Lưu trữ hàng tháng: Tháng Bảy 2014


VÔ NIỆM VIÊN THÔNG YẾU QUYẾT
 Thích Minh Thiền 
Phật Lịch 2536 – 1992
PHỤ LỤC
TẠI SAO PHẢI ĐƯA VẤN ĐỀ Y ĐẠO LÊN HÀNG ĐẦU  
CUỘC SỐNG NGÀY NAY 

Thế giới này đã đến hồi xuống dốc, vận thế vận tốc của địa cầu đã lệch lạc bất thường, hầu hết tâm lý loài người đều lâm vào tình trạng sợ hãi hoang mang, khoa học kỹ thuật vật chất tiến đến một trình độ năm châu họp chợ, và khoa học kỹ thuật tinh thần bị xem thường, làm cho cuộc sống mất hẳn thế thăng bằng, trời đất lẹch lạc đảo lộn, cái cực kỳ văn minh vật chất của loài người bề ngoài trông vẫn lộng lẫy xa hoa, nhưng kỳ thực chỉ là một thứ cực kỳ sa đọa mà vẫn mang nhãn hiệu văn minh, tựa như một kỹ nữ kinh thành. 

Thế sụp đổ này thật là vô cùng tế nhị, sụp đổ ngay tận đáy lòng của mỗi con người, ra đến văn hóa giáo dục, triết học, y khoa, tôn giáo, đạo đức, chính trị, kinh tế, khoa học, chuyên môn, v.v… cho đến ngọn rau cọng cỏ, vị thuốc, chén cơm, manh quần, tấm áo, nước uống, thức ăn, rượu trà, cà phê, thuốc lá, tôm cá, cỏ cây, … không một mảy may nào mà không lâm vào tình trạng điên đảo lộn mèo, trái chướng hẳn với trật tự thiên nhiên. Nếu ai đã từng hiểu rõ thế nào là nghĩa y đạo thì vấn đề đặt ra cũng không thành nữa. Tại sao? Vì tất cả những văn minh cuộc bộ của toàn thể loài người để lại từ xưa đều bị thế cộng nghiệp của khoa học kỹ thuật vật chất năm châu họp chợ phá hủy một cách kỹ lưỡng vô cùng. 

Vì thế mà thuốc chữa dù có hay đến đâu, nếu đã mang màu sắc cuộc bộ thì đã là một chướng ngại đầu tiên rồi. Phương chi tất cả những liều thuốc cuộc bộ đều xuất phát từ cái nhìn theo một bệnh chứng cuộc bộ, nên đối với một thứ bệnh ung thư tổng thể không sao có một hiệu lực vẹn toàn. Chỉ có cách nhìn của Y đạo suốt từ bao la vô tận vào đến từng biến cố tâm lý cá nhân, khắp xã hội loài người, suốt muôn trùng vạn hữu, thông qua mảy mún tế vi đến tận ăn uống sinh hoạt, bệnh tật thời tiết, thọ bẩm tâm tư, kỹ nghệ máy móc, không đâu không nhiếp khắp. Tất cả đều có một thế trật tự tương quan quân bình, biến hóa lưu thông tổng thể đồng nhất. 
 
Có được một cách nhìn suốt khắp, một cách khám bệnh trọn vẹn như thế, mới có đủ tư cách sáng suôt áp dụng những liều thuốc không màu sắc, đúng chỗ đúng thì mới mong có thể chữa được một thứ bệnh ung thư tổng thể. Từ chữa trị cho guồng máy tâm thức, đến chỉnh đốn lại toàn bộ cuộc sống hằng ngày, dẫu một mảy may cũng không thể bỏ qua sơ sót. 

Cho nên đường hướng của Y đạo trước hết đối với khắp cõi các hiện tượng trật tự thiên nhiên, toàn bộ nguyên lý luật tắc phải được nắm vững. Rồi từ đó tuần tự nhi tiến, tùy thuộc vào việc đáng làm trước đáng làm sau, để rồi dù từ đời này sang đời nọ đến đời kia, bất cứ dân tộc nào cũng đều có thể y cứ trên bản đồ căn bản, tùy tiện mà góp công góp sức, muôn người như một. Có như thế mới có một việc làm nhất trí muôn đời, thì mới mong cứu vãn tình thế chôn vùi sụp đổ toàn diện. 
 
Ví như có một người có cả một kho tàng những bộ phận khắp trong guồng máy xay lúa, xếp đặt một cách ngổn ngang không trật tự, chủ nhà không biết dùng vào đâu, chỉ chực đem bán cho những nhà mua sắt vụn. Rồi một hôm bỗng có một kỹ sư chuyên gia cơ khí biết được đến mua mão đem về cho phân loại ra thành trật tự, rồi ráp lại thành guồng máy đồ sộ có quy củ đem ra áp dụng rồi từ đó con cháu cứ theo bản đồ đã hoạch định mà tiếp tục phát triển thêm làm cho ngành máy xay lúa ngày càng phồn thịnh. 

Trách nhiệm của thánh hiền muôn thuở trong y đạo phải chăng cũng tương tợ như vậy?! Muốn có một nhân sinh quan cho thỏa đáng thì nhân sinh quan ấy phải thật ứng hợp với trật tự thiên nhiên. Thế là muốn có một nhân sinh quan cho thỏa đáng tất trước phải có một vũ trụ quan thật là chính xác. Muốn có một vũ trụ quan cho chính xác thì phải có một tầm mắt thật là quang minh sáng suốt, muốn có một tầm mắt quang minh sáng suốt thì phải có một guồng máy hiểu biết không bị kẹp vào lưới mê. Đây là điều kiện để cho phép vô niệm viên thông có cơ mở lối. 
 
Vì sao thế? Vì tất cả các thánh hiền trong muôn thuở, trước khi muốn kiến thiết một pháp gì cho cuộc sống đều lấy tâm thể vô niệm là nền tảng. Vì thế nên dịch học mới có câu: “Lành dữ khổ vui đều bởi động, chẳng động là to nhất”. 
 
Vừa mở kho tàng nội kinh ra là đã thấy ngay câu: “Điềm đạm rỗng rang, khí chơn nguyên được thuận, bên trong tinh thần vững thì bệnh do đâu mà đến?” Như thế không phải là tâm thể vô niệm đó sao?! 
 
Đến như Khổng Tử nói TU TỂ TRỊ BÌNH, NÓI MINH MINH ĐỨC, NÓI TÂM DÂN. Mạnh Tử nói: “Cái đạo học vỗn chả có gì, chỉ là tìm lại cái phóng tâm mà thôi”. 
 
Còn nhà Phật thì khỏi phải nói. Thế mới biết, nếu không từ một tâm thể vô niệm, chứng suốt bổn tánh, nhìn khắp bao la, thâm nhập tâm cơ để mở ra tất cả mọi ngành như văn hóa, giáo dục, triết học, y khoa, chính trị, kinh tế, âm nhạc, hội họa, thiên văn, địa lý, toán số, kỹ nghệ …. để kiến thiết lại cuộc đời thì việc đưa đường cho loài người đi tìm hạnh phúc rốt rồi chẳng qua kết qủa cũng một cách phũ phàng vô cùng khốc liệt, như cái học trong nguyên tử khoa học kỹ thuật vật chất mà thôi. 

Thế mới biết trong thời kỳ nguyên kiếp giảm, nếu lìa y đạo, loài người săn đuổi ra ngoài theo vật chất, theo tướng để tìm hạnh phúc, thì quyết định chẳng qua cũng là một thứ leo cây tìm cá, và tâm thể vô niệm quyết định không phải của riêng ai, mà phải là ngưỡng của để nhân loại bước vào Y đạo. Và từ đây chúng tôi hy vọng rằng tất cả loài người nếu muốn xây dựng lại cuộc sống yên lành thì quyết định phải tìm về Y đạo, phải theo đường hướng học thuật “Tam Duy” (duy như, duy sinh, duy y). Và phải tận lực khai thác kho tàng nguyên lý luật tắc của Nội Kinh một cách tuần tự nhi tiến, thì ngày mai may ra mới có áng sáng. Mong rằng tất cả các giới lãnh đạo khoa học vật chất cũng như khoa học tinh thần hãy nên trầm tư phát tĩnh!.
SIÊU TRẦN TOÁT YẾU
1. BỔN TÁNH: Bổn tánh vốn không hai, 
Không phải không cũng không phải có, 
Không phải một cũng không phải nhiều, 
Không phải tâm cũng không phải vật, 
Không phải tướng cũng không phải tánh, 
Bình đẳng vốn như như 

2. VẠN PHÁP: 
Vạn pháp vỗn như huyển 
Như gió thổi, như mây bay, 
Như tiếng vang, như điện chớp, 
Tất cả đều tổ hợp 
Tất cả đều vô thường, 
Vốn sanh diệt bất tề, 
Thân này cũng một pháp 
Nên nó cũng như vậy.

3. TRƯỜNG ĐỜI
Đời là trường thi lớn, 
Thi thuận lại thi nghịch, 
Cùng chướng ngại lẫn nhau, 
Để cùng nhau giải thoát 
Chướng ngại lớn giải thoát sâu, 
Không chướng ngại không giải thoát, 
Bổn lai không thuận nghịch, 
Chỉ có tâm sáng mê, 
Biết rõ được điều này, 
Mới có cơ giải thoát.

4. THÂN GIÁC: 
Tấm thân là vật chất, 
Vốn tổ hợp vô thường, 
Nguyên lai không hay biết, 
Không thể có nhiễm tịnh, 
Không thể có phân biệt, 
Cũng không tham sân si, 
Không đam mê dục lạc, 
Vỗn tuyệt đối tĩnh chi, 
Tùy duyên mà biến khác, 
Duyên mê thành trói buộc, 
Duyên ngộ thành giải thoát, 
Có thân chưa phải lụy, 
Lụy tại chỗ có biết, 
Nếu đặt sâu thân giác, 
Nhất thời thành giải thoát.

5. VỌNG TÂM: 
Tâm vọng có bốn phần 
Nhìn qua thấy hai nhóm, 
Mặc dù trong yên lặng, 
Vẫn bàn soạn lao xao, 
Hoặc khi cười khi nói, 
Không chịu sự kềm chế, 
Đó là phần qúa khứ, 
Hiện tại cũng theo duyên, 
Mà không thể tự chủ, 
Tâm vọng tựa nước biển, 
Khi gặp cơn bão tố, 
Sóng cuộn nổi ba đào, 
Gió yên sóng tự lặng, 
Mặt biển vốn là nước, 
Chơn vọng vốn không hai, 
Biến hóa thành phân biệt.

6. CHƠN TÂM BỔN TÁNH: 
Muốn phát hiện chơn tâm, 
Cùng mặt thật bổn tánh, 
Phải quét sạch vọng niệm, 
Cho tâm thể bình thường, 
Trả về với phẳng lặng, 
Trong suốt tựa như gương, 
Mới viên thành giải thoát.

7. THOÁT TRẦN THẲNG TẮT: 
Muốn lên bờ đại giác, 
Phải rõ suốt trước sau, 
Phải thấm nhuần thân giác, 
Chỉ vì thiếu thân giác, 
Tâm vọng bám lấy thân, 
Mà trở thành trói buộc, 
Muốn cởi mở dính mắc, 
Cho thân khỏi vọng tâm, 
Đê thoát vòng trói buộc, 
Gấp nổi dậy nghi tình, 
Dựa vào điều thân giác, 
Lập tức bị rẽ phân, 
Tâm vọng liền hóa thoát, 
Trọn vẹn cả trước sau, 
Là nơi vào chánh giác. 
 
Tác giả THÍCH MINH THIỀN 
Viết xong ngày mùng 8 tháng 3  
Năm Nhâm Tuất (01-04-1982) 
 
 
Người gửi bài / Vi tính: Lộc Nguyễn 
 
12-01-2008 04:23:46
nguồn thư viện viện Hoa Sen


VÔ NIỆM VIÊN THÔNG YẾU QUYẾT
 Thích Minh Thiền 
Phật Lịch 2536 – 1992
PHẦN THỨ TƯ 
VẤN ĐÁP
1. PHÁP VÔ NIỆM VIÊN THỒNG VỚI Y ĐẠO LÀ MỘT HAY KHÁC? 
 
Không phải một cũng không phải khác. Tại sao? Ngày nay chúng ta bị rơi vào thế hệ khoa học kỹ thuật vật chất tiến đến trình độ năm châu họp chợ. Nhìn trở lại con người, cuộc sống con người càng ngày càng sát mặt nhau mà lòng dạ càng ngày càng cách biệt. Tất cả những văn minh cuộc bộ được gọi là tương đối đẹp đẽ, đều bị thế vật chất năm châu họp chợ phá hủy, làm cho con người rơi vào cái thế hoặc phải thủ tiêu hẳn năng lực khoa học kỹ thuật vật chất năm châu họp chợ đi, để trả về với thời kỳ cuộc bộ, hoặc con người phải nỗ lực tìm đường hướng thượng khắp mọi lĩnh vực tinh thần để cho xứng với thế năm châu họp chợ, thì cuộc sống mới mong lấy lại thế quân bình. 
 
Phương chi ngoài nhân sự ra, trật tự thiên nhiên đã đến hồi nối tiếp xảy ra nhiều biến cố, vận thế vận tốc của địa cầu lệch lạc đi nhiều, không biết lúc nào sẽ xảy ra một cuộc đổi cực?! 
 
Trải qua một thời gian dài đăng đẳng, nền văn minh Y Đạo Á Đông đã bị lòng người đóng cứng làm chết mất đi sức biến hóa cho đến ngày nay đã hoàn toàn trở thành thất truyền phá sản, trong đó có những khoảng thời gian xen kẻ, nhờ Thiền Học Phật Giáo Ấn Độ du nhập vào Trung Hoa biến thành một sinh lực mới để tiếp dưỡng hơi tàn cho Y đạo. Đến ngày nay Thiền Học cũng bị phá sản thất truyền luôn. 
 
Con người là một sinh vật xuất hiện từ thiên nhiên, thuộc về của trật tự thiên nhiên, hoàn toàn theo mạng lệnh của trật tự thiên nhiên mà tồn tại. Con người muốn tồn tại phải hoàn toàn ứng hợp với trật tự thiên nhiên nhất là giai đoạn năng lực của địa cầu xuống dốc, con người lại cần phải ứng hợp với trật tự thiên nhiên hơn nữa để khỏi phải thêm một bàn tay phá hoại. 
 
Đây quả là định nghĩa cho Y đạo, mà cũng là minh chứng cho ta thấy đạo phải được vãn hồi. 
 
Con người dù có muốn ứng hợp với trật tự thiên nhiên đến đâu chăng nữa, cũng không thể theo dõi thiên nhiên mà bắt chước lấy từ chút, từ chút cho được. Chỉ có một cách duy nhất là con người phải trở lại với chính mình là hoàn toàn ứng hợp nhất. 
 
Nay cả Y đạo lẫn Thiền đạo đều bị thất truyền phá sản, cả hai đều trở thành quá độ, con người biết nương nơi đâu để trở lại với chính mình cho ứng hợp với trật tự thiên nhiên? Trong giai đoạn vật chất năm châu họp chợ, cộng với trật tự thiên nhiên đã xê dịch bất chánh thường, con người đã trở nên hoang mang lạc lõng. Đó là cớ cho phép vô niệm viên thông nương vận mà thành hình vậy.
2. XIN PHÂN BIỆT RÕ Ý NGHĨA Y ĐẠO VÀ THIỀN ĐẠO: 
 
Tất cả chúng sinh cũng như con người đều là tác phẩm của trật tự thiên nhiên, tự nó không thể không ứng hợp với trật tự thiên nhiên. Chỉ vì tâm mê nên dong ruỗi theo đà hướng ngoại, tạo thành thế vận tréo cho cuộc sống, làm cho cả thân lẫn tâm đều bịnh. 
 
Trật tự thiên nhiên là đạo, cuộc sống thuận với trật tự thiên nhiên là cuộc sống có đạo. Nay cuộc sống thuận với trật tự thiên nhiên đã bị đổ vỡ, cả thân tâm đều bị đau khổ bệnh tật: Y khoa chỉ căn cứ và lằn mức chánh điên đảo, cắt khứa lấy một khúc bệnh nhân để chữa trị, và dựng lên danh từ Y khoa. Còn thiền học cứ xoắn ngay căn cội của tâm mê mà lập ra một lối giải thoát. 
 
Còn Y đạo thì gốc nó vốn là đạo giải thoát, nó bao gồm cả pháp giới vật chất, thâm nhập vào nguồn cội tâm linh, cho nên Y khoa chỉ là tận ngọn ngành. 
 
Chữ “Y” tùy thuộc vào đứng riêng một mình hay có chữ ghép mà định nghĩa giá trị khác nhau. Riêng một chữ Y có nghĩa là điều chỉnh sửa trị. 
 
Con người là một tác phẩm bao gồm cả hai hệ thống vật chất và tinh thần, vì thế công việc điều chỉnh hay sửa trị không thể chỉ ở hệ thống vật chất hay tinh thần không mà đủ. Phương chi nhiều cá nhân họp lại thành gia đình, nhiều gia đình họp lại thành xã hội, họp xã hội thành quốc gia, họp quốc gia thành thế giới và thế giới bao gồm cả hữu tình và vô tình, đều hoàn toàn lệ thuộc vào trật tự thiên nhiên. 
 
Cá nhân bịnh thì gia đình bịnh, gia đình bịnh thì xã hội bịnh, xã hội bịnh thì quốc gia bịnh, mỗi quốc gia đều bịnh thì thế giới trở thành sụp đổ đau thương. Vạ lây đến cả hữu tình và vô tình. 
 
Cuộc sống của chúng sinh không thể chỉ nói tâm không mà đủ, mà trong đó gồm cả ăn uống, sinh hoạt, hoàn cảnh, khí hậu, tâm tư, xã hội truyền thống …. Huống chi còn thêm điều kiện vật chất năm châu họp chợ nữa. Do đó Y đạo có một cái nhìn suốt từ bao la vô tận xuyên qua vạn hữu, thâm nhập vào tận thâm tâm của chúng sinh vào đến tế bào siêu nguyên tử vi trùng, để thấy đến toàn bộ hệ thống trật tự, để biết thật rõ khi có bệnh tật, dù bệnh ở thân hay bệnh ở tâm, đều tìm đến tận chỗ kẹt mà gỡ hầu trả về với trật tự thiên nhiên, thỏa mãn với cách nhìn không hai. 
 
Đó là chỗ khác và giống nhau giữa Y Đạo và Thiền Đạo vậy. Lại nữa cách làm việc của Y đạo không phải chỉ nhắm vào mục đích giải thoát con người, mà còn bao gồm cả hữu tình động vật nữa. Và chữa trị nhỏ từ bệnh thân bịnh tâm, bịnh cá nhân, bịnh gia đình, bịnh xã hội, lớn đến quốc gia, thế giới đều không thể lọt qua tầm mắt nó được. Về đặc điểm rất tương đồng với Thiền Đạo là cái chuôi cuộc sống đều ở tâm thể vô niệm viên thông vậy.
3. CÓ THỂ CĂN CỨ VÀO SÁCH NÀY THỰC HÀNH  
MÀ KHỎI CÓ THẦY THUỐC KHÔNG? 
 
Nếu người ở xa hoặc ở những nơi cô tịch có khả năng nghiên cứu kỹ càng làm đúng như đường lối đã vạch sẵn, đừng tự ý thêm bớt, một ngày cũng như một tháng, một tháng cũng như một năm, một năm cũng như suốt đời, đừng có giây phút nào nhàm mỏi thì dù không thầy cũng quyết định thành công.
4. LÀM SAO ĐỂ TỰ MÌNH CÓ THỂ TRẮC NGHIỆM  
TRÌNH ĐỘ TIẾN TRIỂN CỦA TÂM LINH 
 
Muốn tự trắc nghiệm mình trên đường hạ thủ công phu, không cách nào khác hơn phải căn cứ vào vọng tâm mà nghiệm xét. Muốn căn cứ vào vọng tâm thì phải căn cứ vào toàn bộ của nó; và nhận định kỹ trạng thái vọng tâm của ta khi mới bắt đầu hạ thủ công phu thì tự khắc thầy được trình độ dần dà tiến triển, cuộc sống tinh thần càng ngày càng được ổn định hơn, yên vui hơn. Chuyện này không đợi người ngoại cuộc nhận biết mới là chắc, vì việc làm đã có phương pháp, có bản đồ, có kỹ thuật. Cứ y cứ vào đây là thấy ngay; cũng có thể hoặc bản đồng tu bên cạnh thấy được.
5. TẠI SAO PHẢI TUYỆT ĐỐI THÀNH THẬT VỚI CHÍNH MÌNH:
Trên đời này có 3 chuyện khó: Một là biết mình khó; hai là thành thật với chính mình khó; ba là sử dụng được mình khó. Tại sao? Vì nếu không có phương pháp thì dù chính mình cũng không làm sao biết được mình đừng nói chi là người ngoại cuộc. 
 
Kìa ta hãy xem trong giới hữu quyền đã biết bao nhiêu kẻ cái gì ngoài miệng hô đả đảo thì bên trong lại là thứ đang bảo tồn. Cái gì đang hoan nghênh chính là cái đó bị đả đảo. Cái gì nói ra chỉ trích hình như hết sức thành thật thì ta lại phải để ý đề phòng hết sức thành thật của Tào Tháo. Cái đó ở đâu ra? Không phải ở lòng người sao? 
 
Đây là một chuyện cụ thể: một anh chàng người lai, lúc tuổi sắp 30, làm ăn khá giả có hiếp dâm một thiếu nữ 13,14 đến bể âm đạo phải đưa đi nhà thương. Khi bệnh lành thì cô bé đã có thai. Người ấy đến nhà cô bé phạt vạ. Việc vỡ lỡ ai cũng biết. Khi đến tuổi gần già, dòng máu con heo trong anh ta vẫn chưa ngừng nghỉ. Có những lúc giữa đám đông, anh ta đem chuyện hiếp dâm khai ra bằng như một cách hết sức thành thật. 

Nhưng xuyên tầm mắt của người hiểu biết, thì đây chỉ là một thứ ngi trang cho thiên hạ tin mình là chân thật, cải hối ăn năn để có dịp làm nữa. Cá nhân đã thế, tập đoàn chánh trị nào có khác chi, đay là chỗ sâu xa trong ngăn kéo cõi lòng rất khó mà thành thật. Cho nên người xưa nói: “Dù người chí ngu nhưng khi trách người khác thì vẫn tỏ sáng; kẻ tuy rất thông minh mà có ý che đậy mình thì tối”. 
 
Cho nên nếu đem lòng trách người mà trở lại trách mình, dùng lòng bao dung mình mà bao dung người thì không lo không đến được địa vị thánh hiền vậy.
6. LÀM SAO BIẾT MÌNH CHƯA GIẢI THOÁT? 
 
Thực ra thì từ xưa đến nay hết thảy những người xác thân bị trói không ai không biết rằng chính mình đã bị trói, nên không ai không căm hờn oán trách. Đến khi được mở trói cũng không ai không tự biết mình đã được mở trói, nên không ai không tự vui mừng chỉ trừ những người điên. 
 
Trên nguyên tắc hình như ở thân hay ở tâm cũng không thể khác hơn. Nhưng khi vào thực tế thì phần xác thân với phần tâm không hoàn toàn hẳn như thế! Thậm chí có những người đang đau khổ trói buộc mà vẫn hãnh diện tự cho mình là vui là giải thoát. Nên ít nhất cũng phải có cách biết. Nếu khi mình bị đau khổ trói buộc, mà không tự biết tự hay thì khi giải thoát làm sao biết? Nên cần nhất phải ý thức cho được nỗi niềm bẩn chật đau khổ của chính mình thì mới nên nói chuyện giải thoát. 
 
Một con heo được chủ nuôi săn sóc, nâng niu cho ăn uống đầy đủ. Mặc dù mục đích là nuôi cho lớn để bán làm thịt, nhưng việc chưa xảy ra đương sự làm sao biết được, nếu vô ý thức đợi khi việc đã vỡ lỡ thì dù có trời phật hiện trước mắt cũng không phương cứu chữa. 
 
Một con chó, chủ nhà nuôi bắt giữ nhà bỏ đi không được, đói không cho ăn, chỉ xua ra đồng để tìm đến những nơi phóng uế. Con cho không thể nào không oán trách căm hờn. Thế mà có những thứ chó còn hãnh diện lấy đó làm vui! Thế mới biết trói buộc bằng cảnh nghịch mà còn có kẻ không biết, thì trói buộc bằng cảnh thuận lại há dễ gì biết được sao! 
 
Jesus có nói: “Rất vô phúc cho các ngươi, bây giờ các ngươi sướng để rồi các ngươi se khổ!”. 
 
Thế mới biết: vầng trán chưa răn reo sạm nắng, gót chân chưa dẫm nát gai chông, chén cơm chưa đẫm mùi nước mắt, dong sinh mệnh chưa từng ăn sắt cục uống nước đồng sôi; thế là mùi thế sự chưa đã thèm, thì làm sao máu thánh hiền nổi dậy được! 
 
Tuy nhiên đây chỉ mới là phần sâu rộng, trên thực tế trong việc hạ thủ công phu của pháp vô niệm viên thông giải thoát còn có những điểm tế nhị hơn: 
1. Khi hạ thủ công phu đến một lúc biển lòng sóng lặng gió yên, mặt phẳng của chơn tâm được trải ra cho ta trực tiếp với bổn tánh. Đến đây chừng như là xong việc, nhưng không hẳn thế. Có thể vì ta tỉnh táo quá chừng, tiếp xúc thẳng với chơn tâm bổn tánh, để rồi lọt vào kẽ hở có chủ thể có khách thể của nhị nguyên tương đối, chớ không phải kiểu như mình uống nước lạnh nóng tự hay, hoặc cảm giác thanh lương an lạc này kéo dài được độ 5, 10 phút rồi vọng niệm sóng lòng lại tiếp tục phủ lên. Đó là một điểm cho ta biết việc giải thoát chưa xong vậy.
2. Khi hạ thủ công phu tiến được đến mức biển lòng sóng lặng gió yên nhưng không phải trong suốt im lìm như “Muôn dặm không mây muôn dặm trời”, mà là tựa sương mờ che khuất rặng núi, như sáng sớm mặt trời chưa lên, như trăng rằm bị chuyển mưa. Đây là điều thứ hai cho ta biết chưa hoàn toàn giải thoát, hãy còn ở trong chân trời của ông hỗn độn.
3. Mặc dù suốt trong đi đứng nằm ngồi ta thấy hình như thênh thang vô sự, tâm thể phẳng lặng như tờ, nhưng có lúc phát lên cao hứng tựa như kinh Bà La Môn nói: Xưa kia chúng ta ở trên cõi trời sung sướng, nhìn xuống dưới này thấy sáng sáng không biết ra sao, cao hứng muốn xuống coi cho biết. Xuống đây mắc kẹo không về được. Đây là điều thứ ba để biết được ta chưa giải thoát.
4. Hoặc đột ngột bị hoàn cảnh dồn ép vào ngõ bí, không lựa là cảnh thuận hay cảnh nghịch, tinh thần trở nên lạng quạng, nhất thời chỗ đứng bị lung lay. 
 
Lục Tổ Huệ Năng có nói: “Niệm trước mê là chúng sanh, niệm sau ngộ là Phật, mới hồi nãy đắm cảnh là phiền não, bây giờ lìa cảnh là Bồ Đề”. Lại nói: “Các ngươi hãy thận trọng đừng khai tri kiến chúng sanh”. Như thế nghĩa là sao? Nghĩa là bổn tánh vốn không chúng sanh không phật, vốn nó nguyên chất như vậy! Hễ động dụng như chúng sanh, theo tướng theo điên đảo, quy y với xác thân là chúng sanh.

Động dụng theo Phật, theo tánh, theo chánh biến tri, theo hướng nội là thành giải thoát. Cho nên mặc dù khi tâm thể đã được vô niệm cũng phải ý thức hàm dưỡng để đừng khai tri kiến chúng sanh. Tức là trong cuộc sống hằng ngày ta cũng ăn, cũng uống, cũng sinh hoạt, đi đứng nằm ngồi mà lòng vẫn thảnh thơi vô sự, khi việc đến, động dụng sáng suốt phân minh không bị mê lầm, chạy lệch ra ngoài vòng bổn tánh. Đến một mức độ mà Bồ Tát Đại Huệ nói trong kinh Lăng Già: “Kim thế hậu thế tịnh” tức là vĩnh viễn thanh tịnh. Đây là điều thứ tư cho ta biết được giải thoát hay chưa vậy.
7. SAO GỌI LÀ MINH TÂM KIẾN TÁNH? 
 
Tất cả vẫn chứ chẳng qua chỉ là một thứ dụng cụ tạm bợ bất toàn. Điểm quan trọng câu hỏi này ở ý của người muốn hỏi. Sự thật đáng lẽ phải nói tự mình bổn tâm tự kiến bổn tánh mới đủ ý nghĩa. Tại sao? Vì đây là tự mình mình biết, tự mình mình hay, tựa như người uống nước vào trong bụng cảm biết được lạnh nóng, chứ không phải cái biết trong thế hai tướng. Nói minh tâm kiến tánh đây có bao gồm hai ý nghĩa:
1. Tự thấy được vọng của chính mình nó đang lao xao biến hóa.
2. Khi tâm vọng ngừng, biển lòng sóng lặng gió yên, tâm thể vô niệm xuất hiện, mặt thật của tâm hiển bay, tự mình trực nhận lấy mình thầy được, đó là mình được chọn tâm. Thế là cả tâm chơn và tâm vọng của chính ta, ta đều nhận được. Xa hơn nữa suốt đi đứng nằm ngồi khi tâm chưa động dụng thì tâm thể như hư không. Khi có động dụng, nếu động dụng theo điên đảo theo mê, đam chấp theo tướng thì gọi nghịch dụng hay chúng sinh dụng. 

Nếu động dụng theo ngộ, theo chánh biến tri, xứng theo bổ tánh thì gọi là thuận dụng hay Phật dụng. Cho nên trong hằng ngày luôn luôn được rỗng rang rời rảnh động dụng phân minh. Xa hơn nữa, nhờ có minh tâm mà trực nhận được chính thân tâm mình cùng với bao la vô tận vốn nằm tròn trong cái thể tuy không phải một nhưng không thể khác. Vốn nó có cái lẽ đồng nhất tương quan quân bình trật tự biến hóa lưu thông chớ không thể khác. 
 
Nên khi tâm vọng thì thấy tâm với tánh hình như hai, đến khi tâm chơn xuất hiện thì thấy tâm với tánh hình như một. Đến đay trong ta có tất cả, cũng như trong tất cả đều có ta, chỉ có động dụng mê hay động dụng ngộ, mở hiểu biết theo chúng sanh hay mở hiểu biết theo Phật.
 Người xưa muốn nghiệm biết thêm qủa có minh tâm kiến tánh chưa, đại khái có hai cách:
– Hoặc trắc nghiệm bằng cơ phong không bao dung lý trí tức thì hỏi, tức thì đáp, không chấp nhận dần dà suy nghĩ. Nếu còn thời gian suy nghĩ là chưa toàn bích, chưa nhập diệu việc chưa rồi.
– Hoặc nhìn suốt cả động dụng hằng ngày trong đi đứng nằm ngồi để biết được người đó đã thuần thục chưa vậy.
8. ĐẾN MINH TÂM KIẾN TÁNH LÀ XONG CHƯA? 
 
Chúng sinh là sản phẩm của trật tự thiên nhiên mắc liền vào bao la vô tận. Thiên nhiên vốn vô thỉ vô chung không đầu không đuôi không khúc giữa. Con người giải thoát là tự trả mình về với trật tự thiên nhiên, không còn vận dụng theo ý riêng nữa. 
Vậy lấy đâu mà nói là xong hay chưa xong. 
 
Như thế đủ biết nói xong hay chưa xong hoàn toàn nhắm vào tâm mê vọng mà nói. Sau khi tâm mê vọng dứt rồi, từ nay về sau đều thuộc về pháp thị hiện. Hoặc thị hiện thuận hay thị hiện nghịch để thành diệu dụng mà thôi. Phương chi con sư tử một tuổi tuy vẫn đầy đủ gan ruột, tướng tá oai vệ của một con sư tử, nhưng nếu so với con sư tử già nhất định không thể không có chỗ khác.
9. TÂM VỌNG CÓ THỂ TU SAO? 
 
Đúng như thế. Chỉ có nhắm vào tâm vọng mà nói chuyện hạ thủ công phu. Tại sao? 
 
Giả sử chúng sinh không hề quên lãng bổn tánh thì tâm vọng không có. Đã không có tâm vọng thì làm gì có chơn tâm hay không tâm chơn, và tâm với tánh là hai hay một cũng không còn thành vấn đề, vậy lấy đâu để tu? Nhưng khi đã có tâm vọng mới có chuyện tâm chơn, và bổn tánh bị tâm vọng che khuất bỏ quên đi tựa như cụm mây nhỏ che khuất mặt trời, bề trên vẫn sáng, bề dưới tối. Cho nên không nhắm vào tâm vọng để tu đều là pháp hướng ngoại, không phải con đường thẳng tắt nữa. 
 
Phải biết rằng tâm vọng hay tâm chơn chẳng qua là một pháp trong vạn pháp của bổn tánh, chỉ vì phát triển có biến hóa, có mất chánh thường hay không mà thôi. 
 
Một chúng sinh khi bị đau khổ dày vò, tự mình đã cảm thấy bất ổn nên mới nói chuyện chọn đường tìm pháp để tu. Chính hồi ấy cũng là một thứ tâm vọng, nhưng là tâm vọng đẵ bắt đầu chuyển hướng. Kinh Lăng Nghiêm có nói: “Ngay từ hồi tính trừ vọng chính hồi đó là vọng, đến bao giờ tâm cuồng vọng ngừng dứt tức là giải thoát”. Như thế không nhắm vào tâm vọng mà gỡ, vậy dựa vào đâu để giải thoát!
10. LÀM SAO BIẾT CHẮC CON ĐƯỜNG MÌNH ĐI LÀ THẲNG TẮT CHÍNH XÁC BẢO ĐẢM? 
 
Trong kinh Lăng Nghiêm có một ví dụ: Phật dùng một cái khăn thắt lại thành nhiều gút, rồi nắm hai mối lại mà bảo ông A Nan: Nếu muốn gỡ phải làm sao? Ngài A Nan thưa: phải bắt từ ngoài mà gỡ lần trở vào đến bao giờ hết gút. Phật bảo đúng thế! Đúng thế! Tâm đã vọng tạo thành trói buộc thì không thể không căn cứ vào tâm vọng mà mở! Như thế không phải là việc là chính xác sao! Chỉ có cách mở có phương pháp hay kỹ thuật hay không mà thôi. Nếu có phương pháp có kỹ thuật thì kết quả sẽ được nhanh chóng, có gì phải thắc mắc! 
 
Khi ta đã ý thức được rằng vì mê nên cấu tạo thành khối tâm vọng có thể tạm chia làm 4 phần như trước kia đã nói, nó bao hàm cả không gian và thời gian tâm lý. Nay quay hẳn trở vào, căn cứ vào tâm vọng mà gỡ, áp dụng thân giác và nghi tình làm lợi khí thì sao mà không thẳng tắt chính xác được! Phương chi người xưa có nói khi lội trở ra thì biển hận muôn trùng, nhưng nếu quay hẳn trở vào thì lập tức thấy bở mé. Như thế còn gì nữa mà nghi ngờ chứ! 
 
Thật không ai ngờ sinh thể của một con đỉa với sinh thể của một khối vọng tâm giống nhau. Con đỉa vì tế bào ngang, và nơi sinh sống của nó ở dưới nước. Nếu đem cắt ra từng đọan cho vào đất ẩm ướt chôn dấu kỹ lưỡng. Ít lâu sau đào lên, mỗi một khúc kéo dài ra thành một con đỉa để ngọ ngoạy chen lấn lẫn nhau. Nhưng nếu người ta rắn mắt bắt nó lộn ngược bề trong ra ngoài liền tức khắc chết.

Thật vậy, khối vọng tâm muôn đời nếu ta chống lại nó bằng cách hướng ngoại hay phân tán, nó sẽ đứt đoạn từng khúc mà biến thành linh tinh để khuấy rối chúng ta mà thiền học gọi là 50 ma tướng. Nhưng nếu ta quay hẳn trở vào mà hạ thủ công phu, thì chúng nó hoàn toàn bị phân hóa mà ta rất dễ bề giải tán. Đây quả là một định tắc hoàn toàn chính xác.
11. THÂN GIÁC VÀ NGHI TÌNH CÓ GÌ BÍ MẬT ĐÂU MÀ SAO LẠI CÓ KHẢ NĂNG TIÊU HÓA VỌNG NIỆM HIỆU LỰC ĐẾN THẾ? 
 
Mục đích của hạ thủ công phu tu hành là nhắm vào tiêu hóa tận nguồn của khối vọng tâm muôn thuở. Tâm sở dĩ vọng là tại đắm chắp lấy thân nên mới có chuyện dựng đứng cái tôi. Nay muốn phá trừ tâm vọng, chỗ bí yếu duy nhất là làm cách nào để có thể tách rời sự đắm chấp ấy, để tâm với thân có thể là hai cũng có thể là một. 
 
Ý thức về thân giác và nghi tình là vạch một luông tách bạch rẽ đôi giữa thân và tâm vọng. Bởi vậy nếu một người tu mà ý thức sâu xa chính chắn kỹ lưỡng về thân giác và nghi tình mà cách thường trực nằm sâu tận đáy tâm não sẵn sàng, thì đối với vấn đề rẽ đôi giữa thân và tâm vọng của người đó khẳng định sẽ rất dễ dàng, hễ động dụng là thành công. 
 
Người xưa có nói: “Không biết bổn tâm học pháp vô ích”, nhưng ngày nay lại có người nói: “Không biết tự thân học đạo vô ích” là tại mẹo này! 
 
Bởi vì khối tâm vọng lấy đam mê theo xác thân để tồn tại. Nay giữa thân với tâm vọng bị tách làm đôi, tự nhiên muôn niệm của tâm vọng đều lập tức bị tiêu hóa. Phương chi chỉ một phần thân giác thôi, cũng đã đủ là một thết mẹo tâm lý, để tách rời thân và tâm vọng, mà đằng này lại còn bồi thêm nghi tình, giống như một con đường có lú lấp vừa mới được vạch xong, lại cho thêm một ban đi tép dẹp thúc đẩy sâu vào cho con đường rẻ thêm rộng rãi thênh thang. Do đo khối vọng tâm bị lộn ruột vỡ toang, giống như đĩa bị lộn bề trái ra ngoài tự nó phải chết mất. 
 
