Lưu trữ hàng tháng: Tháng Mười Hai 2016

GƯƠNG THIỀN (Thiền Gia Quy Giám) Tây Sơn Đại Sư ( 1520 ~ 1604 ) Tào Khê Thối Ẩn thuật Thị Giới: dịch Việt THIỆN TRI THỨC 2016

    GƯƠNG THIỀN (Thiền Gia Quy Giám)
Tây Sơn Đại Sư ( 1520 ~ 1604 )
Tào Khê Thối Ẩn thuật
Thị Giới: dịch Việt
THIỆN TRI THỨC 2016

 

Lời Đầu Bản Dịch Tiếng Việt

Thiền thì đốn ngộ Tự Tánh tức Phật Tánh rồitiệm tu (Diệu tu). Giáo thì đạt đến Nhất Tâm và tu trong Nhứt Tâm đó.
Hành giả Giáo môn thực hành theo lời Phật dạy trong Kinh để đạt được tâm chuyên nhất. Nơi tâm chuyên nhất, tu tập qua nhiều từng bực, nếm từng phần mùi vị của Pháp, hướng đến cứu cánh toàn giác. Hành giả tu Thiền theo lời dạy của Thầy, Tổ để có được cái thấy ban đầu gọi là đốn ngộ hay thấy Tánh, sau đó tiệm tu, giữ gìn và vận dụng cái thấy đó cho đến khi hoàn toàn sáng tỏ, hoàn toàn nhuần nhuyễn.
Giáo như bản đồ đường bộ vẽ con đường dẫn lên đỉnh núi. Thiền như bức không ảnh cho thấy khung cảnh đỉnh núi. Dù dùng bản đồ đường bộ hay không ảnh, cả hai đều cùng hướng về một đỉnh núi, theo con đường Giới-Định-Huệ của Giáo, hay Huệ-Định-Hạnh của Thiền. Nơi Giáo môn, Giới-Định-Huệ hiển bày trong Một Vị, hay Nhất Tâm. Nơi Thiền, Huệ-Định-Hạnh toàn chứa trong Thấy Tánh hay Vô Niệm. Lúc nào cũng ở trong Nhất Tâm là lúc nào cũng ở trong Giới-Định-Huệ, lúc nào cũng Thấy Tánh là lúc nào cũng ở trong  Huệ-Định-Hạnh. Nơi Nhất Tâm hay Một Vị, Giới-Định-Huệ là một. Trong Thấy Tánh hay Vô Niệm, Huệ-Định-Hạnh là một. Đó là ba thời bình đẳng.
Theo ngài Tây Sơn Đại Sư, Giáo là Lời của Phật, Thiền là Tâm của Phật. Giáo môntheo lời dạy của Phật mà đi vào Tâm Phật, Thiền theo sự khai mở của Tổ mà vào ngayTâm Phật. Cả hai đều có cùng một đích là tỏ bày cái không lời, cùng đi đến một cứu cánh là cái không thể gọi tên tả hình, vượt ngoài tri giải. Cái đó chính là Tánh Phật cũng là Tánh Không.
Giáo và Thiền do đó không phải là hai cánh cửa, hai con đường hoàn toàn biệt lập, không thể hổ trợ cho nhau.
Đặc biệt trong phần Tế Hạnh, Tây Sơn Đại Sư dạy rõ về những hạnh mà người tu Thiền thường không coi trọng. Đó là những hạnh như: Bố thí, Giữ giới, Nhẫn nhục, Tinh tấn, Trì chú, Lễ bái, Niệm Phật, Nghe Kinh v.v.
Thiền Gia Quy Giám được ngài Tây Sơn Đại Sư, một vị Thiền Sư ngộ đạo lại học rộngnhớ nhiều, từng hoạt động trong nhiều môi trường và hoàn cảnh, viết ra để dạy đệ tửthuộc nhiều căn cơ. Do đó, ngài đã dùng những phương tiện thiện xảo để dẫn vào Nhứt Vị hay Nhứt Tâm của Phật, Kiến Tánh của Tổ, mở cửa cho sự thành tựu Giới Định Huệ và lục độ, vạn hạnh.
Nội dung của Thiền Gia Quy Giám có thể được tóm tắt bằng lời của Đại sư viết trong phần kết luận cuốn sách: “Toàn giáo pháp bắt đầu với cái không thể gọi tên tả hình, kết thúc với việc không còn tri giải. Bao nhiêu vướng mắc, một câu phá hết” và “Trước sau một nghĩa, giữa nêu vạn hạnh.”
Trong nhiều thế kỷ cho đến ngày nay, Thiền Gia Quy Giám đã được coi như cẩm nangtu học của tăng, ni và cư sĩ ở Đại Hàn, Trung Hoa, Nhật Bản cả trong Thiền lẫn Giáo.
Tôi mạo muội dịch ra tiếng Việt cuốn sách nhỏ vô giá nầy, trước là để tự học hỏi, sau làhy vọng có thể góp một phần nhỏ vào kho tàng Phật học, nhất là Thiền học nước nhà. Nếu có được chút ít công đức, xin hồi hướng cho tất cả chúng sanh và nguyện đượcgặp nhau trong Pháp Hội Long Hoa của Đức Di Lặc.
Bản tiếng Việt nầy được dịch theo bản dịch tiếng Anh The Mirror of Zen của Thiền sưHyon Gak Sunim và bản chữ Hán Thiền Gia Quy Giám của Tây Sơn Đại Sư do CBETA (Trung Hoa Điện Tử Phật Điển Hiệp Hội) phổ biến. Để tiện cho sự tham khảo của độc giả, trong phần chú thích, tôi để thêm âm Hán Việt những câu chủ đề của mỗi chương và  những câu trích dẫn trong ngoặc kép, và kèm theo bản Hán văn.
Bản dịch chắc chắn không tránh khỏi những sai sót. Kính mong chư thiện trí thức chỉ giáo.
Xin sám hối chư Phật, chư Tổ, bổn sư Thượng Tịch Hạ Chiếu, anh em bạn đạo và chưthiện trí thức về việc thêm sóng trên nước, vẽ hoa trong không nầy.
Thành phố Calgary, AB Canada
Mùa Thu 2010
Thị Giới.
(Sửa lần 1: Tháng 12 năm 2016.)

GƯƠNG THIỀN(Thiền Gia Quy Giám)

(1)
Có một vật sáng sủa ẩn mật, từ vô thủy đến nay chưa từng sanh, chưa từng diệt, gọi tên không được, diễn tả không được.
Một vật đó là vật gì?
Người xưa có bài tụng:
Khi Cổ Phật chưa sanh
Một vật đã toàn nên
Thích Ca cũng không hiểu
Ca Diếp lấy gì truyền?
(Cổ Phật vị sanh tiền
Ngưng nhiên nhất tướng viên
Thích Ca do vị hội
Ca Diếp khởi năng truyền?)
Vật đó không sanh, không diệt, gọi tên không được, diễn tả không đuợc.
Lục Tổ dạy chúng: “Ta có một vật không tên không tướng, có ai biết là vật gì?” (1)Thiền sư Thần Hội liền trả lời: “Nguồn gốc chư Phật, Phật Tánh của Thần Hội.” (2) Do đó Thần Hội chỉ là con giòng thứ của Lục Tổ (không được truyền tâm ấn).
Thiền sư Hoài Nhượng từ Tung Sơn đến, Lục Tổ hỏi: “Vật gì từ đâu đến?” (3) Sư khôngtrả lời được. Đến tám năm sau mới trả lời:  “Nói giống một vật là không trúng.” (4)  Do đó Hoài Nhượng trở thành con giòng chính của Tổ.
Thánh nhân Tam Giáo
Ra từ câu nầy
Ai muốn tỏ bày
Lông mày rụng sạch.
(Tam giáo Thánh nhân
Tòng thử cú xuất
Thùy thị cử giả
Tích thủ mi mao.)
(2)
Phật, Tổ xuất hiện trong đời, không gió nổi sóng.
Phật, Tổ tức Thế Tôn và Ca Diếp. Các ngài xuất hiện trong đời vì tâm đại bi cứu độchúng sanh.
Nói về một vật thì đó là khuôn mặt xưa nay người người đều trọn đủ, sao lại mượn bột phấn mà trét thêm vào? Do đó, sự xuất thế của Phật, Tổ giống như không có gió mà sóng khởi lên. Kinh Hư Không Tạng nói: “Chữ nghĩa là nghiệp ma, danh tướng lànghiệp ma, cho đến lời Phật cũng là nghiệp ma.” (1)
Ý muốn nói: Tự mình làm tròn, Phật, Tổ không dính dáng.
Đất trời trở tối
Mặt trời mặt trăng không ánh sáng.
(Kiền khôn thất sắc
Nhật nguyệt vô quang.)
(3)
Pháp có nhiều nghĩa, người có nhiều căn cơ, do đó ứng dụng không ngại.
Pháp là Một Vật, người là chúng sanh (do các duyên sinh ra).  Pháp có nghĩa theo duyên mà không biến đổi, người thì có khả năng nhanh chậm khác nhau. Do đó không ngại áp dụng nhiều phương tiện ngữ ngôn, như câu: “Quan không dung tội gian lận một cây kim nhưng tư thông cả xe.” (1)
Chúng sanh tuy đã viên thành nhưng không mở mắt tuệ nên chịu sự luân chuyển(trong sáu đường). Do đó, nếu không dùng kiếm xuất thế (kiếm trí tuệ), làm sao gọt sạch lớp vỏ dày vô minh? Vượt biển khổ để đi đến bờ vui đều nhờ ân đức đại bi (của Phật, Tổ), dùng vô số thân mệnh như cát sông Hằng cũng khó báo đền.
Trên đây là nói ân sâu của Phật, Tổ đối với chúng ta.
Vua lên điện báu
Già quê hát ca.
(Vương đăng bảo điện,  
Dã lão âu ca.)
(4)
Tạm lập các tên gọi, hoặc Tâm hoặc Phật hoặc chúng sanh, nhưng không nên bám vào danh tự mà hiểu. Thể thật ngay đó, khởi niệm liền sai.
Một Vật tạm lập ba tên gọi, Hiển giáo bất đắc dĩ lập ra. Thiền dạy không nên bám vào tên gọi mà hiểu.
Nâng lên, hạ xuống, tạo ra, phá đi, đều là hành động tự tại của đấng Pháp Vương.
Ở trên là nói về các phương tiện của chư Phật, Tổ.
Nắng lâu gặp mưa tốt
Phương xa gặp người xưa.
(Cửu hạn phùng giai vũ 
Tha hương kiến cố nhân)
(5)
Thế Tôn ba lần truyền Tâm lập nên tông chỉ Thiền (1). Những lời dạy suốt đờicủa Phật lập nên Giáo. Vì vậy nói rằng Thiền là Tâm của Phật, Giáo là Lời của Phật.
Ba lần đó là: lần thứ nhất tại tháp Đa Tử khi Đức Phật chia chỗ ngồi cho Ma Ha Ca Diếp, lần thứ hai tại Pháp hội Linh Sơn đưa cành hoa, lần thứ ba dưới hai cây sa lađưa chân ra ngoài quan tài. Đó là truyền riêng cho ngài Ca Diếp ngọn đèn Thiền.
Trong bốn mươi chín năm, Phật thuyết gồm Năm Giáo. Thứ nhất là Nhân Thiên giáo, thứ hai là Tiểu Thừa giáo, thứ ba là Đại Thừa giáo, thứ tư là Đốn giáo, thứ năm là Viên giáo. Ngài A Nan lưu thông biển Kinh Giáo nầy.
Khởi đầu của Thiền và Giáo là đức Thế Tôn. Phân ra Thiền và Giáo là Ca Diếp và A Nan.
Lấy không lời để tỏ bày cái không lời là Thiền. Lấy có lời để tỏ bày cái không lời là Giáo. Tâm là phương pháp của Thiền, Lời là phương pháp của Giáo. Do đó Pháp tuy một vị, sự nhận biết thì cách nhau như trời với đất.
Trên đây là nói về hai con đường Thiền và Giáo.
Đừng nên buông thả
Sinh thân bò trường.
(Bất đắc phóng quá
Thảo lí hoành thân.)
(6)
Do đó nếu chỉ theo lời thì việc đưa hoa mỉm cười (niêm hoa vi tiếu) cũng chỉ là dấu vết của Giáo. Từ Tâm mà được thì lời dỡ lời hay của thế gian đều là Thiền truyền riêng ngoài giáo.
Pháp không có tên nên lời không đến được, Pháp không hình tướng nên tâm khôngđến được. Khi vừa nói ra liền đánh mất tâm vương nguyên thủy. Mất tâm vươngnguyên thủy thì việc Thế Tôn đưa cành hoa ngài Ca Diếp mỉm cười cũng rơi vào lời phô, rốt cuộc rỗng không.
Đạt được bằng Tâm thì không những lời nói khoe khoan ngạo mạn cũng nói lên Pháp yếu, cho đến tiếng chim kêu cũng nói lên Thật Tướng. Do đó, Thiền sư Bảo Tích (1) nghe tiếng khóc giác ngộ vui mừng, Thiền sư Bảo Thọ (2) thấy đánh nhau liền nhận rõdiện mục.
Trên là làm rõ sự sâu cạn của Thiền, Giáo.
Ngọc sáng trên tay
Mân mê lui tới.
(Minh châu tại thủ
Lộng khứ lộng lai.)
(7)
Ta có một lời:
Dứt nghĩ quên duyên
Tự nhiên vô sự
Xuân về cỏ xanh.
(Ngô hữu nhất ngôn
Tuyệt lự vong duyên 
Ngột nhiên vô sự tọa
Xuân lai thảo tự thanh.)
Dứt nghĩ quên duyên đạt được Tâm, gọi là nhàn đạo nhân (đạo nhân không còn gì phảithực hành). Thật là tuyệt. Xưa nay không vướng bận, xưa nay đều vô sự. Khi đói thì ăn, khi buồn ngủ thì ngủ. Nước biếc núi xanh tùy ý tiêu diêu, thôn chài hang rượu tự tại an giấc. Năm tháng trôi qua không cần biết, Xuân đến như xưa cỏ tự xanh.
Trên nói về nhất niệm hồi quang (niệm khởi liền biết).
Toan bảo không ai
Lại có một người.
(Tương vị vô nhân
Lại hữu nhất cá.)
(8)
Giáo môn chỉ truyền pháp môn Nhất Tâm. Thiền môn chỉ truyền pháp môn Kiến Tánh.
Tâm như thể của gương, Tánh như ánh sáng của gương. Tánh tự trong sạch. Ngay lập tức trở lại tâm nguyên thủy.
Ở đây nhấn mạnh về nhất niệm.
Trùng trùng núi cùng nước
Nếp nhà cũ sạch làu.
(Trùng trùng sơn dữ thủy
Thanh bạch cựu gia phong.)
Bình:
Tâm có hai loại: Tâm bổn nguyên và tâm vô minh chấp tướng. Tánh có hai loại: Pháp Tánh bổn nguyên và tánh đối lại tướng. Do đó cả Thiền và Giáo đều mê khi dựa vàodanh để hiểu, hoặc lấý cạn làm sâu, hoặc lấý sâu làm cạn. Tất cả đều là bệnh lớn trong cái thấy và việc làm, do đó cần nói rõ.
(9)
Chư Phật nói Kinh, trước phân biệt các pháp, sau nói về tánh Không cứu cánh.  Sự khai mở của Tổ Sư không để dấu vết trên đất ý niệm, chân lý bày rõ ở nguồn Tâm.
Chư Phật là nơi nương tựa cho vạn đời nên theo cách có thể truyền đạt. Tổ Sư độ thoát tức thời, do đó trao truyền bí mật. Dấu vết: lời của Tổ Sư gọi là dấu vết. Ý: sự suy nghĩ của người học.
Bày tỏ loạn cuồng
Tay không cong ngược.
(Hồ loạn chỉ chú
Tí bất ngoại khúc)
(10)
Cách chư Phật dạy như cây cung, cách Tổ Sư dạy như dây cung.  Phật nói các pháp vô ngại quy về một vị. Chạm vào dấu vết Một Vị đó, liền hiện Nhất Tâm màTổ Sư tỏ bày. Do đó nói: thoại đầu “cây tùng trước sân” không tìm thấy trong hang rồng (nơi giữ Kinh).(1)
Nói cung là cong, nói dây là thẳng. Kho Rồng là nơi chứa Kinh ở Long cung. Vị Tăng hỏi ngài Triệu Châu: (2) “Ý của Tổ Sư từ Tây qua là gì?” Ngài Triệu Châu đáp: “Cây tùng trước sân.” Cho nên nói tông chỉ của Thiền ở ngoài khuôn mẫu.
Cá lội đục nước
Chim bay rụng lông.
(Ngư hành thủy trọc
Điểu phi mao lạc)
(11)
Do đó, người học trước tiên học hiểu giáo lý như thật của Phật, phân biệt rõ ràng hai chân lý bất biến và tùy duyên, là Tánh và Tướng của Tự Tâm. Cả hai môn đốn ngộ và tiệm tu đều là khởi đầu và chung cùng của việc tu tập. Sau đó mới bỏ giáo nghĩa, nơi nhất niệm hiện tiền của Tự Tâm mà tham, cuối cùng tất sẽ có kết quả, đó là thoát thân vào con đường sống.
Người trí tuệ căn cơ lớn không cần phải ở trong giới hạn đó. Người căn cơ trung và thấp không thể vượt qua giới hạn đó.
Hiển Giáo dạy bất biến mà tùy duyên, đốn ngộ và tiệm tu có trước có sau. Với Thiền,trong một niệm bất biến tùy duyên, Tánh và Tướng, Thể và Dụng vốn cùng một lúc. Vì vậy rời có rời không.
Do đó các vị Tổ Sư rời lời nói mà chỉ thẳng, một niệm thấy Tánh thành Phật. Đó làbuông bỏ giáo nghĩa.
Ngày sáng rỡ ràng
Mây ẩn hố sâu.
Từ nơi sâu kín
Trời chiếu tạnh không.
(Minh lịch lịch thời
Vân tàng thâm cốc
Thâm mật mật xứ
Nhật chiếu tình không.)
(12)
Người tu Thiền nên tham cứu câu sống (hoạt cú), không nên tham cứu câu chết (tử cú).(1)
Từ nơi hoạt cú mà được thì trở thành bậc ngang hàng với Phật, Tổ. Chạy theo tử cú thì tự cứu cũng không xong.
Do đó chỉ từ hoạt cú mới có hy vọng tự ngộ nhập.
Muốn gặp Lâm Tế (2)
Nên là người sắt.
(Yếu kiến Lâm Tể
Tu thị thiết hán.)
Bình:
Thoại đầu có hai cửa vào: tham cứu thoại đầu theo con đường trực chỉ gọi là hoạt cú (câu sống), không theo ý niệm, không nương vào lời, không có gì để nắm giữ. Tham cứu thoại đầu bằng ý niệm là thực hành giáo lý viên đốn bằng cách bám vào tử cú (câu chết), còn lý luận, còn ngôn ngữ, còn hiểu biết bằng tư tưởng, ý niệm.
(13)
Tham cứu công án phải với tâm khẩn thiết, như gà ấp trứng, như mèo rình chuột, như đói muốn ăn, như khát muốn uống, như con thơ nhớ mẹ, tất sẽ có lúc thấu triệt.
Công án của Tổ Sư có một nghìn bảy trăm tắc. Như các công án: “Con chó không cóPhật tánh;” (1) “Cây tùng trước sân;” “Ba cân gai;” (2) “Que dính cứt khô” v.v…  Gà ấp trứng: khí ấm của trứng được giữ liên tục không dứt. Mèo rình chuột: tâm và mắt không động. Cho đến đói nghĩ đến ăn, khát nghĩ đến uống, trẻ thơ nhớ mẹ. Tất cả những thứ đó đều phát ra từ tâm chân thật, không phải từ tâm hời hợt. Cho nên nói là khẩn thiết.Tham Thiền không có tâm khẩn thiết mà có thể thấu triệt thì không thể có.
(14)
Tham Thiền cần hội đủ ba điều quan trọng: thứ nhứt là có Lòng Tin lớn, thứ hai là có Lòng Mong Cầu lớn, thứ ba là có Tâm Nghi lớn. Nếu thiếu một trong ba điều đó thì giống như chiếc đỉnh gãy chân, trở thành vật vô dụng.
Phật dạy: “Muốn thành Phật, đức tin là căn bản.” Ngài Vĩnh Gia nói (1): “Người tu đạotrước tiên lập chí.” Ngài Mông Sơn (2) nói: “Người tham Thiền không phát khởi Nghi Tình là bịnh nặng.” (3) Lại nói: “Nghi lớn tất sẽ có ngộ lớn.” (4)
(15)
Hằng ngày theo duyên chỉ cử câu thoại đầu “Con chó không có Phật Tánh.” Cử tới cử lui, nghi tới nghi lui. Khi giác ngộ rồi thì không còn lý lẽ, không còn khái niệm, không còn ham thích món ăn ngon. Đó là lúc rũ bỏ thân và mệnh. Cũng là nền tảng để thành Phật, làm Tổ.
Một vị Tăng hỏi Triệu Châu: “Con chó có Phật Tánh hay không?” (1) Ngài Triệu Châuđáp: “Không.” (2) Một chữ nầy là cổng vào Tông môn. Nó cũng là dụng cụ phá hủy vô số hiểu biết sai lầm. Cũng là mặt mũi của chư Phật, cũng là cốt tủy của chư Tổ. Qua được cổng nầy sau đó mới có thể thành Phật, thành Tổ.
Người xưa có bài tụng:
Kiếm bén của Triệu Châu
Sáng lánh như sương băng
Suy nghĩ hỏi thế nào
Cắt thân làm hai khúc.
(Triệu Châu lộ nhận kiếm
Hàn sương quang diễm diễm
Nghĩ nghị vấn như hà
Phân thân tác lưỡng đoạn.)
(16)
Khi cử thoại đầu không nên tìm ra giải đáp hợp lý, cũng không nên dùng tư tưởng suy nghĩ, cũng không từ mê trông chờ giác ngộ. Đến lúc ý không còn chỗ để suy nghĩ, tâm không còn chỗ để bước vào, giống như con chuột già lọt vào chiếc bẫy sừng trâu, lùi không được, tiến không được. Thật là vô minh khi toan tính tìm kiếm, luân lưu trong sinh tử, trong sư sợ hãi kinh hoàng. Người đời nay không biết đó là bịnh, không ngừng ra vào trong đó.
Thoại đầu có mười thứ bịnh: dùng ý niệm để suy lường, dương mày nháy mắt (bắt chước Thầy), dùng ngôn ngữ để nắm bắt, tìm bằng chứng trong văn tự, bắt chước sựbiểu lộ lấy làm của mình, rơi vào chấp không xả bỏ mọi thứ, phân biệt có không, rơi vàotuyệt đối không, rơi vào lý lẽ, khởi tâm mong cầu giác ngộ.
Rũ bỏ mười căn bịnh nầy, khi cử thoại đầu giữ tinh thần phấn chấn, giữ chắc Tâm Nghi (Nghi Tình), nhắm thẳng vào câu hỏi “cái đó là gì?” (1)
(17)
Giống như muỗi chích vào trâu sắt, không thắc mắc làm cách này hay cách kia, cứ cắm vòi vào chỗ không thể cắm bất kể thân mệnh, toàn thể thân mệnh thấu nhập trong đó.
Đây là nói lại ý trên, khiến cho người tham cứu hoạt cú (câu sống) không lùi bước. Một vị Thầy ngày xưa nói: “Tham thiền nên tận ngõ Tổ Sư, diệu ngộ cốt đến chỗ hết đường tâm ý.” (1)
(18)
Tu tập giống như điều chỉnh dây đàn, căng giản để được chỗ quân bình. Cần mẫn thì gần với chấp trước, xao lãng thì rơi vào vô minh. Chỉ nên giữ tịch tịnhsáng láng, tiếp nối không dừng.
Người chơi đàn nói: Giản căng được quân bình thì tiếng đàn sẽ hay. Việc tu tập cũng như vậy. Căng thẳng thì làm động máu huyết (bị kích thích quá đáng), lơ là thì rơi vào hang quỉ (lu mờ). Không chậm không nhanh, khéo léo ở chỗ giữa.
(19)
Khi công phu đến chỗ đi không biết là đi, ngồi không biết là ngồi, khi đó bốn vạn tám ngàn thiên ma nơi sáu căn theo tâm mà sanh. Tâm nếu không khởi, nương đâu mà sanh!
Ma là tên loài quỉ ưa vui sinh tử. Tám vạn bốn ngàn ma quân là tám vạn bốn ngàn phiền não của chúng sanh. Ma vốn không có loài, người tu hành đánh mất chánh niệm lànguyên do sinh ra ma. Chúng sanh nương theo cảnh nên ở trong ma cảnh. Người tu đạo không theo cảnh nên nghịch với ma. Vì vậy nói rằng: Đạo cao ma thịnh.
Trong  thiền định hoặc thấy người con hiếu (người đưa tang) đẵn vào đùi, hoặc thấy heo kéo mũi (1), cũng là do từ trong tâm khởi lên mà thấy cảnh ma bên ngoài. Tâm nếu không khởi thì bao nhiêu tài nghệ của ma quân cũng trở thành như chém dao vào nước, như xua đuổi ánh sáng. Người xưa nói: “Lỗ hổng trên vách khiến có gió động, lỗ hổng trong tâm khiến ma lọt vào.” (2)
(20)
Khởi tâm là thiên ma, không khởi tâm là ấm ma (ngũ ấm ma), vừa khởi vừa không khởi là phiền não ma. Trong Chánh Pháp vốn không có việc như vậy.
Vô tâm là Phật Đạo, phân biệt là cảnh giới ma. Do đó cảnh ma giống như chuyệnchiêm bao, cần gì phải tốn sức luận bàn?
(21)
Công phu khi đã gom thành một khối, nếu đời nầy không thấu đạt, đến lúc nhắm mắt cũng không bị ác nghiệp dẫn đi.
Nghiệp tức là vô minh. Thiền là Bát nhã (Trí Tuệ). Sáng và tối không cùng hiện hữu là lýtự nhiên.
(22)
Người tu Thiền nên luôn tự hỏi: Có biết đến bốn ân sâu dày chăng? Có biết rằng thân thể dơ dáy do bốn đại hợp thành đang suy hoại trong từng niệm niệmchăng? Có biết rằng sinh mệnh con người tùy thuộc vào hơi thở chăng? Sanh ra có được gặp Phật, Tổ chăng? Khi nghe Pháp Vô Thượng có sinh tâm khó gặp chăng? Không rời Tăng đường để giữ hạnh trong sạch chăng? Không cùng người chuyện trò tạp nhạp chăng? Có hay bàn chuyện thị phi chăng? Thoại đầucó được rõ ràng không lu mờ liên tục trong mọi lúc chăng? Khi nói chuyện cùng người, thoại đầu có không bị gián đoạn chăng? Khi thấy nghe nhận biết, thoại đầu có gom thành một khối chăng? Sự quán chiếu có bắt được và đánh bại Phật, Tổ chăng? Đời nầy có quyết định tiếp nối tuệ mênh của Phật chăng? Khi đứng ngồi thoải mái có nghĩ đến nỗi khổ địa ngục chăng? Có quyết định thoát khỏi luân hồi trong một báo thân nầy chăng? Đối với cảnh tám ngọn gió (1), tâm có không động chăng?
Đó là những điều quan trọng mà người tu Thiền phải quán sát hằng ngày. Người xưa nói:
Thân nầy không quyết đời nầy độ
Đợi đến đời nào độ thoát thân?
(Thử thân bất hướng kim sanh độ,
Cánh đãi hà sanh độ thử thân.)
Bốn ân là ân cha mẹ, ân nước nhà, ân thầy dạy và ân thí chủ. Thân tứ đại dơ nhớp: tinh cha hòa với huyết mẹ tạo chất ướt (thủy đại); tinh cha tạo ra xương, huyết mẹ tạo ra da là chất cứng (địa đại); một khối tinh huyết không hư không hủy là hơi ấm của chất nóng (hỏa đại); lỗ mũi trước tiên được sinh ra để hơi thở ra vào thuộc sự động của gió (phong đại).
Ngài A Nan nói: “Khí ham muốn thô dơ hôi tanh gặp nhau sinh ra thân dơ nhớp.” (2)
Thân thể suy mục từng giây, thời gian trôi đi không ngừng, da mặt nhăn nheo, tóc trở nên trắng. Bây giờ không giống như xưa, về sau không giống bây giờ. Đó là thể của vô thường. Quỉ vô thường lấy sát hại làm vui. Thật là mỗi phút giây đều đáng sợ. Hơi thởra là lửa, hơi thở vào là gió. Thân mệnh con người chỉ tùy thuộc vào hơi thở ra vào. Tám gió là các cảnh thuận, nghịch trong đời sống. Khổ địa ngục: một ngày một đêm ởđịa ngục dài bằng sáu mươi kiếp ở nhân gian, nấu trong nước sôi, đốt trong lò lửa, thảy vào rừng kiếm, núi dao, không thể nào diễn tả hết được.
Thân người khó được giống như tìm kim trong biển. Cảnh đáng xót thương đó khá nêncảnh tỉnh.
Bình:
Những lời Pháp ở trên giống như người uống nước nóng lạnh tự biết. Dù thông minhcũng không thể chống lại nghiệp. Huệ khô (càn huệ: trí thông minh bằng khái niệm) không giúp thoát khỏi vòng khổ đau. Quí vị nên suy xét, đừng tự nên tự mãn.
(23)
Người học theo chữ nghĩa, khi nói thì giống như đã giác ngộ, nhưng khi đối diện với sự việc hằng ngày thì trở lại mê mờ. Đó là lời nói và hành động trái nhau.
Ở đây triển khai ý tự mãn đề cập ở trên. Lời nói và hành động khác nhau, có thể phân biệt thật, giả.
(24)
Muốn chiến thắng sanh tử, phải từ nơi nhất niệm phá thủng để thấu suốt đượcsinh tử.
Thùng sơn bị phá vỡ phát ra tiếng. Khi phá vỡ thùng sơn thì sanh tử mới có thể đương đầu. Nhân địa tu hành của chư Phật cũng chỉ như vậy.
(25)
Sau khi một niệm được phá thủng, nên cầu minh sư chứng minh chánh nhãn (cái thấy đúng).
Việc nầy không phải dễ dàng. Cần phải có tâm rất khiêm tốn với cái thấy đầu tiên. Đạo giống như biển lớn, càng vào càng sâu. Cẩn thận đừng lấy chút ít cho là đủ. Sau khi ngộ nếu không tìm thầy chứng minh thì vị ngon ngọt của đề hồ sẽ trở thành thuốc độc.
(26)
Người xưa nói: “Chỉ trọng cái thấy đúng, không trọng cách hành xử.”
Xưa Ngưỡng Sơn khi được thầy là Quy Sơn (1) hỏi, đáp: “Kinh Niết Bàn bốn mươi quyển thảy đều là ma thuyết. Đó là cái thấy chân chánh của Ngưỡng Sơn.” (2) Ngưỡng Sơn lại hỏi về sự hành xử, Quy Sơn đáp: “Chỉ trọng thấy đúng.” (3) Do đó, trước tiênphải có cái thấy đúng, sau đó mới nói đến cách hành xử. Do đó nói: “Nếu muốn tu hành, trước cần đốn ngộ.” (4)
(27)
Nguyện chư vị tu đạo tin sâu Tâm mình, không tự hạ, không tự cao.
Tâm nầy bình đẳng, vốn không phàm,  thánh. Nhưng người có mê ngộ khác nhau nên gọi là phàm, thánh.  Nhờ Thầy chỉ dạy liền ngộ cái ngã chân thật thì cùng với chư Phật không khác gọi là đốn (ngộ tức thì.) Do đó không tự hạ. Như nói: “Xưa nay không một vật.”
Do ngộ mà dứt trừ các thói quen xấu, chuyển từ phàm sang thánh, đó là tiệm tu (tu từ từ). Do đó không tự cao. Như nói: “Giờ giờ thường lau chùi.” Tự hạ là bịnh của người học theo Giáo, tự cao là bịnh của người tu Thiền. Người tu theo Giáo không tin bí quyếtngộ nhập của nhà Thiền, chìm sâu trong giáo pháp phương tiện, chấp có thật giả, không tu thiền quán để khám phá ra châu báu nơi chính mình. Do đó sanh tâm yếukém.
Người học Thiền thì không tin vào Kinh giáo, do đó không tin kinh điển dạy về sự tiệm tuvà giảm trừ tập khí, nhiễm tập khởi lên mà không hổ thẹn, quả mới ở bước đầu mà đã sinh nhiều kiêu mạn, lời nói ngạo nghễ.
Do đó, người tu hành đúng đắn không tự hạ, không tự cao.
Bình:
Nơi sơ tâm, nhân gồm đủ trong quả, chỉ tin vào một vị (tự tánh), không tự hạ không tự cao.  Các vị Bồ tát đạt được quả bằng sự tu tập trãi qua năm mươi lăm từng bậc.
(28)
Dùng tâm mê tu chỉ giúp cho vô minh.
Chưa tỏ ngộ làm sao nói được là tu hành chân thật! Giác ngô và tiệm tu như dầu và ánh sáng (lửa) tương quan nhau, mắt và chân nương tựa nhau.
(29)
Nền tảng của sự tu hành chỉ là chấm dứt ý niệm phàm tình, không phải đi tìm sựhiểu biết của bậc thánh.
Bịnh hết thì không còn cần thuốc. Chỉ cần trở lại con người xưa kia.
(30)
Không từ bỏ tâm chúng sanh, chỉ đừng làm nhiễm ô tự tánh. Cầu Chánh pháp là tà.
Từ bỏ hay tìm cầu đều là nhiễm ô.
(31)
Dứt trừ phiền não là Nhị Thừa. Phiền não không sanh là Đại Niết bàn.
Dứt trừ thì có chủ (năng) có khách (sở).  Không sanh thì không chủ không khách.
(32)
Quán chiếu chỗ rỗng rang nơi tâm, tin rằng một niệm khởi lên là do duyên khởi, vốn không có sanh.
Đây là nói làm sao thấy rõ tự tánh.
(33)
Quán sát rõ ràng thì thấy rằng trộm cắp, tà dâm, nói dối đều từ tâm mà ra. Tâm vốn tịch lặng có gì phải dứt trừ!
Nói rõ sự tương quan giữa tánh và tướng.
Bình:
Kinh nói: “Một niệm không khởi gọi là đoạn trừ vô minh.” (1) Lại nói: “Niệm khởi liền biết.” (2)
(34)
Biết huyễn tức lìa, không cần phương tiện. Lìa huyễn tức giác, không có trước sau.
Tâm là thầy huyễn, thân là thành huyễn, ngoại cảnh là áo huyễn, danh tướng là thức ănhuyễn. Cho đến tâm khởi lên một ý niệm, nói chân nói vọng, đều không ra ngoài huyễn.
Những cái huyễn vô minh vô thủy nầy đều sanh ra từ tâm giác ngộ, giống như hoa đốmsinh ra trong hư không. Khi huyễn không còn thì gọi là bất động. Trong mơ thấy có mụt thì cầu thuốc, thức ra thì không còn bịnh. Biết huyễn cũng giống như vậy.
(35)
Chúng sanh ở trong chỗ không sanh lầm thấy có sinh tử và niết bàn, giống như thấy hoa đốm sinh ra và biến mất trong hư không.
Tánh vốn không sanh nên không có sanh và diệt. Không trung vốn không có hoa nên không có sinh ra và biến mất. Khởi vốn thật sự là không khởi, diệt vốn thật sự là không diệt. Hai cái thấy nầy không cần phải luận bàn. Kinh Tư Ích nói: “Chư Phật ra đời không phải để độ chúng sanh, chỉ muốn độ hai cái thấy sinh tử và Niết bàn.” (1)
(36)
Bồ Tát độ chúng sanh vào cảnh giới tịch diệt (niết bàn), nhưng thật không cóchúng sanh nào được diệt độ.
Bồ Tát lúc nào cũng vì chúng sanh. Biết thể của niệm là không mà độ chúng sanh. Niệm vốn rỗng lặng thật không có chúng sanh nào được diệt độ. Đây là nói về tin và hiểu (tín giải).
(37)
Lý có thể đốn ngộ (ngộ ngay) nhưng sự thì không thể đốn trừ (trừ ngay).
Văn Thù thấu pháp tánh (tánh thật của vạn pháp), Phổ Hiển rõ duyên khởi. Thấu hiểu nhanh như điện chớp, tu giống như kẻ cùng tử (người nghèo khổ). Ở đây luận về tu và chứng.
(38)
Tu Thiền mà còn tà dâm như nấu cát để được cơm, tu Thiền mà còn giết hại như bịt tai mà cầu tiếng, tu Thiền mà còn trộm cắp như rò chảy mà cầu đầy, tu Thiền mà còn nói dối như lấy phẩn làm chất thơm. Dù được trí tuệ cũng thànhma đạo.
Đây là nói rõ về khưôn phép tu hành Tam Vô Lậu Học.  Tiểu Thừa lấy pháp (hình tướngbên ngoài) làm giới, chữa thô nơi ngọn. Đại Thừa lấy nhiếp tâm làm giới, khéo trừ tận gốc.
Lấy pháp làm giới thì không phạm nơi thân, nhiếp tâm làm giới thì không phạm trong ý.Tà dâm thì dứt sự thanh tịnh, giết hại thì dứt tâm từ bi, trộm cắp thì dứt phước đức, nói dối thì dứt chân thật. Dù có đạt được trí tuệ, chứng được sáu thần thông, nếu khôngdứt trừ gíết hại, trộm cắp, tà dâm, nói dối thì cũng sẽ rơi vào đường ma, vĩnh viễn mấtcon đường Bồ đề chân chính.
Bốn giới nầy là căn bản của trăm giới, nói rõ ở đây để khỏi nghĩ và phạm. Không nhớ gọi là Giới, không nghĩ gọi là Định, không lầm lẫn gọi là Tuệ.
Giới để bắt giặc, Định để trói giặc, Huệ để giết giặc. Giới giữ vững, Định lắng trong thìmặt trăng Trí Tuệ xuất hiện.
Ba Môn Học nầy chính là nguồn gốc của vạn Pháp. Do đó nói rõ để tránh không bị rỉ chảy. Hội Linh Sơn lại có Phật khinh suất lời dạy của mình, núi Thiếu lâm lại có Tổ vọng ngữ sao?
(39)
Người không đức không theo giới luật của Phật, không giữ gìn ba nghiệp,buông lung lười biếng, coi thường người khác, coi nhẹ phải trái.
Một khi phá giới dù phá ở trong tâm thì trăm lỗi lầm liền sanh.
Bình:
Thời mạt pháp các thứ ma thịnh hành làm loạn Chánh Pháp.
(40)
Người học nên rõ: nếu không giữ giới, tái sanh làm thân dã can ghẻ còn khó thay huống là chứng quả Bồ đề thanh tịnh!
Trọng giới giống như trọng Phật thì Phật thường hiện tiền. Nên bắt chước vị tăng bị trói vào cỏ (1) và vị tăng thấy ngỗng nuốt châu (2).
(41)
Muốn thoát sinh tử trước phải dứt trừ tham muốn và khát ái.
Ái là gốc của luân hồi, tham muốn là duyên của thọ sanh. Phật dạy: “Tâm dâm không trừ thì không thể ra khỏi thế gian.” (1) Lại dạy: “Sự trói buộc vào ân ái đưa con ngườivào cửa tội lỗi.” (2) Sự ham muốn tình ái rất gắn bó với con người.
(42)
Trí tuệ thanh tịnh không ngăn ngại đều từ thiền định mà ra.
Vượt phàm vào thánh, giải thoát trong khi ngồi, chết trong lúc đứng đều do sức củathiền định. Cho nên nói: “Muốn cầu Thánh Đạo, không đi con đường nầy thì không còn đường nào khác.” (1)
(43)
Tâm định thì biết được các tướng sinh diệt của thế gian.
Ánh sáng qua lỗ hổng, bụi nhỏ lăng tăng
Đáy nước dưới ao trong, ảnh chiếu rõ ràng.
(Hư khích nhật quang tiêm ai nhiễu nhiễu.
Thanh đàm thủy để ảnh tượng chiêu chiêu.)
(44)
Thấy cảnh tâm không khởi gọi là không sanh. Không sanh là vô niệm. Vô niệm làgiải thoát.
Giới Định Tuệ nếu được một liền đủ cả ba, không phải riêng lẻ.
(45)
Tu đạo mà có chỗ chứng thì không phải là chân thật. Tâm và pháp vốn rỗng lặng là tịch diệt chân thật (niết bàn chân thật). Do đó nói rằng: “Các pháp xưa nayvốn tướng tịch diệt.”
Mắt không thể tự thấy, thấy mắt tức là dối. Do đó Văn Thù suy lường, Tịnh Danh không nói.
(46)
Sau đây nói về tế hạnh:
Người nghèo đến xin tùy thuận ban cho. Tâm đại bi thấy mình và người là một là sự ban cho chân thật.
Thấy mình và người là một gọi là đồng thể. Đến tay không và ra đi tay không, đó là sự thật về cuộc đời của chúng ta.
(47)
Có người đến hại, giữ tâm không nóng giận. Một niệm nóng giận nổi lên thì vô số cửa chướng ngại mở ra.
Phiền não tuy nhiều vô số, nóng giận là nặng nhất. Kinh Niết Bàn dạy: “Được thoa hương hay bị tùng xẻo đều không động tâm.” (1) Lòng giận giống như lửa sét đánh trong mây lạnh.
(48)
Nếu không có hạnh nhẫn nhục, các hạnh khác đều không thành tựu.
Các hạnh tuy vô số, từ và nhẫn là nguồn cội. Tâm nhẫn giống như huyễn mộng thì cảnh nhục cũng giống như lông rùa.
(49)
Giữ gìn chân tâm là tinh tấn bậc nhất.
Nếu khởi tâm tinh tấn thì đó là dối không phải thật tinh tấn. Nên nói: “Đừng tưởng lầm đừng tưởng lầm.” (1)
Người giải đãi thường ngóng về tương lai, đó là người tự bỏ rơi mình.
(50)
Nói về trì chú:
Nghiệp tạo trong đời nầy dễ chế ngự nên có thể cố gắng để tự trừ, nghiệp tạo từ đời trước khó trừ nên phải nhờ thần lực.
Ma Đăng Già đắc quả là chuyện có thật. Do đó không trì thần chú mà xa rời được việc ma là chuyện khó có.
(51)
Lễ bái có ý nghĩa là cung kính và khuất phục: cung kính chân tính, khuất phục vô minh.
Thân miệng ý thanh tịnh thì Phật hiện ra trong thế gian nầy.
(52)
Nói về niệm Phật: Ở miệng gọi là tụng, ở tâm gọi là niệm. Tụng mà không niệm thì chỉ vô ích.
Pháp môn niệm sáu chữ A Di Đà Phật là con đường tắt ra khỏi luân hồi. Tâm nương vào cảnh giới Phật nhớ giữ không quên, miệng xưng danh hiệu rõ ràng không loạn, tâm và miệng tương ưng gọi là niệm Phật.
Bình:
Ngũ Tổ nói: “Giữ chân tâm hơn niệm chư Phật mười phuơng.” (1) Lục Tổ nói: “Thườngniệm Phật bên ngoài không khỏi được sanh tử, giữ bổn tâm thì đến bờ bên kia.” (2) Lại nói: “Phật từ trong Tánh, không nên huớng ra ngoài mà cầu.” (3) Lại nói: “Người mêniệm Phật cầu vãng sanh, người giác ngộ thì chỉ thanh tịnh tâm mình.” Lại nói: “Chúng sanh ngộ được tâm thì cứu được mình, Phật không cứu chúng sanh” (4) vân vân. Các bậc nói trên chỉ thẳng vào Tâm, không nương vào phương tiện. Lý thật là như vậy.
Tuy nhiên với Tích môn thì thật có Cực Lạc Thế Giới, Phật A Di Đà có bốn mươi tám nguyện lớn, niệm được mười tiếng nương vào nguyên lực đó được vãng sanh vào hoa sen, thoát khỏi luân hồi, chư Phật ba đời khác miệng cùng lời, các Bồ tát trong mười phương đều nguyện vãng sanh, huống chi chuyện ghi chép về những người đượcvãng sanh từ xưa đến nay thật rõ ràng. Xin các vị tu hành nên thận trọng đừng lầm lẫn.
Trong Phạn ngữ, A Di Đà có nghĩa là thọ mạng không cùng, cũng có nghĩa là ánh sáng không cùng, danh hiệu Phật cao quí bậc nhất trong mười phương ba đời. Nguyên do tỳ kheo Pháp Tạng, ở trước đức Phật Thế Tự Tại Vương phát bốn mươi tám nguyệnrằng: Khi tôi thành Phật, các loài trời người cho đến các loài bọ trên không côn trùngdưới nước, nếu niệm tên tôi mười niệm thì được sanh vào nước của tôi. Nếu khôngthành tựu nguyện nầy, tôi sẽ không thành Phật. Vân vân.
Chư Thánh ngày xưa nói: “Xướng danh hiệu Phật một tiếng, thiên ma vở mật, tên được xóa trong quỷ bộ, hoa sen mọc trong ao vàng (vãng sanh).” (5) Sám Pháp cũng nói: “Tự lực và tha lực, một chậm một mau. Muốn vượt qua biển, trồng cây để làm thuyền thì chậm, đó là tự lực, mượn thuyền vượt biển thì nhanh, đó là Phật lực.” (6)
Lại nói: “Trẻ con ở thế gian khi bị lửa nước bức bách cất tiếng kêu gào, cha mẹ nghe tiếng chạy nhanh đến cứu. Người đến giờ lâm chung cao tiếng niệm Phật thì Phật có đủ thần thông nhất định đến đón. Lòng từ bi của đức Đại Thánh hơn cả cha mẹ, sự khổsanh tử của chúng sanh nặng nề hơn nạn nước lửa.”
Có người nói: “Tự tâm là Tịnh độ, Tịnh độ không thể sanh. Tự Tánh là Di Đà, Di Đàkhông thể thấy.” Lời nói cũng có phần có lý, nhưng cũng không phải hoàn toàn đúng.Đức Phật (A Di Đà) thì không tham không sân, còn chúng ta có được không tham không sân chưa? Đức Phật biến địa ngục thành hoa sen dễ như trở bàn tay, cònchúng ta do nghiệp lực thường lo sợ đọa vào địa ngục, huống là biến thành hoa sen!Đức Phật nhìn thấy thế giới mười phương như ở trước mắt còn chúng ta thì việc bên kia vách cũng không biết, huống là nhìn thấy thế giới trong mười phương như ở trước mắt!
Do đó, mặc dù Tánh của mọi người đều là Phật, hành động của chúng ta là hành độngchúng sanh. Nói về tướng và dụng thì xa nhau như trời với đất. Ngài Khuê Phong (7) nói: “Đốn ngộ xong rồi thì tu theo tiệm hạnh.” (8) Lời nầy chân thật làm sao!
Giờ xin hỏi người nói rằng Tự Tánh là Di Đà: Đức Thích Ca sanh ra tự nhiên là A Di Đàchăng? Xin hãy suy nghĩ.
Há không tự biết rằng, khi giờ lâm chung đến, nơi biên giới đau khổ giữa sống và chết, có thể tự tại quyết định hay không? Nếu không được như vậy, đừng cống cao nhất thời, không suy nghĩ chín chắn, để bị đắm chìm nhiều kiếp.
Các ngài Mã Minh (9), Long Thọ (10) đều là Tổ Sư, cũng dạy rõ khuyên tu vãng sanh.Chúng ta vì sao lại không muốn vãng sanh? Đức Phật cũng lại nói: “Tây Phương cáchđây mười vạn thế giới và tám ngàn xứ sở.” Đó là đối với người căn chậm mà nói về tướng. Lại nói: “Tây Phương cách đây không xa, tức Tâm là Phật.” Đó là đối với ngườicăn tánh lanh lẹ mà nói về Tánh.
Giáo lý có quyền (phương tiện) và thật. Lời có hiển và mật. Nếu hiểu và hành tương ưng, xa gần đều thông. Do đó các bậc trong Thiền tông, hoặc khuyên niệm A Di Đà(như ngài Huệ Viễn (11)) hoặc dạy tìm Chủ Nhân Ông (như ngài Thụy Nham (12).)
(53)
Nghe Kinh tạo mối liên hệ giữa Kinh và tai (nhĩ căn), được hưởng phước vui. Thân huyễn có ngày mất, thực hành theo sự chân thật thì không mất.
Ở đây nói rõ sự học sáng suốt (trí học) giống như nuốt kim cương (1), hơn hẳn việc bố thí bảy món trân quí. Thọ Sư (2) nói: “Nghe mà không tin vẫn tạo được hạt giống Phật. Học mà không thành vẫn có ích được phước cõi trời, cõi người.” (3)
(54)
Xem Kinh nếu không hướng vào bên trong mà thực hành, dù xem hết vạn tạng cũng không ích gì.
Ở đây nói rõ sự học ngu muội (ngu học) giống như chim kêu trong ngày Xuân, côn trùng kêu trong đêm Thu (không có ý hướng). Mật Sư (1) nói: “Theo chữ nghĩa mà xem Kinh thì không chứng ngộ được. Nghiền ngẫm câu văn, tìm tòi ý nghĩa chỉ làm tăng thêm tham, sân và tà kiến.” (2)
(55)
Học chưa đến nơi, dùng lời hùng biện miệng lưỡi để khoe sự hiểu biết của mình giống như sơn vẽ nhà xí làm cho giống ngôi chùa.
Nói về sự học ngu si của thời mạt pháp. Học vốn để thấy Tánh, nhưng lại toàn lấy của người khác làm của mình.
(56)
Người xuất gia mà học ngoại điển giống như dùng dao chém bùn. Bùn không dùng được vào việc gì mà dao bị tổn hại.
Ngoài cửa con trưởng giả
Lại trở vào nhà lửa.
(Môn ngoại trưởng giả tử,
Hoàn nhập hỏa trạch trung)
(57)
Xuất gia làm Tăng lại là việc nhỏ sao? Không phải để cầu sự ẩn dật an nhàn, không phải để cầu lợi danh, nhưng là vì chuyện sinh tử, vì muốn cắt dứt phiền não, vì muốn tiếp nối tuệ mệnh của Phật, vì muốn ra khỏi ba cõi để độ chúng sanh.
Có thể nói là bậc đại trượng phu có chí khí ngất trời.
(58)
Phật dạy: “Lửa vô thường thiêu đốt thế gian.” Lại dạy: “Lửa khổ của chúng sanh bốn phương thiêu đốt.” Lại dạy: “Các giặc phiền não thường tìm dịp để hại người. Người tu đạo nên tự biết mà phòng ngừa, như cứu lửa cháy trên đầu.”
Thân có sanh già bịnh chết. Thế giới có thành trụ hoại không. Tâm thì có sanh trụ dị (biến đổi) diệt. Lửa khổ vô thường đó thiêu đốt bốn bề. Xin người tham cứu lẽ huyền đừng hao phí thời gian, tham danh rỗng của thế gian chỉ uổng công nhọc xác.
(59)
Mưu cầu thế lợi như chất thêm củi vào ngọn lửa nghiệp.
Về việc ham tiếng tăm hư ảo của thế gian, có thơ rằng:
Chim hồng bay lưu dấu chân trên cát
Người chết rồi để tiếng tại nhà.
(Hồng phi thiên mạt tích lưu sa
Nhân khứ hoàng tuyền danh tại gia.)
Về việc mưu cầu lợi lộc thế gian, có thơ rằng:
Sau khi lấy mật trăm hoa

