Lưu trữ hàng tháng: Tháng Một 2016

bongsen2

Phật Pháp là Bất Nhị pháp.

latuan 

Phật Pháp là Bất Nhị pháp.

Đạo khả đạo phi thường đạo. Danh khả danh phi thường danh.

Vô, danh thiên địa chi thủy. Hữu, danh vạn vật chi mẫu.

Cố thường vô dục dĩ quan kì diệu; Thường hữu dục dĩ quan kì kiếu.

Thử lưỡng giả đồng xuất nhi dị danh. Đồng vị chi huyền. Huyền chi hựu huyền. Chúng diệu chi môn.

Đạo được gọi là đạo thì cái gọi là đạo đó không phải là tên gọi bất biến của đạo. Cũng như tên gọi của mọi sự vật hiện tượng đều không phải là cách gọi không thể thay đổi ở các sự vật hiện tượng. Không là gốc khởi nguồn của sum la vạn tượng; Có là tạm gọi là mẹ của vạn vật.

Hãy tthường tựa nơi không để nhận diện cái thể vi diệu, nhiệm mầu của đạo; Thường tựa nơi có để xét cái dụng uyên áo, trùm khắp không cùng của đạo.

Cả không và có xuất phát cùng một gốc nhưng có công dụng sai biệt. Cả hai đều rất mầu nhiệm, huyền diệu. Huyền diệu lại càng thêm huyền diệu do sự biến hóa không ngừng. Không và có là cội nguồn của mọi sự biến hóa tạo ra vạn vật, muôn loài; Đạo là cánh cửa mở ra sự sống.

Latuan xin được hỏi các bậc thiện tri thức và quý đạo hữu “Đoạn trích dẫn bên trên có phải là Phật pháp không?”.

Kính!

trừng hải 

   Kính trí giả latuan


Đoạn văn kinh trên không phải là Phật Pháp, chỉ là một thước nước lậm xưng là in trời vậy, hề hề

Kính trừng hải 



Nguyên Chiếu

    Con chào Bác Trừng Hải,

Con thì chưa hiểu đoạn văn của đạo hữu Latuan viết lắm. Nếu đoạn văn trên không phải là của Phật Pháp thì Ng chiếu xin Bác vì tất cả đạo hữu ở đây mà chỉ ra chỗ không phải để mọi người được tường tận ạ .

Kính

trừng hải

       Chào đạo hữu Nguyên Chiếu

Kinh văn(dụng) nguyên là do ngôn ngữ hay tướng (tên gọi) vận hành, am tường chỗ vận hành ắt sẽ hiểu rõ tánh là cái chi chi. Xin hãy chờ trí giả latuan chỉ chỗ hành hoạt của đoan “trích dẫn” trên rồi trừng hải sẽ trao đổi cái gọi là “một thước nước in trời” hay ao tù nước đọng mà lậm xưng hàm tàng cả trời cao vô ngại.

Mến, Trừng Hải

latuan

Kính trưởng bối Trừng Hải! Theo chỗ nhận của latuan thì đoạn kinh văn ấy lại là Phật pháp, biết vậy nhưng nói ra sẽ thành Đoạn nên latuan đã rửa tai chờ trưởng bối khai thị chỗ không là Phật pháp ở đoạn Đạo Đức kinh do Lão Tử thuyết.

Kính!

trừng hải

      Kính trí giả latuan

Vạn vật sanh thành ở trong hai biên hữu-vô đều là hữu pháp; lấy Vô hay Hữu làm làm chỗ trụ vị thì làm sao thấy cái ngoài hữu pháp, hề hề, ở giữa hai biên làm sao biết chỗ VÔ BIÊN được.

Thấy rõ cái mâu thuẩn nội tại của vạn pháp sanh thành mới là Phật Pháp vậy.

Có phải vậy chăng???

Kính, Trừng Hải

vienquang6

    ” Gửi bởi trừng hải 

Kính trí giả latuan

Vạn vật sanh thành ở trong hai biên hữu-vô đều là hữu pháp; lấy Vô hay Hữu làm làm chỗ trụ vị thì làm sao thấy cái ngoài hữu pháp, hề hề, ở giữa hai biên làm sao biết chỗ VÔ BIÊN được.

Thấy rõ cái mâu thuẩn nội tại của vạn pháp sanh thành mới là Phật Pháp vậy.

Có phải vậy chăng???

Kính, Trừng Hải “

… Cung kính cúng dường ngài

latuan

      Kính bác Trừng Hải! Vì mãi trông chỗ Phật pháp của đoạn kinh văn trên nên latuan chỉ tựa nơi có để nhìn cái thể vi diệu của pháp, tựa nơi không để nhận diện cái dụng trùm khắp của đạo. Sau rốt latuan nhận ra chỗ cao minh của gã cùng tử Lão Tử, vị đại thiện tri thức này cũng đã nhìn thấy rõ chỗ diệu dụng của sắc không nơi đạo Phật. Tiếc là vị tiền bối này chỉ trụ nơi pháp hữu vi mà không thâm nhập được chánh pháp nhãn tạng Như Lai nên chỉ tùy thuận bảo nhậm chỗ hiểu biết thông tuệ.

Nay latuan được bác nhắc nhỡ chỗ mâu thuẫn nội tại của vạn pháp sanh thành mới là Phật Pháp bất giác latuan lại không nhận ra điều đó. Hóa ra bấy lâu latuan đã hồ đồ ư?

Hai lẽ hữu vô là hữu pháp, ở giữa trông hai lẽ hữu vô cũng là hữu pháp, nếu không trông càng không thể rõ vô biên. Thôi bỏ ta đi, hữu vô đâu từng đoạn, vô biên – hữu biên… mặc nhiên bày. Tất cả các pháp đều là Phật pháp.

Kính!


vienquang6

       Ồ ! Trí Giả Latuan nói rất hay:

Hai lẽ hữu, vô là hữu pháp, ở giữa trông hai lẽ hữu vô cũng là hữu pháp, nếu không thông càng không thể rõ vô biên.

Hữu vô đâu từng đoạn, vô biên – hữu biên… mặc nhiên bày. 

Quả thật vậy. – Tận cùng chân lý các pháp đều KHÔNG, nên “Hữu” cũng là Không, ” Vô ” cũng là Không. Vì vậy Hữu- Vô BẤT NHỊ, vì Bất Nhị nên là Nhất Chơn Như.- Vì Nhất Như nên Tất cả các pháp đều là Phật pháp.

Thật là Bất khả tư nghì đó.

Xin cung kính cúng dường.

Kính.

trừng hải 

      Kính trí giả latuan


Ở nơi hữu pháp có am tường tận cùng hữu pháp thì cũng chỉ là hữu pháp mà thôi, làm sao thông đạt vô pháp được???

Thế giới đại đồng nhỉ!!! Mọi con đường đều trở về la mã mà, hề hề, chúa cũng được mà mahomed cũng xong, nhưng chúa thì đi ngủ trưa, mà mahomed bận giữ cửa thiên đàng; đường nào đi cũng được (đường làm ra để mà đi mà, hề hề) nhưng bạn muốn về nước chúa hay ngụ ở thiên đường, nơi rượu chảy như suối, mật ong với bánh mì vô thiên lủng và thiên nữ là gối tựa đầu ru giấc mộng…nguyên sơ, hề hề.

Kính, Trừng Hải

nguoidienhocphat1

        Người có công phu thiền định khi thấy được tự tánh luôn viên mãn tròn đầy, nơi ấy không có niệm sinh diệt, sẽ thấy ta và chúng sanh đồng 1 bản tánh chân như, cái chơn như này bao trùm cả không gian thời gian và van vật, tiến dần đến chổ vô sanh thì người ấy sẽ không thấy có sự phân biệt và dính mắc gì cả. Sẽ chỉ thấy tất cả pháp là như huyễn, tùy duyên mà sanh ra hữu duyên mà mất đi. Vậy thì không khởi niệm phân biệt thì lấy gì có sự dính mắc vào sự phân biệt. A di đà Phật!

vienquang6

       Hữu pháp.

Thế nào là ” Hữu pháp” ?

Thế nào là ” Vô pháp” ?

* Hữu pháp là pháp có .

– Pháp có đối đãi là Hữu pháp.

– Pháp có sanh, trụ, dị, diệt là hữu pháp.

– Pháp có suy nghĩ luận bàn được, là hữu pháp

Tất cả pháp hữu Vi, tức là pháp do nhiều nhơn duyên giả hợp mà hình thành đều là pháp có hai, đều là hữu pháp. Tức là chúng đều là như huyễn, là không thật, là vô minh sanh.

* Vô Pháp là Vô vi, là Niết Bàn.

* Nhưng do đối đãi với hữu pháp mà nói có Vô pháp nên kinh dạy:

“Hữu” và “Vô” đều là hữu pháp. 

Vì đều do đối đãi mà có ra.

Cho nên Thật sự là “Vô pháp”, thì vô ngôn, tuyệt lự, bất khả tư nghì vậy.

Đức Phật dạy về Pháp này, là để cho chúng sanh, nhận ra Thật tướng các Pháp (là pháp chẳng hai, là Vô pháp, là Bất Nhị pháp), mà thoát khỏi Vô minh, chứng đắc Trí huệ Tánh không Bát Nhã Ba- la- mật vậy.

Mâu thuẩn nội tại của vạn pháp sanh thành mới là Phật Pháp vậy.

Thưa Các Bạn. Chúng ta thử phân tích bài viết của Bác Trừng Hải xem:

  Gửi bởi trừng hải 

Kính trí giả latuan

Vạn vật sanh thành ở trong hai biên hữu-vô đều là hữu pháp; lấy Vô hay Hữu làm làm chỗ trụ vị thì làm sao thấy cái ngoài hữu pháp, hề hề, ở giữa hai biên làm sao biết chỗ VÔ BIÊN được.

Thấy rõ cái mâu thuẩn nội tại của vạn pháp sanh thành mới là Phật Pháp vậy.