Qủa thật! quả thật! thân giác và nghi tình là một diệu dược rất nhiệm mầu, một kỹ thuật siêu đẳng để tách đôi thân và tâm vọng ngay hiện tại một cách nhẹ nhàng, chỉ cần biết áp dụng
12. KINH NÓI: “BỔN TÁNH CHÚNG SANH VỖN NGẬM CHỨA VẠN PHÁP (BAO GỔM CẢ HỮU TÌNH VÀ VÔ TÌNH) NÊN GỌI LÀ HÀM TÀNG THỨC …. THẾ THÌ CÁI CHỨA TRONG LÒNG CỦA CHÚNG SANH LÀ CŨNG TỰ NHIÊN, THẾ SAO PHẢI CÓ CHUYỆN ĐIỀU CHỈNH LẠI? 
 
Xưa Huệ Minh đuổi kịp Lục Tổ Huệ Năng và thỉnh pháp. Tại sao Lục Tổ Huệ Năng không giải thích mà chỉ giảng vỏn vẹn một câu hỏi: “Vậy ngay khi chẳng nghĩ thiện chẳng nghĩ ác, chính hồi đó cái gì là bổn lai diện mục của thượng tọa”. Như thế không phải là bổn tánh của chúng sanh vốn tự thanh tịnh, vốn có khả năng sanh ra vạn pháp sao? 
 
Khi chưa động dụng thì tâm với tánh vốn không hình tướng, vốn không thể phân cũng không thể hợp. Nhưng khi đã động dụng tất có động dụng mê, hoặc động dụng ngộ. Động dụng mê là chúng sanh dụng, động dụng ngộ là xứng tánh dụng. Xứng tánh dụng thì rỗng rang, rời rảnh tỉnh táo thường xuyên. Xứng thân dụng thì chèn ép, ồn ào, lao xao, lầm lẫn, khổ đau, phiền lụy. Như thế há không phải tuy vẫn ngậm chứa vạn pháp mà đã nghịch dụng và đã biến dạng rồi đó sao? Thế tuy là một, nhưng tướng dụng lại khác xa. 
 
Nên mới có chuyển thức cho thành trí, chuyển thức hàm tàng thành trí đại viên cảnh. Chuyển cái tâm đam chấp như máy chụp hình trở thành cái tâm giải thoát như gương sáng cho đến chỗ chuyển và tướng chuyển cũng không còn nữa. Thế thì Phật không khác gì chúng sanh mà vẫn khác xa vậy.
13. NGƯỜI TA CÓ NÊN XEM THƯỜNG XÁC THÂN KHÔNG? 
 
Bất kỳ một pháp nào trên đời này chính nó vốn sẵn có một tầm vóc giá trị đúng y như nó, không có vấn đề tầm thường hay không tầm thường. Sở dĩ có xem thường hay không xem thường là vì chính con người không thật hiểu nó mà hóa ra có chủ trương lệch lạc. 
Thử hỏi nếu không có thân thì còn tu cái gì nữa? Từ xưa tới nay có ai nói hư không tu hay không? Hay nói anh xoài anh ổi tu? Giả thử không có thân, lấy đâu nói vọng tâm chơn, không có tướng lấy đâu nói một là tất cả, tất cả là một, một tức tất cả, tất cả tức một, trên đầu kim có đủ tam thiên đại thiên thế giới. 
 
Khi chưa có tướng lấy đâu để có mê và ngộ, có thời gian và không gian … 
 
Khi chưa có tôi, có cái biết của tôi thì mọi vật ra sao vốn không thành vấn đề. Khi đã có tôi, có cái biết của tôi thì muôn vạn vấn đề đổ xô kéo tới. Quả thật tôi là trung tâm vấn đề. Đã có tôi mới có mê, có mê mới có thời gian không gian, có mê có thời gian mới nói có tu có ngộ, vậy ai là người dám bảo trên đường đời, trong dòng thế tục, xác thân này đối với người tu không phải con long mã, để đưa đường cho Tam Tạng đi thỉnh kinh?! Hay chiếc thuyền con để cho ta vượt dòng sóng gió?! Mặc dù mới bữa trước chính ta dùng nó làm hệ lụy cho ta? Thế mới biết đi chưa đến tây phương mà định bỏ đói con long mã không cho ăn, không cho tắm, chưa qua bờ bên kia mà đã nghĩ tới chuyện hủy bỏ chiếc thuyền, thì nào có khác chi kẻ đã vượt qua bờ bên kia rồi ngồi đó tiếc rẻ chiếc thuyền không muốn lên bờ giải thoát!.
14. NGƯỜI TA NÓI NGUỒN SỐNG CON NGƯỜI HOÀN TOÀN Ở ÓC LÝ LUẬN NÀY CÓ ĐÚNG KHÔNG? 
 
Nếu dựa vào chặt đứt đầu không còn sống để kết luận rằng mạch sống hoàn toàn ở đầu thì ta khỏi cần biện minh; nhưng giả sử có người nói: “Mạch sống của con người hoàn toàn ở tim là chết liền.” Nói như thế thì sao? Thế mới biết: Nếu dựa vào những điều kiện kiểm chứng theo kiểu đó thật chẳng khác nào lấy đất sét đắp bít hai con mắt lại rồi bảo: trời đất chỉ là một khối tối thui, thì chắc là những người xung quanh thương hại mà không buồn cãi, chớ nói hay không riêng gì mạch sống con người mà tất cả chỉ là không ở không chẳng ở; và tất cả vạn hữu chẳng qua chỉ là những tia chớp nhỏ bám vào tia chớp to, xen nhau xuất hiện là thành một chuỗi dài vô tận không đầu không đuôi, không xưa, không nay, không thêm không bớt, không lớn không nhỏ, có ngừng lại khoảng nào đâu, để ta dựa vào đó mà nói mạch sống ở hay không ở! 

Tuy nhiên nếu nheo con mắt một cái, nhìn suốt cả bao la chỉ là một nguyên động lực của các làn sóng hội tụ phản xạ tận tự bao la xuyên qua vạn hữu đi vào khắp tất cả chúng sinh, mắc liền vào tạng phủ theo thế hết sức co vào rổi lại giãn ra, làm thành một định luật bất cứ một vật gì, dù khoáng thực hay động, hễ có nhỏ có lớn thì bên trong hay tạng phủ phải có trước, kế đó là phần ngoài hay xác thân có sau, mà đầu thuộc về phần xác thân, tim thuộc về phần tạng phủ, và trong đó ngoài phần vật chất dường như còn có một cái gì … Nếu ai là người đã từng đi vào cõi định, thì đều biết rõ điều này, mà đây là mục đích để kiến thiết lại con người, chớ không phải diễn đàn để cãi lý cãi lẽ.
15. GIẢ SỬ TRONG ĐI ĐỨNG NẰM NGỒI BIẾT ĐƯỢC VỌNG NIỆM NỔI LÊN CÓ THỂ ÁP DỤNG THÂN GIÁC VÀ NGHI TÌNH ĐỂ PHÁ ĐƯỢC KHÔNG? 
  
Thực ra nếu một người biết áp dụng đến mức độ ấy chắc khó mà có vọng niệm nổi lên theo kiểu đó. Tại sao? Vì người đó it nhất vấn đề thân giác và nghi tình phải được ăn sâu vào tận nguồn tâm não, mà khi hai vấn đề đó đã được bắt rễ tận nguồn tâm não rồi thì vấn đề thân với tâm vọng mắc liền nhau đến nỗi không còn tách rời ra được sẽ không còn nữa thì làm sao có những vọng niệm linh tinh cho được.
16. KHI ÁP DỤNG THẦN GIÁC VÀ NGHI TÌNH CÓ HIỆU QỦA BÈN XẢY RA TRẠNG THÁI YÊN ỔN, NHẸ NHÀNG, THANH LƯƠNG AN LẠC: 
  
Tại sao? Đây là bằng cớ cụ thể để minh chứng cho sự dính mắc một cách keo sơn gắn bó của vọng tâm với cơ thể đã được buông lơi để đi đến có thể tách rời nhau cái thể hình như hai mà cũng hình như một.
17. TU PHÉP VÔ NIỆM VIÊN THÔNG NÀY CÓ THỂ SỐNG LÂU ĐƯỢC KHÔNG? 
 
Nếu chỉ biết nhắm vào tâm thể vô niệm viên thông giải thoát là mục đích thì người đó sẽ được hưởng hết tuổi trời. Còn nếu lấy việc đi tìm cái sống lâu làm mục đích thì dù cho người đó có sống lâu 800 tuổi bất quá chỉ là thằng già chết non hay con qủy giữ thây ma mà thôi.
18. PHÉP NÀY ĐỐI VỚI NGƯỜI GIÀ NGƯỜI TRẺ, LỢI ÍCH HƠN KÉM THẾ NÀO? 
 
Thực ra nếu triệt ngộ bổn tánh thì già tre như nhau, nếu chưa triệt ngộ bổn tánh thì tuổi trẻ còn đủ sức khỏe tinh tiến nhưng cũng kèm theo đó máu nóng vẫn còn cuộn sôi. Trái lại tuổi già cơ thể suy nhược, tinh tiến không thể như tuổi trẻ, nhưng sự đời có thể có phần nguội lạnh hơn. Nên đồng đi đỗ lại, mỗi bên đều có chỗ ưu khuyết khác nhau; nhưng một lợi một hại cũng vẫn chừng ấy. 
 
Tuy vậy nếu tuổi trẻ mà có chí quyết định xuất trần, nghiên cứu phương pháp kỹ thuật phân minh rồi mới quyết định hạ thủ công phu thì có thể vượt bực mà thành công vậy.
19. TRONG THỜI GIAN HẠ THỦ CÔNG PHU CÓ NÊN ĐỌC SÁCH NHIỀU HAY KHÔNG? 
 
Khi khối vọng tâm chưa được giải quyết dứt khoát, thì dù ta có muốn nhớ cho thật nhiều cũng khó mà nhớ có mạch lạc, hoặc tiếp xúc trình bày một câu chuyện suốt mấy tiếng đồng hồ hay mấy ngày liên tiếp cũng khó mà giữ cho đầu đuôi ăn nhau, trước sau mạch lạc. Hoặc muốn gạn lọc phê phán một vấn đề nào người ta đưa ra cũng khó bề đen trắng phân minh. Vì thế nên khi quyết định hạ thủ công phu, nếu còn chật vật để tâm rong ruỗi tìm tòi, nghiên cứu chạy theo bên ngoài thì càng làm cho tâm vọng khó bề ổn định.

Nên khi đã quyết định hạ thủ công phu là phải ngừng hẳn mọi sự săn đuổi, thì sau khi vọng tâm đã được ổn định, có muốn học hỏi điều gì mới có đủ khả năng phán đoán chọn lọc. Đến chừng đó không cần phải nhớ thật nhiều hay quên hết, mà khi việc đến đâu đó sẽ phân minh, việc qua rồi không chứ giữ, dù mấy tiếng đồng hồ hay mấy ngày, hay mãn đời vẫn một niệm như một. Như thế chẳng là lý thú hơn sao?!
20. KHÔNG KỂ LÀ NGƯỜI TÔN GIÁO NÀO, TẠI SAO CÓ RẤT NHIỀU NGƯỜI TU THUỘC HÀNG TRÍ THỨC SUỐT MẤY CHỤC NĂM MÀ NGƯỜI NAM VẪN BỊ BỆNH MỘNG TINH THOÁT TINH, NGƯỜI NỮ VẪN BỊ BỆNH UNG THƯ TỬ CUNG? 
 
Trước kia tôi đã từng nói: Chữa bệnh tâm cũng như chữa bịnh thân, nếu không biết rõ căn cội của bịnh, cũng như pháp chữa không có kỹ thuật lẽ tất nhiên không thể không hên xui may rủi. Đây là một bằng chứng cụ thể cho thấy các vị tu sĩ này dù họ là ông cha, ông cố, giáo hoàng, hòa thượng, thượng tọa hay sư bà, sư trưởng chi chi ấy, đối với căn bịnh nơi tâm của họ, họ vẫn mù tịt, vấn đề họ hoàn toàn không nắm giữ mặc dù họ có thiện chí rất cao, nhưng đáng tiếc thay thiện chí ấy chỉ đặt trọn vào tín ngưỡng hay hên xui may rủi, chớ không có nghĩa phương pháp hay kỹ thuật trong một tinh thần gạn lọc hiểu biết. 
 
Phương chi bịnh thoát tinh và bịnh ung thư tử cung là hai thứ bịnh mắc liền giữa thân và tâm. Nếu không có phương pháp kỹ thuật tốt để tách rời vọng tâm với thân thì không thể nào không phát sinh cho được! Theo tôi, nếu là người đã trót có bịnh nặng rồi mới áp dụng phương pháp tu thì không thành vấn đề, vì không phải thuộc phạm vi câu hỏi này. Nhưng nếu là người chưa có bệnh đi tu, suốt mấy chục năm chín chắn mà còn mang lấy hai chứng bệnh này, thì đây quả là một chữ ký để bảo đảm cho ta thấy rằng không ngoài tinh thần thiếu hiểu biết, mà chỉ là tôn thờ tín ngưỡng mà thôi vậy. 
 
Nếu phân ra mà nói, thì bịnh thoát tinh có trường hợp ngủ có mơ mà thoát hay không mơ mà thoát, hoặc không ngủ ngay lúc thức cũng bị thoát. Có mơ mà thoát là bịnh hoàn toàn ở tâm thức, không mơ mà thoát là bịnh có liên đới đến ăn uống sinh hoạt. Mà như thế là bộ tiêu hóa đã bị mất quân bình phần nào do thiếu nhiệt lực. Nếu không phải trong lúc ngủ mà thoát là thuộc vào loại hoạt tinh. Trường hợp này nếu không phải bởi tâm cuồng loạn về tư dâm trải qua một thời gian từ bịnh mộng tinh đi đến không mộng mà thoát rồi mới đến hoạt tinh thì cũng phải kèm theo yếu tố ăn uống sinh hoạt chớ không thể khác. 
 
Về bệnh ung thư tử cung, người ta rất lạ lùng là đa số bệnh ung thư âm đạo của đàn bà đều thuộc trường hợp mang tính chất lạm dụng sinh lý, vì bị cọ xát nhiều cho nên kỹ nữ dễ bịnh nặng hơn. Còn bịnh ung thư ở lòng tử cung đa số xảy ra từ nữ tu sĩ hay sư nữ độc thân đến tuổi già, kỳ thực chẳng có gì lấy làm lạ. Tất cả đều bởi tác dụng tâm lý và thần kinh hệ, chịu sự kích thích trường lưu mà ra vậy. Chỉ có khác là kích thích bằng hóa học hay lý học, bằng vật chất hay bằng tinh thần mà thôi. 
 
Như thế đủ thấy muốn thoát trần, vượt vòng tục lụy mà thiếu tinh thần y đạo, và phương pháp kỹ thuật hạ thủ công phu để phân hoá tách rời vọng tậm với thân, là không thể được vậy.
21. TU PHÁP VÔ NIỆM VIÊN THÔNG NÀY CÓ ĐƯỢC VÃNG SANH VỀ TỊNH ĐỘ HAY KHÔNG? 
 
Nếu câu nói: “ Tự tánh là nghĩa A DI ĐÀ, duy tâm là Tịnh Độ. Muốn thanh tịnh quốc độ trước phải thanh tịnh cái tâm, tùy theo tâm được thanh tịnh thì quốc độ được thanh tịnh là nghĩa cứu cánh”, thì tu pháp này quyết định sẽ được tịnh độ. 
 
Nếu đặt vấn đề tịnh độ ngoài tâm theo chiều hướng ngoại tít tận trời tây, thì pháp vô niệm viên thông này thuộc về pháp hướng nội so với tinh thần hướng ngoại, hai thứ trái ngược nhau, làm sao họp lại mà cùng bàn được! Vẫn biết rằng đạo vốn không có gần có xa, nhưng hướng nội và hướng ngoại hai thứ muôn trùng khác biệt.
22. PHÁP VÔ NIỆM VIÊN THÔNG VỚI PHÁP TỊNH ĐỘ, ĐƯỜNG NÀO THẲNG TẮT HƠN? 
 
Gốc bệnh ở chỗ nào thì nhắm vào đấy mà chữa, bịnh ở tại tâm quay vào tâm mà chữa. Đây là một định tắc đã nói từ trước, giờ đây nếu so sánh để biết thẳng tắt hay không thẳng tắt; Vậy thử hỏi bịnh ở tại tâm mà không quay hẳn theo chiều hướng nội để chữa, mà quay ra theo chiều hướng ngoại qua mười muôn ức cõi hướng mặt trời để tìm kết quả. Sự thật hai việc là thế, còn thẳng tắt hay không thẳng tắt xin nhường cho diễn đàn chung nhận xét.
23. TÔNG TỊNH ĐỘ NÓI: “NIỆM PHẬT NHỚ PHẬT TỰ ĐƯỢC TÂM KHAI” CÓ ĐÚNG KHÔNG? 
 
Cũng đúng mà cũng không đúng. Tại sao? Nếu trong lúc nhớ Phật tưởng Phật mà được tâm khai, thì tâm nào khai … mà tâm nào nhớ Phật tưởng Phật! Không lẽ vừa khép vừa mở một lúc. Còn nói niệm bằng miệng, lần chuỗi để kiếm cái tâm khai thì lại càng khép kín hơn, nên tôi nói không đúng. Nhưng nếu bởi đem hết tâm tư châm bẩm tưởng Phật nhớ Phật, sự đời không hề có đeo cứng một chỗ lâu mà không có biến hóa, đến khi quá sức mệt mỏi, tâm bỗng dưng biến hóa, cả chúng sanh và Phật cũng không còn nhớ tưởng được nữa. Đến chỗ đó cơ tâm khai xuất hiện, nên tôi nói có thể đúng! Nhưng phải đến đúng trình độ đó mới được. 
 
Phương chi nhớ với không nhớ là hai, tưởng với không tưởng là hai. Pháp Phật là pháp không hai thì làm sao có nhớ với không nhớ, tưởng với không tưởng mà được. Theo đây ta có thể nghiệm biết chủ trương niệm Phật, nhớ Phật tự được tâm khai là một chủ trương không cần phương pháp kỹ thuật hay chước mẹo, mà chỉ giáp mặt đối đầu với vọng niệm bằng cách dùng sức mạnh để thắng địch mà thôi vậy.
24. VỚI LÝ LUẬN ĐỚI NGHIỆP VÃNG SANH, ÔNG NGHĨ THẾ NÀO? 
 
Nếu có uế độn thì có tịnh độ là lẽ tất nhiên. Do đó uế độ là hậu qủa của nghiệp nhiễm, thì tịnh độ cũng phải là hậu quả của nghiệp tịnh. Cả nghiệp nhiễm và nghiệp tịnh cũng như cõi uế và cõi tịnh đều thuộc lãnh vực nghiệp cả. Người có đạo giải thoát phải là người không nghiệp, cho nên đới nghiệp có được vãng sanh hay không chưa phải là vấn đề quan trọng, mà chỗ quan trọng là ở chỗ có giải thoát hay không mà thôi vậy.
25. NIỆM PHẬT BẲNG MIỆNG RA TIẾNG, LẦN CHUỖI, VỚI MẶC NIỆM CỦA PHÁP NÀY KHÁC NHAU THẾ NÀO?
Niệm bằng miệng ra tiếng, lần chuỗi, trong đó hàm ẩn hai ý nghĩa: một là tập trung tinh thần theo chiều hướng ngoại, hai là đồng thời bài tiết bớt những hơi độc do ăn uống sinh hoạt, do tâm tư tạo nên, để đuổi ra khỏi cơ thể đến mức bình thường của một con người hầu cho khí độc này đừng xung động lên đầu, kích thích thần kinh các bộ phận ở thân cũng như nội tạng, thúc đẩy ta rơi vào con đường của các nghiệp ác. 
 
Một người khi chưa tu mà giấc ngủ nặng nề trằn trọc, ác mộng, diễm mộng không yên, đó là triệu chứng của chất độc vừa kể trên nó kích thích. Sau khi siêng tu pháp môn này, it lâu sẽ thấy giấc ngủ yên lành, và thỉnh thoảng nằm mơ trong lĩnh vực mình tu. Đó là bẳng cớ hơi độc ấy đã bài tiết được phần nào. Đến khi tu thật lâu, thật tinh tiến, trong giấc ngủ đến chỗ không còn mơ nữa. Nhưng nếu không phải là giấc ngủ tỉnh táo thì trái lại đó là một bằng cớ ta đã lạm dụng pháp này làm cho nhiệt lực trong cơ thể xuống dưới mức bình thường, để rơi vào bầu trời của ông hỗn độn vô ký, mặc dù tạm thời cơ thể trấn an sức thúc đẩy của người khác. 
 
Còn pháp mặc niệm của vô niệm viên thông là thiện tịnh song tu, là một phương pháp, một kỹ thuật đi đến kết quả tâm thể vô niệm viên thông giải thoát, trong đó bao hàm ý nghĩa hoàn toàn hướng nội đóng bít các cửa, nuôi dưỡng năng lực, biến hóa chỗ của vọng tâm cho trở thành vô thượng bồ đề, hai pháp khác nhau một trời một vực.
26. NGƯỜI TA NÓI KIẾN TÁNH THÀNH PHẬT LÀ THUỘC VỀ PHẬT PHÁP TĂNG, KHÁC VỚI PHẬT BÁO THÂN XA LẮM, LÀM SAO SÁNH KỊP, NGHĨA NÀY THẾ NÀO? 
 
Ta hãy nghe Lục Tổ Huệ Năng nói về ba thân: 
 
Pháp thân là bổn tánh. Báo thân là trí tuệ giác ngộ thấy được bổn tánh. Hóa thân là y cứ trên pháp thân, báo thân mà hiển hạnh. Vậy thử hỏi có chúng sanh nào thành Phật báo thân mà bỏ qua pháp thân được không? Phương chi pháp báo hóa thân là một cách nói khác của thể tướng mà không đến thể và dụng được không? Như thế đủ biết, lìa bổn tánh đi tìm Phật báo thân là làm chuyện leo cây tìm cá vậy.
27. AI CŨNG NÓI TU THIỀN KHÓ LẮM KHÔNG CHẮC ĂN! NÊN THEO TỊNH ĐỘ CHO DỄ, NGHĨA ĐÓ THẾ NÀO? 
 
Thế nào là dễ? Thế nào là khó? Nghĩa nói dễ đay có phải là ỷ lại vào nghe trong kinh nói về nguyện lực của phật A DI ĐÀ rồi mỗi ngày niệm hơ hà mấy câu bỏ đi nằm nghỉ. Đến khi lâm chung bề nào cũng có Phật đến rước, có phải thế không? Này, ta hãy nghe trong kinh nói: Này Xá Lợi Phất, không thể dùng thiện căn phước đức nhân duyên nhỏ mà sanh về cõi nước đó. Nếu có thiện nam tín nữ nào nghe nói về Phật A DI ĐÀ bèn chập trì danh hiệu, hoặc một ngày, hai ngày, ba ngày … cho đến bảy ngày, một lòng không loạn thì người này khi sắp mạng chung có Phật A DI ĐÀ cùng các Thánh chúng hiện ở trước. Người này khi lâm chung nếu tâm không điên đảo là được vãng sanh về nước Cực Lạc … Gìơ đây ta hãy xét: 
 
Đã nói không được dùng thiện căn phước đức nhân duyên nhỏ, đó là yếu tố thứ nhất. Nói chấp trì danh hiệu. “Chấp” nghĩa là cầm, “Trì” nghĩa là nắm. Nghĩa là giữ chặt lấy danh hiệu, thế tức là nắm. Niệm là thuộc về tâm. Tụng là thuộc về miệng. Đây là yếu tố thứ hai.
 
Lại nói: Tâm chẳng điên đảo thì mới được vãng sinh. Vậy thế nào là điên đảo? Là hướng ngoại. Mà đã là hướng ngoại thì làm sao tâm chẳng điên đảo! Đây là yếu tố thứ ba. 
 
Vậy thử hỏi tại sao tiền thân của Phật A DI ĐÀ là tỳ kheo Pháp Tạng và tại sao Phật A DI ĐÀ còn gọi là “pháp giới tàng thân A DI ĐÀ PHẬT”. Như thế là lìa bổn tánh để tìm Phật A DI ĐÀ, theo pháp tụng niệm của đà hướng ngoại có thể dễ dàng gặp Phật A DI ĐÀ không? Phương chi, nếu nói tu thiền là khó thì căn cứ vào đâu? Quả thật, quả thật! Nếu không có phương pháp, không có kỹ thuật thì có thể khó như lên trời. Nếu có phương pháp có kỹ thuật, thì biết đâu sẽ dễ như hằng ngày ăn cơm bữa! Cho nên nếu người có nghiên cứu kỹ từ đầu quyển sách này, thì sẽ không còn nghi ngờ nói khó nói dễ nữa. 
 
Nên kinh có nói “Y theo văn chữ mà giải nghĩa thì Phật ba đời cũng chết hết. Nếu lìa kinh một chữ là bị lọt vào đường tà” là nghĩa thế nào?
28. KINH NÓI: “TU PHẢI TRẢI QUA BA A TĂNG TỲ KIẾP” SO VỚI PHÁP VÔ NIỆM VIÊN THÔNG Ý NGHĨA RA SAO? 
 
Mỗi khi chúng ta lật kinh Phật ra đều bắt gặp bài kệ mà câu đầu là “Vô thượng thậm thâm vi diệu pháp”. Chớ không thấy nói vô thượng thậm thâm vi diệu lý. Như thế nghĩa là sao? 
 
Có phải Phật chứng lý rồi lập pháp để cho chúng sanh nương pháp mà ngộ lý không? tại sao Phật bảo không một chúng sinh nào mà không tu? Nếu mỗi một chúng sanh đều phải tu, đang tu, và đã tu, vậy thử hỏi từ khi hiện tướng thành đạo là bao nhiêu kiếp? Nói “A tăng kỳ” nghĩa là vô lượng, Vô lượng nghĩa là không thể tính đếm. Mà đã không thể tính đếm thì một cái không thể tính đếm với ba cái không thể tính đếm khách nhau thế nào? 

Như thế phải chăng nghĩa tu phải trải qua ba a tăng kỳ kiếp chỉ có giá trị trong phạm vi của người vận dụng pháp chớ không có giải nghĩa y theo văn chữ mà tin. Phương chi chíngh miệng Phật còn nói: muốn xét một việc gì đã qua, dù việc ấy ở trong kinh Phật cũng phải hội đủ năm điều kiện nhận xét mới không lầm, tức là nói cái gì? Nói với ai? Nói ở đâu? Nói hồi nào? Ai nói  (What, Whom, Where, When, Who). 
 
Nếu không như thế không có giá trị phán đoán. Hơn nữa nếy y vào nghĩa Phật nói, không chúng sanh nào mà không tu, thì nghĩa chữ tu này không phải chỉ để ám chỉ riêng cho một số người tu ở trong chùa mà là tất cả bò bay máy cựa, đồ tể, sát sanh, sát nhân, giặc cướp … đều tu. Thế thì nghĩa chữ tu này không thể hiểu khác hơn là nói thấy điều lợi ích trước mắt cho nó, nó nhảy bổ vào. 

Khi thấy tai hại nó lại dang ra, cứ kinh nghiệm chuyền níu thế mãi đến bao giờ đục nước cùng đường mới bắt đầu rơi vào chánh vị của chữ tu. Và từ rơi vào chánh vị của chữ tu mà nếu chưa phải hoàn toàn đắc pháp, thì từ đây cho đến khi nhập vào vô thượng chánh giác lại phải trải qua bao nhiêu kiếp nữa? 
 
Như thế câu nói ba a tăng kỳ kiếp này qủa là một ẩn ngữ bao hàm hai nghĩa: một là đa số người tu sự thật chẳng có tu gì hết; hai là nếu theo pháp ngoài tâm hay theo xúc động thì đều là làm việc phí công vô ích hết cả.
29. THẾ NÀO LÀ NGẦM TRUYỀN PHÂN PHÓ? 
 
Trên ngôn ngữ của con người thường có hai cách nói: thứ nhất nói bằng cách giải thích kỹ lưỡng, cắt nghĩa rõ ràng làm cho người nghe chừng như không cần dùng lực cũng vẫn hiểu được vấn đề. Nhưng thực ra không có chút công cán gì cho chính mình cả, mà toàn là hiểu theo miệng người khác mà thôi. Cho nên chỉ có giá trị tài bồi thêm sự đầu tư kiến thức của bộ óc mà không thể nào có một tác động cực kỳ mạnh mẽ ảnh hưởng vào toàn thân, để chuyển hóa toàn triệt con người. Đó là ngôn ngữ của pháp thế gian, của người ngày nay mà nhất là của Tây phương. 
 
Hai là cách nói không vận dụng cắt nghĩa và giải thích mà có khi chỉ là những câu hỏi hay những câu nói, để làm bít lối cùng đường cho tinh thần sáng tác tự tuệ giác của người đương cơ bùng dậy, ảnh hưởng chấn động toàn thân, chuyên hóa toàn triệt con người để thay đổi toàn hệ cuộc sống. 
Thí dụ như kinh Pháp Bảo Đàn chép: Lục Tổ hỏi Huệ Minh: “Vậy chớ ngay khi chẳng nghĩ thiện nghĩ ác, chính hồi ấy cái gì là bổn lai diện mục của thượng tọa?” hoặc Lục Tổ hỏi đồ đệ: “Ta có một vật không đầu không đuôi, không xưa không nay, không tên không chữ, đố các người biết vật gì?” Thần hội nhảy ra nói: “Đó là nguồn cội của chư Phật, là tánh Phật của Thần Hội”. 

Liền bị Lục Tổ trách: “Ta đã nói với nhà ngươi không tên không chữ mà còn đặt tên là nguồn cội, là tánh phật, không khéo rồi sẽ là tông đồ cho bọn tri giải”. Vì thế mà Thần Hội bị hố, mà cũng vì thế mà càng ngoe của lý trí trong kẻ đương cơ bị thung mất. Từ đó Thần Hội mới được kể là một thiền sư chân chính trên con đường giải thoát. Đó là ngôn ngữ của tâm học, của thiền đạo, của giải thoát, của siêu lý, của nghịch lý, của nhất thừa tôn giáo, của giáo ngoại biệt truyền. 

Chỉ có thứ ngôn ngữ này mới đủ sức mạnh để nhất thời làm vỡ toang khối vọng tâm muôn thuở. Nếu chưa biết được lý này là chưa lọt vào được cửa của thiền đạo. Chỉ có người thọ lành được biết, có khi người bàng quang không thể biết. 
 
Ngầm truyền phân phó là vậy, chớ không có nghĩa đem vào phòng kín nói nhỏ riêng. Nếu ai có đọc kỹ kinh Pháp Bảo Đàn của Lục Tổ Huệ Năng thì hiểu rõ.
30. THẾ NÀO GỌI LÀ CƠ PHONG: 
 
Nguyên hai chữ này có nghĩa như sau: cơ là then máy, phong là mũi nhọn. Hai chữ cơ phong dùng chung nghĩa gần có thể nói hai mũi nhọn chạm nhau đúng thì đúng chỗ. Nhưng trong thiền học thì hai chữ này là dùng để ám chỉ cho nghệ thuật khám nghiệm người học bằng cách đối đáp mà không bao dung lần lựa suy nghĩ. Câu hỏi vừa mở miệng, đối đáp đã hiện liền tựa như bóng gương phản chiếu. 

Nếu có dần dà suy nghĩ là không trúng tuyển. Vì thế nên cơ phong trước đây thuộc về căn cơ siêu tuyệt chớ không còn là chuyện hạ thủ công phu nữa. Ai đã từng đọc kỹ câu đối đáp giữa Huyền Giác và Lục Tổ Huệ Năng thì rõ, và sau đây chúng tôi chép thêm nguyên văn cuộc đối đáp giữa bà Seining con một vị mục sư người Mỹ, với một vị tăng đệ tử của hòa thượng Hư Vân ở Trung Quốc gần đây như sau: 
 
Tăng hỏi: “Đại sĩ vượt biển xa xôi đến với bao nhiêu khó nhọc, vì mục đích gì”? 
 
Khách đáp: “Để cầu học Phật”. 
 
Tăng hỏi: “Học Phật phải cần được liễu sanh thoát tử. Vậy trên phần sanh tử của đại sĩ đã đến đâu rồi? 
 
Khách đáp: “Vốn không có sanh tử lấy gì để liễu thoát”. 
 
Tăng hỏi: “Đã không sanh tử hà tất phải học Phật?” 
 
Khách đáp: “Bổn lai không có Phật, học giả là Phật”. 
 
Tăng hỏi: “Phật có đủ 32 tướng, bấm ngón chân là hải ấn phát quang. Vậy đại sĩ có thể làm được không?” 
 
Khách đáp: Có thể hay không thể đều là chuyện nói chơi. 
 
Tăng hỏi: “Đại sĩ diệu giải, mỗi câu đều khế hợp. Tuy thế giống như nói ăn mà không no vậy, vậy cứu cánh phải có một câu gì để làm bằng cớ? 
 
Khách đáp: “Rốt ráo không câu, nói cũng vốn không. Nếu không như thế thì nghĩa giác tánh vốn không phải là không thể nghĩ bàn. Và đó mới là mẹ đẻ ra vạn vật. 
 
Tăng hỏi: “Việc này đã được nói rõ mỗi câu đều hợp ý Tổ. Duy còn lại một chữ “Biết” là cửa của muôn tai họa. Đại sĩ đã theo nẻo giải mà vào. Vậy dám hỏi ly ngôn tuyệt cú thì thế nào là bổn lai diện mục?” 
 
Khách đáp: “Kinh Kim Cang có nói: Vô thượng Bồ Đề tức là không vô thượng Bồ Đề”. 
 
Tăng hỏi: “Nói như thế hình như phải. Chỉ vì mạng căn chưa dứt đại khái cũng thuộc về tri kiến. Dám mong đại sĩ phát tĩnh”. 
 
Khách nói: “Tôi ít có dịp đọc kinh, trước đây có bế quan 4 năm, sau khi giải chế cùng với người mà đàm thoại. Người đều bảo tôi là thuyết pháp Phật”. 
 
Tôi nói: “Không phải từ kinh luận mà được, hình như hầu hết không thuộc tri kiến”. 
 
Tăng nói: “Chẳng từ kinh luận mà được là do tĩnh tọa, xiển phát túc tuệ. Nhưng túc tuệ cũng chẳng qua là tri kiến”. 
 
Khách hỏi trở lại: “Pháp Phật trọng thực chứng, nếu không ở tri kiến thì cứu cánh như thế nào?” 
 
Tăng đáp: “Chẳng câu nệ kinh luận, chẳng cổ chấp tánh tướng, thì chỗ nào cũng là đạo, chỗ nào cũng là giải thoát. Miễn cưỡng gọi là cái gì ấy chẳng qua cũng là quyền mà thôi”. 
 
Hai câu chuyện vừa kể trên là hai câu chuyện thuộc về cơ phong có thể dễ hiểu nhất, nên chép vào đây để tiêu biểu.
31. NGOÀI PHÁP NÀY RA CÒN PHÁP GÌ BÍ MẬT NỮA KHÔNG? 
 
Kinh Pháp Bảo Đàn chép: Khi Huệ Minh đuổi kịp Lục Tổ … Lục Tổ bảo: “Nếu ông vì pháp mà đến thì hãy ngừng dứt các duyên chớ móng sanh một niệm, giây lát tôi nói cho nghe”. Giây lâu Lục Tổ bảo: Chính ngay khi chẳng nghĩ thiện nghĩ ác, vậy hồi ấy cái gì là bổn lai diện mục của thượng tọa? Huệ Minh nhờ đó mà khai ngộ, rồi cũng lại bỗng dưng khuất lấp trở lại nên lại hỏi: “Ngũ Tổ còn có truyền pháp gì bí mật nữa không?” 
 
Lục Tổ đáp: Tôi đã nói cho ông nghe rồi, có gì là bí mật? Nếu ông chịu soi trở vào ông thì bí mật thuộc về phía ông chớ đâu phải phía tôi. Đấy! Chính chỗ ấy mới là bí mật. 
 
Trong thiền học có câu: Nếu ai còn theo cửa nẻo mà vào là không phải con cái của nhà này. Kinh có nói: “Phật phát tức bất định pháp! Có nghĩa là phát Phật biến hóa vô cùng không có ngưng trệ, tùy chỗ kẹt mà gỡ, tùy cơ duyên mà lập pháp. Cho nên pháp vô niệm viên thông là pháp ứng cơ đối với hiện tại, cho tất cả những người nào thuộc căn cơ không thể không theo cửa nẻo, không thể không có hạ thủ công phu. Âu cũng là việc bất đắc dĩ mà thôi!.
32. SO SÁNH PHÁP TĨNH TỌA CỦA ÔNG VIẾT KHI XƯA VỚI PHÁP VÔ NIỆM VIÊN THÔNG NGÀY NAY KHÁC NHAU THẾ NÀO? 
 
Phương pháp tĩnh tọa khi xưa là để ứng cơ với số người không tu được vì bịnh tật chướng ngại. Cho nên cách lập pháp có nghìêng về chú trọng nâng đỡ cho xác thân để thân dễ chuyển hóa. Còn pháp vô niệm viên thông này thì chú trọng đến căn cơ vì bị kẹt với khối vọng niệm muôn đời mà xác thân bị hệ lụy, không thể tu tập theo pháp trên được. 

Làm cho hành giả đạt đến tách rời vọng tâm với thân, tiến về tâm thể vô niệm rôi thân cũng được khỏi hệ lụy mà giải thoát. Nhưng nếu nhắm vào cứu cánh giải thoát mà nói thì cả hai đều cũng chỉ là phương tiện. Nhưng phương pháp tĩnh tọa cũng chỉ có một số người làm được, còn pháp vô niệm viên thông này theo tôi có lẽ ai cũng thực hành được để đạt đến kết quả. Nên mỗi bên đều có giá trị đặc biệt riêng. 
 
