Lưu trữ hàng tháng: Tháng Năm 2014

CHÙM THƠ MYANMAR

CHÙM THƠ MYANMAR
Minh Đức Triều Tâm Ảnh
z
1- Cảm Xúc Từ Mandalay
ôi! Mandalay
ôi! kinh thành hoang phế cổ xưa
chùa tháp tôn nghiêm
một thời Phật pháp huy hoàng
vinh danh dân tộc Miến!
nơi đây đã có thời
chép bối kinh trên hơn bảy trăm bia đá
để kế thừa giáo pháp nguyên ngôn
ôi! chữ chữ thơm hương
chữ chữ rực sáng ngọn lửa linh thiêng
cháy bùng tâm thức nhân gian
đã nghìn đời tối tăm và thống khổ!
tôi đã đi thăm
những núi đá trăm nghìn cổ tượng
những hang động
những nét khắc chạm tinh minh tâm huyết
mà bùi ngùi dấu tích rêu phong
mà bùi ngùi thời gian và lịch sử
cùng sự vô tâm và vô cảm của con người!
tôi cũng đã đi thăm
chùa tháp tân trang vàng son lộng lẫy
ngự giữa đồi cao trăm trượng uy nghi
đức Phật đứng
đức Phật nằm
đức Phật ngồi trầm ngâm lặng lẽ
mà cảm thương
quyền lực và bóng tối u mê
mà cảm thương muôn dân trăm nỗi ê chề
sống đời lầm than, khắc khổ
sinh hoạt thô sơ
bôi má, quệt mày
mường tượng một thời hồng hoang tiền sử
thân phận đói nghèo cam chịu thản nhiên!
ôi! nhưng mà uy linh làm sao!
nhưng mà huyền nhiệm xiết bao!
họ tìm được sự bình an không nơi nào có được
họ tìm được niềm vui
cúng dường, xây chùa, dựng tháp
mong kiếp sau hưởng phước nhân thiên
ôi! thương yêu làm sao
những khuôn mặt hiền lương chất phác
da sạm đen vì mưa nắng phong trần
ôi! tay chân nông dân
mà tâm hồn thiên thần
chưa vấy nhiễm gian manh, xảo trá
chưa vấy đục bởi xa hoa bụi bặm
sống với nhau nhân ái dạt dào
sống với nhau
cùng nhìn về cõi cõi thanh cao!
ôi! Mandalay!
ôi! Myanmar!
đất Phật, đất thiền
có mười hai vị thuộc thông tam tạng
bao nhiêu vị thiền sư đương đại
đã xiển dương thiền học khắp năm châu
đã biết bao nhiêu huyền diệu, sâu mầu
sao không cảm hóa độc tài thống trị
sao không cảm hóa giai cấp tướng lãnh
cho muôn dân hơi thở tự do
xu thế văn minh
bánh xe lịch sử quay ngược bao giờ
thời đại nghe nhìn
tại sao lại bưng tai bịt mắt?
ôi! đất nước muôn xanh
trăm nghìn vẻ đẹp
sông núi, tình người, cỏ cây
môi trường thanh khiết
mà tại sao…
mà tại sao buồn bã đến nao lòng?
ôi! Có cái gì nửa có, nửa không
có cái gì nửa hư vô
nửa bàng hoàng, bơ ngơ, lẩn thẩn
thương Phật, thương người,
thương vàng son chói lọi
thương bần hàn, lam lũ áo cơm
thương đèn hoa cùng nghi ngút trầm hương
thương cõi đi về
và thương cả những kẻ vô minh
kiêu căng quyền lực
thương Mandalay cùng dân tộc Miến anh em!
ôi! có dẫu ra sao
đất Phật, đất thiền
giá trị tâm linh ngàn đời chưa bao giờ diệt mất
chánh pháp huy hoàng
là mặt trời
trong con mắt nhân gian
chưa bao giờ lặn tắt!
(Mandalay, đêm 21/11/2008)
2- Cảm Hứng Từ Shwedagoon
con rồng thiêng
ngủ dưới đống gạch rêu xám cũ xưa
có tháp vàng và tín ngưỡng bay cao
vút tận khung xanh
gọi tên những địa danh huyền thoại!
nơi đây,
tám sợi tóc Phật gần ba ngàn năm, chưa cỗi
vẫn biếc chồi non
vẫn cháy rực trầm hương
thắp sáng điện đài linh thiêng
với vô lượng niềm tin
vừa cao sang, vừa thánh thần
vừa ngây thơ, vừa mông muội!
tôi dạo bước giữa hư vô thời đại
bắt gặp những bộ lạc
đã mất tích từ thời khuyết sử
hồn nhiên đi đứng nói cười
hồn nhiên bôi mặt vẽ mày
hồn nhiên cầu nguyện thần linh
với trái tim vô cùng thanh khiết!
tôi muốn khóc bởi những điều chưa biết!
tôi chợt buồn
bởi thân phận của chúng ta!
chữ nghĩa, đa tri…
vất vưởng chẳng quê nhà
và ngọn bút
còn khói sương lung linh ảo hóa!
Yangoon, Yangoon!
trang sử Phật, tháp vàng bí mật
và con người cam chịu bình an
đất thở đêm đêm
cho hạt lệ bất toàn
đọng thành ngọc để hóa tâm tôn ngưỡng
Yangoon, Yangoon
có những linh tượng
được quàng bảo châu, vương miện
có Thánh Tăng ẩn dật giữa rừng sâu
có Thánh Tăng được van vái cúng cầu
và cũng có những Thánh Tăng
được dệt thêu từ u linh huyền thoại!
nhưng
mây cổ tích vô tình vẫn bay
và cội phượng vàng cao sang
vẫn đơm hoa lẻ loi, họa hiếm
có quạ đen và bồ câu lẫn lộn
có cùng đinh
và quý tộc chẳng ưa nhau
có đạo sĩ lang thang
niệm hạt trân châu
và có sa-môn
thản nhiên dạo chơi phố thị!
Yangoon, Yangoon
rất thanh nhàn là cư dân bản địa
chất rừng,
chất quê mọc trái giữa nhân sinh
thuần hậu,
u mê, chân thật kết tình
hóa thành cõi
mà văn minh là niềm đau dị ứng!
tuy nhiên,
vẫn tuy nhiên
tôi thương Yangoon
như thương quê nghèo tuổi thơ hoa bướm
chạy giữa hồn vùng chân đất ven sông
chỉ có tình yêu,
sự sống, tấm lòng
chưa trục vật kết đài hư dối
chưa hoa ngôn,
xảo ngữ ở đầu môi!
đức Phật hóa thân
và trăm ngàn tượng Phật mỉm cười
cõi thế tục muôn đời như thế đó!
đêm, đêm…
những vì sao long lanh từ miền chân đế
rơi vô cùng…
rơi mãi chẳng về đâu!
Yangoon cháy lên!
Shwedagoon cháy lên!
câu thơ cháy lên!
và tất cả cùng quỳ xuống nguyện cầu
cho nhân loại thấm nhuần ân Đại Giác
để đất trời
cùng với chân không
chưa hề riêng khác!
(Viết tại Lokasakhaung Temple – 4/5-2001)
3- Bagan Và Hương Huyền Sử
Bagan – chùa tháp cổ sương
Có con trăng dệt con đường sử kinh
Ngọn đèn pháp bảo lung linh
Dấu son một thuở phục sinh đạo vàng
ôi! một thời dân tộc Môn qua đây
đã liệt liệt oanh oanh
chép sử vàng lên bốn mươi ngàn tòa bảo tháp
một cõi Đông Dương
xây dựng kinh đô chánh pháp
để ngàn sau
để ngàn sau còn thơm mãi một mùi hương!
ôi! mùi hương nhập thế dị thường
đã trải dài theo dấu chân
theo vết xe thổ mộ
có con ngựa già còng lưng kham khổ
và người phu xe già
mà mái đầu đã bạc trắng đức tin
ôi! mùi hương của nhiệt huyết, của trái tim
trộn lẫn mùi hương của tâm linh tôn giáo
là công trình muôn đời của thăng hoa cảm xúc
mà ấn ngọc, triện son
năm tháng chẳng mờ phai
ôi! có phải đây là thời
mà con sư tử vươn vai
cất tiếng hống uy linh tràn trề sinh lực
từ vạn dặm xa
kế thừa vinh quang A-dục
để huyền sử về một địa danh
bất diệt đến ngàn sau
tôi cúi đầu xuống
lắng nghe giữa hư vô
một mùi hương huyền diệu, sâu mầu
thấm đẫm trên những cọng rêu xanh
trên những cành cây khô
trên những phù điêu, hoa văn chạm trổ
tôi còn nghe
linh hồn cựa mình trong những viên gạch vỡ
len vào sinh hoạt đời thường
thiên hạ thế gian tâm
ôi! tháp cổ Bagan!
huyền sử Bagan!
như một tiếng hú tận thâm lâm
như một ngôn ngữ xa xăm
nói về lẽ thăng trầm, hưng phế
nói về chiến tranh, bạo quyền
và niềm đau khổ đế
vì sự tham lam, sân hận của con người
nó còn nói về sự thật trần khơi
thần hủy diệt, thần bảo tồn
đã sát cánh chung vai
trong trò chơi quá nhiều thách đố
để bi khốn thay
thân phận con người
cứ miệt mài xây tổ
lẽ hoại thành nghe lòng mắt cay cay
lẽ hoại thành – khói tụ, tan mây…
ôi! một thời dân tộc Môn qua đây
họ là một loài người tiến hóa bậc cao
họ đến như làn mây lành
khoác tâm hồn nắng ấm
rồi họ ra đi
mà dấu chân còn lấp lánh bụi sương
để bây giờ
ngàn năm sau
bất diệt một mùi hương!
ôi! tôi đã đi thăm xứ xứ Bagan
nơi đây
con người
vận xà-rông xám chàm đất mục
thân xác khô gầy gập lưng lạy Phật
những tràng hoa lài,
hoa sứ tươi thơm
chư sư khất thực qua ngày
bình bát toàn cơm
cơ cực bữa ăn chan mùi khổ hạnh
những cô gái bôi má bột cây
để gìn da giữ sắc
còn giữ nụ cười đôn hậu thơ ngây
những gã trung niên chuông gõ điện thờ
mắt hấp háy nhìn hòm công đức
những đứa trẻ cõi còm
đói lòng kiếm xin vài “chạt”
đôi mắt xanh trong!
bi cảm tình người!
ôi! nhưng mà sao cách biệt một trời!
mà phú quý
chỉ để dành cho người quý tộc?
mà giàu sang
chỉ để dành cho giai cấp chiến sĩ?
và mọi tiện nghi, xa hoa
ưu đãi giới thương buôn?
còn thủ-đà-la, chiên-đà-la
thì sống trong cảnh bần cùng
thiếu áo, thiếu cơm
thiếu cả những nhu cầu tối thiểu?
ôi! tôi đã ngồi rất lâu
để trầm tư mặc tưởng
để nghĩ về những ngôi chùa tháp nguy nga
để nghĩ về những công trình tôn giáo
như cung điện hoàng gia
mà không hiểu lưỡng nguyên giá trị
mà không hiểu sự cân phân tâm vật
nơi dân tộc lạ kỳ này
tín ngưỡng duy linh!
ôi! tôi đã đi thăm cả một cõi tâm kinh
mà cảm nghe cây lá bên đường
cũng sáng lên hoa chữ
những nét chạm khắc rêu đen
những con rồng giấu mình trong những bia đá vỡ
nơi những tòa gạch nâu già
tuổi tác tuế sương!
ôi! huyền sử Bagan!
bốn mươi ngàn tháp cổ Bagan!
vi diệu mùi hương
hương công đức
hương tín tâm
hương thâm u mật độ
cùng hương tình, hương cảnh
của đất nước dễ thương nầy!
ôi! cảm xúc bài thơ
chỉ như một thoáng khói mây
xin tri tạ một lần tao ngộ
ta hẹn ngươi, Bagan,
trên dặm về cổ độ
nơi cõi Phật, lòng mình
lặng lẽ, vô ngôn!
vẫy tay chào
chùa tháp dập dờn hương!
(Myanmar Life Hotel
Đêm 3/12/2008)
MINH ĐỨC TRIỀU TÂM ẢNH