Có phải vậy chăng???

Kính, Trừng Hải

Vạn vật sanh thành ở trong hai biên hữu-vô đều là hữu pháp

tức là tất cả những cái được sanh ra từ “Nhị biên” (có hoặc không) đều là Hữu pháp, tức là chúng đều là như huyễn, là không thật, là vô minh sanh.

Lấy Vô hay Hữu làm làm chỗ trụ vị thì làm sao thấy cái ngoài hữu pháp, hề hề, ở giữa hai biên làm sao biết chỗ VÔ BIÊN được.

Ý Bác ấy nói “Lão tử” đã nhận lầm, ngài ấy lấy “Vô hay Hữu làm làm chỗ trụ vị ” .- Vì do câu nói này của Lão tử:

Không là gốc khởi nguồn của sum la vạn tượng;  là tạm gọi là mẹ của vạn vật.

Hãy tthường tựa nơi không để nhận diện cái thể vi diệu, nhiệm mầu của đạo; Thường tựa nơi có để xét cái dụng uyên áo, trùm khắp không cùng của đạo.

Cả không và có xuất phát cùng một gốc nhưng có công dụng sai biệt. Cả hai đều rất mầu nhiệm, huyền diệu. Huyền diệu lại càng thêm huyền diệu do sự biến hóa không ngừng. Không và có là cội nguồn của mọi sự biến hóa tạo ra vạn vật, muôn loài; Đạo là cánh cửa mở ra sự sống.

Bác Trừng Hải chê Lão tử, đã còn ở Nhị biên, nên chưa thể là lời của Phật Pháp được.

* Mâu thuẩn nội tại của vạn pháp sanh thành mới là Phật Pháp vậy

Là ý nghĩa ra sao ?

* Tháng 9.2010, nhà vật lý học lừng danh Stephen Hawking luận giải một cách chung cuộc rằng vũ trụ xuất phát từ chân không, vũ trụ phát sinh không cần đến một đấng sáng tạo.- Đó là ” Mâu thuẩn nội tại ‘…. Hawking chứng minh vũ trụ xuất phát từ cái “Không”, ông bác bỏ sự cần thiết của một Thượng đế nhưng có lẽ ông không biết “Không” là gì. Là một nhà vật lý, ông khó có thể biết hơn. Phật và các vị Tổ Phật giáo biết “Không” là gì bằng trực quan nhưng không miêu tả nhận biết của mình.Tính Không thuộc về một lĩnh vực mà ngôn ngữ không diễn bày được. Nhà vật lý tin rằng có một vụ “nổ ban đầu” (Big Bang) cách đây khoảng 14 tỉ năm để sinh ra vũ trụ vật lý. Thiền giả thấy có một sự “bùng nổ” trong tâm xảy ra trong từng sát-na. Đó là cách nói gọn nhất về sự khác biệt giữa Phật giáo và khoa học.

Trích từ:

http://www.daophatngaynay.com/vn/pg-…-dieu-huu.html

Những ý này là : Mâu thuẩn nội tại của vạn pháp sanh thành để sanh ra vạn pháp vậy.

Như vậy lời Bác Trừng Hải là lời có tư duy, có y theo kinh Phật, đáng tán thán khen ngợi lắm.


vienquang6

Vô Biên là gì ?

* Vô biên là không có đầu mối không có chung cuộc, không có bến bờ.

Như vậy.- Vô biên là chỉ cho chơn Như.

Như bài kinh sau:

Vậy Chơn Như là gì ?


KINH BÁT NHÃ dạy:
……. Muốn biết rõ pháp như, pháp tướng và thật tế vô sanh của các pháp trong 3 đời, phải tu tập Bát Nhã ba- la- mật.

LUẬN:

……. Hỏi: Thế nào gọi là như ? Thế nào gọi là 3 đời đều như ?

……. Đáp: Nói Vô Sanh là nói Thật Tế. Nói 3 đời đều Như là nói hết thảy pháp tướng đều như, chẳng có sai khác.
Như có 2 nghĩa. Đó là:

– Thế gian Như.
– Xuất thế gian Như.

……. Các pháp trong 3 đời đều chỉ là một tướng (nhất tướng). Do các nhân duyên quả báo, nên phân biệt có các tướng sai khác: Có biệt tướng, có tổng tướng. Do sự phân biệt các tướng như vậy mà hình thành pháp tướng thế gian.

……. Nếu lấy trí huệ Bát nhã quán chiếu, thì sẽ thấy rõ các pháp tướng trong cả 3 đời đều là Như, là Vô Sanh, là Thật Tế Vô Sanh vậy.

……. Bởi nhân duyên vậy, nên nói các pháp thế gian và xuất thế gian ở cả 3 đời đều Như.

……. Hỏi: Như pháp tướng cũng là Vô Sanh tướng, phá hết thảy các tướng, chẳng còn có phân biệt nữa. Như vậy vì sao còn nói đến thật tế vô sanh của các pháp trong 3 đời ?

……. Đáp: Nhằm phá tướng sanh của các pháp, phá chấp có ba đời mà nói các pháp trong ba đời chỉ là một tướng (nhất tướng), là chẳng có tướng (vô tướng). Các pháp chẳng có sanh nên là Vô Sanh. Tướng Vô Sanh là tướng Niết bàn, là bất sanh bất diệt vậy.

……. Tướng của hết thảy các pháp cũng là tướng Niết bàn, nên Phật thường dạy :”Hết thảy các pháp đều là thật tế vô sanh”.Hết thảy Pháp Tướng đều NHƯ.- Đó là Chơn Như.

* Vậy chúng ta hãy phân tách bài viết của ngài Latuan xem:

Gửi bởi latuan

Hai lẽ hữu vô là hữu pháp, ở giữa trông hai lẽ hữu vô cũng là hữu pháp, nếu không thông càng không thể rõ vô biên. Thôi bỏ ta đi, hữu vô đâu từng đoạn, vô biên – hữu biên… mặc nhiên bày. Tất cả các pháp đều là Phật pháp.

Kính!

Hữu vô đâu từng đoạn, vô biên – hữu biên… mặc nhiên bày. 

Đây là nói về Như Tánh đó.- Bởi vì Trong Như thì vốn vô sanh, vô diệt (kinh dạy: “Hết thảy các pháp đều là thật tế vô sanh”.)

Tất cả các pháp đều là Phật pháp.

Vì tất cả pháp đều NHƯ, nên tất cả các pháp đều là Phật pháp.

Như vậy bài viết của Ngài Latuan là có tư duy, là đúng chánh Pháp Phật đó. Do vậy nên đáng tán thán khen ngợi.

   latuan

Gửi bởi trừng hải

“Kính trí giả latuan

Ở nơi hữu pháp có am tường tận cùng hữu pháp thì cũng chỉ là hữu pháp mà thôi, làm sao thông đạt vô pháp được???

Thế giới đại đồng nhỉ!!! Mọi con đường đều trở về la mã mà, hề hề, chúa cũng được mà mahomed cũng xong, nhưng chúa thì đi ngủ trưa, mà mahomed bận giữ cửa thiên đàng; đường nào đi cũng được (đường làm ra để mà đi mà, hề hề) nhưng bạn muốn về nước chúa hay ngụ ở thiên đường, nơi rượu chảy như suối, mật ong với bánh mì vô thiên lủng và thiên nữ là gối tựa đầu ru giấc mộng…nguyên sơ, hề hề.

Kính, Trừng Hải”

Theo chỗ mạt học latuan biết thì xưa Phật Thích Ca dùng lời chỉ bày chỗ cùng tận của hữu vô, sau ngài Duy ma cật dùng vô ngôn để hiển bày Phật pháp bất nhị bất khả tư nghị. Chỗ nói nín của các bậc giác giả latuan chỉ biết nín lặng.

Về thiên đàng hay uống rượu suốt mùa hạ cuối hay gối đầu lên chân của thiên nữ má môi kề? Nghe chừng thật cám dỗ, thật sảng khoái. Song đã rõ là mộng rồi, latuan sẽ không vọng hỏi cầu chén trà Tào Khê.

Kính!

Kính trưởng bối minh định cùng quý đạo hữu! Ở topic Học gì ở Phật latuan có trình bày rằng latuan học tham sân si mạn nghi từ Phật, biết rồi liền thôi. Nay nhân việc trưởng bối minh định có ý trách người đương thời nói lời cao siêu nên latuan trình chỗ thô vụng của latuan.

Latuan vốn không có bề dày tham cứu kinh điển như số đông quý vị đạo hữu ở diễn đàn. Thậm chí có lúc latuan còn mặc định “Con người chết là hết”. Sau có chút duyên latuan chán ngán nẻo đời vào chùa náu thân. Có lẽ do chỗ vọng chấp “Chết là hết” của latuan khiến chúng sinh nẻo không thân cười ngạo sự u mê của latuan. Thế là họ hiện thân dọa latuan một phen. Cũng may khi ấy latuan đang chán đời, chết còn không sợ thì đâu có lý lại sợ đến chết khiếp trước chúng sinh vô minh. Sau đó, latuan sinh lòng tham giống Phật muốn giải thoát hoàn toàn. Còn sân thì khỏi phải nói rồi, trước khi Toàn giác Phật cũng là con người nên cũng lắm lúc sân. Si thì đã là chúng sinh nơi tam giới hẳn là ai cũng có phần. Mạn = kiêu mạn, khi chưa xuất gia tầm đạo thì người tài hoa như Thái tử Tất đạt đa hẳn lắm lúc có điều tự hào. Vậy nên tham sân si mạn latuan cũng đều nương Phật lẫn tâm tánh chúng sinh của mình mà có.

