Chuyên mục lưu trữ: Kinh

PHÁP ẤN

PHÁP ẤN 

Thích Nguyên Hùng

phap anPháp ấn, tiếng Phạn dharma-mudrā, trong đó dharma là pháp, là những lời dạy của Đức Phật, và mudrā là dấu ấn, là khuôn dấu, là đặc chất, là tiêu chuẩn. Ấn còn có nghĩa là chân thậtbất độngbất biến, như ấn tín củaquốc vươngPháp ấn là dấu ấn của Chánh pháp, là dấu hiệu đặc trưng để nhận biết Phật pháp, nhưng cũng có thể là chỉ cho giáo pháp cô đọng, tinh yếu, cốt tủy, tức làpháp yếu.

Sau này, nhiều trăm năm sau Phật Niết-bàn, thuật ngữPháp ấn được dùng để chỉ cho kinh điển do Phật thuyết, ngược lại, kinh điển nào có nội dung tư tưởng trái ngược với pháp ấn thì được coi là kinh điển không doPhật thuyết.

Những bản kinh sau đây sẽ cho chúng ta thấy khái niệm pháp ấn được Đức Thế Tôndùng để giảng dạy những giáo lý nhiệm mầu, thâm sâu; những pháp hành căn bản đểthành tựu giải thoát.

Thánh pháp ấn là khuôn dấu về Chánh pháp của bậc Thánh, pháp ấn của bậc Thánh, hay pháp này chính là pháp hànhpháp yếu căn bản đi đến thành tựu Thánh quả. Kinh ghi: “Này các Tỳ-kheo, thế nào là Thánh pháp ấn? Thánh pháp ấn này nếu được tu tập sẽ đưa đến tri kiến thanh tịnhGiả sử vị Tỳ-kheo ở chỗ nhàn cư, hoặc ngồi dưới gốc cây, chốn không nhàn, quán sát nhận biết rõ sắc là vô thường, thấy sắc vốn không có. Đãnhận biết rõ vô thườnghiểu rõ đến chỗ Không, Vô đều là hình dung biến hóa nhanh chóng, vô ngã, vô dục, cho nên tâm liền ngưng nghỉ, tự nhiên thanh tịnh mà được giải thoát.”1

Thánh pháp ấn ở đây được nhận diện là vô thường, không, vô ngã và Niết-bàn.

Tự tánh không

Pháp ấn là pháp của Phật, siêu việt, không thể nghĩ bàn, tri kiến không thể đạt tới. Kinh ghi: “Tự tánh Không, không có sở hữu, không vọng tưởng, không sanh, không diệt, thoát ly mọi tri kiến. Tại sao? Vì tánh Không, không có xứ sở, không có sắc tướng, không có tưởng, nó vốn không sanh, không phải chỗ mà tri kiến có thể đạt tới, thoát ly mọi vướng mắc; vì do thoát ly mọi vướng mắc, nên hết thảy pháp nó đều dung nhiếp, an trú tri kiếnbình đẳng, tức là tri kiến chân thực. Tỳ-kheo nên biết, tánh Không là như vậy, các pháp cũng là như vậy, đó gọi là pháp ấn.2

Ở đây, tánh Không là pháp ấn.

Tam giải thoát môn

Có khi Đức Phật nói ba cánh cửa giải thoát là pháp ấn. Kinh ghi: “Pháp ấn này chính là bagiải thoát môn, là pháp căn bản của chư Phật, là đôi mắt của chư Phật, đó là chỗ quy thú của chư Phật.”3

Rồi Đức Phật giải thích, nếu ai tu tậpquán sát đúng như thật rằng: “Sắc là khổ, là không, là vô thường, nên sinh khởi sự nhàm chán và thoát ly chúng, an trú tri kiến bình đẳng. Cũng giống như thế, quán sát: thọ, tưởng, hành và thức, là khổ, là không, nên sinh khởisự nhàm chán và thoát ly chúng, an trú tri kiến bình đẳng.

“Này các Tỳ-kheo! Các uẩn vốn là không tự tánh, do tâm mà có sinh, khi tâm pháp diệt tận rồi, thì các uẩn không còn tác khởi.

“Thấu suốt rõ ràng như thế, tức là trực tiếp giải thoát, đã trực tiếp giải thoát rồi, thì thoát lymọi tri kiến. Đây gọi là Không giải thoát môn.

“Lại nữa, an trụ ở trong tam-muội, quán chiếu các sắc cảnh, hết thảy chúng đều diệt tận,thoát ly mọi ấn tượng. Cũng vậy, với thanh, hương, vị, xúc và pháp, cũng đều diệt tận,thoát ly mọi ấn tượngquán sát như vậy, gọi là Vô tưởng giải thoát môn. Vào cửa giải thoát này rồi, liền thành tựu được tri kiến thanh tịnh. Do vì có sự thanh tịnh đó, nên tham, sân và si hết thảy chúng đều diệt tận. Những thứ ấy, đã diệt tận rồi, thì liền an trú tri kiếnbình đẳng.

“Đã an trú vào tri kiến này rồi, tức là thoát ly kiến về ngã cùng với kiến về ngã sở, tức liền thấu suốt rõ ràng mọi kiến, không sở sinh, không có chỗ y chỉ.

“Lại nữa, đã thoát ly kiến về ngã rồi, tức không còn kiến, văn, giác và tri.

Tại sao vậy? Vì do nhân duyên, mà các thức sinh khởi, thì tức nhân duyên đó, cùng với thức được sinh ra, hết thảy chúng đều vô thường. Do vì nó vô thường, cho nên thức bất khả đắcThức uẩn đã không, thì không có chỗ tạo tác. Gọi là Vô tác giải thoát môn.”4

Bốn pháp thù thắng

Một thời, Đức Thế Tôn du hóa ở cung Hải Long vương cùng với 1.250 vị Tỳ-kheo, và số đông các hàng Đại Bồ-tát. Bấy giờ, Long vương Sāgara bạch với Thế Tôn“Kính bạch Thế Tôn! Có pháp gì mà người thọ trì chút ít lại được phước nhiều không?”

Khi ấy, Phật bảo Hải long vương“Có bốn pháp thù thắng, nếu ai thọ trìđọc tụng, hiểu nghĩa, thì dụng công tuy ít mà được phước rất nhiều, so với công đức của người đọc tụngtám vạn bốn ngàn pháp tạng không khác. Bốn pháp đó là gì? Là thường tư  duy: các hànhvô thường, tất cả đều khổ, các pháp vô ngã và chỉ có Niết-bàn là an lạc.Long vương nên biết, đây là bốn pháp thù thắng, hàng Đại Bồ-tát Vô tận pháp trí, sớm chứng vô sanh,  mau đến viên tịch, là vì họ thường tư duynghiền ngẫm bốn pháp này!5

Vô thường, khổ, vô ngã, Niết-bàn được cho là bốn pháp ấn!

Ba pháp ấn

Một thời, sau khi Thế Tôn vào Niết-bàn không bao lâu, Trưởng lão Channo đi khắp nơi đểthỉnh cầu các Tỳ-kheo chỉ dạy, rằng “xin chỉ dạy tôi, nói pháp cho tôi, để cho tôi biết pháp, thấy pháp và tôi có thể như vậy mà quán sát pháp.”

Bấy giờ, các Tỳ-kheo nói với Channo: Sắc là vô thường. Thọ, tưởng, hành, thức là vô thường. Tất cả các hành đều vô thường. Tất cả các pháp đều vô ngã. Niết-bàn là tịch diệt”. 6

Chữ ‘hành’ ở đây chỉ cho tất cả mọi hiện tượng sinh diệtbiến hóa; nó đồng nghĩa với từ ‘hữu vi’. Tất cả mọi hiện tượng chưa từng dừng nghỉ quá trình chuyển động dù chỉ trong nháy mắt, chúng luôn luôn thay đổi, sinh diệt và biến hóa, cho nên nói ‘chư hành vô thường’: tất cả mọi hiện tượng đều luôn thay đổi, không thường hằng bất biếnHiện tượngở đây bao hàm cả vật chất lẫn tinh thần, chúng biến đổi liên tục không gián đoạn.

Vô thường, anitya hoặc anityatā, có nghĩa là tất cả các pháp hữu vi ở thế gian không có gìtồn tại mãi mãi, cái gì cũng thay đổi, biến hóasanh diệt không dừng. Tất cả các pháp hữu vi đều do nhân duyên mà sanh và đều có bốn tướng trạng: sanh, trụ, dị, diệt, gọi là tứ tướng vô thường. Bốn tướng này sanh diệt trong từng sát-na, sanh đó liền diệt đó.

Luận Đại trí độ, quyển 43, nói vô thường có hai loại, là niệm niệm vô thường và tương tụcvô thường.

– Niệm niệm vô thường: Trong mỗi niệm, trong mỗi sát-na, các pháp hữu vi trải qua bốn tướng trạng sanh, trụ, dị, diệt; niệm này vừa sanh liền diệt, vừa diệt liền sanh, liên tụckhông gián đoạn.

– Tương tục vô thườngVô thường tiếp nối vô thường tạo thành một dòng chảy vô thườngtương tục: sanh, trụ, dị, diệt, rồi lại sanh, trụ, dị, diệt…

Luận Biện trung biên, quyển trung, phân tích vô thường thành ba loại: vô tính vô thường,sanh diệt vô thường và cấu tịnh vô thường.

– Vô tính vô thường: Còn gọi là vô vật vô thường. Tính biến kế sở chấp (các pháp vốn không có tự tính, do chúng sanh suy diễnvọng tưởng [biến kế] rồi chấp vào đó mà cho là có tự tính), vì tính của nó là thường Không. Thành duy thức luận thuật ký giải thích: Vì thể tính thường không, tức là cái tính ban đầu, mà luận Biện trung biên gọi là Vô hữu vật (không có vật gì cả), thật sự thì không có gì vô thường cả (vì không có vật thì làm gì có vật vô thường?), cho nên nói các hành vô thường chỉ là một cách nói tạm thời.

– Sanh diệt vô thường: Còn gọi là khởi tận vô thường. Các pháp nương vào nhau màsanh khởi, nương vào cái khác mà sinh khởi (y tha khởi), tức là đều do duyên mà sanh, cho nên nó cũng sẽ do duyên mà diệt tận, vì vậy mà gọi là sanh diệt vô thường.

– Cấu tịnh vô thường: Còn gọi là hữu cấu vô cấu vô thường. Các pháp viên thành thật cũng chuyển biến vô thườngbản chất của nó không có dơ hay sạch. Nếu ở trong dòngsanh tử mà nói thì gọi là dơ, nếu cắt đứt dòng sanh tử rồi thì gọi là tịnh, cho nên cấu hay tịnh đều vô thường.

Ngoài ra, luận Thuận trung, quyển hạ, cũng nói vô thường có ba loại là niệm niệm hoại diệt vô thườnghòa hợp ly tán vô thường và tất cánh như thị vô thườngĐại thừa nghĩa chương, ở quyển 2 và quyển 18 cũng đề xuất ba loại vô thường là phân đoạn vô thường,niệm vô thường và tự tánh bất thành vô thường. Về mặt tên gọi vô thường trong hai bộ luận vừa nêu khác nhau nhưng ý nghĩa thì tương đồng.

Luận Hiển dương thánh giáo, quyển 14 thì đề xuất sáu loại và tám loại vô thường. Sáu loạivô thường là:

a) Vô tính vô thường: Nghĩa là tất cả các pháp tính vốn không, là tính biến kế, chứ không phải thật có, như hoa đốm giữa hư không, tính của nó là thường không (thường không có thật).

b) Thất hoại vô thường: Các pháp đều hoại diệt và biến mất vô thường.

c) Chuyển dị vô thường: Chuyển dị là thay đổi thành cái khác, biến thành cái khác. Cácpháp thường đổi khác như thế, giống như đứa bé trong bào thai luôn chuyển đổi trong suốt mười tháng hoài thai thì mới lớn lên thành người được.

d) Biệt ly vô thường: Có hợp có tan.

e) Đắc vô thườngHiện tại thọ cái quả vô thường là do cái nhân vô thường đã tạo.

f) Đương hữu vô thường: Các pháp đang hiện hữu nhưng thực chất đang chuyển hóa liên tục qua bốn tướng trạng thành, trụ, hoại, không.

Tám loại vô thường là: 1. Sát-na vô thường, 2. Tương tục vô thường, 3. Bệnh vô thường, 4. Lão vô thường, 5. Tử vô thường, 6. Tâm vô thường, 7. Khí vô thường, 8. Thọ dụng vô thường. Trong đó, sát-na và tương tục là hai loại vô thường có mặt khắp mọi nơi; bệnh, lão, tử là ba loại vô thường ở nơi sắc thân; tâm vô thường là chỉ cho tâm thức luôn thay đổi; khí và thọ dụng là hai loại vô thường ở nơi sắc bên ngoài thân.

Liên quan đến tướng trạng vô thường, các kinh luận phần nhiều dùng những hình ảnh đểdiễn tả, như kinh Kim cương bát-nhã, dùng hình ảnh giấc mộngảo thuật, bọt nước, cái bóng, hạt sương, tia lửa điện để thuyết minh tất cả các pháp hữu vi đều vô thườngkhông thật.

Đại tạng pháp sốquyển 46, thì căn cứ vào Tông cảnh lục liệt kê tám thí dụ là nước xuôi về đông, mặt trời xế bóng, chớp lòe đá lửa, bóng câu qua khe cửa, đèn chong trước gió, sương đầu ngọn cỏ, cây khô vách núi, chớp lòe trước mắt để chỉ tính chất vô thường của các pháp.

A-tỳ-đạt-ma tạp luận, quyển 6, cũng nêu các tướng trạng vô thường, tóm lược có 12 loại, đó là tướng không có thật, tướng hoại diệt, tướng biến dị, tướng biệt ly, tướng hiện tại, tướng tự nhiên, tướng sát-na, tướng tương tục, tướng bệnh yếu, tướng tâm hành mỗi mỗi thay đổi, tướng hưng suy, tướng thế gian thành rồi hoại.

Ngày nay, khoa học tự nhiên dường như đã làm sáng tỏ thêm khái niệm vô thường củaPhật giáoHồi trước, người ta cho rằng, nguyên tử, đơn vị vật chất nhỏ nhất, là bất biến, không thay đổi; nhưng ngày nay người ta đã chứng minh được nguyên tử cũng thay đổi, không phải là bất biến, và cũng không phải là vật chất nhỏ nhất. Bên trong hạt nguyên tử còn có điện tử, trung tử… chúng có thể tính luôn luôn vận động kết hợp mà thành. Vật chất nhỏ bé nhất có thể nói là lạp tử, nhưng lạp tử cũng không phải là một vật chất cố định, bất biến; nó cũng thường xuyên biến hóa. Những khám phá mới của khoa học này ngày nay ai cũng biết. Vật chất hình thành từ những nguyên tử phức hợp, từ vật chất nhỏ nhất cho đến vật chất cực lớn như thiên thể vũ trụ, đều hình thành từ những hạt cơ bản có tính chất vật lý, hóa học biến hóa không dừng. Sự khám phá khoa học này đã thêmmột lần nữa chứng minh giáo lý ‘chư hành vô thường’ của Phật giáo luôn là chân lý.

Tuy nhiênPhật giáo không dựa vào khoa học để tồn tại! Phật giáo nhận thức các pháp vô thường không phải bằng phương pháp phân tích của khoa học mà bằng thực nghiệm hiện lượng hay trực giác chứng ngộ.

Chữ ‘pháp’ trong ‘chư pháp’ cùng một ý nghĩa với ‘chư hành’, đều chỉ cho tất cả mọi hiện tượng.

Vô ngã là không có cái ngã. Khái niệm về ngã, trong tư tưởng triết học và tôn giáo của Ấn Độ cổ đại thường chỉ cho bản thể hoặc thật thể vĩnh hằng, không bị sanh diệtbiến hóa.Phật giáo cho rằng, cái thật thể hay bản thể nằm ngoài kinh nghiệm nhận thức của con người, nó có tồn tại hay không chúng ta không có phương pháp nào để xác định nhận biết, cho nên gọi nó là vô ký, và do đó Đức Phật khuyên các Tỳ-kheo không nên tìm hiểuvề vấn đề này.

Dưới một ý nghĩa nào đó, Phật giáo không nói ‘ngã’ không có thật thể, nhưng Phật giáonói, ở trong thế giới của chúng ta, tất cả mọi pháp đều vô ngã. Do đó, khi nói ‘chư pháp vô ngã’ có nghĩa là tất cả mọi sự vật đều không có ngã.

Đại đa số quần chúng đều dễ dàng tiếp nhận ý nghĩa ‘chư hành vô thường’, nhưng đối vớiý nghĩa ‘chư pháp vô ngã’ thì ngoại đạo không thể chấp nhận được, cho nên, giáo lý ‘chư pháp vô ngã’ trở thành giáo lý duy nhất của Phật giáo.

Thuở Phật còn tại thế, các tôn giáo bấy giờ đều cho rằng tất cả mọi sự vật đều có bản thểtồn tại vĩnh viễn bất sanh bất diệtBản thể đó gọi là Ngã (atman). Tôn giáo bấy giờ khi đề cập đến Phạm, đề cập đến Ngã, tức là đều chỉ cho cái bản thểBản thể hay thật thể củavũ trụ gọi là Phạm (brahaman), còn bản thể hay thật thể của cá nhân thì gọi là Ngã (atman).

Phật giáo cho rằng, cái bản thể đó con người không thể nhận thức được, cũng không cóphương pháp gì để chứng minh nó có tồn tại hay không, cho nên Phật giáo gọi là vô ký, tức không xác định. Hơn nữa, cái bản thể hay thật thể này nó không có quan hệ gì đếnhiện tượng giới và thế giới của chúng ta, nó cũng không có lợi ích gì đến sự nghiệp tu hành giải thoát, do đó không cần phải đem nó ra đặt vấn đề để nghiên cứu. Cái thấy củaPhật giáo là tất cả mọi hiện tượng giới đều không có Ngã.

Khi Phật giáo Đại thừa hưng khởi, thuật ngữ Không (śūnya) và Không tính (śūnyatā) đượcsử dụng rộng rãi để nói đến Vô ngãVô ngã và Không là đồng nghĩa.

Thiền tông Trung Hoa cũng sử dụng từ ‘Vô’ để chỉ cho ý nghĩa Vô ngã. Cả hai thuật ngữ‘Không’ và ‘Vô’ đều không mang ý nghĩa hay liên quan gì đến khái niệm hư vô.

Phật giáo không đề cập đến vấn đề bản thể luận. Phật giáo nói đến Không và Vô, nhưng nó không mang ý nghĩa hay liên quan gì đến bản thể luận, mà nó phản ảnh sự thật trạng thái của hiện tượng giới là Không và Vô. Vô ngã là từ ngữ biểu thị trạng thái không tồn tạimột cái ngã của tất cả mọi hiện tượng.

Tất cả mọi hiện tượng đều Vô ngã và Không tức là chúng không có tự tính (niḥs-vabhāva), không có tính cố định, luôn vô thường; không tự sanh ra, không tự có mặt.

Tất cả các pháp đều không tự sanh ra và cũng không tự nó mất đi. Nghĩa là, các pháp không phải là bất sanhbất diệt, các pháp không có thực thể cố định. Khái niệm ‘cố định’ là chỉ cho sự tồn tại độc lập. Nếu con người có tính cố định thì người này không liên quan đến người khác. Nhưng trên thực tếxã hội nhân sinh đều có mối quan hệ mật thiết với nhau, không có cái gì tồn tại tuyệt đốiđơn độc, riêng lẻ. Tất cả mọi sự vật hiện tượng đềutồn tại trong một mối tương quan, liên hệ với thời giankhông gian và tương tác lẫn nhau.

Xã hộinhân sinh cũng không có hoạt động cố định, tất cả đều tùy thuộc vào những điều kiện nhân duyên mà biến hóa, thay đổi.

Trên thực tếVô ngã và Không có thể phân ra làm hai phương diện để nói, đó là Vô sở đắc và Vô quái ngại.

– Vô sở đắc (aprāpti), tức là không thể nắm bắt được (không chấp trước). Con người có một ý niệm cho rằng có cái ta và cái của ta, và còn có người nghĩ rằng những cái đó là cố định, trường tồn, và luôn mong nó cố định bất biến. Nhưng sự thật, không có cái gì để gọi là ta và của ta, bởi vì tất cả đều Vô ngã, đều là Không.

– Vô quái ngại (anāvaraṇa), tức là không còn chướng ngạiđạt được sự tự do tự tại. Đây là trạng thái đạt được khi tu tập thành công Vô sở đắc, không còn chấp trướcKhông chấp trước thì có được khả năng hoạt động tự do tự tại mà vẫn đúng như phápKhổng Tử cũng có nói là “Tùy theo chỗ ước muốn của tâm mà vẫn không ra ngoài khuôn phép”. Câu nói này cũng có ý nghĩa như trong đạo Phật, một khi đã Vô ngã, đã Không rồi thì tự do tự tại, không có gì có thể gây chướng ngạiLý tưởng của Phật giáo là hoàn thành nhân cách, đạt đến một cuộc sống thường nhật thong dong tự tạiĐức Phật dạo chơi trongTam giới chính là đạt được cảnh giới Vô chướng ngại này.

Vô ngã và Không là đặt bản thân mình vào trong trạng thái Không. Do đó, ở trong cái trạng thái Không ấy không có một cái Ta làm trung tâm cho mọi tham dục, không có cái Ta nhiễu hại, dọa nạt người khác, ganh ghét, nịnh hót, khinh miệt, oán hận hay luyến mộngười khác… Để thân tâm mình vào trạng thái Không là luôn luôn đứng ở lập trường của người khác, đứng ở lập trường của toàn thể, để rồi từ đó suy nghĩ chín chắn rồi sau đó mới hành động, và hành động mà không làm nhiễu loạn người khác. Đồng thời, đối với người và vật luôn luôn ôm ấp tấm lòng từ bi thương xót, không có sự đối lập giữa ta và người mà luôn luôn rộng rãi bao dung người khác. Vô ngã, như vậy, cuối cùng trở thànhĐại ngã chăng?!

Vô ngã là cái nhìn chính xác và như thật về xã hội và nhân sinh. Có thể nói, Vô ngã đồng nghĩa với Duyên khởi và Chư pháp thật tướng (tướng chân thật của các pháp).

Niết-bàn, nirvāṇa, trong ngôn ngữ Ấn Độ bao gồm những ý nghĩa: lửa tắt, hết, chết, hoàn toàn yên lặng, yên ổnvắng lặng hoàn toàn, chết và đi qua chỗ khác. Ngài Huyền Tráng dịch là viên tịch.

Người Ấn Độ dùng từ này để chỉ cho ngọn lửa bị tắt ngấm, hoặc bị gió thổi cho tắt; chẳng hạn, khi ngọn đèn bị tắt thì gọi là ‘đăng diệm Niết-bàn.’7

Các tôn giáo tại Ấn Độ đã sớm sử dụng từ ngữ này để chỉ cho cảnh giới lý tưởng tối cao. Luận Đại Tỳ-bà-sa liệt kê dị giáo có tới năm loại ‘hiện pháp Niết-bàn’, tức họ cho rằng sự hưởng thụ khoái lạc năm dục ở thế gian và đạt được bốn thiền định là Niết-bàn.8

Bà-la-môn giáo lấy sự tu trì đạt đến cảnh giới Phạm – Ngã hợp nhất, hoặc sau khi chếtsanh lên Phạm thiên là chứng ‘Phạm Niết-bàn’.

Từ đó, chúng ta biết rằng, nguyên thủy từ ‘Niết-bàn’ không phải là danh từ riêng biệt củaPhật giáoTuy nhiên, khi danh từ ‘Niết-bàn’ xuất hiện trong kinh điển Phật giáo thì nó đã mang nội dung ý nghĩa mới; và cho đến ngày nay thì từ ‘Niết-bàn’ đã trở thành một thuật ngữ đặc hữu và trang nghiêm của Phật giáo.

Trong kinh Đại bát-niết-bàn liệt kê Niết-bàn có 25 loại9; luận Tứ đế nêu Niết-bàn có 66 tên gọi khác nhau.10 Điều này cho thấy trạng thái an lạchạnh phúc có rất nhiều cấp độ khác nhau trong lộ trình đoạn hoặctu chứng.

Trong kinh luận Hán tạng, người ta phải dùng các từ vô vichân đếbỉ ngạn, vô hoại, vô độngvô ưuvô cấubất sinhgiải thoátvô úyan ổnvô thượngcát tường, vô hý luận, vô tránh… cho đến các từ chân nhưthật tướngNhư Lai tạngpháp thân v.v… để chỉ trạng thái hoặc tính chất của Niết-bàn.

Có quan niệm cho rằng, chết là Niết-bàn, như khi nói ‘nhập Niết-bàn’, nghĩa là một vịThánh giả trở lên từ bỏ xác thân này. Đó là một quan niệm sai lầm! Nếu nói rằng chết là Niết-bàn thì khi Đức Thích Ca Mâu Ni thành đạo dưới cội cây bồ-đề, ngay sau khi thành đạo, chứng Niết-bàn Ngài đã chết rồi! Cho nên, dưới cây bồ-đề Đức Phật chứng Niết-bàn và cái chết không liên quan gì nhau hết. Nên hiểu, như kinh Thắng Man đã nói, “Ngườichứng đắc a-nậu-đa-la tam-miệu-tam-bồ-đề tức là chứng đắc Niết-bàn.11

Các nhà phiên dịch khi diễn tả cái chết của một Thánh giả thì dịch là ‘bát-niết-bàn’ (parinirvāna). Chữ ‘bát’ (pari) có nghĩa là ‘hoàn toàn không còn sót lại’, vì vậy, bát-niết-bàn có nghĩa là thân và tâm cuối cùng của một vị A-la-hán đã hoàn toàn diệt hết, tức vô dưniết-bàn (Niết-bàn hoàn toàn, không còn sót lại gì hết). Hiển nhiêntrạng thái Niết-bàn này so với Đức Phật khi ngồi dưới cội cây bồ-đề hoặc một vị Thanh văn đang còn sốngchứng đắc ‘hiện pháp Niết-bàn’ có sự khác biệt.

Niết-bàn có nghĩa là ‘diệt’. Chữ ‘diệt’ này có nghĩa là diệt hết mọi phiền nãotai họa. Kinh Tạp A-hàm nói : “Tham dục đã được đoạn trừ vĩnh viễnsân khuể đã được đoạn trừvĩnh viễnngu si đã được đoạn trừ vĩnh viễn, tất cả mọi phiền não đã được đoạn trừ vĩnh viễn, đó là Niết-bàn.”12 Kinh Đại bát-niết-bàn cũng nói : “Hết khổ đau nghĩa là Niết-bàn.”13 Đó là thuyết minh chữ ‘diệt’ có nghĩa là tiêu diệt phiền não và khổ đau; phiền nãovà khổ đau tiêu diệt thì xuất hiện cảnh giới tịch tịnhan ổn, khoái lạc, gọi là Niết-bàn tịch tịnh.

Nam truyền và Bắc truyền đều có kinh Niết-bàn, và cả hai truyền thống đều rất coi trọngbài kệ trong kinh Niết-bàn là ‘chư hành vô thường, thị sinh diệt pháp, sinh diệt diệt dĩ, tịch diệt vi lạc’Tịch diệt là đời sống tràn đầy pháp hỷ, không chỉ Thanh văn mà ngay cả tinh thần của Bồ-tát cũng được nuôi dưỡng đời sống bằng pháp hỷ tịch diệt.

Câu-xá luận dùng hình ảnh ngọn lửa tắt ngấm để dụ cho trạng thái Niết-bàn mà Đức Phậtchứng được với tâm giải thoát cũng như vậy. Luận nói: “Giống như ngọn lửa tắt ngấm (ngọn lửa Niết-bàn), sự giải thoát tâm cũng như vậy. Có nghĩa là, giống như sự lụn tàn của ngọn lửa chỉ là sự đi qua của ngọn lửa mà không phải sự đi qua của một thực thểnào khác, sự giải thoát của tâm Thế Tôn cũng vậy, chỉ là sự diệt tận các uẩn chứ không có gì khác.14

Kinh Niết-bàn của truyền thống Bắc truyền hình như đã phủ định ý nghĩa trên của Câu- và cho rằng: Nếu nói Như Lai nhập Niết-bàn giống như củi hết lửa tắt thì nói như vậy là bất liễu nghĩa; còn nói Như Lai nhập vào pháp tính thì là liễu nghĩa.” Kinh này còn nói: “Nếu dầu đã cạn hết thì ánh đèn cũng tắt theo, ánh đèn đã tắt là dụ cho phiền não đã diệt hết, ánh đèn tuy đã tắt nhưng cây đèn thì vẫn còn; Như Lai cũng như vậy, phiền nãotuy đã diệt hết nhưng pháp thân thì vẫn thường tại.”15

Kinh Niết-bàn của truyền thống Bắc truyền là một tập hợp vô cùng phong phú về ý nghĩacủa Niết-bàn, như cho rằng Niết-bàn có đầy đủ ba đức tính là pháp thân, bát-nhã, giải thoát; hoặc có đầy đủ bốn đức tính thường, lạc, ngã, tịnh; hoặc có đầy đủ tám công đứcthường, hằng, an, thanh lương, bất lão, bất tửvô cấu, khoái lạc, giống như tám hương vị của đề hồÝ nghĩa của Niết-bàn như vậy cho thấy bản thể của Niết-bàn không hề rơi vàotrạng thái hư vôtịch diệt, ngược lại, Niết-bàn lấy thật tướng hoặc pháp thân làm bản thểvà có tác dụng làm cho sinh mạng vô cùng tận.

Trên phương diện lịch sửchúng ta nhận thấy rằng, thời kỳ Phật giáo bộ phái, Niết-bàn được phân thành hai loại, Hữu dư Niết-bàn và Vô dư Niết-bàn. Hữu dư Niết-bàn nói rằng, tuy đã đoạn tuyệt tất cả mọi phiền não để siêu thoát sanh tử, nhưng vẫn còn chịu quả báocủa nghiệp quá khứ (tức chỉ cho nhục thể), nên chưa thể nói là Niết-bàn hoàn toàn. Ở một phương diện khác, Vô dư Niết-bàn là đã đoạn tuyệt tất cả mọi phiền não và cũng đãđoạn tuyệt nhục thể, không còn dư y, tức là Niết-bàn hoàn toàn, như Phật nhập diệt. Bát-niết-bàn là chỉ cho Niết-bàn hoàn toàn.

Đến thời kỳ Phật giáo phát triển, Niết-bàn được nhận thức thêm là Tự tính thanh tịnh Niết-bàn và Vô trụ xứ Niết-bàn, thành ra có bốn loại Niết-bàn.

Tâm tính tức là Phật tínhxưa nay vốn thanh tịnh, có đủ các đức tính của Niết-bàn là thường, lạc, ngã, tịnh. Phật tính này chính là Tự tính thanh tịnh Niết-bàn. Vô trú xứ Niết-bàn là chỉ cho ‘nhờ vào đại trí mà không trụ ở trong sanh tử, nhờ đại bi mà không trụ nơi Niết-bàn’; Vô trú xứ Niết-bàn cũng có nghĩa là Niết-bàn chân thật, không trú nơi sanh tử, không trụ nơi Niết-bàn, không chấp trước, không trú trước. Trạng thái Niết-bàn của Đức Phật nhất định cũng giống như vậy.

Kết luận

Trong rất nhiều kinh, Đức Phật thường hỏi các Tỳ-kheo:

– Này các Tỳ-kheo! Năm uẩn là thường hay vô thường?

Các Tỳ-kheo bạch Phật:

– Bạch Đức Thế Tôn, là vô thường.

– Nếu là vô thường, là pháp thay đổi thì có ngã và ngã sở không?

– Không có ngã và ngã sở.

Đức Phật liền dạy:

– Này các Tỳ-kheo! Hãy quán sát như vậy! Quán sát các pháp vô thườngvô ngã liền đạt được giải thoát.

Căn cứ đoạn kinh văn này chúng ta có thể thấy ba pháp ấn liên quan và nhất quán với nhau. Trong ba pháp ấn, Niết-bàn tịch tịnh tức chính là giải thoát, cũng chính là không.Đức Phật từng dạy rằng: “Các hành đều là Không. Không thường, luôn thay đổi, không cóngã và ngã sở. Tính của các pháp là như vậy”.

