngộ ân ái, được ra khỏi sanh tử, chúng quả A-La-Hán. Như ngài A-Nan là em
của Phật cũng theo xuất gia, theo chúng chịu cực khổ. Đây là cách thức độ đệ tử
xuất gia của Phật chúng ta.

       Lúc Phật ở đời, đệ tử theo Phật xuất
gia, không biết pháp tu hành, nên Phật nhân sự việc mà thuyết giới khiến dừng
ác, ngăn sai, được sự huân tu chơn chánh. Vì vậy người mới xuất gia gọi là Sa
Di, Phật đặt 10 giới, cho đến tỳ kheo thì Ngài đặt 250 giới. Đàn bà xuất gia
gọi là tỳ kheo ni, Ngài đặt 500 giới. Cho đến quốc vương, đại thần, tể quan, cư
sĩ cùng những người tại gia, xuất gia, tứ chúng tiến tu đại giới Bồ Tát thì có
kinh Phạm Võng, ngài thuyết 10 giới trọng, 40 giới khinh, các giới luật này là
gia pháp của pháp môn Phật. Nên nói: “Nếu người nào thọ giới của Phật tức là
vào địa vị chư Phật”. Nếu làm tăng mà không thọ giới thì người ta gọi là ngốc
tặc, ăn trộm cà-sa của Phật, bán đứng Như Lai chớ chẳng phải đệ tử Phật. Làm
tăng vâng theo Phật pháp như thế thật chẳng phải dễ. Lúc Phật ở đời, tuổi thọ
con người là một trăm tuổi. Phật đáng lý thọ một trăm năm, vì nghĩ đến đệ tử
đời mạt pháp vô phước nên ngài chỉ trụ thế 80 năm; lưu lại phước của 20 năm
chưa hết cho con cháu đời sau. Nên nay các đệ tử được cúng dường tứ sự đều là
thọ dụng một phần công đức trong ánh sáng bạch hào của Phật, tức là cọng rau,
hạt gạo của thí chủ, một phân một hào của thí lợi đều là phước điền còn sót lại
của Phật. Nay người vào làm tăng trong pháp môn mà lại không hề biết Phật là
người nào, cũng chẳng biết mình làm việc gì? Chẳng biết vì sao bỏ cha mẹ, vợ
con, cạo bỏ râu tóc, không ở nhà thế tục mà vào ở chùa? Lại cũng chẳng biết
rằng mình không cày cấy, không dệt sợi mà cơm áo từ đâu tới? Chỉ cho rằng chính
mình có khả năng, đi quyên hóa thí chủ cúng dường, mà lại không biết lòng tin
của thí chủ, máu mủ khó tiêu, tương lai phải kéo cày, lôi bừa, đeo hàm sắt,
mang yên, chịu bao nhiêu khổ để trả nợ. Đây là mọi người nhất tề mê muội mà
chẳng biết, nếu cứ thọ dụng như thế mà có giữ giới hạnh sơ sơ, trì kinh niệm
Phật, giữ bổn phận thì cũng tạm được. Huống lại hoàn toàn không biết tăng thể,
chẳng thọ giới hạnh, phóng túng thân tâm phan duyên theo thân thuộc thế tục, ra
vào không úy kỵ, chẳng tránh sự chê cười gièm pha cho đến vi phạm pháp cấm,
hoàn toàn chẳng biết là trái, lại không phải chỉ có một loại. Trọn không biết
vì sao xuất gia, vì sao xả tục, vì sao cạo bỏ râu tóc? Chẳng những không biết
việc tu hành, mà ngay cả tâm thắp hương lễ Phật, kính thờ Tam Bảo, tuyệt nhiên
quên mất, hỗn độn một đời, sống say chết mộng. Hoàn toàn chẳng biết con đường
chân chính tu hành, mà có gặp ai tu thì ngược lại cho là trái. Đây thật là
người rất đáng thương xót! Phật nói: “Tam đồ, địa ngục, chưa phải là khổ, dưới
lớp áo cà sa mà mất thân người, mới thật là khổ”. Tóm lại là chẳng biết tăng là
gì? Nên kinh Tứ Thập Nhị Chương nói:

       Phật bảo: “Tỳ kheo các ông! Mỗi buổi
sang nên tự vò đầu”. Nếu chịu tự vò đầu thì phản tỉnh chính mình thật không còn
râu tóc. Vì không biết quy củ xuất gia của Phật pháp, nên thầy không thành
thầy, đệ tử cũng chẳng thành đệ tử, trên dưới đoạn dứt phận, cùng bầy cầm thú,
chỉ biết sự cấp thiết của ăn mặc mà hoàn toàn chẳng biết việc sanh tử; chẳng sợ
có cái khổ tam đồ ở tương lai. Thế gian do thói quen này trở thành phong tục và
cho là việc thường. Còn có người bỏ làng đi hành khước khắp nơi, mà cũng chỉ
biết có cơm cháo ở tòng lâm, chứ mờ mịt chẳng biết có Phật pháp thiền đạo. Đây
lại thật là người rất đáng thương xót! Tuy nhiên, trong ấp có mười nhà, thì
chắc chắn có người trung tín. Nay ở các núi hiện tại há không có bậc anh-linh
hào kiệt sao? Ở mỗi phương, nếu có một hai người chịu phát tâm hưng khởi, tự
nhiên có cơ hội chuyển hóa. Vì thế nay tôi chỉ mong các bậc có chí trụ ở chùa,
mỗi người nên suy nghĩ xét mình quay đầu về, nên nghĩ đến việc lớn sanh tử,
thống thiết sửa đổi lỗi trước, phát khởi một niệm tâm hướng về đạo. Sự phát tâm
ban đầu, trước cần tham thỉnh thiện tri thức là thọ mười giới Sa Di. Nếu giữ
mười giới không phạm thì tiến lên 250 giới của Tỳ kheo, mỗi mỗi giới điều đều
cẩn thận kiểm điểm cho đến tiến lên thọ giới Bồ Tát. Vì Phật thiết lập giáo
pháp lấy tam-học Giới-Định-Huệ làm căn bản Phật pháp, nghĩa là nhân giới sanh
định, nhân định sanh huệ, đó là 3 vô lậu học. Các giới tướng ghi đủ trong giới
kinh, mời mọi người tự kiểm xem chẳng kể kỹ. Sau khi có thể thọ giới rồi, chẳng
kể là ở một mình hay theo chúng, nhất định cần mỗi nửa tháng đến trước Phật
tụng niệm giới phẩm. Ai có hủy phạm thì đối trước chúng sám hối, sửa lỗi bản
thân, thì thân tâm thanh tịnh, nghiệp chướng được tiêu trừ. Đó là điều cốt yếu
ra khỏi khổ não. Ai đã có thể trì giới là gốc tu hành thì nên gần gũi Phật pháp,
dù không ra khỏi cửa, đi nơi khác nghe giảng, cũng nên tự mình phát tâm chuyên
nhất trì tụng các kinh đại thừa như Hoa Nghiêm, Pháp Hoa, Viên giác, Lăng
Nghiêm để trồng nhân duyên Bát-Nhã, hoặc ai có chí chuyên tu một môn Tịnh Độ
thì lấy niệm Phật làm hạnh chánh, tụng kinh đại thừa làm hạnh trợ giúp, 6 thời
phát nguyện hồi hướng, cầu ra khỏi đường khổ sanh tử. Như thế mới không phụ
nhân duyên lớn lao của người xuất gia; cũng chẳng trôi suông đời này. Nếu người
có căn thượng thượng, phát tâm thoát ly nghiệp đời, đi các nơi tham thỉnh tri
thức, chí muốn tham cứu đến cùng đại sự sanh tử, chỉ cần đề lên một niệm thôi,
chẳng cần cầu bên ngoài. Đây là căn khí tối thượng nhất thừa. Nhưng nếu, phát
tâm tự nhận, nhất định có lúc phát minh liễu ngộ, thì do căn khí mỗi người, chí
hướng thế nào.

       Như trên đã nói, trì giới, tu hành,
tụng kinh, niệm Phật tuy chẳng thể chóng ngộ tự tâm mà cũng không bỏ phí thời
giờ, cũng chẳng phụ duyên xuất gia. Nếu cứ nhởn nhơ buông lung thì đến chết
cũng chẳng thành. Chẳng đáng thương lắm sao? Qua suông đời này, đọa lạc vào tam
đồ, thì tương lai chẳng biết bao giờ mới ló đầu ra được.

       Như trên đã nói, pháp tu hành của người
xuất gia và tại gia, tuy cạn sâu không đồng, là pháp Phật thuyết trong 20 năm
đầu. Phật thuyết pháp 49 năm, pháp được thuyết có 3 thừa là tiểu, trung, đại
thừa. 20 năm đầu chỉ nói hữu giáo gọi là tiểu thừa, Phật nói có cái khổ sanh tử
trong 3 cõi có thể ra khỏi, có Niết Bàn Nhị thừa có thể cầu, có nhân quả cõi
lành Trời Người, có nhân quả ác nghiệp tam đồ, tất cả các pháp là thực có nên
nói pháp tứ đế. Đế tức là thực. Tứ-đế là bốn pháp khổ, tập, diệt, đạo là thực,
thực có khổ có thể thọ. Tập là tham, sân, si, ái, phiền não. Ngài nói phiền não
này là nhân của các khổ, hay chiêu quả khổ nên nói thực, thực có tập của phiền
não có thể đoạn. Diệt là Niết bàn thiên không của Nhị thừa, vượt ra ngoài 3
cõi. Do ra khỏi sanh tử, chứng được Niết Bàn này, nên nói là thực, thực có Niết
Bàn có thể chứng. Đạo là phương pháp tu hành, là chỗ tu của nhị thừa: chán khổ,
đoạn tập, mộ diệt, tu đạo. Nghĩa là bát bối xả, ngũ đình tâm quán: quán thân
bất tịnh, quán thọ là khổ, quán tâm vô thường, quán pháp vô ngã, lại có quán
tổng tướng niệm, biệt tướng niệm v.v… Đây gọi là pháp tu ra khỏi khổ của
người tiêu căn, là tiểu thừa giáo.

       Lại có một hạng căn khí có chút lanh
lợi gọi là trung thừa, tức là Phật mở rộng tứ đế trước, thuyết pháp thập nhị
nhân duyên: vô minh duyên hành, hành duyên thức, thức duyên danh sắc, danh sắc
duyên lục nhập, lục nhập duyên xúc, xúc duyên thọ, thọ duyên ái, ái duyên thủ,
thủ duyên hữa, hữu duyên sanh, sanh duyên lão tử, ưu bi, khổ não. Đó gọi là 12
hữu chi. Mười hai chi này gồm nhân quả ba đời: quá khứ 2 chi nhân là vô minh,
hành; hiện tại năm chi quả từ thức đến thọ; hiện tại ba chi nhân là ái-thủ-hữu;
vị lai hai chi quả là sanh-lão tử ưu bi khổ não. Duyên là dẫn nghĩa là nhân quả
luân hồi ba cõi, dẫn dắt lẫn nhau mà có. Vì người căn cơ bậc trung quán 12 nhân
duyên này có 2 môn lưu chuyển và hoàn diệt. Nghĩa là từ vô mình đến lão tử
v.v… là môn lưu chuyển. Nếu vô minh diệt thì 12 hữu chi đều diệt là môn hoàn
diệt. Quán ngược xuôi như thế thì ngộ sanh vô sanh. Chứng quả Bích Chi Phật,
Độc giác là pháp trung thừa vậy. Pháp nhị thừa này, Phật thuyết trong 20 năm vì
những người căn cơ chậm lụt không kham thọ đại thừa. Nên là quyền tạm. Sau 20
năm này, căn cơ dần dần thông thái, Phật mới thuyết đại thừa Bồ Tát tu pháp Lục
độ: Bố thí, trì giới, nhẫn nhục tinh tấn, thiền định, trí huệ. Sáu độ này là
chỗ tu của Bồ Tát đại thừa, gọi là Đại Thừa. Nếu tu sáu độ này, riêng vì “hạ độ
chúng sanh, thượng cầu Phật quả”. Pháp lục độ này lấy Bát Nhã làm chủ, nên thời
thứ hai Phật thuyết kinh Bát Nhã có 22 năm, kinh này nhiều nhất, đem qua Trung
Hoa có 8 bộ Bát Nhã cộng 600 quyển. Kinh này hoàn toàn nói về trí huệ chân không
Bát Nhã, phá cái hữu kiến về Niết bàn sanh tử của Nhị thừa, bàn rộng về Lục độ
cho đến các pháp tứ đế, thập nhị nhân duyên đều lấy Bát Nhã chơn không làm cực
tắc, đào thải cái thấy “chấp có” trước, như tâm kinh Kim Cương, đều là tông cực
của Bát Nhã. Vì Nhị thừa trước chấp không là thiên không, nghĩa là cái không
đoạn diệt. Nay Bát Nhã là thật tướng chơn không, do Phật thuyết tam quán:
không, giả, trung là diệu môn thành Phật. Chỉ một bộ kinh Bát Nhã này thuyết
riêng một không quán, nên là cửa đầu tiên nhập vào đại thừa, là diệu pháp tu
hành của Bồ Tát. Bát Nhã là tiếng Phạn, đây là trí tuệ, vì thế Bồ Tát lợi ích
chúng sanh, lấy trí tuệ làm đầu. Chỗ nói: không trí huệ thì bị phương tiện cột,
có huệ thì phương tiện mở. Nhưng một môn không quán này tuy ghi trong 8 bộ Bát
Nhã, ký thực rất mau tắt, thiết yếu. Chỉ ở tâm kinh đã gồm đủ 14 hạnh nghiệp,
một cuốn tâm lại riêng ở một câu “chiến kiến ngũ uẩn giai không” đã đủ hết
nghĩa. Trong câu này, nếu hạ thủ công phu thì chỉ ở một chữ “chiếu” mà thôi.
Đây là pháp môn tối giản yếu. Nhưng thiền môn tu hành, công phu dụng công ban
đầu chỉ một chữ “chiếu”, tức là “pháp môn một chữ”. Phật đợi đến 30 năm mới
nói. Xem đây thì pháp tu tâm há chẳng phải là chuyện phàm phu tầm thường dễ tu
hành sao? Pháp môn một chữ này là dạy cho Bồ Tát, là pháp đặi thừa vậy.

       Bổn hoài xuất thế của Phật chỉ là muốn
cho tất cả chúng sanh thành Phật, chớ không vì gì khác. Tức là 49 năm thuyết
thời giáo một đời, nay là một đại tạng kinh. Thảy đều là pháp môn học thành
Phật. Phương tiện thành Phật chỉ có Lục độ vạn hạnh, đủ nhiều thứ cửa mà ý
chính chỉ có tam quán là căn bản thành Phật. Tam quán là không, giả, trung đạo.
Một đời giáo hóa chỉ thuyết ba quán này. Từ trước cho đến khi thuyết Bát Nhã là
vừa mới thuyết xong một môn không quán. Như thế thì biết pháp chẳng phải dễ
thuyết, cũng chẳng phải dễ vào. Trên hội Bát Nhã, những người Nhị thừa nghe
pháp trong hội, đều cho Bát Nhã không phải thuộc về trí của mình, hoàn toàn
không để ý, huống là đích thân nhận lời Phật dạy. Đã 30 năm mà còn chẳng tin,
chẳng nhập. Như hiện nay bọn phàm phu ác nghiệp, miệng miệng nói không, vọng
nói pháp không, không Phật, không Tổ, không tu, không chứng, rồi tự xưng mình
là những căn cơ thượng thượng, há chẳng phải quá dối lừa người. Nhưng Phật đã
thuyết Bát Nhã chân không, rồi sau mới thuyết quán giả. Một môn quán này có nói
trong kinh Giải Thâm Mật, nói về pháp môn Duy Thức, nghĩa là vì mê Như Lai tàng
gọi là A-lại-da thức, nương thức Lại da này đầy đủ 3 phần, biến ra căn, thân và
khí giới, tất cả đất đai sông núi, chúng sanh, thế giới. Đó là pháp giả, là
cảnh giả, chỉ có thức biến, như bóng trong gương, như trăng đáy nước, tuy có mà
chẳng thực, nên gọi là giả.

       Hỏi:
       Nhưng Phật vì sao mà quán giả?

       Đáp:
       Do trước, người Nhị thừa chấp Niết Bàn cho
là có thực, rơi vào thiên không, nên Phật thuyết Bát Nhã là Chân Không. Để phá
cái kiến chấp có, nên quán thực tướng Bát Nhã Chân Không. Lại có một loại Bồ
Tát ưa cái không tăng thắng, chấp chỉ riêng không mà không nhập vào cái có
(thiệp hữu), chẳng chịu độ sanh. Nên Phật thuyết tất cả chúng sanh, thân, tâm,
thế giới đều chỉ có thức biến hiện, toàn là pháp giả, dùng pháp môn duy thức
này hội Có-Không; ngài muốn hiển bày cái Có-tức-Không, cái Không-tức-Có, quán
thẳng duy thức để chứng Chơn Như. Đây là pháp môn dạy Bồ Tát, trước ra khỏi
Không nhập vào Giả để độ sanh. Nên một môn quán này, có kinh Giải Thâm Mật
v.v… Lúc thuyết kinh dành cho Bồ Tát đại căn, đã có thể tin nhận. Còn Nhị
Thừa tiểu căn, rốt cuộc chẳng dám vào cõi tục lợi sanh. Vì thế Phật thuyết kinh
Duy Ma, đem cư sĩ Tịnh Danh để thị hiện việc ở thế tục có vợ con, quyến thuộc,
tạm mượn nhân duyên thăm bịnh cùng Văn Thù đối đáp pháp môn bất nhị, quở trách
Nhị thừa để kích phát tâm nhập tục độ sanh.

       Kinh này gọi là chê thiên, trách tiểu,
khen đại, tán viên. Vì tiểu thừa chẳng nghĩ lường pháp môn, cứ khư khư cái thấy
nhỏ hẹp của nhị thừa. Ở đây Phật rất mực từ bi vì người căn cơ nhỏ hẹp, dùng
các thứ phương tiện quyền xảo, ý muốn dẫn họ vào đại thừa. Như thế thì biết
việc Bồ Tát vào tục lợi sanh, chẳng phải người căn cơ thấp thỏi có thể kham
được. Công giáo-hóa hơn 40 năm của Phật còn phí phương tiện thần lực như thế.
Còn như hiện nay, người đang ở trong biển khổ ngũ trược, phiền não, sanh tử,
miệng miệng nói không, đàm thiền, thuyết đạo, tự động cho một việc hướng thượng
là trách nhiệm của mình, chê bai chánh pháp, chẳng sợ nhân quả, chẳng biết
thương mình, vọng tự dối gạt như thế sao? Vì xem phương tiện quyền xảo của Phật
khi lợi sanh, đã khổ tâm biết bao, chẳng dám dễ dàng nói dạy người một chữ
thành Phật. Người đời hễ nói thì siêu Phật, vượt Tổ. Như thế thì chẳng phải
vọng hay sao? Chẳng đáng sợ sao?

       Phật ra đời thuyết pháp 49 năm, kinh
điển gần một đại tạng, đầu đuôi chỉ nói rõ tám chữ “Tam giới duy tâm, vạn pháp
duy thức” từ đầu đến đây, đã trải 40 năm mới thuyết rõ ra được ý nghĩa của một
câu “vạn pháp duy thức”. Vẫn còn chưa dám hiển thị ý chỉ duy tâm. Vì duy tâm là
cực tắc của vạn pháp. Từ trước đến nay, các đại đệ tử đã nghe pháp môn duy
thức, nên từ đây về sau, Phật bèn thuyết kinh Lăng Già để hiển thị pháp môn
“tam giới duy tâm”, muốn người ngộ ngay một tâm này, để làm cực tắc. Nên thâu
hai “Không Giả” trước, dứt hết hai đế, quay về một tâm. Sau đó viên mãn một
tâm, tiêu dung vào trung đạo là lý cứu cánh. Nên kinh Lăng Già nói: “Tịch tịch
là nhất tâm”, nhất tâm gọi là Như Lai tàng nghĩa là tàng thức. Tức là Như Lai
tàng không phải không, không phải có, chỉ thẳng một tâm lìa danh dứt tướng,
tuyệt hẳn thánh phàm, chẳng thuộc giai cấp tu chứng. Chóng quán tàng tánh gọi là
cảnh giới Tự Giác Thánh Trí, lìa ngay tất cả vọng tâm phan duyên. Nếu rõ vọng
tưởng không có tánh tức ngộ vô sanh. Đó là pháp môn đốn giáo. Tổ sư Đạt Ma
truyền cho Nhị Tổ là đại sư Huệ Khả, lấy kinh này làm tâm ấn. Vì thế kinh này
dành riêng cho người căn cơ thượng thượng, người Nhị thừa không có phần. Dưới
cửa Tổ sư, người mới học tham thiền cần phải lìa tâm-ý-thức mà tham, lìa cảnh
giới vọng tưởng mà cầu, ra khỏi đường phàm thánh mà học. Đó là thuần lấy kinh
này làm tông cực. Kinh này là thuyết cực tắc của một tâm. Phật đã hơn 49 năm
dùng nhiều phương tiện khai thị, trải qua bao nhiêu pháp môn, nay mới thuyết
kinh này. Người tiểu căn còn chẳng có phần, mà tăng tục bây giờ giáo nhãn chưa
sáng, chẳng biết đường tu hành, mù đui chẳng biết vọng tưởng phan duyên trong
tâm của mình hoàn toàn không biết nó khởi diệt bao nhiêu; ngày đêm chưa hề có
một niệm thanh lương, mà lấy một việc hướng thượng lìa tâm-ý-thức cho là trách
nhiệm của mình, thoại đầu cũng chưa từng mộng thấy mà mở lớn miệng thuyết thiền
Tâm tự dối như thế sao? Có thể nói là người rất không biết hổ thẹn, chẳng đáng
sợ sao? Chẳng những người đời vô tri nói bậy mà ngay kẻ hậu học, tăng đồ trong
pháp môn ta cũng hoàn toàn chưa hề nghe pháp môn Phật dạy tu tâm, hoàn toàn
không có chánh kiến công phu dụng tâm. Chỉ có mấy giờ vọng tưởng, hoàn toàn
không có chánh kiến, liền xưng ngộ đạo, tự cho là đủ. Thế thì ai dối? Ai lầm?
Xin can! Xin can! Cẩn thận! Cẩn thận!

       Sau 40 năm này Phật mới dạy pháp môn
Nhất tâm, đủ thấy pháp chẳng dễ nói, chẳng dễ tu, chẳng dễ ngộ.

       Đức Thế Tôn đặc biệt vì một đại sự nhân
duyên mà xuất hiện ở đời, một đại sự nghĩa là tri kiến Phật của chúng sanh. Vì
chúng sanh vốn đủ tri kiến Phật mà nay mê đi trở thành tri kiến vọng tưởng sanh
tử, nhiều kiếp đến nay mê đi mà chẳng biết, ví như gã cùng tử ôm hạt châu làm
ăn mày uổng chịu cực khổ. Vì vậy Phật hưng đồng thể đại bi, đặc biệt ra đời để
khai thị cho chúng sanh, biết mình có tri kiến Phật sẵn có khiến cho ngộ nhập
được. Ví như chỉ cho cùng tử hạt châu nằm trong chéo áo, khiến cho y biết được
lấy dùng. Nhưng tri kiến Phật tức là Nhất tâm mà kinh Lăng Già thuyết, gọi là
Tự Giác Thánh Trí vậy. Phật một bề không dám nói liền, vì quán chúng sanh căn
cơ ám độn, không kham nhận pháp này. Nên Phật lặng thinh không lo nói vội điều cốt
yếu. Cho đến 40 năm sau, dùng nhiều cách đào thải, căn cơ dần dần thuần thục,
việc hóa duyên sắp xong, nên Ngài thuyết kinh Lăng Già, dạy pháp môn nhất tâm
để hiển lý cứu cánh. Sau đó Ngài thuyết kinh Pháp Hoa, chỉ dạy thực tướng các
pháp, để hiển sự cứu cánh. Đây là thứ lớp Phật thuyết pháp, do sự-lý rốt ráo
mới biết được cực tắc của một tâm. Vì vậy các người Nhị thừa đến lúc này mới
tin tâm Phật quyết định, không còn nghi, cũng ngộ được Phật tánh sẵn có của mỗi
người, chắc chắn chẳng mất, ví như cùng tử lâu ngày bỏ trốn qua nước khác, nay
mới trở về gặp cha, cũng tin gia nghiệp của cha đều là của mình. Thân tâm đều
tin nhận, có thể kham nối nghiệp nhà, nên được trưởng giả giao phó tài sản cho.
Người ta thường nói một kinh Pháp Hoa này như ông trưởng giả viết chúc thư giao
phó việc nhà, chính là bổn hoài cứu cánh của Phật lúc lợi sanh. Vì thế Phật bảo
các đệ tử, thọ ký cho từng người, tương lai nhất định thành Phật. Lại nói:
“Phàm có người nghe pháp, tất cả đều thành Phật”. Một đại sự nhân duyên này của
Phật đã xong, gọi là chung giáo, chẳng bao lâu Ngài nhập Niết Bàn. Nhưng ở một
thời Pháp Hoa, bổn hoài của Phật xuất thế lợi sanh đã tận. Đến kinh Niết Bàn
thì hiển nghĩa Phật tánh, để thâu những cơ chưa hết của Pháp Hoa, và phá cái
nghi chưa hết của các đệ tử đến trước, vì Phật thuyết pháp ai đến nghe cũng
thành Phật. Đây thì Ngài sợ đệ tử trước đã nghe người Xiển đề không có lòng
tin, không cho thành Phật. Nghe điều này sẽ sanh nghi. Vì thế Phật thuyết kinh
này, bảo Xiển đề cũng có Phật tánh, mượn hình ảnh đồ tể Quảng Ngạch buông dao
đồ tể liền thành Phật. Đến đây tin chắc, phàm người có biết cuối cùng sẽ thành
Phật, quyết định không nghi. Như thế mới hết ý nghĩa một phen xuất thế của Như
Lai, công việc giáo hóa lợi ích chúng sanh đến đây đã xong. Nên bây giờ nhập
Niết Bàn. Như trên đã nói, quy tắc Phật ra đời một đời thủy chung hóa độ chúng
sanh, pháp môn thứ tự tu nhân, tuy quán chúng sanh sẵn có Phật tánh, ai ai cũng
đầy đủ, không ai không mong thành Phật. Nhưng vì chướng phiền não dày, căn tội
nghiệp sâu, Phật chẳng kham dạy ngay đại pháp. Nên ngài đem pháp Nhất thừa phân
biệt nói thành ba. Đây là lý do thiết lập nhất thừa và tam thừa. Vì thế trước
kinh Lăng Già là quyền giáo tam thừa còn Pháp Hoa, Lăng Già là thực giáo nhất
thừa. Nên các nhà Thiên Thai phán định là giáo khai quyền hiển thực. Như thế
thì biết 40 năm đầu Phật thuyết quyền giáo vì căn cơ chẳng đồng vậy.

       Như trên đã nói, đốn, tiệm chẳng phải
một, để thông suốt giáo nghĩa. Nhưng kinh Lăng Già chỉ ngay một tâm là Như Lai
Thanh Tịnh thiền, thì giáo há chẳng phải là thiền tông chăng?

       Đến như Thế Tôn tự nói:

       – “Ta suốt 49 năm không hề nói một
chữ”! Rồi cuối cùng đưa cành hoa lên dạy chúng. Cả trăm vạn người đều mờ mịt
không hiểu, chỉ có một mình Ca Diếp mỉm cười. Thế Tôn bèn nói:

       – Ta có chánh pháp nhãn tạng, Niết Bàn
– Diệu Tâm nay giao cho ông.

       Đó là ý chỉ truyền riêng ngoài giáo, từ
đây truyền đến A-Nan, cho đến 28 Tổ phương Tây, 6 tổ Đông Độ, Đạt Ma từ Ấn Độ
sang được coi là Thiền Tông “chẳng lập văn tự, chỉ thẳng tâm người, kiến tánh
thành Phật” gọi là pháp môn truyền riêng. Nên từ Tào Khê về sau hai phái, năm
tông, truyền đăng ghi 1700 người, đều là bậc đại sĩ ngộ tâm. Hễ có ngôn cú thì
gọi là công án, vì thiền vốn ly ngôn, chỉ để lại một lời, nửa câu làm chứng cứ
ấn tâm, như văn thư ở công đình tại thế gian, chẳng phải muốn người cho đây là
pháp thực, đem miệng tai mà truyền bá, cho là tri kiến huyền diệu của chính
mình.

       Sự nghiệp của Phật đã nói xong một đại
tạng giáo, đến như pháp môn nhất tâm không đầy đủ sao mà phải đưa cành hoa lên
để làm tâm yếu? Đó là vì ý chỉ nhất tâm lìa tướng ngôn thuyết, lìa tướng danh
tự, lìa tướng tâm duyên. Vì từ trước, người nghe tuy ngộ bổn tâm nhưng chưa có
thể lìa tướng nên cuối cùng mượn cành hoa đưa lên để trừ dẹp tập khí chấp ngôn
thuyết, tức là trị bệnh chấp danh ngôn, lấy đây làm cây gậy vàng. Người đời nay
chẳng biết ý chỉ giáo thiền một tâm là phương tiện hóa độ chúng sanh của Phật,
mỗi người vọng chấp một mối cho là đúng đắn, nên chấp giáo không phải thiền, chấp
thiền không phải giáo. Người chấp giáo không phải thiền, dĩ nhiên đi lầm lẫn mà
người chấp thiền không phải giáo lại còn lầm quá xa! Vì người chấp thiền là
chấp cái ngu của mình, vọng nhận cái thấy của mình đó là tự lầm, lại phỉ báng
kinh đại thừa liễu nghĩa cho là văn tự, đến nỗi cứu cánh chẳng thành, thật là
người đáng thương. Tôi xem đời mạt pháp này, các nơi giảng đã ít, không có bậc
tông tượng cho nên người ít tuổi lanh lợi, không có nghe nhiều, không trí huệ.
Dù có người có chí hướng thượng lại không có chí quyết định lâu bền, vì không
có bậc trí thức mắt sáng, chỉ có theo đời lừa dối đến nỗi lạc lầm rất nhiều.
Đây thật là đáng vì họ mà rơi lệ! Rồi lại có tăng đồ tự cho mình ngộ đạo, cuống
hoặc ngu phu thế tục, tham cầu sự cúng dường có ai qui y thì liền khai thị tham
thiền làm một đường hướng thượng, có ai tin mình dù họ thoại đầu chưa thuần
thục, vọng tưởng tung hoành như nước sôi, cũng ấn chính cho; cho là có chỗ ngộ
nhập, đến nỗi làm rơi vào tà kiến. tai hại quá nhiều như thế, không thể không
biết sợ hãi mà tự răn mình. Theo ngu kiến của tôi, thì không phải không cần
tham thiền, chỉ nói là tham thiền không được chơn thật, lại không có chí quyết
định lâu xa, vọng tự cho là ngộ, làm lầm người rất nhiều. Theo ngu ý của tôi
thì nếu như xem kinh giáo mà chẳng thể tham thiền và người tham thiền mà không
quyết định thì đều không bằng chuyên tâm tu tịnh nghiệp, chẳng để qua suông một
đời. Người trí có thể tự xem, xin mọi người tự suy nghĩ may ra không tự lừa dối
mình.

       Trộm xem các bậc đại sĩ đại phu, tể
quan tham thiền liễu ngộ từ xưa chẳng phải ít ỏi rõ ràng trong Truyền Đăng có
ghi không phải là một người. Trong hàng tể quan đời nay, người có chí ngoại hộ
pháp môn, phần đông lấy tham thiền làm đường hướng thượng. Đây không phải là
tầm thường, chắc chắn đã được nói đến. Bởi vì xưa có bậc theo pháp môn tham
thiền mà chưa được đại ngộ triệt rồi phát nguyện hộ trì Phật pháp, cũng có các
Tổ sư có nguyện lực lớn độ sanh va Bồ tát thị hiện cứu thế, cũng có người khi
xưa làm tăng mà tham cứu chưa thấu triệt, do tập khí dẫn dắt, nên nay ra đời,
tuy ở trong trần lao tục đế mà chỗ học tập ngày xưa, chủng tử Bát Nhã một niệm
quang minh thấu lộ, chẳng thể ém đi, nên phát ra sự nghiệp văn chương công
danh; để làm người ngoại hộ. Pháp môn có các phương tiện, tác dụng chẳng đồng
và cửa hạnh cũng không phải chỉ có một thứ, có người chuyên hướng thượng, có
người chuyên công hạnh. Các Tổ sư cũng kiến lập tam-bảo chứng nguyện hộ pháp,
có người chỉ lo sanh tử của chính mình, có người cốt làm người trung hiếu, các
thứ hạnh đều là Bồ tát đạo, chẳng nên đem chỉ một hạnh môn trong tăng đoàn mà
nhìn, thì chỉ là người trong hàng ngũ tăng già mà không biết hai tông giáo –
thiền, cũng có người khổ hạnh đầu đà, cũng có người chuyên tu tịnh nghiệp, cũng
có người chân thật theo hạnh môn cũng có người tùy duyên làm Phật sự để trợ
dương pháp môn, cũng có người trì tụng, viết chép kinh điển để cầu hạnh môn.
Tất cả đều ở trong ánh bạch – hào của Phật. Các thứ nhân duyên vì cầu Phật đạo
cũng chẳng thể đem vơ cả nắm. Nên trong hàng tể quan, phàm người có tham tâm hộ
pháp, chỉ giữ một hạnh của tăng là được, cũng chẳng cần quyết định ai ai cũng
tham thiền mới là chánh hạnh. Vì tham thiền tuy hay, kỳ thực chẳng phải người
tiểu căn có thể hành được.

       Lúc Phật ở đời, trời người có cả trăm
vạn mà chỉ có một mình Ca Diếp, Tổ Đạt Ma từ Ấn Độ sang chỉ được Nhị Tổ; ở
Hoàng Mai hơn 700 người chỉ một mình Lục Tổ được ấn tâm. Há phải việc nhỏ sao?
Nếu người trong tăng chúng chỉ có một hạnh, khả dĩ là việc chính của pháp môn,
khả dĩ giáo hóa chúng sanh, tức là Bồ Tát. Nên nói “Các thứ hạnh đều là Bồ tát
đạo”. Nếu có thể giữ một việc đã vượt khỏi bọn cơm cháo tầm thường, bỏ trôi
thời gian gấp vạn vạn lần rồi. Nghĩa là trong cái dở giữ cái hay thì không phải
là người bỏ đi, trong cái hay giữ cái dở thì không là phải người toàn vẹn. Từ
xưa cả thế và xuất thế gian, người toàn vẹn rất khó được.

       Như trên tôi đã dài dòng nói về thứ lớp
nghi thức của Phật dùng hóa độ chúng sanh. Phật há không muốn người chóng ngộ
tự tâm ngay đó thành Phật? Nhưng chỉ vì chúng sanh căn độn, chẳng thể không
dùng quyền tạm để tiếp dẫn.

       Cổ nhân nói: “Tăng đồ chẳng thể liễu
ngộ tự tâm mà lưu tâm ở giáo pháp thì cũng không bỏ phí thời giờ”. Tôi thì bảo
tăng đồ bây giờ dù chẳng thể tham thiền, xem kinh, cũng có thể năng trì giới,
tụng kinh, làm phước, hộ pháp, cũng có thể nói hơn bọn ma tầm thường vạn vạn
lần.

       Ở trong hàng cư sĩ, nếu người hay trì
trai niệm Phật, trợ lực hoàng dương tam bảo, đều là hạnh chơn thật. Đó là chỗ
mong mỏi của chư Phật, xin các bậc đại sĩ cao minh các nơi nên tự tin điều này.
Cẩn thận chớ cho những lời của tôi là hư vọng.