Nếu nhìn bên ngoài mà nói thì thấy phương pháp tĩnh tọa hình như không chú trọng mấy về tâm lý kỹ thuật, vì không mở mang hai điểm thân giác và nghi tình. Nhưng thực ra trong đó hàm súc nhiều ẩn ý để cho hành giả phải tự phát minh lấy. Vì sao thế? Vì có hai điểm khác hơn pháp vô niệm viên thông. 
 
Một là lấy việc điều khiển, theo dõi hơi thở làm tập trung, hai là lấy trụ tâm dưới rún để thay thế cho nghi tình. Hai đặc điểm này nương tựa lẫn nhau làm thành tác dụng nhiếp muôn niệm về một niệm, biến một niệm thành vô niệm. Nếu hành giả điều động được hơi thở đến mức tế nhị, và tinh thần theo dõi thực hành đúng pháp, thì đến đây bất thần bỗng rơi tõm vào cảnh giới tâm thể vô niệm. 

Nhưng nếu người thiếu ý thức sẽ có nhiều chỗ sơ hở. Vi khi tinh thần đã đến mức thật bén nhạy, thì cả phía nghịch lẫn phía thuận đều có thể bén nhạy. Đến đay nếu hành giả không đủ sáng suốt để tự điều động lấy mình, thì sẽ gặp ngõ cụt. Đó là chỗ phương pháp tĩnh tọa khác với vô niệm viên thông vậy.
33. GIẢ SỬ CÓ NGƯỜI NGỘ ĐƯỢC BỔN TÁNH RỒI MÀ TRONG KHI VA CHẠM VỚI SỰ VIỆC VẪN CÒN RẤT KHÓ ĐIỀU ĐỘNG ĐƯỢC MÌNH. THÍ DỤ NHƯ VA CHẠM VỚI SẮC TÌNH, HOẶC CẢNH TRÁI CHƯỚNG, NHƯ THẾ CÓ THỂ DÙNG PHÁP NÀY ĐỂ ĐIỀU CHỈNH ĐƯỢC KHÔNG? 
 
Tất cả cuộc sống đau khổ bệnh tật làm mất hẳn sức tự tại của con người, không đâu không bởi khối vọng tâm muôn thuở nó điều động. Tâm vọng là tâm đắm chấp. Nên dù người đã đốn ngộ bổn tánh mà chưa điều động nổi được mình, tức là chưa phải triệt ngộ. Vì thế nên người này ngoài việc cần có công phu hạ thủ ra, còn phải thường trực giác ngộ sâu về thân giác để vọng tâm với xác thân không còn sức cấu kết chặt chẽ nữa, thì khi va chạm mới không còn nặng nề khó điều động.
34. HIỆN NAY ĐANG CÓ KHÔNG BIẾT BAO CHỦ THUYẾT NÀO XUẤT HỒN, NÀO VÔ VI, NÀO LUYỆN ĐAN, NÀO BÙA CHÚ, NÀO KHAI THÔNG NHÂM ĐỐC, NÀO HIỆP KHÍ, NÀO CƠ BÚT, NÀO SẤM GIẢNG, NÀO DƯỠNG SINH, NÀO DUY VẬT, NÀO DUY TÂM … V.V… LÀM CHO QUẦN CHÚNG KHÔNG CÒN BIẾT ĐÂU LÀ PHẢI TRÁI, LÀ CHÁNH TÀ. NAY MUỐN CỨU VÃN TÌNH THẾ, LÔI CUỐN CHÚNG SANH TRỞ VỀ ĐƯỜNG CHÁNH LÀM SAO CÓ THỂ LÀM ĐƯỢC? 
 
Bổn tánh của chúng sanh vốn không sư không thiếu, đầy đủ cả vạn pháp kể cả pháp thuận và pháp nghịch đều có giá trị và tác dụng của nó. Cho nên nói tất cả pháp đều là phát Phật, không độ thuận thì độ nghịch, không có pháp chúng sinh thì phát Phật hết thành vấn đề. Không có pháp Phật thì pháp chúng sinh cũng không lấy đâu để hiện thế độ nghịch. Vạn pháp đã vốn thị hiện, dòng đời đang lúc đổ dốc, thế mê của chúng sinh nếu không có pháp phản tá, bỗng dưng muốn theo hạnh thuận mà kéo lại theo thế ngược dòng, chắc chắn sẽ hoài công vô ích! Sao bằng cứ để tùy sở thích tha hồ mà đổ dốc, kiến bò miệng chén có mất đi đâu. 

Việc chúng sinh, chúng sinh cứ làm, việc của Phật, Phật cứ nói! Đến lúc đã thèm theo thế chúng sanh rồi trở về với Phật. Cho nên hai pháp vốn nương nhau mà tồn tại, thị hiện để độ rỗi chúng sanh, tuy thấy trái ngược nhau nhưng kỳ thực là giúp nhau. Vì thế nên pháp Phật vốn thường hằng và liên tục không hề gián đoạn. Nếu thế gian này tất cả đều như ý, không có chướng ngại, vị tất là hay! Nên nếu thiếu pháp chúng sinh thì pháp Phật không có giá trị. 

Pháp chúng sinh càng ngặt nghèo thì pháp Phật càng mầu nhiệm. Người ta nói: “Đạo cao một thước, ma cao một trượng”, vậy tại sao không thể “Ma cao một thước, đạo cao một trượng”. Cũng như nói “Thầy hay gặp quẻ mắc”. Vậy tại sao không nói: “Không có quẻ mắc khó có thầy hay”. Cho nên hai pháp phải nương tựa lẫn nhau mà hiển dụng. 
 
Người ta đều than vãn đời mạt pháp pháp tà thuyết bạo hành, nhưng riêng tôi, tôi nói: “Tâm chúng sinh đang hồi nguy ngập nên phát Phật siêu tuyệt không thể lường. Chỉ có người căn cơ nhỏ hẹp mới băn khoăn than vãn”.
35. PHÁP VÔ NIỆM VIÊN THÔNG CÓ ĐIỀU GÌ CẤM KỴ KHÔNG? 
 
Có, có cấm kỵ. Vì sao? Từ xưa đến nay trâu tìm về trâu, ngựa chạy theo ngựa, bợm nhậu về với rượu, bợm hút về với á phiện, kẻ muốn giải thoát phải về với pháp giải thoát. Nếu thiếu hiểu biết, thiếu lòng thành, hay dùng ý riêng ghép bừa làm bậy thì sẽ gặp thất bại sa đọa. Đủ hiểu biết, đủ lòng thành, có chí xuất trần, thực hành chính xác thì bảo đảm hoàn toàn thành công. Ta cứ để tha hồ cho thiên nhiên gạn lọc. Nên chính chỗ hữu ý cầu toàn mới đích là điều cấm kỵ.
36. CÓ TRƯỜNG HỢP KHÔNG PHÁT ĐỘNG MỐI NGHI TÌNH THÌ SAO? 
 
Vì không biết rõ vọng tâm mắc liền với xác thân nguy hiểm như thế nào, nên vấn đề thân giác không ảnh hưởng sâu vào tâm não. Do đó nghi tình khó phát khởi, nếu có nghiên cứu kỹ, biết rõ thì không còn khó khăn nữa.
37. ĐỐI VỚI KHỐI VỌNG TÂM MUÔN THUỞ, NGOÀI CÁCH ÁP DỤNG PHÉP VÔ NIỆM VIÊN THÔNG ĐỂ HẠ THỦ CÔNG PHU RA, CÒN CÓ PHÁP NÀO HAY HƠN NỮA KHÔNG? 
 
Thật ra dùng pháp vô niệm viên thông để hạ thủ công phu vẫn chỉ là pháp thứ hai, tại sao? Sở dĩ có ra khối vọng tâm muôn thuở là tại cái thấy mê lầm buổi đầu của chúng sanh chỉ lục đục quanh quẩn theo lợi hại bổn thân, lấy cái Tôi làm trụ cột nên càng ngày càng bẩn chật khó khăn, mất hẳn tầm mắt thấy xa nhìn rộng, làm cho khối vọng tâm càng thêm sức mạnh. 

Nếu ai có đủ tầm mắt thấy xa nhìn rộng đúng sự thật, thì khối vọng tâm không còn hiệu lực nữa. Bởi vậy Ngũ Tổ nói với các đồ đệ rằng: “Các ngươi suốt ngày chỉ lo cúng bái làm phước. Đến giờ phút chót, bổn tánh nếu mê thì phước nào cứu được”. Hay như có người hỏi Bồ Đề Đạt Ma: “Đồ tể còn nghiệp sát sanh, cư sĩ còn vợ con dâm dục thì làm sao thành Phật được?”. Đáp: “Đây không bàn đến vợ con dâm dục hay đồ tể sát sanh, mà chỉ nhắm vào thấy tánh. Một khi thấy được bổn tánh ròi, nghiệp dâm nghiệp sát tự rỗng lặng”. Cũng vì thế mà Lục Tổ Huệ Năng đến với Ngũ Tổ một cách hết sức tự nhiên với một bài kệ họa vận với bài kệ của Thần Tú:
 Bồ Đề vốn không phải cội 
 Gương sáng cũng không phải đài 
 Bổn lai không một vật 
 Lấy gì bám trần ai 
  
Thế là được trúng tuyển! 
 
Ý nghĩa này đã nói qua ở câu chuyện con quạ ở trên chiếc thuyền ra biển, ai có đọc kỹ thì rõ. Bởi vậy nếu có một cách nhìn thật sâu rộng nhẹ nhàng thì tự nhiên vọng tâm không còn thành vấn đề nữa. Chỉ vì không có được cách nhìn như thế, nên bất đắc dĩ phải dùng pháp thứ hai.
– Có ai ngờ, hồi Mậu Thân có một cậu trai con một của một bà lão bị tử nạn, khi qua cơn khói lửa, có nhiều người đến thăm hỏi chia buồn, bà có nói một câu: “Nếu không ai chết chắc tôi sẽ chết theo con tôi, nhưng khi thấy người ta chết nhiều quá bỗng dưng vấn đề con tôi chết hết thành vấn đề trong tâm tôi nữa!” Ôi! Nếu không có điều kiện thấy suốt nhìn khắp, mà cũng không thực hành được pháp thứ hai thì chỉ còn chờ pháp độ nghịch theo kiều bà lão nói trên mà thôi vậy!
– Có ai ngờ một vi hòa thượng rất tốt, chỉ vì nuôi nhiều đệ tử nữ, cộng thêm cách ăn nhiều dầu, thích uống nước đá lạnh theo bữa ăn mà trở nên bịnh áp huyết lên cao không trị được. 

– Có ai ngờ chỉ vì một bức hình thiếu nữ lõa thể quảng cáo trước rạp hát, mà một số thanh niên tạm thời huyết áp vọt lên. 

– Có ai ngờ một vi tu sĩ xuất gia từ bé cho đến tuổi già mà không trị được chứng mộng tinh, đến nỗi phải đoạn âm và tuyệt thực để cho vãng sanh về nước cực lạc cho dễ tu. 

– Có ai ngờ một ni trưởng xuất gia từ thuở bé, tu đến ngoài 50 tuổi mà phải mang lấy bịnh ung thư tử cung rồi chết. 

– Có ai ngờ vị hòa thượng tánh tình rất tốt, xuất gia từ nhỏ thực hành bao nhiêu hạnh khó như tụng một chữ lạy một lạy, chích lấy máu viết kinh, ngồi hoài không nằm, ráng thức không ngủ … thế mà phải kẹt một bào thai con rơi đến phải chuyển sang xứ khác. 

– Có ai ngờ chỉ vi một ly nước đá lạnh mà biến hóa một vị thiền sư thành một khối mỡ cười nói không phân minh. 

– Có ai ngờ cả hệ thống thiền tông nước Nhật chỉ vì không biết chứng ngủ gục nguyên do từ đâu mà phải chế ra cái ghế ngồi thiền. 

– Có ai ngờ từ củ khoai lang sang chứng dư nước chua bao tử đến một tâm lý lừng khừng không quyết định, trệ theo tình cảm, vốn có một hệ thống tương quan chặt chẽ. 

– Có ai ngờ từ ly nước đá lạnh với chứng có sạn trong thận vẫn có một hệ thống tiến hóa của nó. 
 
Thế mới biết: Trong thế kỷ địa cầu đang hồi xuống dốc (kiếp giảm), khoa học kỹ thuật tiến đến năm châu họp chợ, thì dù con người có muốn tín ngưỡng hay đi theo một đường lối nào, đó là quyền của con người. Nhưng nếu lìa tay thước hướng nội của Y đạo mà đi tìm sự giải thoát, thì quyết định càng cầu toàn càng bị tổn thương, không thể không gặp hên xui may rủi. 
 
Hết thảy chúng sinh sở dĩ mải mê không giải thoát được là tại không biết rõ toàn bộ của mê là gì. Nay đã được trình bày nói toạc ra một cách rõ ràng minh bạch, tác giả hy vọng sẽ có người đọc một cách say xưa, lý thú. Khi được thấy suốt rồi lập tức liền siêu, chớ không đến nỗi cần cù phí sức, như thế chẳng sướng hơn sao?!

* *
Hết Phần 4.

 
Vừa viết xong, định dừng bút, lại có khách hỏi: Trường hợp người khi ngồi lại, trong lòng chẳng thấy có bàn soạn thì thào, nhưng mỗi khi xúc cảnh lâm tình, hoặc với khác phái, hoặc những biến cố đột ngột, thường không khỏi biển lòng sóng dậy. Vậy thì làm sao có thể hoàn toàn chủ động vấn đề? Vì muốn có chủ nên mới có khách. 

Nếu trong lòng ta không có vấn đề khác phái, thì khác phái bên ngoài phỏng có linh thiêng nữa không? Mọi biến cố đột ngột cũng không ngoài nghĩa lý ấy. Không những thể thôi, cho đến tửu sắc tài khí cũng không thể khác. Nếu qủa thiệt biết ghiền là cái gì, á phiện là cái gì thì tự nhiên á phiện sẽ rớt ra. Cho nên điều quan hệ độc đáo là có thấu suốt vấn đề hay không, còn áp dụng cách này hay cách khác, pháp nọ hay pháp kia chẳng qua cũng chỉ là pháp thứ hai. 
 
Bên bến đò Rạch Miễu có một người ngồi bên vệ đường với một ván cờ, một cọc tiền để khiêu khích khách qua lại. Đã biết bao người qua đường đến đây trút hết ruột ngựa. Có một ông già tướng trông thật cùi đài đi đến, thấy thế liền móc túi lấy tiền đặt ván. Chủ nhường khách đi trước, khách mới đặt tay xuống con cờ, chủ lập tức đỡ tay và móc túi lấy 5 đồng tạ khách và xin lỗi ông ta để được làm ăn. 
 
Đối phó với tất cả những biến cố của vọng tâm một cách có kỹ thuật cũng tương tự như vậy. 
 
Nếu ai có đọc suốt tận từ lúc đầu, và vấn đề được thông qua 1 cách chính chắn thì lập tức liền siêu, chớ không đến nỗi phải hao công phí sức. 
 
Nhưng giả sử không được như thế mà trong tâm còn được thường xuyên thấm nhuần công cụ thân giác và nghi tình thì sóng lòng muôn mặt cũng vẫn hóa giải được nhẹ nhàng. Nếu không như thế dù có nói bao nhiêu nữa cũng chẳng qua vẽ rắn thêm chân mà thôi. 


VÔ NIỆM VIÊN THÔNG YẾU QUYẾT
 Thích Minh Thiền 
Phật Lịch 2536 – 1992
PHẦN THỨ BA 
PHƯƠNG PHÁP & KỸ THUẬT  
HẠ THỦ CÔNG PHU
Cách bắt chuột của con chó bao giờ cũng chú trọng đến tiếng động, nên tiếng giục và cục đất ném trở nên quan trọng. Có khi cục đất ném trở nên quan trọng. Có khi cục đất ném xuống ao cũng cứ lặn mò; Khi bắt được chuột thì toát mồ hôi le lưỡi. Vì thế trong thiền học có câu: trục khối (chó đuổi theo cục đất ném). 
 
Cách bắt chuột của mèo, khi con chuột không chạy nó không bao giờ chụp vì sợ bất thần nó muốn đào tẩu. Nó ngồi thu hình tập trung tinh thần hớp hồn con vật. Khi con chuột run lên, nó liền vẩy đuôi, chuột giật mình phóng tới. Tức khắc nó nhảy bổ chụp liền phía trước là vồ được ngay. 
 
Cách bắt chuột của con chồn đèn thì hoàn không rình không đuổi, trái lại nhẹ nhàng điềm tĩnh, khoan thai, hệt như không có điều gì xảy ra. Khi sát lại gần, nhanh như chớp nhẩy bổ chụp cổ liền. Không những bá phát bá trúng, mà con chồn chỉ bằng cổ chân còn có thể bắt một con gà trống to độ 2 ký dễ như trở tay. 
 
Nếu mỗi người thường trực nhớ rõ chính thân tâm mình cùng vạn hữu bao la vốn đồng nhất không hai, vì tâm mê quên tánh, chấp thân hướng ngoại, mà hóa ra sa đọa. Một khi trở về với tánh hướng nội, hết đắm chấp lấy thân, không quên thân giác, thì thân không những càng được bình an, mà trong đi đứng nằm ngồi không lúc nào có công phu hay không có công phu. Như thế mới đích thực là công phu. 
 
Thế mới biết, chỉ có hạ thủ công phu trong tư thế ngồi thì chẳng khác nào thợ nề xây tường mà chỉ biết xếp gạch không cần có hồ vậy.


* *

1. Đường lối hạ thủ công phu 
 
Đây là một phương pháp, một kỹ thuật để trị bệnh tâm, được nghiên cứu một cách kỹ càng để hành giả được đi trên con đường thẳng tắt rõ đúng, bảo đảm. Kỹ thuật này phân làm hai đường lối.
a. Đường lối thứ nhất: 
 
Làm cách nào để nhất thời nhận thẳng được bổn tánh, rồi tiếp tục bảo dưỡng từ cái thấy tánh đó gây thành một tác dụng để phá vỡ vọng tâm. Đường lối này chỉ được áp dụng trong cơ duyên khai thị, tùy kẹt mà gỡ, trong biện chứng nghịch lý hoặc trong vấn đáp, sẽ có nói nhiều ở phần hàm dưỡng và vấn đáp.
b. Đường lối thứ hai: 
 
Dùng một phương pháp khéo léo, một kỹ thuật chọn lọc để phân hóa toàn bộ vọng tâm cho trở về với tâm thể vô niệm thì hành giả được kiến tánh. Cả hai đều được áp dụng một lượt hầu đưa đường cho hành giả đi vào thế giới lúc nào cũng được tâm thể vô niệm, giáp mặt với bổn tánh mà người xưa đã từng gọi một cách văn vẻ là: “Phong quang quê cũ muôn đời, bốn phương tám hướng nhạc trời trăng soi”, chớ không phải thêm vào một việc gì
 
Đến đây nhị nguyên kết thúc, mình người thân cảnh hết thành vấn đề, nên gọi là chứng. Và toàn bộ cuộc sống của người đó được giải quyết dứt khoát, mà chương nói về phương pháp và kỹ thuật hạ thủ công phu như ở đây là thuộc đường lối thứ hai. 
 
Như thế nghĩa là sao? Nghĩa là biết rõ trận địa một cách kỹ càng, chọc thẳng vào tận sào huyệt của bốn phần vọng tâm mà cầm chắc toàn thắng. Nên nội dung tính chất của nó hoàn toàn lệch hẳn về phương pháp và kỹ thuật hơn là dùng sức mạnh, để nuôi dưỡng năng lực cho hành giả lúc nào cũng dồi dào, cũng như sự hệ lụy của xác thân đồng thời cũng được giải toả. Thì vấn đề dặm đường, thời gian, với con ngựa đang cỡi sẽ không còn là vấn đề lo ngại về sự chênh lệch mà công cuộc giải thoát dọc đàng bị đổ vỡ nữa.
2. Điều Kiện Tinh Thần: 
 
Đi vào con đường này là để giáp mặt với sự thật nên cần phải có bốn điều kiện tinh thần sau đây:
• Không mong cầu tất cả những gì thuộc về tài, tình, danh, lợi xoay quanh theo trục lợi hại bổn thân của cái Tôi. 

• Không nương tựa vào bất cứ một quyền cai thần thánh nào. 

• Không sợ hãi một điều gì xuất phát từ lợi hại bổn thân. 

• Phải tuyệt đối thành thật với chính mình.
3. Điều Kiện Vật Chất 
 
Hành giả nên lắng lòng thanh tịnh, khiêm tốn, kiểm điểm kỹ lại xem từ trước tới giờ những điều đã nói, chính mình có thật hiểu rõ ràng chưa? Nếu chưa thì phải chịu khó nghiên cứu kỹ lại, đừng hấp tấp vội mà sai lầm. 
 
Đây là đi vào một hình thức tĩnh tọa nên cần phải có những điều kiện thực hành chi tiết như sau:
• Khí hậu thời tiết: 
 
Khi thực tập hãy chọn nơi tương đối yên tĩnh và thoáng khí. Nếu khí trời nóng bức qúa rất khó thực hành, nên chọn những lúc mát trời càng hay, không lựa là ngày hay đêm. Nếu gặp lúc thời tiết nóng bức không làm sao hơn, thì thời giờ thực tập được thu ngắn lại, gặp khí hậu mát mẻ ta có thể kéo dài ra, suốt ngày đêm ta có thể chia làm mấy thời cũng được. Căn cứ theo khí hậu xứ ta, người mới thực tập chỉ nên công phu từ 15 phút đến 30 phút mỗi thời. Tổng cộng trong 24 giờ chỉ từ 2 giờ trở lại, đừng có tham lam dồn ép thái quá sẽ nảy sinh biến cố.
• Sanh Hoạt: 
 
Trong sanh hoạt hằng ngày phải nên điềm đạm, khiêm tốn, chậm rãi, dù việc có gấp đến đâu trong tâm cũng đừng nên vội vã bối rối. Phải biết mình là tất cả, tất cả là mình, nếu trừ hết tất cả những cái không phải mình ra, thì chính mình cũng không còn nữa. Nên nếu mình nhúc nhích thì bên ngoài cũng nhúc nhích theo. 
 
Một con chó nuôi trong nhà, khi chủ đi khỏi về, nó liền nhảy bổ lên mừng rỡ, liếm túi bụi. Nhưng nếu ta ngồi lặng yên, ta có việc của ta, lặng yên đến cả trong tâm thì nó không bao giờ dám nhảy vô. Nhưng nếu tâm ta vừa nhúc nhích, mũi vừa thở mạnh, mắt vừa chớp, là lập tức nó nhảy bổ lên cả đầu mà liếm. Nên nhớ yếu tố này không phải chỉ ở con chó nuôi trong nhà mới có như thế, dù cho con cọp ở ngoài rừng hay những bùa chú thư ếm cũng không có khả năng vượt khỏi lằn mức tâm linh này. Nên cốt yếu mình phải tỉnh bơ thì cảnh vật bên ngoài mới không lung lạc được. Trong kinh Lăng Nghiêm có câu: “Nếu chuyển được vật là đồng với Như Lai”.  
 
Vì vậy trong sinh hoạt hằng ngày của chúng ta cũng phải chịu khó để ý soi trở vào chính con người của mình một cách thường trực để đón bắt, giáp mặt với những chớp nhoáng mống niệm ngay trong những lúc giao tế tiếp xúc hằng ngày kẻo bị vô tình phóng vọt. 
 
Phần này trông qua tuy thấy tầm thường nhưng lại là một điều kiện vô cùng quan trọng cho đến khi ta ngộ được tâm thể vô niệm. Nếu lìa nó ra, ta không lấy đâu để nhập vào cảnh toàn chứng. Chớ không phải để ý chủ tâm trong lúc thu hình ngồi lại mà thôi. Phải giữ cho tinh thần càng tột bậc bình thường chừng nào càng tốt chừng ấy. Nếu bình thường hay giận dữ thái qúa, đến lúc ngồi lại tất phải bị khí giận thừa làm thành chất độc phản ứng không yên.
• Ăn Uống: 
 
Chúng ta tưởng chừng khi ăn vào một món gì, tiêu hóa xong là hết, sự thật nào phải thế. Nếu trong trời đất này mọi chuyện đã qua đều mất hết thì làm gì có chuyện truyền thanh truyền hình, hư không rỗng suốt mà còn thế, thì khi thâu nạp nguyên con vào cơ thể làm sao mất được! Do đó, ta ăn thứ nào vốn có khả năng cục cựa, thì khi vào cơ thể nó cục cựa càng nhiều. Vì sao thế? Vì con người là một bầu vũ trụ thu hẹp lại, thì đương nhiên trong ta đã có đủ ba cõi sáu đường, bốn cách sanh, mười hai loại. 

Nay lại được tăng cường lẽ cố nhiên phải vậy, thứ nào có khả năng nằm ỳ một chỗ như khoáng chất, khi vào cơ thể nó cũng nằm ỳ! Với thảo mộc thì khi có gió mới động, nên ăn thảo mộc vào nó không nằm ỳ như chất khoáng, mà cũng không cựa quậy như động vật. Thêm nữa, ta đừng tưởng khi ăn một cục thịt là chỉ có một cục thịt. Thật lạ thay cho khoa học ngày nay, ai ai cũng biết một là tất cả, tất cả là một, nguyên tử chăng nữa cũng vẫn là một bầu vũ trụ. 

Thế sao ăn một cục thịt lại chỉ tính có một cục thịt mà thôi, phải là nguyên con mới được chứ! Sự thật là như vậy. Tại mình không phóng đại ra nên không thấy. Tĩnh tọa là một cách phóng đại. Nếu mình bỏ vô 1 chút xíu khỉ thì nó ra nguyên con khỉ, một chút xíu heo cũng ra nguyên con heo. Điều đó chính tôi chứng thực mà nói chứ không hề bắt chước ai. Chỉ vì bình thường chúng ta bị vọng tâm mê muội thiên cổ che khuất, nên không thấy được. 

Do đó khi mới tập tĩnh tọa nếu chưa ăn rau được thì nên ăn cá hơn ăn thịt. Ta đừng vội sợ ăn chay thiếu nhiệt lực, nếu pháp chúng ta đang tu là pháp hoàn toàn hướng nội, quay hẳn trở vào 180 độ, 6 căn không phóng vọt, không lười biếng nằm ỳ, không ê a ó ré, thì bảo đảm không có việc trở ngại thiếu lửa bao giờ. Phương chi còn phải ý thức học hỏi về những thức ăn tính nóng tính lạnh có độc hay không độc nữa. Thường người ta quan niệm rằng ăn uống thiếu chất thịt cơ thể sẽ bị hụt hao, thế sao con trâu chỉ ăn cỏ, chớ nào có ăn chất sắt chất muối, con mểnh con nai muốn mập cũng chỉ ăn cỏ, còn con người muốn mập lại bắt mểnh nai làm thịt ăn. 
 
Con thú gặp lạnh qúa thì sanh mỡ, hoặc mọc lông nhiều để chống lạnh, con người lạnh qúa ra chợ mua áo lên mặc vào, con thú muốn bay thì mọc cánh, con người muốn bay phải chế máy bay. Vì thế nên khi té không phải chỉ đau một mình như thú, mà là cả đám cùng té, cùng chết. Do đâu nên nổi? Nên biết rằng con người bị lý trí (nọc trái cấm) đánh mất phản ứng trực giác bản năng của thiên nhiên bảo vệ. Công phu tĩnh tọa là để thanh lọc vọng tâm lẽ đâu ta không nghĩ kỹ!!! 
 
Chúng ta chỉ nên tĩnh tọa sau khi ăn độ một tiếng rưỡi trở đi cho khỏi xảy ra những bệnh ở bộ tiêu hóa, và khi ăn chớ nên ăn no qúa. 
 
Con người ăn buổi sáng, chất bổ đến nuôi phần trên nên gọi là điểm tâm, gọi là chư thiên ăn. Ăn buổi chiều nuôi phần dưới, nên ăn bằng tham lam còn gọi là súc sanh ăn. Vì vậy nếu buổi chiều ăn nhiều chất bổ thừa thải, các bộ phận bên dưới được tiếp tế nhiều quá, tâm mê tất phải đòi hỏi thị trường lôi thôi. Người ta thường nói:
 “Đói cơm khát nước tèm hem 
 No cơm ấm áo lại thèm nọ kia” 
 
Vì vậy, chúng ta chỉ nên ăn lúc 9,10 giờ sáng và 4, 5 giờ chiều, đừng nên ăn 9, 10 giờ đêm. 
 
Lại thêm những thức ăn lạ, nặng nề như củ cải sống, củ hành sống, củ kiệu sống … hay các thứ rau cay nóng qúa không nên dùng như hành hẹ phải nấu thật chín mới nên ăn. Những thức ăn tính chất qúa nóng hay quá lạnh, chất sùi bọt, dậy men … những thứ nghiện ngập như cà phê, thuốc lá, thuốc lào, trà tàu, các thứ rượu mạnh phải cần nên tránh. 

Không uống trà đậm vì làm tổn tim. Chớ nên thường trực ăn những thức ăn để đông lạnh hay uống nước đá theo bữa ăn. Vì khi đủ nhân, đủ duyên hội ngộ, chúng nó sẽ tạo thành những bệnh ở mũi, ở mắt, ở cổ họng, ở bộ tiêu hóa, ở ruột, và còn nhiều thứ bệnh nan y khác nữa. Không nên ăn nhiều món trong một lúc, vì nó sẽ va chạm biến hóa thành những chất độc mà ta không hay. 

Trong bữa ăn chỉ nên chọn 2, 3 món thích hợp mà ăn. Nếu không hợp đừng vì lẽ cho là bổ mà ráng nuốt. Nấu nêm cũng phải đơn giản, thứ nào ngọt ra ngọt, mặn ra mặn, đừng pha lẫn chút tương, chút đường, chút muối, chút giấm, chút ớt … nhiều chất đụng nhau sẽ gây ra tai hại. 
 
Thí du: Nêm canh bằng nước tương với bột ngọt nó liền biến ra chua (acid). Nếu bột ngọt nêm với muối ớt thì ra hương vị nấm mối. Về rau cải, phải để ý học hỏi về tính chất của mỗi thứ. Nên ăn cốt sao sạch sẽ ngon lành, đừng cố tình tạo màu xanh đỏ trắng vàng, rồi đặt tên con này thịt kia. Thà muốn ăn thứ gì ra chợ mua ăn còn ít tội lỗi.
• Về Y Phục: 
 
Nếu công phu vào lúc trời lạnh thì nên mặc dầy, nên đậy hai đầu gối cho kín. Nhớ đừng để gió nhập vào đầu gối và hai lỗ tai. Nếu trời nóng, mặc mỏng càng tốt.
4. Hiểu qua một hai nét cần thiết vể cơ thể sinh lý: 
 
Trong cơ thể con người có hệ thống tuần hoàn âm huyết, là hệ thống tuần hoàn máu trắng. Tết bào máu trắng là động vật, nó đóng một vai trò chủ động để bảo vệ cho tất cả cơ cấu toàn thân, khi có một thứ chất độc hay vi trùng từ bên ngoài xâm chiếm vào. Bên trong nó hoạt động đúng theo tầm mức rung cảm tâm lý để đáp ứng với tác dụng của mọi nơi trong thân. Thí dụ: Mỗi ngày ta cầm chiếc búa đẽo liên tục ngày này qua ngày nọ, thì chúng nó sẽ tập trung về cánh tay nhiều hơn nơi khác. Về nghe, ngửi, thấy, nếm, cọ sát, va chạm, cách đáp ứng của nó đều giống hệt theo một kiểu. Nên kinh Lăng Nghiêm có nói: 
 
“Mỗi chúng sanh có một thứ nước gọi là nước ái, khi khóc ứa ra mắt gọi là nước mắt, khi tủi ứa ra mũi gọi là nước mũi, khi thèm ứa ra miệng gọi là nước miếng, khi thèm khát dục vọng ứa ra bộ phận sinh dục gọi là nước dâm. Tính chất mỗi nơi tuy có khác nhưng kỳ thực vẫn là một”. Lại nói: “ Hễ tình thì đổ dồn dập tập trung xuống dưới, tưởng thì đổ dồn tập trung lên trên. Muốn thoát vòng tục lụy thì phải ly tình tưởng”. 
 
Hằng ngày, tai mắt, miệng mũi, thân ý chúng ta hễ hướng ra ngoài thì nhiệt lực giảm xuống, đóng lại thì nhiệt lực trồi lên. Con mắt đừng nhìn ra, lỗ tai đừng nghe ngóng, mũi đừng thở mạnh, miệng đừng nói nhiều thì tất nhiên nhiệt lực trong thân tăng thêm. Nhiệt lực trong thân tăng thì bầu khí quyện xác thân được trương nở để chống chọi với sức ép bên ngoài. 

Nếu nhiệt lực bị xài ra nhiều qúa thì bầu khí quyện xác thân bị thắt lại. Đó là một việc trong sinh lý rất rõ ràng cần nên hiểu biết. Do đó nếu thái độ hướng nội của ta thiếu tinh thần dứt khoát, còn để kẽ hở cho năng lực bị thoát ra thì kỹ thuật sẽ bị tổn giảm. Một điều nữa, với thân này trong sinh hoạt hằng ngày, nếu trên đầu thường mát, dưới chân thường ấm là thuận với trật tự thiên nhiên nên gọi là hỏa thuận. 

Nếu ngược lại là hỏa nghịch. Nên khi tĩnh tọa định thần vào điểm đơn điền dưới rún trước, rồi sau sẽ bắt đầu, thì nhiệt lực trong cơ thể theo sự định thần mà thuận chiều. Theo đó nó sẽ giúp cho ta được quân bình cả bộ tuần hoàn, bộ tiêu hóa, không đến nỗi xẩy ra lệch lạc. 
 
Về phần phụ nữ mỗi tháng còn có kinh kỳ xen vào, nên khi có kinh là phải ngừng tĩnh toạ. 
 
Phụ nữ thuộc về tĩnh của thái âm nên cơ thể rất dễ định, nhưng cũng dễ gặp cái bơ vơ trống trải hoặc hôn trầm. Thế nên khi tĩnh tọa, tinh thần cần nên phấn chấn. 
 
Bất cứ một tôn giáo nào, hay một người sống một cách bình thường cũng vậy, nếu khinh thường 5 điều răn cấm giết hại, dối trá, gian dâm, tham lam, nghiện ngập, tức là người đó chưa đủ điều kiện để tập tĩnh tọa. Vì khi đã khinh thường 5 điều răn cấm này rồi tức là khinh thường cuộc sống yên ổn của chính mình cũng như tất cả người chung quanh. 

Thế mới biết đây là 5 điều kiên để duy trì cho cuộc sống cộng đồng sinh tồn. Tuy nhiên, đây không phải đưa kiều kiện để bảo vệ giáo điều như của tôn giáo tín ngưỡng, mà là muốn nói phải thâm hiểu tận cùng cái vô lý của tính giết hại, tham lam, gian dâm, lừa dối và ghiền gập. Nếu thấy 5 thứ tâm lý này là nguồn tai hại cho thế quân bình của cuộc sống thì mỗi người phải tự giới, tự luật, chớ không phải đợi ai bắt buộc mình. Bất cứ người của một tôn giáo nào hay tầng lớp nào nếu thiều 5 điều kiện này là thiếu hẳn tình yêu thương chân thật, chỉ là kẻ lừa mình, lừa người mà thôi. Nếu không chín chắn 5 điều kiện này thì cuộc tĩnh tọa thủ công phu trở thành vô nghĩa.
 
Nhắc qua vấn đề gian dâm. Đây không phải nói là tư thông với kẻ khác mới gọi là gian dâm, dù là vợ chồng chính thức mà mỗi khi mống ý muốn tìm dục lạc tức là đã phạm vào điều gian dâm rồi đó. 
 
Còn về phần ghiền gập, dù cà phê, trà, thuốc lá, thuốc lào cũng vẫn là ghiền, chứ không lựa là nghiền rượu. Nếu đã là ghiền thì quyết định phải thanh toán cho kỳ được. Nghĩa là phải bỏ dứt khoát, nếu không thì mãi mãi hệ lụy không sao dứt được.
 
Từ xưa đến nay, phần đông đều cho tu là một cái gì huyền bí. Đạo là cái không thực tế, còn hành Phật giải thoát đều là chuyện hên xui may rủi và có khi còn bị thông qua các tướng ma ma Phật Phật của mấy bà đồng cốt nữa. Chớ không mấy ai ngờ đây chỉ là một việc làm của Y đạo – siêu giai cấp, siêu khoa học, minh bạch rõ ràng, không phải một thứ mù mờ ấm ớ. 

 
Trước khi đi vào phần thực tập hạ thủ công phu, có những điều bắt buộc hành giả nên ghi nhớ cẩn thận.
5. Tư thế tĩnh tọa: 
  
Có mấy cách tùy theo khả năng của mỗi người, nhưng hay nhất là ngồi kiết già.
• Ngồi kiết già:  
  
Chân trái gác lên đùi phải, chân phải gác lên đùi trái, thúc sát vào, chống hai nắm tay lên đầu gối, đè cho hai đầu gối xuống sát chỗ ngồi, chuyển động nhẹ xương sống cho các khớp lưu thông, lưng thẳng đầu ngay, vai ngang, hai bàn tay đặt sát vào bụng dưới rún, tay trái nằm dưới tay phải nằm trên, hai đầu ngón cái đụng sát nhau để giữ thế điện trong cơ thể được lưu thông ít bị hao tán, mắt nhắm miệng ngậm, răng đụng nhau, lưỡi đụng răng. Đồng thời tập trung tinh thần tưởng tượng tuyến từ mũi xuống đơn điền cho ngay. 


• Ngồi bán già: 
  
Chỉ có để chân trái lên đùi phải, cũng có thể để chân phải lên đùi trái mà ngồi yên thì cũng tạm được. Không nên ngồi xếp bằng vì rất cấn. Ngoài ra tất cả bố trí đều giống hệt như ngồi kiết già. 

• Ngồi trên ghế thòng chân: 
  
Cách này để dành riêng cho những người không thể ngồi bán già, kiết già, hay xếp bằng hoặc vì tuổi cao, xương cứng. Ngồi cách này thì phải có ghế vuông hay trường kỷ, hoặc ngồi trên giường thòng chân.
Với 3 cách ngồi này cốt sao cho được vững vàng, thẳng người cho ngồi được lâu. 
  