Nghi, đúng vậy latuan cũng là người hoài nghi những điều không rõ cả hai nẻo đạo đời. Điều gì chưa rõ mà quan yếu với tâm tư latuan thì latuan sẽ tùy thời xét lại cho rõ, cũng không quá gượng ép, tùy duyên mà dần biết những điều cần biết. Khoan hẳn nói đúng sai, hay dở chỉ là thỏa mãn sự hiểu của latuan ở một thời điểm nào đó, sau latuan lại thấy sự hiểu đó không chống trái với chánh pháp. Và bằng sự khách quan latuan nhận ra Phật cũng đã từng hoài nghi những điều không rõ và sau rốt khi chứng ngộ vạn pháp thì mọi lẽ đều thông.

Rõ biết vậy nên latuan gượng nói là đã học Phật ở sự tham sân si mạn nghi nhưng dừng tâm mình ở trung đạo, không rơi vào trạng thái cực đoan, quá khích, cục bộ, chủ quan.

Việc đúng sai, hay dở, hơn thua… Tự thân đâu thể xác quyết đành đón chờ búa rìu dư luận, chỉ biết việc làm không trụ ở tư tâm.

Kính!

   trừng hải 

 Kính đa tạ Thầy Viên Quang đã bỏ thời gian quý báu diễn đạt thay trừng hải.

_ Kính đa tạ trí giả latuan đã cùng trao đổi với kẻ còn chăn trâu nơi cô thôn biên địa là trừng hải vậy.

Cầu cho chúng sanh thường an lạc, đắc giải thoát đáo Niết Bàn.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Trừng Hải

latuan 

Kính bác Trừng Hải! Thú tiêu dao khi chiều về ngắm trăng, thổi sáo, chăn trâu của trưởng bối. Thật đáng ngưỡng mộ.

Latuan chỉ là gã du ca ngoài biên địa đôi khi thèm lắm được chăn bò trên đồi sim chín hoặc mông lung thả mình trên con sóng xô bờ.

Song gã du ca miền biên địa đâu chọn bến đây là điểm dừng nhàn nhã. Latuan chỉ đến và đi như một thoáng mây bay.

Đền ơn Phật là việc nên làm. Đó không là điều ràng buộc, cũng không là niềm dính mắc.

Kính!

Chiếu Thanh

Con bò là con trâu (cũng là , như là, giống như là) vì nó có hai sừng và ăn cỏ. !

Cây lúa như cây cỏ vì nó củng nẩy chồi và trổ bông.
————————

Này, nên nhớ rằng tất cả phép so sánh cùng tỉ dụ là đều sai, nếu chấp vào nó (Phép so sánh, tỉ dụ), chỉ có Thực thấy, Thực biết, liễu tri, mới là thực.

Này, các bạn đồng Tu, Pháp của Phật_Phật Pháp, là Bất khả Tư (ngoài (vượt khỏi) khả năng suy nghỉ), Bất khả nghì (vượt khỏi khả năng suy lường cân đong đo đếm), bất khả thuyết (vượt khỏi khả năng trình bày, diển đạt) chỉ có cách duy nhất là : Uông tự biết nóng lạnh.

Đừng tin .., đừng tin … đừng tin.

(Nếu viên quang đúng thì viên quang đã là Thánh rồi, nhưng vq không phải…)

Các bạn hảy mĩm cười và dừng lại.

Vì thế, tôi đóng chủ đề trước.

   

Phật Pháp là nhị pháp !

Vì có hai Pháp cùng tồn tại, 1/Phật Pháp , 2/Không phải Phật Pháp. Có cái “Không Phải” mới thấy được cái “Phải” , và nếu là duy nhất thì không có tên “Phật Pháp” cũng không có tên nào cả _ Vô danh.

Phật Pháp là “hằng hà sa số” (cát sông hằng) Pháp.

Có Pháp nào không phải “Phật Pháp”!… ? 

Cả cái pháp không phải cũng là “Pháp Phật”.

Tào lao sanh chuyện tào lao.

Nếu không có “Mẹ” làm sao có mầy.!

Ồ mảnh đất này tôi không mấy khi được vào, nhưng lần này cũng dám bạo gan một lần để biết .

Nếu như lời Chiếu Thanh là bất khả tư nghì, thì lời đã nói ra cũng đâu còn giá trị nữa.

lại nữa tam tạng kinh điển là lời Phật Tổ nói, liệu cũng nằm gọn trong cái hiểu biết của Chiếu Thanh chăng?

Nếu vậy ngàn ngàn người đọc kinh Phật , lời Tổ mà vẫn tỏ ngộ cái chân lý bất khả thuyết mà Chiếu Thanh nêu ra chắc hẳn là hư dối. vậy Thanh Văn biết đạo là lầm chăng? các sư ngày nay nói pháp như Lai hẳn cũng là tự dối mình dối người chăng? bởi chẳng ai có thể chứng minh mình ngộ đạo ngoài ngôn từ, lời nói cả. vậy người câm là ngộ đạo chăng, cỏ cây là thánh chăng.

Gió ,Mây, Sông Nước cũng tự mình trôi bay mà thể hiện cái chân thừờng… lẽ nào con người, chúng sinh hữu tình không có cái cách để thể hiện như Gió, Mây nếu không dùng ngôn ngữ.

Hay là dùng cử chỉ như những người khiếm khuyết mới thực sự là người ngộ đạo

Cũng như ở đây có nhiều người cứ hay nói đến hai từ Chân Như, mà nào đâu đã biết Chân Như là cái gì , nó thế nào, nó đứng yên chăng , nó động chăng?

Tạm là như thế mong rằng cái quyền tắt đèn nơi công cộng cũng phải có qui tắc. chớ có mà tự cho mình là ông xóm trưởng rồi tắt đèn không đúng thì có khi con cháu mình vấp ngã cũng không chừng

vienquang6

Thành viên Chiếu Thanh đã bị “Tẩu hỏa nhập ma” rồi. VQ tạm thời không mời Chiếu Thanh tham gia nữa.

Bình Đẳng Giác

Gửi bởi Chiếu Thanh “Phật Pháp là nhị pháp !

Vì có hai Pháp cùng tồn tại, 1/Phật Pháp , 2/Không phải Phật Pháp. Có cái “Không Phải” mới thấy được cái “Phải” , và nếu là duy nhất thì không có tên “Phật Pháp” cũng không có tên nào cả _ Vô danh.

Phật Pháp là “hằng hà sa số” (cát sông hằng) Pháp.
Có Pháp nào không phải “Phật Pháp”!… ?
Cả cái pháp không phải cũng là “Pháp Phật”.

Tào lao sanh chuyện tào lao.

Nếu không có “Mẹ” làm sao có mầy.!”

Chỗ này chú bị nhãn giỗi sinh nông nổi rồi.sám hối đi

trừng hải 

Kính quý đạo hữu

_ Phàm việc tu học, tu hành (chữ tu này xin hiểu theo Lời Phật Đà Dạy) thì có nhiều giai vị tùy tông phái Bắc-Nam (nhưng đại dồng mà tiểu dị đối với Phật tử hay chỉ là một VỊ theo như lời Phật Đà dạy), như Thiền tông gọi là Khai, Thị, Ngộ-Nhập. Ngộ-Nhập thì bất khả tử nghị nơi thế gian xứ, nên nói gì thì cũng sai vì vậy năm xưa Lâm Tế cũng bất khả làm gì chỉ tùy nghi mời: uống trà đi, uống trà đi (hề hề, tổ Lâm Tế cũng chưa phải là bậc thượng thừa diệu thủ nhỉ???), Nhưng ở vị Khai, Thị thì không dùng lời làm sao biết đường đi, lối vào (nên trong Phẩm Nhập Pháp Môn Bất Nhị trong Duy Ma Cật Sở Thuyết Kinh, đầu thì có lời của chư vị Đại Bồ Đề Tát Đóa sau rốt ngài Duy Ma Cật mới lặng thinh; nhưng cái lặng thình này cũng không phải là bất khả tư nghì bởi Đại Bồ Tát Văn Thù thay mặt chúng sanh mà tán thán).

_ Vì vậy việc dùng ngôn ngữ văn từ chưa hẳn là vô dụng, lời nói uống nước tự biết nóng lạnh chỉ ở giai vị ngộ nhập thì còn miễn cưỡng nhưng rõ ràng kiến giải về chủ đề (cảnh sở quán) ở vị Khai, Thị thì có gì mà phải lậm xưng hai chữ VÔ NGÔN, hề hề.

_ Cũng đồng ý trên, theo văn tự nghĩa thì Pháp vốn được chia tùy theo tông phái bắc, nam, tiểu, đại, nhưng PHÁP giúp người mắt sáng ắt phải ở chỗ đồng cầu vì chỉ là MỘT VỊ y theo Lời Đức Phật Dạy. Có phải chăng đây mới là chỗ ĐỒNG HÒA KIẾN GIẢI. Nên lời kiến giải chỉ đưa đến sự chia rẽ, ai về nhà nấy, hề hề, thì ắt không phải là tu học, tu hành theo gương PHẬT ĐẠO vậy?