Ai người nếm ngọt chẳng hay nhọc nhằn?

(Thải đắc bách hoa thành mật hậu
Bất tri tân khổ vi thùy điềm?)
Tốn công mệt xác, giống như sự khéo léo chạm trổ trên băng, chẳng có ích lợi gì. Thêm củi vào lửa nghiệp: Sắc hương thô lậu giống như dụng cụ chứa lửa.
(60)
Người mặc áo nhà tu mà mưu cầu danh lợi chẳng bằng người quê mùa áo vải.
Bỏ ngai vàng tìm vào núi tuyết, đó là phép tắc của các đức Thế Tôn. Trong đời mạt pháp, những người thực chất là dê mà đội lốt cọp không biết xấu hổ, đón gió theo thời, chìu nịnh để giữ được ân huệ. Ôi hạng người như vậy làm sao răn bảo!
Người có tâm nhiễm lợi lộc thế gian, dua nịnh theo người có quyền, chạy theo cát bụi ở đời, cả người thế tục cũng cho là đáng cười. Việc làm của người mặc áo nhà tu nầy cho thấy thực chất của họ.
(61)
Phật dạy: “Kẻ giặc trộm mặc y phục của ta, buôn bán Như Lai, tạo các thứ nghiệp.”
Thời mạt pháp, có nhiều danh từ để gọi các tỳ kheo (phạm lỗi): hoặc là con dơi, hoặc dê câm, hoặc cư sĩ ngốc, hoặc đồ nhơ nhớp trong địa ngục, hoặc giặc mặc cà sa. Đó là buôn bán Như Lai vậy.
Bình:
Bài bát nhơn quả, không tin tội phúc, thân và miệng sục sôi, không ngừng khởi tâmthương ghét, thật là đáng thương.
Không ra tăng không ra tục cho nên gọi là con dơi, lưỡi không thuyết Pháp gọi là dê câm, bề ngoài là tăng mà tâm thế gian nên gọi là cư sĩ ngốc, tội nặng không đổi nên gọi là đồ dơ trong địa nguc, buôn Phật để mưu sống nên gọi là giặc mặc cà sa. Nói chung là giặc mặc cà sa.
(62)
Người đệ tử Phật mặc một bộ y, ăn ngày một bữa, không coi thường máu huyết của nhà nông, sự khổ cực của người thợ dệt, nếu đạo nhãn chưa tỏ làm sao tiêu được.
Truyền Đăng (1): “Một đạo nhân đạo nhãn chưa tỏ, thân sinh làm nấm để trả lại cho tín thí.” (2)
(63)
Nên nói: “Muốn biết vì sao sinh làm loài mang lông đội sừng, đó là do ngày nay nhận không không từ tín thí.” Có người không đói mà ăn, không lạnh mà mặc, không biết họ nghĩ thế nào? Không biết rằng cái vui trước mắt sẽ là nỗi khổ về sau.
Trí Luận viết: “Một vị đạo sĩ vì phí phạm chỉ năm hạt gạo mà phải đầu thai làm thân trâu, sống thì đền bù bằng xương gân, chết thì trả bẳng da thịt.” Nhận không không từ tín thí,báo ứng nhanh như tiếng vang.
(64)
Thà dùng sắt nóng che thân, không nhận áo của người tín tâm. Thà rót đồng vào miệng, không nhận thức ăn của người tín tâm. Thà vào lò nấu sắt, không nhận chỗ ở của người tín tâm.
Kinh Phạm Võng nói: “Không dùng thân phá giới mà nhận các vật cúng dường và bố thícủa người tín tâm. Bồ Tát nếu không phát nguyện nầy tức bị tội khinh cấu.” (1)
(65)
Vì vậy nói rằng: “Người tu đạo nhận thực phẩm như nhận thuốc độc, nhận củaban cho như bị tên bắn. Xử tốt, lời ngọt là điều sợ hãi của người tu đạo.”
“Nhận thức ăn như nhận thuốc độc” là sợ mất đạo nhãn. “Nhận thí nhự bị tên bắn” là sợ mất đạo quả.
(66)
Cho nên nói rằng: “Người tu đạo giống như tảng đá mài dao. Trương Tam đến mài, Lý Tứ đến mài. Mài tới mài lui, dao của người thì trở nên bén, nhưng đá nhà dần mòn. Thế nhưng có người lại sợ không ai đến mài dao trên đá của mình, thật là đáng thương!
Người tu đạo như vậy suốt đời chỉ nhắm đến sự ấm thân no bụng.
(67)
Do đó người xưa có câu: “Nỗi khổ trong ba đường chưa đáng gọi là khổ. Người mặc áo cà sa khi mất thân người mới thật là khổ.”
Người xưa nói: “Đời nầy không được minh tâm, một giọt nước cũng khó tiêu.” (1) Đó làlý do người mặc áo cà sa bị mất thân người (sau khi chết.) Người Phật tử nên đem lòng phấn khích.
(68)
Thật đáng kinh sợ cho cái thân nầy. Chín lỗ thường chảy ra (những chất dơ), trăm ngàn loại ung nhọt mọc ra trên làn da mỏng. Lại nói: Túi da chứa đầy phẩn và máu mủ, dơ bẩn đáng gớm, không đáng yêu thích, huống lại trăm năm nuôi nấng, trong một hơi thở liền bỏ đi.
Các nghiệp đề cập từ trước đến đây đều do có thân nầy. Nhìn kỹ vào thân sẽ sợ hãikêu lên tiếng lớn, làm cho chúng ta cảnh tỉnh. Cội rễ của thân nầy là lòng yêu thích. Biết rõ sự hư dối thì lòng yêu thích sẽ được tiêu trừ. Nếu cứ mê giữ sẽ sinh ra vô số lỗi lầmân hận. Vì vậy tỏ rõ điều nầy để mở con mắt đạo.
Bình:
Bốn đại không sanh (sự kết hợp của đất nước gió lửa không có thật) nên gọi là bốn kẻ oán. Bốn đại không biết nhớ ơn nên gọi là bốn con rắn. Chúng ta vì không biết thân nầy là hư vọng nên nổi lòng sân si cao ngạo với người khác. Người khác cũng không biết thân nầy là hư vọng nên cũng sanh sân si ngạo mạn với ta. Việc đó cũng giống như hai con quỷ tranh giành xác chết. Thây chết là thân thể của chúng ta, tựa như bọt nước, như chiêm bao, đau khổ và dơ nhớp, dễ bị hư hoại lại rất xấu xa. Trên thì bảy lỗ thường chảy nước mắt nước mũi, dưới thì hai lỗ thường ra phẩn tiểu. Ngày đêm thường lo giữ thân sạch sẽ để tiếp xúc với người. Cơ thể không sạch thì thiện thần cũng tránh xa.
Kinh Nhân Quả nói: “Dùng tay không sạch mà cầm kinh điển, khạt nhổ trước tượng Phật sẽ chịu quả báo sinh làm loài trùng trong cầu tiêu.” (1) Kinh Văn Thù nói: “Khi đạitiểu tiện thì giữ thân tâm như cây như đá, không nói năng, không gây tiếng động, không vẽ viết trên tường, không khạt nhổ đàm trong nhà cầu. Đi cầu mà không rửa ráy sạch sẽ thì không được ngồi vào nệm thiền, không được vào điện thờ.” (2) Luật nói: “Khi vào nhà xí, trước tiên phài búng móng tay ba lần để làm cho loài quỷ sống trong chổ dơ nhớp biết, rồi niệm thầm các thần chú mỗi câu bảy lần…” (3)
(69)
Có tội thì sám hối, có lỗi thì hổ thẹn, đó là khí tượng của người trượng phu. Sửa đổi lỗi lầm tự làm mới mình, tội theo tâm mà tiêu diệt.
Sám hối tức ăn năn lỗi trước, nguyện chừa những sai lầm về sau. Tàm quý tức bên trong tự trách, bên ngoài hổ thẹn. Tâm vốn rỗng lặng, tội nghiệp không có chỗ nương.
(70)
Người tu đạo nên giữ tâm đoan chánh, lấy đơn giản và ngay thẳng làm nền tảng. Một bầu một áo, không bị trói buộc vào nơi trọ nghỉ.
Phật dạy: “Tâm như dây đàn thẳng.” (1) Lại dạy: “Tâm ngay là đạo tràng.” (2) Nếu không dính bám vào sự vui về thân thì không bị trói buộc vào nơi trọ nghỉ.
(71)
Người phàm phu theo cảnh, người tu đạo theo tâm. Tâm cảnh đều quên đó làpháp chân thật.
Người theo cảnh giống như con nai chay theo hoa đốm trong hư không. Người theo tâm giống như con khỉ tìm bắt mặt trăng dưới nước. Cảnh và tâm tuy khác nhưng đều là bịnh như nhau. Đây nói về phàm phu nhị thừa.

Trên trời đất không mặt trời mặt trăng nước Tần

Khắp núi sông không thấy vua tôi nhà Hán.
(Thiên địa thượng không Tần nhật nguyệt,
Sơn hà bất kiến Hán quân thần.)
(72)
Thanh văn ngồi yên trong núi ma vương tìm được. Bồ tát dạo chơi trong thế gian ngoại ma không nhìn thấy.
Thanh văn lấy tĩnh làm hạnh nên tâm động, tâm động thì quỷ thấy được. Bồ tát tánh vốn rỗng lặng nên không dấu vết, không dấu vết thì ngoại ma không thấy. Ở đây luận về Nhị thừa Bồ tát.
Tháng ba ngại đi đường hoa rụng
Một nhà buồn đóng cửa trong mưa.
(Tam nguyệt lãn du hoa hạ lộ,
Nhất gia sầu bế vũ trung môn.)
(73)
Người phàm khi đến lúc sắp lìa đời chỉ quán năm ấm là không, bốn đại  không cótự tánh, Tâm chân thật không có hình tướng, không đi không đến, khi sanh Tánh cũng không sanh, khi chết Tánh cũng không mất, thanh tịnh sáng suốt, đầy đủ lặng yên, tâm và cảnh cùng một thể. Chỉ cần ngay lập tức thông suốt được như vậy, không bị ba đời ràng buộc (ràng buộc vào nhân quả), liền là người tự do ở ngoài thế gian. Khi đó, thấy chư Phật không khởi tâm theo nương, thấy địa ngục không khởi tâm sợ hãi. Chỉ tự vô tâm thì cùng với pháp giới (không khác). Đó là điều quan trọng. Sinh hoạt trong đời sống hằng ngày là nhân, khi chết là quả. Người tu đạo nên đem mắt quán sát.
Đến tuổi già sợ chết thì gần gũi đức Thích Ca.
Lúc nầy nên hướng soi tự kỷ
Trăm năm ánh sáng lướt qua đầu.
(Như hướng thử thời minh tự kỉ,
Bách niên quang ảnh chuyển đầu phi)
(74)
Người phàm đến giờ lâm chung, nếu có một mảy may phân biệt phàm thánh,nghĩ ngợi không dứt, sẽ bị kéo vào thai lừa, bụng ngựa, bị nấu trong chảo nước sôi, cho đến sinh làm con kiến con muỗi.
Ngài Bạch Vân (1) nói: “Giả như một mảy ý niệm phàm thánh cũng không còn, cũng không khỏi nhập vào thai lừa bụng ngựa.”
(2) Còn một tâm niệm chia hai thì còn có thể bị lôi kéo tái sinh vào đường xấu.
Lửa lớn mênh mông
Gươm báu ngăn che.
(Liệt hỏa mang mang
Bảo kiếm đương môn.)
Bình:
Hai tiết nầy đặc biệt mở bày cửa vô tâm hợp đạo của Thiền, phương tiện ngăn chậnpháp môn niệm Phật cầu vãng sanh trong Giáo môn.
Tuy nhiên căn khí không giống nhau, chí nguyện cũng khác. Hai pháp môn nẩy không ngăn ngại nhau.
Xin các người học đạo thường ngày tùy theo phận sự mà cố gắng, để đến phút cuốikhông sinh nghi ngờ.
(75)
Người học Thiền nếu chưa thấu rõ được bổn tâm rỗng sáng thì làm sao thấu được cái cửa chót vót huyền diệu? Người ta thường lấy cái ‘không’ đoạn diệtcho là Thiền, cái ‘không’ vô ký cho là đạo, ‘hết thẩy đều không’ cho là cao kiến.
Cái ý tưởng ngoan không u tối đó là một chứng bịnh sâu xa. Những người gọi làtu Thiền ngày nay mấy ai là không bị chứng bịnh đó!?
Con đường đi lên không có chỗ để đặt chân. Vân Môn (1) nói: “Có hai thứ bệnh ngăn cản sự thấu rõ. Khi thấu đạt pháp thân rồi cũng còn có hai thứ bịnh.” (2) Do đó lúc nào cũng ở trong tự tánh (thủy đắc).
Không đi đường cỏ thơm
Khó đến thôn hoa rơi.
(Bất hành phương thảo lộ,
Nan chí lạc hoa thôn.)
(76)
Các bậc thầy cũng có nhiều bịnh. Bịnh tại tai mắt như dương mày nhướng mắt nghiêng tai gật đầu cho là Thiền. Bịnh tại miệng lưỡi như miệng nói lời đảo điênvô nghĩa, hô hoán lung tung cho là Thiền. Bệnh tại tay chân như đi tới đi lui, chỉ vẽ lung tung cho là Thiền. Bệnh trong tâm như nghĩ tìm điều huyền diệu, cho mình ở trên phàm tình, xa rời sự thấy biết cho là Thiền.
Giết cha mẹ thì có thể sám hối Phật, chê Bát nhã thì không có cách gì sám hối.
Bắt bóng không trung không tài khéo
Bên ngoài tìm dấu há người tài?
(Không trung toát ảnh phi vi diệu
Vật ngoại truy tung khởi tuấn ki.)
(77)
Việc của các bậc Thầy giác ngộ chỉ là bày tỏ câu nầy. Như người gỗ gõ nhịp, lò hồng điểm tuyết. Lại như ánh sáng lửa đá. Người học thật khó thể suy lường. Do vậy người xưa nhớ ơn Thầy mà nói rằng: “Không trọng đạo đức của Thầy, chỉ trọng Thầy dạy dỗ không vị ngã.” (1)
Đừng nói! Đừng nói.
Viết ra gây hoang mang.
(Bất đạo bất đạo
Khủng thượng chỉ mặc.)