Về phương tiện, nên ngồi trên chiếu hay trên ván, có lót bồ đoàn hay mền chớ không nên ngồi trên nệm, vì ngồi nệm dễ cấn thịt, dễ bị tê. Ngồi ván tuy bị cấn xương đau chơ không có tê nên dễ điều chỉnh.
6. Phần thực hành:
a. Chuẩn bị: 
  
Tùy khả năng mỗi người có thể phân ngày đêm ra từ 2 đến 4 thời. Khi bắt đầu ngồi thì phải xếp đặt chỗ ngồi, quay mặt vào vách, nới thắt lưng và bâu áo cho thong thả. Nếu trời lạnh thì đội mũ hay đội khăn che khuất 2 lỗ tai. Tư thế phải giữ cho lưng thật thẳng, chớ không nên ễnh, vì ễnh thì khí lực sẽ xông lên làm nặng đầu, còn khòm thì dễ ngủ gục. 
  
Ngồi xong khẽ ấn người nghiêng bên phải, bên trái cho các đốt xương sống được ngay. Vì thường xương sống của mỗi người do tập quán sinh hoạt mà thường bị lệch lạc.
Giữ đầu cho thẳng, 2 mắt buông xuôi mí xuống để nhắm theo thế tự nhiên, không nên mở, vì mở thì thấy ở ngoài và tâm quang bị phân tán. Cũng không nhắm híp vì nhắm khít quá mất tự nhiên dễ ngủ gục. Xong rồi bố trí hai bàn tay như đã nói trên và làm như hơi mỉm cười để xóa hết những chuyện ban ngày và tưởng cho tuyến mũi xuống rún được thẳng một hàng với nhau. 

Tiếp theo đó, hít vào thở thật nhẹ, chậm chậm để tự nhiên cho bụng dưới từ từ nở ra. Thở ra cũng chậm chậm cho bằng cái hít vào. Và bụng dưới từ từ thót lại. Hít vào thở ra bằng mũi, và miệng bao giờ cũng ngậm kín, giữ cho hơi thở được tương đối đều, đừng nghe tiếng càng tốt. 
  
Nếu trụ thần được dưới rún thì nhiệt lực sẽ tụ về bên dưới, và ăn uống được tiêu hoá không bị trở ngại. Nên chú ý khi bắt đầu điều chỉnh hơi thở, nhắm mắt lại, nếu hơi thở có tiếng kho kho một cách êm đềm tế nhị, dù tiếng đó có hết sức nhỏ cũng phải hiểu đó là điểm sắp đi vào cõi ngủ. Khi mới tập nếu có đồng hồ nên canh giờ quyết định, mới tập chót hết cũng phải 20 phút.
b. Hạ thủ công phu: 
  
Nên nhớ việc chánh yếu của hạ thủ công phu là tiến về tâm thể vô niệm. 
  
Giai đoạn thứ nhất: Dùng niệm nhiếp niệm: 
  
Ta chọn lấy một câu NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT hay DƯỢC SƯ NHƯ LAI. Nếu là câu NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT thì trong khi thu xếp tĩnh tọa, thân yên lặng nhắm mắt ngậm miệng lại, răng cắn vừa đụng nhau, lưỡi đụng răng, tay không lần chuỗi, không quán tưởng để ngừa phân tâm hay ly tâm hướng ngoại. Trong tâm mặc niệm 4 chữ A DI ĐÀ PHẬT một cách đều đều không gấp không hưỡn, vừa nhắm con mắt thịt lại cũng vừa mở hoác con mắt tâm ra, soi hẳn vào trong thân tâm để tìm lấy tướng chuyển động của làn sóng mặc niệm trong thân tâm xem nó ở đâu, ra sao? Cứ vừa theo dõi, vừa mặc niệm, không nên gấp, không nên hưỡn. Cứ như thế mà tiến. Buổi đầu chỉ là một khốt tối thui hoặc vọng niệm xẹt ra xẹt vào, mặc kệ nó. Thời gian này ít nhất cũng phải hao phí từ một tuần lễ đến 10 ngày hay nửa tháng thì tình trạng hỗn độn tối thui mới bắt đầu sáng sủa. 
  
Nếu người nặng nề nghiệp dâm, nghiệp sát thì có thể hao phí hàng tháng cũng nên. 
  
Khi nước tâm đã lắng trong, tình trạng hỗn độn được sáng sủa thì hành giả sẽ dễ dàng bắt gặp làn sóng đông tướng năng niệm của câu NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT đang rung chuyển một cách đều đều. Nhưng nên nhớ nếu ngừng hẳn mặc niệm thì làn sóng rung chuyển này sẽ bị mờ mất hút. Phải cố giữ cho mặc niệm đều đều và chú tâm theo dõi cho thật sat đến bao giờ mãn giờ tĩnh tọa sẽ xả ra. 
  
Đến được hiện tượng này ít nhất hành giả cũng đã tiến lên ½ giờ mỗi thời và hao phí ít nhất cũng từ 1 đến 3 tháng tùy trình độ bén nhạy của mỗi người. 
  
Điều nên biết là: mặc niệm liên tục cố để qui tụ muôn niệm vọng tâm, kết thành một khối cho tinh thần được định. Còn chú tâm vào làn sóng động tướng năng niệm NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT là để ngăn hẳn si mê không cho xuất hiện, tinh thần thường trực tỉnh táo, sáng suốt, cho định và huệ cân nhau. Khi đã kết qủa đúng như dự định thì phải giữ tình trạng này cho kéo dài thêm ít nhất từ ½ tháng đến 1 tháng rồi mới nên bước sang giai đoạn 2. 

Đến đây thời gian tĩnh toạ cũng theo đây mà gia tăng. Hành giả nên biết giai đoạn một này là nền tảng cho tất cả giai đoạn sau. Nên càng thực hành kỹ lưỡng chừng nào thì kết quả càng được chín chắn chừng nấy. Từ khi phát hiện làn sóng động tướng năng niệm trong thân thì hành giả sẽ bắt đầu đi vào cõi toàn thân được thoải mái yên ổn, không còn cảm thấy lăng nhăng ray rứt như buổi đầu; để rồi trạng thái này sẽ lên cao, kéo dài hơn nữa và lần lần vào cõi thanh lương an lạc, hành giả nên thận trọng. 
  
Một điều nữa cần phải biết là khi phát hiện được làn sóng động tướng năng niệm của câu NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT đang mặc niệm; chính là lúc muôn niệm chầu về làm một niệm. Nhưng không phải một lần tụ về là tất cả vọng niệm đều tụ hết, mà có khi còn bao nhiêu vọng niệm tản mác, rải rác khắp mọi nơi; niệm nhiếp niệm càng kỹ, theo dõi càng sát; giữ thời gian càng được kéo dài thì sự qui tụ vọng niệm càng được kỹ càng hơn, để tránh khỏi rơi vào thế làm một lần không kỹ thì sự chữa đi chữa lại cũng phải hao tốn nhiều lần. 
  
Giai đoạn thứ hai: Dùng niệm hóa niệm: 
  
Trên kia ta đã thực hành pháp dùng niệm nhiếp nhiệm để cho muôn vọng niệm đều qui tụ về một niệm. Nhưng phải biết vọng niệm tuy không có hình tướng mà vẫn có tụ có tan, nếu đã thực hành pháp dùng niệm nhiếp niệm rồi thấy chừng như muôn niệm đã đóng thành một khối, và chừng như nếu ta ngừng niệm thì nó sẽ tan biến đi mất. Nhưng sự thật nào có thế đâu. 

Nếu ta ngừng niệm thì lấn hồi nó sẽ tản mát ra khắp mọi nơi, để nó sẽ tổ chức ráp lại như cũ, hay hoặc nó giữ nguyên trạng mà lắc lư bắt ta phải theo đà đó mà niệm liên tục, để rồi nếu ta được vãng sanh về nước cực lạc, thì nước cực lạc đó nếu không phải là Tiểu Lôi Âm trong Tây Du Ký, thì cũng là một thứ nước cực lạc kiến thiết tựa lưng vào vách của ông hỗn độn vô ký mà thiền học có khi gọi là cụm mây chắng ngang hang núi làm cho đàn chim vỡ tổ lạc mất lối về, cũng có khi gọi là bị một mảng mạt vàng rơi vào con mắt. 

Vì thế phải lợi dụng kỹ thuật dùng niệm hoá niệm này là một hóa chất cho tất cả khối vọng tâm phải tiêu tan từng đợt, từng đợt theo thời gian ngắn để đi đến tâm thể vô niệm vĩnh viễn thực tại, và khi có nghĩ một điều gì tức là chơn như tự tánh khởi niệm, việc ấy sẽ hiển hiện một cách rõ ràng, chớ không khó khăn như trước. 
  
Hoá niệm bằng cách nào?? 
  
Nghĩa là trong khi tĩnh tọa, vừa mặc niệm danh hiệu Phật đều đều liên tục, vừa phát giác động tướng của làn sóng mặc niệm cũng một cách đều đều liên tục, và cũng bắt đầu thêm vào: “Lạ thật! tấm thân này chỉ là một khối vật chất tứ đại giả hợp không thể có khả năng niệm Phật, cũng không thể có khả năng tạo nên vọng niệm; nó vốn tuyệt đối tỉnh chí. Thế sao hiện giờ lại có ra làn sóng động tướng năng này? Vậy cứu tận của nó là cái gì? Nó có bằng cách nào? Mà qủa thật vậy, nó đang hiển hiện rõ ràng trong thân ta, tại sao có chuyện kỳ bí đến thế? 
  
Đặt nghi vấn này là áp dụng thân giác để dựng đứng nghi tình. Mục đích là để tiêu hóa vọng niệm cho không còn chỗ bám víu, chớ không phải để mò tìm câu trả lời rằng nó là tâm, là vọng tâm gì gì ấy. Vì đây là kỹ thuật giao lưu, phân hóa cho nghi tình phản động xen vào khối vọng niệm đang lắc lư. Đến đây hành giả phải làm việc thật kỹ lưỡng, vừa mặc niệm vừa theo dõi động tướng của làn sóng năng niệm, vừa liên tưởng đến thân giác, vừa dựng đứng nghi tình. Chỗ này người mới thực tập cảm thấy thật là bê bối đa đoan như người mới tập xe đạp. Tình trạng này giữ được đều như thế chừng năm mười phút là có thể tiếp nhận được tin mới. 
  
Tin mới như thế nào? Tức là đến đay hành giả sẽ bắt gặp khối vọng niệm tự nhiên tiêu tan, toàn thân bỗng nghe một chấn động tựa như hột gạo ngâm nước bị bẻ gẫ, rồi trở nên thật là yên ổn. Tất cả giao động bên ngoài đều hết thành vấn đề và cảm thấy một niềm thú vị yên vui sáng suốt làn sóng vọng niệm dứt bặt, mặt phẳng của nước tâm được trải ra, đến đây ta cũng ngừng dứt mặc niệm theo dõi. Cảm giác này có thể kéo dài từ 5 phút đến 15 phút, hay lâu hơn nữa không chừng, tùy theo trình độ hiểu biết và công phu thực tập của mỗi người. 

Đây là chỗ trong kinh gọi là tâm cuồng loạn ngừng dứt, hoặc nói tâm sinh diệt đã dứt, cảnh tịch diệt hiện tiền, hoặc gọi chân như hiển lộ, bổn tánh hiển bày. Hiện tượng này tuy chưa được liên tục mãi mãi, nhưng mặt thật của tâm tánh đã xuất hiện, và có thể trong giây lát vọng niệm sẽ đến vùi lấp trở lại. Nếu đã mãn thời tĩnh tọa phải xả ra, thì lần sau lai tiếp tục. Càng ngày càng kéo dài thời gian, càng nhân thêm tần số đến bao giờ cảnh tượng này được kéo dài ½ tiếng hay một tiếng đồng hồ. Thế là ta đã ngộ được pháp thân rồi đấy. 
  
Thời gian này, ta có thể tổn phí từ ½ tháng hay 3 tháng 6 tháng là cùng, cũng có thể có khi trong một thời gian tĩnh tọa mà phải làm đi làm lại 2, 3 lần nếu vọng niệm thô bạo. Nghĩa là nếu vọng niệm thô bạo như ngay buổi đầu thì ta phải dùng niệm nhiếp niệm trở lại, rồi mới dùng niệm hóa niệm, thì cảnh thanh tịnh cũng lại xuất hiện trở lại. 

Nếu như trường hợp người đã tu tập thuần thục, vọng niệm có trở lại cũng chỉ nhỏ nhặt tầm thường thì không cần dùng niệm nhiếp niệm mà cũng chỉ dùng niệm hóa niệm đương đầu với vọng niệm, ném hẳn thân giác và nghi tình vào là lập tức bình minh trở lại, tâm địa mới sáng tỏ rạng như thường. Sâu xa tế nhị hơn nữa, có những trường hợp sa mù mỏng do tinh thần sắp muốn hôn trầm, thì liên lập tức chấn chỉnh lại, vừa nhắm kín con mắt thịt mà cũng vừa mở hoắc con mắt tâm, dùng pháp giác chiếu soi hẳn trở vào trong đến tận cùng gốc gác của tế vọng, thì tế vọng cũng liền theo đó được tiêu trừ, rồi trời quang mây cũng tạnh trở lại. Đây là chỗ thiền tông gọi “Muôn dặm không mây muôn dặm trời”. 
  
Kết qủa này tuy lâm thời tạm bợ, nhưng vẫn là ngộ pháp thân cho nên gọi là tiểu ngộ. Nhờ đó mà tinh thần ta được nuôi dưỡng, thúc đẩy tuần tự xúc tiến một cách cao hứng không còn muốn bỏ dở nữa. Và đến bao giờ trong tất cả đi đứng nằm ngồi, tâm thể đểu được vô niệm như vậy, cuộc sống sẽ trở thành một cách linh động tự nhiên. Thế là chứng nhập. Chữ “Chứng nhập” nói đây là nghĩa là không còn thấy có cái thấy có mình có người, có có có không nữa, nó tự nhiên như nhiên. Thế là hành giả là một pháp thân đại sĩ rồi đó. 
  
Đến đây hành giả chớ nên nghi ngờ: làm sao ta dám tin chắc là ta đã ngộ được pháp thân, mà không bị rơi vào hai tướng? 
  
Xin thưa: Đây là việc làm có bản đồ, có kỹ thuật, nên phải quyết định tự mình phải biết, tự mình mình phải hay, đối diện với mức độ tâm địa mờ tỏ, mát mẻ yên vui, càng ngày càng tiến bộ hay càng ngày càng thụt lùi. Chuyện này người bàng quang thông thường không phải đại thiện tri thức làm sao biết chứ! Ta đừng nên hiểu chữ “Biết” một cách hồ lốn, vì cái biết bởi giác quan, bởi phân tích, bởi so sánh mà biết, thì chữ biết qủa là cửa của muôn tai họa. Còn chữ biết của ngộ Pháp thân đây là chữ biết do rơi tõm xuống nước mà biết toàn thân mát lạnh. Hay cũng như mình uống nước, lạnh nóng tự biết tự hay. Chỉ chữ biết này qủa là cửa của muôn sự nhiệm mầu, chớ không còn cái biết nào khác nữa! 
  
Có người ngỡ rằng giải thoát sao mà dễ dàng đến thế? Xin thưa đây là một phương pháp có kỹ thuật chặt chẽ chỉ có thực hành đúng hay sai, và nếu hành giả có một trình độ tin nhận, thực hành một ngày cũng như một tháng, một tháng cũng như một năm, một năm cũng như trọn đời. Nếu không bỏ dở thì dù có căn cơ thấp kém cũng quyết định phải được giải thoát, chớ không có nghĩa hên xui may rủi.
c. Cách Xả: 
  
Khi mãn giờ muốn xả thì trước hết khẽ hạ xương sống xuống một chút để cho chân bớt tê nếu có, rồi lơi chân ra và hô hấp trở lại bình thường. Khi hết tê, xoa mạnh hai lòng bàn tay cho thật nóng, áp lên mắt để rút hết những ngưng động trong mí mắt lúc mình ngồi. Kế đó xoa sau lưng chỗ hai bên trên mông đít, xoa chẽn vùng phía dưới tim bên phải bên trái, và hai bên mạn sườn; xoa hai bên lỗ tai đến xoa các khớp lắc léo; rồi dùng tay mặt xoa lòng bàn chân trái, tay trái xoa lòng bàn chân mặt và giữ yên cho lòng bàn tay, lòng bàn chân sát nhau nửa phút. Xong rồi nằm yên xuống, xuống sống giãn ra có hơi kêu, bây giờ bắt đầu xoa bụng nhè nhẹ, từ trên xuống dưới, từ trái qua phải, rồi từ phải qua trái. Hễ từ trái qua phải thì dùng tay trái, từ phải qua trái thì dùng tay phải, cho ruột được trở lại ngăn nắp bình thường. Nằm yên độ vài ba phút, rồi ngồi dậy đi tới lui năm bảy bước mới nên nằm ngủ trở lại. 
  
Khi mới xả ra không được ăn uống vật chi chấp bách như nóng quá hay lạnh quá. Nếu uống nước thì thong thả uống từ chút để tránh cho cơ thể bị phản ứng thay đổi đột ngột. Tựa như ô tô chạy đường trường hết nước, muốn cho vào phải dở nắp thùng máy ra cho máy nguội, nếu không thì phải đổ bằng nước nóng kẻo bể bình nước.
d. Những điều cần biết trong khi hạ thủ công phu: 
  
Mục đích của tu hành là điều chỉnh con người trở về với tâm thể vô niệm viên thông giải thoát. Cho nên tất cả những điều gì không dính dắp đến mục đích này đều phải được kiểm điểm kỹ, gạt hẳn ra ngoài lề không để chen vào cho thành ngã tẻ, đại khái như:
– Hoặc trong lúc ngủ, mơ thấy tất cả những chuyện dữ lành, nào thiên đàng, nào địa ngục, nào dạo chơi đến cảnh thần tiên, nào thấy thần tiên đến đón rước … tất cả đều không nên đắm chấp, mặc kệ cho nó, việc ta ta cứ làm, dù cho có Phật hiện trong chiêm bao cũng đừng đếm xỉa.
– Hoặc đang khi tĩnh tọa thấy có giai nhân đến ăn mặc hấp dẫn, hoặc mang thức ăn, cá thịt đến đút vào mồm, hoặc đem đàn đến đánh bên tai; hoặc xướng ca múa hát; hoặc có khi thấy rắn hiện đến bò quanh chỗ ngồi; hoặc nhìn thầy trong bụng có những con lãi có thể thò tay bắt được mà trong bụng vẫn không sao; hoặc thấy có nhiều phụ nữ loã thể áp đến khêu gợi; hoặc thấy Phật đến thọ ký; hoặc nghe trong tâm có tiếng nói; hoặc thấy có ánh sáng đầy nhà hoặc nghe mùi hương thơm ngát hoặc đúng giờ ấy Phật xuất hiện … 
  
Hết thảy những thứ ấy đều thuộc lãnh vực huyễn giác. Nếu ta bỏ lỡ mục tiêu tâm thể vô niệm mà chú ý đến chúng nó, đó chính là biến chúng nó thành ma quái để khuấy rối ta. Cho nên việc của ta, ta cứ làm, đừng thèm đếm xỉa gì đến, rồi tất cả đều tiêu tan. Cho nên Thiền Học có nói: “Gặp ma thì trảm ma, gặp Phật thì trảm Phật” như thế nghĩa là sao? Nghĩa là may hay Phật ở đâu, giờ đây đột ngột cấp bách quay hẳn trở vào trong, tạo thành thế đảo lộn, biến cố lạ kỳ, chứ ma ở đâu, Phật ở đâu?
– Hoặc đêm nằm thấy có thần linh đỡ chỗ nằm, hoặc thấy có nhiều người đến nắn bóp … cũng đều là những chuyện không có gì linh thiêng chớ nên lưu tâm tham đắm.
– Hoặc có khi nghe chim chóc, thú vật nói chuyện với nhau một cách rõ ràng. Hoặc nhìn thấy cụm mây biến thành thần linh; cây cột biến thành người đứn; cái ghế biến thành con heo, sợi dây biến thành con rắn, tiếng giã gạo biến thành tiếng chuông … tất cả đều là thác giác.
– Hoặc có khi trong thời kỳ hạ thủ công phu bỗng dưng có nhiều người tập trung đến xin thuốc, có khi chỉ cho uống nước lạnh hoặc lá cây khô cũng khỏi bệnh. Thậm chí đến rờ đầu bệnh nhân là bệnh khỏi, chăng nữa đối với mục đích tâm thể vô niệm viên thông giải thoát cũng chẳng liên quan, chớ nên đam mê mà rơi vào con đường danh lợi, dâm tà. Việc đâu còn có đó, việc nào theo việc nấy chớ nên lầm lẫn mà đường tẻ mất dê.
– Hoặc có khi vì công phu quá thiết, thời gian kéo dài, sức dồn ép quá táo bạo, làm cho từ chỗ ngồi trong phong, hoặc nhìn suốt ra tới mặt biển thấy mặt trời vừa lên, hoặc nhìn sang bên kia núi thấy có người đi, hoặc biết người xung quanh trong bụng nghĩ gì; hoặc xung quanh am chỗ ngồi cây cỏ trổ hoa sen … Hết thảy những việc vừa nói đều thuộc lĩnh vực dồn ép thái quá, làm cho tâm linh bốc bay mà có ra như thế! 
  
Chỉ nên nhắm vào mục tiêu tâm thể vô niệm viên thông giải thoát mà làm việc, tự mình mình biết, tự mình mình hay, không cần phải rong ruổi theo một mệt mà còn gây thêm tai hại. Thiền học có câu: “Chỉ cần hết tình phàm, chứ không dung chứa sự tạo ra thành lý giải”. (Đản tận phàm tình bất dung thánh giải) là nghĩa thế.
– Hoặc trong giấc mơ có khi thấy xuất thần đi cứu người dưới địa phủ, hoặc lên cung trời Đâu Suất gặp Phật Di Lặc, hoặc trong khi ngồi mơ màng thấy binh ma tướng qủy … tất cả như thế đều thuộc ngoài lề mục đích, không cần phải lưu tâm.
– Hoặc trong thời gian tu hành được tiếng tăm nổi dậy, người đến hoan nghênh như nước, hoặc xin thuốc, hoặc cầu pháp, hoặc đem lễ vật đến cúng bái …. đều là những việc thúc đẩy cho hành giả dễ bị rơi vào vòng sa đọa danh lợi thường tình mà vẫn tưởng mình là thần thánh. 
  
Đây là một ngã rẽ rất nguy hiểm, mà đa số vẫn coi thường nhưng kỳ thực nào có quan hệ gì đến mục đích tâm thể vô niệm viên thông giải thoát đâu! Từ trước đến giờ biết bao người tu bị sa đọa cũng chỉ vì đặt cái nhân không chính xác mà ra.
– Hoặc có khi đang ngồi tĩnh tọa, bỗng dưng khua tay múa chân, mình nghiêng ngửa quay đảo như lên đồng, hoặc cất bổng lên, hoặc sa chìm xuống. Như thế vì bởi từ trước quen theo đà hướng ngoại, giờ đây quay hẳn trở vào, bị một cơn xáo trộn, bản năng tự vệ phải xuất hiện chuyển động để lấy lại thế quân bình. Cứ để tự nhiên rồi tuần tự sẽ hết. Có khi nhờ những bản năng hoạt động này mà những bệnh cố cựu nan y được khỏi hẳn. Tuy nhiên nếu thấy tướng lạ kỳ, người xung quanh vội đam mê rong ruổi theo, làm cho bản thân hành giả cũng sẽ bị mê hoặc, rồi tự rơi vào nẻo đồng bóng, ông lên bà xuống không sao thoát khỏi.
– Hoặc có khi trong thời hạ thủ công phu xảy ra nặng ngực, nhức đầu nhức răng, khó thở, mệt tim … thì phải lập tức kiểm điểm lại xem mình thực hành có đúng theo phương pháp vạch ra hay không. Nếu chưa đúng thì phải sửa chữa lại cho chính xác. Nếu không có sự sai lầm thì đó là sự phản ứng thông thường của thế đổi chiều hướng nội, hãy lập tức ngừng nghỉ đợi cho cơ thể bình thường sẽ tiếp tục công phu thì mọi việc bình an vô sự, không cần phải thầy, phải thuốc.
– Hoặc có khi đang hạ thủ công phu, bỗng dưng nghe thấy êm đềm hơi thở có tiếng tựa như muỗi kêu, tinh thần cảm thấy bắt đầu tơ lơ vớ vẩn … tức là muốn hôn trầm rồi đó. Nếu chấn chỉnh theo sát làn sóng động tướng năng niệm thì cũng có thể qua. Bằng không cứ mặc kệ, qua cơn rồi sẽ tỉnh, nếu khí thế hôn trầm đi đến không thể gượng cứ để cho nó yên nghỉ, ngủ đã rồi trở lại công phu sẽ đắc lực. Nếu sau khi ngủ đã mà vẫn còn hôn trầm là bởi ăn nhiều thức ăn lạnh, như uống nước đá lạnh theo bữa ăn chẳng hạn. Phải điều chỉnh lại sự ăn uống. Nếu không thì sẽ hoàn toàn bất lực.
– Hoặc có người cứ bắt đầu xếp bằng vào ngồi là cơn buồn ngủ cũng bắt đầu đến, trăm lần như một. Như thế là bởi nghiệp si mê qúa nặng, phải đòi hỏi một chí khí quyết định, và khi công phu phải đốt đèn trong phòng sáng tỏ. Mục đích của tu hành là để giải thoát, giải thoát cho chính mình và giúp cho mọi người chung quanh được giải thoát. 

Nhưng nghĩa giải thoát ở đây bao hàm nghĩa tâm thể vô niệm viên thông, chớ không có nghĩa mong cầu danh lợi hay tình cảm lạc lòng. Cho nên khi mục đích chưa dứt, tức là mình tắm gội chưa sạch, thì làm sao có đủ khả năng giúp đỡ cho ai. Vậy nên khi hạ thủ công phu, trong tâm chớ nên pha trộn những ý nghĩ: nào ta phải biết cho thuốc, chữa bệnh … để cứu dân độ thế. Phải biết rằng tất cả đau khổ của thế gian đều từ tâm mê mà kiến lập. Nếu không căn cứ vào đó để gỡ, mà chỉ dong duỗi theo bên ngoài, rốt rồi không khỏi sa vào vòng danh lợi.
Nếu người thiệt có chí xuất trần, cứ nhắm thẳng mục đích mà đi. Khì nào kết qủa được viên mãn sẽ nghĩ đến chuyện khác không muộn, kẻo không khéo đường tẻ mất dê. Kết lại, chúng sinh vì mê chấp súc tích muôn đời lũy kiếp mà kết thành một khối vọng tâm được phân làm 4 phần như đã nói trước. Nhưng kỳ thực chẳng qua là tâm mê chấp, thấy có cảnh thiệt, kết thành chấp ngã, chấp pháp, tạo nên cái tôi và những cái thuộc về tôi. Đã chấp có, tất không thể không chấp không. Ba thế chấp này từ kiếp nguyên thủy chưa nứt con mắt ra tuy chưa hiện hành nhưng cơ tiềm phục vẫn đầy đủ, tựa như người chưa nhiễm bệnh để rồi sẽ nhiễm bệnh, chứ không như người miễn nhiễm. 
  
Vì thế ba thế chấp này ở thời kỳ hỗn độn vô ký còn tiềm phục chưa phân thì được gọi là “Câu sanh ngã chấp, câu sanh pháp chấp và câu sanh không”. 
  
Ba thế chấp này từ khi nứt con mắt ra cho đến bây giờ được mệnh danh là “Phân biệt ngã chấp, phân biệt pháp chấp và phân biệt không”. 
  
Có ngã chấp mới có tạo ra dụng cụ đựng. Có pháp chấp mới có tạo ra vật để đựng. Có chấp không mặc dù không đựng gì cả mới có cảnh hỗn độn tối thui. 
  
Tâm thức tuy đối với người như không hình tướng, nhưng kỳ thực tựa như ta sắm một cái thùng đựng rác. Hễ có cái thùng là có khoảng trống trong cái thùng, nên khi trút hết rách trong thùng, thùng vẫn còn thì khoảng trống âm u trong thùng vẫn còn. Khối mê chấp này bao hàm cả không gian và thời gian nên gọi là không gian và thời gian tâm lý. 

Nay ta đặt nền tảng hạ thủ công phu quay hẳn trở vào hết 180 độ, lẽ tất nhiên dọc đường không thể không xảy ra những hiện tượng biến cố rối rắm. Trong cái thế lộ nhộn, trời chưa quang mây chưa tạnh. Nếu không đặt cái nhân cho chính, mục tiêu cho rõ ràng, làm định hướng thì căn cứ vào đâu để mình tìm được mình chứ. Cho nên cứ hãy căn cứ và cái nhân và mục tiêu mà tuần tự nhi tiến. Và tất cả những kỳ kỳ quái quái đã nêu trên đều được gạt hẳn ra ngoài lề, thì công phu của hành giả mới bảo đảm kết quả và thời gian chính xác.
e. Công Phu Hàm Dưỡng: 
  
Công cuộc cách mạng toàn diện cuộc sống con người trong lãnh vực thiền học, dù phương pháp kỹ thuật của người hướng dẫn có khéo léo đến đâu, hành giả phải ý thức 5 điều khó là: biết khó, thực hành khó, chứng khó, bỏ khó và dụng khó. Như thê nghĩa là sao? Tại sao đã cần phải chứng mà lại bỏ, và tại sao bỏ mà lại khó? 
  
Thực ra nói biết, nói thực hành, nói chứng, nói bỏ, nói dụng, chẳng qua nhắm vào khối vọng tâm mà nói vậy thôi, kỳ thực đạo vốn y nguyên từ xưa như thế, muôn thủơ thường hắng không tăng không giảm, lấy đâu để nói biết, nói thực hành, nói chứng, nói bỏ cái dụng? Thê mới biết: nói biết là biết cái không biết, nói thực hành là làm cái không làm, nói chứng là chứng cái không chứng, nói bỏ là bỏ cái không bỏ, nói dụng là dụng cái không dụng. Như thế mới gọi là biết diệu, làm diệu, chứng diệu, bỏ diệu và dụng diệu. Như thế nghĩa là sao? Như thế nghĩa là phải đi đến chỗ nào cũng như lúc nào đều phải tuyệt diệu một cách tự nhiên như nhiên, và thế mới có chuyện công phu hàm dưỡng.  
  
Ta vẽ một hình tròn dù nhỏ bằng đầu kim đi nữa, nếu đã tròn thì mở ra bao lớn cũng tròn, nếu méo càng mở ra càng thêm. Đã là con sư tử dù ở trong thai cũng là sư tử, không có chuyện nuôi con dê già lâu năm thành con sư tử. 
 
Tuy nhiên, con sư tử lọt lòng mẹ mấy hôm, dù có biết vươn vai gào thét đi nữa cũng vẫn còn được tiếp dưỡng bằng sữa mẹ đến bao giờ trưởng thành. Cho nên từ nhân tướng đến qủa tướng, quãng đường dài này công phu hàm dưỡng có một giá trị to tát bao trùm. 
  
Đã trót có cái thùng đựng rác, rác chưa đến nỗi đầy tràn, mà có chủ ý đập vỡ thùng thủ tiêu cả rác, mặc dù khi đập vỡ, chắc chi rác rến không tung toé. Nhưng thùng đã vỡ thì không còn cái để đựng, rác rến tung toé cũng sẽ được thu xếp lần hồi. Việc làm này trông có phần táo bạo và đột ngột. 
  
Cũng một cái thùng rác, với một thời gian dài, rác đựng đầy nhóc, tràn ra ngoài, cái thùng cũng được củng cố lại cho được bền chắc hơn. Nay muốn thủ tiêu cho dứt khoát mà phương pháp trên không thể áp dụng, thì chỉ có cách tuần tự trút hết rác mang vứt đi, rồi sau đó sẽ phá vỡ cái thùng cho mất tích, hai việc làm, hai đường lối, hai kết quả, mỗi mỗi đều có khôn ngoan, và kỹ thuật khác nhau. 
  
Trong thời kỳ kẹt đâu gỡ đó, chú trọng hoàn toàn đến cơ duyên khai thị, mở chỉ cho thấy thẳng bổn tâm bổn tánh, vốn có giá trị độc đáo. Ví dụ: có người hỏi Bồ Đề Đạt Ma: Cư sĩ còn vợ con dâm dục, đồ tể sát sanh làm sao thành phật được? Đáp: đây không bàn đến đồ tể sát sanh hay vợ con dâm dục mà chỉ bàn đến việc thấy tánh. Khi đã thấy tánh thì nghiệp dâm, nghiệp sát tự nó rỗng lặng, khỏi cần phải mó tay vào.
Lại nói: Từ phàm qua thánh phải nên ngừng nghiệp, dưỡng thần tùy thuận qua ngày tự nhiên nhập diệu. 
  
Lại nói: khi đã thấy tánh dù có học nữa cũng được không học chả sao, nếu không khéo giữ càng học càng trở nên mê muội. 
  
Với Lục Tổ Huệ Năng, khi đã được khai thị rồi thì lại dạy rằng: “Từ đây về sau, phải kính trên nhường dưới, thương xót kẻ nghèo nàn, học rộng nghe nhiều, suốt lý như phật”. 
  
Thế thì khuyên bảo đừng cần học, hay cần phải học rộng nghe nhiều … trong đó đều có ngụ ý công phu, hàm dưỡng, chớ không phải ngôn ngữ chết cứng như người ta thường tưởng, cũng không phải là thứ có kẽ hở bời rời. Như thế điểm trọng tâm hoàn toàn nằm ở thấy tánh mà thành tác dụng. 
  
Đến thời kỳ hạ thủ công phu bằng thoại đàu, bằng công án, bằng chỉ quán, bằng hô hấp tĩnh tọa để tìm kiếm cái trút sạch rác trong thùng, lẽ cố nhiên sự nỗ lực và công phu hàm dưỡng cũng phải có khác. Cả hai thời kỳ đến nay đều đã trở thành qúa độ. 
  
Nay ta muốn có một kỹ thuật siêu tuyệt hoàn toàn ứng hợp với thời cơ duyên của thế kỷ khoa học vật chất năm châu họp chợ này, tất nhiên ta không thể bước vào thời kỳ siêu độ, áp dụng cả 2 thủ đoạn của hai thời kỳ một lúc trong khuôn khổ kỹ thuật, để nắm vững cơ thành công thì lẽ cố nhiên công phu hàm dưỡng cũng theo đó mà trở nên siêu tuyệt. Nhưng ngược lại, lẽ ra mục công phu hàm dưỡng này không cần phải đề cập, tại sao? 
  
Sau khi trong thời tĩnh tọa đã bắt gặp được cái “Tâm thể vô niệm chơn như bổn tánh” rồi từ đây về sau hoàn toàn tùy thuộc vào chí khí hướng thượng của mỗi người. Phương chi công phu hàm dưỡng không ngoài đi đứng nằm ngồi, nhưng cũng phải siêu ra ngoài đi đứng nằm ngồi của cuộc sống. 
  
Huống chi công phu hàm dưỡng của phép vô niệm viên thông lại càng đặc biệt hơn. Hơn nữa ngoài việc hạ thủ công phu nhắm hướng tâm thể vô niệm, còn biết bao nhiêu kinh sách nhứt thừa liễu nghĩa như kinh Kim Cang, Quán Tâm Pháp Bồ Đề Đạt Ma, Đàn Kinh của Lục Tổ Huệ Năng, lúc nào cũng là ngọn đuốc soi đường đưa ta đi thẳng vào toàn bộ cuộc sống. 
  
Xưa Lục Tổ đến với Ngũ Tổ sau mấy phút khám nghiệm. Ngũ Tổ bảo: Thôi, hãy đi xuống nhà dưới cùng làm việc với mọi người”. Lục Tổ thưa: “Tự tâm của đệ tử thường sanh trí huệ, chẳng lìa tự tánh tức là phước điền, chẳng hay hòa thượng còn sai bảo chi nữa?”. Ngũ Tổ nói: “Thằng Mường Mán này căn tánh sáng qúa! …” Với tinh thần đó, công phu hàm dưỡng còn thành vấn đề gì nữa không? 
  
Thiền Sư Trí Hoàn ở với Ngũ Tổ một thời gian khá dài, tự tin rằng mình đã được chánh thọ, tách rời đến một nơi xa xôi cất am ở ẩn, ngồi hoài không nằm suốt mười mấy năm. Tình cờ Huyền Sách là đệ tử của Huệ Năng đi du phương tới gặp, Huyền Sách hỏi: “Ngài ở đây làm chi?” Đáp: “Nhập Định!”, Huyền Sách hỏi: “hữu tâm mà nhập hay vô tâm mà nhập. Nếu hữu tâm mà nhập thì lý ưng bò bay máy cựa cũng phải được định. Nếu vô tâm mà nhập thì cây cối ngói gạch vô tình cũng phải được định”. Giây lâu Trí Hoàn đáp: “Ngay trong khi tôi nhập định, tôi không thấy có cái tâm hữu vô”.
Huyền Sách nói:” Nếu không thấy có cái tâm, có hữu, có vô tức là thường định, mà đã là thường định sao lại có nhập có xuất”.  
  
Trí Hoàn làm thinh, giây lâu hỏi: “Thầy của ông là ai?” Huyền Sách đáp: “Lục Tổ Huệ Năng”. Trí Hoàn hỏi: “Lục Tổ nói thế nào?” Huyền Sách đáp: “Chỗ thầy tôi nói là nhiệm mầu rỗng rang, tròn đầy, vắng lặng, thể và dụng như như, 5 uẩn vốn không, sáu trần không phải có, không ra không vào, không định, không loạn, tánh thiền không trụ, lìa cái trụ vắng lặng của thiền, tánh thiền không sanh, lìa cái tưởng sanh thiền, tâm như hư không cũng không có cái tâm suy lường hư không nữa. Thế rồi cả hai người dắt nhau đến Lục Tổ, ra mắt Lục Tổ kể hết tự sự, Tổ đáp: “Đúng như vậy”, và thương hại nên có lời khai thị: “Đạo do tâm ngộ há phải do ngồi, ngồi hoài còm lưng có ích gì cho đạo?” Rồi lại nói kệ rằng:
 “Sống ngồi hoài không nằm 
 Chết nằm hoài không ngồi 
 Vẫn là bộ xương thối 
 Tại sao căn cứ làm công khoá?”.
  