Mộng Du Tập: Trích Quyển Ba Mươi Bảy


~Trích Quyển Ba Mươi
Bảy~
Duy Tâm Kệ
Tịnh diệu bất tư
nghì
Viên mãn chơn thật tâm
Quảng đại cụ oai thần
Biến hiện vô lượng sự
Kỳ thể ly chư cấu
Bất xả nhiễm tịnh duyên
Thế dữ xuất thế gian
Thành tựu chúng thiện nghiệp
Chúng nghiệp như không hoa
Bổn lai vô sở hữu
Dĩ vô sở hữu cố
Cố thuyết tức chơn thường
Thiện đạt nghiệp tánh không
Bất vi huyễn kỹ hoặc
Bất trước diệc bất yểm
Như lý đế thực quán.
Khởi xứ tức vô sanh
Đương niệm tự không tịnh
Liễu vô tiền hậu tế
Nhất niệm nhược Tu Di
Động tĩnh bình đẳng như
Cảnh giới phong bất động
Tịch diệt diệu thường lạc
Thanh tịnh nhược liên hoa
Thâm nhập trần lao nê
Bất nhiễm thế gian cấu
Hoài thử như ý châu
Tùy cầu vô sở pháp
Thần quang chiếu ám minh
Phổ giác chư hàm thức
Dịch:
Tịnh diệu chẳng nghĩ
nghì
Viên mãn tâm chơn thật
Rộng lớn đủ oai thần
Biến hiện việc vô lượng
Thể này lìa các cấu
Chẳng bỏ duyên nhiễm tịnh
Thế và xuất thế gian
Thành tựu các nghiệp thiện
Các thiện như không hoa
Xưa nay vốn chẳng có
Vì không có gì cả
Nên nói là chân thường.
Khéo đạt nghiệp tánh không
Khéo huyễn chẳng thể hoặc
Chẳng đắm cũng chẳng chán
Như lý quán thật kỹ.
Chỗ khởi tức vô sanh
Ngay niệm tử không tịch
Trọn không mê trước sau
Một niệm như Tu Di.
Động tĩnh như bình đẳng
Gió cảnh giới chẳng động
Tịch diệt vui thường diệu
Thanh tịnh như hoa sen
Vào sâu bùn trần lao
Chẳng nhiễm bợn thế gian.
Ôm châu như ý này
Tùy chỗ cầu chẳng thiếu
Thần quang chiếu tăm tối
Giác khắp các hàm thức
Cư Sơn Kệ
Tá vấn sơn trung
nhân
Sơn cư hữu hà thú?
Nhật bão tam đốn chúc
Trường thân lưỡng cước thùy
Bàn thạch tác thiền sàng
Vân hà vi cái bị
Vi phong súy u tùng
Phát minh Tây lai ý
Bát lạc vân lý hoa
Quát trừ nhãn trung ế
Nhất niệm tuyệt trung biên
Liễu vô tiền hậu tế
Giác lai song nhãn không
Hồi thị mộng trung sự
Lao lộc thủy để nguyệt
Khước phiên thành độn trệ
Phàm thánh nhất tề phao
Phương thoát nương sanh lụy
Nhất vật bất tương lai
Du thị đệ nhị nghĩa
Thấu xuất vô sự quan
Thủy toại cư sơn kế
Dịch:
Tạm hỏi người trong
núi
Ở núi có gì vui?
Ngày no ba bữa cháo
Duỗi dài hai chân ngủ
Đá tảng làm giường thiền
Ráng mây làm mền đắp.
Gió nhẹ thổi rặng tùng
Tổ sáng ý Tây sang
Khoác rụng hoa trong mây
Lột hết mây trong mắt
Một niệm dứt các bên
Rõ không còn sau trước.
Tỉnh lại hai mắt trơ
Nhìn lại việc trong mộng
Mò vớt trăng trong nước
Trở lại thành trì độn.
Ném cả phàm lẫn thánh
Mới rời khỏi khố mẹ
Một vật cũng chẳng đem
Vẫn là nghĩa thứ hai
Thấu qua cửa vô sự
Mới xong kế ở núi.
Thị Niệm Phật
Niệm Phật bổn vi
siêu sanh tử
Tiên tu yếu thức sanh tử tâm
Si ái tiện thị sanh tử căn
Bất bạt kỳ căn nan giải thoát
Si ái tức thị niệm Phật tâm
Tức tương niệm Phật đoạn si ái
Si ái nhược năng niệm niệm đoạn
Tâm tâm Di Đà toàn thân hiện
Tức thử tiện thị chân tinh tấn
Bất khả nhất niệm tạm vong khước
Tịnh Độ tựu tại Tịnh Tâm trung
Bất đắc hướng ngoại biệt tầm mích
Dịch:
Niệm Phật vốn vì siêu
sanh tử
Trước phải cần biết tâm tử sanh.
Si ái chính là rễ tư sanh
Không nhổ rễ này khó giải thoát
Si ái tức là tâm niệm Phật
Tức đem niệm Phật dứt si ái
Si ái nếu hay niệm niệm đoạn
Tâm tâm Di Đà toàn thân hiện.
Đây tức chính là chân tinh tấn
Chẳng thể tạm quên trong một niệm.
Tịnh Độ ở ngay trong tâm tịnh
Chẳng được tìm kiếm ở bên ngoài.
Dạy Thiền Nhân Đại
Trạch
Vạn lý vi thùy lai
Lai phục vi để sự?
Ngoa lý mô chỉ đầu
Nguyên bất tại biệt xứ
Nhược hướng ngoại biên tầm
Tẩu tận thiên nhai lộ
Lai lai khứ phục lai
Thử pháp nguyên vô trụ
Thí vấn Tào Khê tăng
Bồ Đề khả hữu thọ?
Nhược bất đắc nhất chi
Uổng phí mại đơn bố
Dịch:
Vạn dặm đến là ai?
Đến để vì việc gì?
Trong giầy mò mấy ngón
Vốn không ở chỗ khác.
Nếu tìm ở bên ngoài
Chạy đến tận chân trời
Cứ chạy đi chạy lại
Pháp này vốn không trụ.
Thử hỏi tăng Tào Khê
Bồ Đề có cây chứ?
Nếu chẳng được một cành
Uổng phí sắm hành lý
Quán Thân
Thị thân như thủy
bào
Sạ hiện diệc bất cữu
Si nhi dĩ vi châu
Thủ chi bất doanh thử
Huống phục ư thủ trung
Đa tham vi tội tẩu
Duy tại trí nhãn quan
Tất cánh hà sỡ hữu
Dịch:
Thân này như bọt nước
Chợt hiện cũng chẳng bền
Trẻ thơ cho là ngọc
Bắt tay chẳng đầy tay
Huống là ở trong đó
Tham lam làm nguồn tội
Chỉ dung mắt trí xem
Rốt cuộc làm gì có.
Quán Tâm
Thử tâm bổn vô
hình
Thị chi bất khả kiến
Khởi diệt liễu vô đoan
Tấn nhược không trung điện
Vọng tưởng trục trần lao
Khát lộc bôn dương diệm
Kham ta kim cổ nhân
Đô áp lương vi tiện.
Dịch:
Tâm này vốn không
sanh
Chỉ thì chẳng thể thấy
Khởi diệt không đầu mối
Mau như chớp trong không
Vọng tưởng theo trần
lao
Nai khát đuổi sóng nắng
Đáng than người kim cổ
Đều ép lành làm tiện.
Dạy Cư – Sĩ Lục
Nhất
Thế sự hốt như
mộng
Nhân tình không như vân
Tuy tri trần thị lý
Tâm tĩnh tức ly quần
Tích cận ninh vi tục
Tâm không khởi tại gia
Đản khán ô trọc thủy
Trạm trạm xuất liên hoa
Dịch:
Sự đời thoáng như
mộng
Tình người rỗng như mây
Tuy biết trong chợ trần
Tâm tĩnh liền lìa xa
Dấu gần đâu trái tục
Tâm không há ở nhà
Chỉ xem nước dơ bẩn
Lóng lặng mọc hoa sen.
Dạy Thiền Nhân Quý
Ở Kim-Sơn
“Bạch phát sầu nan
giải”
Hồng trần lộ bất thông
Thân cư nhân cảnh nội
Tâm tại vạn sơn trung
“Nhật nhật trần
lao lý”
Triêu triêu ái ố trường
Bất tri nhân thậm sự
Chuyên nhất vị tha mang
Khổ hải thâm vô đế
Phù sinh sự hữu nhai
Bất tri tam giới nội
Hà xứ thị quy gia.
Dịch:
Tóc trắng sầu khó mờ
Bụi trần đường chẳng thông
Thân ở trong cảnh người
Tâm năm sâu vạn núi
Ngày ngày trong trần
lao
Sớm sớm chốn thương ghét
Chẳng biết bởi việc gì
Cứ vì nó bận rộn
Biển khổ sâu không
đáy
Việc phù sinh có bỏ
Chẳng biết trong ba cõi
Nơi nào là quê nhà
Núi Bồ Đề
Bất đáo Bồ Đề sơn
An thức Bồ Đề cảnh
Độc hữu sơn trung nhân
Vong ngôn tâm tự tỉnh
Khả tích thanh lương tâm địa
Vô đoan bính xuất tham sân
Thích lịch tâm trung hỏa khởi
Thiêu tàn tự tánh thiên chân
Dịch:
Chẳng đến núi Bồ Đề
Sao biết cảnh Bồ Đề
Riêng có người trong núi
Quên lời tâm tự xét
Đáng thương tâm địa thanh lương
Vô cớ tham sân xuất hiện
Sấm chớp trong tâm nổi lửa
Đốt tiêu tự tánh thiên chân.

Mộng Du Tập: Trích Quyển Mười Hai


~Trích Quyển Mười
Hai~
Pháp Ngữ Tịch
Chiếu Khải Công
Thỉnh Ích 8 Tắc

       1. Hỏi:
       Kinh nói: “Huệ thanh tịnh vô ngại đều do
thiền định sanh”. Tại sao Nam Nhạc bảo Mã Tổ rằng:

       Nếu học đạo tọa thiền, thì thiền chẳng
phải là ngồi, nằm. Nếu học làm Phật, thì Phật chẳng phải là tướng định. Ở nơi
pháp vô trụ, chẳng nên thủ, xả?

       Hai thuyết này dường như có một đúng,
một sai.

       Đáp:
       Dưới cửa Tổ Sư, chẳng luận ngồi thiền hay
làm Phật, chỉ quý kiến tánh. Nếu thấy tự tánh, rõ ràng phân minh thì không có
thủ, xả. Vừa có thủ xả liền rơi vào đúng sai.

       2. Hỏi:
       Kinh Viên Giác nói: “Tứ đại của ta bây giờ
nghĩa là các thứ cứng, ướt, ấm, động, mỗi thứ hoàn lại cho đất, nước, lửa, gió.
Thế thì khi tứ đại mỗi thứ chia lìa, vọng thân này sẽ ở chỗ nào? Chưa rõ thân
này lúc chưa chết, mỗi thứ có lìa không? Hay đợi chết rồi mỗi thứ mới lìa?

       Đáp:
       Cốt lúc chưa chết vứt xuống được, lúc sắp
chết chẳng bị nó làm lụy. Đợi đến lúc chết muốn lìa thì khó rất khó như rùa
sống lột mai. Người xưa nói: “lúc nhàn làm, để lúc vội dùng” chính là đây vậy.

       3. Hỏi:
       Kinh Lăng Nghiêm nói: “Anan bạch Phật
rằng:
       – Từ đâu nhiếp phục gốc phát tâm để nhập
tri kiến Phật?
       Phật bảo:
       – Các ông muốn vào tri kiến Phật, phải nên
quán kỹ: nhân địa phát tâm cùng với quả địa giác ngộ là đồng hay khác? Nếu nơi
nhân địa đem tâm sanh diệt làm gốc tu nhân mà cầu Phật thừa bất sanh bất diệt,
thì không thể được?
Chưa rõ hiện giờ cái tâm muốn ra khỏi sanh tử tham thiền học đạo, có phải là
tâm sanh diệt không?

       Đáp:
       Người học tham thiền, trước hết đoạn tâm
sanh diệt, đến lúc phát minh thì thấy được tánh chẳng sanh diệt. Nếu dùng tâm
sanh diệt để tham thì chỉ là theo vọng tưởng lưu chuyển chứ chẳng phải là tham
cứu.

       4. Hỏi:
       Thiền sư Bách-trượng Hoài Hải nói:
Tham kiến thiện tri thức, tìm cầu một chút hiểu biết là ma thiện tri thức, vì
việc đó sanh ngữ kiến vậy.

       Nếu phát 4 thệ nguyện lớn, nguyện độ
tất cả chúng sanh rồi mới thành Phật thì đó là ma Bồ Tát pháp trí, vì thề
nguyện chẳng xả vậy.

       Nếu trì trai giới, tu thiền, học huệ là
thiện căn hữu lậu, thì dù có ngồi đạo tràng thành Đẳng chánh giác, độ người như
số cát sông Hằng, tận chứng quả Phật Bích Chi đó là ma thiện căn, do khởi tham
đắm vậy.

       Nếu ở các pháp đều không tham nhiễm chỉ
còn thiền lý, thiền định rất sâu, lại không tăng tiến, đó là ma tam muội, do
đam mê nghiền ngẫm lâu dài.

       Nay người tham thiền học đạo làm sao
khởi được ma này để vào đường tu hành chân chánh?

       Đáp:
       Các người tu hành chỉ vì chẳng quên tâm,
kiến nên động theo lưới ma. Nếu tâm, kiến tiêu mất thì Phật cũng chẳng lập.

       5. Hỏi:
       Phá 4 đại, 5 ấm, có trước sau chăng?

       Đáp:
       Kinh nói: 5 ấm phá từ từ, ắt phá sắc ấm
trước. Nếu tham thiền đánh bể thùng sơn thì phá thức ấm trước. Thức ấm đã phá
thì 4 đại không chỗ nương. Nên như cắt nước, thổi ánh sáng. Trọn không chạm
nhau.

       6. Hỏi:
       Bốn câu kinh Kim Cang, xưa nay chưa có ai
nói rõ. Hoặc chỉ sắc, thanh, hương v.v… là bốn câu. Hoặc chỉ mắt, tai, mũi,
lưỡi là 4 câu, hoặc chỉ các tướng chẳng phải tướng v.v…, hoặc chỉ có đế,
không đế v.v… Đến Thiên Thân thì nói: “Ta lên Đâu Suất Đà Thiên, thỉnh hỏi
Đức Từ Thị, thì Ngài bảo là không ngã tướng, không nhân tướng, không chúng sanh
tướng, không thọ giả tướng”. Lục Tổ thì nói là Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa. Đại
Sĩ Song Lâm lại nói: “Trong kinh trì 4 câu, nên phải không rời thân, người ngu
xem tợ mộng, người trí chỉ thấy chân”. Từ xưa đến nay chẳng hề có lời nhất định
là sao?

       Đáp:
       Phật nói Bát Nhã như các thứ cỏ trên núi
Tuyết, cái nào cũng là thuốc. Cần đến liền dùng, nhất định trừ hết bịnh. Nên cổ
nhân đưa ra điều gì là bốn câu, mỗi đều là một cọng cỏ của núi Tuyết vậy.

       7. Hỏi:
       Cổ nhân nói: “Thuần thanh tuyệt điểm” vẫn
là chân thường lưu chú. Dù được “Không một pháp xứng tình” vẫn bị Ngưỡng Sơn
kiểm điểm. Dù được “Khắp thân là chiếu”, vẫn ở chỗ rũ tay của con nhà nạp tăng.
Dù được “ở mé Oai Âm trước bảy Phật tiến thủ”, vẫn là hội ở lời nói. Nay người
học, quả thật có đến cảnh giới này chăng?

       Đáp:
       Cổ nhân chỉ dạy, chỉ vì sợ người lạc ở
giữa đường, người học dù đến đây, cũng là việc ở giữa đường, huống là chưa đến
đây, mà mở miệng nói Thiền, đều là tâm lừa dối.

       8. Hỏi:
       Đại Sư Viên Ngộ nói: “Có Tổ về sau, chỉ
cốt truyền riêng chỉ thẳng, lấy lời đuổi lời, dùng cơ đoạt cơ, đem dụng phá
dụng. Do đó có sự phân chia chi phái, mỗi phái chuyên chiếm môn phong. Phải là
người có căn khí hướng thượng, có chí thiệu long thánh chủng, sau đó thâm nhập
được vào chỗ uyên áo, mới có thể được ấn chứng.” Điều này phải được xem là quý
báu, sâu kín, chớ cho là dễ dàng. Nay thấy người học, phần đông chẳng xét căn
khí của mình, liền muốn tham cứu việc hướng thượng. Quả thật không cần luật căn
khí chăng?

       Đáp:
       Tổ sư chọn người luận căn khi tức như
trong kinh Phật luận về chủng tánh. Nếu chẳng phải chủng tánh loại này, rốt
cuộc cũng chỉ là dính da, bám xương. Nay người căn khí chẳng trong sạch, nhất
định không được dự phần vào việc này. Nếu ai chịu lưu tâm đến việc này, từ đây
chẳng lui sụt, lâu dần có thể thăng tiến. Đây là người thuộc hạng bất định
tánh.

Am Vương Giới Chu
Bạch Dân
Thỉnh ích

       1. Hỏi:
       Phật nói đến đốn giáo, tiệm giáo. Thiền mở
đốn môn, tiệm môn. Hai giáo, hai môn là đồng hay khác?

       Đáp:
       Phật tổ ra đời, vốn không pháp có thể
thuyết. Nhưng pháp vốn không thuyết, thì đâu có đốn, tiệm mà sai biệt? Nói đốn
tiệm là chỉ vì căn cơ mà bày, chẳng liên can đến pháp.

       Giáo có đốn tiệm là như Phật Tỳ Lô Giá
Na lúc mới thành chánh giác, tại đạo tràng Bồ Đề nói Kinh Hoa Nghiêm, chóng chỉ
pháp môn tâm địa pháp giới bình đẳng. Chỉ thẳng không sót. Như mặt trời vừa mọc
trước chiếu núi cao. Sau những nhà phán giáo gọi là pháp môn viên đốn. Đây là
đốn pháp của Phật chỉ dành cho một loại chúng sanh đại căn địa thượng, trong đó
có bốn mươi hai thứ lớp. Đây là tiệm trong đốn vậy.

       Ngoài ra, những người căn cơ hạ-liệt
tại tòa như mù, như điếc, tuyệt nhiên không có phần. Đó là pháp tuy lớn mà
nhiếp cơ chẳng rộng. Tức chỗ Kinh nói: “Chỉ có một cửa mà lại nhỏ hẹp”. Như
thế, há Phật thuyết pháp riêng cho một người sao? Do đó Phật hiện Ứng Hóa Thân
thuyết pháp ba thừa tùy theo ba căn cơ mở bày. Ban đầu từ tiệm tu chứng, nghĩa
là tiệm giáo vậy.

       Sau đến Lăng-Già, Pháp-Hoa, Niết-bàn
chóng chỉ chủng tử Phật tánh. Đó là do tiệm mà đến đốn vậy. Đây là sự phân đốn
tiệm của Giáo.

       Còn cửa Thiền, các kinh đều nói trong
lục độ của Bồ Tát có hai độ là Thiền định và trí huệ. Bồ tát phán giáo căn cứ
hai độ mà khai mở hai môn Chỉ Quán làm gốc tu hành. Đây là ở trong giáo dùng
đốn mà tiệm tu, ở thiền là tiệm trong đốn. Thiền Đạt Ma là nhân Thế Tôn sau
cùng đưa cành hoa, Ca Diếp “phá nhan vi tiếu” (tươi mặt mỉm cười). Phật bèn dạy
đó là chánh pháp nhãn tạng, Niết Bàn diệu tâm. Rồi thành ý chỉ giáo ngoại biệt
truyền. Tại Tây-Vức truyền đến 28 đời, rồi Đạt Ma qua Tàu truyền sáu lần, đến
Tào Khê trở xuống, Truyền Đăng có ghi các Tổ là thiền “Truyền riêng chỉ thẳng
một tâm”. Thiền trong lục độ chẳng thể so với đây được. Vì đây riêng dạy một
tâm, lại không pháp khác. Ngay đó chóng thấy tự tâm, chẳng thuộc nhân quả tu
chứng mê ngộ. Đặc biệt hiển bày chỗ Phật chưa xuất thế, đây là một đường hướng
thượng gọi là đại thừa đốn giáo. Đó là đốn của thiền.

       Đến như lịch đại tổ sư, đốn ngộ tâm
này, tuy ngay một lời, một câu, một gậy, một hét, liễu ngộ thẳng tắt, cũng do
nhiều đời tu tập, gốc Bát Nhã sâu, lúc nhân duyên đến, ngày nay thành thục.
Cũng có người đời này tham cứu, công phu hai ba mươi năm, sau đó được ngộ. Như
vậy, tuy đốn cũng từ tiệm mà thành. Như Quy Sơn nói: “Người học nếu có thể một
niệm liễu ngộ tâm mình thì gọi là ngộ. Nhưng còn vô minh từ vô thủy trôi chảy
nhỏ nhiệm, đem cái ngộ trừ sạch hiện nghiệp lưu thức, thì gọi là tu. Chẳng phải
ngoài đây ra lại có cái tu khác. Lấy đây mà quán thì trong đốn chưa từng có
không tiệm. Tôi thường xem Lăng Già, phân bốn môn đốn tiệm:

       1/ Đốn đốn
       2/ Đốn tiệm
       3/ Tiệm đốn
       4/ Tiệm tiệm

       Nên biết việc này chẳng thể chấp cứng
mà luận. Tuy đốn ngộ mà chẳng bỏ tiệm tu. Tâm Phật và tổ vốn không hai vậy.

       2. Hỏi:
       Phật thuyết các kinh đều luận đàm xứng
tánh, toàn là ý chỉ liễu nghĩa. Tại sao nói Đạt Ma từng khen Lăng Già rằng:
“Kinh này là tâm yếu của ta”. Đến Hoàng Mai thì chỉ dùng Kim Cang. Còn các kinh
khác có sai biệt gì không?

       Đáp:
       Phật thuyết các kinh đại thừa, tuy là bàn
về liễu nghĩa xứng tánh nhưng là dựng lập cửa giáo hóa chẳng lìa mê ngộ, tánh
tướng đối đãi. Cốt yếu phản vọng về chân, đều có sự hòa hội mới hiển nhất chân.
Đến kinh Lăng Già chỉ thẳng một tâm, tuy có chân vọng mà dạy thức tàng tức Như
Lai tàng, chẳng cần hòa hội. Riêng hiển bày cảnh giới Tự Giác Thánh Trí. Nếu rõ
vọng tưởng từ tâm hiện, không có tự tánh, tức là Thánh Trí chẳng cần chuyển
nữa. Nghĩa là lối tu hành này chỉ quán ngay tự tâm lưu trú, vọng tưởng hiện
lượng, mau đạt được tự tâm, cũng chẳng lập địa vị, lập giai cấp; nên nhà phán
giáo gọi là pháp môn đốn giáo. Cho nên Đạt Ma lấy kinh này làm tâm ấn, để dạy
yếu quyết thiền tông, vì kinh này khó rõ, hạng hiểu kém khó thâm nhập nên
truyền đến Hoàng Mai thì lấy kinh Kim Cang ấn tâm.

       Kinh Kim Cang là một trong tám bộ Bát
Nhã, văn có 600 quyển, chỉ riêng quyển này hợp tâm ấn Tổ Sư. Lấy Bát Nhã làm
cửa đầu tiên vào đại thừa. Chính như Lăng Nghiêm nói: “Bồ Tát dùng tâm bất sanh
diệt làm gốc tu nhân” mà Bát Nhã là Thực Trí căn bản của Phật, chính là tâm bất
sanh diệt vậy. Kinh Kim Cang lấy vô trụ làm tông, dứt nghi làm dụng. Vì nhị
thừa vọng khởi các thứ trụ-trước chúng sanh kiến, Phật kiến, Pháp kiến lớp lớp
khởi nghi kinh này nhổ hết gốc nghi, đến thẳng đất chẳng nghi, tri kiến tiêu
vong, chẳng lập một pháp, đuổi hết tâm trụ trước. Chính là cùng với thủ đoạn gỡ
niêm tháo chốt của Tông môn tương đồng. Chặt đứt ý lời, phân biệt, chính là chỗ
Tông môn chẳng cho nghĩ suy, chẳng mắc tư duy, thức-tình khô sạch, thấu pháp
thân hướng thượng. Hoàng Mai lấy đây ấn tâm là có lý do vậy. Các kinh khác đều
còn chỗ bám, kinh này cắt đứt, tham thiền rõ điều này thì dễ vào vậy.

       3. Hỏi:
       Nếu có Như Lai thiền Tổ Sư thiền, hai thứ
thiền này quả thật đồng hay khác? Hương Nghiêm chạm trúc có tỉnh, trình kệ:
“Năm ngoái nghèo chưa thật nghèo” với Ngưỡng Sơn, Sơn bảo: “Mừng cho Sư huynh
hội được Như Lai thiền, còn Tổ Sư thiền chưa từng mộng thấy”. Dựa vào lời này
thì thấy có Như Lai thiền, Tổ Sư thiền khác. Nếu từ Ca-Diếp truyền đến Sơ Tổ
Tây lai, Tổ Tổ truyền nhau và Thủy Tổ các tông tức là Phật Thích Ca thì làm sao
khác được?

       Đáp:
       Như Lai thiền và Tổ Sư thiền xưa nay không
hai. Nhưng Như Lai thiền là trong mê nói ngộ, cốt tu rồi sau nhập vào (chơn
tánh). Tổ sư thiền một lần chẳng thuộc mê ngộ, chẳng nhờ tu tập, cốt người ngay
đó chóng rõ tự tâm. Phàm rơi vào cửa mê ngộ tức là nghĩa thứ hai. Do đó Cổ Đức
nói: “Tu hành thì chẳng phải không, mà nhiễm ô sao được?” Thế nên một đường
hướng thượng của tông môn phải là “một cá nhân” mới được. Trong kinh Lăng Già
nói 4 loại thiền, thì thiền tối thượng nhất thừa, tức Tổ Sư thiền, kỳ thực vốn
không có khác.

       Nếu căn khí bất tịnh, vọng khoe
tri-kiến thông minh để hội Tổ Sư thiền, như thế thì ngay cả Như Lai thiền cũng
chưa hề mộng đến. Ví như người nghèo vọng xưng đế vương tự rước tôi tru lục,
không đáng sợ sao? Không đáng sợ sao?

Dạy Tiêu Huyền Phố
Tông Bá

       (Thiên Khải Quý Hợi mùa đông, ngày 6-10
từ đây tuyệt bút).

       Nhập đạo, trước cần liễu ngộ tâm thể
của đương nhân, xưa nay quang minh quảng đại, bao gồm tất cả, thanh tịnh tràn
đầy, thánh phàm chẳng lập. Chẳng bị thân tâm thế giới làm trở ngại. Đây tức là
một đường hướng thượng. Tâm ấn của Tổ Sư chỉ thế mà thôi. Đã có thể ngộ suốt
tâm này, thì ở chỗ ứng duyên hằng ngày tất cả cảnh giới như hình hiện trong
gương, đến không chỗ dính mắc, đi không vết tích. Thế thì tất cả chỗ hành động
đều từ trong mé thực chơn tâm lưu xuất. Mỗi sự nghiệp đều chân thật bất hủ,
chẳng những cùng trời trăng đua ánh sáng mà đối với người mê khư khư kia, vọng
tưởng làm những sự dối trá, há có thể so sánh ư? Một đoạn ánh-sáng này, người
người đầy đủ, vốn không kém thiếu, chỉ có ngã kiến kiên cố, hễ có làm gì ắt cho
là công của mình, chấp chỗ thấy là đúng, phải trái xen lẫn, trọn không có luận
nhất định. Sở dĩ như thế vì không có tâm của bậc đại công khoáng đạt mà muốn
xây dựng sự nghiệp ngàn thu bất hủ, thật khó vậy.

       Lại,
       Tâm thể chúng ta xưa nay tròn đầy sáng
suốt. Mà nay chẳng thể đốn ngộ, chẳng được thọ dụng hiện tiền bởi vì các thứ
phiền não tham, sân, si, ái từ vô lượng kiếp đến nay ngăn che tự tâm. Do đó
công tiệm tu chẳng thể thiếu.

       Quy Sơn nói: “Người học có thể một niệm
chóng ngộ tự tâm, nếu đem chỗ ngộ trừ sạch hiện nghiệp lưu thức, thì gọi là tu,
chẳng phải ngoài đây có cái tu khác”. Nếu người học đạo chỉ cần đốn ngộ liền
xong, toan bảo không công có thể dụng, vậy thì tập khí ẩn sâu, gặp cảnh lén
phát, để lâu sẽ trôi vào cõi ma. Nhưng công tiệm tu cũng chẳng phải có thứ lớp,
chỉ trong nhật dụng nhắm chỗ chưa khởi tâm động niệm, đứng vững gót chân phản
quán nội chiếu. Ở chỗ một niệm khởi nên truy xét một niệm này từ chỗ nào khởi,
truy đến chỗ một niệm sanh vốn tự sanh thì tất cả vọng tưởng, tình lự ngay đó
băng tiêu. Nhưng kỵ nhất là không có sức dũng mãnh, chẳng thể nắm chẹt cổ họng,
bất giác tương tục thì trôi đi mà chẳng quay lại được.

Dạy Chu Tử Dần

       Hôm nay trong núi đại chúng kiết chế,
Hải Ấn chiếm tòa thuyết kinh Pháp Hoa. Lúc đó túc hạ cầm thư đến, lại có quả
đẹp, đủ đoán túc hạ là người trong pháp hội, là người trước được đạo quả. Đây
chẳng phải bói mò. Thư trước nói rằng: Nhật nghiệp chính chắn như vậy chẳng
sai, cũng có thể dần dần vào pháp môn bất nhị. Nếu trong đó hằng ngày niệm niệm
đều là tâm hạnh sanh diệt, đâu thể “tịch diệt vi lạc”. Nếu muốn thọ dụng được
tâm địa, lại phải nhắm lúc đọc sách, viết văn đã xong, chỗ các thứ ứng duyên,
ngay đó thực sự dũng mãnh phản quán nội chiếu, quán mọi thứ tâm tác động sanh
diệt, rốt cuộc từ chỗ nào khởi, rồi bây giờ diệt đi về đâu? Như thế quán cho
thật sâu, lâu dần nhập vào chỗ nhỏ nhiệm kín đáo. Ở trong đây, nơi tất cả tập
khí ngầm ngầm trôi chảy, nơi phiền não vô cớ nổi lên, nên thực sự nhìn xem cho
chắc, xem chúng rốt cuộc là vật gì, từ chỗ nào khởi diệt, truy lùng đến chỗ
quét sạch dấu vết, như trong nồi nước sôi nhỏ một cụm tuyết vậy. Như thế hằng
ngày niệm niệm chẳng được lơi lỏng. Ngay lúc đó mảy may một tâm niệm lười
biếng, giải đãi, cầu an, mưu cầu khoái hoạt, hưởng thụ phát sanh, thì đây chính
là gốc bệnh phát tác, liền nhắm ngay đây mà dựng lông mày một cách mãnh liệt,
chẳng thể bị chúng cột trói cứng. Vừa thấy bị cột trói, cần nhất là không nên
để nó lôi đi. Rất kỵ! Rất kỵ! Mau dùng một tiếng Bồ tát hoặc một tiếng Phật dựa
vào cho chắc, vật lộn với nó. Khi gặp các thứ ác tập nổi lên, liền hết sức đem
thoại đầu này mà đề khởi. Hướng vào hư không quét một trận, chẳng kể là ma, là
Phật, là tập khí phiền não, là thiện ác suy lường, tất cả tình trần nhất tề đốn
dứt, như là chém cuộn chỉ rối. Hạ công phu như thế thì chẳng ngại đọc sách,
chẳng ngại viết văn. Khi đọc sách, hãy xem việc đọc sách này nhắm chỗ nào gởi
gấm. Viết văn, hãy xem văn này từ đâu chạy ra? Cũng chẳng ngại tiếp đãi khách
khứa, uống trà, ăn cơm, đại tiện, tiểu tiện. Tất cả chỗ không để lọt đường tơ
kẻ tóc, nên như thế mà an tâm. Lại cùng với chỗ Vĩnh Gia nói:

Khéo khéo lúc dụng
tâm
Khéo khéo không dụng tâm
Không tâm khéo khéo dụng
Thường dụng khéo khéo không.

       Là một loại hay chẳng phải một loại?

       Chẳng biết túc hạ có thể tin lão Hải Ấn
này không dối gạt chăng? Thỉnh tự thử xem! Túc hạ nếu thấy tin chẳng lầm, mới
biết Trang Tử tâm trai 3 tháng, thật là đáng buồn cười. Một bộ kinh Viên Giác,
túc hạ đọc thuộc, mỗi ngày từ sáng đến chiều lấy làm công khóa, đợi đến mùa
xuân gặp mặt sẽ cùng nhau quyết trạch. Tâm thường viết thư cho túc hạ, chẳng
khỏi có vương chút tình thức, tự thẹn vì túc hạ chưa triệt, chẳng phải không
triệt mà sợ túc hạ lòng tin chưa triệt. Nay thấy túc hạ lòng tin dần tăng, ngày
càng thanh tịnh. Lúc này nếu không khoét tấm lòng son đưa túc hạ thì đến lúc
nào mới triệt. Nếu túc hạ lần lửa chẳng chịu triệt thì Hải Ấn tự triệt vậy. Thế
nào? Thế nào? Nhân thế đáng thương! Tuy nói đáng thương nhưng ngóng tâm túc hạ
lại càng đáng thương hơn!

       Lại,
       Thư đến thưa hỏi thật là tha thiết. Vì túc
hạ chưa được rõ hai chữ “không huyễn” nên đối với tâm cảnh đều bị ngăn ngại, do
đó công phu khó làm. Nay vì túc hạ nói phá để rõ ràng không còn nghi lo nữa.

       Chỗ nói “không” không phải là cái không
trống rỗng. Chính như tục ngữ nói: “Bên cạnh như không người”, há bên cạnh thực
không có người sao? Nhưng mà trong mắt coi như không có người vậy. Nói là
“huyễn” chẳng phải là cái huyễn biến hóa quái dị, mà có nghĩa là có mà không
thật. Giống như người làm trò ở chợ lấy trong ống đồng ra khá nhiều nhân vật,
nhưng trong ống này vốn không có. Do vốn không có nên vốn không. Vì thế nói: ví
như huyễn hóa chẳng phải không có người huyễn hóa, mà người huyễn hóa chẳng
phải người thật, người chẳng phải thật, không phải là không sao? Phật nói chữ
“không” nghĩa là phá cái chấp trước của người đời cho là thật có. Chẳng phải
nghĩa đoạn diệt tuyệt không có gì. Lại sợ người đời chìm trong đoạn diệt, Ngài
lại nói chữ “huyễn” để trừ cái thấy đoạn diệt. Thế nên tất cả thân tâm, các
pháp nhân “huyễn” nên “không”, do “không” nên nói “như huyễn”, hỗ tương mà quán
thì chóng thấy chỗ kỳ diệu. Nói “không” tức huyễn có, nên quán không gọi là
chân không. Nói “có” là vốn không mà huyễn có, gọi là diệu hữu. Do chân không
nên tâm không phải là đoạn diệt, do diệu-hữu nên cảnh là vô sanh, cảnh đã vô
sanh thì tâm nắm bắt cái gì? Tâm đã chẳng phải đoạn thì vọng niệm chẳng còn,
vậy đem tâm nào chấp cảnh? Cảnh vốn là huyễn thì lấy cảnh nào lôi tâm? Vậy chỉ
cần tâm không giữ cảnh mà tâm chẳng phải đoạn diệt. Cảnh chẳng phải lôi tâm mà
cảnh tự như như, chỗ nào chẳng vui? Đây là chỗ nói: “Tâm vốn không sanh, do
cảnh mà có. Cảnh trước mắt nếu không thì tâm cũng không”. Nếu chỉ xem thấu như
huyễn, chẳng thực thì gọi là như không; linh tâm riêng chiếu, vọng tâm chóng
dứt cũng gọi là không. Chỗ này là không vọng tâm, đâu phải là tuyệt hẳn không
có chân tâm! Thế nào là vọng tâm? Là người chấp cảnh chẳng biến đổi vậy. Thế
nào là chân tâm? Là chẳng giữ tướng thân, tâm, cảnh giới, liễu liễu thường tri,
linh nhiên tịch chiếu vậy.

       Dụng tâm như thế có gì chướng ngại? Nên
nói: “Tự tâm chấp giữ tự tâm, chẳng phải huyễn mà thành pháp huyễn”. Không chấp
giữ, không phi huyễn. Phi huyễn còn chẳng sanh, pháp huyễn làm sao lập?

Chính là chỗ nói:
       Cảnh duyên không tốt xấu
       Tốt xấu khởi nơi tâm
       Tâm nếu không gượng gọi
       Yêu ghét do đâu khởi?

       Đó là “Nếu tình không gá vật, vật há
làm ngại người”. Vật đã chẳng thể làm chướng ngại người, người chẳng lẽ ngại
với vật sao? Người đời sở dĩ chẳng được tự tại chỉ vì không đạt tâm cảnh vô
sanh, như huyễn không thực. Nếu đạt rõ được một niệm vô sanh như huyễn thì tất
cả tình trạng khổ vui, lo lắng, được mất, yêu ghét, lấy bỏ, ngay đó ngói bể
băng tiêu. Nên nói: “Biết huyễn tức lìa, chẳng tạo phương tiện, lìa huyễn tức
giác, cũng không thứ lớp”. Đây là “một niệm chóng đến nhà Phật”, chẳng phải lời
nói suông. Túc hạ nếu quán chỗ tất cả vọng niệm khởi diệt, chỗ tất cả cảnh giới
khởi diệt, đều là huyễn hóa không thật thì tâm tự nhiên chẳng bôn ba theo cảnh,
cảnh tự nhiên chẳng lôi kéo tâm. Qua lại ứng duyên, thì một niệm rỗng sáng, rỡ
ràng riêng chiếu. Chiếu soi thân tâm hiện tiền như huyễn như hóa, như trăng
trong nước, như bóng trong gương, như mây trong không, như sóng nắng ngựa
hoang. Nên như thế nắm chắc, con mắt Kim Cang chớ động nữa. Mặc kệ tất cả cảnh
giới, chạm tới liền tiêu, dù cho có vọng tâm nào, nhìn tới liền diệt. Dụng tâm
như thế lại có vọng tâm nào quấy nhiễu? Lại có cảnh vọng nào có thể chạm đến
tâm? Đây xét rõ lời nói, thật là Hải Ấn cực lực vì túc hạ hết mình thố lộ,
trình bày triệt để cặn kẽ, túc hạ chớ hoài nghi nữa. Cần chớ nên nghĩ trước
tính sau, các thứ suy lường đều là ác giác, ác tập, đều là nhân duyên chướng
đạo. Nếu được như lời nói này của lão nhân thì trước mắt đã là người cực lạc,
thư tay mà trách bút bất giác viết lan man tâm lão bà như vậy, lôi thôi thế đó.
Trân trọng.

       Lại,
       Một lần xa cách mới đó đã vài tháng. Thời
gian chóng vánh, ngày tháng dối người. Mỗi lần nghe túc hạ tinh tấn gấp bội,
tôi vui sướng ngập long. Ban đầu ý định tôn nhân đi rồi, ắt được vào núi gặp gỡ
một phen, cùng nhau ấn chứng công phu đã qua để quyết trạch. Đây tưởng là chân
thật, bất giác như các việc mộng. Đáng cười đạo nhân cũng rơi vào tình kiến như
thế.

       Thứ đến nói: nhân ngồi để mong được
tĩnh lặng, nhân tĩnh lặng để cầu tâm. Đây là cửa ban đầu vào đạo thích đáng
nhất. Nhưng trong khi ngồi mà chưa sáng được chỗ ách yếu, do đó ngồi lâu mệt
mỏi. Vì chẳng đạt sự thần diệu của tâm thể nên tĩnh lặng lâu lại muốn được nghe
tiếng rồi lại nổi nghi như không có chỗ quay về. Bởi vì tâm năng cầu mà chưa
được bí quyết, do đó một niệm cầu, giác trở lại thì mệt nhọc. Đó là đem tâm tìm
tâm. Đúng như con nai khát nước đuổi theo song nắng.

       Truyện nói: “Biết dừng, sau có định”.
Vì tâm túc hạ chưa biết dừng nên chẳng được định. Vì theo sự đòi hỏi nên có
điều mục trị tâm như: 4 điều chớ làm, 3 điều tĩnh yếu. Dẫn tâm này mà vào, giữ
tâm này mà định. Đây là chỗ tinh-tâm-khổ-thiết của túc hạ, nên bỉ nhân rất mong
mỏi ở túc hạ. Nay đã nhận được tự tâm, lại trở lại giữ bí mật, tiếc rẽ ư? Hơn
nữa, sợ túc hạ mới vào trong Phật pháp của ta, chưa được nghe nhiều đến nỗi
phần nhiều chuyển lấy thói quen thấy nghe ngày cũ mà hiểu danh ngôn, khiến đã
ban cho thuốc Cam lộ chẳng thể dùng để được công hiệu cải lão hoàn đồng. Pháp
môn dạy người của Phật Tổ từ xưa tuy có nhiều đường chẳng ngoài tam học Giới
Định Huệ, nghĩa là nhân giới sanh định, nhân định phát huệ. Tiết mục rõ ràng,
Kinh chẳng qua Lăng Nghiêm. Đến như lời Tổ không gì bằng một cuốn Vĩnh Gia Tập.
Túc hạ nên đọc thuộc, nghiền ngẫm, trong đó có yếu quyết nhập định dụng tâm.
Như nói:

Khéo khéo lúc dụng
tâm
Khéo khéo không tâm dụng
Không tâm khéo khéo dụng
Thường dụng khéo khéo không
Lại như:
Vọng tâm chi hậu tịch tịch
Linh tri chi tánh lịch lịch
Vô ký hôn muội chiêu chiêu
Khế bổn chân không đích đích
(Sau vọng tâm nên lặng lặng
Tánh linh tri thường rõ ràng
Vô ký mơ màng phải tỉnh sáng
Khế hợp chân không luôn đúng đắn)

       Đây là thần phù của sự dụng tâm. Như 4
điều chớ làm, 3 điều tỉnh xét chính là giới, trong đây đủ hết. Kỳ thực công phu
tu tâm chẳng ra khỏi 3 món chỉ, quán, đẳng trì (thiền). Trong tập này,
xa-ma-tha là chỉ, bà-xá-na là quán, ưu-tất-xoa là chỉ quán song vận tức định
huệ đẳng trì.