Tên xuyên qua bóng trăng dưới sông

Hẳn đến từ người bắn chim điêu.
(Tiễn xuyên giang nguyệt ảnh,
Tu thị xạ điêu nhân.)
(78)
Người học trước tiên nên hiểu rõ về đường lối của Tông môn. Xưa Mã Tổ (1) hét một tiếng làm cho tai của Bách Trượng điếc, lưỡi của Hoàng Bá rụng. Một tiếng hét đó là tiêu tức đưa hoa, cũng là khuôn mặt của Đạt Ma lúc mới qua. Đó là đầu mối của tông Lâm Tế.
Người biết pháp thì la. Mở miệng thì đánh.
Gậy gỗ một cây không đốt mắt
Ân cần giao phó kẻ đi đêm.
(Trượng tử nhất chi vô tiết mục,
Ân cần phân phó dạ hành nhân.)
Xưa Mã Tổ hét một tiếng làm cho Bách Trượng (2) được đại cơ, Hoàng Bá (3) được đại dụng. Đại cơ là hoàn toàn ứng hợp, đại dụng là cắt đứt không vướn ngại. Nhữngcâu chuyện trên là từ sách Truyền Đăng Lục.
(79)
Tổng quát mà nói, Thiền có năm phái là Lâm Tế, Tào Động, Vân Môn, Quy Ngưỡng, Pháp Nhãn.
Lâm Tế Tông:
Từ đức Bổn Sư Thích Ca cho đến đời thứ ba mươi ba Lục Tổ Huệ Năng trực tiếp truyền thọ gồm các Thiền Sư: Nam Nhạc Hoài Nhượng, Mã Tổ Đạo Nhất, Bách Trượng Hoài Hải, Hoàng Bá Hy Vận, Lâm Tế Nghĩa Huyền, Hưng Hóa Tồn Tưởng, Nam Viện Thủ Ngung, Phong Huyệt Diên Chiểu, Thủ Sơn Tỉnh Niệm, Phần Dương Thiện Chiêu, Từ Minh Sở Viên, Dương Kì Phương Hội, Bạch Vân Thủ Đoan, Ngũ Tổ Pháp Diễn, (Viên Ngộ Khác Cần, Kính Sơn Tông Cảo).
(80)
Tào Động Tông:
Gồm những vị Thiền sư sau Lục Tổ không được truyền trực tiếp. Đó là các Thiền Sư:Thanh Nguyên Hành Tư, Thạch Đầu Hi Thiên, Dược Sơn Duy Nghiễm, Vân Nham Đàm Thịnh, Động Sơn Lương Giới, Tào Sơn Đam Chương, Vân Cư Đạo Ưng.
(81)
Vân Môn Tông:
Bàng truyền từ Mã Tổ, gồm các Thiền sư: Thiên Vương Đạo Ngộ, Long Đàm Sùng Tín,Đức Sơn Tuyên Giám, Tuyết Phong Nghĩa Tồn, Vân Môn Văn Yển, Tuyết Đậu Trọng Hiển, Thiên Y Nghĩa Hoài.
(82)
Qui Ngưỡng Tông:
Bàng truyền từ Bách Trượng, gồm các Thiền Sư: Qui Sơn Linh Hữu, Ngưỡng Sơn Huệ Tịch, Hương Nghiêm Trí Nhàn, Nam Tháp Quang Lậu, Ba Tiêu Huệ Thanh, Hoắc Sơn Cảnh Thông, Vô Trước Văn Hỉ.
(83)
Pháp Nhãn Tông:
Bàng truyền từ ngài Tuyết Phong, gồm các Thiền Sư: Huyền Sa Sư Bị, Địa Tạng Quế Sâm, Pháp Nhãn Văn Ích, Thiên Thai Đức Thiều, Vĩnh Minh Diên Thọ, Long Tể Thiệu Tu, Nam Thai Thủ An.
(84) 
Lâm Tế hét, Đức Sơn gậy đều chứng suốt vô sinh, thấu ngọn thấu gốc, đại cơđại dụng, tự tại không cùng, toàn thân hiện mất, toàn thân đảm đương, nắm giữcảnh giới của Văn Thù, Phổ Hiền. Tuy nhiên, hai vị Thầy nầy cũng không tránh khỏi loài ma quỷ bắt hồn.
Gió buốt thổi lông, không phạm đầu nhọn.
Rạng rỡ hàn quang, châu đẹp nước
Không không mây tản, nguyệt qua trời.
(Thước thước hàn quang châu mị thủy 
Liêu liêu vân tán nguyệt hành thiên.)
(85)
Bậc đại trượng phu gặp Phật gặp Tổ như gặp oán thù. Cầu Phật liền bị Phật trói, cầu Tổ liền bị Tổ trói. Có cầu có khổ, không bằng vô sự.
“Gặp Phật Tổ như oán thù”: Ở trên nói “Không gió mà nổi sóng.” “Có cầu có khổ”: Ở trên nói “Thể thật ngay đó.” “Không bằng vô sự”: Ở trên nói “Khởi niệm liền sai.”
Đạt đến chỗ đó thì có thể cắt đứt hết đầu lưỡi của người trong thiên hạ, bánh xe sinh tửsẽ dừng lại.
Cứu giúp nguy khốn, dẹp yên loạn lạc, như Đan Hà đốt Phật (1), Vân Môn cho chó ăn (2), Lão bà không gặp Phật (3). Thảy đều là thủ đoạn dẹp tan tà kiến, làm rõ chánh kiến.Cuối cùng thì như thế nào?
Thường nhớ bờ nam trong tháng Ba
Chá cô kêu hót giữa trăm hoa
(Thường ức giang nam tam nguyệt lí,
Chá cô đề xứ bách hoa hương.)
(86)
Thần quang không mờ, vẫn tự ngàn xưa. Vào trong cửa nầy, không còn tri giải.
“Thần quang không mờ” ở trên nói là “chiêu chiêu linh linh”. “Vẫn tự ngàn xưa” ở trên nói là “vốn không sinh diệt.” “Không còn tri giải” ở trên nói “không thể theo danh mà hiểu.” “Cửa” là chỉ sự ra vào của phàm Thánh, như Thần Hội nói: “Một chữ biết là cửa vào của các điều huyền diệu.” (1)
Toàn giáo pháp bắt đầu với cái không thể gọi tên tả hình, kết thúc với việc không còn tri giải. Bao nhiêu vướng mắc, một câu phá hết.
Trước sau một nghĩa, giữa nêu vạn hạnh. Như ba nghĩa trong sách vở thế gian, hai chữ tri giải (biết hiểu) là mối nguy lớn của Phật Pháp. Do đó, đưa ra rồi chấm dứt.Thiền sư Hà Trạch Thần Hội cũng do đây mà không được coi là đích tử (con chính, tứcđệ tử được ấn chứng) của Lục Tổ Tào Khê.
Tụng rằng:
Như muốn nêu bày rõ tông chỉ
Cười ngất Tây Tăng cặp mắt xanh.
(Như tư cử xướng minh tông chỉ
Tiếu sát Tây lai bích nhãn tăng.)
Rốt ráo thì thế nào?
Trăng đơn riêng chiếu sông núi lặng
Cười lên một tiếng trời đất kinh.
(Cô luân độc chiếu giang sơn tĩnh
Tự tiếu nhất thanh thiên địa kinh.)
(Thiền Gia Quy Giám hết



LỜI BẠT
Của Một Người Đệ Tử Của Tây Sơn Đại Sư
Bản văn trên được viết do ngài Do-Eun (Thiền sư Tây Sơn), một vị Thiền sư sáng chói thuộctông phái Choye của Phật Giáo Đại Hàn.
Than ôi! Phật Giáo Đại Hàn đã suy thoái trên 200 năm. Những vị lãnh đạo Thiền tông và những vị chuyên về kinh điển khoanh vùng trong những quan điểm riêng. Những vị chuyên về kinh điển khai triển một khẩu vị cho những sự việc nhỏ hơn, và những vị nầy thì rất nhiều. Các vị nầy không biết có một con đường có thể giác ngộ từ bên trong, không nương tựa vào năm thừa giáo.
Trong khi đó, những người chuyên thực hành thiền quán thì chỉ tin vào sự thanh tịnhnguyên sơ nên coi thường vai trò của tiệm tu. Họ thường coi nhẹ việc thực hiện sựtoàn giác sau khi đốn ngộ. Những vị chỉ tập trung vào việc tu tập thiền quán có thể không chú ý đến tác dụng của việc thực hành nhiều pháp môn để cho diệu dụng củagiác ngộ được thuần thục và hoàn hảo.
Vì những lý do đó, vai trò của Thiền và Giáo thường bị lẫn lộn, như vàng và cát hòa trộn. Kinh Viên Giác nói: “Có người nói rằng vì con người sinh ra đã có Phật Tánh, và đã hoàn hảo, do đó ‘không có vô minh, không có giác ngộ’ nên quên mất nhân quả. Đó là cái thấy sai lầm. Lại có người cho rằng đốn ngộ là ảo tưởng vì vô minh chỉ đượcvượt qua bằng việc tu tập từ từ, do đó không nhìn thấy bản tánh chân thật không thay đổi của chính mình. Đây cũng là cái thấy sai lầm.”
Thật là nguy hiểm!
Vì sao truyền đạo lý nầy một cách đúng đắn rất khó khăn?
Truyền thống của chúng ta đang trên đường đi xuống như treo vạn cân trên một sợi tóc giữa hư không khi vị Lão Sư của chúng tôi ngồi viết tác phẩm nầy. Ngài dùng mọi thời gian rãnh rỗi trong mười năm chăn trâu ở núi Tây Sơn để kết tập. Ngài nghiền ngẫmnăm mươi bộ Kinh và những sớ giải liên quan, và chỉ ghi xuống những giòng rõ ràngnhất và căn bản nhất mà ngài tìm thấy. Rồi ngài trực tiếp dạy cho chúng tôi, những đệ tử của ngài, cho chúng tôi thấy lòng thương yêu của một người chăn cừu đối với đàn cừu: Với lòng lân mẫn, ngài dạy ít lại cho những người vượt quá và thúc đẩy những người lười biếng và không theo kịp. Tất cả những việc làm đó của ngài chỉ với mục đích đưa họ đến cửa đại ngộ.
Tuy nhiên, đệ tử của ngài quá đần độn, cảm thấy khó khăn với những thời Pháp cao siêu khó hiểu của ngài. Do đó, vị Lão Sư cảm thương, thêm phần chú giải vào mỗi câu và sắp xếp theo thứ tự. Kết quả là tất cả các câu được nối lại thành một xâu, và máu huyết bắt đầu lưu thông, đem giáo lý sống động đến cho những người đệ tử nầy.
Bản văn chứa đựng tinh túy của tám mươi bốn ngàn bộ kinh và cốt tủy của năm phái Thiền. Mỗi chữ đều mở bày chân lý, mỗi câu đều phù hợp với giáo pháp mà ngài muốn chỉ bày. Học hỏi bản văn, người quá độ sẽ tìm thấy sự tiết điệu, người bị đình trệ sẽvượt qua. Bản văn nầy quả thật là một tấm gương cho cả Thiền cũng như Giáo, một món thuốc rất hiệu nghiệm để đạt được hiểu biết chân chính và tác dụng của sự hiểu biết đó cho sự đốn ngộ cũng như việc tiệm tu.
Chúng ta nên biết rằng vị Lão Sư đã luôn luôn thận trọng tối đa khi nói về những vấn đềtrong tác phẩm nầy. Giống như bước đi trên một lưỡi dao bén, ngài lo rằng chỉ một chữ hay nửa câu cũng có thể đưa đến hậu quả trong một bản văn như bản văn nầy. Vì vậylưu hành rộng rãi hay vinh danh bản văn có thể là việc ngài muốn. Trong số những đệ tử của ngài, Thiền Sư Baek Un Bo Won sao chép và Đại Sư Byeok Chon Ui Cheonhiệu đính. Sau đó, những đệ tử khác như Đại Sư Jeong Wong, Đại Sư Dae Sang và Cheong Ha Boep Yung cung kính lễ bái và tán dương tác phẩm nầy là một tác phẩmkhông gì sánh. Cùng với sáu bảy vị tăng khác, họ quyên được đủ tiền khắc bản gỗ đểlưu hành về sau. Bản văn được phổ biến rộng rãi để trả ơn phần nào cho lòng từ bi lớn lao trong việc giáo hóa khai ngộ của ngài.
Chân lý thâm sâu của đức Phật và giáo pháp vi tế của chư Tổ giống như biển lớn: Nếu muốn tìm viên ngọc quý giá trong miệng rồng lớn dưới đáy biển, thì phải vào biền lúc mặt đại dương như thế nào? Và cái gì sẽ giúp cho sự tìm kiếm? Nếu không có nhữngphương tiện để di chuyển dưới biển giống như đi trên đất một cách tự tại thì không thể nào thực hiện ngoài việc ngồi trên bờ mà kêu oán.
Do đó sự thành tựu của vị Thầy chúng ta trong việc chọn lựa tinh túy của các lời dạy, và lòng từ bi của ngài trong việc khai ngộ chúng ta cao như núi và sâu như biển. Dù có nghiền xương cả ngàn lần, lấy thân mạng để đền đáp vạn lần cũng không thể đền đáp một chút xíu lòng từ mẫn bao la mà ngài đã ban cho chúng ta.
Chỉ đừng kinh nghi khi nghe và thấy những lời dạy nầy. Nếu đọc với lòng tôn kính và coi nó như kho tàng của mình, bản văn nầy sẽ trở thành một nguồn sáng dẫn đường, chẳng những cho đời nầy mà còn cho đời sau, đời sau nữa.
Những lời nầy được viết vào mùa Xuân niên hiệu Gimyo trều đại Manryeok (1579)

 

Tỳ kheo Yu Jeong, thuộc tông phái Choye Phật giáo Đại Hàn, kính lạy những lời dạy cốt tủy nầy được truyền từ Bổn Sư của chúng tôi, với lòng khiêm cung xin dâng những lời cuối cùng nầy.nguồn: http://thuvienhoasen.org/p33a26911/chu-thich

a

SỰ BÌNH AN KHÔNG GÌ LAY CHUYỂN

SỰ BÌNH AN KHÔNG
GÌ LAY CHUYỂN
Thiền sư Ajhan Cha
Người dịch: Sư Tâm Pháp

 

Một bài pháp thiền sư Ajhan Cha thuyết cho một vị sư chuyên nghiên cứu pháp học và nhóm Phật tử tại chùa Wat Pah Pong trong những năm
1960.

Toàn bộ mục đích của
việc nghiên
cứu Phật Pháp là
để tìm con
đường giải thoát khổ, đạt đến hạnh phúc và bình an. Dù chúng ta nghiên cứu các hiện tượng thân hay tâm, tâm vương (citta) hay tâm sở (cetasikā), chỉ khi lấy sự giải thoát khổ làm mục đích cuối cùng thì chúng ta mới
ở trên con
đường chánh – không gì
khác. Khổ có mặt là bởi vì có nhân, có duyên để nó tồn tại.

Hãy hiểu thật rõ rằng
khi tâm tĩnh lặng, nó ở trạng thái tự nhiên,bình thường.
Ngay khi tâm chuyển động, nó trở thành các
hành (sankhāra), bị ràng buộc (bị
tạo nên bởi các điều kiện, nhân tố khác nhau). Khi tâm bị thu hút bởi
một đối tượng nào đó, nó bị ràng buộc, bị tạo
thành bởi các điều kiện. Khi sân hận khởi lên, nó bị ràng buộc. Ý muốn đi
chỗ này chỗ kia sanh khởi từ
việc bị ràng buộc. Chánh niệm của chúng ta không theo kịp được sự sinh sôi của tâm khi chúng
diễn ra, tâm đuổi theo chúng và bị chúng trói buộc. Bất cứ khi nào tâm chuyển động, ngay lúc
đó, nó trở
thành một thực tại chế định.

vậy, Đức Phật dạy chúng ta quán chiếu những điều kiện cấu tạo,
thường biến
chuyển này của tâm mình.
Mỗi khi tâm chuyển động, nó trở nên không bền vững và vô thường (anicca), khổ (dukkha), vô ngã (anattā). Đây là những đặc tính luôn có của tất cả mọi sự vật, hiện tượng bị tạo nên bởi các điều kiện. Đức Phật dạy chúng taquan sát và quán chiếu những chuyển động này của tâm.
Giáo
lý về 12 nhân duyên (sự sanh khởi tùy thuộc vào nhân duyên- paticca
samuppāda
) cũng như vậy: vô minh(avijjā) là nhân duyên cho sự sanh khởi của các hành (sankhāra); hành
là nhân
duyên sanh thức (viññāna);
thức là nhân
duyên sanh khởi danh-sắc (nāma-rūpa),
v.v…như chúng ta nghiên cứu trong kinh điển. Đức Phật tách rời từng mắt xích trong chuỗi nhân duyên ấy để dễ nghiên cứu.
Đó là sự diễn
tả chính xác và chi tiết về thực tại, nhưng khi tiến trình này thực sự xảy ra
trong cuộc sống thực tế, các học giả không
thể theo được những gì đang diễn ra. Nó giống khi bạn bị rơi từ ngọn cây xuống
đất. Chúng
ta chịu không thể biết mình đã rơi qua bao nhiêu cành cây. Tương tự như vậy, khi tâm bất ngờ tiếp nhận một tác động giác quan, nếu thích, nó lập tức bay bổng vào một tâm trạng tốt. Nó cho
cái đó là tốt mà không hề ý thức được
cả một chuỗi nhân duyên đã
dẫn đến đó. Tiến trình diễn ra
đúng theo lý thuyết, nhưng ngay lập tức cũng
vượt ra ngoài giới hạn của lý thuyết ấy.
Chẳng có cái gì tuyên bố lên: “Đây là vô minh đấy. Đây là hành đấy, thức đấy”. Tiến
trình không cho nhà học giảcơ hội để đọc danh sách khi nó đang diễn ra.
Mặc dù Đức
Phật phân tích và diễn giải trình tự của tiến trình tâm đến tận chi tiết nhỏ nhất, đối với tôi, nó cũng giống
như rơi từ trên cây xuống. Khi rơi xuống, chẳng có cơ hội nào để mà ước lượng mình đã rơi được bao nhiêu mét, bao
nhiêu cm. Cái chúng ta biết
chỉ là rơi bịch một cái xuống đất và đau điếng người.
Tâm cũng y hệt như
vậy. Khi nó đổ vỡ vì một cái gì đó, cái chúng ta ý thức được
chỉ là nỗi đau. Tất cả những nỗi khổ, đau đớn, u sầu và thất vọng ấy đến từ đâu? Nó không đến từ mớ lý thuyết trong sách vở. Chẳng có chỗ nào ghi
lại chi
tiết nỗi khổ của chúng ta cả. Cái khổ của chúng ta sẽ không hoàn toàn chính xác như trong lý thuyết,
nhưng cả hai đều đi trên cùng một con đường. Vì vậy, chỉ mỗi lý thuyết thì
không thể theo kịp thực tế. Chính vì lý do đó
mà Đức
Phật dạy chúng ta phát triển sự hiểu biết rõ ràng về chính bản thân mình. Bất cứ cái gì sanh khởi,
nó sanh
khởi trong cái biết này.
Những cái mà nó biết, nó biết đúng theo chân lý, khi đó tâm và các thành phầncủa
nó (tâm sở) sẽ được nhận diện là không phải của ta. Cuối cùng tất cả chúng đều bị ta từ bỏ và vứt đi như rác. Chúng ta không nên bám víu lấy nó hay cho nó bất cứ ý nghĩa gì.
Lý thuyết và thực tế
Đức
Phật không dạy chúng ta về tâm và tâm sở để ta bám víu vào các khái niệm ấy. Ý định duy nhất của Ngài là để chúng ta nhìn rõ thấy chúng là vô thường,
khổ và vô
ngã. Rồi từ bỏ. Gạt nó qua một bên. Chánh niệm và biết nó mỗi khi nó sanh khởi.
Tâm chúng
ta vốn bị ràng buộc,
bị tạo thành bởi các nhân tố và điều kiện. Nó đã bị rèn luyện để
quay lưng lại và bật ra khỏi trạng thái thuần túy hay
biết (ghi nhận thuần túy). Khi tâm quay cuồng và
bật ra khỏi trạng thái ấy,
nó tạo ra thêm những nhân tố và điều kiện mới
nữa để tiếp
tục tác động đến
tâm, và cứ nhân rộng lên như thế mãi. Tiến trình ấy đẻ ra điều tốt, cái xấu, và
tất cả mọi thứ trên đời. Đức Phật dạy chúng tatừ bỏ tất cả. Tuy nhiên, lúc đầu bạn phải làm quyen với lý thuyết để có thể từ bỏ chúng hoàn toàn trong giai đoạn sau. Đó là một tiến
trình tự
nhiên. Tâm hoạt động theo
cách đó. Các tâm sở (thành phần của
tâm) cũng hoạt động theo
cách đó.
Hãy lấy Bát Chánh Đạo (con đường thánh đạo 8 ngành) làm ví dụ. Khi trí tuệ (paññā) nhìn nhận mọi sự một
cáchđúng đắn bằng tuệ giác,
cái nhìn đúng
đắn (chánh kiến) này sẽ dẫn đến suy nghĩ và tác ý đúng đắn (chánh tư duy), lời nói đúng đắn (chánh ngữ), hành động đúng đắn (chánh nghiệp)…Tất
cả điều này đều có liên quan đếncác yếu tố tâm lý, được sanh khởi từ chánh niệm thuần túy[1]. Chánh niệm và cái biết này giống như ngọn đènhắt
chiếu sáng con đường giữa
bóng đêm. Nếu cái biết đúng, thuận theo chân lý, nó sẽ lần lượt chiếu
sáng từng bước đi trên con đường.
Bất cứ cái gì chúng ta ý thức và kinh nghiệm được,
nó đều sanh
khởi từ trong cái biết
này. Không có tâm thì cũng thể có cái biết ấy. Tất cả là các hoạt động của tâm.  Như Đức Phật nói, tâm vốn chỉ là tâm: nó không phải
là một con
người hay một chúng sinh nào cả, không phải cái tôi, không phải
là bản
thân mình; nó chẳng phải
làchúng ta hay
bọn họ. Pháp
chỉ đơn giản là
Pháp[2].
Nó là một tiến trình tự nhiên, không thuộc về ai cả. Nó không thuộc về chúng ta hay bất cứ ai trên đời. Nó cũng chẳng
là một sự vật nữa. Bất cứ cái gì con người ý thứcđược, tất cả đều nằm trong 5 nhóm hợp thành mà
ta vẫn gọi là ta, là của ta (ngũ uẩn-khandhas): thân, cảm giác,nhận thức, suy nghĩ-tác ý, và sự nhận biết (sắc, thọ, tưởng, hành, thức)[3]. Đức Phật dạy chúng ta hãy từ bỏ tất cả.
Thiền
tập giống như một khúc gỗ. Thiền quán (vipassanā-hay còn gọi là thiền tuệ, thiền minh sát)
là một đầu,thiền chỉ (samatha-hay còn gọi là thiền định)
là đầu kia. Nếu chúng ta cầm
thanh gỗ lên, thì chỉ một đầu lên hay cả hai đầu lên? Khi cầm khúc gỗ, cả hai
đầu cùng lên. Vậy khi đó phần nào là thiền quán, phần nào là thiền chỉ? Chỗ nào là nơi kết thúc của phần này và bắt đầu của phần kia?
Cả hai phần ấy đều chỉ là tâm. Khi tâm bình an,ban đầu an lạc khởi
lên từ sự vắng lặng của thiền chỉ. Chúng ta tập trung và gom tâm vào một trạng thái an lạccủa
định (samādhi). Tuy nhiên, khi sự an lạc và
tĩnh lặng của định tan dần, cái khổ sẽ sanh khởi ngay
chỗ ấy. Vì sao vậy? Bởi vì sự an lạc từ thiền chỉ vẫn dựa trên sự
dính mắc. Sự dính mắc này là nguyên nhân của
khổ. Tĩnh lặng không phải là điểm cuối của đường đạo. Đức Phật đã nhìn ra từ kinh nghiệm của chính bản thân rằng sự an lạc ấy không phải là đích đến cuối cùng. Nguyên nhân của sự hiện hữu các kiếp sống (bhava) vẫn chưa
bị đoạn
diệt (nirodha).
Những điều
kiện cho sự tái sanh vẫn còn tồn tại.
Công việc tâm linh của
ngài vẫn chưa đạt đếnchỗ hoàn hảo. Vì sao? Bởi vì ở đó vẫn còn khổ. Dựa trên sự tĩnh lặng của thiền chỉ,
ngài tiếp
tục quán chiếu, thẩm xét và phân tích bản chất thực tại vốn
bị tạo thành bởi các điều kiện cho đến khi giải thoát hoàn toàn khỏi mọi trói buộc và dính mắc, kể cả dính mắc vào tĩnh
lặng. Tĩnh lặng vẫn là một phần của thế giới bị
tạo thành và của thực tại thông
thường. Dính mắc vào loại an lạc này
là dính mắc vào thực tại thông
thường, và khi còn dính mắc, chúng ta còn
bị cuốn đi trong luân hồi và tái sanh. Ham thích sự an lạc của thiền chỉ vẫn dẫn đến sự tái sanh và luân hồi nữa.
Khi sự bất
an và xáo động lắng xuống, con người ta lại thường bám víu vào sự bình an.
Đức
Phật quán xét các nguyên nhân và điều kiện hình
thành nên kiếp sống và sự tái sanh. Khi chưa hoàn toànxuyên thấu vấn đề và
hiểu sự
thật, ngài vẫn tiếp tục tìm hiểu ngày
càng sâu hơn với một nội tâm tĩnh
lặng, quán xét xem mọi thứ, dù bình an hay
không, trở
thành hiện hữu như
thế nào. Sự
quán chiếu ấy tiếp tục cho đến khi ngài thấy rõ ràng mọi thứ đang trở thành hiện hữu giống như một khối sắt nung đỏ. Năm
nhóm hợp thành mộtchúng sanh (khandhas –ngũ uẩn) chỉ là một khối sắt nóng đỏ. Khi một khối sắt
đang nóng đỏ, có chỗ nào đụng vào mà không bị bỏng hay không? Ở đó có chỗ nào
mát hay không? Hãy thử đụng vào phía trên, bên dưới, bên cạnh khối sắt ấy xem sao.
Có chỗ nào mát không? Không thể. Khối sắt ấy nóng đỏ tất cả mọi chỗ. Chúng tathậm
chí cũng không thể dính mắc vào sự an lạc và
tĩnh lặng. Nếu chúng ta tự đồng hóa với sự an lạc ấy, cho rằng có người đang bình an và tĩnh lặng, chính điều này củng cố thêm cảm giác rằng
có một cái tôi hay một linh hồn độc lập nào
đó. Cảm
giác về cái tôi đó là một
phần của thực
tại thông thường. Cứ suy nghĩ:
“Tôi đang bình an”, “Tôi đang xáo động”, “Tôi tốt”, “Tôi xấu”, “Tôi hạnh phúc”,
“Tôi đau khổ”, chúng ta sẽ
còn bị mắc
kẹt trong tái sanh và luân hồi nữa.
Và càng đau
khổ nữa. Khi sự an lạc mất đi, chúng ta sẽ đau khổ vì
điều ấy. Khi cái buồn, cái khổ hết, chúng ta lại hạnh phúc.
Bị kẹt trong cái vòng luẩn quẩn vô tận ấy, chúng ta cứ luân chuyển qua
lại giữa cõi
trời và địa ngục.
Trước khi giác ngộ, Đức Phật đã nhận ra được
điều này trong tâm mình. Ngài biết rằng các nhân gây tái sanh vàhiện hữu vẫn còn chưa hết. Công việc của ngài
còn chưa làm xong. Quán chiếu nhân duyên của
kiếp sống, ngài thấy ra bản chất của
nó: “Bởi vì có nhân này nên có tái sanh, bởi vì có tái sanh nên
có chết, và cứ như thế luânhồi mãi”. Đức Phật quán chiếu đề mục ấy
để hiểu sự
thật về ngũ uẩn.
Tất cả mọi thứ trong thân và tâm, tất cả mọi thứ được ta nhận biết và suy nghĩ, không trừ một ngoại lệ nào, đều bị tạo thành
bởi các điều
kiện và nhân tố khác. Khi
đã hiểu được điều này, ngài dạy chúng ta hãy
đặt nó xuống. Khi đã hiểu được điều này, ngài dạy chúng ta hãy từ bỏ tất
cả chúng. Ngài khích lệ người khác hiểu theo đúng sự thật ấy. Nếu không hiểu
đúng, chúng
ta sẽđau khổ. Chúng ta sẽ
không thể buông bỏ được
những thứ ấy. Nhưng khi đã thấy sự thật của vấn đề, chúng tasẽ nhận ra chúng lừa đảo mình như thế nào.
Đức
Phật dạy tâm chúng ta không phải là một thực thể nào; nó chẳng là một cái gì cả. Tâm không phải sinh ra để thuộc về một ai hết.
Nó cũng không chết đi như của một người nào. Cái tâm này tự do,
tỏa sáng và không bịtrói buộc bởi bất cứ vấn đề gì. Lý do rắc rối khởi
sanh là vì tâm bị che khuất bởi
các sự việc do nhân duyên tạo
thành, bị che khuất bởi ảo tưởng về một cái tôi. Vì vậy, Đức Phật dạy chúng ta hãy quan sát tâm mình. Lúc đầuở
đó có cái gì? Thực sự chẳng có gì cả. Nó không sanh khởi với các sự việc do nhân duyên tạo, và nó cũng chẳng chết đi với
chúng. Khi tâm tiếp xúc với
điều tốt, nó không biến thành tốt.
Khi gặp điều xấu, nó cũng chẳngtrở thành xấu. Đó là cách mọi việc diễn ra khi tâm có tuệ giác rõ ràng về bản chất của chúng ta.
Khi đó, có mộthiểu biết rằng thực ra trong
nó chẳng có chút thực chất nào.
Tuệ
giác của Đức Phật thấy rõ tất cả chúng chỉ là vô thường,
khổ, vô
ngã. Ngài muốn chúng ta cũng
thực sự hiểu được theo cách đó. Cái biết khi đó sẽ biết đúng theo sự thật.
Khi nó biết hạnh phúc hay đau khổ,
nó vẫn không chao động. Cảm xúc hạnh phúc chỉ
là một dạng của sự sinh. Xu hướng buồn
khổ là một dạng của cái chết. Có chết thì có sinh, có sinh thì có tử. Cái sinh và
diệt ấy bị kẹt trong cái vòng vô tận của
sự sinh ra và trở thành. Tâm thiền sinh đã đạt đến sự hiểu biết này
sẽ không còn chút nghi ngờ nào
về sinh
tử nữa. Chẳng cần phải hỏi bất cứ ai cả.
Đức
Phật quán
chiếu toàn
diện các pháp do nhân duyên tạo thành và vì vậy đã từ bỏ tất
cả chúng. 5 nhóm hợp thành (ngũ uẩn) bị từ bỏ,
và cái biết được duy trì chỉ
như là một người quan sát khách quan với
tiến trình. Khi cảm nhận điều gì tích cực, ngài không vì thế mà trở thành tích cực cùng với nó. Ngài chỉ đơn giản quan sát vàtỉnh thức.
Khi gặp phải điều tiêu cực, ngài không trở thành tiêu cực theo.
Tại sao thế? Bởi vì tâm ngài đã cắt bỏ và giải thoát khỏi
những nguyên
nhân và điều kiện đó. Ngài thể nhập vào sự thật. Những nhân tố và điều kiện dẫn đến tái sinh đã không còn nữa. Đó là cái biết chắc chắn và tin cậy. Đó là cái tâm thực sự bình an và hạnh phúc. Đó là cái không sinh, không già, không bệnh, không chết. Chẳng
phải là nhân hay duyên, không còn phụ thuộcnhân duyên nữa.
Nó không còn phụ thuộc vào quy luật nhân quả nữa. Các nhân sẽ diệt tận mà không còn
tạo thêm nhân mới. Cái tâm đó đã vượt qua sinh tử, đứng trên hạnh phúc và đau khổ,
vượt ra ngoài cả thiện ác. Bạn có thể nói gì bây giờ? Nó nằm ngoài giới hạn của ngôn từ để diễn tả.
Tất cả mọi nhân duyên tạo
thành đã diệt, và bất cứ cố gắng nào
để diễn
tả điều đó chỉ dẫn đến dính mắc (vào khái niệm, ngôn từ)
mà thôi. Ngôn
từđược sử dụng để diễn tả sẽ chỉ là lý thuyết.
Sự diễn tả trên lý thuyết về
tâm và sự hoạt động của
tâm thì rất chính xác, nhưng Đức Phật nhận thấy rằng
loạikiến thức này
đa phần là vô ích. Chúng ta hiểu
một cái gì đó trên lý thuyết và
rồi tin vào nó, nhưng nó chẳng có lợi ích thực
sự nào cả.  Nó chẳng dẫn đến sự bình an cho
tâm. Sự hiểu
biết của Đức Phật mới dẫn đến sự từ bỏ.
Kết quả là sự xuất ly và buông bỏ.
Bởi vì chính
tâm là cái dẫn chúng ta dính líu vào cái đúng cái sai. Nếu là người có
trí, chúng
ta sẽ dính với điều đúng.
Nếu ngu
ngốc, chúng ta đi
với cái sai. Một cái tâm như vậy là tâm phàm của thế gian, Đức Phật sử dụng chính những cái trong thế gian này để quán chiếu thế gian.
Khi đã hiểu được thế gian này
như nó thực sự đang là, ngài được gọi là bậc hiểu hiểu biết thế gian (lokavidū).
Đối với thiền chỉ (samatha) và thiền quán (vipassanā), điều quan trọng là
phải phát triển các phẩm chất ấy trongchính tâm mình. Chỉ khi thực sự tu tập để phát triển nó thì chúng ta mới biết nó thực sự là gì. Chúng ta đi mànghiên
cứu những gì sách vở nói
về các tâm
sở, nhưng loại kiến thức sách
vở ấy vô
ích trong việc cắt đứt
tham, sân, si, ích kỷ. Chúng ta chỉ nghiên cứu lý thuyết về tham, sân, si, chỉ là diễn tả những tính chất khác nhau củaphiền
não: “tham có nghĩa thế này, sân có nghĩa thế kia, si được định nghĩa
thế nọ”. Chỉ biết các tính chất của
chúng trên lý thuyết, chúng ta chỉ
có thể nói về chúng ở mức độ lý thuyết ấy.  Chúng ta biết, và chúng ta thông minh,
nhưng khi những phiền não đó
thực sự có mặt trong tâm, chúng có phù hợp với lý thuyết hay không? Chẳng hạn, khi gặp việc
không như
ý, chúng ta có phản ứng và khó chịu hay không? Chúng ta có dính mắc không? Chúng ta có thể buông bỏ được không? Khi có sân khởi lên, chúng ta nhận ra nó thì có dính với nó hay không? Hay
khi thấy nó là chúng ta buông
bỏ? Khi thấy cái gì chúng ta không
thích, mà vẫn giữ sự khó chịu ấy ở trong tâm, thì tốt hơn hết là hãy trở về mà học lại bài đi. Bởi vì nó vẫn chưa
đúng. Sự thực
hành vẫn chưa hoàn hảo.
Khi đến độ hoàn hảo, sự buông bỏ sẽ lập tức diễn ra. Hãy nhìn sự việc theo cách
ấy.
Chúng
ta phải thực sự nhìn sâu vào tâm mình nếu
muốn được hưởng thành quả của pháp hành.
Chỉ cố
gắngdiễn tả tâm với các sát na tiến trình tâm và các tính chất của nó, theo tôi nghĩ, thì chưa thực hành đủ. Còn rất nhiều việc phải làm nữa. Nếu chúng ta nghiên cứu những điều đó, chúng ta phải biết chúng hoàn toàn đầy đủ,hiểu
biết rõ ràng và xuyên thấu.
Không có tuệ
giác rõ ràng, làm sao chúng ta hoàn thành xong
công việc? Không bao giờ. Chúng ta không
bao giờ nghiên
cứu xong.