Từ đó Trí Hoàn mới vỡ lẽ. Như thế mới biết cái tâm mê của chúng sinh chẳng ai giống ai, nhân duyên của mỗi người đều khác. Nếu công phu hàm dưỡng phải bao gồm cả đi đứng nằm ngồi lồng vào cuộc sống; không công phu hàm dưỡng thì hóa ra đầu voi đuôi chuột, vậy phải thế nào? 
  
Thực ra cuộc sống này nếu có một chút nào bỏ lơ quên bổn tánh là bắt đầu rơi vào sa đọa. Nếu không căn cứ vào tâm thể vô niệm để làm tay lái thường xuyên thì kim chỉ nam cuộc sống sẽ mất. Nếu trụ vào một tướng nào thì đã bị rơi vào tướng. Nếu không trụ vào tướng mà trụ vào không là đã bị rơi vào không, cho nên phải là không trụ. Và điều quan trọng là phải nhập vào cuộc sống cho thật liền. 
  
Cho nên nếu muốn công phu hàm dưỡng được nhập diệu thì phải lấy cuộc đời làm lò, thường xuyên hồi quang phản chiếu biện chứng nghịch lý, đề cao cảnh giác làm lửa đê trui luyện cho chính con người của mình mãi mãi đến bao giờ viên mãn vô thượng giải thoát, vì đời với đạo không phải hai. Nếu lìa đời mà tìm đạo là không tưởng. Lục tổ có dạy đồ đệ: “Các người hãy thận trọng đừng khai tri kiến chúng sanh”. 
  
Đã là kẻ có chí xuất trần thì bao nhiêu đây cũng là nhiều lắm, nếu thiếu ý chí xuất trần, muốn tỉa ngón chân cho vừa chiếc giầy e không khỏi có phần thương tổn. 
  
Kệ rằng:
 “Tất cả đều không dè 
 Với tấm thân vật chất 
 Bổn lai không hay biết 
 Không tự sanh phân biệt 
 Cũng không tham, sân, si 
 Không đam mêm dục lạc 
 Không đòi hỏi thèm khát 
 Vốn tuyệt đối bình thường 
 Không hề có rắc rối 
 Vậy tại sao bây giờ? 
 Lại phát sanh hệ lụy 
 Quái gở từ đâu ra 
 Do đâu thành trói buộc? 
 Tại sao không thắc mắc 
 Bùng dậy khối nghi tình 
 Để thoát cả thân tâm 
 Nhứt thời liền an lạc?” 
 
HẾT PHẦN 3.


VÔ NIỆM VIÊN THÔNG YẾU QUYẾT
 Thích Minh Thiền 
Phật Lịch 2536 – 1992
PHẦN THỨ HAI 
NHỮNG CÔNG CỤ TINH THẦN

Người xưa có nói: Muốn cho công việc được khéo léo thì dụng cụ cần phải sắc bén. Trong công cuộc hạ thủ công phu để tiến về con đường vô thượng viên thông giải thoát, trên phương pháp và kỹ thuật bắt buộc phải có những công cụ tinh thần như sau:
1. BIỆN CHỨNG NGHỊCH LÝ: 
 
Sao gọi là biện chứng nghịch lý: là một cách nhìn thẳng vào bề trái của cuộc đời, áp dụng một thứ biện chứng để biến tất cả những tệ bạc không còn ai muốn dùng, cho trở thành những công cụ lợi ích to tát cho việc điều tâm. Thí dụ: Cảnh nghịch là thứ thiên hạ không kham, nhưng đối với ta thì cảnh thuận nghịch dù trẻ con cũng dễ dàng thức tỉnh. 

Cho nên đối với ta, cảnh nghịch là cây thương đâm trước mặt, dù có to lớn cũng dễ thấy, dễ đề phòng. Còn cảnh thuận như mũi tên bắn sau lưng, tay nhỏ nhưng khó đỡ gạt. Ở trong cảnh nghịch mặt thật của sự đời ta dễ thấy, còn cảnh thuận như mũi tên bọc nhung rất khó lường. Bồ Đề Đạt Ma có nói: “Không phiền não không lấy đâu để sanh trí tuệ, không trí tuệ không lấy đâu để diệt phiền não”. Khổng Tử nói:”Không có sự dồn ép thì không có sức nổi dậy”. Nếu ta thấy được như thế, thì ta sẽ thấy cảnh nghịch là thiện tri thức đắc lực đối với ta, và dù không có cảnh nghịch thì cảnh thuận cũng không sao. Nếu không thấy như thế, thì cảnh nghịch đã nguy mà cảnh thuận càng nguy hơn nữa. 
 
Người có lưu tâm đến biện chứng nghịch lý này thì khi gặp cảnh thuận thích luôn luôn tự cảnh giác, để nhìn thấu tới bề trái của nó. Lúc gặp cảnh trái chướng, luôn luôn biết sách tấn mình để mạnh dạn tiến bước trên con đường giải thoát. 
 
Lại như hiện nay, thiên hạ đều lao nhao than thở cho là thời kỳ qủy vương mạt pháp. Nhưng nếu thông qua ống kính biện chứng nghịch lý, thì đây là một cơ hội ngàn năm một thuở để cho ta giáp mặt với sự thật, thấy rõ trò đời mộng huyển không một mảy may hiện tượng vật chất nào được mãi mãi trường tồn, chứng thẳng cái vô sở đắc ngay giữa cuộc đời bằng xác thịt, bằng giác quan, bằng gia đình, bằng chính thân ta, như trong tâm kinh đã nói. Có như thế mới khỏi bị than thở rằng:
 “Tuồng huyển hóa đã bày ra đấy 
 Kiếp phù du trông thấy mà đau” 
 
Như Ôn Như Hầu tiên sinh đã thở ra lúc nọ. Mà trái lại tựa như chuyên gia hàng hải cưỡi thuyền buồm dạo chơi nơi biển cả, sóng dậy ba đào, mượn cảnh phong ba để điêu luyện mình càng ngày càng tinh xảo khả năng lèo lái. Được như thế thì còn gì thú vị cho bằng!
2. THÂN GIÁC: 
 
Thế nào là thân giác: Sở dĩ có hai chữ này là vì phần đông đều bị một thứ thức giác nhận định sai lầm về xác thân, nên thấy xác thân là nguồn tội lỗi, bày ra những trò tự đánh tự đập, hoặc khổ hạnh đọa đầy, hoặc đốt tay đốt than, hoặc tự thiêu tự tử. Qúa hơn nữa có kẻ nhìn thân là thứ mãi mãi hằng có để trau giồi, o bế, đam mê theo dục lạc thường tình. 

Thế thì đam mê theo nó hay quy tội cho nó đều đủ gì để biết nó?! Có lần đồ đệ của Phật bạch Phật rằng: Để bộ phận sinh dục nó đòi hỏi đủ thứ không thể tiến tu, xin Phật cho phép thiến đi để dễ bề điều khiển. Phật nói: Xét kỹ xem, tại nó hay tại mình? Người ấy trầm ngâm giây lát thứ: tại mình chớ đâu phải tại nó. Phật nói: thế sao không thiến mình lại thiến nó? 
 
Lại nữa, một vị tăng đến trình với một vị tổ: Bạch tổ sư, xin chứng cho con đi khổ hạnh để đày đọa xác thân này cho nó không còn sức đòi hỏi thèm khát mới có thể tu trì. Tổ hỏi: con bò không chịu kéo xe, vậy ta nên đánh xe hay đánh bò? 
 
Do thác giác này mới kiến lập ra danh từ thân giác, bao gồm cả 3 ý nghĩa:
• Xác thân này không thể khởi niệm. 
• Xác thân này không thể có vọng niệm. 
• Xác thân này tuyệt đối yên lặng. 
 
Nó chẳng qua chỉ là một công cụ phương tiện như radio, tivi hay máy xay lúa chẳng hạn. Nếu tách khỏi động lực thì chỉ là một khối vật chất vô tình. Hành giả phải nhận định kỹ, hiểu rõ như thế, và nhớ lấy 3 đặc điểm này để đợi đến phần kỹ thuật sẽ có cơ đắc dụng. Đây sẽ là một hóa chất để biến hóa vọng niệm cho trở lại chính thường một cách vô cùng đắc lực, là một diệu dược để chữa bệnh vọng tâm. 
 
Nếu chỉ nhìn riêng phần thân giác, thì bề ngoài trông qua chẳng có chút giá trị gì, nhưng sự thực khi áp dụng rồi mới thấy quả là diệu dược. 
 
Điểm này xét ra chẳng chút khó khăn gì, chỉ sợ người học thấy quá đơn giản mà hóa ra xem thường, không để ý chú trọng mà thôi. Nên thận trọng.
3. NHẬP LƯU HƯỚNG NỘI 
 
Thế nào là nhập lưu hướng nội? Do đâu và tại sao có lập ra câu nói này? 
 
Trong bao la này nếu nhìn suốt, vốn nó không bớt không thêm nhưng nếu để ý về cõi hiện tượng thì ta thấy khoáng và thực vốn vô tình, chỉ có hữu tình mới cựa quậy. Đành rằng vốn nó cũng nằm tròn trong cái bất tăng bất giảm, sắc không phải sắc, không có trong ngoài, nhưng khi vừa nứt mắt ra thì mỗi cái nứt mắt đều nhìn nhau, nhìn ra đến sự vật, để tạo thành ý tứ TA, NÓ, MÌNH, NGƯỜI, đây kia, được mất, hơn thua, lợi hại, ghét yêu, vui khổ … nhứt nhứt đều theo ánh sáng nhìn ra của tâm thức mà tất cả đều trở thành chi ly phân hóa rồi đồng thì yêu, khác thì ghét, thuận thì theo, nghịch thì chướng, dồn dập bốn bề, gây duyên đảo lộn. Thế là nằm trong cảnh không có trong ngoài và chính mình cũng là sắc không phải sắc, mà chúng sinh cựa quậy, tự tạo thành cái phóng vọt nhìn ra đã thành có không có sắc, có trong có ngoài, có khổ có vui, có sống có chết. Thế là vì tâm hướng ngoại mà tạo thành đà hấp dẫn theo sinh tử luân hồi. 
 
Thầy thuốc là con đẻ của bệnh nhân, chúng sinh là mẹ đẻ ra ông Phật. Vì có bệnh nên mới có nghiên cứu chế ra thuốc chữa. Vì có hướng ngoại tạo thành ưu bi khổ não, trì kéo hấp dẫn, sinh tử luân hồi, và ai ai cũng rập khuôn giống hệt như nhau một kiểu, mà lại còn có người đổ cho trời khiến, hay tự nhiên, nên nhà Phật mới lập ra từ danh từ chánh điên đảo. 
 
Đã có bị đau khổ hệ lụy vì hướng ngoại mà có tên là chánh điên đảo. Nay nếu muốn chữa lại bệnh khổ đau hệ lụy này, tất không thể không kiến lập phép hướng nội, mà lập thành danh từ “Chánh Biến Tri”. Cho nên tu hành chẳng qua là một thứ y đạo siêu đẳng, chỉ vì truyền nối nhiều đời mà hóa ra một việc làm không hiện thiện, không thể thực hiện. 
 
Có ai ngờ khi tinh thần của chúng ta xoay theo chiều hướng ngoại thì ý niệm về Tôi càng được thắt chặt để cái Tôi trở thành trên hết. Từ đây cái Tôi trở thành một dụng cụ chứa đựng rồi theo đó tất cả những vọng niệm, những bóng dáng của trần cảnh đều được thu vào, cấu kết lẫn nhau, mắc liền với xác thân một cách vô cùng chặt chẽ, càng ngày càng thu nhập đầy nhóc. 

Lại còn có cách lưu truyền từ muôn đời lũy kiếp đến bây giờ để trở thành một bài toán cộng vĩ đại, và có khả năng hoạt động ngoài ý muốn của ta. Không những thế thôi, mà còn gây thêm hệ lụy cho thân xác một cách vô cùng khít khao tế nhị mà trên đời không mấy kẻ ngờ. Chính vì nó mà tế bào trong thân này xảy ra phát triển theo chiều hướng mất chánh thường để tạo thành bịnh ung thư (nham, cancer) là cho giới Y khoa ngày nay phải bó tay kinh khiểp. Qúa quắt hơn nữa, tất cả những tôn giáo tín ngưỡng, qủy thần oai quyền, chủ nghĩa, chính sách, nó đều có thể đẻ ra được hết. 
 
Vì thế nên khi xoay chiều hướng nội, tất cả 6 căn đều chú ý xoay trở vào thì trước nhất cái Tôi bắt đầu chuyển mình rạn nứt để đi đến một mức độ vỡ tung và tất cả khối vọng tâm hoạt động ồn ào cũng theo đó mà bắt đầu bị phân hóa, để lần lượt đi đến ổn định, trả cuộc sống con người về với tự nhiên một cách tự nhiên như nhiên. Do đó nên trong làng hướng nội hạ thủ công phu có những trường hợp bịnh ung thư được chữa khỏi.

Về điểm này mong rằng các nhà khoa học kỹ thuật vật chất, cũng như Y khoa ngay nay nên bình tâm mà kiểm nghiệm. Có một điều ta cần nhớ về pháp hướng ngoại chánh điên đảo của chúng sinh, nó khít khao tế nhị hệt như tự nhiên. Cho nên nói đến phép hướng nội để trở thành chánh biến tri cũng phải khít khao tế nhị như thế, thì thuốc với bệnh mới cân xứng, mới có khả năng đón đầu bịnh. 

Về điểm này nếu ta có chút sơ hở là bệnh cũng the đó có thể lọt kẻ, làm cho thuốc sẽ trở thành không công hiệu. Như thế đủ biết nhập lưu hướng nội qủa là công cụ sắc bén nhưng cũng phải biết áp dụng mới hẳn là món thuốc hay. Nếu không thì khi một niệm không sanh sẽ là chìm vào nước chết, chớ không phải là toàn thể hiện, và nước cực lạc ta xây dựng chẳng qua chỉ là một thứ sự nghiệp nương nhờ đất đai của ông hỗn độn vô ký mà thôi. Không gian nay không khỏi có nhiều mây mù tuyết phủ!
4. DÙNG NHIỆM NHIẾP NIỆM: 
 
Thế nào là dùng niệm nhiếp niệm? 
 
Như đã nói từ trước, khối vọng tâm trong mỗi người có vô số chủng loại, vô số hình thức nếu ta không có cách biến hóa và thanh lọc nó thì tâm ta không bao giờ trở về với thanh tịnh sáng sạch. Nhưng đặc tính của nó đã là vọng nên khi gặp vọng nó sẽ ráp vào. Do đó ta có thể chế tạo một hình thức niệm bền bỉ cố định, cho chúng nó làm trụ cốt, bâu rúc vào thành một khối, rồi ta sẽ hóa nó chứ không chỏi ngược với chúng nó. Vì thế nên ta phải tạo ra một thứ niệm thuần nhất hơn, tươi đẹp hơn, êm ả hơn. 
 
Thí dụ như: dùng câu A DI ĐÀ PHẬT hoặc DƯỢC SƯ NHƯ LAI hay QUAN ÂM NHƯ LAI hay 1, 2, 3, 4 gì cũng được. Nhưng câu có ý nghĩa như câu A DI ĐÀ PHẬT vẫn có giá trị sâu xa hơn. Trong khi áp dụng công cụ này là phải theo hình thức tĩnh tọa đóng hết 6 căn, không dùng chuỗi, mắt không mở, miệng không động, chỉ ghi nhớ mặc niệm một câu như A DI ĐÀ PHẬT chẳng hạn. Cứ mặc niệm đều đều không gấp không hưỡn, đồng thời soi trở vào trong thân một cách tỉnh táo tìm lấy tướng của làn sóng động niệm

Nếu tìm chưa thấy thì phải tìm cho kỳ được cho đến bao giờ thấy. Đến đó thì tất cả đám lao xao trong thân đều qui tụ về một niệm. Như thế là ta đã biết dùng công cụ này rồi đó. Công cụ này là một pháp vô cùng đắc lực, là vua của tất cả pháp tham thoại đầu khác. Độc giả nên tỉ mỉ nhận định hầu áp dụng được hết khả năng, để đạt đến mức thẳng tắc chính xác.
5. DÙNG NIỆM HÓA NIỆM 
 
Thế nào là dùng niệm hóa niệm? 
 
Trước kia đã kiến lập khái niệm về thân giác, giờ đây dùng thân giác để tạo thành một ý niệm “nghi tình” hầu đối lập giao lưu với vọng niệm đã phân hóa và giải tán tựa như dùng chất hóa học để phân hóa các vật chất. Hai chữ “nghi tình” không có nghĩa là hoài nghi hay nghi ngờ, mà có nghĩa tình bị nhưng hóa trong đó bao hàm tác dụng thú vị, thanh lương an lạc và trí tuệ, như màn mây được vén, như tối gặp sáng ra. 

Nó có khả không tài nào gỡ được. Do đó ta có thể dùng nó để biến hóa cái nhứt niệm trước kia, ta dùng quy tụ muôn niệm, cho cùng với nước tâm được hòa đồng trong suốt tựa như biển lặng sóng yên, chỉ có một màu trời nước, mặt biển lắng trông không còn lờ mờ vẫn đục nữa. Áp dụng công cụ này trong việc thanh lọc vọng tâm, nó cũng tựa như đánh phèn để lóng nước, không bắt buộc nhứt luật phải dừng liền theo với công cụ dùng niệm nhiếp niệm mà ta có thể dùng nó đơn độc trong những trường hợp vọng niệm chưa đến nỗi như sóng dậy ba đào, cứ áp dụng thẳng vào là có kết qủa. Sau này đến phần kỹ thuật sẽ giải thích tường tận hơn.
6. DÙNG GIÁC CHIẾU PHÁ VI TẾ VỌNG: 
 
Thế nào là dùng giác chiếu phá vi tế vọng? 
 
Nếu khi ta tịnh tọa đã đến mức tương đối thuần thục, khối vọng niệm trong thân không còn hùng dũng ba đào nữa, thì phép dùng niệm để nhiếp niệm hết cần. Tiến xa chút nữa nếu khối vọng niệm không còn hết đoàn lao xao thì phép dùng thân giác nghi tình, lấy niệm hóa niệm cũng không còn cần nữa. Nên chỉ khi vọng niệm chỉ còn thỉnh thoảng lẻ tẻ, chi li, nho nhặt chớp nhoáng lơ tơ mơ, không còn rõ là thứ hình thức gì, chỉ như cụm sương mù thưa thớt, thì ta chỉ cần tịnh tọa, nhắm khít con mắt thịt lại mà con mắt tâm phải mở bét thật tỉnh táo và rõ ràng để hồi quang phản chiếu đến tận đáy của vọng niệm vi tế, thì đám sương mù lập tức tan đi. Thế gọi là dùng giác chiếu phá vi tế vọng.

HẾT PHẦN HAI


VÔ NIỆM VIÊN THÔNG YẾU QUYẾT
 Thích Minh Thiền 
Phật Lịch 2536 – 1992

PHẦN THỨ NHẤT 
MẠCH SỐNG CỦA MỖI CHÚNG SANH


Đã vốn không đầu không đuôi, không xưa không nay, không tên không chữ, thê là con số không chưa viết. Mà đã là con số không chưa viết thì đâu còn gì mắc kẹt trong cái có với không, mê hay ngộ! thì làm gì có Phật với chúng sinh! Và tất cả bổn lai là Phật thì lấy đâu để nói để viết là mạng mạch hay không mạng mạch! Tuy bổn lai là Phật, nhưng chỉ vì quên mình là Phật nên bị kẹt vào chúng sinh. Đã có kẹt tất phải có gỡ. Đã nói gỡ tất phải biết rõ chỗ mắc kẹt. Cho nên sự thể không thể khác hơn! Chỉ có khi gỡ bằng cách nào để khỏi kẹt vào tướng gỡ và tướng bị gỡ mới đích thực là tài tử giải thoát.

*

THÂN” con người là một động vật như bao nhiêu động vật khác, là một tác phẩm kết hợp một cách chặt chẽ của hai hệ thống thân và tâm. Cả hai đều thuộc lãnh vực tướng, nên cả hai đều tổ hợp vô thường sanh diệt bất tề trong một quy luật khẳng định của trật tự thiên nhiên. Nếu tách rời tâm ra thì thân chỉ là một thiên nhiên. Nếu tách rời tâm ra thì thân chỉ là một khối thịt vô tri như bao nhiêu vật chất khác. 

Nhưng khi đã mắc liền với tâm rồi thì tất cả những ăn uống sinh hoạt, hoàn cảnh tâm tư, gia đình, xã hội, khí hậu, thời tiết thọ bẩm … đều có thể chi phối nó. Cho nên lòng buồn sanh bịnh, bịnh sanh lòng buồn, “Lòng quanh quéo sông càng quanh quéo, cảnh đìu hiu dạ lại đìu hiu”. Nếu nghiêm cách mà nói thì phần xác thân chưa hẳn là chánh phạm hay nguồn bịnh mà chỉ là một công cụ để cho tâm vọng có chỗ đam mê bám sát vào và biến thân thành một kho tàng tội lỗi làm cho những người nhìn theo kiểu cạn cợt đều lầm lạc may quy tội cho thân, cho nên có người nói: “Không biết bổn tâm học đạo vô ích”. Nói như thế đâu phải là vô cớ! 
 
TÂM” thế nào là tâm của mỗi chúng sinh? Làm sao biết chắc qủa có cái gọi là tâm chứ? 
 
Ta hãy chọn lúc đêm trường canh vắng, vào phòng ngủ ngồi xếp bằng tròn nhắm mắt lại, và đừng nghĩ đến bất cứ điều gì, lặng lẽ ngồi im độ 15 phút là ta sẽ thấy ngay trong ta không phải chỉ là một khối im lìm lặng hơ như ta tưởng mà là có cả sông ngòi, rừng cây xóm làng, thành ấp, trời đất, trăng sao thành phố, xe cộ, người vật, gà gáy, chó sủa … đang lao xao di động. Đó chính là tâm của chúng sinh. Tâm này còn vô số tên như là NGHIỆP THỨC, là TẬP NGHIỆP, là TÂM NHÓM CHỨA, là TÂM CUỒNG LOẠN, là TÂM VỌNG, là TÂM SANH DIỆT … 
 
Nó bao gồm cả pháp sắc và pháp tâm do bao cuộc tiếp xúc chạm tương giao tận tự lũy kiếp theo đà mê muội nhóm chứa thành một kho tàng vĩ đại mà trong đó chỉ là bóng dáng của tất cả những sự việc đã qua, kết thành một khối to tát, lúc nào cũng hoạt động dồn dập, dạt dào, khi náo nhiệt, khi tiêu trầm tựa như biển khơi sóng gió, ngoài sức khống chế của trí óc thường tình làm cho thiện chí thường bị bẻ cong. 

Thí dụ như khi ta bị đột ngột va chạm với sắc, tình, danh, lợi chẳng hạn. Do đó nếu nói dễ thấy, dễ biết, thì cũng rất dễ thấy dễ biết, nếu nói khó thấy khó biết thì cũng khó thấy khó biết ghê! Nay ta muốn khống chế tâm này một cách dễ dàng hầu chủ động hoàn toàn cuộc sống cho ứng hợp với trật tự thiên nhiên, cắt đứt sức hấp dẫn của luân hồi sanh tử, vượt khỏi khổ đau, thoát vòng tục lụy đem lại sự bình an ngay kiếp sống hiện tại, không còn bị lệ thuộc vào bất cứ một thành kiến nào, thì ít nhất ta phải có cách biết hết những chỗ hiểm yếu của nó. Do đó ta có thể chia vọng tâm ra làm 4 phần như sau:
1. PHẦN HIỆN TẠI: 
 
Phần này ta có thể khống chế được, thí dụ bắt nó niệm Phật chẳng hạn. Nên cũng có khi người ta gọi là trí óc hay ý thức.
2. PHẦN NHÓM CHỨA 
 
Vì do sự nhóm chữa của lũy kiếp muôn đời cộng lại nên gọi là “Tâm nhóm chứa”. Vì nó có khả năng tự động để thúc đẩy chúng sinh sa vào con đường ngoài ý muốn, nên gọi là NGHIỆP NHÓM CHỨA HAY NGHIỆP LỰC …
3. PHẦN VỪA BIẾT CÓ THẤY BIẾT: 
 
Phần này còn có tên là “Căn bản vô minh”. Vì phần này chính là phần dựng đứng cái TÔI trong khi mới vừa cục cựa nứt mắt, do sáng tối, nóng lạnh động tĩnh đánh thức ngay từ kiếp đầu tiên. Tất cả tâm lý nhị nguyên sau này đều lấy đây làm nền tảng.
4. PHẦN HỖN ĐỘN VÔ KÝ: 
 
Vì là phần chưa phân rõ là khoáng, động hay thực, hãy còn nằm trong thế hôn me chưa sống động, chưa hẳn là có biết, của kiếp hóa sanh nguyên thỉ và làm nền tảng cho tánh hôn mê mờ mịt sau này, mà nhà Phật thường gọi là tánh vô ký. Chính nó là một cụm mây ở gần mặt trời nhất, mỏng nhất, mà lại che khuất nổi mặt trời. Cho nên đây cũng là cửa ải cuối cùng của tận đáy tâm hồn của chúng sinh vậy. 
 
Thông qua 4 phần vọng tâm này, ta thấy phần hiện tại qúa yếu đuối, bé bỏng, ngắn ngủi, còn 3 phần đã qua lại dài lê thê vĩ đại và quá nặng nề, bảo sao phần hiện tại không đủ sức điều động nổi phần quá khứ?! Đây cũng là thế tất nhiên. Nếu giàu tưởng tượng một chút ta có thể tưởng tượng biến guồng máy vọng tâm này ra thành một tập đoàn áp tải của một đảng cướp do 3 anh em ruột điều động mà anh thứ ba là “phần hiện tại” điều khiển chiếc tàu đầu tiên. 

Đó là phần thứ nhất. Và móc nối theo phần thứ hai là một đoàn ghe, chài dài giăng giẳng chở đầy nhóc khẩm ứ những tang vật đánh cướp, cộng thêm một mớ lâu la thâu phục được ở dọc đường, đang lầm lì gắng hết sức nhắm hướng biển khơi mà đi tới. Tiếp theo phần thứ ba và thứ tư là hai con tàu nhỏ hậu tập do anh thứ hai (phần vừa biết có biết thấy) và anh cả (phần hỗn độn vô ký) điều khiển. 

Mới trông qua hình như quyền điều động ở đằng đầu, nhưng không ai ngờ sự thực lại không phải thế. Nếu anh ba có thế lực mạnh thì quyền lãnh đạo bị anh ba chi phối. Nhưng nếu anh ba thế lực yếu thì quyền điều động lại thuộc về anh hai và anh cả. Cho nên dù ngài là người thuộc lãnh vực tôn giáo nào, giai cấp nào, địa vị nào, quyền thế nào, tài năng nào, hay ngài có thể đi vào lửa, vào nước, lên cung trăng, lên hỏa tinh, thiên biến vạn hóa như Tôn Ngộ Không trong Tây Du Ký chăng nữa cũng không vì thế mà sự thể có đổi khác. Nếu ngài không giải tán được tập đoàn này thì cuộc sống của ngài dù có tột bậc đến đâu cũng không vì thế mà được yên vui bảo đảm. 
 
Nếu tập đoàn này chưa được quét sạch, dù ngài có khả năng kiến thiết cả một nước cực lạc hay thiên đàng, thì nước cực lạc hay thiên đàng ấy chẳng qua cũng là thứ kiến thiết dựa lưng vào làn mây hỗn độn vô ký thuộc phần anh cả cai quản mà thôi vậy. 
 
Nếu muốn kiến thiết lại con người, làm lại cuộc đời, xây dựng lại cuộc sống, đem lại hạnh phúc cho chính mình cũng như cho người khác, xây dựng lại yên vui vĩnh cửu mà bỏ qua tập đoàn này không nghĩ cách giải quyết dứt khoát, thì hình thức tôn giáo càng xây dựng đẹp đẽ bao nhiêu càng chỉ là một thứ thuốc an thần, một cơ quan đầu tư lợi dụng lẫn nhau một cách hấp dẫn, rồi cuối cùng sẽ làm giàu và tăng cường thêm sức mạnh cho tập đoàn cướp bóc này chớ không thể khác. 

Hơn nữa nếu tập đoàn này vẫn còn nguyên, dù chúng ta được Phật hay Chúa … rước về cho ở chung, hay sờ đầu làm phép lạ chi chi … cũng không vì thế mà cuộc sống trở nên mới mẻ. Mà giả sử có giải tán hết tập đoàn này đi chăng nữa nhưng tất cả tàu bè ghe cộ nếu còn nguyên thì chắc chi không có kẻ khác nhảy vào lợi dụng đạo đức giả để nối tiếp! Thế là cái thuộc về TÔI đã hết nhưng cái TÔI vẫn còn nguyên, rồi sẽ đâu hoàn đấy! Đây là điều không thể xem thường. 
 
TÁNH” thế nào là tánh? Làm sao biết chắc có cái gọi là TÁNH? 
 
Từ xưa đến nay, điểm này không mấy ai chịu nói trắng ra vì sợ tài bồi thêm cho sự nghiệp của những kẻ đầu tư kiến thức. Tuy nhiên không phải vì thế mà không có tiêu chuẩn ấn định để ai muốn nói sao thì nói. 
 
Ngũ Tổ nói: “Bổn tánh nếu bỏ quên thì phúc nào cứu được” thế là bổn tánh là cái mà mỗi chúng sinh đều cần phải biết chớ phải đâu là cái không thể biết! 
 
Khi Lục Tổ Huệ Năng trực nhận được bổn tánh này có nói: 
 “Không dè bổn tánh của mình vốn tự thanh tịnh. 
 Không dè bổn tánh vốn không sanh không diệt. 
 Không dè bổn tánh vốn không lay động. 
 Không dè bổn tánh vốn có khả năng sinh ra vạn pháp. 
 Không dè vạn pháp vốn không lìa tự tánh.” 
 
Thế là Lục Tổ Huệ Năng đã nói toạc ra rằng bổn tánh là không hình tướng, là suốt khắp, là không có trong và ngoài – nên không có sanh diệt, không có chuyện không thanh tịnh hay thanh tịnh. Nhưng chính nó là nền tảng để hóa sinh ra vạn hữu. Vạn hữu không thể lìa nó mà tồn tại, con người không thể lìa nó mà có sự sống; theo đây ta có thể nói thêm nếu không có nó thì vạn hữu còn không có làm sao có con người để có thấy có nghe, có hay có biết, cho đến làm sao có phi thuyền vượt không gian, vô tuyến truyền thanh truyền hình … thậm chí những chuyện hết sức tre con nhỏ nhít như bói toán cũng không có được. 
 
Vì thế không có một mảy may nào ngoài nó và không phải nó. Giả sử có người hỏi có cách nào chỉ thẳng cho thấy ngay lập tức tánh này được không? Lục Tổ hỏi Huệ Minh: “Ngay khi chẳng nghĩ thiện chẳng nghĩ ác chính hồi đó cái gì là bổn tánh của thượng tọa?” Đấy chỉ thẳng là thế! Nếu không tiếp nhận ngay thì hãy đợi đến bao giờ quét sạch đám thảo khấu và sự nghiệp bất chánh dài dòng thêm là ta đã quy y theo bọn tri giải của triết học ngoại quan rồi đó! 
 
Vì nó vốn đã không bớt không thêm, không dơ không sạch, không sanh không diệt, không phải có, không phải không, muôn thuở vốn thường hằng. Tất cả vạn vật đều có thể hư hoại, nó vẫn y nguyên. Như thế đâu cần chúng ta mó tay vào xoay xở sửa đổi nó chứ! Thế thì, nếu ta lỡ dại dột, dốt nát mó tay vào, không những không tốt đẹp gì hơn mà là gây nên phản ứng tạo thành sứt mẻ. Cho nên thiền sư Đạm Hư trong bài thơ chứng đạo có câu:
 “Thiên nhiên đại nghiệp tối kỵ trang hoàng, 
 Hữu ý cầu toàn phản trí tổn thương”.
Như thế đủ biết tánh này hoàn toàn không chấp nhận điều kiện sửa đổi, mà chỉ cần tự chứng tự biết. 
 
Có người hỏi: “Như thế bổn tánh đã là của chung của vạn loại của bao la của pháp giới, nhưng sao lại là tự tánh?” 
 
Trong vạn vật, khoáng và thực thuộc loại vô tình, nhìn không thấy nó cục cựa. Còn hữu tình thì sanh ra không một lượt, chết đi cũng không một lượt, trình độ cũng không như nhau, duyên cấu tạo ra chính nó cũng khác nhau nốt. Vì thế nên bổn tánh tuy là của chung của vạn loại, kho tàng này không thiếu một mảy may gì, và chúng sanh nào cũng đều có khả năng tự động để thọ dụng bổn tánh này.

Nhưng chỉ vì duyên cấu tạo không như nhau, trình độ không như nhau, nên sự thọ dụng cũng theo đó mà khác. Nên tuy chung mà riêng, tuy riêng mà chung vậy! Nhìn qua bản đồ hệ thống mạng mạch của mỗi chúng sinh cũng như mỗi con người, ta thấy phần thân không phải là chánh phạm, phần tánh vốn vô can, phần tâm mới là thủ phạm. Đành rằng thân với tâm cũng là tánh, nhưng khi tâm mê đắm chấp tướng “thân” nên đuổi theo đà hướng ngoại, dong duỗi theo vật chất sáu trần, làm cho tuy vốn từ tánh nhưng đã biến dạng biến chất trở thành vật chất chướng ngại cho cuộc sống yên vui.

Nếu có phương pháp kỹ thuật nào xoay chiều cho tâm này trở về với bổn tánh theo chiều hướng nội, thì chúng nó đều trở lại chánh thường và thành yên vui giải thoát, chớ không có nghĩa thủ tiêu cho mất tích chúng sinh, mà tạo một ông Phật nào khác! Tuy vậy, khi tâm mê hướng ngoại không những làm cho guồng máy tâm thức mâu thuẫn lộn mèo, mà còn tạo thêm liên lụy đến xác thân, đến xã hội nữa là khác. Cho nên tất cả những bệnh tật nội thương nặng nề nguy hiểm, nan y bất trị, đều mắc liền từ tâm thức rối rắm lộn mèo mà ra cả. Kinh dịch có nói:
 “Cơ mầu dấy động, họa phúc liền sanh”. 
 
Nội kinh nói: “Điềm đạm rỗng rang bịnh nào phát khởi”. 
 
Người xưa nói: “Càng thông minh càng u tối, càng tính toán càng hụt hao” là một bản án kê khai tội trạng cho sự nghiệp trí thức vọng tâm hướng ngoại của chúng sanh, và để đánh giá cho tác dụng vô niệm vô ngã vậy!”.
 
Nhắm vào mục đích thiết thực dễ hiểu, ta có thể dùng ngôn ngữ tạm chia mạng mạch của mỗi con người ra làm ba phần. Nếu theo thứ tự từ dễ đến khó thấy mà nói thì THÂN rồi TÂM và TÁNH. 
 
Vì sao mà nói là tạm chia? Vì trông qua hình như ba, nhưng nhìn kỹ kỳ thực không phải ba, cũng không phải một. Vì không thân và tâm thì không lấy đâu để biết tánh, không tánh không lấy đâu có thân và tâm. Vì Tánh là thể, Thân là tướng, còn Tâm là phần biểu hiện diệu dụng linh tri của tánh mà thôi. Giờ đây ta hãy xét qua đại khái từng phần để biết rõ chỗ nào là căn cội bịnh tâm của chúng sinh.


VÔ NIỆM VIÊN THÔNG YẾU QUYẾT
 Thích Minh Thiền 
Phật Lịch 2536 – 1992

Lời Tựa

Khi chưa có danh từ “Tự Tánh”, bổn lai không có Phật và chúng sinh. Chỉ vì có kẻ cao hứng kiến lập ra cái chúng sinh, làm cho thế thăng bằng bị nghiêng lệch nên không thể không có kẻ cao hứng mà lập nên cái Phật để lấy lại thế thăng bằng.
Danh từ “TỰ TÁNH” đã không thật, chúng sinh không thật thì danh từ Phật há lại thật sao! Thế mới biết: vạn pháp vốn thị hiện, cho nên chúng sinh và Phật cũng không thể khác hơn. Tất cả đã vốn là thị hiện, nên lý ưng tất cả đều là được, chẳng có gì đáng ân hận. Chỉ vì không biết là được nên trở thành bị, có bị phải có chất chứa, có chất chứa phải có phiền lụy. Phiền lụy đích thật là chúng sinh. Đã có chứa tất có ít có nhiều, có nhẹ có nặng. Đến đây không thể không nghĩ cách để giải tỏa. Có nghĩ cách để giải tỏa, tất phải nói đến khéo tay khéo chân nên không thể không đề cập đến phương pháp và kỹ thuật.
Đời là một đại hí trường, đã trót đến hí trường, không thể tìm trò vui cho thoải mái. Muốn vui theo chúng sinh hay vui theo Phật thì cứ mà tùy ý miễn đừng quên là mình đang vui là được rồi!
Đã trải qua một thời gian dài đăng đẳng vui theo kiểu chúng sinh, nay chán vui theo kiểu chúng sinh, đổi sang trò vui giải thoát. Đã là trò đời, ai mà không vui! Đã vui theo kiểu chúng sinh thì ai mà không tìm vui theo con đường giải thoát! Hễ là đồng thanh tương ứng, đòng khí tương cầu, nên không thể không rủ rê thâu hút. Nên đây cũng không phải là chuyện riêng của một nhóm nào mà là của chung tất cả làng vui trong thiên hạ. Vì thế cao hứng viết lên tập sách nhỏ này để hầu khách làng vui giải thoát thưởng thức rồi có muốn bình luận ra sao, cứ mặc! 
 
