Lưu trữ hàng tháng: Tháng Tư 2015

thanhvienvinhdu1

Hàng Phục Tâm ( Đối thoại bên Diễn đàn Phatphaponline )

Ban Đại Biểu nhiệm kỳ III (2015-2016)

Hàng phục tâm

Chào các bạn.Chúng ta mỗi giây phút phải đối diện vô số niệm hay nhà Phật gọi là vọng tâm
hay vọng niệm.Chúng ta tu Phật phải hàng phục nó gọi là hàng phục tâm.Nếu có một niệm khởi lên mà chúng ta lại duyên theo nó thì niệm niệm sinh khởi,vọng tâm lưu chuyển.Nếu không duyên theo nó thì niệm diệt và tâm lặng lẽ,bạn đã độ 1 niệm chúng sanh vào vô dư y niết bàn.Nhưng muốn làm được như vậy,bạn đối với mọi người ,quan sát hành động của họ,ta không có ý ta giỏi còn người dỡ,ta đúng còn người sai,ta tu đúng còn người tu sai,…hay nói khác đi tứ tướng lặng bặt đi.Tóm lại để hàng phục tâm trên con đường minh tâm kiến tánh bạn nhất định
phải hàng phục tâm chúng sanh của mình.Đối với mọi người phải quan sát niệm gì khởi lên khi ta
tiếp xúc.Nơi chỗ yên tỉnh niệm gì phát sinh và ta có duyên theo nó không?Chúc mọi người công phu tinh tấn,xứng đáng là người đệ tử Phật chân chính.Vài lời thô thiển xin mọi người góp ý thêm.Thân.

TRỪNG
HẢI:

Chào đạo hữu kingvua, đông tây lưỡng dụng-cổ kim một nhà, vì king là vua mà vua cũng là king, hề hề.

Lâu nay vốn thấy đạo hữu vào diễn đàn mà ít khi “lộ diện”, đến khi lộ diện thì mới thấy đạo hữu là mo-đờ-rêy-tơ-moderator tức điều hành viên mà sao chỉ có…ba sao, hề hề (thua trừng hải này nhiều…những bốn huy chương, hề hề). Vài lời gọi là vui để làm quen. Kính.

Khi đạo hữu đặt vấn đề “hàng phục tâm” tức là đã sa vào chỗ nhị nguyên đối đãi nơi có-không tức thiện ác có hai vì, có “tâm” cần hàng phục, (khi hàng phục rồi thì tâm yên tức “tâm” quy thuận) và “tâm” như “ý bản thân muốn”. Như vậy thì lời chúng ta (có trừng hải trong đó à nha!), những kẻ hậu sinh đã thua kém người xưa rất nhiều khi nói đến “tu tâm”; dụ như tranh chăn trâu (Thập Mục Ngưu đồ) cổ nhân đưa ra hai, người và trâu, nhưng chỉ là một vì trâu vốn là của ta (cũng y chỉ nickname của đạo hữu rất “ý vị”), là muốn nói đến cái “tâm” phan duyên một cách minh bạch rỏ ràng còn cái “tâm” là “ta”thì vốn là “ảo” nên “hãy như nhiên”, mà bởi nó như nhiên tức không thì có cái chi chi mà sanh từ nó nữa nên, thay vì theo dõi niệm sanh (mà đã sanh rồi thì làm sao mà “hàng phục”) nên “cảnh giác” cái “tâm là ta”. Mà việc cảnh giác này tùy theo sự hướng dẫn của bổn sư mà đạo hữu Quy Y, Thọ Giới nên có chỗ khác nhau giữa Trừng Hải với đạo hữu và mọi người.

Vài lời trao đổi vốn chỉ để làm quen, chớ không có ý gì, hề hề.

Kính, hề hề

Tuấn Tú :

Dựa theo chú giải của bác Trừng hải về nickname “kingvua” ==> King tức vua; vua tức king. Ta có thể nói: Phật tức tâm; tâm tức Phật.

kingvua 

Ban Đại Biểu nhiệm kỳ III (2015-2016)

Chào các bạn.
Tiền nhân có nói:
Chẳng trừ vọng tưởng
Chẳng cầu chân
Cốt ý chẳng khởi pháp để diệt vọng.Chẳng có pháp để đạt chân lý.
Thế bạn có ý khởi lên khi đối cảnh không?Nhất niệm,nhị niệm,tam niệm…hay vô số niệm.Nếu vô số niệm thì bạn phải
dùng phương tiện như:chỉ,quán.niệm,trì,tham,…dể định tâm lại.Nếu nhất niệm sinh rồi diệt mà bạn không duyên theo
thì lúc đó bạn có mượn pháp không?Vậy lúc nhất niệm không sinh thì cái gì hiện tiền?Đó là diệu tánh của chân tâm.
Bạn hãy quan sát đi,nơi đó bặt lý lẽ,bặt pháp môn.Thân.

TRỪNG HẢI: 

Gửi bởi dieuduc 

“Chào bác Tuấn Tú,Sở dĩ d/đ nói Phật và Tâm là danh từ tạm dùng không có thật nghĩa. Là vì Phật là danh từ dùng để phân biệt chúng sanh và Phật. Còn nơi thật tưởng thì tất cả đều như nhau cả – nên không có danh từ Phật. 

Còn Tâm thì cũng là danh từ để phân biệt tâm Phật và tâm chúng sanh. Tâm Phật thì thường trụ không có biến đổi. Còn tâm chúng sanh thì tuy thường hằng nhưng lại thay đổi liên tục. Và để giải thích vì sao từ chỗ cùng có chung Phật tánh mà lại xảy ra sự khác biệt như vậy – nên Phật mới phân biệt Phật tánh thành ba phần : tâm, trí và thế lực. 
Do vậy mà có danh từ Tâm. Còn nơi thật tướng thì chỉ có Tánh – Phật tánh – bao gồm cả tâm, trí và thế lực. Do đó, không có danh từ Tâm. Vì vậy, d/đ mới nói Phật và Tâm chỉ là danh từ tạm dùng – không có thật nghĩa.

Còn bác hiểu Phật và Tâm là chân lý – thì d/đ cũng có chỗ hiểu như Bác. Nhưng d/đ hiểu chân lý chỉ là con đường dẫn chúng ta đến nơi thật tướng. Nên chân lý chưa phải là thật tướng nơi – mà đức Phật Thích Ca và các đức Như Lai muốn chúng ta tìm đến. Vì d/đ hiểu chúng ta tu học Phật Pháp là để thoát khỏi cảnh huyễn hóa – ví như hoa đốm này ; để đến được nơi có tướng chân thật – gọi là thật tướng. 

d/đ hiểu như vậy, xin chia sẻ,
Thân kính”


Kính đạo hữu kingvua, cùng các đạo hữu.

Hề hề, xin phép đạo hữu cho Trừng Hải trao đổi với đạo hữu dieuduc cùng các đạo hữu khác về phép lý luận để khỏi sa vào chuyện tranh cải Tông phái chẳng đi đến đâu (bởi từ xưa đã có vô vàn luận thuyết tranh cải chỗ “Tông”, “Bổn”) mà còn sanh ra thị phi, hơn thua, được mất…dẫn đến sự căng thẳng trong Diễn Đàn Phật Pháp Online. Lượng thứ lượng thứ.

Xin góp ý với đạo hữu dieuduc:

_ Đây là box Thiền Tông nên đạo hữu kingvua, thanhvan, Tuấn Tú mới đề cập đến chữ Tâm, Tướng mà Vạn Pháp Quy Tâm có nghĩa Tâm là Đại mà cũng là Không nên chứa Vạn Pháp; bởi Thiền Tông là Thực Tướng Ly Ngôn nên hãy nói chỗ Thật Tướng Vô Tướng tức Tâm đi về đâu chớ có nói Phật, Pháp là không thật nghĩa.

_ Đạo hữu dieuduc, hề hề, nên về nghiên cứu thêm chữ Pháp trong Duy Thức Tông với Pháp là “Nhậm trì tự tánh. Quỷ sinh vật giải” để lý luận cho vững vàng, cho đến nơi viên mãn vẹn toàn Thuyết Thông, mà có được Tông Thông đắc cứu cánh Lưu Thông tức giảng nói, hề hề, không lìa Tự Tánh tức Phật Tánh mà cũng là Lý Thú (hay Tông Thú) của Đại Bát Niết Bàn Kinh mà Lục Tổ Huệ Năng từng thuyết giảng cho ni sư Vô Tận Tạng, Ấn Tông và Chí Triệt (vì đây là Box Thiền Tông)

_ Phàm khi thảo luận thì phải biết chỗ muốn hỏi của người đưa ra câu hỏi là Thể, Tướng hay Dụng…mà trả lời cho chính xác. Hay nói theo nghĩa hiện đại là hệ Quy Chiếu kẻo người hỏi thì hỏi cái này mà người trả lời thì nói cái kia tức “Lấy râu ông nọ cắm cằm bà kia”, hề hề.

Mong rằng đạo hữu dieuduc thông cảm mà không khởi ý mâu thuẩn (mà chỉ trích, mong lắm thay) vì Trừng Hải cũng chỉ muốn việc trao đổi trong Diễn Đàn Phật Pháp Online càng ngày càng hay tức vừa bác đại vừa tinh thâm.(Như câu nói của đạo hữu tt-chuyenphapluan “…Kính mong quý vị nối vòng tay nhỏ với nội kết hiểu sâu thương lớn và nụ cười rạng rỡ…” thật là tuyệt diệu, mà trừng hải được nghe trong chủ đề Vạn Lý Tầm Chân ngày 18/09) Kính

Đồng kính, hề hề01-

10-2013 03:03 AM

 Chào bạn Trừng Hải,

Chào các Bạn,
Đúng là trước khi tham gia chủ đề này d/đ không có để ý đây là box Thiền Tông. Nhưng d/đ nghĩ dầu là tu theo Tông Phái nào mà đi theo con đường của Phật Thích Ca thì giáo thuyết cũng đều giống nhau. Vả lại đây là diễn đàn Phật Pháp cho nên những người tham gia đều đi theo con đường của Phật Thích Ca. Nhưng nếu Bạn nói như vậy – thì d/đ sẽ chú ý. 

Còn việc Bạn kêu d/đ hãy về nghiên cứu thêm về chữ Pháp trong Duy Thức Tông – thì d/đ nghĩ không cần. Vì d/đ không có muốn phân luận hơn thua về chỗ hiểu với các Bạn. d/đ chỉ muốn chia sẻ những gì d/đ hiểu với các Bạn ; còn Bạn có tiếp nhận hay không điều đó không quan trọng đối với d/đ. Vì dầu Bạn không tiếp nhận không có nghĩa là tất cả mọi người đều không tiếp nhận. 

d/đ chỉ muốn chia sẻ chỗ hiểu của mình – chứ không có ý chỉ trích bất kỳ ai – dầu người đó là ác tri thức. Nhưng vì d/đ đem chia sẻ điều mình hiểu – nên phải có nhiệm vụ giải thích điều mình nói. 

Cho nên, d/đ chỉ tùy theo lời người chất vấn – mà trả lời. Nếu người chất vấn hỏi về điều d/đ chia sẻ thì d/đ giải thích. Còn nếu người chất vấn phản bác lập luận của d/đ thì d/đ cũng phải vì điều d/đ chia sẻ – mà chứng minh d/đ nói không sai. 

Đôi lời giải thích cùng Bạn,
Thân 

Quay lại: 

Chào các bạn!

Hàng phục tâm, có rất nhiều cách Đao gọi là phương tiện. Xin trình bày một cách, đó là “xã ly”.
Xã ly là gì? Xã ly là buông bỏ, là không giử lấy. Hàng phục tâm bằng cách xã ly là buông bỏ những gì không phải “Ta”, không phải “của Ta”. Từ cái xe, cái nhà, đồ dùng vật dụng… cho đến Ông bà, cha mẹ, anh em, chồng vợ, con cái, thân bằng quyến thuộc … cho đến mắt, tai, mủi, lưởi … thân và ý thức. Xả ly được như vậy mới hàng phục tâm bước đầu là trọn vẹn.
Cái xe, cái nhà, đồ dùng vật dụng là những vật ngoài thân, đó là vật thế gian theo luật vô thường rồi củng biến dị hoại diệt, đã là vô thường mà chấp chặc giử lấy thì sẻ khổ liền kề. “Đó” không phải là “Ta”, không thật sự “của ta”.
Ông bà, Cha mẹ, Anh em là quan hệ huyết thống một đời này kiếp này, nhưng còn bao nhiêu kiếp trước đời trước là gì của Ta? Chỉ là quan hệ nhân duyên quả báo, luân hồi nhiều kiếp, sanh tử, tử sanh 

TRỪNG HẢI: 

Chào đạo hữu kingvua, đạo hữu Quay lại.

Trước thì Trừng Hải xin hỏi đạo hữu kingvua:
_ Xin đạo hữu giải thích thêm chỗ “Nếu nhất niệm sinh rồi diệt mà bạn không duyên theo thì lúc đó bạn có mượn pháp không?” để Trừng Hải biết rõ hơn mà trao đổi ở nơi: Tâm không duyên trần, cảnh trần, là do nhân gì? Và khi “vô duyên” thì “tâm cảnh” như thế nào? Kính

Sau thì xin hỏi đạo hữu Quay lại:
_ Từ “Xã ly” có phải là biến tướng của chữ “Viễn ly” không? Nếu không phải thì “xã ly” nằm ở chỗ “chí nguyện” hay công phu “điều ngự” thân tâm hay là cả hai vừa là chí nguyện vừa là điều ngự thân tâm? Kính

Đồng kính, hề hề

 Ban Đại Biểu nhiệm kỳ III (2015-2016)

Vì niệm không chủ thể,có sinh có diệt.Nếu hiểu được điều ấy,bạn có khởi ý chấp niệm ấy không?Nếu không khởi ý tức không duyên theo.Lúc đó bạn trở về chân tâm thanh tịnh lặng lẽ.Bạn thấy cảnh như thật không qua tác ý,nghe diệu âm của chư Phật,…Còn bạn hỏi do nhân gì mà Tâm không duyên trần,cảnh trần.Nếu nói có thì tâm ấy là tâm sanh diệt,là tâm cầu.Điều nầy trái lời Phật dạy,chúng sanh đều có Phật tánh,chân tâm diệu hữu.Do quên mê trần nên không thấy Ông Phật thật của mình.Vài lời thô thiển,xin lảo huynh chỉ dạy thêm.Thân.

Quay lại :Thưa các bạn,

Ở tầng cạn, xã ly là điều ngự thân tâm, chính là hàng phục vọng tâm, và hàng phục vọng tâm là chí nguyện vậy. 
Chúng ta thường dính mắc vào vật thế gian do mắt thấy, tai nghe, mủi ngửi, lưởi ném, thân xúc chạm sinh ra phân biệt là ý thức, thường dính mắc vào quá khứ, tưởng tượng chuyện tương lai sanh ra ý thức thị phi phải trái, và chúng ta thường dính mắc buồn vui thương ghét giận hờn, gắn thêm vào từ “Ta”, Ta buồn, Ta vui, Ta thương, Ta ghét, Ta giận, Ta hờn, Ta oán, Ta trách, Ta …, … trăm cái ta như vậy, tất cả đó là vọng tâm. 
Hàng phục vọng tâm, là buông bỏ mà ở đây là buông bỏ “cái Ta” và cái “của Ta”. Buồn vui giận hờn thương ghét … cứ để xảy ra mà không còn “Ta”, “của Ta”.
Quá khứ là đã qua, không cần lưu giử, tương lai chưa đến, chẳng mơ màng, hiện tai là đây, không vọng tưởng. Nước cứ chảy, mây cứ trôi không cuốn “Ta” vào trong đó. Đó là xã ly, buông bỏ. Vượt thoát ba đời, quá, hiện, vị lai.
Thấy chỉ là thấy, đơn thuần không thêm không bớt, nghe, ngửi, ném, xúc chạm củng vậy và ý thức phân biệt mà không phân biệt thị phi, phải trái… 

Ở tầng sâu, “Ta” chính là Bổn Tánh, là Chơn Như, là Chơn Tâm Thường trụ, là Như Lai Viên Giác Diệu Tâm. 
Và khi “Ta” nhận ra “Ta” rồi, ta Ngộ rồi, thì nhửng điều kể trên, những vọng tâm trên không mất đi mà biến thành “Diệu Tâm”. Buồn củng buồn mà là Diệu buồn, vui thành diệu vui, thương là thương nhưng là diệu thương, ghét là ghét nhưng ghét diệu… tất tần tật, tất cả đều là diệu, vì “Ta” từ “Diệu” mà có. Chơn không diệu hửu.

Thấy bạn Trừng Hải củng là thấy mà diệu Thấy. Đọc bài bạn Trừng Hải củng là Diệu đọc, (nghĩa là đọc củng biết vậy, củng hiểu vậy, mà không cãm thấy tức anh ách, có tức thì củng là “Diệu Tức”, hay “Tức” mà diệu)

Kính tất cả các bạn.

TRỪNG
HẢI:
Chào đạo hữu kingvua và đạo hữu Quay lại, 

Vì Trừng Hải chí có ba đồng để tiêu mỗi ngày nên không hồi đáp sớm, lượng thứ lượng thứ; hề hề, đồng lượng thứ luôn việc ghép luôn cả hai đạo hữu trong một mục trả lời, bội phần lượng thứ, hề hề.

_ Chào đạo hữu kingvua: Lời đạo hữu thật đơn giản nên trọn vẹn hiển lộ diệu tánh nơi lời dạy của Đức Phật không chút nào thiếu sót. Quả đúng như lời đạo hữu, nếu đã hiểu chỗ pháp vô đình trú là tâm có tánh bản nhiên không thì đâu còn khởi tình nơi kiến văn cảm tri (xúc cánh sanh tình) tức thấy nghe cảm biết. Do vậy khi thấy nghe cảm biết cảnh trần, trần xong thì tâm không ô nhiễm trần đời não hoạt, thế sự đa đoan, hề hề, nên lại là thanh tịnh, lặng lẽ như nhiên mà cũng là chân tâm vậy.

Nhưng thưa đạo hữu, (cái gì mà có chữ nhưng là mệt mõi trần ai rồi, hề hề), đó vốn là công phu khi dòng đời bình lặng như nhung, mượt mà như lụa, sáng hát hoan ca, chiều nhẹ như tơ “miên trường nhật nguyệt chiều về đón em”; chớ khi trường đời sóng dữ, ba đào đòi đoạn “tình thù rực nắng” hay tán gia bại sản, cửa nát nhà tan (hề hề, chỉ là giả định thôi, chứ lòng của Trừng Hải chỉ mong đạo hữu luôn bình an hạnh phước) mà gợi mối thương tâm gây “nghiệp xưa duyên mới”, tức nó nằm ngoài sự chú tâm “quên nhớ”, bởi nghiệp chướng tức tác ý thì ta có ý thức được đâu. Vậy thì công phu “tu tâm” trong những cảnh ngộ này sao đây? Xin đạo hữu nói cho hết lời người nương cửa Thiền môn. Kính.

_ Chào đạo hữu Quay lại: Trước hết xin nói với đạo hữu ở chỗ “…Xã ly là điều ngự thân tâm, chính là hành phục vọng tâm và hàng phục vọng tâm là chí nguyện vậy…”

Nếu “hàng phục tâm” là “chí nguyện” thì lời rơi vào chỗ nhị nguyên đối đãi tức có bắt đầu là buông bỏ cái “ta”, “của ta” (vui, buồn, thương, ghét, giận, hợn…v.v và…v.v.) để có cứu cánh tức mục đích không có gì là “ta”, “của ta”. 
Hơn nữa công phu này cũng hơi bị…rườm rà nếu không muốn nói thừa; Bởi nếu không có ta thì làm gì có của ta hay không có của ta thì làm sao sanh ta; mà những cảm giác “buồn, giận, thương,…” này lại thuộc “Sở Nhiếp” tức của ta chứ không thuộc Năng nhiếp tức “Ta”. Mà nếu muốn nói đồng điều ngự cả “Ta” lẫn “Của Ta” thành Không thì rơi vào chỗ Ngoan Không tức Vô Năng, Vô Sở thì làm gì có Thấy, Nghe, Cảm, Biết. Hay Trừng Hải này chưa không hiểu hết ý của đạo hữu? Nếu vậy xin đạo hữu nói rỏ thêm cho. Kính 

_ Đồng hỏi cả hai đạo hữu: Theo như chỗ Trừng Hải biết có bốn luận thuyết nói về Pháp Tánh. Trong đó thuyết Pháp tánh là Chơn Không Diệu Hữu thuộc Tam Luận Tông của Ngài Cưu Ma La Thập với cải cách của Ngài Gia Tường. Xin cả hai đạo hữu nói rỏ thêm chỗ Diệu Hữu của Chơn Không nó nằm ở nơi nao? Là tâm là tánh là tri, là ngộ..tức nó Hữu ở chỗ nào mà thành Diệu. Kính

Đồng Kính, hề hề 

 Ban Đại Biểu nhiệm kỳ III (2015-2016)

Xin chào lảo huynh.Bạn viết

bởi nghiệp chướng tức tác ý thì ta có ý thức được đâu

Vì nghiệp chướng là cảnh ta tạo nên phải nhận.Cuộc đời bạn nhận cả niềm vui,bạn cười.Bạn nhận nổi khổ bạn khóc nhưng cốt tủy là bạn có khởi ý thích vui và khởi ý sợ khổ,sợ nghiệp chướng không?Nếu có tác ý chứng tỏ bạn vẫn chấp thân tứ đại là ta và suy nghĩ khi gặp cảnh là tâm ta.Nếu hiểu như vậy bạn không hàng phục tâm được.Ngay lúc trả quả,gặp nghiệp chướng do tác ý bạn lại tạo nhân khác cho nghiệp quả.Vậy hàng phục tâm mà không gặp cảnh ,nghiêp chướng,thì hàng phục cái gì?
Bạn còn viết

chỗ Diệu Hữu của Chơn Không nó nằm ở nơi nao? Là tâm là tánh là tri, là ngộ..tức nó Hữu ở chỗ nào mà thành Diệu. Kính

Vì có thấy nghe,hiểu,biết thường hiện,dù có cảnh hay không?Diệu ở chỗ không phân biệt như cảnh hiện trong gương.Vì không khời ý nên cảnh rõ ràng nếu có cảnh mờ không rõ.Vậy lảo huynh chỉ lặng ý,quan sát cảnh không ý niệm so sánh,sẽ hiểu và chứng minh lời Phật tổ chỉ dạy.Thân. 

Quay lại: 

Trích dẫn Gửi bởi trừng hải Xem bài viết

Nếu “hàng phục tâm” là “chí nguyện” thì lời rơi vào chỗ nhị nguyên đối đãi tức có bắt đầu là buông bỏ cái “ta”, “của ta” (vui, buồn, thương, ghét, giận, hợn…v.v và…v.v.) để có cứu cánh tức mục đích không có gì là “ta”, “của ta”.

Thưa, trước là nói ở tầng cạn, tầng cạn phải dụng ngôn từ, có “bắt đầu” và “cứu cánh”, có “buông bỏ” vọng tâm và không “Ta”, không “của Ta”. Ngay chử “chí nguyện” đã là cạn cợt lắm rồi vậy. Vì vậy, có lần thưa với đ/h :”Đạo bổn vô ngôn, ngôn sanh lý tán”. Kinh có viết rằng Đức Bổn Sư có lần dùng im lặng mà trả lời câu hỏi của Ngoại đạo, Ngài Duy Ma Cật im lặng để trã lời câu hỏi “lý bất nhị”, và Nhị Tổ Huệ Khả trả lời Sơ Tổ Bồ Đề Đạt Ma bằng im lặng. Đạo hửu lý luận nhiều và cao, thật tình là tâm phục.

Trích dẫn Gửi bởi trừng hải Xem bài viết

Hơn nữa công phu này cũng hơi bị…rườm rà nếu không muốn nói thừa; Bởi nếu không có ta thì làm gì có của ta hay không có của ta thì làm sao sanh ta; mà những cảm giác “buồn, giận, thương,…” này lại thuộc “Sở Nhiếp” tức của ta chứ không thuộc Năng nhiếp tức “Ta”. Mà nếu muốn nói đồng điều ngự cả “Ta” lẫn “Của Ta” thành Không thì rơi vào chỗ Ngoan Không tức Vô Năng, Vô Sở thì làm gì có Thấy, Nghe, Cảm, Biết. Hay Trừng Hải này chưa không hiểu hết ý của đạo hữu? Nếu vậy xin đạo hữu nói rỏ thêm cho.

Thưa, năng nhiếp hay sở nhiếp thật ra tôi không rành cho lắm, kể cả chử vô năng vô sở, ngoan không!
Thấy, nghe, cãm biết thì chỉ là thấy nghe cãm biết, vậy thôi.
Thông thường, mắt thấy sắc, đối với sắc đáng nhớ thì khởi tâm yêu thích, lưu giử thậm chí sanh ra hàng dài phía sau sắc thấy, đối với sắc không đáng nhớ khởi tâm ghét bỏ, lưu giử tâm ghét bỏ ấy, tích chứa lâu dần tạo thành tính “ghét” không ưa khi thấy sắc ấy. Nghe, cảm, biết giống như vậy.
Phàm phu chúng ta, có “ta yêu” “ta ghét” … v.v … từ tàng thức, lưu giử, tích chứa mà ra đấy thôi. Lưu giử, tích chứa tất nhiên là “của Ta”, và dùng từ “của Ta” là một phần nói tới tàng thức ấy. Thí dụ như người Việt thì thấy da trắng, môi mỏng, mũi thẳng,… là đẹp, còn người Châu Phi thấy đẹp là da đen bóng, môi dày, mũi mận … củng là đẹp mà thôi.

TRỪNG
HẢI:


Chào đạo hữu Quay lại và kingvua:

_ Trước xin có đôi lời trao đổi với đạo hữu Quay lại: Đa tạ lời của đạo hữu dành cho Trừng Hải, thật ra khi chúng ta trao đổi thì cả hai đều chung một lòng cùng nhau thấu hiểu chỗ diệu lý của Phật Pháp là chí bảo vô thượng tại thế gian mà đến chỗ kiến giải đồng hòa nên cả hai đều có chỗ ích lợi mà thôi.
Trừng Hải cũng đồng ý và thán phục đạo hữu ở chỗ chỉ thẳng công phu là nơi kiến văn giác tri-thấy nghe cảm biết của tâm vô phân biệt mà hiện tâm đồng nhất cảnh tuyệt tích ái dục và tà kiến mới là chỗ tri hành của người dụng tâm tu học; Còn những tri thức về Năng, Sở , Ngoan không thì biết cũng được mà không biết cũng xong, hề hề. Trừng Hải xin có đôi lời đề cập đến kiến văn giác tri-thấy nghe cảm biết nhằm khởi tánh dụng của tâm vô phân biệt để cả hai tiếp tục trao đổi thêm.
Như ta biết thân ngũ uẩn có năm cửa ở ngoài là mắt tai mũi lưỡi thân và một cửa ở trong là Ý được gọi là Lục Quan Năng (khác với tâm lý học hiện đại thì chỉ có năm giác quan). Khi ngũ quan năng mắt tai mũi lưỡi thân tiếp xúc với cảnh trần là sắc thanh hương vị xúc sanh tiền ngũ thức; do bởi tiền ngũ thức tự nó không nhận biết được cảnh trần nên phải nương tựa vào Ý (Nếu tiền ngủ thức tự nhận biết được cảnh trần thì thức chuyển thành trí là Thành Sở Tác Trí theo Duy Thức tông hay như Pháp Bảo Đàn Kinh dạy lúc Ngộ thì Pháp Tánh chuyển nên Hàm Tàng Thức ra ngoài ngủ căn môn mà nhận biết cảnh trần); nên nếu Ý sanh Ý Thức tức Xúc ô nhiễm tức phân biệt Yêu, Ghét thì Kiến, Văn (tức thân biểu khẩu biểu) có Giác (tức Cảm giác-Thọ) là yêu ghét nên Tri (là Tri Giác tức Tưởng) là Yêu hay Ghét mà sanh tâm phân biện. Vậy thì công phu phải nằm ở chỗ điều ngự Ý tức Ý thức.

Vậy thì xin đạo hữu cho biết việc điều ngự Ý như thế nào để được gọi là Vô Tâm hay Vô Niệm mà khởi sanh tánh dụng của tâm vô phân biệt. Kính

_ Đạo hữu kingvua: Trước hết Trừng Hãi xin lập lại lời hoàn toàn đồng ý ở chỗ không khởi Ý, tức tâm bình ý tĩnh trong quá trình tu hành. Cái chỗ không chấp thân tứ đại bởi tứ đại giai không là Không Giới; Và tuyệt diệt hành nghiệp tức chấm dứt nhân quả mà an nhiên tự tại hoằng pháp cho chúng sanh thì Trừng Hải có biết chút chút, và cũng biết các cảnh giới này đều quá xa vời tới mức huyễn hoặc để mà đề cập đến đối với Trừng Hải này. Còn chỗ tác ý nảy sanh gây cảnh khổ thì cứ “ngang nhiên” lãnh nhận để “hàng phục tâm” là cảnh giới của bậc đắc đạo “Ngoài lìa chư duyên. Trong bặt nghĩ tưởng, Tâm như tường vách…” thì còn chi để nói nữa.
Còn chữ “Diệu” mà đạo hữu nói là không phân biệt như cảnh hiện trong gương (lại cũng quay về chuyện ý tĩnh, tâm bình) thì không lẽ, hề hề, đạo hữu chỉ thấy núi là núi sông là sông rồi là xong??? Và đạo hữu khuyên Trừng Hải này cứ lặng lẽ quan sát không ý niệm so sánh (cũng ý tĩnh tâm bình, không có gì khác nữa sao?) thì sẽ hiểu và chứng minh lời Phật Tổ dạy là xong thì quả thật Trừng Hải này không hiểu đạo hữu nói cái gì???!!! Hay đạo hữu muốn Trừng Hải này đình ngôn tức…game over??? Nếu vậy thì Trừng Hải xin y lời mà cúp pê i xì tức xì tốp. Thân

Đồng Kính, hề hề

phamvandung57 :  

Gửi hai đạo hữu

“Chính ngay lúc dụng tâm, ngay đó không tâm dụng; không tâm ngay đó dụng, thường dụng ngay đó không”.
Nhờ đạo hữu Quay lại và KingVua nói về công phu này cho mọi người hiểu .Hãy nói trên công phu của mình đã đi qua, vì sẽ còn có câu hỏi sau nữa. Rất cám ơn nhiều

Ban Đại Biểu nhiệm kỳ III (2015-2016)

Lúc dụng tâm :thấy nghe,xúc,…qua đối cảnh nếu có tâm khởi ý so sánh đẹp,xấu,hơn,thua,…bạn sẽ không thấy cảnh như thật.Hay thấy,nghe,…bằng vọng tâm,thấy sanh diệt,niệm tan thấy dừng.Ngược lại khi không tâm dụng tức tâm thanh tịnh ,bạn thấy cảnh như thật.Cảnh hiện trong tâm bạn.Nhưng thực hiện điều nầy lại không dễ vì chúng ta thường có cảnh lại có ý.Còn câu sau cũng như vậy.Vài lời trau đổi.Monh bạn thực hành để hiểu lời nầy.Thân.

TRỪNG
HẢI:

Kính chào đạo hữu Phamvandung57
Trừng Hải còn đồng cuối cùng để dành cũng xin vào đây vỗ tay tán thưởng vì bội phục.

“Chính ngay lúc dụng tâm, ngay đó không tâm dụng; không tâm ngay đó dụng, thường dụng ngay đó không” Câu khẳng định đáp này thật là tuyệt cú, hề hề. Đạo hữu đã tự mình HỘI THÔNG TÔNG CHỈ VÔ NIỆM của LỤC TỔ HUỆ NĂNG? Xin nói rỏ nếu tự thông đạt hay được gợi ý mà tự thông đạt để Trừng Hải này mở rộng mắt thịt mà lãnh hội được chỗ CHÁNH PHÁP NHÃN TẠNG. Đạ tạ, đa tạ.

Kính, hề hề

TB: Góp ý đôi lời về chữ Hàng Phục Tâm.

Kính thưa quý hữu, chữ Hàng Phục vốn khởi sanh từ Vị Tằng Hữu Sự lúc Phật Đà Sakyamuni đắc Chánh Đẳng Chánh Gíác dưới cội cây Bồ Đề đối với Ma Vương trời Tha Hóa Tự Tại Thiên và ba người con gái nên gọi là Hàng Ma Đại Định, mà trong Kinh Đại Nhật gọi là Hàng Phục Tứ Ma Kim Cương Hí Tam Muội.

Cũng được đề cập đến trong Hàng Long Phục Hổ tức Hàng Phục Ma của chư vị Đại Bồ Tát Ma Ha Tát có thân lấy từ Không Giới là Thể, với Tánh là Phật Tịnh Quốc Độ và Dụng là Thành Tựu Chúng Sanh nên lấy việc độ sanh là hàng phục ma làm chỗ hành Lục Ba La Mật mà trong Kinh Bát Nhã có đề cập lúc Phật Đà trả lời Ngài Tu Bồ Đề là phép An Trụ Tâm-Hàng Phục Tâm.

Còn đối với chúng sanh hữu tình như chúng ta thì như trong Thiền Tông thì Lục Tổ Huệ Năng lấy Vô Tướng làm bổn thể tức Tâm vốn là Không thì làm gì có chuyện hàng phục tâm. Vì vậy khi sử dụng ngôn ngữ cho việc điều ngự tâm chư cổ đức gọi là Tu Tâm.

Vì vậy thưa quý hữu, khi dụng chữ dụng từ ta nên bỏ ra chút ít thời gian tìm hiểu kỷ rồi mới dùng cho chính xác cũng là giữ gìn thuật ngữ Phật Học không bị biến tướng.

Đồng Kính, hề hề.

Quay lại :

 Gửi bởi trừng hải 


Theo như chỗ Trừng Hải biết có bốn luận thuyết nói về Pháp Tánh. Trong đó thuyết Pháp tánh là Chơn Không Diệu Hữu thuộc Tam Luận Tông của Ngài Cưu Ma La Thập với cải cách của Ngài Gia Tường. Xin cả hai đạo hữu nói rỏ thêm chỗ Diệu Hữu của Chơn Không nó nằm ở nơi nao? Là tâm là tánh là tri, là ngộ..tức nó Hữu ở chỗ nào mà thành Diệu. 

Đây xin thưa chuyện về “Chơn Không Diệu Hửu”, chuyện nầy củng là “Diệu” mà thôi!

Thưa, như có sân khấu lớn hoành tráng nhưng không có tuồng tích, không có diển viên thì sẻ không có vở diển, tức là : Sân khấu + tuồng tích + diển viên = vở diển (tuồng hát). Trong từng thành tố của vế trái đều là từ “Không”, (không diển viên thì có củng như không) thế mà ráp lại thành “Có” vở diển và vở diển có hay, có đạt chính là nhờ tài diển xuất của diển viên , diển viên là thành tố chính làm nên tuồng hát.
Chúng ta là những diển viên trên “vở tuồng đời”., trong đó mỗi người khoác lên mình vai diễn, kỷ sư, bác sĩ, công nhân, làm ruộng, Thầy tu…. v.v.và ..v.v, nhận ra chỉ là “Diễn” thôi thì tất cả biến thành “Diệu”, “Diệu diển”.

Thưa, ở thí dụ khác, như tấm gương soi. (điều này Đ/H “kinhvua” đã trình bày). Ảnh trong gương “Có” vì ta soi, ngắm nghía, thật sự trong gương chẳng có gì “Chơn Không”, nhưng “tánh” của gương là chiếu rọi mọi cảnh vật đến, đi qua nó, nên là “Diệu hửu”, chúng ta cứ phẳng lặng như tấm gương, cái gì đến phùng mang trợn mắt, thì “Ta” phùng mang trợn mắt, cái gì đến yểu điệu thục nữ thì “ta” hiện ảnh yểu điệu thục nữ.

Và cuối cùng là vì “Bởi ta sanh sự, nên sự tình mới sanh” “Nếu không sanh sự thì sự nào có sanh”. Trong cảnh “Chơn Không” nếu sanh sự thì sanh “Diệu sự”, hung hăng, trộm cướp, uống rượu, ăn thịt đều là “Diệu sự” .

Kính

TRỪNG
HẢI:


Chào đạo hữu Quay lại,

Đa tạ lời giải thích của đạo hữu về CHƠN KHÔNG DIỆU HỮU.

Nếu muốn am tường đến chỗ tận tuyệt lâm ly chí thiết thâm mật lại bác đại huyền vi ngời ngời như ánh quang minh hằng hiện tồn bất biến khởi từ nơi xa xôi không thể nghĩ bàn bởi vô minh chưa sanh khởi, mà bí hiểm vị tằng hữu sự phi thường phi phi thường “Thời hồng hoang trời xanh chưa có mặt đất chưa hình thành mắt không thấy tai không nghe trí hôn muội mà, lại hồng bác muôn sự thông đạt” bởi chỉ hiện tồn một chữ DIỆU KHÔNG TRÍ thì e rằng đạo hữu phải trải qua thêm một thời gian dài công phu trên đường VẠN LÝ TẦM CHÂN nhiều nhiều nữa. Hề hề, Trừng Hải cũng chỉ thuật lại lời dạy của người xưa chớ không có ý gì gọi là chỉ trích vì lời vốn thật sự khó hiểu chớ không phải Trừng Hải cố làm cho nó khó hiểu mà thật ra như Ngài Huệ Năng tuyên giảng trên đàn thì lại cực kỳ đơn giản bởi tất cả cũng chỉ bắt đầu từ KIẾN VĂN GIÁC TRI đồng VÔ TƯỚNG VÔ NIÊM VÔ TRÚ là Thể là Tông Chỉ-Bổn Nhiên Tánh nơi mỗi chúng sanh hữu tình mà cũng là ĐẠI SỰ NHÂN DUYÊN bởi đó chính là HỒNG PHƯỚC VÔ BIÊN của MƯỜI PHƯƠNG CHƯ PHẬT.

Đoạn giải thích trên có lẽ lấy từ Kinh Lăng Già ví thân ngủ uẩn chỉ là hóa thân (castle) trên sân khấu với Ý thức là diễn viên, vọng tưởng là khán giả mà cũng là nền tảng của phép KHÁN THOẠI ĐẦU (Xin đọc Kinh Lăng Già, quyển ba) trong Tổ Sư Thiền chỉ để chỉ tâm đó là vọng, là không.
Đoạn sau thì ví tâm như gương sáng (nói rỏ đầu tiên trong Tứ Thập Nhị Chương Kinh, chương không nhớ, hề hề, và ở nhiều kinh luận khác nữa…) chỉ tâm là không.
Tóm lại cả hai không hề có gì gọi là DIỆU mà chỉ là BÌNH nơi chữ HÀNH; bình bồng trên sóng nước phù sanh mà biết về nơi nao??? Là bước đầu của người quy hướng Phật Đạo nên như nhiên trước BÁO CHƯỚNG bởi chỉ gọi là sơ tâm biết chữ Khổ-KHỔ, Vô Thường-KHỔ hay Vọng tức thị KHỔ.

Vài lời góp ý gọi là với lòng chân thành của người đồng tu, đồng chí chớ không có ý gì. Xin chớ cho là lời chê trách, mong lắm thay.

Kính, hề hề 

phamvandung57 :  

Kính chào mọi người

Vậy là câu hỏi về công phu trong Thiền Tông đã đi qua. Thật tiếc là cả hai đạo hữu Kingvua và Quay lại không nói đúng chỗ của Thiền Tông. Phamvandung57 xin được nói một chút hiểu biết về vấn đề này. Thiền Tông khác với các pháp môn khác ở chỗ là không cho suy lường , lìa ngôn ngữ, chính là chỉ cái chỗ Hành. Người chân thật dụng công ( Tham Thiền ) cốt ở nghi tình. Câu thoại đầu phải thực sự chính trong tâm mình. Câu thoại đầu đề lên đứng đắn, ngay khi dụng tâm quay lại xem thì thấy chẳng có tâm để mà dụng, lúc không có nổi tâm dụng thì ngay đó đang được dụng, dụng lâu rồi thì cái đang đó cũng không có.
ngay khi có tâm dụng, ngay đó không có tâm biết, đều không ngoài cái hữu tâm dụng, vô tâm dụng. Thế nào hữu tâm dụng? Thế nào là vô tâm dụng? Trước hết phải biết câu thoại đầu ta tham là của chính ta, nếu là từ người mà đến thì hữu tâm và vô tâm đều dùng không được.
Tham thiền cốt ở chỗ có nghi tình thì mới đúng là câu thoại đầu của chính mình, cũng là tiêu tiền của mình… chỉ tiếc rằng hai người đã dùng tâm ý thức suy lường mà không ở ngay trên công phu mà lĩnh hội.Thiền Tông không cho ghi nhớ , những gì học được cần phải xả bỏ, đến cái xả bỏ cũng xả bỏ luôn mới có phần. Tham Thiền cốt nhìn vào chỗ khi mà niệm chưa sanh khởi mà Tham ( cũng gọi là Thoại Đầu ) mà Khán. Nếu chân thật dụng công thì chắc chắn ai cũng sẽ đến đoạn này. Đây cũng chỉ là mới đoạn đầu của sơ tâm tham cứu mà thôi. Kính mong hai đạo hữu thử soi xét xem công phu của bản thân đã thực sự chân thật hay chưa?
Phamvandung57 xin được nói rằng toàn bộ những gì bác Trừng Hải nói là điều chân thật như lời người Thầy chỉ bảo ,mà lòng tràn đầy yêu thương như cha, mẹ đối với con. Người thực sự tham cứu vì sanh tử không lẽ nào lại không hiểu được lời bác ấy nói. Phamvandung57 tôi từ ngày quyết chí , tự mình tham cứu ( Tham Thiền ), nghiền ngẫm ngữ nghĩa ở ngữ lục ,kinh điển, luật, luận của Phật Tổ để lại qua các trang mạng internet, cùng với sự tiếp xúc trao đổi với nhiều người. Đặc biệt bởi có nhân duyên mà được gặp bác Trừng Hải ở đây. Bác đã không it lần vạch lối mở đường, Phamvandung57 tôi vô cùng cảm phục và quí trọng. Với TínTâm như lời Phật tổ dạy, đồng tin tưởng không một chút nghi ngờ lời Phật,Tổ chẳng bao giờ hư dối. ngày đêm đặt thân tâm trên hai chữ Sanh Tử mà bám chặt thoại đầu khởi nghi tình. Quả thực cũng có lúc tưởng chừng phải tháo lui…Nhưng giờ thì đã khác, câu thoại đầu đã là cơm, là nước là gần như tất cả cuộc sống này. Cám ơn tất cả mọi người , dù có là lời không đồng thuận với Phamvandung57 thì cũng là lời khích lệ cho Phamvandung57 tôi quyết chí khám phá cái chân thật ở lời chư tổ…
Kính cảm phục bác TRỪNG HẢI, xin được coi lời Phamvandung57 như là lời của một đệ tử kính lên người thầy tôn kính. Kính chúc bác cùng các đạo hữu mạnh khỏe, hòa hợp chân tình, cùng nhau nối truyền chánh pháp của Như Lai. Phamvandung57 xin đa tạ mọi người

   


   
   


   


   


   


   
   

   

   
   

   
bandaibieu

Mùa Thu lá không rụng thì sao ? ( Đối thoại bên Diễn đàn Phatphaponline )

 muathularung ( Phamvandung57 )

bangtam
Phó Trưởng Ban Đại Biểu Thường Trực nhiệm kỳ III (2015-2016)
.bangtam is on a distinguished roadbangtam's Avatar 
Kính muathularung !


Câu hỏi của bangtam “Mùa Thu lá không rụng thì sao ?” đâu có gì to tát lắm đâu.


“Lá không rụng” thì mọi cái còn nguyên, cuống lá dai quá nên không rụng, lá không rụng thì không lột xác, không lột xác thì không trưởng thành.


Trời ơi ! Lá gì mà dai quá như thế ?. “tui” lắc gốc đùng đùng mà lá vẫn trơ trơ.


Hihi !


Kính 
bangtam:

phamvandung57:  

Cái gốc này có đến 1000 con sóc thì cũng chỉ như là mạng nhện giăng tơ trên cành lá đâu có thấm gì.
Hãy đọc lại những gì ngày xưa đã ” choảng ” nhau thì hiểu. đó là ngày xưa, chứ giờ thì còn khác lắm. chỉ sợ con sóc không chịu nổi thôi.
nếu cam đoan diễn đàn không dùng quyền khoa ních. thì chấp nhận một lần cho trắng đen phân minh rõ ràng. để cho thiên hạ biết luôn cái danh ban đại biểu của Băng Tâm nơi diễn đàn phatphaponline học phật như thế nào nhé, có xứng đáng không nhé. đầu năm mới chắc là không suôn sẻ rồi Băng Tâm ơi hề hề.
Mới đầu năm mà đã thích lắc cội rồi , mà lại lắc đùng đùng nữa mới hay hề hề….

Trưởng Ban Đại Biểu Thường Trực nhiệm kỳ III (2015-2016)Ngọc Quế is on a distinguished roadNgọc Quế's Avatar

Chào bạn muathularung !


Ngọc Quế để ý thấy bạn rất có duyên với đạo Phật, bạn đã may mắn được học đọc nhiều, xin đừng bỏ phí cái duyên may “ngàn năm một thuở” (“rùa mù gặp bọng cây”) ấy.


Mặc dầu bạn đồng môn vẫn thử thách nhau để tiến bộ, nhưng hãy thử thách nhau một cách lịch sự, để tránh gây phản cảm cho những Phật tử khác khi truy cập vào một trang web Phật giáo.
Cho phép Ngọc Quế góp ý một chút nhé ! Nếu khi nào bạn cảm thấy trong lòng nó sôi sùng sục thì hãy uống 1 ly nước mát, đi lòng vòng cho khuây khoả, hãy thư giản bằng cách đùa vui với con cháu. Nếu vẫn chưa hạ hoả thì phải biết NGHIỆP CHƯỚNG CỦA MÌNH QUÁ NẶNG, bạn nên phóng sinh chim cá cho nhiều lên và lập những hạnh KHÔNG BÌNH THƯỜNG thí dụ như phát tâm mỗi ngày lạy Phật 100 lạy, phát tâm đi lau dọn nhà vệ sinh công cộng, ……. Ngọc Quế không xí gạt bạn đâu, cứ thử 1 thời gian sẽ thấy kết quả.
Hãy tha lỗi cho Ngọc Quế, nếu có lời nào không phải nhé !


Kính !

muathularung

Kính chào Trưởng Lão!
Trước hết xin đa tạ nỗi cảm hoài của Trưởng Lão đến kẻ hèn mọn không thầy không lớp này, mà bày tỏ lòng từ bi thương xót.
Cũng xin được tri ân mà thực hành mấy điều Trưởng Lão chỉ dạy
1 – Hằng ngày muathularung vẫn thường thường uống những giọt từ bi mà diễn đàn đã ban tặng. mặc dầu vậy cũng không được nhiều lắm, bởi thế cho nên phải gắng sức dốc lòng, đào sâu chắt lọc những giọt từ bi nơi Tam Tạng kinh điển Phật Pháp của Đức Từ Mẫu và các Tổ Sư mà chưa hề biết mệt mỏi.
2 – Mỗi lần thấy có chút sân hận thì cũng biết rằng nghiệp chướng sâu dày , nên cũng đã ngồi xuống ” phóng sinh ” cho những ” chú chim , chú cá…” vào ” vô dư niết bàn “. Rồi cũng phát đại tâm ” quỳ lạy Phật ” đến nỗi không còn thấy tướng lạy mới thôi.
3 – Cũng đã phát đại tâm lập cái hạnh KHÔNG BÌNH THƯỜNG lau dọn nhà vệ sinh công cộng là ngày đêm lo lắng , đập phá lau chùi những chướng ngại tà kiến dị đoan ma mị làm lu mờ chánh kiến, là hòn gạch cản đường trong tâm người học Phật.
Chỉ tiếc rằng lực chưa đầy đủ, hơn nữa cũng cần có thời gian cho những tiến trình. vì biết rằng chỉ có bậc A La Hán trở lên mới buông sạch những chấp ngã vi tế nhất, ngoài ra vẫn đang còn dính mắc. chính vì thế mà cần có thời gian. kính mong Trưởng Lão thứ lỗi
Nay không tiếc lời cảm thán tình ưu ái của Trưởng lão chỉ dạy. luôn gi nhớ như mỗi lần sáng mai nghe tiếng gà gáy báo thức gọi bình minh về cho một ngày tỉnh thức.
Đôi lờii mông muội nếu có gì động chạm chưa được hài lòng, xin Trưởng Lão xá tội
Kính: muathularung

Phó Trưởng Ban Đại Biểu Thường Trực nhiệm kỳ III (2015-2016)Thưa, tánh của si mê, sân hận, tham đắm không thật mà tiền-bối chuyển được thì bangtam mới có sự “thoát” được. Củng như ngôn từ tức là ý nghĩa, ý nghĩa củng là ngôn từ. Sự thật (chân lý) nầy đâu thể nghe theo tiền-bối “Đừng tu tập trên ngôn từ mà hãy hiểu ý nghĩa”.
Kính mong tiền-bối từ bi chỉ dạy thêm.

muathularung

si mê, sân hận, tham đắm là ngưỡng cửa dẩn đến chánh-kiến đúng là thế.
Nhưng tánh của si mê, sân hận, tham đắm không thật, phải là người đã vượt qua cửa ái đó mà đã nhập vào dòng thánh ( sơ thiền ) Đây là nói về con đường tu tập theo bát chánh đạo. Thử hỏi bạn đã chuyển được ba độc thành ba tịnh giới chưa. nếu chưa thì đừng có nói vu vơ, vì bản thân còn đang chìm đắm trong ba độc chưa thoát được…
Đừng tu tập trên ngôn từ mà hãy hiểu ý nghĩa của kinh điển mà áp dụng vào thực tập THIỀN ĐỊNH của Phật thì mới mong thấy được chân lý sự thật

Phó Trưởng Ban Đại Biểu Thường Trực nhiệm kỳ III (2015-2016)Thưa, tánh của si mê, sân hận, tham đắm không thật mà tiền-bối chuyển được thì bangtam mới có sự “thoát” được. Củng như ngôn từ tức là ý nghĩa, ý nghĩa củng là ngôn từ. Sự thật (chân lý) nầy đâu thể nghe theo tiền-bối “Đừng tu tập trên ngôn từ mà hãy hiểu ý nghĩa”.
Kính mong tiền-bối từ bi chỉ dạy thêm.
Kính
bangtam

muathularung

thôi thì hỏi thẳng các ngài cao thâm ở diễn đàn này, ví như là Thầy Tấn hạnh , Nguyễn văn Học , Viên Quang 6 , Ngọc Quế …. xem thử bạn có thể TU thành Đạo theo lối của bạn được chăng? Tôi chỉ ví như một người sinh ra trong tù từ nhỏ mà nghe ai nói ở ngoài kia có thế giới rộng lớn và tự do hơn nhiều, thì người đó chẳng chịu nghe đâu. chờ đến khi tự mình mò ra lối thoát , thấy được mới chịu tin thôi.

Nói cho một lần này nữa thôi nhé ! cái thế giới rộng lớn là vượt ra khỏi cái ngục tù của lục căn …nó giam hãm chính mình đã bao đời. mà chỉ có con đường THIỀN của PHẬT là lối thoát cho tất cả những ngục tù đó , để sống đời tự do tự tại hiểu chưa? Ngôn từ là mũi tên chỉ cho chỗ thoát hiểm, nhưng mà phải tự ” Đào ” bằng con đường THIỀN … thì mới ra được. cứ ngồi mà ôm mũi tên thì phỏng có ích gì

Phó Trưởng Ban Đại Biểu Thường Trực nhiệm kỳ III (2015-2016)
Thưa, nếu đem lục căn mà đắm chìm theo Thiền, thì đó là tự giam mình trong tù ngục, vì đó là chạy theo tướng. Thiền chẳng có tướng trong, ngoài, thì lục căn củng chẳng có tướng gì gọi là tự do huống chi tù ngục.
Kính tri ân tiền-bối.

Kính
bangtam

muathularung

Không hiểu các vị tiền bối ở diễn đàn đọc những bài của bạn là nên khóc hay nên cười đây?
Bạn có tài làm xiếc lắm hi hi. thôi hãy cứ bày trò thêm xem thử ta ngồi hóng gió xem chơi cho khây khỏa .
kẻo mai mốt hết trò để xem thì cũng hơi tiếc hề hề

Phó Trưởng Ban Đại Biểu Thường Trực nhiệm kỳ III (2015-2016)


Dạ ! cung thỉnh tiền-bối ngồi chồm hổm hóng gió xem chơi cho phẻ phắn (khỏe khoắn). Nhưng đừng có tiếc hihi! Bởi trò nầy không vì các ý niệm khen, chê tốt, xấu v.v… mà lập, không có dính dự gì các ý niệm, thì trò nầy không có ngã sở (tôi được), không có ngã sở thì đâu có thọ mạng, không có thọ mạng thì không có sanh diệt, không có sanh và diệt mất thì có gì để mà tiếc phải không tiền-bối.
“Kính tri ân tiền-bối.”

Kính
bangtam

muathularung

Pháp Cú 231

Hãy đề phòng thân thể giận dữ! Hãy thuần hóa việc làm của thân thể! Hãy từ bỏ điều ác của thân thể! Hãy đem thân thể mà làm điều lành!

Pháp Cú 232

Hãy đề phòng miệng lưỡi giận dữ! Hãy thuần hóa lời tiếng của miệng lưỡi! Hãy từ bỏ điều ác của miệng lưỡi! Hãy đem miệng lưỡi mà nói điều lành!

Pháp Cú 233

Hãy đề phòng tâm ý giận dữ!Hãy thuần hóa suy nghĩ của tâm ý! Hãy từ bỏ điều ác của tâm ý! Hãy đem tâm ý mà nghĩ điều lành!

Pháp Cú 234

Người trí thì thuần hóa thân thể, thuần hóa miệng lưỡi, thuần hóa tâm ý – thực sự thuần hóa hoàn toàn.
__________

Tỷ Kheo Kéo Guốc Gỗ

Có một lần nhóm sáu Tỷ kheo cầm gậy gỗ và đi guốc gỗ, kéo qua kéo lại gây ra ồn ào. Phật nghe tiếng ấy,hỏi tôn giả A nan. Tôn giả bạch Ngài, rằng đó là tình trạng do nhóm sáu Tỷ kheo gây ra. Phật nói làm người thì phải quan tâm người khác, chớ phá vỡ không khí yên tĩnh. Ngài lại dạy Tỷ kheo thì phải lo khống chế việc làm, lời nói, ý nghĩ. Phật lại nói chư Tỷ kheo,”từ nay về sau không được đi guốc gỗ theo cách ấy.”

Gửi bởi Mục đồng 


Cũng kính mong rằng muathularung “từ nay về sau không đi guốc gỗ”trong diễn đàn.

Kính !

muathularung

Có hiểu 6 tỳ kheo là gì ?có thể là không đi guốc gỗ nhưng vẫn có thể dùng búa tạ đóng vào mấy cái “thùng rương mục” thì có sao đâu

Chỉ thêm phí công vô ích..hi.hi…

Phó Trưởng Ban Đại Biểu Thường Trực nhiệm kỳ III (2015-2016)Kính tiền-bối !
1-Hà mã dang cánh lượn
2-Cua ốm (lột) bẻ chân hùm .


Kính
bangtam 

Kính đạo hữu Băng Tâm,

Mùa thu lá không rụng thì sao ? hi…hi…

Mở mắt tức phiền não. hi…hi….

Kính

nhãn đầu mùa ( Muathularung bị khóa ních )

Cái hạng người cứ trồi lên ngụp xuống, hết thai trâu bụng ngựa , rồi đến quái hài nhi thì không những mở mắt thấy phiền não mà nhắm mắt cũng thấy cuồng si. vì không ngoài mở mắt chiêm bao và nhắm mắt chiêm bao. cái hạng người mà như Ngài Lai Quả nói là suốt ngày sống trong nhân ngã thị phi mà làm bộ giữ cải vẻ mặt thúi làm gì.
Cứ ôm chặt tứ cú rụng hay không rụng… thì có dính dáng gì đến chính mình mà cứ phải lắc cội đùng đùng cho nó rụng, nó rụng hay không rụng thì liên quan gì đến mở mắt hay nhắm mắt, vậy mà cũng gọi là tuyphapthuanphap. nên nhớ làm gì có pháp mà thuận hay không thuận, nó như bào như ảnh… chỉ vì u mê mà sinh ra chấp trước. chỉ vì chúng sinh là huyễn nên mới nói có Phật có Pháp..
Đây là lời Ngài Vĩnh Gia Đại Sư:
” Phàm chẳng phải trí thì chẳng biết cảnh, nếu chẳng có cảnh thì trí chẳng
sanh. Trí sanh là biết cảnh mà sanh, biết cảnh là do trí sanh mà biết. Trí sanh mà
biết thì biết không có cái bị biết (sở liễu). Biết cảnh mà sanh nên sanh không có
cái hay sanh (năng sanh). Sanh không có cái hay sanh, tuy trí mà chẳng phải có.
Biết mà không có cái bị biết, tuy cảnh mà chẳng phải không. Không tức chẳng
không, có tức chẳng có, có không đều chiếu cả hai thì diệu ngộ hiển nhiên. Như
lửa được củi càng thêm cháy mạnh, củi dụ như cảnh để phát sanh trí, lửa dụ cho
diệu trí biết cảnh. Có lời rằng:
Đạt tánh không, chẳng trói buộc
Tuy duyên giả, không đắm trước
Hai cảnh có không đồng soi
Một tâm trung quán siêu vượt.
Nếu trí biết nơi cảnh tức là trí biết cảnh không, như mắt thấy hoa không là
mắt biết hoa không. Nếu trí biết nơi trí, tức là trí biết trí không, như mắt thấy con
mắt không là mắt biết mắt không. Trí tuy biết cảnh không và biết trí không, nhưng
chẳng phải không trí biết cảnh. Cảnh không trí vẫn có. Trí biết cảnh không và trí
không, nên không có cảnh nào trí chẳng biết, như con mắt biết hoa không và biết
mắt không, nhưng chẳng phải không biết có mắt thấy hoa. Hoa không mắt vẫn có.
Mắt biết hoa không và mắt không nên có hoa nào mà mắt chẳng biết.
Lại nữa, tất cả các pháp đều là nhân duyên giả dối, vì nhân duyên sanh nên
đều không tự tánh. Một pháp đã vậy, muôn pháp cũng vậy. Cảnh trí theo nhau thì
đâu chẳng lặng. Vì sao ? Vì pháp nhân duyên tánh không sai biệt. Nay đây ba cõi
luân hồi, sáu đường lên xuống, tịnh uế khổ lạc, phàm thánh sai khác đều do ba
nghiệp, bốn nghi (Bốn nghi là đi, đứng, nằm, ngồi.) sáu căn đối cảnh. Theo tình
tạo nghiệp, quả báo chẳng đồng, thiện thì hưởng lạc, ác thì thọ khổ. Cho nên kinh
nói : “ Thiện ác là nhân, khổ lạc là quả ”. Phải biết pháp không có tướng nhất định,
tùy duyên tập hợp cấu thành, duyên chẳng phải là có ngã, cho nên gọi là tánh
không. Không nên chẳng phải khác, do đó muôn pháp đều Như. Vì thế kinh nói :
“Sắc tức là không, bốn ấm kia cũng vậy”. Như vậy, đâu riêng gì loài phàm tục có
duyên sanh, mà hàng tam thừa thánh quả cũng từ duyên có. Thế nên kinh nói :
“Phật chủng từ duyên khởi”. Do đó muôn cơ tụ hợp, người đạt thì không đâu
chẳng phải đạo tràng; sắc tượng vô biên, người ngộ rồi thì không có gì chẳng phải
Bát-nhã. Cho nên kinh nói : “ Vì sắc vô biên nên biết Bát-nhã cũng vô biên”. Vì
sao ? Vì cảnh chẳng phải trí thì chẳng biết, trí chẳng phải cảnh thì chẳng sanh. Trí
sanh thì biết cảnh mà sanh, biết cảnh thì trí sanh mà biết. Trí sanh mà biết, biết
không có cái bị biết (sở liễu). Biết cảnh mà sanh, sanh không có cái hay sanh
(năng sanh). Sanh không có cái hay sanh thì nội trí lặng lặng. Biết không có cái bị
biết thì ngoại cảnh như như. Như và lặng không sai khác thì cảnh và trí hợp nhất,
muôn lụy đều hết, diệu chỉ hãy còn. Cho nên kinh nói : “Bát-nhã không biết mà
không cái gì chẳng biết”. Như vậy diệu chỉ chẳng phải biết, không biết mà biết vậy”
Người có chút tri thức thì tự mình phải biết cái chuyện sinh tử luân hồi nó do đâu mà có, muốn ra bằng cách nào, thì phải tâm tâm dụng , niệm niệm dụng cho triệt thấu. người ta có vào ngục cũng cốt là mai sau nói cho bọn con cháu biết được cái khổ ở đó như thế nào mà dạy dỗ bọn chuyên lưu manh trộm cướp, suốt ngày rong chơi, đam mê tửu sắc, múa hát đàn ca, dèm pha nhân ái, chỉ được cái hùa bè với bọn xấu nói ác cho người, sinh lòng đố kỵ. mai mốt mà chịu quả còn đắng cay hơn nhiều thì chớ có trách ai
……………….

 Kính bạch Đại Đức Nhãn Đầu Mùa,



Và đây là lời của Ngài Huệ Năng :


Huệ Năng một kỹ lưỡng.
Bất đoạn bách tư tưởng.
Đối cảnh tâm sác khởi,
Bồ đề tác ma tưởng ?. 



Hi…hi…và đây là cái thấy của người dốt chữ như TPTP qua bốn câu kệ trên, có sao thấy như vậy :


Huệ Năng nhất tâm niệm.
Trăm phiền rõ như như.
Gặp cảnh tâm tự khởi,
Ma não hạt Bồ đề ?



Hi.hi….kính hỏi Đại Đức Nhãn Đầu Mùa, Ngài có biết tuyphapthuanphap là ai chăng ?
Hi.hi….


Kính,tptp

HÀO LY HỮU SAI, THIÊN ĐỊA HUYỀN CÁCH

DỊCH

Xê xích mảy may, cách xa trời đất.

LỜI KHAI THỊ

Có căn cứ nhất định, lại không tiêu chuẩn phép tắc, đem hư không lấp hư không, dùng mục đích phá mục đích, mua đá được ngọc, dẫu cho Lục Tổ nói “Chẳng hội”; Đạt Ma nói “Chẳng biết”, đều là dời hoa rủ bướm, chỉ hai đường dây dưa này, đã dẫn khởi gai gốc đầy trời. Bỏ gai gốc, Hải thần chẳng quí Dạ-Minh-Châu, nguyên nắm ném thẳng vào mặt họ.

LỜI NGHĨA GIẢI

Tổ Sư nói “HÀO LY HỮU SAI, THIÊN ĐỊA HUYỀN CÁCH”, người nghĩa giải cho rằng : Pháp môn rộng lớn nầy, dù nói ngộ mê chẳng khác, nếu ngươi còn mảy may tình cảm yêu ghét phân biệt chưa dứt sạch, thì như trời với đất cách nhau quá xa rồi.

TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG

Giải nghĩa như thế giống thì giống, phải thì chưa phải. Tại sao? Vì còn thiếu một tiếng “Ổ” (ngộ), dẫu cho ông mỗi mỗi không sai, lý hợp với đạo, vẫn còn không khỏi cách xa như trời với đất.

KỆ KẾT THÚC, RẰNG

Nói chi có sai và không sai,

Đều thành dụi mắt thấy hoa đốm.

Muốn lìa mảy may việc càng nhiều,

Trời đất xưa nay vẫn cách xa.

VI THUẬN TƯƠNG TRANH, THỊ VI TÂM BỆNH

DỊCH

Thuận nghịch tranh nhau, ấy là tâm bệnh.

LỜI KHAI THỊ

Bệnh chẳng phải tâm, tâm chẳng phải bệnh, chớ đem cái cây hàng rào hữu lậu, cho là cán gáo múc nước sông. Tâm chẳng lìa thân, cũng chẳng phải tức là thân, cho là khác nhau thì bệnh càng nặng. Giải thích công án ” Nhựt diện Phật” của Mã Tổ thì bệnh nặng càng nặng thêm. Chỗ tình chấp chưa dứt sạch thì dùng cam lồ cũng có thể giết người; khi cơ phong khế hợp thì dùng thuốc độc Tỳ Sương cũng cứu được mạng.

Từ khi phương thuốc đua nhau truyền,

Đầu búa không lỗ sanh nhiều bệnh.

LỜI NGHĨA GIẢI

Tổ Sư nói : “VI THUẬN TƯƠNG TRANH, THỊ VI TÂM BỆNH”, người nghĩa giải cho rằng : sanh tử vô thường là tâm bệnh, kiến văn giác tri là tâm bệnh, tham thiền học đạo là tâm bệnh, thành Phật làm Tổ là tâm bệnh; cần phải quên cả thuận nghịch, bặt cả thánh phàm, muôn niệm đều bỏ, một lối không tịch, chẳng nhờ thuốc thần diệu quí báu, thì cái gọi là “tâm bệnh” đó, tự nhiên không có chỗ đặt để rồi.

TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG

Than ôi! Phật pháp suy đồi, Tổ đình hoang vu, người bị mắc tâm bệnh cùng khắp thế gian, đều là kẻ tri giải nhập tâm, chấp thuốc thành bệnh, đó không phải là việc lạ, dẫu cho Kỳ Bà (thần y đời xưa) tái thế cũng không cứu được bọn này.

KỆ KẾT THÚC, RẰNG

Thuận nghịch tranh nhau tâm sanh bệnh,

Thuận nghịch đều quên bệnh sanh tâm.

Xưa nay tâm bệnh chết liên tiếp,

Lại khoe phương thuốc hay như Thần.

CHÆ ĐỘNG QUY CHÆ, CHÆ CÁNH DI ĐỘNG

DỊCH

Ngăn động trở về tịnh, tịnh ấy càng thêm động.

LỜI KHAI THỊ

Nói quanh lao nhọc danh tướng, nói thẳng chẳng có dài dòng. Nói quanh tạm gác một bên, thế nào là nói thẳng? Trương Tam, ăn gậy sắt, Lý Tứ chịu đớn đau; người sống vào quan tài, người chết đi đưa đám. Quan Âm mất hết thần thông, lại bị con nít chọc ghẹo. Nói thẳng tạm gác một bên, nói quanh lại là thế nào?

Hoa giác ngộ phải trồng nơi tự tánh,

Hạt giống Phật nên gieo trên tâm địa.

LỜI NGHĨA GIẢI

Tổ Sư nói “CHÆ ĐỘNG QUY CHÆ, CHÆ CÁNH DI ĐỘNG”. Người nghĩa giải cho rằng : Chân tâm trạm nhiên luôn luôn bất động, xưa nay lưu chuyển đều do vọng kiến, vậy động đã là vọng, tịnh cũng là vọng, dùng vọng để ngăn vọng, giống như ôm củi chữa lửa, chỉ thêm cháy mạnh. Lấy lời Pháp Sư Tăng Triệu dẫn chứng rằng : “Muốn tìm chỗ bất động, đâu phải buông động để cầu tịnh, ắt phải cầu tịnh ở nơi động. Vì cầu tịnh ở nơi động, dù động mà thường tịnh; chẳng buông động để cầu tịnh, dù tịnh mà chẳng lìa động”. Thế thì, động chẳng tướng động, tịnh chẳng tướng tịnh, như trong Kinh nói “Hai tướng động tịnh rõ ràng không sanh”, bởi vì rõ biết động tịnh đều là cảnh vọng, các vọng đã tiêu thì hai tướng đâu còn!

TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG

Thôi thôi! Động là núi bạc, tịnh là vách sắt. Nếu chưa từng đập nát, mà muốn hai tướng kia không sanh thì còn cách xa quá.

KỆ KẾT THÚC, RẰNG

Ngọn lửa đâu cho ruồi muỗi đậu,

Lưỡi kiếm chẳng cho thân trần đụng.

Nhà kín Đạt Ma không cửa nẻo,

Nắm tay lôi kéo chẳng ai vào.
………………………

Hi….hi…….Lè lưỡi hứng sương đêm……..hi..hi…….

Trên thế gian không ít, hi…hi….ôm ngủ lâu ngày thành….hi..hi…..bệnh ….hi.hi…con mọc sách, Kính hỏi Đại Đức trước con mắt của có bao nhiêu cọn lông mi ?…hi…hi….cứ thao hồ mượn nước bải cũa người khác phun tiếp…hi.hi….nhé ! hỏi lại nè ”Ngài có biết tuyphapthuanphap là ai chăng ? hi…hi….

Kính,tptp

Hi….hi….Chính xát….hi..hi….nó đây nè…..hi.hi…. 

Xin hỏi Ngài nhé : Ngài có biết thế nào là phòng hộ tâm phòng hộ giới không nhỉ ? Ngài có biết bộ y mặt trên người của Ngài có ý nghĩa gì chăng ?

Ngài nghĩ sao ? khi tâm Ngài đầy sân hận ? bọn trẻ họ sẽ nói sao ?

Các bạn hãy xem này một tu sĩ đấp y, miệng bao điều diệu, khuyên người đừng tham sân si, vậy mà vị tu sĩ này tâm sân hận mà không hay biết, nếu họ là vậy thì vị thầy của họ cũa nhưng vậy, họ chỉ thọ hưỡng tài thí vật cúng của bá tánh không thọ hưỡng pháp,vị tu sĩ này không xứng đáng dạy dỗ chúng ta.
Ngài nghĩ sao khi họ nói với nhau như vậy ?

Hi…hi…..
Kính,tptp,

– Đừng có học lời chư Phật:” tận cùng hư không đại địa là miệng lưỡi của ta ” mà cuồng ngôn. chư Phật nói thì được, bạn nói thì còn cách nhau như trời với đất
– Việc đến chẳng nhận , tất cả chỗ không tâm, cũng là muôn duyên đều bặt thì có phải cái lưỡi là thừa ?
– Còn câu : có biết tuyphapthuanphap là ai chăng?
Nó quan trọng lắm sao mà cứ lặp đi lặp lại hoài vậy?
Xin được kể câu chuyện sau:
Trong thời kỳ Phật giáo ấn Độ trung cổ, có một cuộc tranh luận về vô ngã giữa một Tỳ Kheo hữu học với Mahădeva, cuộc tranh luận đại khái như thế này:
Tỳ Kheo: Chào ông . Ông là ai?
Mahădeva: Mahădeva
TK : “Mahădeva” là ai?
M : Là “tôi”
TK : ” Tôi ” là ai?
M : Là con chó
TK : “Con chó” là ai?
M : Là ông
TK : “Ông” là ai?
M : Mahădeva
TK : “Mahadeva” là ai?
M : Là tôi
TK : “Tôi” là ai?
M : Là con chó
TK Con chó là ai?
M : Là ông
Và cứ thế cuộc tranh luận cứ đi vòng quanh cho đến khi tràng cười của thính giả khiến cho vị Tỳ Kheo hữu học chợt hiểu sâu sắc…. ( tự tìm hiểu lấy nhé ).
Nói thêm về cái lưỡi của bạn:
Chỉ cần nghe qua lời nói đã biết bạn có cái lưỡi không hoàn chỉnh. giọng còn ngọng líu ngọng lo như vậy mà sao hay nhiều lời vậy;
Vì chẳng phải xuất gia nên không biết có đắp y hay không đắp y…
Cũng vậy kẻ hư tiêu tín thí không phải là tôi. còn chuyện bạn hay , tôi dở thế nào để mọi người tự nhận xét

tuyphapthuanphap 

Kính chư đạo hữu,

Nhân đọc được bài viết này nên tôi đăng nhập diễn đàn dùng nick TPTP để khuyên hai vị đạo hữu Muathularung và đạo hữu vài lời ngỏ hầu giải hòa cho đôi bên, thật lòng không có nhiều thì giờ làm những chuyện vô ích, đạo hữu Nhãn Đầu Mùa thích trích kinh văn, giỏi bắt lỗi người, nhưng tâm tư rất phiền não mà không tự nhận ra, cũng ví như ” người chăn bò mướn” chỉ hưỡng tiền công (lời khen), nhưng không hưỡng được ”sửa và lạc bò” nên TPTP mạo muội không ngại ” vào nhà lữa” viết vài lời ngắc cảnh tỉnh, không dại chi tạo tội cho thêm oan trái, hơn hai năm trước tôi có dịp ghé qua đây vài lần, và đã có duyên đọc vài bài viết của các đạo hữu thành viên diễn đàn này, tôi nhận thấy các vị ấy rất giỏi kinh văn làm tôi hoan hỷ vì có người thừa tự Phật pháp sẽ đem lại lợi ích cho nhiều người, sau đó có một vị mới vào tham gia diễn đàn và cũng khen các vị đạo hữu ở bên đây rất giỏi, giống như tôi đã nghĩ, nhưng có một vị đạo hữu ở bên ấy nói lại ở bên ấy nhiều người rất giỏi trich kinh văn nhưng ở bên đây nhiều vị có pháp hành mình nên ở lại học hỏi nhiều hơn rất lợi ích cho việc học hỏi Phật pháp.

Trong kinh Đức phật dạy : Đừng vội tin vì vị này là Thầy, đừng vội tin vì lời đồn, đừng vội tin vì là truyền thống v.v…chỉ có khi nào tự mình chứng ngộ.
Trong kinh Pháp Cú, Đức Phật có dạy:
“Chỉ có ta làm điều tội lỗi, chỉ có ta làm cho ta ô nhiễm.
Chỉ có ta tránh điều tội lỗi, chỉ có ta gội rửa cho ta.
Trong sạch hay ô nhiễm là tự nơi ta.
Không ai có thể làm cho người khác trở nên trong sạch”. (Câu 145)

Người Phật Tử không làm nô lệ cho một quyển sách hay một cá nhân, cũng không hy sinh tự do tư tưởng của mình khi bước theo dấu chân của Đức Phật. Người Phật Tử hoàn toàn tự do thực hiện ý chí, mở mang kiến thức và phát triển trí tuệ cho đến ngày chính mình đắc Quả Phật, bởi vì khả năng trở thành Phật nằm bên trong tất cả mọi chúng sanh.

Lẽ dĩ nhiên, người Phật Tử nhắc lại Phật ngôn như những chân lý bất di dịch, nhưng chính Đức Phật dạy phải nên luôn luôn suy gẫm, không nên nhắm mắt tin càng.
Sự chứng ngộ có thể có trong hiện tại không phải là tiêu chuẩn chân lý duy nhất trong Phật Giáo. Điểm then chốt là Chánh Kiến (samma-ditthi), sự hiểu biết thuần lý. Đức Phật khuyên dạy người đi tìm chân lý không nên chấp nhận điều gì chỉ vì một người đáng tin cậy đã nói như vậy mà phải suy luận kỹ càng và thận trọng xét đoán để biết rõ điều nào là đúng, điều nào sai.

Bốn diếu kham chiếu lớn và bài kinh Kàlàmà.
“Hãy đến đây, người Kalama! Không nên chấp nhận điều gì chỉ vì nghe nói lại (tỷ như nghĩ rằng ta đã nghe điều nầy từ lâu). Không nên chấp nhận điều gì chỉ vì tập tục cổ phong truyền lại như thế (tỷ như nghĩ rằng điều nầy đã được truyền lại từ bao nhiêu thế hệ). Không nên chấp nhận điều gì chỉ vì có lời đồn đãi như vậy (tỷ như tin lời người khác mà không suy xét). Không nên chấp nhận điều gì chỉ vì điều ấy đã được ghi trong kinh sách. Không nên chấp nhận điều gì chỉ vì mình đã ức đoán như vậy. . Không nên chấp nhận điều gì chỉ vì mình suy diễn như vậy. Không nên chấp nhận điều gì theo bề ngoài. Không nên chấp nhận điều gì chỉ vì điều ấy hợp với thành kiến của mình. Không nên chấp nhận điều gì chỉ vì điều ấy hình như có thể chấp nhận được (tỷ như nghĩ rằng điều nầy phải được chấp nhận). Không nên chấp nhận điều gì chỉ vì nghĩ rằng vị tu sĩ thốt ra điều nầy ta đã được kính trọng từ trước (và như vậy, lời nói phải được chấp nhận). [15]
” Tuy nhiên, khi tự các con hiểu rõ rằng — những điều nầy không hợp luân lý, những điều nầy đáng được khiển trách, những điều nầy bị các bậc thiện trí thức cấm đoán, nếu thực hiện những điều nầy sẽ bị phá sản và phiền muộn — thì hẳn các con phải từ bỏ, không nên làm điều ấy.
” Khi tự các con hiểu rõ rằng — những điều nầy hợp luân lý, những điều nầy không đáng bị khiển trách , những điều nầy được các bậc thiện trí thức tán dương, nếu thực hiện những điều nầy sẽ được an vui hạnh phúc — thì hẳn các con phải hành động đúng như vậy”. [16]

Bốn Điều Tham Chiếu Lớn 

Đi từ làng này đến làng khác, một ngày nọ Đức Phật đến Bhoganagara và tại đây Ngài dạy bốn Đại Giáo Pháp tức là bốn điều tham chiếu lớn (Mahapadesa), theo đó ta có thể trắc nghiệm và làm sáng tỏ giáo huấn của Đức Phật. Ngài dạy:
1. “Một vị tỳ khưu có thể nói rằng tôi nghe chính Đức Phật đã tuyên ngôn như vầy: “Đây là Giáo Pháp, đây là Giới Luật, đây là Giáo Huấn của Đức Bổn Sư”. Những lời ấy, không nên chấp nhận, cũng không nên gác bỏ ngoài tai. Không chấp nhận, không bác bỏ, mà phải nghiên cứu tận tường từng chữ, từng tiếng, rồi hãy đối chiếu và so sánh với Kinh (Sutta) và Luật (Vinaya). Nếu khi đối chiếu và so sánh kỹ càng, nhận thấy rằng nó không phù hợp với Kinh và không nhất trí với Luật, con có thể kết luận rằng: “Chắc chắn, đây không phải là Phật ngôn. Vị tỳ khưu kia đã hiểu sai.” Như vậy, con phải loại bỏ những lời ấy.
“Nếu, khi đối chiếu và so sánh, những lời ấy phù hợp với Kinh và nhất trí với Luật, con có thể kết luận rằng: “Chắc chắn đây là Phật ngôn, vị tỳ khưu ấy đã hiểu đúng.”
“Hãy xem đó là điều tham chiếu lớn đầu tiên.

2. “Lại nữa, một vị tỳ khưu có thể nói rằng trong ngôi chùa kia có chúng Tăng sống chung và có những vị sư lãnh đạo: Tôi nghe chính các sư ấy nói như thế này: “Đây là Giáo Pháp, đây là Giới Luật, đây là Giáo Huấn của Đức Bổn Sư.” Không nên chấp nhận, cũng không nên gác bỏ ngoài tai những lời ấy. Không chấp nhận, không bác bỏ, mà phải nghiên cứu tận tường, từng chữ, từng tiếng, rồi hãy đối chiếu với Kinh và so sánh với Luật. Nếu khi đối chiếu và so sánh kỹ càng, những lời ấy không phù hợp với Kinh và không nhất trí với Luật, con có thể kết luận: “Chắc chắn đây không phải là Phật ngôn. Vị tỳ khưu kia đã hiểu sai.” Như vậy, con phải loại bỏ những lời ấy.
“Nếu, khi đối chiếu và so sánh, những lời ấy phù hợp với Kinh và nhất trí với Luật, con có thể kết luận rằng: “Chắc chắn đây là Phật ngôn. Vị tỳ khưu ấy hiểu đúng.”
“Hãy xem đó là điều tham chiếu lớn thứ nhì. 

3. “Lại nữa, một vị tỳ khưu có thể nói rằng trong ngôi chùa kia có nhiều vị sư và những vị cao tăng học rộng, thông suốt Giáo Lý, hiểu rộng Kinh, Luật, Pháp Yếu (Matika): Tôi nghe chính các vị sư ấy nói như vầy: “Đây là Giáo Pháp, đây là Giới Luật, đây là Giáo Huấn của Đức Bổn Sư”. Không nên chấp nhận, cũng không nên gác bỏ ngoài tai. Không chấp nhận, không bác bỏ, mà phải nghiên cứu tận tường từng chữ, từng tiếng, rồi đem đối chiếu với Kinh (Sutta) và so sánh với Luật (Vinaya). Nếu khi đối chiếu và so sánh như vậy, những lời ấy không phù hợp với Kinh và không nhất trí với Luật, con có thể kết luận: “Chắc chắn đây không phải là Phật ngôn. Vị tỳ khưu kia đã hiểu sai.” Như vậy, con phải loại bỏ những lời ấy.
“Nếu, khi đối chiếu và so sánh, những lời ấy phù hợp với Kinh và nhất trí với Luật, con có thể kết luận rằng: “Chắc chắn đây là Phật ngôn. Vị tỳ khưu ấy hiểu đúng.”
“Hãy xem đó là điều tham chiếu lớn thứ ba. 

4. “Lại nữa, một vị tỳ khưu có thể nói rằng trong ngôi chùa kia có một vị tỳ khưu cao hạ, học rộng, thông suốt Giáo Lý, hiểu rộng Kinh, Luật, và các Pháp Yếu (Matika): Tôi có nghe vị tỳ khưu cao hạ ấy nói như vầy: “Đây là Giáo Pháp, đây là Giới Luật, đây là Giáo Huấn của Đức Bổn Sư”. Không nên chấp nhận, cũng không nên gác bỏ ngoài tai. Không chấp nhận, không bác bỏ, mà phải nghiên cứu kỹ càng, tường tận, từng chữ, từng tiếng, rồi đem đối chiếu với Kinh và so sánh với Luật. Nếu khi đối chiếu và so sánh, những lời ấy không phù hợp với Kinh và không nhất trí với Luật, con có thể kết luận: “Chắc chắn đây không phải là Phật ngôn. Vị tỳ khưu kia đã hiểu sai.” Như vậy, con phải loại bỏ những lời ấy.
“Nếu, khi đối chiếu và so sánh, những lời ấy phù hợp với Kinh và nhất trí với Luật, con có thể kết luận rằng: “Chắc chắn đây là Giáo Pháp, đây là Giới Luật, đây là Giáo Huấn của Đức Bổn Sư.”
“Hãy xem đó là điều tham chiếu lớn thứ tư. 

“Này các Tỳ Khưu, đó là bốn điều tham chiếu lớn.” 

Mấy hôm nay tham gia diễn đàn mới thực sự biết rõ như thật, ở bên đây có vài vị nhiều tâm từ rất khéo hành văn, tuy tôi chưa có duyên đàm đạo nhưng tôi vẫn nhận được từ các bài viết, cho nên vẫn có các vị rất giỏi Phật pháp bởi tâm các vị ấy rất khéo nhu hòa uyễn chuyễn nên ít người nhận ra đấy thôi, nay sự việc đã xong, tôi ví như kẽ qua đường dừng chân chia sẽ vài hàng, vài ngày nữa tôi sẽ tùy duyên rời diễn đàn, nếu tôi có gì không phải làm buồn lòng các vị đây qua lời viết, xin các vị từ bi hoan hỷ bỏ qua dùm, thành tâm sám hối.

Lòng từ trãi khắp bao la,
Minh tâm kiến tánh thắng ma não phiền.

Kính chúc các chư vị thân tâm thường an tỉnh, luôn thân cận bậc Thượng Trí thức ngỏ hầu được nghe, học, hỏi, hiểu và hành đúng chánh pháp, ”Ý nghĩa Niết- Bàn”.

Mặc áo, ăn cơm khó lắm chăng ?
Đi, đứng, ngồi, nằm tự thông dung.

Kính,tptp

nhãn đầu mùa 

Đây chẳng phải là tự cho mình là người thấu triệt cao thâm chăng? Tự cho mình cái quyền đứng trên cao nhìn xuống mà nói như vậy chăng?
Đây đúng là Tuyphapthuanphap là ai? như bài tôi đã viết. rốt cục thì cũng chỉ trích lời trong kinh điển mà ra cả. có cái gì của riêng mình thì ” khoe ra ” cho mọi người xem thử. còn nói vài câu như: Mặc áo, ăn cơm khó lắm chăng ?
Đi, đứng, ngồi, nằm tự thông dung. thì có gì là ghê gớm lắm đâu hề hề
Nhãn đầu mùa không có khoái thầy dạy kiểu này. mà thích ” bổ cho mạnh” mới thấy thấm. còn như thế này thì chỉ gãi ngứa ngoài dày mà thôi.
nhưng cũng cám ơn thiện ý khi nói ra lời cuối
“Mấy hôm nay tham gia diễn đàn mới thực sự biết rõ như thật, ở bên đây có vài vị nhiều tâm từ rất khéo hành văn, tuy tôi chưa có duyên đàm đạo nhưng tôi vẫn nhận được từ các bài viết, cho nên vẫn có các vị rất giỏi Phật pháp bởi tâm các vị ấy rất khéo nhu hòa uyễn chuyễn nên ít người nhận ra đấy thôi,”
Xin được nêu tên cụ thể cho chính xác là những vị nào vậy để còn học hỏi và đáp lễ cho đúng 

tuyphapthuanphap 

Đây chẳng phải là tự cho mình là người thấu triệt cao thâm chăng? Tự cho mình cái quyền đứng trên cao nhìn xuống mà nói như vậy chăng?