       Hãy khuyên tròn những chỗ bế tắc trong
tập, lặng hơi ngưng thần, nếu chẳng hiểu đừng hiềm gởi thư hỏi hoài. Đến chỗ
chỉ quán thẳng tắt, cho viết lại một tờ để bù vào chỗ thiếu hôm nay.

       Lại,
       Một đoạn nhân duyên này là việc rất dễ mà
rất khó. Vì vô lượng kiếp đến nay, đời đời kiếp kiếp tạp nhiễm lưu chuyển, tập
khí sâu lại dày. Hôm nay được một niệm phát lòng tin, mới trong sớm chiều mà
muốn cạn dòng dài muôn kiếp. Phương thế này thật chẳng dễ dàng. Ngay một niệm
tâm hồi đầu này cũng rất khó phát. Đây là hạt mầm linh minh do căn lành nhiều
kiếp, gặp lúc nảy mầm bây giờ mới nhú lên, rồi nở hoa phô bày thực sự. Toàn do
Toàn do luôn luôn tài bồi chăm sóc. Nếu không thì sẽ khô cháy ngay. Gặp cảnh
gặp duyên dùng sự xử sự, lâu dần thuần thục. Lại thêm công chỉ quán thì có thể
dần dần giải thoát. Nhưng vì chúng ta vốn tự giải thoát, do đó nếu phiền não,
không giải thoát thì chẳng phải lỗi của pháp mà là tự tâm trói buộc vậy. Bởi do
xưa nay thế tình nồng hậu, tập nhiễm chín muồi, chỗ quen thì khó quên, nên chạm
đến liền phát. Vì thế nói: “Ta chưa thấy người mến đức bằng mến sắc”. Nếu đem
kia đổi đây thì chỗ sống tự chín, chỗ chín tự sống. Sống thì lợt lạt, lợt lạt
thì xa, xa thì đạm bạc, đạm bạc thì quên, quên thì chẳng cần cầu thoát mà tự
chẳng trói buộc. Cứ thế mãi thì tâm này được định, muôn ngàn trạng thái trước
mắt xem như hoa đốm hư không, như trăng đáy nước, như sóng nắng, sông băng, vốn
không thể buộc ràng, lại còn cầu thoát gì nữa? Túc hạ nói: Lời “vật bất thiên”
của Triệu Công được đắc lực. Đây trừ phi túc hạ là bậc đại căn khí, còn không
thì chẳng thể nhập vào cửa cổng của lão này. Riêng câu “nhật nguyệt lệ thiên”
chẳng thấu triệt, thì biết về Triệu Công chẳng suốt, chẳng suốt thì chẳng phải
đắc lực thật. Lời này lão nhân nghi đến mất năm, rốt cuộc ở trong tâm ta riêng
tự tỉnh. Từ đó về sau, chỗ ứng duyên đắc lực phần nhiều nhờ lời lão này. Túc hạ
vừa ra cửa đã thấy tin, thật chẳng phải là duyên nhỏ, lão nhân chẳng tiếc vì
túc hạ nói phá. Lại sợ túc hạ ngày sau sẽ mắng lão tăng. Túc hạ nếu đem câu này
đặt vào lòng, ở tất cả chỗ động tác làm việc, tất cả chỗ thanh sắc tài lợi, tất
cả chỗ cảnh duyên nghịch thuận, tất cả chỗ mừng, giận, buồn, vui, tất cả chỗ
yêu ghét, lấy bỏ. Hễ gặp cảnh lưu động liền lấy ấn này, ấn một ấn, ấn đứng xem
nó thế nào là chỗ chẳng dời (chẳng đổi)? Thế nào là chỗ thường tĩnh lặng? Thế
nào là chỗ chẳng trôi chảy? Thế nào chỗ chẳng động? Thế nào là chỗ chẳng khắp?
Như thế khán qua khán lại, đột nhiên bùng vỡ, khán thấu lời này thì mới biết
lão nhân chẳng dối túc hạ, mới tin bổn chân chẳng tự lừa dối vậy.

Dạy Hoàng Duy Hằng

       Túc hạ tuy nói: “Hướng về đạo mà trong
đây mắt mũi chưa được sáng suốt, thường đem thế pháp, Phật pháp, cùng Tông với
Giáo chẳng khỏi cho là hai, thì tất cả ghét – thương, nghịch thuận, lấy bỏ, tốt
xấu, bần cùng, thịnh đạt, động tĩnh v.v… ắt là điều bị chia hai.” Hải Ấn luôn
luôn vì túc hạ nói Phật Tổ nguyên không có pháp thực cho người. Nhưng chỉ vì
người mà nói rõ việc sẵn có của mỗi người”. Tông Cảnh nói: “Lấy nhất tâm làm
tông, chiếu vạn pháp làm gương”. Chỉ do chúng ta không thể biết nhất tâm nên
Phật thuyết giáo để chỉ. Chúng ta chẳng thể thấy tự tâm nên Tổ mượn thiền để
dạy. Cả hai đều bất đắc dĩ. Nay túc hạ nói: “Tập theo giáo, tinh thần chẳng
khỏi mệt mỏi, theo tông như cỡi thuận gió”. Đây là túc hạ tập khí Bát-nhã nhiều
đời sâu dày. Đại khái như thế. Đối với Hải Ấn tôi, cả hai đều hư dối, đều không
nói khó dễ. Nếu túc hạ không đạt được tự tâm thì tông là giải, tà nhiễm, đều
rơi vào hang ổ của thức tình, mà giáo cũng là vọng tri, vọng kiến, lạc vào ngôn
thuyết nói năng cả, chẳng phải chỗ cứu cánh chơn thật. Riêng chẳng biết kinh
giáo là mắt Phật, thiền là tâm Phật, cả hai chẳng phải hai, há có kia đây. Hải
Ấn tôi dạy người xem kinh tham thiền đều chẳng phải thuộc loại tri kiến này.
Túc hạ hôm nay hiểu như thế, chẳng những cô phụ Hải Ấn cũng lại cô phụ tánh
linh của mình. Từng nhớ khi có người hỏi rằng: “Cổ nhân lúc đói ăn cơm, lúc mệt
đi ngủ đều là đạo. Người thời nay đói ăn mệt ngủ vì sao chẳng phải đạo?” Thì
đáp rằng: “Cổ nhân ăn cơm chỉ là ăn cơm, đi ngủ chỉ là đi ngủ. Do đó là đạo.
Người nay ăn cơm chẳng chịu ăn cơm, đi ngủ chẳng lo đi ngủ, suy tính lung tung,
do đó trái đạo”. Từ đấy mà xem, túc hạ hằng ngày chỉ đem lông mày vén lên, quát
một tiếng khiến thần kinh quỷ sợ, thiên ma vỡ mật, âm quỷ hồn tiêu, một hét hét
lui, được bổn địa tĩnh tĩnh lặng lặng, tấc tơ chẳng khoác, trần trùng trục,
sạch bon bon. Theo gia phong này cần đọc sách cứ đọc sách, không đọc thì gấp bỏ
một bên, chẳng cho đeo một chữ. Muốn làm văn thì làm văn, chẳng làm thì dẹp một
bên, chẳng cho nghĩ tính loạn xạ. Cho đến uống trà ăn cơm, cần ngủ cứ ngủ, cần
đại tiện tiểu tiện, cứ đại tiện tiểu tiện, chạm đến liền xong, chẳng cho sau đó
nghĩ lường giống như hồn quỷ vất vơ. Tuy khô khô sạch sạch, trong trong, trắng
trắng, cũng chẳng cho ngồi trong chỗ khô sạch trong trắng. Như thế “đơn đao
trực nhập”, một niệm thẳng đến trước thì đọc sách thấy cổ nhân, làm văn cũng
chỉ nhắm từ trong lòng mình phát ra miệng, không có trước sau, lúc hàm súc
(giấu cái đẹp bên trong) liền là thổ lộ, lúc thổ lộ cũng là lúc hàm súc. Như
thế chẳng bị chỗ động, tĩnh, sáng, tối… chuyển, chẳng bị các thứ khéo léo dời
đổi. Đó là bậc đại nhân đĩnh đạc, là vị khó lường. Túc hạ tin không? Nếu quả
thấy tin được thì khởi lên nhắm đây mà vào.

       Trân trọng, trân trọng.

Dạy Cư Sĩ Mã

       Người học đạo điều quan trọng nhất: tâm
sanh tử phải tha thiết. Thứ nhì: biết thân là gốc khổ, tâm là gốc vọng tưởng
tạo nghiệp. Thứ ba: chân thật khán phá, công danh, phú quý, thanh, sắc, tài lợi
ở đời đều là hư dối chẳng thực. Thứ tư: sợ đời này tạo ác nghiệp tương lai sẽ
đọa địa ngục, chịu các thứ khổ không người cứu giúp. Thứ năm: biết mạng căn
hiện tại chỉ trong khoảng một hơi thở này. Nếu hơi thở này dứt thì muốn cầu
việc tham thiền, học đạo, làm phước như ngày nay trọn chẳng thể cầu được nữa,
huống là hưởng phú quý ư? Người học đạo nếu có được 5 tâm này, giờ giờ khắc
khắc ôm ấp trong lòng thì tự nhiên lãnh đạm trước tất cả cảnh giới phù hoa, tâm
địa tự nhiên trong sạch, đem chỗ học từ trước, bao nhiêu tri kiến, học vấn,
miệng lưỡi khéo léo, tất cả buông hết, phát tâm bồ đề, dứt hẳn rượu thịt, chẳng
tham, chẳng yêu, trì giới, tu phước, tạo các công đức để làm căn bản tải đạo.
Luôn luôn đọc kinh điển đại thừa, trợ phát tự tâm, mở tri kiến Phật, mới có thể
quán. Chỉ quán tâm này, quảng đại tròn sáng, thanh tịnh rỗng lặng, một pháp
không thể được, vọng niệm vốn không, cũng không sanh diệt, mà căn thân này, tất
cả động tác như người huyễn, nguyên không tâm thức. Tất cả cảnh giới trước mắt
giống như hoa đốm giữa hư không, chợt khởi chợt diệt, xưa nay chẳng có. Duy chỉ
một niệm viên minh, rõ ràng chẳng mờ. Niệm này cũng không, đó là chánh niệm.
dụng tâm như thế, trong 12 thời, động tĩnh, nhàn rỗi bận rộn, đều đều như chẳng
động; nghịch thuận, tốt xấu, oán thân đều bình đẳng. Tùy thuận thế duyên, làm
các công đức, một việc, một pháp đều thành tịnh hạnh viên diệu. Hành như thế
gọi là Bồ Tát hạnh. Đạo nhân nếu như thế dụng tâm có thể nói chẳng ra khỏi trần
lao mà làm Phật sự, hiện thân Tể quan mà thuyết pháp, nghĩa là báo được ân
Phật, báo được ơn nước. Ông bẩm tánh lanh sáng, phát tâm hướng về đạo nên tôi
đặc biệt chỉ dạy như thế. Xin tặng cho hiệu là cư sĩ Tịnh Diệu. Nếu ông không
phụ tánh linh của mình thì chớ quên lời này.

       Trân trọng.

Dạy Vương – Sinh

       Cầu thọ giới, đổi tên tự

       Vương Sinh tên Đình Tá, tự là Tử Chiêm.
Ý của Sinh cho tên mình tục và tự thì phạm đến người xưa, thỉnh huyễn nhân đổi
tên mới. Huyễn nhân vui vẻ bảo ông rằng:

       Lạ thay cho tư chất của ông! Truyện có
nói: “Cẩu nhật tân, nhật nhật tân, hựu nhật tân” (Nếu ngày đổi mới, ngày ngày
đổi mới, ngày càng thêm mới). Nay chí nguyện của ông là bỏ cái cũ, nên ta sẽ
làm mới hết. Không những mới cái tên của ông mà mới luôn tâm ông. Tên là khách
của thực, tâm là thực của đức. Nếu chẳng nghĩ đến thực mà mong tên rỗng thì
chẳng phải đức vậy. Do đây mà quán, chẳng những ông tục ở tên mà còn tục ở tâm,
nghĩa là người tục chẳng phải ở áo mão, lời nói, dung mạo mà là thói quen nhiễm
ô ở tánh đức vậy. Tánh đức chúng ta vốn sáng, do ngày ngày nhiễm tham dục, do
mắt chạy theo sắc tà, tai theo tiếng dâm, mũi theo mùi hôi, lưỡi theo vị bậy,
than theo xúc chạm hư vọng, tâm theo nghĩ tà. Sáu cái chen lẫn, chìm đắm mê mờ
trong đó, nung đúc dần dần nhiễm quen thói thành tánh, cho là có sẵn, là cố
nhiên, cho nên rong ruổi mãi trong cảnh hôn mê. Tánh đức vốn sáng, trở thành
vật khác. Đâu biết cái ta cố nhiên này có phải là chính ta xưa cũ không? Thánh
nhân thương xót chỗ này, nên ban nước giới để tẩy rửa. Hơn nữa, giới chẳng phải
là vật gì khác mà chính là trí quang sẵn có của tự tâm, tức nhà nho gọi là minh
đức. Nay người này trí quang chẳng sáng nên minh đức ngày càng mờ. Nay minh đức
trở về với thiên nhân, ắt phải sáng trí quang mà phá mờ tối, mờ tối bị phá, bổn
thể hiện, trí quang sáng, thì các chướng tiêu. Đức Phật chúng ta sở dĩ cấm sát
sanh để thành tựu nhân, cấm trộm cắp để thành tựu nghĩa, cấm tà dâm để lập lễ,
cấm nói dối để đôn đốc tín, cấm uống rượu để sáng trí. Ngũ giới đủ thì đủ ngũ
thường, bớt lục tình thì tam nghiệp trong sạch. Đây nghĩa là rửa sạch tập nhiễm
cũ, tiến đến ngày càng mới, bỏ cái ta xưa cũ mà tạo sự chuyển hóa mới. Nên
huyễn nhân cũng đổi tên là Ngôn, tự là Tử Luân, đem danh tự này mà phụng trì
giới Phật như theo mệnh vua vậy. Ông hãy cố gắng.

Dạy Chu Tử Tiềm

       Năm màu khiến mắt người mù, năm âm
khiến tai người điếc, năm vị khiến miệng người lầm, rong ruổi săn bắn khiến tâm
người phát cuồng. Đây là giới của Lão Tử. Không phải lễ chớ nhìn, không phải lễ
chớ nghe, không phải lễ chớ nói, không phải lễ chớ động. Lại nói “lúc nhỏ, khí
huyết chưa ổn định thì phải giữ gìn ngăn cấm sắc. Đến trưởng thành khí huyết
mới cứng chắc thì răn giữ chỗ tranh đầu. Kịp đến già, máu huyết đã suy, ngăn
ngừa chỗ sở đắc”. Đây là giới của Khổng Tử.

       Chẳng giết, chẳng trộm, chẳng dâm,
chẳng vọng ngôn ỷ ngữ, không 2 lưỡi, ác khẩu, chẳng tham sân si. Đây là giới
của Phật. Ôi! Vì tánh chúng ta vốn tự lanh sáng, trong sạch, chỉ vì tập nhiễm
vấy bẩn. Ngày càng chìm đắm trong mê mờ chẳng tỉnh. Chỉ trong khoảng mắt, tai,
miệng, mũi, thân tâm cùng thanh, sắc, hương, vị, xúc, pháp, đối đãi nhau, dính
khắn, buộc ràng, dẫn dắt tâm tranh đấu. Mê hoài chẳng quay trở lại. Nên thánh
nhân bi mẫn đặt ra giới – luật, muốn đem trừ tập nhiễm cũ, đoạn dứt trần tập mà
hồi phục chân tâm thanh tịnh của mình. Do đây mà quán, giới tại ta mà đủ tại tâm,
tu cho thân là nghĩa đạo chẳng xa người. Nên nói: “Thánh cách xa rồi ư? Theo
đây tức là thần”. Chúng ta muốn đến nguồn của đại đạo, chỉ ở chỗ thuần cẩn
phụng trì theo đây mà thôi. Chu Tử tuổi trẻ có chí tha thiết hướng thượng chú
tâm về đây, nên tôi nhân đó viết thư này mà dạy.

Dạy Sa Di Tổ Định

       Ông thường thấy chợ búa ở đời bày bán
la liệt thịt chặt, nấu, mà người đi qua, không mấy ai không trố mắt nhìn thèm
nhỏ rãi và đều muốn nếm một miếng. Đây là tình thường. Mỗi lần thấy đồ đệ ta
xưng là Sa Môn, Thích Tử, thân ở rừng Chiên Đàn, chân đạp đất Thanh Lương, trải
qua chợ Đại Pháp bày diệu vị Cam Lồ đề hồ, mà lại coi khinh như thuốc độc,
không đáng thương sao?

       Tuy nhiên vì chưa biết nếm qua nên
khiến cho biết, há chịu thua cái tình thèm thịt sao? Đức Phật chúng ta đầu tiên
ra đời liền đem Ba-la-đề-mộc-xoa để dạy người. Đây là đem cam lồ bày ở khắp
đường, mong mỏi người người nếm đến, để đồng vào làng bất tử. Có mấy người đi
qua mà chịu nếm? Tôi tùy duyên vào thành Vương Xá, dừng ở vườn rừng đấng Từ
Thị, vừa mở chợ Cam Lồ có Sa Di Tổ Định, từ Ngô Hưng đến tham vấn cõi Phật
trang nghiêm, pháp môn tối thượng. Nhân đó chỉ vào trong rừng, thì được nếm
pháp vị Cam lồ này. Nói là pháp Cam Lồ tức là 4 giới trong căn bản.

       Than ôi! Người ta chìm đắm miệt mài đã
lâu trong trường sanh tử, tạo xong khổ-cụ giường đồng đều nương 4 cái dâm, sát,
đạo, vọng mà lập. Cho đến Tịnh Độ Trang Nghiêm của chư Phật cũng đều từ chỗ
đoạn 4 cái này mà thànhh tựu. Nên nói: đoạn hẳn tâm dâm, mới thành Phật đạo
v.v… Nay Sa Di toan bỏ ngói gạch làm tòng lâm. Chuyển đất dơ thành tịnh độ, nếu
chẳng lật phá 4 căn làm 4 mặt hồ thanh lương, há có thể biến 3 độc thành 3 loại
giải thoát ư? Thế nên Lão nhân Hải Ấn khen rằng: Phật tử nếu muốn thành tựu
pháp môn công đức vô tận, phải nên khéo léo học Ba-la-đề-mộc-xoa này là đệ nhất
nghĩa đế. Tất cả pháp môn đều từ đây mà vào.

Dạy Ngô Công Mẫn

       Không Sanh hỏi Phật “Làm thế nào an
trụ? Làm thế nào hàng phục được tâm?” Phật đáp: “Nên như thế trụ, như thế hàng
phục tâm”. Lại nói: “Nên không chỗ trụ mà sanh tâm”. Lại nói: “Tin tâm thanh
tịnh tức sanh thực tướng”. Nhưng thực tướng không có tướng thì ở đâu có sanh?
Bởi vì sanh tức vô sanh, thì trụ vốn không trụ. Tin tâm như thế thì ngũ uẩn
thanh lương, một niệm chóng không, các vọng diệt hết, hàng phục như thế thì
không phải hàng phục mà thật là hàng phục. Công Mẫn tin tâm rất thuần nhất,
theo tôi xin thọ giới Bồ Tát. Lại hỏi phương pháp gìn giữ tâm. Tôi bảo cho
phương pháp điều phục như thế. Lại đổi tên tự là Điều Phục. Còn như tướng tức
vô tướng thì chẳng thể đem vô tướng làm vô tướng. Nên lại đặt đó làm định khóa,
hằng ngày chẳng đổi, lâu dần thuần nhất, dứt hết các tướng, chóng khế hợp vô
sanh. Tức là chỗ nói lòng tin thanh tịnh liền sanh thực tướng.

Dạy Hai Ông Trừng
Và Hoành

       Ngữ nói: “Quân tử bên trong chẳng hậu
trọng thì ngoài chẳng có uy. Sự học thì chẳng bền chắc”. Lại nói: “Trong không
chủ chẳng lập, ngoài không chính chẳng hành”. Lời này tuy nhỏ có thể lấy để dụ
việc lớn. Đó là Đạo học Thánh hiền, thế và xuất thế, chẳng có ai chẳng tụ chính
tâm, thành ý, tu thân, mà đến được chỗ vật trí tri”, “minh tâm kiến tánh”. Nên
Khổng tử vì Nhân lấy 3 điều tỉnh xét, 4 điều chớ làm, làm đầu. Đức Phật chế tâm
lấy tam nghiệp, thất giác chi làm gốc. Xem khắp nhân vật xưa nay từ trên xuống
dưới, người thành bậc đại khí mở mang nghiệp lớn, ánh sáng chiếu khắp vũ trụ,
rỡ ràng làm sư phạm cho người, chưa có ai chẳng do đây mà đến đó, do thô mà đến
chỗ cực kỳ tinh tế, do gần mà đến chỗ rất xa. Nay, người học phần đông lấy tai
miệng cho là thực học. Cho cái thấy của mình là chân tham. Cho bàn luận phù
phiếm là thuận vật. Cho phóng túng là thích tình. Cho sự xuôi theo là dung
chúng. Lấy buông lung làm dưỡng khí, cho ăn no ở yên là điều thân, cho duyên
tưởng là chính tâm, cho thúc liễm là khô hình, cho đoan trang là ngạo nghễ, cho
khắc niệm là tự làm khổ, cho tinh trì là làm duyên, làm bộ. Cho đạo nghiệp là
vật lâu dài, cho thân thể là kim cương, cho sanh tử việc thừa. Thân chẳng lập,
tâm chẳng tham cứu, đạo nghiệp chẳng thành, học vấn chẳng tinh. Đây là lý do mà
đời càng xuống thấp, đạo càng suy vi, tâm ngày càng mờ mịt, chí ngày càng tiêu
mất, thói quen ngày càng tệ hại, hạnh thì ngày càng thiển bạc. Kinh điển ngày
càng suy đồi, Phật pháp ngày càng hủy diệt. Đuổi gió bắt bóng, người hậu học không
nơi nương tựa, mong thấy thực chất trong sạch hoàn toàn trong sự tu của chúng
ta có thể được sao?

       Khổng Tử nói: “Thánh nhân ngộ bất đắc
nhi kiến chi hỹ. Đắc kiến hữu hằng gia. Tư khả hỹ” (Bậc Thánh nhân ta chẳng làm
được mà có thể thấy được. Thấy được người bền bỉ, hằng không thay đổi thì có
thể thành thánh nhân vậy). Cho nên mộng của Chu Công, lời than của Phụng Điểu,
quân tử có chí há cứ thả lỏng lòng mình ư? Hai ông cố gắng lên!

Dạy Giang Ngô Dư

       Cùng túc hạ mỏi miệng đã 10 năm. Như
dạy người uống rượu phải chừa rượu, phải nghiêm trang. Không được không nghiêm
trang cung kính. Nói chung sự cung kính đó là thái độ của người say. Nay đọc
thư tay của túc hạ, vừa hốt nhiên từ trong mộng say thức dậy. Khiến người động
lòng thương sót, rồi mừng rỡ hoan hỉ. Vì ở đời đều say, nếu mọi người đều như
túc hạ thì chẳng quý một mình tôi tỉnh. Thường bảo Tô Tử là gã lưỡi dầy một
miệng, ông ta mong cầu phú quý, hăng hái không ai bằng, mỗi lần lười biếng,
treo tóc lên xà nhà, đâm đùi để đối trị cho tròn chí nguyện. Huống giá trị của
bậc thánh hiền xuất thế một người được vô thượng diệu đạo mà đem bao nhiêu vàng
ra so sánh cho được? Việt Vương gặp cái nhục Cối Kê, chí muốn báo thù Vua Ngô,
bèn nằm gai nếm mật hơn 12 năm, mới xong nghiệp bá. Vậy mà tham ái nhiều kiếp
há ngang với thù Ngô? Bị giam hãm tối tăm trong sanh tử, khốn nhục hình hài há
ngang với cái nhục Cối Kê? Nếu túc hạ chẳng ôm mối hận, nghiến răng mà quên tâm
nằm gai nếm mật, chẳng thể cột tóc sà nhà, đâm đùi cho đau, thì lấy gì để đền
đáp cái chí ban đầu? Rửa cái nhục lớn được? Được nghe, trên cùng lập đức, kế đó
lập công, sau nữa lập danh. Túc hạ thật có thể đem cái trên cùng tự khích lệ
thì nghèo mà có thể vui. Ngoài ra có gì chạm đến tâm? Khổng Tử nói: “Kẻ sĩ để
chí nơi đạo mà còn hổ thẹn, ăn không ngon, mặc không đẹp thì chưa đủ cùng họ
bàn luận”. Cổ nhân cũng nói: “Nếu có được cái vui đạo nghĩa thì hình hài có thể
gạt ra ngoài”. Hình hài đã gạt ta ngoài thì ngoài việc này còn gì nữa. Vậy còn
gì có thể chạm đến tâm, lo lắng, mà không khoáng đạt ư? Mong túc hạ cố gắng
lên.

Dạy Vương – Mục –
Trương Và
Chu – Thế – Phụ

       Người ta thường bảo: “Trời sinh muôn
vật chỉ có người là tối linh” Đây là Cổ Ngữ vậy. Tôi cho đó không đúng. Sao
vậy? Vì người cùng muôn vật đều đầy đủ tánh linh giác; tánh này chia đồng đều
mọi vật, đâu từng có gián cách giữa người và vật. Rốt cuộc sở dĩ khác với vật
vì vật có đủ mà chẳng biết. Người thì biết cái đủ này. Người biết vốn đủ mà
sống trọn vẹn là thánh, biết nên sống trọn vẹn mà chẳng thể chóng trọn vẹn là
hiền. Người biết mà chịu mong cho trọn vẹn là trí. Người biết mà chẳng chịu
quay trở lại mong cầu là ngu. Biết mà không chân thật, mong cầu thái quá gọi là
cuồng. Biết mà chẳng sáng, chấp một giới hạn cho là tất đáng gọi là hẹp hòi
nóng nẩy. Đến như người chẳng biết mà vọng cầu gọi là quái, cùng bọn chẳng biết
mà chẳng cầu là vật mà thôi. Than ôi! Đấy là người cùng vật khác nhau, chỉ ở
chỗ biết cùng chẳng biết, cầu cùng chẳng cầu. Tuy cách nhau hào ly mà được và
mất xa nhau vạn dặm. Trộm xem Tam Tề Quân tử ai chẳng lòng bực bội, miệng tấm
tức, miệt thị ngàn xưa, phỉ nhổ công danh. Tuy sự nghiệp như Y, Chu vẫn chẳng
đủ xem. Kịp khi hỏi đến tâm tánh thì trố mắt ngậm miệng. Bàn về cái diệu của
tâm thì đều cười cợt vỗ tay, đến lúc nói về Phật thì ngó mông lung chẳng đoái
hoài. Ôi! Biết có tâm mà không biết có Phật, thì giống như biết hai lần năm mà
chẳng biết mười. Thế nên đạo thuật chẳng sáng, mà bậc anh minh hào kiệt cũng
chẳng khỏi bị vùi lấp ở đây. Đây chẳng phải lỗi của biết mà kỳ thực là lỗi của
không biết. Lại chẳng phải lỗi của không biết, kỳ thực là lỗi của không tin
tâm. Tôi trộm nghĩ không phải thật không tin tâm mà vì chưa có người đem chân
tâm mà nói cho biết. Nếu như sớm chiều đem chân tâm thật ngữ huân tập, đào
luyện dần dần quen thuộc. Tuy chẳng thể tự tin, cũng sẽ theo đó biến đổi. Quân
tử ở đời thấy nghe là chuyện thường của tai mắt, thì sự thông minh trời ban
cũng sẽ cùng sự thấy nghe mà biến đổi. Nên nói: tập tục dời đổi con người,
người hiền cũng không thoát khỏi. Lời đó đáng sợ thay! Than ôi! Tiếng than đêm
dài vì ai mà nổi lên. Tôi nay để thân ở biển đông, núi trống đầm lớn, xông vào
hiểm trở, đạp vào chỗ cơ nguy cũng đến mấy lần, suýt chẳng thoát khỏi miệng
hùm; người biết ta bảo tâm ta lo, người không biết ta bảo ta mong cầu điều gì.
Đây sở dĩ ôm lời than đêm dài mà nuốt nước mắt cùng biển động đua chảy. Tuy
nhiên một lần khói bay, đại địa mùa xuân bừng dậy, một chiếc lá lìa cành, mà
khắp trời thu đến. Vì cảm chẳng sâu nên ứng chẳng tới. Sang năm mới, đất này có
2, 3 quân tử đủ cốt trượng phu, thấy tin tự tâm mồ hôi tuôn thấm 2 nách, mà
diệu Dương Hòa sắp thấy. Tôi đem xương hóa sóng dài, có gì ăn năn? Vương Sinh
Mục Trương, Chu Sinh Thế Phụ, ngày Đông Quý Tỵ, đến thưa hỏi Hải Ấn, đạo vị
thiên nhiên này, đại khái không có mảy may khư khư tục tập. Tôi thầm than: “Đây
là những nam tử kỳ khôi”. Tuy nhiên Mục Trương, Mục Trương! Thế Phụ, Thế Phụ!
Đã biết cái “bổn hữu” mà chịu tìm cầu, thì tôi cũng mong mỏi ở hai ông. Chẳng
mong ông làm Phật mà mong hiện thân Tể Quan, Cư sĩ thuyết pháp, sẽ thấy cội rễ
Bát-nhã sâu dày; tập tục nồng hậu, chăm chỉ chuyển hóa. Những người non yếu cõi
này, như người hoặc vật đều được dựng lập, đều được dạy dỗ để sanh về làng Cực
Lặc. Ông hãy cố gắng! Ông hãy cố gắng! Vì đâu mà xưng là quân tử?

Dạy Đỗ Sinh

       Khổng Tử nói: “Chỗ ba quân có thể đoạt
chức nguyên soái, còn kẻ thất phu chẳng thể đoạt chí của hắn”. Lại nói “Ẩn cư
để cầu chí, quả có thể cầu sao?” Kha Chi (Mạnh tử) nói rằng: “Giữ cái chí, đừng
làm bạo cái khí”. Đây là thánh hiền dạy người, phơi bày hết gan mật. Phàm châu
chấu nổi giận giơ càng chống lại bánh xe, cái chí này quả bằng thế sao? Tôi
thường xem người học ở đời, người thì nói có chí ở công danh, hoặc có chí ở phú
quý, hoặc nói có chí ở trung hiếu. Nêu lên điều gì cũng hay đẹp, kịp đến vừa
gặp vũ nhục, lo lắng, hoạn nạn, đói rét, nghèo, bệnh, những chuyễn chẳng vừa
lòng thì khí tiêu thần tan, thở than khốn khổ không xiết, vừa gặp kẻ ngỗ nghịch
thì phẫn hận chẳng kể đến thân, tửu sắc dâm đãng thì vui đến quên đời. Thế nên
tôi thường nói rằng: “Cái chí chưa thấy như lời dạy của Khổng Tử, là chẳng thể
đoạt, như lời dạy của Mạnh Tử là gìn giữ nó”. Đây cũng không khác, vì ẩn cư
chưa từng cầu vậy. Than ôi! Vũ nhục, ưu hoạn, đói lạnh, nghèo bệnh, ngang
ngược, tửu sắc chẳng lớn đối với bánh xe, mà người chẳng phải nhỏ đối với châu
chấu nhưng trọn không có một phen phẫn nộ để chống cự. Đây là vì cớ sao? Người
học tìm hiểu sâu chỗ này thì mới có thể đem “chí” mà nói với họ.

Mộng Du Tập: Trích Quyển Mười


~Trích Quyển Mười~
Dạy Thiền – Nhân
Liễu Tế

       Tôi trung hưng Tào Khê, trùng tu Thiền
đường Bảo Lâm để tiếp nạp-tử từ bốn phương đến. Thời Lượng thiền nhân phát
nguyện đi xin vật thực để cúng đại chúng. Ngay lúc bắt đầu kiết chế, thiền nhân
niêm hương thỉnh ích. Tôi nhân đó dạy:

       Diệu Hạnh lợi sanh của chư Phật nguyên
chẳng phải một loại. Diệu môn thành Phật của Bồ Tát cũng vốn không phải một
đường. Xưa, Đại Sĩ Duy Ma dùng một bát cơm mà làm Phật sự, có khoảng ba vạn hai
ngàn chúng độ thức ăn này đều vào luật hạnh. Hãy nói đến nay, chén bát vẫn như
cũ, cơm thơm như xưa mà người ăn cơm, luật hạnh ở đâu? Người mang cơm thần
thông chỗ nào? Nếu ở đây thấu được chính là chỗ nói “ư thực đẳng giả, ư pháp
diệc đẳng” (đối với thức ăn bình đẳng, đối với pháp cũng bình đẳng). Nếu thấu
chẳng được, lại phải tham phỏng tri thức, quyết trạch nghi tình, thẳng đến chỗ
chẳng nghi, mới cùng bổn địa có chút phần tương ưng. Nếu chưa được thế thì chưa
khỏi theo đuổi sóng mòi. Do đó, tăng tham vấn Triệu Châu nói: “Học nhân mới vào
tòng lâm xin sư chỉ dạy”.

       Triệu Châu hỏi: “Ăn cháo chưa?”
       Tăng thưa: “Ăn rồi!”
       Triệu Châu nói: “Rửa chén bát đi!”

       Tăng ấy có tỉnh. Thiền nhân nếu ở chỗ
nói của Triệu Châu, chỗ tỉnh của tăng mà hội được liền cùng các thượng thiện
nhân trong phương trượng của Duy Ma nắm tay cùng đi.

Dạy Đường Chủ Kính
– Sơn
Thiền Nhân Huyễn – Hữu Hải

       Phật, Tổ một tâm; Giáo, Thiền một chí.
Tông môn giáo ngoại biệt truyền chẳng phải lìa ngoài tâm riêng có một pháp có
thể truyền. Chỉ là muốn người lìa hẳn ngôn ngữ văn tự, riêng ngộ ý chỉ ngoài
lời vậy. Nay người tham thiền, động một chút liền quở trách kinh giáo, chẳng
biết giáo hiển bày nhất tâm là gốc của thiền. Nhưng Phật thuyết nhất tâm là
thuyết thấu hai đường mê ngộ, còn tông môn chỉ thẳng một tâm, chẳng thuộc mê
ngộ, muốn người ngộ thấu, kỳ thực cứu cánh không hai. Trong Như Lai tạng, cầu
việc đến, đi, mê, ngộ, sanh, tử trọn chẳng thể được. Đây há thuộc mê, ngộ sao?
Nhị Tổ nói: “Tìm tâm trọn chẳng thể được”. Lục Tổ nói: “Bổn Lai vô nhứt vật”
tức là Bát-nhã không có ngũ uẩn, căn, trần, thức, giới và pháp xuất thế tam
thừa, vì không sở đắc nên Bồ Đề, cùng “tìm tâm trọn chẳng thể được”, há là hai
pháp sao? Thì biết kinh nói nhất tâm chỗ nhiều là phàm tình thánh giải vậy.
Tham thiền chóng phá vô minh là tuyệt tình phàm, ngộ cũng mửa bỏ là tuyệt thánh
giải vậy. Đó là thiền quở tri giải, mà giáo cũng chưa từng không quở. Nay người
tham thiền từ giáo hồi tâm, chẳng thể quên tri tuyệt giải, đề thoại đầu chẳng
thể quên tình tuyệt tích, đều nằm trong chỗ bị quở, sao lại hủy giáo cho là
chẳng đủ lưu tâm? Nay người bỏ giáo tham thiền, quả có thể trước tiên hiểu vốn
không phàm thánh, chẳng thuộc mê ngộ, đó là kiến địa, y theo đây tham cứu.
Đương nhân một niệm nếu còn một tơ hào tình kiến và tri giải huyền diệu đều là
chưa thấu, đều là việc bên bờ sanh tử. Há có thể liền cho là đắc ư? Nay bậc tri
thức mắt chưa sáng mà ấn chứng, nếu không dùng giáo ấn tâm, rốt cùng sẽ rơi vào
tà ma ngoại đạo. Chỉ cần không nên đem ngôn ngữ văn tự của Phật thuyết và ngữ
cú huyền diệu của Tổ sư cho là tri kiến của chính mình, thì chắc chắn sự tham
cứu sẽ đến chỗ tương ưng. Như kinh nói: “Tất cả phiền não, ứng với niệm liền
hóa thành tri giác vô thượng”. Như thế là hình thức đốn ngộ. Chẳng được đem tập
khí phiền não, tri kiến tạp nhạp cho là diệu ngộ. Cũng chẳng phải có gì khác,
chỉ là tiêu hết tập khí phiền não, lòi ra bộ mặt xưa nay. Nên nói: “Ngộ rồi lại
đồng lúc chưa ngộ”. “Vẫn như cũ, chỉ là người thuở xưa. Chẳng đổi chỗ dẫm bước
ngày cũ”. Há chẳng thấy Giáp Sơn lúc chưa gặp Thuyền Tử, thượng đường có tăng
hỏi:

       – Thế nào là pháp thân?
       Sơn nói:
       – Pháp thân vô tướng.
       Lại hỏi:
       – Thế nào là pháp thân?
       – Pháp nhân không vết.
       Đạo Ngô ở tại tòa bất giác cười.
       Lúc đã gặp Thuyền Tử rồi, Đạo Ngô sai tăng
đến hỏi:
       – Thế nào là pháp thân?
       Sơn vẫn đáp:
       – Pháp thân vô tướng.
       Lại hỏi:
       – Thế nào là pháp nhãn?
       Sơn vẫn đáp:
       – Pháp nhãn không vết.
       Tăng trở về kể lại Đạo Ngô, Ngô nói:
       – Gã này bây giờ mới triệt.