vậy, thực hành pháp là cực kỳ quan trọng. Thực hành là cách tôi học hỏi và nghiên cứu. Tôi chẳng biết tý gì về các sát na tiến trình tâm hay các tâm sở cả. Tôi chỉ quan sát chất lượng của cái biết, của chánh niệm.
Nếu mộtsuy nghĩ sân hận sanh khởi,
tôi hỏi bản
thân mình: tại sao. Một suy nghĩ từ bi sanh khởi,
tôi tự hỏi mình: tại sao. Gọi nó là một suy nghĩ hay
một tâm
sở thì có gì khác nhau?
Chỉ nhìn thấu vào một điểm ấy thôi cho đến khi
bạn có thể giải quyết những cảm xúc yêu ghét đó, cho đến khi chúng hoàn toàn biến mất khỏi tâm mình. Khi có thể
dừng lại mọi yêu ghét, cho dù ở bất cứ hoàn cảnh nào,
thì khi đó tôi mới có thể vượt ra khỏi đau khổ. Khi đó, cho dù bất cứ cái gì xảy đến, tâm vẫn
luôn an
lạc, thỏa mái và nhẹ nhõm. Chẳng có gì còn sót lại. Tất cả đã chấm dứt.
Hãy thực hành như thế. Nếu mọi người muốn nói nhiều về lý thuyết,
đó là việc của họ. Nhưng dù cho đàm luận nhiều đến đâu chăng nữa, pháp hành luôn phải quay lại một điểm duy nhất ở đây. Khi cái gì đó sanh khởi,
nó sanh khởi ngay
tại đây. Nhiều hay ít, nó cũng sanh lên ở ngay đây. Khi diệt mất, nó diệt ở
ngay tại đây. Còn nơi nào khác nữa? Đức Phật gọi
điểm ấy là “cái biết” (chánh niệm). Khi nó hiểu chính xác cách thức mọi việc diễn ra, đúng theo sự thật, chúng ta sẽ hiểu được ý nghĩa của tâm. Mọi thứ đều không ngừng lừa
dối. Khi bạn nghiên cứu chúng,
chúng lừa
đảo bạn ngay lập tức.
Làm sao tôi có thể nói khác được? Ngay cả khi bạn biết về chúng, bạn vẫn bị
chúng bịt mắt, chính ngay tại chỗ bạn biết. Đó là thực tế. Vấn đề là ở chỗ: theo tôi, Đức Phật không có ý nói rằng chúng ta chỉ biết những thứ đó được gọi là gì; mục đích những lời Đức Phật dạy là chỉ ra con đường tự giải thoát
chúng ta ra khỏi
những thứ đó, bằng cách tìm hiểu những nguyên nhân đằng sau nó.
Giới, định và tuệ

 

Tôi thực hành Pháp mà không hiểu biết nhiều về lý thuyết.
Tôi chỉ biết rằng con đường giải thoát bắt
đầu bằng giới (sīla). Giới là đoạn khởi đầu tốt đẹp của con đường; định tâm sâu
sắc (samādhi) là cái đẹp ở đoạn giữa; tuệ (paññā) là cái đẹp ở
đoạn cuối. Mặc dù chúng có thể được phân chia thành
3 phần riêng biệt của pháp hành, nhưng khi nhìn vào chúng thật sâu sắc, cả
ba phẩm chất tâm này đều hợp nhất làm một. Để giữ giới bạn
phải cótrí tuệ. Chúng ta thường khuyên mọi người tu tập giới bằng cách giữ 5 giới[4] để củng cố giới hạnh vững chắc.Tuy nhiên, để đạt được sự hoàn hảo về giới hạnh cần phải có
rất nhiều trí tuệ. Chúng ta phải xem xét mọi lời nóivà hành động của mình, và phân tích những hậu quả của nó. Tất cả đều là công việc của trí tuệ. Chúng ta phảidựa vào trí tuệ để tu tập giới.
Theo lý thuyết,
giới đi
trước rồi đến định và tuệ,
nhưng sau khi xem xét, tôi phát hiện ra trí tuệ là
hòn đá tảng cho tất cả mọi mặt của pháp hành. Để hoàn toàn nắm
bắt được hậu
quả của những gì mình nói
hay làm, nhất là những hậu quả xấu, chúng ta cần có trí tuệ để dẫn đường và
giám sát, phân tích tìm hiểu sự vận hành của nhân và quả. Điều đó sẽ làm thanh
lọc lời
nói và hành động của chúng ta.
Khi đã biết rõ những hành vi thiện
và bất
thiện, chúng ta sẽ
thấy ra được chỗ để tu. Khi đó chúng ta sẽ từ bỏ những việc bất thiện và phát triển việc thiện,từ bỏ cái
sai, tu
tập cái đúng. Đó chính là
giới. Khi thực hành như
vậy, tâm chúng
ta sẽ ngày càng vững vàng,
ổn định. Một cái tâm ổn định, không lay động sẽ được giải
thoát khỏi hối hận,
tiếc nuối, và mơ hồ trong lời nói và hành động. Đó chính là định.
Một cái tâm ổn định và chú tâm sẽ tạo ra nguồn năng lượng thứ hai, mạnh mẽ hơn để sử dụng trong việc thực hành pháp, cho phép chúng ta quán chiếu sâu sắc hơn về hình ảnh, âm thanh…mọi
thứ mà chúng
ta cảm nhận qua các giác quan.
Khi tâm đã thiết lập được
sự bình
an và chánh niệm không lay động, chúng ta có thể bắt tay vào việc quán chiếu, tìm hiểu liên tục thực tại của thân, cảm giác và cảm xúc, nhận thức, suy nghĩ, tâm nhận biết, các hình ảnh, âm thanh, mùi, vị, cảm giác và
các đối tượng trong tâm. Chúng liên tục khởi
sanh, và chúng
ta cũng liên tục quán chiếu với sự quyết tâm thực lòng không để mất chánh niệm.
Khi đó chúng
ta sẽ hiểu được những thứ
đó thực sự là gì. Chúng có mặt đúng theo sự thật tự nhiên của
chúng. Khi hiểu biết này
ngày càngtăng trưởng vững chắc, trí tuệ sẽ sanh khởi. Một khi đã thấu hiểu cách mọi thứ thực sự
là, những ảo tưởng cũ
của chúng
ta sẽ bị nhổ bật, và những kiến thức lý thuyết mang đầy khái niệm của chúng ta sẽ chuyển hóa thànhtrí tuệ. Đó là cách giới, định và tuệ hoạt động và hòa vào làm một với nhau.
Khi trí tuệ tăng cường sức mạnh,
định sẽ tiến
hóa và trở nên ngày càng
vững mạnh. Định càng vững, giới sẽ càng vững và càng hoàn thiện.
Khi giới
hoàn hảo, nó nuôi dưỡng định, và định được tăng cường sẽ dẫn đến trí tuệ chín muồi.
Ba thành
phần của pháp hành này kết nối và đan xen lẫn nhau. Hợp vào làm một, chúng tạo nêncon đường tu tập gồm
8 chi
phần (Bát Chánh Đạo), con đường của Đức Phật.
Khi giới, định, tuệ đạt đến đỉnhcao, Đạo có đủ sức mạnh để diệt trừ những ô nhiễm, phiền não (kilesa)[5] trong
tâm. Khi tham
dục (ham muốnhưởng thụ, vui thú của giác quan)
khởi lên, khi sân, si trưng ra bộ mặt của chúng, Đạo là cái duy nhất có thể cắt đứt chúng.
Bốn sự thật về khổ (Tứ
diệu đế) là cái khung của pháp hành: Sự thật về
khổ (dukkha – khổ đế), Sự thật vềnguyên nhân của khổ (samudaya- tập đế), Sự thật về
sự diệt
khổ (nirodha-diệt đế), Sự thật về con đường diệt khổ (magga-đạo
đế). Con đường này
được tạo thành bởi giới, định, tuệ – là cái khung để huấn luyện tâm. Ý nghĩathực
sự của nó không thể tìm thấy trong
những dòng chữ này, mà phải đào sâu vào
trong tâm chúng ta. Giới, định, tuệ là như thế đấy. Chúng tiến triển liên tục. Bát Chánh Đạo sẽ mở rộng ra bao gồm bất cứ hình ảnh, âm thanh,
mùi, vị, cảm
giác hay đối tượng nào của
tâm (suy nghĩ, tưởng tượng…) được sanh khởi. Tuy nhiên,
nếu các chi
phần của Bát Chánh Đạo còn yếu ớt và
nhút nhát, phiền não sẽ thống trị tâm chúng ta. Nếu Bát Chánh Đạo mạnh
mẽ và dũng
cảm, nó sẽ xâm chiếm và tiêu diệt phiền não. Khi phiền não mạnh
và hung hăng, trong khi Đạo thì yếu ớt, phiền não sẽ
xâm chiếm đạo. Chúng xâm chiếm tâm chúng ta. Nếu chánh niệm, hay cái biết, không đủ nhanh và nhạy bén,
khi thân, cảm giác, nhận thức và
các suy
nghĩ được tiếp thu và cảm nhận, chúng sẽ chiếm hữu và tàn phá chúng ta.
Đạo và phiền
não tiến lên cùng lúc.
Khi thực
hành Pháp tiến triển trong
tâmchúng ta, hai lực lượng này chiến đấu, giành
giật với
nhau trên từng bước đi. Nó
giống như hai người đang cãi nhau trong
tâm chúng
ta, nhưng đó chỉ là Đạo Pháp và phiền não đang vật lộn với nhau để
giành quyền kiểm soát tâm. Đạo dẫn đường và tăng cường các khả năng của chúng ta để quán chiếu. Khi chúng ta có
thể quán
chiếu một cách chính xác, phiền não sẽ mất đất sống. Nhưng nếu chúng ta không kiên định,
mỗi khi phiền
não tái tập hợp lực lượng và lấy lại sức mạnh,
Đạo sẽ bị đánh bật và phiền não chiếm
chỗ. Hai bên sẽ tiếp tục chiến
đấu cho
đến khi cuối cùng một bên sẽ chiến thắng và toàn bộ vấn đề được giải quyết.
Nếu chúng ta tập trung sức cố gắng để tu tập con đường của
Pháp, phiền
não sẽ dần dần bị diệt tận. Khi tu tậphoàn
toàn đầy đủ, bốn sự thật cao thượng về khổ sẽ ở trong tâm ta.
Dù đau
khổ ở dưới bất cứ hình thức nào, nó có mặt bởi vì một nguyên nhân.
Đó chính là sự thật thứ
hai. Cái gì là nguyên nhân? Giới yếu kém, định yếu kém, tuệ yếu kém. Khi Đạo không đủ mạnh mẽ, phiền não ngự trị tâm. Khi chúng ngự trị, sự thật thứ hai vận hành,
và nó làm khởi lên tất cả mọi loại đau khổ. Khi ta đau khổ, những phẩm chất tâm có khả năng dập tắt đau khổ đã biến mất. Điều kiện để Đạo sanh khởi là giới, định, tuệ. Khi những phẩm
chất này có đầy đủ sức mạnh, con đường Pháp sẽ không thể dừng lại, nó sẽ
không ngừng tiến lên để vượt qua dính
mắc, chấp
thủ đã mang đếncho chúng ta quá nhiều đau khổ. Đau khổ không thể sinh nữa vì Đạo đã diệt tận
mọi phiền
não. Thời điểm đó, sự diệt tận phiền não xảy
ra. Tại sao Đạo có thể diệt tận
phiền não? Bởi vì giới, định, tuệ đã đạt đến đỉnh cao hoàn hảo,
Đạo đã đạt
được đà quán tính không thể dừng lại. Tất cả đều hội tụ cả lại
ở đây. Với bất cứ ai thực hànhnhư thế, tôi có thể nói rằng những hiểu biết lý thuyết về tâm của họ chẳng có tý giá trị nào trong đó. Nếu tâm đãđược giải thoát khỏi
những điều đó, nó hoàn toàn độc lập và vững vàng.
Giờ đây dù đi bất cứ con đường nào,chúng ta không
phải thúc ép nó để khiến nó thẳng tiến nữa.
Hãy xem cái lá xoài
kia; trông nó thế nào nhỉ? Chỉ cần xem xét một
chiếc lá thôi chúng ta sẽ
biết. Dù có cả vạn chiếc lá, chúng ta sẽ
biết tất cả chúng trông như thế nào. Chỉ cần nhìn một cái thôi, tất cả những
cái khác cơ bản đều y như thế
cả. Thân cây cũng thế, chúng ta chỉ
cần xem một gốc cây xoài là biết tất cả các gốc khác rồi. Chỉ cần nhìn một cây
thôi; tất cả các cây khác cơ bản cũng chẳng khác. Ngay cả hàng trăm ngàn cây,
tôi chỉ cần biết rõ một cây là có thể biết tất cả. Đó là điều Đức Phật đã dạy.
Giới, định, tuệ tạo
thành con
đường thực hành Pháp của Đức Phật.
Nhưng con
đường không phải là tinh túy của Pháp. Con đường, bản thân nó không phải là mục đích,
không phải là mục tiêu cuối cùng của Đức Thế Tôn.
Nó là con
đường hướng vào trong
mình.  Nó cũng giống như bạn đi từ thủ đô Bangkok đến ngôi chùa của tôi,
Wat Pah Pong. Bạn không phải đi vì con đường. Cái bạn muốn là đến chùa, nhưng bạn cần con đường để đi. Con đường bạn đi không phải là ngôi chùa. Nó chỉ
là con
đường để đến được đây.
Nhưng để đến được đây, bạn phảiđi theo nó. Giới, định, tuệ cũng y như vậy. Chúng ta có
thể nói nó không phải là tinh túy cốt lõi của
Pháp, nhưng nó là con đường để
đến đó. Khi giới, định, tuệ được tu tập hoàn hảo, kết quả sẽ là sự bình an sâu lắng của tâm. Đó là mục đích.
Khi đã đạt
đến sự bình an này, ngay cả khi nghe một tiếng động,
tâm vẫn bất
động. Một khi đã đến sự bình an tối thượng này,
chẳng còn việc gì phải làm nữa. Đức Phật dạy chúng ta buông bỏ tất cả. Bất cứ cái gì xảy đến, chẳng
có gì đáng phải lo lắng cả.
Khi đó chúng
ta sẽ thực sự tự mình
biết, không còn nghi ngờnữa. Chúng ta không
còn đơn
giản tin vào những gì
người khác nói nữa.
Nguyên tắc cốt yếu của đạo Phật là không có bất cứ sự thể hiện,
không có hiện
tượng nào. Nó không đặt
trên sự
thể hiện các khả năng kỳ diệu của thần thông, những năng lực siêu nhiên hay
bất cứ điều gì thần bí hay
lạ lùng.Đức Phật không cho những thứ đó là quan trọng.
Những năng
lực có tồn tại và có thể tu tập chúng, nhưngphương
diện này của pháp rất dễ
bị lừa dối, vì vậy Đức Phật không
tán thành hay khuyến khích nó. Người duy nhất ngài ngợi khen là những người đã tự giải thoát mình khỏi đau khổ.
Để thực hiện điều đó cần phải thực hành,
và những công cụ để làm việc đó là bố thí, giới, định, tuệ. Chúng taphải thực hành nó, huấn luyện tâm mình theo đó. Chúng kết hợp với nhau để tạo thành con đường hướng vào trong mình, và trí tuệ là bước đầu tiên. Con đường này không thể tiến triển nếu tâm vẫn còn bị che phủ bởi phiền não,
song nếu chúng
ta dũng cảm và
mạnh mẽ, Đạo sẽ loại bỏ hết
những ô
nhiễm đó. Tuy nhiên,
nếu phiền
não dũng cảm và mạnh mẽ hơn, nó sẽ hủy diệt Đạo. Thực hành Pháp chỉ đơn giản xoay quanh cuộc
chiến đấu không ngừng giữa hai lực lượng này cho đến khi
đến được điểm cuối của con đường. Chúng đánh nhau liên miên bất
tận cho
đến tận phút cuối cùng.
Những nguy hiểm của sự dính mắc
Sử
dụng những công cụ thực hành thường gian khổ và nhiều thử thách khó khăn. Chúng ta chỉ nương tựa vào sự kham nhẫn và kiên trì, và chẳng có gì nữa. Chúng ta phải tự mình thực hành,
tự mình kinh
nghiệm, tự mìnhchứng ngộ. Các nhà học giả Phật học,
tuy vậy, thường rất mơ hồ. Chẳng hạn, khi ngồi thiền,
mới có một chút xíu tĩnh lặng là họ bắt đầu suy nghĩ, “Hây, đây chắc là sơ thiền rồi”. Đó là cách tâm họ làm việc. Và
khi những suy nghĩ đó sanh khởi,
sự tĩnh lặng biến mất. Ngay sau đó họ lại nghĩ, chắc chắn là mình đã đạt đến nhị thiền.
Đừng có nghĩ
ngợi và suy đoán về nó như thế. Không có cái biển báo
nào cho chúng
ta biết mình đang chứng nghiệmtầng
thiền nào đâu. Thực tế hoàn toàn khác.
Chẳng có cái biển nào như cái biển trên đường, nói cho bạn biết: “Đường này đến
chùa Wat Pah Pong”. Đó không phải là cách đọc được tâm mình. Tâm chẳng thông báo cái gì cả.
Mặc dù có nhiều nhà học giả Phật học danh tiếng viết và mô tả cặn kẽ sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền,
những gì họ viết chỉ là những thông tin bên ngoài. Khi tâm thực sự thể nhập vào những trạng thái tĩnh lặng sâu lắng đó, nó chẳng biết
tý gì về những điều được viết trong sách. Nó biết, nhưng cái nó biết chẳng
giống như trong sách. Nếu nhà học giả cố
bám chặt lý
thuyết của họ và lôi vào
trong thiền, vừa ngồi vừa ngẫm nghĩ “Hmmm…cái
này là cái gì nhỉ? Đã đến sơ thiền chưa
nhỉ?”. Ngay tại đó, sự tĩnh lặng tan tành mây khói, và họ chẳng kinh nghiệm được điều gì ích lợi cả. Vì sao thế? Bởi vì tâm tham, và
khi có tâm tham thì cái gì sẽ diễn ra? Ngay lập tức tâm
bị đẩy ra khỏi thiền. Vì vậy đối
với tất cả chúng ta, việc cần làm là từ bỏ tất cả mọi suy nghĩ và suy đoán.Buông bỏ chúng hoàn toàn.
Hãy tu
tập thân, khẩu, ý và hết
mình hoàn
toàn vào trong pháp hành. Quan sát sựhoạt động của tâm, nhưng đừng lôisách vở, kinh điển vào đó với bạn. Nếu không,
nó sẽ trở
thành một mớ lộn xộn khủng khiếp, bởi vì chẳng có cái gì
trong những cuốn sách ấy đúng với thực tế đang
diễn ra.
Những người nghiên cứu quá nhiều, những người đầy kiến thức lý thuyết thường không thành công trong việcthực
hành pháp. Họ mắc kẹt lại
ở mức độ thông tin. Sự thật là
không thể đo lường tâm chúng ta bằng
các tiêu
chuẩn bên ngoài. Nếu tâm
đang tĩnh lặng, hãy để yên cho
nó tĩnh lặng. Những tầng mức tĩnh lặng sâu lắng nhất thực sự có tồn tại. Cá nhân tôi chẳng biết nhiều về lý thuyết.
Khi xuất
gia đã được 3 năm mà trong
tâm tôi vẫn còn rất nhiều câu hỏi về định thực sự là gì. Tôi cố gắng suy nghĩ về nó và cố nghĩ ra khi ngồi thiền,
nhưng tâm tôi trở nên còn xáo động, bất an hơn
cả trước kia. Thực sự số lượng suy nghĩ đã
tăng lên rất nhiều. Khi không ngồi thiền, tâm tôi bình an hơn
rất nhiều. Các chàng trai ạ, nó quá khó, nó khiến mình giận điên lên! Nhưng mặc
dù gặp phải rất nhiều khó khăn, tôi không bao giờ từ bỏTôi
vẫn cứ tiếp
tục. Khi không cố gắng làm
gì đặc
biệt, thì tâm tôi lại thấy thoải mái. Nhưng mỗi khi tôi quyết tâm chú tâm vào định, nó lại vượt ra khỏi tầm kiểm soát.
“Cái gì đang diễn ra thế nhỉ?”, tôi tự hỏi mình, “Tại sao thế?”.
Về sau, tôi nhận ra rằng thiền cũng giống như việc thở.
Nếu chúng
ta quyết tâm bắt hơi thở phải nông, sâu hay vừa đúng, thì rất
khó làm. Nhưng khi chúng ta thong thả dạo
chơivà cũng chẳng biết khi nào mình thở vào haythở ra,
thì nó lại cực kỳ thoải mái. Vì vậy, tôi suy xét, “A ha, có thể đó chính là cách làm đúng”. Khi
một người điloanh quanh làm việc của họ một cách bình thường, không chú tâm vào hơi thở, thì hơi thở có
làm khổ họ được không? Không, họ chỉ cảm thấy thư
giãn thoải
mái. Nhưng khi tôi ngồi xuống và tự thề là sẽ làm cho tâm mình tĩnh
lặng, là dính mắc và chấp thủ nhảy
vào. Khi tôi cố ép hơi thở phải
nông hay sâu, tôi chỉ rước thêm mệt mỏi,bất an hơn cả trước đó. Vì sao? Bởi vì sức mạnh ý chí tôi sử dụng bị ô nhiễm bởi sự dính mắc và chấp thủ.
Tôi không biết cái gì đang diễn ra. Tất cả những khó khăn, bực bội, mệt mỏi đó đến bởi vì tôi đã mang tâm tham vào
trong thiền.
Sự bình an không lay động
Một
lần tôi ở một ngôi chùa rừng cách bìa làng
chừng nửa dặm. Một tối nọ, dân làng mở hội, ăn uống nhậu
nhẹt ầm ĩ trong khi tôi đang đi kinh hành trong
rừng. Lúc đó chắc phải hơn 11g đêm rồi, và tôi cảm thấy hơi là lạ trong mình. Tôi cảm thấy lạ như thế này từ lúc buổi trưa. Tâm
tôi rất tĩnh lặng. Hầu như không có
một suy
nghĩ nào. Tôicảm thấy rất
thư giãn và thoải mái. Tôi đi kinh hành cho đến khi cảm thấy mệt và vào ngồi thiền trong túp lều cỏ của tôi. Khi tôi vừa
ngồi xuống, còn chưa kịp bắt chân lên, thì thật kinh ngạc,
tâm tôi thể
nhập sâu vào một trạng thái vô cùng bình an.
Nó tự xảy đến. Khi tôi ngồi xuống, tâm thật sự vô cùng bình an. Vững vàng bất động như đá. Không phải là tôi không nghe
thấy tiếng ồn ào xa
xa của dân làng đang nhảy múa, ca hát – tôi vẫn có thể
nghe – nhưng tôi vẫn có thể hoàn toàn tách rời khỏi tiếng ồn ấy.
Rất kỳ lạ! Khi tôi
không chú ý đến tiếng ồn nữa, nó trở nên hoàn toàn yên
lặng – tôi không nghe thấy một tiếng gì cả. Nhưng nếu muốn, tôi vẫn có thể nghe được, mà chẳng bị nó quấy rầy.
Nó giống như có hai đề mục đang
đặt cạnh nhau trong tâm tôi, nhưng không chạm vào nhau. Tôi thấy rõ tâm và đối
tượng của chánh niệm hoàn toàntách biệt nhau, y như cái ống nhổ và ấm nước ở đây vậy. Khi
đó tôi hiểu ra rằng: khi đạt nhất tâm trong
định, nếu bạn hướng tâm ra bên ngoài, bạn có thể nghe, nhưng nếu bạn hướng vào
sự rỗng không của nó, nó sẽ hoàn toàn yên
lặng. Khi nghe âm thanh, tôi có thể thấy tâm hay biết và âm thanh hoàn toàn tách biệt nhau. Tôi nghĩ: “Nếu đây
không phải là cách nó vận hành, làm sao còn cách nào nữa?”. Đó chính là cách
của nó. Hai thứ đóhoàn toàn tách biệt. Tôi tiếp tục tìm hiểu nó như vậy cho đến khi hiểu biết của
tôi tiến sâu hơn nữa: “Điều này rất quan trọng. Khi sự liên tục của dòng tiếp nhận các đối tượng bị cắt đứt, kết quả là
sự bình an”. Ảo tưởng trước
đó về tính liên tục (santati) biến thành sự bình an của
tâm (santi). Tôi tiếp tục ngồi, tinh tấn hành thiền. Lúc đó tâm chỉ chú ý toàn bộ vào thiền, không quan tâm đến bất cứ gì khác. Nếu tôi dừng lại
vào thời điểm đó, thì chỉ vì một lý do duy nhất là thiền tập của tôi đã hoàn thành.
Tôi có thể nghỉ ngơi, nhưng đó hoàn toàn không
phải là vì lười biếng, mệt mỏi hay cảm giác khó chịu; tất cả những điều ấy đã vắng bóng trong tâm tôi. Chỉ có sự cân bằng và
tâm xả hoàn
hảo ở bên trong – vừa đủ,
vừa đúng mức.
Cuối
cùng tôi cũng nghỉ một lát,
nhưng đó chỉ là tư thế ngồi của cơ thể thay đổi. Tâm tôi vẫn miên mật, không
lay động, không mệt mỏi. Tôi kéo cái gối lại, định nằm nghỉ. Khi nằm
xuống, tâm tôi vẫn giữ nguyên sự tĩnh lặng như trước đó. Rồi khi đó, trước khi
đầu tôi chạm xuống gối, chánh niệm trong
tâm tôi quay
trở lại vào bên trong, tôi
không biết nó đi vào đâu,
nhưng nó cứ đi sâu dần sâu dần hơn nữa vào bên trong. Nó giống như dòng điện
chạy dọc theo dây dẫn đến một cái công tắc. Khi chạm công tắc, thân tôi nổ tung
với một tiếng nổ điếc tai. Cái tâm biết lúc đó vô cùng rõ ràng và vi tế. Khi đã đi qua điểm đó, tâm được giải phóng để thể nhập sâu
vào bên trong. Nó đi sâu vào đến một điểm mà chẳng có gì ở đó cả. Hoàn toàn không có một thứ gì ở thế giới bên ngoài đến được nơi đó. Không có
một thứ gì có thể chạm đến nó. Sau khi đã đi sâu vào bên trong một lúc, tâm rút
lui trở
lạira bên ngoài. Tuy nhiên, khi tôi nói tâm rút lui không có nghĩa là
tôi kéo nó trở ra. Tôi chỉ đơn giản là
một ngườiquan sát, chỉ hay biết và chứng kiến.
Tâm ra ngoài nhiều hơn đến khi trở lại bình thường.
Khi trạng thái tâm trở lại bình thường, một câu hỏi khởi lên: “Cái gì thế nhỉ?”. Câu trả lời đến ngay lập tức: “Những điều này tự đến theo chính nó.
Bạn không cần phải tìm
lời giải thích”. Câu trả lời đó
là đủ để làm tâm tôithỏa mãn.
Sau một lúc ngắn ngủi,
tâm tôi lại bắt đầu chảy vào trong. Tôi không cố gắng hướng
tâm mình đi đâu. Tự nó cất cánh. Khi đi sâu hơn nữa vào bên trong, nó lại đập
vào cái công tắc đó lần nữa. Lần này, toàn thân tôi
tan rã ra thành từng mảnh vụn và hạt nhỏ li ti. Tâm lại được giải phóng và
đi sâu vào bên trong chính nó. Hoàn toàn tĩnh
lặng. Nó còn tĩnh lặng sâu lắng hơn cả lần thứ nhất. Hoàn toàn không có một thứ gì có thể chạm đến
đó. Tâm ở lại đó một lúc, như nó muốn, rồi rút lui ra bên ngoài. Lúc đó nó đi theo quán tính của nó và tất cả tự diễn ra.
Tôi không tác động hay
định hướng cho tâm mình phải theo bất cứ cái gì, chảy vào trong hay rút lui ra
ngoài. Tôi chỉ là người biết và quan sát.
Tâm tôi lại trở lại trạng thái bình thường,
và tôi cũng không tự hỏi hay suy đoán về
những gì đang diễn ra. Tôi tiếp tục hành
thiền và tâm lại quay vào trong lần nữa. Lần thứ ba này, cả vũ trụ tan ra thành từng hạt vụn nhỏ. Trái
đất, núi non, ruộng đồng, rừng rậm, cả thế giới, tan rã vào trong hư không giới (ākāsa-dhātu). Con người biến mất. Tất cả mọi thứ đều biến mất.
Tất cả mọi thứ không có gì còn lại.
Sau khi đi sâu vào
trong, tâm an trú ở
đấy một lúc như nó muốn. Tôi không thể nói là tôi hiểu chính xác làm cách nào nó ở lại đó. Rất khó để diễn tả những gì diễn ra. Không có cái gì có
thể so
sánh được. Không có ví dụ
nàothích hợp. Lần này, tâm an trú trong đó lâu hơn lần trước nhiều, sau
một lúc nó mới trở ra trạng thái bình thường. Khi tôi nói, nó trở ra không có nghĩa là
tôi bắt nó trở ra hay tôi đang kiểm soát những
gì đang diễn ra. Tâm tự làm tất cả những việc ấy. Tôi chỉ đơn thuần là người quan sát. Cuối cùng nó cũng trở lại trạng thái tâm bình thường. Làm sao bạn có thể đặt tên cho
những gì diễn ra trong 3 lần đó? Ai biết? Bạn dùng thuật ngữ nào để dán nhãn cho nó?
Sức mạnh của tâm định