NGŨ UẨN GIAI KHÔNG

NGŨ UẨN GIAI KHÔNG
Minh Đức Triều Tâm Ảnh
I- Dẫn Luận Về Uẩn (khandha).
Ngũ uẩn là sắc uẩn, thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn và thức uẩn (1). Đây là những yếu tố vật chất và tinh thần được kết hợp lại mà có cái gọi là con người, là chúng sanh.
Khi không gọi là ngũ uẩn mà gọi là danh và sắc thì ta cũng phải hiểu: Sắc là sắc thân vật lý, và danh là gọi chung của phần tâm và tâm sở gồm có thọ, tưởng, hành và thức.
Muốn thấy rõ, biết rõ (tuệ tri) (2) ngũ uẩn này như thế nào ta phải tìm hiểu ngữ nghĩa cho chính xác. Tại sao vậy? Vì theo kinh văn “Bát-nhã ba-la-mật-đa tâm kinh” thì soi chiếu, thấy rõ 5 uẩn nầy đều là không (chiếu kiến ngũ uẩn giai không) thì chấm dứt tất cả mọi khổ ách (độ nhất thiết khổ ách).
Khandha (uẩn) là gì?
– Khandha được ngài Huyền Tráng dịch là “uẩn” có nghĩa là tụ tập, tích tập theo từng loại, từng nhóm cùng một tính chất giống nhau. Ví dụ: Sắc, có nhiều sắc tích tụ lại, kết hợp lại. Thọ, có nhiều loại thọ tích tụ lại, kết hợp lại… Do uẩn với nghĩa này, nên đôi chỗ trong kinh, đức Phật hoặc các vị kết tập sư còn gọi giới, định, tuệ là giới uẩn, định uẩn, tuệ uẩn.
– Khandha được ngài Cưu Ma La Thập dịch là “ấm”, có nghĩa là ngăn che, ngăn lại, che đậy cái thực, cái sự thực. Dịch như thế có nghĩa là năm cái “ấm” ấy ngăn che, che đậy làm cho chúng sanh không thấy rõ thực tánh của pháp.
Với nghĩa nào cũng đúng. Tuy nhiên, theo Nikāya, đức Phật dạy: “Sắc tập khởi là sắc uẩn, thọ tập khởi là thọ uẩn, tưởng tập khởi là tưởng uẩn, hành tập khởi là hành uẩn, thức tập khởi là thức uẩn”. Rồi đức Phật còn dạy như sau: “Hãy như thật liễu tri (3) sắc tập khởi và sắc đoạn diệt. Hãy như thật liễu tri thọ tập khởi và thọ đoạn diệt… thức tập khởi và thức đoạn diệt”.
Do thế, rõ ràng có một loại sắc chưa được gọi là uẩn, có một loại sắc khi tập khởi được gọi là sắc uẩn. Có một loại thọ chưa được gọi là uẩn, có một loại thọ khi tập khởi được gọi là thọ uẩn… Nói cách khác, nếu sắc được như thật liễu tri thì sắc ấy là sắc như thật, sắc của thế giới chân đế, như chơn như thực (paramattha). Đây chính là sắc khi chưa tập khởi, là thọ khi chưa tập khởi, là tưởng khi chưa tập khởi, là hành khi chưa tập khởi, là thức khi chưa tập khởi – vì “có tập khởi mới có uẩn”. Sắc tập khởi là sắc được nhìn bởi thế giới khái niệm (paññatti), tức là đã được chế biến qua tư tưởng, tình cảm chủ quan của người nhìn ngắm (thuật ngữ Duy Thức gọi là biến kế sở chấp) thì chính sắc này chồng chất lên sắc kia mà tạo nên uẩn: Cái tập khởi, cái ngăn che, cái rối ren, cái rối loạn, phức tạp. Rồi, càng tập khởi, càng chồng chất chừng nào thì bản ngã càng được củng cố, càng dày sâu thêm chừng ấy; và theo đó, sai lầm chồng chất sai lầm, che mờ cái thực mà thuật ngữ thiền tông gọi là “đầu thượng trước đầu” hay “tuyết thượng gia sương”.
Như vậy sắc tập khởi chính là sắc sanh, sắc đoạn diệt chính là sắc diệt; thọ tập khởi là thọ sanh, thọ đoạn diệt chính là thọ diệt… Cái sắc bình thường của xác thân ta nó sinh diệt theo định luật tự nhiên của thế giới sinh vật lý; cái thọ bình thường của cảm giác chúng ta nó sinh diệt theo định luật tự nhiên của tâm sinh lý… Sắc và thọ bình thường ấy vốn vô thường, không có tự tính, là vô ngã theo định luật tự nhiên của trời đất nên không phải là vấn đề, vì không đưa đến khổ. Chính cái sắc tập khởi do ta tự chồng chất lên, tự chế biến, tự đẻ ra, sắc ấy mới bị hành (saṅkhāra) chi phối, mới tạo ra bản ngã, cái ấy mới đưa đến khổ. Do thế, người tu tuệ quán phải thấy rõ cái uẩn ấy, uẩn ấy có sanh thì uẩn ấy có diệt. Uẩn, theo nghĩa này, chúng ta phải thấy rõ, hiện quán và thực chứng mới mong giải thoát sinh tử khổ đau.
1. Rūpa (sắc).
1.1- Sắc như thực sắc (sắc như chơn như thực, paramattha)
Hiểu sắc là yếu tố thuần vật chất, là sắc thân tứ đại này, thì sắc thân ấy là tổng hợp của những đặc tính luôn luôn biến động, thay đổi.
Cái thân sắc của mỗi chúng sanh từ lúc sinh ra đến lúc già yếu, tử vong nó thay đổi, biến động từng giây khắc một. Rồi những tế bào cơ thể, máu huyết… nó sinh diệt trùng trùng; nhờ vậy tế bào mới thay thế tế bào cũ, máu mới thay thế máu cũ. Cái đứng yên, cái không thay đổi không bao giờ tìm thấy.
Cô đọng về sắc này, ta có:
– 5 sắc thuộc thân, ngũ căn: Nhãn căn (mắt), nhĩ căn (tai), tỷ căn (mũi), thiệt căn (lưỡi), thân căn (thân).
Mỗi căn như vậy đều có phù trần căn và tịnh sắc căn. Phù trần căn là phần sắc thô tháo bên ngoài; tịnh sắc căn là phần sắc vi tế ở bên trong, tức là phần thần kinh nhạy bén, nó có chức năng mang thông tin truyền báo lên trung khu thần kinh, tức não bộ.
– 7 sắc đối tượng: Đây là những sắc làm đối tượng cho ngũ căn mắt, tai, mũi, lưỡi và thân.
– Mắt thấy mọi vật (mọi sắc tướng, mọi cảnh quan, vũ trụ vạn hữu – sắc đối tượng).
– Tai nghe mọi âm thanh (âm thanh cũng là vật chất nên gọi là sắc đối tượng).
– Mũi ngửi hương (hương cũng là vật chất – sắc đối tượng).
– Lưỡi nếm vị (vị cũng là vật chất – sắc đối tượng).
– Thân xúc chạm đất, lửa, gió – sắc đối tượng).