       Đây bèn là tọa chủ lanh lợi. Là hình
thức bỏ giáo tham thiền. Đường chủ Hải từ lâu gần gũi giáo thừa, nay bỏ thói
quen, riêng cầu một đường hướng thượng, hãy xem Giáp Sơn hai chuyển ngữ giống
nhau, Đạo Ngô vì sao chịu sau mà chẳng chịu trước, thử xem chẳng chịu chỗ nào?
Chịu chỗ nào? Ở đây nhận ra, chẳng kể Giáo ý, Tổ ý, nhất tề mửa hết. Ngày khác
liền đem một đại tạng kinh, một miệng nuốt hết, chữ chữ hóa thành tạng quang minh
Cát đằng chẳng ít. Trân trọng, trân trọng.

Pháp Ngữ
Dạy Thiền Nhân Bổn Hoài Ấn

       Xưa đức Phật ở trên hội Linh Sơn muốn
đem kinh Diệu Pháp Hoa phó chúc lại cho đời sau thọ trì, lưu bố rộng rãi, chẳng
kể Trời người, hàng trăm hàng vạn đều được thọ ký. Các vị đệ tử không có một ai
dám ở cõi Ta-bà lưu truyền pháp này mà phải đợi chúng Bồ Tát ở dưới đất vọt lên
gánh vác việc gìn giữ pháp này. Há là chuyện dễ dàng sao? Vì chúng sanh ở cõi
ác ngũ trược phước mỏng tánh nết cang cường rất khó điều phục, cho nên đức Phật
dạy người trì kinh lấy nhẫn nhục làm hạnh đệ nhất. Nên nói: “Như Lai diệt độ
rồi, người muốn vì tứ chúng thuyết kinh này, phải vào nhà Như Lai, mặc áo Như
Lai, ngồi tòa Như Lai mới có thể rộng nói kinh này”.

       Nhà Như Lai tức là tâm đại từ bi trong
tất cả chúng sanh, áo Như Lai là tâm nhu hòa nhẫn nhục, tòa Như Lai là tất cả
pháp không. An trụ ở đây rồi sau dùng tâm không lười biếng mới có thể vì chúng
thuyết kinh Pháp Hoa này. Nên Phật tự thuật hạnh cầu pháp ngày xưa. Như Đề Bà
Đạt Đa oán hại nhiều đời và Thường Bất Khinh lễ bái tứ chúng dù bị nhục mạ,
hoặc bị dao gậy đánh đập, ngói đá liệng ném, đủ mọi việc khổ đều hoan hỷ chịu
đựng, không một ý chán nản lui sụt. Đây chính là dạy pháp Bồ Tát, là hạnh tối
thắng để trì kinh đời mạt pháp. Chúng ta là đệ tử Phật, nếu không hành nhẫn
nhục thì lấy gì để gìn giữ huệ mạng Phật khiến cho không dứt mất? Rồi đến Bồ
Tát nhận sự phó chúc trì kinh đã thề rằng: “Mọi việc khổ đều sẽ nhẫn được”, thế
nên Phật thuyết: “Quán ba ngàn đại thiên thế giới không có một chỗ nào nhỏ bằng
hột cải mà không phải là chỗ Bồ Tát vì cầu Bồ Đề mà bỏ thân mạng, cho đến đầu,
mắt, tủy, não không hề lẫn tiếc”. Nên dạy người trì kinh trước hết hạnh nhẫn
thương xót đời mạt pháp này. Nếu không có sức nhẫn lớn làm sao có thể hộ trì Phật
pháp?

       Lão nhân mỗi mỗi lấy hạnh nhẫn khai thị
thiền nhân. Thiền nhân nếu có thể dốc lòng tin Lão nhân, cũng có thể lấy sức
nhẫn tự trì, thì nay chẳng những gìn giữ trọn vẹn đạo trường, cũng còn thành
tựu hạnh của mình nữa. Cần yếu chẳng được dùng mắt tầm thường thế tục mà quán,
ngoài điều này ra, lại cầu pháp sanh tử khác. Hơn nữa, kinh này đức Thế Tôn
chúng ta vì một đại sự nhân duyên nên xuất hiện ở đời. Đại sự đó là tri kiến
Phật sẵn có của chúng sanh. Tri kiến Phật là có thể thấy thực tướng của các
pháp. Vì chúng sanh mê mất chân tri kiến, chỉ nhận ngũ uẩn huyễn vọng làm thân
tâm mà chẳng thấy tướng chân thật. Nếu thấy thực tướng thì ba cõi trên dưới,
trọn không một pháp. Lại còn sanh tử nào có thể gá nữa? Như thế há chỉ tham
thiền mới có thể thoát sanh tử còn trì kinh không thể thoát sanh tử sao? Như
Nam Nhạc, Thiên Thai, các đại tông sư đều ngộ thực tướng. Nếu các pháp lữ đọc
tụng kinh này có một người như ngài Thiên Thai ngộ nhập Pháp Hoa Tam Muội, thì
một hội Linh Sơn này nghiễm nhiên chưa tan. Như thế thì người hộ trì đầy đủ
hằng sa công đức chẳng thể nghĩ lường. Phật vì pháp này đời đời kiếp kiếp xả bỏ
thân mạng. Thiền nhân nếu có thể bỏ một đời này, thành ích lợi lớn cho pháp,
thì đâu có còn mong cầu Phật pháp nào bên ngoài nữa? Nay dù chẳng thể thoát
sanh tử cũng nương pháp này làm thuyền bè, nguyện lực gìn giữ trong biển sanh
tử thì ắt cũng có lúc đến được bờ kia, vẫn hơn sống rỗng chết lãng như trước
kia. Thiền nhân đã tin lời lão nhân từ đây phát khởi sức nhẫn lớn, sức tinh tấn
lớn, gọi là chân pháp cúng dường Như Lai để thành đại hạnh của Phổ Hiền. Cần
yếu chẳng được khởi tâm sanh diệt, lập cái thấy nhân ngã mà sanh ý lui sụt.

Dạy Thiền Nhân
Bổn-Nguyên Giác
Ở Ngưỡng Sơn – Tân An

       Bổn Nguyên Giác trùng hưng lại đạo
tràng Ngưỡng Sơn hơn 30 năm, huyễn bày các thứ trang nghiêm đều tự tâm lực,
tụng hai kinh Viên Giác, Phạm Hạnh cũng hơn 20 năm, gìn giữ tịnh hạnh tinh
nghiêm, đều từ trong Bát Nhã đã huân tập từ trước. Nay làm lễ Khuông Sơn (Hám
Sơn) cầu thọ đại giới, đốt hương thỉnh giảng đại nghĩa Viên Giác. Lão nhân do
đó dạy:

       Phật nói các pháp trong ba cõi chỉ do
tâm tạo, nghĩa là Viên Giác lưu xuất tất cả thanh tịnh chơn như, bồ đề, Niết
Bàn và Ba-la-mật dạy dỗ Bồ Tát. Vì thế là đệ tử Phật, nếu đạt được pháp môn duy
tâm thì tất cả nhân quả nhiễm tịnh đều hiện tiền, niệm niệm chuyển biến. Nên
nói: “tâm tịnh cõi Phật tịnh”. Ngay như nhân duyên ở Ngưỡng Sơn, ngày xưa đều
là núi đá cheo leo cỏ cây rậm rạp. Nay một sớm huyễn thành đạo tràng này như từ
Trời rơi xuống, đều từ một niệm tối sơ, lòng tin bền chắc nên làm được Phật sự
to lớn như thế. Lấy đây mà quán thì Tịnh Độ Tây Phương há từ ngoài tâm mà được?
Lão nhân nay vì thiền nhân, truyền bảo giới Phạm Võng kim cương. Giới này gọi
là pháp môn tâm địa của Phật Tỳ Lô Giá Na. Kinh nói: “Nếu thọ giới Phật, tức
vào địa vị Phật”, thì biết một niệm tin tâm là mở tri kiến Phật, tất cả cõi
Phật ứng niệm hiện tiền. Nên Tịnh Độ của chư Phật đều từ tâm địa kim cương mà
kiến lập.

       Thiền nhân nếu quả có thể liễu tri pháp
môn này, từ đây tiến tới, tất cả mọi việc hằng ngày rõ ràng liễu tri đều từ tự
tâm lưu xuất, niệm niệm chẳng quên, tâm tâm chẳng mờ, niệm đến động, tĩnh,
không hai, thức ngủ như một, thì hiện tiền bước bước đều đạp trên Tịnh Độ, kinh
hành trên đất báu. Ngay thân tâm này đã ngồi trong thai hoa sen, đến lúc mạng
chung vừa bỏ thân này là hoa nở thấy Phật, như từ mộng thức dậy. Đến đây mới
biết sanh tử như mộng, Tịnh Độ như huyễn, trong một niệm ở mãi chẳng lui sụt.
Ngoài đây ra, lại còn có pháp nào vượt khỏi sanh tử nữa? Thiền nhân tu phạm
hạnh đã lâu, mà chưa được nghe thiện tri thúc phá cho giấc mộng vọng tưởng từ
trước. Nếu rõ pháp pháp do tâm, đâu cần cầu Phật pháp nào khác! Hãy nỗ lực.
Trân trọng.

Dạy Trần Thiện
Nhân

       Quận Sở Miện là nước văn hiến, nhưng
thiện tri thức mang pháp môn qua đây giáo hóa rất hiếm. Thiền nhân Quán Trí
dừng lại ở đây, đóng cửa 1 năm, tạm thời giáo hóa chúng. Vừa may Thiện Nhân là
đệ tử tín tâm quy y cũ từ xa đến tham vấn Khuông Sơn Lão Nhân, cầu khai thị để
bạch lại đại chúng. Lão nhân nhân đó dạy rằng:

       Nam nữ tại gia có thể giữ gìn 5 giới là
chẳng giết hại, chẳng trộm cắp, chẳng tà dâm, chẳng nói dối, chẳng uống rượu ăn
thịt. Lúc Phật còn ở đời, họ thường ở trong pháp hội được gọi là ưu-bà-tắc,
ưu-bà-di, đây gọi là cận sự nam, cận sự nữ vì kham thân cận phụng sự Tam Bảo
vậy. Tu tập tinh trì ngũ giới thì khỏi đọa 3 đường khổ, đó là phước của Trời,
người. Nên nói: “Năm giới chẳng giữ thì đường Trời người dứt”. Nếu trì ngũ
giới, quan trọng thứ nhất là tin rõ nhân quả, thiện ác báo ứng, như bóng theo
hình, nghĩa là làm nhân lành được quả phước, nhất định sanh trong Trời, người.
Nếu tạo nhân ác thì quả xấu, ắt đọa 3 đường khổ. Lại xem quan cao chức trọng ở
đời, phú quý vinh hoa, hạng này chắc là do đời trước tu phước, cúng dường Tam
Bảo, trai tăng, bố thí, in kinh, tạo tượng, sửa chùa, dựng tháp cứu giúp kẻ
nghèo khổ nên chiêu cảm. Còn người sống lâu đông con, cha hiền con hiếu chồng
xướng vợ theo, anh thương em kính, nhất định do không sát sanh mà phóng sanh,
giữ trai giới mà được. Người ở tại nhà mà có thể giữ ngũ giới này tức đủ ngũ
thường, nghĩa là bất sát là nhân, bất đạo là nghĩa, bất tà dâm là lễ, bất vọng
ngữ là tín, bất ẩm tửu là trí. Nhà nho nếu được thế, là bậc quân tử thành tựu
mỹ đức. Trì trai há là việc ngoài bổn phận ư? Trong đó có bậc thượng trí cao
minh đã giữ giới này, lại nghĩ cuộc đời vô thường như đèn trước gió, sợ sanh
tử, một lần mất thân này, muôn kiếp khó được. Như thế suy nghĩ nhớ khổ sanh tử
mong cầu xa lìa, tâm đã tha thiết nên phát tâm trì niệm Phật A-Di-Đà, đem một
câu Phật này để nằm lòng, tâm tâm chẳng dứt, niệm niệm chẳng quên, sớm tối lễ
Phật tụng kinh, hồi hướng Tây Phương, cầu sanh Tịnh Độ. Nếu niệm Phật đến một
niệm thuần thục, nhất tâm chẳng loạn, lúc sắp mạng chung thấy Phật A-Di-Đà
phóng quang tiếp dẫn, đầu thai trong hoa sen, hoa sen là cha mẹ, đến lúc nở hoa
thấy Phật, từ đây trọn ra khỏi khổ sanh tử luân hồi, thoát ngoài 3 cõi, gọi là
Bồ Tát. Công phu niệm Phật này, xưa nay nam nữ tại gia hành trì, một đời làm
xong, người sanh Tây Phương chẳng ít. Nên nói: “Chỉ có đường tắt tu hành là
niệm Phật A-Di-Đà, ngoài đây cầu gì khác đều là tà kiến, tà hạnh. Thiền nhân
trì như thế là chuyển hóa đồng loại, một người, một nhà, cho đến một làng, một
quận thông suốt đều là nước Phật vậy. Nếu nguyện nỗ lực tu hành, chỉ cần lòng
tin chân thiết, một lòng vâng làm, chẳng cần cầu Phật pháp huyền diệu nào khác.

Dạy Thanh Liên
Sinh

       Lão Tử nói: “Ta có hoạn lớn vì ta có
thân. Nếu ta không thân đâu có hoạn gì!”. Kinh Viên Giác nói: “Nay thân này của
ta, do 4 đại hợp thành, nên quán trong thân: chất cứng ngại thuộc đất, ẩm ướt
thuộc nước, hơi nóng thuộc lửa, động chuyển thuộc gió. Lúc tứ đại phân lìa,
thân hư vọng này sẽ ở đâu? Như thế quán kỹ, tâm này lâu dần thuần thục, tướng
của thân bỗng chợt thành không. Các thứ phiền não đều từ vọng tưởng điên đảo mà
sanh, như mộng điên đảo xưa nay chẳng có. Nên lúc phiền não quán ngay tâm vọng
tưởng này từ chỗ nào mà sanh? Truy mãi đến chỗ vốn vô sanh, thì vọng tưởng
chẳng sanh. Vọng tưởng chẳng sanh thì phiền não không, thân tâm liền không, thì
tất cả phiền não ngay đó tiêu diệt. Ứng niệm liền vào nước Cực Lạc mát mẻ. Quán
cho miên mật chính là thuốc hay để thoát khổ. Nhưng sơ tâm chưa phải dễ thành.
Chỉ đem “Phật A-Di-Đà” xét làm thoại đầu chân thật, tha thiết chẳng quên. Nếu
lúc vọng tưởng khởi, liền đề khởi thoại đầu thì vọng tưởng tự diệt. Vì bình
thường không có chánh niệm, chuyên chạy theo vọng tưởng lưu chuyển, phan duyên
chẳng dừng làm thêm khổ. Tất cả các pháp đều từ tâm sanh, ngoài tâm không pháp.
Nếu không quán tâm mà cầu đường thoát khổ cũng giống như bỏ nước đi mà cầu tiến
tới trước. Chỉ cần phát tâm dũng mãnh, không được nói là “không thể làm được”,
nói thế là tự gây họa.

Dạy Ngô Khải Cao

       Khải Cao quy y Tam Bảo đã lâu, giữ tâm
trai cả năm, nay đến Khuông Sơn cầu thọ giới pháp, làm đệ tử của pháp môn để
kết duyên xuất thế đời sau. Nhân đó tôi đặt tên là Phước Thường, hiệu là Định
Tâm Cư Sĩ, và truyền cho giới ưu-bà-tắc; ông lại đốt hương thỉnh ích. Lão nhân
nhân đó dạy rằng:

       Tất cả thế gian, đủ mọi nghề nghiệp đều
là vô thường, đều là nhân khổ, nên cảm sanh quốc độ ta bà. Chúng sanh tụ họp
gọi là kham nhẫn. Người ngu mê cho khổ là vui, càng thêm tham ái, lại tăng gốc
khổ. Chẳng biết cái cốt yếu ra khỏi khổ là vì điên đảo. Nên người ở đời nếu có
một niệm biết là vô thường, khổ, không, phát tâm cầu xa lìa tức là người đại
trí tuệ. Nếu có một niệm phản tỉnh, phát khởi tâm ghét khổ liền là đường thoát
khổ. Nếu có một niệm mong cầu sanh Tịnh Độ tức là gốc thành Phật. Do đó Phật
nói giới pháp dạy người dừng ác tu thiện; vì ác dừng thì tâm tịnh, tu thiện thì
khổ diệt, khổ diệt thì phước tăng. Tâm tịnh là nhân của Tịnh Độ, khổ diệt là
gốc của Cực Lạc, phước tăng là quả của thường lạc. Như vậy biết một niệm phát
khởi tâm thọ giới là có thể đoạn các khổ; có thể nhóm các phước, có thể ra khỏi
sanh tử, có thể sanh Tịnh Độ, tất cả đều từ một niệm phát tâm tối sơ làm nhân
địa. Cư sĩ hôm nay đã có thể biết việc này, phát tâm này, nên hễ làm việc gì
tức là hạnh xuất thế; tuy chưa xuất thế đã gọi là Phật tử. Từ nay nếu quả đem tâm
trì giới niệm Phật, trừ sạch những cấu nhiễm xưa ở trong tâm: tham, sân, si,
ái, các thứ phiền não thì tâm địa thanh tịnh. Đem tâm tịnh này niệm Phật, niệm
niệm chẳng quên, niệm niệm chẳng dứt tức nhật dụng hiện tiền, sự sự đều là nhân
Tịnh Độ. Nghĩa là bố thí các thứ tứ sự cúng dường Tam Bảo đều là vốn liếng
trang nghiêm tịnh độ. Chỗ nói “tâm tịnh thì cõi Phật tịnh”, duy tâm Tịnh Độ, tự
tánh Di Đà” nguyên chẳng lìa một niệm của đương nhân. Đó là pháp hạnh chơn
thật. Nghĩa là “phước chân thường từ trong tâm tịnh” vậy.

       Cư sĩ quả có thể tin chắc không nghi
đâu cần cầu Phật pháp khác. Chỉ chẳng được làm việc thế gian tầm thường. Xem đó
thì đạo niệm tự bền chắc, tín tâm ngày càng tăng trưởng. Trân trọng, trân
trọng.

Dạy Thiền Nhân Vô
Tri Giám

       Người xuất gia, trước phải cần thiết
xuất gia cắt ái từ thân, vốn vì cầu ra khỏi sanh tử. Nếu vì việc lớn sanh tử,
cần biết tất cả các pháp thế gian đều là gốc khổ, thân là nơi chứa nhóm sự khổ.
Cần phải phát tâm tu hành, cầu đạo thoát khổ. Trước phải thấy cho ra tâm cảnh
giới hiện tại, hãy quán thân này là đất nước gió lửa, tứ đại giả hợp thành
hình. Tứ đại rời ra thì thân hư vọng này sẽ ở đâu? Nhìn cho ra như thế thì
chẳng vì thân này mưu cầu các thứ vui thích thụ hưởng, kế đến phải nhìn ra hiện
tiền, sự thấy nghe hiểu biết toàn do vọng tưởng, đều chẳng phải chơn tâm. Vị
vọng tâm này tạo các thứ nghiệp, không gì chẳng phải tội. Tức một niệm này liền
là gốc khổ sanh tử, cần phải không theo vọng tưởng lưu chuyển. Hằng ngày thầm
thầm quán sát chỗ vọng tưởng khởi, cốt phải xem cho thấu ngay đó tiêu diệt,
không được tiếp tục theo nó, phan duyên đi mãi mà chẳng trở về. Nếu quán sát
chẳng định, lúc không có lỗ mũi, chỉ đem một câu A-Di-Đà làm thoại đầu, khẩn
khẩn ôm chắc, niệm niệm chẳng quên. Có thoại đầu này làm chủ. Nếu thấy chỗ vọng
tưởng khởi thì đề khởi Phật lên. Đó là chánh niệm hiện tiền thì vọng niệm chẳng
đợi đuổi mà tự tiêu. Như thế trong 12 thời thầm thầm dụng tâm. Chỉ một niệm này
làm chủ, kỳ dư tất cả vọng tưởng đều là khách. Khách chủ nếu phân, lâu dần
thuần thục thì vọng tưởng tự tiêu, chân tâm tự hiện.

       Thiền nhân nếu quả có chí vì việc lớn
sanh tử, chỉ lấy một niệm này làm chơn thật. Ngoài ra các thứ khéo léo ở thế
gian; làm thơ, viết chữ, cho đến phan duyên, giao du, phóng lãng đều là việc điên
đảo si mê. Nếu chẳng mộ thực hành, chuyên làm việc rỗng, tạm buông thả theo lục
tình, nói đùa không căn cứ, mất hết ngày giờ, chẳng những sống rỗng chết uổng,
còn e ác nghiệp khó trốn, ngàn đời trăm kiếp không có lúc ló đầu.

Dạy Từ – Thanh –
Chi

       Phật thuyết các pháp thượng, hạ trong 3
cõi chỉ do một tâm tạo, nói 3 cõi thượng là Tứ Thánh xuất thế: Phật, Bồ Tát,
Thanh Văn, Duyên Giác. Ba cõi hạ là phàm phu trong 6 đường: 3 đường lành Thiên,
nhân A-tu-la; 3 đường ác địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Tức là nhân quả thiện ác
trong mười pháp giới. Y báo, chánh báo trang nghiêm đều do một tâm tạo. Nhưng
một tâm này không phải gì khác mà là tâm phân biệt liễu tri nhật dụng hiện tiền
của chúng ta. Đã là do tâm, chẳng phải thứ lớp, mà là hiện tiền chỗ dùng hằng
ngày, niệm niệm tạo nghiệp ở trong 10 pháp giới lưu chuyển. Nếu một niệm do
tham sân si tạo mười điều ác: thân 3, miệng 4, ý 3, thì thành nhân của 3 đường
khổ. Nếu một niệm chuyển thập ác thành thập thiện thì làm nhân diệu lạc cõi
Trời người. Nếu một niệm thiện ác đều quên: trong không thấy có mình, ngoài
chẳng thấy có người, một tâm tịch tĩnh, là nhân thoát khổ của Thanh Văn. Nếu
quán trước mắt khổ vui, nghịch thuận, do nhân duyên sanh diệt, trôi lăn rồi
diệt thì thành nhân Duyên Giác. Nếu một niệm rõ biết nhân pháp vô ngã, nhân
duyên tánh không, không có người làm và chịu, mà chẳng ngại hiện hạnh bố thí,
trì giới, nhẫn nhục, hành lục đạo hóa độ chúng sanh là nhân của Bồ Tát. Nếu một
niệm đốn ngộ tự tâm xưa nay quang minh quảng đại, bao dung khắp cả, tế độ hoàn
toàn trọn không một pháp đương tình; chúng sanh và Phật bình đẳng tức là nhân
thành Phật. Nên một tâm này rộng lớn không gì ngoài, xưa nay thanh tịnh viên
mãn quang minh. Nếu nhật duyên niệm ngộ được, thì duy ở trong trần lao mà là
người xuất thế. Do đó Duy Ma gọi đây là pháp môn bất nhị. Cư sĩ nếu có thể theo
đây mà hành thì tất cả ân oán, thị phi, nhân ngã, các tình căn phiền não, ứng
niệm hóa thành quang minh tạng. Hằng ngày thử lấy đây xem xét tất cả cảnh giới,
niệm niệm giác sát, nếu chẳng thể an nhẫn, bị phiền não chướng ngại thì vừa
thấy chỗ khởi hãy đem một câu “bản lai vô nhất vật” của Lục Tổ đề khởi, như bảo
kiếm Kim Cương Vương thì tất cả phiền não ngay đó băng tiêu, thân tâm trở thành
hồ thanh lương. Như thế ra sức thực hành. Nếu có tinh tấn chẳng lùi sụt thì
chóng chứng đại giải thoát. Lại còn cầu Phật pháp nào ngoài đây nữa?

Dạy Thiền Nhân
Nhược – Đàm Thành

       Thiền nhân Thành, cùng những vị đồng
chí ở Đông Thiền, Kim Sa kết Thanh Liên Xã để trì tụng kinh Pháp Hoa làm sự
nghiệp. Phàm người nhập vào Xã trước hết phải thuộc lòng kinh này, nếu thuộc
lòng được mới cho gia nhập. Chưa được vài năm, người có thể trì chừng vài mươi
người, đi ở bất nhất, chỉ có Thiền nhân nhất quyết chẳng dời, toan lấy đây thực
hành suốt đời, thỉnh ích Lão nhân, nhân đó dạy rằng:

       Kinh này do đức Phật Thích Ca, thấy
chúng ta riêng vì khai thị tri kiến Phật của chúng sanh, là hạt giống chân thật
thành Phật. Nên thuật lại nhân cũ ở thời Phật Đại-Thông, Trí-Thắng, vì 16 vương
tử được nghe kinh này, lần lượt truyền nhau trì tụng. Hễ người từng theo nghe,
ắt đời đời kiếp kiếp cùng sống một nơi, trì kinh này làm hạnh. Xưa người được
giáo hóa thẳng đến đời này ở trên hội Linh Sơn, mỗi mỗi được thọ ký thành Phật.
Chính kinh này là hạt giống chân thật, là chính nhân thành Phật. Nên nói rõ
pháp sư trì kinh thì 6 căn hiện đời do cha mẹ sanh đều được thanh tịnh, như
kinh xác minh đầy đủ. Chính kim khẩu của đức Phật tuyên bày, chẳng phải lời hư
dối. Từ khi vào Trung Quốc, kinh này được nhiều người thọ trì. Riêng đại thiền
sư Nam Nhạc Huệ Tư sở ngộ rất tinh thâm và Đại Sư Trí Giả ở Thiên Thai, tụng
đọc kinh này bèn thấy hội Linh Sơn nghiễm nhiên chưa tan. Đại Sư Tư nói: “Pháp
Hoa Tam-muội này chẳng phải là ông thì không chứng được, không phải là ta thì
không biết được”. Nên Thiên Thai nhân đó kiến lập diệu môn Chỉ Quán, phát minh
yếu chỉ Bách Giới Thiên như thực tướng. Về sau người nương theo Chỉ Quán mà ngộ
sáng nhất tâm như Vĩnh Gia trở xuống chẳng phải chỉ một người. Thì biết kinh
này là diệu hạnh thành Phật đã rõ. Duy có Lục tổ nói: “Tâm mê Pháp Hoa chuyển,
tâm ngộ chuyển Pháp Hoa”. Đây lại dạy trì kinh này là đệ nhất nghĩa môn. Thiền
nhân nay trì kinh này thử hướng lúc chưa mở cuốn kinh ra, mở bừng con mắt chánh
trên đảnh môn chiếu phá vô minh, thực tướng của các pháp, chạm đến rỗng suốt
thì thấy sắc nghe tiếng trước mắt hiện chứng. Thường chuyển một quyển chân kinh
như thế, chóng đem hạt giống phiền não yêu ghét nhiều kiếp đến nay trong ruộng
bát thức hóa hết thành quang-minh-tạng. Thọ trì như thế là chân tinh tấn, là rõ
được pháp cúng dường Như Lai chơn thật. Nếu cứ cho giấy mực văn lời là diệu
pháp, cho thực hành theo số chữ là trì kinh mà tâm địa chưa sạch, phiền não
chưa không, như thế đâu khác gì lấy nước ao làm ma-ni, nấu cát cho là cơm, như
thế thì da trâu chưa lủng, há toan che mắt mà thôi sao?

Dạy Thiền Nhân
Quán – Trí Vân

       Người học đạo lấy lời thề coi tâm như
đã chết, làm đệ nhất nghĩa thoát sanh tử, lấy buông bỏ làm yếu chỉ nhập đạo. Cổ
nhân nói: “Chí nên quy nhất, lâu ngày chẳng lui sụt, sẽ có ngày biết chỗ quay
về diệu đạo”. Núi Ngũ Nhũ này là chỗ quy chân của Lão nhân. Thiền nhân có tâm
quy y lão nhân đã nửa đời người. Nay may có đất cắm dùi này, chính là chỗ các
ông buông bỏ thân mạng. Sống thì đồng tu, chết thì đồng về. Ông nên buông bỏ
các duyên, nhất tâm tịch tỉnh. Ở đây nhóm họp hai, ba người đồng chí, người già
chuyên tâm niệm Phật, tịnh tu tịnh nghiệp, thề chết làm hạn kỳ thì đạo pháp
thường còn, huệ mạng chẳng dứt, thì chẳng phụ cái niệm quy y.

       Chợt nhớ Tô Lạc Thiên Công của ông với
Lão Nhân có tình bè bạn 3 đời. Nên tự lấy nghĩa làm chất liệu, tuyệt không 2
niệm. Nếu còn niệm khác thì chẳng phải là người chơn thật vì sanh tử. Phàm ở
đời thường cốt yếu lấy pháp làm bản hoài, nắm giềng mối của tòng lâm, điều hòa
đại chúng trong ngoài một thể, khách chủ một lòng, quên hết nhân ngã, chặn dứt
thị phi, rõ được phiền não vốn không, liền là được ra khỏi sanh tử. Tức tâm địa
nay thanh hương liền là yếu môn Tịnh Độ. Ông nên cố gắng! Cố gắng!

Dạy Thiền Nhân
Ngưng Súc Không

       Sự tu hành của Phật Tổ cốt yếu chỉ có 2
môn Thiền, Tịnh, kiêm dùng vạn hạnh trang nghiêm. Đó là con đường tu hành chánh
yếu. Trong số người đến học, người tham thiền phần nhiều bị tà sư lầm lẫn dẫn
vào rừng rậm tà kiến, đọa vào ma ngã mạn, tăng hột giống ngoại đạo. Thật rất
đáng lo. Huống nữa trong mười người không được một người đến chỗ giải thoát.
Như thế chẳng những tự lầm mà còn làm lầm người khác. Không đáng sợ sao? Thế
nên Lão nhân cực lực chủ trương chân tu tịnh độ. Người đời chẳng biết đều khinh
thị là tầm thường, chẳng biết cái diệu của niệm Phật, nên phần nhiều lầm lẫn
vậy. Vả lại, niệm Phật tức là tham thiền không phải hai pháp khác nhau. Tức lúc
niệm Phật trước hết phải đem tất cả phiền não vọng tưởng, tham sân si ái, các
thứ niệm tạp loạn nhất tề buông xuống. Buông đến chỗ không thể buông, từ từ đề
lên một tiếng A-Di-Đà Phật, rõ ràng phân minh, trong tâm chẳng dứt, như chĩ xâu
hạt châu, lại như tên tên chống nhau, khoảng giữa không có một chỗ hở cỏn con
nào. Như thế ra sức, dựa cho chắc. Bất cứ lúc nào cũng chẳng bị cảnh duyên lôi
đi làm quên mất. Nhật dụng như thế ở trong động chẳng tạp, chẳng loạn, thức ngủ
như một. Dụng tâm như vậy niệm đến lúc lâm chung, nhất tâm bất loạn, chính là
thời tiết siêu sanh tử, vãng sanh Tịnh Độ. Nếu chỉ miệng nói niệm Phật, tâm địa
chẳng trong sạch, vọng tưởng chẳng trừ rồi cho niệm Phật không linh nghiệm, như
thế dù cho đến ba kiếp sáu mươi đời cũng không bao giờ ló đầu nổi. Ông hãy cố
gắng.

Trả Lời Đức Vương

       Thế theo lời đại vương sai sứ giả đến
phỏng vấn sơn tăng về pháp môn tu hành thẳng tắt: “Hỏi rằng Vương đã năng giữ
giới chẳng sát sanh, ăn chay 3 năm, chỉ nghĩ đến việc cuối cùng gấp gáp, có
pháp nào tu trì để lúc lâm chung được an vui, đời sau chẳng mê”.

       Đây thật là Đại vương nhiều đời trước
đã huân tập gốc Bát Nhã sâu. Nay được địa vị giàu sang phú quý mà một niệm bổn
lai chẳng mê mờ, tha thiết tham cầu pháp yếu. Sơn tăng ngu dốt, mạo muội lấy
lòng thành thực mà trả lời. Đức Phật thuyết pháp độ người như dùng thuốc tùy
bệnh, phương tiện có nhiều cửa, chẳng phải một. Từ khi kinh điển đến đất này,
xưa nay nương theo tu hành có 2 môn thiền và giáo, mọi người cùng noi. Thiền
thì chư Tổ truyền đăng, quý ở chỗ liễu ngộ tự tâm. Sự hạ thủ công phu là tâm
chỉ đưa thoại đầu lên tham cứu một mạch đến khi thấy rõ tự tâm mới thôi. Đây
chỉ dành cho người thượng thượng căn, nhất siêu trực nhập, lại phải có thiện
tri thức luôn luôn hỗ trợ nhắc nhỏm mới được vào đường chánh. Các bậc vương
thần xưa cũng có người hành được, nhưng chẳng thấy nhiều, là vì người xuất gia
dễ thực hành hơn. Nay bậc đại vương tôn ở chỗ sâu kín đáo, chẳng dễ tiếp kiến
thiện tri thức, nên chẳng dám khuyên tiến tu theo lối này. Còn theo kinh giáo
tu hành thì xưa có Thiên Thai Trí Giả bày môn chỉ quán Tiểu Thừa và Đại Thừa,
là yếu môn thành Phật. Đại chỉ quán thì văn nhiều, khó lý hội, còn tiểu chỉ
quán tuy giản dị, thực ra muốn giải thích cho minh bạch, để hạ thủ an tâm cũng
chẳng phải dễ vào, nghĩa là siêng tri, siêng hành cũng khó được gần gũi. Hàng
ngày đối với những cảnh giới nghịch thuận hiện tiền, áp dụng nhiều còn chẳng
tiến nổi, huống việc lớn sau cùng. Pháp này cũng chẳng phải chỗ Đại Vương dễ
làm, cũng chẳng dám đề nghị. Nay chỉ có một môn Phật thuyết Tây Phương Tịnh Độ
chuyên lấy một việc niệm Phật làm trọng yếu, lấy quán tưởng cảnh Tịnh làm chính
hạnh, lấy tụng kinh Đại Thừa làm dẫn phát, lấy phát nguyện làm thú hướng, lấy
bố thí làm phước điền trang nghiêm. Đây thực là cổ kim cùng noi theo, chẳng kể
quý tiện, trí ngu đều có thể chân thật hạ công phu. Nên vạn người tu hành, vạn
người hiệu nghiệm. Mong Đại Vương lưu ý điều này. Cẩn thận dụng quy tắc nhật
dụng, điều lệ như sau:

       Đức Phật chúng ta vì cứu các khổ của
chúng sanh trong thế giới Ta-Bà, chuyên nói pháp môn Tịnh Độ Tây Phương Cực
Lạc. Chỉ chuyên dùng niệm Phật A-Di-Đà, phát nguyện vãng sanh. Có một quyển
kinh Di-Đà chứng minh, trong kinh này nói toàn sự thực về cảnh giới quốc độ rất
là minh bạch, đầy đủ chi tiết về phương pháp tu hành. Như phép tắc công khóa
của nhà chùa chẳng cần bó buộc theo, chỉ lấy niệm Phật làm chủ yếu. Mỗi ngày
sáng sớm dậy lễ Phật tụng một quyển kinh Di-Đà hoặc một quyển kinh Kim Cang,
rồi trì, lần chuỗi niệm danh hiệu Phật A-Di-Đà, hoặc năm ba ngàn tiếng hoặc một
vạn tiếng. Xong rồi thì đến trước Phật hồi hướng, phát nguyện vãng sanh nước
Cực Lạc, lời ở trong kinh công khóa. Đây là công khóa buổi sáng, chiều cũng như
thế. Hàng ngày cứ thế làm thời khóa nhất định, chắc chắn không thể thiếu. Pháp
này dạy cho quyến thuộc trong cung đúng như pháp cùng tu càng tốt. Đây chính là
chỗ thực hành của Thánh Tông Nhân Hiếu Thánh Mẫu, dạy pháp trong cung vi. Người
đến nay chẳng bỏ phế, đó là thường hành vậy. Còn về việc lớn cuối cùng thì công
phu càng cần thân thiết, mỗi ngày trừ hai thời công khóa ra, trong 12 thời,
riêng đem một tiếng A-Di-Đà đặt vào lòng, niệm niệm chẳng quên, tâm tâm chẳng
mờ, tất cả việc đời đều chẳng suy nghĩ. Chỉ đem một câu niệm Phật làm mạng căn
của chính mình, cắn chặt hàm răng quyết không buông xả, cho đến ăn cơm, đi, ở;
đi đứng nằm ngồi, một tiếng Phật này lúc nào cũng hiện tiền. Khi gặp cảnh giới
nghịch thuận, vui giận, phiền não lúc tâm chẳng an, liền đem một tiếng Phật này
đề khởi một phát, tức thấy phiền não ngày đó tiêu diệt. Vì niệm niệm phiền não
là gốc khổ sanh tử, nay lấy niệm Phật tiêu diệt phiền não, liền là Phật độ chỗ
khổ sanh tử. Nếu niệm Phật tiêu được phiền não thì có thể thoát được sanh tử,
lại không có pháp khác. Nếu niệm Phật, niệm đến lúc làm chủ được phiền não thì
ở trong giấc mộng làm chủ được. Nếu ở giấc chiêm bao làm chủ được thì trong
bịnh khổ làm chủ được. Nếu trong bịnh khổ làm chủ được thì lúc lâm chung phân
minh rõ rệt, biết được chỗ đi vậy. Việc này chẳng khó hành, chỉ cốt lấy một
niệm tâm vì sanh tử tha thiết, từ từ dựa chắc một tiếng Phật, lại chẳng tìm tòi
suy nghĩ gì khác, lâu dần thuần thục, tự nhiên được đại an lạc tự tại, được đại
hoan hỷ thọ dụng. Riêng chẳng phải cái vui ngũ dục thế gian có thể so sánh. Đại
vương chỉ cần lưu ý pháp này, đúng là chân thật tu hành, ngoài ra lại không có
việc nào thẳng tắt khoẻ hơn nữa. Cần chớ nghe tà kiến, tà thuyết mà nghi hoặc.
Còn nếu đại vương muốn biết hướng đi lúc cuối cùng thì có thêm một diệu pháp,
xin vì Ngài mà nói. Pháp này ở lại trong tâm Niệm Phật. Giờ giờ thầm thầm quán
tưởng, tưởng trước mắt sanh ra một hoa sen lớn, chẳng kể xanh vàng, đỏ, trắng,
hình giống bánh xe lớn. Quán tưởng hình dáng hoa rõ ràng, rồi tưởng tự thân
ngồi ở giữa hoa, trên nhụy của đài, ngay ngắn chẳng động, tưởng Phật phóng ánh
sáng đến chiếu thân mình. Lúc tưởng như thế, chẳng nệ đi đứng ngồi nằm, cũng chẳng
kể năm, tháng, ngày, giờ, chỉ cốt quán cảnh phân minh, mở mắt, nhắm mắt, rõ rệt
chẳng mờ. Cho đến trong mộng cũng thấy Phật A-Di-Đà cùng Quan Âm, Thế Chí, cùng
ở trong hoa, thấy rõ như ban ngày. Nếu sự tưởng hoa này thành tựu, tức là thời
tiết thoát sanh tử, thẳng đến lúc lâm chung, hoa này hiện ra trước, tự thấy
thân mình ngồi trong hoa sen, rồi có Di Đà, Quan Âm, Thế Chí đồng tiếp dẫn,
trong khoảng một niệm được vãng sanh thế giới Cực Lạc Tây Phương, ở địa vị bất
thối chuyển, mãi mãi không còn chịu khổ sanh tử nữa. Đây là sự hiệu nghiệm thực
sự của việc tu hành chân thật một đời lo xong. Chỉ pháp môn này chẳng phải do
tăng mà nói trong kinh Phật chỗ chỗ đều khai mở, dẫn dắt pháp môn thẳng tắt tu
hành, nếu mong phút cuối cùng sáng suốt ngoài ra không có pháp nào minh bạch
hơn nữa. Nếu sợ tật bịnh muốn học điều tức, vận khí cầu hết bịnh. Đây chẳng
phải pháp hay. Nếu khí chẳng khéo vận, ngược lại sẽ mắc bịnh lớn, đến nỗi không
thể trị được. Dù gì đi nữa chẳng thể ngờ vực điều này. Chỉ là một pháp môn niệm
Phật vào được thân thiết, kỳ dư chẳng cần lưu tâm. Mong đại vương thành thực
tin chắc, chớ nên hoài nghi.