Bản tính của tất cả các pháp hữu vi là không tịchKhông tịch cho nên vô thườngvô ngã; và vì vậy mà có thể thực hiện Niết-bàn. Ý nghĩa này được khai triển từ ý nghĩa không trongduyên khởi. Cho nên, trong kinh thường nói “Không tương ưng với duyên khởi”. Duyên khởi vốn được khai triển từ ý nghĩa khôngquán sát duyên khởi thì ngộ được lý tính của tất cả các pháp đều quy về không tịch. Đây là phương pháp và cũng là mục đích mà Đức Phật tuyên thuyết giáo lý Duyên khởi.

Phật nói Tam pháp ấn là từ tư cách hay tự thân của một chúng sanh hữu tình mà nói.Hữu tình là vô thườngvô ngã và không tịch. Trong các tôn giáo truyền thống của Ấn Độ,đặc biệt là các tôn giáo mới hình thành, mỗi tôn giáo đều cho rằng, trong cái thân năm uẩn sanh tử này, hoặc ngoài cái thân năm uẩn này, có tồn tại một cái ngã chân thật vàthường trụĐức Phật cho rằng, hữu tình là hữu tình của duyên khởiy theo duyên khởimà nói thì không có một cái gì là thường trụ, cái gì cũng vô thườngvô ngã.

Một số người cho rằng, hoàn cảnh thích ý là hạnh phúc, hoặc cho rằng duy trì được trạng thái tâm cảnh hòa bình, không khổ không lạc là an ổn. Nhưng theo tuệ giác của Đức Phật, như vậy cũng còn khổ! Cái khổ này, không phải là cái khổ ưu sầu, mà là cái khổ do vô thường. Tất cả mọi niềm vui hạnh phúcan ổn đều thay đổi, biến hóa không dừng. Cho dù có xứng tâm vừa ý cách mấy, bình an cách mấy, rồi thì cũng chỉ được một thời giancuối cùng đều hoại diệt. Có sanh ắt có tử, có trẻ ắt có già, có mạnh ắt có yếu, do đó mà nói ‘Vô thường là khổ’.

Bà-la-môn giáo có thuyết Thường ngã, đó là cái hạnh phúc vi diệu thù thắngĐức Phậtphản đối chủ thuyết này. Tất cả mọi sự mọi vật đều vô thườngbiến đổi thì làm gì có cáihạnh phúc vi diệu thù thắng cứu cánh viên mãn? Cho nên, Phật nói vô thường là khổ. Khổ nên vô ngã. Vì sao? Vì ngã có nghĩa là chủ tể, là làm chủ mọi sự, là tự do tự tại. Nhưng, tất cả mọi loài hữu tình đều do các pháp uẩn, giới, xứ mà thành và biến hóa vô thường, mà vô thường thì khổ, khổ thì không có tự tại, như vậy làm sao gọi là có ngã được? Đức Phật dạy, do vì chúng sanh hữu tình chấp có ngã cho nên mới tạo nghiệp để rồi lưu chuyển sanh tử không dừng. Chấp ngã là căn nguyên của sanh tử luân hồi. Nếu như giác ngộ vô ngã thì không còn cái nhân sanh tử; hoặc, nghiệp đều không khởi, ngay đó thấy được thật tướng các pháp, đạt được chánh giác, tất cả đều là tịch tịnh Niết-bàn.

Đức Phật dựa trên đời sống của chúng sanh hữu tình mà nói ý nghĩa tam pháp ấnChúng sanh hữu tình tồn tại trên thế gian này dựa vào năm uẩn và hoàn cảnh để năm uẩn tồn tại, tất cả những pháp này đều là vô thườngThế gian quả thật là vô thường, nhưng không thể nói vì vô thường nên thế gian khổ và vô ngã. Chẳng hạn, nói cây viết này là vô thường, điều này đúng, nhưng không thể nói vì vô thường nên cây viết khổ và vô ngã. Cây viết là vô tình, căn bản là nó không có cảm giác, tức là nó không biết khổ hay không khổ. Nó không biết khổ hay không khổ, cũng không biết tự do hay không tự do, và cũng không biếtchấp trước là ngã. Nó không có ngã, và cũng không có nhu yếu để đòi hỏi vô ngã. Cho nên, thuyết vô thường là khổ, khổ nên vô ngã là y cứ trên đời sống của chúng sanh hữu tình mà nói.

Đức Phật thuyết giảng ba pháp ấn với một phương pháp vô cùng thiện xảo, bởi đồng một mệnh đề mà vừa làm hai phương diện giải thoát: vừa là chân tướng của sự thật, là lý tínhphổ biến, vừa là quá trình thực tiễn.

Ba pháp ấn có nghĩa vô cùng sâu xa, nhưng trong mỗi pháp ấn đã bao hàm hai pháp ấnkia. Mỗi một pháp ấn đã có thể khai hiển nội dung chánh giác. Tức là, mỗi một pháp ấn đã có năng lực xa lìa chấp trướcchứng quả chân thậtY theo cánh cửa vô thường mà ngộ nhập, tức là vào cánh cửa Vô nguyện giải thoát môny theo vô ngã mà ngộ nhập, tức là vào cửa Không giải thoát môny theo Niết-bàn tịch diệt mà ngộ nhập, tức là vào cửa Vô tướng giải thoát môn. Bởi vì căn tính của chúng sanh hữu tình vốn bất đồng, cho nên hoặc nói như vậy, hoặc nói như kia, hoặc nói hai pháp ấn, hoặc nói ba pháp ấn, bốn pháp ấn

Thứ tự quá trình tu tập luôn in đậm tam pháp ấn: trước hết là quán vô thường, do vô thường mà quán thấy vô ngã, và thấy vô ngã là đạt được Niết-bàn. Trong kinh thường nói: yểm ly, ly dụcgiải thoát. Đây cũng là thứ tự tu tập theo tam pháp ấnQuán chiếu các hành vô thường cho nên yểm ly những tai họa của thế gian mà tìm cầu sự xuất lythông đạt các pháp vô ngã, không có gì là ta, của ta cho nên xa lìa được tất cả mọi ái dụcly dụcrồi thì tất cả mọi phiền não đều rơi rụng, do đó mà đạt được Niết-bàn giải thoát.

Trong bộ luận Đại trí độ, Bồ-tát Long Thọ nói: Vô thường là cửa không, không là cửa Vô sanh. Đây cũng là cách nói khác về thứ tự của ba pháp ấn, vì không tức là vô ngãvô sanh tức là Niết-bàn.

Có thể nói giáo lý ba pháp ấn vừa diễn tả chân tướng của các pháp, vừa là lịch trình, là bản đồ tu học. Đây là giáo pháp đặc biệt hy hữu và chỉ duy nhất có trong Phật giáo!

 Thích Nguyên Hùng

________________

(1) ĐTK/ĐCTT, T02, n°.0103, Phật thuyết thánh pháp ấn kinh, p.0500a10.

(2) ĐTK/ĐCTT, T02, n°.0104, Phật thuyết pháp ấn kinh, p.0500b25.

(3) ĐTK/ĐCTT, T02, n°.0104, Phật thuyết pháp ấn kinh, p.0500c02 :  此 法 印 者,即 是 三 解 脫 門,是 諸 佛 根 本 法,為諸佛眼,是即諸佛所歸趣故.

(4) Kinh dẫn thượng.

(5) ĐTK/ĐCTT, T15, n°.0599, Phật vị Hải Long vương thuyết pháp ấn kinh, p.1057b10.

(6) ĐTK/ĐCTT, T02, n°.0099, Tạp A-hàm, kinh số 262, Xa-nặc. Tương đương Pali, S.22.90, Channo.

(7) Câu-xá luận, quyển 16.

(8) ĐTK/ĐCTT, T27, n°.1545, p.994c.

(9) ĐTK/ĐCTT, T12, n°.0374, p.0512c.

(10) ĐTK/ĐCTT, T32, n°.1647, p.0389c.

(11) ĐTK/ĐCTT, T12, n°.0353, p.0220c.

(12) ĐTK/ĐCTT, T02, n°.99, p. 126b.

(13) ĐTK/ĐCTT, T12, n°.0374, p.0514c.

(14) ĐTK/ĐCTT, T29, n°.1558, p.35a.

(15) ĐTK/ĐCTT, T12, n°.0374, p.0402a.

Phật thuyết Đương Lai Biến Kinh

 