Đây đúng là Tuyphapthuanphap là ai? như bài tôi đã viết. rốt cục thì cũng chỉ trích lời trong kinh điển mà ra cả. có cái gì của riêng mình thì ” khoe ra ” cho mọi người xem thử. còn nói vài câu như: Mặc áo, ăn cơm khó lắm chăng ?
Đi, đứng, ngồi, nằm tự thông dung. thì có gì là ghê gớm lắm đâu hề hề
Nhãn đầu mùa không có khoái thầy dạy kiểu này. mà thích ” bổ cho mạnh” mới thấy thấm. còn như thế này thì chỉ gãi ngứa ngoài dày mà thôi.
nhưng cũng cám ơn thiện ý khi nói ra lời cuối
“Mấy hôm nay tham gia diễn đàn mới thực sự biết rõ như thật, ở bên đây có vài vị nhiều tâm từ rất khéo hành văn, tuy tôi chưa có duyên đàm đạo nhưng tôi vẫn nhận được từ các bài viết, cho nên vẫn có các vị rất giỏi Phật pháp bởi tâm các vị ấy rất khéo nhu hòa uyễn chuyễn nên ít người nhận ra đấy thôi,”
Xin được nêu tên cụ thể cho chính xác là những vị nào vậy để còn học hỏi và đáp lễ cho đúng

Hi..hi….
Người cao thâm viết ra những lời đầy sân hận này :

Cái hạng người cứ trồi lên ngụp xuống, hết thai trâu bụng ngựa , rồi đến quái hài nhi thì không những mở mắt thấy phiền não mà nhắm mắt cũng thấy cuồng si. vì không ngoài mở mắt chiêm bao và nhắm mắt chiêm bao. cái hạng người mà như Ngài Lai Quả nói là suốt ngày sống trong nhân ngã thị phi mà làm bộ giữ cải vẻ mặt thúi làm gì.
Cứ ôm chặt tứ cú rụng hay không rụng… thì có dính dáng gì đến chính mình mà cứ phải lắc cội đùng đùng cho nó rụng, nó rụng hay không rụng thì liên quan gì đến mở mắt hay nhắm mắt, vậy mà cũng gọi là tuyphapthuanphap. nên nhớ làm gì có pháp mà thuận hay không thuận, nó như bào như ảnh… chỉ vì u mê mà sinh ra chấp trước. chỉ vì chúng sinh là huyễn nên mới nói có Phật có Pháp..

Người có chút tri thức thì tự mình phải biết cái chuyện sinh tử luân hồi nó do đâu mà có, muốn ra bằng cách nào, thì phải tâm tâm dụng , niệm niệm dụng cho triệt thấu. người ta có vào ngục cũng cốt là mai sau nói cho bọn con cháu biết được cái khổ ở đó như thế nào mà dạy dỗ bọn chuyên lưu manh trộm cướp, suốt ngày rong chơi, đam mê tửu sắc, múa hát đàn ca, dèm pha nhân ái, chỉ được cái hùa bè với bọn xấu nói ác cho người, sinh lòng đố kỵ. mai mốt mà chịu quả còn đắng cay hơn nhiều thì chớ có trách ai

cho nên tôi viết:

”Ngài có biết tuyphapthuanphap là ai chăng ?


Nhưng đạo hữu Nhãn đầu Mùa không trả lời thẳng mà chỉ tránh né bằng những lời đầy ngã mạn bằng cách trích những bài của những vị khác và tự hào kheo pháp học cao thâm.
Hi..hi….tội nghiệp thật !
Nên tôi mới hỏi :

Ngài nghĩ sao ? khi tâm Ngài đầy sân hận ? bọn trẻ họ sẽ nói sao ?
Các bạn hãy xem này một tu sĩ đấp y, miệng bao điều diệu, khuyên người đừng tham sân si, vậy mà vị tu sĩ này tâm sân hận mà không hay biết, nếu họ là vậy thì vị thầy của họ cũa nhưng vậy, họ chỉ thọ hưỡng tài thí vật cúng của bá tánh không thọ hưỡng pháp,vị tu sĩ này không xứng đáng dạy dỗ chúng ta.
Ngài nghĩ sao khi họ nói với nhau như vậy ?


Thay vì trả lời câu hỏi vị này lại lèo lái như một con lương :

Vì chẳng phải xuất gia nên không biết có đắp y hay không đắp y…



– Đừng có học lời chư Phật


người học lời chư Phật là đây nhé, câu này là của vị này tự khoe viết ra đấy :

” tận cùng hư không đại địa là miệng lưỡi của ta ” mà cuồng ngôn. chư Phật nói thì được, bạn nói thì còn cách nhau như trời với đất
– Việc đến chẳng nhận , tất cả chỗ không tâm, cũng là muôn duyên đều bặt thì có phải cái lưỡi là thừa ?
– Còn câu : có biết tuyphapthuanphap là ai chăng?
Nó quan trọng lắm sao mà cứ lặp đi lặp lại hoài vậy?



Nói thêm về cái lưỡi của bạn:
Chỉ cần nghe qua lời nói đã biết bạn có cái lưỡi không hoàn chỉnh. giọng còn ngọng líu ngọng lo như vậy mà sao hay nhiều lời vậy;


Vả lại người trich kinh văn của các vị thiền sư cũng là vị đạo hữu này, vị đạo hữu tự ngã mạn cho là đã biết rõ các lời dạy của các vị ấy nên tâm ngã mạn tự cao không thể nghĩ bàn, nên tôi thấy tội nghiệp và nhận thấy không thích hợp đàm đạo nên hạ mình khiêm cung ra đi, như vị đạo hữu này vẫn tật nào tánh nấy không biết tấn thối,

Đây chẳng phải là tự cho mình là người thấu triệt cao thâm chăng? Tự cho mình cái quyền đứng trên cao nhìn xuống mà nói như vậy chăng?


[QUOTE] như bài tôi đã viết. rốt cục thì cũng chỉ trích lời trong kinh điển mà ra cả. có cái gì của riêng mình thì ” khoe ra ” cho mọi người xem thử[/QUOTE]

tôi đã viết từ đầu rồi ;

Trâu thuần quen lối cũ,
Lè lưỡi hứng sương đêm.

Người trí viết ít cũng hiểu, người không hiểu viết bao nhiêu cũng không đủ.

hai câu này hiểu chưa xong thì làm sao hiểu mặt áo, ăn cơm phải không ?

Hi..hi……….O
Kính 

nhãn đầu mùa 

Có biến hình đổi dạng, thay tên đổi họ chẳng lẽ tôi lại không nhận ra đây là ai chăng? đừng có biến nữa mà không khéo lại biến ra…
chỉ là cái lý cùn cũ xưa rồi. qua mắt được đám háo danh thân ưa làm trâu ngựa thôi. cuối cùng chỉ là :
……………….
trên bờ gió thổi chó sủa trăng .
************************
” Trâu chết ” lột gia căng mặt trống
” Sói tận ” lóc xương nhổ răng nanh

tuyphapthuanphap 

Trích dẫn Gửi bởi nhãn đầu mùa Xem bài viết
Có biến hình đổi dạng, thay tên đổi họ chẳng lẽ tôi lại không nhận ra đây là ai chăng? đừng có biến nữa mà không khéo lại biến ra…
chỉ là cái lý cùn cũ xưa rồi. qua mắt đước đám háo danh thân ưa làm trâu ngựa thôi. cuối cùng chỉ là :
……………….
trên bờ gió thổi chó sủa trăng .
************************
” Trâu chết ” lột gia căng mặt trống
” Sói tận ” lóc xương nhổ răng nanh

Đúng là Bồ Tát sống…hi.hi…..dạy chúng sinh…….hi…hi…..

Trâu thuần quen lối cũ,
Lè lưỡi hứng sương đêm.

Kính !


muathularung 

Trích dẫn Gửi bởi tuyphapthuanphap Xem bài viết
Kính đạo hữu Nhãn Đầu Mùa,

Người trí nhận biết sanh tử là khổ đau, tâm luôn luôn bị dao động bất an, hằng mong muốn vượt thoát khỏi sự trói buột chìm đấm trong luân hồi khổ, nếu mỗi kiếp cứ được sanh làm người cứ được sống trong cảnh an nhàn và hạnh phúc thì đâu có ai dạy gì tìm kiếm con đường giải thoát ? sự nguy hại bất lực nhấm ngầm phát nguồn từ những phiền não ngủ ngầm bất chợt ồ ạt sanh khởi ngoài tầm kiểm soát của thân tâm dù đẫ cố gắng tin tấn giữ chánh niệm.

Tôi hiểu được điều này nên đã bỏ rất nhiều công phu gần chín năm dài tầm cầu chơn sư và tập trung hết tất cã nhiệt tâm tu tập tất cã các pháp mà các Ngài đã chỉ dạy hoặc đã được ghi chép trong kinh văn, nhưng cuối cùng cũng bị tuyệt vọng hoài công, nên tôi thông cảm tâm tư của đạo hữu đây, tôi không sân hận hay buồn phiền gì về đạo hữu cả, lời thật lòng !
Kính,

Đây là lời nói chân thành nên Muathularung xin được đón nhận. Nhưng xin được hỏi một câu rằng ( không cần trả lời ):
” nếu mỗi kiếp cứ được sanh làm người cứ được sống trong cảnh an nhàn và hạnh phúc thì đâu có ai dạy gì tìm kiếm con đường giải thoát ? “
Vậy Đức Phật Nhập Diệt là nghĩa thế nào? có phải Đắc đạo tối thượng như Phật rồi lại sinh ra làm người thọ hưởng hạnh phúc an nhàn nơi cõi ta bà này rồi cứ thế… ?
Còn tôi sân hận hay bạn giải thoát việc đó không cần bàn đến. Ngôn ngữ tuy là phương tiện thể hiện nơi thế gian , nhưng không phải ai cũng hiểu nhau qua ngôn ngữ. chuyện này cũng đừng quan tâm. mỗi mỗi tự biết mà..

Ban Đại Biểu nhiệm kỳ III (2015-2016)

Theo Trí Từ thì niệm Phật chỉ để cột tâm vào 1 chổ thiện lành. Như mỗi khi Trí Từ bị tâm tán loạn hoặc ý nghĩ đến những điều không tốt, sợ hải thì Trí Từ niệm Phật ngay để trói cái tâm vào câu niệm Phật chứ ngoài ra thì Trí Từ chẳng mong cầu gì hơn trong câu niệm Phật. Cho nên để được nhiều nhân lành hơn ngoài việc niệm Phật ta còn phải kết hợp nhiều điều khác như các điều Phật đã dạy . Chứ bảo chỉ niệm Phật thôi mà được này được nọ thì thật sự Trí Từ không tin được…

nhãn đầu mùa 

Trích dẫn Gửi bởi Trí Từ Xem bài viết
Theo Trí Từ thì niệm Phật chỉ để cột tâm vào 1 chổ thiện lành. Như mỗi khi Trí Từ bị tâm tán loạn hoặc ý nghĩ đến những điều không tốt, sợ hải thì Trí Từ niệm Phật ngay để trói cái tâm vào câu niệm Phật chứ ngoài ra thì Trí Từ chẳng mong cầu gì hơn trong câu niệm Phật. Cho nên để được nhiều nhân lành hơn ngoài việc niệm Phật ta còn phải kết hợp nhiều điều khác như các điều Phật đã dạy . Chứ bảo chỉ niệm Phật thôi mà được này được nọ thì thật sự Trí Từ không tin được…

Tôi muốn hỏi mấy câu:
– Khi niệm Phật là trồng cái nhân gì?
– Khi không niệm Phật là trồng cái nhân gì?
– Chứ bảo chỉ niệm Phật thôi mà được này được nọ thì thật sự Trí Từ không tin được.. là trồng cái nhân gì?
Người này luôn mồm tự xưng là người học Phật. lại kêu gọi mọi người chê kẻ ThamThiền, chê kẻ một lòng niệm Phật nhất tâm không thèm làm gì khác, không tin được như thế thì mong mọi người phán một câu xem thử có nên để cho người này nói chuyện Phật Pháp nữa ?

Ban Đại Biểu nhiệm kỳ III (2015-2016)Trích dẫn Gửi bởi nhãn đầu mùa Xem bài viết

Tôi muốn hỏi mấy câu:
– Khi niệm Phật là trồng cái nhân gì?
– Khi không niệm Phật là trồng cái nhân gì?
– Chứ bảo chỉ niệm Phật thôi mà được này được nọ thì thật sự Trí Từ không tin được.. là trồng cái nhân gì?
Người này luôn mồm tự xưng là người học Phật. lại kêu gọi mọi người chê kẻ ThamThiền, chê kẻ một lòng niệm Phật nhất tâm không thèm làm gì khác,không tin được như thế thì mong mọi người phán một câu xem thử có nên để cho người này nói chuyện Phật Pháp nữa ?

Gửi muathularung cũng là nhãn đầu mùa: đọc đến 3 câu hỏi tôi tính trả lời thật đấy nhưng hoá ra câu cuối là móc tôi, là phỉ báng chê bai tôi nên hoá ra câu hỏi chỉ là mượn cớ, muốn tôi bị mọi người phán xét thì sao không vào mục Phản Ánh Của Thành Viên mà la lên..?
Kính thưa ngài Viên Quang, nick Nhãn Đầu Mùa này chắc Ngài cũng đã biết là của Muathularung chứ chẳng ai xa lạ. Nay lấy nick này để nói Trí Từ như thế này liệu có được xem là vi phạm nội quy hay không ?

Trí Từ không muốn nói gì với con người dùng Phật pháp hung bạo câu từ để gây ra các cuộc chiến ở diễn đàn Phật pháp. Xin ngài Viên Quang cho ý kiến giùm !

Trích dẫn Gửi bởi Trí Từ 
Hôm qua nãn lòng quá nên quên chia sẽ với hungmp, nay xin có đôi lời…

Hungmp có lẻ chưa hiểu cái từ Cột Tâm mà Trí Từ nói, Cột Tâm ở đây nghĩa là không cho tâm dao động, có phải ngày nào, phút nào tâm ta cũng không nghĩ cái này thì cái khác không ? Và có phải cái lo nhiều hơn cái an hay không ? Cho nên lúc nhớ nghĩ về chuyện làm mất sự an lạc bình tỉnh thì pháp môn niệm Phật là con đường trợ duyên nhanh và ngay tức thì tốt nhất.

Viêc hungmp cho rằng đó là lãng phí vì lo rằng không tin sẽ không về được cực lạc thì theo Trí Từ hoàn toàn không đúng. Như Trí Từ đã nói nhiều lần, các pháp môn không phải là nhất và không phải bám vào 1 pháp môn đó thôi là về cực lạc. Trên con đường về xứ Phật phải được vô số duyên lành mới về được chứ đâu phải chỉ duy nhất 1 pháp môn nào đó thôi đâu.

Thiết nghĩ niệm Phật cầu vãng sanh thì rõ ràng là tham, vì chỉ ngồi 1 chổ niệm niệm mà không làm gì khác thì có phải là tham hay không ? Tham ở đây như muốn làm ít được nhiều vậy. Mà hỏi thiệt các vị chỉ tin chắc vào “niệm Phật được vãng sanh” lúc thân hoại mạng chung có gì chắc là Phật rước hay không ? Nếu tin chắc vậy thì nhân quả nghiệp báo đi đâu hết rồi ? Phật thiên vị vậy sao, chỉ giúp người niệm danh hiệu Phật là về, người khác làm bao chuyện lành mà không niệm Phật thì Phật không cho về xứ Phật hay sao ?

Xin nhắc cho rằng, đọc bài chia sẽ của Trí Từ xin đọc rõ, không hiểu xin hỏi đừng vì chưa hiểu hoặc trái ý mình là nỗi cơn, nỗi gió lên. Trí Từ có bao giờ chê pháp môn niệm Phật chưa, chính Trí Từ cũng sử dụng đó thôi nhưng sử dụng ở mức độ hoàn cảnh nào cũng đã nói rồi đó.

Chia sẽ ngắn gọn vậy nha hungmp !

* Trí Từ học Phật và mong cầu về với Phật
* Trí Từ học Phật và mong về quê hương của Phật
* Trí Từ học Phật và mong về cảnh Phật
* Trí Từ học Phật và mong về Niết Bàn cùng ngự với Chư Phật
* Trí Từ học Phật và mong về cõi cực lạc của chư Phật
* Trí Từ học Phật và mong về coi an nhiên tự tại của Phật
* Trí Từ học Phật và mong về nhà của Phật
* Trí Từ học Phật và mong về thế giới của Phật
* Trí Từ học Phật và mong về đất nước của Phật


Tất cả tô đậm trên là xứ Phật mà Trí Từ nói.

Chúc đạo hữu khi niệm Phật được ngay an lạc !

càng nói thì càng sai. đúng ra là chẳng hiểu gì về Phật, chẳng hiểu gì về Pháp cả. tôi không ghét gì Trí Từ cả, mà chính là người theo Đạo Phật phải hiểu cho đúng về thế nào là Phật, Pháp , Tăng.
Phật mà lại có xứ sở sao? đúng là không thể nói được vì bạn rất mơ hồ về đạo Phật. Nếu nói có xứ Phật như bạn, và muốn thành Phật như bạn nghĩ. Thì không những chỉ niệm Phật , Tham thiền thôi ngoài ra đừng làm gì khác, thế pháp cũng chẳng làm , Phật pháp cũng chẳng làm, như thế là đã đầy đủ không thiếu gì nữa cả, phước đức , công đức …. không thiếu gì hết. chỉ vì bạn tiếp cận với giáo Pháp quá ít, lại không có tin ai và cũng chẳng có ai để hướng dẫn. chỉ được cái phát nguyện cố gắng làm những việc gọi là ” Thiện hạnh”. nhưng nếu không hiểu gì thì nhiều khi giữa thiện với không thiện không phân tỏ được thì thành ra làm thiện mà chiêu ác quả. đừng có nói việc làm mới chịu nhân quả mà chính không hiểu Phật Pháp mà nói vu vơ sai trái thì tội còn lớn hơn nhiều, nhất là người đã phát tâm theo đạo Phật, đã quy y, đã xuất gia vào chùa…
tôi nói thật là bạn không nên đưa những vấn đề mà bạn cho là đã thông hiểu theo ý riêng ra đối chất mà tìm trong diễn đàn người nào thấy hợp mà uyên thâm Phật Pháp thì hỏi họ lại từ đầu, nên học như thế nào, cần gì thì cứ hỏi chân thành. ở đây không ai chê cười ai cả. nhưng không thể nói chiều lòng nhau cho mát mặt mà dẫn nhau đến chỗ đường cùng được . tin thì tin không tin thì thôi. đừng tự ái mà sanh bệnh phải vào viện là khổ. có thể tham khảo ở đây:http://rongmotamhon.net/mainpage/doc…-online-2.html

Ban Đại Biểu nhiệm kỳ III (2015-2016)

Phòng Chát Linh Tinh, lại dùng từ bạn, lại dùng kiểu nói thân thương. . Cứ tiếp tục móc tôi và soi mói tôi đi.

Mà nhắc nè: Sau khi viết bài tôi muốn xuống làm Thành Viên thì ông có vẻ vui hơn nhiều nhỉ, không dùng câu từ nặng nề phê phán lên án hoặc vu khống nữa nhỉ.

Từ nay về sau bài viết của ông thích xen vào tôi thì tôi sẽ xử lý thế này nè:
1. Dùng từ lăng mạ, vu khống => Tôi báo lên cho Người Quản Lý
2. Dùng từ hiên hoà, ra vẻ ân cần (đọc vài câu đầu) => Kéo thanh trượt xuống thật nhanh.
3. Lời nói của ông không có giá trị trong tôi dù tốt hay xấu. Vì xấu thì miễn bàn rồi, còn tốt thì chỉ tốt hôm nay còn ngày mai thì 100% la làng, lăng mạ và có thể tiếp tục vu khống.

Tôi áp dụng 3 quy tắc đó với ông đấy cho nên chớ có nhọc công mà lừa tôi lần nữa.
Tôi vẫn tôn trọng ý của Ngài Viên Quang, nhưng sự từ bi đó tôi chưa học được đối với ông. Thiệt ngại quá nhé !

muathularung 

Bài ta viết không cần ông đọc đến nửa câu, nhưng tại vì ông đọc thì tự mình hiểu lấy. cái quan trọng là nhờ có ông mà nhiều người được đọc. vì cám ơn ông một điều là không có ông làm nhân thì người khác không thể hiểu và lại rơi vào tình trạng của ông. chính vì nhiều người có tâm học đạo mà tôi và nhiều người, trong đó có cả ông mới vào đây. mỗi người làm theo khả năng của mình, sao cho lời của chư Phật được hiện hành nơi nơi, mọi người đều thấu hiểu mà trút bỏ cái khổ đau nhân thế mà tìm đến an vui hỷ lạc nơi cõi ta bà. Ông có công lớn là đưa ra những điều còn mơ hồ về đạo Phật , để mọi người nơi diễn đàn chỉ rõ cái mơ hồ đó cho ông và nhiều người chưa từng tiếp cận với giáo Pháp của đức Phật, để tránh lãng phí thời gian , tâm lực mà đi thẳng vào giáo pháp. đời người ngắn ngủi, chắc gì có kiếp sau làm người tiếp…
chỉ có người như ông mới đưa ra 3 điều trên. Tôi không cần biết ông khinh hay chê, tôi làm là việc của tôi, theo cách của tôi. có thể 10 năm ông không nghe tôi hoặc bất cứ ai. mà không phải chỉ có thế. mà thế gian , lời của Phật cũng ít người tin và hiểu đúng lắm. ngay cả ông cũng đâu có tin và hiểu lời Phật. đừng cố chấp mà càng nói ra thì càng sai. có thể có người nói tôi mới là người chấp.
vì sao? vì đáng ra là lời tôi nói không dành cho ông, vì ông không thực sự hiểu được điều này. nhưng rất nhiều người cần và hiểu, và hiểu rất sâu sắc hơn ông nhiều. cho nên đừng nghĩ tôi nói vì ông.
Cái chuyện ông làm ban đại biểu hay là cái quái quỉ gì trên đời đâu có mắc mớ gì đến tôi. tôi nói là vì diễn đàn, là vì lòng tin của mọi thành viên.
Tôi hỏi ông: thiếu học, thiếu kinh nghiệm, lại đầy lòng tự ái , đố kỵ…. liệu có thể làm đại biểu hội đồng nhân dân được không? lời ông nói có ai tin ông không? họ có tin vào cái tập thể đưa một người không xứng tầm vào cương vị lãnh đạo?
Điều này là ảnh hưởng đến những người vào diễn đàn tu học. người chưa hiểu thì không sao, nhưng ngưởi hiểu biết thì lại khác. cụ thể ở đây đã có nhiều vị rất tuyệt vời mà đành lặng lẽ có thể đã gần như rút lui, cũng tại vì có một số như ông vậy. điều này làm thiệt thòi cho những người mới vào học.
Tất cả đều là đang học cả, chỉ hơi khác biệt là ngươì hiểu nhiều người hiểu ít. người thì không chịu hiểu.
Tôi đã nói với ông ; hiện nay có bác VODANHLADANH có thể hướng dẫn ông vào đạo được. nhưng xem ra cũng hơi khó. vì ông không ném hết cái hiểu bấy lâu nay ra ngoài bụng ông, cũng giống như nước đã tràn ly thì sao có thể rót vào được nữa….
Từ nay đừng có lý luận đọc hay không đọc nữa nhé. ông cấm tôi viết mà tôi cứ viết , nhưng cấm không được đọc hi hi hi…..

Dùng lời ma nói pháp Phật

Trích dẫn Gửi bởi Trí Từ Xem bài viết
Trí Từ thích cách suy nghĩ này theo chiều hướng tích cực nhé.

Hiện nay rất nhiều vị tu theo kiểu số đông, cứ số đông theo thì cho là đúng hoặc cứ thấy rằng truyền tai nhau lời dạy gì đó hay hay rồi cho là Phật dạy là chạy theo ngay mà ít khi suy xét ở nhiều góc độ xem liệu điều đó là ổn chưa.

Hoặc có người lại bảo học mà cứ nghi này nghi nọ thì thuộc vào Nghi, cần xoá bỏ…???

Trí Từ học Phật bao năm qua lấy ý trên là chính để tự sàng lọc những gì mình nghe, thấy xem coi có đúng được sự an lạc lâu dài mà Phật dạy hay không !!! Cho nên các vị viết bài mà so với cái Trí Từ biết là khác lạ thì Trí Từ thường hay hỏi lại là vậy đó, thế mà lại bị người cho rằng phạm vào điều tối kỵ là Nghi Pháp, Nghi Tăng… 

Chỉ vì chúng sinh ngu muội, sợ nói có thì chấp vào có , sợ nói không thì chấp vào không. nên Phật thuyết đến đâu thì phủ định đến đó. Kinh có nói rằng : Pháp , phi pháp, phi phi pháp….
Nói tin là:
Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng…
Nói nghi là : phàm là lời nói đều không có nghĩa thật.
Cho nên Phật mới nói đừng vội tin lời Phật. nhưng kẻ phàm phu không hiểu nghĩa này mà chấp vào nên mới phủ nhận lời Phật. Phật nói tin hay không tin là lìa hai bên…( Phật thuyết 49 năm mà chưa từng nói một chữ )…
Ôi lời chân ngữ đã bao đời mà vẫn bị bọn tà ma ngu xuẩn ăn tục nói phét, lấy ăn chay , tụng niệm .. làm thời khóa mà cứ nghĩ mình là chân tu làm theo lời Phật dạy, khá thương thay…
Hôm nay ngày cuối chạp , phá giới , uống rượu, dùng lời ma nói pháp Phật. ai uống rượu phá giới thì vào chơi cho vui hề hề Ma Ma Ma Ma…..

vienquang6 Đang Ngoại tuyến

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn – Quyền Adminvienquang6 is on a distinguished roadvienquang6's Avatar

* Những điều này là PHI PHÁP.


* Ăn chay, niệm Phật, ngồi thiền, tụng kinh v.v… mới làCHÁNH PHÁP


Kinh dạy: “Pháp thượng ưng xả, hà huống phi pháp.”Nghĩa là Chánh pháp còn phải bỏ hà huống Phi pháp. Sao nay có kẻ lại chấp Phi Pháp mà bỏ Chánh Pháp. Buồn thay ! Hu hu Quái Quái Quái Quái… 

muathularung 

Chén xuân

Trích dẫn Gửi bởi vienquang6 Xem bài viết
* Những điều này là PHI PHÁP.

* Ăn chay, niệm Phật, ngồi thiền, tụng kinh v.v… mới làCHÁNH PHÁP

Kinh dạy: “Pháp thượng ưng xả, hà huống phi pháp.”Nghĩa là Chánh pháp còn phải bỏ hà huống Phi pháp. Sao nay có kẻ lại chấp Phi Pháp mà bỏ Chánh Pháp. Buồn thay ! Hu hu Quái Quái Quái Quái…

Môi vừa chạm chén đã ngà say..
“Sắc tức thị không ….” thật tướng đây
“ Ai nói Như Lai có thuyết pháp…”
Một mảng bè trôi cứu người say..
Có pháp, không pháp , không không pháp…
Trọn nghĩa ba câu ôm tháng ngày
Người huyễn , thuốc huyễn , thầy đại huyễn
Độ Quỉ cứu Ma cũng thuốc này
Xuân sang tết đến, chung một chén
Quái tận Ma tiêu thật tướng bày
Hichichic… 

vienquang6 Đang Ngoại tuyến

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn – Quyền Adminvienquang6 is on a distinguished roadvienquang6's Avatar

   
Trích dẫn Gửi bở iMuathularung
Môi vừa chạm chén đã ngà say..
“Sắc tức thị không ….” thật tướng đây
“ Ai nói Như Lai có thuyết pháp…”
Một mảng bè trôi cứu người say..
Có pháp, không pháp , không không pháp…
Trọn nghĩa ba câu ôm tháng ngày
Người huyễn , thuốc huyễn , thầy đại huyễn
Độ Quỉ cứu Ma cũng thuốc này
Xuân sang tết đến, chung một chén
Quái tận Ma tiêu thật tướng bày
Hichichic…

Như ảnh trong gương tỉnh hay say
Mèo cùng với cọp chẳng khác loài.
Ai nói Như Lai không thuyết pháp
Ba tàng kinh điển cứu người say.
Sắc chẳng khác không, không chẳng sắc.
Thị tức là phi vẫn tướng này.
Tướng như, dụng như, thể cũng như.
Phàm thánh hàm linh một thể NHƯ.
Đêm cùng tháng tận chung một chén,
Chẳng thêm, chẳng bớt, ấy chân Như…

vodanhladanh

 Gửi bởi muathularung 

Chỉ vì chúng sinh ngu muội, sợ nói có thì chấp vào có , sợ nói không thì chấp vào không. nên Phật thuyết đến đâu thì phủ định đến đó. Kinh có nói rằng : Pháp , phi pháp, phi phi pháp….
Nói tin là:
Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng…
Nói nghi là : phàm là lời nói đều không có nghĩa thật.
Cho nên Phật mới nói đừng vội tin lời Phật. nhưng kẻ phàm phu không hiểu nghĩa này mà chấp vào nên mới phủ nhận lời Phật. Phật nói tin hay không tin là lìa hai bên…( Phật thuyết 49 năm mà chưa từng nói một chữ )…
Ôi lời chân ngữ đã bao đời mà vẫn bị bọn tà ma ngu xuẩn ăn tục nói phét, lấy ăn chay , tụng niệm .. làm thời khóa mà cứ nghĩ mình là chân tu làm theo lời Phật dạy, khá thương thay…
Hôm nay ngày cuối chạp , phá giới , uống rượu, dùng lời ma nói pháp Phật. ai uống rượu phá giới thì vào chơi cho vui hề hề Ma Ma Ma Ma…..

Bạn ơi! Ý Phật đơn giản lắm, ko cao xa như bạn nghĩ đâu.
Do bạn nghĩ Phật nói cho người nghe pháp nên bạn kiến giải sâu xa.
Trong 40 mươi năm thuyết pháp ta chưa nói lời nào.
Lời này! Phật dành cho người nói pháp nghe.
Do Phật từ bi nên nói rất nhẹ nhàng, bởi người hiểu pháp thì chỉ cần thấy bóng roi là đủ.
Nếu cứng rắn hơn thì có thể phát biểu như thế này: Này! Các ngươi phải tự chịu trách nhiệm về lời nói của mình đấy nhé. Chớ có mang mê lầm chấp kiến của mình mà nói rằng Phật dạy thế này thế nọ, dù các ngươi có trích dẩn nguyên văn lời ta thì các ngươi cũng phải tự chịu trách nhiệm về sự kiến giải của mình. Sự mê lầm của các ngươi ko liên quan gì đến ta. 
Khi Đức Phật còn tại thế, cái lo lớn nhất của Phật là lo chúng sinh hiểu sai về lời dạy của Ngài, và nói rằng Phật đã dạy như thế.
Lí do Ngài đến với cõi Ta bà này ko phải để phát minh ra đạo, hay mang đạo đến cho chúng sinh, Ngài đến để chúng sinh hiểu lại Đạo theo đúng nghĩa của nó. Kiến thức về đạo đã có từ rất lâu trước khi Đức Phật ra đời, và tràn lan khắp nơi, nhưng hổn loạn đầy chấp kiến. Ngài đến để dẹp đi sự hổn loạn và chấp kiến, để người tu thấy rõ con đường của mình.
Khi Ngài cầm nắm lá trên tay mà hỏi rằng, lá trên tay ta nhiều hay lá trong rừng nhiều, thì có người đã vội nghĩ rằng Ngài khoe kiến thức của Ngài nhiều.
Hãy xem tiếp đoạn sau để hiểu rằng: kiến thức của Ngài nhiều như lá trên rừng nhưng Ngài chỉ giảng dạy như lá trên bàn tay, vì Ngài chỉ dạy những điều chúng sinh có thể nghe, có thể biết, có thể làm, và những việc là thiết thực mang lại lợi ích cho chúng sinh, Ngài ko dạy cho chúng sinh những kiến thức ko mang lại lợi ích cho chúng sinh.
Ở chiều ngược lại ta cũng có thể hiều rằng, Ngài khuyên chúng ta hãy: học, bàn luận và hành những điều thực sự có ích, chớ phí thời giờ vào những chuyện vô bổ.
Ngay lúc còn tại thế, Ngài đã biết rằng đạo Phật sẽ suy ko phải do thiếu người theo đạo, mà suy vì có nhiều người hiểu sai vể đạo.
Vì thế tôi cũng đồng cảm với những đồng đạo có lòng hướng Phật, sợ đạo Phật suy vi nên nhiệt thành trong việc loại bỏ tà kiến, suốt ngày săn tìm Ngoại đạo, tà pháp. Tuy nhiên các bạn cũng đừng soi kính chiếu yêu mà thấy hể ai mặt xanh nanh dài là rút thần kiếm ra trảm. 
Hy vọng các đồng đạo lấy lòng từ bi khi xem xét ý kiến của tôi.
Nếu có gì sai, hãy vì tôi mà nó. Chớ vì bất đồng mà nói, chớ vì đồng mà nói. Lời chân thành tôi luôn lắng nghe, luôn luôn học hỏi.

Cái gương là đầy tớ của con mèo, nó cho con mèo thấy cái con mèo thích.
Nếu chúng ta mê mờ thì trí óc là đầy tớ của vô minh, trí óc là đầy tớ của cái tôi lăn xăng.
Nếu chúng ta mê mờ, trí óc (lý lẽ) sẽ dẩn ta tới điều mà cái tôi vô minh thích, dù lí lẽ có cao siêu đến đâu cũng ko thoát khỏi cái tôi vô minh hẹp hòi đầy chấp ngã. Dù có trích dẩn bao nhiêu kinh điển thì cái thấy cũng chỉ gói gọn trong cái chấp kiến mà thôi.
Vì vậy kiến thức là điều kiện cần chứ ko đủ.
Chúng ta dù có đọc bao nhêu lần: phá chấp, phá chấp, phá chấp….cũng ko ăn thua.
Chúng ta có dẩn ra bao nhiêu kinh điển về phá chấp cũng ko ăn thua.
Chúng ta dù có đọc bao nhêu lần: diệt ngã mạn, diệ ngã mạn, diệt ngã mạn….cũng ko ăn thua.
Chúng ta có dẩn ra bao nhiêu kinh điển về diệt ngã mạn cũng ko ăn thua.
……..
……..
Cái chúng ta khởi đầu phải là cái ”tầm thường” gọi nôm na là ” ăn chay, niệm phật”, trì giới. Khi chúng ta bớt suy nghĩ bằng bụng mới có thể tìm ý nghĩa trong kinh sách.
Khi xem mười bức tranh vẽ trâu, tôi thấy mình đang tìm trâu, giờ muốn tìm dấu. Tìm kiếm những kinh nghiệm của giai đoạn 2 này, nhưng sao mà khó, rất ít gặp những đồng đạo quan tâm giai đoạn này. Sao thấy thõng tay vào chợ nhiều thế, ko thõng tay vào chợ cũng đã dắt trâu về nhà.
Thế mà có người giảng giải cho tôi rằng:
Thấy được tính mình là thiền.
Dạy được mình là sư.
Thiền sư là người thấy được tính mình, và dạy được cho chính mình. Theo ý nghĩa này thì tương đượng giai đoạn 3 (thấy trâu) và giai đoạn 5 (chăn trâu).
Vậy ai đạt đến giai đoạn 5 (chăn trâu) thì đã gọi là thiền sư.
Thấy đồng đạo nói về ”thõng tay vào chợ” nhiều quá mà ”thấy dấu” thật hiếm hoi.
Thấy bàn việc cao xa mà khi dể cái gọi là ”ăn chay niệm phật”, mà xem kinh sách thấy mấy vị thiền sư cũng đâu lơ là cái việc ‘tầm thường” của người mơi tu này.
Kính!

   

 Ảnh đính kèm 

muathularung 

Chào VODANHLADANH

Buông xuống đi; người hạnh chánh đạo chỉ một chân ngữ. nói Rồng, Rắn chỉ là vẽ móng thêm chân cho kẻ phàm tục. nói chân ngữ là ngay cả lời nói cũng không có chỗ để đặt.
Đừng gắn cho cái mác là Tăng thượng mạn. vì đúng pháp hay nói chính xác là vì không còn cách nào để diễn tả. đây cũng là dụng của “PHẬT TÍNH” mà diễn bày nghĩa thế gian.
Còn chấp vào một hạt vi trần thì còn dính mắc. Nghĩa không của các Pháp không phải là không. không mà chẳng không, chẳng không mà chẳng phải chẳng không.
Nói tóm lại còn có ngôn ngữ là không thật. cho nên chúng ta càng nói thì càng rơi vào ngôn từ , lý luận mà đưa đến đúng thành sai, sai thành đại sai.
nói riêng với bạn :
bạn là ai ở diễn đàn này thì mọi người có thể không biết. nhưng với tôi, nói bốc phét một tý. dù có thay tên đổi họ , chuyển nhà bán đất , cất mộ xây lăng, dời sao đổi vật với bạn chỉ là trò thổi bóng bay cho bọn trẻ.
Đời chẳng ai chịu ai cả. nhưng nếu hiểu và chịu qui luật Vô thường , Khổ , Không , vô Ngã, thì thấy được mình là cái gì.
Nếu ai hiểu câu này thật tuyệt đối: ” người nào nói Như Lai có thuyết Pháp người đó phỉ báng Phật”. Cái quí trọng nhất , uyên bác nhất , từ bi nhất chính là câu này.
Thôi cuối năm cầu cho tất cả an vui, sống đời vốn có .như gió, mây trên trời cao lồng lộng, với bốn biển năm châu, hay tận cùng pháp giới mà thực hành cái hạnh có mà chẳng phải có , Không mà chẳng phải không, chẳng không mà chẳng phải chẳng không..
” chúng sanh, phi chúng sanh, thị danh chúng sanh
Bô tát , phi bồ tát , thị danh bồ tát.” tất cả đều trọn nghĩa ba câu mà hạnh hạnh “Phật”.
nói một câu rằng: trong giáo hội Phật giáo Việt Nam có ai là người đạt đạo vượt qua sanh tử , chứng tam minh lục thông chăng? hay những từ như thâu thần thị tịch nhập niết bàn khi qua đời chỉ là dối mình, lừa chúng của những kẻ bám vào ngã , pháp mà làm tổn hại cho người nằm xuống…
Tôi tin chắc rằng người tu đạo , đạt được thánh quả thì vượt qua sống chết, khổ đau không tồn tại. cái tri giác cảm thọ đau đớn trên thân thể cũng không còn. nhưng tại sao chư Phật vẫn nói cái tri giác cảm thọ trên thân vẫn còn ..
Cái này là câu hỏi lớn cho người tu đạo.
.( dẫn chứng tiền thân của đức Phật để cho vua gì đó chặt tay, chân,., mà vẫn không có cảm giác đau đớn.)
hãy tự mình thực hành và kiểm chứng và công nhận lời chư Phật mới chân thật.
Nay lấy thuộc kinh, giải nghĩa, luận đàm đúng sai, thậm chí lấy ” giới luật ” ra để trói buộc người hành đạo, mà chưa thực sự hiểu Đạo là gì?
Đây là nhắn riêng với VODANHLADANH:

Bửu Tạng Luận – Thứ Nhất
BỬU TẠNG LUẬN Của Ngài TĂNG TRIỆU PHẨM QUẢNG CHIẾU KHÔNG HỮU THỨ NHẤT “KHÔNG” nếu làm “KHÔNG” được thì chẳng phải chơn không, “SẮC” nếu làm “SẮC” được thì chẳng phải chơn sắc; Chơn sắc vô tướng, chơn không vô danh, vô danh là cha của danh, vô tướng là mẹ của tướng, ấy là nguồn gốc của muôn loài, thái tổ của trời đất, trên tỏ rõ đủ thứ hình tượng, dưới bày ra nhà cửa cây cối, nguyên khí (tự tánh) hàm nơi đại tượng, đại…
Phẩm Ly Vi Thể Tịnh – Thứ Hai
Phẩm Ly Vi Thể Tịnh – Thứ Hai
Nhập là LY (lìa), xuất là VI (tế). Ngoài LY biết nhập thì ngoại trần chẳng có chỗ dựa, trong VI biết xuất thì vọng tâm chẳng có chỗ tạo tác, trong tâm chẳng tạo tác thì chư kiến (đủ thứ kiến chấp) chẳng thể chướng ngại, ngoại trần chẳng chỗ dựa thì vạn vật chẳng thể trói buộc. Vạn vật chẳng thể trói thì tưởng niệm chẳng đuổi theo cảnh, chư kiến chẳng chướng ngại thì tịch diệt bất tư nghì. Sao gọi là THỂ TỊNH? Vì bản thể tự LY VI vậy. Nói…
Phẩm Bản Tế Hư Huyền – Thứ Ba
Phẩm Bản Tế Hư Huyền – Thứ Ba
(Bản thể của tự tánh vốn trống rỗng nhiệm mầu, nên gọi BẢN TẾ HƯ HUYỀN) Nói BẢN TẾ tức là cái tánh Niết bàn vô ngại của tất cả chúng sanh. Sao bỗng có vọng tâm và đủ thứ điên đảo như thế này? Chỉ vì một niệm mê hoặc, niệm mê này từ “Một” sanh khởi, “Một” từ bất tư nghì sanh khởi, nói bất tư nghì tức là chẳng có chỗ khởi. Nên Kinh nói: “Sự bắt đầu của đạo là sanh ra một”. “Một” là vô vi, từ một sanh ra hai, “Hai” là vọng tâm,…
ĐỪNG DÙNG KINH LUẬN MÀ DÙNG CÁI BIẾT CỦA CHÍNH MÌNH. ai đọc kinh, luật luận ..đến khi nào mà không thích đọc nữa, chỉ thích tự mình nói ra sự thật mới là người học đạo và hành đạo chân thật..
ôi nói nhiều thành kẻ phỉ báng…

có ai vui vẻ chúc một chén cuối năm ?

Gửi bởi Kim
Tú
 

Một người, đi ngang qua
mảnh vườn thấy một người đang nhổ cỏ, hỏi:


_ Anh đang làm gì đó? 
_ Nhổ cỏ.
_ …để làm gì ?
_ …trồng cỏ.
_ … ?!?!? …

Ôi ! chúng sinh buông cái
này để nắm cái kia, Mê là vậy.


phamvandung57: 
Nhổ cỏ rồi trồng cỏ

ấy là kẻ ngu si
Người ta đang nhổ cỏ
Có dính dáng đến gì
Người đi đường mà hỏi?
Đi đường cứ việc đi
Nhổ cỏ cứ nhổ cỏ 
Việc chi phải trả lời
Cớ chi mà phải hỏi?
Phật là ” không biết nói “
Cũng “chẳng có người làm “
Làm mà như không làm
Nói mà như không nói
Im lặng là người nói
Tâm không ấy người làm
Phật cũng chẳng phải không

Không cũng không không Phật 
Gửi bởi phattam:


phamvandung57: 
Trước chẳng phải là có

Sau cũng chẳng phải không
Chỉ vì nghĩ trước có
Nên sau mới thành không
Nếu tâm như hư không
Chất chứa đầy vạn hữu
Có mà như không có
Vì vốn không sở hữu 
Nên ấy gọi là không

phamvandung57:
 “Lướt nhìn thế sự lung tung,

cuộc cờ xanh đỏ, ta cùng đỏ xanh.”*
Bồ tát là
độ “chúng sinh”
” Chúng mình ” chưa độ – vô minh chắc là
Nếu còn diễn giải Phật Đà
Bằng lời hí luận ắt là vô minh
Chi bằng dứt giải , viễn minh ( tri thức)
Làm người vô sự chẳng mình chẳng ta
Trong ngoài rỗng suốt bao la
Chúng sinh -Tâm – Phật – gọi là cho vui..

*Chữ ký của NguyễnVăn Học tức Vô Học )

Gửi bởi Kim Tú:
Đạo là “KHÔNG”, mà nắm lấy cái “KHÔNG” thì
chẳng phải Đạo……. 

……..”KHÔNG” chẳng mang ý nghĩa gì cả mà vượt thoát trên
tất cả. Vượt thoát mà lại bao trùm tất cả, 
Như dục vọng và đức tin, cả hai cái này và nhiều cái khác nửa,
bổng nhiên sinh ra như con sóng biển bổng nhiên sinh ra, một cái khởi
sinh thì muôn ngàn vạn … ào ào ập tới.

Gửi bởi phattam:
Xem ra cũng có bản lãnh đây.
phamvandung57:
 Một thầy vẽ bùa, một thầy phán bùa. không biết
dán bùa vào chỗ nào mới linh đây?

Gửi bởi phattam:

Chỉ vì lá bùa dán quá cao,

Giữ cửa vẫn bị ma quỷ vào.
Hãy tìm chỗ nào vừa tâm mắt.
Thần linh lẽ nào quay mặt sao…

phamvandung57:
Phải chăng không mắt ấy ” Mắt Tâm “

Đem dán vào nơi – chốn lặng câm
Bắt Vua cùng với sáu tên giặc
Đứng cửa canh chừng chốn tùng lâm

vienquang6 Đang Ngoại tuyến

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn – Quyền Adminvienquang6 is on a distinguished roadvienquang6's Avatar


Trước xin lỗi – sau đành chịu lỗi
Thiên đường buồn – địa ngục có vui !
Trần gian ơi ! Xin đừng đóng cửa.
Chờ anh về – dù muộn chưa nguôi…
( ???) 
phamvandung57:
Đời là thế, thế thời biết thế

Lá mùa Thu ai nói gốc mùa Thu !
Phía trần gian ai đó nói ngục – Tù ?
Thiên đường hỡi ! chỉ mùa thu lá rụng
Anh vốn ở trong em !
Cớ chi lại hoài niệm
Chuyện thủa xưa, ngày xửa rất xa xưa…

phamvandung57:
Đời ! rách – lành – đen – bạc vá vá may may

Kiếp ! tử – sinh – nhục – vinh bôi bôi vẽ vẽ
Kính Ngài thêm Thiện Nghĩ

vienquang6 Đang Ngoại tuyến

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn – Quyền Adminvienquang6 is on a distinguished roadvienquang6's Avatar

Phương ! Tử, phủ, vũ, tướng – đoán đoán xem xem.
Hướng ! Sát, phá, liêm, tham – tuần tuần, triệt triệt.

Bạn ra câu đối khó quá. V/Q đành mượn tạm cái này vậy !

  

 

   
   
   
   
   
   
   


   


    

   
   


   

Hỏi Về Đạo Phật ( Đối thoại bên Diễn đàn Phatphaponline )

phamvandung57 :

một người quen nhờ tôi gửi lên diễn đàn một câu hỏi:
tại sao mọi người hay nói đạo Phật là đạo giải thoát, như thế nào là giải thoát, giải thoát cái gì, bằng cách nào để giải thoát , HIỆN TẠI CÓ AI LÀ NGƯỜI ĐƯỢC GIẢI THOÁT THỰC SỰ?
kính mong mọi người giúp làm sáng tỏ vấn đề người quen của của tôi nhờ, xin chân thành cám ơn

Chỉ Chờ Chết 

Vài Dòng Giao Cảm 

Một câu hỏi mà sanh trăm sự !
Một ý chung nên tự vấn mình !
Lục hòa trong vạn chúng sinh
Nhìn trong ba cõi vô minh trùng trùng

Mong tất cả hảy cùng suy nghĩ
Giáo pháp nào tôn chỉ nhứt Tâm ?
Đạo từ không dạy sai lầm
Trót làm hành giả tri tầm lý chơn

Cung đại oán tiếng đờn nhân nghĩa
Sống trên đời trao tỉa lời hoa
Văn hay thu phục người ta
Thấp cao như gió thoảng qua vườn lòng …

Kính tặng Quý ĐH trong DĐPP Online
Chỉ Chờ Chết 
23/06/2013:

phamvandung57: 

Người chờ chết thì chẳng bao giờ chết
Người muốn sinh lại chẳng bao giờ sinh
Vô tình cùng với hữu tình
Ai sinh ai tử…( bí quá rồi )
đến đây thì bí quá rồi không biết làm sao cả. có ai thêm một vài chữ cho trọn câu đi.

vovi 

Người chờ chết thì chẳng bao giờ chết
Người muốn sinh lại chẳng bao giờ sinh
Vô tình cùng với hữu tình
Ai sinh ai tử tình hình là rất gay go

Người chờ chết thì chẳng bao giờ chết
Người muốn sinh lại chẳng bao giờ sinh
Vô tình cùng với hữu tình
Ai sinh ai tử tâm mình tạo ra

Người chờ chết thì chẳng bao giờ chết
Người muốn sinh lại chẳng bao giờ sinh
Vô tình cùng với hữu tình
Ai sinh ai tử làm thinh sao đành

Thích nghe êm tai
Bỏ lời thẳng thắn
Giải thoát ở đâu?
Sinh tử kề đầu!

mời ĐH phamvandung57 tiếp tục
Lâu lâu mới gặp được người thẳng thắn không câu lệ giải thoát khỏi mớ bòng bong (Sợ và Sợ…)

Chỉ Chờ Chết 

Sinh Tử Vô Thường







Người muốn chết thì chưa được chết
Người muốn sinh chưa biết ngày nào?
Tử sinh trong cõi trần lao
Bất thường chờ đón cửa vào vô minh

Người chờ chết chẳng bao giờ chết
Người muốn sinh lại chẳng được sinh
Vô tình cùng với hữu tình
Ai sinh ai tử…an bình đến đi

Chỉ Chờ Chết
24/06/2013

   
   Chỉ Chờ Chết 

Kính chào ĐH phamvandung57 !

Chỉ Chờ Chết xin trả lời câu hỏi của bạn ĐH nhờ gửi lên Diễn đàn . Tại sao người ta hay nói Đạo Phật là đạo giải thoát vì có giải thoát mới có sinh tử luân hồi . Giải thoát cái mạng cặn bã của xã hôi bằng cách tuyệt thực buông bỏ cái xác thân cấu uế .Hiện tại có ĐH được giải thoát thật sự ra khỏi thế gian để trở về đây với cái mạng trược mang Tâm ma vô thức vô trí để cống cao ngã mạn đối đáp với những người cùng tu bằng lối viết văn phàm phu tục tử chẳng khác nào dân chợ búa nên bị Tà pháp mê hoặc làm sao biết Chánh pháp mà bàn luận .
Học Phật pháp phải biết nhân quả, nhân nào quả nấy, ai tạo nấy chịu. Lục Tổ trong Kinh Pháp Bảo Đàn nói:”Thường tự thấy lỗi mình, chớ nên thấy lỗi người.” chánh pháp phải phá ngã chấp, cứ thấy lỗi của người khác tức còn ngã chấp.
Những người tham thiền cần lo cho mình được mau kiến tánh, không cần biết tới lỗi của người khác, ấy là ý của chư Tổ dạy như thế. Hễ giữ được nghi tình, tự nhiên không thấy lỗi của người khác. Hãy lấy thân mình làm mô phạm cho người khác noi theo. Khỏi cần nói, cứ làm cho đúng, vì có nói cũng vô ích, người ta có chịu nghe đâu ! Mặc dù mình không nói, nhưng người khác nhìn thấy cũng biết. Phải thường thấy lỗi của mình, chẳng thấy lỗi người khác là được. 

phamvandung57 

Nếu còn biết xấu hổ thì phải cày cuốc lấy mà ăn, sống giữa đời ô trược đạp lên dục vọng mà được giải thoát, cưỡi trên ngọn sóng bon chen mà thể hiện lòng mình buông xả, chịu trăm đắng nghìn cay mà nở nụ cười bao dung nhân ái mới được gọi là bậc trượng phu đại giải thoát . nay ngồi một chỗ hưởng của đàn na tín thí, nói lời ma mị, bịt mắt người mê muội lại lớn tiếng làm cao nhân. chẳng biết hạt gạo của đan na lớn hơn núi TU DI , đời này không làm nổi cái nguyện thoát sinh liễu tử thì còn gọi là đại quả báo vậy. đến đây chấm dứt mọi trò chuyện chỉ tặng vài câu thơ gọi là quà kỷ niệm:
Đại Bàng lượn một vòng thật đẹp , rồi bay thẳng vào mây
Còn chim sẻ đến đâu cũng chỉ líu lo suốt ngày

Thành viên vinh dự

Về Thiền 
Vì trên spl có đề cập về pháp thiền Now And Here , nên xin có ý kiến chung và ngắn gọn về Thiền 
Thưa các Bạn , thiền là gì ?

Là tĩnh lặng tâm ý ….

Có nhiều cách giải thích Thiền 
Nhưng điều quan trọng , thiền là pháp môn phương tiện 
Như vậy , thiền là sự thực hành , thiền không phải là lý thuyết 
Tuy nhiên , trước khi thực hành , chúng ta phải đi đúng lý Phật pháp , thì mới không lạc vào ngoại đạo thiền .Nhưng nếu hiểu lý nhưng không thực hành thì cũng không được gì 

Thí dụ như nói ;”Ai trói buộc bạn mà bạn (đặt vấn đề ) giải thoát ?” Thì câu này chỉ là xiển dương cho chân lý , là không có ai bên ngoài bản thân ta trói buộc .
Sau khi bạn nói như vậy, bạn vẫn chưa được giải thoát , và bạn sẽ không giải thoát lúc cận tử nếu không thực hành tu tập Thiền .Sự tu tập nếu không gay go thì thiền sư Hư Vân đã không cần đi hành cước học Thiền lúc đã tám mươi tư tuổi .Do đó ở đây hý luận vài câu cũng không đi đến đâu ,dễ gây hiểu lầm để rồi xa rời thực tế .Thực hành thì đi từ dễ đến khó .

Tâm bình đẳng không cần trì giới
Hạnh chánh trực đợi há tu thiền 
Ăn thời hiếu dưỡng mẹ cha 
Nghĩa thời kính trên nhường dưới

Lục Tổ dạy điều này , nhưng có ai thực hành được “tâm bình đẳng” thật sự , “hạnh chánh trực ” 
thật sự ,có mấy ai được như lời Tổ , hay chỉ bị dẫn dắt bởi ba độc mà không làm chủ được .Có mấy người biết thật sự kính trên nhường dưới 

Tất cả các pháp 
Đều từ tâm sinh 
Tâm không chỗ sinh
Pháp không chỗ trụ
Nếu đạt tấc lòng 
Chỗ làm không ngại
Không gặp thiện căn 
Cẩn thận chớ nói “

Một thiền sư đã dạy đạo lý như trên, nhưng nếu suốt ngày chúng ta chỉ sinh biết bao nhiêu là tâm nhân , ngã , kiêu mạn , tật đố thì có gọi là người thực hành thiền định không .Học hỏi giáo lý kinh điển cũng là chánh niệm, chánh niệm là một pháp môn trong các pháp môn của Thiền .Do đó chánh niệm là thực hành .

Người có lòng tin mà không hiểu giáo lý thì dễ tăng trưởng vô minh mờ ám, người hiểu giáo lý mà không lòng tin thì dễ tăng trưởng tà kiến.Cho nên lòng tin và hiểu biết phải cùng đủ mới làm cội gốc tu hành “(Trích Kinh Niết Bàn )

Kính Chào và chúc các bạn tinh cần .

TRỪNG
HẢI:

Trần thế nan phùng khai khẩu tiếu (Đỗ mục) – Xứ thời phi tác tuyệt tư nghì (trừng hải)

Kính đạo hữu Suongphale,

Từ độ viết bài “Từ bi và Vô thường” (11/08) đến nay đã gần ba tháng bỗng dưng đạo hữu dứt vãng lai diễn đàn không một lời từ biệt như sương không vết tích sau khi mang lại cho đời một thoáng long lanh diễm tuyệt vô ngần lấp lánh ánh minh quang mong manh mà rõ ràng như đường chân trời tuy hữu mà vô, tuy vô mà hữu vì làm tha nhân ngày đêm trông ngóng biền biệt một mùa thu giông bão hơn những mùa thu năm trước, hề hề. Hôm nay tình cờ đọc lại bài viết của đạo hữu, tuy danh vô lai mà ảnh vẫn tràn tinh quang vì dù là sương hay là lưu ly vẫn duy chỉ một biểu tướng điểm trang cho đời những vì tinh tú trên lá, trên cành, trên tay, hay trên…hề hề, nên vội viết vài dòng góp ý cho bài thêm sanh động vì lời kia vốn thiên thu bất tận.

Thiền là gì? Đạo hữu viết “tỉnh lặng tâm ý” quả là không sai, bởi thiền là…THIỀN NA tức Dhyana hay Jhana hay Zen hay Chan…đều mang nghĩa TRẦM TƯ MINH TƯỞNG tức tên gọi thì có hai CHỈ-QUÁN nhưng NHƯ THỊ thì chỉ có một tức NHẤT TÂM nơi chỗ cận định, sơ thiền có TẦM có TỨ tức vẫn còn TÂM nhưng tâm nọ không phải có “ba, bảy đường” mà duy có một là NHẤT TÂM hay NHẤT ĐIỂM TÂM. Thế nhân dù phân loại tức phân chia thiền làm Bắc-Nam nhưng nó chỉ có một tức NHẤT TÂM, là tâm ý tĩnh lặng tức TRẦM TƯ MINH TƯỞNG, là trái tim của Phật giáo, là nơi Phật tử quy hướng Phật Đạo một lòng không hai không loạn dù lời sai khác bắc nam, bi bô thêm một thành hai, thêm hai thành bốn…ngày càng rối loạn tang thương nực cười, hề hề.

Kính đạo hữu Suongphale,
Riêng về việc nói Thiền là pháp môn phương tiện thì Trừng Hải xin được viết lại là “Thiền na là giáo pháp mà Phật Đà phương tiện chỉ dạy” tức phương tiện giáo. Bởi nếu nói pháp môn phương tiện thì e sẽ làm tha nhân ngộ nhận chỗ Thiền là hành vi nên có phương tiện lẫn mục đích thuộc NHỊ NGUYÊN ĐỐI ĐÃI là HÝ LUẬN; mà thật ra Thiền vốn là Bổn Tông nên là pháp Vô Vi (Nam Tông Thượng Tọa Bộ), là Tâm vô biên giới tức Đại Đạo (Bắc Tông)…bởi chúng sanh vốn ở trong khối Vô minh vĩ đại nên nếu chỉ thẳng tự tánh Pháp thì bất tri mà sanh mậu ngộ. Mà Pháp Vô vi hay Đại Đạo thì lại là Vô Ngôn (tức chỗ “Tâm hành xứ diệt-Ngôn ngữ đạo đoạn”…) nên làm gì có lý thuyết. và cũng bởi nhân duyên này nên chỗ mà Phật tử cần dụng tâm tu học phải ở nơi sơ thiền, cận định tức NHẤT TÂM có TẦM, có TỨ.

Riêng về đoạn kệ tám câu:

Tất cả các pháp
Đều từ tâm sanh
Tâm không chỗ sanh
Pháp không chỗ trụ
Nếu đạt tấc lòng
Chỗ làm không ngại
Không gặp thiện căn
Cẩn thận chớ nói.

Thì ở bốn câu đầu Trừng Hải còn am tường chút chút, nhưng bốn câu sau thì thật là khó hiểu vì rất mù mờ mà lại không có nguyên văn lẫn đạo hữu không ghi rõ nguồn trích dẫn nên “tắc đài”, hề hề; Và nếu đạo hữu vẫn còn hứng thú tầm cầu học đạo thì xin hãy “hiện thân” để cùng trao đổi.

Kính, hề hề

Tuấn Tú 

Bốn câu chót, có thể hiểu là:



Gặp tay kiếm khách nên trình kiếm
Chẳng phải nhà thơ chớ hiến thơ.

phamvandung57: 
Nam Mô A Di Đà Phật !

Tôi rất muốn và vinh hạnh nếu được một người như : Hoatihon tham dự và tìm hiểu, khám phá những vấn đề mà tôi đang bất cập đã nêu ra. thiết nghĩ những vấn đề tôi nêu ra cũng không ngoài việc tu hành và thấu hiểu cái diệu nghĩa của Phật – Tổ khi độ chúng sanh. Hy vọng Hoatihon có lời trước hết để rồi từ đó cổ vũ những ai yêu quí Phật – Tổ . 
Với tâm nguyện làm sáng tỏ một phần diệu lý, diệu nghĩa mà đã bao đời học giả, học nhân vẫn chưa lời giải thích..
Tôi kính mong mọi người tham gia và luôn ghi nhớ ân tình này 

Kính
Xin phép được đưa ra một một vấn đề mà mình quan tâm. nhưng chỉ với ý kiến riêng. Cũng vì thế khi mọi người tham gia đều là ý kiến riêng của mỗi người , tuyệt đối không mang tính tranh luận:

+ Tại sao lại xuất hiện một Đức Phật mang danh hiệu Thích Ca Mâu Ni, lại sinh ra trong một gia đình Hoàng Cung quí tộc? 
Tại sao trong Tăng đoàn lại có con trai và em trai Đức Phật
+Đối nghịch với hoàn cảnh Đức Phật , lại có một Lục Tổ Huệ Năng, gia cảnh , sinh thời .. đều trái ngược với Đức Phật. Song ngộ đạo thì không có gì khác biệt. nhưng có khác về phương cách chứng ngộ và phổ độ chúng sinh. còn rất nhiều điều, nhưng dần dần tôi sẽ nêu ra. 
Và câu hỏi muốn được trả lời là tại sao lại như thế mà không thể khác được
Kính mong mọi người tham gia với tấm lòng kính yêu Phật , Tổ

Tôi sẽ rất kính phục người đầu tiên tham gia có ý kiến của mình với chủ đề trên 

Ban Đại Biểu nhiệm kỳ III (2015-2016)

Chào chú Phamvandung57 !
Hoatihon vốn không có ý kiến gì về những vấn đề chú nêu ra, không khéo chúng ta sẽ sa đà vào tri thức mà “quên mất Tâm Bồ Đề” (điều này rất quan trọng).

Về những câu hỏi của chú, Hoatihon chỉ có thể nhắc lại trong Kinh điển có 4 cụm từ :

1. Vương Nguyện, 2. Biệt Nguyện, 3. Tùy duyên chúng sinh, 4. Tùy trí huệ hành.

Đâu chú thử đối chiếu xem, trường hợp nào là “Vương Nguyện” ? Trường hợp nào là “Biệt Nguyện” ? Trường hợp nào là “Tùy duyên chúng sinh” ? Và trường hợp nào là “Tùy Trí huệ hành” ?

Kính !

phamvandung57:

Cám ơn Hoatihon đã ghé vào và có lời. Nhưng ở đây nhãn đầu mùa chỉ đề cập đến mấy vấn đề đã nêu ra, nó không ăn nhập với lời chia sẻ của bạn. Tôi thiết nghĩ những điều tôi nêu ra không phải cho vui , hay có ý xấu gì hết. mà ngược lại nếu thực hành Phật Pháp và lưu tâm thì những ai mà lý giải được những thắc mắc mà nhãn đầu mua đưa ra có lẽ người đó rất thấu hiểu Phật -Tổ. Từ đó sẽ có lòng tin bất thối với Pháp Phật và đem nhiều lợi ích cho mọi người khi bước vào đường đạo. Cũng chính những suy nghĩ ấy mà tôi kính mong những bậc thông suốt, thông qua lịch sử về Phật giáo, làm sáng tỏ diệu lý, diệu nghĩa về nhân duyên của Phật – Tổ ở thế gian này. tôi thiết nghĩ ai cũng có thể dùng hai chữ nhân duyên. Nhưng tôi nghĩ nó còn có ý nghĩa Thâm sâu hơn nhiều mà đó cũng là diệu Pháp huyền vi được biểu hiện bởi nhân duyên theo từng thời gian của qui luật… 

Một lần nữa cám ơn bạn đã tham gia

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn

Chào bạn phamvandung57  !



Qua bài viết trên Vô Học thấy bạn đã có chủ ý khi nêu vấn đề, bạn chờ xem Hoatihon có trả lời đúng ý của bạn hay không ? Nhưng hoatihon đã hỏi lại _ tuy hỏi nhưng ngầm giúp bạn suy tư tiến bộ hơn. Bạn đã không có câu trả lời, vậy là bạn đã bỏ qua cơ hội.


Vậy bạn hãy trình bày chỗ hiểu _ sở đắc _ của bạn, để cho mọi người chiêm ngưỡng.


Vô Học và mọi người đang chờ lắng nghe.

Kính !

 phamvandung57: 

 …

Gỗ mục thì ngấm nước mưa
Trăng nằm đáy nước- cá ưa lên trời
Mây tan – ánh nắng mặt trời..
Ai người Vô Học ?
Ai người hỏi – thưa ?

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn
Bài thơ này tương đối hay, hay ở chữ
“AI ?”, tuy
 nhiên bốn từ “cá
ưa lên trời”
 đã nói lên
tâm hồn “biến động” của
 tác giả, bốn từ này đã làm mất đi “thiền
vị” của bài thơ (giả như
 viết “cá
ưa sông ngòi”
 thì mới
nhất quán với toàn bài thơ).

—————

Vô Học đề nghị bạn Phamvandung57 hãy trình bày chỗ hiểu _
sở đắc _ của bạn, để cho v/h biết sẽ di chuyển chủ đề này đến nơi nào thích hợp
(Nếu bạn không nói lên được “chỗ” chuyên sâu của Phật pháp).

V/h chờ thêm một ngày nữa.

Kính !



Năm mới có bác Vô Học xuất hiện ở diễn đàn là một điều đại phước đức cho đám con cháu à! Kính chúc Bác thân khỏe, tâm an!

Bác Vô Học quên câu đầu “trăng nằm đáy nước” ý nói cái bóng của trăng, tức là cái vọng tưởng của chúng ta cứ chấp bóng trăng dưới nước là thật mà quên đi mặt trăng thật lồng lộng trên trời. Câu “Cá ưa lên trời” cũng cùng một ý nghĩa đó.

phamvandung57:

Kính chào Ngài : Nguyễn Văn Học hay Vô Học.
Hề hề đầu năm mới mà xem ra Hoailinh lại phải trổ chút tài mọn gọi là làm cho chút không khí xuân sang thêm phần vui vẻ. Xin được nói lời vui vẻ thôi chứ không có ý gì đâu nhé.
theo như cách nghĩ của hoailinh thấy bác Học có cái tên kỳ kỳ. đã là Nguyễn Văn Học sao lại còn là Vô Học. Không biết cách giải của Hoailinh có đúng không nhưng xin được mạnh dạn thử xem , mong bác vui vẻ nhé. Nguyễn Văn Học có nghĩa là có học mà học không vô hay sao cho nên bác đùa thêm hai chữ Vô Học hề hề..
Lại nữa dưới cái tên của bác lại có hai dòng ( chữ ký) thấy cũng hay hay:
Lướt nhìn thế sự lung tung,
cuộc cờ xanh đỏ, ta cùng đỏ xanh.
Quả thật bác là người rất dễ nhập cuộc hềhề..
Thiền định như bác thì quả là không có đạo nhân nào qua mắt được hềhề
Hoailinh với Nhẫn Đầu Mùa (hai ních này là Phamvandung57)
Dẫu rằng khác họ, cũng là một khuôn
Đầu Mùa dâng trái , quả ngon
Người buồn chẳng nhận , đến phần hoailinh
Sự đời với chuyện Tâm Linh
Chi bằng trút bỏ, cùng hoailinh vui cười
hềhềhề…

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn

Kính bác Tuấn Tú ! Cám ơn bác đã có dạ quan hoài, Vô Học cũng muốn giao lưu thăm hỏi các bác, nhưng “quỹ thời gian” không cho phép, nên đành làm kẻ vô tình.

Sáu chục năm dư giữa cõi hồng,
Không không Sắc sắc, dạ chửa thông.
Ví phỏng năm nay ta gặp Phật,
Thưa rằng “Hương Tích* vẫn chưa tiêu !”.

*Cơm Hương Tích _ trong Kinh Duy Ma Cật.

———–

Bạn Phamvandung57 đặt vấn đề trong box Chuyên đề này, Thầy Viên Quang những tưởng rằng bạn có thể triễn khai theo hướng Chuyên Đề nên đã di chuyễn về đây (box Thảo luận Phật Học Chuyên Đề) nhưng bạn đã né tránh, không phát huy được tác dụng “lợi mình lợi người”, làm cho chủ đề này mang tình trạng “đầu voi đuôi chuột”. Thôi thì với tư cách “Ông Từ giữ miếu” Vô Học đành di chuyển chủ đề này ra Phòng Chat Linh Tinh vậy.

Kính báo ! 

phamvandung57: 

Chỉ tại lòng người nghĩ Có – Không

Phật học chuyên đề lại Tánh không..
Cũng hay có được nơi phòng Chát
Nói chuyện Linh Tinh ngoài Có – Không
Nhân Duyên Hữu Học hay Vô Học*
Với trái Đầu Mùa đổ xuống sông
Thôi thôi Thế – sự ; Tâm – Linh – sự
Một tiếng chuông chùa giữa thinh không
*( Nguyễn Văn Học thường tự xưng mình là Vô Học )
Tấn Hạnh
Người ở mùa đông trông thấy mai
Đến khi xuân chớm trông ve sầu
Hạ rủ ngang mày trông lá đổ
Vàng cả rừng kia lại trông đông.




Đừng nói thâm diệu xưa nay chưa hiển bày, hay muốn cùng người luận thâm sâu. Mà nước mạch nguồn luôn chảy róc rách đêm ngày, chỉ do người quên không chịu uống, chạy tìm chữ nước trình người xem. 


Thử vàng đủ tuổi bằng lửa nóng, 
vàng chảy xong rồi vẫn như xưa.
Hà gì nhọc công đem ra thử
Soi lại tâm mình đã vàng chưa!
phamvandung57:
Lửa Sân đem đốt vàng ròng?
Vàng kia không tuổi tròn đồng thái hư
Tứ thời Tâm – Cảnh nhất như
Còn đâu Hạ đến Thu đi ..Xuân về
Tâm không mới thi đậu về
Hỏi người Tấn Hạnh đã về được chăng?


TH nhường cho ” ông ” về ! Riêng TH không có chổ về.

Điều Hành Viên
Lửa Sân sao đốt được vàng ?Vàng mà không tuổi, ấy “vàng con mắt” thôi.
Tứ thời phiền não vun bồi,
Dầu Xuân, dầu Hạ cũng ngồi không yên.
Tâm không, Tâm có luôn chuyền,
Lấy đâu bến bãi mà khuyên người về !


Thầy TH về chỗ không về như vậy là có chỗ về

Thành viên tích cực


Sở học, sở tri mà không thấu tâm ý của Thầy Tổ, không hiểu chân lý Đức Phật dạy thì chỉ là cái túi da chứa chữ nghĩa, chỉ thích đem đi bàn luận và tranh hơn thua. Tu như thế chỉ là thỏa mãn bản ngã và háo lời khen ngợi.

Người khác không khen thì cũng tự mình quay lại khen bản thân.

Có hai hạng người nguy hiểm cho việc tu đạo: thứ nhất là đa văn nhưng không đạt trí, thứ hai phá đạo vì chấp không.

Người vào diễn đàn học pháp tu, muốn tăng trí tuệ thì ít, mà thích chứng tỏ và công kích thì nhiều.

Người tu càng cao, trí tuệ càng sáng thì càng ít nói và càng nhu thuận thân tâm. Ưa nơi vắng vẻ, thấy biết tất cả nhưng không muốn nói, vì sự si mê kia quá sâu, xưa nay các chư vị Thầy Tổ nói hoài mà có mấy ai hiều. Cái biết chỉ phớt trên đầu lông mà cứ ngở thấu tận chân tơ rồi đem luận hơn thua.

Kẻ đã kẹt nơi giếng, thì sao thấy được bầu trời bao la, nhưng cứ ngở bầu trời nhỏ bé bằng miệng giếng là tất cả. Vì nguyên nhân này mà nhiều Đạo Hữu giỏi đến với diễn đàn cũng không muốn nói hoài những điều bình thương như hơi thở.

Kẻ trí gõ đầu, tâm đã sáng.
Người mê nhọc sức thích hơn thua.

phamvandung57 : 

Dưới sông trăng sáng, cá nằm ngủ
Trên bờ gió thổi, chó sủa Trăng.

quantro 

Chẳng phải Thầy TH đang công kích những người được Thầy cho là thích chứng tỏ và công kích đó sao?
Thầy cho họ là bị kẹt nơi miệng giếng không thấu tâm ý của Thầy Tổ, không hiểu chân lý Đức Phật dạy
=> Thầy có công kích Thầy không? Vì Thầy cũng đang là người công kich!

Tấn Hạnh 

Lý, sự vốn đủ mới viên dung. Từ trước nay, Thầy Tổ dạy bảo qua bao đời Phật pháp, đều tùy duyên dạy bảo. Kẻ trí dạy khác, người mê dạy khác. Nhưng quy tụ lại, đều không ngoài lý và sự.


Dạy sự ( dạy tu ) rồi thấy lý ( tánh ), hay dạy lý ( chỉ cho hiểu tánh ) rồi trở lại sự ( pháp tu ). Chưa lúc nào rời bỏ một trong hai. 


Người trí nhận được để hiểu tánh, thì cũng phải quay lại tu học. Như Lục tổ vậy, thấy tánh rồi thì vẫn trở lại mỗi ngày thúc liễm thân tâm. 


Người không trí, theo pháp tu mà lần lần thấy tánh.


Phải hiểu như thế thì mới không sai lạc khi tu học. Người hiểu được điều này thì nhã nhặn, thanh thản khi tu học. Vì cái sở tri đã hiểu biết rỏ ràng, bản ngã từ từ phai đi và nhỏ dần, dung hòa giữa người và ta không chướng ngại. Không tranh hơn thua, không tranh đấu lý cùng người tu học. Mà chỉ cốt tủy làm sao đóng góp trí tuệ với người tu khác trong ôn hòa lễ nghĩa.


Chữ nghĩa vốn vô tri, nhưng người trí biết biến nó ra cái trí cho kẻ khác, đó là lòng bác ái. Có muôn cách truyền đạt, nhưng luôn không bao giờ sai chạy, đó là lòng từ và nhã nhặn. Đừng ngộ nhận cách truyền đạt chém gió lướt mây, nặng nhẹ nhau là tốt. Chư Tổ tuy dứt khoát, đánh đập, nhưng đều chan chưa tình thương của bậc trí tuệ, đau lòng khi khẻ mê không nhận ra, nhưng thản thốt vui mừng khi có người nhận lấy. Tình thương có trong cách cư xử của các Tổ.


Xét xem bản thân có tình thương ấy hay không? Có vì hạnh phúc khi chỉ dạy cho người tu học? Và tâm kia có là trăng sáng để soi rọi cho người hay chưa?


Trí tuệ – Từ bi !


Lành thay!

Điều Hành Viên

Kính chú quaylai ! Cháu xin phép “chatchit” với chú cho vui.


Thì ra những vần thơ kệ trên được viết như bài văn điếu trong tang lễ :


Hựu ngôn tịch diệt mạc ngôn quy
Tọa cửu lao cân ngọa tổn bì


(Chớ rằng “tịch diệt” gọi là “quy”
Ngồi lắm đau lưng chớ ích gì !”)


Hai câu này chứng tỏ tác giả không có ngồi Thiền và hình như người nằm xuống kia cũng chẳng có “thuyền bè” gì. Tác giả bắt chước ý phá chấp Tịnh, chấp Tịch Diệt như lời của chư Tổ.


Xích cước đạp phiên tứ đại hải
Không quyền đả phá ngũ Tu Di


(Chân trần nhẹ lướt qua biển lớn* _ *biển sanh tử.
Tay nắm đập tan núi Nghiệp thì)


Hai câu này khẩu khí rất lớn, vượt quá khả năng của tác giả và người nằm xuống. Đây là cách nói “ngoa ngôn” của hàng học sĩ hũ lậu, có lẻ người chân tu không nên bắt chước.


Tích nhật như thị lai, kim triêu như thị khứ 




Ngày xưa như vậy đến (tay không), Sáng nay như vậy đi. (Chữ “kim triêu” là sáng nay, hình như không phải là “kim triệu”


Lai khứ tự như như Đến đi đều vẫn vậy




Ba vế này thích hợp cho người nằm xuống hay bất kỳ ai, vì mọi người khi “ra đi” không ai mang theo được gì (ngoại trừ phước báo hay nghiệp tội).




Riêng vế thứ 4 :




Bất giả Như Lai xứ. Không cần mượn con đường của Phật để đi. (Không cần về nơi Phật ở)




thì khẩu khí quá lớn, nếu không phải bậc đã đạt đạo thì kẻ này mang tội vọng ngữ, đại vọng ngữ.




Chỉ là chítchat linh tinh
Có sai xin sửa, đừng rinh não phiền !




Kính !

TRỪNG
HẢI:

Xin chào quý vị,

_ Vẫn biết rằng chữ nghĩa chỉ là cái chỗ lai rai sự đời “mua vui cũng được một vài trống canh” nhưng diễn nôm bài “tán văn” trên theo cái kiểu này thì thật là hí tiếu, nực cười cho cái gọi là học hỏi học hành “thấy bì nan thấy cốt”, lại còn bi bô chỉ trích nào là “khẩu khí cuồng ngạo” nào là “hủ nho hủ sĩ”, bất hành (thiền) vô học (giáo)…thì đúng là…t/h con thế lữ, thế lữ là ông nội t/h, hề hề.

Chỉ là chitchat linh tinh, lai rai vài sợi nhân diện tâm dã man man, khùng khùng. Hề hề

Trừng Hải chào.


   

   



   

user-offline

Vạn lý tầm chân – những bước chân đầu của người cư sĩ, ký ( TRỪNG HẢI )

Vạn lý tầm chân – những bước chân đầu của người cư sĩ, ký

TRỪNG HẢI:

TÙNG HẠ VẤN ĐỒNG TỬ
NGÔN SƯ THÁI DƯỢC KHỨ
CHỈ TẠI THỬ SƠN TRUNG
VÂN THÂM BẤT TRI XỨ
– Giả Đảo

Diễn nghĩa (Tầm Ẩn Giả Bất Ngộ):

“Người quân tử vì khởi nhu tâm tầm cầu ẩn giả khai thị con lộ thoát vòng tử sanh nên trèo đồi vượt suối về nơi sơn thôn cô quạnh khiêm nhường hỏi thăm em bé bên bóng tùng già trước sân am cốc. Lòng bồi hồi khi nghe tiếng trẻ thơ trả lời sư phụ của con đi hái thuốc vắng nhà mà dõi mắt theo bàn tay bé nhỏ chỉ về ngọn núi xa xa kia mà gối mõi chân chùn đồng tiếng lãnh lót ngân nga “Dạ ở nơi đám mây đó đó, kia kia” mà mờ mịt chẳng biết nơi đâu.
”  Kính thưa quý hữu, chớ vội nản lòng mà lưỡng lự trước muôn vàn tùng lâm kinh điển mà lưu luyến mối nhu tình xưa, nơi cuối ngày nắng nhạt e ấp gió lạnh thu chiều bên giòng sông thương tìm bờ vai tựa mời gọi quay về. Trừng Hải xin cùng quý hữu góp chút quang minh xua tan những bóng mây mù tà kiến thế gian cho đường vạn lý rỗng rang thanh phong, minh nguyệt mà thấy bến bờ kia mới thật là hạnh phước muôn niên, tuyệt tích não hoạt. Xin hãy giữ chí an phận trên con lộ tử sanh tích trữ lương thực ăn đường mà hưởng Hồng Phước Vô Biên là điều chắc chắc có thật. Mong lắm thay, mong lắm thay. Hề hề
________________

Kính thưa quý hữu, từ thuở mẹ cha sanh ra đến lúc mang nặng kiếp người với bao Lợi-Suy, Hủy-Dự, Xưng-Cơ, Khổ-Lạc tức được-mất, lời khen-tiếng chê, danh thơm-tiếng xấu, sướng-khổ đợt đợt ba đào đòi đoạn từng cơn lên voi xuống ngựa, dòng dòng khúc khủy bao mùa thu tàn đông tận làm cho người đầu bạc thân còng lúc nuốt hận không nguôi, lúc rưng rưng dòng lệ, lúc cuồng lúc điên bởi khổ đau nhiều hơn phước lạc là tánh thường còn của thế gian này, nhân gian nọ. Để rồi một hôm, khi thức giấc giữa đêm ba mươi đón mùa xuân đến, thấy việc xin chiếc lá vàng nơi người phu quét đường để làm bằng chứng yêu thương chỉ là huyễn tưởng thi ca muôn thuở dụng tâm làm dịu khổ đau chỉ để giữ lại khí lực nhỏ nhoi còn sót cho những cuộc tình về sau y cựu mà, bồi hồi nhớ lại tiếng kinh câu kệ mẹ hiền năm xưa chờ đại hồng chung thanh u nhã vận một trăm lẻ tám tiếng không phải để gọi hồn ai mà thức tỉnh kiếp người du thụy mà, nhỏ lệ bi ai vì tiếc thương thời gian chạy theo tiếng lòng u mê khát tình yêu thương vốn có sẵn nơi thân người trần thế vô ích vì nhầm tưởng người ước hẹn kia là nguồn suối làm dịu khổ đau khách lữ hành cuối đường vượt ải. Ôi may mắn thay vì người tỉnh giấc mà rời cơn mộng bé tìm đến diệu âm Bát Nhã Nguyên Sơ hiện tướng mẹ hiền năm xưa khuyên nhủ để mặc trần gian kia mà khai hỏa đăng tâm mà lên đường tìm cầu Vô Môn đến bờ giải thoát để dòng lệ kia, cơn đoạn trường nọ vĩnh viễn tuyệt tích mà cười Như Nguyện.

Hôm nay Trừng Hải này xin bắt đầu những dòng lược thuật thứ tự bước chân đầu của người cư sĩ quy hướng Phật Đạo tìm về Vô Vi vốn là vấn đề căn bản cần thiết để làm hành trang trên con lộ tử sanh tích trữ Tư Lương cho đến ngày Hồi Hướng tức Hồi Đầu Thị Ngạn. Cũng xin gởi gắm vào đây mối chân tình của người đi trước mà nói những lời chia xẻ mà mong người trẻ tuổi cảm ứng được Hồng Phước Vô Biên của Mười Phương Chư Phật mà thọ lãnh phong luân vi diệu lực khi nương theo Chánh Đạo mà quán sát Thuận Nghịch Hành Pháp Môn Toàn Chuyển Như Thật Hữu tức Diệu Không Trí mà gõ cửa Vô Môn chớ không hề có dụng tâm gì khác. Nên, xin quý hữu chớ mang lòng trần gian hơn thua được mất, vì lời Trừng Hải này chỉ là lời Tán Thán Vi Diệu Pháp Oai Lực Vô Biên chớ không hề có ý nói về công phu bản thân tức sở tu, mà gây rối với Trừng Hải này vì đây là diễn đàn Đại Chúng chứ không phải của riêng ai. Xin kính báo.

TRỪNG HẢI: 

 Vạn Lý Tầm Chân – Quy Y và Thọ Giới

KÍNH LẠY THẾ TÔN, ĐẤNG THOÁT VÒNG PHIỀN NÃO, BẬC CHÁNH ĐẲNG CHÁNH GIÁC
Cầu cho chúng sanh an lạc, đồng giải thoát mà đáo Niết Bàn.
__________________________________

Kính thưa quý hữu, sau khi đã tỉnh giấc chiêm bao rời con mộng bé là người đã khởi tâm quy hướng Phật Đạo tìm về Chánh Pháp mà nương tựa Chúng Tăng Già trao cho Pháp Bảo tự tìm đường về Thường Lạc Ngã Tịnh tức Niết Bàn bởi thế nhân này, nhân gian nọ vốn chỉ có khổ đau vì ít phước lạc hay Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới này chưa từng hiện tồn HẠNH PHƯỚC mà chỉ là huyễn hữu tức hoa đốm giữa hư không. Trước hết Trừng Hải xin đảnh lễ mà Sùng Kính Niệm Tưởng Phật Đà, người trước khi đắc Chánh Đẳng Chánh Giác là Thái Tử Siddattha đã rời bỏ vương vị giàu sang vua chúa cũng do thấy Khổ Đế tức sanh lão bệnh tử ở bốn cửa thành mà xuất gia.