       Lại,
       Ngày 27 tháng Giêng, tăng Uẩn Chân vâng
lệnh chỉ của Đại Vương, đem duệ ngữ của Ngài xuống hỏi. Sơn tăng cúi đọc hai,
ba phen, đủ thấy Đại Vương thể cứu việc lớn sanh tử, muốn rõ cội gốc tánh mạng,
liễu đạt chỉ thú Thiền giáo của Phật Tổ. Sơn tăng ngu muội, chẳng dám vọng bàn.
Kính cẩn noi theo kinh điển, mỗi mỗi việc Ngài hỏi xin đối đáp rõ ràng, trình
bày như sau: Cúi xin duệ lãm.

       Hỏi:
       Đạo Tam Thừa là nguồn của tính mệnh,
thuyết của giáo thiền. Đạo của Đạt Ma, sao nói không một chữ, tâm địa chỗ nào
dụng công? Rốt cùng đời người làm sao đạt được? Lại nói: “Có Phật không Phật,
đầu đuôi thế nào? Lại nói: “Trong lúc tĩnh, không ngã, không nhân, giống như
thái hư, cứu kính thế nào? Ngài có thể đem ngôn ngữ Thượng, Trung, Hạ thừa,
niệm độ sanh của Phật Tổ, mổ xẻ giải thích tường tận từng điều. Đó là chỗ tôi
mong được nghe.

       Đáp:
       Tông Chỉ Phật giáo chỉ lấy nhất tâm làm
tông. Nguyên tâm này, xưa nay viên mãn, quang minh quảng đại, trọn không mảy
bụi, thanh tịnh không một vật. Trong đây vốn không có mê ngộ, sanh tử thánh
phàm chẳng lập, chúng sanh và Phật đồng thể không hai, không khác. Đây chính là
Tổ Đạt Ma từ ấn Độ sang, chỉ thẳng chơn tâm sẵn có này, lấy làm thiền tông. Nên
Tổ đáp Vũ Đế rằng: “Rỗng rang không Thánh”. Nếu có thể đốn ngộ tâm này, thì
sanh tử dứt hẳn. Chỉ tại chính đương nhân một niệm đốn ngộ, tức gọi là Phật như
như, chẳng thuộc tu chứng từng bực, chẳng thuộc thứ lớp tam thừa. Thiền Tông
này được xem là một đường hướng thượng. Chư Tổ từ trước truyền trao là chỉ tâm
này cho là cùng cực của Tông. Đó gọi là Thiền. Tông này chẳng lập văn tự, chỉ
quý minh tâm kiến tánh. Còn công phu tu tiến thì lúc đầu Đạt Ma dạy Nhị Tổ, hỏi
rằng: “Ông làm gì?” Nhị Tổ nói: “Xin Thầy an tâm cho con”. Đạt Ma đáp: “Đem tâm
lại, ta an cho”. Nhị Tổ thưa: “Tìm tâm trọn chẳng thể được”. Đạt Ma liền ấn
chính cho và bảo: “Đã an tâm cho ông xong”. Tâm này chẳng thể được một lời. Đó là
ý chỉ Tây lai. Nhị Tổ lại hỏi: “Há không có phương tiện?” Đạt Ma đáp: “Ông chỉ
ngoài dứt các duyên, trong không nghĩ tưởng, tâm như tường vách, có thể vào
đạo”. Đây là dạy công phu đầu tiên để tham thiền. Đạo của Đạt Ma chỉ như thế mà
thôi. Trừ tâm này ra lại không có pháp khác. Về sau thiền đạo lâu ngày, người
học chẳng thể đốn ngộ. Nên có thuyết tham thiền đề thoại đầu này chẳng chẳng kể
là ai tùy đem một tắc công án của cổ nhân chứa trong lòng làm thoại đầu, hạ
nghi tình thì không có một chữ tức là công án, ngay chỗ nghi này liền là tham
cứu, tham qua tham lại, lâu dần hốt nhiên tâm địa khai mở, như tỉnh giấc mộng
lớn, tức gọi là ngộ. Vì tham cứu là dụng công phu, chính lúc tham, trong tâm
một niệm chẳng sanh, trọn không một vật, nên nói không ngã, không nhân, giống
như thái hư, chỗ ngộ liền là cứu cánh (hạ lạc). Đã liễu ngộ được tự tâm, thì
tình căn sanh tử bao nhiêu kiếp nhất tề đốn dứt. Đã ngộ tâm này, còn nói Phật
và chúng sanh nào nữa? Nên từ đây đã vượt ba cõi, qua lại tùy ý độ sanh, dứt
hẳn các khổ, chẳng bị sanh tử nắm giữ, gọi là Bồ Tát. Đây liền là tham thiền
rốt ráo, tính mạng từ đây rõ hết. Nếu không ngộ tâm này thì bị nghiệp thiện ác
một đời lôi kéo, luân chuyển lục đạo trong các đường khổ, cuối cùng không chỗ
hạ lạc. Chỗ nói biển khổ sanh tử, không có bờ kia chính là đây vậy.

       Còn hỏi đạo Tam Thừa tức là pháp môn
phương tiện quyền xảo của chư Phật, vì độ chúng sanh nên tùy cơ lập bày. Một
đại tạng kinh đều là ý này. Nguyên là pháp nhất tâm, chúng sanh và Phật đồng
một thể, vốn không có thân tâm. Bởi nhân một niệm vọng động tối sơ, mê mất tâm
này, bèn kết thành thân tâm huyễn vọng. Nghĩa là thân máu thịt của mỗi người
hiện giờ gọi là sắc thân, cái tri giác suy nghĩ hiện nay là vọng tưởng, tâm
kinh gọi là ngũ uẩn. Ngũ uẩn tức là sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Nhục thân tức
sắc uẩn, tâm tức 4 uẩn: thọ, tưởng, hành, thức. Do thân tâm biết khổ vui… vv…
là thọ phân biệt, tham cầu, niệm niệm chẳng dứt là tưởng; tưởng này tiếp tục
chẳng dứt là hành. Ba thứ này tức là tâm tri giác suy nghĩ. Còn thức là mạng
căn. Ban đầu lúc chưa mê thì chỉ gọi là tánh. Chân tâm đã bị mê mờ nên có thân
tâm huyễn vọng này, thức gìn giữ liên tục thân này nên gọi là mạng. Tánh này là
khởi nguyên của mạng vậy. Đức Phật lúc mới xuất thế chỉ dạy người liễu ngộ tâm
này mà thôi. Vì tâm bị mê mờ đã lâu chẳng thể liễu ngộ nên Phật bày phương
tiện, trước dạy người biết thân này là gốc khổ. Khổ này do tham, sân, si, ái,
phiền não nhóm họp mà sanh, vì thế muốn người trước hết đoạn phiền não để có
thể ra khỏi khổ này. Người trung, hạ căn y theo đây tu hành, dứt hết phiền não,
quả nhiên được ra khỏi khổ sanh tử. Đây gọi là Thanh Văn, Duyên Giác, là
Hạ-Trung Nhị Thừa, vì họ chỉ có thể tự độ, chẳng thể độ người, chẳng biết ý chỉ
đồng một thể, chỉ được một nửa nên gọi tiểu thừa. Còn có chúng sanh tâm rộng
lớn, đã có thể tự độ, lại có thể độ người, tự lợi tự tha, rộng tu lục độ nghĩa
là hay bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ; có sáu hạnh
này thì tâm quảng đại, đó là Bồ Tát, nên gọi là Đại thừa, cũng nói là Thượng Thừa.
Hai pháp thừa này, cả đại tạng kinh đều nói. Chỉ cần người liễu ngộ tâm này,
cuối cùng hội quy về nhất tâm, tức gọi là Nhất thừa tối thượng. Đây gọi là
Phật, là cực tắc của kinh. Pháp tu hành tam thừa rất nhiều, nói không hết nổi.
Chỉ y một pháp tu hành, đều được ra khỏi khổ sanh tử, chẳng phải chỉ là một
mối. Mọi thứ phương tiện, liễu ngộ được tâm này mới là chỗ hạ lạc cuối cùng.
Chưa ngộ tâm này đều là ở trong biển sanh tử chuyển theo thiện ác; nếu làm lành
thì sanh trong loài người hoặc lên Trời, nếu làm ác, quá tham, sân, si, ái thì
đọa tam đồ, thọ khổ vô lượng. Pháp tam thừa này, nếu học theo trung-hạ-thừa mà
tu, thì bây giờ đang một bề mến thân này, tham đắm, thụ hưởng, tâm vọng tưởng
chẳng thể đoạn trừ nên không thể tu được. Nếu người học Thượng Thừa tu, tuy có
thể bố thí trì giới, còn 4 hạnh sau chẳng thể hoàn toàn, cũng không thể ra khỏi
sanh tử. Dù tu pháp lành, sanh lên cõi trời, phước hết lại đọa, như quay nước
giếng trọn không có chỗ đặt chân; nếu cầu ngộ rõ tâm này có thể thoát khỏi sanh
tử. Nhưng vì như nay, sự và pháp hiện tiền lẫn lộn; lại chẳng thể đem hết tâm
tham cứu; dù tham cũng chẳng được thiện tri thức chân chính chỉ giáo, sợ dụng
tâm lầm, ngược lại bị rơi vào tà đạo, như thế há chẳng uổng phí một đời, tuy
muốn tìm chỗ đặt chân, rốt cuộc không chỗ đặt. Vì ở cõi trời hưởng phước chưa
khỏi luân hồi nên Phật riêng bày phương tiện thẳng tắt. Một môn niệm Phật cầu
vãng sanh Tịnh Độ thì một đời thành tựu. Lúc lâm chung nhất định có chỗ đặt
chân. Nay đem pháp môn niệm Phật Tịnh Độ vì đại vương mà trình bày vậy.

       Còn hỏi pháp môn Tịnh Độ vì sao mà đặt
ra? Là nhân Phật bày pháp Tam thừa, muốn người tu hành, chẳng phải một đời có
thể thành tựu, sợ rơi vào biển khổ sanh tử, khó ra khỏi mau chóng. Còn muốn
tham thiền, có thể một đời liễu ngộ, được thoát sanh tử thì lại nhân vì vọng
tưởng lăng xăng, tập khí sâu dày, chẳng thể tham cứu. Nếu chưa ngộ sáng tâm này
cũng chẳng khỏi luân hồi. Nên bày riêng một môn Tây Phương Tịnh Độ. Đây chẳng
kể là Thượng, Trung và Hạ căn, cùng nghèo, giàu, quý, tiện nếu chịu theo đây mà
tu, một đời có thể thành tựu. Nghĩa là duy có đường tắt tu hành niệm A-Di-Đà
Phật, không có xao diệu gì nữa. Vì sao thế? Vì thế giới chúng ta hiện ở gọi là
ta-bà, là chỗ cực khổ. Nghĩa là sinh khổ, lão khổ, bịnh khổ, chết khổ, cho đến
cầu bất đắc khổ, oan gia tụ hội khổ, nói không thể hết. Tuy là vương hầu khanh
tướng thọ hưởng phú quí, vui sướng đủ thứ cũng đều là nhân khổ. Vì ở đây cực
khổ khó xa lìa được, nên nói Tây Phương Tịnh Độ gọi là Cực Lạc thế giới, vì
trong cõi này chỉ hướng các thú vui nên gọi là Cực Lạc, vì cõi Phật kia tuyệt
không dơ uế nên gọi là Tịnh độ. Không có đàn bà, hoa sen hóa sanh nên không có
sanh khổ, thọ mạng vô cùng nên không có sanh khổ, thọ mạng vô cùng nên không có
lão – tử khổ, cơm áo tự nhiên nên không có cầu bất khả đắc khổ các bậc thượng
thiện nhân cùng ở một nơi, nên không có cái khổ oan gia tụ hội. Vì cõi nước đó
7 báu trang nghiêm nên không có ngói gạch, gai góc, đại tiểu tiện bất tịnh. Các
thứ đều trong sạch, hoàn toàn không giống thế giới này. Tất cả chỗ nói trong
kinh Di-Đà đều là sự thật. Nay mọi người cầu sanh nước kia, không có pháp nào
khác, chỉ nhất tâm niệm Phật lấy làm chánh hạnh. Ngày ngày hồi hướng, lại tâm
tưởng thân ngồi trong hoa sen, thì lúc mạng chung sẽ thấy Phật A-Di-Đà phóng quang
tiếp dẫn; thấy hoa sen vọt hiện lên trước mặt, thấy chính thân mình ngồi trên
hoa, một niệm vãng sanh liền sanh vào nước kia, từ đây liền chẳng đọa vào đường
khổ sanh tử nữa. Gọi là Bồ Tát Bất Thối Địa. Đó là kết quả tu hành một đời, chỗ
hạ lạc đời sau, như thế đã rõ ràng. Ngoài đây ra, nói lâm chung có cảnh giới
nào khác đều là tà thuyết. Nếu chẳng niệm Phật đến lúc mạng chung, tùy tạo
nghiệp ác, cảnh ác hiện tiền, hối hận đã muộn. Đây là pháp môn tu hành thẳng
tắt dễ dàng nhất, là phương tiện đặc biệt do Phật bày ra để tiếp dẫn. Tu Tịnh
Độ chẳng cần cầu ngộ sáng tâm tánh, chuyên lấy niệm Phật quán tưởng làm chánh
hạnh, lại lấy bố thí trai tăng, tu các công đức phước điền để trợ giúp trang
nghiêm Phật.

       Trong Tâm niệm Phật, tuy phát nguyện
vãng sanh, nhưng tất yếu phải biết trước đoạn gốc sanh tử mới mau có hiệu quả.
Thế nào là gốc rễ sanh tử? Đó là ngày nay tham đắm thế gian, đủ thứ thụ hưởng,
với sắc đẹp, tiếng dâm, mùi vị khoái khẩu, tất cả đều là gốc khổ, cùng tất cả
tâm sân giận phẫn hận, tâm chấp trước, si ái cùng tất cả tà ma ngoại đạo do tà
sư thuyết. Pháp tà giáo là như ngày nay, có một loại người tà, vọng xưng giáo
lý viên đốn của Đạt Ma v.v… vọng lập giáo lý Nam Dương Tịnh Không, vô vi, các
kệ quy gia v.v… Tất cả đều là người tà cận đại, hướng trong hư không mà tác
quái, loại ngôn ngữ này là pháp hoặc loạn người đời, đều cần phải tận tình mửa
bỏ. Cho đến những thuyết tà luyện nội đan, ngoại đan, các thuật giữ lấy âm
dương của phái Toàn Chân đều là pháp tà, đều chẳng đáng tin. Chỉ là một mình
dốc lòng tin pháp môn niệm Phật, mỗi ngày tụng kinh A-Di-Đà hai quyển, niệm
Phật chừng ấy, hoặc chẳng cần đếm số, chỉ là tâm tâm chẳng quên danh hiệu Phật,
ngay đây liền là thoại đầu, chính là nguồn cội của tính mạng, chẳng cần hỏi thế
nào là tánh mạng nữa. Mặt mũi xưa nay của chính mình cũng có thuyết ba hồn bảy
vía nguyên thần, cái đó toàn là trên cái thân máu thịt, bàn tán vọng nhận, vọng
chỉ, đều không chỗ hạ lạc. Nếu hỏi lúc sống ra làm sao, lúc chết rồi thế nào?
Thì lúc sống tạo ác, chết rồi cảnh ác hiện tiền, lúc sống niệm Phật cầu về Tịnh
Độ, chết rồi cảnh Phật Tịnh Độ hiện tiền, toại nguyện chỗ ta cầu. Đó là việc
tốt. Nếu chẳng phải chỗ mình trong tâm cầu lành mà hiện ra thì đều là việc tà
ma, quyết không được tin lầm, sẽ lầm đến trăm kiếp ngàn đời. Chỉ xem trong kinh
Lăng Nghiêm thuyết rất rõ ràng. Nếu nói có tướng đều là vọng. Lời này là lời
trong cửa tham thiền, chỉ riêng cầu chân tâm thanh tịnh chẳng dung một vật, nên
nói có tướng đều vọng. Vì niệm Phật Tịnh Độ nguyên là tâm tưởng được thành tựu.
Kinh nói: “Tưởng lắng đọng thành quốc độ”. Vì tham thiền cốt đoạn tâm vọng
tưởng rất khó, nên nay đem tưởng thanh tịnh đổi tưởng ô nhiễm, hoa sen hiện
tiền chính là quán tưởng thành tựu, sao lại cho là tướng vọng mà bỏ đi? Tu hành
mỗi thứ có đường lối chẳng đồng, chẳng nên nói gồm chung làm một.

       Ở trên đã đáp, đều nương trong kinh
giáo của Phật Tổ mỗi mỗi khảo chính, không phải nói dối. Nếu tham thiền thì lấy
minh tâm kiến tánh làm chủ. Nếu niệm Phật một môn cầu sanh Tịnh Độ, bất tất
phải minh tâm kiến tánh, chỉ riêng niệm Phật. Phật là Giác, nếu niệm niệm chẳng
quên Phật thì niệm niệm minh giác. Tự tâm nếu quên mất Phật liền là bất giác.
Nếu niệm đến trong mộng cũng có thể niệm, tức là thường giác chẳng mê. Hiện tại
nếu tâm này chẳng mê thì lúc lâm chung tâm này cũng chẳng mê. Ngay chỗ tâm này
không mê tức là “hạ lạc”. Hiền-vương như nay việc nước vạn thứ, quyết chẳng thể
tham thiền, chỉ có niệm Phật là tốt nhất, chẳng kể nhàn rỗi, bận rộn, động hay
tĩnh, tất cả chỗ đều niệm được. Chỉ là nhất tâm chẳng quên, lại không có pháp
khéo léo nào khác. Còn biết trước là việc thần thông. Đây chẳng cần phải cầu.
Lúc đương thời Phật chẳng cho học tập việc này. Nếu thành Phật rồi tự nhiên có
thần thông, chẳng đợi cầu. Quỷ thần cũng biết trước, chẳng phải là người có thể
học được. Cần thiết chẳng được nghĩ về những việc loại này. Nếu niệm Phật đến
lúc mạng chung tự nhiên dự biết trước lúc đến cũng là tầm thường, do sức niệm
thành tựu chẳng thể cưỡng được.

       Mấy điều trên đây, cúi xin Hiền-vương
xem kỹ và lưu ý cho.

Mộng Du Tập: Trích Quyển Mười Một


~Trích Quyển Mười
Một~
Pháp Ngữ
Đáp Tăng Hải Ấn ở Hồ Châu

       Hỏi:
       Người xưa tuy đã theo “đơn truyền trực
chỉ”, lại tu Tịnh Nghiệp mà mong vãng sanh, là vì sau khi ngộ tùy nguyện khởi
hạnh, hay là chưa ngộ mà kiêm tu hai hạnh? Nếu kiêm tu thì rớt vào “tâm trộm”,
“tâm lối tẻ”, công phu đâu thành một phiến được? Còn như đã ngộ, thì mỗi hạt
bụi đều là Hoa Tạng, chốn chốn đều ở Liên-Miêu (đài sen), mười phương không đâu
chẳng được. Sao chỉ ưa Tây Phương thôi?

       Đáp:
       Kinh có nói: Tịnh Độ có ba:
       – Thường tịch quang độ
       – Thật báo trang nghiêm độ
       – Phương tiện hữu dư độ

       Như chư Phật, Bồ Tát, chư Tổ từ trước
“đơn truyền ngộ tâm” đều hưởng pháp lạc của tự tánh, không có người nào chẳng
trở về Thường tịch quang độ. Đó là nghĩa Duy tâm tịnh độ.

       Như tất cả các cõi nước đều là Tịnh độ
tức Hoa Tạng Trang Nghiêm Thật Báo Độ, cũng là duy tâm mà hiện. Đối với người
cầu sanh Tây Phương Tịnh Độ còn gọi là Phương Tiện Hữu Dư Độ, là một cõi trong
Hoa Tạng Trần Sát vậy. Đây là với người muốn cầu vãng sanh. Luận nói: “Chúng
sanh mới học, sợ lòng tin khó thành, ý muốn lui sụt, nên Như Lai có phương tiện
thù thắng giữ gìn lòng tin, bảo rằng: chuyên niệm Phật A-Di-Đà ở thế giới Cực
Lạc phương Tây, tu căn lành hồi hướng cầu nguyện, sẽ được vãng sanh, thường
thấy quy y Phật, do đó trọn không lui sụt”. Đây là người chưa ngộ mà tu. Tức
chỉ ý Ngài Vĩnh Minh nói: “Nếu được thấy Di-Đà, lo gì không khai ngộ”, vậy nếu
tu gồm luôn hạnh này, như chỗ luận nói: “Nếu quán pháp thân chơn như của Phật
kia, thường siêng năng tu tập, rốt cuộc được sanh trụ trong chánh định”. Đây há
phải là “tâm trộm” ư? Đó là chưa đạt được ý của niệm Phật, chẳng biết ý của
Tịnh Độ. Thì biết người đã ngộ, chẳng đợi cầu mà tự vãng sanh, thì người chưa
ngộ cũng chẳng phải là đem “tâm trộm” mà niệm Phật, cũng có thể sanh vậy.

       Hỏi:
       Tham thiền quý ở chỗ một niệm chẳng
sanh. Niệm Phật quý ở chỗ tịnh niệm tương tục. Đó là một môn tham cứu niệm
Phật, ý tại diệu ngộ mà được vãng sanh. Nay lúc niệm Phật, tuy tâm với Phật
phân minh, lúc tham thì cả hai đều ngồi dứt hết. Nên công tham thiền dần dần
hơn, niệm Phật dần dần nhỏ nhiệm, lúc khác đâu được vừa ngộ vừa vãng sanh?

       Đáp:
       Tham thiền quý ở một niệm chẳng sanh, đúng
rồi! Nếu nói niệm Phật quý ở chỗ tịnh niệm tiếp nhau, tức là đem bốn chữ danh
hiệu Phật bỏ vào trong tâm cho là tịnh niệm, mà chẳng biết rằng bốn chữ danh
hiệu Phật nối nhau chẳng dứt nghĩa là cột niệm chớ chẳng phải tịnh niệm. Vì
người căn tánh bậc trung, hạ chuyên lấy niệm Phật để cầu sanh Tây phương, đó
cũng là một phương tiện Tịnh Độ.

       Nay nói tham cứu niệm Phật ý tại diệu
ngộ, là đem một tiếng “Phật” làm thoại đầu tham cứu, nghĩa là công án tham
thiền “niệm Phật”. Như chư Tổ ngày trước đã dạy người tham thoại đầu với các
công án: Cây bách trước sân, ba cân gai, cục cứt khô, con chó không có Phật
tánh, buông xuống đi, núi Tu Di, v,v,, tùy ý mà đưa lên thành một tắc, chứa ở
trong ngực để âm thầm tham cứu. Chủ yếu mượn tắc này để dứt bặt ý căn, khiến vọng
tưởng chẳng khởi, lâu dần thoại đầu thành đắc lực, hốt nhiên “chật” một tiếng
như đậu nổ trong tro lạnh, đem hang ổ của nghiệp thức vô minh đập một cái tan
thành trăm mảnh, đó là diệu ngộ, tham cứu niệm Phật cũng vậy, chỉ đưa lên một
tiếng “Phật” rồi nghi xét xem là ai, thể cứu sâu xa: Phật này từ chỗ nào khởi,
người niệm cuối cùng là ai? Cứ thế nghi tới nghi lui, tham rồi lại tham. Lâu
dần đắc lực, hốt nhiên liễu ngộ. Đây là công án niệm Phật, xét thực cùng với
thoại đầu tham cứu nguyên không có hai kiểu. Rốt cuộc cốt tham đến chỗ một niệm
không sanh. Đó là tịnh niệm.

       Chỉ-Quán nói: “nếu tâm dong ruổi tán
loạn, phải nên thu nhiếp lại quay về chánh niệm”. Chánh niệm là vô niệm, vô
niệm tức là tịnh – niệm. Chỉ cần tịnh niệm này chẳng mờ liền là tương tục, há
phải để tiếng niệm Phật không dứt mới cho là tịnh niệm sao? Nếu thế, thì chẳng
biết tham thiền cũng chẳng biết niệm Phật. Nếu tham cứu quả đến chỗ tịnh niệm
hiện tiền thì Tịnh Độ chẳng cần tìm bên ngoài, lúc đó một niệm tức đến được
thượng phẩm thượng sanh, là chỗ đến của hạnh này vậy.

       Hỏi:
       Lý “tức tâm tức Phật! chẳng chạy cầu
bên ngoài”, tin được đã thấy được suốt thì liền tùy duyên tiêu nghiệp cũ, chẳng
tạo ương mới, hồn nhiên hăng hái để chờ thức cạn tự được, hay lại nên khởi nghi
– tình tham cứu tận lực để cầu diệu ngộ?

       Đáp:
       Tin được tức tâm là Phật, chỉ là tin
suông. Phải cần thực hành để chứng ngộ. Nếu không hành chứng mà tin rỗng cũng
vô ích. Há chỉ lấy chữ “tin” liền cho đó là liễu triệt sao? Cổ nhơn nói: “Trước
ngộ sau tu”, đó là sau khi ngộ chính nên tu hành. Cổ Đức nói: “Người học nếu
được một niêm, chóng khế hợp với tự tâm, đó là diệu ngộ. Nhưng vẫn còn có chủng
tử ác huân tập từ vô lượng kiếp đến nay gọi là hiện nghiệp lưu thức. Sau khi đã
ngộ được đạo lý, trong 12 thời, miên miên mật mật trừ sạch hiện nghiệp lưu
thức, gọi đó là tu, chẳng phải bỏ cái ngộ này ra ngoài, lại có cái tu.

       Tịnh trừ hiện nghiệp tức là tùy duyên
tiêu nghiệp cũ, toàn nhờ vào công của ngộ mới có thể có sức trừ sạch thói ác.
Nếu chỉ tin suông, lấy gì để tiêu thói xấu. Chỗ nói nghi tình tham cứu v.v…
chính là công phu trừ sạch hiện nghiệp, nếu lúc chưa ngộ phải tham cứu chỗ khởi
của nghiệp tập-lưu-thức. Kinh nói: “Ngồi yên lặng trong núi rừng quán tự tâm
trôi chảy v.v.”.
Nếu đã ngộ rồi, thì chỗ khởi của thói ác, một phen chiếu đến liền tiêu, tự
nhiên như mảnh tuyết trên lửa hồng.

       Ngộ rồi tiêu nghiệp cùng với công phu
lúc chưa ngộ, hơn nhau như ngày với kiếp, chẳng thể nói đồng ngày vậy.

       Hỏi:
       Tham thiền tâm có lúc các niệm chẳng
sanh. Thoại đầu liền đề chẳng khởi, đè cũng chẳng rơi. Lúc ứng duyên, nếu quản
đới (đeo mang) lại bị cổ nhân quở trách, mặc kệ thì chẳng thể tiếp tục, chỉ là
động tịnh hai bên, làm sao đưa lên tham cứu để chóng được tương ưng?

       Đáp:
       Khi nói tham thiền tạm có lúc các niệm
chẳng sanh, nghĩa là chẳng phải thật chẳng sanh, mà là chỗ thoại đầu đắc lực.
Chỗ đắc lực này chẳng thể thường, lâu, đến lúc gặp duyên liền mất, hoặc nếu bị
cảnh giới làm dao động, tự nhiên động tĩnh hai bên, nên khởi diệt không dừng
vậy. Nếu quả có thể dụng tâm, thì ngay lúc một niệm chưa sanh ra sức, lâu dần
sẽ thuần thục, như thế bổn thể của một niệm không sanh hiện tiền, thường quang
rõ rệt, sáng tối không dời đổi, động tĩnh nhất như mới làm thành một phiến. Đến
đây, ứng duyên chẳng cần quản đới, thuận vật hợp đạo. Há có ý cổ nhơn quở trách
cái vô sanh chơn thật sao? Về công phu tham thiền, nếu ngay lúc một niệm chưa
sanh mà ra sức đề cứu tự nhiên chóng được tương ưng. Nếu đem tam muội “ánh
chớp” (lôi quang) cho là được, thì cuối cùng rơi vào hang của thức tình.

       Hỏi:
Vĩnh Gia nói:
“Ai vô niệm ai vô sanh?”
Vân Cư Tề nói:
“Chẳng dứt phân biệt, chẳng bỏ tướng tâm”. Dường như sau khi ngộ, có tưởng có
niệm.
Còn Dũng Tuyền nói: “Chẳng cho tẩu tác”.

Ngưỡng Sơn: “Thiền quỷ bất tri” và Thạch Sương: “một niệm muôn năm” v.v…
Lại hình như sau khi ngộ không có tưởng niệm, chẳng lẽ ứng duyên thì có, lìa
duyên thì không? Hai nghĩa có không, mong được giải quyết?

       Đáp:
       Người xưa ngộ tức là vọng tưởng, vọng tưởng
tức là ngộ, nguyên không phải là 2 loại. Người mê ngồi trong vọng tưởng nên
mong diệu ngộ, toan nói là có cái ngộ riêng.

       Kinh Lăng Già nói: Chư thánh từ trước
lần lượt truyền trao, vọng tưởng không có tánh, há có hai sao? Chỉ là lúc mê
dùng vọng tưởng, lúc ngộ dùng tự tâm, há có sau khi ngộ lại khởi vọng tưởng
sao?

       Hỏi:
       Vĩnh Minh nói: “Trước do nghe, hiểu mà
tin rồi sao. Sau lấy vô tư khế đồng (không riêng tư để khế hợp), một lần vào
cửa tin, liền lên địa vị Tổ”. Phàm Tổ vị rất sâu, nghe hiểu làm sao có thể lên
liền? huống như Vân Môn “đã thấu pháp thân”, hay Động Sơn “tất khiến dứt ý
thức” là chứng, chẳng phải hiểu. Chỗ hiểu xưng là Tổ vị này, chắc có nghĩa sâu
xa?

       Đáp:
       Kinh có Tin Giải Hạnh Chứng là 4 cửa. Hiểu
thì có cái hiểu của giải ngộ và cái hiểu của tri giải. Nếu nghe mà tín nhập là
việc của tri giải. Còn như Linh Vân thấy hoa đào, Hương Nghiêm nghe chạm trúc
chóng rõ tự tâm, đây là cái hiểu của giải ngộ, một lần hiểu liền suốt được tự
tâm, tức đem chữ “hiểu” mửa bỏ, nghĩa là vào cửa này rồi, chẳng còn tri giải
liền xưng Tổ vị. Nếu nghe việc trong nhà của người khác, hiểu được rồi cho là
mình có, há có thể xưng là Tổ sư ư? Đã thấu nhập pháp thân nếu bóng dáng chẳng
quên, chính là rơi vào thức tình, hoàn toàn còn tri giải, thế nên Cổ nhân chẳng
quí nó. Nếu chơn thật ngộ không chỉ hiểu mới xưng là Tổ, mà ngay lúc mới phát
tâm tức được Bồ đề. Há có thể cùng tri giải đồng sao?

       Hỏi:
       Sơ Tổ dạy Lăng Già để ấn tâm, Hoàng Mai
khiến tụng Kim Cang mà kiến tánh, Câu Chi tụng Chuẩn đề, Thủ Sơn trì Pháp Hoa,
thì dường như tham thiền chẳng ngại việc trì tụng. Dược – Sơn chẳng cho xem
kinh, Triều Châu chẳng thích niệm Phật, cho đến Cao – Phong nói: “Thoại đầu
miên mật liền là một quyển kinh không dứt”, lại hình như cấm tuyệt tụng trì, mà
quý ở chỗ đưa lên tâm ấn.

Đến sau lấy tham thoại đầu làm chính, kiêm trì Hoa Nghiêm và niệm Phật
làm thời khóa. Nay muốn ngưng khóa này, duy tham thoại đầu, chỉ còn nguyện lực,
chưa biết được không?

       Đáp:
       Sơ Tổ và Tổ Hoàng Mai lấy Lăng Già và Kim
Cang ấn tâm là vì đạo thiền mới đến sợ những học dụng tâm sai lầm, nên lấy kinh
ấn cho chính tâm, không đến nỗi lầm lẫn, chẳng phải đem kinh làm cái hiểu của
mình.

       Câu Chi trì Chuẩn đề là dùng chú làm
thoại đầu tham cứu, cũng theo duyên mà vào. Như Thủ Sơn tụng Pháp Hoa, là sau
khi ngộ rồi dùng làm Phật sự, tức chỗ nói “tâm ngộ chuyển Pháp Hoa” chẳng phải
lấy tụng kinh làm công hạnh.

       Còn không cho xem kinh niệm Phật chính
là sợ người học mê mất tự kỷ, lấy làm pháp thực để hội. Như người tham thiền,
lúc chưa ngộ, chẳng ngại trì tụng để mượn pháp lực gia trì, dùng làm trợ hạnh
như ba kỳ sám hối. Cổ nhân tất chẳng thể thiếu. Nếu ngộ rồi tụng kinh thì chữ
tâm quang, bày lộ đều là diệu hạnh. Há so với bọn noi theo giấy mực, chim xuân
kêu ngày sao?

       Hỏi:
       “Chỉ lo không thành Phật, chớ buồn Phật
không biết nói”. người xưa dạy thế. Người học đời nay chẳng vụ chân tu mà lo cơ
phong, chuyển ngữ, lầm vậy. Nhưng tự biết chưa ngộ, thì tha thiết nhắc nhỏm.
Chỉ vì kiến địa chưa sáng sợ là tu mù luyện đui, nên giữa thầy trò, bạn đạo cần
hỏi đáp thù xướng. Đây chẳng lẽ hại ư? Hoặc giả sức học chẳng rành thương
lượng, tất đợi ngộ rồi mới thốt lời thì kiến địa còn thiếu sót, từ đâu mà khởi
hạnh? Huống việc đào luyện lý tánh, quyết trạch đúng sai, như ba lần lên, chín
lần trèo, vì một câu mà đi ngàn núi, đều ở khi chưa ngộ?

       Đáp:
       Thời xưa người ngộ tâm gọi là người mắt
sáng. Nếu bậc tác gia gặp gỡ, như hai gương chiếu nhau, chẳng câu nệ có lời hay
không lời, tự nhiên chạm mắt đạo còn, chẳng cần nhất định phải thù tạc cơ
phong, tranh hơn cho là cao. Người học về sau, cuồng vọng ruổi rong, miệng lưỡi
lanh lợi, thật chẳng đủ lấy. Nếu là tham học có nghi thì trước người sáng, mắt
nên chân thành thỉnh ích, bày lộ bổn tâm. Như thế cũng chẳng phải gặp gỡ qua
miệng lưỡi. Đến như rộng tham bậc tri thức, chỉ vì quyết trạch tâm này. Đâu
ngại lời nói rơi trên cỏ, quang co, thương lượng bình thực. Mới là bổn sắc của
đạo nhân. Nếu vụ cơ phong ứng thù thì là việc đầu cửa cuối song, chẳng phải
chơn thật. Người chân tham thực ngộ quyết chẳng rơi vào đây.

       Hỏi:
       Người thấy tự tánh, được tự do đối với
sanh tử, làm chủ được, có thể chuyển nghiệp lúc lâm chung. Chư Tổ kia được tự
do thì chẳng luận, cao Thảo Đường Thanh, thiền sư Ấn v.v… sao cách lại mê? Há
ngộ có cạn sâu, tu tập có nặng nhẹ ư? Hay cũng là đại bi tăng thượng, vốn cao
thượng mà dấu vết thấp thỏi nhưng người không tự biết chăng? Không thế thì
người học đâu còn tin ở pháp môn kiến tánh được?

       Đáp:
       Cổ nhân nói: Một lần ngộ liền thoát sanh
tử, tức là ngộ tự tánh pháp thân. Còn có hạt giống tập khí vô minh nhiều kiếp
là nhân khổ sanh tử, chưa chóng hết được, nên phải nhiều kiếp tu hành mới thành
Phật đạo. Lại như Bồ Tát Thất Tín, đã ngộ tự tánh, địa vị lên bậc bất thối, lại
trải qua 42 vị, dần dần dứt tập khí vô minh, mới thành Phật đạo, há có thể đem
cái ngộ của thất tín liền cho là Cứu cánh thoát sanh tử? Thì biết biến dịch
sanh tử vẫn cùng với cái khổ nhỏ nhiệm tương ưng. Nên nói: “Bồ Tát có cái mê
cách ấm”. Chỗ nói chuyển nghiệp chỉ là đạo lực thù thắng nên có chuyển mà chẳng
phải nhất định tiêu được định nghiệp. Thực ngộ có cạn sâu, tập có dày mỏng,
nhưng sau khi ngộ, ở trong sanh tử mà chẳng bị sanh tử giam giữ, đến đi tự tại,
nên gọi là biến dị sanh tử. Người ngộ tâm này ở trong sanh tử, dù mê cũng dễ
giác, ắt chẳng đến nỗi quá điên đảo. Kinh nói: “Một phen thành thể vàng ròng,
chẳng trở thành quặng nữa”. Há nên lo lắng sẽ mê lại, mà coi thường pháp môn
kiến tánh. Nếu vốn cao mà vết thấp, lại chẳng luận ở đây. Nhưng Phật chẳng thể
thoát định nghiệp thì chẳng phải lỗi của ngộ tâm vậy.