 

Tất cả mọi thứ tôi vừa
nói với các bạn là nói về cái tâm thuận theo tự nhiên. Đây không phải là sự diễn giải lý thuyết về tâm hay các tâm sở.
Việc đó là không cần thiết. Khi có đức tin, bạn sẽ đến đó và thực sự thực hànhnó.
Không phải là chạy quanh để chơi, mà bạn phải đặt cả cuộc đời mình vào con đường ấy. Và khi sự thực hành của bạn đạt đến giai đoạn như tôi vừa diễn tả,
thì sau đó cả thế giới sẽ hoàn toàn đảo ngược.
Sự hiểu
biếtcủa bạn về thực tại sẽ hoàn toàn khác. Cái nhìn của bạn đã chuyển hóa triệt để.
Nếu có ai đó nhìn thấy bạn lúc ấy, chắc họ sẽ nghĩ bạn bị điên. Nếu kinh nghiệm này xảy đến với một người không hiểu biết sâu sắc về chính mình, có lẽ họ sẽ
phát điên, bởi vì chẳng có gì giống như trước đó nữa cả. Mọi người trên thế giới này
trông dường như khác hẳn trước kia. Nhưng bạn là người duy nhất thấy được điều đó. Tất cả mọi thứ đã
thay đổihoàn toàn. Các suy nghĩ của bạn đã biến đổi. Mọi người nghĩ một hướng, bạn nghĩ theo hướng
khác. Họ nói về mọi thứ theo một cách, trong khi bạn nói theo cách khác. Họ
đang đi
xuống theo con đường này, trong khi bạn đang đi lên trên một con đường khác. Bạn không còn giống như những con người bình thường khác nữa.
Cách kinh nghiệm mọi thứ như thế này sẽ không bị suy
thoái mất. Nó còn lại và tiếp tục. Hãy thử đi. Nếu nó thực sự như tôi vừa mô tả,
bạn sẽ không phải đi tìm đâu xa nữa. Chỉ cần nhìn vào trong tâm mình thôi. Cái
tâm này vô
cùng dũng mãnh và kiên định.
Đó là nguồn sức mạnh và năng lượng của tâm. Tâm chúng ta có loại sức mạnhtiềm
tàng này. Đây là năng lượng và sức mạnh của tâm định.
Ở thời điểm này, nó
vẫn chỉ là sức mạnh và
sự thanh
tịnh mà tâm có được từ định.
Tầng mức định này là địnhtối hậu. Tâm đã đạt tới
đỉnh cao của định; nó không chỉ là mỗi sát na định[6].
Nếu bạn chuyển sang thiền Vipassāna ở thời điểm này, sự quán chiếu sẽ liên tục không gián đoạn và đầy tuệ giác.
Hoặc là bạn có thể sử dụng năng lượng tập
trung đó để dùng vào việc khác. Từ chỗ này trở đi, bạn có thể phát triển các
khả năng thần
thông, trình diễn các phép lạ hoặc sử dụng chúng
theo bất cứ cách nào bạn muốn.  Các ẩn sĩ và tu sĩ khổ hạnhthường sử dụng sức mạnh của định để làm nước thánh,
hay bùa chú… Những điều này có thể làm được khi đạt đến giai đoạn này, và có thể có một số lợi ích nhất định nào đó; nhưng nó cũng chỉ như ích lợi của rượu mà thôi. Bạn uống rượu và bạn
bị say rượu.
Mức định này là một
trạm nghỉ. Đức Phật nghỉ
ngơi ở đây. Nó tạo nền tảng cho việc quán chiếu và thực hànhthiền
Vipassāna. Tuy nhiên, không cần thiết phải đạt được những mức định thâm sâu như vậy để quan sátnhững
quan hệ nhân
duyên quanh ta, vì vậy hãy tiếp tục bền
bỉ quán
chiếu tiến trình nhân duyên.
Để làm điều đó,chúng ta tập trung sự tĩnh lặng và sáng suốt của tâm để phân tích mọi hình ảnh, âm thanh,
hương, vị, cảm giác, các suy nghĩ và cảm xúc đang kinh nghiệm. Xem xét và tìm hiểu các cảm xúc và trạng thái tâm của mình, xem nó là tích cực hay tiêu cực, hạnh phúc hay đau khổ. Tìm hiểu tất cả mọi thứ. Nó giống như một người
leo lên cây xoài và rung cây để làm rụng quả, trong khi chúng ta đứng ở dưới nhặt quả. Những quả thối, chúng ta không nhặt. Chỉ nhặt quả ngon. Chẳng
mệt tý nào, bởi vì chúng ta không
phải trèo cây. Chúng ta chỉ đơn giản đợi ở dưới mà nhặt.
Bạn có hiểu ý nghĩa của ví dụ ấy không? Tất cả mọi
thứ được kinh
nghiệm bởi một cái tâm
tĩnh lặng sẽ mang lạilợi ích lớn hơn. Chúng ta không còn tạo ra những suy đoán, suy nghĩ quanh những gì mình tiếp nhận, kinh nghiệm. Tài sản, danh vọng, chỉ trích, ca tụng, hạnh phúc và đau khổ tự
nó đến. Và chúng ta vẫn bình an. Chúng ta trí tuệ. Thực ra nó rất thú vị.
Chọn lọc và phân loại chúng trở thành công
việc thú
vị. Cái mọi người vẫn
gọi là tốt, xấu, đây, kia, hạnh phúc, đau khổ…tất cả chúng được chúng ta sử dụng để làm lợi cho mình. Có người đã trèo
lên cây xoài rung để quả rụng xuống cho chúng ta. Chúng ta chỉ đơn giản vui vẻ ở dưới nhặt mà chẳng phải sợ gì. Có
cái gì ở đó mà phải sợ cơ chứ? Người khác trèo và rung cây cho chúng ta đấy chứ. Tiền tài, danh vọng,
khen, chê, hạnh phúc và đau khổ chẳng khác gì những quả xoài rụng
xuống, chúng
ta xem xét, tìm hiểuchúng với một nội tâm tĩnh lặng. Khi đó chúng ta sẽ biết quả nào thối, quả nào ngon.
Thực hành thuận pháp
Khi chúng ta bắt đầu sử dụng sự tĩnh lặng và bình an đã phát triển trong quá trình thiền tập để quán chiếu những
đối tượng đó, thì trí tuệ sẽ sanh khởi.
Đó là cái tôi gọi là trí tuệ. Đó là thiền vipassāna. Nó không
phải là thứ có thểgiả mạo. Nếu chúng ta có trí, thiền vipassāna sẽ
phát triển một cách tự nhiên. Chúng ta không
phải đặt tên cho những gì đang diễn ra. Nếu chỉ có một chút tuệ giác rõ ràng, chúng ta gọi là “một ít thiềnvipassāna”.
Khi tuệ
giácrõ ràng lớn hơn một
chút, ta gọi là “vipassāna vừa phải”. Nếu hiểu biết hoàn toàn theo sự thật, chúng ta gọi
là “vipassāna tối hậu”. Cá nhân tôi
thích sử
dụng từ trí tuệ
(paññā) hơn là vipassāna. Nếu chúng ta nghĩ mình ngồi thiền lúc này, lúc kia để thực hành “thiềnvipassāna”, thì chúng ta sẽ gặp rất nhiều khó khăn với nó. Tuệ giác phải phát triển từ tĩnh lặng và bình an. Toàn bộ tiến trình sẽ tự diễn ra một cách tự nhiên theo chính nó. Chúng takhông
thể ép
buộc nó.
Đức
Phật dạy rằng tiến trình
này sẽ chín
muồi theo tốc độ riêng của
nó. Khi đã đạt đến trình độ này
trong pháp
hành, chúng ta để
cho nó được phát triển phù hợp với
những khả năng bên trong, với tầm mức tâm linh và
phước báu mà mình đã tích lũy trong quá khứ.
Song chúng
ta không bao giờ ngừng tinh tấn thực hành.
Sự tu
tậptiến triển nhanh hay
chậm nằm ngoài tầm kiểm soát của chúng ta.
Nó cũng giống như trồng một cái cây. Cái cây tự biết cần phải lớn với tốc độ nào. Nếu chúng ta muốn nó lớn nhanh hơn cũng không được.
Muốn nó lớn chậm hơn cũng không được, phải nhận thấy rằng
cái muốn đó là ảo tưởng. Khi chúng ta làm
công việc, kết quả sẽ đến theo – cũng giống như trồng một cái cây.  Chẳng
hạn, chúng
ta trồng cây ớt. Trách nhiệm của chúng ta là
đào một cái lỗ, gieo hạt, tưới nước, bón phân và bắt sâu. Đó là công việc của chúng ta,
chỉ có thể làm được đến thế. Lúc này là lúc cần đến lòng tin.
Cây ớt có lớn hay không là tùy thuộc vào
nó. Không phải việc của chúng ta.Chúng ta không thể kéo cổ nó lên cho nó lớn
nhanh. Đó là công việc của tự nhiên. Công việc của chúng ta là tưới nước và bón phân. Thực hành pháp như vậy sẽ khiến cho tâm ta thoải mái và thanh thản.
Nếu chúng ta đắc đạo trong kiếp sống này thì cũng tốt. Nếu chúng ta phải chờ cho đến kiếp sau thì cũng chẳng sao. Chúng ta đặt lòng tin không
lay chuyển vào pháp. Tiến bộ nhanh
hay chậm là tùy thuộc ở
các khả năng nội tại, tầm mức tâm linh và
phước báu mình đã tích lũy từ
trước tới nay. Thực hành như
thế sẽ khiến tâm mìnhthanh thản, bình an.
Giống như đi xe ngựa. Chúng ta không
đặt cái xe ở đằng trước con ngựa. Hay giống như cày ruộng mà để cái cày đi trước con trâu. Cái tôi đang nói ở đây là
cái tâm cứ muốn tự vượt chính mình. Nó luôn nóng lòng muốn
đạt kết quả nhanh. Đừng để cái cày đi trước con
trâu. Bạn phải để cày đi sau con trâu.
Nó cũng giống như cây
ớt chúng
ta đang trồng. Tưới nước
và bón phân cho nó, và nó sẽ làm công việc tiêu thụcác chất dinh dưỡng ấy. Khi sâu bọ đến phá hoại thì ta đuổi chúng đi. Chỉ cần làm như
vậy là đủ để cây ớt tự nó lớn tốt, và khi nó đã lớn, đừng có cố ép nó phải ra
hoa chỉ vì chúng ta nghĩ
bây giờ là lúc nó nên ra hoa. Đó không phải là việc của chúng ta.
Điều đó chỉ tạo nên những cái khổ vô ích mà
thôi. Hãy để nó tự ra hoa. Khi nó đã có hoa, đừng đòi hỏi nó phải cho ra quả ớt
ngay. Đừng dựa vào sự
cưỡng ép. Điều đó thực sự mang đến đau khổ. Khi đã hiểu ra vấn đề, chúng ta sẽ thấy cái gì là trách nhiệm của mình và cái gì không phải. Mỗi thứ
đều có nhiệm
vụ cụ thể để hoàn thành.
Tâm biết vị
trí và nhiệm vụ của nó trong công việc. Nếu tâm không hiểu nhiệm vụ của
nó, nó sẽ cố ép cây ớt phải ra quả vào đúng cái ngày chúng ta trồng nó. Tâm cứ nằng nặc muốn nó phải
lớn, phải ra hoa và đậu quả tất cả trong một ngày.
Điều đó chẳng là gì
khác ngoài sự thật thứ
hai về khổ: tham là nhân sanh khổ. Nếu chúng ta ý thức về sự thậtnày
và suy
xét đến nó, chúng ta sẽ hiểu rằng cố gắng cưỡng ép kết quả trong khi thực hành pháp thì chỉ là tâm si. Sai lầm.
Hiểu cách hoạt động của
nó, chúng
ta buông bỏ và
để cho mọi thứ chín muồi thuận theo những
khả năng nội tại, tầm mức tâm linh và
phước báu ta đã tích lũy. Chúng ta tiếp tục làm
phần việc của chúng ta. Đừng lo rằng việc đó cần một thời gian dài. Kể cả phải cần đến hàng trăm hay
hàng ngàn kiếp sống để đắc đạo, thế thì đã sao? Dù phải cần đến bao nhiêu
kiếp sống chăng nữa, chúng ta vẫn tiếp tục thực hành với một cái tâm thanh thản,
nhẹ nhàng và thoải mái với
tốc độ của mình. Một khi tâm đã nhập dòng (đắc Thánh quả đầu tiên), thì chẳng còn gì phải lo sợ
nữa. Nó sẽ vượt lên trên ngay cả những nghiệp bất thiện nhỏ
nhất. Đức
Phật nói tâm của một vị
Thánh Tu
Đà Hoàn, người đã đạt đến tầng giác ngộ đầu tiên, đã nhập vào dòng chảy của
Pháp đến giác
ngộhoàn toàn. Những vị ấy sẽ không còn phải rơi vào những khổ cảnh thấp kém,
không bao giờ rơi vào địa ngụcnữa. Làm sao có thể rơi vào địa ngục khi tâm họ đã từ bỏ những điều bất thiện? Họ đã thấy sự
nguy hiểm khi tạonghiệp bất thiện. Ngay cả khi
bạn cố ép họ làm hay nói những
điều bất
thiện, họ cũng không thể làm được, vì vậykhông có cơ hội để họ rơi vào địa ngục hay những cảnh giới thấp kém.
Tậm họ đã hòa vào dòng chảy của Pháp.
Khi đã ở trong dòng
chảy đó, bạn sẽ biết đâu là trách nhiệm của
mình. Bạn hiểu rõ được
công việc trước mắt. Bạn đã hiểu cách thực hành pháp.
Bạn biết khi nào cần phải cố gắng hết
mình, khi nào cần thư giãn. Bạn hiểu rõthân tâm mình,
các tiến trình thân-tâm, bạn từ bỏ những
gì cần từ
bỏ, liên tục từ bỏ không
còn chút nghi
ngờ nào nữa.
Thay đổi cách nhìn

Trong cuộc đời tu tập,
tôi chưa
bao giờ cố để thành thạo
nhiều đề
mục thiền khác nhau. Chỉ
có một mà thôi. Tôi thanh lọc tâm mình. Khi chúng ta nhìn
vào một cái thân nào đó. Nếu chúng ta thấy
mình bị cuốn hút bởi một thân hình, hãy phân tích nó xem. Hãy nhìn thật kỹ:
tóc, lông, móng, răng, da… Đức Phật dạy chúng ta quán chiếu thật kỹ, thật nhiều lần những bộ phận
ấy. Tưởng tượng chúng một cách riêng rẽ, tách chúng ra, bóc lớp da ra và thiêu
cháy chúng. Đó là cách phải thực hành. Gắn chặt vào cách thực hành đó cho đến khi
nó vững
vàng và ổn định.
Nhìn tất cả mọi người đều
như vậy. Chẳng hạn khi các vị sư đi khất thực trong
làng, bất cứ ai họ thấy – dù là một vị sư khác hay dân làng – hãy nhìn họ như
những xác
chết, những cái xác đang ngất ngưởng bước đi trước mặt. Duy trì chú tâm vào
sự tưởng tượng này. Đó là cách chúng ta tinh tấn. Nó sẽ dẫn đến sự phát triển và chín muồi.
Khi nhìn thấy một cô gái trẻ mà bạn thấy hấp dẫn, hãy tưởng tượng đó là một cái xác chết biết đi,thân
thể đang thối rữa, mưng
mủ. Hãy nhìn tất cả mọi người như
vậy. Và đừng để họ đến quá gần mình! Đừng để si mêcòn vương vấn trong tâm bạn.
Nếu bạn nhìn mọi người như
những xác
chết đang thối rữa, tôi đảm bảolà si mê chẳng còn trong tâm bạn nữa. Quán chiếu cho đến khi bạn chắc chắn về những gì mình thấy, cho đếnkhi
nó rõ
ràng, đến khi bạn đã thuần thục. Khi đó bất cứ con đường nào bạn bước vào, bạn cũng sẽ không
còn bị lạc nữa. Hãy thực hành với
tất cả trái tim. Bất cứ khi nào bạn nhìn một ai đó, không khác gì nhìn một cái
xác. Dù là đàn ông hay đàn bà, nhìn người đó như một xác chết.
Và đừng quên nhìn chính mình như một xác chết nữa.Cuối cùng tất
cả những gì còn lại chỉ là như thế. Cố gắng tập
cách nhìn này một cách kỹ lưỡng. Tập cho đến khi
nó trở
thành một phần của tâm
bạn. Tôi hứa là các bạn sẽ cảm thấy rất thú vị khi thực sự thực hành như thế. Nhưng nếu bạn chỉ bận rộn đọc
những điều đó ở trong sách thì sẽ khó lắm đấy. Bạn phải thực sự thực hành.
Vàthực hành với
lòng chân
thành hết mực. Thực hành cho đến khi phương pháp thiền
đó trở
thành một phần của bạn.
Hãy lấy mục
đích giác ngộ sự thật làm mục đích cho mình. Nếu động cơ của bạn là tu để
thoát khổ, thì khi đó bạn mới ở trên con đường chánh.
Ngày nay có rất nhiều
người dạy thiềnvipassāna và rất nhiều kỹ thuật thiền khác nhau. Tuy nhiên,
theo ý
kiến của tôi, thực hành thiềnvipassāna không dễ tý
nào. Chúng
ta không thể nhảy vào thực hành nó ngay lập tức. Bạn sẽ không thể thực hành được nếu không có
một tiêu
chuẩn đạo đức cao.
Hãy tự mình tìm hiểu điều
đó. Kỷ luật vàgiới hạnh là điều cần thiết,
bởi vì nếu lời nói, suy nghĩ và
hành động của bạn không trọn vẹn thì
sẽ không bao giờ có thể tự đứng trên đôi chân của mình được. Thực hành thiền mà không có giới hạnh đi kèm thì cũng giống như cố bỏ qua
một phần cốt yếu của đường đạo. Bạn cũng thỉnh thoảng nghe
người này người kia nói: “Bạn khôngcần phải phát triển định tâm.
Hãy bỏ qua và đi thẳng vào
thiềnvipassāna”. Những con người nóng
vội, bất cẩn vốn thích đi tắt đón đường thường hay nói
như vậy. Họ nói bạn không cần phải bận
tâm đến giới. Giữ giới và
thanh lọc giới hạnh của
mình là một thử thách, không phải chuyện chơi.  Nếu có thể bỏ qua tất cả những lời dạy về giữ giới,
chắc hẳn sẽ dễ hơn với chúng ta đúng
không? Mỗi khi gặp khó khăn, chúng ta chỉ
tránh né bằng cách bỏ qua nó. Tất nhiên, chúng ta ai
cũng thích bỏ qua những miếng khó nhằn như thế.
Một
lần có một vị sư đến nói với tôi rằng anh
ta là một thiền sinh đích
thực. Anh ta xin phép ở lại đây với tôi và hỏi tôi về chương trình sinh hoạt,
phép tắc trong chùa. Tôi giải thích với
anh ta rằng trong ngôi chùa này chúng tôisống theo giới luật của chư tăng,
và nếu muốn ở lại phải xả bỏ mọi tiền bạc và vật dụng cá nhân tự
sắm. Anh ta nói với tôi rằng cách thực hành của
anh ấy là “không dính mắc với mọi quy ước chế
định”. Tôi bảo tôi không hiểu anh ta muốn nói gì. Anh ta đề nghị “thế nếu tôi ở
đây, vẫn giữ tiền của mình
nhưng không dính mắc với nó thì sao. Tiền cũng chỉ là quy ước thôi mà”. Tôi nói, được, không vấn đề gì. “Nếu bạn có thể ăn muối mà không cảm thấy mặn, khi đó bạn có thể sử dụng tiền mà không bị dính mắc vào nó”. Anh
ta nói rất vô lý. Thực ra, anh ta lười không muốn giữ mọi giới luật chi tiết.
Tôi nói với các bạn, nó rất khó. “Khi bạn ăn muối và thành thực nói rằng nó không mặn, được rồi, tôi
tin lời bạn. Nếu bạn nói không mặn, vậy tôi đưa bạn cả bao muối. Hãy ăn thử xem. Có thực nó không mặn không? Không
dính mắc với quy ước chế
định là cách
ăn nói ma lanh, trơn tuột.
Nếu bạn nói với tôi như thế thì bạn không ở lại đây được”. Vậy là anh ta bỏ đi.
Chúng
ta phải cố gắng và duy trì việc thực hành giới.
Tu sỹ nên huấn luyện bằng cách thử thọ các hạnh đầu đà,khổ hạnh,
trong khi cư sỹ tại gia nên
giữ năm
giới. Cố gắng đạt được sự hoàn hảo trong tất cả mọi lời nói và hành động của mình. Chúng ta cần tu tập các thiện pháp với hết khả năng của mình, và tiếp tục đều đặn làm điều đó.
Khi bắt đầu tu tập thiền chỉ, đừng phạm sai lầm là chỉ cố gắng một, hai lần rồi bỏ chỉ vì tâm mình
không an. Đó không phải là cách tu đúng. Bạn phải tu tập cả một thời gian dài. Tại sao phải cần thời gian dài như thế? Hãy nghĩ mà xem. Bạn đã để tâm mình bay nhảy trong bao nhiêu năm rồi?
Và bạn đã hành thiền được bao nhiêu năm rồi? Mỗi khi tâm ra lệnh cho mình đi,
là chúng
ta vội vàng lao
theo nó. Để bình ổn lại cái tâm phóng chạy lung tung đó,
để nó phải dừng lại, tĩnh lặng trở lại, chỉ có vài tháng hành thiền thì không đủ. Hãy suy xét đến điều đó.
Khi bắt đầu tu tập để tâm trở nên bình an trong mọi hoàn cảnh,
xin hãy hiểu rằng lúc ban đầu, khi các cảm xúcphiền não sanh
lên, tâm sẽ không thể bình an. Nó sẽ bị phân tán và mất kiểm soát.
Vì sao? Bởi vì ái dục (tìm kiếm sự thỏa mãn và kích thích giác quan). Chúng ta không
muốn tâm mình nghĩ. Chúng ta không
muốn có bất cứ một cảm xúc hay trạng thái tâm nào khiến mình bị phân tán. Không
muốn là ái
dục, khao khát sự không hiện hữu (phi hữu ái). Chúng ta càng không muốn có thứ gì đó thì thực ra là lại càng mời gọi và dẫn nó đến.
“Tôi không muốn những thứ đó, sao nó cứ đến với tôi? Tôi muốn nó không như vậy,
mà sao nó cứ như vậy hoài?”. Đó, chúng ta cứ
thế. Chúng
ta khao khát mọi thứ phải tồn tại theo một cách nhất định,
bởi vì chúng
ta không hiểu tâm mình.
Phải cần một thời gian dài,
dài đến mức không tin nổi để nhận ra rằng
chơi với những thứ đó là sai lầm. Cuối cùng, khi nhìn nó một cách rõ ràng, chúng ta thấy “À, thì ra những thứ đó đến bởi vì
mình gọi chúng đến”.
Mong muốn không phải
có một cái gì đó, tham muốn được
bình yên, tham muốn không
bị phóng tâm và xáo động – tất cả chỉ là tham muốn. Tất cả chỉ là một cây sắt nóng đỏ. Nhưng
không cần
phải lo. Chỉ cần tiếp tụcthực
hành. Mỗi khi có một cảm xúc hay trạng thái tâm nào đó, hãy xem xét nó trên những tính chất vô thường,
khổ, vô
ngã và ném nó vào một
trong ba danh
mục ấy. Rồi suy xét và tìm hiểu: những cảm xúc phiền não ấy
hầu như luôn luôn đi cùng với những dòng suy nghĩ quá mức. Bất cứ chỗ nào một trạng thái tâm dẫn đến, chỗ ấy cósuy nghĩ kéo
đàn kéo lũ đằng sau. Suy nghĩ và trí tuệ là hai cái rất khác nhau. Suy nghĩ chỉ phản ứng và
theo đuôi các trạng thái tâm
và chúng kéo dài vô tận. Song nếu trí tuệ hoạt động, nó sẽ mang đến sự
tĩnh lặng cho tâm. Tâm sẽ dừng lại và chẳng đi đâu nữa cả. Ở đó đơn giản chỉ có sự hay biết và ghi nhận những gì đang diễn ra: khi cảm xúc đến thì nó như thế này, khi cảm xúc đi thì nó như thế này. Chúng ta duy trì “cái biết” đó.  Cuối cùng,
điều sẽ xảy đến là: “Ô này, tất cả những suy nghĩ này,
những mấu đối thoại vô mục đích này,
những lo
lắng và những đánh giá,
phán xét này – tất cả chúng thật là vô nghĩa. Tất cả chúng đều vô thường,
bất toại
nguyện và không phải là
tôi, không phải của tôi”. Vứt nó vào một trong ba danh mục tổng quát ấy, và dập tắt sự nổi dậy của chúng. Bạn cắt đứt tất
cả mọi nguồn sống của chúng. Sau đó, khi chúng ta ngồi thiền, chúng lại đến nữa. Hãy nhìn nó thật kỹ.
Hãy điều
tra nó, dò xét nó.
Nó giống như khi bạn chăn trâu.
Có ruộng lúa, có trâu và có người chăn trâu. Bây giờ trâu muốn ăn lúa. Trâu thường thích
ăn lúa đúng không? Tâm bạn là con trâu. Các cảm xúc phiền não là
lúa. Chánh
niệm (cái biết) là người chăn trâu. Thực hành pháp giống như vậy. Không khác tý nào. Bạn
hãy tự so
sánh mà xem. Khi chăn trâubạn
làm gì? Bạn thả nó, cho nó đi lại tự do, nhưng luôn để mắt canh chừng nó. Nếu nó đến gần ruộng lúa, bạn quát nó. Khi con trâu
nghe tiếng, nó liền quay đi. Nhưng bạn đừng lơ đãng, đừng lơ là với con trâu. Nếu bạn có con trâu cứng đầu,
quát không chịu nghe lời, bạn phải cầm cây roi và vụt cho nó một cái
vào mông. Khi nó nó sẽ không dám bén mảng đến ruộng lúa nữa. Nhưng đừng có thả
rông trâu mà đi ngủ trưa. Nếu bạn nằm xuống và ngủ quên, thì cái
ruộng lúa ấy chỉ còn là lịch sử. Thực hành pháp cũng y như vậy: bạn canh chừng tâm mình; cái biết
sẽ chăn cái tâm.
“Người biết canh tâm
mình sẽ thoát
khỏi lưới Ma Vương”. Tuy nhiên,
cái biết ấy cũng chính là tâm, thế thì ai đangquan sát tâm? Những ý tưởng như vậy có thể khiến bạn cực kỳ rối
trí. Tâm là một thứ; cái biết là thứ khác; nhưng cái biết ấy lại xuất phát từ chính cùng một cái tâm. Vậy thế nào
là biết tâm mình? Đối diện với
các cảm
xúc và trạng thái tâm là thế nào? Khi không có cảm xúc phiền não thì như thế nào? Cái hiểu tất cả những
điều đó, chính là “cái biết”. Cái biết quan sát tâm,
và từ cái biết này, trí tuệ sẽ
khởi sanh. Tâm là cái suy nghĩ và
bịmắc kẹt trong
các cảm
xúc, cái này theo sau cái
khác – giống y như con
trâu của chúng
ta. Bất cứ hướng nào nó lang thang tới, hãy luôn để mắt đến nó. Làm thế
nào mà nó lang thang đi mất? Nếu nó bén mảng đến ruộng lúa, hãy quát nó. Nếu nó
không nghe
lời, nhặt cây roi và quất nó một cái. Đó chính là cách bạn vô hiệu hóa ái dục.
Huấn luyện tâm mình
cũng không khác. Khi tâm có một cảm xúc và ngay lập tức bám víu vào cảm xúc ấy,
công việc của “cái biết” là dạy nó. Hãy kiểm tra, xem xét trạng thái tâm
ấy xem nó là tốt hay xấu. Giải thích cho
tâm biếtnhân quả đang hoạt động như
thế nào. Và khi tâm lại túm lấy một cái gì đó mà nó nghĩ là hay, “cái biết” lại
phải dạy nữa, lại giải thích thế
nào là nhân
quả, cho đến khi
tâm buông
bỏ cái nó đang dính mắc.
Điều này sẽ đem đến sự bình an cho
tâm. Sau khi đã thấy ra bất cứ cái gì nó bám víu và
dính mắc đều là không đáng mong cầu, tâm sẽ tự động dừng lại. Nó không thể bị
những thứ đó quấy rối nữa,
bởi vì liên
tục bị la mắng và khiển trách. Hãy quyết tâm chặn đứng ái dục trong tâm mình. Hãy truy tìm và đối diện với nó đến tận căn nguyên gốc rễ, cho đến khi giáo pháp thẩm thấu vào
trong tim. Đó là cách bạn huấn luyện tâm mình.
Kể từ khi bước chân
vào rừng sâu tu tập, tôi toàn thực hành
như vậy. Khi dạy học trò, tôi cũng dạy họ thực hànhnhư vậy. Bởi vì tôi muốn họ thấy sự thật,
chứ không phải chỉ đọc những gì ghi trong kinh điển; tôi muốn họ thấy rõ xem tâm mình đã được giải
thoát khỏi suy nghĩ hay chưa. Khi được giải
thoát, bạn sẽ biết; nếu chưa giải thoát, thì hãy quán chiếu tiến
trình nhân
quả, nhân này dẫn đến quả kia như thế nào. Quán chiếu cho đến khi bạn biết và hiểu nó thật kỹ càng.
Khi đã được xuyên thấu bởi tuệ giác,
nó sẽ tự rơi rụng đi. Khi cái gì đến với bạn vàmắc kẹt lại, hãy tìm hiểu nó. Đừng từ bỏ cho đến khi nó thả cái gọng kìm đang kìm kẹp
mình ra. Hãy liên tục tìm hiểu ở
ngay tại chỗ này. Đối với tôi, đây chính là cách tôi đến với giáo pháp,
bởi vì Đức
Phật dạy chúng ta phải tự mình hiểu. Tất cả các bậc
thánh đều tự mình hiểu chân lý.  Bạn phải phát hiện nó ở trong chiều sâu
của chính
tâm bạn. Hãy tự biết
mình.
Nếu bạn tự tin về
những gì mình hiểu và tin tưởng bản thân mình,
bạn sẽ cảm
thấy rất bình thản khi có
ai đó chỉ
trích hay tán dương bạn. Người ta nói bất cứ điều gì, bạn
cũng sẽ thấy bình thản, thoải mái. Tại sao? Bởi vì bạn tự biết mình.
Nếu ai đó tâng bốc bạn lên mây xanh, trong khi thực sự bạn không như thế, thì
bạn có tin lời họ không? Tất nhiên không rồi.
Bạn chỉ đơn
giản tiếp tục thực hành pháp. Những người không tự tin vào những gì
mình biết, khi họ được ca tụng, họ vội vàng tin
vào điều đó và dựng nên ảo tưởng về
chính mình. Cũng vậy, khi có ai đó chỉ trích bạn,
hãy tự nhìn lại và kiểm tra lại
chính mình. “Không, những gì họ nói không đúng. Họ nói tôi sai, tôi xấu, nhưng
thực sự tôi không phải như vậy. Lời chỉ trích của
họ không có giá trị gì
hết”. Trong trường hợpnhư thế, tức giận với họ có ý nghĩa gì? Lời nói của
họ không đúng. Nếu chúng ta thật
sự có lỗi như họ nói, thì lờichỉ trích của họ là đúng. Trong trường hợp ấy, tại sao lại tức giận với họ? Khi
bạn có thể nghĩ được như thế, cuộc sống sẽ thực sự không còn rắc rối và sẽ rất thoải mái, thanh thản.
Chẳng có gì sai cả. Khi đó, tất cả mọi thứ đều là Pháp. Đó là cách tôi thực hành.
Con đường giữa (trung đạo)