Một buổi sáng đẹp trời
Kính, Trừng Hải

nguoidienhocphat1

Khi viết một bài này trong diễn đàn này, muốn viết được sẽ đánh những câu phật học, mình nhớ câu: Tu là sửa lỗi mình. Và thấy 84 vạn pháp môn các kinh điển đều cùng chung mục đích này giúp chúng sanh tu tâm sửa tánh. Các lời dạy của đức Phật đều hướng chúng sanh thay đổi tâm tánh xấu ác để trí tuệ khai mở mà giải thoát hiện tiền.
Các vị đừng có biến đạo Phật thành một đạo xa rời thực tế, muồn đạo phật đi vào thực tế thì mỗi chúng sanh phải hành, hành ở đây không phải là học thuộc bao nhiêu bộ kinh biết bao nhiêu luận điển, hoặc thiền định ngộ nhập cảnh giới nào. Hành ở đây là tu sửa cái tâm tánh của mình, lục lọi các ngõ ngách trong tâm mình nó xấu ác chổ nào mà kien quyết sửa, sửa ngay từ gốc bứng cái gốc rể tham sân si mạn nghi mà do nghiep lực sâu dày nhiều đời nhiều kiếp nó bám rể sâu chắc, cái rể này vừa sâu vừa rộng bám sâu tận ngóc ngách trong tâm ta. Hãy tu sửa như vậy từ từ quý vị sẽ thấy mình tu tập tiến bộ. Cái kết quả thực tế của việc tu tập tiến bộ mà ai cũng thấy nó hiện bày ra trước mắt:
Đó là ai cũng thấy mình an lạc, ai cũng thấy mình nhẹ nhàng thanh thoát không khởi lên tham sân si khi có nghịch duyên đưa đến, ai cũng yêu quý và có chuyện gì cũng nhờ mình giúp đỡ. Ai có phiền não đều đến gặp mình và sau khi gặp mình xong thì họ an lạc vui vẻ phấn chấn. Cái kết quả thực tế tu tập nó thể hiện qua đạo hạnh người tu.
Chứ bây giờ ta nói thao thao bất tuyệt về giáo lý phật pháp mà hành thì ta ko chịu hành thì lời nói của ta nó không có trọng lực, vì lời nói và hành động của ta nó trớt quớt mà, rồi ta quay qua ta sân si vì sao có người không đồng tình với ta phản đối ta như vậy, ta đâu có nói sai lời nói ta là ở trong kinh mà, lời nói ta là của các vi tổ, rồi ta tâm sân si phiền não khi không được ai đó đồng tình kính trọng. Cứ như vậy vô minh cứ nối tiếp vô minh, vô minh lại chồng chất vô minh biết bao giờ ta mới thấy tự tánh của chính ta, biết bao giờ ta mới thấy an lạc.
Mình thấy đức Phật hay các vi tổ hay bây giờ các thầy thuyết pháp trên mạng đều dùng những ngôn từ bình dân dễ hiểu cốt sao truyền tải tri thức phật pháp cho mọi người hiểu và hành theo. Còn ta thì cứ dùng ngôn ngữ trên mây trên mưa xa rời thực tiển để chứng tỏ học thuật của ta công phu tu tập của ta là sôi kinh nấu đển thông thạo tam tạng kinh điển. Như vậy ta có sai lầm lạc đường chăng. Ta lại đi ngược lại con đường bao nhiêu thề hệ đi trước, phụ lòng bao nhiêu chúng sanh, bao nhieu người thân quen.
Mình tu mà không mang an lạc cho chính mình và những người hữu duyên với mình, có nghĩa là đường tu của mình có chướng ngại vật cần nhìn lại và khắc phục sửa chữa nó.
A di đà Phật!

   

Vô Ưu

Kính thưa Bạn nguoidienhocphat1 

Thấy bạn có tâm đắc với ngôn từ bình dân, Vô Ưu rất mừng đó vậy.

Nhưng thưa Bạn, người xưa có câu:

Li tịch phương ngôn tịch diệt khứ,
Sinh vô sinh hậu thuyết vô sinh.
Nam nhi tự hữu xung thiên chí,
Hưu hướng Như Lai hành xứ hành.

nghĩa:

Thoát kiếp rồi bàn câu tịch diệt
Không sinh hãy nói chuyện siêu sinh
Tài trai có chí xông trời thẳm
Giẫm vết Như Lai luống nhọc mình

Ý là, mỗi người riêng có sở trường và sở đoản của mình.

Con chim thì ưa hót, con chó lại ưa sủa, người thì học ít, kẻ lại học nhiều, làm sao mà cào bằng cho được !

Bởi vậy cách tu của mỗi người mỗi khác, do vậy khi tham gia diễn đàn, chúng ta thích phong cách nào thì thảo luận phong cách ấy, không thích thì không thèm xem, đâu có ai ép nài ai ?

Xem ra Bạn có một phong thái riêng biệt là “Bình dân”, vậy thì bạn cứ diễn thuyết theo kiểu bình dân càng thêm phong phú cho diễn đàn.- Đây là điều đáng quý.

Mong Bạn cố gắng phát huy.

Kính mến.


latuan

Phật pháp vô biên. Nhìn người mà xét mình. Nhận ra mình còn phiền não, sân si mới hay mình vẫn còn đang là người học Phật. Giận dỗi vu vơ khi cùng báo đền ơn Phật mới hay rằng mình đang là chúng sinh, thật chẳng phải thánh cùng chưa đắc bồ đề. Có được vậy mới tinh tấn hành trì thực tu, thực chứng chứ không mãi hoài tựa nơi tri kiến lập tri vô vị.

Kính! Đến đi cho đến khi nhận ra rằng không từng có sự đến đi vậy.

trừng hải

Chào các quý hữu

Bất Nhị Pháp là Pháp Giới Thậm Thâm Vi Diệu, nên trừng hải chỉ có thể cung kính tán thán mà niệm tưởng vị tằng hữu sự là sự phi thường phi phi thường, nhưng đường đi lối vào bất nhị pháp, thì kinh điển kết tập với duyên khởi là Như Thị Ngã Văn là đạo lộ đưa người vào cửa vô môn, nên là Chánh Pháp đến bờ kia, thì sao phải lặng im???

Hữu pháp bao hàm hai pháp Có – Không; mà Hữu Pháp đồng là Vô Pháp, chính cái thấy của người mắt sáng nhìn rõ cửa vào Bất Nhị.

Ví như: Thọ và bất thọ là hai. Nhưng bất thọ thì bất khả đắc. Bất khả đắc thì bất thủ, xã, tác, hành (Lời thật giản đơn, nhưng là cái giản đơn của sự thông đạt tận cùng mạt vi li ti hiện tượng giới, biết rằng núi là núi, sông là sông, chớ không phải là cái giản đơn ngô nghê của kẻ không biết đến trời cao dù hàng ngày vẫn thấy trời cao và gọi là trời cao, nhưng ngoài hai chữ trời cao thì không tìm thấy gì để tri kiến trời cao, hề hề).

Bất Thọ vốn là Không (thọ), do đối đãi với Thọ tức Có (thọ) mà sanh thành, cũng chỉ là pháp nhị nguyên tức Hữu Pháp, sao kinh văn gọi Bất Thọ là cửa vào bất nhị???

Trừng Hải

Nguyên Chiếu

Nguyên chiếu chào Bác Trừng Hải,

Bất Nhị Pháp thì Nguyên chiếu chưa hiểu lắm, Nguyên chiếu có ví dụ này không biết có đúng không.

Ví dụ:một người làm ác, ta nhìn vào thấy ác, trong ta có cái thiện nên mới thấy cái ác, và thấy cái ác nên thấy trong ta có cái thiện==> suy ra đó là đó là cái thấy Nhị biên, nhưng suy ra tận cùng chỗ thấu thì hai cái do tâm ta phân biệt mà sinh ra cái thiện ác, nó chẳng vốn có nếu ta không sinh tâm phân biệt thì chính là Bất nhị pháp.

Mong bác và các đạo hữu chia sẻ.

Kính.

   

vienquang6

Bất Nhị Pháp.

Kính Đạo hữu Nguyên Chiếu.

Bất Nhị Pháp, là pháp không hai. Nhưng cũng không phải một.

Có và không là hai; phải và trái là hai’ đúng và sai là hai v.v… Đó là pháp có hai. nghĩa là có 2 biên đối đãi. Pháp có 2 biên bờ đối đãi là thế gian pháp do Ý thức ức tưởng sanh.

Bất Nhị Pháp là pháp nói về Thật Tướng, Thật Tướng là Vô Tướng, là không có Tướng.- Không Tướng là tướng chung của vạn pháp, tướng đó là NHƯ. Nên Như là Bất Nhị Pháp.

Như không phải là một, cũng không phải hai.- Vì còn suy lường, phân biệt là rơi vào vọng thức, không thể khế hợp với Như.

Muốn đến được Bất Nhị Pháp, phải tu tập Thiền định, phải giải trừ Ý thức, phải chuyển thức thành trí. Khi được Tâm địa nhược không, huệ nhật tự chiếu. sẽ khế hợp đó.

Kính chúc bạn mau khế hợp Bất nhị Pháp.

   

dieuduc

Chào bạn Nguyên Chiếu, 

Theo chỗ d/đ hiểu thì Bất Nhị Pháp là pháp giảng cho người trí – nên khi còn trong giai đoạn diệt mê lầm thì chỉ nghe để có một khái niệm về Phật Pháp. Vì người trí là người đã hết mê lầm – mà thuyết của đạo Phật thì vì chúng ta mê lầm nên mới bị sanh tử luân hồi – nên người trí hiểu theo nghĩa của đạo Phật là người đã thoát sanh tử, chấm dứt luân hồi. 

Đối với chúng ta thì lời Phật giảng về Bất Nhị Pháp – chỉ là ngón tay chỉ trăng – giúp chúng ta nhận ra người trí để nương theo. Nếu là người trí thì chỗ hiểu phải giống như lời Phật giảng về Bất Nhị Pháp. 

Còn pháp đức Phật dạy cho chúng ta là pháp tu diệt mê lầm để kiến tánh. Khi kiến tánh rồi thì chỗ hiểu của chúng ta sẽ là Bất Nhị Pháp. Bất Nhị Pháp là nói về quả của sự tu học Phật đạo – chớ không phải pháp tu _ dạy cách diệt mê lầm (tham, sân, si…). Do đó, Bạn đừng quan tâm đến việc Bạn có hiểu về Bất Nhị Pháp hay không. Khi nào Bạn bạn tu sữa tâm xong, kiến tánh rồi thì tự nhiên Bạn sẽ hiểu 

Thân 

vienquang6

Kính ĐH Diệu Đức.

Pháp có hai là pháp sanh tử luân hồi.

Pháp Không hai là pháp thoát sanh tử luân hồi.

Sao ĐH lại khuyên người đắm chìm trong sanh tử thế ?

trừng hải 

Gửi bởi Chiếu Thanh 

Hảy hỏi tại sao con trùng con ốc lại im lặng.

Nó nói là nó chết liền.