Đáp Cấp Gián
Đoạn Huyễn Nhiên

       Hỏi:
       Chân tâm viên diệu, chưa có ai chẳng do
ngũ ấm làm chướng sự nhập vào đất Như Lai, chưa có ai chẳng do phá trừ ngũ ấm
mà thành. 55 vị trong Lăng Nghiêm thứ lớp rất tường tận. Từ cạn đến sâu, ắt do
phá ấm nọ mà sau leo lên địa vị kia, lấy sự phá chướng để đối với thứ bậc. Chư
gia hiểu còn chưa được rõ ràng, huống là chỗ học vấn khó nghĩ đến, tìm tòi khó
đến được. Chẳng lẽ bỏ qua sao? Kinh nói: “Người thọ ấm dứt rồi, tuy chưa được
lậu tận, tâm không còn vướng vào hình tướng, từ thân phàm phu này, trải lên 60
thánh vị của Bồ Tát, có thể thấy phá sắc ấm, chắc chắn ở ba thứ lớp không còn
gì nghi nữa. Vả lại tu tập chơn thật, các công tăng tiến đều tại sắc thân mà
khởi. Sự phá sắc ấm, nhất nhất đều có thể tỏ ra. Riêng đem thọ, tưởng v.v…
nhiếp vào trong 60 vị, vẫn chưa phân biệt chắc chắn. Ma kinh nói: “Lại vì thức
ấm nếu hết như trong bình lưu ly sạch sẽ dựng mặt trăng báu”. Như thế là lượt
hàng thập tín. Có thể thấy ngũ ấm gồm trong thứ lớp (tu hành) chỉ là vì người
sau chưa để ý đến. Ấm kia chưa dứt thì chẳng thể siêu thập tín. Ấm nọ chưa tan
thì chẳng thể siêu thập trụ v.v… Đến khi thức ấm tiêu mất, 60 vị thứ mới siêu.
Nay nếu nói: “Phá ấm là việc của phá ấm, đâu cần quy hết về 60 vị, vị thứ là
riêng của vị thứ, đâu cần quy hết về phá ấm” thì, có hai cửa vậy.

       Lại nữa, trải qua các địa vị mà
không cùng nhập vào ngũ ấm, thì trong thứ lớp tu sẽ thiếu công phá ma, thứ lớp
chẳng thành thứ lớp. Phá ấm mà không cùng nhập vào tam hiền, thập thánh thì
trong phá ấm thiếu vị thứ tu chứng, thì phá ấm chẳng thành phá ấm. Mong thầy
mỗi mỗi phân tích giảng rõ mở cái chấp mê của con. Nay bọn cướp tông đoạt án
chỉ quý mắt sáng chẳng quý thực hành, bảo là đi trên đảnh Tỳ Lô, còn có ngũ ấm
nào? Có thứ lớp nào? Thật là đại vọng ngữ, tai hại vô cùng. Ngay đến Tổ đắc đạo
của tông môn cũng nói: “Một xong, tất cả xong, chẳng trải 3 kỳ kiếp”. Nay chẳng
bàn về thần thông của thập địa, chỉ như Bồ Tát thập trụ tùy tâm nguyện có thể
dạo 10 phương, chỗ đến tùy nguyện, các bậc cao hiền truyền đăng (nhà thiền) có
thủ đoạn này không? “Lúc mới phát tâm liền thành chánh giác” e mới thuộc trong
sơ càn huệ, chưa chắc là hậu tâm Kim cang càn huệ. Kế đó lại thấy Cổ Sơn chủ,
bài văn “thức ấm tan, các căn hỗ dụng” tức Viên giáo trong giới thất tín, tương
tợ tư hoặc đã hết, có thể vào Kim Cang càn huệ, từ địa vị tương tợ siêu nhập
hậu tâm đẳng giác.

       Thiên Thai nói rõ Viên giáo: “Người
lợi căn một đời có thể siêu nhập đến thập địa” cũng phù hợp với ở đây. Vừa nghe
văn này bất giác vỗ tay nói: “Thức ấm nếu hết, như thế là siêu thập tín, thập
trụ, thập hồi hướng, thập địa, đẳng giác v.v… Chữ “siêu” là chẳng trải qua 55
địa vị vậy. Thế thì từ ba thứ lớp về sau tức phá ngũ ấm. Ấm nếu phá thì 55 địa
vị có thể siêu hết chăng? Nếu thế thì ngoài “hành bố” (thứ lớp tu tập) có một
loại pháp môn khác, mong Thầy chỉ dạy rõ cho con. Nhà nông mắc hạn mong mưa,
một ngày xem như một năm, lần thỉnh ích này, càng thêm thiết tha sâu xa, mong
Thầy chớ tiếc sự giúp đỡ quý báu này.

       Vũ Xương Đoạn Nhiên cúi lạy.

       Đáp:
       Đọc đến chỗ hỏi Lăng Nghiêm phá ấm có cạn
sâu, cùng 55 vị đối nhau đồng hay khác. Đây là chư Phật và Bồ Tát trụ trong
tam-ma-địa (định), cảnh giới thân chứng, chẳng phải phàm tình có thể vọng
lường. Nghĩa này chư sư ngày xưa cũng phải nghi đến. Ngay Tông Cảnh tuy nghiên
cứu tột cùng tánh tướng, nhưng cũng chưa bàn đến đây. Và người học một cách đại
khái nên cũng chưa bàn đến đây. Và người học một cách đại khái nên cũng chưa
thể lưu tâm. Riêng tôi (sơn dã), thông suốt nghĩa chỉ ở 3 thứ lớp và văn kết
vị, tuy có phát huy một chút, cũng chưa tường sự phối hợp các vị thứ; Như Lai
hỏi, v.v… có cái thấy rất sâu! Tôi (sơn dã) thô thiển tối tăm, lại thiền định
chưa sâu, ngũ ấm chưa phá, nên cảnh giới trong định đâu dám dối nói. Cư sĩ vì
phát mà có tâm thiết tha, ý hỏi thành khẩn, nên tôi chỉ dám y theo thánh ngôn
lượng, lược trình bày khái quát.

       Chỗ nói ngũ ấm là tất cả chúng sanh đều
chịu cái khổ-cụ (dụng cụ chịu khổ) sanh tử. Đối với bậc tu hành, chưa có ai
không phá ngũ ấm mà có thể vượt sanh tử, nên Như Lai ra đời chăm chăm chỉ cốt
phá cái dụng cụ ngũ ấm sanh tử của chúng sanh, tức thời giáo một đời đều bàn về
phá ấm. Tản mạn trong 5 thời không đâu không thuyết, nhưng chưa có thứ lớp. Duy
chỉ có một cuốn kinh Lăng Nghiêm, thâu hết thời giáo một đời, thống nhiếp nhân
quả tu chứng mê ngộ, đủ hết hai đường thánh-phàm để tiện cho người tu hành làm
một đường Niết bàn môn. Nên vị thứ tu chứng đầu đuôi nêu tường tận. Hơn nữa lại
đặc biệt nêu ra cảnh giới phá ấm trong định. Vì kinh này, người chơn thật tu
hành chuyên lấy một cửa thiền định thâm nhập mà dùng phá ấm để nghiệm sự cạn
sâu. Nên vị thứ chẳng đồng với Hoa Nghiêm, Anh Lạc v.v… thuyết. Vì Hoa Nghiêm
tròn đầy biến quả, một vị đầy đủ tất cả vị, tuy bày thứ lớp, chẳng thuyết đoạn
chứng, cốt ở chỗ mượn thứ lớp để hiển viên dung. Nên “lúc mới phát tâm liền
thành chánh giác”, là lấy quả giác làm nhân tâm. Trong kinh Anh Lạc, tuy vị thứ
rành rẽ, mà ý ở chỗ phần đoạn, phần chứng, nên theo kiến-tư, trần sa, vô minh
để định thứ lớp tu chứng (hành bố). Như chỗ giải thích của Thiên-Thai, kinh này
cùng hai kinh kia rõ ràng không đồng. Riêng theo Lăng Nghiêm Đại định đốn ngộ
tiệm tu nên lấy tâm không sanh diệt làm gốc tu nhân. Thì trước ngộ chân tâm
diệu viên làm gốc phát tâm, nghĩa là dùng tâm này dứt dần tập khí để định vị
thứ cạn sâu. Chính trong Khởi Tín Luận: “phát tâm tu hành lấy ngộ chơn như làm
gốc”. Đến chỗ đoạn hoặc, luận lại phần nhiều y theo đoạn chứng của tướng tông,
riêng theo lục thô tam tế để định vị thứ. Đây là trước ngộ sau tu. Nên luận lấy
phá hoặc để định vị thì dễ rõ. Kinh này lấy phá ấm để định vị thì khó hợp. Vì
sao? Nếu theo luận thì Tín vị đoạn chấp thủ, kế danh tự, khởi nghiệp là 3 loại
hoặc thô. Tam Hiền đoạn trí tướng, tương tục là hai hoặc: tế trong thô và thô
trong tế. Từ sơ địa đến thất địa đoạn Hiện tướng trong tam tế. Bát địa đến Đẳng
giác đoạn Chuyên tướng. Kim Cang tối hậu đoạn Nghiệp tướng. Trong kinh này, văn
nói rõ về đoạn và chứng. Nay nếu lấy ngũ ấm đối với hoặc, hợp vị thứ cao thấp,
thì nghĩa kinh phần lớn chẳng đúng vậy.

       Vì kinh có nói rõ: “lý phải đốn ngộ,
nương ngộ đều tiêu”. Đây không trải qua các vị. “Sự phải dần trừ, nhân thứ lớp
mà hết”. Đây lại căn cứ theo sự đoạn để xác minh vị. Theo kinh này thì trước
ngộ sau tu, chính là phù hợp với nghĩa luận vậy. Nếu theo nghĩa luận, trước
đoạn hoặc nghiệp tại Tam hiền, sau đoạn vô minh thì đăng địa, như thế cùng kinh
này có khác chút ít. Tường tận văn kinh này trong 3 thứ lớp, tức được vô sanh
pháp nhẫn. Từ đây tiệm tu, an lập thánh vị. Nhưng vô sanh pháp nhẫn là đăng
địa, đã chứng chơn như bình đẳng, mới được nghĩa này. Ý kinh lấy trong 3 thứ
lớp chuyên dùng chơn như làm gốc hạnh. Lại nói:

Ngược dòng toàn
nhất
Quốc độ mười phương
Ví như lưu ly
Sáu dụng chẳng hành
Rõ ràng thanh tịnh
Trong đựng trăng báu
(Phản lưu toàn nhất
Thập phương quốc độ
Thí như lưu ly
Lục dụng bất hành
Kiểu nhiên thanh tịnh
Nội hàm bảo nguyệt)

       Đoạn sau văn nói: “Thức ấm nếu hết, như
lưu ly sạch, trong đựng trăng báu”. Như thế là vượt thập tín cho đến đẳng giác
viên minh nhập vào biển Như Lai Đại Trang Nghiêm. Lấy lời này của Phật làm
chứng, thì ở trong 3 thứ lớp đã vượt các vị, ứng với lúc trước chưa đăng vị, đã
phá thức ấm, chẳng đợi đến tương tợ tín vị, lại đâu dám vọng đem phá thứ ấm thứ
lớp phối hợp các vị sao? Xem kỹ ý Phật, thì chẳng đúng vậy. Nghĩa chính của
kinh này phần lớn cùng các kinh không đồng. Vì các kinh tùy thời tùy cơ bàn
nghĩa một đoạn trong tu chứng, chỗ phá hoặc cũng tùy cơ mà tùy chỗ nghiêng
nặng, tức là thuốc ứng với bịnh trong một lúc. Kinh này gồm hết thời giáo một
đời. Không cơ nào chẳng nhiếp, coi trọng chỗ chuyên phá cội gốc sanh tử. Chuyên
chỉ tập khí dâm dục là gốc rễ sanh tử. Đại định là dụng cụ phá địch… Nên kinh
đặc biệt đưa ra hai loại vô minh phát nghiệp và nhuận sinh, là đem đại định phá
ngay 8 thức căn bản vô minh mà dùng định chặt đến cùng. Dù bát thức chưa phá mà
kiến-tư hoặc, trần-sa hoặc tự nhiên (nhậm vận) rơi trước. Đến như dùng tâm bất
sanh diệt làm gốc tu nhân, chính là dùng tâm Kim cang làm gốc thiền định. Nên
kinh nói: “Đây gọi là Diệu Liên Hoa, Kim cang Vương Bảo Giác”. Do đây quán thì
lúc mới tu định, ở trong 3 thứ lớp, lấy định nghiên cứu tận cùng đả phá bát
thức, thấu suốt tâm địa Kim Cang. Đây là lý tu đốn ngộ, nương ngộ đều tiêu, thì
có thể siêu vượt các vị vậy. Nếu nói: “từ đây an lập thánh vị”, thì việc này
phải dần trừ, nhân thứ lớp hết, tức là theo sự xâm nhập, đoạn trừ tập khí vô
minh nhiều kiếp. Riêng lấy sự dày mỏng, nhẹ nặng, theo địa vị để phán định sâu cạn,
cao thấp vậy. Đây là theo đốn ngộ tiệm tu, do phá ấm mà nhập vị, nguyên không
có hai đường.

       Nghĩa này chính cùng với Quy Sơn nói:
“Nếu người một niệm chóng rõ tự tâm, thì gọi là ngộ, rồi đem chỗ ngộ trừ sạch
hiện nghiệp lưu thức, gọi là tu chẳng phải ngoài đây có cái tu khác. Vì chúng
sanh theo dòng sanh tử (dòng có bốn loại: dục lưu – hữu lưu – kiến lưu và vô
minh lưu), nay trong ba thứ lớp; dục ái khô sạch, căn cảnh chẳng gặp, hiện tiền
người gì còn sống sót chẳng sanh lại nữa, tức là đoạn 3 dòng: dục, hữu và kiến.

       Gọi càn huệ địa là bảo càn huệ này chỉ
khô sạch hữu, chưa cùng với nước pháp lưu của Như Lai tiếp xúc, tức là dòng vô
minh vẫn chưa khô vậy. Dòng vô minh này là dòng vô minh trong tâm Kim Cương.
Tông môn xem đó là chơn thường lưu chú.

       Nên văn kết hợp các địa vị của kinh
nói: “thì biết mới được sơ càn huệ địa trong tâm Kim Cang”. Đây nói về thứ lớp
(tiệm thứ) trước được càn huệ, về sau thẳng đến đẳng giác, lúc đó dòng tập khí
vô minh trong tâm Kim Cang mới được khô vậy. Do đây mà quán thì ở trong ba thứ
lớp đã phá bát thức, đốn ngộ tự tâm, từ nhập vào tín vị về sau thẳng đến thẳng
giác thông đoạn tập khí vô minh, chính là phải dần trừ, do đó từ từ hết. Vì thế
vô minh ắt phải trải qua các vị, sau đó mới hết. Vì từ trong cảnh giới chơn
tịnh, khi vừa sanh một niệm vô minh, sanh tử liền khởi lên, vô lượng kiếp đến
nay khởi hoặc, tạo nghiệp, đều là lỗi của vô minh vọng tưởng. Vì ở trong thời
gian dài sanh tử, bao kiếp nhiễm trước ái dục, tập khí sâu dày, nên cần phải
dùng tâm Kim Cương lớp lớp mài luyện, mới được trở về tâm địa cội nguồn. Cho
nên từ tín vị nói: “Viên diệu mở bày, trung đạo thuần chơn”. Cuối cùng bèn nói:
“lớp lớp như thế, đơn, kép có 12 lớp”. Chính là nêu rõ việc đem công phu đại
định này làm tiêu mòn tập khí. Lại như kinh nói: “ngũ ấm mỗi mỗi đều lấy vọng
tưởng làm gốc”. Nếu lấy phá ấm so với các địa thì kinh ban đầu trong tín văn
nói: “Đem tâm này lưu nhập vào trong, tất cả vọng tưởng sẽ diệt hết không sót”.
Thế thì đâu thể đem ấm mà nhập vào các vị được? Nếu đem vọng tưởng mà tu thì
chẳng gọi là chơn tu. Lại trong 3 thứ lớp, hiện tiền mất hết không sanh lại
nữa, thì đây đã ra khỏi 3 cõi sanh tử rồi.

       Văn sau nói thức ấm hết tức siêu mạng
trược há chỉ phá thức ấm thôi sao? Thọ là chấp thọ tứ đại có khổ, vui v.v… Nếu
thọ ấm chẳng phá, thì chẳng được chánh thọ. Nếu tưởng ấm chưa phá, thì khổ vào
Xa-ma-tha (chỉ). Nếu hành ấm chưa phá, thì sanh diệt chẳng dừng, chẳng phải là
chánh định. Nếu thức ấm chẳng phá, thì chưa ngộ chơn tâm, khó đứng vào các vị.
Do chứng đắc như thế, thì trong 3 thứ lớp đã phá ngũ ấm, quyết chẳng đem ngũ ấm
đối chiếu với các vị, thật là rõ ràng, há có thể riêng phá sắc ấm! Do ngũ ấm
đều phá, mới gọi là chơn ngộ. Do phá bát thức tiến tu gọi là chơn tu. Đó là phá
ngũ ấm mà đốn ngộ lý này. Sau đó đối với các vị, chỉ căn cứ đại định để tiêu ma
tập khí vô minh nhiều kiếp. Chính là nói sự phải trừ dần. Đến như 55 vị, các
điều công đức, vì trong Như Lai tàng đủ có hằng sa công đức, xứng tánh rồi bị
vô minh biến làm hằng sa nghiệp tập sanh tử, nên nay dùng tam muội kim cương
như huyễn, mài luyện nghiệp tập (tập khí vọng nghiệp) hóa làm thần thông diệu
dụng.

       Vì chỗ hóa cạn nên vị thấp, chỗ hóa sâu
nên vị cao.

       Khuê Sơn nói: “Giác tiên tiên phi, danh
hậu hậu vị” (biết điều trước, điều trước là sai, gọi sau, sau mới định vị). Lấy
đây mà quán đại nghĩa kinh này, chỉ lấy việc quán tâm nghiên cứu kỳ cùng, tiến
phá vô minh, theo vị để xác minh sự cạn sâu của chứng nhập, thì chẳng phải phần
đoạn, phần chứng có thể so sánh vậy. Do trước phá ấm mà sau nhập vị. Chẳng phải
căn cứ phá ngũ ấm để phối hợp với các vị, điều này đã rõ ràng. Đâu thể chấp
cứng rằng tùy theo sự phá ấm mà xếp đặt vị thứ được? Nhưng nói “phá ấm” là vị
Phật sợ các người tu hành được chút ít cho là đủ, lầm loạn tu tập, nên đặc biệt
nêu rõ để ngừa tà lầm. Chẳng phải lấy đây để xác minh vị thứ. Hơn nữa thức ấm
chưa phá, dễ rơi vào nhị thừa, điều này thật để biết. Chỉ có Thiền môn đốn ngộ
tự tâm, chóng ra khỏi sanh tử thì chẳng rơi vào giai cấp. Như thế trong 3 tiệm
thứ (thứ lớp), chóng phá bát thức, tự nhiên siêu vượt các vị. Nhưng Tổ sư tuy
nói: “siêu vượt” là chỉ nói pháp thân Phật thôi, chưa hẳn đủ có tướng quang
trang nghiêm, thần thông diệu dụng. Nghĩa là chư Phật Như Lai chưa ai không ngộ
tự tâm mà thành Phật. Nếu một lần ngộ mà được vô sự ngay, thì chư Phật vì sao
lại trải qua 3 đại a-tăng-kỳ kiếp? Nay người ngồi trên bồ đoàn chưa ổn, muốn
đem cái thông minh thế trí, ăn trộm công án cổ nhân, tự khoe tri kiến, vọng nói
chứng thánh, tự cho siêu Phật vượt Tổ, thật là người tăng thượng mạn, chưa được
mà nói được, đọa đại vọng ngữ chẳng đáng sợ? Bọn này há có thể đem phá ấm hay
chẳng phá ấm cùng với bậc chơn tu ra so sánh ngang hàng sao? Vừa rồi đi về phía
Đông, thấy thiền giả rất nhiều, mà người rơi vào thượng mạn chẳng ít, tôi (sơn
dã), đặc biệt nêu phá ấm để ấn chính. Người nghe hổ thẹn mà phục, có thể bẻ gảy
cái tà. Thấy cư sĩ (bạch y) bàn thiền, phần nhiều rơi vào bệnh này. Bây giờ nếu
chơn thật tu hành, chỉ lấy 3 thứ lớp (giai đoạn) thực hành, chỉ tự tâm, quyết
một phen mau ra khỏi sanh tử là việc gấp. Nếu tự tâm một lần sáng, thức ấm phá
được thì 4 ấm trước, chẳng đợi phá mà tự phá. Lại như:

Đưa đầu vào kiếm
bén
Giống như chém gió xuân
(Tương đầu lâm bạch
nhẫn
Nhất tợ trảm xuân phong)

       Há sắc ấm có thể làm ngại được. Lại
nói: “Lão tăng hay chuyển 12 thời”. Lại nói: “Thở vào không ở trong ấm giới,
thở ra chẳng dính các duyên” há nằm trong thọ, tưởng, hành ấm sao? Lục Tổ lúc
lâm chung tự biết chỗ đi, há chẳng phải chỗ đến tùy nguyện sao?

       Như thế thì chẳng phải chỗ cho người
nói bừa là chứng thánh, có thể nghĩ tới. Chúng ta chỉ quý tham cứu cho sáng tự
tâm, cầu một phen ra khỏi sanh tử, chẳng cần phải bàn luận phá ấm cùng vị thứ
có hợp hay chẳng hợp. Đem lý mà suy lường, lấy lời thánh chứng minh. Cái thấy
dở tệ của tôi như thế đó, bậc cao minh có gì xin dạy cho.

Tây Đường Quảng
Trí

Thỉnh ích giáo thừa, có 6 điều nghi:

1. Hỏi:
Cổ nhân phán giáo nói:
       Song thùy lưỡng tướng
       Nhị thủy đồng thời
       Sơ thuyết Hoa Nghiêm
       Bổn bị đại thừa
       Nhị thừa tuyệt phần

       (Hai lần chỉ dạy – Hai tướng khác nhau
– Hai sự bắt đầu một lúc. Đầu tiên thuyết Hoa Nghiêm – Vốn dành cho đại thừa –
Nhị thừa chẳng có phần). Lúc chuyển Tứ – Đế tại vườn Lộc Uyển, Thâu Tử (XLP) và
Mục Kiền Liên còn chưa bỏ tà xuất gia, cớ sao trong văn kết thúc Hoa Nghiêm có
Thinh – văn Xá Lợi Phất v.v… Nếu căn cứ theo văn kết thì nhị thừa được nghe
Hoa Nghiêm, cớ sao trách rằng Nhị thừa không phần? Văn nghĩa đều trái nhau, mong
Thầy rủ lòng phân tích rõ.

       Đáp:
       Trong kinh nói chư Phật mười phương đồng
một thân, một trí huệ như nhau nên trong cõi Phật mười phương chỉ nói pháp Nhất
thừa. Do đó trong trường Bồ Đề lúc mới thành chánh giác, Phật liền thuyết Hoa
Nghiêm là pháp Nhất thừa tối thượng dành riêng cho chúng sanh đại căn, là nói
xứng hợp với thực trí mà thuyết. Đâu dè chúng sanh căn cơ bất nhất. Có cái hiểu
trung, liệt, chẳng thấy nghe thì gọi là tuyệt phần. Nên tùy cơ hạ liệt mà Phật
cảm hiện hóa thân nhỏ bé, có 8 tướng thành đạo ở Lộc Dã Uyển nói pháp tam thừa.
Nghĩa là pháp thân chân thật của Phật giống như hư không, ứng vật hiện hình như
trăng trong nước. Vì chỉ tùy cơ cảm nên hiện thân như vậy. Chỗ thuyết pháp là
dùng quyền trí phương tiện.

       Trên hội Hoa Nghiêm, trong rừng Thệ Đa,
Tượng vương của Văn Thù xoay mình thì Xá Lợi Phất v.v… có 6 ngàn tỳ kheo
thành đạo ngay dưới lời. Đó cũng là Bồ Tát địa thượng gọi là Đại A La Hán. Nay
Phật đã hiện ứng thân nhỏ bé, thị hiện sanh trong nhân gian mà các ngoại đạo
chấp chặt ngã kiến, chưa dễ nhiếp hóa, nên Xá Lợi Phất v.v… cũng tùy hiện
tướng Thanh văn, phụ giúp tuyên dương Phật pháp giáo hóa để gây ảnh hưởng đến
mọi người. Chỗ nói những người “nội bí ngoại hiện” chẳng phải là thực Thanh
văn. Còn trách nhị thừa không có phần là trách Thanh văn thực hành chấp tướng
mà Xá Lợi Phất v.v… chịu nghe quở trách. Chính là phương pháp đánh trống thổi
tiêu để giáo hóa vậy. Giống như trên sân khấu, mỗi người một vai để diễn tả
tình tiết buồn vui, lìa hợp. Đến lúc vãn tuồng thì không dính dáng gì với mình
cả. Nên Bồ Tát lợi sanh như đùa chơi vậy: điều hòa mà ứng, ngẫu nhiên mà hợp.
Há là pháp thực sao?

       2. Hỏi:
       Trong kinh Hoa Nghiêm, Phổ Nhãn chẳng thấy
Phổ Hiền, như thế ba phen nhập định, xem khắp tam thiên đại thiên thế giới cũng
chẳng thấy. Liền đến bạch Phật, Phật dạy: “Ông trong tam muội lặng lẽ, khởi
niệm sẽ thấy”. Phổ Nhãn vừa khởi một niệm, liền thấy đức Phổ Hiền ở trong hư
không.

       Nếu thân Phổ Hiền là nhất chân pháp
giới, đáng lẽ ở trong tam muội thấy được, cớ sao lại chẳng thấy. Nếu Phổ Hiền
là thân sắc tướng, lúc chưa nhập định phải thấy. Cớ sao Phật dạy khởi niệm mới
thấy?

       Đáp:
       Pháp thân vô tướng, dù cho Phổ Nhãn cũng
chẳng nhìn thấy. Ở trong định, cầu mà chẳng thấy. Vì pháp thân không có kia,
đây để có thể thấy lẫn nhau. Thì biết có thể thấy là cửa thứ hai, nên khởi niệm
mới thấy.

       3. Hỏi:
       Trong Khởi Tín Luận:
       “Chân Như huân bên trong nên có vọng tâm,
rồi chán khổ sanh tử, mong cầu Niết bàn”. Vọng tâm có 2:
– phàm phu, nhị thừa nương sự-thức huân tu.
– Bồ Tát nương nghiệp-thức huân tu.
Nay người học tham cứu, chỉ nương sự-thức, chẳng thể nương nghiệp-thức. Tham
thiền vốn là pháp môn Đại thừa, nếu y sự-thức mà tham thì trở thành hạnh quả
phàm phu, nhị thừa. Nếu lúc tham, hai thức cùng dùng thì lại trái lời cổ nhân
nói: “lìa tâm, ý, thức mà tham”. Mong thầy rủ lòng khai quyết.

       Đáp:
       Kinh thuyết phàm phu, nhị thừa nương sự
thức tu. Bồ Tát nương nghiệp thức tu là căn cứ chỗ nương thức phát tâm thủ
chứng vậy. Nay người tham thiền phát tâm, tuy từ sự thức mà dùng chỉ cốt phá
ngay thùng sơn nghiệp thức, thấy thẳng một lần hướng thượng trước lúc chưa mê.
Chẳng rơi vào hang ổ của hai thức. Nếu được chút ít cho là đủ thì chẳng thể lìa
tâm, ý, thức vậy.

       4. Hỏi:
       Cổ nhân nói: “Chẳng quý chỗ thực hành
(hành lý) của lông, chỉ quý kiến địa của ông” Lại nói: “Kiến địa chẳng sáng,
rơi xuống hầm hố”. Nay các nơi giải nói có hai:
– Thuyết học rộng kinh luận, nương chỗ hiểu gọi là kiến địa.
– Thuyết sau khi ngộ sáng rồi mới là kiến địa.

       Nếu học hiểu là kiến địa, cớ sao tông
môn chẳng cho xem kinh? Nếu sau khi ngộ mới là kiến địa thì nay người sơ tâm
thực hành lấy pháp nào làm kiến địa để tránh khỏi tai họa rơi hầm?

       Đáp:
       Hiểu là kiến địa có 3 loại chẳng đồng: có
học hiểu, có tin hiểu và có ngộ hiểu. Nếu theo lời dạy, hoặc trên công án Tổ sư
hiểu được chỗ cứu cánh của Phật Tổ chẳng rơi lối tẻ. Đây gọi là học hiểu nghĩa
là nương địa sinh hiểu.

       Lại có người chưa gần ngôn giáo, nhưng
chỉ quyết định tin tự tâm, trọn không một vật. Đó là tin hiểu (tín giải).

       Nếu tham cứu, một sáng rõ được bổn hữu
đây là ngộ hiểu (ngộ giải).

       Ba cái này đều gọi là kiến địa. Nếu
nương theo cái khác mà hiểu đều rơi vào chướng-tri-kiến. Còn tin hiểu như vậy,
cũng cần tu tập để đến chỗ thực chứng. Còn ngộ giải tuy một niệm đốn ngộ còn có
hoặc chướng vi tế từ vô thủy cũng cần trừ sạch.

       Ba kiến địa này tuy quý, nếu chẳng thực
hành, trọn khó được cứu cánh. Nay, cổ nhân quý kiến địa chỉ lấy căn khí làm
gốc. Chẳng phải hoàn toàn không thực hành. Lời nói một lần của cổ nhân chẳng
thể cho là thực pháp để hội.

       5. Hỏi:
       Cổ nhân nói: Tham cứu ở chỗ bửa củi, gánh
nước, hành cước mà tham. Nay người học cốt ở ngồi yên lặng. Công tham có sức.
Nếu ở trong 4 oai nghi cùng vật giao tiếp, tâm niệm bay nhảy thì thoại đầu chìm
mất. Nếu chỉ tĩnh tọa thì lại trái với sự luyện tập của cổ nhân. Nếu dùng vật
giáo tiếp thì trọn ngày tán tâm. Làm sao khiến người học trong nhật dụng, động
tĩnh không trái nhau?

       Đáp:
       Cổ nhân hành công phu, cốt ở đi, đứng,
nằm, ngồi, trong 4 oai nghi khán giữ, chẳng phải dạy ông ngồi chết khô. Vì mới
vào thiền, tâm phần nhiều tán loạn, quấy động, mới phải ngồi yên nhiếp tâm. Kỳ
thực cốt đem việc làm trong tĩnh lặng đi vào chỗ động nghiệm xem thế nào? Nếu
dụng tâm miên mật tự nhiên động tĩnh như một, làm thành một mảnh. Nay đối cảnh
tâm niệm bay nhảy, là đối với thoại đầu toàn không đắc lực. Há là người chân
tham sao? Nay chỉ cần thoại đầu đắc lực, chẳng câu nệ động tĩnh, tự nhiên chẳng
bị chúng chuyển.

       6. Hỏi:
       Kinh nói: “Tâm, Phật, chúng sinh cả ba
không sai khác”. Lại nói: “Cõi Phật đồng, cõi chúng sanh đồng”. Lại nói: “Độ
hết chúng sanh mới thành Phật đạo”. Nếu chúng sanh và Phật bình đẳng, Phật
không có nghĩa độ sanh. Làm sao độ hết chúng sanh mới thành Phật đạo? Nếu Phật,
Bồ Tát độ hết chúng sanh, cõi Phật dường như tăng dần, cõi chúng sanh dường như
giảm dần. Làm sao bảo chúng sanh và Phật bình đẳng?

       Đáp:
       Tâm, Phật, chúng sanh xưa nay bình đẳng vì
chúng sanh là chúng sanh trong tâm Phật, nên Phật độ chúng sanh của tự tâm. Nếu
tướng chúng sanh đã không, tức là độ tận chúng sanh, tức thành Phật của tự tâm.
Dù một tâm đều làm chúng sanh, thì chúng sanh tự làm chúng sanh của tự tâm, mà
cõi Phật chẳng giảm. Dù cõi chúng sanh hết, chỉ là tiêu hết mỗi mỗi cõi chúng
sanh, vì tâm bình đẳng nên Phật cũng chẳng thêm. Phật quán cõi chúng sanh
không. Nếu chúng sanh tự tâm chẳng không thì chúng sanh cũng chẳng giảm. Ví như
bầu trời mây mù, u ám, hư không cũng chẳng giảm, mây tan sương tiêu, hư không
cũng chẳng tiêu, mà thể hư không vẫn lặng lẽ. Thế thì cõi Phật há có tăng giảm
sao?

Đáp Đại Khiết

Có 6 câu:

       1. Hỏi:
       Người Trì luật nói: mới học không biết trì
luật e cử động sai lầm. Thọ giới có thứ tự quyết không nên mãng liệp. Nhưng
trong đây đại, tiểu thừa quyền thực ứng dụng. Tuy căn cơ nhân nơi lợi, độn, tùy
cạn sâu không phải là không có tệ đoan, may có nêu ra quỹ tắc để khiến người
lanh lợi kính mộ tuân theo, và người độn căn bắt chước hay chăng?

       Đáp:
       Phật thiết giới, bộ Luật ghi đã rõ ràng.
Bổn ý vì chúng sanh có tám vạn bốn ngàn phiền não nên đặt 84.000 luật nghi làm
thuốc trị bệnh. Muốn khiến bệnh phiền-não tiêu trừ, pháp thân được thanh tịnh.
Vì căn cơ có lớn, nhỏ. Nên giới có 3 bậc: Sa Di 10 giới, Tỳ kheo 250 giới, Bồ
Tát 10 giới trọng, 48 giới khinh. Vì 2 loại giới Sa Di, Tỳ kheo là nhân sự mà
đặt nên gọi là giá giới, nghĩa là ngăn dứt lỗi lầm. Tuy Đại Tiểu Thừa đều tuân
theo mà phần nhiều vì Tiểu Thừa chỉ chấp thân không hành; có người có thể chấp
tâm chẳng khởi tức là Đại thừa, cũng ở sự tướng mà đặt giới. Đến như kinh Phạm
Võng nói giới 10 trọng, 48 khinh, gọi là tánh giới. La Bảo Thân Phật Bổn Sư Lô
Xá Na thuyết: pháp môn tâm địa của chư Phật, gọi là Kim Cang bao giới, trao cho
Thích Ca Văn Phật lần lượt truyền hóa, nói tánh giới nghĩa là liễu đạt tự tánh
thanh tịnh, xưa nay chẳng nhiễm, chóng ngộ pháp thân thanh tịnh sẵn có, tánh tự
đầy đủ, nên gọi là giới.

       Kinh nói: “Nếu người thọ giới Phật tức
nhập địa vị Phật”. Nên đức Thích Ca trong 49 năm thuyết pháp, chỉ truyền
giới-pháp này mà thôi. Cuối cùng niệm hoa chỉ dạy, cũng dạy giới tánh này mà
thôi. Chỗ ngộ của Lịch Đại Tổ Sư cũng là viên thành giới quang này mà thôi. Nên
quán tất cả chúng sanh, hạt giống Phật tánh xưa nay bình đẳng, vì đông đủ pháp
thân bình đẳng. Lấy Phật tánh mà quán chúng sanh thì phàm khởi một niệm sát,
đạo, dâm, vọng cho đến nói lỗi của tứ chúng, tự khen mình, chê người, báng Tam
Bảo tức đoạn huệ mạng Phật, cùng giết Phật không khác. Nên kê khoa 10 tội nặng.
Nếu đem pháp thân bình đẳng mà quán chúng sanh thì không thể sát, đạo, dâm,
vọng cho đến hủy báng, vậy là viên mãn đốn giới. Nhưng quan trọng là riêng tại
chủng tử Phật tánh tức huệ mạng Phật, do đó chẳng những thượng căn lợi trí có
thể thọ mà hoàng hai căn, dâm nam, dâm nữ, cho đến quỷ thần như hiểu lời pháp
sư đều kham thọ lãnh. Chỉ cần tin chủng tử Phật tánh của tất cả chúng sanh tức
là pháp thân bình đẳng. Nếu có thể quán như thế, thì đối với tất cả việc làm
trước mắt hằng ngày, cảnh giới gặp gỡ đều là ánh giới sáng soi. Như thế chẳng
những chấp thân chẳng hành mà ở sát, đạo, dâm, vọng, chạm mắt, niệm niệm Phật
tánh hiện tiền, ắt chóng hóa thành khối ánh sáng (quang minh tụ), há chỉ chấp
tâm chẳng khởi mà thôi ư? Nhưng pháp trì giới tại giá giới đã đành là khó, đầu
mối ở giữ gìn 3 nghiệp, chế phục tội lỗi. Chỉ có tánh giới này mới thật khó.
Cốt đem một mảnh tâm kim cương giữ gìn chẳng mất. Nếu một niệm mờ mất tức hoàn
toàn đọa lạc. Há là việc nhỏ sao? Nên hàng sơ tâm thập tín trong Hoa Nghiêm,
trì giới này thuyết phẩm Tịnh Hạnh 120 đại nguyện thì chỗ dùng hằng ngày không
rỉ chảy. Còn theo sự tướng đến như sơ tâm thập trụ trì giới có phẩm hạnh quán
xét lìa tướng tức là phương pháp trì giới này. Sơ cơ thường trì 2 phẩm kinh
này, lâu dần tự nhiên tương ưng.

       Nói “tệ” là tại giá giới có chấp tướng,
tức là phần đông ngã mạn tự cao, có cái tệ ghét người huy giới.

       Người trì tánh giới có cái tệ chưa đắc
nói đắc, buông lung mặc tình nhận giặc làm con. Trừ hai mối này, chẳng hỏi lợi,
độn. Đều gọi là người chân thật giữ giới.

       2. Hỏi:
       Tham thiền nói:
“Giữ luật chẳng bằng tự tánh”, trọn thuộc lầm lẫn. Muốn cầu kiến tánh không gì
qua tham cứu, trong đó nghi-ngộ xen nhau, con-giặc khó đoán. Mong rủ lòng xem
cho chắc để khỏi đọa hầm mê?