TƯỞNG NIỆM PHẬT ĐÀ

Phật Đà tên là Siddattha (sanskrit: Siddhartha), dòng họ là Gotama (st. Gautama), sống ở Bắc Ấn vào thế kỷ 6 trước công nguyên. Cha Ngài là Suddhodana, trị vì vương quốc thuộc dòng họ Sakya (nay là Nepal). Mẹ Ngài là hoàng hậu Maya. Theo tập tục thời đó, Ngài lập gia đình lúc rất trẻ, 16 tuổi, với công chúa mỹ lệ, đoan trang Yasodhara. Hoàng tử trẻ sống trong cung điện riêng với mọi sự xa hoa của bậc Thái Tử con vua của một đất nước giàu có, thạnh trị và bình đẳng (nền cọng hòa). Nhưng rất đột ngột, khi đối diện với sự thật cuộc đời và khổ đau của nhân loại, Ngài đã quyết định rời bỏ gia đình để tìm cầu giải thoát – con đường thoát khổ, lúc 29 tuổi, không lâu sau khi con trai đầu lòng và duy nhất ra đời, Rahula, Ngài đã rời bỏ vương vị trở thành ẩn sĩ khổ hạnh tìm CHÂN ĐẾ VÔ THƯỢNG.

Trong suốt 6 năm, ẩn sĩ Gotama lang thang khắp thung lũng sông Hằng, gặp các đạo sư danh tiếng để học tập và thực hành các phương pháp tu đạo, và sau cùng Ngài đã thực hành phép tu khổ hạnh khắc nghiệt nhất mà một người tối thắng về sức khỏe có thể chịu đựng được. Nhưng tất cả đều không giúp Ngài tìm được CHÂN ĐẾ VÔ THƯỢNG. Do vậy, Ngài đã từ bỏ tất cả các phương pháp và tôn giáo truyền thống, tự đi trên đạo lộ mà Ngài tự tri. Vào một buổi chiều tối, ngồi ở gốc cây Bồ Đề-Bodhi-Cây Trí Huệ, lúc 35 tuổi, Phật Đà Gotama đắc Chánh Đẳng Giác, mà về sau cả chư thiên và nhân loại gọi là Đấng Chánh Biến Tri – Liễu Đạt Thật Tướng Toàn Vũ Trụ.

Sau khi đắc Chánh Đẳng Giác, Phật Đà Gotama đã giảng bài pháp đầu tiên cho năm vị ẩn sĩ khổ hạnh, là bạn đạo thuở trước, tại Vườn Nai-Lộc Uyển ở Thiên Thai Xứ-Isipatana nay là Sarnath gần Benares. Từ ngày đó, trong suốt 45 năm Ngài đã dạy cho đủ loại người, đàn ông – phụ nữ, vua chúa – nông dân, Bà la môn-không Bà la môn, tài chủ – ăn xin, trí giả – thất học, mà không hề có một sự phân biệt nào dầu nhỏ nhất. Ngài xác định không có một sự khác biệt nào giữa các giai cấp xã hội trong Giáo Pháp của Ngài; Và Phật Pháp rộng mở đối với tất cả những ai, đàn ông hay phụ nữ, có hiểu biết biện biệt và thực hành y lời dạy.

Lúc 80 tuổi, Đức Phật nhập diệt tại Kusinara, nay là Uttta Pradesh, Ấn độ.

(Theo THE BUDDHA, trong WHAT THE BUDDHA TAUGHT, của WALPOLA RAHULA. Việt dịch trừng hải)
Con xin đảnh lễ Phật Đà, Bậc Chánh Đẳng Chánh Giác.

QUY Y và THỌ GIỚI, Yếu Lược

Kính thưa quý hữu, bởi Quy Y-Thọ Giới là Pháp Giới thậm thâm tức huyền mật mà diệu tác vi, nên Trừng Hải khẩn mong quý hữu chú tâm mà lưu ý chớ không chỉ là những việc làm hành chánh như khai sanh, giấy chứng nhận mà nghiễm nhiên xem như hình thức thuộc thế gian bình thường không quan trọng.
Ngày xưa, Phật Đà sau khi đắc Chánh Đẳng Giác thì Ngài trầm tư: “Giáo Lý mà Ta khám phá như thật là nan am tường. Nó sâu thẳm vi tế, khó nhận thức; Mà chỉ có bậc trí giả mới thấy biết như nhiên, mới thông đạt về diệu lý chỉ đường thoát khổ. Nhưng trên thế gian vốn không có nhiều bậc thức giả. Phần đông chúng sanh không muốn chuốc lấy sự nặng nhọc trầm tư minh tưởng; họ chỉ muốn những điều dễ chịu, chạy theo du khoái mà hoan hỉ theo đời khoái lạc. Thế gian đắm chìm trong các mê say dục lạc; Nếu Ta tuyên thuyết các Giáo Pháp cho họ thì họ sẽ không hiểu Ta đang nói gì. Họ sẽ không chú tâm đến điều Ta dạy…” (The Life of The Buddha, Tỷ Kheo Silacara. Việt dịch trừng hải) Nên ngay sau đó Ngài tự tại quyết định không giảng dạy Chánh Pháp (The Manual of The Buddhism, Thera Narada, việt dịch trừng hải). Nên sau đó Đại Phạm Thiên Sahampati, sau khi đọc thấy tư tưởng này mà vì e sợ rằng thế gian sẽ đến nơi suy đốn do không nghe được Chánh Pháp-Saddhamma nên diện kiến Phật Đà và thỉnh cầu Ngài tuyên thuyết Chánh Pháp: “Cầu xin Đấng Đại Hùng Lực, Bậc Chiến Thắng, là Đại Đạo Sư, Đại Minh Sư của chư thiên và nhân loại đứng lên du phương thế gian. Cầu xin Ngài tuyên thuyết Chánh Pháp, vì sẽ có người am tường Chánh Pháp.” Lời này được lập lại đến ba lần. Và may mắn thay lời khẩn cầu đã được chấp thuận, Pháp Bảo đã hiện tồn sau khi Phật Đà quay Bánh Xe Pháp-Chuyển Luân Vương tại Thiên Thai Xứ-Isipatana nơi Vườn Nai-Lộc Uyển (theo Nidana-Katha tức Vi Diệu Sử Phật Đà Sakyamuni).
Kính thưa quý hữu, trong thời gian đầu sau khi giảng dạy Chánh Pháp cho năm anh em Kiều Trần Như, vương tử Yassa và ba anh em Kassapa-Ca Diếp…Phật Đà lúc đó chưa đưa ra nghi lễ Quy Y, Xuất Gia mà Ngài chỉ tuyên lời xác nhận “Ehi Bikkhu, hãy đến đây Tỷ Kheo.” thì người thọ lãnh lời tuyên ngôn đã trở thành bậc Xuất Thế Gian, Tỷ Kheo đầy đủ Giới Hạnh, Uy Nghi, Y áo mà được chư cổ đức gọi là KIẾN ĐẾ ĐẮC GIỚI, được ghi lại trong Luật Tăng Kỳ hay Kinh Sớ. Nhưng về sau do thỉnh cầu của Chúng Tăng Già mà bằng Vô Thượng Chánh Biến Tri, Phật Đà đã chấp thuận cho các Tăng Già Thánh Giả thay mặt mà làm lễ Quy Y, Xuất Gia đối với các Sa di hay Ưu bà tắc-Upasaka, Ưu bà di-Upasika.
Cũng chính nhờ những kinh văn ghi lại này mà Trừng Hải tôi dám khẳng quyết rằng trong buổi lễ Quy Y, Thọ Giới chính Chúng Tăng Già thay mặt Đức Phật mà làm lễ và trao giới cho chúng cư sĩ tại gia nhưng thật ra Chư Vị là người trung gian trao cho chúng ta Giới Pháp từ chính Phật Đà muôn đời không đổi. Nên mới nói đây là nghi lễ thiêng liêng, siêu thế gian mà diệu dụng hiển bày chứ không có một chút gì trần tục, tầm thường và uế trược thuộc thế gian này đâu, thưa quý hữu.

Vạn Lý Tầm Chân – Quy Y, Thọ Giới. Yếu lược (cont.)

KÍNH LẠY THẾ TÔN, ĐẤNG THOÁT VÒNG PHIỀN NÃO, BẬC CHÁNH ĐẲNG CHÁNH GIÁC
Cầu cho chung sanh an lạc, đồng giải thoát mà đáo Niết Bàn.
_______________________________

QUY Y-THỌ GIỚI (cont.)

Kính thưa quý hữu, hai chữ Quy Y là dịch nghĩa từ chữ Phạn NAMO hay NAMAH. Ngoài nghĩa quy y còn có nghĩa quy mệnh, kính lễ, qui lễ, cứu ngã, độ ngã…Và theo như những nghĩa này thì âm NAMO bao gồm cả thuận lẫn nghịch tức NHÂN QUẢ TƯƠNG QUAN nên rộng lớn như THẬT TẾ ĐẠI ĐẠO thuộc về BỔN MẪU-MALIKA theo A Tỳ Đàm tức Vô Tỷ Pháp là Vi Diệu Pháp. Hay thuộc nghĩa SIDDHA tức TẤT ĐẠT là âm A, một trong 50 tự môn khởi sanh Phạn Âm vi diệu lay chuyển đại địa theo cả ba phương cách như ngày xưa Bồ Tát Thiện Huệ-Sumedha quán chiếu Thập Ba La Mật cả Thượng, Trung, Hạ theo bốn phương tám hướng thuận nghịch sau khi được Phật Đà Nhiên Đăng thọ ký và phát Bồ Đề Tâm lên đường chứng đắc A Nậu Đà La Tam Miệu Tam Bồ Đề thành tựu PHẬT QUẢ (Đọc Maha Buddhavamsa). Do vậy hai âm NAMO tức QUY Y khi khởi sanh từ Phật tử có Bình Đẳng Tâm Vô Phân Biệt tuy chỉ hiển tướng thanh âm bình thường trên thế gian khổ đau sầu não mà không hề bị hòa lẫn mất tăm không dấu tích giữa muôn vàn tạp âm thô thiển, uế trược mà là phong hỏa luân quang lay động ba ngàn thế giới, cảm ứng MƯỜI PHƯƠNG CHƯ PHẬT sanh huyền tác vi là Ứng Hóa Thân của chư Đại Bồ Tát Ma Ha Tát hiển lộ diệu tác vi là nguồn năng lượng vô cùng tận, diệu dụng toàn hảo không dư sót giúp người vững tâm trên con lộ tử sanh tìm cầu giải thoát với hồng danh NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT.

Với chân tình ngưỡng mong quý hữu cảm thọ được chữ NAMO là pháp giới thậm thâm bất khả tư nghì nên Trừng Hải thô thiển so sánh giữa việc Thành Tâm niệm Hồng Danh Chư Phật với việc Trì, Hộ Chú và Niệm Chú mà biện biệt sự sai khác nơi tánh dụng giữa hai công phu này. Mà việc niệm Hồng Danh là truyền thống cổ kính ngàn đời mà chư cổ đức từ bi ân cần trao lại cho đời sau là phương tiện, phi phương tiện tuyệt tích cứu cánh mà diệu dụng hiển bày nhưng, như Trừng Hải nhận thấy, đang dần mai một với việc một số ít người ưa thích việc trì, hộ chú mà lầm lẫn với niệm chú nên vô tình rời xa đại đạo vì khuynh hướng tìm cầu pháp xảo dụng chỉ là giả phương tiện tùy duyên, tùy căn cơ, tùy pháp xứ khởi sanh trong một thì nghi nhất định mà thôi. Cho nên, lồng trong phần Quy Y, Thọ Giới, Trừng Hải xin dộng một tiếng đại hồng chung ngưỡng mong thức tỉnh những ai đã vô tình lìa xa truyền thống ngàn đời cổ kính uy nghi đức độ mà hiển bày từ bi viên mãn trí huệ là lời mẹ hiền năm xưa ru con giữa chiều đông giá rét bên ngọn hỏa phúc đăng tức đèn dầu đủ sức giữ ấm muôn đời con ngoan. Kính báo, kính báo, hề hề.

   
 

Vạn Lý Tầm Chân – Quy Y Thọ Giới, Yếu lược (cont.)

KÍNH LẠY THẾ TÔN, ĐẤNG THOÁT VÒNG PHIỀN NÃO, BẬC CHÁNH ĐẲNG CHÁNH GIÁC
Cầu cho chúng sanh lạc, đồng giải thoát mà đáo Niết Bàn
_____________________________

Kính thưa quý hữu, hôm qua Trừng Hải đã đưa ra sự tướng của việc Niệm Hồng Danh Chư Phật, và Trì, Hộ Chú nên hôm nay xin đưa ra cái nhìn lý tánh thô thiển cũng chỉ ngưỡng mong quý hữu thấy vẻ đẹp toàn mỹ của tâm chân thiện mà chư cổ đức bao đời nay ưu hoài ân cần gìn giữ trao lại cho đời sau phương tiện là phi phương tiện phi cứu cánh mà diệu dụng vô ngại hiển bày chính là Hồng Danh Chư Phật, chư Bồ Tát Phật mà tuy cũng có giới thiệu đến các câu chú để hộ trì chỉ là xảo phương tiện tùy duyên, tùy căn cơ, tùy pháp xứ khởi dụng trong một thì nghi nhất định nào đó thôi.

Kính thưa quý hữu, trước hết Trừng Hải xin nhắc đến chương XVIII, câu 7 tức Câu 241 theo PHÁP CÚ KINH, Pali, bản PTS, đó là: “Trì tụng mật chú sai âm trật giọng thì không hiệu nghiệm…” (Mantras have rust when there is no repeated-recitation…).
Trừng Hải này dẫn chứng câu Kinh trên chỉ để cho quý hữu thấy sự khó khăn của việc trì tụng chú bởi nó liên quan đến kỹ thuật phát âm (hầu, họng, vòm họng, lưỡi,…hơi), khí (hơi tích trữ ở trung thất) và vận động các căn liên quan trong việc trì chú. Mà như Đức Phật dạy chỉ cần sai một âm trật một giọng thì đã không hiệu nghiệm.
Chữ Mantras trong câu kinh trên bao gồm Đà la ni-Dharanis và Mạn đà la-Mandala thuộc Tâm pháp bí yếu của Du Già Hành-Yogacaria trong Chân Ngôn Thừa-Mantrayana (vốn là pháp tâm truyền cẩn mật nên không được tiết lộ ra ngoài) tương đương với Paritta-Hộ trì chú trong văn hệ Pali. Bởi Tam Tạng Kinh Pali đã được Chư Đại Trưởng Lão Mahavihara cho phép công bố và là Tạng Kinh được nghiên cứu rỏ ràng nhất hiện nay trên thế giới phù hợp với nền giáo dục hiện đại ngày nay. Nên Trừng Hải này xin lấy Paritta để minh chứng cho lời nói trên.

Vạn Lý Tầm Chân – Quy Y Thọ Giới, Yếu lược (cont.)

KÍNH LẠY THẾ TÔN, ĐẤNG THOÁT VÒNG PHIỀN NÃO, BẬC CHÁNH ĐẲNG CHÁNH GIÁC
Cầu cho chúng sanh an lạc, đồng giải thoát mà đáo Niết Bàn
___________________________

QUY Y-THỌ GIỚI; Niệm Hồng Danh và Chú Hộ Trì (cont.)

Kính thưa quý hữu, bài viết này bị ngắt quãng hơi lâu cùng cũng là điều ngoài ý muốn của Trừng Hải này, tuy nhiên cũng xin thứ lỗi cùng quý hữu, mong lượng thứ lượng thứ; Bởi trần gian có gió mưa bão bùng phong ba chớp giật cuồng phong lửa trào vẫn còn đó một đóa Nhất Chi Mai mỉm cười thiên thu bất tuyệt tự ngàn xưa vậy đến ngàn năm sau mãi còn, vẫn muôn niên tỏa hương từ bi cõi nước thế nhân từ nơi xa xôi không thể nghĩ bàn tới nơi nội xứ tang thương dâu bể man dã lòng người. Nên, chỉ cần lòng kia tâm nọ một lòng quy y Tam Bảo và Thọ Giới Niệm Danh ắt sẽ gặp kỳ duyên muôn niên khó gặp mà cũng chính là Kỳ Tâm đó thôi. Kính báo kính báo, hề hề.

Bây giờ Trừng Hải này xin tiếp tục đề cập đến Hộ Trì Chú tức PARITTA. Chữ Paritta nghĩa là bảo hộ, hộ trì không niệm trong văn hệ Pali. Từ nguyên của Paritta gồm Para- và -atta. Trừng Hải xin lần lượt phân tích như sau (quý hữu nên nhớ chữ Chú chính là Âm, nên chú trọng đến “Tự” tức ngôn từ cho khẩu truyền; hi vọng quý hữu có thể tiếp tục nghiên cứu môn học mật tế này vì nó vẫn còn hiện tồn trên thế gian ngày nay mà Trừng Hải này không tiện nói nhiều trên mạng…) kèm với -atta nghĩa là HỮU TÌNH hay HỮU TÁNH tức NGÃ là PHÁP HỮU VI cấu thành như chữ SATTA.

– Para-: từ nguyên này có nghĩa là “TỰ” tức vốn nó là hay tự tánh tức DESANA, mà Ngài Bất Không dịch nghĩa là KIẾN.
Kính thưa quý hữu vạn pháp trên thế gian như Phật Đà dạy tánh bản lai không hay tự tánh không nên hành hoạt theo luật Nhân Quả Tương Quan tức Thuận Nghịch Hành Pháp tức TỰ MÔN (có Pháp Giới Thể Tánh Trí ở trung tâm) nên hoặc là Ác hay THIỆN thuộc về ĐẠI SƯ NHÂN DUYÊN nên bất khả tư nghì. Mà đã là bất khả tư nghì thì làm sao chúng sanh vô tri biết được mà tin theo? Tuy chúng sanh vô tri mậu ngộ (hề hề, mà lại hay…tán phét mới hí tiếu) nhưng do bởi có thân tâm tức cái biết của tri kiến lập kiến nên Bậc Thượng Thừa Diệu Thủ nương theo cái tánh mậu ngộ này khi thấy người thành tâm mà dụng THẦN CHÚ hiển lộ THẦN THÔNG để cảm phục chúng sanh mà đưa về CHÁNH ĐẠO, thi hành phận sự PHỔ BIẾN CHÁNH PHÁP vi diệu bất khả tư nghì.
Dụ như thời xưa hơn 100 năm trước tây lịch, A Dục Đại Đế-Asoka khi gặp Ngài Mục Kiền Liên Tư Đế Tu-Moggaliputtatissa khi khởi lòng hộ trì Pháp Đạo đã đến gặp Ngài và xin Ngài ban cho một phép thần thông nên được như nguyện (hề hề, quý hữu để ý khi gọi Đại Đế Asoka các nhà chuyển ngữ tàu gọi là vương tức A Dục Vương vì cho vua tàu mới là hoàng đế “thiệt”, chớ thật ra Đại Đế A Dục là bậc rất Kiệt Hiệt, Hiển Hách về võ trị cũng như văn trị, đặc biệt là bậc đại hộ trì Chánh Pháp tức ĐẠI ĐẾ PHẬT TỬ ASOKA.) Hay gần đây hơn, ở nước Đại Việt ta cách hơn 3-400 năm trước, khi chúa Nguyễn Phúc Chu thỉnh Hòa Thượng Thích Đại Sán sang nước ta cũng đã thỉnh cầu Ngài hiển lộ thần thông nên đã ban cho chúa Nguyễn Phúc Chu một bài chú đi ngoài mưa mà không ướt lúc mới diện kiến.
Vậy thì tùy theo vận hành thuận hay nghịch cho nên, khi theo chiều ác là thuận thì bị trói chặc với gốc VÔ MINH tức thành PARAMASA là tà kiến nên là GIỚI CẤM THỦ KIẾN-SILABBATA PARAMASA, do bởi vi phạm cấm giới. Dụ như trong Bodhisatta-Bodhipitaka hay Jataka ghi lại chuyện về một bài chú Trồng Cây là của Đaị Sĩ ban cho một người học việc tận tâm thuộc giai cấp Chiên đà la-Cadala; bài chú này khi được người thọ lãnh khởi trì sau khi đặt hạt giống xuống đất đã được chuẩn bị sẵn thì trong một ngày sẽ phát triển, ra hoa và kết trái chín cây khi tuân thủ đúng các giới hành và giới cấm…; trong các cấm giới có giới không được che dấu gốc khai sanh. Về sau khi người học việc này xuất sơn, gặp hoàn cảnh thuận lợi vì có một ông vua rất thích ăn…xoài nên đã tiến dâng xoài trái mùa mà có được sự thân cận dần dần được vua tín cẩn mà khởi ý ban cho người này làm quan thượng thư bộ công(?) như bộ trưởng nông nghiệp ngày nay. Do phải khai báo giai cấp mà người này lại muốn dấu vì Chiên đà la là giai cấp hạ tiện không được làm việc cho vua chúa nên thần chú Trồng Cây không hiệu nghiệm (dù vẫn còn nhớ các tự âm tác thành câu chú) nên mất đi sự tin cẩn của vua. Dù sau này hối lỗi cố về gặp Đại Sĩ để khẩn cầu ban lại bài chú nhưng bất thành.
Như vậy, thưa quý hữu, hộ trì chú Paritta chỉ là Thần Chú tùy căn cơ, cảnh trần và pháp xứ mà khởi tánh dụng ở một hoàn cảnh, thì nghi nhất định mang tính xảo phương tiện thuộc thế gian hạn hẹp chớ không phải là TÂM CẢNH thuộc BỔN TÔNG rộng lớn như THẬT TẾ ĐẠI ĐẠO vô biên, vô lượng tức phi thời như niệm HỒNG DANH CHƯ PHẬT hay CHƯ BỒ TÁT PHẬT.

 Vạn Lý Tầm Chân – Quy Y Thọ Giới, Yếu lược (cont.)

KÍNH LẠY THẾ TÔN, ĐẤNG THOÁT VÒNG PHIỀN NÃO, BẬC CHÁNH ĐẲNG CHÁNH GIÁC
Cầu cho chúng sanh an lạc, đồng giải thoát mà đáo Niết Bàn
___________________________

QUY Y THỌ GIỚI – QUY Y TAM BẢO, SỰ và LÝ

Kính thưa quý hữu, Phật Đà sau khi thành đạo dưới cây Bồ Đề-cây Trí Huệ, do sự thỉnh cầu của Đại Phạm Thiên Sahampati ( Ở Đại thừa nói là Đại Bồ Tát Phổ Hiền nên gọi là Bậc Đại Hạnh) nên Phật Đà quyết định giảng dạy Chánh Pháp cho thế gian này, nhân gian nọ. Ngay sau khi đắc Tam Diệu Minh, A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề, thành tựu Phật Quả thì có hai nhà thương buôn thiếc, nhờ có vị nữ thần bảo hộ là mẹ của hai người vào kiếp trước báo mộng cho biết, đến cúng dường Bậc Chánh Đẳng Giác hầu hưởng phước đức lớn. Theo như một số bản Chú giải trong Tạng Pali thì đây là trường hợp Quy Y đầu tiên tuy thiếu Tăng Bảo nên gọi là Quy Y Nhị Bảo. Nhưng theo thiển ý Trừng Hải, trường hợp này vẫn được gọi là Quy Y Tam Bảo; Vì sao vậy? Vì Phật Đà tuy là Bậc Như Lai, Đấng Thế Tôn nhưng cũng hiển tướng sa môn để giáo hóa chúng sanh nên các luận sư ngoại đạo trước khi quy hướng Phật Đạo vẫn gọi là Sa Môn Gotama. Do vậy, hai vị thương buôn Tapussa, Bhalukka là người Miến Điện đã được hưởng phước quả đại giàu sang mà danh dự, đạo đức vì là người cúng dường Phật Đà đầu tiên sau khi Ngài thành đạo (dù vật phẩm cúng dường chỉ là những chiếc bánh ngũ cốc tẩm mật ong làm lương khô ăn đường). Và trước khi đi vào phần Sự và Lý, Trừng hải xin trích dẫn một đoạn Kinh nói về quả phước Quy Y Tam Bảo to lớn dường nào: “…Là Phật tử ai quy y Phật Đà, ai quy y Phật Pháp, ai quy y Tăng Già Thánh Giả thì nhất định hưởng Đại Phước thoát khỏi ba thế giới khổ và ác trong suốt trăm ngàn đại kiếp ba.” (Vì quá lâu ngày nên Trừng Hải không nhớ đoạn kinh ở bổn kinh nào trong Tạng Kinh Pali, xin thứ lỗi, dù đã tìm lại cả buổi tối qua, mà đạo hữu nào biết xuất sứ thì xin bổ sung cho trừng hải. Xin đa tạ, bội phần đa tạ, hề hề) Đồng thời cũng xin chư vị bỏ chút ít thời gian đọc lại Bổn Kinh RATANA SUTTA tức TAM BẢO KINH để thấy được oai lực vô lượng mà diệu dụng vô ngại không thể nghĩ bàn của HỒNG PHƯỚC VÔ BIÊN của PHẬT ĐÀ SAKYAMUNI; cũng là Bổn Kinh theo truyền thống Myanmar-Miến điện bao gồm 12 MahaParitta-Đại Hộ Niệm Chú đã được XỨNG ÂM khi PHẬT ĐÀ dẫn đầu chư TỶ KHEO đi chung quanh thành Xá Vệ-Savatthi ba vòng để hóa giải cơn dịch bệnh đang hoành hành và thật là CHUYỆN LẠ THẾ GIAN PHI THƯỜNG, PHI PHI THƯỜNG tức VỊ TẰNG HỮU SỰ vì sau đó xuất hiện cơn mưa lớn đồng xóa sạch dịch bệnh tai ương gây chết chóc, khổ đau cho dân chúng trong thành. Con xin đảnh lễ PHẬT ĐÀ, BẬC ỨNG CÚNG, MINH HẠNH TÚC. NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT.

Kính thưa quý hữu, trước tiên để tỏ lòng vô vàn sùng kính tưởng niệm TAM BẢO, Trừng Hải xin trích dẫn ba bài tán PHẬT PHÁP TĂNG mà chư cư sĩ tại gia Nam Phương Thượng Tọa Bộ tức Phật Giáo Nguyên Thủy trích dẫn trong Tăng chi Bô Kinh-Angutara Nikaya VI, 10,25 và Trường Bộ Kinh-Digha Nikaya 33 thuộc phép Quán Tưởng làm nghi thức tụng niệm:

Tán Thán Phật Đà: “Ngài là Như Lai, Bậc Ứng Cúng, Vô Thượng Chánh Biến Tri, là Đấng Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải liễu đạt thật tướng toàn vũ trụ, là Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, là Thiên Nhân Sư là Phật Đà.” Con xin kính lễ Phật Đà.

Tán Thán Phật Pháp: “Thánh Giáo mà Thế Tôn thân giảng một cách khéo léo và đầy đủ là để tự chứng ngộ, có diệu dụng tức thì, khuyến khích sự tinh tấn trầm tư, là đường dẫn đến Niết Bàn bằng minh tâm tự người ngộ nhập, mà hưởng phước quả vô biên.” Con xin kính lễ Chánh Pháp.

Tán Thán Tăng Già Thánh Giả: “Tăng Già Thánh Giả có giới hạnh trang nghiêm, có trí huệ viên mãn, y pháp phụng hành. Chư vị thành tựu bốn bậc, chứng bốn Thánh Quả. Chúng Tăng Già Thánh Giả, là đệ tử Phật Đà, xứng đáng thọ lãnh vật phẩm cúng dường, chỗ ngụ, tôn trọng và đảnh lễ; Bởi chư vị là phước điền tối thượng của thế gian.” Con xin kính lễ Chúng Tăng Già Thánh Giả.
Kính thưa quý hữu, chữ Bảo trong TAM BẢO có nghĩa là quý báu trong chữ trân bảo và tàng giữ trong chữ bảo tàng. Là trân bảo vô thượng không có châu ngọc dù là vô giá nào bằng nên Phật tử phải giữ gìn với lòng vô vàn sùng kính không phút giây ngưng nghĩ bởi đó là HỒNG PHƯỚC VÔ BIÊN bất khả tư nghì. Trừng Hải nay xin lần lượt diễn đạt bằng tri kiến thô thiển về Sự Và Lý của Tam Bảo và Quy Y Tam Bảo theo truyền thống Phật Giáo Nguyên Thủy. Kính báo kính báo, hề hề

Vạn Lý Tầm Chân – Quy Y Thọ Giới, Yếu lược (cont.)

KÍNH LẠY THẾ TÔN, ĐẤNG THOÁT VÒNG PHIỀN NÃO, BẬC CHÁNH ĐẲNG CHÁNH GIÁC
Cầu cho chúng sanh an lạc, đồng giải thoát mà đáo Niết Bàn.
___________________________

TAM BẢO – SỰ, LÝ lược thuật.

Kính thưa quý hữu, Tam Bảo vốn trân quý vô thượng, nên Phật tử cần phải giữ gìn chớ có rời xa tìm nơi nương tựa ở những nơi biến thiên tức thay đổi như tiền bạc, danh lợi, quyền uy…mà thành hạng vô tri mậu ngộ vì chấp thủ vào những điều được Phật Đà ví sắc như thủy bào – thọ như phù mạc – tưởng như dương diệm – hành như hương giá – thức như ảo thuật, là nơi sanh ra vạn pháp và tư ngã vốn là pháp hữu vi sanh diệt luôn thay đổi làm người hoa mắt, đảo điên mà điên đảo. Mà đó cũng chính là Sự Tướng thế gian sanh do ái dục và tà kiến, tức tìm cầu du khoái lạc thú sáu căn trần gian mà đắm chìm mê say bất kể đất trời có có, không không, hay khởi sanh tà tưởng kiến chấp mà cho rằng thế giới nhân sinh phải cần này này, nọ nọ; Mà gây ác sự bởi mắc lưới Vô Minh vì Hành ô nhiễm mà khởi Thức tức Tâm Vương vọng tưởng mà kiến lập, phủ định nào là hiện sinh, xã hội, …, tư bản, công bằng hạnh phúc…toàn điều dối trá không thật mà cho là thật bởi kiến văn giác tri u u, minh minh mà sanh toàn là Khổ Sự. Nên, Phật Đà từ hơn 2500 năm trước đã chỉ cho thế nhân con lộ thoát KHỔ tức lấy Bát Chánh Đạo là TRUNG ĐẠO làm bổn thể tức CHÁNH VỊ mà quán chiếu vạn pháp sanh diệt tức hữu vi là Sự Tướng mà đình chỉ diễn tiến có cứu cánh tức KHÔNG là Lý Tánh. Vậy thì Sự Tướng vốn có Chánh-Tà, có Giả-Thật, có Hữu-Vô…đã được chư Đệ Tử Thanh Văn thượng thừa thượng thủ kết tập thành 9 bộ kinh tức Buddha Sasana là PHẬT GIÁO, nghĩa là lời dạy của Phật Đà, sau khi Ngài nhập diệt, và lưu giữ, truyền thừa cho đến lúc được ghi chép thành văn tự như Trân Bảo tối thượng được giữ gìn hơn cả báu vật tuyệt đỉnh trần gian chính là TAM TẠNG KINH PALI bằng phẩm hạnh cao đức “tâm như thị” bởi duyên khởi là “NHƯ THỊ NGÃ VĂN” nên lời Y Chánh Pháp. Kính báo kính báo, hề hề.

Ban Đại Biểu nhiệm kỳ III (2015-2016)

Nhắc nhở đạo hữu trừng hải .

Kính chào bác trừng hải !
Lời cảnh cáo của Tổng Quản đã lâu (ngày 07/08/2013) :

Trích dẫn Gửi bởi hoangtri Xem bài viết

Thành viên trừng hải lưu ý !

Xét thành viên trừng hải đã bị lây nhiễm bệnh hoang tưởng, bệnh lảm nhảm từ những vị “đại học giả điên điên”, nên nay hoangtri thay mặt Ban Quản Trị Diễn Đàn quyết ngăn chặn căn “bệnh hay lây” này, không để cho mọi thành viên hay Phật tử khách bị đọc nhiều những bài lảm nhảm vô nghĩa _ lâu ngày sẽ nghe quen tai _ từ quen nghe, bị ám thị riết có thể bị lây nhiễm lúc nào cũng không hay.

…..
…..
…..

Xin thành viên trừng hải hãy cố gắng :

1. Không nói lời vô nghĩa.

2. Không viết câu loạn nghĩa (vì sẽ hủy hoại ngôn ngữ Việt, hủy hoại tâm hồn người đọc).

3. Không đem Phật pháp ra làm trò đùa.

Nếu bạn không thay đổi văn phong sẽ bị khóa nick ngắn hạn.

Trân trọng Thông Báo.

Hắc phong đã kiên nhẫn chờ sự đổi thay từ từ, nhưng cho đến nay (đã 40 ngày trôi qua) mà văn phong của bác vẫn không thay đổi gì mấy, nay sẵn dịp bác sử dụng cụm từ “nhạy cảm” (chữ “TƯ BẢN……XÃ HỘI”)

Gửi bởi trừng hải Xem bài viết
KÍNH LẠY THẾ TÔN, ĐẤNG THOÁT VÒNG PHIỀN NÃO, BẬC CHÁNH ĐẲNG CHÁNH GIÁC
Cầu cho chúng sanh an lạc, đồng giải thoát mà đáo Niết Bàn.
___________________________

TAM BẢO – SỰ, LÝ lược thuật.

Kính thưa quý hữu, Tam Bảo vốn trân quý vô thượng, nên Phật tử cần phải giữ gìn chớ có rời xa tìm nơi nương tựa ở những nơi biến thiên tức thay đổi như tiền bạc, danh lợi, quyền uy…mà thành hạng vô tri mậu ngộ vì chấp thủ vào những điều được Phật Đà ví sắc như thủy bào – thọ như phù mạc – tưởng như dương diệm – hành như hương giá – thức như ảo thuật, là nơi sanh ra vạn pháp và tư ngã vốn là pháp hữu vi sanh diệt luôn thay đổi làm người hoa mắt, đảo điên mà điên đảo. Mà đó cũng chính là Sự Tướng thế gian sanh do ái dục và tà kiến, tức tìm cầu du khoái lạc thú sáu căn trần gian mà đắm chìm mê say bất kể đất trời có có, không không, hay khởi sanh tà tưởng kiến chấp mà cho rằng thế giới nhân sinh phải cần này này, nọ nọ; Mà gây ác sự bởi mắc lưới Vô Minh vì Hành ô nhiễm mà khởi Thức tức Tâm Vương vọng tưởng mà kiến lập, phủ định nào là hiện sinh, xã hội, …, tư bản, công bằng hạnh phúc…toàn điều dối trá không thật mà cho là thật bởi kiến văn giác tri u u, minh minh mà sanh toàn là Khổ Sự. Nên, Phật Đà từ hơn 2500 năm trước đã chỉ cho thế nhân con lộ thoát KHỔ tức lấy Bát Chánh Đạo là TRUNG ĐẠO làm bổn thể tức CHÁNH VỊ mà quán chiếu vạn pháp sanh diệt tức hữu vi là Sự Tướng mà đình chỉ diễn tiến có cứu cánh tức KHÔNG là Lý Tánh. Vậy thì Sự Tướng vốn có Chánh-Tà, có Giả-Thật, có Hữu-Vô…đã được chư Đệ Tử Thanh Văn thượng thừa thượng thủ kết tập thành 9 bộ kinh tức Buddha Sasana là PHẬT GIÁO, nghĩa là lời dạy của Phật Đà, sau khi Ngài nhập diệt, và lưu giữ, truyền thừa cho đến lúc được ghi chép thành văn tự như Trân Bảo tối thượng được giữ gìn hơn cả báu vật tuyệt đỉnh trần gian chính là TAM TẠNG KINH PALI bằng phẩm hạnh cao đức “tâm như thị” bởi duyên khởi là “NHƯ THỊ NGÃ VĂN” nên lời Y Chánh Pháp. Kính báo kính báo, hề hề.

 : nên Hắc phong có bài góp ý này.



Bác trừng hải thừa biết chữ MẬU NGỘ tức là VÔ TRI, bác đã viết VÔ TRI sao lại còn viết thêm MẬU NGỘ làm chi nữa, bác dùng quen nhưng người nghe không quen, cái nầy gọi là HỦY HOẠI NGÔN NGỮ VIỆT (chữ “mậu ngộ” là văn bạch thoại của người Tàu, nếu bác thấy cần thiết phải dùng riêng nó thì phải có đóng ngoặc kép), tiếng Việt của mình có chữ KHÔNG BIẾT sao bác không dùng ? Ngôn từ Phật học thì có cụm từ VÔ TRI, thiết nghĩ như thế đã quá đủ cho bác sử dụng rồi.


“làm người hoa mắt, đảo điên mà điên đảo” trong câu này đâu cần thiết có thêm ba chữ “mà điên đảo” chi nữa. Chính cách viết bài của bác đã là mọi người “hoa mắt, đảo điên” đó, bác có biết hay không ?


Nếu bác phát tâm phụng sự chúng sinh thì hãy cố gắng viết bài cho sáng sủa, thì mới lợi người lợi mình được. Tuy cực một chút nhưng điều đó chứng tỏ bác đã “vượt lên chính mình” (đã phát tâm “vì chúng sinh hậu bối” tại sao lại không “chịu cực một chút” chứ ?)


Như câu : 


“Nên, Phật Đà từ hơn 2500 năm trước đã chỉ cho thế nhân con lộ thoát KHỔ tức lấy Bát Chánh Đạo là TRUNG ĐẠO làm bổn thể tức CHÁNH VỊ mà quán chiếu vạn pháp sanh diệt tức hữu vi là Sự Tướng mà đình chỉ diễn tiến có cứu cánh tức KHÔNG là Lý Tánh.”


nếu bác không thêm “khúc đuôi” (màu tím) thì rất sáng nghĩa. Có “khúc đuôi màu tím” thì lập luận của bác trở nên tối nghĩa _ nếu không muốn nói là LOẠN NGHĨA.


Bài trước bác viết như vầy :

Gửi bởi trừng hải
Bởi trần gian có gió mưa bão bùng phong ba chớp giật cuồng phong lửa trào vẫn còn đó một đóa Nhất Chi Mai mỉm cười thiên thu bất tuyệt tự ngàn xưa vậy đến ngàn năm sau mãi còn, vẫn muôn niên tỏa hương từ bi cõi nước thế nhân từ nơi xa xôi không thể nghĩ bàn tới nơi nội xứ tang thương dâu bể man dã lòng người. Nên, chỉ cần lòng kia tâm nọ một lòng quy y Tam Bảo và Thọ Giới Niệm Danh ắt sẽ gặp kỳ duyên muôn niên khó gặp mà cũng chính là Kỳ Tâm đó thôi.

Thưa bác người Việt ta quen dùng chữ “muôn năm” rồi, nay bác sáng tạo làm chi chữ “muôn niên” cho nó cầu kỳ và khó hiểu với người bình dân ít học như chúng cháu ??? (Mà nghĩa lý có thay đổi được gì thêm đâu !)



Còn câu “Bởi trần gian có gió mưa bão bùng phong ba chớp giật cuồng phong lửa trào vẫn còn đó một đóa Nhất Chi Mai mỉm cười thiên thu bất tuyệt tự ngàn xưa vậy đến ngàn năm sau mãi còn, vẫn muôn niên tỏa hương từ bi” đến đây đã đủ nghĩa, bác thêm làm chi câu (màu tím) cho nó tối nghĩa.

Nếu bác không chịu khó viết bài cho sáng sủa thì sẽ mắc thêm lỗi “đem Phật pháp ra làm trò đùa”Vài lời kính góp ý !

TRỪNG
HẢI:

 Vạn Lý Tầm Chân – Quy Y Thọ Giới, Yếu lược (cont.)

KÍNH LẠY THẾ TÔN, ĐẤNG THOÁT VÒNG PHIỀN NÃO, BẬC CHÁNH ĐẲNG CHÁNH GIÁC
Cầu cho chúng sanh an lạc, đồng giải thoát mà đáo Niết Bàn.
____________________________

QUY Y TAM BẢO – CHÁNH TRI KIẾN, CHÁNH TƯ DUY và TÍN TÂM

Kính thưa quý hữu, Giáo Pháp mà Phật Đà thân giảng như lời tuyên ngôn trong Pháp Cú Kinh: “Như Lai chỉ dạy hai điều, đó là KHỔ và CON ĐƯỜNG THOÁT KHỔ” được ví chỉ như nắm lá trong lòng bàn tay là GIÁO PHÁP so với muôn vàn vô lượng lá trong rừng cây là CHÁNH BIẾN TRI cũng chỉ để chỉ cho chúng sanh thấy được con đường thoát khổ vì CHÁNH PHÁP là con thuyền đưa người vượt ái hà-flood, đoạn khổ ách-yokes tức ASAVA-LẬU HOẶC (Đọc Majjhima Nikaya-Trung Bộ Kinh, số 2, số 9 hay Digha Nikaya-Trường Bộ Kinh số 33…); là gốc của khổ đau tức TẬP ĐẾ. Hay ai là người có CHÁNH KIẾN về KHỔ ĐẾ là người am tường biện biệt CON ĐƯỜNG THOÁT KHỔ tức ĐẠO ĐẾ là nhận thức bằng nền tảng NHÂN SINH QUAN PHẬT GIÁO là TAM BẢO được kết tập trong NGŨ BỘ KINH gồm Trường Bô, Trung Bộ, Tương Ưng Bô, Tăng chi Bộ và Tiểu Bộ Kinh.
Và trong suốt 45 năm hoằng truyền Chánh Pháp, Phật Đà luôn dạy rằng giáo pháp của Ngài là để cho mọi người đến, lắng nghe, am tường biện biệt và tự mình thắp ngọn tâm đăng cho đến khi hỏa đăng kia bùng cháy là Tam Muội Hỏa đốt sạch Tham, Sân và Si đồng là Niết Bàn (Đọc Aditta Pariyaya Sutta tức Kinh Lửa). Vì vậy Phật Giáo_Buddha Sasana lấy Chánh Kiến làm người dẫn đường mà xây dựng Tín Tâm kia cho đến ngày nương Chánh Đạo (Đọc Arya Puggala, M, 70; A, IX,44…Patisambhida Magga, Pts II, trang 33 bản PTS), bởi Tín Tâm kia là đường dẫn về giải thoát (đọc Apannaka-Jataka, 1; Khadirangara-Jataka, 40…).

Trừng Hải hôm nay xin trình bày một cái nhìn gọi là khái lược về như thế nào gọi là Chánh Kiến về Sự Tướng chánh-tà, giả-chân, hữu-vô tức thường-vô thường và vị kỉ-vị tha mà chư cổ đức gọi là Thuyết Thông tức am tường biện biệt Lời Dạy của Phật Đà mà có trí phân biệt sự tướng, mà xây dựng Tín Tâm cho đến ngày Tông Thông tức Tâm Ngộ là Lý Tánh. Kính báo kính báo, hề hề

phamvandung57:

Kính chào mọi người !Phamvandung57 tôi không đi được nhiều lắm, cũng chẳng được học hành tử tế( là các trường dạy chữ nghĩa). Nhưng cũng có đôi chút hiểu về việc giao tiếp trên thế gian. Nói là mỗi dân tộc đều có tiếng nói và ngôn ngữ riêng biệt, nhưng cái cốt lõi để diễn tả cái nghĩa bản chất ở con người thì không có gì khác biệt . Chỉ có chỗ là mỗi dân tộc có sự phát triển về xã hội, kinh tế… mà đâm ra có chõ trí tuệ khác nhau. chính vì vậy mà thế giới đều tôn trọng mọi ngôn ngữ của mọi dân tộc, kể cả những bộ dân dù chỉ vài chục người. nay xã hội phát triển, con người nhận thấy ở mỗi dân tộc đều có cái văn minh mà ta hay gọi là Văn Hóa Bản Sắc Dân Tộc, cái cơ bản để thể hiện cái bản sắc đó là tiếng nói, chữ viết, hay được gọi là ngôn ngữ. cũng chính vì sự khác biệt về điều kiện xuất xứ và phát triển nên mới có sự khác biệt về ngôn ngữ thể hiện. Cũng bởi vậy mà ngay nay mọi thứ tiếng đều có thể dịch ra nhiều ngôn ngữ khác nhau, vừa là tìm hiểu vừa là học hỏi. Chính chúng ta hiện giờ vẫn dùng từ Hán Việt đấy thôi. lại nói về phong văn hóa thì mỗi dân tộc có cái riêng vì xuất xứ như trên đã nói thì cá nhân cũng vậy, người nào được học hành đến nơi đến chốn lại sáng tạo thì có phong văn hóa riêng mà lại dồi dào đa dạng, biết sử dụng ngôn ngữ thì đầy biến hóa cộng với cái tâm trong sáng làm người chân chính thì không thể gọi là người hoang tưởng hay nhảm nhí được. vì người chưa đạt được trình độ học vấn uyên thâm lại ýt nghiên cứu về các nền văn hóa thế giới mà thông qua ngôn ngữ thì không thể hiểu được…
lại nói về Phật Pháp thì càng khó khăn. chính vì thế đừng cho rằng ngôn ngữ dân tộc mình là tối thượng. vì sao lại nói như vậy? vì ngay Kinh Phật không thể là ngôn ngữ của tiếng Việt vì xuất xứ mà chính ngôn ngữ tiếng Việt không đủ để chuyển tải hết ý nghĩa của Phật Pháp. lại nữa , nói cho cùng nói theo Phật Pháp thì mọi ngôn ngữ chỉ là giả lập thì đều không thật nghĩa( phàm là lời nói đều không có nghĩa thật). Nhưng vì là thế gian nên không thể không dùng đến. bàn đến vấn đề này thì khó quá vì hiểu biết của tôi cũng có giới hạn. Nhưng xin hãy lắng nghe bằng trái tim chứ không phải bằng cái đầu. Vì cái đầu là tâm trí, là bản ngã, trái tim là tình yêu..
Đừng cho rằng tôi quá khích mà lại dọa xóa tên trên bản đồ đó nhé. xin mọi người hiểu cho rằng ông goole lớn lắm chứa được hàng triệu cái Email ấy chứ. Cám ơn mọi người trên Diễn Đàn

TRỪNG
HẢI:

Kính chào Phó Tổng quản Hắc Phong,

Trừng Hải mấy hôm nay không được khỏe nên cũng định phớt tỉnh Ăng lê lời “góp ý” của Phó Tổng quản cho nó…lành. Nhưng vốn thấy lời của Phó Tổng quản có chữ “chúng cháu” và “chúng sanh hậu bối” nên cố gắng viết vài lời chân tình để “góp ý lại” mà chỉ cho Phó Tổng quản biết sự hạn chế về tri thức của mình mà sửa đổi lời nói kẻo người hiểu biết mà thấy thì bấm bụng mà cười vì cái sự học của Phó Tổng quản.

_ Về chữ “MẬU NGỘ”: Trừng Hải này hỡi ôi khi thấy Phó Tổng quản cho rằng chữ “Mậu” có nghĩa là KHÔNG theo nghĩa của chữ “Mậu tài”, “Mậu túi” tức “Hết tiền”, “Sạch túi” của hạng đường phố vô học để hiểu chữ “Mậu Ngộ” của Trừng mỗ này. Bởi, chữ Mậu Ngộ vốn là chữ chuẩn mực sư phạm theo từ điển Hán-Việt là SAI LẦM, vốn khởi sanh do nghe lời “MẬU THUYẾT” hay “VÔ TRI”. Đúng là hết biết cái sự học, hề hề.

_ Về nghĩa của hai chữ “VÔ TRI” và “MẬU NGỘ”: Phó Tổng quản cho rằng hai chữ này đồng một nghĩa KHÔNG BIẾT và có cùng ngữ cảnh thì Trừng mỗ cũng phải té ngữa vì sự…VÔ TRI MẬU NGỘ của Phó Tổng quản; Vậy mà cứ mạnh miệng cho Trừng mỗ dùng từ, dụng chữ loạn nghĩa, tối tăm. Đúng là bể cái đầu, nỗ cái não vì hí tiếu.
Dạ xin thưa chữ TRi trong chữ VÔ TRI với chữ NGỘ trong chữ MẬU NGỘ hoàn toàn khác nghĩa lẫn cảnh giới. Chữ Tri là cái thấy biết cảnh trần khách quan tức “như nó là” thuộc Chánh Tri Kiến mà khi kèm với công phu Chánh Tin Tấn thì có được Chánh Niệm mới sanh ra Chánh Tư Duy tức Ngộ. Hay theo DUY THỨC TÔNG thì chữ TRI thuộc CẢNH SỞ QUÁN, còn chữ NGỘ thuộc HÀNH TU ĐẠO. Đúng là cái học VÔ DỤNG.

Các đoạn góp ý sau thì giờ Trừng Hải này không muốn nói nhiều nữa (vì cách đây 30′ đã viết ra nhưng khi tải lên thì máy chủ lỗi nên mất tiêu luôn, mà việc save và copy & past như bác Tuấn Tú nói, nhân đây cũng xin đa tạ bác nhiều, hề hề, thì Trừng mỗ chưa…mò ra) Nhưng đại khái là Phó Tổng quản bất thông nan am tường lời của Trừng Hải này là…cái chắc, hề hề.

Còn việc cụm từ nhạy cảm như Phó Tổng quản nói thì Trừng mỗ này biết tự liệu để khỏi ảnh hưởng đến Diễn đàn khi đã dụng “jeu muet” tức các dấu “…” Vậy mà Phó Tổng quản vẫn bắt lỗi thì hết biết. Trừng Hải có người bạn vong niên cấp tá thuộc bộ ca mà lại chuyên ngành tôn giáo hay đến hỏi về giáo pháp (hề hề, tay này thường nài nỉ lôi kéo mỗ đi uống rượu lễ các vị linh mục của người anh em Thiên Chúa giáo với lời rằng rượu lễ uống nhiều cũng lúy túy, hề hề), nên biết lời nào là nhạy cảm, lời nào không. Nếu mà bị banned vì lỗi này thì Trừng Hải cũng…ok, vì bây giờ đã có câu trả lời cho người bằng hữu hảo tâm nhờ cậy rồi.

Chào, hề hề

Ban Đại Biểu nhiệm kỳ III (2015-


Chời đất !

Vào Diễn Đàn Phật Pháp mà khoe :Trừng Hải có người bạn vong niên cấp tá thuộc bộ ca…..

Bác trừng hải có gốc lớn quá, nên dạn ăn dạn nói, chứ chúng cháu chỉ là những con “tép riu” cho nên rất ngại phải đụng chạm đến những từ ngữ “nhạy cảm”.

Qua những gì bác viết chúng con thấy kiến thức của bác nó rộng như biển cả, tuy nhiên “giấy không gói được lửa”. Lần trước bác đã ngụy biện cho danh hiệu “Thánh sư Dạ Xoa Vô Não”, lần này bác lại ngụy biện cho từ “mậu ngộ” (mà bác đã sử dụng rất nhiều lần.)

Nếu bác có lương tri của người Phật tử thì hãy dòm lại mình, xem mình còn khuyết điểm chỗ nào. Kiến thức Phật học nhiều mà không có đức hạnh đi kèm, thì chỉ là “tủ sách biết đi” mà thôi ! Có gì đâu mà kiêu hảnh đến độKhông có lời xây dựng nào lọt vào lỗ tai hết vậy !

Chắc bác dư biết vì sao mà bậc đa văn bậc nhất _ là Ngài A Nan _ thế mà khi Chư Tăng định kết tập Kinh điễn, ngài A Nan lại không được dự.

Con kêu gọi một chút lương tri còn sót lại của bác đó.

Kính ! 

TRỪNG
HẢI:

Đúng là không có một chút gì tinh thần của người tu học PHẬT PHÁP. Lời tôi nói về người công an tôn giáo không phải để khoe khoang (cấp tá thì có gì để mà khoe???) mà ý muốn nói Trừng mỗ này ngoài đời thật vẫn trao đổi bình thường với người công vụ những vẫn không đụng chạm gì đến những điều “nhạy cảm” để gây hiềm khích. Hiểu chưa!!!???

Tôi đã gắng sức, hết lòng chỉ cho cái NGU mà không chịu thức tỉnh cứ tự huyễn hoặc mình mà mang cái cùm nặng cả ngàn cân lên đầu suốt ngày nói lương tri, đức hạnh với giới hạnh. Những pháp như LƯƠNG TRI, GIỚI HẠNH hay ĐỨC HẠNH vốn là PHÁP TƯỚNG có thật trên thế gian; còn trong không gian mạng thì chỉ có lời nói ( đúng ra là chữ viết do các phép toán tạo ra) thì làm sao mà đánh giá được có hay không LƯƠNG TRI, ĐỨC HẠNH, GIỚI HẠNH vì chỉ toàn lời nói với lời viết ra tức là pháp ảnh, nghĩa là ẢO. Hiểu chưa!!!??? Thứ nữa GIỚI HẠNH của tôi như thế nào thì tôi tự biết, giống như tiền trong túi tôi thì tôi biết có bao nhiêu; Sao cứ chạy theo người ta hoài mà đoán già đoán non rồi dè bỉu tiền ít tiền nhiều, là kiêu hãnh, là mới tu, kém đức độ???!!! Đúng là quái gở thế gian dâu bể, dã man lòng người!!!???

Lần thứ hai xin cảnh cáo với đạo hữu hoatihon về câu bạch thoại “THÁNH SƯ DẠ XOA VÔ NÃO”: đây là lời thiệu mở đầu đại thần chú có trong KIM QUANG MINH TỐI THẮNG VƯƠNG KINH; Đức Ương Quật Ma La là ĐỨC THÁNH TỔ của chư thần DẠ XOA, có loài LA SÁT là thần binh vốn ngụ ở thế gian, hạng chúng sanh này chỉ tuân theo chỉ đạo của THẦN HỘ PHÁP DẠ XOA mà thực thi việc, chớ không có lòng từ bi đâu, đừng có buông lời chế nhạo mà KẾT OAN GIA trước cửa nhà mình, ảnh hưởng không tốt đến bản thân lẫn người thân!!!

CHÀO

hoatihon Đang Ngoại tuyến
Ban Đại Biểu nhiệm kỳ III (2015-2016)Có gì đâu mà “NỖI KHÙNG” lên như thế hở bác trừng hải ?!


Hoatihon kính tặng bác bài này đã được hoatihon “chiết xuất” từ Đại sư Padma nè : 


(Xem xong bác nhớ nhoẻn miệng cười : “Cái con nhỏ này thật là ……hí tiếu.” nhá !)

phamvandung57:

Bạch Cư Dị lại dùng kệ hỏi:

Riêng vào cửa không hỏi khổ không,
Dám đem việc thiền hỏi Thiền ông.
Ngay khi mộng là việc phù sanh,
Hay việc phù sanh ở trong mộng?
(Ðặc nhập không môn vấn khổ không,
Cảm tương thiền sự khấu Thiền ông.
Vi đương mộng thị phù sanh sự,
Vi phục phù sanh thị mộng trung).
Ðạo Lâm đáp:

Ðến thì không dấu, đi không vết
Khi đi và đến, sự giống nhau
Ðâu cần lại hỏi việc phù sanh
Chỉ phù sanh này là trong mộng.
(Lai thời vô tích khứ vô tung
Khứ dữ lai thời sự nhất đồng
Hà tu cánh vấn phù sanh sự
Chỉ thử phù sanh thị mộng trung).
Bạch Cư Dị bèn làm lễ mà lui.

TRỪNG
HẢI:


Kính các quý hữu đồng đạo hữu phamvandung57, lời đối đáp của thiền sư Đạo Lâm quả là vô địch cú ngôn, tác tuyệt thân hình, hề hề:

Bạch Cư Dị: Vi đương mộng thị phù sanh sự
Vi phục phù sanh thị mộng trung

Đạo Lâm: Hà tu cánh vấn phù sanh sự
Chỉ thử phù sanh thị mộng trung.

Diễn nghĩa và tán:

_ Sao lại phải hỏi “mộng mị là đời phù sanh” hay “đời phù sanh là mộng mị” làm chi cho nhiêu khê sự đời vốn đã nhiêu khê như tơ tình muôn mối mà nhẹ như bông, lại chắc như thiên thù tơ sợi vì không nỡ rời mà “mộng nữa cũng là không” nên điên điên khùng khùng, tỉnh tỉnh nhiên nhiên mà thốt lời ai oán, mà viết ngàn điếu tang để ghi dấu tình sầu nơi mộng phù hoa. Mà nhẽ ra, mộng là như nhiên thì phải như nhi mỉm cười đối mộng, để khi mộng tan rồi thì muôn sự thành không, khỏi phải “thi ấn” sầu trách “Em về rủ áo mù sa. Trút quầng phong nhụy cho tà huy bay”, hề hề.
___________________

Gởi riêng đạo hữu hoatihon, hề hề

_ Sao văn chương của đạo hữu nghèo nàn ốm o, thực dụng mì ăn liền…rứa, hề hề? Gì gì mà phải “tiêu hóa” kiến thức, “what’s, what’s” ngọn đèn sáng tỏ vì đủ “ô-xy”? Làm Trừng Hải này đọc xong, hề hề, chợt liên tưởng đến thời ăn “bo bo” nhai đến trẹo quai hàm mà vẫn không…tiêu, hề hề; rồi lại còn…sáng tạo ra ý tưởng bơm ô-xy cho đèn nó…sáng, hề hề, hí hiếu, rất hí tiếu!!!

_ Nếu như Trừng Hải không nhầm thì ANH NHI HẠNH là một trong năm du già hành pháp của bậc Bồ Tát hành LỤC ĐỘ gồm Tự và Lợi Tha. Trong đó Tự lợi thì dụng hạnh là xóa sạch tập khí hư ngụy từ vô thủy tức hữu vi tập khởi ô nhiễm thuộc A Lại Da Thức toàn chuyển thành TÂM VÔ PHÂN BIỆT tức NHƯ THẬT KHÔNG với thí dụ như tâm hồn nhiên của trẻ 5, 6 tuổi (anh nhi) tức chỉ là hình ảnh cho trí tương tợ Viên Thành Thật Hữu dùng để giáo hóa chúng sanh; Sao lại lấy đó làm hạnh của người mới bắt đầu??? Nếu sở hữu cách Beginner’s mind theo như một số dịch giả là SƠ TÂM, hình như trong cuốn ZEN MIND, BEGINNER’S MIND của thiền sư S. SUZUKI nhật bổn(?) (vì không hiểu đạo hữu hoatihon sử dụng theo nghĩa nào???)
_ Nếu đạo hữu hoatihon muốn thảo luận về BAN SƠ tức MINH SƠ là bắt đầu nơi sơ kỳ của vô minh thuộc 62 KIẾN CHẤP trong KINH PHẠM VÕNG thuộc Nam Phương Thượng Tọa Bộ hay BIẾN KẾ SỞ CHẤP trong GIẢI THÂM MẬT KINH thuộc Duy Thức Tông thì Trừng mỗ sẽ rất vui khi pháp đàm thuần kiến giải tức chỉ bằng tri thức đơn thuần.

ĐỒNG KÍNH, hề hề.

TB: À quên, xin tặng đạo hữu hoatihon hai câu trong bài VÔ TƯỚNG TỤNG của LỤC TỔ HUỆ NĂNG, theo bản dịch của Hòa Thượng Mãn Giác, hề hề:

TÁNH CHƯA LY GIẢ,
THÌ LÀM SAO BIẾT PHÂN BIỆT LÝ CHÂN VÀ GIẢ.

Ban Đại Biểu nhiệm kỳ III (2015-2016) 

Gửi bởi phamvandung57 

chuyện Bồ Tát độ con heo bạn đã đọc chưa? Nếu chưa học hết Phật Pháp và không biết thế nào là ứng hóa thân của chư đại bồ tát thì đừng có vội nói. Hình như các bạn ghét Khổng , Lão lắm ? nên nhớ rằng Phật pháp không lìa thế gian giác. . Khổng , Lão là cấp 1 , 2 mà không học cho giỏi làm sao lên đại học được( Đạo Phật ). hãy cẩn thận khi đánh giá về cổ nhân

Kính Bạn phamvandung57

Theo lời bạn nói: Khổng , Lão là cấp 1 , 2 mà không học cho giỏi làm sao lên đại học được( Đạo Phật )

– Như vậy té ra. từ thời Đức Phật giáo hóa ở Ấn Độ, thì Phật và chư Thanh Văn phải qua Trung Quốc học hỏi về Khổng- Lão, rồi mới tu hành và truyền Đạo cho đệ tử được sao ? Vì nếu chưa học thì không thể lên “đại học (Đạo Phật)” được !

– Và như vậy thì các trường Phật học, phải trước dạy môn sinh Khổng -Lão trước đã (vì đó là căn bản cấp 1 và2).- Nếu chỉ dạy về Phật học như hiện nay, thì mất căn bản, không thành tựu được. ư !

– Và theo lời bạn nói :”chuyện Bồ Tát độ con heo bạn đã đọc chưa? Nếu chưa học hết Phật Pháp và không biết thế nào là ứng hóa thân của chư đại bồ tát thì đừng có vội nói”.- vậy chắc là bạn đã học hết chuyện “con heo” rồi nên giờ bạn mới vội nói vậy ư ?

Thật bái phục, bái phục.

phamvandung57:

chào linh thoại! Hình như cái đầu của bạn làm bằng máy móc cơ khí thì phải, mọi thứ cứ như được lập trình từ người sản xuất. Còn tôi nghĩ người có học thì không như vậy. Nếu mọi người cho là đúng sai thế nào cũng xong. Không phải tôi tháo lui mà là có nói sao cũng chỉ thêm rối rắm . để khoảng trống trong chuyên mục cho bác Hải tiếp tục là hay nhất.

TRỪNG
HẢI:

Chào đạo hữu phamvandung57,


Lời quả là CHUNG MINH LẬU TẬN, nên âm vận thoại truyền cát bụi của Thiên địa linh linh tức chuông đuổi tà ma phải tuyệt tích; Bởi âm vận ấy làm sao sánh với thanh u nhã vận của ĐẠI HỒNG CHUNG vốn là HÙNG KHÍ TỀ THIÊN của người chí nơi ĐẠI THỪA, hề hề.


BÁI PHỤC, BÁI PHỤC, BỘI PHẦN BÁI PHỤC.

Gửi bởi phamvandung57

Bạn có hiểu gì về Hội Họa? Nếu để hai bức tranh đó bên cạnh nhau thì bạn động não lên một tý. còn cái nhìn trong đạo Phật thì còn cao thâm hơn nhiều. Bạn chỉ chấp vào hình tướng già trẻ, mà không hiểu được đặc trưng ngôn ngữ của hội họa là thế nào. Thôi nhé cứ vui vẻ như bức cưỡi trâu thổi sáo đi

Kính thưa Ngài phamvandung57
Ngài đã bảo động não để so sánh hai bức họa hình con trâu của thiền gia và con trâu là đạo gia. Vâng theo ý chỉ của Ngài, tôi thử so sánh, phân biệt thì con trâu của thiền gia là con trâu đen, còn con trâu của Lão Đam (Lão Tử) thì là con trâu xám. Khác chỗ hình người cỡi: Mục đồng áo trắng đơn sơ, Lão Đam áo vàng vương giả. Xem hai bức hình, Ngài đã “ngộ” ra ý gì, xin ngài từ bi khai thị cho đại chúng hiểu. Sở dĩ tôi yêu cầu, vì tôi đọc những bài của bác Trừng Hải thì còn hiểu chút chút, còn những lời của Ngài thì tôi mù mờ chẳng thâm nhập nổi. Hổng lẽ chỗ “ngộ” của Ngài lại cao thâm hơn bác Trừng Hải…
Trâu của thiền gia trong “Thập Mục Ngưu Đồ”:

Cỡi trâu về lại nẻo đường quen
Tiếng sáo đưa chiều ráng nhá nhem
Mỗi phách, mỗi ca vô hạn ý
Tri âm há chẳng nức lời khen.
Trâu của Lão Đam trong “Đạo Đức Kinh”:

Trâu chiều cắn cỏ lưu ly,
Nghe trong thanh vắng thịnh suy rộn ràng.
Tìm đâu thấy lối sang hèn,
Guốc khua tiếng mõ áo vàng quyền uy.


Tạm mượn lời trong “Đạo Đức Kinh” để tiễn Ngài “Vân du lối cũ về hoàng cung êm”:
Cỡi con trâu xám tạ tình,
Thuận tay múa bút Thư Kinh trao đời.
Đạo Danh mềm gót rong chơi,
Đức trong sáng chiếu từng lời vô ưu.
Ấm tan vạn nẻo sương mù,
Hãn thanh ghi dấu vân du hạc vàng.

Điều Hành Viên

Hồi thủ

Kính chào các Bác.

Xin cho phép chúng con đóng góp vài ý về hai bức tranh này:

Dạ, theo chúng con.
bức tranh ngaì Lão tử này:

Một người, một trâu, một sợi dây,
Thần Tiên thanh thảng, chính là đây,
Kinh thư tế thế, “làm yên cưởi”.
Vạn nẽo phù sa, “mặc tụi bây”.

là con trâu nhàn nhã vô vi, rong chơi Ta bà Thế giới, mãi mãi không thay đổi sắc màu.- Đi không cần đến của bậc Đại Tiên.

còn bức Kỵ ngưu quy gia: cởi trâu về nhà

Người thì đã trắng trâu còn nâu,
Nhưng đã quen nhau vui sáo mầu,
Người cùng với trâu đâu có khác.
Công phu chầy tháng mới quay đầu.

.- của Bác Mục Đồng là con trâu đang lớn ở giai đoạn thứ 6 diễn tiến như sau:

1/. Tầm ngưu: tìm trâu
2/. Kiến tích: thấy dấu,
3/. Kiến ngưu: thấy trâu
4/. Đắc ngưu: được trâu
5/. Mục ngưu: chăn trâu

6/. Kỵ ngưu quy gia: cởi trâu về nhà 

7/. Vong ngưu tồn nhơn: quên trâu còn người
8/. Nhơn ngưu câu vong: người trâu đều quên (vẽ vòng tròn)
9/. Phản bổn hoàn nguyên: trở về nguồn cội
10/. Nhập triền thùy thủ: thỏng tay vào chợ

Vâng theo chúng con: Chỗ khác giữa 2 con trâu là :

– Trâu và ngài Lão tử là: Không đổi màu, không lớn lên, và ra đi không trở lại.

– Trâu của Bác Mục Đồng là:Màu đen dần thành trắng, quay đầu về nhà. Người và Trâu là một.

Dạ. không biết ý của các Bác thế nào ?

Tuấn Tú 

“Mặc tụi bây”

TRỪNG
HẢI:

Gửi bởi Tuấn Tú Xem bài viết

Cám ơn Phamvandung57

Phải chi đừng có câu cuối thì bài viết rất hay như lời Mode minhđịnh vừa đăng vào.

Mong rằng sau này nếu có thể được hãy viết bằng cách trực tâm cảm nhận như vừa rồi thì mọi việc sẽ tốt đẹp, còn những việc khác thì cứ “mặc tụi bây”.

Chào đạo hữu Tuấn Tú,

Trừng Hải sáng nay chỉ đọc được đoạn trích dẫn của đạo hữu Hoài Linh của bác save lại mà không đọc được lời trực tâm về hội họa, có lẽ bài bị xóa vì “danh hài hoài linh bị treo sàn diễn”, hề hề. Trừng Hải xưa kia cũng là một tín đồ đan thanh của hội họa tàu, đáng tiếc đáng tiếc.

Đọc lời bình “Mặc tụi bây” của bác làm Trừng Hải này nhớ lại một mẫu chuyện thiền “Hãy để mặc nó” mà trong tác phẩm “Empty Cloud”: The Teachings of XU YUN” Jy Din Sakya, Hòa Thượng Thích Đại Hạnh, trụ trì chùa Hư Vân, honolulu, hawaii chuyển dịch là LET IT BE cũng là tên một bài hát của ban nhạc BEATLES năm xưa làm bao nhiêu trái tim say mê ca hát (tất nhiên có trừng hải này trong số đó) vì nói về tâm an bình như nhiên trước vạn lẽ đời biến hóa vì tranh chấp tức thị là khổ đau. Xin được trích dẫn vài đoạn về bài hát tuyệt vời này vì thế giới vốn luôn hi vọng an lạc mà lại vô tri mậu ngộ nên chỉ bám vào những mãng bè trôi dạt của dòng phù sanh không không, có có, nhưng đối với những ai trên đường Vạn Lý Tầm Chân lại ngưỡng mong hội thông lẽ huyền vi HỒNG PHƯỚC VÔ BIÊN vốn luôn hiện tồn bên cạnh mà bước vào cảnh giới NHƯ NHIÊN VÔ NGẠI TÂM, hề hề – LET IT BE:

When I find myself in time of trouble, Mother Mary comes to me. Speaking words of wisdom, let it be….And when the broken hearted people living in the world agree. There will be an answer, let it be. For though they may be parted, there is still an chance that will see. There will be an answer, let it be…

Tạm việt dịch: Khi tôi thấy tôi khổ đau, tức thì “Mẹ Mary” liền đến và nói cho tôi những lời dịu hiền chỉ đường về an bình đó là Hãy Như Nhiên…Và cũng như với tất cả những ai đang đau khổ (vì lời ấy có hiệu dụng với tôi) cũng sẽ đồng được nghe lời dịu hiền từ bi ấy như đã từng xảy ra với tôi (Cầu cho chúng sanh an lạc). Dù ngay với những ai tự xây những bức tường ngăn cách với thế gian bởi tôn thờ bản thân cũng sẽ nhận được lời dạy minh triết huyền dịu ấy khi cơ duyên đến. Đó là lời Hãy Như Nhiên nhiệm mầu…

Đồng Kính, hề hề

Tuấn Tú

Kính bác Trừng Hải!

Bài viết của bác phamvandung57 tôi đã đọc và lãnh hội được hết nét đẹp của bác diễn tả, một điều mà ít người nhận ra, nếu không nhờ tôi dùng kế “khích tướng” để bác ấy lột hết khả năng trực nhận của mình…, mà đây là lần đầu tiên tôi được đọc bài viết hay như vậy.

Rất tiếc là bác ấy không “làm chủ được tâm ý”, đáng lẽ phải biết dừng đúng chỗ muốn dừng, thì lại “phang” thêm hai câu nói về cô Hắc Phong và Mục Đồng, vì lẽ đó bài viết không còn trung thực nữa.

Tiện đây, tôi xin có lời khuyên nhủ chân thành, khi vào diễn đàn để thảo luận (chứ không phải tranh luận), trước tiên mình nên dùng lời nói ái ngữ, trực tiếp thảo luận với đối tượng mà mình đang nhắm vào, để biết mình đang nói gì, với ai, liên quan với việc gì?. Dù biết rằng đề tài mình đang thảo luận có nhiều người tham gia, mỗi người mỗi ý, nên mình không có thể phân tâm ra mà đối đáp được. Và cũng đừng vì một đối tượng “bị canh chừng” mà vào “bề hội đồng” với mục đích dìm họ xuống.

Nếu mọi người biết làm chủ thân, khẩu, ý trong mọi lúc, mọi nơi thì sẽ không có việc đáng tiếc xảy ra (nhưng khổ thay, điều này thường thấy trong tất cả các diễn đàn), và mọi việc sẽ tốt đẹp trong tinh thần Lục Hòa.

Kính.

phamvandung57:

Bài đã được cóp pi lại

Kính bác Tuấn Tú! Chuyện này đáng lẽ phamvandung57 đã kết thúc, nhưng vì bác đã nói vậy phamvandung57 không có cách nào để trốn được. Vậy cũng xin được bày tỏ một chút hiểu biết về hai bức tranh mà bác đưa ra, một về Lão Tử và bức tranh của Thiền Gia như bác nói.
Trước hết xin được nói về bức tranh Lão Tử:
Đây là bức họa chân dung Lão Tử mà cũng là bức họa khái quát toàn bộ triết lý Đạo Lão.
Bác thử ngắm xem có ngộ nghĩnh và phi lý ? Làm gì có một ông lão râu tóc bạc phơ lại dám đi cưỡi trâu bao giờ?- Nhưng không bao giờ vô lý cả. trước tiên chúng ta hãy thử tìm hiểu về Đạo Lão nhé, muốn thế chúng ta phải xem Đạo Lão có Tính Cách Và Qui Luật gì:
Tính cách thứ nhất là : PHÁC ( mộc mạc , chất phác ). Chính vì vậy toàn bộ bức tranh từ bố cục đến đường nét và màu sắc rất giản dị. Một ông già mang dáng dấp của một lão nông thuần phác cưỡi con trâu rất thuần nông không có gì là phô trương sự vạm vỡ hay mạnh mẽ phi thường…ung dung rảo bước trên bìa làng. Còn cái áo mà bác nói là màu vàng vương giả thì quả là hý tiếu. Bác thử nhìn xem màu áo trên người với màu đất dưới chân trâu có giống nhau ?. Đây là chiếc áo bần nông của lão nông nó chân thật và giản dị như đất. Còn dáng vẻ chiếc áo nó cũng thô kệch không kém phần với gương mặt của Lão Ông…
Tính cách thứ 2 là : Tự Nhiên
Vâng toàn bộ cấu trúc của bức tranh từ người , vật, cảnh, màu sắc, không gian hoàn toàn không có gì là gò bó trong cách thể hiện. vì triết lý của Đạo Lão là rất coi trọng tự nhiên, coi đạo với tự nhiên là một.” Nhân pháp địa, Địa Pháp Thiên, Thiên Pháp Đạo, Đạo Pháp Tự Nhiên “.
Một tính cách nữa cũng là một qui luật của Đạo Lão là : Luật Phản Phục.
Vâng đây là mấu chốt về vấn đề tại sao tranh vẽ chân dung Lão Tử lại vẽ một ông già cưỡi trâu.
Vì chương 5 Lão Tử Viết :”Đại viết thệ, thệ viết viễn , viễn viết phản”.
{ Đạo} lớn ( vô cùng ) thì lưu hành (không ngừng). Lưu hành (không ngừng) thì đi xa, đi xa thì trở về.
Chương 10 ông nói rõ hơn:
“ Phản giả, đạo chi động” ( luật vận hành của đạo là quay trở lại ). Chính vì thế mà bức tranh thể hiện một ông già cưỡi trâu. ở đây không còn là hình ảnh của ông già nữa mà nói cái sự quay lại, trở về trẻ thơ, chỉ có trẻ thơ mới cưỡi trâu. Đúng một hình ảnh một ông già an nhiên tự tại ung dung như rũ bỏ hết tất cả mọi lo toan ưu phiền, toan tính ở cuộc đời mà lòng phơi phới như một chú mục đồng…hề hề…
Nhưng còn một điều khác biệt nữa là tại sao bức tranh này lại không có thổi sáo, mà cũng là người đã đạt đạo tiên. Chỉ vì không thể một ông lão râu tóc bạc phơ có phần răng rụng hì hì.. thì làm sao thổi sáo đây. Nhưng chuyện này tôi sẽ nói ở bức tranh sau. Còn cả chuyện con trâu màu này màu nọ nữa. vâng vì là đạo tự nhiên nên trâu thật nó cũng màu như thế mà. Hơn nữa tại bác hay phân biệt chứ trâu là trâu, cứ sao lại trâu trắng trâu đen làm gì. Vì trên thế lưu bố tưởng không sinh ra trước tưởng thì có khác gì nhau đâu. Nhưng sẽ bàn tiếp ở phần sau.
Giờ xin được nói đến bức tranh nhà Thiền . ồ quá gay go thật nhưng xin cũng cố gắng.
Trước hết nói về hình họa thì là hai phong cách thể hiện khác nhau, vì là nội dung khác nhau thì hình thức chuyển tải cũng khác là lẽ đương nhiên. Bức tranh nhà thiền thể hiện tính cách mạnh mẽ và huyền bí , nhưng đầy tính chân thật. Hình ảnh con trâu trong bức tranh là nói về tâm đạo, với hai con mắt như sáng chói thể hiện sự tỉnh thức của người tu đạo luôn luôn bừng tỉnh. Thể hiện sự vững chắc không lay chuyển bằng những đường nét dứt khoát của một bút pháp tài hoa hiểu đạo.
Về hình ảnh chú mục đồng làm sao lại là chiếc áo trắng như bác Tuấn Tú nói Nghĩa là:
Người đạt đạo ở đây là người đã đạt được tánh không , hiểu rõ được các tướng là rỗng rang không tịch, trong suốt, sáng chói, hình ảnh thể hiện không còn chấp vào tướng nữa. hãy quan sát thử xem từ da thịt đến quần áo là một màu trong suốt…
Giờ đến cái sáo và thổi sáo. Vâng đây là một khẳng định về chân lý TÁNH KHÔNG MÀ DIỆU DỤNG.. Đạo Phật thường hay dùng hình ảnh chiếc sáo để nói lên sự rỗng rang mà huyền diệu âm sắc…
Phamvandung57 tôi không có hiểu biết nhiều chỉ tạm nói đôi lời vậy thôi. Nhưng xin nhắc với bác rằng thưởng thức nghệ thuật đã khó , mà lại là hội họa thì càng khó hơn.
Hơn nữa thưởng thức nghệ thuật là vô cùng, không có giới hạn về nhận định nào cả. nó phụ thuộc vào hiểu biết, thẩm mỹ , cảm xúc mà quan trọng là trực nhận từ trái tim.
Nhưng đã nghệ thuật thì bao giờ cũng giới hạn về không gian, thời gian… chính vì thế chúng ta hãy hiểu theo cách riêng của mỗi người mà không nên áp đặt vào cho bất cứ ai.
Còn nữa về ý nghĩa hai bức tranh bác CHÙA PHƯỚC THÀNH đã nói rồi. xin chân thành cám ơn hai bác CHÙA PHƯỚC THÀNH và TUẤN TÚ. Chúc hai bác mạnh khỏe
Và cũng xin thưa với Chị Hắc Phong là phamvandung57 không tuyên truyền Đạo Lão đâu nhé. xin phép chị được đăng bài này vì theo đề nghị của bác Tuấn Tú. Cám Ơn nhiều nhiều
À còn một chuyện này nữa cũng tiện nói nốt. thường trong chúng ta có không ít người lấy hình ảnh đạo Phật làm AVATA mà không hiểu hết ý nghĩa của biểu tượng. Cũng giống như anh Mục Đồng lấy bức họa nhà thiền ra mà không khéo lại trở thành biển hiệu là thịt dê mà nhà hàng lại là nai hoẵng thì thật là buồn cười. Đây là lời chân thành mà có trách thì tôi xin chịu chứ không thể không nói

TRỪNG
HẢI: 

Gửi bởi Tuấn Tú 

Cám ơn phamvandung57

Phải chi đừng có câu cuối thì bài viết rất hay như lời Mode minhđịnh vừa đăng vào.

Mong rằng sau này nếu có thể được hãy viết bằng cách trực tâm cảm nhận như vừa rồi thì mọi việc sẽ tốt đẹp, còn những việc khác thì cứ “mặc tụi bây”.

Chào đạo hữu Tuấn Tú,

Trừng Hải sáng nay chỉ đọc được đoạn trích dẫn của đạo hữu Hoài Linh của bác save lại mà không đọc được lời trực tâm về hội họa, có lẽ bài bị xóa vì “danh hài hoài linh bị treo sàn diễn”, hề hề. Trừng Hải xưa kia cũng là một tín đồ đan thanh của hội họa tàu, đáng tiếc đáng tiếc.


Đọc lời bình “Mặc tụi bây” của bác làm Trừng Hải này nhớ lại một mẫu chuyện thiền “Hãy để mặc nó” mà trong tác phẩm “Empty Cloud”: The Teachings of XU YUN” Jy Din Sakya, Hòa Thượng Thích Đại Hạnh, trụ trì chùa Hư Vân, honolulu, hawaii chuyển dịch là LET IT BE cũng là tên một bài hát của ban nhạc BEATLES năm xưa làm bao nhiêu trái tim say mê ca hát (tất nhiên có trừng hải này trong số đó) vì nói về tâm an bình như nhiên trước vạn lẽ đời biến hóa vì tranh chấp tức thị là khổ đau. Xin được trích dẫn vài đoạn về bài hát tuyệt vời này vì thế giới vốn luôn hi vọng an lạc mà lại vô tri mậu ngộ nên chỉ bám vào những mãng bè trôi dạt của dòng phù sanh không không, có có, nhưng đối với những ai trên đường Vạn Lý Tầm Chân lại ngưỡng mong hội thông lẽ huyền vi HỒNG PHƯỚC VÔ BIÊN vốn luôn hiện tồn bên cạnh mà bước vào cảnh giới NHƯ NHIÊN VÔ NGẠI TÂM, hề hề – LET IT BE:


When I find myself in time of trouble, Mother Mary comes to me. Speaking words of wisdom, let it be….And when the broken hearted people living in the world agree. There will be an answer, let it be. For though they may be parted, there is still an chance that will see. There will be an answer, let it be…


Tạm việt dịch: Khi tôi thấy tôi khổ đau, tức thì “Mẹ Mary” liền đến và nói cho tôi những lời dịu hiền chỉ đường về an bình đó là Hãy Như Nhiên…Và cũng như với tất cả những ai đang đau khổ (vì lời ấy có hiệu dụng với tôi) cũng sẽ đồng được nghe lời dịu hiền từ bi ấy như đã từng xảy ra với tôi (Cầu cho chúng sanh an lạc). Dù ngay với những ai tự xây những bức tường ngăn cách với thế gian bởi tôn thờ bản thân cũng sẽ nhận được lời dạy minh triết huyền dịu ấy khi cơ duyên đến. Đó là lời Hãy Như Nhiên nhiệm mầu…


Đồng Kính, hề hề

Tuấn Tú 

Kính bác Trừng Hải!

Bài viết của bác hoailinh tôi đã đọc và lãnh hội được hết nét đẹp của bác diễn tả, một điều mà ít người nhận ra, nếu không nhờ tôi dùng kế “khích tướng” để bác ấy lột hết khả năng trực nhận của mình…, mà đây là lần đầu tiên tôi được đọc bài viết hay như vậy.

Rất tiếc là bác ấy không “làm chủ được tâm ý”, đáng lẽ phải biết dừng đúng chỗ muốn dừng, thì lại “phang” thêm hai câu nói về cô Hắc Phong và Mục Đồng, vì lẽ đó bài viết không còn trung thực nữa.

Tiện đây, tôi xin có lời khuyên nhủ chân thành, khi vào diễn đàn để thảo luận (chứ không phải tranh luận), trước tiên mình nên dùng lời nói ái ngữ, trực tiếp thảo luận với đối tượng mà mình đang nhắm vào, để biết mình đang nói gì, với ai, liên quan với việc gì?. Dù biết rằng đề tài mình đang thảo luận có nhiều người tham gia, mỗi người mỗi ý, nên mình không có thể phân tâm ra mà đối đáp được. Và cũng đừng vì một đối tượng “bị canh chừng” mà vào “bề hội đồng” với mục đích dìm họ xuống.

Nếu mọi người biết làm chủ thân, khẩu, ý trong mọi lúc, mọi nơi thì sẽ không có việc đáng tiếc xảy ra (nhưng khổ thay, điều này thường thấy trong tất cả các diễn đàn), và mọi việc sẽ tốt đẹp trong tinh thần Lục Hòa.

Kính.

TRỪNG
HẢI:

Chào đạo hữu phamvandung57 đồng đa tạ đạo hữu thanhvan, những công dân diễn đàn hạng hai như trừng hải này, hề hề

Lời quả thật là hay, sắc bén như KIẾM XUY MAO cắt phăng sự đời như…đậu hủ, hề hề, không hổ danh người lập chí Đại Thừa nương cửa Thuyền tôn. Bái phục bái phục.