Thân chỉ xúc chạm, sờ đụng được cái gì thô ráp, cứng (đất), cái gì nóng, lạnh (lửa), cái gì rung động, chuyển động (gió). Còn nước có tính chất làm cho liên kết, dính liền thì thân không xúc chạm được.
Do vậy, thân xúc có ba đối tượng: đất, lửa, gió – thuộc thô sắc. Còn nước thuộc tế sắc. Như vậy ngũ căn có bảy sắc đối tượng: sắc, thanh, hương, vị, đất, lửa, gió.
Khảo sát 12 sắc ấy thì sắc nào cũng thay đổi, dịch biến, vô thường, vô tự tính, không, vô ngã. Dù đức Phật, chư vị thánh nhân hay phàm phu đều có 12 sắc ấy, giống nhau, không sai, không khác. Cho nên đấy là sắc như thực sắc, sắc chư chưa tập khởi, sắc của thế giới chưa bị khái niệm, những nhận thức, lý trí hay tình cảm chủ quan của con người xen vào.
1.2- Sắc uẩn:
Trong 12 sắc ấy thì chúng luôn là sắc như thực, nhưng nếu 5 sắc căn bị chấp thủ là “ta”; và 7 sắc đối tượng bị chấp thủ là “của ta” thì đã biến chúng thành sắc uẩn rồi! Một số ví dụ cụ thể:
– Khi mắt ta nhìn một bông hoa, ta không bao giờ nhìn bông hoa như là bông hoa (sắc như thực), mà luôn chất chồng vào cái hoa ấy không biết bao nhiêu là khái niệm: Hoa đỏ, hoa vàng, hoa này đẹp, hoa kia xấu, hoa này có giá trị, hoa kia không có giá trị… Chính những khái niệm đỏ, vàng, đẹp, xấu, có giá trị, không có giá trị… đã phủ chụp, đã chồng chất lên cái hoa thực nên gọi là sắc tập khởi. Cái phủ chụp, chồng chất ấy chính là uẩn, tạo thành sắc uẩn.
– Khi tai nghe âm thanh, ta không bao giờ nghe âm thanh như chỉ là âm thanh (sắc như thực – âm thanh là vật chất, là sắc) mà luôn chất chồng lên cái âm thanh ấy, nào cao, nào thấp, nào trầm, nào bổng, nào réo rắc, nào thê lương… Chính những khái niệm chủ quan, do tình cảm hay lý trí này chế biến, đẻ ra… đã phủ chụp, chồng chất lên cái âm thanh thực nên được gọi là sắc tập khởi. Cái phủ chụp, chồng chất ấy chính là uẩn, tạo thành sắc (thanh) uẩn.
– Mũi ngửi hương, lưỡi nếm vị, thân xúc chạm… đều tương tự như trên; nghĩa là nếu ta không được thấy rõ như thực mà để cho tình cảm, lý trí của mình xen vào thì đều bị biến thành sắc uẩn – nói theo thuật ngữ Duy Thức là do “biến kế sở chấp” mà thành uẩn.
1.3- Sắc uẩn có thể đoạn tận:
– Sắc uẩn ấy nó không có trong thế giới tự nhiên, mà chỉ có trong tình cảm và lý trí chủ quan của người mê, khởi sanh chấp trước mà thôi.
Ví dụ. Hôm qua tôi cãi nhau với một người nên đưa đến giận tức nhau. Sáng nay, người ấy muốn đến gặp tôi để xin lỗi. Nhưng vừa nhìn thấy người ấy thì hình ảnh, khuôn mặt của người ấy từ ngày hôm qua hiện ra – nên tôi đùng đùng nổi giận. Ồ, hóa ra, là mình đã lấy cái khuôn mặt (sắc) của anh ta từ ngày hôm qua để chồng lên khuôn mặt của anh ta sáng hôm nay (sắc uẩn) nên đâm ra giận ghét. Vậy thì rõ ràng mình giận ghét cái không thật có, vì hôm qua đã qua rồi, còn hôm nay, con người anh ta, khuôn mặt (sắc) anh ta đang mới mẻ hiện tiền thì mình không thấy! Như vậy, nếu hiện quán, minh sát, trở lại với “thực tại đang là” thì uẩn kia liền chấm dứt, chấm dứt luôn cả giận tức.
2. Vedanā (thọ)
Thọ là nhận lãnh, là thu nạp, là cảm giác.
– Khi nói 2 thọ là thọ khổ, thọ lạc.
– Khi nói 3 thọ là thọ khổ, thọ lạc, thọ xả.
– Khi nói 5 thọ là thọ khổ, lạc, xả, ưu, hỷ.
– Khi nói 6 thọ là 6 thọ đi ngang qua 6 căn (nhãn thọ, nhĩ thọ…).
Tuy rất nhiều thọ nhưng chúng ta chỉ cần khảo sát 3 thọ khổ, lạc, xả – vì ưu chỉ là khổ trong tâm, và hỷ chính là lạc trong tâm, có tính chất tương tợ nhau.
2.1- Thọ như thực thọ:
2.1.1- Khổ thọ (dukkhavedanā).
Là những cảm giác thực xấy ra nơi thân, được gọi là thọ bình thường, thuần túy; nghĩa là cảm giác thực khi chịu sự tác động từ thế giới ngoại trần sắc thanh hương vị xúc hay các định luật của vạn hữu. Ta có thể quan sát:
– Khi nhìn ánh nắng chói chang thì cảm thấy nhức mắt; khi nghe âm thanh quá lớn thì lùng bùng lỗ tai; khi trời rét quá thì da nghe buốt lạnh… Bậc giải thoát không phải là diệt cái khổ thọ bình thường, thuần túy này. Đây chính là cảm giác thực. Những cảm thọ như đau, nhức, ngứa, nóng, khó chịu, bực bội, điếc tai, tê, lạnh… đều là cảm thọ bình thường, thuần túy, chưa qua sự chế biến của sở thích, thói quen hoặc tình cảm chủ quan của ta (paramattha chưa bị chế biến bởi paññatti) nên nó chỉ là thọ khổ như thực, chưa biến thành thọ khổ uẩn.
2.1.2. Lạc thọ (sukhavedanā).
Những cảm giác dễ chịu, vừa lòng, thích thú, khoan khoái đều được gọi là lạc thọ, đều là những cảm giác thực, bình thường, thuần túy. Ta hãy quan sát.
– Ăn một món ăn hợp khẩu vị, cảm thấy ngon. Ngửi mùi thơm của trầm cảm thấy dễ chịu… Phàm phu hay thánh nhân đều có chung một lạc thọ giống nhau như thế. Tuy nhiên, là phàm phu, là chúng sanh thường không sống được với cảm thọ như thực ấy mà biến chúng thành một loại đau khổ khác.
2.1.3- Xả thọ (upekkhāvedanā).
Xả thọ là lúc không có khổ thọ và lạc thọ; nó cũng là một cảm giác thực, bình thường, thuần túy.
Trong đời sống thường nhật, ai cũng có trạng thái tâm với xả thọ này. Đấy là lúc thân không có cảm giác đau nhức, khó chịu hoặc thích thú, dễ chịu. Tuy nhiên, lúc có xả thọ, ta không chịu đựng được lâu, sẽ cảm thấy buồn chán, trống không, vô vị. Thế rồi, ta muốn đi tìm cảm giác khác, chạy tìm các đối tượng sắc, thanh, hương, vị, xúc khác; rồi lại rơi vào tròng khổ, lạc khác nữa.