 

Đó là con đường ngắn nhất và thẳng nhất. Bạn đến và tranh luận với tôi về Phật Pháp,
nhưng tôi sẽ không tham gia đâu.
Thay vì tranh
luận lại, tôi chỉ nói lên
một số suy
nghĩ để bạn xem xét.
Hãy hiểu lời Đức Phật dạy: buông bỏ tất cả. Buông bỏ với chánh niệm và
cái biết. Không có chánh niệm và
cái biết, buông bỏ như
thế cũng chẳng khác gì với sự buông bỏ của
trâu bò. Không để tâm mình
vào đó thì sự buông bỏ ấy
là không đúng. Bạn buông bỏ bởi
vì bạn đã hiểu được cái thực tại chế
định, cái quy ước do con người đặt ra. Đó mới là không dính mắc.Đức Phật dạy,
trong giai đoạn đầu thực hành pháp, bạn phải cố gắng rất nhiều, phát triển mọi phẩm chất
tâm một cách kỹ lưỡng và phải gắn bó thật
nhiều. Gắn
bó với Phật. Gắn bó với Pháp. Gắn bó với Tăng. Gắn bó một cách sâu sắc và vững chắc.
Đó là những gì Đức Phật dạy. Gắn bó một cách chân thành,
chặt chẽ, kiên trì và
nhẫn nại.
Trong quá trình đi tìm kiếm chân lý,
tôi đã thử hầu hết mọi cách thức quán chiếu. Tôi hy sinh cuộc đời mình
vì Pháp, bởi vì tôi có lòng tin vào
sự giác
ngộ và vào con đường đi đến đó. Những điều này thực sự tồn tại,
nhưĐức Phật đã
từng nói, chúng có thật. Nhưng để chứng nghiệm được
điều đó cần
phải có sự thực hành, thực hành đúng. Bạn phải cố gắng hết khả năng của mình. Phải có nghị lực và dũng cảm để tu tập,
để suy
xét và đểchuyển hóa triệt để. Phải có đủ dũng cảm để
thực sự làm những việc cần làm. Và bạn làm như thế nào? Huấn luyện tâm mình.
Các suy
nghĩ trong đầu bảo rằng chúng ta phải đi theo hướng
này, nhưng Đức Phật bảo chúng ta phải đi hướng khác. Tại sao cần phải huấn luyện tâm? Bởi vì tâm mình vốn bị
chìm ngập và che phủ bởi phiền não. Một cái tâm chưa được chuyển hóa nhờ tu tập là
như thế. Nó không đáng tin cậy
tý nào, vì
vậy đừng có tin nó. Nó
chưa phải là trong sáng và thánh thiện.
Làm sao chúng
ta có thể tin một cái tâm không thanh tịnh và thiếu sáng suốt? Vì vậy, Đức Phật dạy chúng ta chớ
có đặt lòng
tin ở một cái tâm phiền não và ô nhiễm. Lúc ban đầu,
tâm chỉ là tay sai của phiền não, nhưng nếu chúng đi cùng với nhau một thời gian dài,
tâm sẽ tựchuyển hóa để trở thành chính phiền não
.
Chính vì thế Đức Phật dạy chúng ta chớ có tin cái tâm mình.
Nếu nhìn kỹ vào giới luật xuất gia, chúng ta sẽ thấy rằng tất cả là để huấn luyện
tâm mình. Và bất cứ khi nào huấn luyện tâm, chúng ta đều cảm thấy bức bối và khó chịu. Khi vừa cảm thấy bức xúc, khó chịu, chúng ta đã bắt đầukêu
ca: “Này ông bạn, thực hành thế
này khó quá! Không làm nổi”. Nhưng Đức Phật không
nghĩ như thế. Ngài cho rằng khi sự tu tập làm chúng ta cảm thấy bức bối và khó chịu, điều đó có nghĩa
là chúng
ta đang thực hànhđúng.
Nhưng chúng
ta thường không chịu nghĩ
như thế. Chúng
ta nghĩ rằng đó là dấu
hiệu cho thấy có cái gì đó sai. Cái hiểu sai lầm này
là cái làm cho sự thực hành của chúng ta trở thành khó khăn đến vậy. Lúc đầu, chúng ta cảm thấy bức bối, khó chịu, vì vậy chúng ta nghĩ mình thực hành sai. Tất cả mọi người đều muốn cảm thấydễ
chịu, nhưng họ lại ít quan tâm đến
việc nó đúng hay sai.
 Khi chúng ta đi
ngược lại ý muốn của phiền nãovà
thách thức ái dục, thì tất nhiên chúng ta phải cảm thấy khổ
sở. Chúng
ta cảm thấy bức
bối, khó chịu, bực mình và
rồi bỏ cuộc. Chúng ta nghĩ
mình đã đi sai đường. Tuy nhiên, Đức Phật nói
mình đang đi đúng. Chúng tađang đối mặt với phiền não của mình, và nó chính là cái đang cảm thấy bức xúc và khó chịu. Nhưng chúng ta thì lại cứ nghĩ mình bức xúc, mình khó
chịu. Đức
Phật dạy đó chính là phiền não đang bị quậy tung lên và khó chịu. Nó y như vậy đối với tất cả mọi người.
Đó là lý do việc thực hành pháp đòi
hỏi rất cao. Mọi người thường
không chịu xem xét mọi việc một
cách rõ
ràng. Thông thường, họ hay đi chệch sang một trong hai hướng là đắm chìm dục lạc hoặc tự hành xác
mình. Họ mắc
kẹt trong hai cực đoan này. Một mặt họ muốn chiều theo mọi
đòi hỏi hưởng thụ của tâm mình. Thích cái gì là làm cái ấy. Họ thích ngồi tiện nghi và thoải mái. Họ thích nằm ườn và duỗi dài một cách lười
biếng. Bất cứ cái gì họ làm, họ cũng đều tìm cách làm
sao cho được thoải mái. Đó là sự đắm chìm trong hưởng thụ dục lạc: bám víuvào cảm giác dễ chịu.
Đắm chìm như vậy thì làm
sao tiến
bộ được trong pháp hành?
 Khi không chìm đắm trong sự hưởng thụ dục lạc và cảm giác dễ chịu, chúng ta cảm thấy bứt rứt không
yên.Chúng ta thất vọng, tức giận và phát khổ phát sở vì điều đó. Đó
là rơi khỏi con đường giữa
để sang cực
đoan tự hành xác
mình. Đó không phải là con đường của
các bậc thánh an tịnh, không phải con đường của
những ngườibình an. Đức Phật cảnh báo chúng ta đừng để rơi vào một trong hai cực đoan đắm chìm hưởng thụ và tự hànhxác
như vậy. Khi có cảm giác dễ chịu, hãy hay biết nó với chánh niệm.
Khi có tâm sân, ác ý, bất an, hãy hiểu rằng bạn không còn đi theo con đường của Đức Phật nữa.
Đó không phải là con đường của
người đi
tìm chân lý, nó là con đường của
người đời. Một nhà sư bình an không đi xuống con đường ấy. Họ đi thẳng con đườnggiữa,
giữa một bên là hưởng thụ dục lạc và
một bên là tự hành xác.
Đó là sự thực
hành đúng.
Nếu bạn muốn tu tập trong cuộc đời xuất gia,
bạn phải đi
theo con đường trung đạo, không để hạnh phúc hayđau khổ làm động tâm mình. Hãy đặt chúng
xuống. Nhưng nó cảm giác như
là chúng đang đá bạn lộn qua lộn lại.  Đầu tiên nó đá ta từ bên này, “Ái
chà!”, rồi nó lại đã tiếp từ bên kia, “Ối giời!”. Chúng ta thấy mình như cái mõ gỗ, bị đánh chao
qua chao lại từ bên này qua bên kia. Trung đạo là buông bỏ cả hạnh phúc lẫn đau khổ,
và cáchthực hành đúng là thực hành theo con đường giữa.
Khi sự khao khát hạnh phúc đập
ta và chúng
ta không làm nó thỏa mãn, chúng ta sẽ cảm thấy đau đớn.
Đi
theo con
đường trung đạo của Đức Phật rất gian khổ và đầy thử thách.
Chỉ có hai cực đoan tốt
và xấu đó mà thôi. Nếu ta tin vào những gì chúng nói, chúng ta sẽ phải làm theo mệnh lệnh của chúng.
Nếu ta tức giận một ai đó, ngay lập tức chúng ta đi
tìm một cây gậy để đập người ta. Không chút nhẫn nại. Khi yêu một ai đó, chúng tamuốn
chăm sóc cô ấy/anh ấy từ đầu đến chân. Tôi nói có đúng không? Hai thái cực ấy hoàn toàn trượt
quatrung đạo. Đó không phải là điều Đức Phật dạy. Lời dạy của ngài là dần dần buông bỏ những thứ đó xuống. Cáchthực hành của
Ngài là con
đường thoát ra khỏi luân hồi,
không còn tái sanh nữa
– một con
đường vượt ra khỏi sự trở thành, sanh hữu,
vượt ra ngoài hạnh phúc và đau khổ,
tốt và xấu.
Những người khao khát sinh tồn thường mù quáng,
không thể nhìn thấy trung đạo. Họ rơi khỏi trung đạo về phía hưởng thụ và rồi lại trượt qua trung đạo sang phía bất an và bất toại nguyện.
Họ lien tục bỏ qua điểm giữa. Nơi chốn thiêng liêng ấy
vô hìnhđối với họ khi họ cứ lộn qua lộn lại như vậy. Họ không trụ lạiở nơi
không có sanh
hữuvà tái sanh. Họ không thích nó, vì vậy họ không ở lại. Hoặc là họđi xuống
khỏi nhàđể bị chó cắn hay bay lên cao để bị kên kên mổđầu. Đó là sinh hữu.
Con
người mù
quáng không thấyđược cái
vượt ra khỏi sự sinh tồn, không còn tái sinh. Tâm con người bị
che mờ, vì
vậy thường xuyên bỏ
qua nó. Con
đường trung đạo mà Đức
Phật đã đi, con đường thực hành pháp chân
chánh, vượt lên trên cả tái sinh và sinh hữu.
Cái tâm đã vượt ra ngoài cả thiện và bất thiện ấy là cái tâm đã giải thoát.
Đó là con
đường của các bậc thánh nhân an tịnh. Nếu không đi con đường đó, chúng ta không bao giờ trở thành những bậc thánh như thế. Sự bình an thanh tịnh đó sẽ chẳng bao giờ có cơ
hội trổ quả. Bởi vì sao? Bởi vì tái sinh và sinh hữu. Bởi vì sinh và tử. Con đường củaĐức Phật không có sinh tử.
Không có thấp và cao. Không có hạnh phúc và đau
khổ. Không có tốt, cũng chẳng có xấu. Đó là con đường trực
tiếp, con
đường thẳng. Con đường bình an và tĩnh lặng. Nó bình an,
không còn đau khổ hay hạnh phúc, buồn đau hay sung sướng.
Đó là cách chúng ta thực hành pháp.
Khi chứng nghiệm điều này, tâm ta sẽ dừng lại. Nó sẽ dừng lại không còn đặt câu
hỏi nữa. Không còn cần tìm kiếm câu trả lời.
Ngay đó rồi! Chính vì vậy Đức Phật nói
rằng Pháp là chỉ những người có trí mới tự mình giác hiểu. Không cần phải hỏi ai hết. Chúng ta tự mình hiểu rõ không chút hồ nghi rằng mọi thứ đều chính xác như Đức Phậtđã nói.
Cống hiến hết mình cho pháp hành

 

Tôi đã kể cho các bạn
nghe những câu chuyện về
cách tôi đã thực hành pháp như
thế nào. Tôi chẳng có nhiềukiến thức. Tôi không
học nhiều. Cái tôi học thực sự chính là cái tâm này của tôi, và tôi học hỏi một cách tự nhiênthông
qua những kinh nghiệm thực tế, những thử nghiệm và sai lầm.
Khi tôi thích một cái gìđó, tôi liền quán sátxem cái gìđang diễn ra trong tâm mình và nó
dẫn mìnhđi tớiđâu. Điều không thể tránh khỏi là
nó luôn luôn dẫn tôi đi tới một nỗi khổ nàođó trong tương lai. Cách thực hành của tôi là quan sát chính bản thân mình. Khi hiểu biết vàtuệ giác trở nên ngày càng sâu sắc, dần dần tôi hiểuđược chính mình.
Hãy thực hành hết mình, hãy cống hiến hết mình cho pháp hành.
Nếu bạn muốn thực hành Pháp, vậy thì hãy
cố gắngđừng nghĩ quá nhiều. Nếu trong khi hành thiền, bạn phát hiện mìnhđang cố gắng phấnđấuđểđạtđược một kết quả nàođấy,
thì tốt nhất là hãy dừng lại. Khi tâm đã lắng xuống và bình yên trở lại,
bạn hãy suy
xét: “Đó, chính nóđấy! Có phải chính là nó hay không?”, rồi dừng lại.
Dọn hết tất cả mọi kiến thức lý thuyết và
sự phân tích của bạn, gói kín lại và cất kín nó vào trong tủ. Vàđừng lôi nó ra
để mà bàn
luận hay để dạy người. Đó
không phải làloại trí tuệ xuyên thấu vào
bên trong tâm. Nó là loại kiến thức khác
hẳn.
Khi thấy ra sự thật về một cái gìđó, thì nó lại chẳng
giống như nhữngđiềuđược mô tả trong
sách vở. Chẳng hạn,chúng ta viết từ “hưởng thụ dục lạc”. Khi dục lạc thực sự làm chủ tâm chúng ta,
cái từđó chẳng thể nào chuyển tảiđược nguyên ý nghĩa như thực tế.
“Sân” cũng như thế. Chúng ta có
thể viết từấy lên bảng, nhưng khi chúng tathực sự nổi sân thì kinh nghiệmấy lại chẳng
giống thế chút nào. Chúng ta không
thểđọc từấyđủ nhanh, mà tâm thìđã ngậpđầy bởi cơn sân.
Đây làđiểm cực kỳ quan
trọng. Những lời dạy củaĐức Phật về lý thuyết thì hoàn toàn chính xác,
nhưng điều quan trọng là phảiđưa nó vào trong tâm mình. Nó phảiđược thẩm thấu vào bên trong. Nếu Pháp không được mang vào bên trong tâm, bạn sẽ
không thực sự hiểuđược nó. Không thực sự thấy pháp. Tôi cũng như vậy, không
khác. Tôi không học nhiều hiểu rộng, song tôi cũng họcđủđể qua được vài kỳ thi
về giáo
lý. Một ngày nọ, tôi có cơ hộiđược nghe một bài thuyết pháp của một vị thiền sư.
Trong khi đang nghe pháp, bỗng một vài suy nghĩ bất kínhxen
vào. Tôi không biết cách nghe một bài thuyết pháp thực
sự như thế nào. Tôi không thể hiểu nổi vị thiền sư du
tăng nàyđang nói về cái gì. Ngài dạy cứ như thể nó xuất phát từ kinh nghiệm trực
tiếp của chính mình, cứ như là ngàiđang đi cùng chân lý.
Thời
gian trôi
qua,
mãi về sau khi đạtđược những kinh nghiệmđầu tiên trong thiền tập,
tôi đã tự mình thấyđượcsự thật về những gì vị thiền sư năm xưa đã nói. Tôi mới hiểuđược thế
nào là hiểu
biết. Rồi theo sau sự
trỗi dậyđó, những tuệ giácđến dần. Phápđãăn sâu bén rễ trong tâm tôi. Phải mất
một thời
gian rất, rất lâu tôi mớinhận ra được
rằng tất cả mọiđiều mà vị thiền sư du
tăng thuyết hồiđó là từ chính những gì ngàiđã tự mình chứng nghiệm.
Pháp mà ngàiđã giảng dạyđến từ kinh nghiệm thực tế của
chính ngài chứ không phải từ sách vở. Ngài nói theo những hiểu biết và tuệ giác của
ngài. Khi chính mình bướcđi trên con đườngđó, tôi đã gặp qua tất cả mọi chi tiết mà ngàiđã mô tả và phải công nhận rằng ngàiđãđúng. Vì vậy,
tôi tiếp
tục thực hành.
Hãy cố gắng tận dụng tất cả mọi cơ hội bạn có thể
cóđể cố
gắng thực hành Pháp. Dù rằng có bình an hay không, ở thờiđiểm nàyđừng lo lắng vềđiềuđó. Ưu tiên hàng đầu là khởiđộng việc thực hành pháp và tạo nhân duyên cho sự giải thoát trong
tương lai. Nếu bạnđã làm những việc cần phải làm,
thì cần gì phải lo lắngđến kết quả.  Đừng lo rằng mình sẽ không đạt kết
quả. Lo
lắng không phải là bình an. Giả sử nếu bạn không làm những việc cần làmđó,
thì làm sao có thể trông đợi kết
quả sẽđến? Làm sao có thể hy vọng thấyđược
nó? Chỉ những người gia công tìm kiếm thì
mới có thể thấy. Chỉ người nàoăn thì ngườiấy no.  Tất cả mọi thứ xung quanh chúng ta đều lừa dối chúng ta.
Nhận rõđượcđiều này, thậm chí cả chục lầnđi nữa, thì vẫn còn tốt chán.
Nhưng gã lưu
manh ấy vẫn tiếp tục lừa gạt chúng ta bằng những câu chuyện dối trá xưa cũ. Nếu chúng ta biết hắnđang lừađảo mình, thì sự việc
không đến nỗi tệ lắm, nhưng có thể phải rất rất lâu chúng ta mới nhận ra đượcđiều
đó.  Gã lưu manh nhẵn
mặtđó vẫn cứđến thường xuyên và
lừađảo chúng
ta hết cú nàyđến cú khác.
Thực
hành pháp là giữ giới,
tu tậpđịnh và phát triển tuệ giác trong
tâm mình. Hãy ghi nhớ và suy xétđến ba ngôiTam Bảo:
Phật, Pháp, Tăng. Hãy buông bỏ hết
thảy mọi thứ, không trừ lại gì. Chính những hànhđộng của chúng ta là nhân và duyên sẽ trổ quả ngay trong
kiếp sống này. Vì vậy, hãy cố gắng hết
mình, với tất cả tấm lòng thành.
Ngay cả khi chúng ta phải ngồi trên một chiếc ghế dựađể
hành thiền, chúng ta vẫn có thể
tập trung chúý. Lúcđầuchúng ta không phải chúýđến nhiềuđề mục – chỉ
cần chúý vào hơi thở. Nếu thích chúng ta
có thể niệm thầm “Phật”, “Pháp”, “Tăng” (Budha, Dhamma, Sangha) theo từng hơi thở.
Trong khi tập trung sự chúý, chúng takhông được kiểm soát hơi thở. Nếu hơi thở trở
nên mất tự
nhiên hay khó chịu, điều
này cho thấy bạnđang thực hành sai
cách. Khi còn chưa cảm thấy thoải mái với hơi thở,
thì nó vẫn còn quá nông hay quá sâu, quá vi tếhoặc quá thô tháo. Nhưng khi chúng ta thư giãn với hơi thở,
và thấy nó nhẹ nhàng, thỏa mái là chúng ta biết
cáchthực hành. Nếu không làmđúng, chúng ta sẽ mất hơi thở.
Khi điềuđó xảy ra, thì tốt nhất là dừng lại một chút vàthiết
lập lại chánh niệm.
Nếu trong lúc hành
thiền, chúng
ta thấy những hiện tượng lạ thường, hoặc tâm trở nên sáng chói,
tỏa hào
quanghay nhìn thấy cảnh chư thiên này
nọ v.v… không cần phải sợ.
Chỉđơn giản ghi nhận những
gìđang kinh
nghiệmvà tiếp tục hành
thiền. Đôi khi, sau một lúc hành thiền, hơi thở trở
nên chậm dần và ngừng lại. Cảm giác thở
hình như biến mất và bạn hoảng sợ. Đừng lo, chẳng có gì phải sợ cả. Bạn chỉ
nghĩ là hơi
thở dừng lại thôi. Thực rahơi thở vẫn cònđó, nhưng hoạtđộngở mứcđộ vi tế hơn nhiều lúc bình thường.
Sau một lúc, hơi thở sẽ
tự trở
lạibình thường.
Lúc
đầu,
chỉ cần tập trung vào việc làm cho
tâm tĩnh lặng và bình an. Dù cho đang ngồi trên ghế, lái xe, bơi thuyền
hay ở bất cứ nơi nào bạn đang có mặt, bạn cần phải đủ thành thục trong thiềnđến mức có thể trở lạitrạng
thái tĩnh lặngấy bất cứ
lúc nào mình muốn. Khi bạn lên tàu và ngồi xuống, hãy nhanh chóngđưa tâm mình
vào trạng
thái tĩnh lặng. Ở bất cứ
nơi nào bạn cũng có thể ngồi thiềnđược. Mứcđộ thành thục này
cho thấy bạnđãquen thuộc hơn với con đường thực hành.
Khi đó bạn hãy tập quán sát. Sử dụng sức mạnh của
cái tâm bình an nàyđể quán sát những gì bạnđang cảm nhận. Có lúcđó là
những gì bạnđang thấy, có lúc là cái bạnđang nghe, nếm, ngửi, đụng chạm hay là suy nghĩ và cảm xúc trong
tâm. Bất cứ
sự xúc chạm giác quan nàođang tự thể hiện – dù bạn thích hay không thích nó –
cũngđều phải quán sát.  Chỉđơn giản hay biết những gì bạnđang
cảm nhận. Đừng diễn dịch hay
gán ghépý nghĩa cho nhữngđối tượng mìnhđang hay biết. Nếu nó tốt, chỉ cần biết
nó tốt. Nếu nó xấu, chỉ cần biết là nó xấu. Đó là thực tại quy ước do con người chếđịnh.
Tốt hay xấu, tất cảđều vô thường, khổ và vô ngã. Không thể trông cậy gì
vào chúng cả. Chẳng có cái nàođángđể cho chúng ta bám víu hay
dính mắc. Nếu bạn có thể duy trì thực hành tĩnh
lặng và quán
sát này, trí tuệ sẽ tựđộng sanh khởi.
Khi đó tất cả mọi thứđược bạn cảm nhận và kinh nghiệm rơi
vào ba cái giỏ vô thường, khổ, vô ngã. Đó là thiềnvipassāna. Tâm đãđược tĩnh
lặng, mỗi khi một trạng thái tâm bất thiện nào
nổi lên, hãy ném chúng vào một trong ba cái giỏấy. Đây chính là tinh yếu của
thiềnvipassāna: ném tất cả mọi thứ xuống vô thường,
khổ, vô
ngã. Tốt, xấu, kinh khủng hay
bất cứ cái gì, vứt nó xuống. Chẳng bao lâu, hiểu biết và tuệ giác sẽ bừng nở giữa ba đặc tướng phổ
quátấy – mới là loại tuệ giác yếu
và mờ nhạt. Trong giai đoạnđầu, tuệ giác còn
yếuớt và mờ nhạt, nhưng hãy cố gắng duy trì sự thực hành một cách liên tục.
Rất khóđể diễn tả thành lời nói,
nhưng nó giống như một người nàođó muốn hiểuđược tôi, họ phảiđến vàởđây với
tôi. Nhờ sự tiếp xúc hàng
ngày, chúng
ta mới hiểuđược nhau.