TÁC GỈA KÍNH GHI LỜI TỰA 
ĐỊNH NGHĨA TÊN SÁCH
Có người bắt một con qụa rừng cho vào lồng khóa lại, trong đó có để thức ăn và đem xuống mũi một chiếc thuyền biển đậu trong bờ, con quạ vẫn không bằng lòng, cảm thấy tù túng bực dọc muốn phá vỡ lồng không chịu ăn uống. Rồi người chủ thuyền quay mũi nhắm ra biển khơi trương buồm thẳn lèo mà lướt sóng. Khi ra tận ngoài khơi không còn thấy bờ nữa, ông mở cửa lồng thả con qụa ra để tự do cho nó tha hồ bay nhảy. Quạ tung cách bay lên không, lượn mấy vòng quanh thuyền, rồi lại đáp xuống chui vào lồng đứng ăn, và rỉa lông một cách thoải mái.
Một tay cờ thế lão thành, với một ngôi tư trang trệt trong một khu vườn, trước sân có thạch bàn thường trực bày một bàn cờ thế, bên cạnh có tiền, có trà, có rượu, có bánh kẹo một cách khiêu khích, kiêu kỳ. Đã bao nhiêu khách vào đây để trút túi … Bên cạnh tư trang là một ngôi nhà lầu 2 tầng có một em bé độ 15 tuổi, thường đứng trên trông xuống dòm hành theo dõi từng ván cờ. 

Một hôm bỗng dưng bảo mẹ: Mẹ cho con mượn 3000 đồng. Mẹ gắt: Mượn để làm gì? Ậy cứ cho con mượn, lát nữa con sẽ đem tiền chợ về cho mẹ. Bà lại gắt: mà làm cái gì chứ? Con sang đánh cờ. Bà mẹ trố mắt: Trời Phật ơi, bộ mầy muốn tự tử hả? Ậy me cứ cho con mượn! Cứ thế giằng co, rút cuộc bà chiều con, móc tiền đưa, được tiên cậu bé như lên mây, chạy tuốt sang tư trang. Hai đàng nhập cuộc. 

Ván đầu đặt 100 đồng, loay hoay chủ cho cậu ta ăn ván thứ nhất, lại ván thứ hai mỗi bên: đặt 200 dồng, chủ cũng nhường khách ăn luôn, ván thứ ba đặt 300 đồng, chủ lại nhường khách luôn ván nữa. Ăn xong chuẩn bị sắp ra bàn khác bỗng cậu bé dạ một tiếng to và nói: xin lỗi bác, mẹ con gọi, để con về chút con sang. Nói xong anh ta chạy tuốt về nhà cười ngất trả tiền cho mẹ, lại còn đưa thêm tiền chợ và nói: Mẹ thấy con nói có sai đâu! Thấy lâu quá cậu bé không sang, chủ bèn ra hiệu gọi, cậu bé lắc đầu, báo hại ông chủ cờ thế thêm một phen tức vỡ bụng.
Đấy, lẽ ra yếu quyết của vô niệm viên thông chỉ có thế. Nhưng nếu không thể đương cơ siêu xuất, thì xin tiếp tục tìm về yếu quyết thứ hai. 
 


* *


Sáu chữ VÔ NIỆM VIÊN THÔNG YẾU QUYẾT nếu cắt nghĩa chung thì ta có thể nói là bí quyết thoát trần, bí quyết thoát vòng tục lụy, bí quyết giải thoát, bí quyết để chứng thẳng chơn tâm hay bí quyết để đi vào minh tâm kiến tánh v.v… 
 
Nhưng nếu phân tích kỹ ra mà nói thì thế nào là vô niệm? Ở nghĩa từ chữ thì Niệm là mống nghĩ, Vô là không. Nhưng Lục Tổ Huệ Năng đã từng cắt nghĩa: “” là không vọng niệm, “NIỆM” là thường niệm chơn như bổn tánh. Lại nói: “Chơn như bổn tánh là thể, niệm là dụng. Nếu chơn như tự tánh khởi niệm thì sáu căn dù có thấy nghe cũng không vì thế mà đắm nhiễm với ngoại cảnh. Được như thế là vô niệm. 

Tuy nhiên, cắt nghĩa như thế chỉ dành riêng cho một số người ít nhất cũng phải có phần nào kiến thức về tâm học, không dễ gì ai ai cũng nhận được rõ ràng. Nếu muốn chứng thực điều này một cách cụ thể, xin mời độc giả thử vào trong màn, ngồi thẳng người xếp bằng tròn nhắm mắt lại, và giữ đừng mống nghĩ điều gì, rồi lắng nghe lại trong lòng độ 15 phút xem, có phải trong ấy hoàn toàn lặng hơ như mình tưởng, hay là cả một tập đoàn lao xao, hoặc cười hoặc nói hoặc bàn tán?! 
 
Lắm lúc ta muốn hoàn toàn ngừng nghỉ để nằm xuống ngủ yên nhưng vẫn không tài nào thắng được. Trạng thái ấy có khi nhà Phật gọi là nghiệp nhóm chứa, có khi là vọng tưởng điên đảo, có khi gọi là vọng niệm. Vì mớ lao xao này nó điều khiển không cho ta chủ động hẳn hoàn toàn trong cuộc sống, chớ không như những bậc thoát tục xuất trần khi việc đến họ đón tiếp một cách sáng suốt, việc qua rồi không một mảy may lưu lại, tâm thể trong suốt như gương nên họ hoàn toàn chủ động cuộc sống, không như ta việc qua rồi thì lưu lại hình bóng, súc tích lũy kiếp thành một khối ồn ào chật ních trong lòng. 
 
Cái ồn ào chật ních trong lòng ấy tạm đặt tên là “hữu niệm” còn trạng thái lúc nào cũng trong suốt như gương tạm đặt tên là “vô niệm”. Thế nào là VIÊN THÔNG? Viên là tròn, nghĩa trong ở đây là tròn khắp mọi mặt chứ không có nghĩa tròn dài, tròn hình ống, tròn bánh xe, tròn dẹp hay vòng tròn … Thông là thông suốt, là suốt khắp mọi mặt, mười phương tám hướng đều suốt khắp. 

Thế là viên thông bao hàm nghĩa tròn một cách phủ định, co giãn theo thế làn sóng suốt khắp bao la, không kẹt vào thời gian, không gian, cũng không kẹt vào một chướng ngại nào. Hai chữ VIÊN THÔNG đặt liền sau hai chữ VÔ NIỆM là để chỉ cho tính chất suốt khắp của năng lực rung chuyển của tâm linh con người cũng như chúng sinh sau khi tâm thể được vô niệm. 

Ai phát giác được viên thông ấy thì có khả năng giải quyết dứt khoát được mọi vấn đề trong toàn bộ cuộc sống của chính mình, không còn bị sức hấp dẫn của ngoại cảnh lôi cuốn nữa, mà còn có khả năng tham gia tán trợ việc hoá dục của thiên nhiên, cuộc sống của người ấy hoàn toàn yên vui, vĩnh viễn miên trường trong thế được. Đối với năng lực viên thông, họ có thể điều động được, từ đây họ là thiên nhiên, hoàn toàn thoát hẳn vòng tục lụy. Chớ không như tâm thể hữu niệm của chúng sanh chỏi ngược với trật tự thiên nhiên để phải chịu lấy bao nhiêu là ưu bi khổ não, bệnh tật đau thương. 
 
Tuy nhiên không phải ai ai cũng có thể thực hiện, muốn thực hiện phải có sự hiểu biết, có phương pháp, có kỹ thuật, có chí khí, nên phải có yếu quyết mới có thể có thời gian bảo đảm, thẳng tắp và chính xác. Vì thế nên quyển sách này tạm đặt tên là VÔ NIỆM VIÊN THÔNG YẾU QUYẾT. 
 
Đây cũng không phải là môi trường để cho tác giả múa bút khoe văn, cũng không phải là nơi giảng giáo lý Phật giáo hay trình bày duy thức hoặc pháp số, mà chỉ cốt sao giúp ích cho hành giả có những phương tiện cần yếu hạ thủ công phu trên con đường giải thoát được thẳng tắp, chính xác, và thời gian tính được bảo đảm trên tương đối. Cho nên tất cả chỉ là phương tiện và kỹ thuật chớ không quyết định theo một khuôn khổ nào, mong độc giả để ý cẩn thận.

CHÁNH PHÁP NHÃN TẠNG
Shōbōgenzō
Đạo Nguyên Hy Huyền (Dōgen Kigen)
Việt dịch : Thiện Tri Thức
Nhà xuất bản Thiện Tri Thức

Sanh và Tử

(Shōji)
Sanh và Tử, không ghi năm trong Chánh Pháp Nhãn Tạng, hòa nhập sự siêu việt với việc sống trong thế giới. Chủ đề là một suy nghĩ về nguyên lý nền tảng rằng hiện hữu là Không và Không là hiện hữu, nó được đưa vào thực hành bằng không lấy không bỏ, tự do với cả hai thương và ghét.
Trong một câu chuyện Thiền nổi tiếng, một nhà sư đến một thiền sư, ngài hỏi ông đến từ đâu. “Phương Nam”, nhà sư trả lời. Vị thầy hỏi nhà sư về Phật giáo ở phương Nam, một vùng nhiều trung tâm Thiền ; nhà sư trả lời, “Có nhiều bàn luận tiến hành ở đó.” Vị thầy nói, “Việc ấy làm sao có thể so sánh với trồng lúa và vò gạo thành viên để ăn ở đây ?” Nhà sư, rõ ràng là không thấy cái gì là ngộ hay giải thoát về điều này, nói rằng, “Thầy có thể làm gì đối với thế gian ?” Vị thầy nói, “Ông gọi cái gì là thế gian ?”
Phân tích tận cùng, theo những giáo lý Thiền, không phải thế gian trói buộc con người, mà chính con người tự trói buộc mình vào thế gian. Vướng mắc và mê lầm không đến từ bản thân thế giới, mà từ những ý tưởng và thái độ về thế giới, từ tương quan của người ta với thế giới. Bởi thế câu hỏi điều gì có thể được làm đối với thế giới trở thành câu hỏi người ta nghĩ và cảm nhận thế giới là gì.
Sanh và Tử
“Bởi vì có Phật trong sanh tử, nên không có sanh tử”. Cũng vậy, “bởi vì không có Phật trong sanh tử, người ta không bị mê lầm bởi sanh tử”. Đây là hai lời nói của hai thiền sư tên là Giáp Sơn và Sơ Sơn. Là những lời của bậc chứng ngộ, hẳn chúng không được thốt lên mà không có lý do. Người muốn ra khỏi sanh tử cần hiểu chúng nghĩa gì.
Nếu người ta tìm kiếm Phật ở ngoài sanh tử, điều này giống như hướng về bắc để đi xuống nam, như quay mặt về hướng nam để cố gắng tìm ra sao Bắc : tích tập thêm nữa những nguyên nhân của sanh tử, họ lạc mất đường đến giải thoát. Chỉ hiểu rằng sanh tử chính nó là niết bàn, thì không có gì để chối bỏ như là sanh tử, không có gì để tìm kiếm như là niết bàn. Chỉ bấy giờ người ta mới có biện pháp nào để xa lìa khỏi sanh tử.
Là một sai lầm khi cho rằng người ta chuyển động từ sanh đến tử. Sanh, là một điểm trong thời gian, có một cái trước và sau ; bởi thế trong Phật giáo sanh được gọi là không sanh (vô sanh). Diệt cũng vậy, là một điểm trong thời gian, cũng có trước và sau, nên nói rằng diệt là không diệt. Khi chúng ta nói “sanh” thì không có cái gì ngoài sanh, và khi chúng ta nói “diệt” thì không có cái gì ngoài diệt. Thế nên khi sanh đến, đó chỉ là sanh, và khi diệt đến, đó chỉ là diệt. Đối mặt với sanh và diệt, chớ chối bỏ, chớ ước mong.
Cái sanh và tử này là đời sống của Phật. Nếu chúng ta cố gắng khước từ hay tống khứ nó đi, chúng ta sẽ mất đời sống của Phật. Nếu chúng ta lần lữa trong ấy và bám níu vào sanh và tử, đây cũng là mất đời sống của Phật ; đó là ngừng dứt cách hiện hữu của Phật. Khi chúng ta không có ghét bỏ hay ước mong, chỉ bấy giờ chúng ta đạt đến tấm lòng của Phật.
Tuy nhiên, chớ hình dung chuyện đó trong tâm thức bạn, chớ nói bằng lời nói. Chỉ buông xả và quên mất thân tâm, ném chúng vào trong nhà Phật, được hoạt hóa bởi Phật – khi chúng ta tiếp tục tương hợp với điều này, bấy giờ không nỗ lực hay mở rộng tâm, chúng ta lìa khỏi sanh tử và thành Phật. Ai muốn lần lữa trong tâm ?
Có một cách rất dễ để thành Phật : không làm điều xấu nào, không bám luyến vào sanh tử, đồng cảm sâu xa với tất cả chúng sanh, kính trọng những người trên, thương cảm những người dưới, không cảm thấy ghét thương với bất cứ cái gì, không suy nghĩ hay lo tính – đây gọi là Phật. Chớ tìm nó ở đâu khác.

CHÁNH PHÁP NHÃN TẠNG

Shōbōgenzō

Đạo Nguyên Hy Huyền (Dōgen Kigen)

Việt dịch : Thiện Tri Thức

Nhà xuất bản Thiện Tri Thức

Tám Tỉnh Giác của bậc Đại Nhân 
(Hachidaininkaku)

Rốt ráo, Phật giáo được cho là thực tiễn, và sự dè dặt truyền thống của nó về triết học là do bởi trong sự kích thích tập luyện trí thức có khuynh hướng quên đi rằng những giáo lý là để áp dụng. Một vị thầy vĩ đại của Phật giáo Trung Hoa đã nêu điều đó trong những lời này : trước hết là hiểu, không có nó hành động sẽ mù lòa ; rồi đến hành động, không có nó hiểu sẽ không có hiệu lực ; cuối cùng hiểu và hành động thành một.
“Chớ làm điều xấu, hãy làm điều tốt, hãy làm trong sạch tâm – đây là lời dạy của chư Phật”. Công thức cổ này của Phật giáo tóm tắt thông điệp của ba chương cuối của Chánh Pháp Nhãn Tạng như được trình bày trong cuốn sách này. Chúng cùng làm rõ ba giai đoạn hay ba yếu tố căn bản của Thiền được tìm thấy khắp toàn bộ giáo lý Phật giáo : xa lìa, hòa nhập và sự hòa hợp giữa xa lìa và hòa nhập.
Tám Tỉnh Giác của bậc Đại Nhân (Bát Đại Nhân Giác) có vẻ được viết cho những vị khất thực nhưng cũng áp dụng cho cư sĩ, có thể được xem là một phác họa tổng quát của những yếu tố chính của thực hành Phật giáo về xa lìa, không bám luyến. Kết quả, niết bàn, đôi khi được nói đến như là sự mát lạnh, không phiền não, không bất hòa. Sự bình an và tâm và sáng tỏ đã thành tựu như vậy là một mặt của giải thoát.
Tám Tỉnh Giác của bậc Đại Nhân
Chư Phật là những bậc đại nhân. Bởi vì những cái này được bậc đại nhân thành tựu, chúng được gọi là những tỉnh giác của bậc đại nhân. Thành tựu những nguyên lý này là nền tảng của niết bàn. Đây là lời dạy cuối cùng của bổn sư chúng ta, Phật Thích Ca Mâu Ni, trong đêm ngài nhập diệt.
1. Có ít ham muốn
Không tìm kiếm những đối tượng của ham muốn chưa đạt được gọi là ít ham muốn.
Đức Phật nói, “Chư Tăng cần biết rằng người nhiều ham muốn tìm cách đạt được nhiều thứ, do đó những phiền não của họ nhiều. Những người ít ham muốn không tìm kiếm và không khao khát, nên họ không có vấn nạn này. Các ông cần trau dồi ít ham muốn vì chỉ lý do này mà thôi, chưa nói đến sự kiện ít ham muốn thoát khỏi sự tâng bốc và không ngay thẳng vì muốn lấy lòng người khác, và họ cũng không bị những giác quan thôi thúc. Người hành động với ít ham muốn thì bình an, không lo không sợ. Bất cứ hoàn cảnh nào cũng biết đủ thì không bao giờ thiếu. Những người ít ham muốn thì có niết bàn.”
2. Bằng lòng
Dùng những cái người ta có trong giới hạn mình gọi là bằng lòng.
Đức Phật nói, “Hỡi các vị tăng, nếu các ông muốn rơi rụng những phiền não, các ông cần tuân thủ sự bằng lòng. Trạng thái của bằng lòng là chỗ ở của thịnh vượng và hạnh phúc, bình an và thanh tĩnh. Người bằng lòng có thể ngủ trên đất và còn xem nó là tiện nghi ; người không bằng lòng luôn luôn bị giam giữ trong tham muốn dục lạc ; họ đáng cho những người bằng lòng thương xót.”
3. Hưởng thụ sự yên tĩnh
Bỏ sự ồn ào và ở một mình nơi vắng vẻ gọi là hưởng thụ sự yên tĩnh.
Đức Phật nói, “Hỡi các vị tăng, nếu các ông muốn tìm kiếm bình an và hạnh phúc của yên tĩnh và không đấu tranh, các ông cần bỏ sự ồn ào và sống không bừa bãi ở một nơi vắng người. Người yên tĩnh được chư thiên tôn vinh. Bởi thế các ông cần bỏ nhóm của các ông cũng như các nhóm khác, ở một mình một nơi vắng vẻ, và nghĩ đến sự nhổ bật gốc khổ. Những người thích đám đông chịu đựng sự lo phiền của đám đông, như một cái cây lớn phải chịu thiệt hại khi những đàn chim tụ hội. Những ràng buộc và bám giữ thế gian làm chìm đắm các ông trong vô số khổ sở, như một con voi già bị chìm trong bùn, tự mình không thể thoát ra.”
4. Chuyên cần
Siêng năng trau dồi những đức hạnh không ngừng nghỉ gọi là chuyên cần, trong sạch và thuần khiết, tiến tới không thụt lùi.
Đức Phật nói, “Hỡi các vị tăng, nếu các ông nỗ lực chuyên cần, thì không có gì là khó. Bởi thế các ông cần chuyên cần. Như một con suối nhỏ vẫn có thể xuyên thủng đá nếu nó liên tục chảy. Nếu tâm của hành giả chán nản và bỏ dở, đấy cũng giống như cọ xát cây để lấy lửa mà dừng trước khi hơi nóng sanh ra – dù các ông muốn có lửa, lửa không thể có được theo cách ấy.”
5. Chánh niệm bền bỉ
Cái này cũng gọi là giữ sự tỉnh giác chân chánh ; giữ những lời dạy không mất gọi là tỉnh giác chân chánh, cũng gọi là chánh niệm bền bỉ.
Đức Phật nói, “Hỡi các vị tăng, nếu các ông tìm kiếm một người bạn đồng hành tốt và một người bảo vệ và giúp đỡ tốt, thì không gì so sánh được với chánh niệm bền bỉ. Những người có chánh niệm bền bỉ không thể bị những phiền não trộm cướp xâm nhập. Bởi thế các ông cần tập trung những tư tưởng và giữ cho tỉnh giác. Người mất tỉnh giác thì mất công đức. Nếu thần lực của tỉnh giác của người ta mạnh mẽ, dù người ta có đi vào giữa những ham muốn là bọn trộm cướp thì người ta sẽ không bị chúng hại. Việc này giống như ra chiến tuyến mà mặc áo giáp – bấy giờ người ta không sợ gì cả.”
6. Trau dồi tập trung thiền định
Ở trong lời dạy mà không xao lãng gọi là tập trung thiền định.
Đức Phật nói, “Hỡi các vị tăng, nếu các ông tập trung tâm thức, nó sẽ ở trong một trạng thái vững chắc an định và các ông sẽ có thể biết những đặc tính khởi sanh và diệt mất của những hiện tượng trong thế giới. Thế nên các ông cần cương quyết trau dồi và học tập những tập trung (những định). Nếu các ông đạt được tập trung, tâm thức các ông sẽ không phóng dật. Như một người chủ gia đình đắp một cái đập để nước, người thực hành cũng vậy, vì nước của trí huệ, nên trau dồi tốt đẹp tập trung thiền định để ngăn cho khỏi rò rỉ.”
7. Trau dồi trí huệ
Phát triển học hỏi, suy nghĩ và áp dụng, sự chứng ngộ là trí huệ.
Đức Phật nói, “Hỡi các vị tăng, nếu các ông có trí huệ, các ông sẽ không có tham luyến. Hãy luôn luôn khảo sát chính mình và chớ để có bất kỳ lơ đễnh nào. Bấy giờ các ông có khả năng đạt đến giải thoát khỏi chấp ngã và chấp pháp. Nếu không như vậy, các ông không phải là người của Đạo cũng chẳng phải là người thường – không có con đường nào cả cho các ông. Trí huệ chân thật là một con tàu an toàn để vượt qua biển cả già, bệnh, chết. Nó cũng là một ngọn đèn sáng trong bóng tối của vô minh, thuốc tốt cho mọi bệnh, một cái rìu bén để đốn ngã những cây phiền não. Bởi thế các ông cần sử dụng trí huệ của học hỏi, suy nghĩ và áp dụng (văn, tư, tu), và tự làm nó tăng trưởng. Nếu có người bừng sáng với trí huệ, đây là một người mắt sáng, dù đó là con mắt xác thịt.”
8. Không dấn thân vào sự nói chuyện vô ích
Thành tựu sự xa lìa khỏi phân biệt tùy tiện gọi là không dấn thân vào nói chuyện vô ích. Khi người ta hiểu đầy đủ tính chất của thực tại, người ta sẽ không đi vào sự nói chuyện phù phiếm.
Đức Phật nói, “Hỡi các vị tăng, nếu các ông buông thả vào những loại nói chuyện vô ích, tâm các ông sẽ bị quấy nhiễu. Dù nếu các ông bỏ xã hội các ông vẫn không đạt giải thoát. Bởi thế các ông cần bỏ ngay sự nói chuyện vô ích chỉ quấy nhiễu tâm các ông. Nếu các ông muốn đạt đến an lạc, các ông nên dập tắt phiền não do nói chuyện vô ích.”
Đấy là tám tỉnh giác của bậc đại nhân. Mỗi cái chứa đựng tám cái, thế nên có sáu mươi bốn. Nếu các ông mở rộng chúng ra, chúng phải vô tận ; nếu các ông gom chúng lại, thì có sáu mươi bốn. Sau lời nói cuối cùng của đại đạo sư Thích Ca Mâu Ni, để giáo huấn Đại thừa, bài thuyết pháp sau cùng lúc nửa đêm ngày rằm của tháng thứ hai, ngài không nói gì nữa và nhập diệt.
Đức Phật nói, “Chư tăng cần luôn luôn nhất tâm tìm ra con đường giải thoát. Mọi sự trong thế giới, động và bất động, là những sắc tướng không bền đang tan rã. Hãy dừng lại bây giờ và chớ nói gì nữa. Thời đã đến, ta sắp nhập diệt. Đây là giáo huấn cuối cùng của ta.”
Thế nên những học trò của Phật nhất định phải học những nguyên tắc này. Những người không học chúng, không biết chúng thì không phải là học trò của Phật. Những tỉnh giác này là kho tàng con mắt chánh pháp của Phật, trái tim thiêng liêng của niết bàn. Sự kiện ngày nay nhiều người không biết chúng và ít được đọc hay nghe về chúng là do ảnh hưởng của ma. Cũng vậy những người đã trau dồi ít đức hạnh trong quá khứ đã không nghe thấy chúng.
Trong quá khứ, trong thời chánh pháp và tượng pháp, tất cả Phật tử đều biết chúng, và đã nghiên cứu thực hành chúng. Giờ đây khó có một hay hai người trong một ngàn nhà sư biết tám điều tỉnh giác của một bậc đại nhân. Đáng thương thay – sự suy tàn của thời đại suy thoái thì vượt ngoài so sánh. Khi chánh pháp của Phật còn lưu hành trong thế giới và cái tốt chưa chết, người ta cần học chúng gấp gấp. Chớ có biếng lười. Khó mà gặp gỡ Phật pháp dù vô số kiếp. Cũng khó mà có được thân người. Và thậm chí đã có thân người, còn tốt hơn nữa là sống ở một nơi có thể thấy Phật nghe Pháp, bỏ thế gian và đạt giác ngộ. Những người chết trước khi Phật nhập diệt đã không nghe được tám điều tỉnh giác của bậc đại nhân này, và không được học chúng. Giờ đây chúng ta đã nghe và học chúng – đây là nhờ thần lực công đức đã trau dồi trong quá khứ. Bây giờ, học và thực hành chúng, khai triển chúng đời này sang đời khác, chúng ta chắc chắn sẽ đạt đến giác ngộ vô thượng. Hãy giải thích cho người như Phật Thích Ca Mâu Ni đã làm.
tryen-tam-phap-yeu

HOÀNG BÁ THIỀN SƯ 
TRUYỀN TÂM PHÁP YẾU 
(Trích trong Chỉ Nguyệt Lục của bộ Tục Tạng Kinh) 
Việt Dịch: Tỳ Kheo Thích Duy Lực 
Từ Ân Thiền Đường Hoa Kỳ Xuất Bản 1992


tryen_tam_phap_yeuMục Lục
Lời Nói đầu của Dịch giả 
Giới Thiệu Tác Giả 
Bùi Hưu 
Khai thị Bùi Công Mỹ 
Tức Tâm là Phật 
Bản pháp vốn vô pháp 
Vô pháp cũng là pháp 
Nay phó chúc vô pháp 
Pháp pháp đâu là pháp