Vậy, cả ba cảm thọ khổ, lạc, xả trên, nếu chưa bị tình cảm hoặc lý trí chủ quan của chúng ta xen vào thì nó chưa biến thành uẩn.
2.2- Thọ uẩn (khandhavedanā)
2.2.1- Khổ thọ uẩn hay khổ khổ (dukkhadukkhavedanā).
Từ khổ thọ bình thường, thuần túy ở trên, phát sanh tâm lý chủ quan làm gia tăng cảm giác khổ thêm một tầng nữa gọi là khổ khổ.
Chính tâm sân (phi hữu ái – vibhavataṅhā) tác động (là do ta bực bội, không chịu đựng nổi nên phát sanh tâm sân) nên khổ thọ thuần túy bị biến đổi, bị tư và hành chi phối, phải nhận chịu cái khổ thâm sâu hơn. Nói cách khác, khổ thuần túy chỉ ở nơi thân, khổ do sân chi phối là khổ ở nơi tâm. Khổ ở nơi thân là do sự tác động tự nhiên của căn trần thức. Khổ ở nơi tâm là do tư vàhành chi phối. Nó chỉ là ảo giác, không thực, nhưng có khả năng bóp méo toàn bộ tâm sinh lý của con người. Đây chính là khổ khổ, là thọ khổ uẩn.
2.2.2- Lạc thọ uẩn hay lạc hoại khổ (vipariṇāma-dukkha)
Khi lạc thọ thuần túy phát sanh như 2.1.2, do tâm tham (hữu ái – bhavataṅhā) xen vào làm cho lạc thọ thuần túy bị biến đổi mà thành uẩn:
– Khi lạc đang tồn tại thì sợ lạc biến mất.
– Khi lạc tồn tại quá lâu thì sinh chán nản, chán chường.
– Khi lạc biến mất thì sinh ra nuối tiếc, sầu muộn.
Sợ hãi, nuối tiếc, chán chường… chính là nỗi khổ mới, tức sự khổ do lạc biến đổi, đổi khác; đây mới chính là hoại khổ hay lạc thọ uẩn.
2.3. Xả thọ (upekkhāvedanā).
Lúc không có khổ thọ và lạc thọ tức là xả thọ, chúng ta thường không giữ nó được lâu, chạy đi tìm kiếm những đối tượng ưa thích khác… Chính trạng thái tâm lăng xăng tìm kiếm, lăng xăng tạo tác này tạo nên cái khổ gọi là hành khổ (saṅkhāradukkha). Sự thúc động ấy là do tâm si hay dục ái chi phối, chạy đi tìm kiếm những đối tượng ưa thích, rồi lại rơi vào trường hợp của khổ, lạc ở trên để tạo nên uẩn khác.
2.3- Thọ uẩn có thể đoạn tận:
Quan sát tất cả các thọ khổ, lạc, xả, hỷ, ưu ở trên, ta thấy chúng đều có những cảm thọ bình thường, thuần túy – nhưng khi chúng có sự tham dự của bãn ngã, ví như tôi đau, tôi nhức, tôi vui, tôi buồn… thì tất thảy chúng đều biến thành thọ uẩn. Lấy tuệ minh sát nhìn ngắm thì chúng vốn là không, không thực có, chỉ do ta tự chế biến đẻ ra mà thôi.
Khi ta thương một người thì vẻ mặt hay tiếng nói, cười cả sự đi, đứng… gì của người ấy cũng dịu dàng, thân thương cả. Trái lại, đấy là người mà ta ghét thì vẻ mặt hay tiếng nói, cười, đi, đứng… gì của người ấy cũng khiến ta khó chịu, bực bội cả. Như vậy, chính tình cảm chủ quan của ta, đã biến cảm thọ như thực thành dịu dàng, thân thương (lạc) hay khó chịu, bực bội (khổ).
Vậy, cái mà ta tự chồng lên cảm thọ thực ấy để biến chúng thành lạc hay khổ chính là uẩn, là thọ uẩn. Có câu ngạn ngữ: “Khi thương trái ấu cũng tròn, khi ghét trái bồ hòn cũng méo”; hoặc của cụ Tiên Điền: “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” – giúp ta thấy rõ cái uẩn ấy, nó phủ chụp lên thực tại khách quan như thế nào!
3. Tưởng (saññā)
Saññā được hiểu là tri giác, tức là nhận biết tổng quát hình tướng, hình ảnh, âm thanh, mùi vị… (ngũ trần – sắc đối tượng) và xác định được nó là cái gì (nhận thức ban đầu).
Ví dụ:
– Đi vào một khu vườn, nhìn thoáng qua là đã biết đây là cây cam, cây mít; đây là lá ổi, lá chanh…
– Thoáng mùi chiên, xào, kho từ nhà bếp bay ra; ta biết đó là tương kho, mùi dầu cháy…
– Vào khu rừng rất nhiều tiếng chim; ta phân biệt được đó là tiếng chim sâu, kia là tiếng chim cà cưỡng…
Tuy nhiên, không phải lúc nào tri giác ấy cũng đúng; chúng có thể bị ký ức, hồi tưởng, tưởng tượng của chúng ta xen vào làm cho tri giác ấy sai lệch đi.
3.1-Tưởng như thực, hiện tưởng
Nếu saññā được lái bởi như lý tác ý (yoniso-manasikāra) thì tri giác ấy là đúng, là hiện tưởng, tức là tưởng đúng đối tượng như-nó-đang-là, đang xảy ra, đang vận hành, đang diễn tiến. Ví dụ: Khi nghe tiếng chim, ta lắng nghe trọn vẹn tiếng chim ấy đừng để cho bất cứ “tưởng” gì xen vào cả. Đấy được gọi là hiện tưởng được dẫn dắt bởi như lý tác ý.
3.2- Tưởng uẩn (khandhasaññā)
Nếu saññā được lái bởi phi như lý tác ý (ayoniso-manasikāra) thì tri giác này bị biến đổi và trở nên sai lầm.
* Bị ký ức, hồi tưởng xen vào, để cho hình ảnh, âm thanh, mùi vị… quá khứ chồng lên hình ảnh, âm thanh, mùi vị… hiện tại làm cho “tri giác đang là” bị biến đổi.
* Bị tưởng tượng xen vào làm sai lạc đối tượng, biến đối tượng như thực thành đối tượng khác. Ví dụ:
– Thấy sợi dây tưởng là con rắn rồi sợ hãi con rắn do mình tưởng tượng ra (tưởng uẩn ® hành uẩn ® thức uẩn).
– Thấy bóng cây lay động tưởng là con ma, sợ hãi bỏ chạy (tưởng uẩn ® hành uẩn ® thức uẩn).
– Nghe tiếng súng nổ tưởng là tiếng pháo rồi nghĩ đến một đám cưới đông vui (tưởng uẩn ® hành uẩn ® thức uẩn).
Như vậy chỉ có hiện tưởng là đúng, là thực khi được lái bởi như lý tác ý. Còn các tưởng (saññā) khác đều sai lạc, đều do ta chế biến, đẻ ra; các tưởng chồng chất ấy mới gọi là tưởng uẩn.
3.3- Tưởng uẩn có thể đoạn tận:
Quan sát những chồng chất (uẩn), những che đậy (ấm) ở trên, ta thấy con rắn, bóng ma, tiếng pháo nổ… chúng đều không thực có trong thế giới tự-nhiên-đang-là. Chúng vốn là không, không có, nhưng chính uẩn đã biến chúng thành có… để sinh ra vui, buồn, khổ, lạc!