Phật thuyết Đương Lai Biến Kinh
Giảng Ký
Chủ giảng: Lão pháp sư Tịnh Không
Năm 1992 tại liên xã Đại Giác, Cựu Kim Sơn, Hoa Kỳ
Tâm Huệ ghi, Hàn Anh kiểm giảo
Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Hòa
      Kinh này kinh văn không dài, nhưng rất khế cơ, có thể nói là từ bộ kinh nhỏ này chúng ta có thể nhận ra từ ba ngàn năm trước đây, đức Phật đã sớm nhìn thấy tình trạng xã hội hiện tại.
      Kinh này mang tựa đề “Phật thuyết Đương Lai Biến Kinh”. Giải thích đơn giản,“Đương Lai” chỉ thời đại hiện tại của chúng ta, “Biến” nghĩa là biến hóa, tức là nói hiện tại con người biến hóa, thế giới biến hóa, ngay cả Phật giáo cũng bị biến hóa, sau khi bị biến hóa là tốt hay xấu? Người tu hành nên thành tựu đạo nghiệp của chính mình như thế nào đây? Bản kinh này giảng đúng vào những vấn đề thiết thân của chúng ta.
      Bàn đến chuyện thế giới biến hóa, phỏng chừng hai mươi, ba mươi năm nay thật là dữ dội, khó thể nói là cái thuyết “ngày thế giới tận cùng” của Cơ Đốc Giáo đã xảy đến hay chưa?
      Bàn về nhân tâm biến hóa, do hiện đại thông tin phát đạt, quan sát nhân tâm mọi địa phương chẳng khó khăn gì. Kinh dạy:“Y báo chuyển theo chánh báo”. “Chánh báo” chỉ thân tâm của con người. “Y báo” chỉ hoàn cảnh sanh hoạt. Hoàn cảnh xã hội hiện tại an hay nguy hoàn toàn phụ thuộc vào tâm con người nhân hậu hay tệ bạc. Từ cổ đến nay, đã có những việc an hay nguy trong lịch sử làm chứng. Xưa nay, trong nước, ngoài nước đều lấy việc quán sát nhân tâm để suy lường cát – hung, phước – họa; bởi thế, rất coi trọng quan niệm luân thường, đạo lý. Thế nhưng con người hiện đại chẳng màng đến những quan niệm đạo đức đó nữa, mà lấy chuyện tranh danh đoạt lợi làm chủ, bởi thế đến nỗi xã hội chẳng an định.
      Lại xem trong Phật giáo, trong hai ngàn năm chẳng biến hóa lớn lao chi lắm là vì gìn giữ được những tiêu chuẩn, nguyên tắc. Kể từ mấy năm đề cao dân chủ tự do gần đây, cường điệu tự do ngôn luận, tự do xuất bản, Phật giáo phải đương đầu với những biến hóa chẳng thể dự liệu trước được. Nếu như chúng ta chẳng lắng lòng quán sát và tư duy, sẽ không có cách nào đối diện với những biến thiên của xã hội hiện thực, chẳng biết tu hành như thế nào? Trong bản kinh này, đức Phật đã chỉ dạy cho chúng ta [nên làm như thế nào].
      Chánh kinh:
      Văn như thị: nhất thời, Phật tại Xá Vệ quốc, Kỳ Thọ, Cấp Cô Độc viên, dữ đại tỳ-kheo chúng câu, tỳ-kheo ngũ bách cập chư Bồ Tát.
      (Nghe như thế này: một thời, đức Phật ở nước Xá Vệ, trong vườn Kỳ Thọ Cấp Cô Độc, cùng các đại tỳ-kheo nhóm họp, năm trăm tỳ-kheo và các Bồ Tát).
      “Văn như thị” là câu văn được dùng trong giai đoạn đầu của việc phiên dịch kinh văn, nó cũng chính là “như thị ngã văn”.Trong đoạn Tự Phần này, cũng có đủ sáu thứ thành tựu giống như [các kinh khác]. “Văn như thị” là Văn Thành Tựu. “Như thị” là Tín Thành Tựu. “Nhất thời” là Thời Thành Tựu. “Phật” là Chủ Thành Tựu. “Xá Vệ quốc, Kỳ Thọ Cấp Cô Độc viên”là Xứ Thành Tựu. “Dữ đại tỳ-kheo chúng câu. Tỳ-kheo ngũ bách cập chư Bồ Tát” là Chúng Thành Tựu.
      Địa điểm đức Phật giảng kinh này và kinh A Di Đà giống nhau. Trong lúc ấy có thường tùy chúng (2) và Bồ Tát chúng hiện diện. Bởi thế, kinh này không chỉ giảng riêng về pháp Tiểu Thừa mà là giảng về căn bản tu hành cho cả pháp Đại Thừa lẫn Tiểu Thừa.
      Chánh kinh:
      Nhĩ thời Thế Tôn cáo chư tỳ-kheo:
      – Đương lai chi thế, đương hữu tỳ-kheo, nhân hữu nhất pháp bất tùng pháp hóa, linh pháp hủy diệt, bất đắc trường ích. Hà vị vi nhất? Bất hộ cấm giới, bất năng thủ tâm, bất tu trí huệ, phóng dật kỳ ý, duy cầu thiện danh, bất thuận đạo giáo, bất khẳng cần mộ độ thế chi nghiệp. Thị vi nhất sự linh pháp hủy diệt.
      (Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn bảo các tỳ-kheo:
      – Trong đời tương lai, sẽ có tỳ-kheo nhân vì có một pháp chẳng thuận theo pháp giáo hóa, khiến cho pháp bị hủy diệt, chẳng được lợi ích lâu dài. Thế nào là một pháp? Chẳng giữ cấm giới, chẳng thể giữ tâm, chẳng tu trí huệ, buông lung tâm ý, chỉ cầu tiếng tốt, chẳng thuận đạo giáo, chẳng chịu siêng năng, kính mộ sự nghiệp độ đời. Đó là một sự khiến cho pháp bị hủy diệt)
      Đoạn kinh này là đoạn thứ nhất của phần Chánh Tông. Ý nghĩa của toàn bộ đoạn kinh này là lấy ngay con người hiện đại để thuyết pháp, cũng có thể nói nó là một loại dự ngôn. Nói đơn giản, Phật bảo cùng các tỳ-kheo đang hiện diện, trong tương lai sẽ có một hạng tỳ-kheo do vì chẳng tùy thuận giáo pháp của Phật mà hoằng hóa, làm cho Phật pháp đi vào chỗ hủy diệt, khiến cho những người y pháp tu học sẽ chẳng thể đạt được lợi ích nơi Phật pháp. Phật lại nêu lên sáu sự việc, bất cứ sự việc nào cũng đủ làm cho chánh pháp bị hủy diệt.
      Thứ nhất là “chẳng giữ giới cấm”, tức là chỉ hạng người coi thường Giới Luật, chẳng thể trì giới. Trong kinh nói: “Thiền là tâm Phật, Giáo là ngôn ngữ của Phật, Giới Luật là hành trì của Phật”. Nếu như vứt bỏ Giới Luật, Thiền và Giáo thành chuyện bàn suông, Phật pháp chẳng thể tồn tại trong thế gian. Nói đơn giản: Một quốc gia phải nhờ vào pháp trị để ổn định nhân tâm và duy trì trật tự xã hội an toàn. Giới Luật của nhà Phật giống như pháp luật của quốc gia, Phật giáo dùng Giới Luật để uốn nắn thân tâm của đệ tử Phật. Giới Luật lại giống như những lễ tiết do Khổng, Mạnh đề xướng trong Nho Giáo. Lễ tiết là căn bản, một khi bỏ lễ tiết đi chính là đánh mất căn bản, còn bàn chi chuyện học đạo nữa! Giới giống như Lễ, đều là căn bản. Học Phật mà buông bỏ căn bản, còn bàn chi chuyện khai hoa kết quả?
      Vì sao nói Giới là căn bản của việc học Phật? Phật pháp bất luận là Tiểu Thừa hay Đại Thừa, đều kiến lập trên cơ sở ba Vô Lậu Học Giới – Định – Huệ. Có giữ Giới thì Định mới có thể phát sanh, nhân Định mà khai Huệ. Mục tiêu cuối cùng của việc học Phật là khai trí huệ. Trí huệ từ Định lực mà có, cũng chính là do tâm thanh bình đẳng mà có, nhưng chỉ có trì giới thì mới có thể khiến cho tâm thanh tịnh, bình đẳng. Tinh thần của Giới Luật chính là như tổ Ấn Quang đã dạy: “Đừng làm các điều ác, vâng làm các điều thiện”. Thiện hay ác chỉ trong một niệm tâm; trừ sạch phân biệt, vọng tưởng, chấp trước, tâm thanh tịnh sẽ tự nhiên hiện tiền. Cõi lòng thanh tịnh ắt trí huệ mở rộng. Đức Phật hoàn toàn do sự việc này mà xuất thế; bởi thế Giới Luật mang tánh chất trọng yếu là do đây.
      Thứ hai, “chẳng thể giữ tâm”: hết thảy pháp đều do tự tâm biến hiện ra, tâm thiện thì vạn pháp đều thiện, tâm ác thì vạn pháp đều ác. Xã hội hiện tại thoạt nhìn tưởng là tiến bộ, nhưng thật ra suy thoái rất nhiều. Bởi lẽ, trước kia mọi người sanh sống an cư lạc nghiệp, còn thế giới hiện tại nơi nào cũng động loạn, nguyên nhân là do con người hiện tại tâm chẳng thuần hậu, chẳng màng đạo nghĩa, chỉ quan tâm đến lợi hại, phải có lợi cho mình mới thành bè bạn, kẻ nào bất lợi cho mình liền thành địch nhân. Ai nấy chẳng giữ lấy cái tâm lành, sao xã hội an ổn cho được? Bậc thánh nhân thời cổ là Mạnh Tử đã nói: “Học vấn chi đạo vô tha, cầu kỳ phóng tâm nhi dĩ hỹ” (đạo học vấn không có gì khác, cốt sao phóng tâm mà thôi!). Ý Ngài nói: Cái đạo cầu học chỉ cốt sao thâu hồi vọng tưởng tạp niệm, cũng giống như kinh Di Đà dạy “nhất tâm bất loạn”.
      Thứ ba, “chẳng tu trí huệ”: Tương phản của trí huệ là ngu si. Người ngu si chẳng biết mình ngu si, suốt ngày điên đảo loạn tưởng; chân – giả, tà – chánh chẳng phân, thường coi tà pháp là chánh pháp, tưởng chánh pháp là tà pháp, đáng thương vô cùng! Có hai phương pháp tu trí huệ: Một là Thiền Định (tham thiền); hai là như bên Giáo nói “đọc tụng kinh điển Đại Thừa”. Đọc tụng kinh điển Đại Thừa thì cũng phải hiểu mới lãnh hội được; nếu không, vẫn rớt vào ngu si như cũ. Đọc kinh cũng giống hệt như Thiền Định, chuyên tu tâm thanh tịnh. Tụng kinh phải giống như lấy đá đè cỏ, phải từng chữ phân minh, lúc tụng kinh chẳng được suy lường lung tung ý nghĩa kinh văn. Nếu như vọng niệm có hiện tiền, đừng quan tâm gì đến nó, cứ tiếp tục đọc tụng, trừ khử vọng tưởng, chấp trước, chẳng nghiên cứu thảo luận, đợi khi nào trí huệ hiện tiền, tự nhiên bản tánh quang minh hiển phát.
      Thứ tư là “buông lung tâm ý”: tức là như thế nhân nói “chạy theo lòng ham muốn trong tâm”. Nói đơn giản là các vọng niệm Tham, Sân, Si, Mạn, Nghi khởi lên tác dụng trong tâm.
      Thứ năm là “chỉ cầu tiếng tốt”: tức là như người đời thường nói “nâng cao mức độ người khác biết đến tên mình”. Tình hình Phật giáo hiện tại cũng có biến chuyển, hiện thời có Phật giáo mang hình thức tôn giáo, Phật giáo mang tánh chất học thuật, Phật giáo tà giáo, và Phật giáo mang hình thức truyền thống. Trước mắt còn phát hiện một loại Phật giáo phô trương hoa mỹ, quảng cáo ầm ĩ, có những hoạt động bon chen cùng thời đại, bày vẽ náo nhiệt, mười phần săn đón hiện đại hóa, trọn chẳng có nội dung Phật giáo chân chánh. Đây cũng là một hiện tượng trong đời loạn vậy.
      Thứ sáu là “chẳng thuận đạo giáo, chẳng siêng năng, kính mộ sự nghiệp độ đời”: Câu này chỉ những tỳ-kheo hoằng pháp chẳng tuân lời Phật dạy dỗ mà tu hành, chỉ là tu hành ngoài cửa miệng, thân hạnh chẳng tu. “Siêng năng, kính mộ sự nghiệp độ đời” nghĩa là người tu hành ngưỡng mộ Phật pháp, thực hiện sự nghiệp tự lợi, lợi tha. Thế nhưng người tu hành trong thời Mạt Pháp, đạo tâm tu hành chẳng kiên định, chẳng tin vào thiện căn của chính mình, bỏ phế sự nghiệp tự độ và hóa độ chúng sanh, đáng tiếc vô cùng, khiến cho Phật pháp càng thêm đọa lạc.
      Dưới đây là đoạn kinh văn thứ hai trong phần Chánh Tông. Phật bảo các hàng tỳ-kheo, còn có hai sự kiện khiến cho Phật pháp bị hủy diệt.
      Chánh kinh:
      Phật cáo tỳ-kheo:
      – Phục hữu nhị sự, linh pháp hủy diệt, hà vị vi nhị?
      Nhất, bất hộ cấm giới, bất nhiếp kỳ tâm, bất tu trí huệ, súc thê dưỡng tử, phóng tâm tứ ý, cổ tác trị sanh, dĩ cộng tương hoạt.
Nhị, bạn đảng tương trước, tắng phụng pháp giả, dục linh hãm đọa, cố vi ngôn nghĩa, vị chi du siểm, nội phạm ác hạnh, ngoại dương thanh bạch.
      Thị vi nhị sự, linh pháp hủy diệt.
      (Phật bảo tỳ-kheo:
      – Lại có hai sự khiến pháp hủy diệt, những gì là hai?
      Một: chẳng giữ cấm giới, chẳng nhiếp tâm ý, chẳng tu trí huệ, chứa vợ nuôi con, buông lung tâm ý, buôn bán kiếm lợi để cùng chung sống)
      Hai: đắm chấp bè đảng, ghét kẻ kính pháp, muốn cho kẻ ấy bị hãm đọa, cố làm [ra vẻ] nói năng tốt lành, thật ra là dua dối, siểm nịnh. Trong phạm ác hạnh, ngoài giả vờ thanh bạch.
Đấy là hai sự khiến pháp hủy diệt).
Thứ nhất là “chẳng giữ cấm giới, chẳng nhiếp tâm ý (chẳng thể giữ tâm), chẳng tu trí huệ”: Ở trên đã giải thích rồi, ở đây chẳng cần phải nhắc lại nữa.
“Nuôi con chứa vợ”: trong thời kỳ Mạt Pháp, người xuất gia bèn nuôi dưỡng vợ con. Trước kia, trong thời kỳ Duy Tân dưới đời Minh Trị Thiên Hoàng ở Nhật Bản, vì chánh sách quốc gia, người xuất gia nhất định phải lấy vợ sanh con rồi sau đó mới được phép xuất gia. Đến nay, ngoại trừ những vị tăng khổ hạnh trên núi cao, những người xuất gia dưới đồng bằng của Nhật Bản đại đa số đều có gia đình.
“Phóng tâm tứ ý” (buông lung tâm ý) giống như câu “phóng dật kỳ ý” [ở phần trên].
“Buôn bán kiếm lợi để cùng chung sống”: chỉ người xuất gia hiện thời tâm chẳng hướng đến đạo, sanh sống chẳng nhờ vào hai chúng tại gia cúng dường, bọn họ cũng có các cách kiếm lợi, hành vi chẳng đúng pháp như thế đó, tâm chẳng an trụ nơi đạo, nên càng chẳng thể thanh tịnh.
Thứ hai là “đắm chấp bè đảng”: chỉ người xuất gia chia phe, chia đảng, tạo ra những tổ chức nhỏ, đoàn thể nhỏ, bài xích những con người, những sự vật xung đột với quyền lợi của chính mình.
“Ghét người kính pháp”: phàm những ai tu hành chân chánh bèn nghĩ cách bài xích họ, chẳng ủng hộ, tạo đủ mọi chướng ngại.
“Cố làm ra vẻ nói năng tốt lành, thật ra là dua dối, siểm nịnh”: Những kẻ đó có thể nói lời tốt lành, chuyên môn săn đón bợ đỡ người, ngoài miệng nói nghe rất hay. Người chẳng hiểu rõ, tưởng câu nào cũng tốt lành cả, rốt cuộc bị họ lừa dối, mắc hại. Thiện tri thức chân chánh thì xử thế, đãi người, tiếp vật, thái độ hoàn toàn chẳng giống với bọn họ. Phàm những bậc thiện tri thức khuyên đời, những lời nói ra đều là “trung ngôn nghịch nhĩ” (lời thật chối tai), thế mà người đời cứ thích nghe lời dối gạt, chẳng thích nghe khuyên nhủ.
“Trong phạm hạnh, ngoài giả vờ thanh bạch”: Câu kinh này ý nói có hạng người xuất gia làm ra vẻ đạo mạo nghiêm nghị, bề ngoài giả vờ như rất đúng pháp, trang nghiêm hệt như Phật, như Bồ Tát, còn bên trong thì tư tưởng, kiến giải, hành vi, thậm chí còn kém hơn cả người ngoài đời. Hai điều nói trên là hai yếu tố khiến cho Phật pháp hủy diệt.
Chánh kinh:
Phật cáo chư tỳ-kheo:
– Phục hữu tam sự linh pháp hủy diệt, hà vị vi tam?
      Nhất, ký bất hộ cấm giới, bất năng nhiếp tâm, bất tu trí huệ.
      Nhị, tự độc văn tự, bất thức cú đậu, dĩ thượng trước hạ, dĩ hạ trước thượng, đầu vĩ điên đảo, bất năng giải liễu nghĩa chi sở quy, tự dĩ vi thị.
      Tam, minh giả ha chi, bất tùng kỳ giáo, phản hoài sân hận, vị tương tật đố, thức nghĩa giả thiểu, đa bất biệt lý, hàm vân vi thị.
      Thị vi tam sự, linh pháp hủy diệt.
      (Phật bảo các tỳ-kheo:
      – Lại có ba sự khiến pháp hủy diệt, những gì là ba?
      Một, đã chẳng giữ cấm giới thì chẳng thể nhiếp tâm, chẳng tu trí huệ.
      Hai, tự đọc văn tự, chẳng biết chấm câu, đem trên đặt xuống dưới, lấy dưới đặt lên trên, đầu đuôi điên đảo, chẳng thể hiểu nghĩa lý trọn vẹn đi về đâu, tự cho là đúng.
      Ba, người sáng suốt quở trách, chẳng tuân lời dạy, ngược lại sân hận, bảo là [kẻ ấy] ghen ghét. Người biết nghĩa thì ít, đa số chẳng phân biệt được, đều cho là đúng.
      Đó là ba sự khiến pháp hủy diệt)
      Đoạn kinh này là đoạn thứ ba của phần Chánh Tông. Phật nói có ba sự việc có thể khiến cho Phật pháp trong thế gian này dần dần bị hủy diệt mất.
      Thứ nhất là “đã chẳng giữ cấm giới thì chẳng thể nhiếp tâm, chẳng tu trí huệ”: ở phần trên đã giải thích, ở đây chẳng cần phải nhắc lại.
      Thứ hai, “tự đọc văn tự, chẳng biết chấm câu, đem trên đặt xuống dưới, lấy dưới đặt lên trên, đầu đuôi điên đảo, chẳng thể hiểu nghĩa lý trọn vẹn đi về đâu, tự cho là đúng”: Câu này ý nói: Đối với học vấn thế gian, trình độ văn học chẳng giỏi, bèn đem những dấu chấm, dấu phẩy… trong văn chương ra sử dụng sai lầm, khiến câu cú trên dưới chẳng thuận, tự phân đoạn để hiểu nghĩa, chẳng phù hợp với ý gốc của nguyên văn.
      Nói theo phương diện học Phật, kinh điển nhà Phật bất luận Tiểu Thừa hay Đại Thừa đều từ Chân Như Bản Tánh của đức Phật mà phát huy, lưu xuất. Dù so với cổ văn Trung Quốc, văn tự của những kinh Phật đã được phiên dịch dễ đọc hơn nhiều, nhưng những nghĩa lý sâu thẳm trong ấy tuyệt đối chẳng dễ gì thể hội được. Bởi thế, chúng sanh thời Mạt Pháp trí huệ cạn mỏng, rất dễ hiểu sai lệch nghĩa kinh, chẳng thể chấm câu, ngắt mạch phân minh, thường đọc sai câu văn, câu trước chẳng phù hợp câu sau, đầu đuôi điên đảo, chẳng thể hiểu rõ triệt để ý nghĩa kinh, rồi tự cho mình là đúng, lại còn dạy lầm người khác, hậu quả rất đáng lo ngại!
      Thứ ba là “người sáng suốt quở trách, chẳng tuân lời dạy, ngược lại sân hận, bảo là [kẻ ấy] ghen ghét. Người biết nghĩa thì ít, đa số chẳng phân biệt được, đều cho là đúng. Đó là ba sự khiến pháp hủy diệt”: Trong thời kỳ Mạt Pháp, có thể thành tựu đạo nghiệp của chính mình hay không là do có hiểu được một đoạn kinh văn [hay không?] Đoạn kinh văn này ý nói: Người minh tâm kiến tánh hoặc là người tâm địa quang minh, trông thấy hành nhân đi lầm đường, do hảo ý bèn chỉ dạy cho, nhưng đối phương chẳng những không nghe, chẳng thể tuân phục sửa đổi cho đúng, trái lại còn ôm lòng ghen ghét, căm hận, thậm chí còn mưu toan hãm hại thiện tri thức. Rất nhiều người chẳng biết nghĩa chân thật của đức Như Lai đã nói, đối với sai lầm đó chẳng thể phân biệt, thường lẫn lộn điên đảo thiện – ác. Người ta nói vậy thì cũng hùa theo quần chúng, ngược ngạo thừa nhận những gì sai lầm là đúng, ủng hộ kẻ tri kiến bất chánh, lợt lạt, xa lìa thiện tri thức, kết quả là tạo thành nghiệp nhân ba ác đạo.
      Ba điều trên đây tuy chưa làm cho Phật pháp bị đoạn diệt trên thế gian này, nhưng làm cho Phật giáo bị biến chất. Trước đây, thầy Lý Bỉnh Nam có nói: “Phật pháp suy vi dần dần”. Dưới cái nhìn của người hiện đại, lời nói này khó có thể tin tưởng hoàn toàn. Bởi lẽ, hiện thời khoa học phát đạt, ấn loát nhanh chóng, có thể in kinh Phật với số lượng lớn, chẳng dễ gì thất truyền, khác xa trước kia, một cuốn sách khó tìm, hễ có được một cuốn là thù thắng lắm. Nay gần như mỗi cá nhân trong tay có một bộ Đại Tạng Kinh, sao lại nói là Phật pháp dần dần suy vi cho được? Đến giờ đây tôi mới đột nhiên đại ngộ: Nếu dùng cái tâm phàm phu của chúng ta giải thích kinh Phật thì kinh sách dù có nhiều vẫn hoàn toàn là biến chất, nghĩa là đem Chân Như Bổn Tánh của Như Lai đổi thành ý thức của phàm phu. Nói cách khác, dùng tâm ý thức phàm phu hiểu cong quẹo ý nghĩa kinh Phật. Bởi thế, Phật pháp bị tiêu mất, đây là vấn đề nghiêm trọng vô cùng.
      Chánh kinh:
      Phật cáo chư tỳ-kheo:
      – Phục hữu tứ sự linh pháp hủy diệt, hà vị vi tứ?
      Nhất, tương lai tỳ-kheo dĩ xả gia nghiệp, tại không nhàn xứ, bất tu đạo nghiệp.
      Nhị, hy du nhân gian, hội náo chi trung, hành lai đàm ngôn, cầu hảo ca-sa, ngũ sắc chi phục.
      Tam, cao thính viễn thị, dĩ vi ỷ nhã, tự dĩ cao đức, vô năng cập giả, dĩ tạp toái trí, tỷ nhật nguyện chi minh súc dã.
Tứ, bất nhiếp tam sự, bất hộ căn môn, hành phụ nữ gian, tuyên văn sức từ, đa ngôn ngẫu hợp, dĩ động nhân tâm, sử thanh biến trược, thân hạnh hoang loạn, chánh pháp phế trì.
      Thị vi tứ sự, linh pháp hủy diệt.
      (Phật bảo các tỳ-kheo:
      – Lại có bốn sự khiến pháp hủy diệt, những gì là bốn?
      Một, trong tương lai tỳ-kheo đã bỏ gia nghiệp, ở chỗ nhàn vắng chẳng tu đạo nghiệp.
      Hai, ưa thích dạo chơi những chỗ náo nhiệt trong nhân gian, qua lại trò chuyện, cầu ca-sa tốt, y phục năm màu.
      Ba, nghe cao nhìn xa, cho là khéo nhã, tự cho là đức độ cao trọng, không ai bằng được, tự đem cái trí tạp nhạp sánh cùng ánh sáng mặt trời, mặt trăng.
Bốn, chẳng nhiếp ba sự, chẳng giữ căn môn, xen lộn phụ nữ, nói lời bóng bẩy, hay nói ve vuốt đón ý để lấy lòng người, biến trong thành đục, thân hạnh hoang loạn, bỏ phế chánh pháp.
Đó là bốn sự khiến pháp hủy diệt)
      Đoạn kinh này quá nửa là phê phán người xuất gia, thuộc đoạn thứ tư trong phần Chánh Tông. Phật bảo các tỳ-kheo:“Trong tương lai có bốn sự việc sẽ khiến cho Phật pháp hủy diệt”.
     Thứ nhất, “trong tương lai tỳ-kheo đã bỏ gia nghiệp, ở chỗ nhàn vắng chẳng tu đạo nghiệp”. Điều quan trọng nhất ở đây là “ở chỗ nhàn vắng”. Câu này không có nghĩa là phải xa lìa đô thị, tìm vào núi hoang, chỗ không một bóng người để tu hành, cũng chẳng có nghĩa là chơi không nhàn rỗi, mà chính là ngày nay chúng ta sống trong xã hội làm việc mưu sinh, khi nào xong việc khi đó là “nhàn vắng”. Người xuất gia vì bị công việc tại gia phiền nhiễu, bèn phát tâm xuất gia, chứ không phải muốn tìm nơi nhàn rỗi. Xuất gia có công việc của người xuất gia. Bởi thế, người xuất gia phải dùng những lúc nhàn rỗi để tu hành tập đạo. Câu này nói đơn giản có nghĩa là: “Trong tương lai, các tỳ-kheo bỏ những sự nghiệp kinh doanh kiếm sống của đời tại gia đi xuất gia, nhưng chẳng tu đạo, chẳng tu hành, chẳng gánh vác gia nghiệp của Như Lai, bỏ lỡ quang âm”.
      Vì sao nói chẳng tu đạo nghiệp? Tông chỉ giáo dục của đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật là nhằm làm cho chúng ta nhận thức được chân tướng của nhân sanh vũ trụ. “Vũ trụ” chỉ hoàn cảnh sanh sống của chúng ta; “nhân sanh” chỉ chính mình. Chúng ta tu hành là tu đến khi tự mình giác ngộ, đó là chân tu hành; ngược lại là mê hoặc điên đảo. Mục đích xuất gia tu hành là học theo đức năng, giác đạo của Phật, chẳng mê hoặc, điên đảo, thực sự hiểu chân tướng của nhân sanh, vũ trụ. Ai có thể tự ngộ, ngộ được Thật Tướng của các pháp, thì lục căn tiếp xúc cảnh giới sáu trần sẽ chẳng bị cảnh giới xoay chuyển, tâm địa thanh tịnh, một dạ hướng về đạo, tự nhiên gánh vác được gia nghiệp của Như Lai, làm công tác hoằng pháp lợi sanh. Đấy là đạo nghiệp người xuất gia nên tu, điều người xuất gia phải làm là tu hành, hoàn toàn chẳng phải là phế bỏ sự thế gian, đến chùa viện mong cầu nhàn hạ thanh tịnh, bỏ uổng quang âm.
      Thứ hai, “ưa thích dạo chơi những chỗ náo nhiệt trong nhân gian, qua lại trò chuyện, cầu ca-sa tốt, y phục năm màu”: Đây là hiện tượng thứ năm “Phật giáo phô trương hoa mỹ” trong Phật giáo hiện tại, hoàn toàn trái nghịch lời Phật răn dạy. Như các pháp hội giảng kinh, chú tâm bày vẽ hoa lệ, chưng dọn đạo tràng đẹp đẽ, choáng lộn, không có chút khí phận thanh tịnh trang nghiêm nào; thậm chí rải hoa, ca xướng v.v… hội trường thiết kế giống như sân khấu trình diễn, bày ra những kiểu chẳng tự nhiên, xem không giống ai cả. Người xuất gia cầu ca-sa mỹ lệ. Tác pháp như vậy khiến thế nhân trong tương lai chẳng còn tôn kính người xuất gia nữa.
     Thứ ba, “nghe cao nhìn xa, cho là khéo nhã, tự cho là đức độ cao trọng, không ai bằng được, tự đem cái trí tạp nhạp sánh cùng ánh sáng mặt trời, mặt trăng”. Đây là nói về ngạo mạn, tự mình ngạo nghễ, coi thường hết thảy, đem thế trí biện thông sánh với trí huệ chân thật của chư Phật, Bồ Tát, thậm chí cho rằng chư Phật, Bồ Tát cũng không bằng được mình. Có kẻ còn nói quá đáng: “Kinh điển đều chẳng thể nhờ cậy được”, khác nào chính họ đã thật sự thành tiên, thành Phật rồi; bởi thế phải soạn kinh mới, cho rằng kinh điển cũ đều đáng bị đào thải. Đây chẳng những làm cho pháp bị hủy diệt, mà còn là đẩy nhanh tốc độ hủy diệt pháp.
      Thứ tư, “chẳng nhiếp ba sự, chẳng giữ căn môn, xen lộn phụ nữ, nói lời bóng bẩy, hay nói ve vuốt đón ý để lấy lòng người, biến trong thành đục, thân hạnh hoang loạn, bỏ phế chánh pháp. Đấy là bốn sự khiến pháp hủy diệt”.
“Chẳng nhiếp ba sự” là chẳng giữ gìn ba nghiệp thân, ngữ, ý. “Chẳng giữ gìn căn môn” là chẳng giữ gìn sáu căn. Hai câu trên nói gộp lại chính là ý “chẳng giữ Giới Luật” đã nói ở phần trên, chẳng giữ quy củ, thậm chí ngay đến cả lễ pháp thế gian cũng chẳng đoái hoài.
“Xen lộn phụ nữ, nói lời bóng bẩy, hay nói ve vuốt đón ý để lấy lòng người, biến trong thành đục, thân hạnh hoang loạn, bỏ phế chánh pháp”: Trong đoạn này, so ra câu chẳng dễ hiểu là câu “đa ngôn ngẫu hợp” (hay nói ve vuốt đón ý). Kinh này được dịch vào thời Nam Bắc Triều, cách đời Hán không xa lắm. Đương thời, chữ “ngẫu” là một thuật ngữ rất phổ thông, có nghĩa là “hoa ngôn xảo ngữ đón trước ý người”, nghĩa là nói năng rất khéo. Khéo nói ở đây chẳng giống với “ái ngữ” trong Tứ Nhiếp Pháp của nhà Phật; Tứ Nhiếp Pháp lấy trí huệ làm cơ sở. Nói cách khác, người xuất gia chẳng dạy người khác tu hành chánh pháp, trái lại, quyến dụ người hành tà đạo, chẳng phải là chuyện tốt lành gì.
Tóm lại, đoạn kinh này có nghĩa là người xuất gia chẳng tuân thủ Giới Luật, quy củ; nhất là trong thời đại ngôn luận tự do xuất bản, kiến giải, tư tưởng hỗn loạn hiện thời, càng chẳng thể kiến lập Lục Hòa Kính, Tăng đoàn chẳng hòa mục, đánh mất công năng giáo hóa chúng sanh, bình nhật thường xen tạp với phụ nữ chẳng chút kiêng dè, nói năng chẳng trung thực, chỉ chuộng văn từ hoa lệ, đón ý người nghe, chẳng hoằng dương chánh pháp. Ngược lại còn làm những sự việc hoang loạn thân tâm như thế đó, trái nghịch pháp thanh tịnh, đi vào chỗ hỗn độn, ô trược. Nếu như có bốn sự việc đó thì Phật pháp trong thế gian dù còn giữ được hình thức, đã chẳng còn thực chất hoặc đã bị biến chất rồi.
Chánh kinh:
Phật cáo tỳ-kheo:
– Phục hữu ngũ sự, linh pháp hủy diệt, hà vị vi ngũ?
Nhất, hoặc hữu tỳ-kheo, bổn dĩ pháp cố, xuất gia tu đạo, phế thâm kinh giáo, thập nhị nhân duyên, tam thập thất phẩm, Phương Đẳng thâm diệu huyền hư trí huệ, trí độ vô cực, thiện quyền phương tiện, không, vô tướng nguyện, chí hóa chi tiết.
Nhị, phản tập tạp cú thiển mạt tiểu kinh, thế tục hạnh cố, vương giả kinh điển loạn đạo chi nguyên, háo giảng thử nghiệp, dị giải thế sự, thú đắc nhân tâm, linh kỳ hoan hỷ, nhân trí danh văn.
Tam, tân văn pháp nhân, thiển giải chi sĩ, ý dụng diệu quyết, thâm đạt chi sĩ, bất dụng vi giai.
Tứ, thiên long quỷ thần bất dĩ vi hỷ, tâm hoài ấp thích, khẩu phát tư ngôn: “Đại pháp dục diệt, cố sử kỳ nhiên, xả diệu pháp hóa, phản tuyên tạp cú”. Chư thiên lưu lệ, tốc thệ nhi khứ.
Ngũ, do thị chánh pháp sảo sảo kiến xả, vô tinh tu giả.
Thị vi ngũ sự, linh pháp hủy diệt.
(Phật bảo tỳ-kheo:
– Lại có năm sự khiến pháp hủy diệt. Những gì là năm?
Một, hoặc là có tỳ-kheo vốn vì pháp nên xuất gia tu đạo, bỏ kinh giáo sâu, Thập Nhị Nhân Duyên, Ba Mươi Bảy Phẩm, trí huệ huyền hư thâm diệu của Phương Đẳng, trí độ vô cực, thiện quyền phương tiện, không, vô tướng nguyện, ngay đến cả lễ tiết giáo hóa.
Hai, trái lại tu tập những kinh nhỏ nhoi, nhánh lá, nông cạn, những câu tạp nhạp, những hạnh thế tục, nên để kinh điển của hàng Vương Giả làm loạn nguồn đạo, thích giảng những sự nghiệp, những việc đời dễ hiểu đó cốt lấy lòng người khiến họ hoan hỷ, nhân đó có được danh văn.
Ba, người mới nghe pháp, kẻ hiểu biết kém, tưởng đó là bí quyết mầu nhiệm, bậc thông đạt sâu xa chẳng cho là hay.
Bốn, trời, rồng, quỷ thần chẳng coi đó là vui, trong lòng buồn bực, miệng nói như thế này: “Đại pháp sắp diệt nên đến nỗi như thế, bỏ việc giáo hóa diệu pháp, trái lại tuyên nói những câu tạp nhạp”. Chư thiên đẫm nước mắt, nhanh chóng bỏ đi.
Năm, do vậy pháp dần dần thấy bị bỏ phế, không người tinh ròng tu tập.
Đó là năm sự khiến pháp hủy diệt)
Đây là đoạn cuối cùng trong phần Chánh Tông. Phật bảo các tỳ-kheo lại có năm sự khiến pháp bị hủy diệt.
Thứ nhất, “hoặc là có tỳ-kheo vốn vì pháp nên xuất gia tu đạo, bỏ kinh giáo sâu, Thập Nhị Nhân Duyên, Ba Mươi Bảy Phẩm, trí huệ huyền hư thâm diệu của Phương Đẳng, trí độ vô cực, thiện quyền phương tiện, không, vô tướng nguyện, ngay đến cả lễ tiết giáo hóa”. Đoạn này ý nói có những tỳ-kheo phát tâm chân chánh xuất gia, khó có vô cùng, nhưng bọn họ vứt bỏ những kinh điển sâu rộng chẳng học, chỉ xem những văn tự thô thiển, hoặc là những cuốn Phật Học Khái Luận, Phật Học Nhập Môn… do người hiện thời biên soạn, càng xem càng thích học văn Bạch Thoại, còn kinh điển nguyên văn xem chẳng hiểu thì chẳng chịu tích cực thâm nhập, tìm hiểu. Ngược lại, đối với Thập Nhị Nhân Duyên, Ba Mươi Bảy Đạo Phẩm, kinh điển Phương Đẳng v.v… là những pháp điển trí huệ cao sâu, thiện xảo tột bậc, thiện quyền phương tiện, họ chẳng thèm nghiên cứu kỹ, chẳng phát nguyện học tập, để thành người xuất gia thật sự thông đạt Phật pháp.
Thứ hai, “trái lại tu tập những kinh nhỏ nhoi, nhánh ngọn, nông cạn, những câu tạp nhạp, những hạnh thế tục, nên để kinh điển của hàng vương giả làm loạn nguồn đạo, thích giảng những sự nghiệp, những việc đời dễ hiểu đó, cốt lấy lòng người khiến họ hoan hỷ, nhân đó có được danh văn”. Câu này ý nói người xuất gia chẳng học kinh giáo, hoàn toàn dùng văn chương, tạp chí, báo chí v.v… của người hiện tại làm tài liệu giảng dạy. Ở đây, chữ “vương giả” chẳng chỉ nhân vương mà là chỉ Ma Vương. Ma Vương muốn phá hoại Phật pháp, nhân vương dạy người tu Thập Thiện, duy trì xã hội an toàn. Văn chương do người hiện tại soạn ra chính là phá hoại Phật pháp, chỉ nhằm mục đích cầu danh văn, lợi dưỡng, chẳng nhằm hoằng pháp lợi sanh. Bởi thế, nội dung toàn là bàn nói chuyện thế gian, cốt sao vừa lòng người, ve vuốt đại chúng để được yêu thích, không gì chẳng phải là gây tạo nghiệp nhân ba ác đạo, sao sánh nổi với nghĩa thú chân thật của kinh Phật cho được?
Thứ ba, “người mới nghe pháp, kẻ hiểu biết kém, tưởng đó là bí quyết mầu nhiệm, bậc thông đạt sâu xa chẳng cho là hay”. Có những người theo đuổi sự nghiệp giáo dục, trình độ giáo dục hơn mức cao đẳng, văn chương chủ yếu dùng những câu dễ hiểu, nông cạn, rõ ràng; người hiện thời xem đến những văn chương trước tác đó có thể lãnh hội được ngay. Nhưng những ngôn luận, văn tự ấy đều là tác dụng của tâm ý thức, chuyên vận dụng khéo léo những chuyện nhân – ngã, thị – phi cốt sao người đọc khoái ý, so với kinh Phật khác biệt một trời một vực. Hễ càng đọc nhiều những truyền thuyết văn tự chẳng chánh đáng, càng thêm dễ mê hoặc, điên đảo. Nếu đọc tụng kinh điển Đại Thừa, ắt sẽ hỗ trợ khai ngộ. Tuy vậy, kinh điển thâm áo khó hiểu, khi đọc thuần thục sẽ tự nhiên chứng nhập cảnh giới. Như thường nói: “Kinh thư bất yếm bách hồi độc” (kinh sách chẳng ngại đọc lại trăm lần), đọc kinh có thể tu Tam Học Giới – Định – Huệ, trừ khử chấp trước, phân biệt, vọng tưởng. Hễ là bậc thông đạt đều hiểu sâu sa đạo lý này, đương nhiên đối với những sách tạp nhạp, văn chương thiển cận, họ chẳng xem là hay.
Thứ tư, “trời, rồng, quỷ thần chẳng coi đó là vui, trong lòng buồn bực, miệng nói như thế này: “Đại pháp sắp diệt nên đến nỗi như thế, bỏ việc giáo hóa diệu pháp, trái lại tuyên nói những câu tạp nhạp”. Chư thiên đẫm nước mắt, nhanh chóng bỏ đi”. Các vị trời, rồng hộ pháp quỷ thần, Bồ Tát v.v…đều giống đức Phật Thích Ca Mâu Ni, trông thấy hiện tượng này, đều vô cùng đau khổ, ứa nước mắt, chẳng ai không than thở. Tà tri tà kiến nhiễu loạn sự thanh tịnh của thế nhân, nhiễu loạn thế gian, hủy diệt Phật pháp. Thánh nhân có nói: “Quốc chi tương vong, tất xuất yêu nghiệt” (nước nhà sắp mất, yêu nghiệt ắt hiện); Phật pháp sắp diệt cũng vậy, tà tri tà kiến, yêu ma quỷ quái nhất định xuất hiện nhiễu loạn thế gian, hủy diệt Phật pháp. Nếu chúng ta là những kẻ hộ pháp nơi cửa Phật, chẳng thể đại lực hộ trì hoằng dương chánh pháp; trái lại vứt bỏ sự nghiệp hoằng pháp giáo hóa chúng sanh, tán đồng những ngôn luận, tạp chí thô thiển ấy, khiến chánh pháp diệt vong nhanh hơn, khiến cho thiên long hộ pháp đều đẫm nước mắt rời bỏ chúng ta.
Thứ năm, “do vậy pháp dần dần thấy bị bỏ phế, không người tinh ròng tu tập”. Do chúng ta chẳng biết thị – phi, thiện – ác, tà – chánh, điên đảo lầm loạn đến nỗi những hiện tượng ấy dần dần khuếch tán toàn thế giới, do sai lâu ngày chất chứa, đại chúng coi đó là đúng, cũng không cách nào nhận biết Phật pháp chân chánh, rất khó kiếm được người thật sự tinh ròng tu tập.
Đoạn kinh văn tiếp theo đây vô cùng trọng yếu, phần trên là Phật dạy chúng ta nhận thức hoàn cảnh, phần dưới Phật dạy các tỳ-kheo nên tu hành như thế nào mới chẳng đến nỗi phạm lỗi khiến chúng sanh bị lầm lạc. Nếu chúng ta có thể nghe theo lời Phật dạy dỗ, thật sự sửa đổi những lỗi lầm trước kia, thì cũng có thể gọi là “tu trì”. Biết lỗi liền sửa là một biểu hiện của trí huệ trong nhà Phật. Giờ đây chúng ta hãy nghe những lời Phật răn dạy, đó cũng là lời tổng kết cho phần Chánh Tông.
Chánh kinh:
Phật cáo tỳ-kheo:
– Ngô diệt độ hậu, hữu thử tà sự thập ngũ chi loại, linh pháp hủy diệt, nhất hà thống tai.
(Phật bảo tỳ-kheo:
– Sau khi ta diệt độ, có mười lăm loại tà sự như thế khiến pháp bị hủy diệt, đáng đau buồn thay!)
Phần trên, Phật nói một pháp, hai pháp, ba pháp, bốn pháp, năm pháp, tổng cộng đã nêu lên mười lăm tà sự tỳ-kheo sẽ mắc phải trong thời Mạt Pháp, đó cũng là những hiện tượng trong đời loạn. Thế nhưng, thật ra những sự việc chẳng đúng pháp rất nhiều, chẳng thể kể trọn, há nào chỉ có những sự như vừa mới nói ư! Trong tương lai, những tà pháp đó một khi xuất hiện trong thế gian này nhất định sẽ dẫn Phật pháp đi vào con đường hủy diệt. Bởi thế, Phật nói đến đây, đau lòng vô cùng, bèn cảm thán. Giờ đây, đức Phật lại nói tiếp:
Chánh kinh:
Nhược hữu tỳ-kheo dục đế học đạo, khí quyên ỷ sức, bất cầu danh văn, chất phác thủ chân, tuyên truyền chánh pháp.
(Nếu có tỳ-kheo chân thật muốn học đạo, hãy vứt bỏ những thứ trang sức choáng lộn, chẳng cầu danh văn, chất phác, giữ lòng chân thành, tuyên truyền chánh pháp)
“Đế” nghĩa là chân thật. Ở đây đức Phật răn dạy chúng ta: Nếu các vị muốn đạt được thành tựu trên con đường tu học Phật đạo, thì phải chú ý mấy nguyên tắc sau đây:
Thứ nhất, “hãy vứt bỏ những thứ trang sức choáng lộn” (khí quyên ỷ sức). Ỷ nghĩa là mỹ lệ, Sức là trang sức. Phật khuyến cáo các tỳ-kheo hãy nên từ bỏ hưởng thụ vật chất. Bởi lẽ, người hiện tại tìm tòi hoa lệ, sanh hoạt xa xỉ, chẳng hạn như đạo tràng phải xây dựng sao cho giàu có, hoa lệ, đường bệ, y phục màu sắc phải diêm dúa, choáng lộn, lúc giảng kinh thuyết pháp cũng phải có lễ đài, trên lễ đài bày biện rực rỡ, diêm dúa như sân khấu. Đấy đều là những điều trái nghịch đạo giác, chẳng phải là điều người tu hành nên có.
Thứ hai, “chẳng cầu danh văn”: Chữ “danh văn” bao gồm ngũ dục lục trần, thất tình ngũ dục, là căn nguyên chướng đạo, người tu đạo phải từ bỏ cho thiệt sạch, chớ để nhiễm trước thì đạo tâm mới khỏi bị hao mòn.
Thứ ba, “chất phác, giữ lòng chân thành”: Đây chính là thái độ cần phải có. Phần trên đã có nói đến đạo lý “chúng ta tu hành chuộng thực chất chứ không chuộng hình thức”. “Chất phác” nghĩa là đơn giản, thô phác. “Thủ chân” là chân tâm thành ý, nghĩa là người học Phật chúng ta từ cuộc sống cho đến đạo tràng càng giản dị, đơn sơ càng hay, chớ thực hành kiểu Phật sự chạy theo thói đời, phải chân thật niệm Phật tu tập, giữ gìn cái tâm thanh tịnh, chẳng cần phải tiếp xúc với thế sự phiền não. Có một câu nói rất hay: “Tri sự đa thời thị phi đa” (càng biết nhiều việc, thị phi càng nhiều), những việc chẳng liên quan đến mình càng ít tiếp xúc, học Phật càng đơn thuần càng hay. Có tu học như vậy mới là tinh thần “chất phác, thủ chân”, mới là thái độ tu hành cần nên có.
Thứ tư, “tuyên truyền chánh pháp”: Các tỳ-kheo giảng kinh giới thiệu Phật pháp cho đại chúng, nhất định phải căn cứ vào kinh điển, kinh Phật thuần chánh. “Chánh kinh” còn gọi là Chánh Pháp. Nói ở mức cao hơn, cái gọi là “tuyên dương chánh kinh” cần phải dựa vào yếu tốt thời gian, địa phương mà quyết định. Chẳng hạn như tại chùa Đại Giác ở Cựu Kim Sơn, chỉ có thời gian chừng hai giờ, vì vậy, tôi chọn trong Đại Tạng Kinh bộ Phật Thuyết Thanh Tịnh Tâm Kinh. Lại có lần, có thời gian chừng sáu tiếng đồng hồ, tôi chọn bộ kinh này cũng là một bộ kinh nhỏ. Một phương thức khác là chọn lấy một phẩm của Đại Kinh, hoặc trích lấy một đoạn, hoặc chỉ chọn mấy câu kinh, xem thời gian mà định. Đương nhiên những kinh điển ấy đều phải có quan hệ mật thiết đối với những vấn đề sanh hoạt, tu trì và tu dưỡng thường nhật của chúng ta.
Chánh kinh:
Phật chi nhã điển, thâm pháp chi hóa, bất dụng đa ngôn, án bổn thuyết kinh, bất xả chánh cú, hy ngôn lũ trúng, bất thất Phật ý.
(Giảng giải kinh điển hay đẹp và giáo pháp sâu xa của Phật, chớ có nhiều lời, căn cứ theo những gì kinh nói, đừng bỏ chánh cú, lời ít trúng nhiều, chẳng mất ý Phật)
Trong đoạn khai thị này, đức Phật dạy chúng ta lúc tuyên dương Phật pháp, cần phải có thái độ như thế nào. Kinh Kim Cang nói: “Phật là bậc Chân Ngữ, là bậc Thật Ngữ, là bậc Như Ngữ, là bậc Bất Cuống Ngữ, là bậc Bất Dị Ngữ”. Phật dạy chúng ta lúc vì người khác giảng giải những Phật lý sâu nhiệm, “chớ có nhiều lời, căn cứ vào những gì kinh nói”: chẳng cần thêm nhành, thêm lá, cứ chân thật dựa vào những gì kinh điển đã nói là tốt rồi, tự nhiên chẳng bị lầm lạc. Sợ nhất là tự mình tùy tiện phát huy nghĩa luận, lầm lạc trăm bề. Đặc biệt là đối với kẻ sơ học, chọn lựa kinh điển, tối trọng yếu là phải chú ý đến trình độ hiểu biết của mình. Nếu chính mình đọc chẳng hiểu kinh điển, ra ngoài giảng giải cho người khác rất dễ mắc sai lầm. Đồng thời, giảng kinh cần phải “khế lý, khế cơ”. Thật sự hiểu rõ nghĩa kinh gọi là “khế lý”, thuận theo nhu cầu của chúng sanh mà giảng thì gọi là “khế cơ” thì mới hòng làm cho chúng sanh đạt được lợi ích chân thật.
Bởi vậy nói: Khi chúng tôi chọn ra bản kinh nào, bất luận là một bộ hay một đoạn kinh văn, chỉ toàn là căn cứ theo ý Phật mà nói, thật sự bổn phận của chúng tôi chỉ là nói sao cho kinh điển ấy trở thành hoạt bát sinh động, thêm vào công phu tu học của chính mình và những thể nghiệm trong sanh hoạt thường nhật, khiến cho chúng sanh thật sự hiểu rõ tinh thần Phật pháp. Nói cách khác, tự mình làm vậy thì mới đạt được lợi ích chân thật nơi lời dạy dỗ của Phật Đà, đem những điều mình tâm đắc, quá trình nghiên cứu thưa trình chi tiết cùng đại chúng thì mới kể là viên mãn.
“Đừng bỏ chánh cú, lời ít trúng nhiều, chẳng mất ý Phật”: Câu này ý nói người tu hành có thành tựu, chẳng những y chiếu bổn ý của kinh Phật để giảng giải, mà còn có thể đoán nhận căn cơ của thính chúng, nói ra những điều tâm Phật muốn nói nhưng chưa nói, khiến cho chúng sanh hiểu rõ ý Phật, đây chẳng phải là điều đơn giản chi! Chẳng hạn như cuốn Di Đà Kinh Yếu Giải của đại sư Ngẫu Ích đời Thanh là một thuyết minh cụ thể cho “đừng bỏ chánh cú, lời ít trúng nhiều, chẳng mất ý Phật”. Trong cuốn Di Đà Kinh Yếu Giải, đại sư Ngẫu Ích giải thích chữ “phát Bồ Đề tâm” tự xưa đến nay chưa có ai có thể xiển phát hay hơn được nữa. Hết thảy kinh luận chú giải câu “phát Bồ Đề tâm” đều khác với cách thuyết pháp của đại sư Ngẫu Ích. Những bản chú giải của cổ đức chưa có ai xem hiểu được ý nghĩa, nhưng đến khi đại sư Ngẫu Ích vừa chú giải câu này, ai nấy đều đột nhiên đại ngộ. Ngài nói: “Nếu tâm có thể phát nguyện cầu sanh Tây Phương Tịnh Độ, đó chính là tâm Vô Thượng Bồ Đề”. Đại sư còn nói: “Thích Ca Mâu Ni Phật do niệm A Di Đà Phật mà thành Phật”, thật là những câu trước đây chưa từng có. Nếu chúng ta suy tưởng kỹ càng, không sai một chút nào, viên diệu vô cùng.
Lại còn có những vị cao tăng đời Đường, vì chúng ta nói những lời “hy ngôn” (lời hiếm có) như nói kinh Vô Lượng Thọ là chân thật nhất trong những sự chân thật, viên mãn nhất trong các viên mãn, đốn nhất trong các pháp đốn, hoặc nói Hoa Nghiêm, Pháp Hoa dẫn đường cho kinh Vô Lượng Thọ, kinh Hoa Nghiêm, Pháp Hoa là Tự Phần, kinh Vô Lượng Thọ là Chánh Tông Phần, đều là những lời khuyến dụ khéo léo, nhưng chẳng sai chân nghĩa của Phật. Đại sư Liên Trì đời Minh từng nói kinh Vô Lượng Thọ và kinh A Di Đà cùng là một bộ kinh, Ngài gọi là Đại Bổn và Tiểu Bổn, kinh Vô Lượng Thọ tức là kinh A Di Đà Đại Bổn, kinh A Di Đà là kinh Vô Lượng Thọ Tiểu Bổn; chỉ là kinh văn dài ngắn sai khác, chứ nội dung hoàn toàn chẳng sai biệt. Cư sĩ Bành Tế Thanh triều Thanh cũng nói ra hy ngôn, ông nói: “Vô Lượng Thọ kinh là Trung Bổn Hoa Nghiêm (kinh Hoa Nghiêm bản tám mươi cuốn là Đại Bổn Hoa Nghiêm, kinh A Di Đà là Tiểu Bổn Hoa Nghiêm), bởi lẽ, cuối kinh Hoa Nghiêm là mười đại nguyện vương dẫn quay về Cực Lạc thì mới kể là viên mãn”. Ba bộ kinh hoàn toàn tương đồng. “Hy ngôn lũ trúng” (lời hiếm có trúng nhiều) là vì người chân chánh tu học thường phát hiện những ý nghĩa chân thật, tức là tứ đẳng, tứ đồng: tâm đồng tâm Phật, nguyện đồng Phật nguyện, hạnh đồng Phật hạnh, giải đồng Phật giải. Nói đơn giản là thân, ngữ, ý giống với Phật. Đấy là những danh ngôn hay nhất của cổ đức.
Tiếp theo đây là mấy câu Phật dạy chúng ta những điều cần phải tuân thủ trên phương diện sanh hoạt.
Chánh kinh:
Thô y thú thực, đắc mỹ bất cam, đắc thô bất ố, y thực hảo xú, tùy thí giả ý, bất dĩ sân hỷ.
(Áo thô, cơm dở, được tốt chẳng mừng, được xấu chẳng ghét, cơm áo tốt xấu tùy lòng người thí, chẳng vì đó mà mừng hay giận)
Phật bảo các tỳ-kheo: Y phục chỉ cần giữ ấm, che thân là được rồi, chẳng cần phải hoa lệ, hợp thời trang; ăn uống chỉ cần no bụng, trà thô cơm nhạt, chẳng phải tìm tòi vị ngon. Đồ ăn đi xin mỗi ngày đều chẳng giống nhau, nếu xin được cơm, thức ăn rất ngon, chẳng sanh tâm hoan hỷ; gặp thứ chẳng hợp bụng, miệng, cũng đừng khởi phiền não. Tất cả hết thảy vật chất được cúng dường phải tùy theo tâm ý người bố thí, tùy duyên, không phan duyên, đừng phân biệt tốt xấu, tu tâm thanh tịnh trong hoàn cảnh ấy. Quán sát kỹ những tỳ-kheo trong thời hiện đại thường được hàng cư sĩ tại gia cúng dường trọng hậu vượt quá số lượng tỳ-kheo cần dùng, thường dễ khiến cho người xuất gia khởi tâm thoái đọa, chẳng nỗ lực dụng công.
Hiện tại, người ngoại quốc khảo sát nhận thấy người sống ở Đại Lục Trung Quốc khỏe mạnh, trường thọ đứng đầu thế giới. Họ nghiên cứu nguyên nhân, sau khi so sánh, nhận thấy về phương diện ẩm thực, những người đó chẳng quan tâm lắm đến vấn đề dinh dưỡng, vệ sinh cũng chẳng màng, sanh sống thanh đạm, thế mà mạnh khỏe, sống lâu. Còn người có tiền ở Đài Loan, khảo cứu vệ sinh này nọ, ngày ngày tìm tòi những món ngon lạ, mỗi bữa chẳng giống nhau, ruột, bao tử phải làm việc quá tải, kết quả sanh ra những chứng bệnh kỳ quái. Hãy xem trâu, dê ăn cỏ xanh, thế mà chúng vừa mập vừa khỏe. Người ngoại quốc ăn uống cũng rất đơn giản. Đủ thấy thức ăn tốt nhất cho sức khỏe là thức ăn đơn giản. Tục ngữ có câu:
Thanh thái, đậu hủ trường thọ bách tuế,
Kê, áp, ngư, nhục bách bệnh họa nhân.
(Rau xanh, đậu phụ sống thọ trăm năm,
Gà, vịt, thịt, cá cội nguồn trăm bệnh)
Chánh kinh:
Nhiếp thân khẩu ý, thủ chư căn môn, bất vi Phật giáo.
(Thâu tóm thân miệng ý, giữ các căn môn, chẳng trái lời Phật dạy)
Mấy câu này và yếu lãnh tu học “nhiếp trọn sáu căn, tịnh niệm tiếp nối” trong chương Đại Thế Chí Bồ Tát Niệm Phật Viên Thông của kinh Lăng Nghiêm ý nghĩa tương đồng, tức là giữ gìn chẳng cho ba nghiệp thân, khẩu, ý tạo tác. “Chư căn môn” chỉ sáu căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý. Thâu nhiếp sáu căn, chẳng rong ruổi theo sáu trần, một dạ hướng về Phật, niệm niệm là Phật, niệm đến mức “phản văn tự tánh” (xoay trở lại nghe nơi tự tánh), nghịch trần hiệp giác, đạt được Nhất Tâm, chẳng trái nghịch đạo giác ngộ. Trái lại, nếu chẳng giữ được sáu căn, tạo tác ác nghiệp nơi thân, khẩu, ý, chẳng biết giác ngộ hồi đầu, chẳng những tham Thiền chẳng thể đắc lực, học Giáo chẳng thể đại khai viên giải, niệm Phật cũng chẳng thể đạt Nhất Tâm.
Đoạn kinh này ý nói những lời răn dạy, giáo hóa của đức Phật, ta nhất định phải tuân thủ, nhất định chẳng được trái nghịch. Nhưng nếu dựa trên mấu chốt của những điều răn dạy, giáo huấn ấy là “nhiếp thân khẩu ý, giữ các căn môn” mà tu tập thì sẽ tự nhiên y giáo phụng hành, chẳng trái nghịch lời Phật dạy.
Chánh kinh:
Niệm mạng thậm cự, hoảng hốt dĩ quá, như mộng sở kiến, giác bất tri xứ, tam đồ chi nạn, bất khả xưng kế, cẩn tu Phật pháp, do cứu đầu nhiên.
(Nghĩ mạng rất giống bó đuốc, lờ mờ thoáng qua giống như trong mộng thấy, tỉnh giấc chẳng biết về đâu, cái nạn tam đồ chẳng thể tính kể, siêng tu Phật pháp giống như cứu đầu cháy)
Đoạn này là lời Phật cảnh tỉnh chúng ta:
“Niệm mạng thậm cự”, Cự là cây đuốc, tỷ dụ thời gian bó đuốc thắp sáng rất ngắn, sanh mạng chúng ta cũng ngắn ngủi, tạm bợ như bó đuốc, cháy hết rất nhanh. “Lờ mờ thoáng qua, giống như trong mộng thấy, tỉnh giấc chẳng biết về đâu”: Chữ“giác” có nghĩa là tỉnh giấc mộng. Đoạn kinh văn này tỷ dụ đời người rất ngắn ngủi, tạm bợ, giống hệt một giấc mộng, lờ mờ, loáng thoáng vụt qua mất, đến lúc tỉnh mộng, nghĩ lại những cảnh trong mộng chẳng biết là ở đâu cả!
“Cái nạn tam đồ chẳng thể tính kể”: Tam Đồ là ba ác đạo địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. “Xưng” là nói kể, “Kế” là tính toán, đo lường. Phật dạy “thân người khó được”, mất thân người dễ dàng, nhưng đọa lạc tam đồ lại càng dễ dàng hơn. Tam đồ khổ nạn vô số, không cách gì tính lường được, cũng chẳng thể nói rõ ràng được. Theo như kinh nói, một ngày trong quỷ đạo bằng một tháng trong nhân gian. Chúng ta mồng Một, ngày Rằm cúng bái quỷ thần cũng giống như mời họ ăn bữa trưa, bữa chiều. Một năm trong nhân gian chỉ là mười hai ngày trong quỷ đạo, bởi thế tuổi thọ của họ ít nhất cũng là ngàn năm, ngàn ngàn năm. Địa ngục càng khổ hơn, một ngày trong địa ngục dài hơn hai ngàn bảy trăm năm của nhân gian. Trung Quốc được gọi là nước cổ có nền văn minh năm ngàn năm, chưa đến hai ngày trong địa ngục! Tính toán như thế, tính ra thọ mạng trong địa ngục phải là vạn năm, vạn vạn năm, thật rất đáng sợ! Tạo tội nghiệp ba ác đạo, vào đó thì dễ, thoát ra thì khó, chẳng thể không dè chừng. Bởi thế, tiếp theo đó, Phật nói: “Siêng tu Phật pháp giống như cứu đầu cháy”. Chữ “đầu cháy” chỉ nỗi khổ phải chịu trong tam ác đạo khác nào lửa cháy đầu tóc. Nếu như nhận biết tam đồ đáng sợ, ắt sẽ mau chóng siêng tu học Phật pháp, khác nào gấp rút dập lửa đang cháy ngay trên đầu tóc.
Chánh kinh:
Ngũ Giới, Thập Thiện, Lục Độ vô cực, Tứ Đẳng Tứ Ân, trí huệ thiện quyền, hàm khả tinh hành, tuy bất trị Phật thế, xuất gia vi đạo, học bất đường quyên, bình kỳ bổn tâm, mẫn niệm nhất thiết, thập phương mông ân, Phật thuyết như thị.
(Ngũ Giới, Thập Thiện, Lục Độ tột bậc, Tứ Đẳng, Tứ Ân, trí huệ thiện quyền đều có thể chuyên ròng tu tập, tuy Phật chẳng ở đời, xuất gia tu đạo, chẳng uổng phí cái học, bình cái tâm mình, nghĩ thương hết thảy, mười phương nhờ ơn, Phật nói như thế)
“Ngũ Giới Thập Thiện” là cơ sở căn bản của việc học Phật.
“Lục Độ vô cực”: Lục Độ là đại hạnh của Bồ Tát Đại Thừa gồm Bố Thí, Trì Giới, Nhẫn Nhục, Tinh Tấn, Thiền Định, Bát Nhã. Bố Thí nói đơn giản là buông xuống, Trì Giới là giữ pháp, Nhẫn Nhục là tâm nhẫn nại, Tinh Tấn là nỗ lực, Thiền Định là tâm thanh tịnh, tâm thanh tịnh khởi tác dụng là trí huệ Bát Nhã. Nếu Bồ Tát tu đến khi trí huệ Bát Nhã hiện tiền sẽ hành Lục Độ viên mãn vô lượng, nên gọi là “Lục Độ vô cực”.
“Tứ Đẳng, Tứ Ân”: Tứ Đẳng xuất pháp từ kinh Lăng Nghiêm.
1) Danh tự tương đẳng:
Danh hiệu của chư Phật tương đồng, bình đẳng, danh hiệu kiến lập từ trí huệ đức năng của Phật. Chẳng hạn như Thích Ca Mâu Ni Phật nghĩa là Năng Nhân Tịch Mặc, chỉ Phật tu hành thành tựu trong thế giới Sa Bà Kham Nhẫn, cho nên có danh hiệu ấy. A Di Đà Phật nghĩa là Vô Lượng Quang, Vô Lượng Thọ, là do nguyện lực thành tựu. Danh hiệu tuy bất đồng, nhưng trí huệ đức năng của hết thảy chư Phật tương đồng, căn cứ vào nhân duyên của chúng sanh mà định, người tu hành chẳng được khởi phân biệt, chấp trước vào đó, hoặc là có tư tưởng môn hộ.
2) Ngữ đẳng:
Ý nói ngôn ngữ của hết thảy chư Phật tương đồng, chẳng có sai biệt.
3) Thân đẳng:
Ý nói Pháp Thân của chư Phật hoàn toàn tương đồng, cùng có đủ ba mươi hai tướng tốt, tám mươi tùy hình hảo.
4) Pháp đẳng:
 Hết thảy pháp của chư Phật nói ra đều tương đồng, bình đẳng. Nay chúng ta y chiếu lời một đức Phật dạy, cũng giống như y chiếu hết thảy chư Phật giáo hóa, không hai, không khác. Niệm A Di Đà Phật có thể thành tựu, niệm Quán Âm Bồ Tát cũng có thể thành tựu, niệm Dược Sư Như Lai cũng có thể thành tựu, hoặc là niệm Địa Tạng Bồ Tát cũng có thể thành tựu; nhưng cần phải có nguyên tắc: phải học triệt để một pháp môn, suốt đời chẳng biến cải, nhất định sẽ thành tựu. Như hiện tại chúng ta một bề chuyên niệm A Di Đà Phật, hồi hướng phát nguyện cầu sanh Tây Phương, tu đến mức tâm địa thanh tịnh, khi lâm chung nhất định Phật, Bồ Tát đến tiếp dẫn.
“Tứ Ân” là ân cha mẹ, ân Phật, ân quốc gia, ân chúng sanh.
“Trí huệ thiện quyền đều có thể chuyên ròng tu tập, tuy Phật chẳng ở đời, xuất gia tu đạo, chẳng uổng phí cái học, bình cái tâm mình, nghĩ thương hết thảy, mười phương nhờ ơn, Phật nói như thế”: Phật khuyên răn chúng ta, tu hành phải lấy lý trí làm cơ sở, đừng xử sự theo cảm tình. Theo nguyên tắc này thì chính mình mới đến nỗi chẳng bị chướng ngại, tiếp xúc đại chúng cũng chẳng chướng ngại người khác. Tiến hơn lên là tự hành, độ người, lại càng tinh tấn tu hành. Dẫu hiện tại Phật không hiện hữu trong thế gian, nhưng mình đã xuất gia tu đạo, thì phải tuân thủ những điều Phật dạy răn, hệt như Phật còn tại thế chẳng khác, y giáo phụng hành, những giáo pháp đã học nhất định chẳng bị lãng phí, nhất quyết thành tựu.
“Bình cái tâm mình” tức là tâm địa thường giữ thanh tịnh, bình đẳng, từ bi đãi người, chính là như thường nói: “Tâm bình thường là đạo”, bình tâm tu đạo, công ắt tự nhiên thành, chẳng những tự mình được lợi, mười phương chúng sanh cũng học theo gương ấy, cũng được nhờ ân huệ, đạt được điều tốt. Dẫu chẳng có ý tưởng hoằng hóa, Phật pháp chân thật đã tự hoằng dương đến mười phương.
Tự Phần, Chánh Tông Phần của kinh văn đến đây là hết. Trên đây đều là những điều do chính miệng Phật nói ra. Câu cuối cùng là do ngài A Nan nói khi kết tập kinh điển.
Chánh kinh:
Chư tỳ-kheo bi hỷ, tiền tự quy Phật, tác lễ nhi khứ.
(Các tỳ-kheo vừa buồn vừa mừng, đến trước Phật, quy y, làm lễ mà đi)
Câu sau cùng của kinh này là phần Lưu Thông. Do kinh này được dịch vào giai đoạn sơ khởi, cho nên phần Lưu Thông giống với Tự Phần, câu ngắn gọn, đơn giản. Những kinh dịch trong giai đoạn sau (từ thời Tùy, Đường trở đi), công tác dịch kinh so ra hoàn bị hơn, văn tự dài, câu văn cũng rõ ràng hơn.
Đoạn Lưu Thông này tuy giản khiết, nhưng ý nghĩa vẫn viên mãn, nói rõ ràng: đại chúng khi ấy nghe những lời Phật nói xong, vừa bi vừa hỷ. Bi là buồn thương cho những tướng suy sụp thời Mạt, cảm thấy đau buồn thống khổ, Hỷ là mừng mình may mắn được gặp Thế Tôn, được nghe chánh pháp. Ngay đó, mọi người đến trước đức Phật, thỉnh cầu thọ trì Tam Quy, làm lễ, lui ra.
Chúng ta đọc đến bộ kinh này, tuy chẳng gặp Phật nơi đời, nhưng tâm tình vẫn tương đồng với đại chúng trong hội, chúng ta cũng có thể đến trước Phật, quy y Tự Tánh Tam Bảo, y giáo phụng hành, chẳng cô phụ những lời giáo hối của đức Phật.
Phật Thuyết Đương Lai Biến Kinh Giảng Ký hết
(hoàn tất ngày 11 tháng 09 năm 2004)
(1) Bộ kinh này là kinh số 395, Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh cuốn 12, thuộc bộ Niết Bàn, do ngài Trúc Pháp Hộ, người xứ Nhục Chi dịch vào thời Tây Tấn.
      (2) Các vị tỳ-kheo thường theo hầu đức Phật nên gọi là “thường tùy chúng”.