Im lặng mà hỏi “Vì sao”

Là biển lặng còn có sóng.

Không “thọ” không phải không “khả đắc”.

(Không nhận lảnh, không phải không có)

Không khả đắc lại chính thực có “thọ”.

Chào đạo hữu Chiếu Thanh

Lời văn “Thọ và bất thọ là hai. Bất thọ thì bất khả đắc. Bất khả đắc thì bất thủ, xả, tác hành” vốn là lượt trích lời kinh văn trong phẩm Pháp Môn Bất Nhị, DUY MA CẬT SỞ THUYẾT KINH, nguyên văn như sau

Bồ tát Bất Huyến nói: “Thọ và bất thọ là hai. Nếu không thọ các pháp thì không khả đắc. Vì không khả đắc cho nên không thủ, không xả, không tác, không hành. Đó là vào cửa pháp bất nhị.” (bản dịch của Thầy Tuệ Sĩ)

Thọ nghĩa là cảm giác tức nhận biết. Theo sinh lý học hiện đại thì cảm giác tức nhận biết là do năm giác quan, mắt, tai, mũi lưỡi, và xúc. Phật giáo gọi đó là năng tri, ngoài năng tri còn có thêm sở tri tức nhận biết do Ý (gồm lục quan năng: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý)

Do vậy bất thọ nghĩa là không nhận biết. Như trong nhà vốn có hạt ngọc quý, nhưng do không thấy bằng mắt, không nghe bằng tai, không biết nhờ ngửi bằng mũi và không sờ chạm thấy, lẫn không có bản đồ chỉ dẫn hạt ngọc nằm ở đâu đâu nên không nhận ra trong nhà có ngọc (gọi là bất khả đắc vậy). Do không biết trong nhà có ngọc nên không để tâm tìm kiếm (bất thủ), không vì việc kiếm tìm mà phiền não (do không tìm ra goi là bất xả), không thôi thúc tầm cầu tìm kiếm (không tác) lẫn không lập kế hoạch tìm kiếm (không hành). Vậy do không nhận biết nên không thể nào tìm ra được tức bất khả đắc, vậy bất khả đắc chính là KHÔNG vậy (nếu THỌ tức biết trong nhà có ngọc, thì sẽ nhọc công đi tìm nhưng tìm không ra, rồi vì tìm không ra mà sanh sầu, thường dằn vặt vì tìm không ra và khổ công lập kế hoạch tìm kiếm).

Nhưng trên chỉ là nghĩa chữ mà thôi. Chỗ công phu tu hành của hai chữ BẤT THỌ là cái chi chi để ngộ-nhập Bất Nhị Pháp mới là đề mục mà Trừng Hải trao đổi vậy, hề hề

Trừng Hải

 Gửi bởi Nguyên Chiếu 

Nguyên chiếu chào Bác Trừng Hải,

Bất Nhị Pháp thì Nguyên chiếu chưa hiểu lắm, Nguyên chiếu có ví dụ này không biết có đúng không.

Ví dụ:một người làm ác, ta nhìn vào thấy ác, trong ta có cái thiện nên mới thấy cái ác, và thấy cái ác nên thấy trong ta có cái thiện==> suy ra đó là đó là cái thấy Nhị biên, nhưng suy ra tận cùng chỗ thấu thì hai cái do tâm ta phân biệt mà sinh ra cái thiện ác, nó chẳng vốn có nếu ta không sinh tâm phân biệt thì chính là Bất nhị pháp.

Mong bác và các đạo hữu chia sẻ.

Kính.

Chào đạo hữu Nguyên Chiếu

Có nhiều ý kiến trái chiều
Vốn là kẻ ngoài hai chữ trời cao không tìm thấy cái chi chi để tri kiến trời cao chỉ biết suốt ngày gọi đó là trời cao lẫn chạy theo thế giới hiện tượng nên thường lấy kết quả làm chỗ an tâm, mà vô tri kết quả vốn là pháp bất tương hành.

Bây giờ Nguyên Chiếu có còn muốn “ấn chứng” chỗ hiểu của mình nữa không, hề hề

Mến, Trừng Hải

vienquang6 

Quả báo như bóng theo hình.

Kính nhị vị.

Thôi thì đầu ai chí nấy.

VQ cố khuyên mà không được thì đành vậy.

Sẳn đây VQ xin cung cấp một ít tài liệu về việc cản trở người nghe pháp, để cho vị nào còn muốn tiến tu thì xem thêm vậy.

Kinh Bồ Tát giới có ghi:

6.- GIỚI KHÔNG CÚNG DƯỜNG THỈNH PHÁP
Nếu Phật tử, thấy có vị Pháp sư đại thừa, hay những bậc đồng học, đồng kiến, đồng hạnh đại thừa, từ trăm dặm, nghìn dặm đến nơi tăng phường, nhà cửa, thành ấp, thời liền đứng dậy rước vào, đua đi, lễ bái, cúng dường. Mỗi ngày ba thời cúng dường , trăm thức uống ăn, giường ghế, thuốc men, tất cả đồ cần dùng giá đáng ba lượng vàng đều phải cấp hộ cho pháp sư. Mỗi ngày : sáng, trưa và chiều, thường thỉnh Pháp sư thuyết pháp và đảnh lễ. Không hề có lòng sân hận buồn rầu. Luôn thỉnh pháp không mõi nhàm, chỉ trọng pháp chứ không kể thân. Nếu Phật tử không như thế thời phạm « khinh cấu tội ».

7.- GIỚI KHÔNG ÐI NGHE PHÁP
Nếu Phật tử, hàng tân học Bồ Tát, phàm nơi nào chốn nào có giảng kinh, luật, phải mang kinh, luật đến chỗ Pháp sư để nghe giảng và thưa hỏi. Hoặc nơi núi rừng, trong vườn cậy, chùa, nhà v.v… tất cả chỗ thuyết pháp đều đến nghe học. Nếu Phật tử không đến nơi ấy để nghe pháp cùng thưa hỏi, thời phạm « khinh cấu tội ».

8.- GIỚI CÓ TÂM TRÁI BỎ ÐẠI THỪA
Nếu Phật tử, có quan niệm trái bỏ kinh luật Ðại thừa thường trụ, cho rằng không phải của Phật nói mà đi thọ trì kinh luật tà kiến và tất cả cấm giới của Thanh Văn nhị thừa cùng ngoại đạo ác kiến. Phật tử nầy phạm « khinh cấu tội ».

Lại có câu chuyện về cản người học pháp như sau:

Lúc Thế Tôn còn tại thế, có thể nói cả đời đều dùng để giảng kinh thuyết pháp, ngài thuyết pháp hết 49 năm. Lúc đó khoa học kỹ thuật còn chưa phát triển, cách xa nơi Phật thuyết pháp thì không thể nghe pháp, vì vậy cơ hội nghe pháp thiệt là rất hiếm hoi. Cho nên Thế Tôn thường phái những đệ tử xuất gia và tại gia biết giảng kinh thuyết pháp đi khắp nơi để thay thế Phật hoằng pháp lợi sanh. Có thể nói là những vị này trong lớp học của Phật dạy đã tốt nghiệp ra trường. Họ có thể giảng kinh, biết phương pháp tu hành, cũng tu được rất tốt, cho nên được phái đi khắp nơi để giảng kinh thuyết pháp.

Trí huệ và phước đức của đức Phật đều viên mãn đương nhiên sẽ được tất cả mọi người cung kính. Những học trò của đức Phật được phái đi giảng kinh đa số cũng được quần chúng tôn kính, nhưng cũng có một số ít không được như vậy, mà còn bị người ta khinh khi và phỉ báng nữa.

Chúng ta biết phiền não tập khí của chúng sanh trong lục đạo rất nặng. Những thứ phiền não như tham, sân, si, mạn, đố kỵ không cần học cũng có vì những thứ này đều là phiền não tích lũy từ nhiều đời trước; khi thấy người khác xuất sắc hơn mình, trong tâm liền không phục, từ đó liền kiếm mọi cách đi phá hoại. Những chuyện như vậy trong đời mạt pháp hiện nay còn nhiều hơn hồi trước rất nhiều, bất cứ chỗ nào, bất cứ lúc nào chúng ta đều có thể thấy được.

Hoằng pháp lợi sanh là chuyện tốt. Tuy nhiên chuyện tốt thì sẽ gặp nhiều ma chướng. Ma chướng là những chuyện rắc rối, tuy là làm chuyện tốt nhưng bạn sẽ gặp rất nhiều chuyện cản trở, chuyện rắc rối xảy ra. Phật nói thời bấy giờ có hai vị tỳ kheo được Phật phái đi thuyết pháp. Nếu pháp sư có đức hạnh, có biện tài, có thiện xảo, tự nhiên sẽ được tín chúng ưa chuộng. Pháp duyên của hai vị pháp sư này rất thù thắng, tín chúng rất đông, đương nhiên cúng dường cũng rất nhiều. Những vị pháp sư khác nhìn thấy thì trong tâm không mấy gì vui, sanh tâm đố kỵ và tìm đủ mọi cách để gây chướng ngại cho hai vị này. Cho nên họ mới bịa chuyện nói là hai vị đó phá giới, nói họ chỉ biết nói mà không biết làm, nói họ đã phạm bốn trọng giới (bốn giới chính là sát sanh, trộm cắp, dâm dục, và nói dối).

Có người đi dèm pha bịa chuyện rồi nói cho người khác nghe; có người phỉ báng, đi nói xấu hai vị này khiến cho người nghe sanh tâm hoài nghi, mất lòng tin đối với pháp sư. Từ đó pháp duyên của hai vị này dần dần giảm bớt, người nghe cũng bớt đi không ít. Những người đố kỵ đã đạt được mục đích, đã thành công trong việc phá hoại và gây chướng ngại cho hai vị pháp sư kể trên.