4. Hành (saṅkhāra)
Có ba nghĩa chính:
– Saṅkhāra (hành) được hiểu là tạo tác các nghiệp thiện, nghiệp bất thiện và nghiệp bất động làm nên thức tái sanh vào tứ ác đạo, người bất hạnh, người hữu phúc, trời Dục giới, trời Sắc giới và trời Vô sắc giới. Saṅkhāra này được dùng trong thập nhị duyên khởi: Vô minh ® Hành ® Thức…
– Saṅkhāra được dịch là hữu vi, hàm chỉ các pháp được kết hợp, được cấu tạo, được làm nên. Saṅkhāra này cũng có nhiều dạng: Một, thế giới vật chất từ hạt cát đến sơn hà nhật nguyệt, sum la vạn tượng… được kết hợp bởi các yếu tố, đơn vị vật chất đều được gọi là hữu vi. Hai, thế giới tinh thần được kết hợp bởi các yếu tố tâm lý, các trạng thái tâm lý cũng được gọi là hữu vi.
Cả hai loại hữu vi trên đều bị chi phối bởi những định luật tự nhiên của vũ trụ nên những hữu vi ấy đều vô thường, vô ngã (không có khổ).
Có một loại hữu vi thứ ba nữa, là loại hữu vi do mình chế biến, đẻ ra; loại hữu vi do tâm lý, tình cảm, sở thích, quan niệm chủ quan của mình tự tạo, hữu vi ấy mới đưa đến khổ (dukkha). Hữu vi này thường được dịch là hành, hành uẩn; và chính saṅkhāra này mới vô thường, mới khổ. Nó biến đổi từ thương ra ghét, từ ghét ra hận rồi tạo ra các nghiệp.
Sabbe saṅkhāra aniccāti (tất cả hành là vô thường).
Sabbe saṅkhārādukkhāti (tất cả hành là khổ).
Còn: Sabbe dhammāanattāti (tất cả pháp đều vô ngã). Pháp hữu vi, pháp vô vi đều vô ngã. Pháp vô vi không phải là pháp cấu tạo, kết hợp; cũng không phải là pháp do mình đẻ ra, chế biến ra – nên pháp vô vi là vô ngã nhưng không vô thường và không khổ. Ví dụ Niết-bàn là pháp vô vi.
4.1. Saṅkhāra là hành. Hành này là gọi chung cả 50 tâm sở, là hành trong ngũ uẩn.
Sắc
(rūpa)
Thọ
(vedanā)
Tưởng
(saññā)
Hành
(saṅkhāra)
Thức
(viññāṇa)
1 tâm sở
1 tâm sở
50 tâm sở
¯
52 tâm sở
89 tâm
Hành này là gọi chung 50 trạng thái tâm lý do “tư” điều động, dẫn dắt.
– Nếu tâm thiện, tư quy tụ các tâm sở thiện: tín, niệm, tàm, quý…
– Nếu tâm bất thiện, tư quy tụ các tâm sở bất thiện: si, vô tàm, vô quý, trạo cử…
– Nếu ý nghiệp bất động, tư quy tụ các thiền chi: tầm,tứ, hỷ, lạc, nhất tâm.
– Đến 4 đạo, 4 quả, Niết-bàn, tư dần dần mất tác dụng, được tuệ thay thế.
Do tư tâm sở chi phối mà hành biến thành hành uẩn. Được tuệ thay thế thì tất cả đều thanh lương, trong sáng; các trạng thái tâm lý đều trở thành cái dụng của tâm và trí để sống cao đẹp, thanh bình và giải thoát giữa cuộc đời. Ví dụ: tín, niệm, từ, bi, hỷ, xả…
4.2- Hành uẩn (khandhasaṅkhāra):
– Nếu sắc, thọ, tưởng… đều nguyên sơ, trong sáng thì saṅkhāra chỉ là định luật hữu vi cấu tạo, kết hợp tự nhiên dù vật chất hay tinh thần; nhưng khi chúng bị biến thành sắc uẩn, thọ uẩn, tưởng uẩn thì hành uẩn đồng thời khởi sanh do tư chi phối, điều động.
– Nói cách khác, do tư chủ động điều hành, tập hợp các tâm sở tương ưng để tạo tác nên nó được gọi là “tập hợp tạo tác”(saṅkhāra), thiện hay ác, ba cõi sáu đường đều do nó cả.
4.3- Hành uẩn có thể đoạn tận:
– Khi hành uẩn biểu hiện ra ngoài qua thân, khẩu thì ta dùng ngữ, nghiệp mạng để đối trị. Khi hành uẩn khởi động trong tâm thì đối trị bằng tấn, niệm, định. Khi hành uẩn đã lắng dịu, hoạt động vi tế hơn qua thân tâm, lúc đó cần phải có trí tuệ (paññā) chánh kiến (sammā diṭṭhi), chánh tư duy (sammā saṅkappa) mới hóa giải và đoạn tận được sự tạo tác của hành uẩn .
5. Thức (viññāṇa)
Là nhận thức, nhận biết đối tượng. Thức (viññāṇa) là tên gọi khác của tâm (citta) hay ý (mana).
5.1- Thức như thực:
– Lúc sự nhận biết ấy còn trong sáng, chưa bị kinh nghiệm, thành kiến, bản ngã xen vào thì thức ấy là thức như thực. Nó nắm bắt đối tượng nguyên trạng do mắt, tai, mũi, lưỡi, thân trao qua mà chưa xử lý.
– Thức bao hàm tất cả tâm sở, nó đóng vai trò quán xuyến tất cả tâm sở, chi phối sắc, thọ, tưởng, hành.
– Ngũ căn tiêp nhận đối tượng là một biểu hiện đơn giản nhất của thức.
– Thức còn thực hiện một chức năng vô cùng quan trọng đó là sao chép kinh nghiệm để đưa vào lưu trữ ở kho tiềm thức.
5.2- Thức uẩn:
– Nếu thức bị sắc uẩn, thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn chi phối thì thức ấy sẽ biến thành thức uẩn.
5.3- Thức uẩn có thể đoạn tận:
– Thật ra chỉ cần trả thức lại cho thức là đoạn trừ được thức uẩn, nói đúng hơn là đoạn tận uẩn của thức (rối ren, chất chồng của thức) chứ không phải đoạn tận thức.
– Nếu thức không bị các uẩn chi phối – nghĩa là do như lý tác ý dẫn dắt thì thức ấy biến thành kiến, văn, giác, tri như thực; là thành chánh tri kiến.
II- Ngũ Uẩn Giai Không.
1- Từ bài kinh Bāhiya:
Đến đây, chúng ta đã có cơ sở để xác định rằng, có sắc, thọ, tưởng, hành, thức như thực, là thế giới đang còn trong sáng, Abhidhamma gọi là paramatha (chân đế hay đệ nhất nghĩa), Duy Thức gọi là Viên thành thực. Và có sắc uẩn, thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn, thức uẩn là do bị tham sân si chi phối, lý trí, tình cảm chủ quan chen vào nên bóp méo cái thực ở trên để biến chúng thành uẩn; Abhidhamma gọi thế giới này là paññatti (khái niệm), còn Duy Thức gọi là biến kể sở chấp.