KINH DUY MA CẬT

…… … ..  . ..  .  .

Kinh Duy-ma-cật Sở Thuyết

Cưu-ma-la-thập dịch Hán

HT. Thích Huệ Hưng dịch Việt

LỜI GIỚI THIỆU

ôn Bất Nhị. Chính đó là phương tiện của Chư Phật, Bồ Tát thị hiện chỉ rõ chỗ diệu dụng của bản tâm thanh tịnh, là PHÁP MÔN GIẢI THOÁT BẤT KHẢ TƯ NGHỊ mà Ngài DUY MA CẬT lặng thinh, đức Văn Thù tán thán, hàng Nhị thừa sửng sốt, không thể lấy trí suy nghĩ phân biệt biết nổi, không thể dùng lời nói luận bàn đến được.
Từ xưa chư Phật, Bồ Tát ra đời giáo hóa chúng sanh, với lòng bi nguyện thâm thiết đều muốn cho tất cả thoát ly cảnh giới triền phược khổ não, đồng hưởng cảnh thanh tịnh an vui giải thoát. Nhưng muốn thực hiện cảnh giới thanh tịnh an vui giải thoát, cốt yếu là mình phải được thanh tịnh như trong kinh nói “TÙY KỲ TÂM TỊNH, TẮC PHẬT ĐỘ TỊNH”.
Sở dĩ thân Phật rực rỡ, cảnh Phật trang nghiêm cũng đều do công đức diệu dụng của bản tâm thanh tịnh lưu xuất. Bản tâm ấy, chúng sanh sẳn có, cũng như chư Phật, không hai không khác, nhưng vì từ lâu cứ mê chấp, đắm nhiễm theo trần duyên mà không hiển bày được đó thôi.
Bộ Kinh “DUY – MA – CẬT” này, tôn yếu hiển bày pháp m
Giáo lý Tối Thượng Thừa này thật siêu thắng, trong đời ít có, khó gặp.
Nay thầy Thích Huệ Hưng gia tâm phiên dịch ra quốc văn, vì thời cơ xứng hiệp, nên được nhân duyên xuất bản.
Nhận thấy pháp Tối Thượng Thừa này rất lợi ích, nên tôi nhứt tâm tùy hỉ giới thiệu cùng các bạn tu hành nào muốn tìm phương GIẢI THOÁT, muốn thực hiện cảnh giới an vui BẤT KHẢ TƯ NGHỊ.
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. GIÁC NGUYÊN PHẬT HỌC ĐƯỜNG                      Mùa Hạ Năm Tân Mão – 1951 Sa môn: LÊ PHƯỚC BÌNH
LỜI NÓI ĐẦU
Kinh “DUY MA CẬT” cũng có tên gọi: Kinh “BẤT KHẢ TƯ NGHỊ GIẢI THOÁT”. Kinh này nói rõ cảnh giới của Đại Bồ Tát chứng nhập.
Bồ Tát thường chẳng những thị hiện thuận hành mà cũng lắm khi thị hiện nghịch hành để hóa độ chúng sinh.
Ngài DUY MA CẬT chính là vị Đại Bồ Tát ở cõi Bất Động, vì trợ duyên đức Thích Ca mà hiện thân cư sĩ đến cõi Ta bà này.
Muốn hiển bản tánh “Bình Đẳng Chơn Thật Không Hai” của chúng sinh sẵn có, Ngài hiện thân có bịnh để chỉ bày các phương pháp phá chấp: có, không, thường, đoạn của Tiểu Thừa và phàm phu ngoại đạo.
Đọc vào kinh ta nhận thấy chẳng những hàng xuất gia mới thật hành được Phật đạo, mà Cư sĩ, Bà la môn cho đến mọi tầng lớp dân chúng cũng đều thật hành được Phật đạo. Có thật hành Phật đạo mới trở về bản tánh “bình đẳng không hai” và đầy đủ diệu dụng giải thoát.
Đạo Phật là đạo chú trọng thật hành, không phải lý thuyết suông.
Bộ Kinh DUY MA CẬT đây hiển rõ rành mạch cả lý thuyết và chỗ thật hành cho đến thế nào là thân chứng. Càng đọc, càng gẫm, càng thật hành, ta sẽ thấy đầy tánh cách từ bi vô ngại rộng lớn bao la của tâm hồn lợi tha triệt để.
Đời đang đắm chìm trong biển khổ mênh mang, người muốn cứu đời chân chính, cần phải có phương pháp chân chính cao siêu. Thấy sự lợi ích của kinh này hướng dẫn mọi người đi đến mục đích cao cả, thoát hẳn muôn sự mê lầm đen tối của tâm hồn chấp trước, ích kỷ, nhỏ hẹp và hành vi khổ lụy nhơn sinh, Dịch giả chẳng nệ gì chỗ hiểu chưa cùng tột và hạnh đức chưa thân chứng đến cảnh giới “bất tư nghị” mà vội cống hiến cho bạn đọc một pho sách chưa từng có.
Vậy có chỗ nào sơ sót mong các bực cao minh phủ chính cho. Rất thâm tạ!
Dịch giả cẩn chí.

LỆ NGÔN

I. Kinh này có phân ra thượng, trung, hạ, 3 quyển, 14 phẩm. Nhưng tôi dịch đây chỉ để luôn một quyển và số mục của các phẩm.
II. Về phẩm II và III, tôi có nêu tên các vị Thanh Văn, Bồ Tát trên mỗi đoạn cho dễ tìm khi quí vị muốn xem.
III.   Ở sau có phụ phần chú thích danh từ. Phàm danh từ nào ở trước có giải rồi sau không giải nữa.
IV. Kinh này không phải là kinh khóa tụng hằng ngày, nhưng nếu quí vị nào phát tâm trì tụng cũng được nhiều lợi ích và công đức vô lượng, như trong phẩm “Thấy Phật A Súc”, phẩm “Pháp cúng dường” và phẩm “Chúc lụy” có nói rõ. Khi tụng kinh này cũng phải y theo nghi thức tụng niệm thường lệ, trước khai kinh, sau hồi hướng như tụng các kinh khác vậy.
Kính dâng Giác LinhBổn Sư Hòa Thượng hiệu CHÁNH THÀNHCHÙA VẠN AN chứng giámĐệ tử: HUỆ HƯNG

~~oOo~~

 

Giới thiệu | 1 | 2 | 4 | 5 | 6 | 7 | 8 | 9 | 10 | 11 | 12 | 13 | 14

KINH PHÁP BẢO ĐÀN GIẢNG GIẢI

LỜI ĐẦU SÁCH
Kinh PHÁP BẢO ĐÀN là một tài liệu thiết yếu cho những người tu theo
Thiền Tông, bởi vì cốt tủy Thiền Tông đều nằm gọn trong những lời dạy đơn giản
bình dị của Lục Tổ. Hơn nữa, Lục Tổ ngộ đạo từ Kinh Kim Cang, nên những lời
Ngài dạy rất gần gũi với kinh. Người tu Thiền học kỹ quyển sách này, sẽ không
còn nghĩ Thiền là cái gì xa lạ với kinh điển. Vì thế, trong các Thiền viện, chúng tôi
đều bắt buộc Thiền sinh phải học kỹ quyển sách này.
Quyển “KINH PHÁP BẢO ĐÀN GIẢNG GIẢI” được in thành sách, do
chúng tôi giảng cho đại chúng tại Thiền viện Thường Chiếu, các Thiền sinh phát
tâm ghi chép từ băng nhựa thành tập, trao chúng tôi xem. Chúng tôi thấy tạm được,
nên chấp nhận cho in. Tuy nhiên, đây là lời giảng toàn văn nói nên khó được hoàn
hảo.
Phần dịch và giảng của chúng tôi khó tránh khỏi nhiều khuyết điểm, vì dịch
trong khi giảng; lại tùy chỗ nhận hiểu đến đâu, chúng tôi giảng đến đấy. Vì thế,
đây chưa phải là chân lý tối hậu, mong quí giả thông cảm cho.