Lời nói đầu cuả dịch giả
Qúy vị độc giả bắt đầu đọc những trang đầu tiên sẽ cảm thấy những lời vấn đáp rất lạt lẽo, không có chút mùi vị gì cả. Ấy là cốt tủy của Thiền vốn như thế. Nếu độc giả đọc đến chỗ cảm thấy không hiểu không biết thì nên nhìn thẳng chỗ không hiểu không biết đó xem cái đó là tại sao? Cái “không biết tại sao?”đó thiền tông gọi là nghi tình. Cái nghi tình này nếu giữ được mãi sẽ đưa qúy vị đến chỗ giác ngộ thành Phật. Xin chớ nên giải theo lời văn để đóng bít cửa ngộ. Nếu quí vị đọc tiếp thì sẽ phát hiện ra nhiều đều hay bất ngờ.
Thích Duy Lực
Hoàng Bá Thiền Sư pháp danh Hy-Vận, người tỉnh Phước-Kiến, thuở nhỏ xuất gia tại núi Hoàng Bá thuộc Hồng Châu, trên trán có một bướu thịt giống hạt châu, giọng nói nhu nhuần trong sáng, ý chí đạm bạc.
Khi đi núi Thiên-Thai, giữa đường gặp một vị Tăng, nói chuyện với nhau như quen biết đã lâu. Nhìn kỹ thấy ánh sáng con mắt Tăng ấy chói người. Cùng đi chung đến một con sông, nhằm lúc mực nước sông dâng cao nên phải chống trượng dừng lại. Tăng ấy rủ Sư cùng qua sông. Sư nói :
_Ông qua được thì tự qua.
Tăng ấy liền bước đi trên mặt sông giống như đi trên đất bằng, rồi quay đầu lại kêu Sư :
_Qua đây! Qua đây!
Sư hét rằng :
_Ông tự liễu này (tự liễu : chỉ tự độ mình)! Nếu tôi biết trước sẽ chặt chân ông.
Tăng ấy lại tán thán rằng :
_Thực là pháp khí đại thừa, ta chẳng thể so bằng.
Nói xong liền biến mất.
Sư đến kinh đô Lạc Dương khất thực từng nhà. Có một bà lão ra cổng nói :
_Cho bao nhiêu cũng không thấy đủ!
Sư nói :
_Cụ chưa bố thí sao lại trách tôi như thế!
Bà lão cười rồi đóng cổng lại. Sư ngạc nhiên, xin được nói chuyện với bà lão. Lời bà lão cũng như phát thuốc đúng bệnh của Sư. Lát sau từ giã, bà lão bảo rằng :
_Nên đi xứ Nam Xương tham bái Mã Tổ.
Sư đến Nam Xương thì Mã Tổ đã thị tịch, liền chuyển sang Thạch Mông bái tháp Mã Tổ. Khi ấy Bá Trượng Thiền Sư đang ở nhà lá bên cạnh tháp, Sư bèn tham bái Bá Trượng, Trượng nói :
_Đường đường nguy nga từ phương nào đến?
_Đường đường nguy nga từ Lãnh Nam đến.
_Đường đường nguy nga muốn làm việc gì?
_Đường đường nguy nga chẳng vì việc khác. Rồi lễ bái.
Sư hỏi :
_Tông thừa từ xưa chỉ thị như thế nào?
Trượng im lặng giây lâu.
Sư nói :
_Chẳng nên bảo người đời sau dứt tuyệt đi.
Trượng nói :
_Tưởng ngươi là một con người.
Rồi bỏ đi về phòng.
Sư theo sau đi vào phòng nói :
_Ông ta đặc biệt đến đây.
Trượng nói :
_Nếu vậy thì sau này không được cô phụ ta.
Một hôm, Bá Trượng nhắc lại cái công án tái tham Mã Tổ bị hét (1), Sư ngay đó lãnh ngộ.
GHI CHÚ :
(1) Công án Bá Trượng tái tham Mã Tổ bị hét. 
Đang đứng bên cạnh Tổ, Tổ nhìn phất trần nơi góc thiền sàng. 
Trượng nói : Tức dụng này, lìa dụng này. 
Tổ nói : Ngươi về sau sẽ mở miệng dạy người như thế nào? 
Trượng lấy phất trần dựng đứng. 
Tổ nói : Tức dụng này, lìa dụng này. 
Trượng treo phất trần lại chỗ củ. Tổ bỗng oai hùng hét một tiếng lớn, khiến cho Bá Trượng điếc lỗ tai ba ngày.
Khi Hoàng Bá vừa nghe kể lại đến đây liền le lưỡi bất giác đại ngộ.
Một hôm Bá Trượng hỏi Sư :
_Đi đâu mới về đây?
Sư nói :
_Dưới núi Đại Hùng hái nấm mới về.
_Có gặp con hổ không?
Sư liền kêu tiếng hổ.
Trượng cầm búa làm cái thế chém. Sư liền bạt tai Bá Trượng Bá Trượng mỉm cười rồi về phòng liền, sau đó thượng đường nói :
_Dưới núi Đại Hùng có một con hổ, các ngươi hãy để ý xem.
Lão già Bá Trượng hôm nay đã đích thân bị cắn một cái.
Một hôm. Bá Trượng vì phổ thỉnh ( mời tất cả chúng cùng đi làm ) đi khai khẩn ruộng về. Trượng nói :
_Khai khẩn ruộng chẳng phải dễ.
Sư nói :
_Theo chúng làm việc.
_Làm phiền dụng đạo.
_Đâu dám từ chối lao nhọc.
Trượng hỏi :
_Khai khẩn được bao nhiêu ruộng?
Sư đem cuốc cuốc đất ba cái. Trượng liền hét, Sư bịt tai bỏ đi.
Sư ở thiền hội Nam-Tuyền, lúc đang phổ thỉnh lựa rau cải.
Tuyền hỏi : Đi đâu?
Đáp : Đi lựa rau cải.
Tuyền nói : Lấy gì để lựa?
Sư giơ cây dao.
Tuyền nói : chỉ biết làm khách, chẳng biết làm chủ.
Sư lấy dao điểm ba cái.
Tuyền nói : Đại chúng lựa cải đi.
Một hôm, Sư bưng bát đến chỗ tòa của Nam Tuyền ngồi.
Tuyền nhìn thấy hỏi : Trưởng lão hành đạo từ năm nào?
Sư nói : Trước Oai-Âm-Vương.
Tuyền nói : Vẫn còn là con cháu của ta. Đi xuống đi!
Sư bèn qua cái ghế thứ nhì ngồi, Tuyền bèn thôi.
Một hôm Tuyền nói :
_Lão tăng có một bài ca chăn trâu, xin trưởng lão xướng họa.
Sư nói :
_Ta đã có thầy rồi.
Sư từ giã Nam Tuyền. Tuyền đưa đến cửa, chỉ cái nón của Sư nói :
_Thân của trưởng lão lớn vô hạn mà cái nón thì nhỏ quá đi!
Sư nói :
_Mặc dầu như thế mà đại thiên thế giới trọn ở trong đó.
Tuyền nói :
_Còn cụ già này chứ!
Sư đội nón đi liền.
Sư ở thiền hội Diêm-Quan, đang lễ Phật trên chánh điện, có Sa Di (sau này là vua Đường Tuyên-Tông) hỏi :
_Chẳng chấp cầu Phật, chẳng chấp cầu Pháp, chẳng chấp cầu Tăng, Trưởng Lão lễ Phật để cầu cái gì?
Sư nói :
_Chẳng chấp cầu Phật, chẳng chấp cầu Pháp, chẳng chấp cầu Tăng, việc thường lễ bái như thế.
Sa Di nói :
_Cần lễ làm chi?
Sư bèn bạt tai. Sa Di nói :
_Thô lỗ quá thế.
Sư nói :
_Đây là chỗ gì mà nói thô nói tế!
Rồi bạt tai nữa.
Sư từng ẩn trong chúng chùa Khai Nguyên ở Hồng Châu. Một hôm có thừa tướng Bùi Hưu vào chùa thấy bức tranh trên vách hỏi chủ chùa :
_Đây là gì?
Chủ chùa đáp :
_Chân dung của cao tăng.
Hưu nói :
_Chân dung thì thấy rồi, còn cao tăng ở đâu?
Chủ chùa không trả lời được.
Hưu hỏi :
_Ở đây có thiền giả nào không?
Đáp :
_Gần đây có một Tăng đến chùa công quả giống như thiền giả.
Hưu liền xin gặp và nói rằng :
_Hưu vừa có một câu hỏi mà chưa được ai trả lời, xin thượng nhân đáp dùm.
Sư nói :
_Xin thừa tướng cứ hỏi.
Hưu hỏi lại câu hỏi trước.
Sư lớn tiếng gọi :
_Bùi Hưu!
Hưu :
_Dạ.
Sư nói :
_Ở đâu?
Hưu ngay đó ngộ ý chỉ như được hạt châu quý, liền mời Sư về dinh rồi đảnh lễ xin làm đệ tử.
Một hôm Hưu bưng một tượng Phật qùy trước mặt Sư xin Sư đặt tên.
Sư gọi :
_Bùi Hưu!
Hưu :
_Dạ.
Sư nói :
_Đã đặt tên xong.
Hưu lễ bái.
Một hôm khác Hưu mời Sư đến dinh đem một tác phẩm của mình để trình cho Sư. Sư nhận xong để một bên tòa không mở ra xem, im lặng giây lâu rồi hỏi :
_Hiểu không?
Hưu nói :
_Chưa hiểu.
Sư nói :
_Nếu hiểu liền như thế này còn tốt một chút. Nếu mà trình bày nơi giấy mực thì đâu còn thiền tông ta.
Hưu do đó tặng một bài thơ rằng :
Từ khi đại sĩ truyền tâm ấn. 
Trán có viên châu, bảy thước thân. 
Trụ tích mười năm ở Thục-Thủy. 
Hôm nay hành cước đến Chương Tân. 
Một ngàn long tượng theo cao túc. 
Vạn lý hương hoa kết thắng nhân. 
Muốn xin lễ Sư làm đệ tử. 
Chẳng biết đem pháp phó hà nhân (người nào)?
Sư cũng không tỏ vẻ mừng.
Một hôm có sáu người mới đến. Năm người đảnh lễ, một người thì đem toạ cụ phác ra một tướng tròn.
Sư nói :
_Ta nghe có một con chó săn rất ác.
Tăng ấy nói :
_Tìm tiếng Linh-Dương đây (linh dương là loại con hươu và cũng giống con dê, rất khó tìm tông tích)!
Sư nói :
_Linh-Dương chẳng tiếng cho ngươi tìm.
Tăng nói :
_Tìm dấu Linh-Dương đây!
Sư nói :
_Linh-Dương chẳng dấu cho ngươi tìm.
Tăng nói :
_Tìm tích Linh-Dương đây!
Sư nói :
_Linh-Dương chẳng tích cho ngươi tìm.
Tăng nói :
_Vậy là Linh-Dương chết.
Sư bèn thôi. Sáng hôm sau, Sư thăng tòa nói :
_Tăng tìm Linh-Dương hôm qua ra đây!
Tăng ấy ra. Sư nói :
Công án hôm qua chưa xong mà lão tăng đã thôi. Ý ngươi thế nào?
Tăng chẳng thể trả lời. Sư nói :
_Tưởng là một tăng xuất sắc, ai dè chỉ là một sa môn nghĩa học (tức là giải nghĩa theo lời văn).
Rồi đánh đập đuổi ra.
Một hôm Sư bóp nắm tay rồi nói:
Lão Hòa Thượng khắp thiên hạ đều ở trong này. Nếu ta buông thả một đường chỉ thì tùy ý ngươi tung hoành bốn phương. Nếu ta chẳng buông thả thì luôn cả cái bóp tay cũng không còn.
Tăng hỏi:
_Khi buông thả một đường chỉ là thế nào?
Sư nói :
_Tung hoành bốn phương.
Hỏi :
_Lúc chẳng buông thả thì luôn cả cái bóp tay cũng không còn là thế nào?
Đáp :
_Phổ (nghĩa là cùng khắp mọi nơi).
Sư thượng đường. Đại chúng mới vừa tụ tập, Sư lấy gậy đánh đập giải tán, rồi lại kêu :
_Đại chúng!
Chúng quay đầu lại thì Sư nói :
_Mặt trăng cong như cung, mưa ít mà gió nhiều.
Hỏi :
_Thế nào là ý Tổ Sư từ Ấn Độ đến?
Sư bèn đánh.
Một hôm thượng đường, đại chúng vân tập, Sư nói :
_Các ngươi muốn cầu cái gì?
Rồi dùng cây gậy đuổi ra. Đại chúng không chịu giải tán. Sư ngồi lại nói :
_Các ngươi đều là kẻ say rượu. Hành cước như thế này sẽ bị người ta cười, mà hễ thấy nơi có chúng đông tám trăm, một ngàn thì chui vào, chẳng phải ham chỗ náo nhiệt hay sao? Khi ta hành cước gặp trong đám cỏ có một vị nào liền cho một dùi trên đỉnh đầu xem họ nếu biết dau ngứa thì cung kính đem gạo cúng dường, đâu phải như các ngươi hành cước dễ dàng như thế, làm sao được việc ngày nay (kiến tánh)? Các ngươi đã xưng là người hành cước cũng phải phấn khởi tinh thần một chút. Các ngươi còn biết trong nước Đại Đường không có thiền sư chăng?
_Khi ấy có tăng hỏi :
_Các nơi đều có tôn túc tựu chúng khai thị giáo hóa. Tại sao lại nói không có Thiền Sư? Sư nói : Chẳng phải nói là không có thiền, chỉ nói là không có Sư. Các ông tham thiền không nhìn thẳng chỗ hầm sâu vô minh, chỉ biết học theo ngôn ngữ để ghi nhớ chất đầy trong bụng, rồi đi khắp nơi tự xưng ta hiểu thiền. Hiểu thiền như thế có giải quyết được việc sanh tử của các ông chăng? Cần phải nỗ lực tham cứu chớ nên uổng qua một đời, bị người ta cười. Nếu ngộ thì ngay đó ngộ, nếu không ngộ thì cứ tham đi.
* * *
Sư khai thị cho Bùi Công Mỹ rằng :
_Chư Phật với tất cả chúng sanh chỉ là một tâm, chẳng có pháp khác. Tâm này từ vô thủy đến nay chưa từng sanh chưa từng diệt, chẳng xanh chẳng vàng, vô hình vô tướng, chẳng thuộc hữu vô, chẳng phải mới cũ, không dài không ngắn, không lớn không nhỏ, siêu việt tất cả hạn lượng, tên gọi, dấu tích, đối đãi. Vật nào ngay bản thể đó là phải, động niệm liền sai. Cũng như hư không chẳng có biên giới, chẳng thể đo lường, chỉ một tâm này tức là Phật. Phật với chúng sanh chẳng có sai biệt mà chúng sanh thì chấp tướng hướng ngoại tìm cầu. Tìm cầu trở thành lạc lối, đem Phật tìm Phật, dùng tâm bắt tâm, trọn đời suốt kiếp cũng chẳng đắc được. chẳng biết ngưng niệm dứt tưởng thì Phật tự hiện tiền. Tâm này tức là Phật, Phật tức là chúng sanh, lúc làm chúng sanh tâm này chẳng bớt, lúc làm chư Phật tâm này chẳng thêm, cho đến lục độ vạn hạnh hằng sa công đức vốn tự đầy đủ, chẳng nhờ tu tập. Gặp duyên thì làm hết duyên thì thôi. Nếu chẳng quả quyết tin tự tâm Phật này mà muốn chấp tướng tu hành để cầu công dụng đều là vọng tưởng, đều trái với đạo. Tâm này tức là Phật chẳng còn Phật khác, cũng chẳng tâm khác. Tâm này sáng tỏ trong sạch như hư không chẳng có tướng mạo. Nếu cử tâm động niệm liền trái pháp thể, gọi là chấp tướng. Từ vô thủy đến nay chẳng có Phật chấp tướng. Nếu tu lục độ vạn hạnh muốn cầu thành Phật tức là thứ lớp. Từ vô thủy đến nay chẳng có Phật thứ lớp. Hễ ngộ được tâm này thì không có một mảy may pháp để đắc, ấy tức là chân Phật, Phật với chúng sanh tất cả không khác. Cũng như hư không chẳng tạp nhiễm chẳng hủy hoại, như mặt trời chiếu khắp bốn thiên hạ, khi mặt trời lên sáng khắp thiên hạ, hư không chưa từng sáng, khi mặt trời lặn tối khắp thiên hạ, hư không chưa từng tối. Cái cảnh sáng tối tự đoạt lẫn nhau mà tánh của hư không thì rõ ràng chẳng biến đổi. Phật và chúng sanh tâm cũng như thế.
Nếu xem tướng Phật cho là thanh tịnh, quang minh, giải thoát, xem tướng chúng sanh cho là ô trược, ám muội, sanh tử, nếu hiểu theo như thế thì trải qua hằng sa kiếp cũng chẳng đắc bồ đề, tại vì chấp tướng. Thực ra chỉ có một tâm này, không có một chút pháp bằng vi trần cho mình đắc được. Tức tâm là Phật, người học đạo đời nay chẳng ngộ tâm thể này, cứ ở nơi tâm sanh tâm, hướng bên ngoài cầu Phật, chấp theo tướng tu hành, đều là pháp tà chẳng phải đạo bồ đề.
Nói cúng dường mười phương chư Phật không bằng cúng dường một đạo nhân vô tâm. Tại sao? Kẻ vô tâm là vô tất cả tâm, chẳng phải tuyệt không. Cái bản thể như như bên trong như gỗ đá chẳng lay chẳng động, bên ngoài như hư không chẳng nghẽn chẳng ngại, vô năng sở, vô phương sở, vô tướng mạo, vô đắc thất. Kẻ tu chẳng dám vào pháp này, e sợ đọa vào rỗng không chẳng chỗ đứng chân,nên cảm thấy khó, rồi lui sụt. Trái lại đều rộng cầu tri kiến, cho nên kẻ cầu tri kiến thì rất nhiều, kẻ ngộ đạo thì rất ít.
Nói Văn Thù là xứng với lý, nói Phổ Hiền là xứng với hạnh, nói lý là lý chân không vô ngại, nói hạnh là hạnh lìa tướng vô tận.
Quan Âm xứng với đại từ, Thế Chí xứng với đại trí.Duy Ma Cật dịch là Tịnh Danh. Tịnh là tánh, danh là tướng, tánh tướng chẳng khác nên gọi là Tịnh Danh.
Những biểu hiện của chư đại Bồ Tát, con người đều saün có, thật chẳng lìa một tâm này, hễ ngộ thì đủ. Nay người học đạo chẳng hướng ngay tự tâm mà ngộ lại ở bên ngoài lấy cảnh chấp tướng, đều trái với đạo.
Phật nói hằng hà sa, sa tức là cát, chư Phật Bồ Tát Thích Phạm chư Thiên đi qua cát cũng không vui, trâu dê trùng kiến bò qua cát cũng không giận. Châu báu hương thơm cát cũng không tham, phẩn nước tiểu hôi thối cát cũng không ghét. Dụ như tâm này, tức cái tâm của vô tâm, lìa tất cả tướng, chúng sanh chư Phật chẳng có khác biệt, hễ được vô tâm thì đến cứu kính. Người học đạo nếu chẳng ngay đó vô tâm, dù nhiều kiếp tu hành cũng chẳng thành đạo, vì bị công hạnh của tam thừa trói buộc chẳng được giải thoát. Nhưng chứng ngộ tâm này có nhanh chậm, có kẻ nghe pháp trong một niệm liền được vô tâm, có kẻ đến thập địa mới được vô tâm. Lâu mau cũng phải đến vô tâm mới xong (chẳng phải tuyệt không). Lúc ấy mới biết vô tu vô chứng, thật vô sở đắc. Sự chân thật bất hư trong một niệm mà được với thập địa mới được công dụng bằng nhau không có sâu cạn, chỉ là trải qua nhiều kiếp uổng chịu lao nhọc mà thôi. Tạo ác tạo thiện đều là chấp tướng. Chấp tướng tạo ác thì uổng chịu luân hồi, chấp tướng tạo thiện thì uổng chịu lao nhọc, đều không bằng ngay đó tự nhận lấy bản pháp. Pháp này tức tâm, ngoài tâm chẳng pháp, tâm này tức pháp, ngoài pháp chẳng tâm. Tâm tự vô tâm, cũng chẳng có kẻ vô tâm, nếu đem tâm làm cho vô tâm thì tâm lại thành có. Kẻ ngộ dứt tuyệt tư nghì chỉ mặc khế (âm thầm khế ngộ) mà thôi, nên nói ” Ngôn ngữ đạo đoạn, tâm hành xứ diệt ” ( đường ngôn ngữ dứt, nơi suy nghĩ diệt ). Bổn nguyên của tâm này vốn thanh tịnh, chư Phật Bồ Tát trời người cho đến sâu bọ hàm linh, bản thể Phật tánh đều chẳng khác, chỉ vì vọng tưởng phân biệt tạo đủ thứ nghiệp, trên bản thể Phật tánh thật chẳng một vật, miễn cưỡng nói là hư không tịch tịnh minh diệu an lạc mà thôi. Nếu tự ngộ nhập thì ngay đó đầy đủ chẳng gì thiếu sót, dẫu cho trải qua vô số kiếp tinh tấn tu hành được nhiều quả vị, khi một niệm chứng đắc chỉ chứng bổn lai tự tánh Phật, hướng thượng chẳng thêm được một vật, khi ấy trở lại xem công dụng của nhiều kiếp đều là việc vọng trong chiêm bao, nên Như Lai nói : ” Ta ở nơi Vô Thượng Bồ Đề thật vô sở đắc. Nếu có sở đắc thì Nhiên Đăng Phật không thọ ký cho ta thành Phật “.
Hỏi :
_Thế nào là Phật?
Sư nói :
_Tâm ngươi là Phật, Phật tức là tâm. Tâm với Phật chẳng khác nên nói tức tâm tức Phật. Nếu lìa nơi tâm thì chẳng có Phật nào khác.
Hỏi :
_Nếu tự tâm là Phật, Tổ Sư từ Ấn Độ đến truyền thọ như thế nào?
Đáp :
_Tổ Sư đến chỉ truyền tâm Phật, chỉ thẳng tâm của các ngươi vốn là Phật. Tâm tâm chẳng khác nên gọi là Tổ. Nếu ngay đó thấy ý này tức đốn siêu tam thừa. Tất cả quý vị bản tâm là Phật, chẳng nhờ tu mới thành.
Hỏi :
_Nếu như thế mười phương chư Phật ra đời thuyết pháp gì?
Đáp :
_Mười phương chư Phật ra đời chỉ cùng thuyết một tâm pháp, cho nên Phật mật phó cho Ma-Ha-Ca-Diếp bản thể một tâm pháp này cùng hư không khắp pháp giới. Dù gọi là giáo lý Phật pháp, cái pháp này đâu phải cho ngươi ở trên lời nói mà hiểu được nó, cũng không thể ở trên một cơ một cảnh mà thấy được nó. Kẻ ngộ chỉ là mặc khế ý này. Môn này gọi là pháp môn vô vi, nếu muốn hiểu chỉ cần vô tâm, bỗng ngộ liền được. Nếu dùng tâm muốn học lấy thì lại càng xa cách. Nếu chẳng có tâm đi đường tẽ, chẳng có tất cả tâm thủ xả, tâm như gỗ đá, mới có phần học đạo.
Hỏi :
_Hiện có đủ thứ vọng niệm đâu thể nói vô?
Đáp :
_Vọng vốn chẳng bản thể, chỉ do tâm ngươi sở khởi. Ngươi nếu biết tâm là Phật thì tâm vốn chẳng vọng, đâu thể khởi tâm nhận tâm là vọng. Ngươi nếu chẳng sanh tâm động niệm, tự nhiên chẳng vọng. Cho nên nói tâm sanh thì mỗi mỗi pháp sanh, tâm diệt thì mỗi mỗi pháp diệt.
Hỏi :
_Nay khi đang khởi vọng niệm thì Phật ở đâu?
Đáp :
_Ngay khi ngươi giác vọng khởi, giác chính là Phật. Hễ không có vọng niệm thì. Phật cũng không. Tại sao như thế? Vì ngươi khởi tâm tác Phật-Kiến (tri kiến) thì nói có Phật để thành, tác chúng sanh kiến thì nói có chúng sanh để độ. Khởi tâm động niệm đều là chỗ tri kiến của ngươi. Nếu chẳng có tất cả tri kiến thì Phật đâu có xứ sở. Cũng như Văn Thù mới sanh khởi Phật-kiến pháp-kiến liền bị đày đi hai núi Thiết Vi.
Hỏi :
_Nay ngay khi ngộ thì Phật ở đâu?
Đáp :
_Cái hỏi từ đâu đến? Cái giác từ đâu khởi? Động tịnh nói nín, tất cả thanh sắc đều là Phật sự, còn nơi nào tìm Phật? Đâu thể trên đâù lại thêm đầu, trên miệng laị thêm miệng. Nếu chẳng sanh tri kiến khác biệt thì núi là núi, sông là sông, tăng là tăng, tục là tục. Sơn hà đại địa, nhật nguyệt tinh tú, trọn chẳng ở ngoài tâm ngươi. Đại thiên thế giới đều là cái tự kỷ của ngươi, chỗ nào còn vật này vật nọ? Ngoài tâm chẳng pháp, đầy mắt núi xanh. Cả hư không thế giới rõ ràng chẳng có mảy may để cho ngươi làm kiến giải. Nên nói tất cả thanh sắc đều là huệ nhãn của Phật.
Pháp chẳng tự khởi, nhờ cảnh mới sanh. Vì tiếp vật độ sanh mới nói có nhiều trí tuệ. Thực ra suốt ngày nói đâu từng nói, suốt ngày nghe đâu từng nghe, cho nên Phật Thích Ca bốn mươi chín năm thuyết pháp chưa từng nói một chữ là vậy.
Hỏi :
_Nếu như thế chỗ nào là Bồ-Đề?
Đáp :
_Bồ-Đề chẳng có chỗ. Phật cũng chẳng đắc Bồ-Đề, chúng sanh cũng chẳng mất Bồ-Đề. Chẳng thể dùng thân đắc, chẳng thể dùng tâm cầu. Tất cả chúng sanh tức là tướng Bồ-Đề.
Hỏi :
_Làm sao phát Bồ-Đề tâm?
Đáp :
_Bồ-Đề vô sở đắc, nay ngươi hãy phát tâm vô sở đắc, quyết định chẳng đắc một pháp tức là Bồ-Đề tâm. Bồ-Đề chẳng có chỗ trụ cho nên chẳng có kẻ đắc, nên Phật Thích Ca nói :”Ta ở nơi Phật Nhiên Đăng chẳng có chút pháp nào để đắc mới được thọ ký thành Phật”. Đã biết rõ tất cả chúng sanh vốn là Bồ-Đề, không nên lại đắc thêm Bồ-Đề. Nay ngươi nghe nói phát Bồ Đề tâm thì muốn dùng tâm đi học để thành Phật, dẫu cho ngươi trải qua ba vô số kiếp tu cũng chỉ được cái báo thân, hóa thân Phật còn đối với cái bản nguyên tự tánh Phật của ngươi chẳng dính dáng gì cả. Nên nói cầu Phật hữu tướng bên ngoài đâu bằng Phật của chính ngươi.
Lại nói pháp ấy bình đẳng chẳng có cao thấp gọi là Bồ-Đề. chính cái tâm bổn nguyên thanh tịnh này với chúng sanh chư Phật, thế giới sơn hà, hữu tướng vô tướng, khắp mười phương cõi, tất cả bình đẳng, chẳng có tướng ta tướng ngươi. Cái tâm bổn nguyên thanh tịnh này thường tự tròn đầy sáng tỏ chiếu soi khắp nơi, người đời chẳng ngộ chỉ nhận kiến văn giác tri là tâm, bị kiến văn giác tri che khuất cho nên chẳng thấy cái bản thể tinh diệu sáng tỏ. Nếu ngay đó vô tâm thì bản thể tự hiện như mặt trời trên hư không chiếu khắp mười phương chẳng gì chướng ngại. Người học đạo chớ nên chỉ nhận kiến văn giác tri, động tác làm việc, cho đó là tâm, cũng chớ nên bỏ hẳn kiến văn giác tri khiến cho đường tâm bị bít tuyệt chẳng có chỗ nhập. Hãy ngay nơi kiến văn giác tri nhận bản tâm, nhưng bản tâm chẳng thuộc kiến văn giác tri cũng chẳng lìa kiến văn giác tri. Chớ nên ở nơi kiến văn giác tri sanh khởi kiến giải, nghĩa là chớ ở nơi kiến văn giác tri động niệm. Cũng chớ lìa kiến văn giác tri tìm tâm, cũng chớ bỏ kiến văn giác tri lấy pháp. Bất tức bất ly, chẳng trụ chẳng chấp,tung hoành tự tại đều là đạo tràng.
Nếu muốn biết yếu quyết chỉ cần ở nơi tâm chớ dính mắc một vật. Kinh nói chân pháp thân của Phật cũng như hư không, ấy là dụ pháp thân tức hư không,hư không tức pháp thân. Người thường cho pháp thân khắp nơi hư không, nói trong hư không hàm chứa pháp thân, chẳng biết pháp thân tức là hư không, hư không tức là pháp thân vậy. Nếu nhất định nói có hư không, hư không chẳng phải pháp thân, nếu nhất định nói có pháp thân, pháp thân chẳng phải hư không, ấy là bệnh lớn. Khi thấy hư không chớ cho là hư không, hư không tức pháp thân, nhưng cũng chớ chấp cho là pháp thân. Vì pháp thân tức hư không, hư không với pháp thân chẳng khác tướng, Phật với chúng sanh chẳng khác tướng, sanh tử với niết bàn chẳng khác tướng, phiền não với bồ đề chẳng khác tướng. Lìa tất cả tướng tức là Phật.
Phàm phu chấp cảnh, ngoại đạo chấp tâm, tâm cảnh đều quên, mới là chân pháp. Quên cảnh còn dễ, quên tâm rất khó. Người thường chẳng dám quên tâm, e sợ đọa vào rỗng không, chẳng chỗ đứng chân. Chẳng biết Không vốn chẳng không, chỉ là nhất chân pháp giới mà thôi.
Hỏi :
_Thấy tánh là thề nào?
Đáp :
_Tánh tức là thấy, thấy tức là tánh, chẳng thể lấy tánh thấy thêm tánh. Nghe tức là tánh, chẳng thể lấy tánh nghe thêm tánh. Chỉ vì ngươi cho là có cái tánh thấy, nghe, tánh ấy năng thấy, năng nghe, nên mới có những pháp đồng, dị sanh khởi.
Kinh nói rõ ràng cái sở thấy đó chính là tánh ngươi rồi chẳng thể thấy nữa, nếu thấy nữa tức là ngươi ở trên đầu lại sanh thêm đầu. Trong kinh nói rõ ràng đủ thứ hạt châu trong mâm, lớn thì tròn theo lớn, nhỏ thì tròn theo nhỏ, mỗi mỗi chẳng biết nhau , mỗi mỗi chẳng ngại nhau. Những hiện tượng thế giới lúc khởi chẳng nói ta khởi, lúc diệt chẳng nói ta diệt, cho nên tứ sinh lục đạo chưa có pháp nào chẳng trụ như thời.
Lược Giải
Tứ sanh lục đạo chưa có pháp nào chẳng trụ như thời : 
Kinh Pháp Hoa nói :
Pháp đó trụ ngôi pháp 
Thế gian tướng thường trụ.
Nghĩa là pháp nào trụ theo ngôi pháp đó, cũng như pháp sanh trụ ngôi sanh, pháp diệt trụ ngôi diệt. Tướng thế gian sanh diệt từng sát na, những pháp sanh diệt ấy trụ theo thời điểm của sát na đó, cho nên nói chưa có pháp nào chẳng trụ như thời.
Lại chúng sanh chẳng thấy Phật, Phật chẳng thấy chúng sanh tứ quả chẳng thấy tứ hướng (1),tứ hướng chẳng thấy tứ quả, tam hiền thập thánh chẳng thấy Đẳn Giác Diệu Giác, Đẳng Giác Diệu Giác chẳng thấy tam hiền thập thánh, cho đến thủy chẳng thấy hỏa, hỏa chẳng thấy thủy, địa chẳng thấy phong, phong chẳng thấy địa, chúng sanh chẳng nhập pháp giới, chư Phật chẳng xuất pháp giới, cho nên pháp tánh chẳng khứ lai, chẳng năng sở. Tánh đã như thế vì sao còn nói ta thấy ta nghe?
Thiện tri thức thuyết pháp cho ta, chư Phật ra đời thuyết pháp cho chúng sanh, đều muốn chúng ta ngay đó khế ngộ tánh này. Ca-Chiên-Diên chỉ vì dùng tâm sanh diệt để truyền pháp thực tướng nên bị Duy-Ma-Cật quở. Kinh nói rõ ràng tất cả pháp vốn chẳng có trói đâu cần mở nó, vốn chẳng có nhiễm đâu cần tịnh nó. Nên nói :” Thực tướng như thế há có thể thuyết ư!”.
Ghi chú:
(1)Tứ Hướng : Từ nhân hướng đến quả gọi là hướng, như từ sơ cơ hướng đến sơ quả, từ sơ quả hướng đến nhị quả, nhị quả hướng đến tam quả, tam quả hướng đến tứ quả, gọi là tứ hướng.
Nay ngươi chỉ tự lập tâm thị phi, tâm nhiễm tịnh, học được một tri một giải, đi dạo khắp thiên hạ tự đắc khoe tài gặp ai cũng muốn làm thầy cho họ. Thực ra thì ai có tâm có mắt, ai mạnh ai yếu ? Nếu chấp như thế thì cách xa như trời với đất, còn nói gì thấy tánh!
Hỏi :
_Đã nói tánh tức thấy, thấy tức tánh, thế thì tánh tự chẳng chướng ngại, chẳng giới hạn. Tại sao cách vật thì không thấy? Lại ở nơi hư không, gần thì thấy, xa thì không thấy, ấy là tại sao?
Đáp : Ấy là vọng sanh dị kiến (cái thấy có khác) của ngươi. Nếu nói cách vật chẳng thấy hoặc thấy có xa gần, thì nói bản tánh có cách ngại. Thật ra đều chẳng dính dáng, vì bản tánh phi kiến phi bất kiến, pháp cũng phi kiến phi bất kiến, nếu ngươi thấy bản tánh cùng khắp không gian thời gian thì ở đâu chẳng phải bản tánh của ngươi. Cho nên lục đạo tứ sinh sơn hà đại địa đều là tánh thể trong sạch sáng tỏ của ta. Nên nói thấy sắc thì thấy tâm, sắc tâm chẳng khác, chỉ vì chấp tướng đuổi theo kiến văn giác tri, nếu xóa bỏ vật trước mắt mới cho là chứng đắc, ấy là đọa vào kiến giải y-thông (dựa theo thần thông ) của người nhị thừa. Còn nói trong hư không gần thì thấy xa thì chẳng thấy, ấy là thuộc về ngoại đạo. Kinh nói rõ ràng :”chẳng trong cũng chẳng ngoài, chẳng gần cũng chẳng xa”. Gần mà chẳng thể thấy ấy là tánh của vạn vật (như lông mi ở sát ngay mắt mà mắt không thấy). Gần còn chẳng thể thấy huống là nói xa mà chẳng thấy, vậy có ý nghĩa gì đâu?
Hỏi :
_Phật hết sạch vô minh chăng?
Đáp :
_Vô minh tức là chỗ đắc đạo của tất cả chư Phật cho nên nói duyên khởi là đạo tràng, vì có vô minh mới có đắc đạo. Sở thấy một trần một sắc đều hợp với lý tánh vô biên, giở chân đặt chân chẳng lìa đạo tràng. Nói đạo tràng tức là vô sở đắc, ta nói với ngươi ngay cái vô sở đắc đó gọi là tọa đạo tràng.
Hỏi :
_Nói vô minh là sáng hay là tối?
Đáp :
_Chẳng sáng chẳng tối. Sáng tối là pháp sanh diệt, vô minh lại chẳng sáng cũng chẳng tối. Nói chẳng sáng vì tự tánh vốn minh, do chấp tâm sanh ra phân biệt mới có minh với vô minh. Lời nói chẳng sáng chẳng tối này đã nhiễu loạn biết bao nhiêu con mắt của thiên hạ! Nên kinh nói :”Giả sử khắp thế gian, đều như Xá Lợi Phất, tận sức cùng suy lường, chẳng thể thấu trí Phật”.
Trí huệ Phật là trí huệ vô ngại, siêu việt hư không, chẳng có chỗ cho ngươi luận bàn. Cũng như đại thiên thế giới rất rộng lớn có một Bồ Tát chỉ bước một bước thì qua khỏi, nhưng cũng chẳng ra khỏi một lỗ chân lông của Phổ Hiền. Vậy ngươi nay lấy bản lĩnh gì mà muốn học nó.
Hỏi :
_Đã là học không được tại sao còn nói ” về cội tánh chẳng hai, phương tiện có nhiều lối ” là thế nào?
Đáp :
_”Về cội tánh chẳng hai” nghĩa là : thực tánh của vô minh tức là Phật tánh. “Phương tiện có nhiều lối” nghĩa là: sở thấy của bậc thánh có nhiều lối khác nhau, bậc Thanh Văn thấy vô minh sanh vô minh diệt, bậc Duyên Giác chỉ thấy vô minh diệt chẳng thấy vô minh sanh, niệm niệm chứng tịch diệt, còn chư Phật thì thấy chúng sanh suốt ngày sanh mà vô sanh, suốt ngày diệt mà vô diệt, vô sanh vô diệt tức là quả Đại Thừa cho nên nói :” Quả mãn Bồ-Đề viên, hoa khai thế giới khởi.
Giở chân là Phật, đặt chân là chúng sanh. Nói chư Phật lưỡng túc tôn nghĩa là lý túc, sự túc, chúng sanh túc, sanh tử túc, tất cả đều túc. Túc nên chẳng cầu, nay ngươi niệm niệm muốn học Phật tức là chê bai chúng sanh. Nếu chê bai chúng sanh tức là phỉ báng mười phương chư Phật. Cho nên Phật ra đời cầm đồ trừ phẩn để trừ phẩn của hý luận, chỉ là bảo ngươi trừ bỏ cái tâm ham học ham thấy từ xưa nay. Hễ trừ hết sạch thì chẳng đọa hý luận cũng gọi là đem phẩn ra, nghĩa là bảo ngươi chẳng sanh tâm. Tâm nếu chẳng sanh tự nhiên thành người đại trí, quyết định chẳng phân biệt Phật với chúng sanh. Tất cả đều chẳng phân biệt mới được vào cửa Tào Khê ta. Nên bậc Thánh nói :”Nếu hành pháp môn ta, phải biết ta lấy vô hành làm pháp môn của ta. Pháp môn này gọi là nhất tâm môn (cửa một tâm). Mọi người đến cửa này đều chẳng dám vào nên chẳng đắc đạo. Chẳng phải không ai đắc chỉ là ít người đắc. Kẻ đắc tức là Phật”.
Người học đạo trước tiên nên bỏ các duyên tạp học, quyết định chẳng cầu, quyết định chẳng chấp, nghe pháp thâm sâu giống như gió thoảng qua lỗ tai, qua rồi thì thôi chẳng truy tầm nữa, ấy mới gọi là thâm sâu. Tức là vào Như Lai Thiền, lìa “sanh Thiền tưởng”(sanh tâm cho là Thiền gọi là sanh Thiền tưởng). Tổ Sư từ xưa nay chỉ truyền một tâm, chẳng có hai Phật, chỉ thẳng tâm ngươi tức là Phật, đốn siêu Đẳng Giác Diệu Giác. Chỉ một tâm bản niệm, quyết định chẳng chảy ra niệm thứ hai mới vào được thiền môn ta. Pháp vốn như thế, các ngươi đối với chỗ này tính làm sao mà học? Cho nên nói khi tâm tính muốn thì bị ma của tâm tính muốn trói buộc, khi tâm chẳng tính muốn lại bị ma của tâm chẳng tính muốn trói buộc, ma chẳng từ ngòai đến, từ tự tâm ngươi ra. Chỉ có Bồ -Tát-Vô-Thần-Thông dấu tích chẳng thể tìm. Trong bất cứ lúc nào, nếu tâm cho là thường tức là ngoại đạo thường kiến, nếu xem tất cả pháp không, trụ nơi không kiến, tức là ngoại đạo đoạn kiến. Cho nên nói tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức. Ấy còn là đối với người tà kiến ngoại đạo mà nói. Nếu nói pháp thân là qủa cùng tột, ấy còn là đối với tam hiền thập thánh mà nói. Nên Phật phải đoạn dứt hai thứ ngu, một là vi tế sở tri ngu, hai là cực vi tế sở tri ngu. Phật đã như thế còn nói gì đến Đẳng Giác Diệu Giác nữa.
Nay mọi người chỉ muốn sáng, không muốn tối, chỉ muốn cầu ngộ không muốn phiền não vô minh, cứ cho Phật là giác, chúng sanh là vọng. Nếu sanh kiến giải như thế thì muôn ngàn kiếp phải chịu luân hồi lục đạo không thể đoạn dứt được. Tại sao vậy? Vì phỉ báng bổn nguyên tự tánh của chư Phật. Kinh nói rõ ràng :” Phật cũng chẳng sáng, chúng sanh cũng chẳng tối vì pháp chẳng sáng tối, Phật cũng chẳng mạnh, chúng sanh cũng chẳng yếu, vì pháp chẳng mạnh yếu, Phật cũng chẳng trí, chúng sanh cũng chẳng ngu, vì pháp chẳng trí ngu “. Tất cả chỉ vì ngươi tự đắc khoe tài, ló đầu ra cho là hiểu thiền hiểu đạo, không biết rằng mở miệng ra liền mắc bệnh, chẳng nói gốc chỉ nói ngọn, chẳng nói mê chỉ nói ngộ, chẳng nói thể chỉ nói dụng. Thực ra đâu có chỗ để cho ngươi luận bàn, vì tất cả pháp xưa vốn chẳng có, nay cũng chẳng không, duyên khởi chẳng có, duyên diệt chẳng không. Bản thể cũng chẳng có, vì bản thể tức phi bản thể, tâm cũng chẳng tâm vì tâm tức phi tâm, tướng cũng chẳng tướng, vì tướng tức phi tướng. Cho nên nói :”Vô pháp vô bản tâm, mới hiểu tâm tâm pháp, pháp tức phi pháp, phi pháp tức pháp, vô pháp vô phi pháp, nên gọi tâm tâm pháp”.
Thình lình sanh khởi một niệm liễu tri như huyễn như hóa liền chảy vào Phật quá khứ. Phật quá khứ lại chẳng có, Phật vị lai lại chẳng không,lại cũng chẳng gọi là Phật vị lai. Hiện tại niệm niệm chẳng trụ cũng chẳng gọi là Phật hiện tại. Nếu khi chư Phật sanh khởi không nên cho đó là giác, là mê, là thiện, là ác, không được chấp trước chướng ngại nó, đoạn dứt nó. Như một niệm bỗng khởi,ngàn lớp cửa khóa khóa chẳng được, muôn sợi dây cột cột chẳng được. Nếu đã như thế sao lại còn muốn diệt nó, ngưng nó. Kinh nói rõ ràng : Cái thức huyễn hóa của ngươi, ngươi làm sao tính muốn đọan dứt nó, dụ như dương diệm (1),ngươi nói gần thì mười phương thế giới tìm chẳng được, ngươi nói xa thì lúc xem lại ngay trước mắt, ngươi muốn đuổi theo, nó lại rời xa, ngươi muốn tránh nó thì nó trở lại đuổi theo ngươi. Lấy chẳng được, bỏ cũng chẳng được. Nếu pháp đã như thế thì nên biết tất cả pháp tánh tự nó vốn như vậy thì chẳng cần lo âu cho nó. Cũng như nói tiền niệm là phàm hậu niệm là thánh, như bàn tay trở qua lật lại ấy còn là giáo lý cao tột của tam thừa. Nếu theo thiền tông ta thì tiền niệm cũng chẳng phải phàm, hậu niệm cũng chẳng phải thánh, tiền niệm chẳng phải Phật, hậu niệm chẳng phải chúng sanh. Cho nên nói : tất cả sắc là sắc Phật, tất cả thanh là thanh Phật. Hễ đề ra một lý thì tất cả lý đều vậy, thấy một sự là thấy tất cả sự, thấy một tâm là thấy tất cả tâm, thấy một đạo là thấy tất cả đạo. Tất cả nơi không nơi nào chẳng phải đạo. Thấy một trần như vầy thì mười phương thế giới núi sông đất đai đều vậy. Thấy một giọt nước tức là thấy tất cả nước trong mười phương thế giới.
(1)Ghi chú