       Đáp:
       Phật dạy sa mon tu tập Giới-Định-Huệ tam
học Luật tức là Giới học, tham cứu là Định học. Nhưng trong kinh bày định-học
là diệu môn Tam Quán, là đường tắt ngộ tâm. Sau nhân đạo Thiền đến, trong chỗ
chỉ thẳng truyền riêng, kiến tánh là thiền mà chẳng nói định. Nhưng thiền tức
là định vậy. Ban đầu Đạt Ma dạy Nhị Tổ chỉ là cái “tìm tâm trọn chẳng được” gọi
là đốn ngộ. Cho đến Lục Tổ chỉ là dạy người “chẳng nghĩ thiện, chẳng nghĩ ác,
cái gì là bổn lai diện mục của chính mình?” Tức từ đây cầu ngược lại tự tâm
liền là công phu tham cứu. Lúc đầu không có thuyết khán thoại đầu, hạ nghi
tình, sau đến Hoàng Bá trở xuống mới dạy người khán thoại đầu, đem một tắc công
án của cổ nhân làm bổn tham, truyền nhau làm pháp thực. Kịp đến bây giờ, sư-gia
dạy người chỉ tham công án, chẳng cứu xét tự tâm. Nhân đây làm nghi lầm nhiều
người. Nên nay người tham thiền tuy đông, chưa có được người chánh tri kiến.
Hơn nữa, đem tham-thiền hủy báng kinh là bởi vì chẳng phải chân thật tham thiền
vậy. Riêng chẳng biết cổ nhân vì muốn người học có chỗ vào, đặc biệt dùng một
lần phương tiện quyền nghi, chỉ cốt cho người biết bổn tâm mình. Phật Tổ há có
hai tâm sao? Riêng chẳng biết đề thoại đầu, ngăn dứt ý căn, chẳng cho một niệm
sinh diệt trôi chảy là yếu môn nhập định. Mà nay riêng làm cái tưởng kỳ đặc nên
phần nhiều tự lầm.

       Nếu nay tham cứu thì không thể không
tham thoại đầu, vì sơ tâm tán loạn khó chế phục. Cốt ở đây làm “lỗ mũi”, nên
lúc chưa đề tên, phải cần trước hết đem thân tâm trong ngoài nhất tề buông
xuống, buông đến chỗ không thể buông; từ đây thong thả, hết sức đề khởi thoại
đầu. Nhìn lại chỗ khởi, rốt cuộc là cái gì? Vì chưa thấy rõ tự tâm nên hạ nghi
tình: “Thế nào là bổn mạng nguyên thần của chính mình?”. Như thế truy cầu, gọi
là tham cứu. Cần niệm niệm chẳng mê, tâm tâm chẳng đổi. Ngày đêm tựa chắc bỏ
ngủ quên ăn. Hốt nhiên đậu nổ trong tro lạnh. Bổn thể một niệm hiện tiền. Đó là
ngộ bổn tâm mình. Đến đây y nguyên chỉ là người thuở xưa. Lại không có một chỗ
kỳ đặc mảy may nào. Nếu được một niệm hoan hỷ mà tự cho là đủ, gọi là nhận giặc
làm con, hà huống tạo các thứ tri kiến, nói kệ, nói tụng làm của lạ ư? Cần
thiết chẳng nên rơi vào lưới ma này.

       3. Hỏi:
       Công án nói:
       Thoại đầu phá nát rồi thì 1700 cát đằng
(công án) chẻ dễ như phá tre. Nhưng một tắc nếu sai lầm thì một loạt mây mù nổi
dậy từ những cái phá nát trước, mới tin đó là cửa quỷ. Nếu chẳng biết cái tệ
này mà đùa bỡn tinh hồn thì tam đồ ẩn sẵn vậy.

       Đáp:
       Người học quả có thể thấy rõ tự tâm, đến
đất chẳng nghi thì cùng mười phương chư Phật, lịch đại Tổ Sư chung lỗ mũi thở
ra. Lại nói cái gì là công án với chẳng công án? Việc này chẳng phải việc trên
phần người sơ cơ. Hãy để riêng đó, chẳng cần để ý.

       4. Hỏi:
       Ấn giáo nói: Người chẳng hướng trên kinh
ấn chứng, thì chẳng được chánh tri kiến. Đây là lời dạy cũ của Hòa Thượng.
Nhưng đường nghĩa giải là tập khí cũ, tập khí cũ khó tiêu, như dầu vào trong
bún, nếu vạn nhất trong chỗ ấn có một tơ ý thức, thì người ngộ chuyển rơi vào
ấm ma, rồi phát tà kiến, làm hại chẳng nhỏ. Mong chỉ bảo chỗ thắc mắc.

       Đáp:
       Lão nhân tầm thường muốn người tu hành
dùng giáo (kinh) ấn tâm. Nghĩa là vì chỗ thấy, chỗ biết của mình một bề không
người sáng suốt chỉ dạy tà chánh, muốn đem kinh Phật ấn chính. Như trong kinh
Lăng Nghiêm, Lăng Già, Viên Giác đều thuyết công phu thiền định là cốt yếu của
ngộ tâm. Đem tự tâm đối chiếu xem. Như chỗ Phật nói ra chẳng bằng Phật không
nói. Nên nói: “Lấy Thánh giáo làm gương sáng chiếu soi tự tâm, chẳng phải đem
câu lời huyền diệu trong trở lại cho là cái hiểu của mình. Như chỗ hiểu của
ông, chính là chẳng biết chỗ rơi của thoại đầu. Đến như chúng ta, các thứ bịnh
tâm, chỉ có Phật mới bày tỏ hầu hết: như trạng thái thăng trầm 7 thứ, hình thức
của 50 loại ấm ma trong kinh Lăng Nghiêm, Tà kiến của ngoại đạo nhị thừa trong
kinh Lăng Già, Phật nói chẳng phải ít mà đâu biết sợ, còn theo ư? Ta nói ấn tâm
là chỗ này vậy. Chỉ cốt lấy kinh chiếu tâm, chẳng ở nghĩa lộ (theo đường nghĩa
giải). Chẳng phải chỗ nghĩa lộ đến, các thứ tập khí xưa lại chẳng chỉ ở nghĩa
lộ vậy.

       5. Hỏi:
       Xiển giáo nói: Pháp bố thí thì lớn, pháp
cúng dường thì cao nhất. Do ngộ ấn giáo, tức ấn xiển giáo, tợ hồ khế hợp tri
kiến Phật, chuyển Pháp luân lớn, nhưng ngộ chẳng phải chân ngộ. Do ấn tự tin,
ấn chẳng phải chân ấn, do xiển dương (suy-diễn) tự gánh vác, xóa sạch các chú
cước, riêng khoe cái sáng của mình. Là sư-tử hay là chồn cáo: dễ đổi với việc
tự quấy động. Là xiển dương, là báng dèm: khó đối với sự tự tri. Mong rủ lòng
phân định rõ. Xin vâng làm quy củ mãi.

       Đáp:
       Làm đệ tử Phật, nhớ ơn Phật khó đền, chỉ
có thay Phật truyền bá giáo pháp là người chơn thật báo ơn. Nên chư sư ngày xưa
hoằng pháp có 3 loại chẳng đồng:

       + Tự ngộ bổn tánh, khéo khế hợp tâm
Phật. Đối với lời dạy của Phật như từ trong ngực của mình lưu xuất. Tứ biện tài
vô ngại. Hơn nữa, thâm nhập biển kinh, sóng bủa mông mênh, như các đại Tổ Sư
Thiên Thai, Thanh Lương, Khuê Phong vậy.

       + Tuy chưa ngộ tự tâm, y lời Phật dạy
ấn định tự tâm, rộng dò biển giáo, như chỗ hiểu mà thuyết, chẳng lầm ý Phật.
Đây tuy chưa vượt khỏi ngôn tượng mà chẳng dám vọng đem cái thấy của mình nói
bừa, y theo giáo phô diễn, là như chư đại pháp sư từ trước.

       + Có chủng tử Bát Nhã huân tập sẵn có
như có công phu thiền định, tự sáng tâm mình, khéo khế hợp ý Phật, chỉ chưa
kinh nghiệm (quảng thiệp) nhiều, nghe nhiều, mà chính kiên chẳng lầm.

       Tuy có cái lỗi lấy cạn làm sâu mà không
có tội hủy báng pháp. Chỗ hoằng dương đều lấy pháp thí làm tâm, chẳng cầu danh
lợi cung kính của thế gian như là các lão Ôn Lăng, Tịch Âm vậy.
Đây đều là cái lớn của pháp thí. Còn có người thông minh lợi căn, chỉ cậy cái
thấy của mình là được, bài xích cổ kim, rộng miệng bàn ngang, chỉ dùng hoằng
pháp làm lợi, đây chẳng người phá hoại Phật pháp, còn làm người sau lầm đọa.
Như thế há có thể xứng là xiển dương Phật pháp sao? Đây rõ-ràng dễ thấy, chẳng
hỏi cũng có thể biết.

       6. Hỏi:
       Tụng Cổ nói: Cổ nhân ngộ rồi, tụng cổ như
vẽ vời hư không, không rơi vào sắc tướng. Nay người ngộ chưa thể triệt, vội dễ
dàng tụng cổ, buông câu nghĩ thơ, cơ giống như hài hước, cho là lời ngộ, cảnh
ngộ, như nem nướng đút miệng người. Một lần chuyển thân đọa vào loài hồ, điềm
nhiên không biết sợ. Đây là lưu lệ thời mạt pháp. Chúng con dễ mắc vào hầm này.
Mong ban lời khuyên ngăn, khắp nơi nhờ ơn sâu.

       Đáp:
       Tụng Cổ từ trước đã có. Chẳng qua phát huy
chỗ cổ nhân nêu sơ lược để dạy thi thiết (công việc tỉ mỉ) của môn đình. Vì làm
sáng tỏ đại cơ đại dụng, và ra tay tha, bắt, giết chết, cứu sống. Chẳng phải lo
nói cho đã miệng (thỉ khẩu túng tình), lờ mờ mà được. Tụng này, người xưa xiển
dương giáo pháp có hai việc đều chẳng phải chỗ người sơ cơ nóng nảy làm. Đâu
cần chuẩn bị. Cổ Đức nói: “Chỉ được liễu ngộ tự tâm, chẳng lo chẳng biết nói
pháp”. Như thế thì người sơ tâm chỉ lấy việc tham cứu tâm, cầu sáng đại sự của
mình là cấp thiết, không nên ôm cái thấy này vậy. Chúng ta nếu có thể liễu ngộ
tự tâm, dù chẳng xiển dương giáo pháp, chẳng tụng cổ cũng là chơn thật xuất
gia, chẳng phụ mặc áo cà sa vậy.

Mộng Du Tập: Trích Quyển Năm & Sáu


~Trích Quyển Năm~
Dạy Thiền Nhân
Song Luân Chiếu

       Thiền nhân Song Luân Chiếu đến tham
vấn. Lại bảo: “Sắp ẩn cư trong núi, riêng tham cứu việc hướng thượng, xin Lão
nhân pháp trụ núi”. Nhân đó dạy rằng:

       Cổ nhân trụ núi là chỗ bỏ thân mạng
lớn, đâu phải việc nhỏ, chuyên yếu khéo dụng tâm mình. Pháp dụng tâm, đơn đề
một niệm hướng thượng. Phải thẳng hướng chỗ Phật Tổ chẳng dung, đứng vững gót
chân. Kế đó cần đem hết tất cả tri kiến, lời huyền, tiếng diệu tạp độc trong
lòng, nhất tề mửa bỏ. Tiếp đó biết được bổn thể trọn không một pháp. Chẳng thể
thứ cảnh giới, làm hoặc loạn chánh niệm. Rồi cần phải khán thoại đầu bổn tham.
Như công án “chẳng mục”? của Lục Tổ, cực lực đưa lên nhắc nhỏm. Nếu có tất cả
ác tập hiện tiền, liền đem một lời “bổn lai không” khán phá. Cần chẳng được
theo nó lưu chuyển, tương tục, cắn chặt hàm răng. Chỗ này nhất định nắm đứng,
mới chẳng bị nó cướp đoạt. Dụng tâm như thế, mới là giờ giờ tỉnh tỉnh, chỗ chỗ
ra sức nếu dụng tâm ra sức thái quá, thì tâm giải đãi sanh, liền khởi hôn trầm
nặng nề. Lúc này chỉ cần mau chóng vận dụng tinh thái. Chẳng thể rơi vào trong
hang ổ hôn trầm, phải mau trì chú. Nương sức chú này, đủ địch ma này. Vì trong
tàng thức tập khí ác nhiều đời, nay bị thoại đầu bức bách xuất hiện biến hóa
thành cảnh giới vô cùng. Tất cả cảnh ma từ vọng tướng sanh. Tất cả hôn trầm từ
tán loạn sanh, chính ngay lúc dụng tâm, chợt có một niệm tán loạn liền rơi vào
hôn trầm. Đây phải khéo biết. Tứ liệu giản “tịch tịch, tỉnh tỉnh” của Vĩnh Gia
rất là thiết yếu. Cổ nhân dụng tâm, chỉ đem một câu thoại đầu bổn tham dựa chắc
như vách sắt, núi bạc; nếu đem chỗ một niệm không sanh cũng là đắc lực; chẳng
nên cho là hội được cứu cánh. Ngay đến công phu nhậm vận hồn nhiên chẳng nhờ tư
duy, một niệm hoát nhiên thân tâm như thoát không, chỉ mới là chỗ công phu bắt
tay vào; cũng chưa là cứu cánh. Nếu đến đây, có thể tự nhiên khinh an tự tại
liền sanh hoan hỷ. Nhưng đây là việc bổn phận của mình, chưa có gì kỳ đặc. Nếu
sanh ý tưởng kỳ đặc liền rơi vào ma hoan hỷ, rồi khởi tri giải cuồng điên vô
cớ. Cửa này rất nguy hiểm. Lão nhân chỗ này đều có thử cả.

Xưa nói:
       Khô mộc nham tiền thố lộ đa
       Hành nhân đáo thử tận sa đà,
       (Cây khô trước núi nhiều đường tẻ
       Người đi đến đấy thảy sa đà).

       Chẳng phải là việc nhỏ. Cho dù có sức
vượt qua các thứ cảnh giới, chính nên tu hành, chính nên bảo hộ, chưa phải là
đến nhà. Nếu cho đây là đủ, liền khởi các thứ niệm về chuyện ngũ dục thế gian.
Cửa này rất khó qua. Trăm người chỉ qua được một, hai. Sở dĩ chẳng đến được
ruộng đất cổ nhân, chính là lỗi lầm được ít cho là đủ. Dù người học các ông khổ
tâm một đời được đến đất này, nếu bị ác tập này lôi kéo, vẫn là đọa lạc trong
lầm sanh tử, công phu lúc trước vất bỏ hết, chẳng đáng buồn sao? Chuyện như
thế, lời cổ nhân ghi chép không ít. Lão nhân lược nêu lên, vì trong đời mạt
pháp khó được người học đạo chân chính, và cũng vì từng làm khách lãng tử, đáng
thương!

       Đại khái người xưa trụ núi chẳng phải
nuôi dưỡng sự biếng lười mong khoái hoạt, mà riêng vì việc lớn sanh tử của
chính mình, do đó chạy vào núi lạnh muôn trùng, tạo kế sống, không có gì khéo
léo. Nếu tại đây lần lửa qua ngày, hoa phí thời gian, há chẳng đáng buồn sao?
Tuy nhiên dụng tâm sai biệt đã tự biết rồi. Trong núi những cảnh duyên huyễn
biến trước mắt như nước chảy, gió thổi, vượn hú, chim hót, mây trôi, sương
giăng; khua động ở trước, lại bị ồn náo tạp nhạp. Lời “thấy đạo quên núi” của
Vĩnh Gia cần phải xem lỹ. Lão nhân ban đầu lúc ở Long Môn Ngũ Đài, dưới núi
lạnh vạn trượng, trong khói băng tuyết như chôn người chết, núi lạnh thấu cả
ngũ tạng, chỉ có một hơi thở nhỏ nhiệm, nhìn theo trong băng ra vào. Đến đây
phản quan, tìm chỗ một niệm khởi của tự tâm trọn chẳng thể được. Cảnh này chính
là duyên trợ đạo, lại lúc gió lớn nổi lên, tiếng rít cuồng nộ ở muôn hang, ngày
đêm chẳng dừng, rồi tuyết tan, khe suối chảy, tiếng như sấm rền. Lại dường như
thiên binh vạn mã phóng chạy. Cảnh giới tạp loạn như thế, ban đầu rất khó chống
chọi. Nhân nghĩ người xưa có nói: “Nghe tiếng nước 30 năm không chuyển ý căn,
có thể choa vào đạo”. Lão nhân bèn phát nhẫn, ngồi ngay trên cầu độc mộc; trọn
ngày nghe tiếng nước. Ban đầu om sòm rất khó tiêu, lâu dần quả thật hốt nhiên
tịch diệt. Từ đây tất cả cảnh giới đều tịch diệt. Nghĩa là vạn cảnh vốn nhàn, chỉ
người tự ồn náo. Đây lại là dụng công phu đệ nhất của đạo nhân trụ núi. Thiền
nhân nhớ lấy, chớ bỏ qua.

Dạy Thiền Nhân
Quán Trí Vân

Người học đạo:

       Thứ nhất: Cần nhìn cho rõ ra tất cả
cảnh giới thế gian để chẳng bị chuyển theo vọng duyên.
       Thứ hai: Cần niệm một tấm lòng sắt đá
quyết định vì việc lớn sanh tử, chẳng bị vọng tưởng phan duyên đoạt mất chí
mình.
       Thứ ba: Cần đem những tri kiến, ác giác,
tập khí cũ từ trước, tất cả rửa sạch không còn một mảy.
       Thứ tư: Cần chơn thật buông bỏ thân mạng
chẳng bị sanh tử, bệnh hoạn, ác duyên làm chướng ngại.
       Thứ năm: Cần phải chánh tín, chánh kiến.
Chẳng được nghe tà sư làm lầm lẫn.
       Thứ sáu: Cần biết được chỗ dụng công chân
thiết của người xưa, nắm lấy mà tham cứu thoại đầu.
       Thứ bảy: Cần trong tất cả chỗ nhật dụng
được chánh niệm hiện tiền. Chẳng bị chuyễn hóa mê hoặc, tâm tâm không gián
đoạn, động tĩnh như một.
       Thứ tám: Cần trực niệm hướng đến trước.
Không được đem tâm đợi ngộ.
       Thứ chín: Cần có tâm lâu bền, chí không
đến được ruộng đất cổ nhân, quyết không chịu thôi; không nên được chút ít cho
là đủ.
       Thứ mười: Trong lúc hạ thủ công phu, cần
phải buông xả, thôi dứt. Xả rồi lại xả, thôi rồi lại thôi, xả đến chỗ không thể
buông xả, thôi đến chỗ không thể thôi. Tự nhiên thấy được tin tức tốt. Người
học dụng tâm như thế, mới cùng bổn phận có chút phần tương ưng. Người có chí
hướng thượng, nên lấy đây mà tự gắng sức.

~Trích Quyển Sáu~
Dạy Tây-Đường
Kính-Sơn
Thiền Nhân Linh-Giám

       Kinh nói: “Tất cả pháp chẳng sanh. Ta
nói là nghĩa sát-na. Vừa sanh tức có diệt chẳng vì người ngu mà nói”. Cổ Đức
nói: “Người ngộ vô sanh, mới thấy sát-na”. Nhưng đã ngộ vô sanh, lại có sát-na
nào có thể thấy? Nếu thấy có sát-na, thì chẳng phải ngộ vô sanh. Nay sao lại
nói người ngộ vô sanh mới thấy sát-na, thế thì vô sanh và sát-na là một hay
khác? Phật y nơi bất sanh thuyết sát-na thì chẳng phải khác. Tổ sư nói: “Ngộ vô
sanh mới thấy sát-na thì vô sanh sát-na lại chẳng phải một; nếu lìa một và khác
mà cầu, thì ý vô sanh cũng là cọc cột lừa. Quy Sơn nói: “Người đời nay một niệm
chóng rõ tự tâm, gọi là ngộ. Rồi đem sở ngộ tịnh trừ hiện nghiệp lưu thức, gọi
là tu”. Nhưng lưu thức là sanh diệt vi tế, tức là tâm sát-na vậy. Nói ngộ rồi
tu tức là ngộ rồi sau mới thấy. Lại nữa ngộ rồi sau mới thấy sát-na thì ngộ
trước chưa phải là chân vô sanh; đã rõ vậy. Nay tham thiền đề thoại đầu, tuy
nói ra sức mà sanh diệt vi tế trôi chảy thầm thầm, như đá đè cỏ, đen tối chẳng
thấy. Nếu chẳng đoạn sanh diệt, làm sao ngộ được vô sanh, lại lấy gì địch lại
sanh tử? Nếu ngộ rồi sau thấy, thì Thế Tôn y sát-na mà thuyết vô sanh lại là
pháp thừa Tây Đường ăn no nê giáo nghĩa, nay bỏ chỗ tập quen, riêng đề một
đường hướng thượng. Ở đây thử định đúng xem! Nên chẳng được dùng nghĩa lý hòa
hội, cũng chẳng hướng ý hiểu mà cầu, có thể ở trong một niệm sát-na chóng thấy
vô sanh thì lỗ mũi Phật, Tổ một xâu xỏ hết.

Mộng Du Tập: Trích Quyển Tám & Chín


~Trích Quyển Tám~
Dạy Thiền Nhân
Bảo-Tạng Tướng Lễ Phổ-Đà

       Quan Âm đạo sĩ, chứng bổn căn viên
thông đem pháp giới này tùy duyên ứng hiện, há nhất định ở núi Phổ Đà sao! Biển
dụ cho sanh tử, núi dụ cho Niết Bàn. Đại sĩ đem pháp thân ứng khắp trong biển
sanh tử, tức là chúng sanh trong nhật dụng tầm thường đều là oai thần đại sĩ
hiển hiện, trạm nhiên tịch diệt, ví như núi báu, nên lấy núi Phổ Đà trong biển
đề làm biểu tượng. Bởi vì chúng sanh trong biển phiền não, chúng sanh có khổ
tức là cái khổ của đạo sĩ. Nên một lần xưng danh hiệu liền được giải thoát, tức
là chúng sanh gọi tỉnh Đại sĩ của tâm mình. Đại sĩ hiện tiền thì tịch diệt hiện
tiền, tịch diệt thì khổ chẳng thể đến. Nên núi ở trong biển, ba đào không thể lay
động. Thế nên gọi là Đại Sĩ thường ở Phổ Đà. Chẳng phải cuộc ở hòn đá con trong
biển cho là nơi Đại sĩ nương gá. Chúng sanh mê vọng, chẳng lễ Đại sĩ tự tâm
đích thân ngồi ở đạo tràng tịch diệt, nguy nguy bất động như núi trong biển, mà
lặn lội núi sông hơn vài ngàn dặm, vấp váp khổ cực, hướng bên ngoài mà tìm. Quá
mê vậy! Tuy như thế kinh lại nói: “Quy nguyên không hai, mà phương tiện nhiều
cửa”. Nau chúng sanh khắp đại địa đều tin Đại Sĩ ở biển Nam, nên hợp với căn cơ
đó mà dẫn dắt tiến lên, khiến họ xuống biển lên núi, một lần niệm Đại sĩ mãnh
tỉnh tự tâm, thì ba đào chạm mắt đều nhập vào cửa viên thông, ắt khiến tự tin
mà thôi. Đồng với đây mà đi, nếu có một người tin lời này của lão nhân thì
chẳng phụ một phen hành khước, không thế thì uổng phí tiền giày cỏ.

Dạy Thiền Nhân
Dạ-Đài

       Bồ Tát Văn Thù trụ núi Thanh Lương,
cùng một vạn quyến thuộc thường diễn thuyết pháp. Nên sa môn Tây Vực xa lễ núi
này, cho là thế giới Kim Sắc. Kinh Hoa Nghiêm nói: “Văn Thù Sư Lợi đến từ tất
cả chỗ, và tất cả chỗ đều là thế giới Kim Sắc”. Xem đây thì Văn Thù quả thường
trụ ở núi này sao? Vì trong cõi chúng sanh phiền não tập hợp, là đất nhiệt não,
nếu hành nhân có thể mở con mắt trí tuệ, đạt được gốc, quên tình, biết tâm thể
hợp, thì ngay đó mát mẻ thanh lương. Như thế thì chạm mắt không đâu chẳng phải
là hóa cảnh của Văn Thù, bước bước chẳng rời đạo trường thanh lương. Đây là
nghĩa tất cả chỗ đều là thế giới Kim Sắc của Văn Thù vậy. Thiền nhân Dạ Đài trụ
lâu ở Đài-sơn, ban đêm đi dạo nên được tên này. Nay đến phương Nam hành khước,
tham lễ trí thức, thì ắt đích thân từ Văn Thù chỉ điểm mà đến. Như Thiện Tài đi
lần về Nam, tuy trải qua 110 thành mà chưa hề động gót chân một bước, như trước
chu hành mười phương thế giới, chưa rời cõi Kim Sắc, tại mỗi tri thức tùy pháp
môn thuận nghịch, không đâu chẳng phải mắt trí tuệ của Văn Thù. Nay ông gặp lão
nhân ở ngọn núi Ngũ Nhũ, cùng thế giới kim sắc là đồng hay khác? Trong đây nếu
biện được, thì chấp nhận ông thân thấy Văn Thù. Nếu như chưa được vậy, lại mua
giày có mà hành khước đi. Tham, tham!

~Trích Quyển Chín~
Dạy Thiền Nhân
Huệ-Huyền Hưng-Hậu

       Đông Hải là đất mà Phật pháp chẳng được
lưu hành. Từ Linh Sơn, sư Quế Phong khai hóa, khiến người bỏ tà theo chánh
chẳng ít. Lão nhân xưa ở chùa Hải Ấn, khen sư pháp lợi hưng thạnh, hàng đệ tử
của sư có thể thuyết pháp, rất nhiều. Nay học nhân Hưng Hậu là cháu đích tôn
vậy. Lão nhân rời Linh Sơn đã có 28 năm, sau năm Tân Dậu, ông đến tham vấn ở
Khuông Sơn, rồi cuối năm từ giã trở về núi cũ, thỉnh ích pháp yếu tu tâm. Lão
nhân nhân đây dạy:

       “Đức Phật rất quở trách hai thứ chướng
phiền não và sở tri là căn bản sanh tử. Phiền não chướng là tham, sân, si, ái,
đó là căn bản sanh tử của phàm phu. Còn sở tri chướng là tri kiến Phật pháp, đó
là căn bản sanh tử của thánh nhân tâm thừa. Nếu hai chướng chẳng trừ, thì khổ
đau không do đâu mà ra khỏi được. Ôi, người đời nay chẳng biết Phật pháp, cố
nhiên chẳng có gì lạ. Mà ngay người học pháp Phật, chẳng đoạn trừ phiền não,
lại đem sở học về Phật pháp làm sở tri chướng, sanh trương ngã mạn, tăng thêm
ngã mạn, tăng thêm phiền não, tâm địa nhiễm ô, chủng tử chạm đến liền phát
sanh, hiện hạnh phóng dật, thân tâm chẳng thúc liễm mảy may, theo tình thức tạo
nghiệp, há chẳng phải lấm lớn sao? Học nhân nay nghe lão nhân khai thị, biết vì
việc lớn sanh tử, phát tâm tham cầu công phu bổn địa. Đây là nguyện lực tối
thắng. Nhưng nay, công tham cứu, chẳng cần cầu gì khác, chỉ cần đem chủng tử
tập khí có sẵn trong lòng, nhất tề điểm mặt làm cho khô sạch trọi trơn, chẳng
cho xúc phát hiện hành. Rồi ở nhật-dụng đối cảnh gặp duyên, lúc khởi tâm động
niệm ngay đó xem rõ, chẳng cho tương tục. Sự dụng tâm hạ thủ này chỉ như kinh
Lăng-Nghiêm nói: “Nhĩ căn viên thông của Quan Âm, xoay ngược cơ quan nghe, nghe
ngược lại tự tánh”. Một quán môn này là dụng tâm tốt nhất. Nếu ở chỗ thấy nghe
hằng ngày thật có thể quán ngược lại tự tánh thì chẳng theo ngoại cảnh lưu
chuyển, như thế niệm niệm trôi ngược về thì niệm niệm là đường quy chơn. Như
thế dụng tâm, nếu tập khí chẳng trừ, xúc phát hiện hành thì nhất định là chẳng
đắc lực. Đây hoàn toàn là do một phen ngược lại với hiện nghiệp làm hạnh tối
thượng, tất yếu cũng là tâm sanh tử tha thiết, chịu hạ tử-công-phu. Người học
nếu thật vì sanh tử, cứ chân thiết dụng tâm là có thọ dụng, chẳng phải nói xong
rồi thôi, tạo một thứ tri kiến Phật pháp.

Dạy Lão Túc Nhân
Thiên
Trì Kinh Pháp-Hoa

       Đại Đức Nhân Thiên tụng kinh Pháp Hoa
hơn hai mươi năm sắp đi, bèn đến thỉnh ích. Lão tăng nhân đó bảo rằng:

       Pháp Hoa tối thượng thừa là bí yếu từ
lâu của đức Phật chúng ta, là cuốn sách chứng cứ (khoán thư) thọ ký các đệ tử.
Lục Tổ nói: “Tâm mê Pháp Hoa chuyển, tâm ngộ chuyển Pháp Hoa. Tụng kinh không
hiểu ý, cùng nghĩa thành oán cừu…” Tổ thứ 27 nói: “Thở vào không ở ấm giới, thở
ra không giao thiệp các duyên, thường chuyển kinh như thế, trăm, ngàn, vạn, ức
quyển”. Như hai Tổ trên nói thì Nhân Thiên rốt cuộc trì kinh này như thế? Kinh
nói: “Pháp này chẳng phải chỗ tư lương phân biệt có thể hiểu”. Như thế thì Lục
Tổ dù cho hiểu ý cũng chưa thể trì. Lại nói: “Kinh này mở cửa phương tiện để
khai thị tướng chơn thật của các pháp”, như thế thì sơn hà đại địa, cỏ cây,
ngói, đá đều là thực tướng. Dù như Tổ 27, rời hơi thở ra vào cũng chưa thể trì.
Thế thì Nhân Thiên rốt cuộc trì như thế nào? Như Phật thuyết phẩm Trì: “Cho đến
lần lượt người thứ năm mươi chuyển dạy trì kinh, công đức chẳng thể nghĩ
lường”. Xem đây thì công đức chuyển giáo chẳng kể hiểu nghĩa hay không hiểu
nghĩa, lìa hơi hay thở hay không lìa hơi thở; chỉ hay một niệm tin tâm, tự biết
cái sẵn có của mình, thì huệ mạng chẳng đoạn. Do đây lão nhân rất ca ngợi
pháp-xã Thanh-Liên, lấy trì Pháp Hoa làm diệu hạnh. Vì một lần nghe kinh này,
liền là gieo hạt giống chơn thật thành Phật. Nhân Thiên lấy việc này chuyển
giáo nhiều người. Có thể như lời Phật khen ngợi tán thán. Lại có pháp nào hơn
đây nữa?

MỘNG DU TẬP

 

Mộng
Du Tập

Lời Đầu Sách
Phật Tổ gá thân mộng, dạo cảnh mộng, giáo hóa người trong mộng, mong tất cả mau
ra khỏi mộng dài sanh tử, làm người tỉnh thức, tự tại thong dong.
Chúng tôi nhân đọc Mộng Du Tập của ngài Hám Sơn, thâm cảm chỗ dạy chí tình của
ngài, nên mộng đem lời quê mùa củng vốn liếng chữ Nho ít ỏi, trích dịch tập
này, trước để tự xem, sau mong tất cả các bạn đồng mộng có duyên xem đến có
được chút ít lợi ích nào chăng!
Hạnh
Huệ
~
Thiền sư Hám Sơn
Đức Thanh

(1546-1623)
Thiền tăng đời Minh, họ Thái, tự Trừng Ấn, Đăng Ấn, hiệu Hám Sơn, Hám Sơn Lão
Nhân, Hám Sơn Đạo Nhân, người xứ Toàn Tiêu (nay thuộc tỉnh An Huy) Trung Quốc.
Sư chủ trương dung hợp hai tông “Thiền và Hoa Nghiêm”, ba giáo: Nho,
Đạo, Thích cùng về một thuyết, cho rằng “Không biết xuân thu thì chẳng
thiệp thế, không tinh thông Lão Trang thì chẳng thể quên thế gian; không tham
thiền thì chẳng thể xuất thế”.
Xin cảm ơn cô Chân Hiền Tịnh đã phát tâm
đánh máy quyển sách này.

Mộng Du Tập: Trích Quyển Bốn

~Trích Quyển Bốn~
Pháp Ngữ
Dạy Cư Sĩ Dung Ngọc

Lúc tôi ở am Tam Nhất, có cư sĩ Vương Dung Ngọc ở Hóa Châu đến thưa rằng:

– Đệ tử tâm hướng về đạo đã lâu mà chí chưa được chuyên nhất. Con nghĩ rằng
sống phải có danh giáo, lấy trung hiếu làm đầu, thẹn mình chưa được công danh
để tỏ lòng trung với vua, chưa gánh đá để tỏ lòng hiếu với từ thân, tâm con
chưa yên nên khó định chí.

Tôi bảo:
– Đúng thay! Trung hiếu thực là gốc của đạo cả, là sự tốt đẹp của lòng người.
Đâu thể bỏ trung hiếu mà nói đạo, ngược với tâm tánh mà nói đức hạnh sao? Nhà
Nho cho lời Phật dạy là bỏ nhân luân, dẹp trung hiếu, cho là ngược dòng (bối
trì). Họ không biết chỗ ngược là vết tích còn chỗ hướng đến là tâm. Truyện nói:
“Muốn thờ cha mẹ, không thể không biết đến người, muốn biết người, không thể
chẳng biết trời”. Người tức là lòng nhân, là đức của tánh vậy.

Xem đây thì luận về việc thờ cha mẹ mà không biết người, chẳng gọi là hiếu.
Luận về biết người mà không biết trời, chẳng gọi là biết người. Nói biết trời
mà không thấy tánh thì trời cũng hoang mang không có chứng cử. Thế thì tâm tánh
tại ta tức là thiên chân sẵn có. Người biết được thiên tánh chân thật tức là
Chân nhân. Dùng cái hiếu của thiên chân tức là chân hiếu. Hay dụng công thấy
tánh để tu là chân tu. Dùng cái vui của chân tánh để làm vui cho cha mẹ tức là
diệu hạnh. Đó tức là hiếu, là chí hiếu vậy. Nhiều người cho rằng: “Lấy sự cung
kính làm trọng, còn miệng và thân là nhẹ”, chỉ là đè ở ngọn.

Dung Ngọc thưa:
– Đệ tử lòng đã rõ lời chỉ dạy, biết công của sự thấy tánh thật lớn, lấy đây để
làm cha mẹ được vui, sở nguyện đã vững. Nhưng đạo bao la như biển, mênh mông
không ai chỉ lối về, mong thầy chỉ dạy công phu thẳng tắt.

Tôi nói:
– Cổ đức có nói: “Có một đường tắt tu hành là niệm Phật A Di Đà. Tiếng Phạn “A
Di Đà” nghĩa là “Vô Lượng Thọ”, Phật là giác. Tức là giác tánh thiên chân sẵn
có của chúng ta. Đó là diệu môn đệ nhất của sự thấy tánh. Tánh này vốn có trước
thiên địa mà chẳng già, còn sau trời đất mà không phải chấm dứt, ở trong sanh
tử mà chẳng biến đổi, ở chỗ đổi thay mà không dời chuyển, vượt trên vạn vật,
không chỗ tận cùng, nên gọi là Vô Lượng Thọ. Thọ này chẳng lệ thuộc hình hài dài
ngắn, năm tháng chóng chầy. Nếu chúng ta có thể thấy được tánh này thì gọi là
Phật.

Hơn nữa, Phật chẳng phải tên gọi Vị Thánh nhân ở phương tây, mà là ta nhập
được vào tự tánh chân thật của chính mình. Các vua Nghiêu, Thuấn, Vũ, Thang là
bậc thiên dân tiên giác (Dân trời biết trước), nhưng thiên dân do đối đãi mà
biết được, còn thánh nhân sanh ra đã biết trước. Cái giác biết này chẳng phải
là giác của Phật tánh sao? Mạnh Tử bảo Nghiêu Thuấn đồng với người, chỗ đồng
chính là đây. Nếu biết được giác tánh này thì mọi người đều có thể là Nghiêu
Thuấn thì mọi người đều có thể làm Phật, rõ ràng là thế. Than ôi! Người đời cứ
khư khư ôm cái thấy nhỏ hẹp, chưa gặp bậc chân nhân chỉ dạy, chỉ bó buộc theo
tục học, cho thức ăn của tai là chính đáng, không quái gỡ sao? Cứ mờ mịt không
biết về chỗ an nghi.

Dung Ngọc thưa:
– Đệ tử nhờ onn khai thị, tin biết tự tâm là Phật, tự tâm làm Phật, không cần
tìm cầu bên ngoài. Nhưng con không biết yếu chỉ làm Phật, công phu hạ thủ, cúi
mong thầy chỉ dạy.

Tôi nói;
– Chúng ta nếu biết tự tâm là Phật, cần phải xét nhân đâu mà làm chúng sanh? Vì
chúng sanh và Phật như nước với băng, tâm mê thì Phật làm chúng sanh, tâm ngộ
thì chẳng sanh là Phật như nước đóng thành băng, băng chảy thành nước, chỉ đổi
tên chứ không đổi thể. Nếu mê thì chẳng giác, chẳng giác tức chúng sanh. Chẳng
mê thì giác, giác tức chúng sanh là Phật. Ông muốn cầu Phật, chỉ cầu tự tâm.
Tâm nếu có mê, chỉ cần nhớ Phật, Phật khởi lên tức giác, giác thì tự tánh sáng
suốt, bày lộ rõ ràng, vọng tưởng tham, sân, si từ trước ngay đó như băng tiêu.
Nghiệp cấu đã tiêu thì tự tâm thanh tịnh. Giải thoát không hệ lụy thì khổ biến
mất, còn lại an vui, tai họa bay đi, phước đức ở lại. Chân lạc đã còn thì không
tánh nào chẳng vui, phước trời theo đây hiện thì gặp gì cũng an. Chỉ có đây là
an lạc chân thật, há miệng và thân có thể đến, phú quý có thể với tới sao? Đây
là chỗ nói “tâm tịnh thì cõi Phật tịnh”. Công phụng sự tâm không ngoài đây, vốn
liếng của tịnh độ cũng không ngoài đây.