THIỀN VIỆN THƯỜNG CHIẾU
Mùa Xuân năm Nhâm Thân (1992)
THÍCH THANH TỪ
“LƯỢC KHẢO
Tên quyển sách, nói đủ là LỤC TỔ ĐẠI SƯ PHÁP BẢO ĐÀN KINH, nói
gọn là PHÁP BẢO ĐÀN KINH. Thông thường, theo Phật giáo, Kinh là chỉ những
lời dạy của đức Phật do đệ tử ghi lại. Nếu chư vị Bồ-tát hay chư Tổ sau này viết
sách thì gọi là Luận, còn những vị Thiền sư thuyết giảng rồi đệ tử ghi chép lại thì
gọi là Ngữ lục.
Lục Tổ được xem như là một Thiền sư, những lời Ngài giảng được ghi lại,
lý đáng phải gọi là Ngữ lục, nhưng tại sao quyển sách này lại để là Pháp Bảo Đàn
Kinh ? Đây là do lời di chúc của Lục Tổ, Ngài dặn các đệ tử: “Sau khi ta tịch,
muốn làm lợi ích cho người sau, các ngươi nên ghi những lời ta dạy thành một
quyển sách đề tên là Pháp Bảo Đàn Kinh”. Như vậy là y theo lời dạy của Lục Tổ
nên quyển sách này để tên như thế.
Quyển Pháp Bảo Đàn do Thiền sư Pháp Hải, đệ tử của Lục Tổ, trụ trì chùa
Bảo Lâm ghi chép lại. Thế nên những lời được ghi lại đương nhiên là có khi sơ sót
chút ít, có khi được bổ túc cho thành câu, thành văn, vì Lục Tổ chỉ giảng thôi chớ
không có viết. Sách sử chép rằng Lục Tổ không biết chữ, do đó Ngài giảng dạy rồi
đồ đệ ghi, dĩ nhiên có những lời Ngài dạy mà người ghi bỏ sót, cũng như có những
phần mà người sau thấy cần bổ túc cho hay hơn, thành ra có thể sai đi chút ít, đó là
việc thường không thể tránh khỏi.
Quyển Pháp Bảo Đàn cũng được nhiều nhà dịch ra chữ Việt.
DPHẨM THỨ NHẤT: HÀNH DO
DỊCH
Khi ấy Đại sư đến chùa Bảo Lâm tại Thiều Châu, Thứ sử Vi Cừ cùng với
quan liêu vào núi thỉnh Sư đến trong thành, ở chùa Đại Phạm, tại giảng đường vì
chúng khai duyên nói pháp. Sư đăng tòa, Thứ sử quan liêu hơn ba mươi người,
Nho tông học sĩ hơn ba mươi người, Tăng Ni đạo tục hơn một ngàn người đồng
thời làm lễ, nguyện được nghe pháp yếu. Lục Tổ bảo chúng rằng: Này Thiện tri
thức, Bồ-đề tự tánh xưa nay thanh tịnh, chỉ dùng tâm này, thẳng đó trọn được
thành Phật. Này Thiện tri thức, hãy lắng nghe Huệ Năng nói về hành do được pháp.
Nghiêm phụ của Huệ Năng bổn quán ở Phạm Dương, bị giáng đày ra Lãnh Nam,
làm thường dân ở Tân Châu. Thân này bất hạnh, cha lại mất sớm, mẹ góa con côi
dời đến Nam Hải, gian nan nghèo khổ, thường ra chợ bán củi. Khi ấy có một
người khách mua, bảo gánh đến khách điếm, khách nhận củi xong, Huệ Năng lãnh
tiền, lui ra khỏi cửa, thấy một người khách tụng kinh, Huệ Năng một phen nghe lời
kinh, tâm liền khai ngộ, bèn hỏi khách tụng kinh gì. Khách bảo: “Kinh Kim
Cang.” Huệ Năng lại hỏi: “Ở đâu đến thọ trì kinh này ?” Khách bảo: “Tôi từ chùa
Đông Thiền, huyện Huỳnh Mai, Kỳ Châu đến. Chùa ấy do Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn
Đại sư làm chủ giáo hóa, đệ tử có hơn một ngàn người, tôi đến đó lễ bái, nghe
nhận kinh này. Đại sư thường khuyên kẻ tăng người tục chỉ trì kinh Kim Cang liền
được thấy tánh, thẳng đó thành Phật.” Huệ Năng nghe nói, do đời trước có duyên,
mới được một người khách cho Huệ Năng một số bạc là mười lượng để giúp nuôi
dưỡng mẹ già và bảo đến Huỳnh Mai tham vấn Ngũ Tổ.
Huệ Năng an trí mẹ xong liền từ giã ra đi, không hơn ba mươi ngày liền
đến Huỳnh Mai lễ bái Ngũ Tổ. Tổ hỏi: “Ngươi từ phương nào đến, muốn cầu vật
gì ?” Huệ Năng đáp: “Đệ tử là dân Tân Châu thuộc Lãnh Nam, từ xa đến lễ Thầy,
chỉ cầu làm Phật, chớ không cầu gì khác !” Tổ bảo: “Ông là người Lãnh Nam, lại
là người quê mùa, làm sao kham làm Phật ?” Huệ Năng liền đáp: “Người tuy có
Nam Bắc nhưng Phật tánh vốn không có Nam Bắc, thân quê mùa này cùng với
Hòa thượng chẳng đồng, nhưng Phật tánh đâu có sai khác.” Ngũ Tổ muốn cùng tôi
nói chuyện, lại thấy đồ chúng hai bên đông, mới bảo theo chúng làm công tác. Huệ
Năng thưa: “Huệ Năng xin bạch Hòa thượng, tự tâm đệ tử thường sanh trí tuệ,
không lìa tự tánh tức là phước điền, chưa biết Hòa thượng dạy con làm việc gì ?”
Tổ bảo: “Kẻ nhà quê này, căn tánh rất lanh lợi, ông chớ nói nữa, xuống nhà trù
đi.” Huệ Năng lui lại nhà sau, có một người cư sĩ sai Huệ Năng bửa củi, giã gạo,
trải hơn tám tháng. Một hôm, Tổ chợt thấy Huệ Năng, mới bảo: “Ta nghĩ chỗ thấy
của ngươi có thể dùng, nhưng sợ có người ác hại ngươi, nên không nói cùng ngươi,
ngươi có biết chăng ?” Huệ Năng thưa: “Đệ tử cũng biết ý của Thầy nên không
dám đến nhà trên, để người không biết.”
Một hôm, Ngũ Tổ bảo các đệ tử: “Tất cả hãy đến, ta nói với các ông: Người
đời sanh tử là việc lớn, các ông trọn ngày chỉ cầu phước điền, chẳng cầu ra khỏi biển khổ sanh tử, tự tánh nếu mê thì phước nào có thể cứu? Các ông, mỗi người
hãy đi, tự xem trí tuệ của mình, nhận lấy tánh Bát-nhã nơi bản tâm mình, mỗi
người làm một bài kệ đến trình cho ta xem, nếu ngộ được đại ý thì ta trao y pháp
làm Tổ thứ sáu. Phải nhanh đi, không được chậm trễ, suy nghĩ tức là không trúng.
Người kiến tánh ngay lời nói phải thấy, nếu như người này dù khi múa đao giữa
trận cũng được thấy tánh.”(Đây là dụ cho người lợi căn thấy cơ thì làm.)
Chúng được chỉ dạy, trở về họp bàn với nhau: “Tất cả chúng ta không cần
phải lắng lòng dụng ý làm kệ để trình Hòa thượng, đâu có lợi ích gì ? Thượng tọa
Thần Tú, hiện làm Giáo thọ sư, ắt là người được, chúng ta có gắng làm kệ tụng
cũng uổng dụng tâm lực.” Mọi người nghe lời này, thảy đều đồng ý nói: “Chúng ta
về sau y chỉ Thượng tọa Thần Tú, nhọc gì phải làm kệ.”
Thần Tú suy nghĩ: “Các người đều không trình kệ vì ta làm Giáo thọ sư cho
họ, ta cần phải làm kệ trình lên Hòa thượng; nếu không trình kệ thì Hòa thượng
đâu biết được kiến giải trong tâm ta cạn hay sâu ? Ý ta trình kệ, cầu pháp thì tốt,
cầu làm Tổ thì xấu, vì đồng với tâm của kẻ phàm, muốn cướp được ngôi vị Thánh
không khác, nếu chẳng trình kệ thì trọn không được pháp. Rất khó ! Rất khó !”
Trước nhà của Ngũ Tổ có một hành lang ba gian, Ngũ Tổ nghĩ mời ông
Cung Phụng Lư Trân đến vẽ “Lăng-già biến tướng và Ngũ Tổ huyết mạch đồ” để
lưu truyền cúng dường. Ngài Thần Tú làm kệ rồi, mấy phen muốn trình, đi đến
nhà trước thì trong tâm hoảng hốt, khắp thân đổ mồ hôi, nghĩ trình chẳng được.
Trước sau trải qua bốn ngày, đến mười ba lần, trình kệ không được. Thần Tú mới
suy nghĩ: “Chẳng bằng đến dưới hành lang viết (bài kệ), Hòa thượng đi qua xem
thấy, nếu chợt bảo rằng hay thì mình ra lễ bái thưa của Thần Tú làm; nếu nói
không kham, thật uổng công ở núi mấy năm, thọ người lễ bái, lại tu đạo gì ?”
Canh ba đêm ấy, không cho người biết, Ngài tự cầm đèn viết bài kệ ở vách
phương Nam để trình chỗ tâm mình thấy được. Bài kệ rằng:
Thân là cội bồ-đề,
Tâm như đài gương sáng.
Luôn luôn phải lau chùi,
Chớ để dính bụi bặm.
(Thân thị bồ-đề thọ,
Tâm như minh cảnh đài.
Thời thời cần phất thức,
Vật sử nhạ trần ai.)
Ngài Thần Tú viết kệ xong, liền trở về phòng, mọi người đều chẳng biết.
Thần Tú lại suy nghĩ: “Ngày mai Ngũ Tổ thấy bài kệ, nếu hoan hỉ tức ta cùng pháp
có duyên, nếu nói không kham, tự là ta mê, nghiệp duyên đời trước nặng nề,
không hợp được pháp, thật là Thánh ý khó lường.” Trong phòng suy nghĩ, ngồi
nằm chẳng an cho đến canh năm.
Ngũ Tổ đã biết Thần Tú vào cửa chưa được, không thấy tự tánh. Sáng hôm
sau, Tổ gọi ông Lư Cung Phụng đến hành lang phía Nam để vẽ đồ tướng trên vách,
chợt thấy bài kệ, Ngài bảo Cung Phụng rằng: “Thôi chẳng cần phải vẽ, nhọc công
ông từ xa đến. Trong Kinh có nói: Phàm những gì có tướng đều là hư vọng, chỉ đểlại một bài kệ này cho người tụng đọc thọ trì, y bài kệ này tu thì khỏi đọa trong ác
đạo, y bài kệ này tu thì được lợi ích lớn.” Khiến đồ đệ thắp hương lễ bái cung kính
và tụng đọc bài kệ này tức được thấy tánh. Môn nhân tụng bài kệ đều khen: “Hay
thay !”
Đến canh ba, Tổ mới gọi Thần Tú vào trong thất hỏi: “Kệ đó, phải ông làm
chăng ?” Ngài Thần Tú thưa: “Thật là con làm, chẳng dám vọng cầu Tổ vị, chỉ
mong Hòa thượng từ bi xem đệ tử có chút ít trí tuệ chăng ?” Tổ bảo: “Ông làm bài
kệ này chưa thấy được bản tánh, chỉ đến ngoài cửa, chưa vào được trong cửa,
kiến giải như thế tìm Vô thượng Bồ-đề, trọn không thể được. Vô thượng Bồ-đề
phải được ngay nơi lời nói mà biết bản tâm mình, thấy được bản tánh mình chẳng
sanh chẳng diệt, đối trong tất cả thời mỗi niệm mỗi niệm tự thấy, muôn pháp đều
không kẹt, một chân tất cả đều chân, muôn cảnh tự như như, tâm như như
đó tức là chân thật. Nếu thấy được như thế tức là tự tánh Vô thượng Bồ-đề. Ông
hãy đi, một hai ngày sau, suy nghĩ làm một bài kệ khác đem lại tôi xem, bài kệ của
ông nếu vào được cửa, sẽ trao y pháp cho ông”. Ngài Thần Tú làm lễ lui ra, trải
qua mấy ngày, làm kệ cũng không thành, trong tâm hoảng hốt, thần tư bất an, ví
như ở trong mộng, đi ngồi không vui.
Lại hai ngày sau, có một chú bé đi qua chỗ giã gạo, đọc bài kệ này. Huệ
Năng vừa nghe liền biết bài kệ này chưa thấy được bản tánh. Tuy chưa nhờ chỉ
dạy mà sớm đã biết được đại ý, bèn hỏi chú bé: “Tụng đó là kệ gì ?” Chú bé đáp:
“Cái ông nhà quê không biết, Đại sư nói: Người đời sanh tử là việc lớn, muốn
được truyền y pháp, khiến đệ tử làm kệ trình Ngài xem, nếu ngộ được đại ý, liền
trao y pháp làm Tổ thứ sáu. Thượng tọa Thần Tú viết bài kệ Vô tướng ở vách hành
lang phía Nam, Đại sư khiến người đều đọc, y kệ này tu sẽ khỏi đọa đường ác, y
kệ này tu sẽ có lợi ích lớn.”
Huệ Năng thưa: “Thượng nhân, đã hơn tám tháng, tôi ở nhà trù giã gạo,
chưa từng đến nhà trên, mong thượng nhân dẫn tôi đến trước bài kệ lễ bái.”(Có
bản nói: Tôi cũng cần tụng bài kệ này để kết duyên.) Chú bé dẫn Ngài đến trước
bài kệ lễ bái. Huệ Năng bảo: “ Huệ Năng không biết chữ, nhờ thượng nhân vì tôi
đọc.” Khi ấy có quan Biệt Giá ở Giang Châu họ Trương tên Nhật Dụng liền to
tiếng đọc. Huệ Năng nghe rồi bèn nói: “Tôi cũng có một bài kệ, mong Biệt Giá vì
tôi viết.” Quan Biệt Giá nói: “Ông cũng làm kệ nữa sao ? Việc này thật ít có !”
Huệ Năng nói với Biệt Giá rằng: “Muốn học đạo Vô thượng Bồ-đề, không được
khinh người mới học. Kẻ hạ hạ cũng có cái trí thượng thượng, còn người thượng
thượng cũng không có ý trí. Nếu khinh người thì có vô lượng vô biên tội”. Quan
Biệt Giá nói: “Ông chỉ tụng kệ, tôi vì ông viết, ông nếu được pháp, trước phải độ
tôi, chớ quên lời này.” Huệ Năng đọc bài kệ:
Bồ-đề vốn không cây,
Gương sáng cũng chẳng đài.
Xưa nay không một vật,
Chỗ nào dính bụi bặm ?
(Bồ đề bổn vô thọ,
Minh cảnh diệc phi đài. Bản lai vô nhất vật,
Hà xứ nhạ trần ai ?)
Khi viết bài kệ rồi, đồ chúng thảy đều kinh hoàng, không ai mà chẳng xuýt
xoa, mọi người bảo nhau rằng: “Lạ thay ! Không thể do tướng mạo mà đoán người,
đã bao lâu nay sai nhục thân Bồ-tát làm việc.” Tổ thấy cả chúng đều kinh ngạc, sợ
có người làm hại Ngài, mới lấy giày xóa hết bài kệ, nói: “Cũng chưa thấy tánh.”
Chúng cho là đúng. Ngày kế Tổ thầm đến chỗ giã gạo thấy Huệ Năng đeo đá giã
gạo, mới bảo rằng: “Người cầu đạo vì pháp quên mình đến thế ư ?” Tổ lại hỏi:
“Gạo trắng hay chưa ?” Huệ Năng thưa: “Gạo trắng đã lâu, còn thiếu giần sàng.”
Tổ lấy gậy gõ vào cối ba tiếng rồi đi. Huệ Năng liền hội được ý Tổ, đến khi trống
đổ canh ba liền lén vào thất. Tổ lấy cà-sa che chung quanh không để người thấy, vì
nói kinh Kim Cang, đến câu “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”, Huệ Năng ngay lời
đó đại ngộ, thấy tất cả muôn pháp chẳng lìa tự tánh, liền thưa Tổ rằng:
Đâu ngờ tự tánh vốn tự thanh tịnh,
Đâu ngờ tự tánh vốn không sanh diệt,
Đâu ngờ tự tánh vốn tự đầy đủ,
Đâu ngờ tự tánh vốn không dao động,
Đâu ngờ tự tánh hay sanh muôn pháp !
Ngũ Tổ biết Huệ Năng đã ngộ được bản tánh mới bảo: “Chẳng biết bản tâm,
học pháp vô ích, nếu biết được bản tâm mình, thấy được bản tánh mình, tức gọi là
Trượng phu, là Thầy của trời người, là Phật.” Canh ba thọ pháp, người trọn không
biết, Tổ liền truyền pháp đốn giáo và y bát, nói rằng: “Ngươi là vị Tổ đời thứ sáu,
khéo tự hộ niệm, rộng độ chúng hữu tình, truyền khắp đời sau, không khiến cho
đoạn tuyệt. Nghe ta nói kệ :
Hữu tình đến gieo giống,
Nhân đất quả lại sanh.
Vô tình cũng không giống,
Không tánh cũng không sanh.”
(Hữu tình lai hạ chủng,
Nhân địa quả hoàn sanh.
Vô tình diệc vô chủng,
Vô tánh diệc vô sanh.)
Tổ lại bảo: “Xưa Đại sư Đạt-ma ban đầu đến cõi này, người chưa tin nên
mới truyền y này để làm tín thể, đời đời truyền nhau, pháp thì dùng tâm truyền tâm,
đều khiến cho tự ngộ tự giải. Từ xưa Phật Phật chỉ truyền bản thể, thầy thầy thầm
trao bản tâm, y là đầu mối của sự tranh giành, nên dừng ngay nơi ngươi, chớ
truyền nữa. Nếu truyền y này thì mạng của người nhận y cũng như sợi chỉ mành.
Ông phải đi nhanh e người hại ông.” Huệ Năng thưa: “Bây giờ con phải đi đâu ?”
Tổ bảo: “Gặp ấp Hoài thì dừng, gặp ấp Hội thì ẩn.” Huệ Năng canh ba lãnh được y
bát, thưa: “Huệ Năng vốn là người miền Nam, không biết đường đi, làm sao ra
được bến đò ?” Ngũ Tổ bảo: “Ông chẳng phải lo, ta tự đưa ông đi.” Tổ liền đưa
đến bến đò Cửu Giang, Tổ bảo lên thuyền, Ngũ Tổ bèn cầm chèo tự chèo. Huệ
Năng thưa: “Thỉnh Hòa thượng ngồi, để đệ tử chèo.” Tổ bảo: “Phải là ta độ ông.” Huệ Năng thưa: “Khi mê thì Thầy độ, ngộ rồi thì tự độ. Độ tên tuy là một nhưng
chỗ dùng không đồng. Huệ Năng sanh nơi biên phương, tiếng nói không đúng,
nhờ Thầy truyền pháp nay đã được ngộ, chỉ nên tự tánh tự độ.” Tổ bảo: “Như thế !
Như thế ! Về sau Phật pháp do ông mà được thạnh hành, ông đi ba năm, ta sẽ thệ
thế. Nay ông đi an vui, nỗ lực hướng về Nam, không nên nói pháp sớm, Phật pháp
sẽ gặp tai nạn.” Huệ Năng từ giã Ngũ Tổ rồi cất bước đi về phương Nam, trong
khoảng hai tháng đến ngọn núi Đại Dữu.
Ngũ Tổ trở về, mấy ngày không thượng đường, chúng nghi mới đến hỏi:
“Hòa thượng có ít bệnh, ít não chăng ?” Ngài đáp: “Bệnh thì không, mà y pháp đã
về Nam rồi.” Chúng hỏi: “Ai là người được truyền ?” Tổ bảo: “Người có khả năng
thì được.” Chúng liền biết. Khi đó vài trăm người đuổi theo, muốn cướp y bát, một
vị tăng họ Trần, tên Huệ Minh, trước là tướng quân bậc Tứ phẩm, tánh hạnh thô
tháo, hết lòng theo tìm, chạy trước mọi người, đuổi kịp Huệ Năng. Huệ Năng để y
bát trên bàn thạch nói: “Y này là biểu tín, có thể dùng sức mà tranh sao !” Huệ
Năng liền ẩn trong lùm cỏ, Huệ Minh đến cầm y lên mà không nhúc nhích, mới
kêu rằng: “Cư sĩ, cư sĩ ! Tôi vì pháp mà đến chớ không phải vì y.” Huệ Năng bèn
bước ra ngồi trên bàn thạch. Huệ Minh liền làm lễ thưa: “Mong cư sĩ vì tôi nói
pháp.” Huệ Năng bảo: “Ông đã vì pháp mà đến thì nên dứt sạch các duyên, chớ
sanh một niệm, tôi vì ông nói.” Huệ Minh im lặng giây lâu. Huệ Năng bảo:
“Không nghĩ thiện, không nghĩ ác, chính khi ấy cái gì là bản lai diện mục của
Thượng tọa Minh ?” Huệ Minh ngay câu nói đó liền đại ngộ. Lại hỏi: “Ngoài mật
ngữ, mật ý trên, còn có mật ý khác chăng ?” Huệ Năng bảo: “Vì ông nói tức không
phải mật vậy, ông nếu phản chiếu thì mật ở bên ông.” Huệ Minh thưa: “Huệ Minh
tuy ở Huỳnh Mai, thật chưa có tỉnh diện mục của chính mình, nay nhờ chỉ dạy như
người uống nước lạnh nóng tự biết. Nay cư sĩ tức là Thầy của Huệ Minh.” Huệ
Năng bảo: “Ông nếu như thế thì tôi cùng ông đồng thờ Thầy Huỳnh Mai, khéo tự
hộ trì.” Huệ Minh lại thưa: “Huệ Minh từ nay về sau nhằm chỗ nào đi ?” Huệ
Năng bảo: “Gặp Viên thì dừng, gặp Mông thì ở.” Huệ Minh liền lễ từ. Huệ Minh
trở về, xuống núi bảo những người đuổi theo: “Đi trên những đồi núi này trọn
không tìm ra tung tích, phải đi qua đường khác tìm.” Cả chúng đuổi theo đều cho
là đúng. Huệ Minh về sau đổi tên là Đạo Minh, đó là tránh chữ đầu của tên Thầy.
Huệ Năng sau đến Tào Khê lại bị bọn người ác tìm đuổi mới ở nơi Tứ Hội
tị nạn trong đám thợ săn, trải qua mười lăm năm, khi đó cùng những người thợ săn
tùy nghi nói pháp. Những người thợ săn thường bảo giữ giềng lưới, khi Huệ Năng
thấy những con vật mắc lưới đều thả. Mỗi khi đến bữa ăn, hái rau gởi luộc trong
nồi thịt, hoặc có người hỏi thì đáp: “Chỉ ăn rau ở bên thịt.” Một hôm, mới suy nghĩ:
“Thời hoằng pháp đã đến, không nên trọn trốn lánh.” Huệ Năng liền đến chùa
Pháp Tánh ở Quảng Châu, gặp Pháp sư Ấn Tông đang giảng kinh Niết-bàn. Khi ấy
có gió thổi, lá phướn động, một vị tăng nói gió động, một vị tăng nói phướn động,
hai người cãi nhau không thôi. Huệ Năng tiến tới nói: “Không phải gió động,
không phải phướn động, tâm nhân giả động.” Cả chúng đều ngạc nhiên. Ấn Tông
mời Huệ Năng đến chiếu trên gạn hỏi áo nghĩa, thấy Huệ Năng đối đáp, lời nói
giản dị mà nghĩa lý rất đúng, không theo văn tự. Ấn Tông nói: “Cư sĩ quyết định không phải là người thường, đã lâu nghe y pháp của Huỳnh Mai đi về phương
Nam, đâu chẳng phải là cư sĩ ?” Huệ Năng nói: “Chẳng dám.” Ấn Tông liền làm
lễ, xin đưa y bát đã được truyền cho đại chúng xem. Ấn Tông lại thưa: “Huỳnh
Mai phó chúc, việc chỉ dạy như thế nào ?” Huệ Năng bảo: “Chỉ dạy tức không, chỉ
luận về kiến tánh, chẳng luận thiền định giải thoát.” Ấn Tông thưa: “Sao chẳng
luận thiền định giải thoát ?” Huệ Năng bảo: “Vì ấy là hai pháp, không phải là Phật
pháp. Phật pháp là pháp chẳng hai.” Ấn Tông lại hỏi: “Thế nào Phật pháp là pháp
chẳng hai ?” Huệ Năng bảo: “Pháp sư giảng kinh Niết-bàn, rõ được Phật tánh, ấy
là Phật pháp là pháp chẳng hai. Như Bồ-tát Cao Quí Đức Vương bạch Phật: Phạm
tứ trọng cấm, tạo tội ngũ nghịch và nhất xiển-đề v.v… sẽ đoạn thiện căn Phật tánh
chăng ? Phật bảo: Thiện căn có hai, một là thường, hai là vô thường, Phật tánh
chẳng phải thường, chẳng phải vô thường, thế nên chẳng đoạn, gọi là chẳng hai;
một là thiện, hai là chẳng thiện, Phật tánh chẳng phải thiện, chẳng phải chẳng thiện,
ấy là chẳng hai; uẩn cùng với giới, phàm phu thấy hai, người trí rõ thấu tánh nó
không hai, tánh không hai tức là Phật tánh”. Ấn Tông nghe nói hoan hỉ chấp tay
thưa: “Tôi giảng kinh ví như ngói gạch, nhân giả luận nghĩa ví như vàng ròng.”
Khi ấy vì Huệ Năng cạo tóc, nguyện thờ làm Thầy.
Huệ Năng bèn ở dưới cây bồ-đề khai pháp môn Đông Sơn. Huệ Năng được
pháp ở Đông Sơn, chịu tất cả những điều cay đắng, mạng giống như sợi chỉ mành.
Ngày nay được cùng với Sử quân, quan liêu, Tăng Ni, đạo tục đồng ở trong hội
này đâu không phải là duyên của nhiều kiếp, cũng là ở trong đời quá khứ cúng
dường chư Phật, đồng gieo trồng căn lành mới nghe cái nhân được pháp môn đốn
giáo này. Giáo ấy là các vị Thánh trước đã truyền, không phải tự trí Huệ Năng
được, mong những người nghe các vị Thánh trước dạy, mỗi người khiến cho tâm
được thanh tịnh, nghe rồi mỗi người tự trừ nghi, như những vị Thánh đời trước
không khác. Cả chúng nghe pháp đều hoan hỉ làm lễ rồi lui.
GIẢNG
Khi ấy Đại sư đến chùa Bảo Lâm tại Thiều Châu, Thứ sử Vi Cừ cùng với
quan liêu vào núi thỉnh Sư đến trong thành, ở chùa Đại Phạm, tại giảng đường vì
chúng khai duyên nói pháp. Sư đăng tòa, Thứ sử quan liêu hơn ba mươi người,
Nho tông học sĩ hơn ba mươi người, Tăng Ni đạo tục hơn một ngàn người đồng
thời làm lễ, nguyện được nghe pháp yếu.
Trong phẩm này Lục Tổ thuật lại cho toàn chúng nghe về sự tích đắc đạo
của Ngài. Đây là lần thuyết pháp đầu tiên của Ngài, Đại sư tức chỉ Lục Tổ. Lần
đăng tòa đầu tiên này, kể số chúng dự nghe gồm quan liêu hơn ba mươi người, học
sĩ hơn ba mươi người, đó là trên sáu mươi người rồi. Còn Tăng Ni đạo tục, đạo tức
là người xuất gia, tục là cư sĩ, tất cả cộng lại hơn một ngàn người, tức là thời
thuyết pháp đầu tiên hơn một ngàn chúng. Khi đó tất cả đều lễ bái cầu được nghe
pháp yếu.
Lục Tổ bảo chúng rằng: “Này Thiện tri thức, Bồ-đề tự tánh xưa nay thanh
tịnh, chỉ dùng tâm này, thẳng đó trọn được thành Phật.” Ngài nói tự tánh Bồ-đề của mình, xưa nay thanh tịnh, chỉ dùng tâm Bồ-đề
của mình mà tu thì sẽ thẳng đến thành Phật không nghi. Ngài nói thẳng cho chúng
ta biết, ai ai cũng có tánh Bồ-đề, nếu biết ứng dụng tu hành sẽ được thành Phật
không nghi gì cả.
Này Thiện tri thức, hãy lắng nghe Huệ Năng nói về hành do được pháp.
Nghiêm phụ của Huệ Năng bổn quán ở Phạm Dương, bị giáng đày ra Lãnh Nam,
làm thường dân ở Tân Châu. Thân này bất hạnh, cha lại mất sớm, mẹ góa con côi
dời đến Nam Hải, gian nan nghèo khổ, thường ra chợ bán củi. Khi ấy có một
người khách mua, bảo gánh đến khách điếm, khách nhận củi xong, Huệ Năng lãnh
tiền, lui ra khỏi cửa, thấy một người khách tụng kinh, Huệ Năng một phen nghe lời
kinh, tâm liền khai ngộ, bèn hỏi khách tụng kinh gì.
Tiếp đến Ngài yêu cầu chúng lắng nghe Ngài kể lại sự tích, lý do về việc
Ngài được pháp. Thuở trước ông thân Ngài cũng làm quan, sau bị cách chức đày
ra Lãnh Nam làm dân thường tại Tân Châu. Bất hạnh, cha mất sớm, mẹ già dời về
Nam Hải, thật là gian nan nghèo khổ. Ngài thường ra chợ bán củi, một hôm có
người khách mua củi, bảo Ngài gánh đến tiệm, nhận tiền xong vừa ra khỏi cửa
Ngài thấy một người khách tụng kinh. Một phen nghe lời kinh, tâm liền khai ngộ.
Thảnh thơi quá, không có cực như chúng ta hiện nay phải không ? Chúng ta nghe
năm này sang năm khác mà không khai ngộ chi cả. Ngài chỉ cần nghe người ta
tụng liền khai ngộ, mới hỏi khách tụng kinh gì. Chưa biết tên kinh mà đã ngộ rồi !
Khách bảo: “Kinh Kim Cang.” Huệ Năng lại hỏi: “Ở đâu đến thọ trì kinh
này ?” Khách bảo: “Tôi từ chùa Đông Thiền, huyện Huỳnh Mai, Kỳ Châu đến.
Chùa ấy do Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn Đại sư làm chủ giáo hóa, đệ tử có hơn một ngàn
người, tôi đến đó lễ bái, nghe nhận kinh này. Đại sư thường khuyên kẻ tăng người
tục chỉ trì kinh Kim Cang liền được thấy tánh, thẳng đó thành Phật.” Huệ Năng
nghe nói, do đời trước có duyên, mới được một người khách cho Huệ Năng một số
bạc là mười lượng để giúp nuôi dưỡng mẹ già và bảo đến Huỳnh Mai tham vấn
Ngũ Tổ.
Trong đoạn trên Ngài kể lý do đi tìm Ngũ Tổ, chúng ta thấy túc duyên của
Ngài quá dầy, sau này Ngài thường được gọi là nhục thân Bồ-tát. Sanh trong hoàn
cảnh cơ cực nghèo khốn, mồ côi sớm lại dốt nát vì không được học hành, nhưng
vừa nghe một câu kinh liền ngộ, tại sao thế ? Thường chúng ta cho rằng người có
phúc duyên mới được sanh trong những gia đình giàu có, mới thông minh học giỏi.
Còn sanh trong gia đình nghèo, lại mồ côi sớm, không được học hành thì gọi là vô
phước. Tại sao vô phước mà nghe một câu kinh liền ngộ, còn những người có
phước nghe hoài mà không ngộ ? Như vậy ai hơn ai ? Ai có phước hơn ai ? Đó là
điều chúng tôi muốn nhắc cho tất cả quí vị hiểu để khỏi thắc mắc. Nếu nói một đời
này, ra đời, nghe một câu kinh liền ngộ, như trong kinh thường nói: Nhất văn thiên
ngộ (một nghe ngàn ngộ) thì đã là bậc Bồ-tát rồi. Đã là Bồ-tát, tại sao lại thiếu
phước phải sanh trong cảnh côi cút, nghèo nàn, dốt nát ? Như vậy Bồ-tát kém
phước hơn mình sao ? Đó là điều chúng ta thấy đáng hoài nghi, nhưng sự thật
không có gì đáng hoài nghi cả. Chúng ta đã nói Ngài là một vị nhục thân Bồ-tát,
mà Bồ-tát giáo hóa chúng sanh luôn luôn tùy nguyện. Có vị sanh trong cung vua có kẻ hầu người hạ rồi chán đời đi tu, như thế để cho người đời thấy rằng cảnh
vương giả không câu thúc được các Ngài, các Ngài vẫn từ bỏ tất cả để đi tu và
những người sống trong hoàn cảnh sang cả trông gương đó mà phát tâm. Có khi
các Ngài sanh trong gia đình trung lưu, học hành chút ít rồi phát tâm xuất gia, như
thế những người hạng trung lưu thấy các Ngài ở trong hoàn cảnh đó mà tu được
thì mình cũng tu được. Có khi các Ngài nguyện sanh trong cảnh nghèo nàn, dốt nát
mà đi tu để những người nghèo nàn dốt nát thấy mình cũng đồng hoàn cảnh với
các Ngài thì mình cũng đi tu được.
Tóm lại, Bồ-tát muốn cho tất cả chúng sanh đều phát Bồ-đề tâm, nên có khi
thị hiện trong cảnh sang cả, có khi ở trong cảnh bần cùng, nhưng trong bất cứ hoàn
cảnh nào Bồ-tát cũng tu được cả, đó là việc tùy duyên hóa độ của các Ngài. Chúng
ta đừng nghĩ rằng Ngài ít phước hơn mình, không phải thế, đó là vì nguyện của
Bồ-tát, cốt làm sao cho tất cả chúng sanh đều tin rằng mình tu được. Thế là các
Ngài mãn nguyện. Chúng ta đọc sử thấy có những vị trong gia đình trưởng giả
phát tâm tu, có những vị trong gia đình bần hàn phát tâm tu, có vị bỏ quan đi tu
v.v… như thế để hiểu ý nghĩa Bồ-tát, chớ không nên cố chấp bảo rằng Ngài thiếu
phước mà tại sao Ngài lại mau ngộ. Đó là hiện tượng thị hiện của chư Bồ-tát tùy
bản nguyện. Sau khi phát tâm tu, liền có một người bạn giúp Ngài một số tiền để
nuôi mẹ. Quí vị thấy, nếu theo thế gian thì Ngài phạm lỗi bất hiếu phải không ? Vì
có một mẹ một con mà nay bỏ mẹ đi tu, đó là bất hiếu. Như thế chúng ta thấy nếu
giữ chữ hiếu thì Ngài không đi tu được, không thể đem lợi ích cho chúng sanh
được. Thế nên Ngài phải nhờ người giúp một số tiền gởi lại nuôi mẹ già. Nếu bất
hiếu thì buổi đầu Ngài đâu có gánh củi bán để nuôi mẹ, chỉ vì khi ngộ đạo rồi, thấy
chỗ cao siêu của đạo, Ngài mới quyết tâm đi học đạo để tự giác ngộ và giác ngộ
chúng sanh, vì thế Ngài phải cam nhận lỗi không tròn chữ hiếu.
Huệ Năng an trí mẹ xong liền từ giã ra đi, không hơn ba mươi ngày liền
đến Huỳnh Mai lễ bái Ngũ Tổ.
Ngài từ giã mẹ ra đi, không quá một tháng thì đến Huỳnh Mai lễ bái Ngũ
Tổ. Ngày xưa người đi tầm đạo chỉ đi bộ nên đi từ tỉnh này đến tỉnh kia phải cả
tháng trời, còn chúng ta hiện nay đi từ đây ra Huế khoảng một tuần lễ là nhiều, vậy
mà còn than khổ, than cực. Đối với tâm cầu đạo, chúng ta thật không thể sánh với
người xưa.
Tổ hỏi: “Ngươi từ phương nào đến, muốn cầu vật gì ?” Huệ Năng đáp: “Đệ
tử là dân Tân Châu thuộc Lãnh Nam, từ xa đến lễ Thầy, chỉ cầu làm Phật, chớ
không cầu gì khác !” Tổ bảo: “Ngươi là người Lãnh Nam, lại là người quê mùa,
làm sao kham làm Phật ?”
Quí vị thấy Ngũ Tổ là một vị Tổ mà sao Ngài nói bất công vậy ? Ngài dư
biết rằng tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, tất cả chúng sanh đều có thể thành
Phật, thế tại sao đối với người tới học đạo Ngài lại khinh miệt, bảo rằng ngươi là
người Lãnh Nam, là người ở nơi rừng núi, người quê mùa dốt nát, đâu thể kham
làm Phật. Tại kiểu cách phong kiến của Ngài như thế hay là Ngài có ý gì ? Đó là
cách Ngài dọ thử xem sự hiểu biết của người cầu thành Phật này ra sao, nên mới
có thái độ như thế. Huệ Năng liền đáp: “Người tuy có Nam Bắc nhưng Phật tánh vốn không có
Nam Bắc, thân quê mùa này cùng với Hòa thượng chẳng đồng, nhưng Phật tánh
đâu có sai khác.”
Như thế do Ngài nghe một câu mà ngộ, biết được Phật tánh của tất cả đều
đồng nhau.
Ngũ Tổ muốn cùng tôi nói chuyện, lại thấy đồ chúng hai bên đông, mới bảo
theo chúng làm công tác.
Qua câu đối đáp, Ngũ Tổ đã biết khả năng của Ngài như thế nào rồi, nên
muốn cùng Ngài nói chuyện, nhưng thấy chung quanh quá đông, đang lắng nghe, e
bại lộ rồi hại cho Ngài nên bảo Ngài đi xuống làm công tác, nhưng Ngài chưa vừa
ý nên lý luận thêm:
Huệ Năng thưa: “Huệ Năng xin bạch Hòa thượng, tự tâm đệ tử thường sanh
trí tuệ, không lìa tự tánh tức là phước điền, chưa biết Hòa thượng dạy con làm việc
gì ?” Tổ bảo: “Kẻ nhà quê này căn tánh rất lanh lợi, ông chớ nói nữa, xuống nhà
trù đi.”
Bấy giờ Ngũ Tổ “nạt kẻ nhà quê lanh lợi, xuống nhà trù đi”, vì Tổ thấy nói
thêm là có hại.
Huệ Năng lui lại nhà sau, có một người cư sĩ sai Huệ Năng bửa củi, giã gạo,
trải hơn tám tháng.
Ngài Huệ Năng mới lui lại nhà sau, có một cư sĩ sai Ngài giã gạo. Có
quyển sách khác kể thêm: Một hôm Ngũ Tổ xuống thấy Ngài giã gạo, cột sợi dây
ngang lưng đèo thêm một viên đá, vì Ngài ốm quá không đủ sức nặng cho cái chày
đạp cất lên, nên phải đeo thêm một viên đá, thấy thế Tổ mới than: “Người cầu đạo
quên mình đến thế ư ?” Như vậy chúng ta mới thấy công tám tháng giã gạo của
Ngài. Trong tám tháng giã gạo, Ngài đã quên mình, làm việc cực nhọc không kể
đến thân. Có nơi còn tô điểm thêm rằng: Khi giã gạo Ngài đeo đá nên sợi dây siết
vô thịt, lâu ngày thịt bị thúi có giòi, khi Ngài giã gạo, sợi dây chạm vào, giòi rớt ra,
Ngài lượm bỏ lên. Những lời này e hơi quá đáng, còn việc Ngài đeo đá giã gạo thì
các sách đều có nói.
Một hôm, Tổ chợt thấy Huệ Năng, mới bảo: “Ta nghĩ chỗ thấy của ngươi
có thể dùng, nhưng sợ có người ác hại ngươi, nên không nói cùng ngươi, ngươi có
biết chăng ?” Huệ Năng thưa: “Đệ tử cũng biết ý của Thầy nên không dám đến
nhà trên, để người không biết.”
Như thế là thầy trò cảm thông nhau. Nhưng quí vị có thắc mắc về điểm này
hay không ? Thầy trò nói chuyện thì cứ nói, tại sao lại sợ có người hại ? Ở chùa
chớ đâu phải ở chỗ tranh giành quyền thế mà sợ bị hại ? Thuở trước khi đọc tới
chỗ này tôi cũng ngạc nhiên, tại sao nói chuyện đạo lý mà phải sợ có người hại ?
Sau này tôi mới biết sự thật là như vậy. Bởi vì đồ chúng của Ngũ Tổ, cả cư sĩ và
học chúng khoảng hơn một ngàn người, riêng chư Tăng khoảng năm trăm người,
có sách nói bảy trăm vị, ở đấy đã nhiều năm, trong đó lại có ngài Thần Tú là vị
Giáo thọ sư, giảng kinh cho học chúng. Cả năm trăm người, Ngũ Tổ chưa chấp
nhận một người nào, nay một người cư sĩ quê mùa, từ xa mới đến, nếu được Ngũ
Tổ truyền y bát thì thế nào ? Cả năm trăm Tăng chúng nghĩ sao ? Dĩ nhiên là không chấp nhận được, thế nên sợ hại là vì lý do đó. Cũng vì thế sau này chư Tổ
không truyền y bát nữa, nếu còn truyền y bát chắc cái hại cũng còn kéo dài. Tại
sao ? Vì người được truyền y bát là người xứng đáng làm Tổ. Nhưng Tăng chúng
ở chùa đã mấy mươi năm, tu học đã lâu, nay một cư sĩ quê mùa vừa mới đến lại
được làm Tổ thì Tăng chúng nghĩ sao ? Có tức hay không ? Thế nên họ không thể
chấp nhận được, mà không chấp nhận được thì phải hành động như thế nào ? Phải
thủ tiêu ! Nếu trong chúng có người tu học lâu, hiểu đạo sâu, nay được Tổ truyền y
bát thì không có gì phải nghi ngờ, cũng không sợ bị ai hại vì người đó được chúng
kính phục, xứng đáng làm Thầy. Nhưng đây là một cư sĩ, lại quê mùa nữa, đủ điều
kiện để người ta khinh bỉ mà thình lình được làm Tổ thì không ai chấp nhận, thế
nên có thể phải bị hại. Ngũ Tổ hiểu hoàn cảnh đó, Ngài biết người cư sĩ này xứng
đáng kế thừa Ngài mà Ngài không dám để cho chúng biết. Nếu như ngài Thần Tú
có khả năng như thế, chắc không có gì khó khăn cả. Trường hợp của ngài Huệ
Năng rất đặc biệt, nên Ngũ Tổ dè dặt bảo: “Theo ngôn ngữ của ngươi, ta biết
ngươi có thể dùng được nhưng e có người ác hại ngươi, nên không nói chuyện với
ngươi, ngươi biết chăng ?” Lục Tổ thưa: “Con biết ý của Thầy nên con không dám
lên nhà trên”. Con biết phận con nên chỉ ở nhà dưới giã gạo. Như vậy quí vị thấy
ông thầy biết hoàn cảnh của người học trò, mà người học trò cũng biết được hoàn
cảnh của mình, do đó mới đánh lừa được cả chúng, chớ nếu trong hai người, có
một người không biết được hoàn cảnh đó thì có thể bị chúng phát giác sớm rồi.