Tuy nhiên Phật nói ác nghiệp của người đố kỵ, phỉ báng, phá hoại hai vị pháp sư kể trên quá nặng, quả báo của người đó là đọa địa ngục A Tỳ sáu triệu năm, sáu triệu năm này là dùng thời gian của chúng ta mà tính. Người Trung Quốc có 5000 năm lịch sử, các vị thử nghĩ xem 5000 năm chỉ là một nửa của một vạn năm. Thời gian đọa địa ngục của người đó là gấp 1200 lần nhiều hơn 5000 năm của lịch sử Trung Quốc.

Sau sáu triệu năm trong địa ngục A Tỳ hết rồi, tội của người đó cũng chưa tiêu hết, tội nặng báo hết nhưng còn tội nhẹ còn lại, cho nên chuyển đến địa ngục Ðẳng Hoạt chịu tội thêm 4 triệu năm nữa. Sau đó sanh đến địa ngục Hắc Thằng chịu 2 triệu năm. Tiếp theo lại chuyển đến địa ngục Thiêu Nhiệt (sự trừng phạt ở đây nhẹ hơn) chịu thêm 6 triệu năm. Tổng cộng là 18 triệu năm. Câu chuyện này là do Phật thuật lại. 

   

Nguyên Chiếu

Cám ơn lời chỉ giáo của thầy Viên quang, Bác Trừng Hải, Cô Diệu Đức.

Sau khi nghe những lời trên thật sự Nguyên Chiếu vẫn chưa hiểu lắm, thôi thì tùy duyên Ng chiếu sẽ hiểu tiếp.

Nay Ng chiếu có câu hỏi này mong quý Thầy và các đạo hữu chia sẻ:

Lý Bất Nhị và giáo Lý Bát Nhã có giống nhau không ? Nếu không thì vì sao lại không ? 

Kính hỏi .

latuan

 Gửi bởi dieuduc 

Chào bạn Nguyên Chiếu, 

Theo chỗ d/đ hiểu thì Bất Nhị Pháp là pháp giảng cho người trí – nên khi còn trong giai đoạn diệt mê lầm thì chỉ nghe để có một khái niệm về Phật Pháp. Vì người trí là người đã hết mê lầm – mà thuyết của đạo Phật thì vì chúng ta mê lầm nên mới bị sanh tử luân hồi – nên người trí hiểu theo nghĩa của đạo Phật là người đã thoát sanh tử, chấm dứt luân hồi. 

Đối với chúng ta thì lời Phật giảng về Bất Nhị Pháp – chỉ là ngón tay chỉ trăng – giúp chúng ta nhận ra người trí để nương theo. Nếu là người trí thì chỗ hiểu phải giống như lời Phật giảng về Bất Nhị Pháp. 

Còn pháp đức Phật dạy cho chúng ta là pháp tu diệt mê lầm để kiến tánh. Khi kiến tánh rồi thì chỗ hiểu của chúng ta sẽ là Bất Nhị Pháp. Bất Nhị Pháp là nói về quả của sự tu học Phật đạo – chớ không phải pháp tu _ dạy cách diệt mê lầm (tham, sân, si…). Do đó, Bạn đừng quan tâm đến việc Bạn có hiểu về Bất Nhị Pháp hay không. Khi nào Bạn bạn tu sữa tâm xong, kiến tánh rồi thì tự nhiên Bạn sẽ hiểu 

Thân 

Kính đính chính chỗ nhận định có chút điên đảo sai lầm ở trưởng bối Diệu Đức.

Pháp bất nhị là lời Phật thuyết cho người trí, người trí là người hết mê lầm, là người đã thoát khỏi luân hồi. Đây là nhìn nhận sai với chánh pháp Như Lai. Vì sao? Vì lời Phật thuyết từ cổ chí kim đều là lời của người ngộ mở lối cho người mê. Thật không có việc người ngộ thuyết pháp cho người ngộ nghe vì việc làm đó là không đúng chánh pháp, là việc lạm bàn, hý luận. Những việc làm không đúng chánh pháp như thế đương nhiên người ngộ sẽ không làm.

Lại nữa, nếu không thâm nhập, thông đạt pháp bất nhị mà nói giải thoát thì đó là việc nằm mơ nói mộng. Nếu không rõ pháp bất nhị mà hành thì công phu sẽ tựa nơi hỗn độn vô minh. Công phu dựa nơi vô minh, tri kiến mê lầm thì làm sao nắm bắt được giềng mối thoát ra sinh tử? Vậy nói sẽ giải thoát thì không phải là việc lừa người dối mình sao? Đó chính là tình cảnh rùa mù tìm bọng cây giữa đại dương xanh thẫm. Phải chăng nếu đúng như thế thì thật quá mong manh biết đến khi nào có cơ may thoát khỏi luân hồi?

Muốn nắm bắt được chánh pháp, giềng mối sự giải thoát nhất thiết phải thông đạt pháp bất nhị. Xưa nay người đắc pháp vô sanh, liễu thoát sinh tử đều do khai mở trí tuệ bát nhã, thông đạt pháp bất nhị mà thành tựu. Người không sáng rõ pháp bất nhị sẽ không chứng ngộ được pháp vô sanh.

Nay mạt học hậu tiến latuan kính cáo cho đại chúng cùng các vị trưởng bối được rõ.

Kính trưởng bối Nguyên Chiếu! Về bất nhị pháp latuan sẽ nương theo ví dụ của trưởng bối mà diễn nói. Sau khi xem trưởng bối hãy tham chiếu lại chỗ nhìn nhận của mình về pháp bất nhị.

Ví dụ của trưởng bối có liên quan đến người làm việc ác, cái ác. Để đơn giản latuan sẽ dùng cụm từ cái ác để dẫn dắt vào pháp bất nhị.

Khi nói cái ác thì cái ác thuộc về biên kiến. Và theo sự đối đãi định kiến bao đời thì khi nói biên kiến cái ác thì sẽ mở ra biên kiến cái thiện. Cái ác, cái thiện đều là biên kiến hai bên nên khi nói cả hai cái thiện, cái ác thì nó dừng lại ở nhị nguyên. Phật diễn giải pháp bất nhị là muốn ta thâm nhập vào tự tánh bất nhị của vạn pháp để không rơi vào sự phân biệt dính mắc nơi biên kiến lẫn nhị nguyên mà vướng vào điều ràng buộc thủ xả. Vì ta trói vào định kiến cái này là ác nên mới bày ra cái kia là thiện nhưng tự tánh của thiện ác không phải là định kiến thiện ác mà là duyên sinh duyên diệt. Cụ thể là con gà mổ mầm cải non, con mèo ăn con chuột ta không thể nói con gà, con mèo ác. Con gà ăn chay, con mèo ăn mặn. Việc chay mặn, thiện ác là do chúng ta dính mắc phân biệt theo sự nhìn nhận chủ quan mà ra. Lợi với ta thì ta nói tốt, không có lợi với ta thì ta nói xấu nhưng nhận định chủ quan như thế không đúng với thực tướng khách quan của vạn pháp. Song chúng sinh nơi 3 cõi lại hạn cuộc mình trong những định kiến chủ quan rồi dính mắc, ràng buộc, thủ xả và kết quả là trôi lăn theo nhân quả, nghiệp báo trả vay. Phật rõ biết vậy nên mới thuyết pháp bất nhị để người học Phật nhìn rõ thực tướng vạn pháp, không còn trói mình trong nhận thức vô minh sai lầm. Vậy nên chỉ khi người học Phật thông đạt pháp bất nhị thì mới có thể buông bỏ hoàn toàn sự hiểu biết sai lạc chứng ngộ pháp vô sanh.

Tử là biên kiến, sinh là biên kiến. Sinh tử là nhị nguyên. Nhận ra không sinh không tử là pháp bất nhị. Thâm nhập vào lý không sinh không tử là chứng ngộ pháp vô sanh. Hiểu là một chuyện; Thâm nhập, thật sống là cả một công phu hành trì. Tùy căn tánh mỗi người mà có nhanh, có chậm, có thuần thục hay chỉ là kẻ giữ kho cho người.

Phật là biên kiến, chúng sinh là biên kiến. Thấy không có chúng sinh để độ, không có Phật để thành là vào pháp bất nhị. Lúc bấy giờ không có ngã, ngã sở, chúng sinh, thọ giả… Liền ngộ chỗ bất tư nghị giải thoát. Sau phát khởi từ bi tâm để hành bát nhã ba la mật. Vì sáng rõ chánh pháp, hành Bồ tát đạo, phát tâm đại thừa hộ trì người học Phật còn trong lưới vô minh.

Vì sao đã nhận ra không có chúng sinh, thọ giả, ngã, Phật… mà vẫn hành bồ tát đạo? Là vì sự hiểu đó chỉ còn trên lý nên phải hành để xả bỏ mọi điều ràng buộc. Nếu hành theo hạnh tiểu thừa là còn chấp ngã, tấm lòng hẹp hòi, đố kị thì trí tuệ khó thể khai mở. Còn với pháp khí đại thừa hành nhân dễ chạm đến trí tuệ bát nhã thường sống với thực tướng vạn pháp, không còn ràng buộc, cột trói thì đâu cần phải giải thoát, phải có Phật quả để thành. Là ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm. Chân tâm tự hiện tiền đâu cần diệt vọng trong chiêm bao.

Pháp bất nhị và lý bát nhã cũng giống cũng khác, là tánh không hai của vạn pháp. Trong đó lý bát nhã thể hiện chỗ dụng của vạn pháp còn pháp bất nhị là thể, là thực tướng của vạn pháp. Song nếu nói lý bát nhã, pháp bất nhị cũng là biên kiến. Chỉ khi thâm nhập lý bát nhã, pháp bất nhị là không hai thì mới vào cửa pháp môn không hai. Khi thông đạt thì không còn ràng buộc về lý bát nhã, pháp bất nhị nữa. Về sau nếu có người muốn được nghe thì tùy nghi diễn nói.

Kính!