Trừng mỗ xin có vài lời góp vui gọi là lời đã vốn hay càng thêm xuất sắc như giai nhân vốn đã nghiêng thành nay thêm gấm lụa càng say lòng người, để cho “Thư trung hữu ngọc nhan như họa”, hề hề:

_ Trước thì xin nói về con trâu trong THẬP MỤC NGƯU ĐỒ là Avatar của đạo hữu Mục Đồng, hề hề: đúng là con trâu này thật là…mập ú, hề hề, chắc là họa phẩm…mì ăn liền của họa sĩ hạng hai hiện đại(?) mà lại có cặp mắt dữ nên không giống…trâu tí nào, nên thỉnh thoảng khi vào Diễn đàn Trừng mỗ thấy giống như nhãn hiệu…Mofly nếu nhìn thoáng qua, hề hề, xin lỗi đạo hữu Mục Đồng vì đây là lời chân thật thấy như thế nào thì nói như thế đấy, hề hề, chứ không có ý gì hết. Thứ nữa thì con trâu vốn chỉ có hai móng nhưng nhìn hình thì thấy có đến…ba nên không như thật là…trâu, hề hề, chắc trâu này là trâu tưởng tượng. Mới tả chân mà đã sai sai tùm lum rồi, hề hề, “As-is”, như nó là??? hề hề, hề hề???
_ Thứ là xin nói bức Lão Tử cởi Thanh Ngưu: hề hề, đây là nét đan thanh mặc họa thì làm gì…có màu sắc; màu vàng mà bác Tuấn Tú nói là đan chu tức màu đỏ pha mực tàu mà ra, dùng để vẻ trong các bức họa có chủ đề nhân vật hay cây lá, thú vật…
Trong hội họa trung hoa có ba trường phái là vẻ tả chân (đỉnh bút?) thường là các họa sĩ triều đình, được phong quan như ta đọc trong Pháp Bảo Đàn Kinh, Ngủ Tổ có mời một vị lên chùa để vẻ; thứ nữa là vẻ theo các mẫu có sẵn bắt chước các danh tác (tự họa?) thường là do các họa sư ở trong các đại dòng họ lớn ở tàu vừa vẻ tranh vừa dạy họa cho con cái trong gia đình (đọc Hồng Lâu Mộng); rồi mới đến trường phái nhất bút nhất họa, chỉ “một nét bút vung tức danh họa thành”, đây là dòng tranh của các đại danh sĩ, thi sĩ…túy lúy rong chơi mãi mê trường đời mặc sự có không, hề hề (cũng thích nhỉ?) như Lý Bạch, Đỗ Phủ… chẳng hạn; về sau các thiền sư tàu, vốn cũng rảnh ranh, hề hề, mới mượn kiểu vẻ này làm Thiền họa mà quý hữu vốn thấy trong các tác phẩm thiền, hề hề, nhất là ở nhật bổn.

Đồng Kính, hề hề

Kính bác trừng hải !
1. Một người múa may quay cuồng thì thấy trời đất đảo điên, thậm chí cây cột đèn họ cũng thấy nó múa. Điều này không phải lỗi ở cây cột đèn, không phải đang có động đất hay bảo tố, mà chỉ vì đương sự đem cái tâm đảo điên nhìn sự vật thì mới thấy như vậy.


2. Một người loạn thị, loạn sắc thì chớ có trách “cảnh vật sao không đẹp đẻ tí nào !”


3. Một con ruồi bám theo xe lửa (tàu hỏa) thì nó thấy vườn cây cao su đang xoay vần, những cây cột đèn chạy lui về phía sau. Thực ra vườn cây cao su không có xoay vần, những cây cột đèn vẫn đứng đó. Chỉ tại cái thấy của con ruồi nó “nhếch nhác” như vậy mà thôi.


4. Một hồ nước tỉnh lặng với những hàng cây thướt tha soi bóng, nhưng loài ngạ quỷ thì thấy là biển lửa cho nên dù đói khát đã lâu nhưng vẫn không dám lại gần, không dám lấy mắt ngó. Cái này là biệt nghiệp của hành giả chiêu cảm mà nên.


Thường thường hành giả không biết tự trách mình nặng nghiệp cho nên chiêu cảm Ác cảnh, mà cứ đi trách cảnh sao thế này, sao thế khác ?


Kính !

TRỪNG
HẢI:

Gửi bởi Quay lại 

Chân lý ở chính mỗi con người, nên ” nó ” bàng bạc khắp nơi. Cố tình nắm bắt, thì “đầu” mọc trên đầu.

“Tâm niệm” sanh diệt trong từng sát na như những con sóng gợn, thì đừng có mong “sóng” chết đi để biến thành “nước”. Bản thân sóng là nước rồi đó.

“Hỏi”, là “cái” của ông rồi vậy. Tôi “trả lời” không dính mắc gì đến ông.

Hiểu không?

Không hiểu, thì lảnh ba gậy.

Hiểu, thì lảnh ba mươi roi. 

Chào đạo hữu Quay lại,

Hề hề, chắc bác Tuấn Tú đã ngủ rồi vì ở bên kia bờ TBD, mà Trừng mỗ này vốn có một chút “roi gậy” với đạo hữu Quay lại tức trở về nên xin tiếp lời vậy.

Quả nhiên sóng với nước vốn là một tức tâm sanh kiến văn giác tri. Nhưng đạo hữu nói ngang đây rồi dừng thì quả là gải chưa tới chỗ đã…ngưng, hề hề, nhột quá nhột quá, hề hề. Hay lời có giữ lại ít thiền cơ chưa nói ra hết vì thời đã qua. Xin chỉ giáo,chỉ giáo, hề hề.

KÍNH

TB: Lời cảm thán của đạo hữu về VẠN LÝ TẦM CHÂN đúng với chân tình của Trừng Hải gởi trong bài viết. Đa tạ đa tạ. Chỉ có điều khi “trở về” không phải là “mệt mõi, rủ rượi…” mà lòng ca hát lời VONG ƯU

TRỪNG
HẢI:
 Gửi bởi dieuduc
Chào các Bạn,
d/đ cũng muốn được góp lời :

Nói lời khó hiểu
Khiến cho người bệnh
Bệnh càng nặng hơn
Phá hư Phật Pháp

Thân

Chào đạo hữu trước là tự Diệu sau là tên Đức tức Diệu Đức, hề hề

Xin cho Trừng mỗ hỏi đôi lời chỉ để tỏ tường hai chữ “phá hư” mà lại là phá hư “Phật Pháp”??? Ai là người thần thông quãng đại…rứa tề? hề hề, hết chuyện đi phá rồi sao???mà đòi đi “Phá hư Phật Pháp”!!! Thần thánh ở phương nào…rứa??? Đạo hữu dieuduc chỉ cho Trừng mỗ này sáng mắt cái coi. Xưa nay Trừng mỗ cứ nghĩ Phật Pháp vốn là Chí Bảo Oai Lực vô thượng, Biến Hóa vô biên bởi, Phật Đà đã chuyển Pháp Luân hơn 25000 năm trăm năm trước, vốn là Bất Hoại. Mà nay nghe đạo hữu dieuduc nói có người “phá hư” thì có lẽ người “phá hư” chính là kẻ vô tri mậu ngộ nên suốt ngày chỉ biết “tán nhảm” mà thôi.

Vô cùng lo sợ, hề hề, mà rửa sạch…hai tai kính nghe lời “chỉ điểm”!!!

Kính, hề hề

TB: đạo hữu làm thơ hay làm “vè” rứa? chắc là vè mà tưởng là thơ, tưởng là thơ mà thực ra là vè. Hề hề

Thành viên vinh dự

Chào bạn Trừng Hải.
Việc “phá hư Phật Pháp” chắc rất ít người tu học Phật đạo không biết. Bạn có thể đọc phẩm Tà Chánh kinh Đại Bát Niết Bàn – kiểm chứng.

Còn Bạn hỏi thần thánh phương nào – thì d/đ có thể trả lời ngắn gọn với Bạn – không chỉ có thần thánh của ma Ba Tuần vị trời đứng đầu cõi Dục – mà – cả người đời nếu đi theo ma Ba Tuần cũng sẽ trở thành nhứt xiển đề phá hư Phật Pháp.

Còn nếu Bạn cho rằng vì Phật Pháp oai lực vô thượng, biến hóa vô biên… nên không thể bị phá hư – là Bạn đã hiểu lầm Phật Pháp d/đ nói với sự nhiệm mầu của Phật Pháp.

Vì Phật Pháp d/đ nói là pháp của Phật – dạy cách tu hành. Nên phá hư Phật Pháp là làm cho người đời tu sai lời Phật dạy. Điều này, không liên quan đến sự nhiệm mầu của Phật Pháp. Vì dầu Phật Pháp có nhiệm mầu như thế nào đi nữa – thì cũng cần phải tu đúng mới được. Còn nếu tu sai mà cũng được – thì cần gì phải tu. Bạn nghĩ đúng không ?

Còn d/đ nói :

Nói lời khó hiểu 
Khiến cho người bệnh
Bệnh càng nặng hơn
Phá hư Phật Pháp

Là vì khi nói lời khó hiểu – tức là có hiểu – và cũng đã tự nhận mình là người trí. Vì nếu là người vô trí – đang mê – mà nói huyên thuyên thì gọi là nói nhãm – chứ đâu phải – nói lời khó hiểu. Do nghĩ như vậy, nên d/đ mới nói :

Nếu là người trí
Tu pháp Đại thừa 
Ví như lương y
Chữa bịnh cuồng tâm.

Để nhắc nhở – nếu là người tu pháp Đại thừa thì đừng nói lời khó hiểu. Vì đối tượng muốn nghe nói – là người mê – chứ không phải người trí. Vì nếu là người trí thì cũng là lương y – đâu phải đối tượng nghe người trí nói. Còn đã là người mê thì đâu có đồng chỗ hiểu với người trí – mà hiểu được lời khó hiểu. Trong khi hiểu sai – thì tu sai. 

Do đó, d/đ mới nói : “Nói lời khó hiểu – Phá hư Phật Pháp”. Còn việc Bạn thắc mắc d/đ làm thơ hay làm vè. Thì d/đ xác định d/đ không có làm thơ. Còn d/đ nói… hay làm vè – điều này không quan trọng. Bạn nói sao thì sao đi… Hy vọng lời giải thích của d/đ làm Bạn hài lòng. 

Thân

TRỪNG
HẢI:

Trao đổi với đạo hữu Diệu Đức về từ Phật Pháp

Kính đạo hữu Diệu Đức,

_ Trước hết Trừng Hải xin thật lòng tán thán định tâm như núi của đạo hữu dieuduc qua bài trả lời vẫn giữ ý ung dung, khoan thai trước những lời đang giỡn-hí ngôn của Trừng Hải. Quả khác hẳn lời xưa như trăng rằm so với đêm trừ tịch quả không hổ với tự Diệu danh Đức. Xin bội phục, bội phục.

_ Thứ nữa Trừng Hải cũng nghe theo lời khuyên của đạo hữu tìm bốn chữ “Phá hư Phật Pháp” trong chương Phân Biệt Chánh Tà của Đại Bát Niết Bàn Kinh. Thật lòng mà nói Trừng Hải chỉ tìm được lời dạy về sự “Hư Hoại Chánh Pháp” của Ma Vương Ba tuần qua việc giả danh mà phá hoại Giáo Hội Tăng Già chứ không một lời nào nói đến “Phá hư Phật Pháp” Bởi nếu Phật Pháp thật sự bị phá hư thì Pháp của Phật Đà cũng là Pháp sanh diệt sao??? Đó là điều không thể nào xảy ra vì Pháp của Phật Đà vốn là Bất Sanh Bất Diệt nên Bất Hoại. Nên là Ma Vương-Tha hóa tự tại thiên hay chúng sanh nhất xiển đề cũng bất khả dụng công trong việc phá hư Phật Pháp. Mà việc Hộ Pháp thì rỏ ràng không phải là phần việc của chúng ta, chỉ là cư sĩ tại gia, làm công quả y chỉ lời dạy để phụ giúp phần nào cho Chúng Tăng Già. Nên hà tất có những lời hay lòng quan hoài mà tự mang gông cùm nặng cả ngàn cân những việc như vậy.

_ Nhân đây cũng xin nói về việc “Nói lời khó hiểu”. Trừng Hải thật cũng không nghĩ ra vì sao đạo hữu phê phán chữ “khó hiểu”. Những ai đã từng đọc qua kinh điển Nam Tông, Bắc Tông nhất là văn học A Tỳ Đàm, Bát Nhã lúc sơ cơ mà “không bể cái đầu” (e rằng hiếm ai không bị “nổ cái não”, hề hề) bởi kinh luận văn thật sự khó hiểu, bởi đây là những cái, mà chư cổ đức hằng ưu hoài trong việc giữ gìn Chánh Pháp đối với đời sau, thà không biết còn hơn biết sai-vô tri mà dẫn về hiểu sai-mậu ngộ tức Kiến Tư Hoặc. Và nguy hiểm hơn nữa vì chỗ vô tri mậu ngộ cuả mình mà đưa ra lời “Mậu Thuyết” thì di hại đời này, đời sau và ngàn đời sau nữa (về phương diện chúng sanh chớ Chánh Pháp thì vẫn như mặt trời ngàn năm chói sáng) Nên thà như chư vị tiền bối lớn tuổi, ít học mà thành tâm niệm Hồng Danh Chư Phật, Bồ Tát Phật còn hơn.
Mà việc hóa giải “lời khó hiểu” cũng thật là đơn giản…có chi mô, hề hề. Tức không hiểu chỗ nào thì hỏi chỗ ấy là…xong; Đâu phải “nặng nề” đến nỗi đạo hữu Diệu Đức phải gán ác danh “phá hư Phật Pháp” rồi còn làm “Khiến cho người bệnh. Bệnh còn nặng hơn” là ác nghiệp khó bề hóa giải.

Vài lời trao đổi với đạo hữu dieuduc, mong qua những lời này mà thấu hiểu chỗ “khổ tâm” của chư cổ đức trong việc trao truyền Lời Dạy của Chư Phật mà không dám sửa một từ, chữa một câu mà chỉ viết lời chú giải, rồi chú giải của chú giải rồi chú giải của chú giải của chú giả rồi…hề hề.

Kính, hề hề

Chào đạo hữu Diệu Đức,
Có lẽ chỗ hiểu chữ Chánh Pháp giữa Trừng Hải với đạo hữu có chỗ sai khác nên lời nói không đồng một nghĩa. Nhân đây Trừng Hải xin nói rõ chỗ hiểu của bản thân về Chánh Pháp để có thể xóa bỏ chỗ bất đồng ngôn ngữ cũng như ngưỡng mong ai ai có tín tâm thấu hiểu được oai lực vô thượng là Phật Lực của Mười Phương Chư Phật ẩn tàng nơi Chánh Pháp mà hằng quy hướng Phật Đạo cho đến ngày ngộ nhập Pháp Giới thậm thâm bất khả tư nghì.

Kính đạo hữu dieuduc, theo thiển ý của Trừng Hải thì Pháp của Phật Đà gồm có ba: Phi Pháp_Adhamma, Pháp-Dhamma và Vi Diệu Pháp_Sadhamma mà Pháp-Dhamma là Chánh Pháp được Phật Đà ví như con thuyền đưa người sang sông(Đọc Alagaddupama Sutta-Kinh Dụ Con Rắn-Chiếc Bè, số 22, Trung Bộ Kinh) trong đó Pháp của Phật là chiếc thuyền, người là chúng sanh, con sông là luân hồi, sanh tử; bờ bên kia là Niết Bàn. Như vậy có thể hiểu Chánh Pháp là Pháp của Phật mà chúng sanh hữu tình thọ lãnh giúp người thoát sanh tử đáo Niết Bàn. Như vậy việc “hư hoại Chánh Pháp” chỉ có thể hiểu theo ý nghĩa cản trở việc “thọ lãnh” Pháp của Phật là con thuyền đưa người đaó Niết Bàn tức về phía chúng sanh hữu tình chớ không phải trực tiếp đối với Phật Pháp vốn Vô Tác, Bất Hoại. Nên trong Kinh Đại Bát Niết Bàn (Trừng Hải cũng đọc cùng bản kinh Việt dịch của Hòa Thượng Thích Trí Tịnh) mới lấy ví dụ làm hư hoại như thợ săn mặc áo cà sa nên chỉ là “GIẢ DANH” (xin đọc lại bài trả lời của Trừng Hải trước) mà gây ra “THỌ GIẢ TƯỚNG” là PHI PHÁP_ADHAMMA.

Trong kinh luận Đại Thừa thì Thiền Tông gọi Chánh Pháp là Chánh Pháp Nhãn Tạng tức Chánh Pháp vốn hàm tàng nơi Mắt Sáng; hay Thủ Lăng Nghiêm Kinh ví kinh văn như ngón tay chỉ trăng mà trăng dụ cho Chánh Pháp; Hay Kinh Thắng Man Phu Nhân nói việc thu nhận Chánh Pháp Vô Biên để dụ cho Như Lai Tạng; Hay Giải Thâm Mật Kinh dạy Thanh Tịnh Sở Duyên là Chánh Pháp…Đều đồng một nghĩa như trên. Nên việc làm hư hoại Chánh Pháp không phải trực tiếp lên Phật Pháp mà tác động nơi chúng sanh hữu tình để ngăn cản việc thọ lãnh Phật Pháp là Chánh Pháp đưa người vượt sanh tử đáo Niết Bàn.

Kính, hề hề

TRỪNG
HẢI:

Gửi bởi Quay lại 

“Đạo bổn vô ngôn, ngôn sanh lý tán” .

Lý tán sanh bất hòa, bất hòa sanh thị phi, thị phi sanh nhân ngã, nhân ngã thị cố vô đạt đạo.

Chào đạo hữu Quay lại tức thối chuyển, hề hề:

“Đạo Bổn Vô Ngôn” thì đúng nhưng “Ngôn Sanh Lý Tán…” lại là cái chỗ hạ thừa mà chư môn đệ của Lão Tử dụng tâm xiển dương tổ sư mà thành “bôi bác” vì sa vào cái chỗ Cố Tri Thiểu Ngộ mà Lão Tử im lặng bất dung. Hề hề

Mến chào, hề hề


TRỪNG
HẢI:

Gửi bởi Tuấn Tú 

Trùng trùng chú giải đạo khó thông
Chú giải tiêu pha mất ba đồng.
Im lặng, ít lời, thanh tịnh ý
Mậu ngộ tức thời chủ nhân ông!?

Kính bác Tuấn Tú,

Trừng Hải sở dĩ “bình” câu “Đạo bổn vô ngôn. Ngôn sanh lý tán” là bởi thường thấy lớp hậu sinh tiểu bối thường sa vào cái chỗ Tống học(nho học đời Tống) trích cú tầm chương vô dụng đồng sa vào kiến tư sai lầm vì dụng Tam đoan luận Aristotle tức lấy một đoạn cách ngôn, cú ngôn, thành ngôn, xướng ngôn…ưa thích làm định đề, định luật, định kiến…rồi nhìn mọi điều khác là sai. Lý do cũng chỉ là vậy thôi không có ý gì khác.
Còn khi cho rằng “…Ngôn sanh lý tán…” là lời của môn đệ Lão Tử bởi Lão giáo nguyên sơ vốn chỉ lấy Vô làm Vị tức Vô Vị nên mới nói “Đạo khả Đạo. Phi thường Đạo.” tạm dịch nghĩa: “Chỉ người đắc Đạo mới am tường Đạo. Bởi Đạo là cái phi thường ngoài hiểu biết thế gian” lấy quyển Đạo Đức Kinh làm kim chỉ. Chính về sau này khi Phật Giáo du nhập vào Trung Hoa các môn đệ Lão Tử mới “mượn” giáo pháp của Phật Đà Sakyamuni nhờ đó mà làm thăng hoa Lão giáo được các nhà nghiên cứu gọi là Tân Lão giáo, hề hề.
Một số học giả Phật tử Đại Thừa với cái nhìn khoan dung gọi Lão Tử là Độc Giác Phật (là Duyên Giác, Bích Chi Phật thời Không kỳ tức Chánh Pháp không còn hiện tồn trên thế gian) là dựa trên các bài kinh ví dụ như Kinh Thánh Cầu-Pasarasi Sutta, số 26, Trung Bộ Kinh, Đức Phật có nói về một số người am hiểu sơ tâm về Thập Nhị Nhân Duyên chưa Đại Ngộ nên không am tường đến chỗ Ngũ Uẩn đồng mạt kỳ chư hành…Nên bậc Độc Giác Phật vốn không hoằng truyền Chánh Pháp tức Chuyển Pháp Luân mà chỉ nói những lời khích lệ người tín tâm tu hành (đọc Đại Phật Sử-MahaBudhavamsa) như Bậc Chánh Đẳng Giác.
Ngay chính hình ảnh Lão Tử cởi thanh trâu cũng gợi ý ám chỉ Lão Tử là một Bậc Độc Giác Phật bởi con trâu mà Lão Tử cởi là Độc giác Thanh ngưu; chữ độc giác nghĩa là một sừng, còn chữ Thanh ngưu là trâu trắng (không hiểu sao chữ Thanh này các dịch giả Đại việt hay lầm với màu xanh trong chữ thiên thanh) là con Tây Ngưu (con trâu ở phương tây) tức Tê Giác. Một hình ảnh gợi đến bậc Giác ngộ ẩn tu độc lai độc vãng ví dụ như Bạch Ẩn thiền sư, nhật bổn, hề hề.

Còn Pháp được Đức Phật truyền dạy thì bác chắc cũng biết qua bốn phương cách mà “Im lặng đáp” chỉ là một trong bốn cách (quyết định đáp, phản cật đáp, nghi đáp và im lặng đáp) mới hiển lộ chỗ Thế Gian Giải_ am tường thật tướng toàn vũ trụ mà cũng là A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề; con xinh đảnh lễ Phật Đà.

Kính, hề hề

TRỪNG
HẢI:

Quy Y, Thọ Giới – Chánh Tri Kiến, Chánh Tư Duy và Tín Tâm (cont.)

KÍNH LẠY THẾ TÔN, ĐẤNG THOÁT VÒNG PHIỀN NÃO, BẬC CHÁNH ĐẲNG CHÁNH GIÁC
Cầu cho chúng sanh an lạc, đồng giải thoát bát Niết Bàn
______________________

CHÁNH TRI KIẾN

KIẾN là gì, khái lược

Kính thưa quý hữu, lời mời gọi quý hữu thỉnh lãm về cái mà Trừng Hải gọi là Chánh Kiến để phân biện Thường-Vô Thường, Chánh-Tà, Đại Sự-Thế Sự nhân duyên…ngày trước (17/09) vậy mà thấm thoát đã gần nửa tháng trôi đi quả như lời người xưa “thời gian như bóng câu qua cửa sổ”. Vâng, thời gian thì nhanh chóng trôi qua nhưng gởi lại cho thế nhân này, nhân gian nọ đây, mái tóc bạc đầu, lưng còng tay mõi, lời thều thào không hơi, kia, là thế sự đa đoan xoay vòng hết đến rồi đi hết đi rồi trở lại tình tiền tù tội cướp bóc gian dâm; làm cho mắt người vốn đã mờ mờ càng thêm ảo hóa trước ánh đèn màu chớp nháy nhanh như…điện, hề hề, lòng vốn đã rối như tơ càng thêm điên đảo quay cuồng nơi tấn trò đời bỉ thử xảo trá như…hô-li-út đóng phim. Hỡi ơi, đường vạn lý thì dài dằng dặt đâu phải thẳng băng như đường…lát nhựa mà vốn chông chênh hết dốc cao đến trũng thấp phủ lấp nào mây mờ dông bão, nào lời đàm tiếu chua ngoa…; mà, sức lực con người thì hữu hạn bởi luật sanh diệt vô thường nơi mệnh căn, tâm lực (nên dù ôm mối hùng tâm cũng phải nuốt hận bởi thời đã qua rồi, than ôi, “Thế sự du du nại lão hà. Vô cùng thiên địa nhập hàm ca. Thời lai đồ điếu thành công dị. Thời khứ anh hùng ẩm hận đa”).
Vậy mà người cư sĩ trên bước đường Vạn Lý Tầm Chân, chỉ có một chữ Tâm gắn liền nơi chữ Tín bởi Tín Tâm kia tương ưng, tương tác mà được dẫn đường bởi chữ Chánh Kiến huyền diệu như sao Mai muôn đời dẫn đường người chích ảnh đang lữ thứ cô thân trên hoang mạc sơ khai nên, chí vững tâm bền mà an phận đi cho hết con lộ tử sanh, sanh tử cho đến lúc Hồi Đầu Thị Ngạn tức Hồi Hướng mà thoát nhục thân tức thị thành Thánh Thai Tạng Giới tức Noãn Vị là nụ cười trường tiếu muôn niên giữa thanh không minh nguyệt mà hát khúc hân hỉ cho đến lúc Thường Khinh An bát Niết Bàn. Ôi hạnh phúc thay người cư sĩ Quy Y Tam Bảo là người nương tựa nơi tuyệt hảo vô song, là vô thượng bất khả tư nghì.

TRỪNG
HẢI:  

Gửi bởi Thế Hùng 

“Bà con cô bác” ơi !
Lại mà xem ông í “vẽ bùa”

_ Bùa này vốn thiệt của vua ban,
đến mỗ ra tay biến thành vàng
Đem về cho trẻ đeo không khóc,
Quậy nước uống vào, bệnh sẽ tan (?)

———–

Bác trừng hải ơi !
Bác ráng nuốt nỗi hận này nhé :

Câu của người xưa :

“Thời lai đồ điếu thành công dị. Vận khứ anh hùng ẩm hận đa”. 

mà bác sửa lại thành :

“Thời lai đồ điếu thành công dị. Thời khứ anh hùng ẩm hận đa”. 

quả là hí tiếu !

Chào bạn Thế Hùng,

Hề hề, bạn có vẽ thích nhỉ, lời thật là hả hê vui sướng như ra đường lượm được…năm trăm ngàn việt nam đồng. Chỉ có điều đấy là năm trăm ngàn đồng…âm phủ, hề hề.

Chỉ cho thấy chỗ người hiểu biết văn chương chơi chữ nè, hề hề: Trừng Hải vốn là cư sĩ Phật tử Quy Y Tam Bảo và thọ giới Upasaka nên không tin về vận mệnh tức “Định Mệnh Thuyết” nên mới thay chữ Vận bằng chữ Thời, hiểu chưa??? Đây là cái chỗ người hiểu biết dụng văn chương chữ nghĩa mà không khư khư ôm chữ ôm nghĩa như những kẻ vô tri mậu ngộ hiểu biết chỉ bằng cái lá mít mà tưởng “thừa thiên”, hiểu không???!!!

Vừa ôm bụng cười vừa chào, hề hề

TRỪNG
HẢI:

Quy Y, Thọ Giới – Chánh Tri Kiến, Chánh Tư Duy và Tín Tâm (cont.)

KIẾN là gì:

DITTHI: View, Belief, Speculative Opinion, Insight.
If not qualified by samma, “right”, it mostly refer to wrong and evil view or opinion, and only in a few instances to right view, understanding or insight (e.g ditthi-ppatta; ditthi visuddhi, purification of insight:; ditthi-sampanna, possessed of insight).

Wrong or evil view (ditthi or miccha-ditthi) are declared as utterly rejectable for being a source of wrong and evil aspiration and conduct, and liable at times to lead man to the deepest abysses of depravity, as it is said in:
“No other thing than evil views do I know, O monks, whereby to such an extent the unwholesome thíng not yet arisen arise, and the unwnholesome thing already arisen are bought to growth and fullness. No other thing than evil view do I know, whereby to such an extent the wholesome thíng not yet arisen are hindered in their arising, and the wholesome thíng already arisen disappear. No other thing than evil view do I know, whereby such an extent human beings at the dissolution of the body, at death are passing to a way of suffering, into a world of woe, into hell.” (A.I, 22)
Further: “Whatever a man filled with evil view, performs or understakes, or whatever he possesses of will, aspiration, longing and tendecies, all these things lead him to an undesirable, unpleasant and disagreeable state, to woe and suffering.” (A.I, 23)

From the Abhidhamma, it may be inferred that evil views, whenever they arise, are associated with greed.

BUDDHIST DICTIONARY – NYANATILOKA, Singapore Buddhist Meditation Centre

Tạm Dịch:

Kiến trong tiếng Pali là Ditthi: nghĩa là Thấy, Tin rằng (vào), Phỏng đoán…Nếu không được phẩm định bởi từ Samma tức Chánh thì hầu hết đều chỉ là cái thấy sai lầm tức tà kiến và ác kiến hay quan niệm không đoan chánh, và chỉ trong một số ít trường hợp (hãn hữu) mới là tri kiến đúng đắn như là tri kiến thanh tịnh, lãnh thọ trí huệ (từ bậc thiện tri thức?)

Tà kiến – ditthi hay miccha-ditthi, được xác định là hoàn toàn do bởi sự phóng chiếu từ bổn tánh ác hay tư duy sai lầm (mậu ngộ) và chính tánh ác hay tư duy sai lầm làm nảy sanh và hoàn toàn chịu trách nhiệm trong việc có tà kiến, hay ác kiến.

Kính thưa quý hữu về hai đoạn kinh được trích dẫn là Tăng Chi Bộ Kinh I, 22 và 23 thì quý hữu có thể tìm đọc trong Bộ Đại Tạng Kinh Việt Nam do cố Hòa Thượng Thích Minh Châu chủ trì.

Trong Thắng Pháp hay Vi Diệu Pháp-Abhidhamma, thì tà kiến, ác kiến khởi sanh khi nó gắn liền với tham dục.

KIẾN:
Tiếng Phạn là Nại-lat-xa-nang có nghĩa là suy nghĩ tìm tòi để hiểu rỏ mà chọn lựa khẳng định sự, lý kể cả ý nghĩa chính đáng và không chính đáng.
Theo Ma ha Chỉ Quán: Hết thảy hạng phàm phu chưa bước được lên Thánh Đạo thì bất cứ toan tính mưu kế gì cũng đều là kiến.
Tất cả mọi mê hoặc về lý như Ngã kiến, Tà kiến…đều gọi lag kiến. Tất cả mọi mê hoặc về sự tham, giận, ngu đều gọi là Ái. Như vậy hết thảy mọi Kiến đều là Kiến hoặc cũng là Tư hoặc. Mọi mê lầm về sự chỉ do ở cái gốc Ác. Do đó nêu cái Ái lên để bao quat chung cho tất cả.

Kiến có năm- Ngủ Kiến: Thân Kiến – Biên Kiến – Tà Kiến – Kiến Thủ Kiến và Giới Cấm Thủ Kiến.

Ngoài ra còn chia Đoạn Kiến – Thường Kiến.
Đoạn Kiến: tà kiến thiên hư vô.
Thường Kiến: tà kiến thường.

TỪ ĐIỂN PHẬT HỌC THỰC DỤNG

Quy Y, Thọ Giới – Chánh Tri Kiến, Chánh Tư Duy và Tín Tâm (cont.)

KÍNH LẠY THẾ TÔN, ĐẤNG THOÁT VÒNG PHIỀN NÃO, BẬC CHÁNH ĐẲNG CHÁNH GIÁC
Cầu cho chúng sanh an lạc, đồng giải thoát bát Niết Bàn.
_______________________

KIẾN là cái chi chi?

Kính thưa quý hữu, chữ Kiến này theo như Trừng Hải thấy nhìn có vẻ đơn giản vậy mà thật ra cực kỳ rối rắm như tơ cuộn trong tay trẻ bi bô thành ra muôn mối. Nên chớ làm trẻ hồn nhiên (ở chỗ khác thì được, hề hề) mà xin hãy lấy tâm cầu học hỏi mà cẩn trọng xem xét bằng con mắt sư phạm cho đến lúc tỏ tường; Bởi nó là nơi bắt đầu của việc Tầm Chân, ở Tâm Địa môn thì là đào xới cày bừa cho tơi đất mà nhận hạt giống bồ đề cho đến lúc tựu thành Bát Nhã nguyên sơ; ở môn…chăn trâu thì nhờ đến nó mà biết “trâu” là gì mới nói đến chuyện tầm “trâu”; ở vô lượng thọ tông, thì cũng nhờ có kiến mà bước vào cảnh giới nhất như niệm Phật; ở nơi nhất thiết là không tông thì cũng nhờ có kiến nên am tường “văn tự” là cái chi chi; ở nơi…Nói chung là thậm thậm chí thiết cho Phật tử tùy cơ ứng biến hay nhẹ nhàng hơn là đối nhân xử thế bằng Nhân Sinh Quan Phật Giáo là nền tảng cho người giữ vững chân đi trên đường sanh tử, tử sanh vô vàn ngỏ hẻm quanh co chằng chịt hiểm nguy rập rình. Hề hề, Trừng Hải xin làm người…hát rong nghêu ngao đôi lời giới thiệu từ cổ chí kim, đông lộ tây đường, đây là bạch hổ kia là thanh long về chỗ thái cực lưỡng nghi là nơi bát quái quy hề, hề hề.

Xin bắt đầu với kiến văn giác tri. Dạ xin thưa, KIẾN chính là kiến văn giác tri tức mắt thấy, tai nghe, miệng nhai, mũi ngửi, thân sờ chạm là cảm giác thọ lãnh khi hữu tình chúng sanh sanh hoạt nơi trần gian cõi tạm (mà sao yêu quá khôn chịu về, hề hề). Như ta từng biết qua kinh văn thì có hai cảm giác gián tiếp là mắt với sắc hình, tai với thanh âm, ba trực tiếp là mũi, miệng, thân xác với hương, vị, xúc sờ chạm mà hình thành nên tiền ngủ thức nhãn nhĩ tỉ thiệt thân thức. Do bởi thức chỉ nhận biết việc mà không biết việc là cái chi chi nên nương vào Ý mà sanh ý thức tức xúc mà nhận biết cảnh trần (Nam tông) hay trần (Bắc tông) thọ lãnh tức THỌ (cảm giác) bằng cái gọi là Tướng (biểu tướng) mà hiện Thập Tướng (nam nữ, sắc thanh hương vị xúc và thành trụ diệt) nhờ Tưởng (tri giác vật thể-khái niệm) hình thành cái gọi là BIẾT hay TRI.
Cái gọi là Ý sanh ý thức là do duyên với Hành ở Nam tông, còn Bắc tông thì Ý là năng duyên với A lại da thức là sở duyên tạo thành cơ sở dữ liệu để đối chứng với cảnh trần, trần mà ngủ quan năng cảm giác để Biết hay Tri giác.
Quý hữu có thể hình dung bằng so sánh với mạng điện toán với máy chủ là nơi tích trữ dữ liệu, máy điện toán (phần cứng) là mắt tai mũi lưỡi thân, nhập dữ kiện tìm kiếm là cảnh trần, trần; phần mềm trình duyệt là sự vận hành của thức…xúc mà cho ra kết quả trên màn hình là Biết hay Tri.
Quá trình tri giác hay nhận biết gồm có hai phần. Phần đầu là tri giác vật thể, và phần sau gọi là tri giác khái niệm vì liên hệ đến ký ức, kinh nghiệm, hiểu biết…

Và trước khi tiếp tục…hát rong, Trừng Hải cũng xin quý đạo hữu khi đọc bài nếu thấy chỗ nào có sai sót thì xin chỉ giáo cho và việc chỉ giáo này xin nói thật lòng là Trừng Hải bội phần đa tạ vì sự trợ giúp chính là điều bản thân mong muốn vì được học hỏi những điều mà mình chưa thấu hiểu vẹn toàn. Xin đa tạ trước.

Quy Y, Thọ Giới – Chánh Tri Kiến, Chánh Tư Duy và Tín Tâm (cont.)

KÍNH LẠY THẾ TÔN, ĐẤNG THOÁT VÒNG PHIỀN NÃO, BẬC CHÁNH ĐẲNG CHÁNH GIÁC
Cầu cho chúng sanh an lạc, đồng giải thoát bát Niết Bàn.
_______________________

KIẾN làm cái gì gì?

Kính thưa quý hữu, trước khi đi vào phần DỤNG của Kiến tức cơ chế vận hành và tác dụng qua sư hiện hành của tính chất và biểu tướng tức DANH, TƯỚNG và KIẾN, Trừng Hải cũng xin quý hữu lưu ý là những lời viết ra đây chỉ là những kiến thức nảy sanh trong tâm trí rồi gỏ bàn phím lóc cóc lan cang theo trí nhớ chớ chưa được soạn thảo thành văn bản nên không trọn vẹn vì có nhiều phần bị bỏ qua. Vì vậy Trừng Hải xin quý hữu chỉ xem qua chơi, còn ai muốn nghiên cứu kỷ thì xin đọc Luận Tạng Pali, Thanh Tịnh Đạo Luận, Vô Ngại Giải Đạo, Nghĩa Thích…Đặc biệt chú trọng đến chương Dhammasangani-Pháp Tụ Luận và Patthana-Vị Trí là chương mở đầu và kết thúc của Thắng Pháp Tạng_Abhidhamma Pitaka cùng với Citta Vithi (hay Vinnana kiccha) là “Process of Consciousness” được chuyển ngữ là Tâm lộ hay Tâm đạo gắn liền với căn thân-Indriya, căn thức-Indriya paccaya là gốc rể-mula (hay hetu) vận hành theo luật Thập Nhị Nhân Duyên (hay Duyên Khởi) và Niyama (Panca-niyama). Hay từng bước đi theo sự chỉ dẫn của Cố Hòa Thượng Thích Thiện Hoa đã đề cập đến trong Phật Học Phổ Thông về Duy Thức Học bởi đây là công trình biên soạn thật sự tuyệt diệu (theo trừng hải) chứa đựng lòng ưu hoài bằng chân tâm vì Đạo Pháp như một đóa Ưu Đàm Hoa kỳ kỳ trân quý giữa một rừng sách biên dịch nhan nhãn hiện có; tuy được Cố Hòa Thượng khiêm cung dụng chữ PHỔ THÔNG mà thật sự là KIẾN THỨC PHẬT HỌC chân thật diệu dụng thượng thừa. Con xin kính lễ Tăng Già Thánh Giả.

Và trước hết Trừng Hải xin trích dẫn một đoạn văn kinh thuộc Tương Ưng Bộ trong ÂN ĐỨC PHẬT PHÁP TĂNG của Tỷ Khưu Pháp Thanh soạn dịch giữa Phật Đà Sakyamuni và Trưởng lão Maha Kassapa:

Đại đức Kassapa: Bạch Đức Thế Tôn, đau khổ của ta là do ta tạo ra?
Đức Phật: Không đúng như vậy, này Kassapa.
Đại đức Kassapa: Bạch Đức Thế Tôn, đau khổ của ta ngẩu nhiên phát khởi?
Đức Phật: Không đúng như vậy, này Kassapa.
Đại đức Kassapa: Bạch Đức Thế Tôn, như vậy đau khổ không có?
Đức Phật: Này Kassapa, ta xác nhận có đau khổ và chính ta từng kinh nghiệm đau khổ.
Đại đức Kassapa: Bạch Đức Thế Tôn, Ngài dạy đau khổ của ta không do ta tạo nên, không do kẻ khác tạo nên, cũng không phải ngẩu nhiên phát khởi. Một đằng Ngài xác nhận có đau khổ và chính Ngài từng kinh nghiệm đau khổ, thật bất khả tư nghì. Kính xin Đức Thế Tôn từ bi khai thị cho đệ tử.

Kính thưa quý hữu, xin hãy trầm tư với tâm bình ý tĩnh đoạn văn kinh văn trên để tự tri trước vạn vạn lời điên đảo, đảo điên thường hiển lộ giả dạng “tri kiến cao siêu” với chữ “Không” vô tri, vô lực, vô dụng trên bước đường VẠN LÝ TẦM CHÂN. Hề hề.

 Quy Y, Thọ Giới – Chánh Tri Kiến, Chánh Tư Duy và Tín Tâm (cont.)

KÍNH LẠY THẾ TÔN, ĐẤNG THOÁT VÒNG PHIỀN NÃO, BẬC CHÁNH ĐẲNG CHÁNH GIÁC
Cầu cho chúng sanh an lạc, đồng giải thoát bát Niết Bàn.
_________________________

KIẾN làm cái chi chi? (cont.)

Kính thưa quý hữu, như trên Trừng Hải đã nói Kiến là quá trình mắt thấy tai nghe đồng mũi ngửi, miệng nhóp nhép, thân sờ chạm mà có CẢM GIÁC tức THỌ rồi sinh TRI tức BIẾT là nhờ nương tựa vào Ý tức Ý Căn sinh Ý Thức. Vậy thì KIẾN là quá trình nhận biết sự kiện, sự vật rồi dựa trên đó mà có TƯ DUY tức NHẬN THỨC. Như vậy Trừng Hải có thể tóm tắc Quá Trình Nhận Thức gồm có: 1, Dữ kiện kinh nghiệm; 2, Nhận biết và 3, Nhận thức tức tư duy. Và quá trình này chư cổ đức gọi là KIẾN TƯ tức Sự và Lý hay theo ngôn ngữ hiện đại là nhận biết SỰ VẬT-SỰ KIỆN rồi NỘI DUNG tức KHÁI NIỆM mà TƯ DUY để nắm bắt Ý NGHĨA.

Vậy thì KIẾN VĂN GIÁC TRI vốn chỉ là phương tiện (kiến hay tri) để nhận biết trần, cảnh trần khách quan tức ‘NHƯ NÓ LÀ” bởi nền tảng của nó gồm có THỌ UẨN và TƯỞNG UẨN vốn là Hai Uẩn vô ký tức không gây ra NGHIỆP là TÁC Ý-CETANA hay BẤT GIÁC. Nên nó không có tội tình chi mà phê phán nó như một số người do KIẾN VĂN hạn hẹp nên không hiểu tường tận chi li chí thiết, hề hề, nên nói chữ nghĩa là chướng ngại cho việc tu hành, hề hề, hí tiếu hí tiếu.
Dụ như bây giờ Trừng Hải nói KIẾN VĂN THÀNH PHẬT, chớ không nói KIẾN TÁNH THÀNH PHẬT thì quý hữu thấy sao? Với người kiến văn hạn hẹp thì cho rằng Trừng Hải nói…sai nhưng với người chân thật tu hành tức THANH THANH TÚY TRÚC, TẬN THỊ PHÁP THÂN – UẤT UẤT HOÀNG HOA, VÔ PHI BÁT NHÃ thì vốn biết VĂN DĨ TẢI ĐẠO bởi viên thông THỰC TƯỚNG LY NGÔN nên KIẾN VĂN THÀNH PHẬT có VĂN là phó phẩm nên là THẬT TƯỚNG đó thôi (Bởi lời vốn phi cú phi thân hay tâm vô đình trú không ở ngoài không ở trong mà cũng không ở giữa hề hề).

Xin quay trở lại bài viết kẻo…lạc đề. Kính thưa quý hữu, hãy đọc lại hai định nghĩa mà Trừng Hải trích dẫn trong phần “KIẾN là cái gì gì?” để thấy hai cái nhìn một đông, một tây mà đồng bổ sung về chữ KIẾN do thiên vị nên sa vào vô tri mà sanh mậu ngộ tức kiến tư hoặc (bởi đông thì hướng nội còn tây thì nhìn ra, hề hề, tức nội-ngoại, chủ-khách…). Và Trừng Hải cũng xin phân tích để quý hữu thấy rõ chỗ bát quái quy hề thái cực lưỡng nghi, hề hề, như sau:

_ Theo Buddhist Dictionary by Nianatiloka:
Thì KIẾN được gọi là TÀ KIẾN là do bởi TÁNH bị tạp nhiễm cái ÁC và MẬU THUYẾT hay do THAM DỤC, và TÁNH tạp nhiễm này chịu mọi trách nhiêm gây ra TÀ KIẾN hiện tại và về sau nữa.
_ Theo Phật Học Tự Điển Thực Dụng:
TÀ KIẾN có năm tức NGŨ KIẾN là mê sự lẫn lý bởi VỌNG có gốc là ÁI.

Vậy KIẾN là TÀ KIẾN là do TÂM TÁNH bị tạp nhiễm vọng tưởng và ái dục mà sanh. Nên khi TÂM TÁNH có TÁNH NHƯ NHIÊN thì KIẾN chính là CHÁNH KIẾN nên phân biệt rỏ CHÁNH TÀ, CHÂN GIẢ, THƯỜNG VÔ THƯỜNG…

   

   

    

   

   

   


   

   

   
   

   

   

TÌNH YÊU LÀ GÌ? Trà Đàm Với Tuổi 20, Trừng Hải

1. TÌNH YÊU LÀ GÌ?
Trà Đàm Với Tuổi 20, Trừng Hải
_ Khi bạn hỏi tôi “tình yêu là gì?” thì cũng giống như hỏi “cuộc đời là gì?” Cuộc đời là gì ư? C’ést la vie! Đời là thế đó! Vậy thì, tình yêu là gì hả? Coup de foudre! Tiếng sét ái tình! Tình yêu như tiếng sét nổ bên tai. Và khi sét đã nổ thì con tim ngừng đập, đôi mắt mù lòa, hồn tan như gió chiều. Cho nên tình yêu là điên cuồng, là heavy crazy, cho hết, là biếu không. Tình cho không biếu không; bởi tình yêu là trái tim mù lòa, là nơi bắt đầu của cái chết. Chết trong lòng, nhưng may thay chỉ một ít thôi. Yêu là chết trong lòng một ít.
_ Bạn không thích những lời trên ư? Vậy tình yêu là thú đau thương có được không? Vì tình yêu là trái cấm lúc thượng đế tạo ra Eva và Adam; là khi nhân loại bắt đầu dối lừa, là muốn chiếm hữu nhưng lại sợ hãi thượng đế; nên tình yêu là dối lừa với kết thúc là đau thương. Là con thú tật nguyền vì những mũi tên bắn của nữ thần Aphrodite, thần ái tình; sao thần lại bắn vào tim con mũi tên ái tình mà không phải là mũi tên sắt chết chóc; bởi với tình yêu con đã bắt đầu bằng dối trá và kết thúc với tật nguyền.
_ Sao lời bi quan vậy? Tình yêu là mật ngọt mà, honey loving. Ừ đúng rồi, tình yêu là mật ngọt, là trái táo thơm. Nhưng tình chỉ đẹp khi còn dang dở; khi chưa đến đoạn kết thôi. Chỉ đẹp khi con tim đang còn ngất ngây dệt mộng đào nguyên mây chiều lộng ngọc, ánh mắt nụ cười bỡ ngỡ như mơ. Nhưng khi mộng tan rồi thì mộng nữa cũng là không; là rơi vào cái chết. Cái chết đâu ra vậy? Bộ không biết đoạn kết của Romeo & juliette à? Nhưng cái chết đâu có chia lìa được tình yêu đó!? Ừ, không chia lìa bởi, chết thì tình yêu đâu còn hiện hữu nữa mà nói chia với không chia?
_ Không hỏi nữa! Chắc không biết tình yêu là gì nên nói dốc? Tình yêu là sự hài hòa giữa cho và nhận như từng thanh âm cao thấp theo từng cung điệu lúc mãnh liệt hãy yêu như chưa yêu lần nào, besame mucho, lúc dịu dàng như ánh trăng là bản hòa âm serenade làm người ngất ngây bởi tình yêu đó thăng hoa nhẹ như sương khói lam chiều, như ánh mắt thương hoài ngàn năm không hết tàn phai; tình yêu là bất tử, là tình yêu rực nắng, là ánh lửa chiều đông, là đối gương mà không ôm sầu nghiêng bóng. Hề hề, bạn đang yêu hay đang tưởng tượng dzậy?! Làm gì có chuyện cho nhận hài hòa. Bởi bản chất của con người là tham lam, ích kỹ; là ưa nhận nhiều hơn cho; là sân hận vì tình không như lời nói; là điên cuồng vì sân hận. Bởi tình yêu là nhát chém hư vô nhưng làm trái tim rướm máu. Hề hề.
_ Tình yêu là hư không? Có phải vậy không? I don’t know but you?
Hề hề,
Nguyên Chiếu
Chào chú Trunghai,
À con tuổi quá 30 rồi có còn tham gia được ko chú hề hề……
Chủ đề này tuy đã cũ nhưng lại mới, tuy dài dòng nhưng rất ngắn, tuy đậm đà nhưng nhợt nhạt……hì hì rất nhiều định nghĩ cho hai chữ Tình yêu này. Nhưng theo con nghĩ tình yêu là:
” Khi xa thì nhớ, khi giận lại thương, khi buồn lại khóc ” ba cái này giống như tam độc của đạo Phật đó phải ko chú hì hì hì.
Trừng Hải
Vậy tình yêu của cháu là, gương kia ngự ở trên tường – trần gian ơi hỡi tình là giáp-gươm (tức đối đãi nhị nguyên, hề hề). Mà đối đãi thì khởi sanh từ nhận thức chia bùi xẻ ngọt. Nhưng hỡi ơi, thế gian vốn chỉ đắng cay – ngọt bùi đâu có mà chia xẻ hè? Nên tình yêu trong chiếc gương soi không hề hiện tồn bởi, tình yêu thì phải lung linh mộng ảo như ánh đèn màu sân khấu, là tiếng sáo Trương Chi trên giòng sông tương mời gọi thần tiên trở về. Nhưng khi ánh đèn đã tắt, tiếng sáo đã ngưng thì khổ đau hiện tồn mà thành thú đau thương “anh là con thú tật nguyền bởi vết thương tình ngày xưa vẫn chưa hề kín miệng; vẫn hỏi “hỡi thế gian tình là gì?”.
Tình yêu thì phải cho hết, cho thật nhiều mà nhớ chưa hề cho (rất ngây thơ, rất dễ thương, nhưng cũng rất “ngu”, hề hề) mới gọi là tình yêu. Tình yêu là một phía, tình yêu là hiến dâng, là con tim sa mạc khát khao cơn mưa đầu mùa (ở sa mạc thì làm gì có mưa nên mới gọi là…sa mạc, rất…thơ ca, hề hề) bởi con tim đã cho hết mà chưa từng giữ lại???
Hề hề, chưa biết gì về tình yêu; nhưng có trải qua tình vợ chồng; cho điểm 5,5/10.
Hề hề,
Nguyên Chiếu
Con chào chú,,
Chú ơi, sao chú cho điểm chi mà thấp quá, theo con thì phải 8/10 điểm thì đúng hơn chú.
Cho con hỏi thêm câu này nhé: Hề hề, chưa biết gì về tình yêu; nhưng có trải qua tình vợ chồng là gì con chưa hiểu lắm, chú có thể giải thích thêm được ko ạ ?
Trừng Hải
Là I don’t know! Là TH cũng không biết luôn!? muốn biết? hãy hỏi…bà xã, hề hề.
Trừng Hải
Tình là gì, hỡi thế gian?
_ Tình là hư vô? Là có cũng như không, là “ta ngắt đi một cành hoa thạch thảo” thay cho lời thốt L’adieu, vĩnh biệt; nên bỗng chốc hóa thành hư không, nhưng hư không không phải là không? vẫn còn đó một cành hoa thạch thảo, để ghi dấu tình kia, rồi tự hỏi có ai đợi chờ ai? N’est pas, không hề, bởi tình là mộng, mộng là hư không.
Tình là khổ đau; là cái trống rỗng hư vô đáng chán, DUKKHA, luôn từng hiện diện sanh lão bệnh tử; luôn là tên gọi trong từng tiếng nấc nhòa lệ, thất vọng-bi thống-khổ thống…tình sanh rồi trụ rồi diệt rồi lại luân lưu sanh trụ di diệt, là hiện hành của chủng chủng tử của tập khí hư ngụy khởi từ vô thủy;
– Tình là Vô minh. Vô minh là gì?
hề hề
Phuong
Cháu củng xin,trẻ lại tuổi 20 cùng Bác TH hìhì
1/tình yêu là những giọt mật nằm trên môi muôn đời ta thấy ngọt.
2/tình yêu là vết thương,khi đã lành ta vẫn nhìn thấy thẹo.
3/tình yêu là liều thuốc độc cực cao,giết chết ta bất cứ Lúc nào…….
4/ôi tình yêu là hư không,mà ta cầu mong có được,khi có được rồi ta lại muốn vượt qua.
Ôi yêu là chết trong lòng một ít.
vì mấy khi yêu,mà được Người yêu.
cho rất nhiều nhưng nhận chẳng bao nhiêu
Ôi tình yêu giống như biển,ta chỉ biết nhìn ngọn sóng nhấp nhô,
Cháu không thể diễn ta thêm nữa,quá nhiều ngôn từ,cháu xin kết thúc ở đây vậy.kiki emoticon
người phụ bạc hoặc thờ ơ chẳng biết…….
Trừng Hải
Vì sao gọi Tình Yêu là vô minh?
Tình yêu là vô minh bởi con người không hề biết đến Hạnh Phúc tối thượng và con đường dẫn về Hạnh Phúc tối thượng. Và do bởi bất tri Hạnh Phúc tối thượng nên mỗi người tự tưởng tượng ra lâu đài tình ái mà bản thân yêu thích và tôn thờ. Để rồi phải khổ đau khi muốn biến khung trời viễn mộng thành hiện thực trên cõi trần gian tham lam, sân hận và u mê (vì bất tri Hạnh Phúc vô thượng). Nên tình yêu vĩnh viễn chỉ là chuông nguyện hồn ai! Khi thanh âm thần tiên mộng ảo serenade chỉ vừa mới ở những nốt dạo đầu thì trần gian bỗng chốc có thêm lời khấn nguyện, bởi tình yêu đó chỉ hiện hữu trong những cơn mơ hoang đường nhất.
Nơi bắt đầu cũng là nơi kết thúc, tình chỉ vừa nhoẻn môi cười đã thành thiên thu như lệ. Là con hạc trắng ngàn năm đứng đợi dưới bóng tùng già vì quên đi lời hẹn năm xưa gặp nhau nơi cung trời tavatimsa hoa lệ, mà bầu bạn bên con suối mỏng manh như dãi lụa tinh nguyên sớm phôi phai màu thời gian tim tím đợi chờ bỗng chốc thành màu huyết dụ nơi vết thương chưa hề khép miệng. Hữu hận miên miên bất khả cùng.
Tình yêu là hư không-vô minh? Không có nơi bắt đầu cũng không hề kết thúc bởi nơi bắt đầu chưa hề hiện hữu (vô thủy) và nơi chấm dứt chưa hề chấm dứt (vô chung). Sao vẫn có người bảo tình yêu là chung thủy???
hề hề.
Phuong
Cháu chào BÁC TRỪNG HẢI cháu thi Trước hìhì,
Tình yêu sao gọi lÀ chung Thuỷ???
Vì khi yêu ta tự tưởng tượng những điều tốt đẹp nhất cho bản thân ta,và cho người ta yêu,tự xây những lâu đài hạnh phúc ở một thế giới thần tiên mà mãi mãi không bao giờ là thật.khi mọi chuyện vỡ tan,bản thân ta không hề chấp nhận,nên ta cứ sống trong lâu đài mộng ảo ta xây.! thế mới có người gọi tình yêu là chung Thuỷ!
Bác ơi bài thi nầy đủ điểm lên lớp không bác,nếu rớt chắc con đi bán vé số quá hìhì
Trừng Hải
Tình yêu là Chung Thủy?
Có hình ảnh nào ấn tượng hơn Hòn Vọng Phu, người thiếu phụ ôm con chờ chồng mà hóa đá! Chung thủy là mõi mòn chờ đợi đến hóa thành hư vô vì tử tận; cũng chỉ là vọng âm truyền thuyết an tâm cổ lai chinh chiến khứ nhân hồi, mà ngày quy khứ lai hề làm người chinh phu lầm lẫn lời con trẻ gọi chiếc bóng của mẹ mình là cha đến nghi kỵ vợ hiền không chung thủy. Cái chung thủy không thật là truyền thuyết đưa đến bi kịch chung thủy có thật là cái chết của người vợ hiền chờ chồng chinh chiến trở về. Là hí kịch cuộc đời làm rơi lệ người nghe.
Biết gọi là chung thủy hay là phản bội khi Mỵ Châu tiết lộ bí mật về nõ thần Kim quy cho chồng Trọng Thủy, mà đến khi nước mất nhà tan vẫn dứt từng sợi lông ngỗng chỉ đường cho chồng truy đuổi vua cha? Tư tưởng trần gian thật là hí tiếu!!!
Hay như “chị tôi” xiêu xiêu chờ người đến đưa dâu bên cạnh cây cầu mới xây xong mà biền biệt dấu tích người thương nhớ để rồi “chị tôi chưa có chồng” khi thời son trẻ đã qua đi vĩnh viễn không bao giờ có lại. Có thời gian nào quay ngược lại cuộc đời? Chỉ là huyễn hữu của biến kế sở chấp mà thôi!
Chung thủy chăng? hay là bi kịch cuộc đời tràn đầy nước mắt vì Vọng Tưởng?
_ Người được gọi là “tỉnh ngộ” là người biết tình yêu kia là ảo vọng; là bước đầu rời bỏ bến bờ xưa mà hồi đầu thị ngạn. Cho điểm 7/10 điểm, hề hề.
hề hề
Tình là Vọng Tưởng, Yêu là Dây Oan,
Nếu biết rằng tình là dây oan, nếu biết rằng yêu là đau khổ thì dương gian đừng có…hai người (nhưng đấng sáng thế cứ sáng tạo một nam một nữ đó, làm gì nhau??? hề hề) Mà bể cái đầu, nổ cái não thay, khi biết khổ đau chính thị hai chữ yêu yêu rồi mới sợ khổ đau là bi kịch con người, hay đúng hơn là hí kịch của thượng đế bày ra…giải trí (chơi hề hề, cười trên đau khổ con người, đích danh là thượng đế, không sai) Và con người do thượng đế tạo ra cũng không…vừa, thượng đế đùa giỡn con hả? chơi luôn, hãy yêu nhau đi dù mặt đất có hoang vu, nên không còn một ai phụng thờ thượng đế, nên con người ngày càng man dã, hoang dại…suối khe là cuội nguồn tức thay chữ yêu bằng một chữ dục, nên tình dục lên ngôi, no war make love, để lại đằng sau một thế hệ…hoang đường vì chỉ có thể sống trong những cơn mơ, trong những cơn mơ hoang đường anh mới thấy được tình yêu kia là bến bờ? Au revoir, hiện thực chỉ là một chuỗi buồn nôn, hiện sanh là trống rỗng hư vô, nên cả một thế hệ tìm về cuội nguồn…suối khe, tình dục và ma túy. Oh my god, thượng đế đã đi ngủ trưa. Đừng lo bởi tình yêu chỉ là écho, tiếng vọng của hơi thở nữ thần tình ái, venus, đang ngồi sáng tạo ra những mũi tên vì bao đựng tên đã hết?
Thượng đế sáng tạo ra con làm gì hỡi người, hề hề, xin tạm dừng khẻo TH sa vào chỗ…uất hận vì…chùm nho, chùm nho uất hận, hề hề. Và đừng cầu xin thượng đế, kẻ tạo ra khổ đau dưới tên gọi tình yêu để đùa giỡn con người!!!
Có phải chăng, thượng đế đã tạo ra khổ đau nhưng gọi là tình yêu?
trừng hải, hề hề
Thượng đế gọi khổ đau là tình yêu?
Bên những tiếc nuối mơ hồ về một khung trời tưởng tượng,
Bên những chán chường tuyệt diệu, phải có một cội nguồn;
Mà ta vô vọng tìm bằng tâm hồn ti tiện;
Và cả ta, ngạc nhiên trước những thống khổ mình giải bày,
Chợt nghe trong ta một kẻ xa lạ đang khóc
Kẻ luôn dấu ta nguồn gốc và tên tuổi của mình.
( trích, Sully_Prudhomme, trong “Kẻ xa lạ-L’étranger”)
“Ta chính là thượng đế, vạn năng, toàn trí, bí hiểm. Dòng dõi phi thường vua chúa trên trời cũng như nơi địa cầu nhưng đã đánh mất chiếc đũa thần biến người thành toàn năng bởi chính nó là toàn năng. Nếu ta tìm lại được nó ta thì thế giới trên trời cùng địa cầu sẽ thuộc về ta. Và ta sẽ không còn thấy ưu phiền, tiếc thương, lo lắng hay nhọc nhằn. Bởi ta sẽ ngụ nơi tràn đầy rượu, nho và muôn vàn thiên nữ; không có ngày và đêm, nóng và lạnh, muỗi mòng-bọ chét…”
“Hãy nhìn ta! ta là thượng đế. Nếu không là thượng đế, ít ra cũng là con ngài! Đấng sinh thành trần tục mà ta đang sống cùng không phải là cha mẹ thật sự của ta. Ta vô nhiễm. Ta phải bảo toàn chiếc đũa thần, cảnh cây vàng, liều thuốc trường sanh (mà ta đã từng có những đánh mất hay đang có mà sẽ mất) Với quyền năng của nó ta là vô địch, và ta sẽ cứu rỗi. Ôi cõi trời nơi ta nương náu, lòng mẹ bao la của ta, thiên đường đầu tiên cũng là cuối cùng của ta. Ở đó ta được bình an, thanh thản, quên hết thời gian và không gian, mãi mãi!”
Và đó chính là thượng đế, kẻ gọi đau khổ là TÌNH YÊU; và kẻ bị trói vào dây oan cũng man man, khùng khùng, mơ mơ như những lời trên vậy, hề hề. Và đó chính là Mặc Cảm Oedipus, hề hề, theo nhà tâm lý học Menninger.
Tình là đi hoang? Phải chăng, tình không như là mơ, hề hề???
trừng hải, hề hề
viewpost-right

Sanh tử khứ lai là nơi tuyệt lộ (TRỪNG HẢI ) 4 tiếp theo

Tâm Viên Ý
Mã – Kẻ Ở Người Đi

Gửi bởi cunconmocoi Xem bài viết
Kính bác trừng
hải
 !

Thưa bác, cháu đại diện cho những thành viên khác nói lời cám ơn đến với những
tri kiến mà bác “cập nhật” cho.

Tuy nhiên về “góp ý xây dựng” cho cá nhân bác thì cháu xin phép được
nói (dĩ nhiên là chủ quan, bác không cần trả lời, nhưng cháu vẫn nói để gieo
cho bác “một vết thương lòng”).

Thưa bác ngày xưa đức Phật có dạy “con ong đi hút mật hoa, thì chỉ
biết hút mật, chứ không hề quan tâm hoa đẹp hay xấu, lớn hay nhỏ, hoa thuộc họ
nào ?”
. Ý đức Phật muốn dạy “chúng ta hãy chăm chỉ tu học đừng
quan tâm quá nhiều đến những chi tiết khác mà mất tập trung, như vậy sẽ không
có lợi cho hành giả”.

Khi bác phân tích bài viết của cháu, bác không quan tâm đến điều cháu muốn nói
“vạch lỗi người với thiện ý xây dựng là điều rất nên làm, thấy lỗi người
với tâm “nhân ngã bỉ thử” là điều nên tránh” mà bác lại quan tâm
đến “hoa này thuộc họ nào ?” _ Pháp Lục Hòa không phải là pháp dùng
cho lễ Bố tát.

Xin bác hãy đọc bài của chúng cháu bằng tinh thần “lọc bùn lấy nước”.

Kính !

__________________________
Chào đạo
hữu cunconmocoi,
Đừng vội, đừng vội, lời nói chưa hết ý muốn nói (bởi vì bài đang viết dang dỡ,
hề hề). 

Sao mấy đạo hữu thuộc “ma cũ” cứ lấy cái lý chỉ lỗi của người đem ra
làm chiêu bài vậy. Đã nói là “Không nhân ngã, bỉ thử” thì sao còn gọi
là bỏ việc “tiêu dao” lấy việc “cực nhọc”. Đã nói là chăm
chỉ hút mật lại còn đi “vạch lỗi người”??? Không hí tiếu sao??? Có
biết tinh thần “lọc bùn lấy nước” là gì không đó??? 

Nào, bây giờ ai muốn trao đổi thì hãy lên diễn đàn hết đi, hôm nay Trừng mỗ này
cũng vì người tri âm Chiếu Thanh đạo hữu sẵn sàng nói lời phân tích chỉ rõ sự
lý Chánh Kiến!!! Xin mời

Đồng kính và xin mời. Hề hề

Bi Hỉ Ly Hợp – Muôn
sự thị huyễn

KÍNH LẠY THẾ TÔN, ĐẤNG
THOÁT VÒNG PHIỀN NÃO, BẬC CHÁNH ĐẲNG CHÁNH GIÁC

Cầu cho chúng sanh an lạc, đồng giải thoát mà đáo Niết Bàn.
__________________________

Kính thưa quý hữu, sáng hôm nay Trừng Hải này sau khi công phu sáng thì ngồi
vào bàn trước màn hình điện toán cũng có tâm viết cho xong phần “Khứ Lai
là gì? Khái lược” (tất nhiên, tức vốn nó vậy, cũng chỉ để quý hữu thỉnh
lãm xem chơi chớ không hề có có tư ý gì. Mà tư ý gì mới được chớ???) nhưng không
tài nào khởi nguồn thanh ý một lòng quy hướng Phật Đạo được dù đã đổi hai ba đề
tài khác nhau; cứ viết chừng vài dòng là bất túc tức mạch ý nó bị nghẽn mà
không khai thông được??? Cũng dụ như ngày xưa còn trẻ mời bạn gái đi chơi mà
lại có hai thằng du côn bụi đời nó đi kè kè bên cạnh thì làm sao mà nói
chuyện…yêu đương được chứ, hề hề. Đúng là cái sự đời nó đa đoan tuy lòng vẫn
cứ nhẹ nhàng phát tràng mín chi cười…lai rai, nhưng hùng khí thanh phong nó
không chịu dâng trào mà cũng chỉ mong dộng một tiếng đại hồng chung thức tỉnh
mọi người thấy được PHÁP BẢO nó quý báu dường nào chớ không phải chỉ là đống
kiến thức triết học còm cõi thế gian đa sự chỉ là cái nhìn qua “khung cửa
hẹp”, dù chưa đưa người đến được Bờ Bên Kia nhưng cũng làm cho đời sống
mình thêm cao thương đúng mực người đi trên kiều thượng chính hiệu con nai –
Nhân tòng kiều thượng quá – mà ngày ngày sảng khoái vui tươi thấy đời qua đi
nhẹ tợ lông hồng thật sự chớ không phải tợ lông hồng vì rượu chè làm cho mình
lâng lâng…như bay, dụ như họ Trịnh cuối đời chết vì bệnh tim mạch, đái đường
trong đau thương tật bệnh thường nói – Hôm nay ta say ôm đời mộng mị – thì cũng
thật đáng thương, đáng thương. Kính thưa quý hữu, thôi thay vì nói chuyện Khứ
Lai, Trừng mỗ tôi xin lai rai chuyện đời chuyện đạo bởi vì đây cũng là mục Chat
Linh Tinh tức thư giãn mà thôi. Mong quý hữu vỗ tay để mỗ tôi nhẹ lòng mà viết
tiếp. Kính báo kính báo.

Kính thưa quý hữu, ngày xưa khi còn là sinh viên đại học mỗ tôi cũng rất ham mê
triết học cả phương Tây lẫn phương Đông đọc qua vô số sách báo tranh ảnh tiểu
thuyết biên khảo về cổ kim đông tây dù đang học khoa học tự nhiên, nên cũng có
lần đọc qua mẫu chuyện thiền nhật bổn của DQS, tức GNCĐ, hề hề tay văn sĩ này
vốn dạ…không đàng hoàng vì trong tiểu thuyết thường gán ghép chuyện kd nên
đối với mỗ tôi cũng chỉ là văn sĩ hạng…hai hơi tức trường tiếu bất túc nên
phải hít đến…hai hơi mỗi lần nói chuyện, hề hề, chớ không có đàng hoàng như
NHL, PCT, CH…Trong các mẫu chuỵện đó thật tình mà nói nó được xây dựng với
mục đích làm khiếm khuyết nên tảng lý luận tức không đủ điều kiện để tạo nên
một vấn đề dụ như một bài toán mà không có…kết quả vậy cho nên, độc giả mặc
sức mà lý luận theo…ý mình nên thành ra nó hấp dẫn vì ai cũng thấy mình…có
lý; đó cũng chính là mục đích của các nhà lý luận nhật bổn tức tạo sự hấp dẫn
bằng một vấn đề tự nó vốn không có…ý nghĩa nên tạo ra sự huyền hoặc giả tạo
vì tâm lý chung của loài người là ai cũng muốn mình là…cái rốn vũ trụ. Thí dụ
như khi quý hữu có tiền đi du lịch qua nhật bổn chơi mà lại ưa thích
chuyện…nhật bổn nên đến dự lớp bắn cung, thưa quý hữu nó không có rẻ đâu cỡ
500 USD cho mỗi khóa học chỉ để học…một câu lý luận mang màu sắc Phật giáo
nhưng vốn là của đạo Lão: Muốn bắn trúng hồng tâm thì đừng có nghĩ đến chuyện
bắn trúng, hề hề. Nếu là người không am tường phép lý luận thì thấy pháp tự mâu
thuẫn chôm được của Phật giáo (mà thuộc dạng nửa vời), rất ư chi là…độc đáo
rồi sau đó bạn có thể bắn trúng hồng tâm vì nó…gần xịt à, khoảng 4-5m thì
không có học lý đạo bắn cung cũng bắn trúng. Vậy mà, thưa quý hữu, ai ai cũng
thích vì cho rằng mình am hiểu…thiền, một pháp xứ mà các thiền sư phải bỏ ra
cả một đời mà đôi lúc vẫn còn đứng ngoài cửa thì cũng thật…hí tiếu, hề hề.
Đến ngay đây chắc cũng có người cho rằng Trừng mỗ nói…dóc nên cũng xin trích
dẫn một mẫu chuyện để phân tích cho quý hữu thỉnh lãm chơi, mà có tin thì cũng
được mà không tin thì cũng xong vì Trừng hải này cũng chỉ nói…chơi, hề hề.

Kính thưa quý hữu, để tiện bề cho quý hữu thưởng lãm Trừng mỗ tôi xin tóm tắt mẫu
chuyện về việc hai mẹ con của một bà lão nơi cô thôn biên địa phát tâm cúng
dường một vị thiền sư dứt bỏ trần gian uế trược lánh mình nơi sơn cốc thâm u
thiền na Pháp Bảo, sống cô thân chích ảnh trên con lộ tử sanh để đến ngày về
nơi Như Nguyện. Công việc của hai mẹ con cũng chỉ là cơm nước sáng trưa vì
thiền sư thì chỉ dùng cơm ngày một bữa nên cũng chỉ nhín chút cơm khi nấu cho
mình; quét dọn am cốc, chắc có lẽ cũng nhỏ như thư phòng của mỗ tôi, độ chừng
5-10 mét vuông chứ mấy thì quét dọn cái rẹt là xong có chi mà…mệt mõi, và
giặt dũ y áo cho thiền sư thì chắc cũng một cái một ngày nên không có
chi…phức tạp. Chỉ công nhận một điều là nó có sự thành tâm vì kéo dài suốt
mười mấy năm trường đăng đẳng (nhưng e rằng cũng có dụng tâm vì người con gái đang
còn…bé, ngây thơ???). Tuy nhiên, chuyện ngang đó thì cái tài của các nhà lý
luận nhật bổn chắc cũng tầm thường như…mỗ tôi, mà vào một lần nọ bà lão cho
người con gái đến am cốc hình như để…dụ dỗ vị thiền sư nhưng thất bại nên bà
lão cảm thấy…tiếc công sức bỏ ra liền đến đốt đi am cốc của thiền sư mà không
biết lúc đang cười hay đang khóc, hề hề. Kính thưa quý hữu, như ta đã biết ngày
Đức Như Lai trước lúc Thành Đạo ngồi dưới cội Bồ Đề tìm cầu thoát Phiền Não Vô
Minh đắc Chánh Đẳng Chánh Giác thì lúc ấy Ma vương đã cho ba người con gái của
mình, đều là người nguyệt thẹn hoa nhường trần gian ít thấy, để làm thối chuyển
Bồ Đề Tát Đóa Siddhattha. Điều này chứng tỏ cho chúng ta thấy, trên thế gian
này có lẽ sắc dục là dục vọng đứng hàng đầu đối với những người tu học có chí
nguyện an vui thoát khổ không có dục nào hơn được nó; Vậy thì việc vị thiền sư
trong câu chuyện khước từ chuyện mời mọc đúng là đáng tán dương thay vì đã
thành công phu tâm như tro lạnh, thân thị khô mộc dứt tuyệt dục vọng trần gian đắc
cứu cánh, là chuyện tuyệt tích phi phi thường chớ sao lại bảo công phu chưa đến
nơi đến chốn???!!! Thật là hí tiếu thay cho người??? 

Kính thưa
quý hữu, trên chỉ là phép lý luận còn chư vị nào đã từng đọc qua Jataka-Bổn
Sanh Kinh hay Lalitavistara-Phổ Diệu Kinh (hay Du Hí Thần Thông Kinh) hay
Mahavastu-Đại Sự thì sẽ thấy các câu chuyện thuật lại Bậc Đại Sĩ tức Bồ Đề Tát
Đóa-Bodhisattha, có lúc vượt qua được dục tình, có lúc không để thấy chướng
ngại tình dục nó khó vượt qua như thế nào; Dĩ nhiên, tức nó là tự nhiên, đó
cảnh giới Bồ Đề Tát Đóa-Bồ Đề Hành tức Bodhisattha-Bodhipitaka, là cảnh giới
bất khả tư nghì mà huyền tác vi tức Vị Tằng Hữu tức chuyện lạ thế gian phi
thường phi phi thường mà hàng cư sĩ tại gia như chúng ta chớ có lạm bàn (mà có
biết đâu mà bàn!!!) mà sa vào thế sự vốn vô tri chuyện phi thường, thường nên
chỉ là lời hí luận bởi, nếu có nói đến cũng chỉ có Chúng Tăng Già Thánh Giả
nương theo Phật Lực y chỉ Phật Đạo mà hoành dương Chánh Pháp trên thế gian vốn
u mê bất tri Thánh Đạo (mà cũng nhờ vậy mà chúng ta phần nào biết đến vì đó là
Hồng Phước Vô Biên) theo Pháp Thập Huyền Diệu. Kính thưa quý hữu, ngay cả như
thuyết khoa học thực nghiệm thế gian mà mỗ tôi đã thấy nan am tường như thuyết
hỗn mang của David Bonn nói về đơn lượng tử-quantum (mà các nhà “đại dịch
giả” đại việt ta chuyển ngữ là lượng tử) đã muốn…bể cái đầu phi phi não,
hề hề, tức là có não (chứ không phải vô não, hề hề) hà huống là Pháp Huyền Diệu
của chư vị Bồ Đề Tát Đóa vốn thậm thậm huyền vi mà bác đại tung hoành bởi phi
thời nên muôn vàn biến ảo, mà hàng cư sĩ tại gia lại đòi lạm bàn thì
thật…nghĩ không ra, hề hề, nghĩ không ra, hề hề!!! 

(Xin lỗi quý hữu, vì lâu quá rồi nên Trừng Hải không nhớ rõ chi tiết là bà lão
có một mình hay ở chung với người con gái, bởi có nhiều dị bản. Nhưng đó chỉ là
chỉ tiết nhỏ đối với Trừng Hải, nó không hề làm thay đổi nội dung chuyện đang
nói của Trừng Hải, hề hề, tuy nhiên cũng hết sức tạ lỗi cùng quý hữu, lượng thứ
lượng thứ, muôn vàn áy náy, áy náy. Và xin đa tạ sự chỉ điểm của đại tỉ
hoatihon)

Vậy câu chuyện nó vốn khiếm khuyết điều kiện nào (tức paccaya), mà làm cho mọi
người mặc sức tưởng tượng theo ý mình làm cho câu chuyện vốn ít ý nghĩa thành
ra huyền ảo mông lung? Kính thưa quý hữu, đó là nòng cốt chính của câu chuyện,
chính là TÂM phát nguyện của
bà lão là gì?
 Và thường độc
giả bỏ qua NHÂN DUYÊN chính này mà nảy sanh vọng tưởng , QUA ĐÓ HẠ THẤP HÌNH ẢNH CỦA BẬC
CHÂN TU 
vốn đã thoát ly thế
sự về chốn cùng cốc phát nguyện tu hành y CHÁNH ĐẠO để về nơi NHƯ NGUYỆN qua
việc vượt qua được con “sóng lớn dục tình” (Hêy da, đã vào tận chốn
núi non cùng cốc hoang liêu cô tịch mà vẫn không…yên. Mà đáng kính thay
nguyện lực bất thối chuyển của Bậc Xuất Gia). Kính thưa quý hữu đây chính là
chỗ vi tế làm cho tâm của chúng cư sĩ tại gia vô tình đánh mất đi TÍN TÂM đối
với Chúng Tăng Già là một trong ba CHÍ BẢO tức TAM BẢO. Điều đó thật là tai
hại, là chướng ngại vô biểu sắc ăn sâu nơi tận cùng ký ức khó thấy mà sữa chữa
nên Trừng Hải này ngưỡng mong quý hữu hãy cảnh tỉnh bởi tiếng chuông này mà
giật mình kinh sợ, mà sám hối vô tướng để tránh phải sai lầm do vô tâm mà có.
Mong lắm thay, mong lắm thay.

Kính thưa quý hữu, xin kiến giải câu nói của vị thiền sư để thấy rõ chân tâm
của người đạt đạo, rồi tiếp đó là hành vi của bà lão để thấy sự vô lý khi ảo
tưởng thanh cao hóa một bà lão nhà quê nơi cô thôn biên địa.

Câu trả lời của vị thiền vi khi bị…dụ dỗ như sau: “Một cây cổ thụ mọc
trên núi đá lạnh lẽo vào mùa đông. Không có nơi nào là không ấm áp” 
Chư vị đắc đạo thường giữ mật hạnh nên không
bao giờ nói quả vị mà mình chứng đắc bằng bạch thoại mà thường dùng ẩn ngữ tức
nghĩa bóng. Theo lời nói này thì núi đá thường biểu thị cho sự thanh cao tức
viễn trần ly cấu. Cây cổ thụ thường ý cho tâm bất động vô sở đắc. Sự ấm áp
thường chỉ pháp bình đẳng vô ngại như trời nóng thì mát mẻ (thanh lương) trời
lạnh thì ấm áp. Vậy câu nói này, theo ý Trừng Hải là biểu thị cho việc chứng
đắc Vô ngã nhân lẫn Vô ngã pháp. 
Còn bà lão thì sao? Chỉ là một người bình thường phát nguyện công quả cho một
bậc xuất thế gian tức thiền sư ẩn cư cô thân chích ảnh vì chư vị là phước điền
cho thế gian thì sao lại nghĩ đến chuyện đắc Trí Bồ Đề cao hơn bậc công phu y
Chánh Pháp như vị thiền sư được??? và hành vi đó chỉ có ước nguyện hưởng được
phước quả giàu sang vào kiếp sau chớ có gì gọi là cao siêu mà đòi đi
“THỬ” một vị thiền sư đắc đạo??? Thế nhân thật là hí tiếu bày đặt
chuyện này chuyện nọ rồi…tán phéc lên tận trời cao. Mà âu cũng được đi, nhưng
sao lại cố tình hạ thấp hình ảnh vị thiền sư tu hành như truyền thống thanh cao
bao đời nay chư cổ đức thường hay xưng tán mà nói này nói nọ, đời này đời sau,
hồi trước hồi sau. Thật là đáng thương thay những kẻ buông lời hí luận mà gieo
họa cho đời sau!!! Và chính hành vi chạy lên núi đốt thảo am của người tu hành
thì biện bạch gì được nữa đây??? Chỉ là hành vi của kẻ lỗ mãng như thế nhân
thường nói “Không ưa thì phá cho bỏ ghét” chớ có gì là xuất chúng, mà
ca ngợi. Rồi còn đòi hỏi vị thiền sư chứng tỏ từ tâm nữa mới nực cười. Không
phải hành vi từ chối cử chỉ tà dâm của cô con gái là đã ngăn cản cô mắc ác
nghiệp sâu dày vì cám dỗ người chân tu đó sao, còn từ tâm nào hơn thế nữa???
Thật là lời vô trí do bởi ưa sự khác lạ, phi thường ngu ngốc!!! Ôi đáng thương
thay bởi vì lời hí luận thường thấy nơi nơi, người người phéc lác cho ra vẻ bí
hiểm, cao siêu nên thường hay ca ngợi những bà lão chân quê bình dị quá đổi
bình thường như “bà lão bán bánh đòi…điểm tâm bậc am tường Tam
Tạng”??? “bà lão trách móc bậc thượng thừa vì chuyển…nữa tam tạng
kinh”??? Thời nay lại có một “bà lão đốt am” cao siêu này nọ.
Nên mới sanh ra kẻ khi hỏi “Sao không đến viếng chùa?” liền trả lời
rằng “Phật ở trong tâm”???!!! Ôi thật đáng thương thay. Đáng thương
thay.

Đồng Kính, hề hề. 

Lời rác rưởi.


hiểu hai câu này ?

Sát
sanh lên thiên đường.

Phóng
sanh đọa địa ngục
c.

Lời rác rưởi của kẻ ngu muội như vầy:
“Sát cái tâm phàm (tham, sân, si) sanh lên thiên đường. Phóng cái tâm phàm
(dâm, nộ, si) rơi xuống địa ngục”.
Kính xin được nghe
lời vàng ngọc của ngài!
Kính
bác Tuấn Tú,

Lời của người thất thập tam niên quả là lồ lộ phong khí điềm đạm nhẫn nhẫn chi
sơn tọa quan thế nhân thốt lời thị phi mà cười mún mím (vì đã rụng hết răng, hề
hề,) nên người xưa mới nói là cải lão hoàn đồng vì tính khí vẫn như nhi, hề hề.
Trừng Hải này hai ngày nay vẫn chờ đợi bác kể lại tâm tình khi khăn gói quả
mướp vào chùa tu học để mở rộng thêm kiến thức về sự tu học người xa xứ nhưng
vẫn bặt tăm ngoài hai bài nói về cái vui của người tu học của cố Hòa Thượng
Thích Nhật Quan. Hề hề. 

Kính bác Tuấn Tú chữ sát sanh và phóng sanh của đạo hữu chimanhvu chính là chữ
sanh tử mà Trừng Hải nói ra rả chơi cả suốt tháng nay đó. Lẽ tất nhiên lời của
bác vẫn y chỉ lời người tu học nhưng theo Trừng Hải này không có sát nghĩa lắm,
hề hề. Hay nói cách khác chữ “sanh” là “sanh diệt dĩ diệt tịch
diệt vi lạc” trong lời kinh danh chấn Niết Bàn Kinh “Chư hành vô thường. Là pháp sanh diệt. Sanh diệt dĩ diệt.
Tịch diệt vi lạc” Có điều dân tàu hay chơi chữ nên thay chữ diệt bằng chữ
sát nhằm làm cho lời khỏi bị chê là “mọt sách” (đây là phong hóa của
dân tàu???) mà thôi. 

Thưa quý hữu, chữ DIỆT trong câu kinh trên có ba nghĩa tức là “Thi
la” tức diệt do giới luật, “Nhẫn” trong vô sanh pháp nhẫn và
“Vô vi trạch diệt” tức là Niết bàn. Đạo hữu chimanhvu quả là người
tâm cơ rất sanh động linh hoạt. Rất thán phục, thán phục. Xin hãy giữ vững bước
đi dài của mình chớ đừng quay lại. Mong lắm thay, mong lắm thay. 

Đồng kính, hề hề. 

“Sanh
diệt dĩ diệt
Tịch diệt vi lạc”.
Chỉ vì hai câu này mà đức Phật Thích Ca
phải thí cái thân của mình cho quỷ La Sát. Phật còn như thế, chúng ta thì sao
nhỉ!? Động một chút thì tham, sân, si lẫy lừng quên mất cả chân tánh mà tạo
nghiệp ác. Đừng tưởng ỷ mình có chút hiểu biết về cơ phong của các Tổ Sư mà lạm
dụng (như lời cháu hoatihon đã nói vói chimanhvu!). Chimanhvu đưa ra hai câu
đó, liệu chimanhvu có đúng như lời bác ca tụng không?
Bác Trừng Hải giải thích hai chữ “sanh
diệt” trên phương diện triết học của bác, chứ chỗ này Phật nói không xài
được (giống như bác nói “mọt sách” của dân Tàu vậy!?). 
Việc tu học của tôi cũng bình thường thôi,
chẳng có gì đáng nói, cốt để khoe khoang cái hiểu biết nông cạn, sợ làm trò
cười cho mọi người.
Bác đã trở về “chủ đạo” đề tài
của bác, tôi rất mừng… Tôi đã có lời đề nghị “khóa chủ đề” của bác
lại (bác phải thọ án) để tránh những việc đáng tiếc. Dù đã tiên đoán trước mà
cũng không tránh khỏi, tôi cũng bất bình (tâm sân của tôi đấy), nhưng không nói
ra, vậy mà chính bản thân tôi cũng không tránh khỏi bị “bêu rếu”. Xin
sám hối trước Phật Tổ và đại chúng.
Kính.
Kính bác Tuấn Tú,

Xin chớ nói những lời như vậy mà mất đi phong khí của người đã bước qua
“đoạn trường ai có qua cầu mới hay” Lời Trừng Hải này vẫn đầy đủ cho
cả thượng trung hạ tức gồm Giới, Định, Huệ mà tùy theo căn cơ mà người cảm ứng
được cũng chỉ cốt yếu cái chữ “tu hành” mà thôi. Há không phải tôn
chỉ của DIỄN ĐÀN PHẬT PHÁP ONLINE là LỤC HÒA tức dựa trên giới luật, kiến, và
lợi sao??? Chữ kiến này há không phải là kiến giải y giới luật mà đem lại điều
lợi cho tất cả mọi thành viên diễn đàn chứ vô phân biệt chức phận thành viên
sao??? Mà giới luật thì tất cả mọi tông phái Phật giáo là đồng sao!!! Bởi vậy
sao phải cứ nghi ngờ công phu của người cũng giống như dựa vào lý lịch nơi thế
gian vậy??? Bác với tôi cũng sắp đã qua cầu sanh tử thì ngoài việc tự lợi há
không phải khuyến khích bực tiểu bối y chỉ phong thái mạnh mẽ mà điềm đạm của
bản thân mà duy trì hạt giống từ bi giữ gìn Đất Phật cho đến ngày cảm nhận được
mối ư hoài của người đi trước sao??? Ở gần con nít thì phải chịu nghe lời nó
nói líu lo mới là chữ khoan dung nho nhỏ của chữ nhẫn trong Phật giáo thôi có
gì mà phải trưng chiêu bài người lớn tuổi.