Một hôm, Ngũ Tổ bảo các đệ tử: “Tất cả hãy đến, ta nói với các ông: Người
đời sanh tử là việc lớn, các ông trọn ngày chỉ cầu phước điền, chẳng cầu ra khỏi
biển khổ sanh tử, tự tánh nếu mê thì phước nào có thể cứu ? Các ông, mỗi người
hãy đi, tự xem trí tuệ của mình, nhận lấy tánh Bát-nhã nơi bản tâm mình, mỗi
người làm một bài kệ đến trình cho ta xem, nếu ngộ được đại ý thì ta trao y pháp
làm Tổ thứ sáu. Phải nhanh đi, không được chậm trễ, suy nghĩ tức là không trúng.
Người kiến tánh ngay lời nói phải thấy, nếu như người này dù khi múa đao giữa
trận cũng được thấy tánh.”
Chúng được chỉ dạy, trở về họp bàn với nhau: “Tất cả chúng ta không cần
phải lắng lòng dụng ý làm kệ để trình Hòa thượng, đâu có lợi ích gì ? Thượng tọa
Thần Tú hiện làm Giáo thọ sư, ắt là người được, chúng ta có gắng làm kệ tụng
cũng uổng dụng tâm lực”. Mọi người nghe lời này, thảy đều đồng ý nói: “Chúng ta
về sau y chỉ Thượng tọa Thần Tú, nhọc gì phải làm kệ.”
Tất cả đều đinh ninh là về sau sẽ y chỉ vị Giáo thọ sư nên không nhọc công
làm kệ trình.
Tôi nhắc lại ý nghĩa lời dạy của Ngũ Tổ. Điểm thứ nhất Ngũ Tổ dạy: Người
đời sanh tử là việc lớn, phải tìm cách thoát khỏi biển khổ sanh tử, chớ trọn ngày
mải lo làm việc phước điền thì phước đó không thể nào cứu được mình, khi mình
chưa thấy đạo, phước đó chưa giúp mình giải thoát. Không cứu được là không cứu
cho mình giải thoát sanh tử. Muốn ra khỏi biển khổ sanh tử, mỗi người phải tự
phát trí tuệ của chính mình, trí tuệ đó phát khởi, mới thoát khỏi biển khổ sanh tử;
nếu chúng ta mải lo việc phước điền thì phước điền đó chỉ giúp chúng ta bớt
nghèo, bớt khổ ở trong sanh tử thôi, chớ không giải thoát sanh tử. Tổ bảo tiếp: “Như vậy mỗi người phải về làm một bài kệ đến trình, nếu người nào làm bài kệ
đúng ý, ta sẽ truyền y pháp làm Tổ thứ sáu.” Nghe như thế cả đại chúng đều xôn
xao. Tại sao các năm về trước Ngài không bảo trình kệ mà ngay lúc này Ngài bảo
trình kệ ? Quí vị thấy ý gì trong việc đó chưa ? Trước khi vị cư sĩ này tới hỏi đạo,
Ngài không bảo chúng trình kệ, khi có vị cư sĩ này thì Ngài lại bảo chúng trình kệ.
Dĩ nhiên chúng ta thấy rõ ý của Ngài. Khi biết có người xứng đáng kế thừa, Ngài
mới bảo chúng trình kệ để thử xem mọi người trình như thế nào để Ngài chọn.
Thế nên đại chúng xôn xao bàn tán phải trình kệ như thế nào. Vì vậy tiếp theo Tổ
dạy thật là kỹ.
Điểm thứ hai Ngũ Tổ bảo rằng: Người thấy tánh dù ở trong chỗ binh đao
vẫn thấy tánh chớ không mất. Người thật tình được đạo thì ở chỗ nào cũng thấy
đạo, chớ không phải nói rằng ngồi chỗ vắng mới thấy đạo, đến chỗ ồn thì hết thấy,
như thế chưa phải là thấy đạo. Quí vị phải nhớ như vậy. Dù ở cảnh nào, thấy đạo
cũng vẫn là thấy đạo, vì đạo ở ngay nơi mình. Mình thấy nó thì ở đâu cũng thấy.
Ngồi chỗ vắng cũng có nó, đến chỗ ồn cũng có nó, chớ đâu phải chỗ ồn không có
đạo, chỗ vắng mới có đạo. Sở dĩ đến chỗ ồn không thấy đạo là vì mình thấy ồn.
Thấy ồn tức thấy ở ngoài, chớ thật tình chúng ta thấy cái chân thật của mình thì ở
đâu cũng có đạo, không phải đợi đến chỗ vắng vẻ mới có. Quí vị phải nhớ kỹ như
vậy. Đó là chỗ Ngũ Tổ chỉ dạy cho tất cả chúng, nhất là Ngài bảo: Nếu suy nghĩ
thì không trúng. Làm kệ mà ngồi cắn bút, bóp trán suy nghĩ thì điều đó không
đúng rồi. Vì thế gần đây tôi hay chê những vị mới tu học sơ sơ hay làm thơ. Tại
sao ? Các Tổ ngày xưa không phải là nhà văn, nhà thơ chi cả, nhưng mỗi hành
động đều đúng với lẽ thật nên vừa xuất khẩu là hợp ý Tổ, không phải ngồi bóp đầu
bóp trán, vì vừa ngồi bóp đầu bóp trán là sai rồi. Khổ nỗi hiện nay có một số người
tu thiền sơ sơ, lâu lâu tổ chức uống trà, người này làm thơ đưa người kia xem,
người kia làm thơ trình người nọ xem rồi phê bình nhau v.v… và cho đó là mình
làm thơ thiền, làm kệ thiền… Đó là thiền gì ? Là thiền loạn tưởng chớ không phải
thật là thiền. Thật là thiền thì khi đối cảnh liền phát hiện chớ không đợi suy nghĩ.
Vì người thấy được lẽ thật nói điều gì cũng đúng lẽ thật, còn người chưa thấy lẽ
thật dù suy nghĩ thế nào cũng không đúng. Thí dụ như chúng ta có đôi mắt sáng
nhìn thấy rõ bình bông trên bàn, nếu có người hỏi bình bông như thế nào, dù
chúng ta không tả rõ tất cả chi tiết, nhưng chúng ta nói bình bông màu xanh, màu
vàng… chúng ta cũng nói đúng. Trái lại, nếu tôi hỏi một người mù bình bông trên
bàn như thế nào thì dù họ suy nghĩ thế mấy cũng không đúng, dù có nghe người ta
nói họ suy nghĩ theo cũng không đúng. Thế nên đã thấy thì dù nói đơn sơ cũng
đúng, còn không thấy dù cố suy nghĩ thế mấy cũng vẫn không đúng. Chỗ này
không phải chỗ suy nghĩ mà được, nhưng nhiều người lại chuộng suy nghĩ, cho
suy nghĩ ra được lẽ đạo. Đó là điều lầm lẫn lớn. Thế nên cái thấy đạo là tự thấy,
chớ không phải suy nghĩ, do đó Ngũ Tổ mới quở: Không nên có dụng tâm, nếu
người thấy tánh dù ở giữa trận cũng thấy.
Sau khi nghe Ngũ Tổ dạy, tất cả chúng đều xôn xao bàn với nhau, chúng
ta có một vị Giáo thọ sư, trên là Tổ, dưới là vị Giáo thọ sư, Tổ chọn vị này dạy
chúng ta, hẳn nhiên vị này phải như thế nào rồi, người dạy chúng ta sẽ là người được kế thừa không còn nghi ngờ gì nữa. Chúng ta đã học với ông ấy tức nhiên
ông ấy đâu có dở, dù chúng ta có làm cũng vô ích, hãy nhường ông ấy cho xong.
Đó là một cái thế dồn vị Giáo thọ sư này đến chỗ bất khả kháng. Ông không muốn
trình, nhưng toàn chúng đều không làm thì làm sao ? Hoàn cảnh đã đưa Thần Tú
đến một cái thế khó xử, vì chính Ngài cũng còn nghi ngờ không chắc là Ngài sẽ
được Tổ chấp nhận.
Thần Tú suy nghĩ: Các người đều không trình kệ vì ta làm Giáo thọ sư cho
họ, ta cần phải làm kệ trình lên Hòa thượng; nếu không trình kệ thì Hòa thượng
đâu biết được kiến giải trong tâm ta cạn hay sâu. Ý ta trình kệ cầu pháp thì tốt, cầu
làm Tổ thì xấu, vì đồng với tâm của kẻ phàm, muốn cướp được ngôi vị Thánh
không khác, nếu chẳng trình kệ thì trọn không được pháp. Rất khó ! Rất khó !
Đó là Ngài tự lượng ý Ngài: Nếu trình kệ để cầu được pháp đó là điều tốt,
nếu trình kệ để cầu làm Tổ đó là xấu vì còn ham danh, ham lợi không khác kẻ
phàm phu. Thật là khó vì nếu không trình kệ thì thầy không biết ý mình làm sao
thầy truyền pháp, nhưng làm kệ, xem như mình muốn làm Tổ !
Trước nhà của Ngũ Tổ có một hành lang ba gian, Ngũ Tổ nghĩ mời ông
Cung Phụng Lư Trân đến vẽ Lăng-già biến tướng và Ngũ Tổ huyết mạch đồ (tức
là huyết mạch truyền trao từ chư Tổ.) để lưu truyền cúng dường. Ngài Thần Tú
làm kệ rồi, mấy phen muốn trình, đi đến nhà trước thì trong tâm hoảng hốt, khắp
thân đổ mồ hôi, nghĩ trình chẳng được. Trước sau trải qua bốn ngày, đến mười ba
lần, trình kệ không được.
Tại sao ? Ai ngăn mà trình không được ? Đó là tại nghi bài kệ của mình
chưa chắc là được, vì mình không có tự ngộ, do suy lý mà nói thì không tin lời
mình là đúng nên muốn trình lại ngại, vì thế trong bốn ngày, mười ba lần đến cửa
rồi thối lui, không trình được, như vậy cái khổ của Ngài lúc đó thật vô cùng !
Thần Tú mới suy nghĩ: Chẳng bằng đến dưới hành lang viết (bài kệ), Hòa
thượng đi qua xem thấy, nếu chợt bảo rằng hay thì mình ra lễ bái thưa: Của Thần
Tú làm; nếu nói không kham, thật uổng công ở núi mấy năm, thọ người lễ bái lại
tu đạo gì ?
Bởi vì Ngài bán tín bán nghi chưa tin mình được đạo, nay phải trình
thẳng, Ngài sợ nếu Ngũ Tổ bảo chưa được thì còn gì thể diện, nên kế hay nhất là
nơi hành lang Ngũ Tổ thường đi qua, Ngài lén viết bài kệ lên đó. Nếu Ngũ Tổ xem
rồi hỏi ai làm bài kệ hay quá thì Ngài ra đảnh lễ thưa: Bạch con làm ! Còn nếu
Ngũ Tổ chê thì lánh mặt cho rồi, mặt mũi nào nhìn đại chúng. Thật là uổng công ở
núi ! Ngài nghĩ đó là kế an toàn nhất. Thế nên người dở mà ở địa vị thấp thì thật
dễ, còn ở địa vị cao thật khó xử vô cùng. Người ta đã suy tôn mình làm Thầy, nếu
mình làm không tròn trách nhiệm, mặt mũi nào nhìn học trò. Đó là cái khổ tâm
của người lớn mà chưa thật lớn !
Canh ba đêm ấy, không cho người biết, Ngài tự cầm đèn viết bài kệ ở vách
phương Nam để trình chỗ tâm mình thấy được. Bài kệ rằng:
Thân là cội bồ-đề,
Tâm như đài gương sáng.
Luôn luôn phải lau chùi, Chớ để dính bụi bặm.
Thế thì thật hay ! Ví dụ thân mình như cây bồ-đề, tâm như đài gương sáng,
cũng hay chứ ! Và đài gương sáng muốn cho sáng mãi thì phải làm thế nào ? Phải
lau, phải chùi, chớ để dính bụi. Như vậy trên phương diện tu hành, bài kệ này thật
là hay. Người mới đọc qua thì thấy bài kệ thật hay, nào những hình ảnh cụ thể,
thân mình giống cây bồ-đề, tâm mình như đài gương sáng, nào khuyên mình tu
một cách cụ thể, hằng ngày lau gương đừng để dính bụi. Nhưng đối với người thấy
tánh thì bài kệ này chưa thấy tánh. Tại sao ? Gương mờ phải lau, đang lau thì làm
sao thấy tánh ? Nếu thấy tánh thì không còn lau nữa. Tại sao ? Vì thể tánh đó bụi
không dính được, còn nghĩ như mặt gương phải lau mãi là chưa thấy tánh. Chúng
ta dốt mà đọc qua còn biết Ngài chưa thấy tánh.
Ngài Thần Tú viết kệ xong, liền trở về phòng, mọi người đều chẳng biết.
Thần Tú lại suy nghĩ: Ngày mai Ngũ Tổ thấy bài kệ, nếu hoan hỉ tức ta cùng pháp
có duyên, nếu nói không kham, tự là ta mê, nghiệp duyên đời trước nặng nề,
không hợp được pháp, thật là Thánh ý khó lường. Trong phòng suy nghĩ, ngồi nằm
chẳng an cho đến canh năm.
Như thế là suốt đêm Ngài trằn trọc mãi, không ngủ được. Viết bài kệ rồi
Ngài cũng vẫn bất an, thật là khổ tâm, vì không biết ngày mai Ngũ Tổ khen hay
chê, khen thì còn được, nếu chê thì còn mặt mũi nào, thế nên ngồi nằm không an
mãi đến canh năm.
Ngũ Tổ đã biết Thần Tú vào cửa chưa được, không thấy tự tánh.
Thật ra Thầy lúc nào cũng biết rõ học trò, nên tuy bảo làm Giáo thọ dạy
chúng, nhưng biết là ngài Thần Tú chưa vào cửa nổi. Vì biết rõ như thế nên tuy
bảo làm kệ nhưng thật ra Ngũ Tổ không nhắm vào ngài Thần Tú, mà Tổ có chỗ
nhắm khác. Để cho công bằng Tổ phải tuyên bố cho tất cả chúng trình kệ, nếu
không như thế mà riêng truyền y pháp cho một người nào khác thì chúng sẽ thắc
mắc. Khi nào chúng trình kệ không được, Tổ truyền y pháp cho người khác, họ
mới không thắc mắc.
Sáng hôm sau, Tổ gọi ông Lư Cung Phụng đến hành lang phía Nam để vẽ
đồ tướng trên vách, chợt thấy bài kệ, Ngài bảo Cung Phụng rằng: “ Thôi chẳng cần
phải vẽ, nhọc công ông từ xa đến. Trong kinh có nói “Phàm những gì có hình
tướng đều là hư vọng”, chỉ để lại một bài kệ này cho người tụng đọc thọ trì, y bài
kệ này tu thì khỏi đọa trong ác đạo, y bài kệ này tu thì được lợi ích lớn”. Khiến đồ
đệ thắp hương lễ bái cung kính và tụng đọc bài kệ này tức được thấy tánh. Môn
nhân tụng bài kệ đều khen: “Hay thay !”
Đây là kế của Ngũ Tổ, nếu Tổ không khen thì không làm sao biết được tác
giả vì dưới bài kệ đâu có ký tên, thế nên Tổ mới khéo bày kế đánh lừa mọi người.
Tổ bảo: Nhọc công Cung Phụng từ xa đến, kinh Kim Cang có nói, phàm những gì
có hình tướng đều là hư vọng, thôi ông không cần phải vẽ đồ tướng, hãy để bài kệ
này cho chúng đọc, người nào y đó tu hành sẽ khỏi đọa trong ba đường ác, sẽ được
lợi ích, sẽ thấy tánh. Tổ lại bảo đồ đệ đốt hương kính cẩn lễ bái bài kệ. Nghe như
thế dĩ nhiên là ngài Thần Tú mừng không kể xiết, Ngài phải nhận là của Ngài làm
chớ đâu còn ẩn tránh nữa, vậy là Ngài đã mắc kế của Ngũ Tổ rồi ! Khi đó tất cảmôn nhân đều tụng và đều khen bài kệ hay. Đệ tử thì thường như thế. Thầy khen
điều gì hay là đồ đệ cũng khen theo, chớ không biết hay ở điểm nào, nghe Thầy
tán dương việc gì thì đệ tử cũng tán dương theo, đó là bệnh chung ! Người học trò
luôn luôn lệ thuộc thầy, nói theo thầy chớ không biết rõ đâu là đúng, đâu là sai.
Đến canh ba, Tổ mới gọi Thần Tú vào trong thất hỏi: “Kệ đó, phải ông làm
chăng?” Ngài Thần Tú thưa: “Thật là con làm, chẳng dám vọng cầu Tổ vị, chỉ
mong Hòa thượng từ bi xem đệ tử có chút ít trí tuệ chăng ?”
Ngài nghĩ rằng Ngũ Tổ khen như vậy là chấp nhận Ngài làm Tổ rồi, nhưng
vì khiêm nhường nên Ngài thưa: Bạch con làm, nhưng con không dám mong cầu
Tổ vị, chỉ trình để Thầy xem con có chút ít trí tuệ chăng ? Đó là lời nói khiêm
nhường, không ngờ :
Tổ bảo: “Ông làm bài kệ này chưa thấy được bản tánh, chỉ đến ngoài cửa,
chưa vào được trong cửa, kiến giải như thế tìm Vô thượng Bồ-đề, trọn không thể
được. Vô thượng Bồ-đề phải được ngay nơi lời nói mà biết bản tâm mình, thấy
được bản tánh mình chẳng sanh chẳng diệt, đối trong tất cả thời mỗi niệm mỗi
niệm tự thấy, muôn pháp đều không kẹt, một chân tất cả đều chân, muôn cảnh tự
như như, tâm như như đó tức là chân thật. Nếu thấy được như thế tức là tự tánh Vô
thượng Bồ-đề. Ông hãy đi, một hai ngày sau, suy nghĩ làm một bài kệ khác đem
lại tôi xem, bài kệ của ông nếu vào được cửa, sẽ trao y pháp cho ông.” Ngài Thần
Tú làm lễ lui ra, trải qua mấy ngày, làm kệ cũng không thành, trong tâm hoảng hốt,
thần tư bất an, ví như ở trong mộng, đi ngồi không vui.
Như thế là Ngũ Tổ thật khéo, thật tâm lý, nếu không thì việc lớn hỏng hết.
Nếu buổi sáng giữa đông đảo chúng vừa khen bài kệ xong, Ngũ Tổ gọi ngài Thần
Tú lại hỏi: Phải ông làm bài kệ này không ? Dĩ nhiên ngài Thần Tú sẽ thưa: Bạch
con làm. Lúc ấy Ngũ Tổ bảo rằng: “Bài kệ này không vào cửa được” thì còn gì thể
diện của ngài Thần Tú. Tuy khen bài kệ, tuy biết tác giả mà Tổ không hỏi liền, đợi
đến canh ba vắng vẻ Tổ mới gọi ngài Thần Tú vào hỏi. Khi ngài Thần Tú nhận là
bài kệ của Ngài, Tổ mới bảo ông chưa vào cửa được. Lúc đó Ngài mới kinh ngạc,
tuy kinh ngạc mà không mất thể diện với đồ chúng. Đó là cái khéo của Ngũ Tổ,
thật là khéo ! Thế nên người lớn muốn cho vẹn toàn với đồ đệ cũng là cực lắm.
Nếu người nóng nảy thì gọi ra hỏi và phê bình ngay giữa đồ chúng đông đảo, như
thế chắc ngài Thần Tú không chịu đựng nổi sự hổ thẹn. Tổ bảo tiếp: Thôi ông trở
về vài ngày làm một bài kệ khác đem đến trình, nếu được ta sẽ trao y pháp cho.
Ngài Thần Tú lễ rồi lui ra. Bấy giờ Ngài còn tinh thần nào làm kệ nữa. Bao nhiêu
cố gắng mới làm được bài kệ đó, nay Ngũ Tổ không chấp nhận thì còn tinh thần
nào để làm bài kệ thứ hai.
Lại hai ngày sau có một chú bé đi qua chỗ giã gạo, đọc bài kệ này. Huệ
Năng vừa nghe liền biết bài kệ này chưa thấy được bản tánh.
Người đến được cảnh đó nghe bài kệ liền biết tác giả bài kệ chưa vô cửa
được. Đó là đệ tử mà còn biết, huống nữa là ông Thầy !
Tuy chưa nhờ chỉ dạy, mà sớm đã biết được đại ý, bèn hỏi chú bé: “Tụng
đó là kệ gì ?” Chú bé đáp: “Cái ông nhà quê không biết, Đại sư nói: Người đời
sanh tử là việc lớn, muốn được truyền y pháp, khiến đệ tử làm kệ trình Ngài xem, nếu ngộ được đại ý, liền trao y pháp làm Tổ thứ sáu. Thượng tọa Thần Tú viết bài
kệ Vô Tướng ở vách hành lang phía Nam, Đại sư khiến người đều đọc, y kệ này tu
sẽ khỏi đọa đường ác, y kệ này tu sẽ có lợi ích lớn.” Huệ Năng thưa: “Thượng
nhân, đã hơn tám tháng, tôi ở nhà trù giã gạo, chưa từng đến nhà trên, mong
Thượng nhân dẫn tôi đến trước bài kệ lễ bái.”
Thật là lời nói khiêm nhường ! Chú bé mà Ngài gọi là Thượng nhân. Ngài
nói: Tôi ở đây làm công quả hơn tám tháng trời, chưa lên tới nhà trên, nay nhờ
Thượng nhân dẫn tôi đến lễ bái bài kệ để kết duyên. Dĩ nhiên là chú bé thích rồi.
Chú bé dẫn Ngài đến trước bài kệ lễ bái. Huệ Năng bảo: “Huệ Năng không
biết chữ, nhờ Thượng nhân vì tôi đọc.” Khi ấy có quan Biệt giá ở Giang Châu họ
Trương tên Nhật Dụng liền to tiếng đọc. Huệ Năng nghe rồi bèn nói: “Tôi cũng có
một bài kệ, mong Biệt giá vì tôi viết.” Quan Biệt giá nói: “Ông cũng làm kệ nữa
sao ? Việc này thật ít có !” Huệ Năng nói với Biệt giá rằng: “Muốn học đạo Vô
thượng Bồ-đề, không được khinh người mới học. Kẻ hạ hạ cũng có cái trí thượng
thượng, còn người thượng thượng cũng không có ý trí. Nếu khinh người thì có vô
lượng vô biên tội.” Quan Biệt giá nói: “Ông chỉ tụng kệ, tôi vì ông viết, ông nếu
được pháp, trước phải độ tôi, chớ quên lời này.”
Quan Biệt giá ban đầu ngạc nhiên nên nói: Ông cũng có kệ nữa sao ? Thấy
quan Biệt giá ngạc nhiên, ngài Huệ Năng biết ông này khinh người, cho mình là
quê mùa dốt nát nên Ngài mới bảo: Kẻ hạ hạ cũng có trí thượng thượng, còn người
được xem là thượng thượng cũng không có ý trí, đừng tưởng người ở cấp cao là
người hay. Nghe thế quan Biệt giá liền bảo: Ông nói đi, tôi viết cho nhưng phải
nhớ là ông được pháp thì độ tôi trước. Thành ra cũng là tham phải không ? Khi
giúp người cũng đòi quyền lợi trước !
Huệ Năng đọc bài kệ:
Bồ-đề vốn không cây,
Gương sáng cũng chẳng đài.
Xưa nay không một vật,
Chỗ nào dính bụi bặm ?
Bồ-đề chỉ cho tánh giác, tánh giác không có hình tướng thì không phải là
cây, đây là bác câu “Thân là cây bồ-đề”. Ngài Thần Tú nói thân này là cây bồ-đề,
Ngài nói trái lại: Bồ-đề là tánh giác, tánh giác thì đâu có hình tướng mà nói là cây.
Câu thứ nhất bác hình thức cây bồ-đề. Đến câu thứ hai ngài Thần Tú nói: “Tâm
như đài gương sáng”, như vậy đài gương sáng là gương sáng hay đài sáng ? Nếu
nói đài gương sáng thành ra nhấn mạnh chữ đài. Gương là tự nó sáng không cần
có đài mới sáng, nếu nói đài gương sáng là đã lầm cái hình thức thứ hai. Đến hai
câu sau “Xưa nay không một vật, Chỗ nào dính bụi bặm”, tức là chỗ chân thật đó
xưa nay không một vật huống nữa là dính bụi bặm ? Ngài Thần Tú nói “Luôn luôn
phải lau chùi, Chớ để dính bụi bặm” nhưng xưa nay nó không dính một vật thì
chùi cái gì ? Đã không có một vật thì có gì dính bụi ? Như thế rõ ràng ngài Huệ
Năng thấy được bản tánh xưa nay không có một hình trạng, không có một tướng
mạo, chính bản tánh đó tự thanh tịnh, không cần lau chùi mới thanh tịnh. Đó là
Ngài đã thấy được, còn ngài Thần Tú không thấy được nên suy nghĩ theo lối tu nặng về hình thức: cái gương có bụi dính nay rán chùi cho hết bụi, đó là chưa thấy
được bản tánh thật vì tánh giác không tướng mạo, đã không tướng mạo thì có gì
nhiễm, có gì dính được nó, thấy rõ được như vậy thì không bao giờ lầm, không
phải lau chùi gì cả. Lau chùi là chỉ hình thức bên ngoài, chớ tánh giác không có
tướng mạo nên nó hằng thanh tịnh, hằng thanh tịnh thì chỗ nào dính bụi mà phải
lau chùi ? Như vậy qua bài kệ này mọi người thấy rõ là Ngài đã vô cửa, còn bài kệ
của ngài Thần Tú chưa vô cửa.
Khi viết bài kệ rồi, đồ chúng thảy đều kinh hoàng, không ai mà chẳng xuýt
xoa, mọi người bảo nhau rằng: “Lạ thay ! Không thể do tướng mạo mà đoán người,
đã bao lâu nay sai nhục thân Bồ-tát làm việc !”
Thế nên, ai đọc bài kệ này cũng giật mình, cả chúng đều ngạc nhiên, thảy
đều kinh hoàng, không ai mà chẳng xuýt xoa. Đồ chúng bảo nhau thật không ngờ,
không nên xem tướng mà đoán người, vì chúng ta thường có bệnh xem tướng đoán
người, ai ăn mặc tề chỉnh, gương mặt sáng sủa thì cho người đó là thông minh, ai
ăn mặc lôi thôi, gương mặt hơi khờ thì cho đó là người quê dốt. Nay chúng mới
ngạc nhiên không ngờ mấy tháng nay mình sai vị nhục thân Bồ-tát làm việc. Như
thế là họ hốt hoảng cho Ngài là Bồ-tát. Nhưng trong đoạn tiếp theo, chúng ta sẽ
thấy Ngũ Tổ thật là người hiểu tâm lý.
Tổ thấy cả chúng đều kinh ngạc, sợ có người làm hại Ngài, mới lấy giày
xóa hết bài kệ, nói: “Cũng chưa thấy tánh.” Chúng cho là đúng.
Người học trò thường như thế. Khi mới đọc bài kệ thì thấy hay hơn bài kệ
trước. Tự biết như vậy, nhưng khi nghe vị thầy bảo cũng chưa thấy tánh và lấy
giày xóa thì cũng nói theo: À, phải rồi cũng chưa thấy tánh và cũng yên tâm như
vậy ! Thế nên người học đạo khi nghe ai bảo điều gì là phải mà mình thấy rõ chưa
phải thì vẫn biết là chưa phải, ai nói điều gì là sai mà mình xét thấy đúng vẫn biết
là đúng, như thế mới có lập trường. Còn người ta bảo “phải” mình thưa phải,
người ta nói “sai” mình cũng dạ sai, rồi theo đó mà khen mà chê là không có lập
trường, đó là cái hại. Nhất là khi đọc sách, người hướng dẫn hoặc người viết sách
khen điều gì, ta cũng khen theo, chê điều gì, ta cũng chê theo, mà không biết hay
dở ở điểm nào, đó là khuyết điểm lớn của người học.
Ngày kế, Tổ thầm đến chỗ giã gạo thấy Huệ Năng đeo đá giã gạo, mới bảo
rằng: “Người cầu đạo vì pháp quên mình đến thế ư ?”
Thật cũng khổ sở ! Tổ thấy ngài Huệ Năng đeo đá giã gạo mới bảo: Người
cầu đạo vì pháp quên mình đến như thế ư ? Tức là nếu cần làm thì cứ làm chẳng
nghĩ đến thân, còn chúng ta như thế nào ? Vào chùa, khi làm việc gì nặng là than
ngay: Ôi, tôi làm không nổi, một mình tôi làm không nổi, phải hai, ba người mới
được; còn Ngài nếu một mình không nổi thì đeo thêm một viên đá cho đủ sức
nặng, đó là vì đạo quên mình. Trái lại nếu vì mình thì thế nào ? Nơi nào dù có đạo
mà cực quá thì bỏ đi tìm chỗ sung sướng hơn; thế nên vì mình thì quên đạo, còn vì
đạo thì quên mình. Người cầu được đạo thì dù khổ cực thế mấy cũng chấp nhận,
người vì mình thì dù nơi có đạo lý nhưng cực nhọc quá cũng bỏ đi tìm nơi khác
sung sướng hơn. Vậy người học đạo phải lấy đây làm gương. Thật ra trong chúng
mấy trăm người, nếu mình yếu không đủ sức nặng để giã gạo thì kêu thêm một người nữa, đâu có hại gì, nhưng Ngài không cần, ví dụ phải sáu mươi kí mới cất
nổi cái chày mà Ngài chỉ có bốn mươi kí thì Ngài đeo thêm viên đá hai mươi kí
nữa là được rồi, không cần gọi thêm người thứ hai. Chính việc làm vì đạo quên
mình của Ngài khiến cho người sau mỗi khi đọc đến đều cảm động và chính Ngũ
Tổ cũng phải khen: “Vì pháp mà quên mình đến thế ư ?”
Tổ lại hỏi: “Gạo trắng hay chưa ?” Huệ Năng thưa: “Gạo trắng đã lâu, còn
thiếu giần sàng.” Tổ lấy gậy gõ vào cối ba tiếng rồi đi. Huệ Năng liền hội được ý
Tổ, đến khi trống đổ canh ba liền lén vào thất. Tổ lấy cà sa che chung quanh
không để người thấy, vì nói kinh Kim Cang, đến câu “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ
tâm”, Huệ Năng ngay lời đó đại ngộ, thấy tất cả muôn pháp chẳng lìa tự tánh, liền
thưa Tổ rằng:
Đâu ngờ tự tánh vốn tự thanh tịnh,
Đâu ngờ tự tánh vốn không sanh diệt,
Đâu ngờ tự tánh vốn tự đầy đủ,
Đâu ngờ tự tánh vốn không dao động,
Đâu ngờ tự tánh hay sanh muôn pháp !
Ngũ Tổ biết Huệ Năng đã ngộ được bản tánh mới bảo: “Chẳng biết bản
tâm, học pháp vô ích, nếu biết được bản tâm mình, thấy được bản tánh mình, tức
gọi là Trượng phu, là Thầy của trời người, là Phật.” Canh ba thọ pháp, người trọn
không biết, Tổ liền truyền pháp đốn giáo và y bát, nói rằng: “Ngươi là vị Tổ đời
thứ sáu, khéo tự hộ niệm, rộng độ chúng hữu tình, truyền khắp đời sau, không
khiến cho đoạn tuyệt. Nghe ta nói kệ:
Hữu tình lai hạ chủng,
Nhân địa quả hoàn sanh.
Vô tình diệc vô chủng,
Vô tánh diệc vô sanh.
Chữ tình không có nghĩa thức tình, chữ tình đây chỉ cho những người đã có
được hạt giống tức là có cái chủng tánh về đạo lý. Người có tình đến nên gieo
giống cho họ, nhân nơi đất mà quả lại sanh, tức là người đã có chủng tánh về đạo
lý này, khi họ đến nên gieo giống cho họ, nhân nơi đất tự tánh của họ sẵn có sẽ
sanh ra quả. Còn vô tình tức là người không có hạt giống đó, không có giống thì
không có tánh, cũng không có sanh. Người không có chủng tử đó mình có gieo
cũng khó mà được, nên nói không tánh cũng không sanh. Đây là bài kệ truyền
pháp.
Tôi lặp lại đoạn này cho quí vị thấy chỗ cần yếu khi ngài Huệ Năng ngộ.
Chúng ta thấy khi nghe đọc một câu kinh Kim Cang Ngài đã ngộ rồi, tại sao tới
đây Ngài lại ngộ nữa ? Như thế lần ngộ trước và lần ngộ sau khác nhau ở điểm
nào ? Thường chúng ta không hiểu kỹ nên thắc mắc, khi trước Ngài cũng ngộ nên
Ngài mới thưa chuyện với Ngũ Tổ, Ngài mới làm bài kệ và được Ngũ Tổ chấp
nhận là vào cửa, đến đây Ngài lại ngộ nữa là ngộ cái gì ? Cái ngộ trước là Ngài
mới thấy “Bản lai vô nhất vật”, nghĩa là thấy thể tánh đó không có một hình tướng,
không có một vật tượng, chỉ là một thể tánh rỗng lặng, vì thấy được chỗ đó nên
vào cửa. Đến chỗ này Ngài thấy thế nào ? Ngài nói : Đâu ngờ tâm mình thanh tịnh, đâu ngờ tâm mình chẳng sanh diệt, nó tự đầy đủ, nó không dao động, nó hay sanh
muôn pháp, như thế đến đây Ngài mới thấy thật thể của bản tâm. Khi trước Ngài
chỉ mới thấy chỗ không có vọng, đó là tánh không, bởi thấy được tánh không nên
mới được vào cửa. Vào cửa chưa phải là xong việc, phải thấy được cái đầy đủ,
thanh tịnh, chưa từng sanh diệt, không dao động và hay sanh muôn pháp, thấy tột
cái đó mới gọi là thấy được bản tánh mình. Như vậy qua đoạn này chúng ta mới
thấy rõ người học đạo không phải ngộ một lần là xong. Trong nhà thiền thường
nói rằng đại ngộ ít ra cũng ba bốn lần, còn tiểu ngộ thì vô số. Tiểu ngộ là sao ? Tỉ
dụ nghe một thời giảng, chúng ta có lóe sáng một điều gì mình thích, thấy điều đó
từ trước đến nay chưa từng biết, nay mình biết, đó là tiểu ngộ. Còn đại ngộ là một
lần nhận ra được thì vui cả năm bảy ngày, nghĩa là điều đó là một việc lớn mà từ
trước đến nay chưa bao giờ mình phát minh được, nay phát minh được, đó là đại
ngộ. Nhưng một lần cũng chưa xong, phải đôi ba lần như thế, thế nên người học
đạo phải có ngộ chớ không ngộ thì khó vào đạo. Ngài Thần Tú hiểu lý kinh mà
chưa ngộ đạo nên vào cửa không nổi.
Đến trường hợp Tổ muốn truyền y pháp cho ngài Huệ Năng. Trước hết là
pháp, muốn truyền pháp, đầu tiên Tổ đem kinh Kim Cang giảng cho Ngài nghe,
nhưng khi giảng kinh, tại sao lại lấy y che hết các cửa sổ không cho ai thấy cả ?
Có phải tại vì truyền pháp thì phải bí mật không ? Vì hoàn cảnh của Tổ là khác. Tổ
biết rằng nếu có người nào hay Tổ truyền cho ngài Huệ Năng họ sẽ chống đối, bởi
vì lúc ấy ngài Huệ Năng chưa cạo tóc, Ngài chỉ giã gạo tám tháng rồi Tổ gọi lên
truyền y bát. Thế nên Tổ phải che kín hết không cho ai thấy, chỉ một thầy một trò,
Tổ giảng kinh Ngài nghe rồi ngộ. Tổ lén truyền pháp xong rồi đưa ra cửa sau đi
luôn không dám cho ở. Còn chúng ta hiện nay, khi truyền pháp có cần che kín như
thế không ? Tỉ dụ tôi có đạo lý gì muốn truyền cho Phước Hảo hay những chú lớn
trong đây, tôi có cần che kín không ? Vì trường hợp của Tổ là trường hợp đặc biệt
phải giấu. Còn trường hợp thông thường, thầy nói đệ tử nghe, nhận hiểu tức là
được đạo. Nay có một số người bắt chước cho đây là mật truyền, gọi vào phòng
che kín lại rồi truyền và nói là y theo Tổ thuở xưa. Thật đúng với câu “ôm cây đợi
thỏ” hay “khắc mạn thuyền mò gươm”, thật là khờ dại ! Hoàn cảnh của người xưa
khác, nay lại bắt chước cái mật đó! Phật pháp không phải mật vì có những trường
hợp quá đặc biệt nên mới mật thôi. Như thế quí vị phải hiểu rõ tinh thần truyền
pháp, không phải là chỉ truyền khi nào có một thầy một trò trong trường hợp đóng
cửa, đó là cái họa, không phải đúng. Tổ khi xưa làm như thế, vì đặc biệt ngài Huệ
Năng là người chưa được mọi người tin tưởng, nếu Tổ để cho họ biết là có hại nên
phải dùng phương tiện đó. Khi truyền pháp Tổ dùng kinh Kim Cang. Thế nên tôi
thường nói với quí vị, đầu tiên chúng ta học kinh Kim Cang để nhân kinh mà nhận
được bản tánh. Những câu sau đây quí vị thấy Ngũ Tổ nói thật là gần. Ngài bảo
rằng: Người học đạo không biết được bản tâm thì học đạo vô ích, học đạo mà
không nhận được bản tâm thì học cái gì ? Học đạo là cốt ngộ được bản tâm mà
không ngộ được tức nhiên là học bên ngoài chớ chưa phải là học đạo. Còn nếu biết
được bản tâm, thấy được bản tánh, đó là Trượng phu, là Thầy của trời người, là
Phật, tức là đủ mười hiệu. Như thế người muốn thành Phật phải y thế mà tu. Sau khi dặn dò, Lục Tổ nhận pháp rồi, Ngũ Tổ truyền y bát, bảo rán gìn giữ. Tổ lại dặn
trong một bài kệ: Nếu người có chủng tử đạo lý đến thì phải rán vì họ mà gieo
giống tức là làm phương tiện để cho họ khai ngộ, chính nơi đất tâm của họ có sẵn
thì mình gieo hạt giống, quả từ đó phát triển sanh khởi không khó; còn người chưa
có chủng tử đó thì không gieo giống được, đã không có chủng tử, có gieo giống
cũng không sanh khởi vì thế mới nói rằng “vô tánh diệc vô sanh”.
Tổ lại bảo: “Xưa Đại sư Đạt-ma ban đầu đến cõi này, người chưa tin nên
mới truyền y này để làm tín thể, đời đời truyền nhau, pháp thì dùng tâm truyền tâm,
đều khiến cho tự ngộ tự giải. Từ xưa Phật Phật chỉ truyền bản thể, Thầy Thầy
thầm trao bản tâm, y là đầu mối của sự tranh giành, nên dừng ngay nơi ngươi, chớ
truyền nữa. Nếu truyền y này thì mạng của người nhận y cũng như sợi chỉ mành.”
Phật cũng truyền cho mình cái bản thể, chư Sư cũng truyền cho mình cái
bản tâm, đó là điều chính yếu. Tại sao khi xưa Tổ Bồ-đề-đạt-ma sang Trung Hoa
truyền y bát, đến đời Lục Tổ, Ngũ Tổ lại cấm truyền y ? Vì ngay đời Tổ Bồ-đề-
đạt-ma, Ngài chỉ mới có vài đệ tử thôi nên người nào xuất sắc hơn thì được Ngài
truyền y để làm bằng chứng cho người sau tin. Đến đời Ngũ Tổ số đệ tử lên đến
năm bảy trăm người, đến Lục Tổ số chúng đông đến cả ngàn người, nay truyền y
cho một người, bao nhiêu người khác ganh tị, tranh giành là cái họa cho người đó.
Thế nên về sau, người nào được pháp rồi, Tổ bảo họ đến một nơi nào đó truyền bá
chớ không giao y cho vì giao y là giao họa cho họ. Chúng ta đã thấy rõ lý do, chớ
thường chúng ta hay cố chấp nói, khi xưa Tổ Bồ-đề-đạt-ma truyền pháp rồi truyền
y bát cho Tổ Huệ Khả, Tổ Tổ truyền nhau tới sáu đời. Sau này không truyền nữa
tức là đến đó không còn Tổ nữa, tức là hết người ngộ rồi, đó là lầm lẫn lớn. Tỉ dụ
như ở đây, trong chúng có cả trăm người nghe chúng tôi giảng dạy, giả sử có một
người trả lời đúng câu tôi hỏi, tôi nói: Người này xứng đáng kế thừa cho tôi. Khi
nghe như thế quí vị tin người đó chưa ? Dĩ nhiên là tin rồi, đâu cần truyền cái gì
nữa. Thế nên, trong các hội chúng sau này, hội nào cũng từ năm trăm đến một
ngàn người, nếu có người nào ngộ đạo, Tổ chỉ nói tỉ dụ như “Trái mai đã chín” là
thiên hạ hiểu rồi, đua nhau tìm tới học chớ không phải truyền y gì cả. Hoàn cảnh
thuở xưa khác, người sau không hiểu cứ cố chấp, nói tại sao sau này không có
truyền y bát, mà truyền y bát để làm gì ? Điều quan trọng là mình phải ngộ đạo,
cho nên nói Phật Phật truyền nhau tâm thể đó, Tổ Tổ truyền nhau bản tâm này,
vậy phải hiểu y bát chỉ để làm biểu tín bên ngoài khi chưa có người biết, còn khi
mọi người đều biết thì nó không cần thiết nữa. Ngũ Tổ bảo tiếp:
“Ông phải đi nhanh, e người hại ông.” Huệ Năng thưa: “Bây giờ con phải
đi đâu ?” Tổ bảo: “Gặp ấp Hoài thì dừng, gặp ấp Hội thì ẩn.” Huệ Năng canh ba
lãnh được y bát, thưa: “Huệ Năng vốn là người miền Nam không biết đường đi,
làm sao ra được bến đò ?” Ngũ Tổ bảo: “Ông chẳng phải lo, ta tự đưa ông đi.” Tổ
liền đưa đến bến đò Cửu Giang, Tổ bảo lên thuyền, Ngũ Tổ bèn cầm chèo tự chèo.
Huệ Năng thưa: “Thỉnh Hòa thượng ngồi, để đệ tử chèo.” Tổ bảo: “Phải là ta độ
ông.” Huệ Năng thưa: “Khi mê thì Thầy độ, ngộ rồi thì tự độ. Độ tên tuy là một