Thời Phật, người nào thấy cái thực nguyên sơ, trong sáng ban đầu ấy, chưa bị vấy nhiễm bởi biến kế sở chấp – thì người ấy, ngay tại chỗ ấy liền được giải thóat, đắc quả A-la-hán. Tiêu biểu nhất là bài kinh trong Tiểu bộ kinh, Bāhiya sutta; tôi tóm tắt như sau:
Lúc ấy, đức Phật rời khỏi tịnh xá Kỳ Viên (Jetavana) đi trì bình khất thực tại Xá Vệ (Sāvatthi) thì có một vị bà-la-môn đã già, tên là Bāhiya Dāraciriva, đi tìm kiếm ngài để hỏi pháp. Khi ấy, đức Phật đang ôm bát đi vào giữa các xóm nhà thì Bāhiya Dāraciriva đến gần bên, cúi đầu xuống chân ngài:
– Bạch Thế Tôn! Thế Tôn hãy thuyết pháp cho con, Thiện Thệ hãy thuyết pháp cho con, nhờ vậy con có thể được hạnh phúc an lạc lâu dài.
– Nay là không phải thời, này Bāhiya! Ông không thấy là Như Lai đang đi trì bình khất thực đó sao?
– Con thấy, bạch Thế Tôn! Nhưng mạng sống của đức Thiện Thệ và mạng sống của chính con không biết là nó sẽ xảy ra lúc nào. Bởi vậy, mong Thế Tôn thuyết pháp cho con nghe.
Như thế, đức Phật đã từ chối lần thứ hai, lần thứ ba, sau đó, ngài đã thuyết ngắn gọn tinh yếu của giáo lý thoát khổ như sau:
“- Vậy này Bāhiya! Ông cần phải học tập như sau: Trong cái thấy, sẽ chỉ là cái thấy. Trong cái nghe, sẽ chỉ là cái nghe. Trong cái thọ tưởng, sẽ chỉ là cái thọ tưởng. Trong cái thức tri, sẽ chỉ là cái thức tri.
Như vậy, này Bāhiya! Nếu trong cái thấy, sẽ chỉ là cái thấy; trong cái nghe, sẽ chỉ là cái nghe; trong cái thọ tưởng, sẽ chỉ là cái thọ tưởng; trong cái thức tri, sẽ chỉ là cái thức tri – thì không có ông ở trong ấy, ông không là chỗ ấy (ý nói không có bản ngã của ông ở trong ấy, ví dụ khi một cảm thọ đau thì chỉ là một cảm thọ đau chứ không có cái gọi là “tôi đau” ở trong đó)! Do vậy, này Bāhiya! Ông không là đời này, ông không là đời sau, ông không là đời chặng giữa. Như vậy là đoạn tận khổ đau”.
Nhờ lời thuyết pháp tóm tắt này của Thế Tôn, tâm của Bāhiya Dāruciriya được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ.
Đức Phật rời chân không bao lâu thì nghe tin có một con bò điên đã húc chết lão bà-la-môn già, ngài bảo với chư vị tỳ-khưu:
– Này các thầy tỳ-khưu! Hãy đến đấy, lấy thân xác Bāhiya Dāruciriya, đặt lên trên cái chõng, đem đi hỏa thiêu, rồi xây tháp lên trên. Lão bà-la-môn kia là một vị đồng phạm hạnh với các thầy đã qua đời!
Và thế là đức Phật tuyên bố Bāhiya Dāruciriya đã nhập Niết-bàn!
Đọc đoạn kinh văn trên, chúng ta thấy rằng:
– Trong cái thấy, chỉ là cái thấy. Đây là cái thấy nguyên sơ, trong sáng… (sắc như thực, paramattha), không có uẩn.
– Trong cái nghe, chỉ là cái nghe. Đây là cái nghe nguyên sơ, trong sáng (như trên).
Và các cảm quan kia cũng đều như vậy… không có uẩn, năm uẩn đều không, chúng là tên gọi khác của chánh kiến. Đây là chánh kiến vô lậu, không có sanh y, tên gọi khác của chánh trí, giải thoát, giác ngộ, Niết-bàn.
2- Từ bài kinh Bát Nhã Ba-la-mật-đa:
“Quán-Tự-Tại Bồ-Tát hành thâm Bát-nhã Ba-la-mật-đa thời, chiếu kiến ngũ-uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách”.
Theo tôi, bài bát-nhã tâm kinh quan trọng nhất là ở đoạn kinh văn ấy; còn phần còn lại chỉ là sự phủ định triệt để của tánh không, phá bỏ mọi chế định ước lệ của các phạm trù khái niệm.
Đầu tiên là Quán Tự Tại Bồ Tát mà ai cũng hiểu là Bồ Tát Quán Tự Tại (tên gọi khác của Bồ Tát Quán Thế Âm), nhưng tôi lại hiểu khác. Bồ Tát, chữ Nam phạn là Bodhisatta; satta là hữu tình, là chúng sanh; bodhi là giác hay trí tuệ. Vậy có thể có hai nghĩa, một, “chúng sanh có trí tuệ, hai, là hữu tình giác! (nếu dịch là giác hữu tình lại mang nghĩa khác, là giác ngộ cho chúng sanh).
Quán là nhìn ngắm, soi chiếu, quán chiếu. Tự tại là ở ngay bây giờ đây, thân tâm của mình đây. Vậy, nghĩa cả nhóm từ “Quán tự tại bồ tát” có nghĩa là: Chúng sanh có trí tuệ, soi chiếu trọn vẹn thân tâm của mình ngay bây giờ đây.
Khảo sát tiếp theo: Hành thâm bát-nhã ba-la-mật-đa thời.
Hành thâm có nhiều người dịch là đi sâu. Không phải vậy, hành là thực hành, còn chữ thâm, nguyên văn chữ phạn là gaṃbhirā có nghĩa là sâu thẳm, sâu xa; vậy gaṃbhirā paññāpāramitā (pāḷi) là thực hành trí tuệ sâu mầu của bờ kia.
Vậy cả đoạn, như sau: Chúng sanh có trí tuệ, quán chiếu thân tâm ngay bây giờ đây, lúc sử dụng trí tuệ sâu mầu của bờ kia, soi thấy năm uẩn đều là không nên chấm dứt (vượt qua) tất thảy mọi khổ ách.
Đến đây, vấn đề tụ lại nơi “năm uẩn đều là không” tương tự bài kinh Bāhiya ở trên.
Nếu ai có cơ duyên, có thì giờ đọc thêm kinh Tiểu Không, Đại Không, Đại Duyên của Nikāya thì còn thấy rõ thêm tánh không rốt ráo, cuối cùng là giải thoát tham sân si, phiền não, giác ngộ, giải thoát, Niết-bàn.
Hóa ra, tất cả đều là tu quán minh sát tuệ (vipassanā) để thấy rõ vô thường, vô ngã của tâm và pháp nhưng cách nói khác nhau, diễn đạt khác nhau mà thôi.
MINH ĐỨC TRIỀU TÂM ẢNH
Ghi chú:
(1) Sắc là sắc thân vật lý; thọ là cảm giác; tưởng là tri giác, hành là các trạng thái tâm lý; thức là ý thức, nhận thức – có chức năng thu gom hoặc xử lý các tình huống, các đối tượng.
(2) Tuệ (paññā), tuệ tri là cái biết của tuệ (pajānāti).
(3) Liễu tri ( ājānāti) là cái thấy biết rốt ráo, bằng giác trí (bodhiñāṇa) hay bằng tuệ giác của bậc đã giác ngộ.