Kính đồng chí đồng ngộ, hề hề.

TB: Mai về lại đô hội phồn hoa…giả tạo Trừng Hải này xin kể cho bác công án
Bát Nhã nghe chơi để trải lòng người Phật tử trước cái điêu tàn do lòng người
hoang hóa. Mong bác đừng giận vì nững lời trên. Mong lắm thay. Kính

Bát nhã ngày xưa, bây
giờ mưa rơi – bồ đề diện bích

KÍNH LẠY THẾ TÔN, ĐẤNG THOÁT VÒNG PHIỀN NÃO,
BẬC CHÁNH ĐẲNG CHÁNH GIÁC

Cầu cho chúng sanh an lạc, đồng giải thoát mà đáo Niết Bàn
___________________________
Kính thưa quý hữu, nhân
chuyến du sơn về nơi sương mù trung du sáng lạnh trưa nóng chiều gió thổi thông
reo bóng tịch dương sau sơn đỉnh xa mờ mây trắng bạc đầu như muốn che ánh hồng
quang vì buồn nhân thế quên đi cây rừng che chở bao đời nay, hề hề. Thông tuy
vẫn còn nhưng ngỗn ngang gốc thông trơ trụi vì bị đốn trộm dầu thông rỉ chảy
như máu chưa đông thành lệ nơi mắt người xưa cố cựu bởi người cố cựu yêu thông
hơn yêu…đời nhân gian, hề hề. Nên Trừng Hải này cũng hề hề mấy tiếng tiếc chi
tiếc chi vì vật đã mất rồi nhưng người vẫn rưng rưng vì thông tuy mất nhưng gốc
thông vẫn còn một màu ai oán giận hờn chia ly.

Người xưa quả đã
già rồi nên âm giọng không còn sôi nỗi như ngày xưa năm trước mười năm, tuy
không vươn dấu tịch liêu thâm sơn cùng cốc nhưng phong thái không còn nét ngạo
nghễ ngữa mặt hỏi trời mà đòi chuyển thế nhân, hề hề. Nên Trừng mỗ này cũng
không dám nhắc chuyện năm xưa khuyên Quy Y Tam Bảo vì người vẫn chay trường mà
dường như(?) muốn làm một cây thông đứng giữa trời mà reo cho tự tại, nhưng hỡi
ơi tuy thông vẫn muôn thuở giữa triền ngạo reo nhưng cái thằng lâm tặc nó có
cho thông reo là cái quái gì đâu nên lăm lăm le le cầm rìu bơm thuốc chết cây
mới khổ não cuộc đời yêu…thông. Mà thầm cảm ơn Hồng Phước Mười Phương Chư
Phật thường dạy người đừng sở yêu thương cái gì tức vô sự. Mà khi nói đến ngang
đây chắc cũng có người nghĩ rằng nếu không có tình nơi sự vậy thì người vô tình
sao??? Dạ xin thưa rằng do tình không trói với sự nên tình mới trao hết cho
người mới là lòng từ bi người Phật tử. Dụ như bạn có một món đồ mà bản thân
không còn thích nữa nên sẽ đem tặng người với lòng thơi thới không tiếc nối gì
là do bởi không trói sự với lòng nên nên tình đâu gắn với sự màluyến tiếc nên
tình mới gởi trọn vẹn nơi vật đem cho người. Đó mới gọi là cúng dường hay bố
thí thanh tịnh chính hiệu con nai. Kính thưa quý hữu, Trừng Hải này chưa từng
thấy pháp nào quý báu bằng Pháp Bảo trong Tam Bảo mà mình đã phát tâm Quy Y,
Thọ Giới. Có thể ở những bước chân đầu chập chững mới những bước đi trên đạo lộ
quý hữu chưa cảm nhận niềm hỉ lạc của việc nương theo Pháp Đạo nhưng chính
những lời dạy của Chúng Tăng Già cũng giúp cho đời sống của bản thân há không
sống đời cao thượng hơn sao!!! Và Chúng Tăng Già cũng chỉ cho chúng ta những
trí huệ thiện xảo giúp cho mình nhìn nhận mối nguy hiểm trong cuộc sống của gia
đình mà tránh xa nhờ đó mới ở trong niềm hỉ lạc bởi sống đời vô sự mà xa lìa
hoạn nạn mà vô tư lự trước cảnh đa đoan sự đời. Nhưng muốn được những điều này
Trừng Hải này cũng ngưỡng mong quý hữu hãy giữ vững hùng khí thanh phong mà Quy
Y Tam Bảo, Bất động như như trước vạn sự phạm giới. Mong lắm thay, mong lắm
thay.

Khứ lai là gì? Khái
lược (cont.)- Như Lai Tạng Duyên Khởi

KÍNH LẠY THẾ TÔN, ĐẤNG THOÁT VÒNG PHIỀN NÃO,
BẬC CHÁNH ĐẲNG CHÁNH GIÁC

Cầu cho
chúng sanh an lạc, đồng giải thoát mà đáo Niết bàn.
_____________________________

NHƯ LAI TẠNG DUYÊN KHỞI (cont.) – LĂNG GIÀ TÂM ẤN KINH

Kính thưa quý hữu, lời hẹn mời quý hữu thỉnh lãm cảnh giới Như Lai Tạng qua
“cửa sổ” mà Trừng hải này lần lượt mở Lăng Già Tâm Ấn Kinh, Thắng Man
Phu Nhân Kinh và Thiên Thai Viên Đế hôm này tiếp tục hiển bày cũng chỉ để quý
hữu thấy được Pháp Bảo nó trân quý đến dường nào, không trân bảo thế gian nào
hơn được nó (mà lẽ ra không nên nảy sanh sự so sánh như vầy, nhưng bởi lẽ chúng
ta vẫn còn loay quay trong cảnh trần bụi đời mà mới sanh tâm quy hướng Phật Đạo
nên đành phải tùy cơ mà sử dụng để mỗi một người hình dung ra sự quý báu mà
thôi) mà lại luôn luôn hiện tồn, thật sự hiện tồn nên chư vị có thể am tường mà
sở hữu Trí Bồ Đề mà thị Niết Bàn thường được kinh văn dụ như người cầm bảo ngọc
trong lòng bàn tay mình. Nó hoàn toàn khác hẳn mọi tài sản dù trân quý đến đâu
cũng chỉ là ảo ảnh bởi nó như thật là hình bóng chưa từng ai nắm bắt được. Vì
sao vậy, bởi của cải thế gian sở dĩ có là do ngũ uẩn thủ mà sanh tức thọ là
nhân duyên hay nền tảng mà thọ thì chỉ là ảo ảnh phản chiếu do thức là nhà ảo
thuật tạo ra mà thôi thì làm sao mà thật được. Khi Trừng Hải nói đến ngang đây
chắc có người mỉm cười vì cho Trừng Hải nói…dóc bằng lời sáo rổng chứ nếu mà
sở hữu được của cải giàu sang bốn bể như tỷ phú Bill Gate há cũng lý thú chớ
sao gọi là ảo ảnh. Kính thưa quý hữu, của cải giàu có nhiều như núi thì quả
nhiên Trừng Hải này không có nói nó là…không, nhưng nó không có thật bởi nó
có là do THỌ tức lãnh thọ nghĩa là cảm giác sanh nên nó mới hiện tồn mà cảm
giác thì nó như có như không tựa như ảo ảnh do dương diệm mà thành nên mới nói
nó không thật. Dụ như Bill Gate tuy là người có vài chục tỷ đô nhưng chưa bao
giờ thấy được chục tỷ đô bằng mắt thịt để mà lãnh thọ tức cảm giác thật sự ta
là người có chục tỷ đô mà chỉ là hình ảnh phóng chiếu của chục tỷ đô mà thôi
tức tài khoản nên mới nói nó như có như không; mà cái cảm giác tức thọ như có
như không đó nó cũng mất sạch luôn khi tỷ phú Bill Gate nhà ta…đói bụng tức
khổ do đói (bộ quý hữu nghĩ tỷ phú nó không đói bụng sao, hề hề) hay do mất ngủ
(như Michel Jackson chẳng hạn, hề hề) nên nó không thật sự hiện tồn mà chỉ hiện
tồn do thức nói nó hiện tồn mà thức thì được Duy Thức Tông gọi là nhà ảo thuật
hay ảo hóa đó quý hữu, hề hề. Hay để cho gần gủi hơn thì dụ như một người trúng
vé số độc đắc 1,5 tỷ đồng Vn họ sẽ thọ nhận cảm giác rất sung sướng như đi trên
mây nhưng thật sự đâu có 1,5 tỷ mà chỉ một cái vé số giấy đại biểu cho 1,5 tỷ
nên cảm giác thuần lâng lâng sẽ mất đi mà thay thế những nỗi lo sợ vé số không
đổi được, mất vé số, lãnh vé sỗ như thế nào…nên cảm giác sung sướng đó như có
như không bởi là ảo ảnh, hề hề, và rồi bắt đầu một chuỗi ngày tính toán so đo
tiền bạc bạc tiền nhức đầu nhức óc người có não, hề hề.

Kính thưa quý hữu, Như Lai Tạng được Phật Đà tuyên ngôn như thế nào trong Lăng
Già A Bạt Đa La Bửu Kinh (bản Việt dịch của Cố Hòa Thượng Thích Duy Lực). Là do
muốn đoạn đứt sự e sợ danh từ Vô Ngã của phàm phu nên mới nói cảnh giới Vô Ngã
tức là lìa vọng tưởng, vô sở hữu là Như Lai Tạng với bài kệ tụng là:

Nhơn ngã và ngũ ấm
Nhân duyên với vi trần.
Tự tánh vốn tự tại,
Duy tâm vọng phân biệt.

Tức tự tánh của Như Lai Tạng vốn là tự tại nên luôn luôn hiện tồn chưa bao giờ
biến mất trên thế gian mà không sanh khởi được là do bởi TÂM phân biệt mà sanh
ra nhơn ngã và ngũ ấm do bởi bị trị bởi luật Duyên khởi hay theo chiều thuận
của luật Thập Nhị Nhân Duyên. Và kính thưa quý hữu chỉ với bốn câu kệ trích dẫn
này đã làm sáng tỏ cảnh giới Như Lai Tạng huyền diệu mà thường tác vi khi Tâm
phân biệt đó là Vô Phân Biệt Trí hay Diệu Quan Sát Trí tức Chánh Trí mà thấy rõ
Chân Như tức Niết Bàn mà lần lượt viễn ly trần cấu thâm tâm mà nương theo Pháp
Thân mà xóa sạch vọng hoặc với chủng tử và hiện hành tức Khứ Lai tuyệt tích đó
thôi.

Kính thưa quý hữu, bây giờ Trừng Hải này có thể nói rằng khi Phiền Não là Không
tức Trung Quán Bát Bất thì Tứ Trí hiện bày tức Duy Thức Tánh thì Nhất thiết
pháp tướng đều chỉ là Huyễn hay Như Huyễn mà đó cũng chính là sự trung dung
thiện xảo mà ngày xưa Ngài Huyền Trang đã viết trong Hội Tông Luận mà Trừng hải
đã giới thiệu trước kia nên có thể nói rằng Y Tha Khởi Tánh chính là Trung Đạo
tức Không mà y theo Chủng Tánh Như Lai tức Như Lai Tạng mà sanh khởi Chánh Trí
tức Đệ Nhất Nghĩa mà thấy pháp tướng như thật huyễn vậy. 

Và bây giờ chắc quý hữu cũng thấy như cái thấy của Trừng Hải này đâu có chi
khác biệt, vậy mà vẫn có cái khác biệt là Trừng Hải đang lai rai sự lý mà
nói…chơi chỉ để ngưỡng mong quý hữu luôn ở trong hỉ duyệt sanh từ PHÁP BẢO là
Chí Bảo trong TAM BẢO bởi Chúng Tăng Già Thánh Giả luôn hằng mong quý hữu có
được đó thôi qua sự hoằng truyền không hề mệt mõi, Vô vụ lợi-Bất vị tình mà
luôn là Vô Danh. Ôi đáng tán thán thay, đáng tán thán thay mà lòng đầy tôn
kính, vô vàn tôn kính. Con xin sùng kính niệm tưởng mà y chỉ lời dạy của Chúng
Tăng Già Thánh Giả, mà ngưỡng mong quý hữu đồng tương ngộ. Mong lắm thay, mong
lắm thay.

Đồng Kính, hề hề.

   

Khứ lai là gì? Khái
lược (cont.)

KÍNH LẠY THẾ TÔN, ĐẤNG THOÁT VÒNG PHIỀN NÃO,
BẬC CHÁNH ĐẲNG CHÁNH GIÁC

Cầu cho chúng sanh an lạc, đồng giải thoát mà đáo Niết Bàn.
_________________________________

NHƯ LAI TẠNG DUYÊN
KHỞI (Cont.) – THẮNG MAN PHU NHÂN HỘI, BẢO TÍCH KINH

Kính thưa quý hữu,
như lời đã mời quý hữu thỉnh lãm cảnh giới Như Lai Tạng Duyên Khởi qua bổn kinh
Thắng Man Phu Nhân bằng việc Trừng Hải này mở một “cửa sổ nhỏ”, mà
chiêm ngưỡng cảnh giới vi diệu vô biên thường hiện hữu chưa một ngày, một giờ,
một phút, một giây, một sát na không hiện tồn cũng chỉ, ngưỡng mong quý hữu
khởi lòng sùng kính hằng niệm tưởng không phút giây nào ngưng nghĩ Tam Bảo mà
sanh hoạt nương theo Chánh Đạo mà hiện tướng từ bi bằng giới tướng mà mình thọ
giới từ bậc bổn sư ngày ngày không ngưng nghĩ để cõi lòng ngày càng sáng chói
như nhiên cho đến lúc không còn dính chút cấu trần tức thị minh tâm mà kiến tự
tánh Như Lai Tạng bằng chính nhãn nhục của mình nhờ đó hưởng được Hồng Phước Vô
Biên mà xóa sạch mọi vọng hoặc cùng với chủng tử và hiện hành phiền não mà đắc
giải thoát mà đến cửa Niết Bàn hoàn toàn thoát khổ. Rồi sau đó, tùy theo chí
nguyện của mỗi người mà tịch diệt nhập Niết Bàn Hữu Dư hay đi tiếp con đường
dài đăng đẳng qua vô vàn A tăng tỳ kiếp với gánh nặng trên vai mà hiện tướng Từ
Bi, Trí Huệ và Thế Chí hằng hoài mong chúng sanh giải thoát nhờ tuyệt diệt tử
sanh, đình chỉ khứ lai làm bổn phận và công phu tu tập trên con đường của bậc
Bồ Đề Tát Đóa-Bồ Đề Hành mà tựa như Du Hí giỡn chơi trong cả Tam Thiên Đại
Thiên Thế Giới bằng đại thần thông nhờ nương theo Phật Lực mà làm Phật Sự mà
luôn mỉm cười hân hỉ trường tiếu bất tận với mọi sanh linh chín tầng thế giới
chỉ để đem lại niềm vui Như Nguyện cho người. Ôi đáng tán dương thay, hạnh Đại
Thừa không bút mực nào kể xiết mà có đủ bút mực để kể xiết đâu bởi thế giới mà
ta hiện đang sống vốn là hữu hạn nên, cho dù có người phát nguyện ghi lại công
đức của chư vị, trải muôn niên trường thiên vĩnh cửu miệt mài ghi chép, chép
chép ghi ghi thì cũng không có đủ giấy bút mực nào mà ghi, hề hề, vậy mà cũng
vẫn có người hằng hằng niệm niệm mong muốn làm việc chưa từng ai có thể làm
nhưng vẫn muốn làm vì đó vốn là điều không thể nghĩ bàn mà vô vàn sùng kính như
bổn bể trong xanh mà cảm lòng chư Bồ Tát Ma Ha Tát ban cho nguồn năng lượng
miên viễn kỳ cùng sát tận cuối cùng thì gian khởi từ vô thủy. Và hôm nay xin
dộng một tiếng đại hồng chung trước là để lòng Trừng Hải khởi động lại
nguồn…hùng khí thanh phong cho nó dâng trào cuồn cuộn như triều tín muôn niên
mà tiếp tục…đánh đại hồng chung mỗi sáng, hề hề, sau là ngưỡng mong quý hữu
tương tư, tương tác âm thanh muôn đời không đổi bởi đó là nguồn năng lượng vô
tận vô lượng vô biên mà hiệu dụng hoàn hảo viên mãn vẹn toàn chớ không như năng
lượng trần gian chỉ dụng được chưa đầy hơn nửa số, mà gầy dựng tín tâm ngày
càng sâu dày đến lúc cũng mỉm cười trường tiếu như nhi, mà xem thế gian này
nhân gian nọ chỉ là người hỏi đường mây trắng “ou vàis” tức về đâu,
hề hề. 

Kính thưa quý hữu,
Kinh Thắng Man Phu Nhân là một hội trong đại tùng lâm Bảo Tích Kinh. Phu Nhân
là công chúa con của đức vua Ba Tư Nặc và hoàng hậu Mạt Lị nên có tên gọi là
Mạt Lị Thất Ca nghĩa tràng hoa trang sức cài lên mái tóc trên đầu được làm từ
trân châu thượng hảo hạng vô tỳ quý giá nên chư cổ đức Trung hoa dịch nghĩa là
Thắng Man. Ngài xuất giá lấy một vị đại vương gần Xá Vệ làm bậc mẫu nghi rồi
nhờ hưởng hạo thiên ân của cha mẹ Ngài qua việc tán thán Đức Phật Đà nên Hồng
Phước Quả khai nở trở thành Bậc Xuất Chúng khi khởi TÂM VÔ NGHI phát nguyện
PHẬT ĐÀ hiện PHÁP THÂN chứng giám rồi phát BỒ ĐỀ TÂM nương nhờ CHÁNH PHÁP Y tức
PHẬT ĐÀ tuyên ngôn bài kinh gọi là THẮNG MAN SƯ TỬ HỐNG NHẤT THỪA ĐẠI PHƯƠNG
TIỆN PHƯƠNG QUÃNG KINH.
Ngay chỉ với tên
gọi bổn kinh thì trừng hải này dù cho có trăm ngàn, trăm vạn, trăm triệu, trăm
tỷ tỷ trừng hải cũng vô phương kiến giải bởi chẳng có tư kiến nào mà kiến giải
hà huống chỉ là một trừng hải cỏn con đang ngồi gỏ bàn phím lóc cóc, lang cang
từng từ một trên một chiếc máy điện toán đời…bảo đại, hề hề, thì sao lại dám
cuồng vọng đề cập đến Bậc Xuất Chúng trí huệ như Diệu Cao Sơn-Sumeru vòi vọi
tỏa ánh sáng triệu triệu màu biến hóa soi sáng cả tam thiên đại thiên thế giới
do nương nhờ HỒNG PHƯỚC VÔ BIÊN của PHẬT ĐÀ nên từ từ, ngữ ngữ là đại mạc được
làm từ trân châu ngọc bảo tỏa ánh sáng diệu kỳ muôn màu sáng tỏ bội phần diễm
lệ hơn bắc cực quang trần thế mà lại kèm với diệu hương thơm thiên giới bởi
ngọc sáng đó cũng là hoa rơi từ thiên giới vô lượng ngàn năm không phai tàn.
Vậy thì tại sao
ngày trước, Trừng Hải này lại mời quý hữu thỉnh lãm xem chơi cảnh giới Như Lai
Tạng qua bản kinh Thắng Man Phu Nhân, có phải lời thốt ra do bởi đang say thanh
không minh nguyệt như con hạc già ngàn năm đứng đợi dưới gốc tùng xưa mãi mê
giỡn nguyệt in bóng dưới dòng sông tĩnh tịnh nguyên sơ mà quên cả lời hẹn thề
xưa về lại cõi Tavatimsa-Tam thập tam thiên vì lời nhiệt nguyện đã thốt năm xưa
thời lưu lạc. Dạ không, kính thưa quý hữu, Trừng Hải này chỉ là kẻ thiền giả
nơi cô thôn biên địa ngày ngày chăn trâu lấm lem bùn đất bên ao hồ nước đọng
nên tự lượng sức mình đâu đủ sức để nói đến chữ ĐẠI tức KHÔNG là cảnh giới của
rồng, phụng giỡn châu nơi thanh không trời cao vô ngại muôn vàn ánh sáng tế vi
khai sanh triệu triệu màu lung linh huyền vi mà hương thơm diệu thiên giới lại
là thực hữu tức cảnh giới viên dung vô ngại của chư Bồ Tát Ma Ha Tát thường du
hí thần thông. Than ôi, cũng tại xuất sanh từ một mối chân tình thấm đẫm chí
nguyện đồng tu cùng chư quý hữu mà Trừng hải này cố lấy hết ngạo khí như thiên
của kẻ chưa biết đến trời cao đất dày mà thốt nên lời mời thỉnh lãm cảnh giới
huyền vi Viên Đốn để ngưỡng mong quý hữu vì huyết lệ rưng rưng mà trầm tư minh
tưởng đến PHÁP BẢO vô cùng trân quý mà sanh chí nguyện tu hành mà nương nhờ TAM
BẢO có PHẬT BẢO ẩn tàng nơi TĂNG BẢO đó thôi. Kính báo kính báo. Hề hề, cũng vì
vậy mà Trừng hải này xin mượn lời kinh cũng của Bậc Đại Xuất Chúng thời Tượng
Pháp là Pháp Bảo Đàn Kinh của Lục Tổ Huệ Năng rồi xin quý hữu lượng tình tri
hành còn hạn chế nên lại dụng cảnh giới Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm để chỉ
thẳng đến cảnh giới Như Lai Tạng Vô Biên của THẮNG MAN SƯ TỬ HỐNG NHẤT THỪA ĐẠI
PHƯƠNG TIỆN PHƯƠNG QUÃNG KINH bởi chỉ có thể dựa vào một chữ TÍN mà thôi. Kính
báo kính báo.

Chiếu Thanh 
Kính Bác “trừng
hải”!
Khi chưa giác ngộ, thì mọi lời đều vô minh. Tổ Sư Bồ Đề Đạt Ma đã nói như vậy. Nay
có lời hỏi Bác, 
” người “ là người nào nhập Niết Bàn hửu dư ?, “người” là người nào đi tiếp con đường dài đăng đẳng A
Tăng Kỳ kiếp ?.

Sanh tử thì có.
Niết Bàn vốn “Không”
Người nhập nhập “Không”
Là nhập Niết Bàn vậy.

Sanh tử thì có.
Phiền não lại không
“Người” nào đi tiếp.
Ấy chẳng phải người.
Là Bồ Tát huyễn.

Như trẻ chơi giấy.
Này là chúng sanh.
Kia là Bồ Tát.
Ta đây là Phật.
Một lúc lại chán
Đem ra đốt sạch.

Thưa quý hửu, Hạnh Đại Thừa gây nhiều lầm lẩn nhất cho Phật Tử, dẩn đến nhầm
tưởng tu Đại Thừa lập hạnh Bồ Tát phát nguyện độ cho hết chúng sinh mà
“Ta” còn trơ trơ ra đó, (“ta” mà không còn thì lấy ai độ
chúng ! hì hì). Vậy tức là độ chúng không độ Ta. 
Đúng vậy không ?

trừng
hải
 

Kính chào đạo hữu Chiếu Thanh, vô cùng hoan hỉ khi lại được lãnh thọ
lời của bậc vô ưu hay có chí nguyện Vô Ưu mà xem muôn sự đều là Phi Hữu-Thị
Phi. Vậy sao còn hỏi đến Sự khi lời vốn xuất sanh từ Lý tức Không, há không làm
cho Trừng Hải này lại phải gãi đầu gãi tóc vì muốn bể cái đầu phi phi não tức
có não, hề hề. Tuy vậy Trừng hải này cũng muốn có đôi lời trao đổi vì đạo hữu
đã đưa ra một công án mà ngày xưa Tổ Liễu Quán đã mất một thời gian dài mới
được Ấn Tâm đó là:

Vạn Pháp Quy Nhất – Nhất Quy Hà Xứ.

Chữ Nhất này được lãnh hội tùy căn cơ mỗi người (lại có chữ người, nhưng nếu
không có người thì ai là người xuất thế đây, hề hề) mà nói theo cái nhìn trực
ngộ vô ngôn (vô ngôn sao lại có lời nơi đây, hề hề) lại có hai Tiểu và Đại hay
Như Lai Tạng thức tạng và Như Lai Tạng Vô Biên mà diễn đạt hai chữ Sanh tử và
Niết bàn tức cái Một đi về đâu? Vậy đạo hữu Chiếu Thanh muốn Trừng Hải này đi
về đâu đây??? Hề hề

Kính, hề hề.

Khứ lai là gì? Khái
lược (cont.)

KÍNH LẠY THẾ TÔN, ĐẤNG THOÁT VÒNG PHIỀN NÃO,
BẬC CHÁNH ĐẲNG CHÁNH GIÁC

Cầu cho chúng sanh an lạc, đồng giải thoát mà đáo Niết Bàn.
_________________________

NHƯ LẠI TẠNG DUYÊN KHỞI – THẮNG MAN PHU NHÂN HỘI, BẢO TÍCH KINH (cont.)

Kính thưa quý hữu, như lời giới thiệu trước nhằm mở “cửa sổ nhỏ” qua
bổn kinh Thắng Man Phu Nhân để quý hữu chiêm ngưỡng cảnh giới huyền vi bất khả
tư nghì mà diệu tác vi tức Như Lai Tạng thì Trừng Hải này chỉ có thể dựa vào
một chữ TÍN mà thôi, vì tri hành vẫn còn ở thời ban đầu hồng bác thưở hồng
hoang trời xanh chưa có mặt đất chưa hình thành. Đồng thời lại phải mượn lời
kinh của Pháp Bảo Đàn Kinh của Ngài Huệ Năng mà diễn đạt cảnh giới Nhất Thiết
Chư Phật Sở Hộ NIệm để quý hữu hình dung Như Lai Tạng Vô Biên và Thức Tạng qua
lời Sư Tử Hống của Ngài Mạt Lị Thất Ca tức vòng trang sức hoa làm bằng trân
châu vô tỳ vô nhiễm kỳ cùng trân quý là tịnh thổ thọ lãnh Hồng Phước Vô Biên mà
khai sanh Hồng Phước Quả hóa sinh Bậc Thượng Thượng Căn nương Chánh Pháp Y mà
tuyên ngôn Nhất Thừa là Đại Phương Tiện tức Cổ Xe Lớn-Đại Thừa mang cả Tam
Thiên Đại Thiên Thế Giới đến bến bờ giác ngộ và còn đi đi mãi cho đến lúc trần
gian dứt bặt nhân gian khổ đau não hoạt mới dừng. Ôi, chỉ mới là lời thiệu mở
đầu mà đã hiển cảnh giới huyền diệu bất khả tư nghì không thể nghĩ bàn mười
phương vô ngại mà viên dung mới hổ thẹn thay cho lời mời quý hữu thỉnh lãm xem
chơi của kẻ còn chăn trâu lấm lem bùn đất mà đòi chơi trò đế vương hiển hách du
hí đại thần thông khi đang phát tràng trường tiếu cát tường của chư vị Đại Sĩ
lấy Diệu Cao Sơn-Sumeru làm nơi tịnh tọa sau mỗi buổi sáng tinh mơ dạo quanh
bốn phương thế giới rải diệu cam lồ ban phát hồng phước tùy duyên. Hổ thẹn
thay, hổ thẹn thay lời mời thỉnh lãm chẳng khác gì hí tiếu lộng ngôn. Nhưng,
thưa quý hữu, bởi vì còn đó một đóa Nhất Chi Mai muôn niên khai nụ Thường Vị
Nhu Nhiên bởi vô công dụng hạnh nên tuy dạ vẫn bồi hồi mà lòng nhất mực y lời
mời thỉnh lãm xem chơi vì mối chân tình hừng hực hùng khí thanh phong ngưỡng
mong người thấy bến bờ giải thoát mà dừng chân lưu lạc. Nên, hôm nay Trừng Hải
này, lấy hết sức lực dộng một tiếng đại hồng chung gởi trọn lời cầu Hồng Phước
Vô Biên đến với muôn nơi tư lương bất túc lại tiếp tục giữ vững hào khí chí
nguyện năm xưa mà an phận đi tiếp trên con lộ tử sanh cho đến lúc “Hồi Đầu
Thị Ngạn”. Mong lắm thay, mong lắm thay.

Kính thưa quý hữu, trước khi đi vào phần chủ đề chính Như Lai Tạng Vô Biên và
Thức Tạng theo Như Lai Tạng Duyên Khởi qua bổn kinh Thắng Man Phu Nhân thì
Trừng Hải này xin có đôi điều lưu ý chư quý hữu về phần văn kinh Đại thừa và
hai chữ Tiểu-Đại.
Kinh văn Đại thừa, thuộc Viên giáo hay Chung giáo xu hướng viên đốn, qua các
nghiên cứu khảo cổ học ngôn ngữ thì đa phần sử dụng tiếng Sanskrit được chư cổ
đức gọi là Phạn ngữ, khởi đầu trước và sau tây lịch, trưỡng dưỡng cho đến thế
kỷ 4-5 thì đã ở đỉnh cao ngôn từ vừa mang tánh trừu tượng triết học thượng thừa
mà kinh văn như hoa trời châu ngọc vô tỳ hàng hàng trên gấm vóc thấm đậm từ bi
mà phổ biến trí huệ nên mới hiển lộ được tánh VÔ TỶ tức Diệu Pháp Vi Tế Thâm
Mật mà Phật Đà tuyên dạy. Chính vì vậy mới quang minh xuyên suốt mọi chướng
ngại uế trược cấu trần mà hiển bày Bình Đẳng Vô Phân Biệt. 
Vì sao gọi là Bình Đẳng, kính thưa quý hữu, chữ Bình Đẳng của Phật Giáo tuyệt
tích tâm tánh trần gian thể hiện lối nói ma mị giàu nghèo như nhau. Ở thế gian
này làm sao có chuyện giàu nghèo như nhau được vì phải tuân theo Luật
Nghiệp-Karma có người trước kẻ sau, vua trên tớ dưới, nên cách dụng chữ Bình
Đẳng của thế gian mang tánh mị dân vì người giàu có, quyền lực, danh tiếng lớn
làm sao mà chịu hạ mình để đồng đẳng người thấp kém được, đó là sự chưa từng có
ở thế gian tức HUYỄN. Nên chữ Bình Đẳng của Phật Giáo chúng ta không đồng với
thế nhân tà kiến chấp mà siêu vượt Duyên Khởi tức Thập Nhị Nhân Duyên bởi Chư
Phật Đà, Chư Bồ Tát và Chư Thánh Tổ thể hiện tánh bình đẳng bằng cách chuyển
hóa (dị thục biến dị hay siêu thế gian) người thấp kém hóa thành cao thượng như
chính bản thân chư vị chớ không hề hạ mình xuống bằng người để có chữ bình đẳng
tà ngữ nghĩa thế gian nên mới gọi là Từ Bi Hỉ Xã.
Còn chữ Vô Phân Biệt thì sao? Kính thưa quý hữu, Vô Phân Biệt chính là trí Tự
Tri tức Tự Giác Thánh Trí hay Chánh Tri Kiến là cái nhìn trực ngộ vô ngôn không
còn thuộc thế gian vô minh, vọng tưởng nên tự tánh vô nhiễm như nhiên là Lưu Ly
bất khả tư nghì “độ” người Ngộ Nhập chánh lý Phật Đà và chỉ chính
người đó liễu ngộ mà thôi.
Còn hai chữ Tiểu-Đại thừa là nhằm chỉ chỗ phát nguyện của người Giác Ngộ hay có
Chánh Kiến chứ không phải chỉ nơi chỗ bộ phái, tông thừa, là nơi dễ nảy sanh tư
ngã thắng vinh bại nhục và vạn pháp vô thường.
* Nên ngưỡng mong quý hữu trầm tư lưu ý để khỏi rơi vào con đường vạn lý vân
thâm mà sa vào chuyện thị phi điên đảo nhân gian nực cười. Kính báo kính báo. 

   
Gửi bởi Ngọc Quế Xem bài viết
Chào hoatihon !

Còn người mãi không hề thấy CHÁN thì gọi là gì ?

Kính bác Ngọc Quế !

Con xin “trả bài” :

_ Một người thấy CHÁN một chuyện gì, vật gì là do tâm Ý thức nó _ như con khỉ _
không chịu đứng yên; nó đang chuyền níu, nghĩ tưởng, mong ngóng một cái gì khác
hơn, cho nên nó CHÁN cái ĐANG LÀ. Người này sống trôi lăn theo vạn pháp, tâm ý
thức bập bềnh trôi nổi theo mọi biến thiên của hiện tượng.
Do vì không nhận ra cái BẤT SANH BẤT DIỆT của vạn pháp, nên gọi là Mê, chữ Mê ở
đây là Mê Mờ.

_ Một người không thấy CHÁN _ thực ra là CHƯA CHÁN _ một chuyện gì, thì cũng là
Mê, nhưng là Mê Đắm, Mê Say (thông thường ta dùng chữ GHIỀN).

Kẻ phàm phu thì GHIỀN games, Sì Ke (ma túy), Số Đề, phim sex,……Người
“quân tử” thì GHIỀN nói những lời “trên trời dưới đất”,
GHIỀN “hí lộng ngôn từ”, GHIỀN “thêm mắm dặm muối”,
……..

GHIỀN là một biệt nghiệp (nghiệp chướng riêng) của mỗi người. Rất khó bỏ !

Kính !

   
Chào đạo hữu hoatihon, hề hề

Đạo hữu phân tích chữ CHÁN bằng thủ pháp Đông
Tây kim cổ giao duyên tức…cải lương chánh hiệu con nai
, hề hề, nửa Phật
giáo nửa tâm lý học hiện đại pha thêm chút mắn muối…lương tri nhân loại rồi
kết luận bằng chữ BIỆT NGHIỆP thập phần thâm mật thì đúng là…lẫu thập cẩm,
hêy dà, tức tả phí lù.
Đúng là làm cho Trừng mỗ này bể cái đầu phi phi não tức…bể não, hề hề.

Hề hề, để xem “bác” của đại tỉ hoatihon, hề hề, nói gì sau
khi đại tỉ “trả bài” đã??? rồi Trừng Hải này xin “tán” mấy
câu cho vui cửa vui nhà líu loca
hát. Hề hề, xin chờ xin chờ.

Kính, hề hề

   
Hoatihon
Kính bác Tuấn
 và bác trừng hải !

Con thấy hình như hai bác đều không hiểu ẫn ý của chị Hắc phong khi viết 2 câu
trên :

_ Ngày xưa Bố Đại Hòa
thượng (Hóa thân của vị Đại Bồ tát Di Lặc _ ngài “hí tiếu” giữa cuộc
đời mộng ảo này) đang đi giữa chợ Hòa
thượng Tiên Bảo Phúc hỏi: – Chỗ cốt yếu của Phật pháp là thế nào? Ngài bỏ túi
vải xuống, khoanh tay đứng. Bảo Phúc nói: – Chỉ có vậy, hay có cái gì khác hơn
nữa? Ngài liền quảy lên vai mà đi. 

Trong câu chuyện này (theo hoatihon) có hàm mật ý như sau :

1. Bỏ túi vải xuống là BUÔNG XẢ.

2. Quảy túi lên là KHÔNG BỎ NGUYỆN ĐỘ SINH.

———-

1′. Bỏ túi vải xuống là thấy “các pháp vốn không tướng” cho nên KHÔNG
CHẤP.

2′. Quảy túi lên là PHƯƠNG TIỆN ĐỘ SINH nên tạm chấp các tướng.

________

Trong bài viết của chị Hắc phong :

1″. NÂNG LÊN ĐƯỢC vì muốn hòa đồng với người mà cũng nâng ly (hay cầm bộ
bài) nhưng vì không ghiền cho nên muốn bỏ là bỏ.

2″ Còn kẻ Mê thì NÂNG LÊN ĐƯỢC mà BỎ XUỐNG KHÔNG ĐƯỢC, đây gọi là GHIỀN
(hay cũng gọi là Nghiệp chướng).

Kẻ phàm phu thì GHIỀN nghiệp Ác (như rượu chè, cờ bạc).
Thần Tiên GHIỀN THIỆN NGHIỆP thì cũng là DÍNH MẮC.

Ngoài ra còn có một bậc GHIỀN lưng chừng giữa Thiện và Ác, đó là GHIỀN
“nói Thánh nói tướng”, nói “linh tinh lang tang”,
“tung hỏa mù”. Đây là cách nói “gạt mình gạt người”, Nhân
Quả như thế nào thì hoatihon không dám nói.

Kính !


Chào
đạo hữu hoatihon cùng quý hữu,

Đáng nhẽ ra Trừng mỗ này không có rãnh để phân tích “đống tạp phỉ lù”
luận giải tầm phào với văn chương…trung học cơ sở của hoatihon làm gì cho mất
thì giờ ngày CN; nhưng không nói thì e rằng sẽ di hại cho người khác vả lại
Trừng mỗ này lại phải đọc những bài như vậy dài dài thì cũng…nổ não Trừng Hải
này mất tức hại mình. Nên những lời này cũng chỉ muốn xóa đi chữ HẠI mà thôi,
vì những lời như của hoatihon thì theo Trừng mỗ này nên đem đi đổ sạch cho tâm
trí nó “rỗng rang” mà tiếp thu Lời Dạy của Phật Đà y Chánh Pháp chớ
hết có…sữa chữa gì được nữa rồi.

_ Lấy lời nói về hành vi Nâng lên-Hạ xuống với ngụ ý như mẫu chuyện thiền giữa
Bảo Phúc Tăng với Bố Đại Hòa Thượng là Hóa Thân của Bồ Tát Di Lạc tức cho rằng
phẩm hạnh của mình y như phẩm hạnh của Bồ Tát Di Lạc thì quả là Cuồng ngạo Lộng
ngôn…hết thuốc chữa (e rằng Tô Đông Pha bên tàu cũng phải bái làm thầy, à
không, đại tổ sư mới đúng, hề hề) Mà đúng là “Chân mình thì lấm lem bùn.
Cứ cầm cây đuốc rê rê chân người.” Quả là làm cho Trừng Hải này…Nổ Não
nên không thể…bàn tiếp.

_ Diễn dịch nội ý (lại còn dụng chữ Mật Ý vì mậu ngộ Hiển Liễu Mật nghĩa đối
với lời Đức Phật dạy, đúng là phô bày cái dốt) trong mẫu chuyện “Xin một
đồng” bằng lời hoa ngôn là “bỏ túi vải xuống là các pháp không tướng
nên không chấp” tức BUÔNG XÃ với “quảy túi vải lên là KHÔNG BỎ NGUYỆN
ĐỘ SINH” tức PHƯƠNG TIỆN ĐỘ SINH thì quả là…học trò mà ưa chơi
trò…Giáo Sư đại học vì bỏ qua câu hỏi là NHÂN DUYÊN chính của câu chuyện
“Ý nghĩa chính của Phật Pháp là gì?” do không biết mô tê gì chữ PHÁP
trong PHẬT PHÁP tức PHÁP BẢO là CHÁNH PHÁP nên mới tuôn những từ sáo rỗng tầm
phào như các pháp không tướng, với không chấp tạm chấp thuộc kế xảo thế gian
thay lời Chánh Ngữ. Đáng giận thay những kẻ kiến giải các mẫu chuyện thiền với
dụng tâm bất thiện vì di hại cho đời sau cái học Bá Đạo ngu si mà trưng ra cái
Tôi vô học bất thuật. Thật là đáng giận mà đáng thương thay.

_ Xem chuyện tạp nhiễm cấu trần ô uế “Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc,
Pháp” có pháp viễn ly là GIỚI HẠNH mà chư cổ đức muôn đời ưu hoài lo lắng
cho đời sau như một trò…đùa. Muốn thì làm không Muốn thì thôi, thì quả là ngu
si do không hiểu chi về đời (mà lại dám bô bô đôi co với người lớn tuổi là bậc
“đoạn trường ai có qua cầu mới hay” thì Trừng mỗ này cũng phải…đâm
đầu xuống đất vì lời không lễ phép). Chắc cứ tưởng tượng trong cái não bé nhỏ
hạt mít là “Cứ chích Heroin đi khi nào thấy…hết thích thì quăng xi-ranh
tức bơm tiêm là xong thôi có gì đâu”!!! Có gì đâu…cái búa (xin lỗi chư vị
vì lời không thanh nhã, những bởi nó đúng y như thật nên buộc lòng phải nói.
Lượng thứ lượng thứ, hề hề) ở đó mà nói DÓC…có chuyện thì Nâng, khi vãn
chuyện thì HẠ; làm như đang chơi trò…bịt mắt bắt dê “khi xưa ta bé ta
chơi Bang Bang”, hề hề; Khi tay đã nhúm chàm mà đòi đi rửa xà bông là sạch
sẽ thì quả là…con nít…bịt mắt, bịt tai mà không chịu bịt luôn…cái miệng
cho Trừng mỗ này khỏi Nổ Não, hề hề.

_ Rồi cuối cùng còn đem NHÂN QUẢ ra để mà đe nẹt người thì quả là…hết biết
chuyện Từ Bi Trí Huệ của Phật giáo. Trong suốt quá trình hoằng dương Chánh
Pháp, Quý Tăng Ni chưa bao dùng sử dụng quả báo để đe nẹt ai cả mà chỉ dụng như
là PHÁP THUẬN THỨ để hướng người về điều lành, điều thiện. Chớ có ai suốt ngày
nói nhân nhân quả quả mà không biết Phật Đà đã dạy Luật Nghiệp-Karma Vipaka là
một trong bốn pháp xứ BẤT KHẢ TƯ NGHÌ. Thật là cái học…tạp pí lũ VÔ DỤNG, VÔ
NGHĨA không đem lại điều gì lợi ích mà chỉ di hại cho ta cho người. Thật đáng
thương thay.

Đồng Kính, hề hề

TB: Cũng chân tình mong rằng những chuyện trên chỉ là cái tạp nhiễm bên ngoài
chưa thâm nhiễm vào Tạng Thức bên trong nên xin cảnh tỉnh vì lo sợ những điều
do mình không thấy biết mà làm tức, không
tuệ tri, không thắng tri,
 chứ
không phải do có dụng tâm mà làm. Mong lắm thay, mong lắm thay. Hề hề, bằng
không thì cũng như Trừng Hải này đã khổ tâm vô ích thì cũng chỉ biết thở dài vì
lòng xót thương người “u mê bất tỉnh” bởi NHÂN DIỆN TÂM DÃ – TỊCH
NGÔN NHẤT NHẤT; THẾ SỰ ĐA ĐOAN – PHÁT TRÀNG TRƯỜNG TIẾU mà CÁO TỪ.




viewpost-right-1

Sanh tử khứ lai là nơi tuyệt lộ (TRỪNG HẢI ) 3 tiếp theo

Gửi bởi minhđịnh Xem bài viết
Hai bác Trừng Hải và Chimanhvu,

Tôi từ khi qui y Đạo Phật đến nay đã được 4 năm.Không có Thầy chỉ dẫn,toàn tự mò mẫm,hết mua sách rồi lại tra khảo anh Gu_gồ.Tôi trước nay cũng nghe nói về Tổ Sư Thiền nhưng rất mơ hồ,chưa hiểu rõ về pháp môn này lắm.Vốn cũng tò mò định tìm hiểu,chẳng ngờ gặp được 2 bác trên diễn đàn này.Qua 2 bác thì nếu giống như người ta hay nói “xem văn là biết người” thì từ nay tôi xin…tránh xa môn Tổ Sư Thiền này…hihiihihi.

Tôi tự hỏi,nếu Đức Phật hay Tổ Đạt Ma mà biết 2 bác tu pháp môn này mà ra như vậy thì e rằng Đức Phật và Tổ Đạt Ma chắc buồn lắm lắm…Ngày xưa Đức Phật giơ cành hoa lên cho các vị đã phá được chấp ngã…ngày nay các Thầy muốn học theo Đức Phật giơ cành hoa ra cho những nguòi còn mang cả 1 ngọn núi Tu Di mê chấp ở trên lưng…cho nên thêm 1 cành hoa nữa khiến lưng của các vị oằn cong nặng trĩu… khiến cho 1 vị thì viết văn như là ma trận,cố ép mình vào cái kiểu “Thiền Ngộ”,1 vị thì chưa biết chứng đắc đến đâu nhưng cũng rơi ngay vào cái ngã mạn,tự cho rằng mình đi con đường riêng mà thế gian hiếm gặp,không ai hiểu nổi mình…hihihi.Không biết ngày xưa khi ngài Ca diếp nhận được cành hoa từ tay Phật thì có giống 2 bác không???

Và cũng xin nhắc lại đây là thời mạt pháp…chúng ta đã ở cách xa Đức Phật thật là xa…xa thật là xa…hihii

Thân thị bồ-đề thọ,
Tâm như minh cảnh đài.
Thời thời cần phất thức,
Vật sử nhạ trần ai.

Bồ-đề bổn vô thọ,
Minh cảnh diệc phi đài.
Bản lai vô nhất vật,
Hà xứ nhạ trần ai?

Ôi,Phật pháp vô biên.

Chào đạo hữu Minhdinh, mong đạo hữu sức khỏe an khang nên nhờ sức khỏe an khang mà luôn luôn sáng sủa rỏ ràng mà ra quyết định trong mọi công việc lớn nhỏ, xa gần, hề hề. KÍnh thưa đạo hữu, đứng trên tinh thần đạo hữu đồng tu bình đằng nên vô phân biệt…(Trừng Hải tôi thương tích đầy mình trước…đeo huân huy chương nên phải nương nhờ tinh thần bình đằng, hề hề) xin có đôi lời góp ý trên tinh thần cùng nhau cầu pháp thượng thừa nhằm ngày càng tu học tin tấn.
_ Trước tiên xin nhắc lại chuyện xưa tích cũ mà biện biệt rỏ ràng những lời phân tỏ. KÍnh thưa đạo hữu mấy hôm trước mỗ tôi có tâm sự về việc đọc qua kinh văn, luận giải, sách báo ít khi thấy đề cập đến cửa vào mà chỉ thấy đề cập nơi khởi đầu và thành tựu tức khiếm khuyết cửa vào. Phàm vạn vật trong tam thiên thế giới đều có sanh trụ diệt tức luôn luôn phải có ba bước bắt đầu, lối vào và đến nơi mà thiếu cái quan trọng nhất là lối vào thì cũng giống như đạo hữu mời Trừng mỗ tôi đi…ăn cơm chay mà không nói khi nào tức thời điểm đi thì biết là…ba xạo (kính đạo hữu, chỉ là nói thí dụ thôi chứ không có ý nó đạo hữu ba xạo, hề hề). Đạo hữu đọc xong vào diễn đàn hùng hồn đưa ra câu Pháp Cú danh chấn tam thiên nói về CHánh Pháp qua bản việt dịch với dòng tuyên ngôn: Đây là cửa vào tức “Giữ tâm, ý thanh tịnh” xong khứ vô ảnh tức đi không để lại dấu vết gì dù Trừng Hải tôi đã tốn mất đồng bạc cuối cùng vào vỗ tay tán thưởng đạo hữu và đưa ra cũng câu Pháp cú vang danh nhưng thuộc Tạng Kinh đời…Tống: “Chư ác mạc tác. Chúng thiện phụng hành. Tự tịnh kỳ tâm. Thị chư Phật giáo” để thỉnh giáo đạo hữu chỉ cho chỗ hành hoạt vi diệu của Chánh Pháp Vô Thượng mà Phật Đà đã dạy mà không thấy bóng hình (đúng ra là chữ trên màn hình điện toán) của đạo hữu đâu cả. Thưa đạo hữu, chỉ cần nhìn qua câu “Giữ tâm, ý thanh tịnh” là mỗ tôi nhớ đến câu kệ danh tiếng của ngài…Thần Tú: “Thời thời cần phất thức. Vật sử nhạ trần ai” không có gì sai khác, mà khi đọc xong câu kệ này Ngũ Tổ đã phán là…đứng ngoài cửa hay chưa thấy lối vào (cho nó hợp vơí ý văn, hề hề).
– Hôm nay thì đạo hữu minhdinh lại lai…hữu hình tức đến với thân hình lồ lộ qua việc cho mỗ tôi viết bài như “ma trận” cố ghép vào “thiền ngộ” cùng với lời tâm sự đã tu học bốn niên tức có tuổi đạo bốn năm tính từ ngày Quy Y và Thọ Giới. Kính thưa đạo hữu bốn niên thì quả là…quá ít so với kẻ hạ thừa như…mỗ tôi, nhưng lại quá nhiều so với bậc thượng căn vang danh đỉnh đỉnh Lục Tổ Huệ Năng chỉ cần nghe qua một câu kinh theo như tương truyền “Ưng vô sở trụ, nhi sanh kỳ tâm” đã sáng mắt tức minh định tức thanh mục tức “ngộ” tức…nhiều quá kể không có…hết, hề hề. Đứng trên tinh thần đạo hữu đồng tu bình đẳng nên vô phân biệt xin có đôi lời góp ý với đạo hữu minhdinh. Phàm người tu học khi tranh luận với nhau mà nói cho mạnh mẽ tức…đấu luận thì chỉ đưa ra sở kiến trên nền tảng chánh tri kiến chứ không có chỉ trích tánh tình người đang Luận với mình. Đạo hữu nên nhớ (cũng đứng trên tinh thần bình đẳng, hề hề) phàm những cảnh giới như lậu hoặc, tập khí, ngã tướng ngã chấp…thì đều là sở hành của chư vị Đại Trí Huệ, Đại Từ Bi, Đại Thế Chí tức chư vị Bồ Tát bổ xứ mà không có phần của Thanh Văn, Duyên Giác thì người đề cập dến các cảnh giới này phải mượn được…Thiên Nhãn Minh hay Ngũ Nhãn của chư vị kể trên mới thấy mà luận (nếu không muốn nói là lộng ngôn hí luận). Và đứng trên phương diện nhân gian thì những ngữ từ này nó làm lòng người sơ cơ mới vào tu học tê tái, bi ai tựa như từ “phản động” đối với những người muốn đóng góp ý kiến xây dựng quê hương đó đạo hữu minhdinh, nên nhớ nên nhớ, mà cẩn trọng lời phê. Mong lắm thay, mong lắm thay.

 

TRỪNG HẢI

Hám Sơn vi tiếu: sanh tử vô khứ lai

KíNH LẠY THẾ TÔN, ĐẤNG THOÁT VÒNG PHIỀN NÃO, BẬC CHÁNH ĐẰNG CHÁNH GIÁC.
Cầu cho chúng sinh an lạc, đồng giải thoát mà đáo NIẾT BÀN.

_________________________________________
_________________________________________
Kính thưa quý vị, từ ngày Đấng Từ Phụ nhập NIẾT BÀN cho đến nay đã trải qua gần 3000 năm chẳn, dòng đời thì cứ trôi mãi về nguồn mà hương giải thoát chẳng hề phai nhạt, vẫn mãi mãi lưu hương cả tam thiên đại thiên thế giới, vẫn trọn vẹn như nhiên như núi sở dĩ bạc đầu cũng chỉ do tuyết, vân thâm bất tri xứ cũng chỉ tại người ấu trĩ bất tri, bởi người người tuy nói lời yêu thương mà gươm đao tua tủa trong từng âm vận thương yêu chan chứa để rồi khi lực tàn sức tận đều dắt nhau tiêu diêu về nơi…mà mỗ cũng bất tri để thuật lại cho quý vị. Tuy nhiên, kính thưa quý vị, nhân gian thế gian thường hay dựa vào thuyết này lý nọ mà phán giáo kia tông này, thời này thời nọ mà, theo Trừng Hải tôi cũng chỉ là lời xàm ngôn mậu thuyết xin quý vị hãy cứ ngày ngày ngưỡng mong HỒNG ÂN của MƯỜI PHƯƠNG CHƯ PHẬT, cứ vững bền hùng khí thanh phong lời lời cơ mật, mỗi mỗi vi hành, tỉnh giác chú tâm thì ắt cũng có ngày phát tràng tường tiếu bởi do thấy lối vào mà an nhiên tự tại du hí suốt cả Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới chớ chẳng phải đi về thế giới uế trược qua tên gọi là…du lịch ba lô ê cồ nô mít. Và cũng bởi muốn dộng một tiếng đại hồng chung gọi là phổ thỉnh tuy thanh âm hữu tình mà những mong âm vận không vô tình vì khắp nơi nơi đều huyền diệu tác vi mà ai ai cũng hưởng hương giải thoát mà tự tại an nhiên, nên, hôm nay xin mấy lời tường thuật một gương xưa vang tiếng đến ngày nay mà tiếng chưa…dứt đó chính là đại sư Hám Sơn qua bài Hám Sơn Vi Tiếu: Sanh Tử Vô Khứ Lai, xin báo, xin báo.
[SIZE=”4″]
Kính thưa quý hữu, chuyện mỗ tôi thuật lại nằm trong Hám Sơn tự truyện thuộc thủ bản đời Minh ở bên tàu, thời ấy không phải là “bốn phương phẳng lặng, hai kinh vững vàng” như Nguyễn Du phịa ra trong Khúc ca mới làm người nghe… đứt ruột, hề hề, tức đoạn trường tân thanh mà là thời nhiễu nhương hỗn quân, hỗn quan nên dân cũng hỗn theo cuối đời Minh mạt. Do bởi theo lẽ huyền vi, thời nào nhiêu nhưỡng thì sẽ có bậc thánh giả xuất hiện mà giảm bớt khổ đau cho nhân gian thế giới bởi chư vị đều là bậc lãnh thọ Từ Bi Trí Huệ của Mười Phương Chư Phật nên việc làm vốn là…bất khả…suy diễn. Tuy nhiên hôm nay mỗ vốn không phải bàn luận Ngài Hám Sơn mà chỉ kể lại một phần nhỏ trong đó nó liên quan đến chủ đề “Sanh tử khứ lai là nơi tuyệt lộ” nằm trong phần Chat linh tinh nên xin quý hữu thứ lỗi vì mỗ tôi đôi lúc ưa hay nói linh tinh sự đời bởi tính ưa nói…dóc mà gia cảnh nghèo nàn nói ra câu nào khi tiền vừa hết là cứ bị…xóa sạch sành sanh một chữ không còn, hề hề, nên mới quyền nghi đưa vào bài viết chính, hề hề. Lượng thứ, lượng thứ.

KÍnh thưa quý hữu, chuyện xưa kể rằng vào thời Ngài Hám Sơn đã xuất sơn du luận với các thiện tri thức thì Ngài có làm thiện sự trùng bản (cũng như làm nhuận sắc, chủ biên và đồng là nhà xuất bản hiện nay vậy?) Triệu Luận do một thí chủ hảo tâm phát hành, Ngài vốn luôn băn khoăn khắc khỏi về Toàn Lam, Yển Nhạc (?) trong chương Vật Bất Thiên của Ngài Tăng Triệu bởi vẫn chưa tỏ lộ lẽ huyền vi của Từ Bi Trí Huệ của Chư Phật Mười Phương rồi một hôm như, mùa xuân đến muôn hoa đồng nở rộ vạn cảnh nơi nơi đều thanh bình khi Ngài đọc đoạn ông Phạm Chí ( Bà La Môn) khi về già trở về nơi ngụ ngày xưa (theo thiển ý của mỗ tôi đây là Ngài Xá Lợi Phất sau khi xin Phật Đà quay trở về quê xưa để độ người mẹ sanh thành của mình trước khi tịch diệt, các vị muốn biết rỏ thì xin đọc qua quyển cuộc đời Ngài Xá Lợi Phất đã được Nguyễn Điều, VIệt dịch từ tác phẩm “Sariputta” của một Tỷ Kheo Tích Lan người Đức Nyanatiloka thập phần danh tiếng hoàn cầu mà theo như mỗ tôi còn nhớ lại là một thân hữu đồng đạo với Thiền Sư Nhất Hạnh cũng toàn cầu danh tiếng và có kể lại về lần gặp gỡ bên vườn Lục Xâm Bua-Luxembourg nói về chủ đề Chánh Niệm là trái tim Phật Giáo, chớ không có thảm não ưu sầu như Cung Trầm Tưởng rượu lưng lưng ly đỏ tràn trề vì…ngồi đồng nên một ly rượu cứ uống hoài…không hết bởi…mậu tài khi ngồi chờ em qua quán nhỏ, hề hề). Rồi sau đó Ngài có viết một thi kệ để lại cho hậu sanh biết được chỗ mắt sáng mà noi gương tu học; do vậy Trừng hải tôi xin ghi lại văn Hán-Việt bởi không biết tìm font chữ Hán ở phương nào vì là người mới tiếp cận điện toán nên mù mờ nhiều thứ, tuy nhiên như mỗ tôi thấy nó đâu có thua gì nguyên bản Hán văn mà còn có vẻ tân kỳ nhu nhuyễn hơn dưới dạng latinh hóa.

Sanh tử trú dạ
Thủy lưu hoa tạ
Kim nhật phương tri
Tỉ khổng hướng hạ.

KÍnh thưa quý hữu, Trừng hải tôi sẽ vạn phần cố gắng chuyển tải ý người xưa bằng văn nôm cho dễ “phổ biến” để quý hữu thưởng lãm. Nó vốn thập phần trừu tượng bởi nói đến Chánh Lý Thượng Thừa mà Chư Phật, Chư Tổ đã phương tiện chỉ cho chúng sanh nẻo về giải thoát tức thoát khổ, nên mỗ tôi hằng luôn lo sợ ý tại ngôn ngoại, mà vạn phần cẩn mật chuyển tải cho y chỉ lời dạy người xưa, lỡ có điều gì sai…bậy thì xin quý hữu cứ thẳng thắng chỉ giáo dẹp tan mậu ngộ của mỗ tôi, xin đa tạ trước vì lời chỉ giáo vốn là phước đức mà Trừng Hải thọ lãnh. Kính báo, kính báo
KÍnh thưa quý hữu, trước khi đi vào bài thi kệ Trừng Hải tôi xin nói đôi lời về công phu giới hạnh của chư Thánh Tăng Già, Thánh Giả, bởi việc này không thể lược qua mà là đạo tràng, tịnh thổ khởi sanh Trí Huệ Từ Bi của chư vị. Kính thưa quý hữu, giới hạnh của chư vị Thánh Tăng, Thánh Giả vốn là mật hạnh tức không hiển lộ hình tướng ra bên ngoài nên bề ngoài chư vị Thánh Tăng, Thánh Giả cũng y như phàm phu tục tử mà không có gì sai khác. Tuy, biểu tướng sinh hoạt bên ngoài không có gì sai khác nhưng, lại thập phần sai khác bởi chư vị là nơi phát tích ra hương thơm giới hạnh còn phàm phu tục tử thì lại toàn là…uế khí. Mà hương thơm giới hạnh này theo như Pháp Cú Kinh mô tả lại bay ngược chiều gió, bởi bay ngược chiều gió nên biết đường nào mà…tìm ra. Nương theo luật vận hành về vật lý (Utu-Niyama) trên trái đất chúng ta thì hương thơm phải bay cùng chiều gió mà bay cùng chiều gió nên mới tìm được nơi phát tích của hương thơm, nhưng hương giới hạnh lại bay ngược chiều gió mà tỏa hương bao trùm cả cõi dục giới nhưng kẻ phàm mắt thịt thì lại bất tri. Cũng vì nguyên nhân chư vị nghiêm trì giới luật mà lại là mật hạnh, không kẻ phàm mắt thịt nào thấy được nên năm xưa lúc Tổ Bồ Đề Đạt Ma đến gặp Lương Vũ Đế (vị vua đại thí chủ, đai tri thức của Phât Pháp này cũng có rất nhiều giai thoại lâm ly biến ảo, xin hẹn dịp khác mỗ tôi sẽ lược thuật mời quý hữu thỉnh lãm, hề hề), vị vua này có hỏi Ngài là ai thì, Ngài Bồ Đề Đạt Ma nói là “không biết” rồi rủ áo ra đi. Thưa quý hữu, một Thánh Tăng đã phát Bồ Đề Tâm thì không bao giờ nói về bản thân bởi việc làm đó sẽ phạm vào ngã mạn, nên Ngài đành bỏ mất cơ duyên trong việc hoành truyền Phật Pháp mà về động Thiếu Thất diện bích mất chín năm chờ nhân duyên xưa tới ngày khai quả tức Ngài Huệ Khả (hề hề, Nhị Tổ năm xưa thân xuất là võ tướng, tính vốn nóng như lửa nên khi Tổ Bồ Đề Đạt Ma vấn pháp làm phật ý mình khi đang đàn thuyết pháp, liền phi ngay chuỗi thiết bồ đề trúng ngay…miệng Tổ Đạt Ma, bởi vì lòng từ nên Tổ Đạt Ma phải nuốt toàn bộ…răng gãy vào bụng rồi bỏ đi; theo lời thuật của Hòa Thượng Tuyên Hóa trong Pháp Bảo Đàn Kinh) Cũng vì do phải giữ mật hạnh nên Ngài Hám Sơn cũng viết bài thi kệ này với ý làm khiếm khuyết để khỏi phạm vào việc phô bày tư ngã qua hai từ “Lưu” và “Tỉ khổng”.
KÍnh thưa quý hữu, theo như bốn giai vị Khai, Thị, Ngộ, Nhập trong Pháp Bảo Đàn Kinh của Lục Tổ Huệ Năng thì bước đầu tiên là có tâm đồng nhất cảnh tức KHAI, do vậy Trừng Hải tôi xin trình bày bài thi kệ (theo như thiển ý của mỗ tôi), y chỉ như lời Ngài Hám Sơn tức sự chân thật tức KHAI; rồi nhờ thấy sự chân thật nên mới am tường chánh lý tức THỊ, vậy xin tiếp lời như sau:
_ Đầu tiên xin nói về chữ “LƯU”: do bởi phải xa lìa ngã mạn, theo ý mỗ tôi, thì Ngài Hám Sơn đã dùng chữ “lưu” theo nghĩa đồng âm mà dị tự tức nguyên nghĩa nó là “giữ lại, không lưu thông” thành nghĩa “chảy, trôi chảy”. Đây là điều mà các nhà dịch giả thường vấp phải khi chuyển ngữ câu “Thủy lưu hoa tạ” thành “Nước chảy hoa rơi” mà vốn y chỉ là “Như nước tù đọng trong ao tù giữ lại những cành hoa rơi héo rủ, phai tàn” bởi nó có nghĩa là tích tập, tạp nhiễm cảnh trần bụi đời.
_ Chữ “Tỉ khổng”: thường được các dịch giả chuyển ngữ thành “Lỗ mũi hướng hạ” (nghe có vẻ thiền cơ, hề hề). Nhưng thật ra trong văn học Trung hoa thường có câu cách ngôn “Tỉ khổng bất thông” nhằm để chỉ những đều mà bản thân bất tri, mậu ngộ.
Vậy toàn bộ bài thi kệ này có thể chuyển ngữ theo ý của Trừng Hải tôi như sau:

– Sanh tử, luân hồi bởi ở trong khối vô minh tối đen vĩ đại,
Như vũng nước tù đọng chứa những cánh hoa rơi tàn tạ
Hôm nay nhờ có Trí Huệ như mặt trời soi sáng bốn phương vạn vật
Nên mọi điều bất tri, mậu ngộ thuở trước đã buông bỏ trọn vẹn

(Hình như dung lượng ở trang này đã gần hết, nên xin hẹn quý hữu vào ngày mai vì mỗ tôi đã tiêu hết ba đồng trong ngày, hề hề, lượng thứ, lượng thứ)

Kính

TRUNG HẢI

Hám Sơn vi tiếu: sanh tử vô khứ lai (Cont.)

Kính thưa quý hữu, cảnh trạng của tri kiến vạn vật như nó là, tức sự chân thật tức tâm đồng nhất cảnh tức Sự Tướng, mà Trừng Hải tôi đã đề cập đến hôm trước được xem là cảnh giới đầu tiên tức Khai, và nhờ tâm đồng nhất cảnh mà ngộ (nhỏ) Phật tri kiến tức Lý Tánh rồi từng bước xóa sạch dần các bất tri mậu ngộ mà tiến đến cảnh giới Ngộ (lớn) mà lên đường Chánh Đẳng GIác tức Nhập. KÍnh thưa quý hữu, hai cảnh giới sau thì là cảnh giới Bất Khả Tư Nghì bởi chỉ có người NGỘ am tường biện biệt bởi đó là cảnh giới hành vô sở hành của chính hành giả nên Trừng Hải tôi chỉ biết đến vậy gọi là cho có mà lược thuật cho quý thỉnh lãm xem chơi chớ không thể tường tận chi tiết, mà có ai tường thuật chi tiết hai cảnh giới này thì quý hữu nên nhớ đó chỉ là…ba xạo(nếu nó xuất hiện trên…màn hình điện toán toàn cầu, hề hề). Kính thưa quý hữu, VN ta thời xưa cũng từng có nhiều bậc Thánh Tăng từng hiện tồn mà mang về HỒNG PHƯỚC VÔ BIÊN của MƯỜI PHƯƠNG CHƯ PHẬT cho dân tộc, đem lại cảnh thái bình an vui, mây trời như ngọc, gấm trải non xanh, luân lưu một dãi, nước chảy hoa trôi, bên bờ cúc nở, hương tỏa muôn phương, mẹ hiền bên hiên, xem con đọc sách, ca từ phú vịnh, lời lời như ngọc, mà cười muôn niên,… tóm lại là thái bình thạnh trị trên thì yêu nước thương dân dưới thì tôn ti trật tự, hòa kính yêu nhau nơi nơi hân hỉ mà mùa xuân nối tiếp mùa xuân. Ví như cảnh giới khai thị của thiền sư Thiền Lão: “Thúy trúc hoàng mai phi ngoại cảnh. Bạch vân minh nguyệt lộ toàn chân” là do bởi Trí Bồ Đề hiện nơi cảnh giới tâm người chứng đắc tức thiền sư Thiền Lão nên vạn vật đều đồng vô tướng thật tướng. Cũng tương tự, cảnh giới Ngộ của Đại Sư Hám Sơn “Kim nhật phương tri -Tỉ khổng hướng hạ” (hề hề, Đại Sư Hám Sơn cũng được xem như là một thi tăng lừng lẫy thời Minh được cho là không kém hai danh thi dị nhân Hàn Sơn, Thập Đắc trên thi đàn nước Trung hoa thuở xưa, hề hề, nhưng sao mỗ tôi đọc thấy còn kém thiền sư Thiền Lão vài bậc thi ca, từ phú, hề hề) chính là cảnh giới Ngộ Nhập, viễn ly vô minh tối đen mà bước vào cảnh giới thênh thang không biến giới, lên đường Bát Nhã mà hoàng truyền Chánh Pháp cho dân tộc Trung hoa, mà giảm khổ đau nhiễu nhương nhân vi mây trời mờ mịt, xám xịt tang thương, mẹ ngồi khóc con, bên hè đông lạnh, gió tận thu tàn, tang trắng ai mang…Ôi Từ Bi Trí Huệ của Chư Phật mười phương thật là vi diệu dụng mà lộ rỏ từ bi khi thái bình thì càng thái bình hơn nữa, khi tang thương thì giảm bớt phần tang thương đến nơi tuyệt dấu, con xin đảnh lễ MƯỜI PHƯƠNG CHƯ PHẬT.

Kính thưa quý hữu, hôm nay xin cho Trừng Hải tôi đôi lời gọi là trích huyết thảo thư ( bởi…bắt chước gương xưa Hám Sơn ẩn tại hoa sơn) nhằm gióng một tiếng đại hồng chung gọi là ‘khiển hư hiển thật “, tiếng vốn không vang dội bằng âm phổ thỉnh những cũng uy lực kinh hồn bạt phách mà quét sạch tà khí âm u bởi hằng mong thanh phong trở về Y Cựu. Do vậy, kính thưa quý hữu, những lời khi mỗ tôi viết ra mà có kèm “thiển ý” thì vốn đang nói đến cảnh giới tri thức tức thức tri vì tánh vốn không thích Tô tần tam thốn thiệt (?, hề hề, đây cũng là mốt tướng giông giống một trong ba mươi hai tướng tốt của Phật Đà) những khi thốt lên lời CHÁNH PHÁP tức CHÂN ĐẾ của MƯỜI PHƯƠNG CHƯ PHẬT, thì đỉnh đỉnh lập ngôn mà mong âm vang đến ngọc đế của vua trời Sakka đến tan ngọc tiêu vàng, bởi đó là lời dạy của Phật Đà cho chúng sanh ngụ tại ta bà nên tuyệt tích từ “thiển ý”. KÍnh báo, kính báo, hề hề.

Kính thưa quý vị, theo kỷ thuật đọc hiểu của nhân gian, thì khi đọc một đoạn văn thường theo phép tam đoạn luận của Aristotle theo ba bước, tức gồm, xác lập định đề, tìm kiếm dữ liệu, quy gán dữ liệu (thường chỉ là giả thuyết) cho đúng với định luật đặt ra mà thấy biết. Nói cho nó đơn giản là nghĩa đen (nó vốn là…đen thiệt?, hề hề,) và nghĩa bóng (nó vốn bóng như đương diệm thiệt?, hề hề) mà trong đó nghĩa bóng tức ý nghĩa lại tùy theo ngữ cảnh (vốn thiệt là…vọng?, hề hề) nhưng ở Phật Giáo ta vốn là tôn giáo của mọi tôn giáo, triết học của mọi triết học mà dù vốn có tính trịch thượng của nền văn minh cơ giới rồi tiến đến tự động rồi tiến đến cách mạng thông tin (đề tại này hôm nào mỗ tôi sẽ trình bày cho quý vị thỉnh lãm chơi, virtual space, mà các nhà chiến lược huê kỳ đã…chôm từ triết học “Tánh Không” từ Phật Giáo ta, mà các dịch giả Vn ta chuyển ngữ thành “không gian ảo”, mà quả thiệt nó ảo nhưng…ảo là do người dịch bị ảo chứ nó không có…ảo, hề hề, đề tài này nếu…viết báo cũng kiếm được…tiền triệu nhưng mỗ tôi sẽ viết vì tinh thần cầu đạo tu học nếu thuận lợi…hề hề) vậy mà Âu-Mỹ cũng thốt lên lời chân thành thán phục “Phật giáo quả là một tôn giáo đại bác học” vì chính họ đã tìm thấy các tính dụng trong đó, tức Phật Pháp, dù với tâm không chánh trực!!! Nên pháp đọc hiểu, phân tích của Phật Giáo thật là tuyệt đãi phi thường hay vô đối càn khôn, mà làm cho chuyển động của tam thiên đại thiên, thế giới vũ trụ đến nơi…tuyệt tích. Thật là oai lực không lời nào tả xiết!!! Con xin đảnh lễ MƯỜI PHƯƠNG CHƯ PHẬT.

Kính thưa quý hữu, mỗ tôi xin bắt đầu đề cập đến bài thi kệ nói lại tâm cảnh NGỘ của Đại Sư Hám Sơn để phân tích theo pháp phân tích của Phật giáo chúng ta.
Đầu tiên bằng pháp phân tích ta thấy:
_ Câu đầu: Sanh tử trú dạ – đây vốn là Chân Đế về Luật Thập Nhị NHân Duyên theo chiều thuận Vô minh-lão tử
_ Hai câu cuối; Kim nhật phương tri- Tỉ khổng hướng hạ – đây cũng là Chân Đế về Pháp theo chiều ngược của Thập Nhị Nhân Duyên lìa Vô minh tức Trí Bồ Đề – Vô sanh: tức lìa khổ đau, mậu ngộ.
Vậy chúng ta chỉ còn lại câu: Thủy lưu hoa tạ: Vũng nước tù đọng giữ lại những cánh hoa tàn. Đây cũng chính là nguyên nhân gây ra vô minh-sanh tử, mậu ngộ luân hồi mà tái sanh đi tái sanh lại, mà luân lưu dịch chuyển theo dòng nghiệp lực từ thế giới thấp nhất đến thế giới cao nhất trong Dục, Sắc, Vô Sắc Giới.
Tóm lại kiến giải nơi gây ra sanh tử khứ lai dựa trên hai lý luận nhỏ, gồm một Cột – già thuyên; một Mở – ngôn thuyên như sau:
– Tam đoạn luận Airistotle:
Kính thưa quý hữu, khi chúng ta đi học từ lúc bắt đầu hình thành ý thức (6-7 tuổi) đến khi ra đời kiếm sống thì chúng ta đã thấm nhuận suy luận Tam Đoạn Luận Airistotle do nền giáo dục hiện đại. Mỗi một chúng ta tự tạo ra cho mình một chuẩn mực để đối phó với đời sống tương lai bằng cách tích lũy những dữ kiện ưa thích, xa rời nhưng dữ kiện ghét bỏ cho đến lúc trưởng thành ra rồi ra đời thì ta tìm kiếm những điều mà chuẩn mực cho rằng đúng, rời bỏ những điều mà chuẩn cho rằng sai để rồi ưa thích điều ta muốn, xa rời điều ta ghét; và rồi cuộc đời cứ mãi trôi dần dần đưa đến đau khổ bởi những điều ta ưa thích lìa bỏ ta và càng đau khổ hơn nữa vì phải sống với những điều ta ghét bỏ.
Chính chuẩn mực mà ta hình thành trong cuộc sống theo Tam đoan luận Aristotle sẽ quyết định cuộc đời ta, và chính điều đó gây ra khổ đau, mậu ngộ.
Vậy để thoát khỏi khổ đau ta phải lìa bỏ nó tức nhận thức thế gian để đón nhận giáo pháp của Phật Đà đó chính là Giới-Định-Huệ.
_ Vô Tướng, Vô Trụ: Bổn thể, Tánh bản nhiên.
Kính thưa quý hữu, Lục Tổ Huệ Năng đã dạy rằng tâm chúng sanh vốn không (vô trú) mà do bởi tâm bám vào chư pháp nên tự tâm trói buộc tâm, khi tâm hết bám vào chư pháp tâm giải thoát liền. Và đạo vốn là cái lưu thông không phải cái ứ đọng lao tù khi tâm hết bám vào chư pháp thì đạo lưu thông liền.
Vậy rỏ ràng chỉ cần quay lại với tánh bổn nhiên (không) và ly rời chư pháp gây não hoạt tức vô tướng (Đại Trí Độ luận) thì đạo tức giác tự sanh tức thì.
Vậy hoặc là theo lý luận Airistotle hoặc là theo Vô Tướng, Vô Trú điều chỉ cho ta thấy nguồn gốc gây ra sanh tử luân hồi chính Tâm ô nhiễm (Vọng tưởng, tà kiến) và Sự yêu thích tức ái dục (tạp nhiễm thói cảnh trần bụi đời). Chính việc ly rời hai điều này làm xuất hiện đạo, tức tánh giác, tức trí huệ.

Còn về phép phân tích pháp theo Phật giáo chúng ta, quý hữu có thể nghiên cứu Vô Ngại giải đạo, Thập Nhị Nhân Duyên, Nhân Quả tương quan và các căn thân-indra, căn thức-paccaya trong Nguyên THỉ Phật Giáo, Tam Tánh, Tứ Phần và Ngũ Trùng Duy thức quán trong Kinh Giải Thâm Mật, sự vận hành CHơn Tướng, Nghiệp-Hiện tướng, Chuyển Tướng trong Lăng Gìa Kinh, Tứ Tất Đàn-Bát Bất Trung Quán trong Trung Luận, Đại TRí Độ Luận…thật?…Trừng Hải tôi cũng không ngờ nó nhiều vậy;(à còn ba mươi sáu phép đối của Lục Tổ, bốn duyên, sáu nhân nữa…hề hề, rồi Pháp tụ luận…) mà tốt hơn hết bản thân quý vị hãy tìm một Thiện Tri Thức mà phát nguyện Quy Y, Thọ GIới rồi chính đức bổn sư mà mình thọ giới sẽ chỉ cho quý hữu con đường tu tập và pháp môn cho chính bản thân mình tu hành. Cầu mong cho quý hữu trùng phát hùng khí thanh phong mà tin tấn trên còn đường tu hành cho đến lúc giải thoát. Trừng Hải cũng xin nguyện cầu cho nơi nơi an lạc, đồng giải thoát mà đáo Niết Bàn.

Đồng KÍnh

Kính ngài Trừng Hải. Ở câu khẳng định trên của ngài. Hay lắm, mà chỉ hay được phân nữa thôi…

Nghĩa là chỉ hay và hoàn toàn chính xác khi và chỉ khi nào áp dụng với ngài mà thôi.

Nghĩa là viết như vầy sẽ rỏ nghĩa hơn:

“Trừng Hải tôi đã đề cập đến hôm trước được xem là cảnh giới đầu tiên tức Khai, và nhờ tâm đồng nhất cảnh mà ngộ (nhỏ) Phật tri kiến tức Lý Tánh rồi từng bước xóa sạch dần các bất tri mậu ngộ mà tiến đến cảnh giới Ngộ (lớn) mà lên đường Chánh Đẳng GIác tức Nhập. KÍnh thưa quý hữu, hai cảnh giới sau thì là cảnh giới Bất Khả Tri bởi chỉ có người NGỘ am tường biền biệt bởi đó là cảnh giới hành vô sở hành của chính hành giả nên Trừng Hải tôi chỉ biết đến vậy gọi là cho có mà lược thuật cho quý thỉnh lãm xem chơi chớ không thể tường tận chi tiết, mà (có ai ) “Trừng Hải” tường thuật chi tiết hai cảnh giới này thì quý hữu nên nhớ đó chỉ là (Trừng Hải)…ba xạo….”

Bởi vì một lý do rất đơn giản. Ngài Trừng Hải không thể biết “cái no hay đói ” của người khác đến đâu được.

Bởi vì Chư Phật, chư Bồ tát, chư vị tổ sư v.v… biết rất rõ. Và trong chúng ta đây cũng có thể có ai đó biết được thì sao. Ai cấm việc đó…

Cẩn thận, chớ quay lại…

TRỪNG HẢI

Kính chào đạo hữu Thu tử, hề hề, trừng hải tôi vốn cứ nghĩ rằng Hạ vừa qua thì Thu đến không ngờ ngày thu đã tận, cứ ngỡ là…, vậy là phải xem lại lịch…ông bà thì đúng mới đầu thu; đang đầu thu thì sao chạy đến được ngày thu chết, bởi tôi vốn chưa ‘tôi ơi…tuyệt vọng” mà vẫn ‘sao tuyệt vọng quá…người ơi”, vì vẫn ngày ngày, sáng sáng uống trà Thiết Quan Âm. Đa tạ lời nhắc nhở dù là lời nhắc….hề hề.

Kính đa tạ đạo hữu Thu Tử (vì lời khuyên…ít ai…).



TRỪNG HẢI

Vân Môn, càn thỉ quyết. Bình, Trừng Hải, hề hề.

KÍnh thưa quý hữu, hôm nay là ngày weekend tức cuối tuần, xin có đôi lời về công án của người xưa Vân môn qua các thời đại, hề hề, mà xem như chuyện mua vui chớ đừng lấy gì làm to tác bởi vì nó nằm trong mục Chat linh tinh, nên đối với Trừng Hải tôi chỉ là lai rai sự lý thì những tưởng quý hữu cũng chỉ là lý sự lai rai. Đồng kính, hề hề.

1, Vân môn càn thỉ quyết, hỗn khí tích lịch thủ anh hào nào cũng chạy…re kèn.

Bình: Càn thỉ quyết vốn là công án người xưa những trong tay đại tỉ hoatigon lại là tuyệt kỷ kinh thiên chấn địa làm biết bao nhiêu anh hào mới chân ướt chân ráo vào diễn đàn, những tưởng hào khí như mây nào ngờ, trở thành hỗn khí tích lịch tức nổ thì cũng to nhưng sau đó thì banh…xác pháo hay chạy…re kèn hay biệt tăm biệt tích bởi bị…bồi cú thứ hai là ám khí ngọc phong châm vạn phần không né được (hề hề, mỗ tôi hiện tại đang yên mà vẫn vạn phần cơ cẩn vì ngọc phong châm vốn chỉ …gây đau còn…bạch cốt trảo thì coi bộ tiêu diêu về…chốn cũ)
Kính thưa quý hữu, chữ “chạy re kèn” vốn là một trạng ngữ cách ngôn của người…cố đô xưa, thường dùng để chỉ những người chạy…mất dép theo ngôn ngữ hiện đại hoang hóa ngày nay. Theo mỗ tôi được biết chữ người xưa dùng, “chạy re kèn”, vốn có nguồn gốc điển tích từ tận bên… Thiên trúc kể lại việc vua trời Sakka (xem Nidana-katha) vào ngày Thái tử Siddhattha dùng “xúc địa ấn” nguyện sẽ ở dưới cội Bồ Đề cho đến lúc thành tựu Chánh Đẳng Giác, đã xách cây kèn đồng danh chấn của mình tên là Chiến thắng-Vijayuttara, có chiều dài 120 cubit(?) có thể tự hút gió vào rồi phát ra âm thanh liên tục (tức hoàn toàn automatic) mà mỗi âm ngân vang cả cỏi dục giới trong suốt bốn tháng trời mới dứt tiếng, để chờ ngày Thái tử Siddhattha thành tựu Chánh Đẳng Giác mà tán thán việc thêm một Đức Phật Đà xuất thế gian. Ai ngờ, khi Ma Vương xuất hiện, vua trời Sakka, (hề hề, cùng với các vị chư thiên khác có điều mỗi vị một nơi) đã vác cây kèn đồng Vijayuttara trên lưng rồi chạy tuốt bên kia bờ núi Thiết Vi vây quanh hoàn vũ rồi ở lại đó mà đứng nhìn không dám làm…chi hết! Đó là lời bình đệ nhất chi.

2, Càn thỉ quyết, xuất ngoại qua xứ anh đào…loạn cào cào:

Bình: Kính thưa quý hữu, như sử sách ghi lại công án Vân môn càn thỉ quyết vốn có trong Vô Môn Quan và rải rác ở các thiền lục khác, như thiền lục Lâm Tế của bác Tuấn Tú(?), nhưng nổi tiếng nhất vẫn thuộc Vô môn quan, nhưng là Vô môn quan bên xứ Thiên hoàng, nơi mùa xuân có…hoa anh đào, hề hề tức Nhật bổn do Pháp Đăng Viên Minh làm tận chức quốc sư là người dạy giáo pháp cho Thiên hoàng nhật bổn, có tên Nhật rất chi là dài theo âm hán việt Thiên địa đường vô bản Giác Tâm du học qua tận…Trung hoa đời Tống, theo như lời kể đã có cơ duyên gặp Thiền sư Huệ Khai, là người thủ bút Vô môn quan, học đạo được sư truyền pháp và tặng thủ bản Vô môn quan rồi đem về Nhật bổn cũng chìm vào quên lãng cho đến sau…đệ nhị thế chiến dân Nhật muốn trùng hưng hào khí sau khi thất trận trước đồng minh. Kính thưa quý hữu, vào thời sau đệ nhị thế chiến dân nhật bổn qua sự khích lệ của thiên hoàng nơi nơi đều một lòng…tăng gia sản xuất để vực lại đế quốc năm xưa nhưng lại về…kinh tế vì quân sự thì đã tởn…tới già. Thuở bấy giờ có nhiều anh lính GI mỹ…khờ khờ mà lại ưa thích chuyện…huyền bí phương Đông cũng rủ nhau đi…học thiền. Và thấy đây là một trong lĩnh vực…kiếm ra tài nên các nhà sư Nhật bổn đã lôi lại…đồ cổ Vô Môn quan, tân trang chút đỉnh rồi đem bình…loạn cào cào, ra chiều bí hiểm mà kiếm ngoại tệ du lịch…học thiền. Kính thưa quý vị vào các thập niên 50-60 phong trào thiền ở nhật bổn rất danh tiếng, nơi nơi đổ xô về…học thiền, như mỗ tôi nhớ không lầm đã từng đọc vài ba tờ báo danh chấn thế giới thời bấy giờ, cuả mỹ, anh, đức…, làm phóng sự về việc học thiền ở nhật bổn. Rồi thấy việc dạy thiền thành công quá, dân nhật bổn lại tiếp tục…sáng tác thêm đủ các thứ đạo, bắn cung đạo, võ đạo, hoa đạo, trà đạo…chỉ có thiếu..đô la đạo nữa là đủ mà hốt về vô số ngoại tệ (hề hề, dân nhật bổn kiếm tiền thật không thua gì dân…mỹ) Đây là lời bình đệ nhị chi.