nhưng chỗ dùng không đồng. Huệ Năng sanh nơi biên phương, tiếng nói không
đúng, nhờ Thầy truyền pháp nay đã được ngộ, chỉ nên tự tánh tự độ.” Tổ bảo: “Như thế ! Như thế ! Về sau Phật pháp do ông mà được thạnh hành, ông đi ba năm,
ta sẽ thệ thế. Nay ông đi an vui, nỗ lực hướng về Nam, không nên nói pháp sớm,
Phật pháp sẽ gặp tai nạn.” Huệ Năng từ giã Ngũ Tổ rồi cất bước đi về phương
Nam, trong khoảng hai tháng đến ngọn núi Đại Dữu.
Lục Tổ ở trong hoàn cảnh bị người khinh, nhưng Ngũ Tổ nhìn Ngài ở chỗ
tâm sáng, vì tâm sáng nên xứng đáng được truyền pháp, còn cái hình thức, sự dốt
nát v.v… là những điều bị thiên hạ khinh, người bị khinh mà được truyền pháp làm
Tổ thì thiên hạ tức, do đó có thể bị hại. Thế nên giữa đêm Ngũ Tổ phải cực khổ lén
đưa ngài Huệ Năng đi, có thể hai thầy trò cầm đèn đưa nhau ra bến đò, rồi qua bên
kia sông lên bờ. Ngũ Tổ lại dặn dò: “Ngươi đi rồi, ba năm sau ta sẽ tịch, vậy ngươi
đi bình yên, rán đi về phía Nam, đừng có dạy sớm.” Thật là chí tình !
Ngũ Tổ trở về, mấy ngày không thượng đường, chúng nghi mới đến hỏi:
“Hòa thượng có ít bệnh, ít não chăng ?” Ngài đáp: “Bệnh thì không, mà y pháp đã
về Nam rồi.” Chúng hỏi: “Ai là người được truyền ?” Tổ bảo: “Người có khả
năng thì được.” Chúng liền biết.
Vì họ đã được đọc bài kệ của ngài Huệ Năng nên khi nghe Ngũ Tổ nói họ
liền biết là Ngài. Biết rồi họ có tha không ?
Khi đó vài trăm người đuổi theo, muốn cướp y bát, một vị tăng họ Trần, tên
Huệ Minh, trước là tướng quân bậc Tứ phẩm, tánh hạnh thô tháo, hết lòng theo tìm,
chạy trước mọi người, đuổi kịp Huệ Năng. Huệ Năng để y bát trên bàn thạch nói:
“Y này là biểu tín có thể dùng sức mà tranh sao !” Huệ Năng liền ẩn trong lùm cỏ,
Huệ Minh đến cầm y lên mà không nhúc nhích, mới kêu rằng: “Cư sĩ, cư sĩ ! Tôi
vì pháp mà đến chớ không phải vì y.” Huệ Năng bèn bước ra ngồi trên bàn thạch.
Huệ Minh liền làm lễ thưa: “Mong cư sĩ vì tôi nói pháp.” Huệ Năng bảo: “Ông đã
vì pháp mà đến thì nên dứt sạch các duyên, chớ sanh một niệm, tôi vì ông nói.”
Huệ Minh im lặng giây lâu. Huệ Năng bảo: “Không nghĩ thiện, không nghĩ ác,
chính khi ấy cái gì là bản lai diện mục của Thượng tọa Minh ?” Huệ Minh ngay
câu nói đó liền đại ngộ.
Đây là bài thuyết pháp đầu tiên của Lục Tổ. Ngài thuyết pháp quá đơn giản.
Ngài bảo: Ông dừng tất cả vọng tưởng, đừng nghĩ gì cả. Huệ Minh đứng lặng yên
giây lâu thì Lục Tổ bảo: “Không nghĩ thiện, không nghĩ ác, chính khi ấy cái gì là
bản lai diện mục của Thượng tọa Minh ?” Huệ Minh liền ngộ. Như thế chỉ một câu
nói, Huệ Minh ngộ được bản lai diện mục của mình.
Lại hỏi: “Ngoài mật ngữ, mật ý trên, còn có mật ý khác chăng ?” Huệ Năng
bảo: “Vì ông nói tức không phải mật vậy, ông nếu phản chiếu thì mật ở bên ông.”
Ông đừng hỏi nữa, đã vì ông mà nói rồi thì đâu còn mật. Cái mật là cái ông
biết phản chiếu trở lại đó. Chúng ta thường có bệnh nghe nói chứng được Phật quả
thì có tam minh, lục thông, tứ vô sở úy, thập bát bất cộng v.v… ai nấy đều thích,
nhưng nay nghe nói bản tâm mình thanh tịnh, hằng tri thì thắc mắc: Thế là không
còn gì lạ nữa sao ? Nếu chỉ được cái thanh tịnh hằng tri đó thì có vẻ thường quá,
không có điều gì mật, điều gì quan trọng cả ! Nhưng thật ra chính cái thanh tịnh
hằng tri đó nếu mình sống được, lâu sau tự nhiên có cái mật. Đừng hỏi thêm,
không ai chỉ thêm được điều gì nữa, cái đó là ở nơi mình chớ không phải ở nơi người chỉ. Người chỉ giúp cho mình nhận ra được cái đó, rồi mình sống với nó, lâu
ngày bao nhiêu diệu dụng theo đó mà có, chớ không phải người khác làm cho
mình được. Như vậy là Ngài chỉ rõ mật là tại ông, tức là ông biết phản chiếu, cái
mật ở nơi ông.
Huệ Minh thưa: “Huệ Minh tuy ở Huỳnh Mai, thật chưa có tỉnh diện mục
của chính mình, nay nhờ chỉ dạy như người uống nước lạnh nóng tự biết. Nay cư
sĩ tức là Thầy của Huệ Minh.” Huệ Năng bảo: “Ông nếu như thế thì tôi cùng ông
đồng thờ thầy Huỳnh Mai, khéo tự hộ trì.”
Câu: “Nay nhờ chỉ dạy như người uống nước lạnh nóng tự biết” là câu trình
kiến giải. Như thế Huệ Minh cũng can đảm, là người xuất gia mà dám nhận một
cư sĩ làm thầy.
Huệ Minh lại thưa: “Huệ Minh từ nay về sau nhằm chỗ nào đi ?” Huệ Năng
bảo: “Gặp Viên thì dừng, gặp Mông thì ở.” Huệ Minh liền lễ từ.
Đây là điểm tôi nghi, vì trước đó Ngài chưa biết phải đi đâu, nên hỏi Ngũ
Tổ “con phải đi đâu” thì Ngũ Tổ bảo “phùng Hoài… ngộ Hội v.v…”, nay thình lình
Huệ Minh vừa ngộ hỏi con đi đâu thì Ngài cũng dặn bảo được, thành ra mau quá,
nên tôi nghi. Trong đoạn trước tôi có nói, người sau ghi lại muốn cho có vẻ huyền
bí một chút, nên điểm tô thêm một ít nét, nếu chúng ta kiểm điểm lại thì thấy rõ.
Nếu trước Ngài đã biết tức Ngài không hỏi Ngũ Tổ, vì Ngài chưa biết thân phận
mình, nên phải nhờ Ngũ Tổ định đoạt, trong lúc chạy trốn Ngài đâu có ngày giờ
ngồi tu mà nói tâm Ngài được sáng, biết quá khứ vị lai ? Đến khi Huệ Minh ngộ
hỏi, Ngài liền biết chỗ nào nên ở, chỗ nào nên đi, đó là Ngài biết quá khứ vị lai rồi.
Điều này e là người sau bổ túc, đó là điểm tôi nghi, vì khi nghiên cứu, chúng ta
phải thấy điểm nào là thật, điểm nào là không thật, chớ không thể đọc sao nghe
vậy.
Huệ Minh trở về, xuống núi bảo những người đuổi theo: “Đi trên những đồi
núi này trọn không tìm ra tung tích, phải đi qua đường khác tìm.” Cả chúng đuổi
theo đều cho là đúng. Huệ Minh về sau đổi tên là Đạo Minh, đó là tránh chữ đầu
của tên Thầy.
Huệ Minh nói gạt chúng là đi theo mấy ngọn đồi núi chập chùng này không
tìm ra dấu vết gì cả, thôi tìm đường khác đi, đó là gạt chúng đừng đuổi theo.
Huệ Năng sau đến Tào Khê lại bị bọn người ác tìm đuổi, mới ở nơi Tứ Hội
(Tứ Hội thuộc tỉnh Quảng Đông.), tị nạn trong đám thợ săn, trải qua mười lăm
năm, khi đó cùng những người thợ săn tùy nghi nói pháp. Những người thợ săn
thường bảo giữ giềng lưới, khi Huệ Năng thấy những con vật mắc lưới đều thả.
Mỗi khi đến bữa ăn, hái rau gởi luộc trong nồi thịt, hoặc có người hỏi thì đáp: “Chỉ
ăn rau ở bên thịt.”
Tu theo Ngài cũng hơi dễ, rau luộc trong nồi thịt cũng dễ ăn hơn rau luộc
bằng nước trong. Như thế quí vị thích tu theo cách này không ? Mình ăn rau gởi
luộc trong nồi thịt thôi, không ăn thịt ! Nói thế thì có nhiều vị bắt chước, về nhà vợ
con nấu thịt cũng bỏ rau vào luộc, đến khi ăn thì ăn rau thôi ! Nhưng chúng ta
không nên bắt chước như vậy. Chúng ta phải hiểu hoàn cảnh của Ngài, Ngài còn
hình thức cư sĩ và Ngài cũng giấu không cho người ta biết tung tích của Ngài, nếu Ngài tỏ ra là người tu, sợ người ta biết tung tích thì có hại, nên Ngài giấu hẳn.
Ngài sống như bao nhiêu người tầm thường khác, Ngài cũng làm việc với thợ săn
để mọi người không nghi ngờ, thế nên Ngài không có quyền luộc một nồi rau
riêng sợ người ta nghi, còn chúng ta hiện nay có quyền luộc rau riêng thì cứ luộc,
tại sao muốn gởi trong nồi thịt ? Đó là có ý xấu rồi ! Phải hiểu hoàn cảnh mỗi bên
khác nhau, đừng nghe rồi bắt chước, nói khi xưa Lục Tổ cũng luộc rau trong nồi
thịt thì nay tôi cũng ăn rau bên cạnh thịt có hại chi đâu ? Phải hiểu hoàn cảnh của
Ngài khác, hoàn cảnh của mình khác, mình có quyền luộc rau riêng được thì cứ
luộc riêng, chớ cứ gởi theo kiểu đó mãi chắc là khó coi lắm ! Hiểu như thế mới
thấy ý nghĩa của mỗi phần, chớ nhiều khi chúng ta hay bắt chước người xưa một
cách lố bịch, không đúng. Như thế là Ngài chạy từ nơi Ngũ Tổ đến đây gần một
năm và ở trong đám thợ săn mười lăm năm nữa tức là mười sáu năm trời vất vả !
Một hôm, mới suy nghĩ: Thời hoằng pháp đã đến, không nên trọn trốn lánh.
Huệ Năng liền đến chùa Pháp Tánh ở Quảng Châu, gặp Pháp sư Ấn Tông đang
giảng kinh Niết-bàn. Khi ấy có gió thổi, lá phướn động, một vị tăng nói gió động,
một vị tăng nói phướn động, hai người cãi nhau không thôi. Huệ Năng tiến tới nói:
“Không phải gió động, không phải phướn động, tâm nhân giả động.” Cả chúng
đều ngạc nhiên. Ấn Tông mời Huệ Năng đến chiếu trên gạn hỏi áo nghĩa (Tức là
nghĩa sâu kín.), thấy Huệ Năng đối đáp, lời nói giản dị mà nghĩa lý rất đúng,
không theo văn tự. Ấn Tông nói: “Cư sĩ quyết định không phải là người thường,
đã lâu nghe y pháp của Huỳnh Mai đi về phương Nam, đâu chẳng phải là cư sĩ
?” Huệ Năng nói: “Chẳng dám !” Chẳng dám là lời nói khiêm nhường chấp nhận.
Đến đây tôi nói chuyện phong phan một chút. Quí vị thấy Ngài xuất đầu lộ
diện qua câu chuyện gió động, phướn động. Giả sử như vào ngày rằm tháng tư,
chúng ta treo lá cờ Phật giáo ở trước cửa, gió thổi lá cờ bay phất phới, có hai vị sư
cãi nhau, một người nói gió động, một người nói cờ động, có một người khác lại
nói: đó là tâm hai ông động. Nghe như thế, chúng ta có thấy quan trọng không ?
Cũng thường thôi. Nhưng tại sao khi Ngài nói câu đó cả chúng đều ngạc nhiên ?
Tại sao ? Thật ra vì hiện nay chúng ta thường được nghe câu chuyện đó, chúng ta
đã quen rồi nên không ngạc nhiên. Nếu từ trước đến nay chưa từng nghe, mà thấy
một cư sĩ nói một câu như vậy, tức nhiên mọi người đều lấy làm lạ, nếu một người
xuất gia nói câu đó thì khả dĩ người ta không ngạc nhiên lắm, nay một cư sĩ mà nói
một câu như thế thì mọi người đều biết cư sĩ này hẳn có một cái gì đặc biệt nên
mới ngạc nhiên.
Nay tôi hỏi quí vị: gió động, phướn động, câu nào đúng ? Nếu có phướn mà
không có gió thì phướn động được không ? Trái lại có gió nhưng không có phướn
thì có thấy động không ? Cũng không thấy ! Như thế chúng ta thấy phướn động là
nhân có gió và có phướn. Tướng duyên hợp không phải là một, mà có duyên hợp
mới có động, nếu không có duyên hợp thì không có động, vì thế trên tướng duyên
hợp mà chúng ta chấp một bên, đó là nhìn phiến diện, mà nhìn phiến diện thì
không đúng được lý cứu kính. Bởi vì mỗi bên nhìn một khía cạnh nên ai cũng thấy
mình đúng cả, mà đã đúng rồi thì cãi nhau mãi cũng không ra lẽ. Thế nên, tất cả
pháp trên thế gian này là tùy duyên, vì tùy duyên nên có động tác, có hình tướng v.v… Động tác, hình tướng đều là tướng của duyên, đã là của duyên thì không nên
chấp vào một bên. Chấp vào một bên, nhìn phiến diện là gốc của sự tranh cãi. Trái
lại nếu biết các pháp duyên khởi thì không có gì phải tranh luận, sở dĩ có tranh
luận là do không nhận được lý đó. Thí dụ có người hỏi: Cái bàn do cái gì làm ra ?
Một người bảo: Do gỗ làm ra, người thứ hai bảo: Do ông thợ mộc làm ra. Vậy ai
đúng? Nếu không có gỗ, ông thợ mộc làm được cái bàn không ? Còn nếu không có
ông thợ mộc, gỗ có thành cái bàn không ? Dĩ nhiên thiếu một trong hai điều kiện
trên là không được, đó là chưa kể bao nhiêu vật nhỏ nhặt khác như đinh, bào, đục
v. v… Vì vậy, chúng ta không thể nhìn phiến diện được, nếu chấp một bên là có
tranh cãi, tranh cãi mãi không phân hơn thua, kết quả là đi đến nổi giận rồi đánh
nhau. Thế gian thường xảy ra những cuộc đánh nhau, vì mỗi người đều có lý riêng
của mình, lúc mới cãi còn nóng ít, dần dần ai cũng đỏ mặt rồi đánh nhau, nhưng
kết quả không đi đến đâu cả. Chính đó là sự lầm lẫn của chúng sanh. Do đó chúng
ta biết được lý duyên khởi, các pháp duyên khởi thì ở thế gian này không có gì
phải tranh luận với nhau. Anh nhìn các pháp như thế này là do anh thấy khía cạnh
này của chúng, người kia nhìn các pháp như thế kia là do người đó thấy khía cạnh
khác của các pháp. Không ai đúng toàn diện cả. Nhìn toàn diện thì các pháp không
cố định, tự tánh là không, duyên khởi là lý thật của các pháp. Thế nên chúng ta
thấy rõ, trong câu chuyện phong phan này, do chấp một bên mà có sự tranh cãi.
Để chấm dứt cuộc tranh cãi, Lục Tổ bảo: Tâm nhân giả động ! Tại sao Tổ
bảo tâm các ông động ? Chấp một bên, dấy niệm chấp là tâm động. Chấp là tâm
chấp, nên nói tâm hai ông động, đó là nói chỗ rốt ráo, Ngài chỉ thẳng gốc của sự
tranh cãi là tâm chấp. Dấy niệm chấp là tranh cãi, động là từ cái chấp đó. Dấy
niệm chấp là động, vì thế cả chúng nghe rồi đều hoảng hốt, không ngờ một cư sĩ
lại nói được một câu như vậy. Thế là Ngài xuất đầu lộ diện qua câu chuyện
“phong phan”. Đó là những hình ảnh đẹp, những câu chuyện lý thú trong nhà
Thiền. Đến khi ngài Ấn Tông mời Ngài giảng đạo thì Ngài nói lời giản dị nhưng ý
rất thâm sâu, nên ngài Ấn Tông mới bảo: Nghe y pháp của Ngũ Tổ đã về phương
Nam, vậy chắc là Ngài chớ không phải ai khác. Ngài đáp “không dám”, đó là một
cách chấp nhận.
Ấn Tông liền làm lễ, xin đưa y bát đã được truyền cho đại chúng xem. Ấn
Tông lại thưa: “Huỳnh Mai phó chúc, việc chỉ dạy như thế nào ?” Huệ Năng bảo:
“Chỉ dạy tức không, chỉ luận về kiến tánh, chẳng luận thiền định giải thoát.”
Ngài Ấn Tông là một Pháp sư, trong khi Lục Tổ còn hình thức cư sĩ, nhưng
vừa nghe như thế Ngài liền làm lễ. Sau đó Ngài xin Tổ đưa y bát đã được truyền
cho đại chúng xem. Ngài Ấn Tông hỏi: Tổ Huỳnh Mai chủ yếu chỉ dạy như thế
nào thì Tổ Huệ Năng bảo: Chỉ dạy thì không, chỉ luận về kiến tánh, không luận về
thiền định giải thoát gì cả.
Ấn Tông thưa: “Sao chẳng luận thiền định giải thoát ?” Huệ Năng bảo: “Vì
ấy là hai pháp, không phải là Phật pháp. Phật pháp là pháp chẳng hai.” Ấn Tông
lại hỏi: “Thế nào Phật pháp là pháp chẳng hai ?” Huệ Năng bảo: “Pháp sư giảng
kinh Niết-bàn, rõ được Phật tánh, ấy là Phật pháp là pháp chẳng hai. Như Bồ-tát
Cao Quí Đức Vương bạch Phật: Phạm tứ trọng cấm, tạo tội ngũ nghịch và nhất xiển-đề v.v… sẽ đoạn thiện căn Phật tánh chăng ? Phật bảo: Thiện căn có hai, một
là thường, hai là vô thường, Phật tánh chẳng phải thường, chẳng phải vô thường,
thế nên chẳng đoạn, gọi là chẳng hai; một là thiện, hai là chẳng thiện, Phật tánh
chẳng phải thiện, chẳng phải chẳng thiện, ấy là chẳng hai; uẩn cùng với giới, phàm
phu thấy hai, người trí rõ thấu tánh nó không hai, tánh không hai tức là Phật tánh.”
Ấn Tông nghe nói hoan hỉ chấp tay thưa: “Tôi giảng kinh ví như ngói gạch, nhân
giả luận nghĩa ví như vàng ròng.” Khi ấy vì Huệ Năng cạo tóc, nguyện thờ làm
thầy.
Huệ Năng bèn ở dưới cây bồ-đề khai pháp môn Đông Sơn. Huệ Năng được
pháp ở Đông Sơn, chịu tất cả những điều cay đắng, mạng giống như sợi chỉ mành.
Ngày nay được cùng với Sử quân, quan liêu, Tăng Ni, đạo tục đồng ở trong hội
này đâu không phải là duyên của nhiều kiếp, cũng là ở trong đời quá khứ cúng
dường chư Phật, đồng gieo trồng căn lành mới nghe cái nhân được pháp môn đốn
giáo này. Giáo ấy là các vị Thánh trước đã truyền, không phải tự trí Huệ Năng
được, mong những người nghe các vị Thánh trước dạy, mỗi người khiến cho tâm
được thanh tịnh, nghe rồi mỗi người tự trừ nghi, như những vị Thánh đời trước
không khác.
Cả chúng nghe pháp đều hoan hỉ làm lễ rồi lui.
Đến đoạn này Lục Tổ mới nói pháp không hai cho ngài Ấn Tông nghe.
Pháp nào còn hai thì đó không phải là Phật pháp. Tổ bảo rằng: Thiền định giải
thoát là pháp hai. Nếu là pháp hai tức chưa phải là pháp cứu kính, thế nên nói Phật
pháp là pháp không hai. Tại sao là pháp không hai ? Ngài mới dẫn kinh Niết-bàn
làm bằng chứng. Đoạn dẫn kinh Niết-bàn có nhiều người nghi, Tổ không có đọc
kinh Niết-bàn thì làm sao biết mà dẫn. Nhưng trong một đoạn khác dẫn: Có một
lần Ngài ở trong các làng Hoài, Hội gặp một vị Ni đem quyển kinh Niết-bàn đến
hỏi, Ngài có giải thích, vì thế nên Ngài nhớ, mới dẫn ra làm bằng chứng rõ ràng về
pháp môn bất nhị của Phật. Đó là pháp môn không hai, pháp môn không hai mới
là pháp cứu kính, còn nếu thấy có hai tức chưa phải là cứu kính. Do đó ngài Ấn
Tông mới chấp nhận Ngài giảng kinh giống như ngói gạch còn Tổ luận nghĩa như
vàng ròng. Khi ấy ngài Ấn Tông mới cạo tóc cho Tổ Huệ Năng và thờ Tổ làm
Thầy.
Thế là Tổ nói xong lý do đắc pháp cho tất cả chúng nghe, ai nấy đều hoan
hỉ. Nhưng Tổ nói một cách dè dặt: Pháp môn đốn giáo này là các vị Thánh trước
truyền, chớ không phải do trí của Huệ Năng tự được, vì thế nghe giáo lý của các vị
Thánh trước thì mỗi người rán tịnh tâm nghe rồi trừ nghi và đúng qui cách các vị
Thánh đời trước mà tu hành đừng cho sai khác. Cả chúng nghe rồi, ai nấy đều
hoan hỉ vâng làm. Vậy quí vị có hoan hỉ không ? Nhớ noi gương Tổ nhé ! Dù cực
nhọc cũng nhớ rằng sự cực khổ của mình chỉ có một chút không đáng gì cả, xưa
cần phải đeo đá để giã gạo Tổ vẫn làm kia mà. Giã gạo đã là cực rồi mà còn đeo
thêm đá nữa thì cực biết bao, vậy mà Tổ vẫn làm, huống là chúng ta ngày nay nhổ
cỏ, lặt rau, xách nước là chuyện thường có gì đến nỗi làm không được. Hiểu như
thế rồi, mới thấy học đạo quí ở nhiệt tình. Hết tâm vì đạo thì được đạo, trái lại nếu sợ đau, sợ mệt, sợ chết v.v… thì hết việc đạo, chính những cái sợ đó làm chướng
đạo vậy !
DPHẨM THỨ HAI: BÁT-NHÃ
DỊCH
Ngày khác, Vi Sử quân thưa thỉnh, Tổ đăng tòa bảo đại chúng: “Tất cả nên
tịnh tâm niệm Ma-ha Bát-nhã Ba-la-mật-đa.” Lại bảo: “Này Thiện tri thức, trí Bátnhã Bồ-đề, người đời vốn tự có, chỉ nhân vì tâm mê không thể tự ngộ, phải nhờ
đến Đại thiện tri thức chỉ đường mới thấy được tánh. Phải biết người ngu, người
trí Phật tánh vốn không có khác, chỉ duyên mê ngộ không đồng, nên có ngu có trí.
Nay tôi vì nói pháp Ma-ha Bát-nhã Ba-la-mật, khiến cho các ông, mỗi người được
trí tuệ, nên chí tâm lắng nghe, tôi vì các ông mà nói. Này Thiện tri thức, người đời
trọn ngày miệng tụng Bát-nhã nhưng không biết tự tánh Bát-nhã ví như nói ăn mà
không no, miệng chỉ nói Không, muôn kiếp chẳng được thấy tánh, trọn không có
ích. Này Thiện tri thức, Ma-ha Bát-nhã Ba-la-mật là tiếng Phạn, Trung Hoa dịch là
Đại Trí Tuệ Đến Bờ Kia, nó phải là hành nơi tâm, không phải tụng ở miệng.
Miệng tụng mà tâm chẳng hành như huyễn như hóa, như sương, như điện. Miệng
niệm mà tâm hành ắt tâm và miệng hợp nhau, bản tánh là Phật, lìa tánh không
riêng có Phật.
Sao gọi là Ma-ha ? Ma-ha là lớn, tâm lượng rộng lớn ví như hư không,
không có bờ mé, cũng không có vuông tròn lớn nhỏ, cũng không phải xanh vàng
đỏ trắng, cũng không có trên dưới dài ngắn, cũng không sân không hỉ, không phải
không quấy, không thiện không ác, không có đầu đuôi, cõi nước chư Phật trọn
đồng với hư không; diệu tánh của người đời vốn không, không có một pháp có thể
được, tự tánh chân không cũng lại như thế. Này Thiện tri thức, chớ nghe tôi nói
Không liền chấp không, thứ nhất là không nên chấp không, nếu để tâm không mà
ngồi tĩnh tọa, đó tức là chấp vô ký không. Này Thiện tri thức, thế giới hư không
hay bao hàm vạn vật sắc tượng, mặt trời, mặt trăng, sao, núi, sông, đất liền, suối
khe, cỏ cây rừng rậm, người lành người dữ, pháp lành pháp dữ, thiên đường địa
ngục, tất cả biển lớn, các núi Tu-di, thảy ở trong hư không. Tánh không của người
đời cũng lại như thế. Này Thiện tri thức, tự tánh hay bao hàm muôn pháp ấy là Đại.
Muôn pháp ở trong tự tánh của mọi người, nếu thấy tất cả người ác cùng với lành,
trọn đều không chấp, không bỏ, cũng không nhiễm trước, tâm cũng như hư không,
gọi đó là Đại, nên nói là Ma-ha.
Này Thiện tri thức, người mê miệng nói, người trí tâm hành. Lại có người
mê, để tâm rỗng không ngồi tĩnh tọa, trăm việc không cho nghĩ tự gọi là đại, một
bọn người này không nên cùng họ nói chuyện vì là tà kiến. Này Thiện tri thức, tâm
lượng rộng lớn khắp giáp cả pháp giới, dụng tức rõ ràng, phân minh ứng dụng liền
biết tất cả, tất cả tức một, một tức tất cả, đi lại tự do, tâm thể không bị ngăn ngại
tức là Bát-nhã. Này Thiện tri thức, tất cả trí Bát-nhã đều từ tự tánh sanh, chẳng từ
bên ngoài vào, chớ lầm dụng ý nên gọi là chân tánh tự dụng. Một chân thì tất cả
chân, tâm lượng rộng lớn không đi theo con đường nhỏ, miệng chớ trọn ngày nói không mà trong tâm chẳng tu hạnh này, giống như người phàm tự xưng là quốc
vương trọn không thể được, không phải là đệ tử của ta.
Này Thiện tri thức, sao gọi là Bát-nhã ? Bát-nhã, Trung Hoa dịch là trí tuệ.
Tất cả chỗ, tất cả thời, mỗi niệm không ngu, thường hành trí tuệ tức là Bát-nhã
hạnh. Một niệm ngu tức Bát-nhã bặt, một niệm trí tức Bát-nhã sanh. Người đời
ngu mê, không thấy Bát-nhã, miệng nói Bát-nhã mà trong tâm thường ngu, thường
tự nói ta tu Bát-nhã, niệm niệm nói không nhưng không biết được Chân không.
Bát-nhã không có hình tướng, tâm trí tuệ ấy vậy. Nếu khởi hiểu như thế tức gọi là
Bát-nhã trí.
Sao gọi là Ba-la-mật ? Đây là lời nói của Ấn Độ, Trung Hoa dịch là đến bờ
kia, giải nghĩa là lìa sanh diệt; chấp cảnh thì sanh diệt khởi như nước có sóng mòi,
tức gọi là bờ này, lìa cảnh thì không sanh diệt như nước thường thông lưu, ấy gọi
là bờ kia, nên gọi là Ba-la-mật.
Này Thiện tri thức, người mê miệng tụng, chính khi đang tụng mà có vọng,
có quấy; niệm niệm nếu hành Bát-nhã, ấy gọi là chân tánh. Người ngộ được pháp
này, ấy là pháp Bát-nhã, người tu hạnh này, ấy là hạnh Bát-nhã. Không tu tức là
phàm, một niệm tu hành, tự thân đồng với Phật.
Này Thiện tri thức, phàm phu tức Phật, phiền não tức Bồ-đề. Niệm trước
mê tức phàm phu, niệm sau ngộ tức Phật; niệm trước chấp cảnh tức phiền não,
niệm sau lìa cảnh tức Bồ-đề.
Này Thiện tri thức, Ma-ha Bát-nhã Ba-la-mật tối tôn, tối thượng, tối đệ nhất,
không trụ, không qua cũng không lại, chư Phật ba đời từ trong đó mà ra. Phải dùng
đại trí tuệ này đập phá ngũ uẩn, phiền não, trần lao, tu hành như đây quyết định
thành Phật đạo, biến tam thành giới định tuệ.
Này Thiện tri thức, pháp môn của tôi đây từ một Bát-nhã phát sanh tám
muôn bốn ngàn trí tuệ. Vì cớ sao ? Vì người đời có tám muôn bốn ngàn trần lao,
nếu không có trần lao thì trí tuệ thường hiện, chẳng lìa tự tánh. Người ngộ pháp
này tức là vô niệm, vô ức, vô trước, chẳng khởi cuống vọng, dùng tánh chân như
của mình, lấy trí tuệ quán chiếu, đối với tất cả pháp không thủ không xả tức là thấy
tánh thành Phật đạo.
Này Thiện tri thức, nếu muốn vào pháp giới thậm thâm và Bát-nhã tammuội thì phải tu Bát-nhã hạnh, phải trì tụng kinh Kim Cang Bát-nhã tức được thấy
tánh, nên biết kinh này công đức vô lượng vô biên, trong kinh đã khen ngợi rõ
ràng, không thể nói đầy đủ được. Pháp môn này là Tối thượng thừa, vì những
người đại trí mà nói, vì những người thượng căn mà nói. Những người tiểu căn
tiểu trí nghe pháp này, tâm sanh không tin. Vì cớ sao ? Ví như có một trận mưa
lớn khắp cả cõi nước, thành ấp chợ búa đều bị trôi giạt cũng như trôi những lá táo.
Nếu trận mưa lớn đó mưa nơi biển cả thì không tăng không giảm. Như người Đại
thừa hoặc người Tối thượng thừa nghe kinh Kim Cang thì tâm khai ngộ, thế nên
biết bản tánh họ tự có trí Bát-nhã, tự dùng trí tuệ thường quán chiếu nên không
nhờ văn tự. Thí như nước mưa không phải từ trời có, nguyên là từ rồng mà dấy lên,
khiến cho tất cả chúng sanh, tất cả cỏ cây, hữu tình vô tình thảy đều được đượm nhuần. Trăm sông các dòng đều chảy vào biển cả hợp thành một thể, trí tuệ Bátnhã nơi bản tánh chúng sanh cũng lại như thế.
Này Thiện tri thức, người tiểu căn nghe pháp môn đốn giáo này, ví như là
cỏ cây gốc rể nhỏ, nếu bị mưa to thì đều ngả nghiêng không thể nào tăng trưởng
được. Người tiểu căn cũng lại như thế, vốn có trí tuệ Bát-nhã cùng với người đại
trí không sai biệt, nhân sao nghe pháp không thể khai ngộ ? Vì do tà kiến chướng
nặng, cội gốc phiền não sâu, ví như đám mây lớn che kín mặt trời, không có gió
thổi mạnh thì ánh sáng mặt trời không hiện. Trí Bát-nhã cũng không có lớn nhỏ, vì
tất cả chúng sanh tự tâm mê ngộ không đồng, tâm mê bên ngoài thấy có tu hành
tìm Phật, chưa ngộ được tự tánh tức là tiểu căn. Nếu khai ngộ đốn giáo không thể
tu ở bên ngoài, chỉ nơi tâm mình thường khởi chánh kiến, phiền não trần lao
thường không bị nhiễm tức là thấy tánh.
Này Thiện tri thức, trong ngoài không trụ, đi lại tự do, hay trừ tâm chấp,
thông đạt không ngại, hay tu hạnh này cùng kinh Bát-nhã vốn không sai biệt.
Này Thiện tri thức, tất cả kinh điển và các văn tự, Đại thừa, Tiểu thừa,
mười hai bộ kinh đều nhân người mà an trí, nhân tánh trí tuệ mới hay dựng lập.
Nếu không có người đời thì tất cả muôn pháp vốn tự chẳng có, thế nên biết muôn
pháp vốn tự nhân nơi người mà dựng lập, tất cả kinh sách nhân người mà nói có;
nhân vì trong người kia có ngu và có trí, người ngu là tiểu nhân, người trí là đại
nhân, người ngu hỏi nơi người trí, người trí vì người ngu mà nói pháp, người ngu
bỗng nhiên ngộ hiểu, tâm được khai tức cùng với người trí không có khác.
Này Thiện tri thức, chẳng ngộ tức Phật là chúng sanh, khi một niệm ngộ
chúng sanh là Phật, thế nên biết muôn pháp trọn ở nơi tự tâm, sao chẳng từ trong
tự tâm liền thấy được chân như bản tánh ? Kinh Bồ-tát Giới nói rằng: Bản tánh của
ta nguyên tự thanh tịnh, nếu biết được tự tâm thấy tánh đều thành Phật đạo. Kinh
Tịnh Danh nói: Liền khi đó bỗng hoát nhiên được bản tâm.
Này Thiện tri thức, xưa ta ở nơi Ngũ tổ Nhẫn, một phen nghe liền được ngộ,
chóng thấy chân như bản tánh, nên đem giáo pháp này lưu hành khiến cho người
học đạo chóng ngộ được Bồ-đề. Mỗi người tự quán nơi tâm, tự thấy bản tánh, nếu
tự chẳng ngộ phải tìm những bậc Đại thiện tri thức, người hiểu được giáo pháp Tối
thượng thừa, chỉ thẳng con đường chánh, ấy là Thiện tri thức có nhân duyên lớn,
gọi là hóa đạo khiến được thấy tánh. Tất cả pháp lành nhân nơi Thiện tri thức mà
hay phát khởi. Ba đời chư Phật, mười hai bộ kinh, ở trong tánh của người vốn tự
có đủ, không có thể tự ngộ thì phải cầu Thiện tri thức chỉ dạy mới thấy. Nếu tự
mình ngộ thì không nhờ cầu bên ngoài, nếu một bề chấp, bảo rằng phải nhờ Thiện
tri thức khác mong được giải thoát thì không có lẽ phải. Vì cớ sao ? Trong tự tâm
có tri thức tự ngộ, nếu khởi tà mê vọng niệm điên đảo thì Thiện tri thức bên ngoài
tuy có giáo hóa chỉ dạy, cứu cũng không thể được. Nếu khởi chánh chân Bát-nhã
quán chiếu thì trong khoảng một sát-na vọng niệm đều diệt, nếu biết tự tánh một
phen ngộ tức đến quả vị Phật.
Này Thiện tri thức, trí tuệ quán chiếu, trong ngoài sáng suốt, biết bản tâm
mình, nếu biết bản tâm tức là gốc của sự giải thoát. Nếu được giải thoát tức là Bátnhã tam-muội, tức là vô niệm. Sao gọi là vô niệm ? Nếu thấy tất cả pháp mà tâm không nhiễm trước ấy là vô niệm, dụng tức khắp tất cả chỗ, cũng không dính mắc
tất cả chỗ, chỉ thanh tịnh nơi bản tâm khiến sáu thức ra sáu cửa đối trong sáu trần
không nhiễm không tạp, đi lại tự do, thông dụng không kẹt, tức là Bát-nhã tammuội, tự tại giải thoát gọi là vô niệm hạnh. Nếu trăm vật chẳng nghĩ, chính khi đó
khiến cho niệm bặt đi, ấy là pháp phược, ấy gọi là biên kiến.
Này Thiện tri thức, người ngộ được pháp vô niệm thì muôn pháp đều thông,
người ngộ được pháp vô niệm thì thấy cảnh giới của chư Phật, người ngộ được
pháp vô niệm thì đến địa vị Phật.
Này Thiện tri thức, đời sau người được pháp của ta, đem pháp môn đốn
giáo này, đối với hàng người đồng kiến đồng hành phát nguyện thọ trì như là thờ
Phật, cố gắng tu thân không dám lui sụt thì quyết định vào quả vị Thánh; nhưng
phải truyền trao, từ trước đến giờ, thầm truyền trao phó chớ không được giấu kín
chánh pháp. Nếu không phải là hàng đồng kiến đồng hành, ở trong pháp môn khác
thì không được truyền trao, e tổn tiền nhân kia, cứu kính vô ích, sợ người ngu
không hiểu, chê bai pháp môn này rồi trăm kiếp ngàn đời đoạn chủng tánh Phật.
Này Thiện tri thức, tôi có một bài tụng Vô tướng, mỗi người phải tụng lấy,
người tại gia, người xuất gia chỉ y đây mà tu, nếu không tự tu, chỉ ghi nhớ lời của
tôi thì cũng không có ích gì. Nghe tôi tụng đây:
Thuyết thông và tâm thông,
Như mặt trời giữa không,
Chỉ truyền pháp kiến tánh,
Ra đời phá tà tông.
Pháp thì không đốn tiệm,
Mê ngộ có mau chậm,
Chỉ pháp kiến tánh này,
Người ngu không thể hiểu.
Nói tuy có muôn thứ,
Trở về lý chỉ một,
Phiền não trong nhà tối,
Thường sanh mặt trời tuệ.
Tà đến phiền não sanh,
Chánh đến phiền não dứt,
Tà chánh đều không dùng,
Thanh tịnh mới hoàn toàn.
Bồ-đề vốn tự tánh,
Khởi tâm tức là vọng,
Tâm tịnh ở trong vọng,
Chỉ chánh không ba chướng.
Người đời nếu tu hành,
Tất cả trọn chẳng ngại,
Thường tự thấy lỗi mình,
Cùng đạo tức tương đương. Sắc loại tự có đạo,
Đều chẳng chướng ngại nhau,
Lìa đạo riêng tìm đạo,
Trọn đời không thấy đạo.
Lăng xăng qua một đời,
Kết cuộc tự sanh não,
Muốn thấy đạo chân thật,
Hạnh chánh tức là đạo.
Nếu không có tâm đạo,
Hạnh tối không thấy đạo,
Người chân chánh tu hành,
Không thấy lỗi thế gian.
Nếu thấy lỗi người khác,
Lỗi mình đã đến bên,
Người quấy ta chẳng quấy,
Ta quấy tự có lỗi.
Chỉ dẹp lỗi nơi tâm,
Phá trừ các phiền não,
Yêu ghét chẳng bận lòng,
Duỗi thẳng hai chân ngủ.
Muốn nghĩ giáo hóa người,
Tự phải có phương tiện,
Chớ khiến người nghi ngờ,
Tức là tự tánh hiện.
Phật pháp nơi thế gian,
Không lìa thế gian giác,
Lìa thế tìm Bồ-đề,
Giống như tìm sừng thỏ.
Chánh kiến gọi xuất thế,
Tà kiến là thế gian,
Tà chánh đều dẹp sạch,
Tánh Bồ-đề hiện rõ.
Tụng này là đốn giáo,
Cũng gọi thuyền đại pháp,
Mê nghe trải nhiều kiếp,
Ngộ trong khoảng sát-na.”
(Thuyết thông cập tâm thông,
Như nhật xử hư không,
Duy truyền kiến tánh pháp,
Xuất thế phá tà tông.
Pháp tức vô đốn tiệm,
Mê ngộ hữu trì tật,
Chỉ thử kiến tánh môn, Ngu nhân bất khả tất.
Thuyết tức tuy vạn ban,
Hợp lý hoàn quy nhất,
Phiền não ám trạch trung,
Thường tu sanh tuệ nhật.
Tà lai phiền não chí,
Chánh lai phiền não trừ,
Tà chánh câu bất dụng,
Thanh tịnh chí vô dư.
Bồ-đề bản tự tánh,
Khởi tâm tức thị vọng,
Tịnh tâm tại vọng trung,
Đãn chánh vô tam chướng.
Thế nhân nhược tu đạo,
Nhất thiết tận bất phòng,
Thường tự kiến kỷ quá,
Dữ đạo tức tương đương.
Sắc loại tự hữu đạo,
Các bất tương phòng não,
Ly đạo biệt mích đạo,
Chung thân bất kiến đạo.
Ba ba độ nhất sanh,
Đáo đầu hoàn tự áo,
Dục đắc kiến chân đạo,
Hạnh chánh tức thị đạo.
Tự nhược vô đạo tâm,
Ám hạnh bất kiến đạo,
Nhược chân tu đạo nhân,
Bất kiến thế gian quá.
Nhược kiến tha nhân phi,
Tự phi khước thị tả,
Tha phi ngã bất phi,
Ngã phi tự hữu quá.
Đãn tự khước phi tâm,
Đả trừ phiền não phá,
Tắng ái bất quan tâm,
Trường thân lưỡng cước ngọa.
Dục nghĩ hóa tha nhân,
Tự tu hữu phương tiện,
Vật linh bỉ hữu nghi,
Tức thị tự tánh hiện.
Phật pháp tại thế gian,
Bất ly thế gian giác, Ly thế mích Bồ-đề,
Kháp như cầu thố giác.
Chánh kiến danh xuất thế,
Tà kiến thị thế gian,
Tà chánh tận đả khước,
Bồ-đề tánh uyển nhiên.
Thử tụng thị đốn giáo,
Diệc danh đại pháp thuyền,
Mê văn kinh lụy kiếp,
Ngộ tắc sát-na gian.)
Tổ lại bảo: “Nay ở chùa Đại Phạm nói pháp đốn giáo này, khắp nguyện cả
pháp giới chúng sanh ngay lời nói này đều được thấy tánh thành Phật.” Khi ấy Vi
Sử quân cùng quan liêu đạo tục nghe Tổ nói, không ai mà chẳng tỉnh ngộ, đồng
thời làm lễ đều tán thán: “Lành thay ! Đâu ngờ ở Lãnh Nam có Phật ra đời !”
GIẢNG