Gửi bởi Bình Đẳng Giác 

Đã nói không đi cùng ngài nữa,nay lại phải chạy theo, như chỗ ngài nói tôi thật chẳng giám nghĩ bàn,nay xin hỏi ngài đây là nói cho người mê hay đây là nói cho người ngộ vì tôi tin rất nhiều người nghe mà không hiểu ngài nói gì.nếu người ta đã hiểu thì đã chẳng cần ngài nói,nếu đã chẳng thể hiểu e chỉ khiến nghi ngờ.vậy nói ở đây để làm gì ạ đây có phải là phương tiện khéo mà Phật từng bảo không,hay đơn giản lỡ người có duyên gặp được sẽ được chỗ đại ngộ.còn bao nhiêu hữu tình khác gặp được nhưng không có duyên lại thêm khổ não.

Kính ngài

Hi! Quý hữu Bình Đẳng Giác lại lao tâm.

Nếu người đã ngộ thì latuan đâu cần nói vì khi ấy hóa ra latuan đã hý luận, lạm bàn.

Xem ra ngài cũng nhiều vọng chấp. Nhiều người nghe không thể hiểu, điều đó có nghĩa là vẫn có hy vọng việc có người nhờ được nghe mà sáng rõ chỗ nghi tình. Hơn nữa, latuan có từng nói nếu còn chỉ một người muốn được nghe thì latuan cũng sẽ không nín lặng. Vậy nên nếu quý hữu có thể gánh vác việc đại diện cho tất cả bảo rằng latuan đang làm việc vô ích, nói lời thừa và nếu tất cả mọi người đều im lặng đồng thuận thì latuan sẽ không cưỡng cầu gượng nói.

Người gặp duyên đại ngộ, người không phải duyên sẽ khổ não. Người không hiểu sẽ nghi ngờ? Tâm nghi hay khổ não nơi mỗi người đâu phải do latuan mới có. Vậy nên không nhất thiết phải trói latuan vào việc khổ não, hoài nghi của mọi người. Hơn nữa, nếu có nghi mới có ngộ, không nghi thì khó thể thâm nhập trí tuệ Phật. Quý hữu đã quên “Phiền não tức bồ đề” chăng?

Mến!


vienquang6

Ngài Latuan nói đúng.

Trong kinh Bát Nhã và Đại Trí Độ Luận có dạy:

Cũng được đầy đủ 11 Trí là: Thế trí, Pháp trí, tỷ trí, khổ trí, tập trí, diệt trí, đạo trí, tha tâm trí, tận trí, vô sanh trí, như thật trí.

10- Vô Sanh Trí là trí biết rõ ràng 4 Đế, chứng được lý Vô Sanh niệm Vô Lậu Trí Huệ. Đây là Lý Bất Nhị

Luận dạy:

Do Vô Sanh Trí mà biết rõ các pháp là chẳng có thật, chẳng có sanh diệt, là tự tánh không, nên vào được Như Thật Trí.
……. Như Thật TRí là trí như thật biết hết thảy biệt tướng và tổng tướng của hết thảy các pháp, như thật biết 10 trí đều có tướng, có duyên mỗi mỗi sai khác.

……. Ở nơi 10 trí mà có Pháp Nhãn và Huệ Nhãn mới là Như Thật Trí. Chỉ có Phật mới đầy đủ Như Thật Trí.

Như vậy theo kinh và Luận dạy, thì:

* Trí Bát Nhã là Như Thật Trí, chỉ có Phật mới đầy đủ.

* Vô Sanh Trí (hoặc lý Bất Nhị) là trí của chư vị Bồ tát, hoặc bồ tát sơ phát tâm dùng đó đề vào được Như Thật Trí.

Kính.



Bình Đẳng Giác

phiền não tức bồ đề là đối với ai kia ?.còn phiền não tức thuốc độc là đối với ai kia? Đạo hữu lại chơi bài bất nhị đánh đồng ai cũng như ai rồi.nè nếu coi tôi là cái gì đó nay cùng nhau xét lỗi lầm tôi vào đây mới được 2tháng cũng từ không biết nhờ vào đây mà biết chút Phật pháp,nhớ hồi mới vào thấy bạn tung hoành bốn biển có viết thư xin chỉ cho chút bản lĩnh.thầy cho con hỏi làm thế nào để được đá văn,bạn có bảo tôi chớ có xưng con.muốn được đa văn thì đọc kinh luận nhiều vào hì hì nghĩ lại cũng vui mới qua 2tháng mà ngỡ đã quá lâu rồi.Nay tôi xin được chỉ trích bạn đôi điều mong bạn tùy hỷ.

Bạn quá lắm lời không biết điểm dừng,không biết được cái gì cần nói cái gì không lên nói,không biết lựa đúng thời mà nói.tôi mới vào diễn đàn ko được bao lâu cũng ko lắm rõ được tại sao bạn lại tống tiễn được nhiều người đi như thế,bây giờ lại sắp sửa rồi đấy.chuyện xưa tôi biết bạn còn chưa buông xuống được,mà chuyện nay lại sắp ập tới như vậy là sao?.có bao giờ bạn tự vấn lòng sao mình giải mưa pháp mà nhà thì cháy,người thì chết ko?.ví dụ hôm nay tôi uất quá cũng đi mất ,bạn có buồn không?.hay bạn thấy tất cả là huyễn lên trong mắt không có người rồi?.nay khuyên bạn hãy bình tâm tĩnh trí đừng để chúng kế ma vương thì mọi chuyện khác sáng tỏ.hãy đem cái thông minh,cái nhanh trí,cái hiểu biết của mình để dìu dắt những người còn non kém hơn chứ đừng độp,độp,độp vậy là song ,công việc này cần phải kiên trì dìu dắt chứ ko phải là ném 1phát lên đỉnh.pháp có thể cứu người nhưng cũng có thể hại người nếu dùng ko đúng cách.đôi lời khó nghe mong bạn đừng chấp

Tặng 2 câu nè: Dìn lời giữ ý thân không phạm.chớ gây phiền não chúng hữu tình.

Đừng có chúng kế ma vương nha


 latuan

Tự xét lại đi bạn Bình Đẳng Giác ạ! Bạn còn nhớ chuyện cũ vậy bạn còn nhớ chăng tôi đã chia sẻ cùng bạn học Phật vốn không để đa văn mà là để thoát khổ, và giải thoát.

Latuan lắm lời hay do lòng bạn có sự lao xao. Latuan dừng lại đã lâu. Đến với diễn đàn là do nơi người hỏi nên latuan mới đáp. Nói latuan tung hoành bốn biển phải chăng là bạn đã cưỡng từ?

Còn việc đến đi của mỗi người là duyên và thật sự cũng đâu có mấy ai thật sự đến đi. Thiết nghĩ latuan không đoạn pháp và thật sự cũng không thể đoạn pháp. Latuan vẫn đang chia sẻ cái biết của mình một cách khách quan chứ không phải là việc tranh hơn luận thắng.

Lẽ nào biết sai nói đúng, biết rõ nói không. Trốn tránh việc đền ơn Phật. Đó là điều mà bạn muốn latuan làm. Sao lại có việc phải giấu diếm những điều đúng mực với chánh pháp? Bạn nói cho đại chúng được rõ xem.

Latuan đã dừng lại nên tâm bình, trí tĩnh. Cảm ơn bạn đã quan hoài. Lời của bạn cũng không hẳn khó nghe.

Cũng đừng lo latuan trúng kế ma vương. Bạn hãy tự mình nên bảo nhậm.

Nếu không có phiền não thì đừng nói giải thoát. Vậy nên…

Latuan không gây ra phiền não cho chúng hữu tình thế nên bạn đừng gắp lửa bỏ tay người.

Hãy nhìn lại xem có phải latuan trả lời do có người muốn biết. Vậy nên bạn hãy nên khách quan một chút, đó là tự lợi, lợi tha.

Trân trọng!

   

Bình Đẳng Giác

Vâng thưa bạn latuan đúng là mình có vọng có sai rồi.xét cho cùng cũng chỉ là mình hoài nghĩ,nghĩ sẽ có nhiều người băn khoăn như mình nhưng thực chất có ai băn khoăn đâu,đúng là cả nghĩ,nghĩ cho cả thiên hạ đúng là lực cười,không ít người đã bảo bình đẳng giác trước hãy tự lo cho mình đi thế sự hãy kệ nó liễu sanh thoát tử phải làm như vậy thế mà lâu nay tôi có làm được đâu đúng là khổ.hì hì nhìn lại thì cái nhà này mà bị cháy là do mình châm ngòi chứ chẳng phải ai mình mới đúng là ma Vương nay khuyên mọi người đừng như mình nhé,đạo Phật là đạo tùy duyên.tùy duyên tiêu nghiệp cũ đừng sanh thêm nghiệp mới chớ đừng phan duyên như mình.nay trước mặt toàn thể diễn đàn Bình Đẳng Giác xin được nói lời xin lỗi đạo hữu latuan

Tôi xin đóng góp 1câu bất nhị pháp

Nhị biên là làm khổ mình và làm khổ người chúng ta có bất nhị hay trung đạo là vừa làm khổ mình vừa làm khổ người

. lợi mình và lợi người, trung đạo là lợi người lợi mình

Cái nào tốt thì ta theo cái nào xấu thì ta bỏ nhưng có 1cái khác cao hơn gọi là chẳng lấy chẳng bỏ( đây là tùy duyên tiêu nghiệp cũ,cũng không gậy nghiệp mới gọi là vô vi pháp là những bước đầu của con đường giải thoát)

Nếu lấy thiện chấp thiện tìm thiện thì sẽ khổ đến thân chưa kể thiện cũng có thể tạo nghiệp,nhưng nếu bỏ thiện duyên đến không làm thì lại là lỗi

Nếu lấy ác chấp ác chuyên làm việc ác thì khỏi phải nghĩ bàn rồi.còn nếu bỏ ác,ác đến không lấy thiện độ thì lại là ác với ác 1đôi.