Dung Ngọc thưa:
– Đệ tử nghe dạy tâm và mắt được mở sáng như thấy đường về nhà, không còn nghi
ngờ gì nữa. Nhưng nếu cho niệm Phật là hiếu, làm sao đến cái hiếu này? Đó là
chỗ còn chưa an, xin thầy chỉ dạy.

Tôi nói:
– Ngày xưa, có người con hiếu đi xa, nhà có khách đến, người mẹ mong con không
thấy về bèn cắn ngón tay, người con liền đau lòng, biết mẹ đang nghĩ tới mình,
bèn trở về. Mẹ cắn ngón tay màlòng con đau, tức là do cùng thể mà tâm là một
vậy. Ông nếu thấy rõ được tự tâm, hốt nhiên sẽ giác ngộ tâm tức tâm mẹ. Đem cái
giác của mình để giác cho mẹ, đem niệm của mình mong mẹ niệm. Mẹ đã yêu thương
thân con, lại không yêu thương tâm con sao? Nếu mẹ yêu thân con thì thân lụy,
tâm sẽ khổ, còn nếu mẹ yêu tâm con thì quên thân mà tâm được vui. Hơn nữa, thể
của tâm mẹ và con là một. Xưa mẹ nhớ con, cắn ngón tay mà lòng con đau. Nay con
nhớ mẹ quên thân, há lòng mẹ chẳng an vui hay sao? Nhưng sợ con phụng sự tâm
chẳng hết lòng, tập quên chẳng đến nơi, không bằng được sự tha thiết của mẹ nhớ
con, để cảm được tâm mẹ vui. Vì thế, người con hiếu ngày xưa không dùng tâm
sanh, ngũ đảnh để nuôi dưỡng cha mẹ, mà mặc lấy áo sặc sỡ nô đùa. Người đại
hiếu là làm vui lòng cha mẹ chứ chẳng phải nuôi dưỡng thân của cha mẹ, hiếu ở
đời là thế. Nếu có thể khiến cho mẹ, trong những năm cuối cuộc đời, đem tâm
quay về tịnh độ, hưởng trọn cái vui của một ngày, vẫn hơn phú quý trăm năm. Còn
khiến mẹ hằng ôm lòng lo lắng, thì tuy phú quý mà cha mẹ chẳng vui, tức là vui
mà lại có lý do chẳng vui tồn tại. Nay ông do niệm Phật mà có thể khiến mẹ ông
vừa an lại vui, vui lại lâu, đó không phải là Vô-lượng-thọ sao. Mẹ thọ vô
lượng, con cũng thọ vô lượng thì Tịnh độ do ta chứ chẳng do người, Phật tại tâm
mà không ở vết tích. Ông hãy vững chí.

Dạy Thiền Nhân Tự
Am Hữu Trụ Núi

Phật dạy: “Tất cả chúng sanh lưu lãng
trong sanh tử, đều do vọng tưởng điên đảo làm căn bản”. Nếu tưởng điên đảo diệt
và khẳng nhận tự tâm tức là thời tiết liễu thoát sanh tử, ra khỏi biển khổ. Nếu
vọng tưởng chẳng dừng thì sanh tử khó ra. Nên nói: “Cuồng tâm chẳng dứt, nếu
dứt tức Bồ đề”. Chúng ta nếu quả thật có thể chóng dứt cuồng loạn thì liền ra
khỏi tam giới, dẹp quân ma, ngồi giữa trời xưng là đạo nhân vô sự. Lão Diêm la
mặt sắt dù có ác tâm, ra tay tàn độc cũng không mò bắt được, tha hồ ngang dọc,
tự do tự tại, làm một người đại giải thoát. Thời tiết như thế thì dù gọi là
Phật là Tổ cũng chẳng chịu, huống nữa là kết bầy với bọn ruồi lằn ngu ngốc
trong cầu tiêu, tranh dành đồ hôi tanh, thối tha hay sao? Mười phương thế giới
đều thành tịnh độ, lấy Đại Viên Giác làm già lam của ta, thân tâm trùm khắp,
cùng mười phương chư Phật nắm tay mà đi, được đại tự tại. Ở đây, am tức là
mình, mình tức là am. Am tức là núi, núi tức là người, không trong, không
ngoài, không kia, không đây. Như thế thì trụ không chỗ trụ, đi không chỗ đi, tu
không chỗ tu, mới xứng là Tự Am. Còn nếu nuôi dưỡng sự biếng lười, mê ngủ thì
ba đời sáu mươi kiếp chỉ là đầy tớ kẻ khác. Hãy nghĩ đó! Nghĩ đó!

Dạy Thiền Nhân
Khánh Vân

Người xuất gia cầu sáng việc lớn:

1- Cần chân thật vì sanh tử, tâm phải
tha thiết.
2- Cần nhất chí quyết định ra khỏi sanh
tử.
3- Cần liều một đời đến chết không đổi
tiết tháo.
4- Cần thật biết thế gian là khổ, hết sức
nhàm chán xa lìa.
5- Cần gần gũi bậc tri thức cao tuyệt, đủ
tri kiến chân chánh, luôn luôn thưa hỏi, vâng lời dạy dỗ, theo lời mà làm.
Siêng năng chẳng lười, không bị ngũ dục phiền não ngăn chướng, chẳng bị thói
quen xấu ác sai khiến, chẳng bị bạn ác lay chuyển, chẳng bị duyên ác cướp đoạt,
chẳng cho căn cơ ngu độn mà sanh lui sụt. Phát tâm như thế, dốc lòng như thế,
lâu dần sẽ thuần thục, tự nhiên ăn khớp với chỗ nguyện cầu xưa như hộp với nắp.
Dù đời này chẳng liễu ngộ, thấy rõ tự tâm, thì trăm kiếp ngàn đời cũng lấy hôm
nay làm nhân đầu tiên. Nếu không thế mà chi dùng tri kiến hẹp hòi, tập khí hèn
nhát, rụt rè cầu an, muốn đem thiền đầu môi, tâm cuồng vọng, hơi dơ dục, gốc rễ
tà kiến toan cho là chánh nghiệp xuất gia, lấy đây mong ra khỏi biển khổ thì
vẫn là ưa nước Việt mà đến nước Yên, không chịu bước mà đòi tiến đến trước.
Than ôi! Đời mạt pháp người chánh tín hiếm hoi, thiền nhân đã biết được chỗ
hướng về, nên xét biết bổn tâm, lấy quyết định chân thật làm nghĩa đệ nhất. Cố
gắng! Cố gắng!

Dạy Thiền Nhân Như
Thường

Phật dạy: “Từ thân xuất gia, biết được
tâm, đạt được gốc, hiểu pháp vô vi gọi là Sa môn thường hành 250 giới”. Lại
nói: “Đoạn dục, trừ ái, biết nguồn tâm của mình, đạt lý sâu của Phật, ngộ pháp
vô vi”. Lại nói: “Cắt bỏ râu tóc làm Sa môn, thọ nhận pháp Phật, bỏ tài sản thế
gian, khất thực biết đủ, ăn ngày một bửa, ngủ dưới cây một đêm, cẩn thận không
trở lại. Điều khiến người trở thành ngu tệ là ái và dục vậy”.

Những lời dặn dò tha thiết như thế đều
là những điều thiết yếu để làm đệ tử Phật. Khi xuất gia, việc đầu tiên là lấy
ly dục làm hạnh đệ nhất. Con cháu đời sau, thân tuy xuất gia làm tâm say trong
ngũ dục, chẳng biết cái hại nào cần phải xa lìa, đạo nào là đạo ra khỏi khổ, cứ
triền miên mê muội chẳng tự tỉnh giác, rồi lại giả bộ oai nghi, làm vẻ đạo đức,
ngoài dối người, trong dối lòng, che đậy tỳ vết không chịu tự giác. Những này
muốn được niệm chân chánh thật khó vậy!

Ngài Tịnh Danh nói: “Trực tâm là đạo
tràng”. Như Thường đã có chí cầu pháp xuất ly, nên lấy trực tâm làm điều trên
hết. Trân trọng.

Dạy Thị Giả Huệ

Phật vì một đại sự nhân duyên nên xuất
hiện ở đời. Đó là muốn cho chúng sanh khai thị ngộ nhập tri kiến Phật. Mà tri
kiến của Phật tức là tri kiến của chúng sanh, tri kiến chúng sanh tức là tri
kiến sanh tử. Nên nói: “Tri kiến lập tri tức vô minh bổn. Tri kiến vô kiến tư
tức niết bàn” (Trên tri kiến không có hiểu biết tức gốc vô minh. Trên tri kiến
không có hiểu biết tức là niết bàn). Thế thì tri kiến của phàm và thánh không
phải là hai, mà có mê ngộ chẳng đồng, lỗi ở lập hay là chẳng lập. Tổ sư nói:
“Nếu lập một trần, nước mất nhà tan”. Vì tri kiến vốn không phàm thánh, nếu có
lập, tức có ngã. Có ngã thì các chướng chóng nổi lên, không ngã thì muôn pháp
lặng lẽ. Vậy ngã là gốc rễ sanh tử. Đâu phải riêng phàm phu tạo tham sân si mà
bị ngã làm chướng tất cả thánh nhân, những người tu hành nếu tri kiến chưa quên
đều thuộc ngã chướng. Hơn nữa, vì gốc sanh tử khó nhổ, nên trong hai chướng có
thô tế chẳng đồng. Thô thì dễ đuổi, tế thì khó trừ. Vì rễ tri kiến trong tâm
khó nhổ, nên kinh nói: “Còn ngã giác ngã đều là chướng ngại”. Đây chính là Tri
Kiến Lập Tri tiềm ẩn sâu xa như tính mạng, chẳng thể đoạn dứt. Do đó cổ nhân
hai ba mươi năm tham học, dù cho ngộ được tự tánh đầy đủ như trăng sáng nơi đầm
lạnh, tiếng chuông đêm vắng tùy ý gõ đánh không hề khuyết, chạm ba đào mà không
tan, cũng vẫn là việc đầu bờ sanh tử. Đây là chỗ người xưa thật chẳng tự dối.
Nếu tự dối mình dối người thì tự mình bị hoại và làm hoại người vậy.

Thị giả Phước Huệ sớm theo hầu lão nhân
xuất gia. Lúc mới gặp lão nhân, ông là một người xuẩn xuẩn, biệt đi mười năm
lại càng xuẩn xuẩn thêm, nhưng thường vui vì trong cái xuẩn xuẩn có chỗ tỉnh
tỉnh không xuẩn” này làm mạng căn. Nay đã được năm năm, cái xuẩn này ngày càng
tăng, cái không xuẩn cũng âm thầm lớn lên. Do đây, người ta thấy thị giả xuẩn,
thị giả cũng tự thấy mình xuẩn càng thêm xuẩn, mà người người chẳng tự biết đó
là xuẩn. Hạ năm nay, lão nhân từ Tây Việt trở về núi, thị giả chợt ra khỏi tình
trạng xuẩn, lão nhân cả cười. Cái xuẩn này không còn có lúc ló ra được nữa. Nếu
bảo đây là người xuân lập xuẩn là đã lỗi rồi. Nếu có thể lấy xuân này làm chỗ thọ
dụng cũng có lẽ tự đủ, cũng có thể liễu thoát sanh tử, cũng không phụ việc xuất
gia hành khước. Còn nếu lấy đây để lập thêm cái xuẩn thì bịnh chẳng khác gì Tri
Kiến Lập Tri. Thị giả nếu có thể đẩy ngã cái xuẩn này thì chẳng lo gì không
được cùng lão nhân kết chặt lông mày.

Dạy Đặng Ti Trực

Phật tổ ra đời thuyết pháp Bát nhã, dạy
người tu hành phải lấy Bát nhã làm gốc, Bát nhã là tiếng Phạn, nghĩa là trí
tuệ. Trí tuệ này là Phật tánh sẵn có của chúng ta. Còn gọi là tự tâm, tự tánh.
Thể này xưa nay không mờ nên nói Quang minh, xưa nay rộng lớn bao dung nên nói
là Hư không, xưa nay không vọng nên nói Nhất chân, xưa nay không động không
biến nên nói Chân như, như như, xưa nay viên mãn không đâu chẳng chiếu nên nói
Viên giác, xưa nay tịch diệt nên nói Niết bàn. Chư Phật chứng ngộ trọn vẹn nên
nói Đại giác, còn gọi là Bồ đề. Vì chư Phật xử dụng nên là thần thông diệu
dụng. Bồ tát tu gọi là diệu hạnh. Nhị thừa đắc gọi là giải thoát. Phàm phu mê
thì là vọng tưởng nghiệp thức, từ đó phát ra tham sân si kiêu siêm khi trá, tạo
nghiệp dâm sát vọng trộm, kết quả là các thứ dụng cụ đau khổ: dao, cưa, sắt,
mài cho đến vặc dầu, đỏ than v.v… đến từ tâm mình biến hiện. Chính như người
đang tỉnh táo vô sự, trước mắt có các việc vui vẻ, bỗng chợp mắt ngủ mê, mộng
thấy chịu đủ đắng cay khổ sở ở địa ngục, với các việc khổ khó kham khó nhẫn.
Ngay lúc muốn cầu cứu mà chẳng thể được đó, khách ngồi trước nhà vẫn còn tro
chuyện huyên náo chưa dứt. Giật mình tỉnh giấc, ngáp dài mà dậy, thấy cảnh vui
vẻ rõ ràng trước mắt, rượu còn ấm, đồ nhắm còn nóng. Chưa rời khỏi gối chiếu mà
cảnh khổ vui đã chóng đổi khác. Điều cốt yếu là vui thì từ ngoài đến, khổ từ
trong ra. Do đây mà xem thì thuyết thiên đường, địa ngục rõ ràng xuất hiện ở
tâm mình, có gì là hư huyễn, kỳ quái? Đó đều vì mê mờ tâm mình mà ra cả. Kinh
nói: “Tự tâm giữ tự tâm, không phải huyễn mà thành pháp huyễn”. Lại nói “Pháp
trong ba cõi trên dưới đều chỉ một tâm tạo”. Xét đó thì đâu phải riêng Phật
pháp nói nhất tâm, Thánh hiền từ trước cho đến cả chín dòng dị thuật cũng đều
từ một tâm này mà thành, chỉ có lớn nhỏ, nhiều ít, lành ác, tà chánh, sáng tối
không đồng nên chỗ dùng khác nhau. Nên nói: “Sơn hà đại địa toàn lộ thân pháp
vương. Vảy vỏ, cánh lông đều hiện sắc thân tam muội”. Đây đều là chân quang của
Bát nhã, bóng dáng của tự tâm chúng ta.

Tâm thể sẵn có của chúng ta xưa nay bao
dung rộng lớn, thanh tịnh quang minh như vầy, các cảnh tượng màu sắc trước mắt
xen lẫn chập chùng, bốn bề la liệt lại đều là tâm ta hiện như thế. Chúng ta có
cái tâm này mà chẳng biết, thật đáng thương! Lại còn ôm giữ những thứ do tâm
hiện, cho là chỗ vui thích đáng yêu. Mắt hài lòng với sắc đẹp, tai thích tiếng
dâm, mũi thích mùi thơm, lưỡi thích vị ngon, thân ưa xúc chạm, tâm ưa các pháp.
Chúng đều từ tâm mà ra, mình lại giữ lấy cho là sung sướng, rồi tham sân si,
tạo các thứ huyễn nghiệp dâm sát trộm vọng, chiêu lấy sự khổ kịch liệt trong
tam đồ ở đời vị lai, như người mộng du không tịnh, không rất đáng thương sao?

Vì tâm này cùng chư Phật đồng thể không
hai, lịch đại Tổ sư ngộ rõ chẳng khác. Riêng có chúng ta đầy đủ mà chẳng biết.
Như đứa con thơ bỏ trốn quên đường trở về, cha mẹ nhớ thương tìm kiếm. Do đó,
đức Thích Ca ra đời, tổ Đạt ma từ Ấn Độ sang, cho đến ba mươi năm thuyết pháp ở
Tào Khê, rồi chư Tổ có một ngàn bảy trăm công án đầy đủ để chỉ dạy người, đều
là việc này vậy.

Kinh nói: “Chỉ một việc này là thực, có
cái thứ hai thì chẳng phải chân”. Như vậy, ngoài một việc này, tất cả đều là
lời của ma, là hý luận. Thế thì chư Phật chứng đủ mà không xuất thế thì cô phụ
chúng sanh, chư Tổ ngộ mà không xuất thế thì cô phụ chúng sanh, chư Tổ ngộ mà
không thuyết pháp thì cô phụ chư Phật, còn người có nghe mà không tin, không
hiểu, không nhận, không hành thì cô phụ chính mình. Phụ chúng sanh thì kiêu
mạn, phụ chư Phật thì đọa, phụ chính mình thì ngu si. Vậy thì có thể phụ Phật
Tổ mà không thể phụ chính mình, vì sẵn có mà chẳng cầ, đầy đủ mà chẳng khéo
dùng, ví như cầm châu báu mà đi ăn mày, không rất đáng thương sao?

Nay Ti Trực thân chạm biển trần, tâm
đọa đường mê, bổng nhiên mảnh tỉnh, quay đầu tìm cầu việc này, giống như đứa
con cầm châu báu hổ thẹn sống chung với bọn ăn mày, cứ hướng về người để cầu no
đủ. Lão nhân vội đem pháp này chỉ thẳng cho, rõ ràng chỉ cho thần châu trong
áo, nguyên là Ti Trực đã có sẵn, chứ chẳng phải lão nhân nắm đưa để lấy cảm
tình. Nhưng bảo châu như ý này, tùy chỗ cầu mà ứng, các thứ sự nghiệp, hoàn
cảnh nhận dùng chẳng chút thiếu thốn. Đến như cầu phương pháp để được đáp ứng
thì cũng ở tự tâm của Ti Trực, nhờ sức khéo léo siêng năng, khắc khổ. Nếu quả
có thể tự nhận, cực lực tự cầu, một ngày nào đó hoát nhiên đại ngộ thì một
miệng có thể hớp hết sông núi, đất đai, các loài vẩy, vỏ, lông, cánh cùng chư
Phật ba đời, lịch đại Tổ sư, và cả sự nghiệp của Nghiêu, Trăn, Chu, Khổng,
chẳng nhờ vào sức ai khác. Nếu không có y như cũ, chỉ là một chúng sanh mộng
tưởng điên đảo, lấy cái gì mà xưng là đại trượng phu?

Ti Trực! Ti Trực! Ông tha có thể trên
phụ Phật Tổ, dưới phụ lão nhân, muôn vạn lần chớ phụ chính mình, phụ vua, phụ
người thân. Lão nhân hôm nay thuyết Bát Nhã, đều là pháp môn tâm địa của chư
Phật Tổ ngàn xưa, tức là cùng với lời đại sư Lục Tổ thuyết đầu tiên. Đã đem một
người sánh với một ngàn hai trăm chúng ngày xưa, lão nhân hoan hỉ khôn cùng nên
cũng vì ông thuyết Bát nhã. Như Phật Tổ của chúng ta đã nói: “Như vì một người,
vì chúng đông cũng thế”. Đặng Sinh giữ lấy điều này để tự lợi mình, lợi người,
chưa chắc không phải là lưỡi rộng dài đâu nhé!

Dạy Hành Nhân
Khoan Lưỡng

Người xưa vì sanh tử đi hành khước.
Người nay chỉ hành khước mà không biết sanh tử, rất đáng thương! Đó là dùng
hàng ngày mà chẳng biết vậy. Lỗi tại không biết mình sẵn có, nêế người biết có,
liền biết tự trọng, thì Kadampa bị vật chuyển mà có thể chuyển được vật. Có câu
thơ: “tâm ta chẳng phải đá, không thể chuyển”. Phải biết nếu không phải tâm địa
kim cương thì đều bị vật chuyển, đã bị vật chuyển thì đi theo nó, còn xưng là
nạp tử hành khước được sao?

Khoan Nhưỡng từ Bắc đến Nam, tới đây
tức là đã an ủi ta vậy. Oôg không bị chuyển vì đường xá gian nan, đói lạnh khổ
sở. Lão nhân chỉ biết gót chân này cứng nên gọi là Chân Sắt, nay thấy tâm ông
chẳng đối, nên lại đem hai chữ Lòng Sắt khen ông. Nhưng lòng sắt là lão nhân
biết, còn việc hành khước thì nhất định ông không biết. Nếu biết hành khước thì
chẳng thình lình đi thẳng như thế. Lão nhân thương ông ngu, sợ ông không biết
nên gởi thư này cho ông. Hành khước nữa đi! Nếu sau này rờ chẳng nhằm lỗ mũi,
ngày nào đó chắc chắn khó gặp được như ngày hôm nay.

Dạy Chu Sướng Nhụ

Chu Tử thỉnh ích tông chỉ pháp tướng. Lão nhân nhân đây nêu bài tụng Thức
Trí của Lục Tổ:

Đại viên cảnh trí,
tánh thanh tịnh.
Bình đẳng tánh trí, tâm vô bịnh
Diệu quan sát trí, tánh phi công,
Thành sở tác trí đồng Viên cảnh.
Ngũ, bát, lục, thất quả nhân chuyển
Đản chuyển danh ngôn vô thực tánh,
Nhược ư chuyển xứ bất lưu tình,
Phồn hưng vĩnh xứ Na-già định
Dịch:
Đại viên cảnh trí tánh thanh tịnh
Bình đẳng tánh trí tâm không bịnh
Diệu quan sát trí, thấy không công
Thành sở tác trí đồng viên cảnh.
Năm, tám, sáu, bảy chuyển quả nhân
Chỉ chuyển tên gọi không tánh thực.
Nếu ở chỗ chuyển chẳng lưu tình
Xứ sở đông đúc thường đại định.

Tám câu này đã phát ra hết cốt tủy cỷa
tân Phật Tổ, nêu bày căn nguyên tánh tướng. Thường thường bọn đếm của báu, đếm số
cát ham nhai cho nhiều ma chẳng nát, xem qua cho là đồ chơi, không chịu ngó kỹ,
thật đáng thương xót. Hoặc cho là Lục Tổ không biết chữ, chẳng thông kinh, dựa
vào đâu mà nói thế này? Họ đâu biết rằng huệ mạng của Phật Tổ chỉ gồm trong tám
chữ này không sót, đó là: “Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức”. Vì duy tâm nên
ba cõi lặng lẽ, trọn không một vật, vì duy thức biến hiện nên cầu tự tâm, tự
tánh ở đó đâu thể được. Do đó Phật Tổ dạy người, chỉ nói: ngoài tâm không một
mảy may nào có được. tức là ở Hoàng Mai nửa đêm lộ ra “xưa nay không một vật”.
Tức một lời này, mười phương ba đời chư Phật, lịch đại Tổ sư chẻ ra chẳng bể,
nên y bát dừng lại Tức hai phái, năm tông đều từ một lời này tuôn ra, đâu từng
có phân chia tánh hay tướng? Và tôi xem bài tụng Thức Trí, giải thích sơ lược:

Nếu trong ba cõi duy tâm, thì không có
chỗ mở miệng. Do mê, tâm này biến thành thức nên mất tên Chân như, chỉ gọi là
thức A lại da, cũng gọi là Tàng thức. Thức này là toàn thể chân như biến ra.
Đây chính là chỗ nói sanh diệt cùng bất sanh diệt hòa hợp mà thành. Đây là căn
bản của chơn vọng, mê ngộ, gốc của sanh tử, phàm thánh. Kinh Lăng Già nói:
“Biển tàng thức thường trụ, gió cảnh giới làm động, sóng mòi vỗ nơi hang tối,
không có lúc đoạn dứt”. Đã nói tàng thức tức A lại da mà lại nói thường trụ thì
vốn là không động, chỗ động không phải tàng thức mà là gió cảnh giới vậy. Kệ
nói:

“Cảnh trước nếu không, tâm cũng không”.
Thế thì chấp giữ cảnh giới không phải là tàng thức mà là tâm sanh diệt. Tâm
sanh diệt này gượng gọi là thức thứ bảy, kỳ thực là sự động niệm của thức thứ
tám. Nghĩa là sanh cơ. Nếu cơ này dứt, tiền cảnh (cảnh trước mắt) liền trở
thành không, thức thứ sáu dù hay phân biệt cũng không bám vào đâu được. Như năm
thức trước vốn không có thể riêng, chỉ là cái dụng ứng duyên của tàng thức, chỉ
hay chiếu cảnh chứ không thể phân biệt, nên nói đồng viên cảnh. Phân biệt năm
trần không phải là năm thức mà là ý thức đồng thời, nên ý thức giữ lấy công.
Nếu không khởi phân biệt thì thấy không công. Do đây mà quán, tàng thức vốn
chân nên nói tánh thanh tịnh, lỗi ở một niệm sanh tâm, đó là tâm bịnh. Có sanh
thì có diệt, duy cái sanh diệt này như dòng nước, chẳng phải ngoài nước có dòng
riêng, nhưng tánh nước không dừng nên thấy có dòng, có dòng thì không phải vực
sâu, rõ rồi vậy. Nên Lăng Già có nêu hai loại sanh trụ diệt là: tướng sanh trụ
diệt và lưu trú sanh-trụ-diệt. Hai loại sanh diệt này đều thuộc tàng thức. Sanh
diệt không diệt thì bảy thức trước sanh, sanh diệt nếu diệt thì chỉ một
tinh-chân. Tánh chân-như này tự hồi phục lại. Phục lại thì thức chẳng gọi là
thức mà gọi là trí, nên nói tâm không bịnh.

Bài tụng của đại sư Lục Tổ căn cứ theo
chuyển tám thức thành bốn trí: đại-viên-cảnh-trí là tàng thức chuyển,
bình-đẳng-tánh-trí là thức bẩy chuyển, diệu-quan-sát-trí là thức thứ sáu
chuyển, thành-sở-tác-trí là năm thức trước chuyển. Vì vọng thuộc về dụng của
tàng thức, nên chân cũng đồng viên cảnh. Nhưng hai thức sáu và bảy chuyển trong
nhân trước, còn các thức năm và tám một thể đến quả mới tròn. Như thế mà quán
thì thức vốn không thực, vọng có hai tác dụng, nên nói chỉ chuyển tên gọi mà
thôi, đổi tên không đổi thể. Thể này lại chẳng do thiền định, tu hành, chỉ ở
chỗ dùng hàng ngày, tất cả phàm thánh đồng thời chuyển, chỉ ở trong chỗ lưu
tình hay không lưu tình mà có mê ngộ, phàm thánh sai khác.

Chu Tử có chí ở đây, phải thật lòng
hướng vào chỗ chuyển việc làm hằng ngày mà để mắt. Thử đảm đương xem!

Dạy Lưu Bình Tử

Hướng về đạo chẳng khó mà khó ở phát
tâm. Học đạo chẳng khó, mà khó ở cầu bên ngoài. Hội đạo chẳng khó, mà khó ở
giản trạch (chọn lựa). Vào đạo chẳng khó mà khó ở chỗ tự cho là đủ. Ngộ đạo
chẳng khó mà khó ở chỗ cầu huyền diệu. Người học đạo ở đây mỗi mỗi khám phá ra
được thì chẳng bị người lừa, tâm thênh thang, thần vui vẻ, thư thái bươớ một mình.
Đây là bậc thông huyền vậy.

“Tánh tương cận, tập tương viễn”, lời
này chỉ thẳng đường tắt tu hành từ ngàn xưa. Chúng ta nếu biết tự tánh vốn gần
chỉ do tập khí làm xa, thì chóng có thể chận dứt cửa bến trọng yếu. Tập khí bên
trong không cho ra, tập khí bên ngoài không cho vào, ngồi dứt hai đầu, ở giữa
đậc lập. Chỗ một mình trơ trọi chính là “như có chỗ đứng cao vót”.

Tử Dư có nói: “Đạo học vấn không có gì
khác, mong là buông được tâm mà thôi”. Tuy nhiên cũng có tâm chưa từng chẳng
cầu mà người học hỏi vẫn chẳng sáng. Sao vậy? bịnh tại không buông mà buông,
cầu mà chẳng cầu lờ mờ phảng phất, xem nó thì 4 thước giống 6 thước. Nếu biết
không buông mà buông thì tự chẳng buông, cầu mà không cầu tức là chân cầu. Tử
Dư minh tâm kiến tánh, chỗ truyền riêng chỉ thẳng chỉ là đây mà thôi. Người có
chí hướng về đạo nên lấy đây làm tiêu chuẩn.

Đạo ở chỗ dùng hằng ngày mà chẳng biết.
Đạo ở trước mắt mà không thấy. Vì chỉ biết việc hằng ngày mà không biết đạo,
thấy trước mắt không thấy đạo. Chẳng phải đạo xa người mà người tự xa đạo, nên
nói: “Đạo ở trước mắt, chẳng phải là trước mắt. Pháp cũng chẳng lìa trước mắt,
nhưng chẳng phải chỗ tai mắt đến được”. Nếu có thể thấu qua cái trước mắt, thì
chẳng phải bị lôi kéo theo cảnh khen chê, thuận nghịch, xoay mình đi thẳng.
Dụng tâm như thế thì thánh nhân chẳng ở ba đời, xưa nay không lìa một niệm. Ông
có chí hướng về đạo, lúc mới phát tâm neê theo đây mà vào.

Dạy Lương Đằng
Tiêu

Bậc quân tử xử thế, ngay lúc chưa gặp
thời, ai cũng có chí nguyện phò vua, giúp dân, xây dựng sự nghiệp bất hủ. Đến
lúc lên làm quan, chỉ lo để tâm lập danh tiếng, quên mất lý do lập công, lâu
ngày nhiễm dần thói tục, tâm thần bị vẩn đục, bất giác trôi vào đường phú quý,
đến nỗi danh dự cũng không có chỗ kiêng dè. Xét lại tâm ban đầu, chẳng thể
được. Sao vậy? Vì chí nguyện đầu tiên không đặt trên căn bản thực tế mà đến,
chỉ là vọng tưởng hâm mộ phù phiếm mà thôi, vốn không phải chỉ kiên cố không
lay chuyển được, thì đâu có thể lập nên sự nghiệp bất hủ! Lương sinh Đẳng Tiêu xương
cứng, khí khoáng dật, thật chẳng phải là người trong phong trần. Mỗi lần đi
theo tôi, nghe câu nào, chữ nào cũng kinh tâm lo sợ. Lúc rảnh thường thưa hỏi,
tôi bảo:

Người học phải nên cầu chí ở đạo đức,
phàm để chí ở đạo đức, trước hết phải nghiên cứu căn bản thực tế của chúng ta
thiết yếu từ chân tánh lưu xuất. Chân tánh này rất rộng, rất lớn, quang minh,
thanh tịnh, mảy bụi cũng quét sạch. Thể tánh của ta đây tức là nhân. Trong thể
này một hạt bụi cũng chẳng lập. Nếu có một niệm vọng tưởng liền có ngã. Có ngã
thì đối đãi với vật. Vật ngã đã phân thì ta-người hai bên đều lập. Ta-người đã
lập thì thể đại đồng bị mờ mịt, bít lấp, là nhân sao được? Bổn thể bị bít lấp
mờ mịt thì làm đủ các vọng. Dù có chí công danh, đều từ vọng tưởng phát huy, có
hành động gì đều chẳng phải chân thật, căn bản đã vọng thì gót chân chẳngổn. Do
đó một lần nhập vào duyên đời là nhiễm liền thói tục. Lương sinh tử nay nên làm
công phu tự tánh, tham cứu căn bản từ thực tế, chỉ đem câu Không Nghĩ Thiện,
Không Nghĩ Ác, ngay lúc đó thế nào là Bản Lai Diện Mục của Thượng Tọa?” của Lục
Tổ chứa ở trong ngực suốt mười hai thời khẩn thiết tham cứu. Tham đến chỗ một
niệm chẳng sanh, hốt nhiên biết được bổn lai diện mục, mới thấy Lão Lư chẳng
lừa dối ta.

Dạy: Thiền Nhân
Tịch Giác Lễ Phổ Đà

Thiền nhân Tịch Giác sắp về phương Đông
lễ Phổ Đà, xin dạy một lời quan trọng để hành khước. Lão nhân dạy rằng:

Người xưa xuất gia đặc biệt vì việc lớn
sanh tử nên đi các nơi hành khước, tham phỏng thiện tri thức, lên núi xuống
sông, đến lúc triệt ngộ mới thôi. Nay người xuất gia mang suông cái tên hành
khước, năm nay lên Ngũ Đài, Nga My, sang năm đến Phổ Đà, Phục Ngưu. Miệng nói
là viếng danh sơn, tùy hỉ đạo trường, kỳ thực không biết danh sơn là vật gì?
Đạo trường là việc gì? Lại chẳng biết người nào là thiện tri thức. Chỉ nhớ non
cao, nước sâu, cháo cơm tùng lâm ngon dở mà thôi, cứ lo chạy khắp thiên hạ,
không có một lời trở về núi nhà cửa, chẳng đáng thương sao?

Biển Nam không bờ là biển sanh tử sóng
trôi, màu núi Phổ Đà là pháp thân Đại-sĩ thường trụ, biển động tiếng hải triều
là đại-sĩ Phổ Môn thuyết pháp. Thiền nhân nếu quả muốn qua biển sanh tử, gặp
Đại-sĩ ở phổ môn, nghe pháp âm ở bờ biển, thì hãy nghe ngược lại tự tánh, không
cần ra khỏi cửa một bước, hà tất phải đợi đến Phổ Đà mới thấy! Nếu chưa như
thế, đường lộ xa xôi, tới lui uổng phí, Đại-sĩ có hiện trên đỉnh đầu cũng chẳng
nhổ nghiệp căn sanh tử cho ông được. Thiền nhân tự nhận định xem! Nếu Đại-sĩ có
nói lời gì, trở về kể lại cho Lão nhân nghe. Cẩn thận chớ để uổng phí tiền giày
cỏ.

Dạy Lương Trọng
Thiên

Lương Tứ Tướng tự là Trọng Thiên, theo
Lão nhân đi cả năm. Lão nhân mến tâm ông chất trực, khẳng khái. Mỗi lần thấy
việc bất bình, chẳng kể làm được hay không, nếu là việc nghĩa có thể làm thì
ông buông bỏ thân mạng mà gánh vác. Mỗi lần như thế, lão nhân đều trách ông
nông nổi, vì có đạo thể mà thiếu công hàm dưỡng, gìn giữ đức hạnh, như cỡi tuấn
mã mà không có giây cương, chẳng khỏi bị ngã ngựa.

Lão nhân sắp đi, đưa nhau lên thuyền
Thiều Dương, ông thỉnh pháp ngữ để sửa mình. Tôi bèn viết lời này gởi ông. Tôi
bảo:

Lương Tử có đạo, chất thực không quanh
co, đây là gốc đạo vậy. Khẳng khái gần như dũng mãnh, hấp tấp gần như từ bi,
quên mình để theo là không lượng sức. Chẳng xét rõ quyền biến, chẳng tìm gốc mà
lo ngọn, đều do khí sốc nổi sai khiến, chẳng phải do đạo lực phát ra. Thánh
nhân đời xưa giao thiệp với đời, có thể và dụng hoàn toàn, nên ứng cử đúng lúc
gương sáng soi rõ đẹp xấu, cân nhắc để định khinh trọng, thật chẳng phải lạm
dụng khí huyết. Lương Tử từ nay về sau trước hết nên tẩy trừ tập khí, dụng tâm
sâu vào đạo, đem câu “Bổn lai vô nhất vật” của Lục Tổ đặt trong ngực, giờ giờ
khắc khắc để ý chỗ niệm khởi, không luận thiện ác, cứ đem thoại đầu đập một
phát, ngay đó tiêu vong. Ông hãy miên miên mật mật, đem thoại đầu này làm bổn
mạng nguyên thần, lâu ngày thuần thục tự nhiên tâm cảnh rỗng rang. Hễ gặp động
tĩnh lăng xăng thì thoại đầu hiện tiền liền, tức là chiếu dụng phân minh chẳng
loạn, định lực gìn giữ, tự không rơi trong giới lỗ mãng thô phù, chẳng chuyển
theo gót người. Tức là đọc sách viết văn cũng không ngại bổn tham đọc xong,
viết xong, buông xuống thì lại trở về “Bổn Lai Vô Nhất Vật”, tự nhiên trong
ngực bình bình bén sát, lâu ngày chợt thấy vốn không tâm thể, như ở trong kho
quang minh, khắp các lỗ chân lông đều là sự nghiệp lợi sanh, lại còn thân mạng
nào để buông bỏ? Dụng tâm như thế, gìn giữ trưởng dưỡng, tâm tính sẽ hiện tiền,
xem sách tức cùng thánh nhân tâm tâm soi chiếu, viết văn là từ tự tánh tuôn ra.
Đây là việc đúng khả năng của bậc trượng phu khẳng khái. Nghĩa là chốt cửa đã
được vào khớp, đã được ứng dụng vô cùng, thì chỗ kiến lập công nghiệp đều thành
bất hủ. Lương Tử đã có căn bản, lại lo gì mà chẳng làm đi!

Dạy Lưu Trọng An

Tôi ở Ngũ Dương, một thưở có chúng đi
theo, gặp được Lưu Tử, xương cứng, khí vận hồn hậu, có thể bảo là xưa đã đủ
duyên Bát Nhã, có chủng tử gần với đạo. Tôi sắp đi Nam Nhạc, Lưu Tử đưa đến
thuyền, xin chỉ dạy thưa:

– Đệ tử đạo tâm rất tha thiết, nhưng vì tập khí cũ nồng hậu, bị vọng tưởng
quấy nhiễu, không thể buông bỏ ngay mà hướng thượng. Mong Thầy chỉ dạy.

Tôi bảo:
– Ông biết vọng tưởng thì vọng tưởng tự nó không thể quấy rối. Đã gọi là vọng
tưởng thì vốn không có thể thật, ví như hoa đốm ở hư không, đâu thể kết thành
trái ở hư không được? Do ông không đạt vọng tưởng vốn là không, cho nó là pháp
thực, cùng nó đối đãi, niệm niệm chen lẫn, dồn dập tuyệt không có lúc một niệm
dừng nghỉ. Thế thì chỉ do vọng tưởng làm chủ mà bổn thể bị chôn vùi, vì thế
thấy đến đạo rất khó. Há ông không thấy tăng hỏi Cổ Đức:
– Lúc vọng tưởng chẳng dừng thì thế nào?
Cổ Đức nói:
– Vọng tưởng chẳng ác.
Lục Tổ ở trên hội ngài hoàng Mai, chỉ nói câu: Bổn Lai Vô Nhất Vật. Ông từ hôm
nay dụng công phu, chỉ nên đem câu Bổn Lại Không làm thoại đầu, trong 12 giờ
thiết tha tham cứu. Chỉ cần xem chỗ khởi của vọng tưởng, chớ lưu chuyển theo
nó, ngay đó đánh một cái, tự nhiên quét sạch mọi dấu vết.