TÔI TÌM PHẬT

TÔI TÌM PHẬT
Minh Đức Triều Tâm Ảnh

1-
“Nhược dĩ sắc kiến ngã
Dĩ âm thanh cầu ngã
Thị nhân hành tà đạo
Bất năng kiến Như Lai”
Câu kệ ngôn xưa
Tôi đọc mãi, tụng hoài
Qua tháng qua năm
Tuổi tác chất đầy
Mà vẫn không bao giờ thuộc được
Tôi đã từng đi tìm ngài
Qua nguy nga chùa tháp
Tượng đài vàng son
Điểm ngọc, đeo châu
Từ kinh thành phồn hoa
Đến đô thị sắc màu
Chân dung Phật thật huy hoàng tráng lệ
Ngài ngồi trên bảo đài cao
Uy nghi chín bệ
Long phục, hổ chầu
Hàng quỷ, độ ma
Ngài phóng hào quang
Xuyên cõi ta bà
Oai nhiếp thần linh
Đoạt quyền Thượng Đế
Cứ mỗi độ Vesak
Là tưng bừng khắp năm châu bốn bể
Nhân loại lại reo hò đại lễ tôn nghinh
Cờ phướn, đèn hoa phất phới, lung linh
Nhã nhạc, trầm hương
Vũ ca dìu dặt!
Đấy có phải là chúng ta đi tìm Phật?
Khi chúng sanh đang thống khổ, tai ương
Khi đạo đức tan hoang, đỗ vỡ thê lương
Khi khủng bố, chiến tranh, điêu tàn nhân lý
Ngài đâu cần nhân gian tôn xưng, cổ suý
Đâu cần phù hoa sắc tướng tri ân
Mỗi người hãy tự tu
Tự ngắm bóng mình
Để thấy rõ tham sân chất dày bản ngã
Mặt nạ hư dối đã tráo lầm bao độ
Quá dày sâu không thấy rõ thực hư
Phật không thể ngồi trong điện các kim châu
Cũng đâu muốn chốn chốn già lam
Hoành tráng, lớn to
Để nhân huy chương, kỷ lục
Đệ tử sa-môn chỉ cần cội cây, lều trống
Ôm bát xin ăn, dị giản thanh bần
Manh áo cà sa chỉ để che thân
Đâu phải là tỷ phú, đại gia mà cao sang, kiểu cách
Đâu phải đại đế, tiểu vương
Mà lễ nghi phục dịch
Chân đất đầu trần, tuệ đức gương trăng
Buông bỏ, xả ly cả mảy vi trần
Không dính bụi
Khi huyễn thân trả về cho cát bụi
Hạt xá-lợi là ngọc
Được kết tinh từ vô biên trí giác
Từ vô biên hỷ xả từ bi
Có hành, có tu mới biết có gì
Đi tìm Phật khỏi thấy mình lạc lối
Tôi đã mê si, vô minh mà dặm trần dong ruổi
Chạy đuổi theo bóng sắc của ma vương
Những cám dỗ kiêu xa
Những ảo ảnh mê trần
Ngoại tướng là thiên cung
Nhưng bên trong là địa ngục
Bây giờ tôi đã tỉnh thức
Mong thế gian cùng tỉnh thức
Để trở về giác niệm quy y!

2-
Câu kệ ngôn xưa
Nguyên ngữ nói gì
“Nhược dĩ sắc kiến ngã
Dĩ âm thanh cầu ngã
Thị nhân hành tà đạo
Bất năng kiến Như Lai”
Tôi đã từng thơ, văn giỡn chữ, khoe tài
Cũng đã từng mỹ ngôn
Đăng đàn thuyết giáo
Những băng đĩa âm thanh tuyệt hảo
Những video giảng nói hùng hồn
Những báo đài ầm ĩ phô trương
Đức Phật hôm nay cũng phải tiếp thị thị trường
Cũng buôn bán âm thanh
Cho người người tìm Phật
Đàn sáo, nhạc ca, hát ngâm xảo thuật
Mê ly lòng người
Đắm đuối kẻ “chân tu”
Tôi đã từng bỏ trí, theo ngu
Chạy theo ngôn lời chập chùng khái niệm
Đi tìm Phật
Lại rơi vào thanh tướng
Quyết “xao thôi” chữ nghĩa cho hay ho
Sự thực một ly
Là ngàn dặm xa bờ
Ngón tay chỉ không còn là mặt trăng
Mà thấy toàn xanh đỏ
Thấy của phái này, của hệ kia
Của mưu đồ vị kỷ
Của tông môn mình
Của tử đệ đồng tràng
Ai cũng là chân sư, đạo sư, giáo chủ vênh vang
Ai cũng nắm chân lý trong tay
Ai cũng là thánh nhân
Vì thương đời mà ra tay cứu độ!
Nào thông điệp
Nào tuyên ngôn rộn ràng dâu bể
Nói rồi xong theo ước lệ đời thường
Nói rồi vỗ tay
Đoàn kết, yêu thương
Như ngọn gió xao qua rồi mất
Như chữ nghĩa, ngữ ngôn, âm thanh
Đã hiển bày sự thật!
Ôi!
Có vị hiền đức đã nói:
“Tri giả bất ngôn,
Ngôn giả bất tri”
Biết bao năm đi tìm Phât
Mà tôi lại chạy đuổi theo thơ phú ca từ
Nói quá nhiều
Có nghĩa là đa ngôn đa quá
Nói nhiều thì lỗi nhiều
Nguyên ngôn càng xa lạ
Chỉ chứng tỏ sự nghèo nàn trí tuệ trong tôi
Lại còn tán hay, tụng giỏi, xướng tài
Chuông mõ dặt dìu
Cầu mong chánh giác
Tôi cũng đã từng
Mải mê âm thanh, sắc tướng
Mà bỏ quên giác niệm từng giờ
Mà bỏ quên tự tánh quy y
Tâm mình là Phật!