 

 

Hãy tôn trọng truyền thống
Bây giờ chính là lúc chúng ta phải bắtđầu thực hành thiền. Hành thiềnđể hiểu biết,
để buông
bỏ vàđể bình an.
Trước kia tôi là một nhà sư lang thang nay đây mai đó – một du
tăng. Tôi đi bộ khắp nơi để tìm thầy và tìm nơiđộc cư hành thiền. Tôi không đi đây đóđể thuyết pháp.
Tôi đi nghe những bài pháp của các vị thiền sư vĩđại
thờiđó. Tôi không đi để dạy họ. Tôi lắng nghe bất cứ lời khuyên nào của họ. Ngay cả khi những vị sư
trẻ tuổi hay mới tu cố giảng pháp cho
tôi, tôi cũng kiên nhẫn lắng
nghe. Tuy
nhiên, tôi ít khi bàn luận về
Pháp. Tôi chẳng thấy cóý nghĩa gì khi tham gia vào
những buổi thảo luận dài lê thê.
Bất cứ lời dạy nào tôi đã chấp nhận, tôi thực hànhtheo ngay lập tức, trực tiếp ngay nơi chúng dạy ta xả ly và buông bỏ.
Cái gì tôi làm, là tôi làmđể xả ly và buông bỏ. Chúng ta không nhất thiết phải trở thành các học giả và chuyên gia về kinh điển. Chúng ta đang giàđi dần theo năm tháng, và mỗi
ngày trôi
qua chúng ta chỉ
chộp lấy nhữngảoảnh vàđể tuột mất thực tế. Thực hành pháplà một việc hoàn toàn khác với việc nghiên cứu về nó.
Tôi không chỉ trích bất cứ phương pháp thiền nào. Khi chúng ta đã hiểu mụcđích vàý nghĩa thật sự của phương pháp,
chúng không hề sai. Tuy nhiên, tự coi mình là một thiền sinh Phật giáo mà không giữ gìn giới luật nghiêm chỉnh,
thì theo tôi, sẽ không bao giờđạtđược thành công. Tại sao? Bởi vì chúng ta đã bỏ qua một phần cốt yếu của con đường.
Bỏ qua giới, thìđịnh và tuệ sẽ không thể hoạtđộngđược. Có thể một số người sẽ
nói với bạn rằng không nên dính mắc vào sự an lạc của thiền chỉ:
“Đừng mất
công thực hành thiền chỉ; hãy tiến thẳng vào tuệ và thiềnvipassāna”.
Như tôi thấy, nếu chúng ta cố
tránhđể tiến thẳng vào thiềnvipassāna, chúng ta sẽ
không thể hoàn thành cuộc hành trình một cách tốtđẹp.
Đừng từ bỏ cách thực hành và phương pháp của các vị thầy danh tiếng trong truyền thống thiền rừng, như thiền sưAjhan Sao,
Ajhan Mun, Ajhan Taungrut, Ajhan Upali. Con đường các
vịấy dạy thực sựđáng tin cậy và thực tế – nếu chúng ta làmđúng phương pháp của
các vị. Nếu chúng ta đi theo bước
chân của các vị thầy, chúng ta cũng
sẽ có được hiểu biết thực
sự về chính bản thân mình. Thiền sư Ajhan Sao gìn giữ giới hạnh của mình một cáchhoàn hảo. Ngài không nói chúng ta nên bỏ qua nó.  Các vị thầy lỗi lạc của dòng tu thiền rừng gợi ý cần phải thực hành thiền và giới luật theo một cách nhất định,
thì vì lòng kính trọng với
các ngài, chúng ta nên thực hiện theo những gì các ngài đã dạy. Nếu các
ngài dạy phải làm như thế, thì chúng ta hãy
làm như thế.  Nếu các ngài nói không làm nữa vì như vậy là sai, thì chúng ta không làm nữa. Chúng ta làm điều đó vì đức tin.  Chúng ta làm điều đó với lòng chân thành và quyết tâm không
lay chuyển. Chúng ta thực hành cho đến khi
thấy Pháp ở chính trong tâm mình, cho đến khi
mình chính là Pháp. Đó chính là những gì các vị thầy trong rừng đã dạy. Đệ tử của các ngài ngày càng tăng trưởng niềm kính trọng, ngưỡng mộ và tình cảm sâu sắc với các
ngài, vì đi
theo con đườngcủa các ngài, họ đã thấy được những gì mà
thầy mình đã thấy.
Hãy thử thực hành.
Hãy làm đúng những gì tôi nói. Nếu bạn thực sự thực hành,
bạn sẽ thấy Pháp, bạn sẽ là Pháp. Nếu bạn thực sự tìm kiếm,
thì cái gì có thể ngăn bạn được? Các phiền não trong
tâm sẽ biến mất khi bạn tiếp cận chúng với một chiến lược đúng đắn:
hãy là một người xuất ly, từ bỏ, người nhàm chán với thế gian,
biết đủ với những thứ ít ỏi, từ bỏ tất
cả mọi quan kiến bắt nguồn từ bản ngã và ảo tưởng tự cho mình là quan trọng. Khi đó bạn
sẽ có thể đủ kiên nhẫn để
lắng nghe mọi người, ngay cả khi họ nói ra toàn những điều sai trái.
Bạn cũng có thể kiên nhẫn lắng
nghe cả khi họ nói đúng. Hãy tự kiểm tra mình
theo cách này mà xem. Tôi đảm bảovới các bạn, hoàn toàn có
thể làm được, nếu bạn thử. Tuy nhiên các
nhà học
giả lại hầu như chẳng có
ai đến vàthực hành pháp cả. Cũng có một vài người, nhưng rất
ít. Thật là xấu hổ. Việc bạn đi cả một quãng đường dài đến đây
thăm tôi cũng là việc đáng hoan hỷ rồi.
Nó cho thấy sức mạnh ở
bên trong tâm của bạn. Một số chùa chỉ khuyến khích các sư học kinh điển.
Họ học và học, cứ học mãi như vậy chẳng biết lúc nào dừng, và chẳng cắt bỏ
những gì cần cắt bỏ. Họ chỉ học mỗi từ “bình an”. Nhưng khi bạn dừng lại, tĩnh
lặng, bạn sẽ phát hiện ranhững thứ có giá trị thực
sự.  Đó là cách bạn tìm hiểu vấn đề. Sự tìm hiểu này
thực sự giá
trị và hoàn toàn cố định. Nó đi thẳng vào những gì bạn học trong sách vở.
Nếu các nhà học giả Phật học mà
không thực
hành thiền, thì họ chỉ có kiến thức mà không có hiểu biết.
Chỉ khi họ thực hành những
gì Đức
Phật dạy, thì những điều
họ đã học mới trở nên sống động và rõ ràng.

vậy,
hãy bắt đầu thực hành đi
thôi. Hãy phát triển loại hiểu biết đó.
Hãy thử sống ở rừng và đến đây, sống ở một trong những cái cốc nhỏ này. Tu tập thử theo cách này một thời gian và tự mình thể nghiệm, nó còn có giá trị hơn việc đọc sách nhiều. Khi đó bạn có
thể tự đàm
luận pháp với chính mình.
Trong khi quan sát tâm,
hãy làm như thể đã buông bỏ và
yên nghỉ trong trạng thái tự nhiên của
nó. Từ trạng
thái tĩnh lặng tự nhiên này, khi đó nó lăn tăn, xao động dưới dạng các suy nghĩ và khái niệm, đó là lúc tiến trình điều kiện hoá của các hành (sankhara)
đang bắt đầu vận hành. Hãy cẩn thận và quan sát kỹ tiến trình điều kiện hoá ấy. Một khi nó xao động,
dịch chuyển và rời khỏi trạng thái tự nhiên này,
sự thực
hành Pháp sẽ không còn đi
đúng hướng nữa. Nó sẽ sa vào một trong hai cực đoan là
hưởng thụ (lợi dưỡng) hoặc tự hành hạ mình (khổ hạnh).
Chính tại chỗ đó. Đó chính là cái làm cho mạng lưới điều kiện hoá (các hành) của tâm nảy nở.
Nếu trạng
thái tâm tốt, nó sẽ tạo ra
các hành tích
cực. Nếu trạng thái tâm
xấu, các hành ấy là tiêu cực. Những thứ ấy bắt nguồn từ chính trong tâm
bạn.
Tôi nói cho các bạn biết điều này, quan sát cách thức tâm mình vận hành ra
sao là một việc vô cùng thú vị. Tôi có thể nói về chỉ một đề tài này suốt cả
ngày không chán. Khi bạn hiểu được cách thức hoạt động của
tâm mình, bạn sẽ thấy rõ tiến trình này vận hành ra
sao, cách tâm bị phiền não và ô nhiễm tẩy não như thế nào. Tôi nhìn tâm mình
chỉ đơn
thuần là một điểm duy nhất.
Các trạng
thái tâm chỉ là những vị
khách ghé thăm điểm đó. Lúc thì người này đến gọi một tiếng, lúc thì kẻ khác
đến chơi một tẹo. Họ đến trung tâm tiếp đón khách.
Hãy rèn
luyệncái tâm mình luôn quan sát và
biết tất cả các vị khách ấy bằng một con mắt tỉnh giác. Đó là cách bạn quan tâmchăm
sóc cho tâm mình. Mỗi khi có khách tới thăm, bạn chỉ cần xua họ sang một bên.
Nếu bạn không cho họ vào, thì họ ngồi ở đâu được? Chỉ có mỗi một cái ghế và bạn
đang ngồi trên đó.  Hãy giữ vững cứ điểm đó
suốt ngày.
Đó chính là chánh niệm vững chắc không hề lay chuyển của Đức Phật;
nó canh gác và bảo vệ tâm.
Bạn đang ngồi đúng nơi đây. Từ lúc bạn chào đời, tất cả mọi khách khứa đến thăm đều đến đúng
chỗ này. Cho dù họ đếnliên tục đến đâu chăng nữa, thì cũng chỉ đến
đúng mỗi điểm này mà thôi. Hãy biết tất cả bọn họ, chánh niệm củaĐức Phật một mình ngồi vững nơi đó, không thể lay
chuyển. Những người khách đó đi đến đây để tìm cách tác động, gây ảnh hưởng và
lôi kéo tâm bạn bằng nhiều cách khác nhau.  Khi chúng xâm nhập thành công và lôi kéo tâm mắc mớ trong các vấn đề của chúng, các trạng thái tâm sẽ sanh khởi.
Bất kể đó là vấn đề gì, câu chuyện gì, mỗi khi nó dẫn dắt mình đi, hãy bỏ
qua nó ngay – nó không quan trọng. Chỉ đơn giản biết
vị khách đó là ai khi họ đến cửa. Khi họ ghé vào, họ thấy có mỗi một cái ghế,
khi nào bạn còn ngồi trên cái ghế đó, họ sẽ không có chỗ để ngồi. Họ đến nghĩ
là sẽ rót vào tai bạn những câu chuyện vô bổ, nhưng lần này thì chẳng có chỗ mà ngồi. Lần sau
họ đến, cũng chẳng có ghế. Dù những kẻ thích tán gẫu ấy đến bao nhiêu lần cũng
thấy vẫn cái gã ấy ngồi nguyên xi trên ghế. Bạn vẫn không nhúc nhích. Bạn nghĩ
là chúng sẽ chịu được tình trạng này
bao lâu? Chỉ cần nói chuyện qua với chúng là bạn đã biết rõ chúng rồi. Tất cả mọi người và tất cả mọi thứ mà bạn từng biết kể
từ khi va
chạm với cuộc đời sẽ đến thăm bạn. Chỉ đơn giản quan sát và biết mình chính
tại nơi này là đủ để thấy pháp một cách hoàn toàn. Bạn tự mình thảo luận, quan sát và quán chiếu.
Đó là cách bạn đàm luận Pháp. Tôi chẳng biết nói về chuyện gì
sất cả. Tôi có thể tiếp tục nói
nữa theo cách này, nhưng cuối cùng thì
cũng chẳng có gì ngoài nói và nghe. Tôi khuyên bạn hãy thực sự bắt tay vào thực hành.

 

Thuần thục trong thiền tập

Nếu tự nhìn lại chính
mình, bạn sẽ phải đối mặt với những vấn đề nhất định. Có con đường để
định hướng bạn đi theo. Khi bạn tiếp tục tiến
bước, tình
trạng đó sẽ thay đổi và
bạn sẽ phải tự điều chỉnh để vượt qua những vấn đềmới
nảy sinh. Cần cả một thời gian tu tập rất
dài bạn mới có thể thấy được những dấu mốc tiến bộ rõ ràng. Nếu bạn đi đúng theo cùng một con đường tôi đã đi qua, nhất định hành trình đó sẽ phải diễn ra ở chính trong tâm
bạn. Nếu
không phải vậy, bạn sẽ gặp
phải vô
số chướng ngại.
Cũng y như việc bạn nghe một tiếng động.
Nghe là một thứ, tiếng động là
một thứ khác, chúng ta có
thể ý
thứcđược cả hai thứ đó mà không phải ghép sự kiện đó lại.  Chúng ta lấy từ tự nhiên
những nguyên liệu thô để quán chiếu tìm hiểu chân lý. Cuối cùng tâm
sẽ tự phân
chia, mổ xẻ các hiện tượng tự nhiên đó.
Chỉ đơn
giản cung cấp nguyên
liệu đầu vào, tâm chẳng dính líu đến
quá trình ấy. Khi tai thu nhận tiếng động, hãy quan sát cái
gì đang diễn ra trong tâm mình. Tâm có dính vào, rối tung lên và bị tiếng động ấy cuốn đi hay không? Tâm có bị khó
chịu hay không? Ít nhất cũng
phải hay biết được những điều đó. Khi một tiếng động được chánh niệm ghi nhận,
nó sẽ không quấy rối tâm.
Ở ngay tại đây, chúng ta ghi nhận những
thứ thực
tế đang có sẵn trong tay
chứ không phải chạy đi đâu xa cả. Ngay cả khi chúng ta muốn chạy trốn khỏi tiếng động, cũng chẳng có chỗ mà chạy. Lối thoát duy nhất là rèn luyện tâm
mình để trở nên không lay động trước tiếng động. Buông bỏ tiếng động xuống.Tiếng động mà chúng ta buông bỏ đó, chúng ta vẫn nghe được. Chúng ta nghe, nhưng cho nó đi qua, bởi vìchúng ta đã buông bỏ nó xuống. Không phải cố ý tách biệt tiếng động và cái nghe, chúng tự động tách rời
nhau bởi vì sự buông bỏ. Ngay cả khi chúng ta muốn bám víu tiếng động, tâm cũng sẽ không dính vào. Bởi một khi đã
hiểu được bản chất thật
sự của hình
ảnh, âm thanh, mùi, vị và mọi thứ còn lại, tâm sẽ nhìn với tuệ giác rõ ràng,
tất cả mọi thứ được cảm nhận, không trừ ngoại lệ nào, sẽ rơi vào một trong ba
đặc tướng phổ quát là vô thường, khổ, vô ngã.
Mỗi khi nghe tiếng động,
nó sẽ hiểu theo những đặc tướng ấy. Bất cứ khi nào có sự xúc chạm của tiếng động với tai, chúng ta nghe thấy, nhưng dường như không nghe. Không phải là tâm không hoạt động: chánh niệm và tâm đan xen và hợp làm một để giám
sát lẫn nhau liên tục. Khi tâm đã được rèn luyện đến mức này, dù chọn đi đường nào
chăng nữa, chúng ta cũng
vẫn đang tìm
hiểu chân lý.  Chúng ta sẽ
phân tích các hiện tượng (trạch pháp), một trong các giác chi cốt yếu, và chính sự phân tích này sẽ
tự động tiến
triển bằng quán tính của
nó.
Hãy tự đàm luận Pháp với chính bản thân mình. Tháo gỡ và giải phóng các cảm xúc,
ký ức, suy
nghĩ, tưởng tượng, các ý định và tâm thức.
Không có cái gì có thể động chạm đến chúng khi chúng tự thể hiện các chức năng của
mình. Đối với những người đã làm chủ thành thục tâm
mình, tiến trình suy xét và quán chiếu này sẽ tự động trôi chảy.
Không còn phải cố ý định
hướng cho nó nữa. Bất cứ chỗ nào tâm hướng đến, sự quán chiếu tự khắc có mặt.
Khi thực hành Pháp đến trình độ này,
sẽ có một lợi ích phụ
rất thú
vị nữa. Trong khi ngủ, các hiện tượng ngáy, nghiến răng, vật vã qua lại, tất cả các thói xấu ấy không còn nữa. Ngay cả sau một giấc
ngủ rất say, khi thức dậychúng ta không
bị lờ đờ, hôn trầm nữa. Chúng ta sẽ cảm thấy đầy
sức sống, luôn tỉnh táo như
thể chưa
bao giờngủ cả. Trước kia tôi thường ngáy, nhưng khi tâm trở nên tỉnh thức trong mọi lúc như thế, tự nhiên không còn ngáy nữa. Làm sao mà ngáy
được khi bạn tỉnh? Chỉ là cái thân này dừng lại, ngủ nghỉ thôi. Tâm luôn luôn tỉnh thức suốt ngày đêm. Đó chính là chánh niệm thuần khiết ở mức độ cao của Đức Phật:
Người luôn hay biết, người tỉnh thức, người luôn tràn đầy hỷ lạc,
người chiếu sáng rực rỡ. Sự tỉnh giác rõ ràng này
không bao giờ ngủ. Năng lượng của
nó luôn tự bảo tồn, không bao giờ lơ mơ,
hay gật
gù buồn ngủ. Ở giai đoạn này, chúng tacó thể không cần ngủ suốt hai, ba ngày mà không sao
cả. Khi thân có dấu hiệu mệt mỏi, chúng ta ngồi
xuống hành thiền và ngay lập tức nhập
sâu vào định trong khoảng 5-10
phút. Khi ra khỏi định, chúng ta cảm thấy hoàn toàn tươi
mới và đầy sức sống cứ như vừa dậy sau một đêm ngon giấc. Khi không còn phải
bận tâm cho cái thân này nữa, thì ngủ hay không không còn
quan trọng. Chúng ta thực hiện những biện pháp cần thiết để chăm sóc cho cái thân này mạnh
khoẻ, nhưng không còn lo lắng cho
nó nữa. Để cho nó đi theo quy luật tự nhiên.Chúng ta không phải bắt thân mình phải tuân theo ý mình. Nó sẽ tự biết phải như thế
nào. Như thể có ai đó luôn ở đó thúc ép chúng ta phải cố gắng tiến lên. Khi chúng ta lười, liền có giọng nói bên trong hò
hét bắt ta phải chăm chỉ lên. Ở thời điểm này, không thể có bế tắc nữa, bởi vì
sự nỗ lực và tiến bộ đã
có một quán tính không gì
có thể ngăn chặn được. Bạn hãy tự mình thể nghiệm chính
điều này. Bạn đã học pháp học cả một thời gian quá
dài rồi. Bây giờ là lúc phải học hỏi và tìm hiểu về chính bản thân mình.
Trong giai đoạn đầu thực hành pháp,
thân ẩn
cư (sống một mình)
là điều tối quan trọng. Khi sống một mình, bạn sẽ nhớ lại lời dạy của Ngài Sariputta (Xá Lợi Phất): “Thân ẩn cư là
nhân, duyên để khởi lên tâm ẩn cư, nhữngtrạng thái định thâm sâu thoát ly khỏi trần cảnh.
Tâm ẩn cư này lại là nhân duyên của tỵ phiền não ẩn cư (xa rờiphiền
não), chứng đạo”. Ấy thế mà nhiều người dám nói rằng sống ẩn cư không quan trọng, “nếu tâm bạn bình an thì ở đâu chẳng quan trọng”. Đúng thế,
nhưng ở giai đoạn đầu chúng ta cần
nhớ rằng sống một mình ở
một nơi thích
hợp là điều đầu tiên cần phải có. Ngay ngày hôm nay, hoặc một lúc
nào đó sớm sớm, hãy tìm một nơihoả táng xác người xa vắng nào đó ở trong rừng,
xa con
người. Hãy thử nghiệm sống hoàn toàn một mình như
thế xem. Hay đi tìm một ngọn núi hoang vắng rùng rợn nào
đó. Hãy đi và sống một mình nơi
đó, được không? Bạn sẽ có khối niềm vui trong suốt đêm
dài. Chỉ khi đó bạn mới tự mình hiểu được. Ngay cả bản thân tôi ngày xưa cũng
có lúc nghĩ rằng độc cư không
phải là điều quan trọng lắm. Lúc đó tôi nghĩ thế, nhưng một lần tôi đã thực sự đi và thử sống một mình như vậy, tôi suy nghĩ về những gì Đức Phật đã dạy. Đức Thế Tôn khuyến khích các đệ tử tìm những nơi hoang vắng xa con người để thực hành pháp. Lúc đầu,
thân ẩn
cư xây nên nền tảngvững chắc cho
tâm ẩn cư,
và chính điều này sẽ hỗ trợ để đạt được trạng thái xa
lánh mọi phiền
não trong tâm (tỵphiền não ẩn cư).
Chẳng hạn, nếu bạn là
một người cư sỹ sống trong gia đình. Bạn có được loại ẩn cư nào? Khi bạn quay về nhà, ngay khi mới bước chân vào cửa
bạn đã bị tấn công bởi đủ thứ vấn đề phức tạp và hỗn loạn.
Chẳng thể có được thân ẩn cư. Vì vậy bạn
tìm đến một nơi xa vắng, nơi có bầu không khí hoàn toàn khác
ở nhà để hành thiền. Điều quan trọng là phải hiểu rõ được
tầm quan trọng của việc sống một mình, tách biệt với mọi người trong giai đoạn đầu thực hành pháp.
Rồi sau đó bạn tìm một vị thầy để xin học thiền. Vị thầy sẽ hướng dẫn, khuyên
bảo và chỉ ra những chỗ bạn còn hiểu sai, bởi vì chỗ sai thường chính là
những chỗ bạn vẫn nghĩ là đúng
. Chính chỗ bạn sai là những chỗ bạn cho
là mình hiểu đúng. Khi thầy giảng giải, bạn sẽ hiểu được đâu là cái sai, và nhất định chỗ sai đó chính xác là chỗ bạn vẫn cho là mình đúng.
Theo tôi được biết,
nhiều nhà
sư chuyên nghiên cứu pháp học chỉ tìm kiếm chân lý trong sách vở. Chẳng có lý do gì mà lại không thể nghiệm trong thực tế.
Lúc mở sách ra và học, chúng ta học
theo cách đó. Nhưng khi đã cầm vũ khí lên để chiến đấu, chúng ta phải chiến đấu theo những cách
chưa chắc đã có trong sách vở. Nếu một chiến sỹ vào trận mà chỉ chiến đấu theo
sách thì sẽ không thể địch lại được đối thủ. Nếu người chiến sỹ đó thực sự chân thành và thực sự chiến đấu, anh ta phải
chiến đấu một cách vượt ra ngoài lý thuyết sách
vở. Đó là cách phải làm để chiến thắng. Những lời dạy của Đức Phật trong kinh điển chỉ là những hướng dẫn và ví dụ để đi theo,
và đôi khi chính việc nghiên cứu kinh điển lại
khiến bạn cẩu thả, vội vàng trong
cách hiểu.

 

Thử thách đến tận cùng

Con
đường của các vị thầy theo truyền thống tu trong rừng là con đường từ bỏ.
Trên con
đường này chỉ cóbuông bỏ. Chúng ta nhổ
bật gốc rễ của những lối suy nghĩ tự
cho mình là quan trọng. Nhổ bật gốc rễ của cái tôi, cái ngã. Tôi đảm bảo với bạn, cách thực hành này sẽ thử thách bạn đến tận phần cốt lõi sâu kín nhất, nhưng dù nó khó khăn đến
đâu cũng đừng bao giờ bỏ thầy và những lời dạy của các ngài. Không có sự hướng
dẫn đúng
đắn thì tâm và định rất dễ
lừa dối chúng
ta. Những điều tưởng chừng không thể có sẽ bắt đầu xuất hiện.
Tôi luôn luôn nhìn những hiện tượng ấy
một cách cảnh
giác và chú ý. Khi còn
trẻ, trong những năm đầu tiên mới học thiền, tôi thậm chí còn không dám tin vào
tâm mình nữa. Tuy nhiên, khi đã đạt được những kinh nghiệm tương đối và có thể tin tưởng hoàn toàn vào sự vận hành của tâm mình, thì không gì có thể tạo
ra vấn đề nữa. Ngay cả khi những hiện tượng khác thường xảy đến, tôi cứ để kệ nó
như thế. Nếu chúng ta lần
ra được cách thức chúngvận hành ra sao, thì chúng sẽ tự biến mất. Nó
chỉ là nhiên liệu cho trí tuệ. Thời gian trôi
đi, chúng
ta sẽ thấy mìnhhoàn toàn thoải mái với
chúng.
 Trong thiền,
những thứ thường không sai lại có thể sai.
 Chẳng hạn, chúng ta ngồi bắt chéo chân đầy quyết tâm và thề: “Được rồi, lần này quyết không suy nghĩ lung tung nữa. Tôi sẽ tập trung tâm.
Hãy nhìn mà xem”. Cách này chẳng bao giờ thành công cả.
Mỗi lần tôi thề như thế, thiền chẳng tiến lên được tý nào hết. Nhưngchúng ta thường
thích hô khẩu hiệu. Từ những gì tôi đã trải qua, tôi thấy rằng thiền tự động tiến triển theo
nhịp độ của chính nó.  Rất nhiều đêm tôi ngồi thiền và
tự nói với mình: “Được rồi, đêm nay tôi sẽ không đứng dậy khỏi chỗ ngồi này trước 1g sáng”. Thậm
chí chỉ với suy nghĩ này
thôi mà tôi đã tạo nghiệp xấu rồi, bởi vì không lâu sau cái đau trong thân tấn
công tôi từ mọi phía, nó áp đảo tôi
đến nỗi tôi cảm tưởng mình
sắp chết đến nơi. Nhưng những lúc tôi hành thiền tốt lại là những lúc tôi chẳng
tự đặt trước thời gian ngồi
là bao lâu. Tôi chẳng đặt trước là 7g, 8g, hay 9g sẽ đứng dậy,
mà chỉ đơn
giản ngồi, duy trì liên tục như vậy, buông xả mọi thứ.Đừng bao giờ cưỡng ép
hành thiền. Đừng cố gắng suy diễn những
gì đang diễn ra.
Đừng thúc ép tâm mình bằng những tham vọng thiếu thực tế như phải nhập vào định chẳng hạn – nếu không bạn sẽ thấy tâm mình náo loạn và ương
bướng hơn thường lệ. Chỉ cần để tâm mình
thư giãn, buông lỏng, thoả mái và yên lành.
Để hơi thở trôi chảy tự nhiên,
không bắt nó phải ngắn hay dài. Đừng biến nó thành một cái gì đặc biệt.
Để thân mình thả lỏng, thoải mái và
thư giãn. Rồi cứ tiếp tục như
thế. Tâm sẽ hỏi bạn: “Tối nay chúng ta sẽ
hành thiền đến lúc nào nhỉ? Mấy giờ thì xả thiền?”. Nó không ngừng mè nheo, nên
bạn phải quát cho nó một trận: “Nghe này ông tướng, để tao yên”. Kẻ lắm chuyện
đó cần
phải thường xuyên bị đàn áp,
bởi vì nó chẳng là gì khác ngoàiphiền não đang quấy rầy bạn.
Đừng để ý đến nó. Bạn phải cứng rắn với nó. “Dù
tao có xả thiền sớm hay muộn cũng không phải là việc của mày. Nếu tao muốn ngồi thiền cả đêm thì cũng chẳng liên quan gì đến ai cả, tại sao mày cứ chõ mũi
vào việc của tao hả?” Bạn phải cắt phéng cái gã hay chõ mũi vào việc người khác
đó như thế. Rồi bạn có thể hành thiền đến lúc nào tuỳ thích, đến khi nào thấy
đủ thì thôi.
Khi bạn để tâm thư giãn và thoải mái,
nó sẽ trở nên bình yên. Trải nghiệm điều đó, bạn sẽ nhận ra và đánh giáđược sức mạnh của
sự dính mắc. Bạn tiếp tục ngồi
như thế, thật lâu, quá nửa đêm, rất thoả mái và thư giãn, khi đó bạn mới hiểu
được thiền
chỉ đơn giản là
như vậy. Bạn sẽ hiểu được rằng dính mắc và chấp thủ thực
sự làmô nhiễm tâm
mình ra sao.
Một số người khi ngồi thiền,
họ thắp một nén hương (nhang) trước mặt và
thề: “Tôi sẽ không đứng dậy trước
khi nén hương này cháy hết”. Rồi họ ngồi. Sau khi ngồi và cảm thấy hình như một tiếng đã trôi qua,
họ mở mắt ra và thấy mới được có 5 phút. Họ trợn mắt nhìn cây hương, thất vọng khi thấy sao mà cây hương này dài quá
vậy! Họ nhắm mắt lại và tiếp tục thiền.
Không lâu sau lại mở mắt kiểm tra cây
hương lần nữa. Những người này sẽ chẳng hành thiền đến đâu được hết. Đừng làm
như thế. Chỉ ngồi đó mà mơ đến cây hương, “Không biết nó đã cháy hết chưa
nhỉ?!”, thiền chẳng đi đến đâu cả. Đừng coi những việc ấy là quan trọng. Tâm không cần
phải
làm điều gì đặc biệt hết.
Nếu bạn thực hiện nhiệm vụ phát triển tâm linh,
chớ để phiền
não và tâm tham biết mục đích và các nguyên tắc của bạn. “Đại Đức sẽ
hanh thiền như thế nào ạ?”, nó sẽ dò hỏi, “Ngài sẽ thực hành nhiều
đến đâu? Ngài địnhngồi thiền muộn đến mấy giờ?”. Tâm tham sẽ không
ngừng làm phiền cho đến khi chúng ta phải đi đến thoả thuận. Một khi chúng ta tuyên bố là sẽ ngồi thiền đến nửa đêm, ngay lập tức nó bắt đầu quấy phá. Chưa được một giờ
là chúng
ta đã cảm thấy mất kiên nhẫn và bứt rứt đến mức không thể tiếp tục được nữa. Thế rồi lại thêm nhiều chướng ngại tấn công khi chúng ta tự mắng mỏ mình: “Thật là hết hy vọng!
Cái gì? Ngồi
thiền có thể giết được
mình hay sao? Mình nói sẽ làm cho tâm mình an trú vững chắc trong
định, thế mà nó vẫn bất an và
chạy lung
tung thế này. Mình đã thề thốt mà chẳng giữ lời”. Những suy nghĩ tự phản đối và
chán nản ấy tấn công bạn, và bạn chìm nghỉm trong sự oán ghét bản thân mình. Chẳng có ai khác để đổ lỗi và tức giận cả, và chính điều đó làm
cho mọi thứ tệ hơn. Một khi đã buông lời thề, chúng ta phải giữ. Hoặc là phải thực hiện lời thề hoặc là chết trong khi thực hiện.
Nếu đã thề ngồi thiền trong suốt một
khoảng thời
gian nào đó, chúng ta không nên phá vỡ lời thề và bỏ dở. Nhưng cùng lúc đó, hãy thực hành và phát triển một cách dần dần.
Không cần
phải có những lời thề ghê gớm. Cố gắng rèn luyện tâm mình một cách kiên trì và đều đặn. Thi thoảng, thiền đem lại sựbình an, mọi đau đớn và
khó chịu biến mất. Cái đau ở đầu gối và mắt cả chân cũng tự hết.
  Khi bắt tay vào thực hành thiền, nếu những hình ảnh lạ lùng, những ảo ảnh hay các loại tưởng
sinh lên, việc đầu tiên là hãy kiểm tra lại trạng thái tâm của mình. Đừng bao giờ quên nguyên
tắc cơ bản này. Để những hình ảnhđó sinh lên như vậy, là tâm đã tương đối bình an.
Đừng tham
muốn nó xuất hiện,
cũng không mong nó đừng có đến. Nếu nó sinh khởi, hãy xem xét nó
kỹ, nhưng đừng để nó lừa mình. Chỉ cần nhớ rằng nó không phải là của mình.
Chúng cũng vô thường, khổ và vô ngã như
mọi thứ khác. Ngay cả khi chúng là thật thì cũng đừng nghiền ngẫm hay chú ý quá mức đến chúng. Nếu chúng cứng đầu không chịu đi, thì hãy tập trung sự
chú ý lại vào hơi thở với
sự tinh
tấn mạnh mẽ hơn. Hãy hít
sâu vào ít
nhất là ba hơi thở thật dài, mỗi hơi lại thở ra chầm chậm cho đến hết. Cái mẹo này có thể thành công. Tiếp tục thiết lập lại sự chú ý.
Đừng tìm cách sở hữu những hiện tượng đó. Chúng chẳng là gì khác ngoài cái bản thân chúng đang là, và chúng cũng rất hay
lừa dối.  Hoặc là chúng ta thích thú và
say mê chúng, hoặc là bị chúng làm cho sợ đến phát khiếp. Chúng không đáng tin cậy: có thể không đúng hoặc có vẻ đúng. Nếu bạn thấy
chúng xuất
hiện, đừng cố gắng diễn dịch ý nghĩa của
chúng hay gán cho chúng
một ý
nghĩa nào đó. Nên nhớ rằng
chúng không phải củachúng ta, vì vậy đừng chạy theo những hình ảnh hay cảm giác ấy.
Thay vào đó, ngay lập tức hãy
quay lại kiểm
tra trạng thái tâm hiện tại của mình. Đó là nguyên tắc bất di bất
dịch. Nếu chúng ta từ bỏ nguyên
tắc cơ bản này và bị cuốn theo những gì chúng ta tin
là mình đã thấy, chúng ta sẽ
quên mất bản
thân mình và bắt đầu nói nhảmhoặc
thậm chí điên
khùng. Chúng ta có
thể mất lý
trí đến mức thậm chí không
thể giao tiếp được với người khác một cách bình thường. Hãy đạt lòng tin của
bạn vào chính
tâm mình. Bất cứ điều gì
diễn ra, chỉ đơn giản tiếp tụcquan sát tâm.
Những kinh
nghiệm thiền khác lạ có
thể có lợi cho người trí tuệ, nhưng sẽ nguy hiểm cho những người thiếu trí.
Bất cứ cái gì xảy ra, đừng phấn khích hay vui mừng. Nếu kinh nghiệm diễn
ra, hãy để nó diễn ra.