3, Càn thỉ quyết, lộ bản lai diện mục khi khứ lai bổn nguyên xứ con trời:

Bình: Xứ con trời tức thiên tử (hề hề, vốn thua vua trời tức thiên hoàng một bậc) là người anh em hàng xóm phương bắc ta, sau khi mở cửa từ năm 80 thế kỷ trước cũng muốn hùng chấn lại khí khái ngày xưa nên cũng trùng tu lại các tuyệt tác cổ về vật thể lẫn phi vật thể (hề hề, theo ngôn ngữ Việt cho nó trong sáng) lẽ dĩ nhiên trong đó có Phật giáo ta sau bao thăng trầm đổ nát thời cmvh. Các công dân xứ con trời cũng có trùng bản lại Vô Môn Quan về tìm về dấu tích Vân môn thỉ quyết thì thấy chuyện động trời khi so với Vô môn quan nhật bổn. Dân xứ con trời nỗi trận lôi đình vì cho dân xứ vua trời ra thốt lời thêu dệt về cái “que cứt khô”. Bởi như quý vị thấy, có ai đời nào lại lấy cái que mà…??? thì , theo mỗ tôi nghĩ một là khùng hay là lời thêu dệt để chê…Nên lập hẳn một ban…hai ba mạng nghiên cứu lời người xưa, nghiên cứu không phải để tu học mà để phản bác lại lời dân xứ vua trời rồi đưa lên các văn đàn…chưởi qua thấu tận phù tang. Bởi sau khi nghiên cứu, các học giả xứ con trời cho rằng hai chữ “can thỉ” thì vốn là đúng, còn chữ “quyết” chỉ có nghĩa là lời “phán quyết” của Thiền sư Vân môn chứ không có cái…que nào ở đây cả. Lời chửi dù…ở bên kia biển những có lẽ thuận chiều…gió nên lâu ngày học giả xứ vua trời cũng nghe và rồi tức tốc cho ngay một học giả sang tận bên xứ con trời nghiên cứu lại các văn bản và đi đến các địa phương ngày xưa thuộc tông Vân môn tìm hiểu phong tục địa phương xem có dùng cái que để mà…không? Sau khi tốn cũng bộn tiền cho việc xác minh (người đi xác minh là một ts nên tiền chi phí chắc…cũng nhiều) thấy hết đường biện bạch mới trở về lại xứ vua trời viết thêm lời chú thích là đã nghiên cứu lại can thỉ chỉ là c….chớ không có que nào ở đây hết, hề hề, nhưng vẫn không có chịu sửa lại các lời bình về nào là que chống tông môn, nhà cửa, nào là hướng thượng, hướng hạ, nào…ngôn già,… tá lả. Hề hề đúng là con dân xứ vua trời lúc nào cũng ngồi trên…trên…thiên hạ. Hề hề. Đây là lời bình đệ tam chi

4, Càn thỉ quyết, bình chân như vại, đại Việt ta:

Bình: Học giả dân xứ ta thì xưa nay vốn có máu…hoài cổ, đôi ba chút thi thơ mà lại cũng ưa gặp…hồ li (Bồ tùng linh) nên cứ suốt ngày đóng cửa trong thư phòng (liêu trai) mà nói chuyện…kỳ lạ (chí dị) bên chén trà…việt???, hề hề, với trầm hương..dzỏm (hóa chất, bởi trầm hương thì xuất khẩu ráo trọi rồi), mà luận chuyện vốn đã sai cách đây…hơn nửa thế kỷ nghe ra cũng rất…bí hiểm liêu trai, hề hề. Vào thập kỷ 60-70 như mỗ tôi nhớ ở miền nam vốn cũng có một trước tác về thiền khá hay tức “Thiền nhục, thiền cốt” (Zen flesh, zen bones) của Paul Reps cũng rất đàng hoàng và vẫn viết can thỉ là…như lời xứ con trời, nhưng lại không được nỗi tiếng vì dân ta cho rằng thiền là của xứ dân da vàng ta, dân âu tây thì biết chi về thiền, vả lại lời viết nó không có…thiền cơ, hề hề (lỗ mũi nhìn xuống đất, hề hề), nên ít ai biết đến.
Đây là lời bình chi đệ tứ (đáng nhẽ phải viết “đệ tứ chi” cho giống như trên những nửa đường lại sợ người đọc hiểu lầm mà gieo nhân xấu, bởi “tứ chi” dễ nhầm sang bốn chân chỉ có ở loài…súc sanh, hề hề)

Luận:

Kính thưa quý hữu, những lời trên chỉ là lời nói chơi…cho vui ai tin cũng được mà không tin cũng xong vì vốn chỉ là lời vô cớ tức không có tài liệu trích dẫn chứng minh bởi Trừng mỗ tôi cũng nghe lời người thuật lại; nhưng nếu ai muốn tìm hiểu thì tìm trong tạp chí ảnh của Trung Quốc ngày xưa từ 80-90 thế kỷ 20 hay theo dấu các sự kiện mà mỗ tôi đưa ra cũng được sẽ thấy lời tin được hay không. Còn bây giờ mỗ tôi sẽ tiếp công án Vân Môn. Kính báo kính báo.

Vân Môn – Vấn: Phật thị thùy? Đáp: Can thỉ quyết.
Lời bàn:
_ Nghĩa hiển (hiển nghĩa): Thế gian này vốn là nơi uể trước (ngũ trược) nên Phật Đà đản sanh là bởi lòng từ bi mà chỉ cho chúng sanh vốn sống nơi ô uế biết là đang sống trong ô uế thấy đường mà thoát khỏi nơi uế trược. Dụ như người lữ hành cô độc đang du hành trên hoang mạc hoang vu biết lấy phân trâu ngựa mà sưởi ấm về đêm, mà nấu ăn cho no dạ, mà vững bước trên con lộ tử sanh mà tích trữ tư lương cho đến ngày giải thoát.
_ Nghĩa liễu (liếu ngộ nghĩa): “phân” vốn là một chủ đề trong phép Sanh Thân Quán thuộc Huyền Môn (Thiền-mật tông; quý hữu thấy phép này chắc cũng lạ lùng, bởi ngày xưa khi lần đầu đọc thấy nó trong Phật giáo Việt Nam sử lược của cố Hòa Thượng Thích Thanh Kiểm, Trừng Hải tôi cũng rất lạ lẫm) dùng để quán pháp sanh thiên thuộc phẩm hạnh tôn kính người lớn tuổi. Mỗ tôi nói sơ qua về Sanh Thân: là thân bổn sanh của Phật Đà trước khi đắc Chánh Đẳng Giác dưới cội Bồ Đề ở Bồ Đề Đạo Tràng, tính từ lúc được Đức Phật Nhiên Đăng thọ ký đến thân chót là Thái tử Siddhattha xuất gia và đắc Phật Quả bên cạnh Pháp Thân.

*** Gởi đạo hữu phithuydu: đạo hữu phithuydu, chủ đề ngụ ngôn của đạo hữu rất hay, hãy khoan đóng vội, nếu được tức khi hết bị hạn chế chỉ viết được ba bài mỗi ngày Trừng Hải sẽ góp bài với đạo hữu. Nó mang tính giáo dục hiện đại, gắn với tâm lý học Psycho-Freud, là môn mà Trừng Hải có đôi chút hiểu biết; rất ích lợi cho các tâm hồn hiện đại đang bị…hoang hóa bởi dễ hiểu, tân kỳ và có tính tương tác tư mạnh mẽ. Kính tương ngộ đạo hữu (Xin lượng thứ cho Trừng Hải vì gia cảnh nghèo nàn nên phải dụng cách này, lượng thứ, lượng thứ)

ĐỒNG KÍNH



TRỪNG HẢI

Sanh tử là gì? Khái lược

KÍNH LẠY THẾ TÔN, ĐẤNG THOÁT VÒNG PHIỀN NÃO, BẬC CHÁNH ĐẲNG CHÁNH GIÁC
Xin cho chúng sanh an lạc, đồng giải thoát, mà đáo NIết Bàn.

 This world has become blinded; here few see clearly like a bird that has escaped from the net, few go to the heaven. (Dhammapada sutta, Bhikkhu Silacara, Pali-Anh)


Kính thưa quý hữu, nói đến sinh tử, sống chết thì có ai mà không biết? bởi không ít lần chúng ta chứng kiến người thân chết đi, ái hữu ra đời. Khi người thân bước vào cửa tử thì chúng ta mang hoa, mang liễn, mang tài đến viếng, vẻ mặt ra vẻ sầu bi chia buồn. Rồi gặp ngày ái hữu khóc tiếng oa oa, chúng ta lại lộ vẻ mừng vui cũng mang hoa, mang thiệp, mang tài chúc người sanh quý tử để thốt lời hỉ hỉ, phước phước. Nhưng thật ra thì lại ít người thật sự biết sanh là gì? mà cũng mậu ngộ chết là chi? Sống chết đến đi như từng đợt sóng hằng hà liên tiếp chạy thẳng vào bờ vang lên một tiếng ầm nhỏ như chứng tỏ mình có hiện diện trên đời rồi tan biến, mất tăm nhanh như hơi thở ra vào vô hình, mà thậm thậm nan am tường biện biệt bởi chúng vốn ở trong khối vô minh tối đen vĩ đại mà các bậc cổ đức gọi là Vô minh vô thủy và Vô minh chi mạc, tối càng thêm tối, khổ đau chồng chất khổ đau, bởi nỗi đau này chưa dứt thì nỗi đau khác lại về, nụ cười vừa mới nụ chưa khai đã vội thay bằng tiếng thở dài biền biệt mong đến tận cam lai mà chưa bao giờ cam lai bởi cam lai chưa bao giờ hiện hữu. Thế gian vốn biến ảo thiên hình vạn trạng như mây trời say rượu (túy vân) vần đảo quanh quẩn như chọc giỡn người thi sĩ ngắm mây, dáng đứng thì trông cũng có vẻ thoát tục tiêu dao, nhưng nhìn hoài cũng hoa mắt váng đầu mà ở tuổi đã chiều tà cũng chóng mặt nhức đầu mà bước đi xiêu vẹo, con cháu có hỏi thì trả lời do say mây??? để ra chiều…bí hiểm mà dấu phắc đi việc mậu ngộ thiên hình biến ảo của mây say, hề hề!!!

Kính thưa quý hữu, các ngày qua Trừng hải tôi huyên thuyên nào tuyệt đãi chỉ quán, nào thiền na vô đối, nào sanh tử vô khứ lai…qua các biện chứng pháp Phật giáo nhưng hôm nay lại xin quay trở về nơi vốn được gọi là thuở sơ kỳ của vô minh tức sanh tử của sanh thân phàm phu chúng ta để từng bước một lược giải phép phương tiện mà chư cổ đức gọi là giả pháp chỉ để đưa chúng sanh thoát khỏi vô minh chi mạc mà quay vể bản tâm vốn viên dung vô ngại, tuyệt đối đãi, vô biên (giới) mà có nơi gọi là Như Lai Tạng, Phật Tánh, Pháp Giới thậm thâm, Tánh Không, Viên Thành Thực Hữu, Vô Niệm, Nhất Niệm Tam Thiên…kể nhiều không thể xiết; NHưng biết để làm chi nếu không biết nơi khởi đầu, lập cước thì chẳng bằng như người xưa ôm một câu Phật Hiệu suốt ngày niệm tới niệm lui khi an nhàn tuổi già, mà bất chợt cầu xin Quan Âm khi đất bằng dậy sóng gọi là phép Thành Tâm Niệm Phật còn ít lợi hơn nhiều những tri thức…như “ma trận” mà một đạo hữu diễn đàn nói về bài viết của Trừng hải tôi (bởi nó vốn là lẽ huyền mật của trời vạn lý vô vân), hề hề. Nên hôm nay một lần nữa, Trừng hải tôi xin gióng một tiếng đại hồng chung tạm gọi là phổ thỉnh tuy thanh âm đã tuyệt khứ lai nhưng âm vận lại muôn vàn sự tướng mà những mong diệu hạnh từ bi dẫn dắt người đến đường thoát khổ. Con xin đảnh lễ Bồ Đề Trí.

Kính thưa quý hữu, như quý hữu đã thấy ở đầu bài mỗ tôi đã đưa ra câu Pháp Cú vang danh 174, thuộc Pháp Cú Kinh do một Tỷ Kheo người Tích Lan Silacara chuyển ngữ từ Pali sanh Anh văn nói về việc vô tri mậu ngộ sanh tử của chúng sanh với thí dụ như bầy chim mắc lưới của người thợ săn thì chỉ có một số rất ít, thậm thậm ít thoát lưới mà bay về với trời cao trong xanh vô ngại. Trong Pháp Cú Thí Dụ Kinh, có đưa ra chuyện kể minh họa cho câu Pháp Cú này về một người con gái con của một thợ dệt vải. Chuyện kể rằng trong một lần đến thính Pháp do chính lời Phật Đà tuyên ngôn về cái chết là điều chắc chắn còn cuộc sống vốn đổi mong manh. Và sau đó người con gái này tỉnh ngộ mà hằng liên tục quán chiếu trong mỗi thì nghi tức niệm niệm tương tục về cái chết (xem marana-sati trong Thanh Tịnh Đạo luận hay giáo pháp thập huyền mật tức tam bí pháp về tử thức của thiền-mật tông thuộc Du Già Hành Tông, vốn ít người biết đến nên mỗ tôi đưa ra giới thiệu lỡ cơ hội đến với quý hữu thì nên kịp thời nắm lấy kẻo lỡ mất huyền cơ duyên) Về sau, vào mỗi sáng rạng tinh sương Phật Đà thường quán chiếu thế gian để xem thế nhân có người nào sắp sửa khai mở căn cơ giải thoát mà đến hóa giải chướng ngại nhằm đưa người hữu duyên giải thoát, mà trong thí dụ là cung trời Đâu Xuất-Tusita nên Đấng Phật Đà đã đến nơi người con gái thợ dệt trú ngụ. Khi gặp lại người thiếu nữ con người thợ dệt, Phật Đà đã hỏi các câu hỏi để giúp người giải thoát như sau: Vấn “Con từ đâu đến” Đáp “Dạ, bạch Ngài, con không biết”; “Con đi về đâu?” – “Dạ, bạch Ngài, con không biết”; “Con không biết ư?” – “Dạ, con biết”; “Con có biết à?” – “Dạ, con không biết!”, rồi sau khi đã gặp Đức Từ Phụ người con gái thợ dệt trở về và chết trong một tai nạn do khung cửi dệt vải đánh vào ngực. Kính thưa quý hữu, mỗi ngày khi bước ra đường kiếm kế sanh nhai, ai trong chúng ta mà không một lần chứng kiến tai nạn giao thông, A Di Đà Phật cầu cho chúng sanh tiêu diêu ngoài khổ cảnh, đổ xuống đầu một ai đó trên đường mà chết tức tưởi nhưng rồi chúng ta chỉ thoáng chốc sợ hãi mà chắc lưỡi rồi tiếp tục kiếm sống cho bản thân, gia đình. Mỗi một người trong chúng ta, khi bước ra khỏi nhà đến nơi làm việc đều đinh ninh rằng nơi làm việc vẫn còn nơi ta thường đến và ngôi nhà che mưa nắng của ta vẫn còn ở đó khi ta rời đi mà chờ ta trở về. Nhưng sự thật, dưới ánh sáng trí huệ của Phật Đà, điều đó chỉ là vọng tưởng do bất tri chánh lý thường, vô thường mà nảy sanh. Sao gọi là vọng tưởng do vô tri vì, chúng ta luôn nghĩ rằng hai đầu của một diễn tiến hằng đứng yên không thay đổi, nhưng thưa quý hữu như mỗ tôi đề cập ở trên nếu, tai nạn xảy ra cho chính bản thân ta, Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát cầu xin cho quý hữu hằng bình an, thì làm gì còn có chỗ đến làm gì còn có chỗ mà về bởi ta đang đi về một thế giới khác thường xa lạ mà quên đi đời sống ngay chính sát na vừa mới xảy ra ngay chính bản thân ta; và để nói cho đến tận cùng chấm phẩy thì cho dù chính bản thân ta đến nơi làm việc hay trở về nhà sau ngày làm việc thì những nơi đó đâu phải y chỉ như ngày hôm qua vì chính chúng cũng bị phi thường tức thay đổi. Vì sao mà nói nó thay đổi bởi, nơi sở làm hay nhà của chúng ta cũng bị trị bởi luật vô thường (đồng nghiệp ta, người thân ta hay văn phòng, nhà ta đều thay đổi do bởi chết chóc, thiên tai hay nhân vi như giải tỏa, tịch thu…) Thế gian này luôn hằng biến đổi chỉ bởi chúng ta thấy nó không biến đổi rồi cho rằng nó y cựu tức y như cũ. Tựa như một em bé nghĩ rằng chiếc phi thuyền phóng đi từ Trái đất cứ một mạch chạy thẳng đến sao Hỏa vì nghĩ rằng Trái đất và sao Hỏa hằng đứng yên.

Bác Trừng Hải có vẻ đã biết chỗ lập cước của chính mình!
Sanh tử là gì thưa bác? Bác từ đâu đến và đi về đâu?

TRỪNG HẢI

Chào đạo hữu quantro, đạo hữu mạnh khỏe không, đôi lời thăm hỏi sức khỏe đạo hữu cùng quý gia quyến.
Không biết quán trọ của đạo hữu theo hướng nào, đông tây nam bắc, cận núi hay cận thị hay cận sân bay. Phòng ốc có rộng rải không, cửa sổ hướng vào trong hậu viên hay hướng ra đường, nội thất theo phong cách gì, hảng nào? Có người bảo vệ không, tính tình vui vẻ ưa giáo tiếp hay chỉ biết có mình. Người quản lý ra sao, phương hướng phục vụ khách hay nghiêng về kinh doanh lấy lãi mau. Quán trọ của đạo hữu thanh toán cash hay card? Đại khái là tiêu chuẩn mấy sao?
Mấy lời thăm hỏi, nếu thuận tiện thì sẽ ghé ở chơi.


Thân mến
TRỪNG HẢI

KÍNH LẠY THẾ TÔN, ĐẤNG THOÁT VÒNG PHIỀN NÃO, BẬC CHÁNH ĐẲNG CHÁNH GIÁC.Cầu xin cho chúng sanh an lạc, đồng giải thoát mà đáo Niết Bàn
Sanh tử là gì? Khái lược (Cont.) 

Kính thưa quý hữu, như bài trước đã đề cập do bởi chúng ta ta vốn nhìn mọi sự lúc bắt đầu và kết thúc cuả một diễn tiến thường đứng yên và ngay cả chính bản thân ta cũng thường cứ ngỡ rằng ít khi thay đổi mà mậu ngộ luật vô thường, thường là chánh lý của Phật Đà nên sanh ra tư hoặc tức tư duy không đúng do dựa trên cái nhìn sai sự thật tức kiến hoặc. Mà đó cũng chính là Kiến Tư Hoặc tức mê lầm về sự tướng và lý tánh là nguồn gốc sanh khổ đau hay chính là khổ đau; mà do nó chính là khổ đau nên bất kỳ lúc nào quý hữu nghe một câu ca, bài thơ, áng văn mô tả về khổ đau là cảm xúc dâng trào, tâm hồn tê tái, lệ rưng rưng nhỏ, trái sầu rơi rơi, dụ như –…Khi tôi về bồi hồi trong nắng, ngỡ rằng mẹ tôi hân hoan đứng đón con về, nào ngờ mẹ tôi ra đi khi xuân chưa về, không lời biệt ly… con đường nào đưa mẹ tôi sang sông – (mà sông đây là sông sanh ly tử biệt) của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ danh chấn một thời kể về người con đi xa về thăm nhà trong kỳ muôn hoa nở rộ xuân thì, nhưng đâu có ngờ lần trở về cũng là lần thọ tang mẹ. Ôi cuộc đời quả thật là khổ đau hay chính là khổ đau, mà ai ai cũng hằng ái luyến, thực là chuyện lạ thế gian bình thường. Bởi vì, thưa quý hữu, nỗi khổ đau đó cũng chính là khổ đau mà ta luôn mang theo mà không biết tức mậu ngộ, mà cuộc đời mà ta hằng yêu quý chính là tấm gương phản ánh hình ảnh của ta. Hay nói theo cách khác, cuộc đời chính là khổ đau mà ta chính là một phần trong đó, nhưng lại bất tri bởi vì mê lầm sự tướng và lý tánh khởi sanh từ vọng tưởng. Và bây giờ muôn sự đã rõ ràng, khổ đau hay vọng tưởng chính là chủ đề là ta cần quán sát và trầm tư để nhận biết Khổ Đế mà có Chánh Kiến về Chánh Lý của Phật Đà (Mà tuy không cần nói rõ chắc chư quý hữu cũng nhận biết nơi giai vị sơ cơ thì cái nhìn của Đại thừa và Tiểu thừa đều quy về cái một: Khổ Đế, tuy lời giáo huấn là hai khung trời khác biệt nhưng đồng một thanh âm Từ Bi Trí Huệ).

Kính thưa quý hữu, lúc này chắc hẳn không ít người thầm nghĩ rằng, thế giới này nơi đâu mà chả có khổ đau, chỉ cần xa rời nó ắt hẳn cuộc đời tự nó sẽ thanh bình, bởi vậy quan tâm gì cho…mệt cái não, nhức cái đầu; Thì Trừng Hải tôi xin thưa với quý hữu, người có cái nhìn đó là người không có não tức vô não, hề hề. Bởi thế nhân ai ai cũng ghét khổ đau mà lân la bên bờ hạnh phúc tức xa lìa khổ đau mà tầm cầu hạnh phúc. Nhưng hỡi ơi, luật thế gian tức Nhân Duyên đâu có đơn giản như đang giỡn vậy đâu!!!??? Nó đâu có để cho ta tự do mà kiếm tìm điều ta hy vọng, xa rời điều ta không muốn mà trói chắc ta lại với khổ đau. Vậy cái gì trói chặc ta lại với khổ đau, Trừng Hải xin thưa với quý hữu đó chính là Ngã mạn tức nương tựa vào cái ngã mà cái ngã vốn là không nên nó thật muôn hình vạn trạng như tơ tằm muôn mối, rối rắm nhất cuộc đời, và thực nực cười khi nó lại chính là sản phẩm do trí não ta tưởng tượng ra???!!! Chư cổ đức thường ví cái ngã do mạn( hạ phần kiết sử) mà sanh ra này giống như một bát nước đầy, mà khi muốn tu học ta phải đổ nó đi để mở rộng lòng mà đón Phật Tri Kiến.

Kính thưa quý hữu, như đã trình bày ở trên sanh tử hay một đời người vốn là khổ đau nhưng chúng sanh vốn vô tri khổ đau bởi mậu ngộ chánh lý vô thường, thường mà khởi sanh vọng tưởng, mà hình thành ngã do mạn (hạ phần kiết sử) rồi tuần tự chính ngã mạn này lại trói chặc cuộc đời ta vào khổ đau; Và chính vòng lẫn quẩn này được gọi là luân hồi sanh tử một đời tha nhân, mà đắm chìm trong khổ đau, vọng tưởng khởi từ vô thủy từ đời này đến đời khác, mà luân lưu trôi dòng từ cảnh giới này đến cõi giới khác theo dòng nghiệp lực. Và việc cắt đứt dòng nghiệp lực luân hồi sanh tử, tử sanh mà xa rời vọng tưởng, khổ đau chính là nơi bắt đầu, lập cước cho các giai vị tiến hóa thay đổi thân phàm phu thành thân Thánh Giả rồi bước lên các trụ địa Bồ Tát dưới ánh sáng Từ Bi Trí Huệ của Mười Phương Chư Phật cho đến lúc đắc thành Phật Quả;
Vậy làm sao để chấm dứt ngã mạn để quán sát khổ đau, vọng tưởng mà chặt đứt vòng luân hồi sanh tử. Kính thưa quý vị, đó chính là do có Chánh Kiến nên khởi sanh Chánh Tín mà thệ nguyện Quy Y, Thọ GIới. Nên Trừng Hải tôi thiết tha những mong quý hữu khi đã phát nguyện Quy Y, Thọ GIới thì hãy khởi hào khí thanh phong, chí nguyện tu hành ào ào như sóng dậy cuốn phăng đi tất cả những điêu tàn, ô nhiễm của cấu trần thân tâm, mỗi mỗi sát na chú tâm quán sát nhất mực không rời trước khổ đau hay vọng tưởng mà ly rời nhanh như sấm chớp chiếu sáng trời đêm, mà cẩn mật kỹ càng thu thúc lục căn mà phô diễn biểu tướng của thân, khẩu y lời Phật dạy. Mong lắm thay, mong lắm thay.
Vậy làm sao để công phu tu tập trên đường tu học. Điều này đối với Trừng Hải tôi thì thật rõ ràng như nhiên muôn niên không đổi đó là xin thưa, quý hữu hãy đến với vị đạo sư đã làm lễ Quy Y và trao Giới Luật cho đạo hữu mà xin chỉ dẫn, mà được trao truyền pháp môn, mà nguyện tu hành hằng hằng không thối chuyển thì một ngày không xa Trừng Hải tôi chắc chắn rằng quý hữu sẽ bước vào đạo lộ thênh thanh không còn biên giới, du hí tam thiên đại thiên thế giới mà viên dung vô ngại, tự tại an nhiên sống ở trần gian cho đến ngày về nơi như nguyện.

Đồng Kính


TRỪNG HẢI

 Khứ lai là gì? Khái lược

KÍNH LẠY THẾ TÔN, ĐẤNG THOÁT VÒNG PHIỀN NÃO, BẬC CHÁNH ĐẲNG CHÁNH GIÁC
Cầu xin cho chúng sanh bình an, đồng giải thoát mà đáo Niết Bàn. Cũng đồng chân thành xin trao một bông hồng cho những ai còn mẹ, và một bông hồng trắng cho những ai mất mẹ, mà cầu xin mọi Phật tử nơi nơi đều hưởng HỒNG PHƯỚC VÔ BIÊN của MƯỜI PHƯƠNG CHƯ PHẬT. Con xin đảnh lễ Bồ Đề Trí.

Kính thưa quý hữu, chữ khứ lai nghĩa của nó là đi về, cũng là một trong những bài thơ đường danh tiếng mô tả tâm trạng của Đào Tiềm thi sĩ về việc Đào Tiềm quan lại treo ấn từ quan quy khứ lai hề, tức về quê nhà vì không chịu khom lưng cúi đầu trước những kẻ quan lớn hơn mình trong cuộc sống quan nha tỏ rõ lòng cương trực thanh bạch của người tri thức trót mang chữ sĩ. Hề hề, Trừng Hải tôi nghĩ Đào tiềm thi sĩ quả là kẻ ngây thơ bởi nếu không muốn khom lưng cúi đầu trước kẻ quan lớn nơi quan nha kinh kỳ, vậy khi trở về quê không khép nép dạ vâng trước lũ cường hào ác bá địa phương hay sao? Hay Đào tiềm quan lại có nỗi ẩn khuất khó bề biện bạch nên đem Đào tiềm thi sĩ ra làm bình phong thanh bạch cũng chỉ bởi không vượt qua được hơn thua, vinh nhục của tám pháp thế gian mà làm bài Quy Khứ Lai hề hề??? Trừng Hải tôi đâu có rãnh mà nói về Đào tiềm thi sĩ quy khứ lai hề bởi chẳng qua khi đề cập tới nghĩa khứ lai nên tiện đường mà nói qua thi sĩ Đào tiềm để quý hữu biết rõ nghĩa khứ lai là đi về đó thôi, bởi cái đạo Khổng Nho với Trừng mỗ tôi chỉ là cát bụi làm vướng mắt người. Hề hề,
Kính thưa quý hữu, theo giáo pháp của Huê Nghiêm Tông thì Duyên Khởi hay Thập Nhị Nhân Duyên được hiển bày thành bốn Pháp giới đó là: Duyên Khởi nghiệp cảm thuộc về Tiểu Thừa, A lại da duyên khởi thuộc về Đại thừa thỉ giáo, Như Lai Tạng duyên khởi thì quy về Đại thừa chung giáo còn Pháp Giới duyên khởi lại là Viên giáo. Trong bốn pháp nói trên thì Pháp giới duyên khởi thuộc về Viên giáo vốn là Pháp Giới thậm thậm của chư vị ĐẠI TRÍ HUỆ, ĐẠI TỪ BI, ĐẠI THẾ CHÍ vận hành theo Thập Huyền Diệu là Bất Khả Tư Nghì nên Khứ Lai là Vô Khứ, Vô Lai mà nơi nơi hiển bày Vị Tằng Hữu Sự tức chuyện lạ thế gian phi thường, phi phi thường nên Trừng hải chỉ có thể cung kính lập ngôn, Bồ Đề Tát Bà Ha, con xin đảnh lễ Bồ Đề Trí với lòng vạn phần tôn kính mà không dám thốt một lời nào mà mắc tội hí tiếu lộng ngôn; còn lại ba pháp giới duyên khởi nghiệp cảm, A lại da, Như Lai tạng thì xin nói đôi lời gọi là khái lược khi bàn về chữ Khứ Lai. Kính báo kính báo


Kính thưa quý hữu, chữ Khứ Lai trong Duyên khởi nghiệp cảm có nghĩa là Hồi Hướng thuộc về vị Tư Lương ngay trước khi bước vào vị Gia Hành, tức thức ăn đi đường trên con lộ tử sanh để tích lũy công đức mà bước vào chánh lộ đạo trên đường tu học. Chữ hồi hướng có nghĩa là quay lại tức “hồi đầu thị ngạn” cũng có nghĩa tương tự như đi về, nhưng nơi về không phải chỗ nào, nơi nào bởi nó không có chỗ về tức vô khứ lai (hề hề, có vị đạo hữu hỏi mỗ tôi lá vàng rơi về đâu rõ là chưa am hiểu chữ bước đầu, lập cước vậy mà thốt lời đại ngôn nói Trừng mỗ này chưa liễu minh tức không am tường, hê hề, hề hề) và đó chính là bổn tánh như nhiên vốn tịnh như trời cao trong xanh vô ngại là nơi ít người đến được mà Trừng Hải tôi đã đề cập đến trong bài “Sanh tử là gì? Khái lược” Nhưng hôm nay xin nhìn chữ Khứ Lai dưới một cái nhìn” tùy duyên thập phần tinh minh” bởi nó thuộc lẽ huyền vi của Chánh Pháp vi diệu dụng. Và vì nó thuộc về Tiểu thừa nên Trừng Hải tôi xin sử dụng giáo pháp của Nguyên Thỉ Phật Giáo để trình bày chữ Khứ Lai theo nghĩa tùy duyên hay do duyên mà đến thì phải theo duyên mà về.
Kính thưa quý hữu, theo giáo pháp của Phật Đà được kết tập trong Phật Giáo nguyên thỉ tức Nam Phương Thượng Tọa Bộ thì khi minh châu của mẹ gặp tinh chất của cha mà hình thành sắc chất vào đúng lúc đó kết hợp với kết sanh thức tức thức tái sanh mà hình thành thai bào, mà trưởng dưỡng 9 tháng 10 ngày mà suất sinh nhủ nhi mà cất tiếng khóc oa oa chào đời (hề hề, khi chào đời thì em bé đã biết sinh vào nơi khổ đau mà rơi lệ!!! mà lỡ như em không chịu khóc thì các vị bác sĩ sản khoa phải tét vào mông em bé mấy cái cho đến lúc khóc, hề hề, mới ra đời mà không chịu nghe lời người lớn nên…ăn đòn) mà đối diện với khổ đau vọng tưởng, tình tiền danh lợi, mà giương nanh múa vuốt sẵn sàng tranh chấp, mà gầm gào la hét sẵn sàng hơn thua, mà hả hê sung sướng khi tiền vào như nước mà ra…thì như cà phê phin nhỏ giọt, mà như người điên xỏa tóc xỏa tai kêu trời như bọng khi mất của mất tài, mà lệ châu nhỏ giọt húp mắt húp mày khi tình phụ, phụ tình rồi lập lời thề ngắt một cành hoa thạch thảo để người nhớ mùa thu đã chết rồi – J’ai cueilli cebrin de bruyère l’automie est morte souviens-t’en – Nói cho mau đó chính là ba cảnh khổ đau một đời: tình dục, ăn uống và tranh chấp, hề hề, hình thành nên tâm thức con người (ngũ uẩn, thập nhị xứ, thập bát giới) mà nhận thức thế giới chúng quanh ta, ta và cứu cánh của ta (gần và xa) qua biểu tướng Khứ và Lai. Vậy khứ và lai khởi sanh qua thập bát giới là gì? Dạ xin thưa với quý hữu, đó là chuỗi diễn tiến sanh, trụ và diệt tức bắt đầu, tự thành và kết thúc mà thường hiển tướng văn học là ba đào sóng dậy, cơn đau đoạn trường được gói gọn trong một chữ “HỮU” thập phần bí hiểm, mà tinh minh rõ ràng. Thưa quý hữu, chắc quý hữu đã từng đọc qua công án Bố Đại hòa thượng đi xin một đồng khi vỗ vai hòa thượng, hình như tên là Bảo phúc, thì hòa thượng Bảo Phúc nói nếu trả lời được thì mới cho một đồng rồi nói “Chỗ cốt yếu của Phật pháp là thế nào?” thì Bố Đại Hòa Thượng liền bỏ túi vải càn khôn của mình xuống đất rồi vòng tay đứng sừng sửng trước mặt hòa thượng Bảo phúc; Hòa thượng Bảo phúc nói tiếp “Chỉ có vậy thôi sao, không có gì hơn à?” thì Bố Đại Hòa Thượng cầm lấy túi càn khôn của mình bỏ đi mà không nói một lời (không biết có lấy tiền không nữa, vì trong mẫu chuyện thiền này không có kể tiếp, hề hề, nhưng mỗ tôi nghĩ chắc chả cần?) Kính thưa quý hữu, thường thì khi dạy ta niệm một tiếng Phật hiệu chư cổ đức thường dạy hãy buông xuống vạn sự mà niệm một câu Phật hiệu, hay khi tham khán thoại đầu thì dạy hãy bỏ muôn duyên mà khán một câu thoại đầu, nhưng đây chỉ là cảnh giới sơ cơ, theo ý mỗ tôi, nên hòa thượng Bảo phúc mới nói tiếp “Chỉ có vậy thội sao…” nhưng thật sự việc bỏ túi vải càn khôn xuống đất của Bố Đại Hòa Thượng (mà tương truyền theo văn hóa Phật giáo Trung hoa là Đức Di Lạc hóa thân) là ở một cảnh giới thập phần vi diệu “Tuyệt tích chữ HỮU, tức Vô Hành Không” khác xa cảnh giới trước cả một trời càn khôn, vũ trụ!!! Nói để chư vị thấy rõ chữ Pháp vi diệu của Phật Đà thường hiện tướng qua cả Luật và Pháp, mà Luật ở đây tức đạo tràng, tịnh thổ tức tâm bổn nhiên vốn tịnh mà mỗ tôi đã nói ngày hôm qua, và với đạo tràng tịnh thổ đó sẽ sanh cây trí huệ tức Trí Bồ Đề, con xin đãnh lễ.
Vậy làm sao để khứ lai tuyệt tích mà hiển Trí Bồ Đề tức dứt bặt quá khứ-hiện tại-tương lai tức tiền niệm, kim niệm, hậu niệm tức sanh trụ diệt tức hiện tướng (nghiệp tướng). Kính thưa quý hữu đó là nhờ chặt đứt vòng luân hồi sanh tử, tử sanh mà Trừng Hải tôi đã đề cập ngày hôm qua hay đó chính là Tác ý tức Cetana mà Phật Đà đã chỉ rõ là NGHIỆP. Ly rời NGHIỆP bằng cách gì, thưa quý hữu đó chính là nhờ Nhất Tâm do ngoài thì dứt ái dục trong thì tâm vượt qua năm triền cái (nirvarana – kamacchanda, vyapada, thina-middha, uddhacca-kukkucca và vicikiccha.) nên thấy cetana rõ ràng tức tinh minh mà dứt bỏ, mà ly rời, mà xóa sạch mà vào cảnh giới Thiền Định-Jhàna, bất khả tư nghì (acinteyya). Và để bước vào cảnh giới bất khả tư nghì thì cũng như những lần trước Trừng Hải tôi đã nói nó thật rõ ràng như nhiên muôn niên không đổi đó chính là pháp môn mà chư Bổn sư mà quý hữu thọ giới sẽ trao truyền cho quý hữu mà chỉ cần quý hữu nhất tâm không rời như núi Tu Di bất động trước muôn vàn gió bão, mây mưa thì tất có ngày hoa sẽ nở khi đáo xuân kỳ mà bước vào cảnh giới Jhàna, bất khả tư nghì (Xin hẹn đến chiều sẽ nói tiếp hai pháp giới còn lại: A lai da thức và Như Lai Tạng; lượng thứ lướng, hề hề). Kính tạm biệt.

TRỪNG HẢI

 Khứ lai là gì? Khái lược (Cont.)

A lại da Duyên Khởi: Đây là giáo pháp mật truyền của Câu Sanh Khởi Thừa-Sahajayana, một trong ba thừa của Phật Giáo Mật Tông-Tantric Buddhism, (hai thừa còn lại là Chân Ngôn Thừa-Mantrayana và Kim Cương Thừa-Vajrayana) thuộc dòng Tulkou có nơi phát tích là Ấn Độ được truyền thừa và lưu giữ đến hôm nay tại Tây Tạng. Đây là một chi nhánh của Phật giáo Tây Tạng ít người biết đến thuộc về dòng Tulkou tức Hóa sanh mà bậc đạo sư của tông phái cứ tái sanh đi tái sanh lại nhằm lưu giữ, truyền thừa và phát triển quá trình tu học. Chắc quý hữu cũng ít nhiều nghe đến dòng hóa sanh này, trước khi chết bậc đạo sư thường chỉ dẫn cho đệ tử các dấu hiệu để nhận biết hóa thân của mình rồi sau đó các đệ tử tín cẩn này đi tìm đạo sư của mình dưới một sanh thân khác bằng các dấu hiệu đã được chỉ điểm trước đó, sau đó tiến hành các công việc mà bậc đạo sư chỉ dẫn cho sanh thân mới này. Hãy nghe một đoạn tâm sự của cư sĩ Phật tử Mật tông danh tiếng A.David-Neel là đệ tử của Lama Yongden một đạo sư thuộc dòng Tulkou về giáo pháp này trong La Connaissance transcendante:
“C’est grace à la presence près de moi de monfils adoptif la lama Yonden, lui-même un Lethé et un tulkou, que j’aipu longguement fréquenter cette aristocratie intellectuelle en differentes parties du Tibet. C’est d’elle qu’il convient d’appredrelesens que les Tibetains doment à la doctrine de leur doctrine qu’ils tiennent pour esoterique et dangereuse pour cẽu qui ne sont point mentalemant qualifiés pour l’entendre. Une telle qualification, disent les Tibetains, est le fruit d’effort pousuivis pendant nombre d’existences successives et farme contimelle aspiration à la Connaissance.”

Nội dung của lời tâm sự này nói về việc bà A. David Neel nhờ có bậc đạo sư Yonden mà bà gọi là dưỡng tử( cha nuôi?) mới tiếp cận được giáo lý mât truyền này. Sở dĩ giáo lý được tâm truyền cẩn mật, bởi nếu sơ ý thì sẽ gây hại lớn cho người thọ giáo nào thiếu đạo hạnh chưa xứng đáng để học hoặc kẻ nghe lóm. Và giáo pháp này là giáo pháp cao phẩm(tối thượng thừa?) do trải qua nhiều đời tinh tấn qua vô số kiếp mà không quên mần Bồ Đề Trí nơi các bậc tulkou.
Kính thưa quý hữu, bởi vì là giáo pháp tâm truyền cẩn mật nên Trừng Hải tôi chỉ có thể nói được những điều đã cho phép tiết lộ và sẽ cố gắng tối đa để làm nổi bậc những tự tánh Pháp thuộc về giáo pháp Câu Sanh Khởi Thừa nhằm thấy rõ hành hoạt vi diệu của chữ Khứ Lai. KÍnh báo kính báo

Gửi bởi quantro Xem bài viết
Sao Bác Trừng Hai không dùng thiết sa chưởng của Cừu Thiên Nhận mà ra chiêu?
Mà Lại dùng chiêu thức của Cừu Thiên Trượng vậy! thật là…
TRỪNG HẢI

KÍnh thưa các quý hữu, bác Tuấn Tú, đại tỉ hoatihon, mod minhdinh, cùng các đạo hữu “công dân hạng hai” như mỗ tôi hề hề, chimanhvu, quantro; đa tạ các quý hữu đã tham gia chủ đề làm cho diễn đàn Chat linh tinh trở về đúng với tên gọi của nó, thập phần sinh động biến hóa đa đoan, muôn lời như hoa nở, tràng tràng oanh vàng thánh thót “Thời khứ giang nam tam nguyệt lý – Giá cô đề xứ bách hương hoa”. Rồi có đôi lời với đạo hữu quán trọ cùng chư quý hữu khác như sau:
_ Phàm đã là người lập chí tu hành, thì ý nguyện phải vững như núi Tu Di muôn niên không đổi mà vạn phần cơ cảnh, những vẫn cẩn mật vô tư , nghĩa là thiền gia phải luôn luôn tỉnh giác mà quán sát tỏ tường mỗi mỗi cảnh hiện mới gọi là “nhất cơ nhất cảnh”, rồi tùy theo mỗi cảnh mà cơ linh uyển chuyển hoặc buông hoặc nắm hoặc không nắm mà cũng không buông hoặc vừa buông vừa nắm mới gọi là “đương niệm nhất hạ” (xem lại tứ cú hay Lâm Tế “tứ liệu giản”). Cho nên khi đạo hữu quántro hỏi: “Lá vàng rơi về đâu?” thì mỗ tôi im lặng là vậy bởi, biết hỏi chiếc lá vàng nào? mà lá vàng thì rơi theo gió mà gió thì không biết thổi về đâu thì làm sao trả lời? mà nếu trả lời theo quy ước “lá rơi về cội” thì lỡ có người nói vậy thì nó rơi xuống hồ, xuống ao, biển thì sao? mà cũng không đúng với lập cước của thiền gia tức cái gì nó qua rồi thì cho nó…qua luôn tức theo nhân gian là ôm rơm chi cho nó nặng bụng hay theo Giáo lý của Phật Giáo thì Pháp chỉ để qua sông, qua sông rồi thì sao phải vác thuyền theo; Đó gọi là “Linh cơ nhất động” hay diễn là “phương tiện thiện xão trí” tức trí thiện xảo là phương tiện giúp người tu hành vượt qua cảnh trần bụi đời, chướng ngại nhân gian. Hề hề,
_ Trong các thiền sư Trung hoa thì Vân Môn Văn Yển tương truyền được giới thiền gia xứng tụng là “Hoạt cú” (mà các “đại dịch giả” Việt nam ta chuyển ngữ là Hoạt ngữ, hay Hoạt từ làm mất đi sự tinh anh hoạt dụng của từ “Cú”) nghĩa là dùng thiền ngữ để giúp cho thiền gia đi ra ngoài tông phong trở về nơi chốn cũ, mới goi là cái bánh Vân Môn; chớ đâu là lời so sánh hơn thua được mất biết Tam tạng kinh không bằng cái bánh bao Vân Môn???!!! (Đạo hữu muốn nghiên cứu cho thấu đáo từ “Cú” thì xin đọc về Danh (hay tên), Cú, Hình trong Lăng Già Tâm Ấn).
_ Cái chỗ gọi là bắt đầu, lập cước nó hay ở chỗ không có nơi bắt đầu, lập cước; phàm đã là người am hiểu chữ “TÂM” mà chí nguyện hướng đến chữ “KHÔNG” mới đúng với Vân Môn tam cú mà về sau có người đệ tử là Ba Lãng thấu được cốt tủy tận cùng chấm phẩy của Vân Môn (Xin về đọc lại Vân Môn Tam Cú hay Ba Lãng tam chuyển) mới xứng với câu cú thứ ba của Vân Môn là “Theo sóng theo nước” hay của Ba Lãng “Đề bà tông là gì: tuyết đựng trong dĩa bạc”( Đề bà tôn ở đây là Không tông lấy tên người xiển dương Trung quán bát bất của Ngài Long Thọ là Ngài Aryadeva tức Thánh Thiên)
_ Phàm người tu học chí cốt nơi thành tựu tu hành, ngoài ra đều là phó phẩm chỉ là lời trao đổi chỉ đường này nọ trước là để giúp người sau là lời nhắc nhở cho ta về nơi lập chí hãy còn xa vời vợi chớ không phải nơi hiện tướng của lời mà phải tranh phong.
Vài lời phân tỏ với tất cả đạo hữu, ý nhỏ mà lòng thành xin chớ cười chê.

Đồng kính, thân chào

TB: Nói đến chuyện kiếm hiệp là mỗ tôi khoái chí, hề hề, xin kể lại chuyện Xạ Điêu Anh Hùng truyện cho nó tiêu diêu mọi sự nhân gian. Đạo hữu quantro có nhắc đến Cừu Thiên Nhận với Cừu Bách Trượng. Đây là hai anh em sinh đôi, mà người anh thì văn dốt võ nhác nên chuyên đi lừa bịp thiên hạ để kiếm cơm qua ngày vì có khuôn mặt y như người em danh chấn giang hồ nam bắc là Cừu Thiên Nhận, mà lời diễu cợt hiển lộ rõ qua chính cái tên của hai anh em sinh đôi này của tác giả Kim Dung, hề hề; bởi chữ Thiên Nhận có nghĩa là hiểu biết không thua kém gì trời(?), còn chữ Bách Trượng là dùng điển tích sợi cước câu cá dài cả trăm trượng mà vẫn chưa đến đáy biển chỉ sự học bất túc, bất hoạt tức không đến nơi đến chốn gọi là thầy không ra thầy thằng không ra thằng theo phương ngữ của đại việt ta. Nhưng chính ngay cả Cừu Thiên NHận khi nhận lấy tên gọi này cũng chỉ cái biết không được đạt được sự toàn thiện của thái cực tức âm dương vốn cân bằng mới sinh lưỡng nghi, tứ tượng (người mà đòi…hiểu biết như trời!!!) bởi nhân vật này vốn nỗi tiếng bởi môn thủy thượng phiêu tức đi trên mặt nước để chỉ sự khinh linh, nhẹ nhàng nhưng lại đi học môn Thiết Chường (chớ không phải Thiết sa chưởng, hề hề, coi chừng lậm phim ảnh à nha!) một công phu chí cương cực trầm trọng. Trên nặng mà dưới nhẹ thì cũng giống như lâu đài xây trên cát vậy (đọc lời bình của Thầy Tuệ Sĩ về bản dịch Trung Luận mới của một cư sĩ mà mỗ tôi quên tên về “pháp trụ, pháp vị”!!!), có khi nhào đầu lúc nào không hay, hề hề. Vài lời xẻ chia chuyện…kiếm hiệp gọi là trà đàm, xin kính xin kính. Kính giã từ 



TRỪNG HẢI

Khứ lai là gì? Khái lược (cont.)

KÍNH LẠY THẾ TÔN, ĐẤNG THOÁT VÒNG PHIỀN NÃO, BẬC CHÁNH ĐẲNG CHÁNH GIÁC.
Cầu xin cho chúng sanh an lạc, đồng giải thoát mà đáo Niết Bàn. Và cũng xin chân thành trao một bông hồng cho những người còn mẹ, một bông hồng trắng cho những ai mất mẹ và những mong toàn thể Phật tử đều đồng hưởng HỒNG PHƯỚC VÔ BIÊN của MƯỜI PHƯƠNG CHƯ PHẬT. Con xin đảnh lễ Bồ Đề Trí.


A lại da duyên khởi (cont.):
Kính thưa quý hữu, trước khi đi vào chữ Khứ Lai để chỉ ra chỗ hành hoạt vi diệu của nó, Trừng hải tôi xin nói sơ qua về Thức và Trí tức Bát Thức và Bát Trí thuộc Du Già Hành tôn. Kính thưa quý hữu như ta đã biết mỗi một hữu tình khi sanh ra đời thì gồm có bát thức gồm: A laị da thức, Mana, Ý thức, và tiền ngũ thức mà trong đó Ý và tiền ngũ thức thì có tướng gọi là thức tướng còn A lại da và Mana thì tuy có tướng nhưng do nó nằm ngoài ý thức nên khi nó hiện hành mà ta lại không biết, tức thuộc về tướng phần trong tam tánh, tứ phần. Khi tâm phan duyên tức tâm sanh thì các thức chuyển tức chuyển thức, sanh ra chuyển tướng và nghiệp, hiện tướng mà che mất đi chơn tướng tức không vốn là tướng của tâm ta tức vô tướng (Hề hề, Trừng mỗ tôi vốn biết nói như vậy thực là…mù mịt do bởi nó mịt mù toàn chữ là chữ, những cũng đành chịu vì đó là lẽ…tất nhiên tức vốn nó vậy, khi nói về Duy Thức; thưa quý hữu như lời dạy của Cố Hòa Thượng Thích Thiện Hoa là bậc thượng thủ thượng thừa danh tiếng về Duy Thức Học ở nước ta, muốn nắm vững Duy thức thì hãy cứ nghe theo lời dạy của Thầy mà yên một trăm cái tâm để học chứ đừng có nhụt chí mà lìa bỏ một môn học vạn phần huyền diệu toàn thiện chí tuyệt chí cao mà uổng phí tâm cơ của Thầy khi soạn bài viết về Duy Thức Học trong Phật học phổ thông, mong lắm thay, mong lắm thay, hề hề) Và đó cũng chính là luật nhân duyên tức Duyên khởi mà ai ai cũng phải vận hành y như…nó muốn tức bị trị, mà luân hồi sanh tử tử sanh theo dòng nghiệp lực từ cõi giới này tới cõi giới khác khởi từ vô thỉ cho đến…ngày nào đó mà mỗ tôi cũng bất tri bởi nó tùy theo quý hữu có muốn thoát ra khỏi nó hay không tức Như Khứ vì Như Lai luôn luôn phổ biến mà ban cho chúng sanh trọn vẹn Từ Bi Trí Huệ của Các Ngài. Vậy bây giờ chắc quý hữu cũng đã rõ chữ Khứ Lai bây giờ đã hiển bày trong một cảnh giới hoàn toàn khác biệt tức Như Lai và Như Khứ. bởi vì:
_ Như Lai: Từ Chân Như mà đến, đó chính là Từ Bi Trí Huệ của Chư Phật mười phương luôn luôn hiện hữu trong mười phương thế giới.
_ Như Khứ: Là hướng thượng (hình nhi thượng) do bởi có chánh kiến về Chân Như mà khởi lòng mong muốn thoát khổ đáo Niết Bàn qua việc phát Bồ Đề Tâm.
Hay nói cách khác chính là Như Lai và Như Khứ luôn luôn đồng sanh tức Trí Huệ Từ Bi câu sanh với Vô Minh Hung Ác qua luật Câu Sanh Duyên Khởi hiện hành bởi Vi Diệu Công Đức Bất Khả Tư Nghì của Mười Phương Chư Phật.

Vậy vì lý do gì mà việc bất thành tức thức không chuyển thành Trí và Từ Bi Trí Huệ đến bằng lối nào tức Đạo Hạnh là Công Đức Vi Diệu của Chư Vị Đại Từ Bi, Đại Trí Huệ, Đại Thế Chí?

Sỡ dĩ thức không chuyển thành Trí là do bởi chúng sanh sống trong Khổ đau mà mậu ngộ khổ đau lại còn ưa thích khổ đau mậu ngộ. Do bởi luôn luôn bị trị bởi luật duyên khởi mà cứ nghĩ rằng tự do an nhiên lựa chọn theo ý chí của mình tức ý chí tự do (free will). Hay nói cách khác là do bất tri Tứ Diệu Đế và Luật Duyên Khởi mà sống trong Vô Minh và Ác Sự. Nhưng với người có chí nguyện qua việc phát Bồ Đề Tâm tuy nhiên do bởi căn cơ không thuận lợi với pháp tối thượng thừa dành cho bậc thượng căn thì chính đây là cảnh sở hành của Câu Sanh Duyên Khởi tức Sahajayana được tâm truyền cẩn mật qua lời thuật của Phật tử cư sĩ danh tiếng về Phật giáo Tây Tạng A.David Neel mà ngày qua Trừng Hải tôi đề cập đến.
Xin quý hữu hãy nghe qua đôi lời của cư sĩ Phật tử cũng là người danh tiếng về Phật giáo Tây Tạng Anagarika Govinda và H.V Guenther về Câu Sanh Khởi Thừa:
_ Câu sanh duyên khởi là gì? Theo nghĩa đen thì nó được sanh ra cùng lúc. Và diều này đã có câu trả lời kinh điển của Zlaod-gzhon-nu, pháp danh là Dvags-po-lha-rje-Đạt bảo cáp giải, môt đệ tử trưởng tràng danh chấn của Milaraspa-Mật lặc nhật ba, bậc học giả thánh nhân danh thượng thừa thượng thủ của Tây Tạng quốc. Ông giải thích rằng cái câu sanh này chính là Không Trí và Hiện Tướng(Nghiệp tướng) không bị ngăn cách bởi hố thẳm không đáy mà chúng là thực tại đồng nhất tức nơi bổn nhiên tánh vốn tịnh. Và nó lại bị ngăn cách bởi bởi ý thức đối đãi nhị nguyên và các kỹ thuật phân tích của ý thức tạp nhiễm…Trong đó ý thức đối đãi nhị nguyên chính là Vikalpa_Vọng tưởng cùng lúc với klesa_Phiền não gây ra tình trạng Moha hay Ahdhakara_Vô Minh
…Chính vì những điều đó nên Câu sanh khởi thừa không phải là một hệ thống giáo pháp về Văn học (ngôn ngữ, văn tự) mà là một sự luyện tập khắc khe phải được thực hành dưới sự bảo bọc của bậc đạo sư đã chứng ngộ bằng trực giác cho nên giáo lý này rất khỏ hiểu và khó định nghĩa…
…Phật giáo đang tồn tại ở tây Tạng, các nước vùng Hy mã lạp sơn…đang chịu ảnh hưởng sâu sắc các phép hành trì của Chân Ngôn Thừa và Câu Sanh Khởi Thừa và ta không thể hình dung ra Phật giáo ở các nước này mà không có sự hành trì các pháp trên…
…Do đó không có gì ngạc nhiên là những nhân vật xuát chúng của Phật giáo như Vô Trước_Asanga, Tịch Thiên_Santideva, Tilopa, Naropa, Maitripa (tương truyền đây là hóa thân của Đức Di Lạc), Gserglinpa…và nhiều vị khác đã có đóng góp cho các trường phái này…
Xin quý hữu lượng thứ Trừng Hải tôi không trích dẫn nguyên văn do việc đánh máy tiếng Ăng lê nó…phức tạp với mỗ tôi quá do bởi mới tiếp cận với kỹ thuật điện toán( mà ngày hôm qua khi đánh một đoạn tiếng Phờ răng xê mà mất gần nửa tiếng? hề hề), lượng thứ lượng thứ. Đa tạ đa tạ

Gửi bởi quantro 
Chào bác Trừng Hải Từ đầu tới giờ Quán Trọ đưa tay mời bác bắt tay mà bác lại
Theo Quán Trọ nghĩ những thể hiện của bác chẳng phải tỉnh giác mà là kiểu(ăn cơm đi trước, nội nước theo sau) chẳng được như bác Tuấn Tú. Bác cứ ngồi ngoài đoán già đoán non và bây giờ bác cũng phải chìa tay ra.
Những lời trên đã thể hiện điều đó! Và những lời bác nói chỉ là ngụy biện, nhưng sự thật vẫn là sự thật (lá vàng về cội là điều hiển nhiên) bởi vì lá có rơi vào chỗ nào đi nữa thì cũng về với đất mà thôi.

Bác nghi sao khi bác Tuấn Tú phải thốt ra
Còn Bác Trừng Hải chỉ Nghi nghi, hoặc hoặc, phân vân, rồi cơ sảo luồn lách thật giống ông anh của Cừu Thiên Nhận đó còn gì!

Bác cứ bàn đi đâu vậy đã thấy được cái ý của Quán Trọ gửi trong câu hỏi không! hay là bác lại tùy cơ ứng biến luồn lách. Bác viết toàn lời đao to búa lớn nhưng chẳng chứa đựng được gì chẳng rút ra được gì!
Câu hỏi “lá vàng rụng thì về đâu” vẫn còn đó bác vẫn chưa trả lời mà!(nhưng chớ có dùng lại câu trả lời của Quán Trọ nhé).

Nói như thế này thì Bác vẫn chưa hiểu cái bánh bột hồ của ngài Vân Môn rồi!

Nếu bác muốn hiểu thì hãy trả lời câu hỏi của Quán Trọ đi! “lá vàng rụng thì về đâu?” Mời bác Trừng Hải! 

TRỪNG HẢI

   
Chào đạo hữu quantro, đạo hữu có gì trong hồ lô thì cứ…phun ra hết đi để mỗ tôi còn biết đường mà…chạy. Chớ, hêy dà, đạo hữu cứ lá vàng này lá vàng nọ rồi cứ dứ dứ…hai cái bánh bao trước mặt mỗ hoài thì…ngại quá. Hề hề, hay lá vàng của đạo hữu giơ cọng gân lá lâu nay ép trong trang nhật ký đời…quantro và bánh bao ế không có ai mua sao mà cứ đem ra…dụ mỗ hoài dzậy??? Hêy dà còn đồng cuối cùng để dành mà cũng phải đem xài, đạo hữu thiệt là…chủ quán trọ. Hêy dà, …hề hề.


Thân chào.
Gửi bởi quantro 
Chào tất cả mọi người chào bác Trừng Hải
Có vẻ Bác Trừng Hải cũng ngán ngẩm lắm rồi. Quan Trọ đành phun ra hết vậy!
Ở đây chỉ có Bác Tuấn Tú là hơn hết cả!
Bác Trừng Hải nghĩ thế nào về câu “trực tâm là đạo tràng”
Ở đây có ai trực tâm nào? CHỉ có bác Tuấn Tú mà thôi! còn lại toàn là đứng ngoài nhòm ngó nghĩ sằng nghĩ bậyCái gì mà buông mới chả nắm cơ chứ! lại còn câu này nữa.
Nếu trực tâm sao không vào trả lời lại còn hoan hô Quán Trọ. Bác Chùa Phước Thành cũng có vẻ tinh mắt nhỉ
Câu hỏi của Quán Trọ là để thử xem ai có cái hạnh trực tâm ăn ngay nói thẳng không sợ đúng sai. Mà có sai thì mới biết đường mà sửa.
Nếu tâm không ngay thẳng, mà chỉ quanh co thì làm sao mà tu đây. Dù có ôm một bụng kinh thì cũng chỉ là nhai lại.
Tất cả những thứ trên cũng chỉ là của người khác không phải của bác Trừng Hải vì đâu có hiểu cái bánh bột hồ của Ngài Vân Môn
Thật là điên đảo. Muốn lập cước thì hãy bắt đầu ở cái hạnh trực tâm ấy!
Bác Trừng Hải à đường thẳng không đi sao phải đi quanh đi co vậy nhọc công nhọc sức.
Nói theo kiếm hiệp thì đã vào trong chận đấu liệu có thời giờ để suy nghĩ không, chỉ cần phân vân tí thôi là đã mất đầu rồi. Bánh bột hồ của Vân Môn là đã nhân đạo lắm rồi!
vui vui tí thôi Nhường bác Trừng Hải hô phong hoán vũ.

TRỪNG HẢI

Từ Bi Hỷ Xã



Chào quantro, đôi lời với đạo hữu:
_ Trong đối đáp thiền, phàm trước khi trao đổi bằng thiền ngữ thì phải biết tông phong của đối phương bằng cách hỏi ví như “…từ đâu đến?” hay “…dưới trướng của ai…” hay “Như hà thị tổ sư tây lai ý?”…Nên mỗ tôi đã hỏi quán trọ của đạo hữu mấy sao? (Qua việc hỏi nhà cửa, cửa trước trong…) mà đạo hữu không chịu trả lời (chứng tỏ không có thành tâm hỏi) rồi lại còn hỏi ngược lại để…nằm phần chủ động cho mình (nói về vấn đê mà mình ưa thích!!!) nên mỗ tôi mới làm bài kệ nói về thân lục căn (tức năm cửa ngoài, một cửa trong với ông chủ là ý thức, tà kiến và vô minh do Ý) kế xảo mà đạo hữu cũng không trả lời mà cứ khích bác Trừng Hải này nên Trừng mỗ này mới không đáp; bây giờ lại nói mỗ này không…chánh trực tức không có lập cước bởi lập cước là đạo tràng thì cũng…oan cho mỗ tôi, một người mỗi ngày chỉ dám dộng chuông mà ngưỡng xin Mười Phương Chư Phật hiển tướng huyền tác vi để người người giữ vững hùng khí thanh phong về việc Quy Y và Thọ Giới. Nhưng cũng chả sao, ai bảo…gần con nít thì phải nghe nó nói…líu lo, cũng như hạt mưa vô tình rơi vào vũng nước thì cũng phải chịu nghe vũng nước nó nói…hạt mưa chưa đi xa hơn nó (trong khi mưa thì luân lưu cả trần hoàn bốn bể!). Mới goi là lòng khoan dung của người Phật tử.
_ Chuyện ngang đó thì ngừng lại cũng được nhưng bởi, đạo hữu lại còn mạnh mồn khuyên Trừng mỗ này đừng có đi đừơng cong, quanh co vừa thể hiện cái biết chỉ…vài dòng (trong một quyển Kinh) vừa tỏ lộ cái giáo dục nhân văn hoang hóa, tức hô hào đạo đức mà tay súng tay đao còn…mồn thì la hét thằng nào không hoan hô đạo đức tao…bắn bỏ mẹ (Xin lỗi quý hữu, từ không nhã nhặn lắm những nó đúng như…thật nên buộc lòng mỗ tôi phải dùng) thì thật là…phá hoại tông phong nhà Phật nên mỗ mới nói thêm những lời sau. Bởi, chữ Đạo Tràng nó thật vô biên vì chính là nơi Vô Khứ, Vô Lai hay Vô Khứ Lai mà mỗ tôi đã từng nói( Đọc Duy Ma Cật sở thuyết Kinh, chương Bồ Tát – Thầy Tuệ Sĩ, Việt dịch) mới hiển được Chánh Lý Viên Dung Vô Ngại của Phật Bảo, Pháp Bảo mà hiện tướng Từ Bi Hỉ Xã để giáo hóa chúng sanh, chớ không có…cực đoan như các tôn giáo khác hay loại tôn giáo giả hiệu mà quantro mấy ngày nay…phéc lác đâu???

Nếu vẫn còn có chút lương tri quy hướng về Pháp Đạo thì xin hãy im lặng mà nghĩ suy những lời Trừng Hải này phân tỏ, bằng không thì từ nay mỗ này xin nói “Cáo từ” mà lòng nghĩ “Thật đáng thương thay”.

Thân chào


TRỪNG HẢI

Vấn Lộ Bạch Vân Đầu

Gửi bởi Tuấn Tú 

Bác Trừng Hải đâu rồi nhỉ! Mượn bài thơ của thiền sư Vô Chuẩn Phạm tặng “cửa hàng” của bác này:

Cửa hàng rộng mở anh thấy không?
Người mua thì ít, kẻ xem đông
Sử dụng rất rành “Suy Mao Kiếm”
Cất thoi chẳng dệt, dệt sao xong.

Bác định “cất thoi” không dệt cho tác phẩm của mình thêm hoành tráng sao?

Kính chào bác Tuấn Tú, 
Chánh Lý Viên Thông – Thỏng Tay Vào Chợ, Thế Sự Đa Đoan – Phát Tràng Trường Tiếu, Tâm Viên Ý Mã – Kẻ Ở Người Đi, Nhân Diện Tâm Dã – Tịch Ngôn Nhất Nhất, Bi Hỉ Ly Hợp – Muôn Sự Thị Huyễn. Cho nên Bố Đại Hòa Thượng tuyên ngôn:


Nhất bát thiên gia phạn
Cô thân vạn lý du
Thanh mục đỗ nhân thiểu
Vấn lộ bạch vân đầu.



Ai ai cũng nghĩ “Hỏi đường mây trắng bay” biểu thị vẻ tiêu dao thế tục, nhưng với người cô thân chích ảnh trên lộ tử sinh tích trữ tư lương chờ ngày xuân đáo thì liễu ngộ nghĩa nhân gian đâu có đường đến nơi Tứ Đại Vô Đình Trú do bởi, tuy có Niết Bàn nhưng không có người nhập Niết Bàn, có con lộ dẫn đến nơi vô trú những không có người đi trên lộ dẫn đến nơi vô trú. Nên, ngày xưa Bố Đại Hòa Thượng cũng phải gãi đầu gãi tay (do không có tóc, hề hề) đứng chờ người hữu duyên nơi quán trọ trần gian suốt một trăm năm dài đến khi…”điên điên” mà cũng không người “thị tâm vô đình trú” nên phải rời bỏ đất con trời (thiên tử) về lại núi Hima(lạp sơn) mà gặp người Vô Trước. Cũng vì vậy, đến tận ba trăm niên sau khách hành hương Huyền Trang phải khăn gói lên đường tây du mà tìm cầu…Bố Đại Hòa Thượng thì cũng phải ngậm ngùi cho nhân gian vô tri mà lòng ngưỡng ngưỡng cám phục với tâm vô lượng tôn kính chư vị Đại Sĩ…hóa trần duyên. 


Ôi, người xưa quả thật lẫm lẫm liệt liệt nên chí muốn noi gương mà sao, trời mới mưa chút đỉnh đà ngại đường trơn té ngã, bởi nhân gian ngày nay không có sợ…gãy tay gãy chân mà chỉ sợ…dơ quần dơ áo mới làm lòng người chí ngưỡng tê tái, bi ai bởi xưa nay chưa hề tin thời…mạt pháp. Vậy mà cái…thời mạt pháp cứ diễu diễu giương giương không chút suy suyễn dù kiếm đã vung cả ba phương bảy hướng (bởi cũng vì lòng bi mẫn nên chừa lại một đường cho người đi để còn chút…nhân tánh nên không hề tận tuyệt xuất tuyệt chiêu bức người vào chỗ…hổ ngươi dù nghĩ rằng người chưa chắc biết …hổ ngươi) dù kiếm vốn bất hại nhưng cũng cuồng phong bạo vũ (mà lời người xưa nói rằng đây là kiếm quỷ thần kinh) để người sợ mà quy hướng về thiện sự mà nó vẫn trơ trơ mới chán cái…sự đời nên về liêu trai làm một giấc…thụy thiền của sư tổ Trần đoàn Hi Di (đây chỉ là quyền nghi trước thế sự đa đoan điên đảo) vì nghĩ rằng sức còn hạn chế.


Nhưng, như động tàn thì xuân đáo vì vẫn còn một đóa Nhất Chi Mai vương vương sương mai cười…mím chi(?) nên hùng khí thanh phong lại bừng bừng càn khôn nghiêng ngã, xá gì một chút bụi vương…mắt (vì đã có thuốc nhỏ mắt…Rotho mua sẵn để gỏ…bàn phím điện toán toàn cầu) mà phải sụt sùi cho cái…sự đời, cái gì nó vô duyên thì cứ để đó cho người siêu vượt…hùng khí thanh phong đem lại hữu duyên nên, sáng này tiếp tục dộng đại hồng chung, tuy tiếng hữu tình mà thanh vận lại vô tình những vẫn ngưỡng ngưỡng cầu mong huyền tác vi cho người giữ vững hùng khí thanh phong oai phong lẫm lẫm đá văng đi mọi cấu trần nhân gian mà nương theo Chánh Đạo cho đến ngày an nhiên tự tại giữa thời mạt pháp mà du hí Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới cho đến lúc về nơi Như Nguyện. Mong lắm thay, mong lắm thay.


ĐỒNG KÍNH. Hề hề
TB: Bác Tuấn Tú, Ngày xưa…gãy súng mà rơi lệ; Lệ uất kết NGỌC nay thành…Lưu Ly. Xếp chiến bào xưa ngày du thụy; Nhành liễu dương buồn khói súng vương. Cuối trời một đóa xuân khai nụ; Viễn viễn xa rồi chinh chiến ơi.
Kính đồng chí đồng ngộ…

TRỪNG HẢI

 Khứ lai là gì? Khái lược (cont.)

KÍNH LẠY THẾ TÔN, ĐẤNG THOÁT VÒNG PHIỀN NÃO, BẬC CHÁNH ĐẲNG CHÁNH GIÁC.
Cầu xin cho chúng sanh an lạc, đồng giải thoát, đáo Niết Bàn.

A Lai Da Duyên Khởi (cont.)

_ Kính thưa quý hữu, như đã nói trước, theo luật câu sanh duyên khởi thì Không Trí tức Từ Bi Trí Huệ và Hiện Tướng vốn đồng sanh bởi là một thực tại đồng nhất, nhưng do bởi vọng tưởng, tà kiến nên nó bị chia cắt bởi một hố thẳm vô minh nên Thức không chuyển được thành Trí. Vậy con đường tu hành của chúng ta cũng chỉ là xóa bỏ phiền não, tà kiến và ái dục để Trí Bồ Đề đồng nhất thực tại tức là tâm ta.

Đạo Hạnh của chư Đạo sư thượng thừa thượng thủ trong Câu Sanh Khởi Thừa là gì?

Kính thưa quý hữu, như đã đề cập trước, với những ai phát nguyện Bồ Đề Tâm nhưng do không thuận lợi với phép Tối Thượng Thừa chỉ dành cho bậc thượng căn thì chính Câu Sanh Khởi Thừa là cảnh sở hành giúp cho những vị này thâm nhập Không Trí qua việc khai thông các luân xa-chandra để xóa tan hố thẳm ngăn cách bước vào Pháp Giới vô biên của Mười Phương Chư Phật. Vậy chư vị đạo sư thượng thừa thượng thủ đã công phu đạo hạnh bằng diệu pháp nào??? Và các phẩm hạnh này vốn cũng đã được phép tiết lộ nên Trừng Hải chỉ làm công việc nhắc lại mà thôi, và sẽ được trình bày qua các nền tảng lý luận sau:
_ Như ta đã biết nhận thức của chúng ta tức lượng, theo chư cổ đức, bao gồm ba loại:
Hiện lượng: đó chính là nghiệp tướng của chúng sanh trên thế gian vô minh tối đen.
Tỷ lượng: đó chính là các phép suy luận của ý thức tạp nhiễm như, Tam đoan luận Airistotle mà Trừng Hải đã trình bày ở phần “Sanh tử là gì?”
Và Thánh Ngôn Lượng tức Phi Lượng: đây chính là kết quả Đạo Hạnh mà chư vị Đạo Sư thượng thừa diệu thủ đã công phu xóa hố thẳm ngăn cách bằng cách “bắc cầu” để Trí Bồ Đề hiện cho chư vị đệ tử có phẩm hạnh thanh tịnh. Và đây là cảnh giới tâm sanh tức nhận thức.
_ Như ta đã biết ở mỗi một chúng sanh vô tri bất tri Chánh Đạo có Bát thức gồm A lai da thức, Mana, Ý thức và tiền Ngũ thức trong đó A lại da thức, Mana thuộc trước tâm vốn có tướng những do nghiệp lực nên ý thức không biết đến sự hiện diện của nhân tướng mà bất tri nhân duyên gây ra quả tức ác sự mà tạo quả nghiệp mà luân lưu theo dòng nghiệp lực khởi từ vô thỉ…đến nay và tiếp tục đến vô chung nếu không tự mình “tỉnh dậy đi, hãy rời cơn mộng bé”. Và chư vị đạo sư thượng thừa diệu thủ sẽ công phu qua như sau:
Mana: giữ cho căn phù trần đình chỉ, khởi căn thanh tịnh của ý căn tức năng duyên thanh tịnh.
A lại da thức: Như ta biết A lại da thức là nơi chứa các chủng tử thức thuộc dị thục thức gây ra quả bao gồm ba phẩm tánh bằng hai tướng và một tánh sau:
Dị thục thời: quả sanh khác thời tức các quả thuộc bất định nghiệp.
Dị thục loại(tướng): quả sanh khác loại, được chư cổ đức ví như trái cây trước xanh sau vàng.
Dị thục biến dị, tức tánh: được chư cổ đức ví như trái cam trước chua sau ngọt; sự thay đổi này thuộc về tánh nên là sự thay đổi vĩnh viễn (như khái niệm biến dị của sinh học hiện đại), và chư vị đạo sư thượng thừa diệu thủ sẽ công phu bằng đạo hạnh để khởi sanh tự tánh này ở A lại da thức, và chủng tánh này sẽ mang Trí Bồ Đề của chư vị đạo sư mà sanh Phi lượng tức Thánh ngôn lượng mà thấy rõ chướng ngại của tâm mà viễn ly, mà khai thông các luân xa mà bước vào Pháp Giới thậm thâm của Mười Phương Chư Phật.
Kính thưa quý vị, bây giờ thì mọi vấn đề đều hiện rõ, chính nhờ Đạo hạnh của chư vị Đạo sư thượng thừa thượng thủ Câu Sanh Khởi Thừa sẽ giúp cho các đệ tử có căn cơ không phù hợp với phép Tối Thượng Thừa khai thông các luân xa, viễn ly vô minh gây ra bởi hố thẳm ngăn cách bởi vọng tưởng, tà kiến mà Đạt Bảo Cáp Giải đã nói ở trước mà bước vào đạo lộ rộng thênh thang bởi nó vốn vô biên (giới) mà trước là tự lợi sau là lợi tha mà hoàng truyền Chánh Pháp, cứu độ chúng sanh, mà cầu mong ai ai cũng an bình, đồng giải thoát mà đáo Niết Bàn, con xin đảnh lễ Bồ Đề Trí, nhờ chuyển bát thức thành Đại Viên Kính Trí, Bình Đẳng Tánh Trí, Diệu Quan Sát Trí và Thành Sở Tác Trí có Pháp Giới Thể Tánh Trí ở trung tâm là Bí Mật Huyền Pháp của Câu Sanh Khởi Thừa và Chân Ngôn Thừa phát tích từ Ấn Độ thuộc Du Già Hành Tông.

KÍnh thưa quý hữu, bởi đây chỉ là khái lược, nên Trừng Hải tôi chi nói sơ lược về các phẩm tướng thuộc A lại da thức duyên khởi, chớ thực ra nó rất rất huyền diệu, thậm thậm biến hóa, thập thập diệu dụng mà bội phần hữu hiệu gấp cả hàng trăm ngàn, triệu lần khoa học thực nghiệm mà chúng ta ngày ngày tán phục trước văn minh phương Tây và Trừng mỗ này không có nói…dóc đâu. Đây chỉ là đôi lời thuật lại bởi chỉ ngưỡng mong nơi nơi đều giữ vững hùng khí thanh phong trên bước đường tu hành để rồi chư vị cũng sẽ có ngày chứng kiến bằng chính mắt thịt của mình những cảnh giới vi huỳền diệu khi nương theo Chánh Đạo mà lên đường Đại Bát Nhã Ba La Mật Đa; là điều mà Trừng Hải tôi hằng cầu xin HỒNG PHƯỚC VÔ BIÊN của MƯỜI PHƯƠNG CHƯ PHẬT sẽ huyền tác vi nơi quý hữu đồng chí nguyện QUY Y và THỌ GIỚI. Mong lắm thay, mong lắm thay.

Các quý hữu có thể nghiên cứu thêm về luân xa trong các bài ghi lại lời thuyết pháp của Đạt Lai Lạt Ma đã được chuyển dịch (hay nguyên bản) mà Trừng mỗ thấy có bán trên thị trường VN cũng như các tác phẩm khác của chư vị có trọng trách trong Phật giáo Tây Tạng quốc về Tantra thừa.

NHƯ LAI TẠNG DUYÊN KHỞI:

Bây giờ, thưa quý hữu, Trừng hải xin viết tiếp về Như Lai Tạng Duyên Khởi để kết thúc bài viết “Khứ Lai là gì? Khái lược” rồi sẽ đến tiếp phần “Tuyệt lộ là gì?”. Như Lai Tạng Duyên Khởi thì thập phần biến ảo, vi diệu sâu xa, hằng hằng hiển lộ Vi Diệu Công Đức Bát Khả Tư Nghì mà phổ biến cho chúng sanh có chí hướng về Chánh Đạo bởi đang cầu mong đến ngày giải thoát, đáo Niết Bàn. Hôm nay xin tiếp tục dộng một tiếng đại hồng chung không phải là phổ thỉnh nhưng cũng bừng bừng bạo vũ kinh phong mà xóa tan đi mọi u mê hiện tướng giả danh là Chánh Pháp đang hoàng hành bá đạo, ngang nhiên diễu diễu dương oai, tuy nhìn có vẽ bạo hùng nhưng thực ra thì thô sơ mà yếu đuối nông cạn, như lau sậy, cỏ dại bé nhỏ chỉ cần một trận mưa lớn, gió to là đủ trốc gốc rồi quét phăng sạch bách vào…thùng rác đại dương để trả lại đồng xanh cỏ mượt dưới bầu trời vạn lý không mây mà hiển tiếng đồng vọng giữa thảo nguyên bát ngát. Bởi do là tiếng thảo nguyên đồng vọng nên những kẻ vô tri cho là không có tiếng vọng(écho) bởi đâu có đủ điều kiện vật lý mà gây ra tiếng vọng; nhưng thưa quý hữu, Trừng Hải tôi xin nói rằng, tuy không có đủ điều kiện gây tiếng vọng những vẫn có tiếng vọng bởi âm đồng vọng vốn có từ nghìn xưa hồng hoang vừa nụ, tuy chỉ có người hữu tình nghe thấy, chớ kẻ vô tri bất tri Thánh Đạo thì làm sao thấy cảnh giới vi huyền diệu được, những người hữu tình xin kể lại để quý hữu thỉnh lãm nghe chơi mà ngưỡng mong ai ai cũng nảy tín tâm ngày càng sâu dày mà cười ngạo nghễ chúng ma múa rối, (mà khổ một nỗi chúng ma lại tưởng mình đang múa kiếm quỷ thần kinh mới hí tiếu nực cười người đi trên kiều thượng!), thì cũng đủ cho người dộng chuông mỉm cười mãn nguyện để ngày ngày tiếp tục…dộng chuông, hề hề. Kính báo kính báo. Hề hề.

Khứ Lai là gì? Khái lược (cont.)

KÍNH LẠY THẾ TÔN, ĐẤNG THOÁT VÒNG PHIỀN NÃO, BẬC CHÁNH ĐẲNG CHÁNH GIÁC
Cầu xin cho chúng sanh an lạc, đồng giải thoát mà đáo Niết Bàn,

NHƯ LẠI TẠNG DUYÊN KHỞI (Cont.)

Kính thưa quý hữu, trước khi đi vào giải thích chữ Khứ Lai trong NHư Lai Tạng Duyên Khởi, Trừng Hải xin nói qua qua về chữ Như Lai Tạng.

Theo kinh luận thì Chân Như ở trong phiền não thì được gọi là Như Lai Tạng; Chân Như mà thoát phiền não thì gọi là Pháp Thân. Và trước khi đi vào chủ đề này mỗ tôi cũng xin quý hữu đọc lại Kinh Thắng Man Phu Nhân va Lăng Già Tâm Ấn Kinh là hai bản kinh đã được Phật Đà tuyên ngôn về Như Lai Tạng.
Theo nghĩa chữ thì chữ “Tạng” gồm có ba nghĩa:
_ Nơi chứa đựng, thu nhiếp; có nghĩa nơi chứa đựng tất cả vạn pháp chân như (vạn pháp nhất như) nhưng do hòa hợp hay không hòa hợp mà sinh ra nhiễm pháp tức vô minh hay thanh tịnh pháp tức tinh minh (thuộc tâm ta). Chữ hòa hợp đây theo Lăng Già Tâm Ấn có nghĩa là “Ba sự hòa hợp” và “Ba duyên hòa hợp”.
_ Ẩn dấu; khi chân như ở trong phiền não bị phiền não che lấp mất đi công đức bất khả tư nghì của Mười Phương Chư Phật, tuy nhiên nó chỉ che đi mà không làm mất tính chân như.
_ Nuôi dưỡng; do nó chứa đựng mọi Vi Diệu Công Đức Bất Khả Tư Nghì của Mười Phương Chư Phật.
Ngoài ba nghĩa trên còn thêm nghĩa mọi lời dạy của Phật Đà được kết tập thành Kinh Tạng cũng được gọi là Như Lai Tạng.

Kính thưa quý hữu, chữ Như Lai Tạng này thậm thậm vi tế, thập thập trừu tượng nên chỉ cần hiểu sai đi bằng một sợi tóc thì đã xa rời chân như, tức Hồng Phước Vô Biên của Mười Phương Chư Phật trong nháy mắt mà sa vào tà kiến nên mới được xếp vào chung giáo của Đại thừa và cũng vì vậy Trừng Hải thiết tha quý hữu hãy đọc kỹ lại hai bản kinh mà tôi đã giới thiệu ở trên trước hay sau khi đọc xong bài khái lược này để khỏi bước vào đường lầm lạc mà thường là do lời huênh hoang khoác lác bởi bất tri lý tánh Như Lai Tạng.
Chữ Như Lai Tạng này thuở ban đầu, theo thiển ý của Trừng mỗ, được xem như là sự kết hợp nhu nhuyến, cân bằng thiện xảo của hai tông Trung Quán và Duy Thức mà Ngài Huyền Trang sau khi Tây du trở về lại cố hương giới thiệu bằng chữ “Đại Ngã”; một danh tự quá ư “nhạy cảm” đã gây ra nhiều cuộc tranh luận thuở bấy giờ mà kết quả đại chúng bất phục, sau cũng phải dựa vào quyền uy vua chúa thiên tử Trung hoa thời bấy giờ mới tạm thời giảm đi; nhưng rồi lại đưa tới việc bất tương duyên kinh điển Ngài Huyền Trang chuyển dịch nơi quần chúng phổ thông (theo cái thấy của mỗ tôi) nên thưa quý hữu, nếu ai có đọc qua Hán tạng thì sẽ thấy các bản kinh cựu dịch được quảng bá rộng rãi hơn nhiều qua việc có rất nhiều bản sớ giải còn các bản dịch của Ngài Huyền Trang chỉ bơ vơ một mình Đại sư Khuy Cơ…gồng mình tán tụng những cũng chỉ được một hai đời rồi cũng chìm lĩm giữa dòng đời sóng nhỏ sông rạch chớ không phải sóng ba đào Đông hải thiên chấn địa chuyển với những bản dịch tuyệt tác y hiển nghĩa vạn phần tuyệt bích của Ngài Huyền Trang. Cho đến vào thời cận đại cuối thế 19 dầu 20 các Đại sư thượng thừa thương thủ như ngài Thái Hư, Phi Vân, Hư Vân…cũng đã nhìn thấy cái học bất đối xứng do nghiêng nhiều về Lý tánh mà bỏ quên đi Sự tướng của văn học Phật giáo Trung hoa mới ra sức xiễn dương, cải cách nhằm làm thay đổi thực trạng này cho đến hôm nay như đại sư Ấn Thuận…
Kính thưa quý hữu, quả thật ngày hôm qua mỗ tôi cũng đã suy nghĩ rất nhiều nhiều mà không dám viết tiếp liền liền phần Như Lai Tạng Duyên Khởi bởi nếu viết theo luận văn thường thường bậc trung thì không tán dương được chút nào về Hồng Phước Vô Biên của Mười Phương Chư Phật, mà viết theo ý…mỗ tôi thì dễ gây hiểu lầm mà gieo nhân xấu đưa đến lời huênh hoang vô lối cuồng si ngu ngốc bất tri Chánh Đạo nên thành ra Trừng Hải này lại “nối giáo cho giặc” mà mắc tội nói lời hoang đường vọng ngữ. Ôi, thật là nan hành thay bởi vốn cũng có ý bỏ ngang nửa chừng bằng việc chỉ giới thiệu sơ qua rồi…lặn, hề hề, nhưng lại thành mắc tội dối trá vì trót lỡ mời quý hữu thỉnh lãm trước rồi. Hêy dà, hêy dà. Hề hề.

NHƯ LAI TẠNG DUYÊN KHỞI (cont.)