3-
“Nhược dĩ sắc kiến ngã
Dĩ âm thanh cầu ngã
Thị nhân hành tà đạo
Bất năng kiến Như Lai”
Do vậy, hôm nay
Tôi cố gắng học thuộc bài
Câu kệ ngôn từ ngàn cao sương khói
Câu kệ ngôn vượt muôn trùng bóng tối
Để trở về tao ngộ chân tâm
Vesak đã về đây
Tôi lặng lẽ âm thầm
Trong căn phòng nhỏ xa quê
Đốt một thỏi trầm
Rồi trầm tư, mặc tưởng
Rồi toạ thiền
Rồi rời xa âm thanh, sắc tướng
Rời xa đảo điên, thế mộng phù du
Tôi đã từng bị bản ngã nhốt tù
Bản ngã lợi danh, kiêu căng, vị kỷ
Quyết học cho thuộc
Bài kinh về “lửa”
Lửa đã cháy rồi
Từ mắt tai mũi lưỡi
Lửa đã cháy rồi
Từ sắc thanh hương vị giác
Lửa đã cháy rồi
Địa đại, thiên hà
Ba cõi cháy rồi đốt bạn, đốt ta
Đốt cả nhàn vui, lạc an tâm lý
Đốt cả quỷ vương, dạ xoa, ma mị
Đốt cả rồi
Để thấy rõ duyên khởi tánh không
Từ tánh không
Có bóng Phật trăng lồng
Trời chân đế
Tao phùng trong từng hơi thở một
Tôi đi tìm Phật
Biết bây giờ là thật
Trong cô liêu
Chỉ có Phật của lòng tôi
Để nguyên ngôn chẳng hiện chữ lời
Chim bay trên trời kia
Đám mây trăng thong dong kia
Cùng vô tâm xoá giấu!
Đức Phật của tôi
Vẫn xán lạn
Triệu triệu huy quang tinh đẩu!

Chùa Hương Đạo
Fort Worth – Dallas – Texas
Minh Đức Triều Tâm Ảnh

Anthony-de-Mello-

Hủy diệt

Hủy diệt
anthony-de-mello
Hủy diệt

Dù rất thánh thiện, Minh Sư có vẻ hơi đối kháng với tôn giáo. Điều nầy luôn khiến các đệ tử hoang mang vì, không giống Minh Sư, họ xem tôn giáo ngang hàng với linh đạo.
Minh Sư nói: “Tôn-giáo như người ta thực hành hôm nay chỉ chú trọng đến việc thưởng phạt. Nói cách khác, tôn giáo chỉ nuôi dưỡng sự sợ hãi và lòng ham muốn – hai việc tai hại nhất đối với linh đạo.”
Về sau, ngài còn nói thêm một cách chua chát: “Đó chẳng khác nào dùng nước để ngăn chặn hồng thủy; hoặc dùng lửa để chữa hỏa-hoạn.”

Trống rỗng

Đôi khi, từng đoàn du khách ồn ào kéo đến, phá tan sự tĩnh mịch của tu viện.
Điều đó khiến các đệ tử khó chịu, nhưng đối với Minh Sư thì không, vì ngài xem ra thoải mái lúc thanh vắng cũng như khi ồn ào.
Ngày kia, thấy các đệ tử phản đối, ngài bảo: “Thinh lặng không phải là im tiếng động mà là vắng bóng bản ngã.”

Tư duy

Một triết gia nói: “Tại sao thầy coi thường tư duy? Chính tư duy là dụng cụ độc nhất để san định thế giới.”
“Đúng thế! Nhưng tư duy có thể san định thế giới một cách tốt đẹp đến nỗi người ta không thể nhìn thấy thế giới được nữa.”
Về sau, Minh Sư nói với đệ tử: “Tư duy là một màn ảnh, chứ không phải là kiếng soi; đó là lý do vì sao các con sống trong một chiếc vỏ tư duy kín mít mà không để cho Thực Tại chạm đến mình được.”

Khám phá

“Xin thầy giúp con tìm thấy Thượng Đế.”
“Không ai có thể giúp con được.”
“Tại sao vậy?”
“Cũng một lý do là không ai có thể giúp cá biển khám phá ra đại dương.”

Món quà vĩ đại nhất

Hầu hết mọi người đều đang ngủ. Họ cần phải thức dậy, mở mắt, quan sát cái gì là thật, cả bên trong và bên ngoài chính họ. Món quà vĩ đại nhất của nhân loại là nhân loại được thức tỉnh, được tiếp xúc với chính mình, với cơ thể, với tâm trí, tình cảm, suy nghĩ và cảm xúc của riêng mình.

Vương quốc hạnh phúc.

“Ngày mà bạn hạnh phúc chẳng vì điều gì cả, ngày mà bạn thấy chính mình vui thích trong tất cả mọi thứ và chẳng trong bất kỳ thứ gì, ngày đó bạn biết mình đã tìm thấy vùng đất của niềm vui mãi mãi, vùng đất ấy được gọi là vương quốc hạnh phúc.

Minh bạch

Minh Sư bảo: “Đừng tìm kiếm Thượng Đế. Các con chỉ cần nhìn thôi – và mọi chuyện sẽ được tỏ bày.”
“Nhưng phải nhìn như thế nào?”
“Mỗi khi nhìn vật gì, các con chỉ thấy vật đang ở đó thôi và không thấy vật gì khác nữa.”
Các đệ tử hoang mang nên Minh Sư giảng giải cách đơn giản hơn: “Chẳng hạn, khi các con nhìn mặt trăng thì các con chỉ nên thấy mặt trăng thôi mà không thấy gì khác nữa.”
“Khi người ta nhìn mặt trăng, thì người ta có thể thấy gì khác ngoại trừ mặt trăng?”
“Người đói bụng có thể (nhìn mặt trăng mà) thấy một mẩu phó mát hình tròn. Người si tình có thể thấy khuôn mặt người yêu.”
Khi nhìn một vật hay một người, chúng ta thường chỉ thấy hình dáng bên ngoài của của họ, hoặc chúng ta nhìn với những thành kiến của mình hay những thành kiến mà người khác cài đặt vào tâm trí mình. Chính vì thế mới sinh ra hiểu lầm, tranh giành, ác cảm.
Chính vì thế các minh sư thường khuyên chúng ta nên khám phá ra bản chất con người, sự kiện theo ánh mắt tâm linh trong suốt, không làm méo mó thực tại.

Ngục tù

Minh Sư nói với đệ tử: “Con quá tự hào về trí thông minh của con. Con chẳng khác nào một tù nhân hãnh diện về chiều rộng của xà lim nhốt mình.”
Học tập, nghiên cứu thường cung cấp cho chúng ta cả kho kiến thức, và chính kho kiến thức này dễ trở thành bức tường kiên cố của nhà tù mà chính chúng ta vô tình tự giam hãm mình. Điều đáng tiếc là chúng ta vẫn cầm nơi tay Chìa Khoá Ánh Mắt Tâm Linh, nhưng chẳng ai tự mở cửa để được tự do!

Anthony de Mello
Trích: Một phút minh triết
Theo: Trung Tâm Hộ Tông
Đăng bởi Cội Nguồn : Thứ Tư, tháng 1 15, 2014