Như phản ảnh của ánh sáng mặt trời rọi trên mặt đất, ở xa trông như có nước, đến gần thì không có gì cả, gọi là dương diệm.
Lại nữa, thấy tất cả pháp tức thấy tất cả tâm. Tất cả pháp vốn không, tâm thì chẳng không, chẳng không tức diệu hữu, hữu cũng chẳng hữu, chẳng hữu tức hữu, ấy là chân không diệu hữu. Nếu tất cả pháp đã như thế thì mười phương thế giới chẳng ra ngoài một tâm của ta, tất cả quốc độ cũng chẳng ra ngoài một niệm của ta. Nếu vậy thì còn nói gì trong với ngoài. Cũng như tánh mật là ngọt thì tất cả mật đều vậy, chẳng thể cho mật này ngọt mật kia đắng. Đâu có việc như thế! Cho nên nói :” Hư không chẳng trong ngoài, pháp tánh tự như vậy, hư không chẳng chính giữa, pháp tánh tự như vậy”. Vậy thì chúng sanh tức Phật, Phật tức chúng sanh, chúng sanh với Phật vốn đồng một thể. Sanh tử niết bàn,hữu vi vô vi vốn đồng một thể. Thế gian xuất thế gian cho đến lục đạo tứ sanh, sơn hà đại địa, hữu tánh vô tánh cũng đồng một thể. Dù nói là đồng nhưng danh tướng đều không, hữu cũng không, vô cũng không, hằng sa thế giới trọn là một không. Nếu pháp đã như thế thì nơi nào có Phật độ chúng sanh, nơi nào có chúng sanh được Phật độ. Tại sao vậy? Tại tánh của vạn pháp vốn tự như vậy. Nếu cho là tự nhiên thì đọa vào ngọai đạo tự nhiên, nếu cho là vô ngã và ngã sở thì đọa vào ngôi tam hiền thập thánh. Nay ngươi sao lại muốn đem thước kẻ để đo lường hư không.
Kinh nói rõ ràng : Pháp với pháp chẳng đến với nhau vì pháp tự tịch diệt. Ngay đó tự trụ, ngay đó tự chân. Vì thân không nên gọi pháp không, vì tâm không nên gọi tánh không, thân tâm đều không nên gọi pháp tánh không. Cho đến học thuyết ngàn lối khác biệt đều chẳng lìa bản tâm của ngươi. Nay nói những danh từ Bồ-Đề, Niết-Bàn, Chân Như, Phật Tánh, Nhị Thừa,Bồ Tát đều là đem lá cây vàng cho là vàng ròng để lừa gạt trẻ con, cũng như nắm tay không khi mở ra thì tất cả trời người đều thấy trong bàn tay chẳng có một vật. Nên Lục Tổ nói :”Bổn lai vô nhất vật, hà xứ nhạ trần ai”. Bổn lai đã vô vật thì tam tế (quá khứ, hiện tại, vị lai) vốn chẳng có, người học đạo nên thẳng tay đâm vào ngay đó ngộ ý này mới được.
Tổ Đạt Ma từ Ấn Độ đến trải qua bao nhiêu quốc độ chỉ tìm được một mình Huệ-Khả mật truyền tâm ấn. Nói ấn là ấn chứng bản tâm của ngươi, lấy tâm ấn pháp, lấy pháp ấn tâm, tâm đã như thế, pháp cũng như thế. Đồng thực tế, đẳng pháp tánh, trong pháp tánh đã là không thì ai là người thọ ký, ai là người thành Phật, ai là người đắc pháp. Kinh nói rõ ràng Bồ Đề chẳng thể dùng thân đắc, vì thân vốn vô tướng, chẳng thể dùng tâm đắc, vì tâm vốn vô tướng, chẳng thể dùng tánh đắc, vì tánh tức là bổn nguyên tự tánh thiên chân Phật, nên chẳng thể đem Phật để đắc thêm Phật, chẳng thể đem vô tướng để đắc thêm vô tướng, chẳng thể đem không để đắc thêm không, chẳng thể đem đạo để đắc thêm đạo. Vốn vô sở đắc, cái vô đắc cũng bất khả đắc, cho nên nói : Vô nhứt pháp khả đắc. Nếu có đắc tức là trên đầu lại mọc thêm đầu.
Nay chỉ bảo ngươi liễu đạt bản tâm, ngay khi liễu đạt rồi cũng chẳng thấy tướng liễu hay chẳng liễu. Cái pháp liễu này cũng bất khả đắc, kẻ đắc tức đắc, kẻ đắc chẳng tự biết, kẻ chẳng đắc cũng chẳng tự biết. Cái pháp như thế từ xưa đến nay đâu có mấy người được biết nên nói khắp thiên hạ kẻ quên mình đâu có mấy ai? Nay những người ở nơi một cơ một cảnh, một kinh một giáo, một thế một thời, một danh một tự, ở trước cửa lục căn mà lãnh hội được, những người ấy so với người múa rối đâu có khác.
  • Lược giải
Chư Tổ nói ” Y văn giải nghĩa tam thế Phật oan “. Vì lời nói của chư Phật, chư Tổ chỉ là phương tiện tạm thời, nghĩa là tùy bệnh cho thuốc, ý của Phật chẳng phải ở trong văn tự. Nếu cứ y theo lời văn, rồi đem ý mình (vọng tâm) mà tìm hiểu thì nghịch với ý Phật, tức là làm oan cho Phật.
Giả sử nếu có một ngừơi nào chẳng ở nơi một danh một tướng lập kiến giải thì ta nói khắp mười phương thế giới muốn tìm kẻ như người này trọn chẳng thể được, vì chaüng có người thứ hai để kế thừa ngôi Tổ. Cũng nói dòng Thích Ca thuần nhất vô tạp. Nói tóm lại tất cả tự tánh saün đủ chớ nên tìm cầu nữa, hễ tìm cầu thì liền mất cả thể dụng của chính mình, cũng như kẻ ngu ở trên núi kêu một tiếng, nghe tiếng vang ở dưới núi đáp lại liền chạy xuống núi đi tìm, tìm không được lại kêu một tiếng nữa, nghe tiếng vang trên núi đáp lại rồi lại chạy lên núi tìm. Cứ vậy lên lên xuống xuống tìm mãi trải qua muôn ngàn kiếp, chỉ là một người đuổi theo âm thanh, rốt cuộc thành một người lãng phí cuộc đời sanh tử của chính mình một cách oan uổng. Ngươi phải biết vô thanh tức vô tiếng vì niết bàn vốn vô thanh vô văn vô tri, tuyệt tông tuyệt tích, kẻ được như thế mới là ở sát cạnh bên Tổ Sư.
Ngài thượng đường rằng :
_Tức tâm là Phật, trên từ chư Phật, dưới đến sâu bọ hàm linh đều có Phật tánh, đồng một tâm thể, nên Tổ Đạt Ma từ Ấn Độ đến chỉ truyền một tâm pháp, chỉ thẳng tất cả chúng sanh vốn là Phật, chẳng nhờ tu hành, chỉ cần nhận lấy tự tâm, thấy tự bản tánh, chớ nên tìm cầu cái khác. Thế nào là nhận lấy tự tâm? Cũng như cái hiện đang nói năng chính là tâm ngươi, nếu chẳng nói năng lại chẳng tác dụng thì tâm thể giống như hư không, chẳng có tướng mạo cũng chẳng phương sở cũng chẳng phải tuyệt không có, vì có mà chẳng thể thấy, nên Tổ Sư nói :”Tâm địa tức chân tánh, chẳng đầu cũng chẳng đuôi, ứng duyên mà giáo hóa, phương tiện gọi là trí”. Nếu khi chẳng ứng duyên chẳng thể nói hay không, đang khi ứng duyên cũng chẳng dấu tích, đã biết như thế nay chỉ cần đi theo đường vô trụ của chư Phật. Kinh nói :”Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”.
Tất cả chúng sanh dùng ý căn phan duyên tạo tác, trôi lăn trong lục đạo, sanh tử luân hồi chẳng ngừng, uổng chịu đủ thứ khổ như Duy Ma Cật nói :”Người khó hóa độ tâm như con khỉ phải dùng bao nhiêu thứ pháp kềm chế tâm họ rồi mới điều phục được”. Nên nói tâm sanh thì mỗi mỗi pháp sanh, tâm diệt thì mỗi mỗi pháp diệt. Phải biết tất cả các pháp từ trời, người, a tu la cho đến dịa ngục, lục đạo đều do tâm tạo, nay chỉ cần học vô tâm, các duyên bỗng ngưng, chớ sanh vọng tưởng phân biệt, vô nhân vô ngã vô tham sân, vô yêu ghét, vô thắng bại. Chỉ cần trừ bỏ đủ thứ vọng tưởng, bản tánh vốn tự thanh tịnh, tức là tu hành đúng theo Phật pháp, Bồ Đề v.v… Nếu chẳng ngộ ý này dẫu cho ngươi siêng năng học rộng, khổ hạnh tu tập, ăn mặc cực khổ mà chẳng nhận thức tự tâm đều gọi là hạnh tà, đều thành thiên ma ngoại đạo, thủy lục chư thần. Tu hành như thế có ích lợi gì!
Bảo-Chí-Công nói :”Bản thể là tự tâm làm, đâu thể cầu nơi văn tự. Nay chỉ cần nhận thức tự tâm, ngưng nghỉ tư duy, vọng tưởng trần lao tự nhiên chẳng khởi”.
Duy Ma Cật nói :”Chỉ để một giường nằm bệnh dụ cho tâm chẳng khởi. Hôm nay nằm bệnh phan duyên đều dứt, vọng tưởng tiêu diệt tức là Bồ Đề “.
Nếu trong tâm lăng xăng tìm hiểu này nọ, dẫu cho ngươi học đến các bậc tam thừa, tứ quả, thập địa, chỉ là ham ngồi trên thánh phàm đối đãi. Chẳng biết chư hạnh đều quy vô thường, thế lực đều có ngày tàn, cũng như bắn tên trên hư không, sức hết thì phải rơi xuống trở lại, vẫn về nơi sanh tử luân hồi. Tu hành như thế là chẳng hiểu ý Phật, uổng chịu cay đắng, sai lầm biết bao Bảo Chí Công nói :”Chưa gặp minh sư ra đời oan uổng pháp thuốc đại thừa”.
Bất cứ lúc nào đi đứng nằm ngồi hãy học vô tâm, chẳng còn phân biệt, cũng chẳng nhờ cậy ai và dựa vào nơi nào, chẳng trụ chẳng chấp, suốt ngày thong thả tùy duyên, ngây ngây như người khờ ngốc. Người đời trọn chẳng biết được ngươi, ngươi cũng chẳng cần người ta biết hay không biết. Tâm như tảng đá chẳng có chút kẽ hở, tất cả pháp thấu tâm ngươi chẳng lọt, ngây thơ chẳng dính mắc chỗ nào, như thế mới có ít phần tương ưng, mới thấu qua được cõi tam giới, gọi là Phật ra đời. Tâm tướng vô lậu, gọi là vô lậu trí. Chẳng làm nghiệp trời người, chẳng làm nghiệp địa ngục, chẳng khởi tất cả tâm, các duyên đều chẳng sanh, ngay thân tâm này là người tự do, không phải luôn luôn chẳng sanh, chỉ là tùy ý mà sanh. Kinh nói :” Bồ Đề có Ý-Sanh-Thân” là nghĩa này vậy. Nếu chưa ngộ vô tâm, chấp theo tướng mà tạo tác đều thuộc về nghiệp ma, cho đến làm Phật sự nào cũng đều thành nghiệp, gọi là chướng Phật vì chướng ngại tâm ngươi, bị nhân quả quản thúc, đi ở chẳng có phần tự do. Nên nói :
_Các pháp Bồ Đề vốn chẳng phải có, Như Lai sở thuyết đều là lời của người huyễn hóa, cũng như lá cây vàng cho là vàng ròng để gạt trẻ con cho nín khóc,thực chẳng có pháp gọi là Vô-Thượng Bồ-Đề. Nay nếu đã ngộ ý này thì trong tâm rõ ràng là phải tẩy sạch kiến giải từ xưa nay, đâu cần bận việc lăng xăng, chỉ tùy duyên tiêu nghiệp cũ, chớ tạo thêm nghiệp mới. Kinh Pháp Hoa nói :” Trong hai mươi năm luôn luôn trừ phẩn ” là trừ bỏ những kiến giải trong tâm, cũng gọi là quét trừ phẩn của hý luận cho nên nói Như-Lai-Tạng vốn tự không tịch, chẳng còn để lại một pháp nào.
Kinh nói :”Quốc độ chư Phật cũng đều là không “, nếu nói Phật đạo do tu học mà đắc, hoặc ở nơi một cơ một cảnh nhướng mày nháy mắt, vấn đáp ăn khớp cho là khế hội, cho là chứng ngộ lý thiền, kiến giải như thế đối với Phật pháp trọn chẳng dính dáng.
Có kẻ ham làm thầy dạy người, gặp người không hiểu thì nói họ ngu không biết. Nếu họ hiểu đúng ý mình thì trong tâm liền sanh hoan hỉ. Nếu không bằng họ, bị họ hàng phục, cãi không lại họ, liền sanh tâm sân hận, ôm tâm ý như thế để học thiền dẫu cho ngươi ngộ được nhiều đạo lý, ấy chỉ là đắc cái pháp tâm sở, đối với thiền đạo trọn chẳng dính dáng. Cho nên Đạt Ma xoay mặt hướng vách không cho người có chỗ thấy (kiến giải), nên nói :”Quên cơ là Phật đạo, phân biệt là ma vương “. Tánh này dẫu cho ngươi khi mê cũng chẳng mất, khi ngộ cũng chẳng đắc, tự tánh thiện chân vốn chẳng mê ngộ. Hư không khắp mười phương cõi vốn là một tâm thể ta, dẫu cho ngươi vận dụng tạo tác đâu thể lìa khỏi hư không. Hư không vốn chẳng lớn nhỏ, vô lậu vô vi, vô mê vô ngộ, liễu liễu kiến, vô nhất vật, cũng vô chúng sanh vô chư Phật, cách tuyệt số lượng, chẳng có chỗ mảy may để y nhờ dính mắc.
Một dòng nước trong sạch ấy là vô sanh pháp nhẫn của tự tánh, đâu có chỗ để suy lường tính toán. Chân Phật chẳng miệng, không hiểu thuyết pháp, chân thính chẳng tai, ai mà nghe ư!
Lại nói, hễ vô tất cả tâm tức là vô lậu trí, ngươi mỗi ngày đi đứng ngồi nằm, tất cả ngôn ngữ chớ nên dính mắc pháp hữu vi thì nói nín, nháy mắt đều đồng như vô lậu. Nay thời mạt pháp kẻ học thiền đạo phần nhiều đều bị dính mắc tất cả thanh sắc. Tại sao không để cho ta tâm tâm đồng như hư không, như cây khô tảng đá, như tro lạnh lửa tắt, mới có ít phần tương ưng. Nếu chẳng như thế thì ngày sau đều sẽ bị Diêm La Vương tra khảo. Ngươi hãy lìa bỏ các pháp hữu và vô, tâm như mặt trời thường ở tại hư không, ánh sáng tự nhiên chẳng chiếu mà chiếu, ấy là việc ít phí sức biết bao. Khi đó thì chẳng có chỗ để trụ tức là hành cái hạnh của chư Phật, cũng là “ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”. Đây là pháp thân thanh tịnh của ngươi, gọi là vô thượng Bồ Đề. Nếu chẳng ngộ ý này, dẫu cho ngươi học được ngiều tri giải, siêng năng cực khổ tu hành mà chẳng tin tự tâm thì đều gọi là hạnh tà.
Lại nói, nay ngươi bất cứ lúc nào chỉ học vô tâm, lâu ngày sẽ được chứng đắc. Vì sức ngươi còn nhỏ chẳng thể đốn ngộ, phải trải qua năm, mười năm khi cơ duyên đến mới được ngộ nhập.
Vì có tham sân si mới lập giới định huệ, nếu vốn chẳng phiền não thì đâu có Bồ Đề, nên Tổ Sư nói :”Phật thuyết tất cả pháp, vì độ tất cả tâm, ta chẳng tất cả tâm, đâu cần tất cả pháp”. Nơi bản nguyên thanh tịnh Phật chẳng dính mắc một vật. ví như hư không dù dùng vô lượng thất bảo để trang nghiêm đều chẳng thể trụ, Phật tánh đồng như hư không dù dùng vô lượng công đức trí huệ để trang nghiêm cũng chẳng thể trụ. Vì mê bản tánh nên chẳng tự thấy mà thôi. Nói pháp môn tâm địa, vạn pháp đều y tâm này kiến lập, gặp cảnh thì có, lìa cảnh thì không. Chẳng thể ở nơi tánh thanh tịnh sanh ra tri giải để làm cảnh. Những lời nói như định huệ, chiếu soi, công dụng, sáng tỏ, tịch tịch, tỉnh tỉnh, kiến văn giác tri v.v… đều là đem kiến giải làm cảnh, tạm vì người trung hạ căn thuyết thì được, đối với người muốn thân chứng thì chẳng nên có kiến giải như thế.
Nói hai chữ hoá thành nghĩa là từ nhị thừa cho đến thập địa, Đẳng-Giác, Diệu-Giác đều là giáo pháp tùy nghi để tiếp dẫn hậu học, đều thuộc về hóa thành. Nói hai chữ Bảo-Sở là bảo của chân tâm tự tánh bản Phật, bảo này chẳng thuộc tình lượng (tình thức số lượng), chẳng thể kiến lập, vô Phật vô chúng sanh, vô năng vô sở.
Hỏi :
_Đây đã là hóa thành nơi nào là Bảo-Sở?
Đáp :
_Bảo-Sở chẳng thể chỉ, chỉ được thì có phương sở, chẳng phải chân Bảo-Sở vậy. Nên chỉ có thể nói ở gần mà thôi, chẳng thể nói lời nhứt định, cần nên thể cứu, ngay đó tự khế ngộ mới được.
Nói xiển đề là kẻ lòng tin chẳng đầy đủ vậy. Tất cả chúng sanh trong lục đạo cho đến nhị thừa chẳng tin có quả Phật đều gọi là xiển đề đoạn dứt thiện căn; những Bồ-Tát tin chắc có Phật pháp, chẳng thấy có đại thừa tiểu thừa, Phật với chúng sanh đồng một pháp tánh, gọi là xiển đề thiện căn.
Người thường cho là cảnh chướng ngại tâm, sự chướng ngại lý, cứ muốn tránh cảnh để an tâm, bỏ sự để lập lý, chẳng biết thực ra là tâm chướng ngại cảnh, lý chướng ngại sự. Hễ khiến tâm không thì cảnh tự không, hễ cho lý tịch thì sự tự tịch, chớ nên dụng tâm điên đảo vậy. Nhiều người thường chẳng chịu cho tâm không vì e sợ đọa nơi rỗng không, chẳng biết tự tâm vốn không *.Kẻ ngu trừ sự chẳng trừ tâm, người trí trừ tâm chẳng trừ sự.
  • Ghi chú
Tâm không : Tâm không là bản thể của Tâm, chẳng thể thêm bớt. Nếu nói “Tri” thì là thêm, nói “Vô Tri” thì là bớt, vì Tri và Vô Tri là có năng sở đối đãi, thuộc về pháp sanh diệt, chẳng phải Tự Tánh vốn tịch diệt.
Tâm của Bồ Tát như hư không, tất cả đều xả, làm nhiều phước đức đều chẳng tham nhiễm. Nhưng xả có ba bậc; thân tâm trong ngoài tất cả đều xả cũng như hư không không có lấy bỏ, rồi tùy nghi ứng vật, năng sở đều quên, ấy là đại xả; nếu một bên vừa hành đạo bố đức một bên vừa xả, chẳng có tâm hy vọng gì, ấy là trung xả; nếu rộng tu phước thiện, có sở hy vọng, nghe pháp biết vạn vật tánh không mới chẳng chấp trước, ấy là tiểu xả. Đại xả như đèn đuốc ở trước chẳng còn mê ngộ, trung xả như đèn đuốc ở một bên hoặc sáng hoặc tối, tiểu xả như đèn đuốc ở phía sau chẳng thấy hầm hố. Tâm Bồ Tát như hư không là tất cả đều xả. Tâm quá khứ bất khả đắc thì quá khứ xả, tâm hiện tại bất khả đắc thì hiện tại xả, tâm vị lai bất khả đắc thì vị lai xả, nên nói tam thế đều xả.
Từ hồi Như Lai phó pháp cho Ca Diếp, lấy tâm ấn tâm, tâm tâm chẳng khác. Nếu ấn nơi không thì ấn chẳng thành văn, nếu ấn nơi vật thì ấn chẳng thành pháp, nên dùng tâm ấn tâm, tâm tâm chẳng khác. Năng ấn sở ấn đều khó khế hội nên kẻ đắc rất ít. Nhưng tâm tức là vô tâm, đắc tức là vô đắc.
Phật có tam thân : Pháp thân nói về pháp hư thông (trống rỗng thông đạt) của tự tánh, Báo thân nói về tất cả pháp thanh tịnh, Hóa thân nói về pháp lục độ vạn hạnh. Pháp thân thuyết pháp chẳng thể dùng ngôn ngữ âm thanh văn tự hình tướng để cầu, vô sở thuyết vô sở chứng, tự tánh hư thông mà thôi, nên nói :”Vô pháp khả thuyết gọi là thuyết pháp”. Báo thân, Hóa thân đều tùy cơ cảm ứng mà hiện, pháp sở thuyết cũng tùy theo căn cơ để giáo hóa chúng sanh, đều chẳng phải chân pháp nên nói :”Báo, Hóa chẳng phải chân Phật, cũng chẳng phải kẻ thuyết pháp”.
Hỏi :
_Bổn lai vô nhất vật, vậy vô vật là đúng chăng?
Đáp :
_Vô cũng chẳng đúng. Bồ Đề chẳng có chỗ đúng cũng chẳng phải vô tri giải.
Hỏi :
_Như hư không trước mắt đây là cảnh chăng? Há chẳng phải đối cảnh thấy tâm ư?
Đáp :
_Tâm nào cho ngươi hướng trên cảnh để thấy? Dẫu ngươi thấy được chỉ là cái tâm soi cảnh, như người lấy gương soi mặt, dẫu cho được thấy mặt mày rõ ràng chẳng qua chỉ là bóng tượng, đâu có dính dáng với ngươi.
Hỏi :
_Nếu chẳng nhờ nhân mà chiếu soi thì lúc nào mới được thấy?
Đáp :
_Nếu nói nhờ nhân thì phải nhờ vật, vậy đến lúc nào mới hết? Ngươi há chẳng nghe Cổ Đức nói :”Đưa tay trình ông chẳng một vật. Đâu cần lao nhọc thuyết ngàn lối” hay sao?
Hỏi :
_Nếu biết rồi thì chiếu soi cũng vô vật chăng?
Đáp :
_Nếu là vô vật thì đâu cần chiếu soi. Ngươi chớ nên mở mắt mà nói sàm. Nếu sanh kiến giải cho là Phật thì bị Phật chướng, cho là chúng sanh thì bị chúng sanh chướng, cho là phàm là thánh, là tịnh là uế, đều thành chướng cả. Vì chướng tâm ngươi nên thành luân chuyển.
Mười phương chư Phật thật ra chẳng có một chút pháp để đắc, gọi là Vô-Thượng Bồ-Đề. Ấy chỉ là một tâm, thật chẳng tướng khác. Chẳng có thắng bại đối đãi, chẳng thắng nên chẳng có tướng Phật, chẳng bại nên chẳng có tướng chúng sanh.
Hỏi :
_Tâm đã vô tướng há chẳng có ba mươi hai tướng tốt và tám mươi vẻ đẹp để độ chúng sanh ư?
Đáp :
_Ba mươi hai tướng thuộc về tướng, “Phàm có tướng đều là hư vọng”. Tám mươi vẻ đẹp thuộc về sắc,”nếu dùng sắc thấy ta, người ấy hành đạo tà, chẳng thể thấy Như Lai”.
Hỏi :
_Vô biên thân Bồ-Tát tại sao chẳng thấy đảnh tướng của Như Lai?
Đáp :
_Thực chẳng có gì để thấy. Tại sao? Vì vô biên thân Bồ Tát tức là Như Lai. Chỉ bảo ngươi chẳng cho là Phật kiến thì chẳng lọt vào Phật biên, chẳng cho là chúng sanh kiến thì chẳng lọt vào chúng sanh biên, chẳng cho là hữu kiến thì chẳng lọt vào hữu biên, chẳng cho là vô kiến thì chẳng lọt vào vô biên, chẳng cho là phàm kiến thì chẳng lọt vào phàm biên, chẳng cho là thánh kiến thì chẳng lọt vào thánh biên. Hễ dứt sạch tất cả tri kiến tức là vô biên thân vậy. Nếu có chỗ kiến tức là ngoại đạo vì ngoại đạo ham thích tri kiến. Bồ Tát ở nơi tri kiến mà chẳng động.
Như Lai tức là các pháp như nghĩa, cho nên nói Di Lặc cũng là Như, thánh hiền cũng là như, như tức vô sanh, như tức vô diệt, như tức vô kiến, như tức vô văn. Đảnh tướng của Như Lai tức là viên kiến, cũng chẳng thật có viên kiến nên chẳng lọt viên biên, nên nói “thân Phật vô vi, chẳng đọa số lượng”, tạm dùng hư không để thí dụ :”Viên (tròn) đồng thái hư chẳng thiếu chẳng dư”. Hàng ngày vô sự, đối cảnh chớ nên phân biệt. Phân biệt liền lọt vào ý thức, trôi lăn trên biển ý thức thì chẳng thể chứng ngộ.
Người học đạo chớ chấp tứ đại làm thân, tứ đại vô ngã, ngã cũng vô chủ, phải biết thân này vô ngã cũng vô chủ. Người học đạo chớ chấp ngũ uẩn làm tâm. Ngủ uẩn vô ngã cũng vô chủ. Phải biết tâm này vô ngã cũng vô chủ. Lục căn, lục trần, lục thức hòa hợp sanh diệt nghĩa cũng như thế. Vậy thập bát giới đã không thì tất cả đều không, chỉ có bản tâm trong sạch khắp nơi.
Người học Bát Nhã chẳng thấy có một pháp để đắc. Chân thật duy nhất của tam thừa chẳng thể chứng đắc. Nếu nói ta năng chứng năng đắc đều là kẻ tăng thượng mạn. TRên hội Pháp Hoa quay đầu bỏ đi đều là bọn này vậy. Nên Phật nói :”Ta ở nơi Bồ Đề thực vô sở đắc, mặc khế mà thôi”.
Con người khi lâm chung hễ quán được ngũ uẩn giai không, tứ đại vô ngã, chân tâm vô thường, bất khứ bất lai, khi sanh tánh cũng chẳng đến, khi chết tánh cũng chẳng đi, trạm nhiên viên tịch,tâm cảnh nhất như, hễ được như thế ngay đó đốn ngộ, thì chẳng bị tam thế trói buộc, tức là người xuất thế gian vậy. Cần thiết là chớ nên có một hào ly xu hướng cũng như thấy tướng thiện, chư Phật đến rước và nhiều cảnh đẹp hiện tiền, cũng chẳng có ý đi theo, hoặc thấy những tướng hung ác cũng chẳng sanh tâm khiếp sợ. Hễ tự quên tâm, đồng nơi pháp giới, thì được tự tại, đây tức là tâm yếu.
Chỉ cần ngay đó đốn ngộ tự tâm vốn là Phật, chẳng có một pháp để đắc, chẳng có một hạnh để tu, ấy là Vô-Thượng-Đạo.
Hỏi : Kinh Lăng Nghiêm nói :
Tiêu điên đảo tưởng từ vô thủy. 
Chẳng nhọc nhiều kiếp được pháp thân
là thế nào?
Đáp :
_Nếu muốn trong ba vô số kiếp tu hành cầu chứng đắc thì dù trải qua hằng sa kiếp cũng chẳng đắc được. Nếu nói trong một sát na kiến tánh chứng đắc pháp thân cũng chỉ là lời nói cao tột của tam thừa. Tại sao vậy? Vì thấy có pháp thân để chứng đắc đều thuộc về pháp bất liễu nghĩa. Thiền Tông này truyền thừa từ xưa đến nay chưa từng bảo người cầu tri cầu giải. Nói hai chữ học đạo chỉ là lời phương tiện tiếp dẫn, thực ra đạo cũng chẳng thể học. Nếu còn ôm cái kiến giải học đạo lại thành mê đạo. Đạo chẳng phương sở gọi là tâm đại thừa. Tâm này chẳng ở trong, ngoài và chính giữa vì thực chẳng phương sở, nên chẳng thể chấp thành tri giải. Tri giải là chỗ tình lượng của ngươi. Nếu tình lượng đã sạch, tâm chẳng phương sở thì đạo này thiên chân vốn chẳng danh tự.
Hỏi :
_Cổ Đức nói :”Tức tâm là Phật”, chưa rõ tâm nào là Phật?
Đáp :
_Ông có mấy cái tâm?
Hỏi :
_Tâm phàm là Phật hay tâm thánh là Phật?
Đáp :
_Ông thấy chỗ nào có tâm phàm thánh ư!
Hỏi :
_Trong tam thừa nói có phàm thánh, tại sao Hòa Thượng lại nói không?
Đáp :
_Trong tam thừa nói rõ ràng tâm phàm thánh là vọng, nay ông chẳng hiểu lại chấp thành có, chấp vọng là thật, há chẳng phải vọng ư! Vì vọng nên mê tâm. Ông hễ trừ bỏ thánh cảnh phàm tình thì ngoài tâm đâu còn Phật nào khác. Tổ Sư từ Ấn Độ đến chỉ thẳng tất cả mọi người đều là Phật. Nay ông chẳng biết, chấp phàm chấp thánh, đuổi theo cảnh bên ngoài, lại mê tự tâm, nên Tổ Sư nói với ông “tức tâm là Phật”.
Sanh một niệm chấp thật liền đọa luân hồi. Pháp từ vô thủy chẳng khác hôm nay, vì chẳng có pháp khác biệt, nên gọi thành Đẳng Chánh Giác.
Hỏi :
_Lời nói của Hòa Thượng là nghĩa lý gì?
Đáp :
_Còn tìm nghĩa lý gì! Hễ có nghĩa lý liền thành khác biệt.
Hỏi :
_Nãy nói pháp từ vô thủy chẳng khác ngày nay, lý này thế nào?
Đáp :
_Vì muốn tìm nghĩa lý mới thành khác biệt. Ông nếu chẳng tìm thì chỗ nào có khác.
Hỏi :
_Đã là chẳng khác, sao còn nói “Tức tâm là Phật”.
Đáp :
_Nếu ông chẳng chấp phàm thánh còn ai nói “tức” tâm. Tức nếu chẳng tức, tâm cũng chẳng tâm. Nếu tâm với tức cùng quên thì ông còn muốn tìm ở nơi nào.
Hỏi :
_Vọng hay chướng tự tâm, nay chưa rõ dùng cách nào để trừ vọng?
Đáp :
_Khởi tâm trừ vọng cũng thành vọng. Vọng vốn chẳng gốc, chỉ vì phân biệt mới có. Ông hễ ở nơi hai chỗ phàm thánh tình chấp tẩy sạch tự nhiên chẳng vọng. Vậy còn muốn trừ nó để làm gì?
Nói tóm lại chẳng có chút gì để dựa, để chấp, gọi là ta xả bỏ hai tay (pháp tương đối), ắt sẽ đắc Phật.
Hỏi :
_Đã chẳng có chỗ dựa, chỗ chấp, thì Tổ Tổ làm sao truyền thừa nhau?
Đáp :
_Dùng tâm truyền tâm.
Hỏi :
_Nếu có tâm truyền nhau sao lại nói tâm cũng không?
Đáp :
_Chẳng đắc một pháp gọi là truyền tâm. Nếu liễu ngộ tâm này tức là vô tâm vô pháp.
Hỏi :
_Nếu vô tâm vô pháp sao gọi là truyền?
Đáp :
_Ông nghe nói truyền tâm tưởng là có pháp để đắc sao!
Tổ Sư nói :
Khi nhận được tâm tánh 
Nên nói bất tư nghì 
Liễu liễu vô sở đắc 
Khi đắc chẳng nói “tri”.
Việc này làm sao bảo cho ông hiểu được!
Hỏi :
_Phật độ chúng sanh chăng?
Đáp :
_Thực chẳng chúng sanh cho Như Lai độ. Ngã còn bất khả đắc, phi ngã làm sao đắc. Phật với chúng sanh đều bất khả đắc.
Hỏi :
_Hiện có ba mươi hai tướng tốt và độ chúng sanh sao lại nói không?
Đáp :
_Phàm có tướng đều là hư vọng. Nếu thấy chư tướng phi tướng tức thấy Như Lai.
Hỏi :
_Hòa Thượng hiện đang thuyết pháp đâu thể nói vô tăng cũng vô pháp?
Đáp :
_Ông nếu thấy có pháp để thuyết tức là ” dùng âm thanh cầu ta”. Nếu thấy có ta tức là có xứ sở. Thật thì pháp vốn vô pháp, pháp tức là tâm, nên Tổ Sư nói :
Phó chúc tâm pháp này, 
Pháp pháp đâu là pháp. 
Vô pháp vô bản tâm, 
Mới rõ tâm tâm pháp.
Thật chẳng một pháp để đắc gọi là tọa đạo tràng. Nói đạo tràng chỉ là chẳng sanh khởi kiến chấp. Ngộ pháp vốn không gọi là Không-Như-Lai-Tạng.
Xưa nay chẳng một vật 
Nơi nào có bụi trần 
Nếu thấu rõ ý này 
Tự tại chẳng gì bằng.
Hỏi :
_Chư Phật đại từ bi vì chúng sanh thuyết pháp là thế nào?
Đáp :
_Nói Phật đại từ bi là : chẳng thấy có Phật để thành, gọi là Vô-Duyên-Từ, chẳng thấy có chúng sanh để độ, gọi là Đồng-Thể-Bi. Pháp của Phật thuyết vô thuyết vô thị (khai thị), kẻ nghe thuyết pháp vô văn vô đắc. Ví như người huyễn thuyết pháp cho người huyễn, vậy thì có pháp gì để thuyết, ai thuyết, ai nghe?
Ta nghe thiện tri thức khai thị, ngay đó ngộ được tâm từ bi này. Nếu ông khởi tâm động niệm muốn học kiến giải ấy là chẳng ngộ tự tâm, rốt cuộc vô ích.
Hỏi :
_Thế nào là ra khỏi tam giới?
Đáp :
_Thiện ác đều chẳng suy lường, ngay đó liền ra khỏi tam giới. Như Lai ra đời vì phá tam giới. Nếu chẳng tất cả tâm, tam giới cũng chẳng có. Ví như một vi trần đập phá thành trăm phần, chín mươi chín phần là không, một phần là có, thế thì đại thừa cũng chưa thể siêu thoát. Cả trăm phần đều không, đại thừa mới có thể siêu thoát.
Tổ Sư trực chỉ bản tâm bản thể của tất cả chúng sanh vốn là Phật, chẳng nhờ tu thành, chẳng thuộc thứ lớp, chẳng phải minh ám. Vì chẳng phải minh nên nói vô minh, vì chẳng phải ám nên nói vô ám, cho nên kinh nói “Vô vô minh diệt vô vô minh tận” là vậy. Người vào cửa thiền tông ta cần nên để ý. Thấy được như thế gọi là thấy pháp. Vì thấy pháp nên gọi là Phật. Phật với pháp đều không, nên gọi là Tăng, cũng gọi Vô-Vi-Tăng, cũng gọi Nhất-Thể Tam-Bảo.
Kẻ cầu pháp chẳng chấp cầu Phật, chẳng chấp cầu pháp, chẳng chấp cầu Tăng, ưng vô sở cầu. Vì chẳng chấp cầu Phật nên vô Phật, chẳng chấp cầu Pháp nên vô Pháp, chẳng chấp cầu Tăng nên vô Tăng.
Hỏi :
_Thế nào là đạo, thế nào là tu hành?
Đáp :
_Đạo là vật gì mà ông muốn tu hành!
Hỏi :
_Những tông sư ở các nơi kế tiếp nhau dạy tham thiền học đạo là thế nào?
Đáp :
_Ấy là lời tiếp dẫn người hạ căn, không thể lấy làm căn cứ.
Hỏi :
_Đây là lời tiếp dẫn người hạ căn. Vậy chưa rõ tiếp người thượng căn là thuyết pháp nào?
Đáp :
_Nếu là người thượng căn thì đâu còn muốn tìm của người khác. Họ tự mình còn bất khả đắc huống là còn có pháp nào để dính mắc họ.
Hỏi :
_Nếu như thế thì chẳng cần tìm cầu?
Đáp :
_Nếu được vậy thì khỏi phí sức.
Hỏi :
_Như thế tức là trọn thành đoạn tuyệt, tất cả đều “vô” ư?
Đáp :
_Ai bảo nó “vô”.Nó là ai mà ông muốn tìm nó?
Hỏi :
_Đã không cho tìm tại sao còn nói chớ đoạn dứt nó?
Đáp :
_Nếu chẳng tìm thì xong rồi, còn ai bảo ông đoạn dứt. Ông thấy hư không trước mắt làm sao đọan dứt được.
Hỏi :
_Pháp này có thể đồng như hư không chăng?
Đáp :
_Hư không lúc nào nói với ông có đồng có khác!? Ta tạm nói như thế, ông liền hướng vào đây sanh kiến giải.
Hỏi :
_Vậy không nên cho người sanh kiến giải ư?
Đáp :
_Ta đâu từng chướng ngại ông. Ông phải biết kiến giải thuộc về tình thức, tình sanh thì trí bị ngăn cách.
Hỏi :
_Hướng vào đây chớ sanh tình phải chăng?
Đáp :
_Nếu chẳng sanh tình còn ai nói phải?
Hỏi :
_Lục Tổ không biết đọc kinh sách sao lại được truyền y làm Tổ. Thần Tú là thủ tọa, làm giáo thọ sư cho cả chúng, giảng được tất cả kinh luận, sao lại chẳng được truyền y?
Đáp :
_Vì Thần Tú có tâm chấp thật, đó là pháp hữu vi, cho là thật có sở tu sở chứng. Còn Lục Tổ chỉ là mặc khế, mặc thọ ý thâm sâu của Như Lai, cho nên được Ngũ Tổ phó pháp.
Ông phải biết bài kệ truyền pháp của Phật rằng :
Bản pháp vốn vô pháp 
Vô pháp cũng là pháp 
Nay phó chúc vô pháp 
Pháp pháp đâu là pháp.
Nếu ngộ ý này mới gọi là kẻ xuất gia, mới là kẻ tu hành. Ông nếu chẳng tin hãy xem việc Thượng Tọa Minh đuổi theo Lục Tổ để đoạt y bát. Lục Tổ hỏi :” Ngươi vì y đến hay vì pháp đến?” Minh nói :”Chẳng vì y đến, chỉ vì pháp đến”. Lục Tổ nói : Ngươi tạm nhiếp niệm, thiện ác đều chớ suy nghĩ. Minh vâng lời. Lục Tổ hỏi liền : Chẳng nghĩ thiện chẳng nghĩ ác, ngay khi ấy thế nào là bổn lai diện mục của Thượng Tọa Minh? Minh ngay đó hoát nhiên mặc khế, liền lễ bái rằng : Minh ở trong thiền hội Ngũ Tổ oan uổng dụng công ba mươi năm, hôm nay mới biết trước kia là sai. Lục Tổ nói : Đúng thế! Khi ấy Minh mới biết “Tổ Sư trực chỉ nhân tâm kiến tánh thành Phật”, chẳng ở nơi ngôn thuyết. Cũng như A-Nan ba mươi năm làm thị giả của Phật, chỉ vì trí huệ đa văn, lại bị Phật quở rằng :”Ngươi ngàn ngày học huệ chẳng bằng một ngày tu đạo. Nếu chẳng tu đạo, giọt nước cũng khó tiêu”.
Hỏi :
_Bậc thánh vô tâm tức là Phật, phàm phu vô tâm lại chìm nơi không tịch chăng?
Đáp :
_Pháp chẳng thánh phàm, cũng chẳng không tịch. Pháp vốn chẳng hữu chớ cho là vô, pháp vốn chẳng vô chớ cho là hữu, vì hữu với vô đều là tình chấp, cũng như huyễn hóa, nên kinh nói :”Kiến văn như huyễn hóa, tri giác là chúng sanh”. Trong cửa Tổ Sư chỉ cần ngưng cơ xảo, quên kiến giải, nên nói :”Phân biệt thì Ma Vương thịnh, quên cơ thì Phật đạo thành”.
Hỏi :
_Tâm đã vốn là Phật còn tu lục độ vạn hạnh chăng?
Đáp :
_Ngộ ở nơi tâm, chẳng dính dáng với lục độ vạn hạnh. Lục độ vạn hạnh thuộc bên việc giáo hóa độ sinh. Những danh từ như Bồ Đề, Chân Như, Thực Tướng, Giải Thoát, Pháp Thân, cho đến Thập Địa, Tứ Quả, Thánh Vị… đều thuộc về phần hóa độ, chẳng phải tâm Phật. Tâm tức là Phật nên trong tất cả các môn hóa độ thì Phật là bậc nhất. Nếu chẳng có những việc sanh tử, phiền nảo … thì chẳng cần những pháp Bồ Đề, Giải Thoát.
Hỏi :
_Nếu vô tâm hành đạo này được chăng?
Đáp :
_Vô tâm là đã hành đạo này rồi, còn nói chi được hay không được! Lại bỗng khởi nhất niệm liền thành cảnh, nếu vô nhất niệm tức là :
Cảnh mất tâm tự diệt 
Còn gì để truy tìm.
Hỏi :
_Thế nào thì được chẳng lọt giai cấp?
Đáp :
_Suốt ngày ăn cơm chưa cắn một hạt gạo, suốt ngày đi đường chưa đạp một tấc đất, suốt ngày chẳng lìa tất cả việc mà chẳng bị các cảnh mê hoặc, lại thời thời niệm niệm chẳng chấp tất cả tướng, chẳng chấp không gian thời gian, quá khứ chẳng đi, hiện tại chẳng trụ, vị lai chẳng đến, như như bất động an nhiên tự tại, đang khi ấy vô các tướng nhân ngã, như thế mới gọi là người tự tại giải thoát. Nỗ lực! Nỗ lực! Trong cửa này muôm ngàn ngươì chỉ được năm ba người. Nếu không nỗ lực công phu thì có ngày phải chịu tai họa, nên nói :
Nỗ lực liễu ngộ ngay kiếp này 
Khỏi chịu tai ương nhiêù kiếp sau.
Hỏi :
_Vốn đã là Phật sao lại còn có tứ sinh lục đạo mỗi mỗi hình dạng chẳng đồng?
Đáp :
_Chư Phật bản thể viên tròn, chẳng thể tăng giảm, chảy vào lục đạo mỗi mỗi đều tròn, ở trong muôn loài mọi mọi là Phật. Ví như một cục thủy ngân phân tán nhiều nơi mỗi mỗi đều tròn, nếu chẳng phân tán chỉ là một cục. Một này là tất cả, tất cả là một. Mỗi mỗi hình dạng dụ như nhà cửa, bỏ nhà thú vào nhà người, bỏ thân người sang thân trời, cho đến những nhà cửa Thanh-Văn, Duyên-Giác, Bồ-Tát với Phật, đều tại ông có lấy có bỏ nên mới có khác, bản nguyên tự tánh đâu thể có khác.
Niên hiệu Đại Trung, triều Đường, 
Ngài viên tịch nơi bổn sơn (núi Hoàng Bá), 
được vua sắc phong là Đoạn Tế Thiền Sư
Hết
VÀI HÀNG GIỚI THIỆU TÁC GIẢ
Hòang Bá Thiền Sư pháp danh Hy-Vận, người tỉnh Phúc Kiến. Thủa nhỏ xuất gia tại núi Hoàng Bá, thuộc Hồng Châu. Ngài là đệ tử nối pháp của Tổ Bá Trượng, và là thầy truyền pháp của Tổ Lâm Tế. Ngài từng được Tổ Bá Trượng khen ngợi là một đệ tử xuất sắc, đại cơ đại dụng hơn cả thầy.
Ngữ lục của ngài đã được một vị sư người Anh dịch ra tiếng Anh và xuất bản năm 1975.
Sau khi viên tịch, ngài được vua Đường Tuyên Tông sắc phong hiệu là Đoạn Tế Thiền Sư. Chính vị vua này thủa nhỏ đi tu, làm sa di, đã từng bị ngài bạt tai để phá cái tâm chấp “Không cần lễ Phật “. Cũng như đệ tử Ngài là Tổ Lâm Tế thì lại phá cái tâm thấp “nhất định phải lễ Phật” của một vị viện chủ, vì Phật Pháp là pháp Bất Nhị, không được chấp vào một bên là còn ở trong vòng tương đối, biên kiến.
Lời dậy bảo của Ngài rất có giá trị đối với người tham thiền.