Nên duyên đến thì làm,hết duyên thì thôi chẳng tìm chẳng cầu, chẳng nghĩ chẳng nhớ chẳng để trong lòng tất cả đều quên ấy là tự tại

Gió thổi thì mây khác tan,mặt trời lại chiếu sáng

Bổ xung 1tí nói như vậy lại cứ ngồi ở nhà thì chết.thường ngày phải làm lợi cho người cho cả mình,như tôi chánh mạng nuôi thân là đi thu gom rác chẳng hạn,lợi ích cả đôi bên vv…tùy ứng dụng

Viết này thì thiếu nhiều nhưng thôi chia sẻ phần nào cho các bạn sơ cơ

Nguyên Chiếu

Cám ơn đạo hữu Latuan đã chia sẻ, 

Nếu như một người thông Lý Bất Nhị, thấu Lý Bát Nhã, nhưng các giới luật chưa giữ trọn thì có thể thoát khỏi sanh tử không ?

Mong đạo hữu chia sẻ.

Kính.

latuan

Kính trưởng bối Nguyên Chiếu được rõ.

Người đã thâm nhập trí tuệ bát nhã, chứng ngộ pháp bất nhị thì đâu còn giới để phạm, chỉ là tùy duyên tiêu nghiệp cũ. Nếu được vậy thì hết kiếp, mạng chung đâu còn bị việc luân hồi quản thúc, đương nhiên liễu thoát sinh tử.

Kính!

Bình Đẳng Giác

Tôi hay nghe người ta nói là muốn thành Phật phải trừ 2cái ngu là vi tế sở tri ngu và cực vi tế sở tri ngu nay tôi nghe mà không hiểu nghĩa và làm cách nào để trừ nay xin bạn vì tôi mà rộng nói.xin cám ơn

À nếu có thể xin đạo hữu cho tôi xin thêm 2 ví dụ về 2cái dạng này nữa nhé

   

Nguyên Chiếu

Nếu Nguyên Chiếu đã hiểu trí tuệ bát nhã, pháp bất nhị mà Nguyên Chiếu vẫn chưa giữ giới luật thì Nguyên Chiếu vẫn thì Ng chiếu có thể chứng pháp vô sanh được không ?

Kính.


latuan

Trình quý hữu Bình Đẳng Giác! Thật không có Phật để thành, nói thành Phật chỉ là gượng nói. Nên chăng chỉ nói muốn được giải thoát hoàn toàn là trừ hai cái ngu là vi tế sở tri ngu và cực vi tế sở tri ngu.

Người học Phật nhiều vọng chấp nên đôi khi dùng từ ngu diễn nói lại khiến người nghe cho rằng là lời bất nhã, thô kệch. Vậy nên latuan thường mượn dùng hai chữ vô minh cho hợp lẽ chánh pháp.

Trừ hai cái ngu – vi tế sở tri ngu và cực vi tế sở tri ngu chính là giải thoát tri kiến và giải thoát tri kiến giải thoát.

Mến!

Kính trưởng bối Nguyên Chiếu! Trí tuệ bát nhã, pháp bất nhị có thể dùng việc học hỏi mà hiểu được nhưng nếu chỉ dùng cách hiểu đơn thuần đó mà cho rằng triệt ngộ thì lại thành hư vọng. Vì sao? Vì cái hiểu dựa trên lý thuyết đó chỉ là tri kiến lập tri, đó là sự ràng buộc tri kiến chứ không phải là sự giải thoát. Chỉ khi hiểu được lý tùy thuận thọ trì, tùy duyên tiêu nghiệp cũ cho đến khi lý hay thành sự, thật sự thâm nhập, thường sống với chánh pháp thì mới chạm đến sự giải thoát sinh tử. Khi thọ trì, tùy hành theo lý bát nhã thì hành nhân đã dần thoát ra tri kiến có giới để giữ. Cho đến lúc hoàn toàn thoát ra tri kiến có giới để giữ thì xem như đã thâm nhập vào trí tuệ bát nhã và Pháp bất nhị.

Vì sao hành nhân hành bát nhã ba la mật lại dần thoát khỏi tri kiến có giới để giữ? Vì hành nhân hành thâm bát nhã ba la mật đâu còn phạm giới nên đâu chấp thủ tri kiến có giới để giữ.

Kính!  

trừng hải

 Gửi bởi Nguyên Chiếu 

“Cám ơn lời chỉ giáo của thầy Viên quang, Bác Trừng Hải, Cô Diệu Đức.

Sau khi nghe những lời trên thật sự Nguyên Chiếu vẫn chưa hiểu lắm, thôi thì tùy duyên Ng chiếu sẽ hiểu tiếp.

Nay Ng chiếu có câu hỏi này mong quý Thầy và các đạo hữu chia sẻ:

Lý Bất Nhị và giáo Lý Bát Nhã có giống nhau không ? Nếu không thì vì sao lại không ? ”

Kính hỏi . 

Ôi đáng tiếc thật là đáng tiếc. Bỏ đi câu hỏi vốn là trú xứ không hai xuất sanh diệu âm 108 tiếng đại hồng chung đánh thức hữu tình rời con mộng bé; để cầm một cành con hỏi bao nhiêu lá chỉ để biết giả tướng sanh thành di diệt mà thôi.

Bất Nhị là không hai, Bát Nhã là trí huệ, chỉ là những tiếng vọng giữa thanh không vô trú xứ; bảo rằng tiếng đó là có thì nó đã thành hư không vô (thể) dụng làm kẻ tầm cầu bất khả đắc; bảo rằng âm đó là không thì vạn vật muôn hình che mất nguồn tâm làm kẻ lưu lạc không nhà. Ừ thì thôi vậy, cũng có cũng không- phi có phi không như con hạc già lặng lẽ quá quan, ôm giấc thụy du chờ tâm hương đáo, làm kẻ quên đi lời hẹn thề xưa của ngày xưa nọ, bồ đề tát bà ha.

Trừng Hải


Bình Đẳng Giác

Hahaha



Nguyên Chiếu

Cám ơn Bác Trừng Hải đã chia sẻ,

Như lời trên của bác , Nguyên Chiếu hiểu rằng :

Bất Nhị Pháp tự hiển khi Vô minh đã diệt , khi Vô minh diệt Trí tuệ và Từ Bi sẽ lập , sau đó phải lập Chí Nguyện để đạt đến cảnh giới Vô Thượng Bồ Đề.

Mong bác và các đạo hữu chia sẻ.

Kính.


trừng hải

Bạn Nguyên Chiếu mến

_ Trên chỉ là lời cảm thán của riêng Trừng Hải đối với câu hỏi đầu tiên của Nguyên Chiếu về trí phân biệt Thiện-Ác là TRÍ VÔ PHÂN BIỆN chỉ rõ đạo lộ đáo niết bàn; nhưng tiếc thay khi lập lại Nguyên Chiếu lại xoay qua một câu hỏi thuần văn tự (mà chỉ cần chút công phu tìm kiếm trong kinh luận cũng có thể giải trình).

_ Còn Vô Minh vốn đồng là Tam Diệu Minh của Phật Đà Chánh Đẳng Giác, là Đại Từ Bi, Đại Trí Huệ, Đại Thế Chí đưa cả tam thiên đại thiên thế giới đến bờ kia nên là Hồng Phước Vô Biên thường bình đẳng nơi chúng sanh phàm phu lẫn bồ đề hữu tình trong mười phương thế giới.
Mến, Trừng Hải 


Bình Đẳng Giác

Như cháu ko tìm,không cầu không đọc kinh,luận chỉ đọc mỗi kinh Pháp Bảo Đàn duyên đến thì nhận ra chỉ là từ những câu rời rạc,những đoạn kinh ngắn như là duyên định,cháu cảm giác chỉ là đang từng bước nhận lại bao kiếp tu hành cái gì đến rồi nó khác đến khi nó đến thì lại nhận ra.tìm kiếm chỉ thêm dối dắm,phải chăng đó là tự kỷ ?.1đường đi lên khộng dừng lại,khộng giữ lại ngoại đạo nhận ra trung đạo bước vào tiểu thừa,tiểu thừa đi vào trung thừa,trung thừa bước lên đại thừa,đại thừa nhập vào tối Thượng thừa(chắc kiếp trước dừng lại ở đây hì)cho đến ngày toàn giác .đi theo như thế có đúng ko bác cháu chỉ cảm nhận từ đâu đó trong cháu nên đi như vậy thôi

Thưa nguyên chiếu chỉ là nhận ra mà thôi,ví dụ nếu người biết bất nhị nhìn vào câu chả lời của bác trừng Hải thì sẽ có câu chả lời là trí hụê không hai.nguyên chiếu nên để tâm đến vấn đề bất nhị này nó chính là cây đuốc cho hành giả tự soi đường.nếu bạn nắm rõ được trung đạo tức là lúc này đuốc đã được đốt nên một tia sáng diệt ngàn năm tăm tối

trừng hải

Chào đạo hữu Bình Đẳng Giác

_ Tâm không tầm cầu là vô công dụng hạnh vậy. Tâm không tầm cầu vì vốn am tường cái tầm cầu là bất khả đắc vì chỉ là giả tướng của ảo ảnh không hoa (huyễn hữu). Là chí cao thượng của người tầm cầu đạo lộ vậy, chúc mừng đạo hữu

_ Việc tu học, tu hành cũng phải có giai vị (cũng như việc học hành có cấp I, cấp II…) từ thấp đến cao. Thiền tông hay lấy ngài Angullimala làm hình tượng đốn ngộ, đồ tể buông đao lập địa thành Phật; nhưng với những ai đã từng nghiên cứu kinh văn, kinh luận thì sẽ thấy rằng ngài vốn đã có duyên với Bồ Đề Tát Đóa, tiền thân của Phật Đà Thích Ca Mâu Ni từ những kiếp xa xưa lâu, lâu lắm rồi (trong Jataka, Bodhisattha Bodhipitaka, Lalitavistara…). Nên lời bạn đúng lắm vậy.

Mến, Trừng Hải