Kính thưa quý hữu, ngày hôm qua Trừng Hải cũng đã nói sơ qua chữ Như Lai Tạng, bây giờ xin nói tiếp chữ Duyên Khởi.
Duyên khởi hay thập nhị nhân duyên gồm mười hai nhân duyên hay quả khởi đầu bằng Vô minh, hành, thức, danh sắc, lục quan năng-lục nhập, xúc, thọ, ái, thủ-hữu, sanh, lão tử, nó vốn là chuỗi diễn tiến vận động không bao giờ ngừng nghĩ nhưng không phải chuỗi dài liên tiếp mà tạo thành vòng tròn-luân hồi bao gồm quá khứ-hiện tại-tương lai cũng là cuộc đời một kiếp tha nhân chạy theo bát phong vốn là pháp bất tương ưng hành nên chỉ là huyễn hữu tức hoa đốm giữa hư không cho nên chưa từng ai sỡ hữu mà lại ngày ngày mong sở hữu mới gọi là u mê-vọng tưởng tức là vô minh chi mạc mà đó cũng chính là bị trị bởi Luật Duyên Khởi hay là chiều thuận của Luật Nhân Duyên. Phật Đà sau khi giác ngộ do bởi chứng đắc Tam Diệu Minh thấy rằng nếu ly rời Vô minh tức Không vô minh thì sẽ không hành, thức…và không có sanh tức Vô Sanh nên cũng không lão tử tức đời sống một đời tha nhân bi-hỉ, ly-hợp, hơn-thua, được-mất, danh thơm-tiẽng xấu, lời khen-tiếng chê là không, tức sanh tử là tuyệt lộ, mà Khứ Lai cũng tuyệt tích. Bởi khi đắc Vô Sanh thì chấm dứt Lão Tử tức chặc đứt luân hồi nên pháp hữu vị tuyệt tích gọi là Pháp Nhẫn hay Sanh tử khứ lai là tuyệt lộ tức Vô Sanh Pháp Nhẫn.


Kính thưa quý hữu, ngay lúc này chắc quý hữu cũng thấy Như Lai Tạng Duyên Khởi cũng không khác gì Nghiệp Cảm Duyên Khởi vì đều có cứu cánh sanh tử khứ lai là tuyệt lộ; nhưng tiếp theo sau thì người phát Bồ Đề Tâm tiếp tục đi theo con đường Bồ Tát Đạo mà không đắc các Thánh Quả nhập Niết Bàn như chư vị xu hướng Tiểu thừa. Nên ngày xưa chư vị cổ đức thường gọi Tiểu thừa là “Tiểu Nha Bại Chủng” tức chỉ là cành con lá bé nên chỉ có ý nguyện nhỏ (tiểu nha) mà làm Chủng Tánh của Như Lai tức Như Lai Tạng không tiếp tục được phát triển (bại chủng) cho đến ngày đắc thành Phật Quả.


Kính thưa quý hữu, nếu ngang đây mà chấm dứt bài viết thì cũng quả là đơn giản chứ có chi gọi là…Chung giáo nhưng theo Trừng Hải tuy nhìn vậy mà nó không…phải vậy (hề hề, theo như ngôn ngữ hiện đại hoang hóa ngày nay). Bởi chỉ với vài dòng nói về Duyên khởi, Không, rồi Vô Sanh Pháp Nhẫn tức Sanh Tử Khứ Lai là tuyệt lộ thì cũng thật…đơn giản nhưng khi triển khai thì vạn vạn phần biến ảo, thậm thậm phần vi tế, mà bác đại tinh thâm mà tung hoành ngang dọc cả càn khôn vũ trụ nơi nơi hiển bày lẽ huyền vi bất khả tư nghì mà duy chỉ có hai chữ “Duy Thức” và “Tánh Không”. KÍnh thưa quý hữu, ngày xưa lúc đang còn…du học ở THiên TRúc, Ngài Huyền Trang đã dung hòa tuyệt xảo cả hai Trung quán và Du già mà viết nên Hội Tông Luận bao gồm 3000 bài tụng rồi từ đó triển khai trong các cuộc thảo luận hay…đấu luận với các học giả ngoại đạo hay các tông phái Phật giáo khác đều thường thường chiếm ưu thế. Lẽ dĩ nhiên tức vốn nó vậy, Trừng mỗ tôi cũng không phải hạng hoang tưởng đến mức…điên điên hay cuồng ngạo quá đáng mà nghĩ đến chuyện…bắt chước Ngài Huyền Trang nói về chuyện dung hòa Duy Thức và Tánh Không nhưng cũng xin trình bày với chư vị một mẫu lý luận nhỏ gọi là phần nào cho thấy sự ảo diệu, huyền vi không bút nào tả xiết của Phât giáo Đại thừa ngày xưa xiển dương Chánh Pháp của Phật Đà mà từng trên chuyển càn khôn ………, uy danh hiển hách nghiêng trời lật biển cho đến tận ngày nay các vị đại bác học ở các nước Âu Mỹ cũng ngày ngày nghiền ngẫm, đọc tới đọc lui, phân tích thực nghiệm nhằm tìm ra tánh dụng mà thảo nội dung các phương sách chiến lược nhằm phục vụ cho đất nước của họ; mà với Trừng hải này đó chỉ là phó phẩm phục vụ đời sống một đời khổ đau tang tóc không đáng phải bỏ bao công sức chỉ để được cái gọi là lưu danh thiên cổ hay tìm chút ít giàu sang bạc tiền thoáng chốc bởi khi ta chết đi ngay tên gọi của ta còn không giữ được thì xá gì vật ngoại thân. Kính báo kính báo.


Kính thưa quý hữu, ngày xưa khi sang Thiên trúc Ngài Huyền Trang đi đến đâu cũng đều được người người quý mến nhất là các bậc vua chúa, quyền thế và thậm chí cả các bậc đại sư cao trọng trong Phật giáo. Sở dĩ Ngài được mọi người quý mến vì cái gì cũng…tuyệt hảo, tướng mạo cao lớn phương phi (hình như gần 1,8m), đi đứng oai nghi, mật hạnh như hương thơm bay ngược chiều gió mà tỏa bốn phương, đa văn bác học mà khiêm cung (quý hữu nên nhớ tuy người Tàu hay nói Ngài qua THiên Trúc chỉ để học Du Già Sư Địa Luận nhưng thật ra đây chỉ do người tàu muốn che dấu nền văn học nước tàu ít nhiều khiếm khuyết vào thuở ấy vì sang Thiên trúc Ngài vốn học rất nhiều môn vì Ngài là đại bác học đa văn đọc đây nhớ đấy chỉ qua một hai lượt) hề hề, vậy mà ngày nay ít bậc tiểu nhi nào lấy Ngài làm thần tượng??? Chỉ có thời cận đại có Ngài Hư Vân lấy Ngài làm kim chỉ vì Ngài Hư Vân khi đó cũng muốn hành hương sang Đất Phật nên ngày ngày tập trèo đèo lội suối mà thức ăn chỉ vừa đủ để sống…sót vì ngài cũng là người to lớn mạnh khỏe như…hộ pháp; cho đến khi gặp bậc thượng thừa Thiền tông chê trách Ngài sống như dã tăng mà Kinh Điển thời ấy cũng đã như trời cao muôn trượng bể sâu khôn dò đọc không hết thì hà cớ gì phải tây du nên từ bỏ mà bước vào cửa Thiền (hề hề, tự dưng nhảy qua nói Ngài Hư vân, hề hề, già rồi già rồi, hề hề). Ngài Huyền Trang khi đến gần thời gian quay trở lại cố hương có làm theo yêu cầu của vua Giới Nhật Vương tức Harsha(?) là đứng ra làm chủ tọa trong một buổi hội thảo với tất cả các học giả tôn giáo vào thời ấy bao gồm cả ngoại đạo lẫn Phật giáo ta; cuộc hội thảo kéo dài gần ba tháng(?) về tất cả yếu pháp toàn bộ nền học thuật Ấn độ thời đó. Có điều thưa quý hữu cuộc thảo luận này nó không có…lộn tùng phèo như ở…đại việt ta mạnh ai nấy nói mà vốn có nguyên tắc luận của học thuật Bà La Môn tức theo ngôn ngữ của…Đại Phạm Thiên, người sanh ra vạn vật trên toàn cõi tam giới tức là cuốn Tụng Luận-Monemonic Treatise. Tương truyền bộ sách này được Brahma truyền cho các vị deva tức chư thiên vào đầu mỗi nguyên kiếp và vì do Brahma truyền dạy nên người ta gọi là Phạm Thiên Thư (hề hề, té ra bút danh của tác giả bài “Ngày xưa…Hoàng thị…hề hề, Ngọ chôm từ tên gọi này??? hề hề), Đấy là một bộ sách cực…dày có đến một triệu bài tụng đã được chuyển ngữ là Pi-chieh-lo sutra do bị phiên âm sai. Tên đúng của sách là Vyaharasa, nghĩa là tổng luận về ngôn ngữ học dưới dạng kệ tụng. Sở dĩ được gọi như vậy vì vốn là ngôn ngữ chuẩn mực được dùng để chuyển tải vạn pháp(nếu có dịp Trừng Hải này sẽ viết bài nói về nguyên tắc thảo luận Phật giáo cho nó đúng…Phật giáo ta, hề hề) và sau khi đã thảo luận hầu hết với các học giả Bà La Môn thuở ấy Ngài có đặt ra một câu hỏi nhỏ đó là về câu chuyện người uống nước và chỉ có người uống nước tự biết nước nó…ra sao!!! Và Trừng Hải tôi xin viết lại dưới dạng chủ đề cho nó rõ ràng và đúng chuẩn mực như sau: Cái thấy biết y thật tướng (Chánh Tri Kiến) là cái thấy biết vắng bặt Năng Tri Và Sở Tri dụ như người uống nước thì chỉ người ấy “tự thấy biết” mà thôi; Và chính câu hỏi này làm các học giả Bà La Môn thời ấy gãi đầu gãi tóc, la lối om sòm cho rằng Ngài Huyền Trang nói…dóc vì bất khả trả lời. Và tiếp sau nữa Trừng Hải tôi xin lần lượt mở các cánh “cửa sổ” của Lăng Già Tâm Ấn Kinh, Thắng Man Phu Nhân Kinh và Thiên Thai Viên Đế để quý hữu thưởng thức cảnh giới NHƯ LAI TẠNG huyền vi bất khả tư nghì mà diệu dụng tác vi hiển bày như ngọc châu đang nắm trong tay người thành tâm quy hướng Phật Đạo do bởi y chỉ Lời Dạy của Phật Đà, mà ngưỡng mong quý hữu người người giữ vững hùng khí thanh phong nương tựa Tam Bảo mà thề nhất chí một lòng nương theo Chánh Đạo cho đến ngày Hồi Hướng hóa thân thành Thai Tạng Thánh Vị (Noãn vị) rồi tận mắt chiêm ngưỡng cảnh giới huyền diệu bằng chính nhãn nhục của mình mà khởi tánh dụng của bất nhị pháp môn. Một lần nữa trừng hải xin dộng một tiếng đại hồng chung tuy thanh âm hữu tình mà âm vận vô tình mà hằng mong quý hữu tương tư, tương tác tu hành cho đến ngày giải thoát mà đáo Niết Bàn. Mong lắm thay, mong lắm thay. Kính báo kính báo, hề hề

Gửi bởi Hắc phong 
Cùng thành viên trừng hải !

Hắc phong đã 1 lần sửa bài (chỉ sửa 1 từ nhạy cảm) của đạo hữu, với chú thích “Hắc phong sửa, để không ai nói trừng hải có bà con với C/Q”.

Thế mà đạo hữu đã cố tình phục hồi cụm từ “nhạy cảm” ấy.

Nay thay mặt Ban Tổng Quản, H/p khóa nick đạo hữu 2 ngày để cảnh cáo. Ở đây tuy là phòng Chat linh tinh, nhưng không nên gieo hoang mang trong lòng Phật tử.

Sau hai ngày, trở lại Diễn đàn, nếu đạo hữu còn lôi cụm từ này ra đòi “kêu oan” thì hình phạt sẽ tăng lên 4 ngày.

Với cụm từ nhạy cảm này, đạo hữu có lý của đạo hữu, dù đúng dù sai Diễn Đàn cũng không cho phép nói như thế về Giáo Lý Phật đà :

“sự ảo diệu, huyền vi không bút nào tả xiết của Phât giáo Đại thừa ngày xưa xiển dương Chánh Pháp của Phật Đà mà từng trên chuyển càn khôn ………, “

Xin nhắc lại D/Đ không luận Đúng hay Sai của cụm từ này, mà chỉ muốn nhắc đạo hữu, cụm từ trên rất “nhạy cảm” mà đoạn văn bản trên không cần thiết phải có cụm từ đó.

Sao ta lại có thể vì muốn “nói cho sướng miệng” mà gieo hoang mang cho Phật tử chứ ?

Kính mong đạo hữu dành ra hai ngày để nghiền ngẫm thêm.

Kính báo ! 
Phật pháp phải là ngọn đèn soi tỏ thế gian.
Phật pháp không thể chỉ là ngọn đèn màu dùng để trang trí.


 TRỪNG HẢI

Chào Phó Tổng Quản Hắc Phong,

Phó Tổng Quản nghĩ gì mà nói Trừng Hải này phải “kêu oan”!!!??? Mà phó Tổng Quản là người được giao việc quản lý diễn đàn thì phải nghiền ngẫm suy nghĩ việc làm của mình chứ sao lại bảo Trừng mỗ này “nghiền ngẫm” việc làm của phó Tổng Quản??? Há không phải nực cười lắm ru!!!???

Còn những lời như “…bà con với C/Q” hay “…gieo hoang mang cho Phật tử…”, “…không cho phép nói Giáo Lý Phật Đà…”.v.v. thì vì lòng vốn hằng lo sợ mà luôn xa lìa chuyện “tàm quý” nhưng lại là thành viên của Diễn Đàn Phật Pháp Online nên Trừng Hải này cảm thấy “Tàm Quý” thay cho phó Tổng Quản đó. Bởi vì,

PHẬT PHÁP vốn QUANG MINH CHÁNH ĐẠI, chớ không phải là ngọn đèn dầu leo lét như “Ế Muội”, mà soi sáng cả Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới, chưa một ngày lu mờ như những kẻ…”nhặt cát nhặt sỏi đá” mà cho là…trân châu bảo ngọc tưởng tượng ra đâu!!!

Vài lời thật tâm với phó Tổng Quản Hắc Phong chớ có mất lòng mà cho là lời “phỉ báng” rồi gieo nhân xấu nảy tư ý muốn xóa nichname trừng hải hay như…Câu tiễn Việt vương chờ thời đợi cơ. Hề hề, mà nếu có xóa thì Trừng Hải này không một chút oán giận mà còn nhẹ lòng vì không phải đã “quá lời” với người thành tâm QUY Y TAM BẢO.

KÍNH BÁO. Hề hề

 Gửi bởi Chiếu Thanh 
Giải thích chuyện gì ? Tô màu đỏ thì thấy đỏ, nếu tô màu xanh thì thấy xanh, thậm chí tô màu nền thì CT …vẩn thấy, có mất đi đâu!

Bởi ta “sanh sự” nên “sự tình” mới sanh.

Nếu không sanh sự, sự tình nào sanh.

 TRỪNG HẢI

Ta Thán Ca Khúc

Kính đạo hữu Chiếu Thanh,

Đạo hữu Chiếu Thanh, Trừng Hải xin thốt vài lời gọi là…tán ca đưa người về nơi…như dự đoán để trước là tiễn biệt sau là tỏ lời “Ta thán ca khúc” cho lời châu ngọc mà đạo hữu đã nhọc lòng chỉ con lộ đưa người về nơi “Long ẩn Côn Sơn” mà người vô tình cho là lời…vỉa hè, hay cà phê…bệt công viên tức ngồi xuống đất vì không có ghế, mà đâu cần có ghế bởi người nương cửa Thiền tông lấy bốn bể làm giường trời cao làm mềm ngày ngày ca hát với thanh phong minh nguyệt làm thú tiêu dao bởi đã gói càn khôn vào trong…túi áo. Hề hề,

Trừng Hải này hôm nay mới thấy được người mới lộ chút ít thiền duyệt mà đã như sấm sét chấn động diễn đàn tuy phải chịu khuất tất mà đi…”an dưỡng” (tuy Trừng mỗ này không biết đạo hữu về nơi chốn nào, dù biết chốn biệt ly là màn hình điện toán toàn cầu; hề hề, quả là thần long thấy đầu chớ không thấy đuôi). Và xin thật lòng ngưỡng mộ câu nói “Ưng vô sở sự – Tức tình vô trú” thật là kinh tâm động phách tuy chỉ đứng ngoài nghe mà lòng lâng lâng như đang lướt sóng ba đào kiến tư mà người đẩy về phía đạo hữu đồng thán phục kiểu lướt sóng như…Không mà Chiếu Thanh đạo hữu vừa hiển lộ cho Trừng mỗ xem chơi. Hề hề.

Quả là tuyệt diệu, tuyệt diệu. Khâm phục, khâm phục. Xin tiễn biệt người về nơi…vô định và xin hẹn ngày được đối ngữ để học được thêm nhiều điều tuyệt phách, quỉ thần kinh.
Kính bái, kính bái. Hề hề

 Gửi bởi cunconmocoi 

, nhưng theo cháu đó không phải là điều duy nhất đức Phật dạy cho chúng ta.

“Không vạch lỗi của người”

Còn nếu không có tâm “nhân ngã, bỉ thử”, mà vì muốn giúp cho bạn mình thấy lỗi để sửa thì hoàn toàn đúng với Chánh pháp Phật. Mặc dầu muốn giúp cho bạn thì cực hơn là thong thả tiêu dao.

Khi đức Phật mới thành lập Tăng đoàn, Ngài chưa vội đưa ra Giới Luật mà vẫn có người đắc quả. Càng về sau có những vị Tăng nói bậy làm bậy (nói bậy, làm bậy thì một là làm cho mọi người và Ngoại đạo nghĩ xấu về Tăng đoàn, khiến cho Tăng đoàn không thể tồn tại lâu được; hai là chuyện tu hành của vị Tăng ấy giống như là muốn “nấu cát mong thành cơm” vậy). Rồi có những vị Tăng phẫm hạnh thanh cao, đem những việc trái khoáy ấy trình lên với đức Phật LÚC BẤY GIỜ ĐỨC PHẬT MỚI KIẾT GIỚI.

Rõ ràng đức Phật đã không trách cứ vị Tăng “vạch lỗi người”, mà còn đưa vào Luật rằng “một tháng 2 lần, những vị du Tăng phải nhóm họp ở một địa điểm thuận tiện để “Tụng Giới” _ còn gọi là lễ Bố Tát.

Trong những buổi lễ Bố tát ấy, chư Tăng phải tự xem xét lại phẫm hạnh của mình, xem có sai phạm gì không, lại còn phải tha thiết thỉnh cầu Tăng chúng “ai có thấy tôi sai phạm điều gì, xin làm ơn chỉ dùm!”. Như thế một vị Tăng không có lòng nhỏ nhen tị hiềm “vạch lỗi đồng đạo để xây dựng” là một điều đức Phật khuyến khích.

Điều này chiếm hết 3 phần trong 6 pháp Lục Hòa : Thân hòa đồng trú, Khẩu hòa vô tránh, Ý hòa đồng duyệtGiới hòa đồng tu, Lợi hòa đồng quân, Kiến hòa đồng giải.

Người tu Phật chân chính, phải thành tâm “chỉ lỗi cho bạn mình” hoặc trực tiếp nói ra, hoặc gián tiếp dùng phương tiện thiện xảo để thức tỉnh bạn mình, điều này thực là đúng đắn.

Kính góp ý !

TRỪNG HẢI

Kính chào đạo hữu cunconmoco, do bởi bài viết trên của đạo hữu là bài góp ý nên Trừng Hải này cũng xin “Chân thành kính góp ý”, hề hề, hơn đạo hữu hơn đến hai chữ “chân thành”, hề hề.

Đạo hữu cunconmoco, Trừng mỗ đọc xong bài viết của đạo hữu mà cứ ngỡ như đọc biên bản một buổi biểu quyết của…chi bộ xã nông thôn ở vùng chưa có…điện??? Bởi có cái nhìn mơ hồ, nhập nhằng về việc sanh hoạt Chúng Tăng Già lẫn Luật Tạng của Phật Giáo ta qua việc gán ghép Lễ Bố Tát và Lục Hòa thành một, cùng với việc xen vào những tri kiến…mơ màng giữa xuất thế và tại thế tức Chúng Tăng Già và Chúng tại gia cư sĩ. Việc đáng lẽ Trừng mỗ này cũng không muốn chỉ ra làm gì những, qua việc trao đổi với đạo hữu minhdinh, vì một chút hữu duyên với đạo hữu cunconmoco cùng minhdinh nên mới viết bài này những mong quý hữu có cái nhìn sáng tỏ hơn về Giới Luật của Phật Pháp mà tự mình nghiêm khắc hơn trong việc đưa ra tư kiến đối với các sự việc xảy ra trong diễn đàn. Mong lắm thay, mong lắm thay.

Trước hết Trừng mỗ này xin xác định hai việc Bố Tát và Lục Hòa là hoàn toàn khác hẳn nhau bởi, Bố Tát là nghi lễ còn Lục Hòa là nghi thức sanh hoạt của Chúng Tăng Già, hoàn toàn không liên quan gì đến Chúng tại gia cư sĩ, bởi về Lễ Bố Tát ở cư sĩ tại gia là là Bát Quan Trai Giới chớ không phải Bố Tát còn về Lục Hòa thì chúng cư sĩ phải cung kính nương theo lời chỉ dạy của Quý Tăng Ni chớ không có chuyện bình đẵng trong thảo luận chỉ trừ trường hợp Quý Tăng Ni cho phép chúng ta phát biểu. Việc lậm vào sanh hoạt có tính “Phật Sự” của Chúng Tăng Già Thánh Giả của Chúng cư sĩ tại gia sẽ gây nghiệp quả u mê trăm ngàn năm kiếp kéo dài đó quý hữu. Xin chớ, xin chớ.

Trước hết Trừng Hải này xin đề cập đến Lễ Bố Tát:

_ Lễ Bố Tát trong Phật Giáo Nam Tông: (theo The Historical Buddha, của H.W. SCHUMANN, Việt dịch, cô Phương Lan; Trừng mỗ lấy tài liệu này cho quý hữu dễ tham khảo thêm, hề hề)
Được đề cập đến trong Mahavagga tức Kiền Độ, 2.1, gọi là Uposatha tức Bố Tát (Trai giới). Trước là đọc Giới Bổn tức Biệt Giải Thoát Giới sau khi xác định hội chúng thanh tịnh rồi đến việc tự thú nhận lỗi lầm và tác giả nhận xét, “Tập quán tụng Giới Bổn vẫn được duy trì trong các tu viện Phật giáo cho đến nay. Việc tụng ngihi thức sám hối tội lỗi định kỳ này không giống như các cuộc họp Tăng Chúng, vì các cuộc họp này nhằm mục đích xem xét các biện pháp cần ứng dụng. Các cuộc họp ấy được triệu tập khi cần thiết và hoàn toàn có tính cách quản trị hành chánh. Còn về phương diện khác, các nghi thức hành trì Giới Bổn vào ngày Bố Tát (Trai giới) là những buổi lễ giải tội trang nghiêm và tịnh hóa bản thân theo Giới Luật.
_ Lễ Bố Tát trong Phật giáo Bắc Tông (theo Tăng nhân Trung Hoa, Lý Phú Hòa, việt dịch Cao Tự Thanh)
Được đề cập đến trong Luật Tứ Phần.
Tên gọi Bố Tát cũng tương tự như Luận Tạng Nam Tông, từ tiếng Phạn Upavasatha, phiên âm là Ưu bà bà sa, nghĩa là Trưỡng dưỡng, Thiện túc…Tác giả ghi: “…Thông qua thuyết giới (tức đọc Giới Bổn), thúc đẩy Tăng Chúng tuân thủ giới luật, đạt tới sự trong sạch và hòa hợp trong nội bộ tăng đoàn đó chính là Bố Tát…Bố Tát chính là một chế độ lấy uy đức và sự hòa hợp trong tập hội cộng đồng (hề hè, bản dịch này nhuốm màu Đ. ta nên ngôn ngữ giống…y bong báo chí, hề hề) khiến tăng nhân vi phạm giới luật không thể không sám hội nhận tội, để duy trì sự đoàn kết nhất trí trong nội bộ tăng đoàn.”

*** Tóm lại Bố Tát là một nghi lễ về Giới Luật, sám hối ở những Tăng sĩ đã nhận biết tội của mình chớ không có cái việc: Tự giác, phê-tự phê, kiểm-tự kiểm thuộc “Tư tưởng Hồ Chí Minh” như đạo hữu cunconmocoi diễn dịch, lý luận (hêy dà, lại được bác Tuấn Tú vỗ tay cho là theo kinh điển??? hề hề) mà ngay cả một tác giả phương Tây cũng nhận xét là một buổi lễ rất mực trang nghiêm vì sự thành kính của nó.

Còn về Lục Hòa thì nghi thức thảo luận này được Phật Đà chế định ra sau sự việc chúng Tỷ Kheo ở Kosambi được đưa ra trong Sutta-Vinbhanga tức Kinh Sớ hay Luật Tăng Kỳ, trong trì giới về – Điều ngự các căn – Hành Chánh Mạng tức Khất thực( đây là để làm phước điền cho thế gian, xin quý hữu ghi nhớ, ghi nhớ mà đừng có lấy Lý thế gian xin-cho để nhìn mà phải lậm vào ác nghiệp hay nhẹ thì mất toàn bộ phước đức của chính mình. Xin cẩn trọng, cẩn trọng) – Và về Tứ Vật Dụng bên cạnh Biệt Giải Thoát Giới đề cập ở Lễ Bố Tát. Vì nhấn mạnh vào nền tảng thảo luận trong Tứ Chúng nên Trừng hải tôi xin phép được…diễn dịch tự do mà không cần phải trích dẫn gì cho mệt nhọc (Bởi, giới luật về Biệt Giải Thoát Giới là Giới Pháp do chính Phật Đà trao giới cho chúng ta qua việc Quý Tăng Ni quy y mà y chỉ lời dạy Phật Đà mà trao giới cho chúng ta qua buổi lễ Quy Y rất thiêng liêng chớ không có gì thuộc về thế gian lý sự trần tục tầm thường tràn đầy ô trược đâu quý hữu, nên chớ xem thường mà nghiễm nhiên tự cho chỉ là nghi lễ bình thường, việc đó vạn phần sai lầm, sai lầm. Xin nhớ, xin nhớ; ngưỡng mong quý hữu nhớ kỹ, mong lắm thay mong lắm thay).

Nền tảng của Lục Hòa chính là Giới Luật với Biệt Giải Thoát Giới đối với Tăng Chúng, Ngũ giới hay Thập thiện giới đối với Chúng cư sĩ tại gia gọi là Chỉ Trì Giới và Tác Trì Giới là Điều ngự các căn, đời sống khất thực và tứ vật dụng với Tăng Chúng, sống đời Chánh nghiệp, Chánh mạng và Chánh ngữ ở cư sĩ. Chúng hành hoạt qua bốn khoa gồm Pháp, Thể, Hành với Tướng. Như vậy, ở Lục Hòa gồm Thân-Khẩu-Ý-Giới-Lợi-Kiến (thứ tự thay đổi theo tôn phái hay Bắc, Nam tông) thì Lý tánh chiếm Tứ Hòa, Sự tướng chỉ chiếm Nhị Hòa nên Lục Hòa là Pháp hướng nội (hồi hướng công đức) hơn là hướng ngoại (tìm cầu phước đức). Cho nên nói Lục Hòa là giúp người thấy lỗi lầm của mình là cái thấy không y Chánh Pháp. Quý hữu có thể đọc kỹ Tạng Luật tạng Pali để am tường biện biệt việc vận hành Giới Luật.

Để làm rỏ ý khó giúp đỡ qua việc làm thuộc Sự tướng Trừng Hải tôi xin kể một câu chuyện sau, hề hề, cho nó sinh động trực quan. Chuyện kể rằng trong một gia đình giàu có nọ, hai vợ chồng chỉ có một người con trai nên rất cưng chiều quý mến. May mắn thay người con này bản tính rất hiền lành và thương yêu sanh vật. Cậu hay chăm sóc các con vật nuôi bị thương trong nhà và kỳ lạ thay chúng rất nhanh chóng làng bệnh. Cha mẹ cậu có ý muốn con phát triển tâm từ này(?) nên đã cho người giúp việc đi tìm những con vật nuôi bị thương tích về cho cậu săn sóc cũng như thông báo mua lại những con chim trời thương tích mang về cho cậu săn sóc. Một thời gian sau có rất nhiều người đem những con chim trời gãy cánh, gãy chân đến cho cậu săn sóc, dĩ nhiên sau đó họ nhận được tiền…trà nước, hề hề. Rồi ngày càng có nhiều người đem chim đến nên cha mẹ mới đi tìm hiểu (hề hề, chắc thấy…tốn tiền quá?) mới…ngã ngữa ra là dân chúng quanh vùng đi…bắt chim rồi bẻ gãy cánh, gãy chân xong mới đem đến nhà họ để lãnh thưởng (hề hề, còn được tiếng thương…chim).

Đồng kính, hề hề.


   
   

   
   

   
user-offline-1

Sanh tử khứ lai là nơi tuyệt lộ (TRỪNG HẢI ) 2 tiếp theo

TRỪNG HẢI

Nhân diện bất tri tâm hà xứ-Đào hoa y cựu tiếu đông phong

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Nam Mô Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật. Nam Mô Địa Tạng Vương Bồ Tát. Con xin đảnh lễ Mười Phương Chư Phật. Đồng cầu xin chúng sanh được giải thoát, và con được bình an khi giao duyên với chúng sanh thập loại.
____________________
____________________

Kính thưa quý hữu, đông tận thì xuân đáo tức đến hẹn lại lên (sao vẫn có người ưa thích loại ngôn ngữ này nhỉ???), mỗ tôi vẫn còn cơ duyên với quý hữu vì cơn bỉ ngạn đã qua tuy không biết thời thái lai có đáo vì nó thuộc về lẽ huyền vi của đất trời. Nhưng với Trừng Hải tôi, vốn không tích tập điển ngữ “Tái ông thất mã” bởi với người tu đạo vạn sự đều là không và cũng những mong quý vị đồng được hưởng hồng phước vô biên của mười phương chư Phật là điều mỗ tôi đã gởi gắm ở bài viết ngày qua (tuy nó bất toàn bởi cơn lốc quét! những thiết nghĩ ý văn cũng ít nhiều tương tác đến tư tâm quý vị)
Kính thưa quý vị, thủ pháp mà mỗ tôi sử dụng vốn có nguồn gốc từ luận văn và tán ca của chư vị cổ đức mà kỹ thuật hành văn (xin không tiết lộ) lại học…lóm từ Bổn Sanh Kinh thuộc Tiểu Bộ Kinh Pali lâu nay hằng sử dụng, đó cũng là một phước đức mà mỗ tôi thọ lãnh từ Từ Bi Trí Huệ của Đức Từ Phụ. Sở dĩ lời chưa trau chuốt vì nó ở mục…Chat linh tinh, mà theo ý mỗ tôi nếu dùng đúng mực thì e rằng có ý nhạo báng người xưa. Nên, thà bị người cười nhạo chớ, nhất mực không khinh xuất mang ý không tôn kính chư liệt vị Thánh giả.

– Đa tạ đạo hữu Chúng Sinh Sợ Quả, người đã nói lời chỉ lẽ trắng đen, cho mỗ tôi thấy lòng chánh trực của người tu học.
– Đa tạ đạo hữu chimanhvu, người khẳng khái nói lời ủng hộ, quả không hổ là người mến mộ… thượng tọa Minh ( không ác, không thiện thì đâu là diện mục của ta).
– Đa tạ đạo hữu Tuấn Tú, không hổ danh gừng càng già càng tươi, cay tuy lời của đạo hữu có phần nghiêng về phía diễn đàn (đạo hữu ngụ tại xứ Huê-kỳ lâu chưa? sao vẫn còn mang âm hưởng cơ chế xin-cho!!!)
– Đa tạ đạo hữu Chiếu Thanh, một thiền giả có cái nhìn sắc bén nhất cơ nhất cảnh thập phần sinh động. Mỗ tôi cũng đồng ý với đạo hữu, Trừng Hải tôi vốn cũng không biết mình có nửa chín nửa sống hay không nên hằng hoài mong gặp được…hòa thượng Long Đàm!!!
________________________________________
________________________________________ Ba tay nếm mật (Cont.)

KÍnh thưa quý, vì lý do kỷ thuật, hôm qua Trừng Hải tôi không viết tiếp được phần sau của câu chuyện “ba tay nếm mật”, hôm nay cơ duyên vẫn còn nên xin tiếp tục cho trọn vẹn tâm tư.
Kính thưa quý vị hình ảnh ba tay nếm mật là biểu tượng của quan niệm tam giáo đồng tôn của nước Trung hoa thời Tống. Chữ tôn ở đây có nghĩa là cội gốc, gốc rễ ý nói tuy khởi nguyên khác nhau nhưng từ một gốc mà ra. Đây là lời hí tiếu mang tính tuyên truyền phục vụ cho nền văn trị của chế độ quân chủ thời đó. Vị thư sinh đại diện cho khổng-nho, đạo sĩ cho lão giáo và vị sơn tăng cho Phật giáo chúng ta. Thưa quý vị, nói về vị sơn tăng, ngày xưa khi còn nhỏ tôi cũng rất ngạc nhiên khi thưởng lãm các họa pháp nổi tiếng của Trung hoc, họ đều vẽ hình tăng nhân rất cục mịch như đầu to, bụng bự hay gầy khẳng kheo, râu rễ tre tua tủa và đặc biệt khuôn mặt rất dữ (cũng tựa như khuôn diện của sơ Tổ Bồ Đề Đạt Ma), sau này lớn lên mới biết, tuy Phật giáo rất phát triển ở Trung hoa nhưng do tính trịch thượng về văn hóa có xu hướng khinh rẻ các giống dân ngoài dân ở trung nguyên (chữ trung nguyên này có nghĩa là trung tâm vũ trụ, trái đất tức cái nôi của nhân loại) nên mới có hình tượng nghệ thuật quy ước này. Quý vị hẳn cũng biết sơ lược về nguồn gốc của ba tôn giáo, tuy nhiên mỗ tôi không dám lạm bàn về vấn đề này mà chỉ muốn đề cập đến chữ Vị tức vị trí, địa vị, giai vị…mà tôi đã đề cập ngày hôm qua. Như trên đã nói phàm vạn vật trên thế gian dù là vật chất hay tinh thần đều luôn chuyển biến, đều có khởi đầu, kết thúc mà Phật Đà đã tuyên ngôn trước khi Ngài nhập Niết Bàn trước tứ chúng “Cái gì có sanh ắt có diệt”. Đời sống của một người trên trái đất trung bình chỉ 60 năm, nên tùy theo chí lập thân của mỗi người (có thể do ta, cha mẹ ta, người thân ta hay yêu cầu của xã hội…) nên mỗi người đều có ý nguyện về việc làm của mình (dĩ nhiên ta chỉ nói chung không kể đến một số dị biệt do mọi nguyên nhân) và theo hình tượng nghệ thuật trên vị thư sinh có vị là Vị Nhân SInh, đạo sĩ là Vô Vị (hề hề, người Việt ta khi chê chuyện gì thì hay nói “vô vị quá”) và vị sơn tăng như chúng ta biết là Chánh Vị. Vị Nhân Sinh có nghĩa làm việc giúp cho đời, chủ yếu dựa vào ý chí cá nhân, sử dụng nghị lực mạnh mẽ để hành hoạt công việc cho nên nó phải có chuẩn mực, mực thước, quy chuẩn…và người vị nhân sinh dựa vào đó để quyết định hành vi của mình như nghĩa quân thần tức vua tôi. (Xin quý vị thứ lỗi, Trừng Hải tôi phải ngưng lời để trả lời cho đạo hữu hoatihon. Xin lượng thứ.)
____________________________

Gởi đạo hữu hoatihon, thì Trừng Hải tôi đã đa tạ rồi mà??? Cũng chân thành xin đạo hữu ngừng lại đề tài này, mong lắm thay. Thân 

 Gửi bởi hoatihon
Xin quý đạo hữu cho biết thêm về vị “Thánh Sư Dạ Xoa Vô Não” (Danh hiệu này có trong Kinh nào ?, …….?)


Kính !
TRỪNG HẢI

Thánh Sư Dạ Xoa Vô Não

Chào đạo hữu hoatihon, đạo hữu có mạnh khỏe không từ độ ra đi vì…gió cuốn? Luôn mong đạo hữu được an khang mạnh khỏe.
Câu “Thánh Sư Dạ Xoa Vô Não” chỉ là câu văn bạch thoại, nó vốn là câu chú hộ thân mạng người đi xa và gặp những người không quen…Câu chú đi kèm thủ chỉ gồm, hình và chưởng. Lúc xưa khi được…nghe Trừng Hải tôi không có hỏi xuất xứ nên bây giờ không thể trả lời cho đạo hữu được, nhưng nó có hiện tồn. Kính

hoatihon 

Kính huynh trừng hải !


Có lẻ vì niệm Thánh sư Dạ Xoa Vô Não cho nên đã có lúc huynh “điên điên”. Bây giờ tạm thời không điên, hoatihon đề nghị huynh không nên niệm Thánh sư Vô Não nữa, để khỏi “được” vị Vô Não phù hộ.


Có phải thế không huynh ?

Kính ! 
TRỪNG HẢI

Chào đạo hữu hoatihon, đa tạ lời khuyên của đạo hữu dù lời khuyên…trật lất. Câu chú này dùng để hộ thân như Trừng Hải tôi đã trả lời cho đạo hữu như trên, nó không có niệm. Theo Phật học tự điển Hán Việt, hộ có nghĩa bảo hộ, ngăn cản điều ác ở bên ngoài; niệm có nghĩa khởi tâm thiện bên trong, nhằm cảm ứng hay thọ lãnh chư diệu lực của Mười Phương Chư Phật. KÍnh báo, thân.

Kính huynh trừng hải !

Hoatihon xin huynh hãy cẫn trọng với danh hiệu “tự phát” (?) (bởi vì huynh không trích dẫn được xuất xứ).

Theo hoatihon trong các danh hiệu chư vị thuộc Mật Tông chỉ có những vị PHẪN NỘ chứ không có vị VÔ NÃO :

http://my.opera.com/giomuathu54/blog/?id=3140985

(112 vị, Ảnh to, xem nhanh được)

http://www.diendanphatphaponline.com…1%BA%A1i-GOLOG

(112 vị, Ảnh bị nén lại, muốn xem rõ phải mất thời gian hơn)

Vì nếu danh hiệu này do huynh nhớ mang mang mà không có căn cứ, sẽ có thể làm cho hành giả bị “chạm mạch”.

Kính !

Ban Đại Biểu nhiệm kỳ III (2015-2016)

Cùng thành viên trừng hải !

Vì sự trong sáng cho Phật pháp và cho diễn đàn, thay mặt Ban Quản Trị, Hắc phong đề nghị bạn trừng hảigiải thích rõ danh hiệu “Thánh sư Dạ Xoa Vô Não” mà đạo hữu đã kính lễ (link xuất xứ, ……).

Nếu không có căn cứ trong Kinh sách Phật Giáo, yêu cầu bạn tạm thời không ghi Danh hiệu này trong bài viết (nếu có sẽ bị xóa nguyên bài), cho đến khi bạn chứng minh được nguồn của danh hiệu.

Kính báo ! 

Trong cuốn “Đức Phật và Phật Pháp” do ông Phạm Kim Khánh dịch, cũng có câu chuyện đức Phật độ “tướng cướp Vô Não”. Ông này thuộc dòng Bà la môn quý tộc, vì bị thầy dạy học nghe lời xiểm nịnh của học trò mà bảo ông ta đi giết một ngàn người, cắt ngón tay làm xâu chuỗi đeo cổ mới được đắc quả, nên được gọi là Angulimāla, nghĩa là người đeo tràng chuỗi bằng lóng tay người. Ông ta giết được chín trăm chín mươi chín người, thì ngày nọ gặp bà mẹ ông ta đi phía trước, ông ta đuổi theo định giết cho đủ số. Phật dùng tuệ giác đoán biết, nên đến cứu mẹ ông và độ Vô Não thoát khỏi sa vào địa ngục Vô gián. Câu chuyện tích này dài lắm, tôi tóm tắt những điều tôi nhớ lại. Và ông Vô Não đã trở thành bậc Thánh sau khi thực hành pháp tham thiền do đức Phật dạy. “Buông đao đồ tể thì thành Phật”.
Hy vọng những điều này giúp bác Trừng Hải thoát khỏi con đường “tuyệt lộ của sanh tử”.

 bangtam Đang Ngoại tuyến

Phó Trưởng Ban Đại Biểu Thường Trực nhiệm kỳ III (2015-2016)
 bangtam cũng xin cùng một quyết định như Hoatihon là:
Vì sự trong sáng cho Phật pháp và cho diễn đàn, thay mặt Ban Quản Trị, Hắc phong và bangtam đề nghị bạntrừng hải giải thích rõ danh hiệu “Thánh sư Dạ Xoa Vô Não” mà đạo hữu đã kính lễ (link xuất xứ, ……)
TRỪNG HẢI

Chào đạo hữu hoatihon, Hắc Phong, và bangtam. Lần đầu tiên gặp gở đạo hữu bangtam, mong được an khang mạnh khỏe và gia quyến mặn nồng (nếu đã có gia đình, bằng như không có thì xem như Trừng Hải tôi nói lời thừa mà xin lượng thứ), củi lửa có nhau đề huề hạnh phúc và có được… danh hiệu gia đình văn hóa mà chính quyền Vn phong tặng, mong lắm thay.
Kính thưa các vị, Trừng Hải tôi những tưởng Ngài Vô Não là một vị Tỷ Kheo mà ai ai từ nhỏ cũng đã nghe tên qua các bản truyện cổ Phật Giáo hay chuyện tiền thân Đức Phật mà bản kinh chính gốc là Bổn Sanh Kinh. Trừng Hải tôi hôm qua cũng không ngờ kiến thức của quý vị lại có phần…thiếu sót như vậy nên chỉ nói sơ qua trong bài trả lời của đạo hữu hoatihon. Đứng trên tinh thần đạo hữu đồng tu bình đẳng vô phân biệt Trừng Hải tôi xin nói ra những lời đầy đủ gọi là giáo dục trực quan sinh động mà ngày nay những người trẻ tuổi ai ai cũng ưa thích như sau:
– Trong phần trả lời với đạo hữu hoatihon Trừng Hải tôi đã nói câu “Thánh Sư Dạ Xoa Vô Não” chỉ là câu văn bạch thoại chớ đâu có nói là danh hiệu chi mô??? mà chữ bạch thoại có nghĩa là ngôn ngữ phổ thông mà ai ai cũng sử dụng hằng ngày; trong đó chữ Thánh Sư dùng để chỉ Thánh quả A La Hán của Tỷ Kheo Angulimala mà cổ đức ngày xưa chuyển ngữ là Vô Não nghĩa là không làm cho ai phải bị đau khổ (não hại), chữ Vô Não thì Trừng Hải tôi đã trình bày, tên chữ Phạn nó là Ahimsaka tức Bất Hại một trong các phẩm hạnh cao đức của thánh giả. Còn chữ Dạ Xoa là chữ mà chư cổ đức chuyển âm từ tên có âm chữ Phạn là Yakkha (quý vị đọc chữ này nó cũng có âm từa tựa như âm dạ xoa vì các vị chuyển âm theo tiếng…tàu) vốn là cảnh giới trong đa số tiền kiếp của Ngài Angulimala có liên quan đến tiền thân Đức Phật trong Bổn Sanh Kinh (quý vị có thể tìm đọc qua bản dịch của cố Hòa Thượng Minh Châu tức Jataka hay chuyện tiền thân Đức Phật) Câu văn bạch thoại này chỉ dùng để sùng kính tưởng nhớ bậc A La Hán Angulimala mà Trừng Hải tôi dùng chữ “kính lễ” tức cung kính tưởng nhớ như các lễ tưởng nhớ liệt sĩ ở VN ta. Bởi lúc xưa Trừng Hải tôi được dạy rằng việc sùng kính tưởng nhớ đến các Thánh giả thì phải gồm cả ba đời tức quá khứ tiền kiếp, hiện tại chưa xuất gia và thành tựu công phu phẩm hạnh sùng kính tức đắc thánh quả A La Hán thời Đức Phật còn tại tiền để tự răn rằng bản thân ta vốn vô phước không được sinh đồng thời với Chư Phật nay nguyện tu hành tinh tấn chóng đắc thánh quả để tương lai cùng Đức Từ Thị về cõi trần gian mà làm Phật Sự nên mới có câu văn bạch thoại “Thánh Sư Dạ Xoa Vô Não”.
_ Gởi đạo hữu hoatihon: tôi đâu có thuyết phục đạo hữu, cũng không chờ mong đạo hữu công nhận lẫn đâu có nói Ngài Vô Não là hộ thần Mật Tông; mà đạo hữu muốn chứng minh cái gì vậy??? chứng minh tất tần tật các vị hộ thần Mật Tông đều đầy đủ hiện diện trong các tranh ảnh của đạo hữu đưa ra à??? đạo hữu có lậm thế giới điện toán toàn cầu không đó??? Âu cũng vì có chút hữu duyên nên Trừng hải tôi mới đề cập thêm về câu hộ chú mà Trừng Hải tôi được nghe, câu này không phải là NIỆM mà đạo hữu suốt ngày nói niệm này niệm nọ nên Trừng Hải tôi muốn đính chính là câu chú hộ thân không có niệm mà thôi? (Có biết chú là gì không đó? Nếu biết thì xin chỉ giáo cho mỗ tôi mở rộng tầm mắt, mong lắm thay!)
_ Chào đạo hữu Hắc Phong vô cùng kính mến, tuy chưa từng hữu duyên đàm thoại qua…màn hình điện toán những mỗ tôi đã nhận hai lần tin nhắn khiển trách của đạo hữu. Công việc quản lý thì đạo hữu cứ làm vì vốn là người được trao trọng trách; nhưng xin nhớ là đạo hữu đồng tu vô phân biệt cho nên đạo hữu cố gắng sử dụng ngôn từ cho nó chính xác. Trừng Hải không có cần lời dịu dàng mà chỉ cần chính xác khi trao đổi, ví dụ như việc đạo hữu nói tôi sử dụng danh hiệu “Thánh Sư Dạ Xoa Vô Não” là không có căn cứ rồi nhân danh cái gọi là sự trong sáng Phật giáo và diễn đàn. Chuyện diễn đàn thì mỗ tôi đang đọc nhưng về cái gọi là Phật giáo trong sáng thì mỗ tôi chưa từng có nghe; xin đạo hữu bỏ ra chút thì giới chỉ giáo cho Trừng Hải mở mắt trước khái niệm Phật giáo trong sáng là gì được không? mà nói thì phải nói cho NGÔ ra NGô, Khoai Ra Khoai như đạo hữu Chiếu Thanh góp lời với Trừng Hải tôi ngày qua đó. Kính

TB: Về gốc tích Hộ Chú thì vốn có trong kinh Angulimala Sutta, tương truyền sau khi quy y với Phật Đà, Tỷ KHeo Angulimala mà xưa kia là Vô Não mỗi ngày vào buổi sáng đi khất thực thì bị dân chúng đánh rách da nát thịt, đêm về thì bị các oan hồn mà Ngài giết quấy phá nên không định tâm mà tu hành được mới thỉnh cầu Đức Phật nên Phật Đà mới ban cho câu chú ngăn cản các việc tác động bên ngoài. Đồng KÍnh
*** Xin nói thêm một chút về các giai thoại của Ngài Angulimala cho mọi sự căng thẳng nó tiêu diêu, đồng quý vị thêm phần kiến thức. Ngài Anguligmala theo truyền thống ở Ấn độ là Thánh tổ của…sản phụ, bởi duyên do NGài đã phát Lời Chân Thật theo lời dạy của Phật Đà cầu cho một sản phụ sinh ngược mà bị mắc trong hàng rào cây. Vốn sản phụ khi đó đang đi lại ngoài cửa cho nó dễ sinh bỗng gặp Thánh Đệ Tử Angulimala đi khất thực, vôn chỉ có một mình và thập phần lo sợ vì hung danh của Ngài vốn rất lớn (quý vị cũng biết đó ngay cả một vị vua oai danh lớn thế nào mà khi gặp Ngài Angulimala cũng kiêng sợ không dám đến gần) sở dĩ khi Ngài đi mà bị dân chúng đánh vì dân chúng có số…đông (bởi người Bất hại thì không phản ứng nên kẻ vô tri được nước lấn tới??? đáng sợ thay cái ác, càng đông nhiều thì cái ác càng tăng; cái ác càng tăng thì số lượng càng nhiều thêm vì nó tương quan nhân quả); nên sản phụ chui vào trốn trong hàng rào quanh nhà không ngờ bị…kẹt luôn trong đó; vì xót thương sản phụ Ngài Angulimala đã làm đủ mọi cách những vô dụng nên đã chạy về bạch lại với Phật Đà, chính lúc đó Phật Đà đã dạy Ngài nói lời chân thật (các vị muốn nghiên cứu thêm về oai lực của Lời Chân Thật thì xin đọc Jataka hay có cuốn Đại Phật Sử của tỷ khưu Minh Huệ chuyển dịch từ cuốn MahaBuddhavamsa của vị tam tạng pháp sư danh tiếng xứ Miến Điện mà mỗ tôi quên mất tên đọc thêm) Trở về nơi sản phụ vừa không sinh được vừa bị mắc kẹt Ngài Angulimala đã đọc lên Lời Chân Thật, kỳ diệu thay tức chuyện lạ thế gian tức Vị Tằng Hữu sản phụ vừa thoát ra khỏi bụi cây vừa sinh mẹ tròn con vuông (lời người xưa nói người phụ nữ lúc sinh là vượt cạn đã nói lên ranh giới mong manh khổ đau sinh tử của thai phụ (cho nó trong sáng tiếng Việt, hề hề) nên mỗ tôi cũng vô cùng cảm thông với các bậc nữ lưu lòng còn lưu luyến chồng con mà vạn phần những mong được bình an nhờ uy lực của Ngài Angulimala. Về sau đó Ngài trở thành người hộ niệm cho các sản phụ sinh con và thật kỳ lạ thay tất cả đều vẹn toàn. Sau này lúc Ngài tịch diệt, ngay cả khi các sản phụ dùng các miếng y bố mà Ngài đã từng thọ dụng để uống cũng sinh nở được mẹ tròn con vuông, rồi thời gian qua cái gì mà không dần hoại tan các vật dụng của Ngài đã hết các sản phụ mới dùng bình bát khất thực của Ngài xưa kia đựng nước rồi lấy uống (hề hề, cũng may là các sản phụ này không đập bình bát để lấy uống!!!), quả là kỳ diệu thay, các sản phụ cũng vượt cạn an toàn. Xin đồng kính.

Ban Đại Biểu nhiệm kỳ III (2015-2016)
……………..
Tức là chúng ta đã bôi bác danh hiệu Phật Dược Sư, danh hiệu Địa Tạng Vương Bồ tát, chúng ta đã đánh đồng Các Ngài với một con quỷ Dạ Xoa “không có đầu óc” (Vô Não).
Đây là lỗi khinh bạc Danh Hiệu Phật.

Ban Đại Biểu nhiệm kỳ III (2015-2016)Mặc dầu bạn trừng hải đã cố gắng ép nghĩa để trả lời cho xuôi. 

Vì rằng cụm từ “Thánh sư Dạ Xoa Vô Não” không phải là “danh hiệu chi mô” cho nên đề nghị bạn trừng hảiđừng viết chung với Danh Hiệu Phật, Bồ tát như vầy nữa. Nếu viết chung vẫn sẽ bị xóa nguyên bài.

Chúng ta nếu không có khả năng xây dựng, bảo vệ Phật pháp thì cũng đừng tùy tiện biến tấu Phật pháp thành trò đùa.

Kính báo !

TRỪNG HẢI

Tuyệt Đãi Chỉ Quán

NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT. NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT. NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT. Con xin đảnh lễ Mười Phương Chư Phật, cầu xin cho chúng sanh an lạc, đồng giải thoát mà đáo Niết Bàn.
_____________________________
_____________________________

Kính thưa quý hữu, ngày hôm qua Trừng Hải tôi đang đề cập đến vị trí tức giai vị của người quyết chí lập thân phụng sự đất nước có tên Vị Nhân Sinh vốn là người phải dựa vào ý chí bản thân và nghị lực tích tập để tiến hành các công việc chủ yếu dựa trên chủ trương, tiêu chuẩn, tư tưởng chính sách làm mực thước vào đời Tống ở đất nước Trung hoa mà dân ta hay gọi là tàu (các vị nếu có nhã hứng tìm kiếm nguồn gốc xuất xứ chữ này thì đọc các tác phẩm của Vương Hồng Sển, Sơn Nam…) mà có cách hiểu tức đạo như đạo quân thần, đạo bề tôi, người quân tử…mà chắc hẳn quý vị cũng có nghe qua như “Kẻ sĩ khả sát bất khả nhục” “người quân tử đi qua ruộng dưa thì không sửa giày, đi dưới giàn bầu thì không sửa mũ” “quân sư phụ”…cũng như các thuần phong mỹ tục, đạo đức…như “công dung ngôn hạnh” “nghĩa phu thê” “quyền huynh thế phụ” “hiếu nghĩa” và quan trong nhất bởi nó có tánh đối đãi tức nhị nguyên hay nhị nguyên đối đãi mà Phật giáo ta xem như nguồn nguyên gây vọng tưởng tức vô minh chi mạc do ô nhiễm cảnh trần bụi đời ( như mỗ tôi có đọc trong Kinh Giải Thâm Mật qua bản dịch của Thầy Trí Quang, Phật Đà chỉ rõ chữ Tâm thì ngoại trừ A Đà Na Thức các tâm còn lại như năng nhiếp sở nhiếp, a lại da thức, và tích tập sắc thanh hương vị xúc vốn đều quan liên đến tâm thức đối đãi này, theo trí nhớ của mỗ tôi, và quý vị cũng nên nghiên cứu thêm để biện biệt am tường, những mong lắm thay) và muốn thấy biết vạn vật như nó là tức TÂM ĐỒNG NHẤT CẢNH mà mỗ tôi có đề cập lúc trước, ở ngươì sơ cơ như mỗ tôi, cần phải đình chỉ nó chớ chưa nói là tuyệt diệt nó (mà mỗ tôi cũng đã thấy thậm nan mà tri hành). KÍnh thưa quý vị, các kinh văn, luận văn, chú giải… mà mỗ tôi có đọc qua đều thấy hầu hết chỉ đến cập đến cảnh giới quả thành tựu mà ít khi mô tả cửa vào, cũng vì lý do này nên mỗ tôi những mong cùng thảo luận với quý hữu để tất cả đều thông đạt phần nào, mà cảm được uy lực tối thượng thừa mà Chư Phật, Chư Tổ đã phương tiện trao cho chúng ta mà tăng phần tín tâm bởi nó là phước đức vô thượng không có của báu tuyệt đỉnh trần gian nào sánh kịp. Mong lắm thay, bởi lời khác lạ thì dễ nảy nghi tâm ở người có tâm chưa thông đạt, mà bằng không thuận lợi thì xem như cơ duyên không còn thì mỗ cũng phát tràng trường tiếu vì bất khả…làm gì được rồi rủ áo ra đi. Kính báo/SIZE]

TB: Nghĩ đi nghĩ lại mà Trừng hải tôi phải phì cười không nén được, các đạo hữu đồng tu hỏi Trừng Hải tôi cười về sự gì thì Trừng Hải tôi không dám trả lời vì quý vị thử nghĩ, một người thì đọc cụm từ “chưa đến thì nghi” lại cho mỗ tôi là nghi Tổ, nghi Phật mất cơ hội tu học Phật Pháp mà chưởi rủa??? người thì xỉ vả nhục mạ cho mỗ tôi coi thường hồng danh vì cho “Vô Não” là người không có não??? Đúng là chuyện hí tiếu độc nhất trần gian mà mỗ tôi lại không dám kể nên phải chạy ra ngoài mà cười cho thỏa ý. Hề hề

Ban Đại Biểu nhiệm kỳ III (2015-2016)

KÍnh thưa quý vị, các kinh văn, luận văn, chú giải… mà mỗ tôi có đọc qua đều thấy hầu hết chỉ đến cập đến cảnh giới quả thành tựu mà ít khi mô tả cửa vào…

Cửa vào đây bác Trừng Hải :

Không làm mọi điều ác
Thành tựu các hạnh lành
Giữ tâm ý thanh tịnh
Chính lời chư Phật dạy

TRỪNG HẢI

Kính chào đạo hữu Minh Định, Trừng Hải tôi sẵn sàng tiêu mất một đồng cuối cùng để vào diễn đàn vỗ một tràng tay tán tụng đạo hữu Minh Định thốt lời như sấm động, đánh tan mọi mê lầm âm u quỷ mị. Xin ngưỡng mộ người thốt lại lời Chánh Pháp mà tương truyền chính là lời của Thánh A La Hán Đệ Nhất Thần Thông Mục Kiền Liên đã y chỉ Phật Đà mà tuyên ngôn khi đứng giữa thanh không trước khi tịch diệt:

CHƯ ÁC MẠC TÁC
CHÚNG THIỆN PHỤNG HÀNH
TỰ TỊNH KỲ TÂM
THỊ CHƯ PHẬT GIÁO

Đã thốt lời Chánh Pháp thì Trừng Hải tôi cũng thỉnh cầu đạo hữu Minh Định chỉ chỗ hành hoạt vi diệu của Pháp Cú vang danh này cho khỏi phụ lòng ngưỡng mộ của Trừng Hải tôi. Kính xin, kính xin.
___________________________ Đạo hữu Minh Định, lời tán thưởng của Trừng Hải tôi đối với đạo hữu chỉ có 1/2 đồng nên xin đạo hữu cho phép mỗ tôi lấy lại 1/2 đồng mà trò chuyện với đạo hữu chimanhvu, mạn phép. Đa tạ, đa tạ.
Đạo hữu chimanhvu, mỗ tôi gia cảnh nghèo nàn nên phải dùng đến hạ sách này mà nói chuyện với đạo hữu, xin đừng trách mỗ tôi có lòng khinh mạn, lựơng thứ, lượng thứ.

Đạo hữu chimanhvu, Trừng Hải tôi là người theo lý nhất thừa nên xem mọi tông phái Phật giáo đều là nhất tông nhất giáo mà hình như đạo hữu là người mến mộ Tổ Sư Thiền nên mấy hôm trước tôi có đề nghị với đạo hữu có kiến giải về ngài Thần Tú trong tâm tư, sinh hoạt hay các bài pháp được cho của ngài khi đã làm quốc sư cọng với bài kệ trình lên Ngũ Tổ với tôi. Nhưng tiếc thay, mỗ tôi thấy lời đạo hữu có vẻ miễn cưỡng nên bây giờ mới có đề nghị khác với đạo hữu. Xin đạo hữu cho mỗ tôi biết bản kinh nào mà đạo hữu đắc chí nhất, tri kiến của đạo hữu về chữ THAM và NGHI TÌNH. Sau khi đã tỏ tường mỗ tôi sẽ cùng đạo hữu trao đổi về Tổ Sư Thiền. Nay kính.
___________________
Đạo hữu Băng Tâm, Trừng Hải tôi vốn đã giải thích rõ ràng chữ Vô Não, vốn là bậc cổ đức dịch nghĩa chữ Pali, Ahimsaka, với chữ Não nghĩa là não hại, tức không gây ra đau khổ cho ai, không làm điều ác với ai. Cha của ngài Vô Não là một bậc quốc sư thông thiên địa, nhân văn (lẽ nào lại đặt tên cho con trai nối dòng là thằng không não??? Hề hề) nên thấy rõ ngài sẽ gây điều ác về sau nên đặt tên là Ahimsaka, mà chư cổ đức dịch nghĩa là Vô Não, với hy vọng ngài không gây ra nghiệp ác. Việc giải thích đã rỏ ràng vậy mà đạo hữu cứ vin vào việc Não tức trí não, đầu óc rồi lý luận này nọ. Phàm người tu hành vốn không có ý tranh chấp, nhưng trước cái cố chấp âu cũng phải chỉ cho rỏ ràng mà mong người thay đổi tức tỉnh ngộ. Ở phương Đông, thời xưa mọi sự suy nghĩ, thấy biết suy tư được cho là ở…bụng tức đơn điền (Trung hoa) và ở tim (Ấn độ) không có ai dùng chữ não cả. Những kiến thức này vốn là kiến thức phổ thông được dạy vào kỳ trung học đệ nhị hay đệ nhất mà nay gọi là trung học cơ sở và phổ thông, người không biết những kiến thức này thường chứng tỏ sự ấu trĩ trong học vấn. Sở dĩ mỗ tôi giải thích rỏ ràng như vậy vì vốn biết (qua các câu đàm thoại trong diễn đàn) đạo hữu là người có tâm chân thành cầu đạo thuở trước nên đừng vì chút tư tâm mà đánh mất đi chí tinh tấn vốn là phước đức thuộc thiện căn của mình. “Hãy dừng chân, này Angulimala” vốn là câu nói nổi tiếng mà Đức Phật đã nói với ngài Vô Não trong rừng sâu năm xưa cũng là câu Trừng Hải tôi muốn nhắc lại với đạo hữu. Mong lắm thay, thân. 

Nhất cơ nhất cảnh-Vạn sự hanh thông

KÍNH LẠY THẾ TÔN, ĐẤNG THOÁT VÒNG PHIỀN NÃO, BẬC CHÁNH ĐẲNG CHÁNH GIÁC
_____________________________________
_____________________________________

Kính thưa quý hữu, phàm người tu hành nơi lập chí đầu tiên là chữ TÍN, mà tùy theo theo tông phái Phật giáo mà có lời dạy khác nhau, những tựu trung hoặc là về tâm hoặc là thuộc căn cũng là giai vị khởi đầu của mọi Phật tử ( Trừng Hải tôi cũng sẽ nói vào những dịp khác về chữ TÂM để quý vị cũng thưởng lãm) Và như những lần trước mỗ tôi đề cập, hôm nay cũng xin gióng một tiếng đại hồng chung tạm gọi là phổ thỉnh tuy âm là hữu tình nhưng thanh vận lại vô tình mà những cầu mong nơi nơi đều tương tư mà giữ vững hùng khí thanh phong trên đường tu học.

KÍnh thưa quý hữu, như mỗ nhớ không lầm thì vào thế kỷ 7-8, đất nước Tây Tạng đã đón nhận công chúa Văn Thành nhà Đường về làm bậc mẫu nghi( tức vợ vua) của mình. Theo như truyền thuyết khi sang Tây Tạng, Văn Thành công chúa đã dấu vua cha mà đem theo bảo vật quốc gia chính là con tằm sinh tơ dùng để dệt lụa vốn là một sản vật xa hoa đắt tiền vào thời đó (và ngay cả bây giờ lụa vẫn rất đắt), và ít ai biết đến trong phẩm vật hồi môn còn có một bức tượng Phật Bất Động bằng vàng nguyên khối (vàng tuy đắc giá, tuy nhiên quý vị nên nhớ, các bức tượng này vốn đã được trấn chú nên có các vị thần hộ thủ chớ sanh lòng tham, xin nhớ xin nhớ) mà chư cổ đức dịch là A Súc Bệ Phật là một vị Phật ngoài truyền thống, bằng chứng cho ta thấy Trung hoa vốn cũng có tông phái Mật tông mà sau này có một nhánh đã sang truyền đạo tại Tây Tạng sau đó mà tài liệu Trung hoa gọi là ma ha diễn(?). KÍnh thưa quý vị, bất cứ tông phái Phật giáo nào cũng chia ra các giai vị tu hành và trong mỗi giai vị lại chia ra ba bậc thượng, trung và hạ(tức cao, trung bình và thấp) nên để chỉ ra được sự đa diệu dụng của Pháp Bảo mà chư Tổ đã phương tiện trao cho chúng ta nhằm làm tăng thêm chữ TÍN cho quý hữu nên mỗ tôi sẽ sơ lược kể ra cho quý vị nghe về một nhánh mật-thiền tông của Trung hoa nhưng lại dành cho …các nhà buôn đường xa gọi là Nhất cơ nhất cảnh-vạn sự hanh thông. Đây chỉ là phép hạ thừa, quý vị nên nhớ (mà chư cổ đức gọi là Nhất kiền chùy, chớ mỗ tôi không có xúi các vị đi học thiền đẻ đi buôn, vạn phần xin nhớ, xin nhớ), nhưng đã từng đem lại biết bao thành công cho giới thương gia lẫy lừng xứ tàu ngày xưa (dân tàu mà buôn bán thì quý vị cũng biết rồi đó!) bao của cải. Chỉ là lời kể chơi để thấy một trong những tánh khởi dụng của chư Tổ phương tiện cho quý vị lại bội phần tin vào phước đức mà mình thọ lãnh được của Chư Phật mười phương quả là Chí Bảo Vô Thượng trên trần gian.

Trước khi đề cập đến phép mua bán nhất cơ nhất cảnh-vạn sự hanh thông này mỗ tôi xin nói sơ lược qua Vị-Xứ_Thời của Phật giáo. Theo Phật giáo chúng ta bản thân mỗi một người cần phải xác lập vị trí của mình mà thiền ngữ gọi là lập cước, vị trí đó được gọi là VỊ, chữ Xứ nhằm chỉ cho nơi ta sinh sống xuất phát từ Thập Nhị Xứ nơi sinh ra tư tưởng thế gian (phong quán, tập tục, lễ nghi, tính tình…) tức nơi sanh đối đãi (vì nhận thức thế gian vốn là đối đãi nhị nguyên) và cuối cùng là THỜI tức hành vi hay hành động thuộc thân khẩu ý xảy ra trong mỗi một sát na thời gian tức hiện tại mà việc đang xảy ra. Quý vị nên biết dân tàu vốn là chúa dấu nghề nên phép thiền dụng cho…buôn bán này được các thương gia gọi lại là Thiên thời, địa lợi, nhân hòa mà chúng ta ai ai cũng biết nhưng lại không biết xuất xứ nguồn nguyên lại xuất phát từ Phật giáo chúng ta; nên nếu người ngoài có học lóm thì chỉ học được nhân hòa địa lợi còn thiên thời thì biết đằng nào mà học, nên thường đại khái cho rằng, trời cho thì được không cho thì có làm bằng trời cũng như không (hề hề, đọc xong câu này mỗ tôi thấy dân Việt ta cũng thuộc loại hí tiếu: có làm bằng trời cũng như không). Như thật ra chữ thiên thời chính là nhằm chỉ đến phép thiền Nhất cơ nhất cảnh bởi theo Phật giáo Trung hoa thì phép tứ thiền được gọi là Tứ Thiền Thiên bởi thuộc tầng trời Sắc giới.
Trừng Hải tôi lại phải giải thích ngữ từ kẻo có người hiểu lầm mà gieo nhân xấu (việc này vốn không phải của mỗ tôi nhưng cũng phải đành nhẫn mà nói). Trước hết xin nói về chữ “phương tiện”, chữ phương tiện vốn có ba nghĩa; nghĩa được các tiểu bối ngày nay hay sử dụng tức bạch thoại tức ngôn ngữ sử dụng đối thoại hàng ngày là dụng cụ hổ trợ cho việc làm; nghĩa thứ hai là điều có ích cho công việc; và nghĩa cuối cùng mà mỗ tôi muốn nói đến (hêy dà, lại phải sắp chén sắp dĩa… cho quý hữu dùng) đó chính là tùy phương hướng mà xác lập chính xác, theo nghĩa Phật giáo là Tri hành, mà phó phẩm của nó ai ai cũng biết chính là Tùy Cơ Ứng Biến. Kính thưa quý vị chữ này cũng là một trong những mẫu mực mà chính quyền Trung hoa ngày xưa mượn của Phật giáo ta lâu ngày lại xem như của mình…không chịu trả thể hiện tính cách nhu nhuyễn tùy thời khôn ngoan rất mực.
KÍnh thưa quý hữu, như qua các phim tàu thường chiếu, việc đi buôn đường dài vạn phần mệt nhọc (tiền thì ai cũng thích nhưng cứ nghĩ việc làm ra tiền thì mỗ tôi đã oải sống lưng, nên quyết chí an phận), cũng bước bước hiểm nghèo vì vạn lý vô vân không biết đường đi hiểm nguy rình rập, ác tặc cường đồ manh tâm cướp bóc, bạn buôn gian trá sanh dạ khó dò, quan tham chiếm đoạt nhũng lạm quyền hành, tóm lại là mất mạng mất của như chơi, nói cho nhanh, tiểu bối nào cũng thích, hề hề. Trong mỗi chuyến đi buôn họ chuẩn mực rất mực kỷ càng vì việc này vốn rất rất quan trong liên quan đến tánh mạng, tài sản và gia tộc về các việc hình tướng thế gian tức vật chất và trên đường đi họ ăn chay trường, sinh hoạt rất mực điều độ để đề phòng bệnh tật, bảo vệ sức khỏe trí tuệ chớ không phải như ta thấy trên phim ảnh là đi đến đâu dừng chân họ cũng vào ca lâu kỷ nhạc ăn uống xả láng, ca hát suốt đêm (hình như có đạo hữu cũng lậm về phim ảnh nên tưởng tượng ra ngài Angulimala tướng mạo phương phi như…đường tam tạng trong Tây du ký mà mỗ phải…bó tay, hề hề) NGoài các việc về hình tướng, họ cũng chuẩn bị kỹ càng về phương diện tâm linh gồm…(mỗ tôi cũng muốn nói nhưng ngại…cho là mê tín dị đoan mà phang cho một kim phủ hay chích cho một phát ngọc châm thì game over nên để dịp khác, hề hề) và phép nhất cơ nhất cảnh-vạn sự hanh thông. Tiện đây mỗ tôi cũng xin nói qua việc xứng danh tức tên gọi được nói ra về Tantra thừa(?) tức chữ Mật vốn còn nhiều nghi vấn, mà sở dĩ việc này nó thông dụng không phải vì tự nó có mà do nhân gian… đặt tên cho nó bởi hàng đệ tử của tông phái này không phải như mỗ tôi (gia cảnh nghèo nàn) mà dành cho các vị thuộc…hoàng gia vua chúa, quan lớn một phương, giàu sang bốn bể nên sở hành nó rất rất là giới hạn và bí mật ít lộ ra ngoài không phải vì không từ bi mà không phổ biến mà bởi vì rất mực từ bi nên không phổ biến (các đạo sư thuộc thừa này ít nỗi tiếng, ít ai biết trừ những trường hợp thuộc lẽ huyền vi như Ngài LIên Hoa Sanh, Milarepa(?)…) vì phải bảo vệ cho các đệ tử trong thừa. Kính báo kính báo

 Nhất cơ nhất cảnh-Vạn sự hanh thông

Vậy nhà buôn khởi tánh dụng của pháp Nhất cơ Nhất cảnh như thế nào? Trừng Hải tôi xin nói lại như sau:
KIến giải này có nền tảng là một phép lý luận nhỏ. Như ta đã biết khi giải quyết một vấn đề ví dụ như một bài toán thì ta phải tìm kiếm đầy đủ dữ kiện, giả thuyết và khi có đủ dữ kiện, giả thuyết vì bài toán tất được giải, hay vấn đề được giải quyết; cho nên như bất kỳ một cuộc mua bán nào người đi buôn sẽ tìm kiếm thông tin về đối tác bằng thăm dò, gián điệp, mua chuộc nhân viên…tất tần tật mọi biện pháp thuộc hiện tướng thế gian (mọi người vẫn thường hay ví thương trường như chiến trường đó sao). Tuy nhiên những khuyết điểm chí mạng của đối tác mua bán vốn được che dấu rất cẩn thận khó ai biết ngay cả người thân ngoại trừ chính người ấy tiết lộ, nên thông thường các bên mua bán thường gặp gỡ để quan sát lẫn nhau; đấy mới chính là cảnh giới sở hành của phép “nhất cơ nhất cảnh”. Như quý hữu thường thấy trên màn ảnh hô li út các đối tác làm ăn thường gặp gỡ để…ăn uống, đánh gôn…(các đạo diễn phim ảnh hô li út quả có con mắt quan sát tinh tế và ứng dụng sự quan sát đó vào phim ảnh nên thường rất hay, xứng danh kinh đô điện ảnh toàn cầu). Thưa quý hữu, chắc có lẽ quý hữu đã có đọc các lời dạy về “Tam Tư” trong Câu Xá Luận, phàm mọi suy nghĩ sẽ xảy ra ba bước; đầu tiên là “thẩm lự tư” suy nghĩ để quyết định việc làm, kế đó là “”quyết định tư” tức quyết định việc làm và sau cùng là “động phát thắng tư” vừa làm vừa suy nghĩ. Nên trong cuộc nói chuyện nhà buôn sẽ quan sát hành vi, cử chỉ lời nói, nét mặt nghĩa là toàn bộ hoạt động của đối tác để tìm ra điều mà người đối tác này dấu hay nói cách khác mọi hoạt động của đối tác là hiện tướng của những ý nghĩ tức “thẩm lự tư”, và ý nghĩ này vốn là điều mà nhà buôn phải tìm ra để thấy rỏ vấn đề mà mình đã đặt ra mà quyết định mua hay bán. Quý hữu có thể hình dung việc làm này qua minh họa: hành vi của đối tác giống như thân và ý nghĩ mà đối tác muốn che dấu là cái bóng của hành vi tức thân. Ví dụ như lúc đó đối tác đang cần tiền phải bán gấp một lô hàng nên nhà buôn có thể ép giá hay lô hàng này chỉ là số hàng phụ nên nhà buôn có thể mua với giá rẻ…Qua câu chuyện này ta mới thấy tâm cơ của người tàu hơn hẳn dân tộc ta, cái gì cũng xuê xoa cho qua chuyện như câu “thuận mua vừa bán” hay “trăm người bán vạn người mua”…và chính pháp mua bán này làm lớp thương nhân trung hoa thốt một tuyên ngôn danh chấn người xưa “nhất bản vạn lợi”. Tuy nhiên mỗ tôi cũng xin lưu ý rằng người học được phép nhất cơ nhất cảnh-vạn sự hanh thông này chỉ có ở người giàu sang bốn bể; còn như chúng ta thì cũng chỉ cầu “một vốn bốn lời” cũng đủ rung đùi đắc chí.
KÍnh thưa quý hữu, chủ đề này nằm trong phần Chat linh tinh có tên “Lai rai sự lý hiện tồn” mà chữ lai rai có nghĩa vừa vừa, chừng chừng , không nhiều không ít nên Trừng hải tôi chỉ phát họa đơn sơ các sự tướng chung chung mà không thể đi đến tận tuyệt, chỉ nhằm cho quý hữu thấy được tánh đa diệu dụng tuy chỉ là pháp hạ thừa của Phật giáo mà cũng đã có uy lực dường nào. Tuy phát họa đơn sơ những các dữ kiện mà mỗ tôi đưa ra như VỊ_XỨ_THỜI, cùng phép đối trị tùy cơ thuộc Tứ Tất Đàn nhằm xây dựng vấn đề, tức đặt ra bài toán để giải đều đề cập đủ nên quý vị cũng có thể nghiên cứu thêm. Những mong quý hữu hằng tinh tấn nắm bắt được phương tiện mà chư Phật, chư Tổ trao cho dù là hạ trung hay thượng đều có tính dụng diệu kỳ mà làm lợi ích cho bản thân, gia đình hay cả cho dân tộc. Xin kính

Ban Đại Biểu nhiệm kỳ III (2015-2016)

Lai rai lý sự hiện tồn

Kính chú trừng hải !

Hôm nay hoatihon chợt có nhã hứng “lai rai lý sự hiện tồn” với chú đây.

Hì hì …! Núi Thái Sơn là cách nói của nhà nho, núi Tu Di là cách nói của nhà Phật. Chú muốn đập tan nó chăng ? Cháu thấy chú yêu mến nó quá chừng chừng đi lận, nếu không thì tại sao Tổng Quản đã chỉ rõ“cụm từ MỖ TÔI thể hiện sự kiêu hảnh và tự mãn trong lòng” nhưng chú không thể rời bỏ nó được. Vì sao ? vì “tự ái dân tộc” không cho phép chú vì một câu nói của người khác mà thay đổi dễ dàng, “nếutrừng hải này không có chủ kiến thì thành ra trừng vũng hay sao ?”


Cái gì làm cho núi Tu Di mãi còn như thế ? Chú ơi ! Phải chăng Núi Tu Di ẫn dụ cho Chấp Ngã kiên cố, từ nơi Chấp Ngã kiên cố mà raSở tri kiên cốSở tri kiên cố được gọi là Sở tri chướng, có phải thế không chú ?

TRỪNG HẢI

Chào đạo hữu hoatihon, hề hề, mới…gió nhẹ mà đạo hữu đã…bay qua sông như…Tô Đông Pha rồi mà cứ đòi ra…bão. .Muốn cãi lộn thì ra… quách nhân gian cho rồi, ở đó mà thoải mái nói lý sự với tri chướng, ngã chấp.
Ngũ ngon??? Hề hề
TB: Đạo hữu coi rường cột nhà cửa lại cho chắc chắn kẻo tối nay…mưa to do bão urtilon(?) bởi vua rồng phun nước nó trôi…ra biển. Hề hề, bảo trọng, bảo trọng.

Tu là cội phúc Tình là dây oan

KÍNH LẠY THẾ TÔN, ĐẤNG THOÁT VÒNG PHIỀN NÃO, BẬC CHÁNH ĐẲNG CHÁNH GIÁC
Cầu xin cho chúng sanh được bình an, đồng giải thoát mà đáo Niết Bàn. 

__________________________________________
__________________________________________

KÍnh thưa quý hữu, cuộc sống một đời, mà chư vị cổ nhân xem như nước chảy qua cầu, thoáng chốc như bóng câu qua cửa sổ, như hồng hà sóng chuyển được đến tới bờ rồi tan mất, mà khi xuôi tay ra đi ngay cả tên ta còn không giữ được thì xá gì của cải bạc vàng, danh quyền thế lợi trần gian. Nhưng, đó chỉ vốn là nơi để về của thế nhân vô tri luôn xoay vần trong làn gió hắc phong vô minh chi mạc mà thứ để lại không gì ngoài vài dòng chữ nghĩa thảm não thê lương, đoạn trường ai có qua cầu mới hay, của danh nhân Việt nam Nguyễn Du được phong tặng là thiên tài nước ta. Vậy mà với mỗ tôi, những lời nói vốn được ngày ngày ca tụng, người người khen tặng chỉ là sản phẩm “mua vui cũng được một vài trống canh” bởi, nếu đã cho là tri thức kẻ sĩ thức thời mà, ngay khi tuổi còn xanh hùng khí ngưỡng ngưỡng sao không gươm giương đao hạ chặc phăng chữ tình mà nương theo Từ Bi Trí Huệ của Mười Phương Chư Phật để chí hướng cứu độ chúng sanh tam thiên đại thiên thế giới mới xứng là người cho…mỗ tôi kính ngưỡng.
Tuy nhiên, có còn hơn không, bởi khi về già còn thốt ra lời chánh kiến “Tu là cội phúc, Tình là dây oan”, Cho nên, tuy không kính ngưỡng mà hôm nay cũng đôi lời thán phục kẻ già nua đầu bạc vẫn mắt sáng nhìn ra chánh lý thượng thừa của Chư Phật mười phương tuy đã là đã muộn nhưng lại, có còn hơn không.
Kính thưa quý hữu, việc quân vương thì cốt ở yên dân nhưng với người đã lập chí Quy Y, Thọ Giới thì cốt ở …vô tâm. Nhưng Tâm này không phải chữ Tim (kẻo có người hiểu lầm mà gieo nhân xấu bởi giải là…người không tim, thì mỗ tôi lại phải ngưng viết bài vì… cười bể bụng, hề hề) mà là tâm tư của người phát chí giác ngộ hay đốn ngộ mà ung dung đi giữa sơn hà, tự tại bằng an giữa cảnh trần hoang hóa thô sơ, bất tịnh. Đồng thời cũng xin phân tỏ đôi lời dù, đầu đã đội mũ kevla sáng thức dậy đã uống mật ong…chúa, nhưng tánh vốn cẩn thận nên cũng đã ngó trước dòm sau vạn phần cẩn mật mà xin quý hữu chớ chê cười đôi lời thực ý. Kính báo, kính báo.