 

Đừng bao giờ từ bỏ thiền

Một phương pháp khác để tiếp cận Pháp hành là quán chiếu và xem xét tất cả mọi thứ chúng ta thấy, chúng talàm
hoặc trải nghiệm (cảm nhận được, ý thức được
..). Đừng bao giờ bỏ thiền. Một số người sau khi kết thúcngồi
thiền hoặc đi kinh hành,
họ nghĩ rằng đó là lúc ngừng lại và nghỉ ngơi. Họ không chú tâm đến đề mục thiền
hoặc lĩnh vực đang quán chiếu nữa.
Họ hoàn
toàn bỏ lửng. Đừng thực hành như thế! Bất cứ cái gì bạn thấy, hãytìm hiểu xem
thực sự bản
chất nó là gì. Xem xét
những người tốt trên thế gian. Xem xét cả
những người xấu nữa. Hãy nhìn sâu sắc vào những người giầu có và quyền lực;
và cả những kẻ bần cùng, khốn khổ. Khi bạn nhìn thấy một đứa trẻ, một người
già, một người con trai, con gái trẻ tuổi, hãy tìm hiểu ý nghĩa của già. Tất cả đều là nhiên liệu cho
quá trình quán chiếu. Đó là cách bạn tu tập tâm của mình.
Sự
quán chiếu dẫn đến chứng ngộ Pháp là quán chiếu về nhân duyên, tiến trình nguyên nhân-kết quả, và mọihình thức thể hiện của
nó: cả lớn lẫn nhỏ, đen và trắng, tốt và xấu. Tóm lại, tất cả mọi thứ. Khi bạn suy nghĩ,
hãynhận ra rằng
đó chỉ là một suy nghĩ và quán chiếu rằng nó chỉ là như thế, chẳng gì khác.
Tất cả những thứ đó đều cuốn vào nghĩa địa của vô thường,
khổ, vô
ngã, vì vậy đừng
có dính mắc, bám víu vào
bất cứ thứ gì. Đây là nghĩa địa của tất cả mọi hiện tượng.
Thiêu và chôn chúng đi để chứng ngộ sự thật.
Có được tuệ giác về vô thường nghĩa
là không để cho bản thân mình
phải chịu đau khổ. Nó là việc quán chiếubằng trí tuệ. Chẳng hạn, khi có được một cái gì đó tốt đẹp hay thích thú, chúng ta cảm thấy hạnh phúc. Hãy nhìn thật kỹ, thật liên tục vào cái đẹp, cái thích đó của mình.
Đôi khi, sau khi có được những điều tốt đẹp ấy
một thời
gian dài, chúng ta lại chán ngấy. Chúng ta muốn đem cho hoặc bán nó đi. Nếu không có ai muốn mua, chúng tasẵn
sàng vứt
bỏ nó. Tại sao vậy? Lý do đằng sau động lực ấy là gì? Tất cả mọi thứ đều vô thường,
đều thay đổi, chẳng có gì còn mãi, đó là lý do. Nếu không thể
bán được hay vứt đi được, thế là chúng ta bắt
đầu khổ
não vì nó.Toàn bộ vấn đề chỉ
là như thế, một khi một việc đã được hiểu rõ hoàn toàn, thì tất cả mọi việc khác cũng đều như thế, dù có khởi lên
bao nhiêu chăng nữa.  Đơn giản mọi việc chỉ
là như thế. Như một câu tục ngữ đã
nói: “Đã nhìn thấy một, sẽ thấy tất cả”.
Đôi khi chúng ta gặp phải những điều mình không thích.
Có lúc phải nghe những tiếng ồn và cảm thấy bực bội, khó chịu. Hãy quán sát, tìm hiểu và ghi nhớ nó. Bởi vì, một lúc nào đó
trong tương lai, có thể chúng ta lại
thích chính những tiếng ồn đó. Chúng ta có
thể thích
thú với chính những thứ mà
trước kia chúng ta đã
từng ghét cay ghét đắng. Hoàn toàn có
thể! Khi đó, chúng ta sẽ
thấy rất rõ
ràng bằng tuệ giác:
“A ha, tất cả mọi thứ đúng là vô thường, chẳng thể nào hoàn toàn mãn nguyện,
và vô ngã”. Ném chúng vào nghĩa địa của 3 đặc tướng phổ quát ấy. Sự chấp thủ,
dính mắc vào những thứ chúng ta đã,
đang và vẫn say mê, thích thú sẽ
không còn nữa.  Chúng ta sẽ
nhìn thấy tất cả mọi thứ về bản chất đều
như nhau. Tất cả mọi thứ chúng ta trải
nghiệm sẽ sản sinh ra tuệ giác xuyên thấu các
pháp.
Tất cả những điều tôi
nói ở trên chỉ đơn giản là
để bạn nghe và suy nghĩ. Tôi chỉ nói chuyện, thế thôi. Khi mọi người đến đây, tôi nói. Những thể loại
chuyện như thế này không phải là thứ để chúng ta ngồi
túm tụm và tán gẫu hàng giờ với nhau. Hãy thực hành nó.
Hãy đến đó và bắt tay làm đi. Giống như chúng ta gọi
bạn mình đi đâu đó.Chúng ta mời họ đi. Họ đã trả lời đồng ý.
Thế rồi chúng
ta im lặng lờ
tịt đi. Chúng
ta nói cho đủ, cho thật
đã, rồi bỏ đó. Tôi có thể nói cho bạn một vài điều về thiền tập,
bởi vì tôi đã hoàn thành công
việc đó. Nhưng bạn biết đấy, tôi có thể sai thì sao. Công việc của bạn là phải tìm hiểu và tự mình tìm ra xem những điều tôi nói đó có phải là
thật hay không.
[1]Chánh
niệm, 
hiểu một cách đơn giản, là sự ý thức về bản thân mình,
là sự chú ý và quan sát một
cách khách quan, như thật (ghi nhận thuần túy) những gì xảy ra trong thân và tâm mình
trong hiện
tại: các cử động của
cơ thể, các tính chất-cảm giác: nóng-lạnh, cứng-mềm, sự chuyển động…, cảm giác xúc chạm trên thân, cảm giácthở;
các cảm
xúc: buồn, giận, mừng, vui, cô đơn, tham dục… cho đến những hoạt động tâm lý vi tế: suy nghĩ,
tưởng tượng, cơ chế phiền não, những chiều hướng tâm lý, định kiến, chấp thủ, ảo
tưởng… Chánh
niệm, có thể nói là trung tâm của phương pháp tu tập tâm do Đức Phật thuyết dạy, dẫn đến phát triển trí tuệ trực giác,
nhận chân được sự thật tuyệt đối của
thân-tâm chúng
ta là vô thường,
khổ, vô
ngã, do đó đoạn diệt tận
gốc rễ những gốc phiền não-đau khổ (kiết sử)
trong tâm con người.
Pháp
hành thiền chánh niệm là sự huân
tập một thói quen luôn chú ý và ý thức về bản
thân mình trong mọi lúc,
luôn quay lại quan sát-cảm nhận-ghi nhận thân-tâm mình trong hiện tại,
một cách trực tiếp (chứ không phải bằngsuy nghĩ hay thông qua ý niệm, ngôn từ)…và
phát triển sự tỉnh giác, ý thức về chính mình một cách liên tục và sâu sắc. Người thực hành chánh niệm có thể tập ghi nhận những gì nổi bật,
dễ ghi
nhận nhất như là
các cử
động của thân khi đi,
đứng, nằm, ngồi, sinh hoạt…các cảm giác trong
thân, sự xúc chạm…hoặc là cảm giác thở
vào-ra khi ngồi thiền, cảm giác trên
chân khi bước đi… Thậm chí, Thiền sư Mahasi
Sayadaw còn dạy phương pháp niệm
thầm: chạm.. chạm, đưa tay..đưa tay, bước.. bước, quay người…quay người,
nóng..nóng, lạnh…lạnh, giận…giận, buồn..buồn…trong giai đoạn đầu thực hành để thiền sinh tự
nhắc mình quay lại ghi nhận bản thân. Khi chánh niệm đã liên tục và tự động, thì chỉ còn lại
sự ghi nhận thuần túy mà không cần phải gọi tên. Ghi nhận thuần túy là thể loại cơ bản và nguyên chất nhất
của chánh
niệm.
[2] Chữ
Pháp trong đạo Phật có ý nghĩa rất rộng. Pháp có nghĩa là tất cả mọi
sự vật, hiện
tượng trên thế gian;
Pháp có nghĩa là phương pháp tu tập dẫn
đến giải
thoát do Đức Phật thuyết dạy; Pháp cũng có nghĩa là các quy luật tự nhiên (di truyền,
nghiệp, tâm, vật lý-hóa học…). Chữ Pháp thiền sư nói
ở đây là các quy luật của
tâm và nghiệp.
[3][3] Thực ra các thuật ngữ Phật Pháp (nhất là trong Vi Diệu Pháp)
rất khó dịch và diễn giải bằng
tiếng Việt, bởi vì chúng không có mặt trong vốn từ vựng thuần Việt của chúng ta.
Các nhà nghiên
cứu Phật học ở Việt Nam từ trước đến nay đều phải vay mượn từ chuyên môn của Trung Quốc nên rất khó hiểu đối với đa phần người
học Phật. Hơn nữa nghĩa của chúng hoàn toàn mơ hồ, mỗi người hiểu một cách. Bởi vì bản thân thuật ngữ Phật họccủa Trung Quốc cũng là vay mượn từ tiếng Sankrit (mà
tiếng Sankrit là ngôn ngữ của
tầng lớp Bà
La Môn Ấn Độ, không phải ngôn ngữ Đức Phật sử dụng để thuyết pháp.
Khi thuyết
pháp ở vùng Bắc Ấn, Đức Phật sử dụngtiếng
Magandha, là ngôn ngữ gốc
của tiếng Pali dùng để ghi chép kinh điển Nguyên thủy ngày
nay). Thuật
ngữPhật học tiếng Hán đa
phần vay mượn từ các truyền thống tư tưởng và tôn giáo bản địa của Trung Quốc nên
nghĩa đã khác xa những gì Đức Phật thực
sự dạy cách đây hơn 2500 năm. Vì vậy, chúng tôi cố gắng tránh sử dụng các thuật ngữ Phật học gốc Trung Quốc,
mà sẽ diễn
giải, trong giới hạn từ
vựng, bằng ngôn ngữ thuần
Việt, để định nghĩa lại các từ chuyên môn gốc Trung Quốc chúng tôi buộc
phải sử
dụng. Tất nhiên, không thể nào hoàn toàn chính xác, bởi vì bản thân ngôn ngữ thuần
Việt của chúng
ta cũng rất hạn hẹp để giải thích nhữngthuật ngữ mà Đức Phật đã
dùng – chính Ngài cũng sử dụng một
số thuật
ngữ sẵn có của Sankrit
thời Ấn
Độ cổ, nhưng đã định nghĩa
lại để tránh hiểu sai. Nếu muốn thực sự hiểu, chúng ta phải
có sự nghiên
cứu sâu sắc và đầy đủ về kinh điển Pali, phải thực hành và thực sự kinh nghiệm trong thực tế những gì Đức Phật đã nói đến trong kinh điển.
Để thực
hành, với sự hướng dẫn của một vị thầy về pháp hành,
không cần quá nhiều đến các khái niệm và thuật ngữ Phật học mơ hồ ấy,
mà sẽ dẫn đến cái hiểu trực tiếp về chúng bằng kinh nghiệm thực tế.
Nếu chỉ dựa
vào những cái hiểu sai khi đọc kinh điển (đã dịch sang tiếng Việt) để gom
nhặt kiến
thức Phật Pháp, và dựa vào đó
để thực
hành, nhất định sẽ
dẫn đến sự lầm đường lạc lối không
thể tránh
khỏi.
[4] Ngũ giới: một người Phật tử nên cố ý tránh xa 5 việc bất thiện loại thô tháo nhất, đó là sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói dối,
uống rượu và các chất say. Đây là nền tảng giới hạnh cơ
bản nhất cho sự phát triển tâm linh. Người làm những hành động bất thiện này, tùy theo mức
độ nặng nhẹ mà có thể sẽ phải tái sanh trong
nhữngcảnh giới khổ
như Súc
sanh, Atula, Ngạ quỷ, Địa ngục.
[5] Phiền não (kilesa)
là những gốc ô nhiễm trong
tâm, những trạng thái tâm
làm động
lực thúc đẩy chúng ta làm
các hành động bất thiện. Trong tâm một con người bình thường phiền não tồn tại dưới rất nhiều hình thức và cung bậc khác nhau. Nó thường được
rút gọn thành ba loại phiền não cơ
bản là tham, sân và si như là nguồn gốc của tất cả các loại phiền não. Trạng thái tồn tại căn bản của phiền não được
gọi là lậu
hoặc (āsava), nghĩa
là những gì bị tiết ra, rỉ ra như mủ rỉ ra từ vết thương. Lậu hoặc là những thứ cần phải đoạn trừ để đạt tới giác ngộgiải
thoát. Do đó, phẩm chất tâm linh cốt
yếu và cao cả nhất của một bậc thánh Alahán là āsavakkhaya, lậu tận. āsavadịch
ra theo nghĩa
đen là phiền não tùy miên (phiền nãongủ ngầm – anusaya
kilesa
), ám chỉ những
gốc ngủ ngầm nằm ẩn trong những tầng mức sâu kín nhất của tâm. Những gốc ngủ
ngầm này cực kỳ vi tế và
khó quan
sát, nhưng luôn chờ cơ hội để hiển lộ ra
thành các
loại phiền não, chi phối những
hành động về thân, khẩu, ý của chúng ta.
[6] Sát na định là
định kéo dài trong khoảnh khắc ngắn ngủi, nhưng lặp đi lặp lại liên tục.
Bởi vì chỉ kéo dài trong một khoảnh khắc (sát na),
nên nó không nhất thiết phải
giữ nguyên trên một đề mục duy nhất, mà có thể trên nhiều đề mục thay đổi liên tục. Sát na định là nền tảng không thể không có để phát triển tuệ quán đến đạo quả, bởi vì dù có đắc các tầng thiền chỉ,
thì thiền
sinh cũng không thể quán chiếu khi còn ở trong tầng thiền ấy, mà phải
xuất ra khỏi nó, sử dụng sát na định để quán chiếu các đề mục thay
đổi trong thân-tâm, nhằm trực nhậncác đặc tính vô thường, khổ, vô ngã của
chúng. Thiền
chỉ sử dụng khái
niệm làm để mục, chỉ sử dụng một đề mục duy nhất và loại trừ các đề mục khác. Thiền vipassana sử dụng thực tại chân đế làm đề mục và đề mụcmở rộng,
bất cứ đối tượng nào trong thân tâm cũng
có thể là đề mục có giá trị như nhau. Khái niệm (tên gọi, ý niệm…
ta đặt cho sự vật, hiện tượng) thì không có vô thường,
khổ, vô
ngã. Chỉ có thực tại được nhận thức trực tiếp (các tính chất tự nhiên:
nóng, lạnh, cứng, mềm, nặng, nhẹ, chuyển động…) mới có vô thường,
khổ, vô
ngã.
(sutamphap.com)

 

 

NHỮNG ĐIỂM KHÁC BIỆT QUAN TRỌNG VỚI TÔN GIÁO KHÁC Tuệ Uyển chuyển ngữ

NHỮNG ĐIỂM KHÁC BIỆT QUAN TRỌNG VỚI TÔN GIÁO KHÁC 
Tuệ Uyển chuyển ngữ
NHỮNG ĐIỂM KHÁC BIỆT QUAN TRỌNG VỚI TÔN GIÁO KHÁC
MAJOR DIFFERENCES FROM OTHER REGILIONS
1- Không có một đấng Thượng Đế toàn năng trong Đạo Phật. Không có ai đưa ra sự tưởng thưởng hay trừng phạt trong một Ngày Phán Xét giả định.
1. There is no almighty God in Buddhism. There is no one to hand out rewards or punishments on a supposedly Judgement Day.
2- Đạo Phật hoàn toàn không phải là mộttôn giáo trong phạm vi của một đức tin vàthờ phượng do lòng trung thành một thếlực siêu nhiên.
2. Buddhism is strictly not a religion in the context of being a faith and worship owing allegiance to a supernatural being.
3- Không có khái niệm cứu rỗi trong Đạo Phật. Một Đức Phật không phải là một đấng cứu rỗi bằng năng lực cứu độ cá nhân của Ngài. Mặc dù người Phật tử quy y với Đức Phật như bậc hướng dẫn vô song, bậc chỉ con đường của tịnh hóa, nhưng người Phật tử không như đầu phụcnhư nô lệ. Người Phật tử không nghĩ rằng người ấy có thể đạt đến sự tịnh hóa chỉđơn thuần bằng việc quy y với Đức Phậthay chỉ bằng việc có niềm tin trong Ngài. Không phải vì năng lực của Đức Phật mà rửa sạch sự ô nhiễm của kẻ khác.
3. No saviour concept in Buddhism. A Buddha is not a saviour who saves others by his personal salvation. Although a Buddhist seeks refuge in the Buddha as his incomparable guide who indicates the path of purity, he makes no servile surrender. A Buddhist does not think that he can gain purity merely by seeking refuge in the Buddha or by mere faith in Him. It is not within the power of a Buddha to wash away the impurities of others
4- Một Đức Phật không phải là một hiện thân của thần linh/ Thượng đế (như một sốtín đồ Ấn Giáo tuyên bố). Mối quan hệ giữaĐức Phật và đệ tử của Ngài và tín đồ là của một vị thầy và học nhân.
4. A Buddha is not an incarnation of a god/God (as claimed by some Hindu followers). The relationship between a Buddha and his disciples and followers is that of a teacher and student.
5- Sự giải thoát tự ngã là trách nhiệm của tự thân. Đạo Phật không kêu gọi một đức tin mù quáng vô điều kiện đối với tất cả mọitín đồ Đạo Phật. Nó đặt nặng yếu tố tự chủ,tự giác và phấn đấu cá nhân.
5. The liberation of self is the responsibility of one’s own self. Buddhism does not call for an unquestionable blind faith by all Buddhist followers. It places heavy emphasis on self-reliance, self discipline and individual striving.
6- Quy y với Ba Ngôi tôn quý là Phật, Pháp và Tăng; không có nghĩa là tự đầu hànghay hoàn toàn nương tựa vào một sức mạnh ngoại tại hay một phía thứ ba cho việc hổ trợ hay cứu rỗi.
6. Taking refuge in The Triple Gems i.e. the Buddha, the Dharma and the Sangha; does not mean self-surrender or total reliance on an external force or third party for help or salvation.
7- Giáo Pháp (giáo lý Đạo Phật) tồn tại bấtchấp có một Đức Phật hay không. Đức Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni (Đức Phật lịch sử) khám phá và chia sẻ giáo lý/ lẻ thật phổ quát với tất cả chúng sanh. Ngài không phải là đấng sáng tạo ra những giáo lý như vậy cũng không phải là sứ giả của một Thượng Đế toàn năng trao truyền những giáo lý như vậy cho người khác.
7. Dharma (the teachings in Buddhism) exists regardless whether there is a Buddha. Sakyamuni Buddha (as the historical Buddha) discovered and shared the teachings/ universal truths with all sentient beings. He is neither the creator of such teachings nor the prophet of an almighty God to transmit such teachings to others.
8- Nhấn mạnh một cách đặc biệt trong Đại thừa Phật giáo là tất cả chúng sanh có Phật tánh/ bản thể. Một người có thể thành một Đức Phật (một chúng sanh siêu việtGiác Ngộ) qua một tiến trình  tu tập nếu người ấy thực hành một cách cần mẫn vàđạt đến sự tịnh hóa của tâm thức (hoàn toàn không còn vọng tưởng hay phiền não).
8. Especially emphasized in Mahayana Buddhism, all sentient beings have Buddha Nature/ Essence. One can become a Buddha (a supreme enlightened being) in due course if one practises diligently and attains purity of mind (ie absolutely no delusions or afflictions).
9- Trong Đạo Phật, mục tiêu tối hậu của tín đồ/ hành giả là Giác Ngộ và/ hay giải thoátkhỏi vòng luân hồi; thay vì đi đến một Thiên đàng ( hay thế giới chư thiên trong phạm trù của vũ trụ quan Phật giáo).
9. In Buddhism, the ultimate objective of followers/practitioners is enlightenment and/or liberation from Samsara; rather than to go to a Heaven (or a deva realm in the context of Buddhist cosmology).
10- Nghiệp và nghiệp lực là viên đá nền tảng của giáo lý nhà Phật. Chúng đượcgiảng nghĩa rất kỷ lưởng trong Đạo Phật. Nghiệp liên quan đến một khái niệm siêu hình quan trọng liên hệ với hành động và những hệ quả của nó. Quy luật về nghiệp này giải thích vấn nạn của những khổ đau,bí ẩn của điều được gọi là số mạng và tiền định của một số tôn giáo, và ở trên tất cả sự bất bình đẳng hiển nhiên của loài người.
10. Karma and Karma Force are cornerstones in Buddhist doctrines. They are expounded very thoroughly in Buddhism. Karma refers to an important metaphysical concept concerned with action and its consequences. This law of karma explains the problem of sufferings, the mystery of the so-called fate and predestination of some religions, and above all the apparent inequality of mankind.
11- Tái sanh là một giáo lý chìa khóa khác trong Đạo Phật và nó liên hệ mật thiết với nghiệp. Có một sự khác biệt vi tế giữa tái sanh và đầu thai như được giải thích trong Ấn giáo. Đạo Phật phủ nhận lý thuyết về một sự đầu thai của linh hồn thường còn, cho dù nó được tạo ra bởi thượng đế hayhiện thân từ một bản thể thần linh.
11. Rebirth is another key doctrine in Buddhism and it goes hand in hand with karma. There is a subtle difference between rebirth and reincarnation as expounded in Hinduism. Buddhism rejects the theory of a transmigrating permanent soul, whether created by a god or emanating from a divine essence.
12- Từ ái (sankrit: Maitri, pali: Metta) và Bi mẫn (karuna) đối với tất cả chúng sanh kể cả thú vật. Đạo Phật cấm chỉ triệt để việc giết hại súc sanh để cúng tế dù cứ lý do gì. Việc ăn chay được khuyến khích nhưng không bắt buộc.
12. Maitri or Metta in Pali (Loving Kindness) and Karuna (Compassion) to all living beings including animals. Buddhism strictly forbids animal sacrifice for whatever reason. Vegetarianism is recommended but not compulsory.
13- Tầm quan trọng của việc Không dính mắc – hành xả. Đạo Phật vượt khỏi hành động tốt và biểu hiện tốt. Hành giả không được dính mắc với những hành vi tốt hay ý tưởng làm việc tốt; bằng khác đi chỉ là mộthình thức khác của tham chấp.
13. The importance of Non-attachment. Buddhism goes beyond doing good and being good. One must not be attached to good deeds or the idea of doing good; otherwise it is just another form of craving.
14- Trong Đạo Phật, có sự quan tâm cho tất cả chúng sanh (đối với con người, như trong những tôn giáo khác). Người Phật tửnhìn nhận sự tồn tại của thú vật và nhữngchúng sanh trong các cõi khác của vòngLuân Hồi.
14. In Buddhism, there is consideration for all sentient beings (versus human beings, as in other religions). Buddhists acknowledge/accept the existence of animals and beings in other realms in Samsara.
15- Không có khái niệm thánh chiến trongĐạo Phật. Giết hại là phạm một giới đạođức then chốt trong Đạo Phật. Phật tử bịcấm chỉ triệt để việc giết hại người khácnhân danh tôn giáo, một lãnh tụ tôn giáohay viện cớ tôn giáo hay lý do trần tục.
15. No holy war concept in Buddhism. Killing is breaking a key moral precept in Buddhism. One is strictly forbidden to kill another person in the name of religion, a religious leader or whatsoever religious pretext or worldly excuse.
16- Khổ đau là một nền tảng khác của Đạo Phật. Đó là chân lý thứ nhất trong Tứ Diệu Đế. Khổ đau được phân tích và giải thíchrất tỉ mỉ trong Đạo Phật.
16. Suffering is another cornerstone in Buddhism. It is the first of the Four Noble Truths. Sufferings are very well analysed and explained in Buddhism.
17- Ý tưởng về nguyên tội hay tội tổ tôngkhông có vị trí trong Đạo Phật. Cũng thế, nguyên tội không nên bị đánh đồng với khổ đau.
17. The idea of sin or original sin has no place in Buddhism. Also, sin should not be equated to suffering.
18- Giáo lý Đạo Phật nói về sự không có khởi đầu và không kết thúc (vô thỉ và vô chung) đối với sự tồn tại của con ngườihay sự sống. Hầu như không có sự quan tâm đến nguyên nhân đầu tiên – hay như đầu tiên con người hình thành như thế nào? (Vì chúng ta sẽ đòi hỏi nguyên nhâncủa nguyên nhân đầu tiên …)
18. Buddhist teachings expound no beginning and no end to one’s existence or life. There is virtually no recognition of a first cause — e.g. how does human existence first come about? (Because we will ask for the cause of the first cause…).
19- Giáo pháp cung ứng một giải thích rấtchi tiết về giáo lý vô ngã (sankrit: anatman, Pali: anatta), nghĩa là không có thực thểlinh hồn (cho dù trong một kiếp sống hay nhiều kiếp sống).
19. The Dharma provides a very detailed explanation of the doctrine of anatman {anatta in Pali} or soullessness , i.e. there is no soul entity (whether in one life of many lives).
20- Đức Phật là toàn giác toàn tri nhưng không toàn năng. Ngài có thể thực hiện vô lượng công đức nhưng có 3 việc Ngài không thể làm (không thể dứt hết nghiệp chướng của chúng sanh, không thể dứt hết khổ đau của chúng sanh, không thể độ tận chúng sanh). Cũng thế, một Đức Phậtkhông tự nhận là một đấng tạo ra những sự sống hay vũ trụ.
20. The Buddha is omniscient but he is not omnipotent. He is capable of innumerable feats but there are three things he cannot do. Also, a Buddha does not claim to be a creator of lives or the Universe.
21- Bát nhã (Prajna [Sankrit], Panna [Pali])Tuệ trí Siêu việt chiếm vị trí chính yếu tronggiáo lý Đạo Phật. Đức Thế Tôn Thích Cagiảng dạy khái niệm Bát nhã trong gần 20 năm cho giáo đoàn. Nó được dạy để cân bằng từ bi và tuệ trí nghĩa là cảm xúc (đức tin) với nhân tố căn bản (chánh kiến/ lẻ thật/ luận lý).
21. Prajna [Panna in Pali] or Transcendent Wisdom occupies a paramount position in Buddhist teachings. Sakyamuni Buddha expounded Prajna concepts for some 20 years of his ministry. One is taught to balance compassion with prajna i.e.emotion (faith) with rationale (right understanding / truth / logic).
22- Truyền thống và hành thiền trong Đạo Phật tương đối quan trọng và mạnh mẽ. Trong khi tất cả mọi tôn giáo dạy một sốhình thức hay sự đa dạng của thiền định /nhất tâm thiền (chỉ), thì chỉ có Đạo Phậtnhấn mạnh thiền quán/ thiền phân tích (Tuệ minh sát) như một khí cụ đầy năng lực để giúp hành giả trong việc tìm kiếmgiải thoát hay Giác Ngộ.
22. The tradition and practice of meditation in Buddhism are relatively important and strong. While all religions teach some forms or variations of stabilising/single-pointedness meditation, only Buddhism emphazises Vipassana (Insight) meditation as a powerful tool to assist one in seeking liberation/enlightenment.
23- Giáo lý Tánh không hay Sunyata là đặc biệt của Đạo Phật và nhiều khía cạnh của nó được giải thích cặn kẻ trong giáo lý Đạo Phật phát triển. Một cách tóm lược, giáo lýnày thừa nhận bản chất siêu việt của Thực tại Cứu kính. Nó tuyên bố thế giới hiện tượng là trống rỗng mọi giới hạn của diễn tả và rằng mọi khái niệm của thế giới nhị nguyên bị xóa tan.
23. The doctrine of Sunyata or Emptiness is unique to Buddhism and its many aspects are well expounded in advanced Buddhist teachings. Briefly, this doctrine asserts the transcendental nature of Ultimate Reality. It declares the phenomenal world to be void of all limitations of particularization and that all concepts of dualism are abolished.
24- Nhân duyên [Paticcasamuppada: Pali] hay Duyên khởi là một giáo lý then chốtkhác của Đạo Phật. Giáo lý này giải thíchrằng tất cả mọi hiện tượng tâm lý và vật lýcấu thành sự tồn tại cá thể là phụ thuộc lẫn nhau và điều kiện cần thiết hổ tương với nhau; điều này đồng thời diễn tả những gì làm chúng sanh bị vướng mắc vào vòngluân hồi.
24. Conditioned Arising [Paticcasamuppada in Pali] or Dependent Origination is another key doctrine in Buddhism. This doctrine explains that all psychological and physical phenomena constituting individual existence are interdependent and mutually condition each other; this at the same time describes what entangles sentient beings in samsara.
26- Khái niệm về địa ngục trong Đạo Phậtcũng rất khác biệt với nhưng tôn giáo khác. Nó không là một nơi cho kiếp đọa đày vĩnh viễn như cái nhìn của những tôn giáo thờ ‘đấng tạo hóa toàn năng’. Trong Đạo Phật, nó chỉ là một trong sáu cõi Luân hồi [chỗ tệ hại nhất của ba thế giới khổ đau không ai muốn]. Cũng thế, hầu như có vô số địa ngục trong vũ trụ quan Phật giáo như có vô số cõi Phật.
25. The concept of Hell(s) in Buddhism is very different from that of other religions. It is not a place for eternal damnation as viewed by ‘almighty creator’ religions. In Buddhism, it is just one of the six realms in Samsara [i.e. the worst of three undesirable realms]. Also, there are virtually unlimited number of hells in the Buddhist cosmology as there are infinite number of Buddha worlds.
26- Vũ trụ quan Phật giáo là khác biệt rõ ràng với những tôn giáo khác vốn thường nhìn nhận chỉ có thái dương hệ (Trái Đất) này như trung tâm của Vũ trụ và hành tinhduy nhất có sự sống. Quan điểm của Đạo Phật về một thế giới Phật (cũng được biết như Ba Nghìn Đại
Thiên thế giới) là có hàng tỉ thái dương hệ. Bên cạnh đó, giáo lý Đại thừa Phật giáogiải thích rằng có những hệ thống thế giớihiện tại như Tịnh độ của Đức Phật Di Đàvà Đức Phật Dược Sư.
26. The Buddhist cosmology (or universe) is distinctly different from that of other religions which usually recognise only this solar system (Earth) as the centre of the Universe and the only planet with living beings. The Buddhist viewpoint of a Buddha world (also known as Three Thousand-Fold World System) is that of one billion solar systems. Besides, the Mahayana Buddhist doctrines expound that there are other contemporary Buddha worlds like Amitabha’s Pure Land and Bhaisajyaguru’s world system.
27- Luân  hồi là một khái niệm nền tảng trong Đạo Phật và nó đơn giản là ‘những chu kỳ tồn tại bất tận’ hay những vòng sinh tử không ngừng của sáu cõi luân hồi. Hình thức tái sanh theo chu kỳ chỉ chấm dứt khi một chúng sanh thành tựu Niết bàn, có nghĩa là sự cạn hết nghiệp chướng, dấu vết thói quen, nhiễm ô và vọng tưởng. Tất cả những tôn giáo khác giảng rằng chỉ có một thiên đàng, một trái đất và một địa ngục, nhưng quan điểm này rất giới  hạn so với vòng luân hồi của Đạo Phật nơi màthiên đàng chỉ một trong sáu cõi luân hồivà  nó có 28 cấp độ/ tầng.
27. Samsara is a fundamental concept in Buddhism and it is simply the ‘perpetual cycles of existence’ or endless rounds of rebirth among the six realms of existence. This cyclical rebirth pattern will only end when a sentient being attains Nirvana, i.e. virtual exhaustion of karma, habitual traces, defilements and delusions. All other religions preach one heaven, one earth and one hell, but this perspective is very limited compared with Buddhist samsara where heaven is just one of the six realms of existence and it has 28 levels/planes.
Tuệ Uyển chuyển ngữ
Ẩn Tâm Lộ, Thursday, December 15, 2016
http://www.buddhanet.net/e-learning/snapshot01.htm