KÍnh thưa quý hữu, người được gọi là đại nhân, tài tử Nguyễn Du xứ Việt có nói, chữ tâm kia cũng năm ba bảy đường, thì quả thật là… (quá kém), vì chỉ với người sơ cơ như mỗ tôi đây khi mới vào đạo cũng đã chỉ ra in ít thì cũng 51, 52, trung trung thì có 72, còn khi nào đầu óc thanh thản, khí lực dồi dào thì nói ra một mạch cũng đủ…một trăm, đúng là vạn phần… hơn thấy rõ (hề hề, thưa quý hữu, mỗ tôi không có nói…dốc đâu bởi Pháp Bảo của Chư Phật qua sự trao truyền của Chúng Tăng Bảo cho chúng ta là Chí Bảo trần gian tuỵệt đỉnh dù đến cả vua trời Đế Thích cõi tam thập tam thiên cũng phải tôn kính người thọ lãnh Pháp Bảo Vô Thượng thì xá gì nhân gian kém cỏi) Tuy nhiên, kính thưa quý hữu, chữ TÂM này vốn vạn phần biến ảo mà lại vạn phần hấp dẫn làm người mê say, nó tựa như ánh đèn sân khấu muôn màu ảo hóa, khi thì rực rở kỳ lạ như bắc cực quang (xem phim) mà người xưa cho là chỗ ngụ của tiên ông thoát tục, khi thì trong vắt một dãi từ trời cao rơi xuống như Hằng hà tuôn chảy vang dội thanh âm ngọc ngà va chạm, khi thì ẩn tại côn sơn như thần long chỉ thấy đầu mà không nhìn thấy đuôi giữa mây trời lúy túy (túy vân); khi thì như Tỷ Kheo cô thân chích ảnh lung linh mà hiện thực giữa sa mạc hoang sơ; khi thì như tiếng gầm sư tử trong thung lũng nguyên lai không dấu chân người dù âm lượng như sấm động mà âm vận lại như tiếng oanh vàng thỏ thẻ bên tai; nói tóm lại là không kể xiết vẻ hấp dẫn, cho nó mau, ai ai cũng thích vì thời gian vốn là tiền bạc, hề hề. Do vậy, với người đã bước vào rừng chữ…hàn lâm văn tự vốn là cảnh hành vô sở hành của chư vị Thánh giả đệ tử Phật Đà thì như Lưu Nguyễn ngày xưa lạc bước chốn thiên thai (đó mới chỉ là cảnh Pháp Ảnh mà đã vạn phần huyền ảo huống hồ là Pháp Giới Thậm Thâm thì huyền diệu mà phi thường huyền diệu đến mức nào mà mỗ tôi cũng bất khả tri để mà lược thuật cho quý hữu tuy vạn phần tôn kính) Chẳng may thay, như Lưu Nguyễn ngày xưa nửa chừng nhớ cảnh tiếc thương trần gian bất tịnh, nhiều người đã quay trở lại đời thường (cho nó trong sáng tiếng Việt, hề hề) thì cũng chỉ còn là ảo ảnh nên suốt ngày ngớ ngẩn nói giả, nói chân tức chân chân giả giả, vọng vọng tâm tâm mà người thanh văn (tức người nghe) cũng không biết lời kia là thiệt hay giỡn nên nghĩ là lời…không bình thường! Sở dĩ mỗ tôi phải thốt cả vạn lời như thế bởi, xưa kia cũng đã bước qua hành trạng say mê chữ nghĩa mà nhẩm tới nhẩm lui cho đến kỳ cùng chấm phẩy nhưng nửa đường vì vướng chút trần duyên mà quên đi hùng khí nên một thời cũng ngẩn ngẩn ngơ ngơ mới xem thì thiệt là…bí hiểm mà khi nhìn lại thì hóa ra…Bán Dùi tức Bùi Giáng??? Kính thưa quý hữu, việc tu hành chỉ cốt ở thật tâm nên hôm nay thốt lời tâm sự mà xem như gióng một tiếng đại hồng chung tuy thanh âm vốn sanh từ hữu mà thanh vận lại hóa thành vô (tình) nhưng những mong nơi nơi đều tương tư mà thức tỉnh kẻo mất đi vốn quý thời giờ, mà thời giờ với người đã phát nguyện Quy Y và Thọ Giới không phải là bọt bèo không thật như vàng bạc hột xoàn đô la mà là kiều thượng (cầu cao thanh nhã) vạn phần quý báu dẫn quý hữu bước vào Pháp Giới Thậm Thâm của Mười Phương Chư Phật. Nên, thật quả là đáng tiếc khi chỉ vì những báo chướng nghiệp duyên trên đường tu học mà đánh mất đi thời giờ quý báu. Xin tỉnh, xin tỉnh (Xin hẹn đến chiều sẽ nói tiếp phần sau, lượng thứ lượng thứ)

Kính chào quý hữu, lời hẹn ban sáng nay đã đến hồi…hoại diệt tức đã tự đoạn một dây tơ tình nên tâm giải thoát, hề hề. Kính thưa quý hữu, bây giờ Trừng Hải tôi xin nói đến chữ TÂM theo một ít tri kiến của mình. Đây cũng chỉ là thiển ý nên chư vị xem chơi chớ mang vào lòng chi cho…mệt nhọc.
Kính thưa quý hữu, trong các cảnh giới mà Trừng Hải tôi nói sơ qua ban sáng thì trừ cảnh giới “sân khấu đèn màu lung linh vạn tướng” thuộc về Ý thức còn các cảnh giới còn lại đều thuộc về A lại da thức thuộc cảnh duyên và Mana tức Ý thuộc năng duyên. Các cảnh giới này vốn là hữu tướng, nó theo dòng tâm nương theo nghiệp lực trôi lăn từ cảnh giới thấp nhất tức dục giới như địa ngục cho đến cảnh giới cao nhất tức vô sắc giới, mà luân lưu lên xuống đến cõi giới này qua cõi giới khác khởi từ vô thủy cho đến bây giờ tại quả đất này như mỗ tôi đây đang ngồi mổ cò bàn phím mà không biết nó có tiếp tục trôi lăn cho đến vô chung không nữa bởi nó thuộc thì…tương lai tức lẽ huyền vi mà mỗ tôi bất khả…biết nên không thể hầu chuyện với quý vị được. Các cảnh giới này vốn là hữu tướng nhưng khi có phan duyên (tâm sanh) thì ý giới tức manodhatu tuy mang nó theo bởi do luật nghiệp thuộc về thân, ý (hay danh sắc) nhưng ta không biết nó có hiện hành vì nằm ngoài ý thức của ta. Chính trong quá trình công phu tu tập các bậc tôn sư thượng thừa mà ta thọ giới sẽ công phu, ái chà…(xin quý vị thứ lỗi, mỗ tôi khó thốt ra lời vì ngại… cho là huyễn hoặc dù đã đội mũ kevlar, đã uống sữa…ong chúa nhưng tính vốn tin chuyện phòng bệnh hơn chữa bệnh nên hẹn quý hữu vào dịp khác, hề hề)… và có tên gọi là Avatar; Trong bước đầu công phu ta phải thấy nghiệp này mà viễn lý nó cho đến khi giải thoát. Quý hữu có thấy chữ Avatar có quen không? nó quen bởi chính nó là tựa đề phim 3D chấn động toàn cầu vài năm trước đây, chư vị thấy đó phương Tây lại một lần nữa mượn khái niệm của Phật giáo ta tuy chỉ là đưa lên phim ảnh nhưng cũng cho ta thấy mức diệu dụng tuyệt đỉnh trần gian của Pháp Bảo mà ta đang thọ lãnh. Chữ này được chuyển dịch là Hóa Thân, nó xuất hiện, theo thiển ý của mỗ tôi, trong bản kinh danh tiếng thuộc thiền tông Lăng Già Kinh được chuyển qua tiếng Anh là Lankavatara Sutta, Phật Đà Nhập Đảo Lăng Già. Theo thuyết Tam Thân Phật chính Hóa Thân Phật đã thuyết giảng kinh điển cho chúng sanh trong suốt 49 năm, chỉ đường cho chúng ta qua các phương tiện diệu dụng vô ngại xóa tan mọi phiền não mà giải thoát mà lên đường Chánh Đẳng Chánh Giác.
Đại khái là theo thiển ý của mỗ tôi các cảnh giới tâm thuộc A lại da thức và Mana tạm thời cứ để đó trong các bước bắt đầu tức gia hành vị thuộc loại sơ cơ như mỗ tôi mà xin tập trung vào Ý thức (các vị muốn nghiên cứu về các vấn đề đã đề cập trước nhất là Thân Avatar, huyền diệu vô song, thập phần biến ảo, xin đọc thêm về Lăng Già Kinh, Giải thâm Mật Kinh, Du già sư địa luận và tức nhiên không thể thiếu được Vi Diệu Pháp thuộc Pali tạng luận…) Vậy khi tập trung công phu tu tập về Tâm mà ta đã tạm thời viễn ly A lại da thức và Mana thì chỉ còn sáu thức tức Ý và tiền ngũ thức nên bây giờ mỗ tôi quy về lý thuyết thuộc Phật giáo nguyên thủy (theo ý mỗ tôi, không hề thiên vị, quý hữu nên nghiên cứu kỹ Tạng Kinh Pali và xem nó như nền học vấn căn bản vững chắc của mình thì lúc đó quý hữu, theo thiển ý mỗ tôi, sẽ thấy được Lý Nhất Thừa mà xem mọi tông phái trên thế giới đều nhất tông nhất giáo. Nói lại về tâm, khi đã viễn ly hai thức A la da thức và Mana thì ta còn lại lục thức tức tâm vương. Chữ Tâm vương ở đây có nghĩa Thức là vua do nó chỉ đạo tất cả các hành vi của chúng ta nên được phong vương tức Tâm Vương. Và theo giáo pháp của Phật Giáo nguyên thủy hay Duy Thức Tông (qua bản dich Giải Thâm Mật Kinh của Thầy Trí Quang chuyển dịch) TÂM lại được chia hai chính là Tâm Thế Gian và Tâm Xuất Thế Gian hay theo Thầy Trí Quang ta có thể gọi là Tâm Phật và Tâm chúng sanh. Bây giờ thì mọi phương đã sáng tỏ, tất nhiên theo thiển ý của mỗ tôi chứ không phải của quý vị mà nếu quý vị đồng ý thì nó lại như mỗ tôi, ta chỉ còn lấy tâm thế gian hay tâm chúng sanh tức là tâm ta viễn ly A lại da thức, Mana nương theo lời dạy của Phật Đà tức Phật Pháp tức Pháp Bảo nghĩa là tâm ta nương theo Bát Chánh Đạo hay Y Tha Khởi Tánh (vốn tịnh) chính là Tâm xuất thế gian hay Tâm Phật hay Ly Hệ Quả Vị hay Chánh Tánh Ly Sanh Vị mà dụng lực hùng khí thanh phong, tin tấn tu hành, dẹp tan bao chướng ngại dần dần tiến lên thì, vào mùa xuân hoa sẽ nở tức đáo xuân kỳ thấy các cảnh giới mà mỗ tôi đề cập trước đó dần dần giải thoát mà lên đường Chánh Đẳng Chánh Giác mà thoát cảnh khổ đau, cứu độ giúp đời…Bởi như đã nói đây là chủ đề Lai rai sự lý hiện tồn thuộc Chat linh tinh nên không thể nói tận tường mọi ngóc ngách chấm phẩy, mà chỉ phác họa sơ qua nên chẳng có gì to tác.

Chỉ là vài lời ý nhỏ nhưng tâm thành, những mong quý vị giữ chắc TÍN TÂM mà ngày ngày tu học thì khi mùa xuân đến chắc chắn hoa sẽ nở. Mong lắm thay, mong lắm thay. Nay kính, hề hề.

   
quote_icon

Sanh tử khứ lai là nơi tuyệt lộ (TRỪNG HẢI ) 1

Sanh tử khứ lai là nơi tuyệt lộ

TRỪNG HẢI
Trích dẫn Gửi bởi Thu tử Xem bài viết
Về sớm vậy sao ?  

Xin kính chào đạo hữu Thu tử tức mùa thu đã chết rồi(mà không hiểu có hiện tồn, tồn hiện một cành hoa thạch thảo nơi ngọc thủ không nữa?), đa tạ đạo hữu đã có lời thăm hỏi dù là lời thăm hỏi phi thời vì nó rỗng không; nó rỗng không không phải nó bởi nó vốn không (nhiều người nhầm lẫn lắm à nha!!!) mà bởi nó không có… chủ ngữ! Trừng Hải tôi vốn chỉ có ba đồng để tiêu pha trong một ngày, mà cmt với đạo hữu Chùa Phước Thành đã mất một đồng để qua sông nên chỉ còn lại một đồng vì một đồng lại đã chìa ra cho đạo hữu. Đồng này không phải chỉ để hỏi một câu mà chỉ để lùng thùng rồi đứng xem ai là người nhặt được.
Sớm muộn, đốn tiệm là chuyện ở thế gian bởi thế gian nó vốn vậy dù chư Phật Đà đản sanh hay là không đản sanh, vừa đản sanh vừa không đản sanh, hay không đản sanh mà cũng không không đản sanh. Nhưng hiện tồn của đốn tiệm, sớm muộn cũng chỉ dài như hơi thở nên thánh phàm mới bình đẳng chính hiệu con nai vàng.
Vài lời với đạo hữu, bảo trọng. Kính 

TUẤN TÚ

Đã nói sanh tử, khứ lai là nơi tuyệt lộ, thì làm gì có chỗ về! 

Về đâu!? Về đâu!?
Dáng trời rầu rầu
Cánh chim hơ hãi rướn bay mau
Về đâu!? Về đâu!?
Ngàn xưa, ngàn sau
Tóc đã ngã màu
Nói làm chi chuyện vàng thau
Kể làm sao hết nỗi niềm… xa nhau!

Nếu đã hiểu thì xin đừng đem tên kẻ hèn này ra mà định nghĩa, phân tách, vì nó vốn chỉ là một giả danh, tạm làm phương tiện để mà “chít, chat”.

Một đồng còn lại, xin được nhặt để mua “cà rem” mút cho đã thèm!!!

Kính!
TRỪNG HẢI

Chữ Hữu đã tuyệt thì nơi nào há chẳng là chỗ về??? + Lai rai sự lý về HIỆN TỒN

Trích dẫn Gửi bởi Tuấn Tú Xem bài viết

Đã nói sanh tử, khứ lai là nơi tuyệt lộ, thì làm gì có chỗ về! 

Về đâu!? Về đâu!?
Dáng trời rầu rầu
Cánh chim hơ hãi rướn bay mau
Về đâu!? Về đâu!?
Ngàn xưa, ngàn sau
Tóc đã ngã màu
Nói làm chi chuyện vàng thau
Kể làm sao hết nỗi niềm… xa nhau!

Nếu đã hiểu thì xin đừng đem tên kẻ hèn này ra mà định nghĩa, phân tách, vì nó vốn chỉ là một giả danh, tạm làm phương tiện để mà “chít, chat”.

Một đồng còn lại, xin được nhặt để mua “cà rem” mút cho đã thèm!!!

Kính!

Trừng Hải tôi những muốn phân tỏ phương danh chỉ vì lòng khát khao muốn kết giao bằng hữu mà cũng đành thúc thủ khi đạo hữu Tuấn Tú đã hoàn toàn phong kính môn hộ bằng tuyệt kỹ…gia truyền??? vì vốn nghe danh là đệ tử tục gia thiền phái. Nên mỗ tôi chỉ đành bấm bụng lo thầm vì những sợ đạo hữu bị phú lít bắt nhốt vào…bệnh viện Chợ Quán vì dùng tiền…âm phủ để tiêu xài đành phải vu vơ bâng quơ thốt lên vài chữ: “Sao người tuấn tú đành lòng lấy tiền của người gia cảnh nghèo nàn phát nguyện bố thí đồng tiền còn lại duy nhất chỉ vì thèm…cà rem (hây da, mỗ tôi nghe đến mút cà rem là đã điếng răng nhức óc rồi liên tưởng chắc răng người còn tốt).
TB: Ái chà, bài thơ về đâu nghe ra…!!! mỗ tôi xin giới thiệu với đạo hữu một tuyệt cú trần gian chấn động trời tây của Appollinaire(? không biết có đúng không nữa!!!) là bài Ou vais, mà những xin chớ có thỉnh lãm. Thân.

_____________ Chỉ vì gia cảnh nghèo nàn nên vạn phần bất đắc dĩ phải ghép hai tiêu đề làm một xin quý độc giả lượng tình.
Một nén trầm hương bên chén trà thơm ô long chính hãng xin để cúng dường MƯỜI PHƯƠNG CHƯ PHẬT. Rồi xin quý đạo hữu cùng thưởng lãm trà ngon cùng hương trầm phước đức.
TRước hết Trừng Hải tôi xin lai rai giải thích vài từ trong tiêu đề “Lai rai sự lý HIỆN TỒN” vì pháp tướng thế gian vốn là vô tướng nên có vô vàn tướng mà việc lãnh thọ thì lại do tâm mà tâm thì lại ngỗn ngang vô số tướng nên tướng hiện hành lại tùy tâm ta. Lại một lần nữa Trừng Hải tôi vốn dạ không quan hoài nhưng vốn mời quý vị thọ lãnh hương từ bi mà có người lại cho là “lảm nhảm” phang luôn kim phủ thì game over nên phải cúi mình thỉnh cầu “xin đợi cơm chín hẳn rồi mới minh định” cho vẹn toàn đôi bên.
Gởi Đạo hữu Tuấn Tú: Trà ô long thì chỉ để mỗ tôi uống vì quan sang cách trở bởi lực đại hùng mỗ tôi bất khả xẻ chia còn hương giải thoát kia thì xin cùng quý vị thành tâm thọ lãnh.
Trước là xin cùng chư quý hữu chia xẻ đôi dòng về hai chữ Sự và LÝ ( theo văn bạch thoại cho tiện mỗ tôi mà cũng lai rai phong cách thiền ngữ chat linh tinh) –
Tự điển Hán-Việt Đào Duy Anh: chữ sự có nghĩa là sự vật, sự kiện còn chữ lý là ý nghĩa của sự kiện, sự việc. Ngôn ngữ ngữ ngôn nó vốn đơn giản bởi nó là hiện tướng của đất trời mà con người thổi nguồn sinh lực cho nó để tạo ra nó ( ?sao lối nói giống như chúa thổi hồn cho con người vậy cà!!!) Nhưng thậm phần lâm ly cùng tận chính là khởi nguồn sanh ra ý nghĩa tức lý. Câu hỏi này làm mỗ tôi nảy ý “này bạn ơi đừng có dại dội mà lậm vào chủ đề FREE WILL” nên cũng xin dè chừng chư quý hữu mà nói ra lời nhai lại Phật giáo không là triết học nhưng lại là triết học của triết học. (Ôi, từ bi trí huệ của chư Phật Đà, Bồ Tát quả bất khả tri mà vi diệu dụng). Vậy thì về việc thấy hiểu tức tri kiến tức suy nghĩ tức nhận thức… vốn ban đầu chỉ có vật nhưng do bởi nó là sản phẩm của con người nên nó lại lẫn thêm vào trí lực tức bản năng cọng với văn hóa, văn minh (tức ý thức) đang hiện hành trong xã hội mà con người đang sống. Nói theo tâm lý học hiện đại thì trí giác có hai phần gồm trí giác vật thể và tri giác khái niệm. Tri giác vật thể là tri giác của nhà khoa học quan sát mọi hiện tượng trong vũ trụ quanh ta một cách khách quan (đó là quãng đường dài mà nhân loại trải qua cho đến ngày hôm nay) nên đây là sự thấy biết vật như nó là, và đối tượng của tri giác này chỉ là phần vật chất nhỏ bé trong vũ trụ (hay tam thiên đại thiên thế giới thuộc thế giới quan Phật giáo chúng ta) và phần còn lại là tri giác khái niệm, trừu tượng khởi sanh khi con người quay lại nhìn mình để tìm hiểu mình là ai? Ta là ai? Và quá trình này làm nảy sinh thêm hay gắn liền với cứu cánh của ta.
Kính thưa quý hữu quá trình nhận thức ngày đêm luôn sinh hoạt không ngừng nhờ nó mà sinh sống, sinh hoạt, tiếp xúc làm việc…tất cả thảy mọi điều hình thành cái gọi là con người, xã hội con người và mọi vật chất chúng quanh ta. Theo Luận Tạng Pali, dòng dòng nhận thức này được xem như là Bhavanga-Sota (có nhiều tên dịch quý hữu có thể tìm hiểu thêm) và Bhavanga-Citta, trong đó Bhavanga-Citta chuyển từ Bhavanga-Sota, và có ba thành phần là Kaya-sankhara, Vaci-sankhara và Citta-sankhara lần lượt được chuyển dịch là Thân hành, Khẩu hành và Tâm hành. Sở dĩ Trừng Hải tôi lấy đề cập này từ Luận Tạng Pali vì nó được một học giả Phật tử nghiên cứu Phật giáo Edward Conz kết luận rằng trong toàn bộ Kinh Luật Luận của các tông phái Phật giáo khác nhau thế giới (mà ông đã từng đọc được) đề cập đến vấn đề này chỉ có Luận Tạng Pali là đầy đủ và chi tiết nhất. TRừng Hải tôi chỉ có thể nương theo kết luận này mà giới thiệu đến quý hữu vì bản thân không đa văn bằng một học giả Phật tử biết 16 thứ tiếng, và người nghiên cứu Phật giáo trong 30 năm nổi tiếng thế giới được. Thưa quý đạo hữu, dòng dòng nhận thức không ngừng nghĩ này được các bậc cổ đức phương Đông gọi là niệm niệm tương tục tức Ngũ Uẩn đồng sinh hoạt và theo thiển ý của Trừng Hải tôi nó chính là Tâm, Ý và Ý thức mà Luận Tạng Pali, Duy Thức Tôn thường đề cập đến.
KÍnh thưa quý đạo hữu, để có Chánh Tri KIến, hay Tánh Giác, Trực Giác…và tên gọi vang danh địa cầu từ khi xuất sanh tuy không phải là lời Phật dạy những được các Phật tử Trung hoa vô cùng hâm mộ và tôn kính gọi là Kinh được giảng trên đàn tức Pháp Bảo Đàn Kinh đó chính là Vô NIệm quán tuyệt cổ kim, thập phần sinh động như Tây Phương Cực Lạc hiện trước mắt kẻ hữu duyên dù muôn phần rắc rối mà buộc lòng Trừng Hải tôi phải đề cập đến đó là sự vận hành của NGủ Uẩn hay NGủ Uẩn đồng sinh hoạt hay là Citta tức Tâm, Ý và Ý thức và hay là…(chưa nghĩ ra). KÍnh thưa quý hữu, tuy không phải là lời Phật dạy từng được kết tập những Trừng Hải tôi vẫn tin rằng đó là lời Phật dạy. Chúng sanh quá quen thuộc với cái gọi là khoa học tức thấy mới tin nên bỏ mất biết bao nhiêu vận hội kỳ duyên chỉ bởi ý kiến thậm thậm ngu ngốc của cái gọi là văn minh nhân loại chỉ có tuổi thọ vài ngàn năm. Ôi “thấy mới tin”, lời giản dị làm sao vậy mà các bậc cổ đức gọi là dây rối tơ lòng, nên những tưởng là giản dị mà thực ra không giản dị nhưng nếu ai nhìn lại thì lại giản dị vô cùng.

TUẤN TÚ

Trích dẫn Gửi bởi trừng hải Xem bài viết

Một nén trầm hương bên chén trà thơm ô long chính hãng xin để cúng dường MƯỜI PHƯƠNG CHƯ PHẬT. Rồi xin cùng quý đạo hữu cùng thưởng lãm trà ngon cùng hương trầm phước đức.

Tách trà trong hai tay
Chánh niệm dâng tròn đầy
Thân và tâm an trú
Bây giờ và ở đây.

Kính mời thưởng thức trà!

Trích dẫn Gửi bởi trừng hải
Trừng Hải tôi những muốn phân tỏ phương danh chỉ vì lòng khát khao muốn kết giao bằng hữu mà cũng đành thúc thủ khi đạo hữu Tuấn Tú đã hoàn toàn phong kính môn hộ bằng tuyệt kỹ…gia truyền???

Diễn đàn này hân hạnh chào đón thành viên mới trừng hải !

Vì đạo hữu đã “lảm nhảm” về nick Ngọc Tuấn, nick suongphale cho nên mới ra cơ sự.
Nhân đã gieo, sao lại tránh né quả ?

Hì hì ! sáng nay đạo hữu đã xài hết hai đồng rồi, bi giờ cunconmocoi đè người xuống “móc” luôn 1 đồng còn lại đây.

trừng hải là gì ? Phải chăng lấy ý từ trong bài tán Phật : “Cám mục trừng thanh tứ đại hải, hồng liên thiệt thượng phóng hào quang” ?

Vậy ý của bác như thế nào khi chọn nick là trừng hải ? Liệu có “lớn lối” lắm hay không ?

Cunconmocoi xin hỏi tuổi thật của bác, có phải bác sinh năm 1940 hay không ? Vì cách hành văn của bác giống cách nói của “Ông nội cu Tèo” cũng sanh năm 1940. Thành thật hay không là quyền của bác, nhưng cuncon xin báo tin vui cho bác, cái người có cái “tên trẻ măng” _ Tuấn Tú _ cũng sanh năm 1940 đó ? (Phải vậy không, bác Tuấn Tú ?).

“Sao người tuấn tú đành lòng lấy tiền của người gia cảnh nghèo nàn phát nguyện bố thí đồng tiền còn lại duy nhất chỉ vì thèm…cà rem (hây da, mỗ tôi nghe đến mút cà rem là đã điếng răng nhức óc rồi liên tưởng chắc răng người còn tốt).

Tuy chỉ “ba đồng” nhưng “khéo ăn thì no, khéo co thì ấm”, bác không thấy nhiều thành viên khác ở diễn đàn này mỗi ngày chỉ xài có một đồng (còn hai đồng gởi ngân hàng) đó hay sao ?

Như cunconmocoi thì nửa năm nay mới xài hết 2 đồng (tiền tích lủy được chắc có lẻ cũng không ít).

Kính !

TUẤN TÚ

Hi! hi! Bởi tôi biết bác ấy còn có một đồng, nên xin bố thí để mua cà lem ăn cho đỡ khát vì bên này nóng mực quá, đã vậy bác ấy còn đòi “Phú lít” bắt tôi bỏ lên xe cây nhốt vào nhà thương điên Chợ Quán ở Biên Hòa! Và lại còn học thói xài sang đòi uống trà ô long, nên cuncomocoi mới vào cảnh cáo!

Tuổi tác của tôi ở diễn đàn này ai cũng biết, nhưng việc đó không quan trọng. Cái quan trọng là liệu tâm mình có trụ lâu được chốn này hay không mà thôi! Muốn vậy thì phải liệu cách ăn nói, đừng có “bốc đồng” mở “volume” hết cỡ làm phiền mọi người. Chỉ có vậy thôi.

Tiện đây cũng xin báo cho “Trừng Hải” biết, bác đã được thầy vienquang6 chấm rồi đó! Mừng cho bác.

Kính!
TRỪNG HẢI

Kính chào các quý hữu trong diễn đàn và các đạo hữu đã tỏ dạ quan hoài với mỗ tôi.
Xin được không nhắc đến chữ TRỪNG vì LUẬT và PHÁP tuy đồng nhưng lại dị, tuy dị mà lại đồng nên không đồng dị mới là phước đức của mỗ tôi nên lòng tuy muốn mà biết là bất khả…xẻ chia. Kính
Xin chớ nhìn tên mà đoán người là điều mỗ tôi phân tỏ chớ chẳng gieo nhân, mà nhỡ ai có nhân thì cũng là điều mà mỗ tôi không hề muốn mà lại bất khả tương trợ. Kính
Về tuổi tác thì chắc hiện lượng cũng tương tợ với đạo hữu Tuấn Tú vì khởi từ… vô thủy, còn ai lớn hơn ai thì xin…hồi sau sẽ rỏ (dù chẳng muốn tỷ lượng). Kính
Mỗ tôi vốn vô lượng nên không hề kế xảo những cũng xin cảm tạ về lòng nhắc nhở về việc tiêu dùng tri túc. Kính
TB: việc chúc mừng thì mỗ tôi đã tỏ tường vì duyên xưa nay hiện. Đồng kính


   

Cảm mục trừng thanh tứ đại hải – Hồng liên thiệt thượng phóng hào quang
Một nén trầm hương phụng cúng Phật Đà mùi hương trầm thanh thoát. Cả phàm lẫn thánh đều hưởng mùi thơm giải thoát của Ngài.
Bên chén trà thơm ô long chánh hãng, chuyện cổ, tích xưa hầu phụng người thương Ba Lăng Tam tuyệt kiếm. Chiều thu mưa lạnh, gió buốt tiêu điều, cảnh xưa người cũ, tuyệt bóng hàn quang, thanh thiên áo lụa, gấu tà sờn rách, trường bào mục nát, kiếm để ơ hờ, tay gầy ngón guộc, bên bếp tro tàn, tịch liêu tang tóc, nên dáng xưa còng, tinh nhãn trầm tư, nét buồn tịch mịch, trước bài vị nghiêng, Vân môn tam chuyển, vẫn vọng câu thề, hào sĩ lập ngôn. Cảnh trời chiều thu lạnh người tráng sĩ năm xưa thốt lên lời thề để nhận kiếm suy phong từ tay sư phụ trước khi hạ sơn nay đã trở về sơn cốc ngày xưa giữa mưa gió tơi bời của ngày thu tận, chỉ thấy bài vị của thầy năm nao lăn lóc tang tóc bên bệ thờ mục nát. Hỡi ơi người tráng sĩ trở về chỉ để trả lại kiếm năm xưa nhận lãnh từ thầy vì đã lập ngôn chánh tà phân minh, kiếm vung diệt tà trợ chánh, vì những tưởng chánh tà dễ biết. Những bao nhiêu năm lang thang bên kiếm suy phong phân định chánh tà, chân giả cho đến lúc gối mõi chân chồn mới biết phân biệt chánh tà quả là bất khả thì kiếm đã vương bao oan hồn dưới lưỡi sắc lạnh sở chấp. Nay người trở về trả kiếm thì thầy đã quy tiên nên đành phong kiếm bên bài vị ngã nghiêng nghiêng ngã mà đến gặp Trừng Hải tôi luận chánh tà. Trà ô long vị nồng hương đậm nên chỉ để cho một mình mỗ uống nên vội cất để thết hào sĩ năm xưa bình thiết quan âm tuyệt hảo, hương chừng như có như không, vị chợt thấy chợt mất để giữ chân hồn ma bóng quế Ba Lãng kiếm sĩ hiện hồn.
KÍnh thưa quý hữu, hồn ma kiếm sĩ sau khi uống tuần trà đầu dường như chưa đã khát (do mỗ cảm thấy) tay quơ quơ nhẹ như tỏ ý muốn thỉnh thêm trà những mỗ tôi vốn sợ quý hữu đợi chờ nên giả vờ…không thấy liền nói lời phi lộ để mở đầu cuộc luận chánh tà, chân giả. Mỗ tôi xin kể lại tường tận không thêm không bớt mà cũng tuyệt tích thanh âm lảm nhảm mà nếu có lảm nhảm thì đó là cảnh sở của kẻ phàm phu duyên mỗ tôi bất khả…làm gì. Lẽ tất nhiên, tức vốn nó vậy, cuộc đối đáp thiền này sẽ dụng thiền ngữ những mỗ tôi xin mạn phép diễn nôm để tất cả mọi người đều cùng hội lãnh vì thiền ngữ, công án… vốn phải dùng tâm cảm ứng tức dĩ tâm ấn tâm vì nó có dùng ngôn từ, văn tự nhưng tuyệt lai cú, hình nên dễ gây phản cảm (Nếu quý vị có nhã hứng thì xin xem lại DANH-CÚ-HÌNH(Lăng Già Kinh), Tên Câu Văn (Tâm bất tương ứng hành pháp trong Nhất THiết Hữu bộ), Thể Tướng Dụng( trong Thế giới tất đàn, Đại TRí độ luận) hay Dhamma tam vị của Dhamma tức Guna, Desana và Pariyatti thuộc Dhammasangani (mà không nhớ chính xác chỗ nào, lượng thứ, lượng thứ) …THưa quý hữu, ngôn ngữ, văn từ nó vốn giản đơn, những lại thập phần phức tạp do bởi dụng tâm của…người nên nếu bỏ đi tâm dụng ( tức hữu, tức diễn tiến cầu cứu cánh, tức chỉ trích, tức sanh tử., tức khứ lai và nhiều nhiều nữa nghĩa là thiên biến vạn hóa trùng trùng pháp giới tức pháp giới trùng trùng…) thì nó hiện nguyên hình giản đơn vì đó là chân diện mục của…quý hữu.
KÍnh thưa quý hữu, lúc bấy giờ bình minh đà rực rở, mọi ám khí, u minh của đêm thu đà tan biến tiêu tan biệt dạng nhưng mỗ tôi vẫn bị sát khí lạnh như huyền thiếc ngàn năm nơi người kiếm sĩ làm cho chao đảo dù kiếm đã phong (tới nhà người chơi sao lại đem gươm đao, xin chớ xin chớ). Thưa quý đạo hữu, Cửu Dương thần công của Trừng mỗ tôi đủ sức chế ngự phong hàn, những đây không phải là chốn tranh phong nên liền… lùi về cửa trong để đón ÁNH HỒNG QUANG chế ngự âm hàn mà không tốn mất công lực mà cũng không làm phương hại đến…u hồn kiếm khách cho vẹn toàn KHÁCH CHỦ nơi nơi thái bình. KÍnh thưa quý hữu, theo tập tục tông phong (thiển ý của mỗ tôi, nếu có sai xin được chỉ giáo, mà được chỉ giáo vốn lại là phước đức của mỗ tôi, có điều, xin chớ chỉ… bậy!!!) thì người chủ bao giờ cũng hỏi khách viếng đến từ đâu tức nơi vạn sự bắt đầu, tức nơi lập cước vì điều này sẽ quyết định có đối đáp…nữa không, vì vậy mỗ tôi liền hỏi Ba Lãng kiếm khách đến từ nơi nao. Đôi lúc câu hỏi không có… hiền như mỗ tôi mà lại hỏi…đến đây làm gì – Như hà thị tổ sư tây lai ý – Kính thưa quý hữu, điều này theo mỗ tôi thập phần quan trọng, như Phật giáo nguyên thỉ thì là phát nguyện quy y TAM BẢO và thọ trì LUẬT hay trong đại thừa là phát BỒ ĐỀ TÂM, ở trong Thiền tông thì theo PHáp Bảo Đàn Kinh như lời Lục Tổ Huệ Năng ai cầu Đốn giáo thì phải tự khiết bạch bổn tâm, tự nguyện tự thoát vòng mê tâm,…mà sự này thì phải có TÍN như trong Pháp Bảo Đàn Kinh thuật lại việc thính chúng Vô Nghi tức thì Tây Phương Cực Lạc hiện lên như chớp. Nhưng hỡi ơi, đâu phải ai ai cũng có phước phần gặp liền bậc tôn sư thượng thừa đâu nên phần đông chữ TÍN này có được nhờ Chánh Kiến tức thấy nó y như là. Ví dụ cho nó gần gủi, giống như quý hữu gặp một người bạn khoe rằng tao có 1000 USA, mà người bạn này xưa nay nó nghèo nên bạn không tin tức nghi, nhưng khi nó đưa ra cho bạn thấy xấp mười tờ 100USA thì bạn tức thì hết nghi. Kinh tạng thường nói đến thí dụ này là người thấy pháp như thấy viên ngọc châu trong lòng bàn tay. Ví dụ như trong câu thiền ngữ Như hà thị tổ sư tây lai ý, thường được trả lời, theo thiển ý của mỗ tôi, theo hai cách như: 1, Cây bách trước sân hay ngồi lâu thấm mệt hay 2, Khi nào sông chảy ngược hay một sợi lông gà nặng chín cân. Câu đầu thưa quý hữu, là để cho người mới vào đạo như mỗ tôi, là để chỉ tự nhiên tánh, tự tánh hay bổn tánh (các chữ đồng nghĩa) tức sự nó vốn như nó là, sự thật hiển nhiên. Còn câu thứ hai thì chỉ điều không bao giờ có trên thế gian, tức sự không thể nào xảy ra trái với luật của vũ trụ nhưng với THập Lực vô thượng của chư Phật Đà , Bồ Tát nó vẫn xảy ra khi đó ta mới biết được còn không thì bất khả tri, đó là nói về Phật sự của các bậc Thượng Thừa, Bồ Tát hay Bậc Chánh Đẳng Giác Thích Ca Mâu Ni Phật cách đây trên hai ngàn năm mà chỉ có người phước đức trực tiếp cảm ứng mà thấy được. Kính thưa quý hữu, dù lời lời tuôn trào muốn phân tỏ rỏ ràng mà lực bất tòng tâm bởi ý tại ngôn ngoại tựa như quý hữu có thân bằng quyến hữu làm những điều sai quấy mà quý hữu thấy tai hại vô cùng những muốn chỉ bày mà con cháu xem quý hữu như người già kinh cung chi điểu, bởi nó là tà kiến thế gian. Trừng mỗ tôi ví dụ như vầy, tà kiến thế gian phân tích suy luận theo phép thống kê thì tỷ lệ xảy ra một việc có thể là 99, 9% thì ai ai cũng tin rằng phần nghiêng về 99,9% là ăn chắc nhưng tỷ lệ thật sự xảy ra chỉ là 50-50 tức 50% tức là chỉ có 0,1% không xảy ra nhưng khi nó xảy ra thì chỉ là 1/2 theo lý có-không nhưng ai ai cũng tin về 99,9%. Ôi quả là thậm nan phân biệt chân giả, chánh tà nhưng ai ai cũng cho là dễ dàng phân biệt nên mới gọi là vô trí hay bất giác. 


  Ngọc Tuấn  

Kính bác trừng hải !

Vẫn biết đời chỉ là một trò tuồng mộng ảo
Nhưng xin người đừng lảo đảo cuồng si
Sống, phải tìm cho ra Chân Thiện Mỹ
Đừng học đòi “sổ toẹt” cả cuộc đời.

Đâu phải viết tràng giang lời vô nghĩa
Để tỏ mình “tuyệt bút” giữa giang hồ
Chứng tỏ gì ? giọt nước giữa trùng khơi !
Đem mộng-thực trộn vào nhau làm của báu.

Kính !

Chiếu Thanh 

Trích dẫn Gửi bởi Ngọc Tuấn Xem bài viết

Vẫn biết đời chỉ là một trò tuồng mộng ảo
Nhưng xin người đừng lảo đảo cuồng si
Sống, phải tìm cho ra Chân Thiện Mỹ
Đừng học đòi “sổ toẹt” cả cuộc đời.

Đâu phải viết tràng giang lời vô nghĩa
Để tỏ mình “tuyệt bút” giữa giang hồ
Chứng tỏ gì ? giọt nước giữa trùng khơi !
Đem mộng-thực trộn vào nhau làm của báu.

Hay lắm bạn Ngọc Tuấn!

Văn hay không phải “V.ă…n” dài.
Mới đọc đầu bài, đã biết văn hay.!

bitridung
 

UỐNG TRÀ
Lời thì châu ngọc , hoa văn
Tâm thì chất chứa muôn điều thị phi 
Chữ tâm còn một chút thì
Cho người thấp kém, cho mình cao sang
Chữ tà có nghĩa này thôi:
Chẳng phân tà chánh , làm điều không hay
Dụng tâm đà có khi vào
Huyên thuyên khắp chốn lời lời nọ kia
Nào khi mượn nick mỉa mai
Nhân vì cớ sự cái duyên cơ gì ?
Nick kia nào có tội gì
Thấy lời vô nghĩa , xoay qua chánh tà 
Cái tâm chất chứa bao điều
Mỉa mai là gốc tu hành sao đang ?
Ai tà ai chánh nào hay
Chẳng phân tà , chánh : tha hồ quấy tâm
Góp lời xây dựng chẳng ngoa
Góp lời chê chỉa , cái tâm chẳng lành
Lời luôn hoa ngọc văn châu
Tâm luôn chất chứa bao điều nọ kia
Trà đây giải khát , rồi qua
Hương thơm trần vị chớ hoài vương mang !

TRỪNG HẢI
    

Cảnh cũ người xưa dạ vẫn bồi hồi chánh hiệu NHÂN GIAN

Ngọc Tuấn 
Kính bác trừng hải !

Vẫn biết đời chỉ là một trò tuồng mộng ảo
Nhưng xin người đừng lảo đảo cuồng si
Sống, phải tìm cho ra Chân Thiện Mỹ
Đừng học đòi “sổ toẹt” cả cuộc đời.

Đâu phải viết tràng giang lời vô nghĩa
Để tỏ mình “tuyệt bút” giữa giang hồ
Chứng tỏ gì ? giọt nước giữa trùng khơi !
Đem mộng-thực trộn vào nhau làm của báu.

Kính !

Lâu giờ mới gặp, đa tạ đa tạ dạ quan hoài. Hảo hảo, hảo lớ hảo lớ, hây dà, xin ghi nhận tâm tình của đạo hữu bởi mỗ với nó vốn…không quen. Và chân thành thốt lời XIN THỨ LỖI trả dùm một đồng để đạo hữu sang sông. Kính thử, kính thử.
TB: 10.000….+1= 0 ???????????????????????????????????!!!!!!!!!!!!!!! !!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!

   
TRỪNG HẢI
Trích dẫn Gửi bởi bitridung Xem bài viết

UỐNG TRÀ
Lời thì châu ngọc , hoa văn
Tâm thì chất chứa muôn điều thị phi 
Chữ tâm còn một chút thì
Cho người thấp kém, cho mình cao sang
Chữ tà có nghĩa này thôi:
Chẳng phân tà chánh , làm điều không hay
Dụng tâm đà có khi vào
Huyên thuyên khắp chốn lời lời nọ kia
Nào khi mượn nick mỉa mai
Nhân vì cớ sự cái duyên cơ gì ?
Nick kia nào có tội gì
Thấy lời vô nghĩa , xoay qua chánh tà 
Cái tâm chất chứa bao điều
Mỉa mai là gốc tu hành sao đang ?
Ai tà ai chánh nào hay
Chẳng phân tà , chánh : tha hồ quấy tâm
Góp lời xây dựng chẳng ngoa
Góp lời chê chỉa , cái tâm chẳng lành
Lời luôn hoa ngọc văn châu
Tâm luôn chất chứa bao điều nọ kia
Trà đây giải khát , rồi qua
Hương thơm trần vị chớ hoài vương mang !

Trà VIệt???Hề hề, đã uống trà THIẾT QUAN ÂM chưa?!!!

TUẤN TÚ

Trích dẫn Gửi bởi bitridung Xem bài viết

Vỏ hồng, ruột trắng, hột đen, có phải trái Thanh Long không nhỉ!?

Hồi sáng đi chùa xong, về ghé chợ Việt Nam mua ba trái Thanh Long cúng Phật và để dành ăn giải nhiệt trong khi tiết trời quá nóng nực!

Kính.
TRỪNG HẢI

Trên chuyển càn khôn_dưới đảo luân thường-đại hùng đại lực-phật đạo xin nương

Kính lạy Thế Tôn, Đấng thoát vòng phiền não, Bậc chánh đẳng chánh giác. Con phụng cúng Phật Đà một chén trà thơm. Đời con được soi sáng trong ánh sáng đại giác của Ngài.
Kính thưa quý hữu, chủ đề này vốn được viết trong phần Chát Linh Tinh, được xem như phần không lấy gì phải làm…to tác, nên với mỗ tôi cũng chỉ là lai rai sự lý thì những tưởng với quý hữu cũng chỉ là lý sự lai rai, tuy không phải là chat chít những cũng tợ trà đàm lúc rỗi rảnh nên cũng chẳng có gì là quan trọng tuy với người đã phát nguyện tu hành thì vạn vật gì cũng là cơ cảnh, vạn phần cơ cảnh, nên ngôn từ văn tự vốn lẽ từ hòa mà ẩn tàng đại lực bạt tụy quần ma, hiển dương chánh lý chẳng có lúc nào ly rời đạo lộ (với mỗ tôi). Người phát nguyện tu hành theo gương Phật đạo vốn là người đại chí có thừa, khí phách trực phát lay động bốn châu tuy hiện tướng hiền hòa mà hành vi bất hại nên xin quý hữu ghi nhớ Phật tử vốn không phải chỉ có cầu an, mà luyến lưu thế sự như người già lão tìm chút bóng an lạc bên cảnh chuông chiều cho dịu khổ đau những ngày thừa thải cuối đời còn lại hay người nữ tú tìm ít niềm vui nơi câu kinh tiếng kệ vì phận vốn thủ thường. Hôm nay kính xin gióng một tiếng đại hùng chung mà mỗ tôi tạm gọi là phổ thỉnh tuy hữu tình mà là vô tình cho quý hữu tuổi đời chưa có lắm…niên thưởng lãm, không hề thuyết phục mà vạn phần những xin ai đã lập ngôn khởi chí vô thượng hãy hiển bày hùng khí thanh phong.
KÍnh thưa quý hữu, xin hãy nhớ lại văn từ của Tứ Hoành Đại Thệ Nguyện (mỗ tôi khỏi trích) để cảm một chút cái gọi là đỉnh đỉnh đại ngôn chánh hiệu (…đèn dầu huê kỳ) mà cảm khái chư vị xuất gia tuy lộ từ bi mà không chút khiếp nhược những bởi chúng sanh khiếp nhược mà đồng khiếp nhược để trút trọn đại lực uy bức quần ma cho chúng sanh. Vậy xin, chớ đừng ủy mị mặc gió mặc mây cho là tự tại vì tên gọi nó chỉ là thanh nhàn chính hiệu con nai mà thanh nhàn vốn là sự chưa từng có ở thế gian này. Xin xét, xin xét.

TRỪNG HẢI

Chào đạo hữu bitridung, khỏe ha, khỏe ha, hảo hảo. Hề hề, có vấn tức thì phải có đáp, xin có ngay có ngay.
Phàm người phát nguyện tu hành bước đầu chỉ trọng chỗ lập cước tức chỗ bắt đầu còn lại vạn sự thì cứ để nó tự nhiên…thôi vì ta vốn là bất khả…và đó cũng là thiển ý của…mỗ tôi nên không biết… trích lục ở chỗ nào. Việc nói lợi hại của chánh tà, thiện bất thiện, tức luận kết quả tức cứu cánh là việc thế gian là chỗ mỗ tôi chẳng bận lòng làm chi cho mệt mõi, nói văn hoa hay thô tục là chỗ mỗ tôi vốn không quen biết, vì lời mỗ tôi nó vốn bất hại. Hãy tìm một chỗ để luyện…Cửu dương thần công (lẽ tất nhiên, tức nó vốn vậy, là phải tìm cho ra đại thiện tri thức còn chỗ có tìm ra hay không thì lại tùy vào đạo hữu… bitridung) như Vô Kỵ tuyệt diệt âm hàn Huyền minh chưởng pháp (chết đi sống lại). Vài lời nói chơi vì nó nằm trong mục Chat linh tinh xin chớ gọi là quan trọng. Đã uống trà thiết quan âm chưa??? hề hề. Kính
____________________________________________
____________________________________________ Lai rai lý sự hiện tồn (cont.) 

Ba Lãng kiếm khách hồn ma vẫn nhẫn nại đợi chờ Trừng Hải tôi…thiên lý truyền âm đến… diễn đàn Phật Pháp online cả một ngày rưởi trời mà không lộ nét khẩn trương do có lẽ như mỗ tôi nghĩ thời gian đối với người chết không phải là…tiền bạc tuy ngày càng hằn lên nét mệt mõi buồn thiên thu như …mùa thu đã chết rồi tức thu tử (hỡi thế gian tình là gì???) Bởi người chết không ăn nên mỗ tôi đỡ phần nấu nướng mời khách mà chỉ đốt một nén hương trầm để người chết giảm phần cô lạnh. “Kính các hạ, tôn chỉ khi hạ sơn hành hiệp khách mà tôn sư phó pháp là gì?” Kính thưa quý hữu, giáo pháp của Lục Tổ Huệ Năng có lấy Vô Niệm làm tông chỉ, chữ Vô Niệm thì chưa đến thì nghi nên xin không đề cập hay để các bậc cao nhân khác chỉ giáo nên cho mỗ tôi nói đến chữ “tông chỉ”, cái thập phần tuyệt đỉnh sở hành lâm ly chí thiết, nơi tập đoạn hành định huyền vi sáng ngời thì vì ít người nhắc đến nên mỗ mới mạn phép trình bày.

   
TRỪNG HẢI

…nào ai biết chỉ cho ta nơi đâu là bến mê…

Nam Mô Dược Sư Lưu LY Quang Vương Phật. Nam Mô Địa Tạng Vương Bồ Tát. Con xin đảnh lễ chư Phật mười phương và đồng kính lễ Thánh Sư Dạ Xoa Vô Não, chư Tứ Đại Thiên Vương Hộ Pháp. Xin được bình an giao duyên với thập loại chúng sanh.
__________________________________________________

KÍnh thưa quý hữu, vạn sự trên thế gian tuy theo nhân duyên tương tục mà tuần hoàn, mà xoay chuyển, mà đến rồi lại đi, đi rồi lại đến, tức đến đến đi đi hết xoay rồi lại chuyển hết chuyển rồi lại xoay tức “muôn hình vạn trạng làm hoa mắt – thế sự xoay vòng gây đảo điên” Ngỡ như có quy luật mà lại bất quy luật, tưởng chừng có định mệnh mà lại không định mênh – tự cổ hồng nhan đa mệnh bạc – nên thế gian suốt đời điên đảo tức hết đảo lại điên hết điên lại đảo nghĩa là chu điên (sự điên nó có cái…chu kỳ) THế nhân… phình thường như…mỗ tôi hay kiệt hiệt trời đất như nguyễn công trứ cũng than trời bức tóc trước cái xoay vòng hết lên voi lại xuống chó hết xuống chó lại lên voi mà phải ngữa mặt lên trời mà than hoặc bách tính bình dân như mỗ tôi “hỡi ơi sấm động giữa trời quang trời cao có tỏ” hoặc uy chấn trời nam như nguyễn công trứ “kiếp sau xin chớ làm người. làm cây thông đứng giữa trời mà reo” hoặc tân kỳ hơn thì có bài hát xuất xứ tận…hongkong bên hông chợ lớn “…nào ai biết chỉ cho ta nơi đâu là bến mê…” Rồi ngày qua tháng tới, hết năm cũ lại đến ngày xuân xanh mới nghĩa là tíc tắc tíc tắc tíc tắc tức đồng hồ tic tac nỗi tiếng ngày xưa, mà mỗ tôi ngụ ý nói đến thời gian lại làm dịu đi cái khổ đau đó nên con người quên mất mới đúng là khổ quá trần gian ơi mà lại “tôi ơi đừng tuyệt vọng” (nghĩ cũng tức cười sắp chết đến nơi mà cùng hát đừng tuyệt vọng tôi ơi). Kính thưa quan văn hai họ (tức các quan chức quản lý diễn đàn từ thấp tới cao từ cao xuống thấp), và các nhóm linh tinh (tức là quý hữu đang thảo luận trong chat linh tinh từ mới đến cũ từ cũ đến mới) giữa mớ hỗn mang hổn độn hỗn lốn đất trời cùng hỗn quan hỗn quân nên dân cũng hỗn theo thuộc về xã hội, người ta lại chạy đi tìm cái quy luật đưa về cái không đảo điên nên thật là bất khả…tìm ra và đó là chính là cái mê của thế nhân từ thuở khai thiên lập địa hay văn hoa hơn là từ thuở hồng hoang vừa mới nụ suốt đời mang theo. Và chính ánh sáng vốn có từ…vô thủy bừng sáng lại trên hai ngàn năm về trước ở đất Diêm phù đề như vầng dương xóa tan mọi mê lầm gây ra cái đảo điên tức điên đảo tưởng (xin trả lại người, trả lại người lời hứa đổi trao tức trao đổi(đừng nghĩ xấu à nha!), gởi đạo hữu luulysuong người có nụ cười tuyệt tiếu trần gian, bảo vật trần hoàn “hồn nhiên vô ngại” chính hiệu đèn dầu…huê kỳ)

   
CHIM ANH VŨ


” Ở tại đất nước Trung hoa xưa, do ảnh hưởng nền văn hóa thực dụng chữ tượng hình, nhất là thời Tống với lối học khoa cử, các lời tuyên ngôn của chư vị luận sư thường có lối nói quá khích đề cao tông phải mình mà xem nhẹ các tông phái khác, nhất là các chi phái tự nhận là truyền nhân của Lục Tổ Huệ Năng. Buồn thay, phong thái nhạt như nước ốc này lại dường như có cơ sống lại tại nước ta. “.
Bác Trừng Hải hãy nói rõ hơn hiện tại các chi phái tự nhận là truyền nhân của Lục Tổ Huệ Năng, cụ thể là ai? hiện đang tồn tại nơi nào ở Việt Nam, ai đang là người đứng đầu?
” phong thái nhạt như nước ốc này lại dường như có cơ sống lại tại nước ta. ” Có phải chăng là Pháp Môn TỔ SƯ THIỀN ( THAM THOẠI ĐẦU )? hãy nói cụ thể đừng bóng gió
Câu nói ” Chẳng nghĩ thiện, Chẳng nghĩ ác, cái gì là bản lai diện mục của Thượng Tọa Minh? cũng là thứ bỏ đi sao?.
Hãy nói thêm về lời “phong thái nhạt như nước ốc này” nghĩa nó như thế nào. đừng dùng văn chương cổ với kiến thức hàn lâm để nói. Những thứ đó ai cũng đã biết cả rồi, cái lưu bố tưởng hay điên đảo tưởng cũng chẳng cần phải nói thêm. Có ai nắm bắt được hương thơm của trà trong hư không? chỉ tại mũi hay khen hay chê mới nhận mình là người biết ngửi có phải không bác Trừng Hải. Chẳng rõ bác vốn là người Trung Hoa hay người Việt Nam. Nếu là người Việt Nam thì văn chương ngữ pháp tiếng Việt không đến nỗi không đủ dùng. chuyện cổ tích giang hồ kiếm hiệp hay là Tây Du Ký mỗi thời lại có một phong thái riêng. xin đừng dùng kiếm bén mà chém vào hư không. Kính mong bác chỉ lời dễ hiểu

TRỪNG HẢI

Kính đến nhà chơi, đạo hữu chimanhvu, nghĩa thấu trời cao Đế thích rung động nên ngọc chảy thành…không, lời sắc như kiếm những bởi kiếm hiện nay ít ai…dùng nên ít người thấu hiểu. Nhưng hỡi ơi, thế gian đâu phải toàn hạng mù lòa bởi vốn ít người mắt sáng – thanh mục đỗ nhân thiểu – vấn lộ bạch vân đầu – nên dầu đã được hưởng HỒNG QUANG nhưng bởi ẩn tại cùng cốc nay xuất sơn phải tuân theo…mà phải quyền nghi, dụng ngữ phổ thông bởi lòng luôn e sợ, lỡ thất cơ thì khỏi phải thẹn với…
Đa tạ người hữu duyên cần mẫn thảo lược bút lục những dòng TRừng Hải tôi ban sơ đã…gỏ bàn phím để tỏ lộ ra lời dù những lời kia vốn chỉ là …phó phẩm. Xin kính, xin kính…

Nếu đạo hữu muốn Trừng Hải tôi phải nói lời cụ thể thì cùng xin đành trả lời cho phải phép: Tổ Sư Thiền theo cảm ứng của mỗ tôi thì chỉ thấy toàn…không bởi vốn là Vô Niệm mà câu hỏi của đạo hữu thì đã qua rồi nên niệm tiêu diêu mà nay thì vô duyên nên niệm nó chưa có…sinh. Vậy thì có trả lời thì nó cũng như…không. Còn về “phong thái nhạt như nước ốc” thì mỗ tôi chỉ lập lại lời người bởi mỗ tôi vốn ăn chay từ khi mới…sanh nên không biết ốc có nhạt không, bởi vậy nếu đạo hữu có vấn thì xin vấn về…trà để mỗ tôi còn biết mà đáp cho khỏi mất…phép lịch sự.
Kính đạo hữu, mỗ tôi vốn chưa hề múa kiếm giữa không trung bởi thiển nghĩ VI DIỆU ĐẠI HÙNG ĐẠI LỰC của CHƯ PHẬT MƯỜI PHƯƠNG như kiếm chưa xuất mà quần ma đã vía bạt hồn kinh xứng danh là TỪ BI TRÍ HUỆ.

KÍnh đạo hữu chimanhvu, mỗ tôi vốn người trọng hiếu nghĩa nên lấy làm vinh hạnh tiếp chuyện với đạo hữu và mong được chỉ giáo. Kính
______________
TB: mỗ tôi mỗi ngày chỉ có ba đồng, xem ra hôm nay tiền đã hết nên nếu không đáp lời thì xin đạo hữu lượng thứ, lượng thứ.
Gởi đạo hữu Tuấn Tú: sao nỡ lòng ghẹo kẻ hiền lương về việc thông báo Trừng Hải tôi đã được…rộng lượng mở…hầu bao???

CHIM ANH VŨ

Kính Bác Trừng Hải

“bởi vậy nếu đạo hữu có vấn thì xin vấn về…trà để mỗ tôi còn biết mà đáp cho khỏi mất…phép lịch sự.”
Kính bác Trừng Hải. Từ khi vào diễn đàn , bác chủ yếu nói về trà, hình như bác đã pha trà mời đại chúng. nhưng bác có hiểu rằng khẩu vị ở đây mỗi người một kiểu. e rằng Trà, Nước , Củi lửa có chỗ chưa đồng. hiện tại người được mời chưa qua đoạn nhấm vị. chát đắng đầu môi cũng chưa được tỏ tường. bác chờ chút thời gian cho người thưởng thức. Chimanhvu muốn bác chỉ bày tất cả những thắc mắc của chim anhvu cùng ý kiến của đại chúng, đứng bỏ sót câu nào thì quả là phước báu

TRỪNG HẢI

Kính chào đạo hữu chimanhvu, rất lại làm hữu hạnh khi lại tương ngộ với người hiếu nghĩa hôm …qua. Phàm người đã lập chí tu hành noi gương Phật Đạo thì suốt ngày quyết không ly rời đạo lộ đã nguyện tri hành cho nên phải trừng trừng giương mắt như…mèo rình chuột vạn phần cơ cảnh những không lộ vẻ khẩn trương tức là cơ mật dù có đôi lúc vì ngăn ngừa việc…giết người tên Duyên đau khổ muôn niên, giết người trăm năm đau khổ ăn năn nên phải hét một tiếng cảnh tỉnh người giao duyên.
Trên là lời tâm sự để đôi bên tỏ tường những cũng tự biết rằng với người hữu duyên chỉ cần cảm ứng tức là nói chuyện mà không cần tư tưởng…thế gian. Đồng thời cũng đa tạ đạo hữu ngày qua đã góp ý về việc sử dùng việt ngữ cho rõ ràng lộ ý quan hoài, đa tạ, đa tạ. Để gọi là bồi đáp ít nhiều về việc quan hoài mỗ tôi xin góp ý với đạo hữu chimanhvu về đề mục nó phù hợp với chủ đề này ví như bài kệ của thượng tọa Thần Tú chẳng hạn, việc ít ai đề cập đến, nếu được xin cứ vấn. Và cuối cùng xin mạn phép đạo hữu chimanhvu được ghép vào mục trả lời này lời nhắn riêng, đa tạ, đa tạ, kính.

TB: _Đa tạ lời khuyên nhủ rất tân kỳ của đạo hữu TUấn Tú (tân kỳ nghĩa là hợp với thời hiện đại, thời nhiễu nhương mà với ai có chút nặng tình với đất nước ngày ngày phải nhỏ lệ nghiến răng…) quả thật xứng danh rừng càng già càng cay. Đa tạ, đa tạ,…(lời nhận xét của bác trong Tâm Ấn của Chư Phật rất chính xác, tâm thế gian có tự tánh là không vốn có thể bị vọng nhưng không ô nhiễm nên khi nhận được Tâm của Mười Phương Chư Phật thì muôn niên sáng tỏ vọng không bao giờ sanh. Còn lời góp ý của MĐ thì dùng lý nhân quả chỉ vốn có ở tâm thế gian mà chư Phật và chư Tổ dùng làm phương tiện qua luật câu sanh duyên khởi để chỉ đường cho chúng sanh giải thoát)
– Gởi đạo hữu diệu đức: đọc xong bài…tập làm văn của đạo hữu mà mỗ tôi ngẩn cả người. Một phần vì cái sự học một phần vì ý văn một phần vì không biết khinh trọng việc làm. Thật đáng thương thay!!! Cáo

Lai rai sự lý Hiện Tồn (cont.)

Nam Mô Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật. Nam Mô Địa Tạng Vương Bồ Tát. Con đảnh lễ mười phương Chư Phật và đồng kính lễ Thánh Sư Dạ Xoa Vô Não và Tứ Đại Thiên Vương, cầu xin cho con được bình an khi giao duyên với chúng sanh thập loại.
_________________________
_________________________

Kính thưa quý hữu, ba bốn hôm nay mỗ tôi huyên thuyên tự nhận là lai rai lý sự hiện tồn nhưng lại có phần thiên vị về sự…lai rai chứ chưa nói gì nhiều đến phần Sự và Lý. Xin quý hữu lượng tình mà mở dạ cảm thông vì hôm trước mỗ tôi có chút tâm sự, mà tâm sự đã sanh thì nó lại trùng trùng duyên khởi một cách tự động mà với người tâm chưa tuyệt diệt tử sanh như mỗ tôi thì bất tri, chỉ khi thấy khổ thì khổ nó mới ly rời bởi khổ nó thuộc về cái sự…đời, nó ly rời chớ nó không có diệt bởi luật…trời đã định là nó tự diệt chứ mỗ tôi thì bất khả…làm gì được, nên hôm nay mới bình tâm tỉnh trí nói tiếp cái lý-sự cho nó bình đẳng.
Kính thưa quý hữu, như trên đã nói con người từ khi có ký ức (>7 tuổi) thì dòng nhận thức tức niệm niệm tương tục mới trọn vẹn khai sinh, dòng này nó có ba phần gồm cảnh chung quanh ta, bản thân ta và mục đích cuộc đời ta (gồm xa và gần), nó tự động vận hành không hề ngưng nghĩ mà khi nó ngưng nghĩ thì như Lục Tổ Huệ Năng có nói tức thì ta sinh về thế giới khác tức chết. Nói đơn giản thì sự là bao gồm vật (gồm cả vật chất và tinh thần) cọng với tâm tình ta qua suy nghĩ. Sau khi đã suy nghĩ tức đã biết đủ các dữ kiện, thông tin… cần thiết thì ta suy tư mới ra cái ý nghĩa tức lý của sự thuộc thế gian. Cái lý thuộc sự thế gian này nó bị ô nhiễm bởi sự ưa thích, thói quen, phong tục, tập quán…của riêng ta tức ý giới trong thập bát giới mà ý giới này nó lại thuộc về ý, khởi sanh từ thập nhị xứ, thuộc ý căn. Vậy để có cái nhìn khách quan, bình đẳng không thiên vị thì cái ý của ta phải như vốn nó là tức không (căn phù trần-căn thanh tịnh), tức không ý riêng (tức tư ý# tư ngã) Mà để cho cái ý nó không thì ta phải tu hành (tùy pháp môn mà mình thích hợp), hay nói theo nghĩa hiện đại là rèn luyện kỹ năng nhưng khác với sự rèn luyện của nhân gian vốn mang phần tự động (phản xạ tự động) thì sự rèn luyện kỷ năng này phải có sự quan sát của trí năng(vắng bặt tư ý…) tức chú tâm, tỉnh thức…
Khi quán sát cảnh trần và thấy biết như nó là thì nó là sự chân thật tức lý xuất thế gian (như phàm phu thiền…). Như vậy nếu là sự thuộc thế gian thì ta có lý thế gian nhưng khi quán sát sự chân thật thì chính là lý xuất thế gian như chư cổ đức có dạy luân hồi và niết bàn là một, với tâm thanh tịnh thì là niết bàn, tâm ô nhiễm thì là luân hồi hay niết bàn hay luân hồi là do bởi tâm ta (A Di Đà Phật, lẽ dĩ nhiên, tức vốn nó là, để kiến niết bàn thoát khổ thì phải trải qua một thời gian dài qua bao giai vị cho đến lúc kiến đạo vị tức thì đã nhập dòng Thánh mà chư cổ đức gọi thay đổi từ tánh phàm phu thành thánh giả thường được ví như đất sét qua lò nung thành ngọc hay… kiếm hiệp gọi là thoát thai hoán cốt cho nó dễ hiểu đối với…mỗ tôi. Quý hữu nào có nhã hứng thì xin hãy đọc thêm về chân đế và tục để tìm hiểu thêm về lý Trung Đạo tức Không mà Trừng Hải tôi xin nói theo bạch thoại là “Hai chân lý- một quan niệm”, hay có thể trao đổi với mỗ tôi( qua loa thôi nhé…) trong đề mục này).
Mỗ tôi xin đưa ra một ví dụ cho nó phù hợp với giáo dục trực quan…sinh động tân kỳ mà tiểu bối ngày nay… ưa thích về sự-lý:
– giống như trên đường đi có một tờ 500.000đ ai đó rớt, người giàu có nhặt được thì cũng…thích vì có một buổi nhậu miễn phí, nhưng với người nghèo khó thì nó thập phần sung sướng vì vừa có tiền nuôi vợ con còn dư ra chút đỉnh để lai rai với bạn…đồng cảnh ngộ; nhưng với người đã quy y Tam Bảo và thọ giới khi thấy tờ 500.000đ thì vẫn…tỉnh bơ, không phải là không thấy tờ 500.000đ hay nó không có mà vì việc lượm tờ 500.000đ đó nó không đúng với giới không lấy vật không cho dụ như một em bé 6-7 tuổi vốn bất…tương tư với chuyện xấu ác. Ta thấy tờ 500.000đ đâu có thay đổi, nó vẫn vậy, nhưng cái ý nghĩa tức lý nó thay đổi theo ý riêng từng người.

Kính thưa quý hữu, bởi chủ đề này nó nằm trong Chat linh tinh nên mỗ tôi xin lai rai một chút về sự khác biệt giữa tri thức và tri hành cho rỏ ràng về sự học của người phát nguyện Quy Y và Thọ Giới: kính thưa quý hữu sự khác biệt này nó rất là đơn giản tức đang giởn qua một thí dụ cũng…sinh động trực quan (theo ý mỗ tôi) sau – ví như người thợ học nghề kim hoàn được thầy dạy về kim cương (…cho nó sang) đặc tính của kim cương là trong suốt không phản xạ ánh sáng tức có kiến thức về tánh của kim cương tức tri thức nhưng bản thân thì chưa từng thấy kim cương nên không có biết đặc tánh hiện hữu như thế nào mà phân thật giả. May thay nhờ có thầy dạy nên đưa cho viên kim cương thiệt mà quan sát, quan sát lâu ngày mới rõ tánh kim cương hiện hữu như thế nào, đó mới là tri hành thuộc trí năng khác tri thức về tánh kim cương trước đó. Bởi vậy sự đời nó mới khôi hài khi thấy các học giả suốt ngày cứ đàm huyền luận diệu, nếu việc đàm huyền luận diệu này giống như nhà buôn kim hoàn đem tiền đi mua kim cương thì chắc vài ngày phải…đi ăn xin hết cả theo ý mỗ tôi.

   DIỆU ĐỨC

Chào bạn Trừng Hải,d/đ không hiểu lắm về điều Bạn nói d/đ thật đáng thương – vì không biết khinh trọng việc làm. 

Vậy Bạn có thể chỉ cho d/đ biết lời nói nào của d/đ không biết phân nặng nhẹ – đến đổi Bạn phải thương hại d/đ vậy ? 

Riêng d/đ thì d/đ cũng cảm thấy thương Bạn – vì đã coi thường pháp của Lục Tổ Huệ Năng ? Nhưng d/d thương Bạn không phải vì Bạnkhông biết phân nặng nhẹ – mà là vì Bạn đã đánh mất cơ hội để được nghe hiểu về diệu pháp của Chư Phật. 

Đối với Tổ Huệ Năng – Bạn tự cho Bạn cái quyền không phân nặng nhẹ. Trong khi d/đ nói với Bạn – Bạn lại cho là d/đ không phân nặng nhẹ. Ngã mạn đến mức không còn thuốc chữa… d/đ không thể không thốt lời – thật đáng thương… thương đến rơi nước mắt. Bạn có thể không trả lời câu hỏi của d/đ.

CHIM ANH VŨ

 Kính Bác Trừng Hải

“Để gọi là bồi đáp ít nhiều về việc quan hoài mỗ tôi xin góp ý với đạo hữu chimanhvu về đề mục nó phù hợp với chủ đề này ví như bài kệ của thượng tọa Thần Tú chẳng hạn, việc ít ai đề cập đến, nếu được xin cứ vấn.” 
Thân là cội bồ-đề,
Tâm như đài gương sáng.
Luôn luôn phải lau chùi,
Chớ để dính bụi bặm.
(Thân thị bồ-đề thọ,
Tâm như minh cảnh đài.
Thời thời cần phất thức,
Vật sử nhạ trần ai.)
Người đã đưa đường chẳng lẽ lại không một bước để đi. Nhưng có điều đường cũng gập ghềnh , nhiều lúc cũng chông gai. chỉ bởi có người tự mình ” đâm mù con mắt mẹ đẻ” xông thẳng chẳng màng chi, để rồi làm khó dễ cho người còn chần chừ chưa dám rảo bước. nay xin được một lần những mong Tiên Sinh chỉ bày cho người chậm lụt như chimanhvu được tường tỏ thì quả không có gì để mà so sánh

TRỪNG HẢI

Ba tay nếm mật: hiển lộ thần uy-thiền na vô đối


Kính chào đạo hữu chimanhvu, để trỏ lòng khách tri âm tuy chỉ vừa mới gặp mà tình như cố cựu mỗ tôi xin chỉ thẳng đến chữ “vị” nơi chữ nếm vị mà đạo hữu đề cập để hiển dương chốn lập thân của người hào khí thấu trời xanh một khi đã đứng trước cửa thiền môn thì mặc nhân gian trời cao xua đuổi vẫn không di rời dù chỉ một ly. Xin kính, xin kính, đó là câu chuyện về việc ba tay nếm mật. Trước hết xin đính chính chữ mật ở đây để chỉ mật…trong túi mật chứ không phải mật ong cho vị nào mà hảo ngọt (nghĩa đen) biết trước khỏi thất vọng, xin báo xin báo. (hêy dà, có chút việc bận tí nữa sẽ hầu tiếp, lượng thứ, lượng thứ) Ba tay nếm mật đó chính là một thiếu niên vừa mới rời trường trong áo thư sinh xúng xính rộng tay đội mũ tú tài, vị thứ hai là một đạo sĩ áo thêu hình thái cực vai đeo kiếm…gỗ, tay cầm phướn…bắt ma tay cầm chuông đuổi tà, và vị thứ ba danh xuất cao sơn nhưng chùa…nghèo nên áo ngoài vá chùm vá đụp mỗi chỗ mỗi nơi mà tinh anh sáng láng trên diện mặt như người…hồ tay cầm giới đao. Ba vị gặp nhau bên ngoài thành…phố vì mới ra đời nên…mậu tài tức không có nhiều tiền để vào cao lâu luận anh hùng qua việc nếm mật nhân (mỗ tôi nghe kể mật này là mật người chứ không phải rễ cây mật nhân dùng để chữa bệnh theo nhân gian truyền…miệng). Vị sơn tăng cởi bỏ y ngoài (mới đầu đã cho thấy sự lợi hại của trí tri túc vì chỉ mỗi mình sơn tăng có đến… ba y còn hai vị thì đứng nhìn thán phục) để làm bàn độc (bàn độc là cổ ngữ chỉ chiếc bàn để bày đồ vật không có ghế như trong thành ngữ: chó nhảy bàn độc) vị thư sinh vốn ưa làm việc phục vụ…nhân dân (vị nhân sinh) lấy mật nhân từ tay đạo sĩ (vị này vì đi bắt ma trừ tà nên trong tay đảy luôn có thức ăn do người dân trả công trừ tà) đặt lên bàn độc bằng…y bố. Sau khi bày xong, không nói một lời thư sinh liền xắn tay áo tay cầm mật nhân làm luôn một ngụm ái chà đắng quá nhưng liền thốt lớn tiếng ngọt thật ngọt thật (hề hề, đúng là chánh hiệu đày tớ…nhân dân). Ngó tới ngó lui ý tỏ mình theo đạo…vô vi xem mọi việc thế gian như sương khói ảo mộng, không biết mình là bướm hay bướm là mình (đạo khả đạo phi thường đạo) nhưng…bởi mật nhân là của…mình không uống thì tiếc nên cũng làm một ngụm ái chà đắng quá miệng phun phì rút kiếm tính động thủ với vị thư sinh những bởi kiếm bằng…gỗ nên giả vờ đặt xuống bên mình. Đàng hoàng đỉnh đạt, ngồi thế kiết già, uy nghi niêm mật tức tay cầm lấy mật nhân mà nếm xong đặt xuống bàn đàng hoàng lớn tiếng không đắng mà cũng không ngọt tức không vị quả là “sự lạ thế gian, phi thường”.
Luận:
Hề hề, mỗ tôi biết cũng sẽ có ngày nhận được tin nhắn làm khó mỗ tôi. Bây giờ phải nói rằng mỗ tôi có còn hứng thú để mà viết cho diễn đàn nữa không chứ không phải ngược lại. Diễn đàn này không phải là sa mạc hoang vu khó kết hoa trái tâm linh mà khó kết hoa trái tâm linh là do bởi quá nhiều thảo dã, hoa dại đem chuyện thế gian vào cửa từ bi trí huệ. Đáng thương đáng thương.
* Nhắn đạo hữu chimanhvu: thượng tọa Thần Tú vốn được Ngũ Tổ dạy là bài kệ trình bày của ngài là vô dụng với người cầu đạo vô thượng, hay kẻ đứng ngoài cửa…Nếu được đạo hữu có thể nêu ra những kiến giải của mình về lời dạy này qua sinh hoạt, suy nghĩ và các tài liệu liên quan của ngài Thần Tú về sau, cùng bài kệ rồi Trừng Hải tôi với đạo hữu có thể trao đổi. Âu có thể nhờ đó mà mỗ tôi có thể học hỏi được những điều có lợi cho riêng mình cũng như cho đạo hữu. Kính nhắn (xin thứ lỗi vì Trừng Hải tôi chỉ có thể viết ba bài trong một ngày nên đành dùng cách này, lượng thứ, lượng thứ. Kính cáo)

hoangtri Đang Ngoại tuyến
Phó Trưởng Ban Đại Biểu Thường Trực nhiệm kỳ III (2015-2016) diendanphatphaponline.com

Thông Báo

Thành viên trừng hải lưu ý !

Xét thành viên trừng hải đã bị lây nhiễm bệnh hoang tưởng, bệnh lảm nhảm từ những vị “đại học giả điên điên”, nên nay hoangtri thay mặt Ban Quản Trị Diễn Đàn quyết ngăn chặn căn “bệnh hay lây” này, không để cho mọi thành viên hay Phật tử khách bị đọc nhiều những bài lảm nhảm vô nghĩa _ lâu ngày sẽ nghe quen tai _ từ quen nghe, bị ám thị riết có thể bị lây nhiễm lúc nào cũng không hay.

Nay quyết định :

1. Giáng trừng hải từ thành viên chính thức xuốngthành viên mới.

2. Chỉ cho phép mỗi ngày đăng một bài duy nhất, bài thứ hai trong ngày sẽ bị các Mod xóa (không cần báo).

Xin thành viên trừng hải hãy cố gắng :

1. Không nói lời vô nghĩa.

2. Không viết câu loạn nghĩa (vì sẽ hủy hoại ngôn ngữ Việt, hủy hoại tâm hồn người đọc).

3. Không đem Phật pháp ra làm trò đùa.

Nếu bạn không thay đổi văn phong sẽ bị khóa nick ngắn hạn.

Trân trọng Thông Báo.

CHIM ANH VŨ

 Kính Bác Trừng Hải


“Luận:
Hề hề, mỗ tôi biết cũng sẽ có ngày nhận được tin nhắn làm khó mỗ tôi. Bây giờ phải nói rằng mỗ tôi có còn hứng thú để mà viết cho diễn đàn nữa không chứ không phải ngược lại. Diễn đàn này không phải là sa mạc hoang vu khó kết hoa trái tâm linh mà khó kết hoa trái tâm linh là do bởi quá nhiều thảo dã, hoa dại đem chuyện thế gian vào cửa từ bi trí huệ. Đáng thương đáng thương.
* Nhắn đạo hữu chimanhvu: thượng tọa Thần Tú vốn được Ngũ Tổ dạy là bài kệ trình bày của ngài là vô dụng với người cầu đạo vô thượng, hay kẻ đứng ngoài cửa…Nếu được đạo hữu có thể nêu ra những kiến giải của mình về lời dạy này qua sinh hoạt, suy nghĩ và các tài liệu liên quan của ngài Thần Tú về sau, cùng bài kệ rồi Trừng Hải tôi với đạo hữu có thể trao đổi. Âu có thể nhờ đó mà mỗ tôi có thể học hỏi được những điều có lợi cho riêng mình cũng như cho đạo hữu.” 
Kính bác Trừng Hải ! Chimanhvu mới chỉ là người phát tâm cầu đạo vô thượng, hiểu biết chẳng được bao nhiêu, lại không Thầy dạy dỗ, dẫu thế cũng dám lén vào cửa thiền môn ém mình nghe trộm nhiều phen. Tuy chẳng được nên đầu nên đũa nhưng cái tính ham học nó thúc dục, nay lại có người chẳng kể xa gần hay quen biết muốn chỉ bảo mà chẳng đòi một đồng xu nào cả thì quả là hiếm có ở thế gian. Chimanhvu thấy thế mừng vui mà quên đi cái sở học của mình mới chỉ là chút sương mù trong đêm mà chưa qua nổi một canh giờ khi ánh bình minh chiếu sáng. Nay người rộng lượng cho phép nói điều hay dở thì cũng chẳng dám chối lời, cốt mong người chỉ thấu tâm can với người hậu học.
Theo như chỗ hiểu của chimanhvu thì giải công án của các tổ sư Thiền thì là điều tối kỵ. vì người chưa thấy Tánh mà cứ đoán mò như thầy bói xem voi thì quả là ngớ ngẩn. nay vì gượng gạo mà nói chút lời kém cỏi của kẻ sơ cơ có gì xin được chỉ giáo
Với bài kệ của Ngài Thần Tú thì người cầu đạo vô thượng hay kẻ đứng ngoài cửa đều là hữu dụng.
người cầu đạo vô thượng thì như được gáo nước lạnh mà bừng tỉnh cơn mê , cho nên sau đó mới có bài kệ của Ngài Huệ Năng . Còn với kẻ đang đứng ngoài cửa thì ngay lời nói đã hiểu được ý chỉ mà biết đường vào. chỉ chút lời không biết đúng hay sai cúi mong chỉ dạy

TRỪNG HẢI

Thanh gươm Damocles và Thiền na vô đối

Nam Mô Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật. Nam Mô Địa Tạng Vương Bồ Tát. Con xin đảnh lễ Mười Phương Chư Phật và đồng kính lễ Thánh Sư Dạ Xoa Vô Não, Tứ Đại Thiên Vương. Xin cho con được bình an khi giao duyên với thập loại chúng sanh
_______________________________________
_______________________________________

Kính thưa quý hữu, vậy là hôm nay mỗ được sống tiếp một ngày sau một đêm…thụy thiền bình an vô ngại. Cầu xin chúng sanh được bằng an trong cơn bão số 6, vô tai vô nạn không hao hụt thân mạng, bạc tiền. Đồng xin.
Kính thưa quý hữu, ngày hôm qua mỗ tôi có trình bày sơ qua về “hai chân lý-một quan niệm” tức Không tức thiền na vô đối, mà anh bạn hàng xóm phương bắc nhà đã mượn tạm (và thường… quên luôn mà xem như của mình như đồng chí, giác ngộ, tự giác, giao duyên…) và cho ra phó phẩm “nhất quốc lưỡng chế” danh tiếng hoàn cầu mà ít ai biết là sao chép Phật giáo chúng ta, qua bài luận ba tay nếm mật (những bởi…cụt hứng nên dừng nữa chừng) nay xin được tiếp tục trình bày trong phần Chat linh tinh vào sáng nay. Xin báo, xin báo.
Kính thưa quý hữu, như trên đã trình bày chúng sanh nhân loại chính là dòng niệm niệm tương tục không bao giờ ngừng nghĩ mà triết học Phật hiện đại gọi là chuỗi diễn tiến hay nhận thức, tư tưởng mà trong đó tư tưởng chính là hành vi của nhận thức hay ý thức. Kính thưa quý hữu, phàm mọi sự trên thế gian (thuộc thế gian vô minh chi mạc) khi xảy ra đều phải có chỗ bắt đầu tức có bắt đầu có kết thúc được triết học gọi là nhị nguyên mà kinh văn thường gọi là đối đãi hay nhị nguyên đối đãi được đối trị bởi phép…Thiền na vô đối mà kiếm hiệp Kim dung cũng mượn của Phật giáo chúng ta cho ra phó phẩm vô chiêu thắng hữu chiêu cũng danh tiếng hoàn cầu một thời vang dội cho đến nay. Kính thưa quý hữu, vài dòng lược tỏ để hiển bày cho quý vị thấy được tuy chỉ là pháp phương tiện mà Chư Phật, Bồ Tát và liệt vị Thánh đệ tử đã thiện xảo trao truyền cho chúng ta mà đã có uy lực khôn tả dù kẻ khởi dụng tâm địa không chánh trực (mà mỗ tôi gọi là kế xảo) huống hồ người đã phát nguyện quy y và thọ giới thì tánh dụng nó còn diệu lực đến khôn tả tức tuyệt đỉnh trần gian như thế nào. Lời lược tỏ này không phải là dài dòng văn tự mà bởi lâu nay vẫn ẩn tàng trong lời tâm tình của Trừng Hải tôi tức lời nói tuy hữu tình mà thanh vận vô tình nên khách thỉnh lãm bất tương tư (nghĩa là nó không tác tư tức manasikara, nơi khởi đầu của chuỗi citta ditthi hay vinnana kiccha việt dịch là tâm lộ?).

HẮC PHONG

Tổng Quản đã cảnh báo rồi, mà thành viên trừng hải vẫn không có chút thay đổi nào :

Trích dẫn Gửi bởi hoangtri Xem bài viết
Thành viên trừng hải lưu ý !

Xét thành viên trừng hải đã bị lây nhiễm bệnh hoang tưởng, bệnh lảm nhảm từ những vị “đại học giả điên điên”, nên nay hoangtri thay mặt Ban Quản Trị Diễn Đàn quyết ngăn chặn căn “bệnh hay lây” này, không để cho mọi thành viên hay Phật tử khách bị đọc nhiều những bài lảm nhảm vô nghĩa _ lâu ngày sẽ nghe quen tai _ từ quen nghe, bị ám thị riết có thể bị lây nhiễm lúc nào cũng không hay.

Nay quyết định :

1. Giáng trừng hải từ thành viên chính thức xuốngthành viên mới.

2. Chỉ cho phép mỗi ngày đăng một bài duy nhất, bài thứ hai trong ngày sẽ bị các Mod xóa (không cần báo).

Xin thành viên trừng hải hãy cố gắng :

1. Không nói lời vô nghĩa.

2. Không viết câu loạn nghĩa (vì sẽ hủy hoại ngôn ngữ Việt, hủy hoại tâm hồn người đọc).

3. Không đem Phật pháp ra làm trò đùa.

Nếu bạn không thay đổi văn phong sẽ bị khóa nick ngắn hạn.
Trân trọng Thông Báo.

Nay Hắc phong thay mặt Tổng Quản khóa nick bạn 1 ngày.

Kính báo !

Phật pháp phải là ngọn đèn soi tỏ thế gian.

Phật pháp không thể chỉ là ngọn đèn màu dùng để trang trí.

Ban Đại Biểu nhiệm kỳ III (2015-2016)


Hỗm rày, hơn 36 bài viết của thành viên này đã làm Ô nhiễm diễn đàn Phật pháp này dữ lắm rồi, rất cần thiết phải stop, để “cái loa rè, nói tầm bậy” này không tiếp tục “tra tấn” mọi người.


Hoatihon còn cảm thấy “khóa nick 1 ngày” là quá ít, vì 8 giờ sáng maitrừng hải lại trừng lên tiếp tục “thả bong bóng”.


Hoatihon đề nghị nếu sau 5 lần khóa nick ngắn hạn mà thành viên này vẫn không nói chuyện như người bình thường thì Ban Tổng Quản nên khóa nick vĩnh viễn luôn (vì đây là bệnh ung thư giai đoạn cuối _ hết thuốc chữa _ rồi.)


Kính !

CHIM ANH VŨ

Đừng vội vàng kết luận người khi mà thầy thuốc chưa học hết phương pháp chữa trị. Người xưa có câu rằng : Cao nhân tắc có cao nhân trị
nếu chỉ dùng một phương thuốc để chẩn trị chung cho mọi người thì có ngày phải ra pháp trường chứ không phải chơi. hãy hiểu rằng nơi đây là thế giới ảo của một thời đại ” trí Tuệ ” mà nhà Phật gọi là …mọi người thử đoán xem. Người chân chính đến nơi đâu thì cũng chẳng sợ gì cả. chớ có cho mình là người nắm trong tay đãy càn khôn mà muốn thu cả trời đất. tôi không bênh vực ai cả, mà chỉ là người thấy trái tai trái đạo làm người. vì đạo trời hay đạo người trước là bao dung sau là từ bi trí huệ…
đôi lời với chị Hoatihon cho phải phép. kính chị an vui

CHIẾU THANH

 Gửi bởi Tuấn Tú 
Kính thưa quý vị,

Tiếp theo lời cầu xin của đạo hữu “Chúng Sinh Sợ Quả” cho phép bác Trừng Hải được tiếp tục đăng bài mỗi ngày. Tôi là người thứ hai vào van xin quý vị mở lòng từ bi xét lại tư cách và học thức của một người “bệnh tâm thần” (xin lỗi bác Trừng Hải về nhận xét này của tôi sau nhiều ngày theo dõi và trao đổi cùng bác). Vấn đề người mắc bệnh tâm thần thế nào, quý vị chắc cũng biết rồi, khi tỉnh, khi mê… Khi tỉnh thì tư tưởng và lời nói trong diễn đàn rất “tỉnh thức” (xin đọc lại nguyên bài trích dẫn). Khi mê là vì xung chạm, tiếp xúc với tư tưởng của một vị nào đó trong diễn đàn, thì viết mà không có ý thức được mình viết cái gì, vì vậy mọi người cho là lảm nhảm, không làm chủ được tâm ý v.v…

Trong bài trích dẫn ở trên, xin quý vị định tâm ngồi lại, tập trung tư tưởng quán xét từng câu trong bài để thấy rõ cái “kiến thức” của một người mắc bệnh tâm thần khi họ ở trong giai đoạn “tỉnh thức” có đúng với những điều mà bác đã học qua kinh điển Phật giáo và kinh nghiệm của bác ấy không?
Tôi không muốn viết nhiều nữa, chỉ nói bấy nhiêu thôi với tâm ý “bênh vực” một người bệnh với lòng thương xót: “Tại sao chúng ta không từ bi cứu giúp một người mắc bệnh, tạo cho họ một cơ hội cải hóa bằng phương pháp khuyên nhủ thiết thực nhất để họ sớm nhận ra điều tệ hại do duyên với với những ý nghĩ xung động làm tâm trí họ bị dẫn dắt theo mê lộ, mà có biện pháp trừng trị theo luật chơi của diễn đàn…”

Kính.

Kính Thưa Quý Vị.
Tôi đồng ý với Bác Tuấn Tú. Và có đôi lời cùng Bác Trừng Hải.
Kính Bác Trừng Hải.
Tích xưa kể rằng, Ngài Đức Sơn soạn bộ chú giải Kinh Kim Cang mang theo xuống phương nam quyết làm ra lẻ Thầy Tu Phương Nam bảo rằng “Trực chì Chơn Tâm, Kiến Tánh Thành Phật”. Đi đường gặp bà bán bánh làm cho một vố, cháng váng. Tới chùa gặp HT Long Đàm thổi tắt đèn, cháng váng lần nửa và ngộ. Thế là “Mắng Phật, Đốt Kinh, và chửi Tổ”.
Bác không biết được như Ngài Đức Sơn chưa? Không khéo thì “chín không chín, sống không phải sống”. Thôi thì, CT tôi xin bày Bác một cách “lưởng toàn”, Bác vào trang tình nguyện viên, ở đó thỏa chí tung hoành với điều kiện có “Mắng Phật, Đốt Kinh, Chửi Tổ” củng phải nói cho ra Ngô ra Ngô, Khoai ra Khoai.
Kính!