Trong bộ Pháp Bảo Đàn, phẩm Bát-nhã là phẩm rất quan trọng, tất cả
chúng ta học, nếu thâm nhập được phẩm này, mới thấy rõ chủ trương, đường lối tu
của Lục Tổ, nên ở đây quí vị nghe hiểu cho kỹ. Tại sao chúng tôi dám nói như thế ?
Vì Lục Tổ ngộ từ kinh Kim Cang, mà kinh Kim Cang tức là Bát-nhã; cái chủ yếu
mà Ngài ngộ được, Ngài diễn đạt lại cho chúng ta biết khiến chúng ta thấy được
tầm quan trọng của nó thì sự tu hành mới khỏi lầm lẫn.
Ngày khác, Vi Sử quân thưa thỉnh, Tổ đăng tòa bảo đại chúng: “Tất cả nên
tịnh tâm niệm Ma-ha Bát-nhã Ba-la-mật-đa.” Lại bảo: “Này Thiện tri thức, trí Bátnhã Bồ-đề, người đời vốn tự có, chỉ nhân vì tâm mê không thể tự ngộ, phải nhờ
đến Đại thiện tri thức chỉ đường mới thấy được tánh. Phải biết người ngu, người
trí Phật tánh vốn không có khác, chỉ duyên mê ngộ không đồng nên có ngu có trí.
Mở đầu Lục Tổ chỉ cho chúng ta thấy rõ rằng, tất cả chúng ta ai cũng sẵn có
đại trí tuệ Bát-nhã. Sở dĩ người quên nó, mê tức là quên, do tâm quên không nhận
được nên gọi đó là ngu; trái lại người tỉnh giác được trí tuệ Bát-nhã thì gọi là trí.
Vì tất cả chúng ta mê nên phải nhờ Thiện tri thức chỉ dạy, nếu chúng ta nhân lời
chỉ dạy của Thiện tri thức, nhận ra được bản tánh mình tức là từ ngu chuyển thành
trí hay là từ mê đổi thành ngộ. Như vậy mê hay ngộ chỉ là do chúng ta biết sống
với trí Bát-nhã hay là bỏ quên nó thôi, chớ không phải có người ngộ khác với
người mê. Vì ai cũng sẵn có, nhưng người biết sống trở lại thì gọi là ngộ, người
quên đi thì gọi là mê, mê ngộ không đồng, lỗi tại quên và nhớ, chớ không có gì lạ
cả. Như vậy từ trí tuệ Bát-nhã, chúng ta suy ra đến Phật cũng thế. Do chúng ta mê
tánh giác nên gọi là chúng sanh, đức Phật ngộ được tánh giác nên gọi là Phật, thế
nên làm chúng sanh hay làm Phật chẳng qua tại mê với ngộ thôi. Cũng thế, chúng
ta thành trí, thành ngu cũng do nhớ, biết trở về với tánh Bát-nhã hay không biết đó
thôi. Vì thế người học đạo không cần tìm những gì xa xôi, chỉ cần phải khai thác
chỗ sâu thẳm nơi mình sẵn có, khai thác được đó là giác, bỏ quên tức là mê, chớđừng tìm cái gì ở bên ngoài. Đó là điểm chủ yếu Lục Tổ nêu lên, Ngài muốn
chúng ta mỗi người nhận ra chớ đừng lầm lẫn tìm kiếm ở đâu khác. Tiếp đến Tổ
dạy:
Nay tôi vì nói pháp Ma-ha Bát-nhã Ba-la-mật, khiến cho các ông, mỗi
người được trí tuệ, nên chí tâm lắng nghe, tôi vì các ông mà nói. Này Thiện tri
thức, người đời trọn ngày miệng tụng Bát-nhã nhưng không biết tự tánh Bát-nhã ví
như nói ăn mà không no, miệng chỉ nói Không, muôn kiếp chẳng được thấy tánh,
trọn không có ích.
Trước hết Ngài chỉ sự lầm lẫn của chúng ta. Ngài bảo có người trọn ngày
cứ tụng Bát-nhã mà không biết tự tánh Bát-nhã. Tự tánh Bát-nhã tức là tánh Bátnhã sẵn nơi mình. Hầu hết Phật tử chúng ta ít có người không thuộc kinh Bát-nhã.
Ai cũng nói ngày nào tôi cũng tụng đôi ba biến Bát-nhã, nhưng nếu có ai hỏi tự
tánh Bát-nhã là gì thì đều không biết ! Như vậy là miệng chỉ tụng mà tâm không
thấy, không đạt được, thế nên Ngài mới nói: Ví như người nói ăn mà không no,
nói tôi ăn bánh bao, tôi ăn bánh mì v.v… cả trăm thứ bánh nhưng rốt cuộc bụng
vẫn đói meo ! Nói ăn chưa phải là ăn, ăn phải thực sự ăn, chỉ nói suông chưa đủ.
Cũng thế, nếu chúng ta tu mà chỉ một bề đọc tụng, đó chỉ có giá trị bên ngoài, chớ
chưa có giá trị thật ở trong, giá trị thật ở trong là giá trị chúng ta nhận được. Đức
Phật vì chúng ta chỉ cái chúng ta đã bỏ quên, nhân lời chỉ đó chúng ta nhận ra nó,
đó là chúng ta biết tụng kinh để thấy tánh; trái lại chúng ta chỉ một bề đọc tụng
cho hay, nhưng không nhận ra Phật muốn chỉ cái gì cho mình, ví như người nói ăn
mà bụng không no, thế nên Tổ mới bảo: “Miệng chỉ nói không, muôn kiếp chẳng
thấy tánh”, như vậy trọn không có lợi ích. Người trí khác hơn người mê ở điểm:
Lục Tổ nghe người tụng một câu, chỉ mới nghe thôi mà đã thấy, còn chúng ta hiện
nay đích thân tụng mà vẫn không thấy gì cả. Đó là điểm khác nhau. Như vậy
chúng ta phải cố gắng lắng nghe lời dạy của Tổ, để biết tinh thần tự tánh Bát-nhã
ra sao, đó là cái chủ yếu mà Ngài cố dạy chúng ta trong phẩm này.
Này Thiện tri thức, Ma-ha Bát-nhã Ba-la-mật là tiếng Phạn, Trung Hoa
dịch là Đại Trí Tuệ Đến Bờ Kia, nó phải là hành nơi tâm, không phải tụng ở
miệng.
Đại Trí Tuệ Đến Bờ Kia hay có chỗ cũng dịch là Trí tuệ cứu kính viên mãn,
trí tuệ đó phải nơi tâm mình phát ra, phải ngộ lấy, chớ không phải tụng suông
ngoài miệng, nếu cứ cho tụng suông là đủ, là chúng ta không hiểu được trí tuệ này,
vì trí tuệ này là trí tuệ của mình nên cần phải hành ở tâm chớ không phải tụng ở
miệng.
Miệng tụng mà tâm chẳng hành như huyễn như hóa, như sương, như điện.
Miệng niệm tâm hành ắt tâm và miệng hợp nhau, bản tánh là Phật, lìa tánh không
riêng có Phật.
Câu này nhiều người dễ hiểu lầm. Lục Tổ dạy: “Miệng tụng mà tâm chẳng
hành như huyễn, như hóa, như sương, như điện v.v…” Ý Ngài như thế nào ? Có
phải tụng kinh Bát-nhã thấy các pháp như mộng, như huyễn, như sương v.v… phải
không ? Hay là nghĩa như thế nào ? Đoạn này ý Ngài bảo: Chúng ta chỉ tụng
suông ở miệng thì việc đó chợt qua rồi mất cũng như huyễn, như hóa, như sương, như điện chớp chớ không có thật. Nếu chỉ tụng suông, khi tụng thì còn nói Bát-nhã,
dừng tụng thì Bát-nhã mất, cũng như sương mù, điện chớp, chợt thấy rồi mất,
không có thật. Thế nên chủ yếu Ngài khuyên chúng ta miệng tụng tâm phải hành,
như thế tâm miệng tương ưng, tâm và miệng hợp nhau tự nhiên chúng ta sẽ thấy
được Phật tánh, chính bản tánh ấy là Phật, lìa bản tánh ra không còn có Phật nào
khác.
Sao gọi là Ma-ha ? Ma-ha là lớn, tâm lượng rộng lớn ví như hư không,
không có bờ mé, cũng không có vuông tròn lớn nhỏ, cũng không phải xanh vàng
đỏ trắng, cũng không có trên dưới dài ngắn, cũng không sân không hỉ, không phải
không quấy, không thiện không ác, không có đầu đuôi, cõi nước chư Phật trọn
đồng với hư không; diệu tánh của người đời vốn không, không có một pháp có thể
được, tự tánh chân không cũng lại như thế.
Tôi giảng rõ lại một lần nữa, chữ Ma-ha nghĩa là lớn, vì tâm lượng của
chúng ta rộng lớn như hư không, tâm lượng đó gọi là tâm lượng Bát-nhã, rộng lớn
không có bờ mé, không có các tướng vuông tròn dài ngắn xanh vàng… cho đến
không có những tâm niệm phải quấy, tốt xấu v.v… Tâm thể đó bao trùm tất cả cõi
nước của chư Phật, giống như hư không; diệu tánh của người đời cũng vậy, vốn
không một pháp có thể được, bởi không một pháp có thể được nên gọi là tự tánh
chân không. Như vậy quí vị hiểu chữ Chân Không tôi đặt cho Tu viện chưa ? Chân
không tức là cái thể thênh thang của Bát-nhã. Bát-nhã là trí tuệ, trí tuệ thênh thang
không có bờ mé, không có giới hạn, không có một vật ở trong, chỉ là cái trí tuệ
rộng thênh thang, trí tuệ đó gọi là chân không. Đó là chỗ mà Lục Tổ bảo là “Bản
lai vô nhất vật” và do đó mà Ngài được vào cửa Thiền.
Bản lai vô nhất vật là tinh thần của chân không, không có một vật, vì thể đó
thênh thang. Ví dụ như trong nhà thiền này, hiện chúng ta gồm cả trăm người tụ
họp nơi đây, khi mãn giờ giảng rồi nhà thiền này như thế nào ? Cả trăm người tụ
hội thì có tiếng ồn, khi tất cả ra khỏi nhà giảng thì nhà giảng trống không. Trống
không là không có người chớ không phải là không có nhà thiền, nhà thiền vẫn có,
nhưng không có người, không có tiếng độïng lao xao nên nói nhà thiền trống.
Cũng thế, hiện tâm chúng ta chứa đủ tham sân si nên thương buồn giận ghét v.v…
luôn đầy ứ trong đó, do đó chưa bao giờ chúng ta thấy được cái thể rỗng lặng sáng
suốt. Sở dĩ chúng ta tu là để loại những niệm tham sân si ra, khi chúng bị loại ra
hết thì chỉ còn một cái trí sáng ngời, đó gọi là chân không; cái không chân thật,
không còn những niệm sanh diệt chứa trong đó. Vậy quí vị thử kiểm lại tâm mình
xem sao, nó là chân không hay nó quá đầy đến độ muốn tràn ra nữa ? Vì thế cả
ngày chúng ta cứ mê muội theo những tướng sanh diệt, nó dẫn chúng ta chạy
ngược chạy xuôi rồi buồn, thương, giận, ghét v.v… do đó mặt mày luôn thay đổi,
không bình tĩnh, điềm đạm. Nay nếu tâm chúng ta loại hết những niệm đó thì khi
ấy tự nhiên là một tâm thể rỗng rang, và tâm thể rỗng rang này gọi là trí tuệ Bátnhã, có chỗ khác gọi là chân tánh hay tự tánh. Quí vị thấy đâu có gì lạ, chính cái
đó sẵn nơi mình, chỉ vì chúng ta không thấy được kho chứa mà chỉ thấy những hạt
giống chứa trong kho, những hạt giống đó ra vào lăng xăng rồi chúng ta chạy theo
chúng mãi, nên quên mất cái kho sáng suốt rỗng rang của chính mình. Khi nào tất cả quí vị không còn một niệm dấy lên, tôi xin hỏi quí vị lúc đó có tri, có giác hay
không ? Tai có nghe, mắt có thấy hay không ? Tướng mạo của cái hay thấy hay
nghe đó như thế nào ? Quí vị thử diễn tả xem ! Khi tất cả vọng tưởng lặng hết chỉ
còn cái thấy cái nghe, nghĩa là cảm giác biết tất cả, nhưng không có một niệm nào,
khi đó quí vị diễn tả thử xem cái thấy nghe đó tướng mạo ra sao. Nếu có tướng
mạo thì có giới hạn, không tướng mạo tức là vô hạn. Nói Đại là như thế, nó không
có giới hạn, nó bao trùm tất cả, nhưng hiện nay nó bị khuôn, bị cuộc trong tứ đại
này thành bị giới hạn; nếu một ngày nào chúng ta sống được với thể tánh đó, rời
khỏi thân này thì nó trùm cả tam giới. Đây giải nghĩa chữ Đại là như thế.
Rộng lớn thênh thang là khi nào không còn một niệm duyên theo cảnh, chỉ
có cái hằng thấy hằng nghe, hay nói gọn hơn là chỉ một tánh giác, đó mới là thênh
thang, mới là rộng lớn. Còn tất cả những niệm tưởng, dù là niệm tưởng hư không
cũng có giới hạn. Chữ Đại là thoát ra ngoài tất cả những tướng trạng đối đãi,
không còn đối đãi nữa thì tướng mạo của tâm thể này hay của trí tuệ Bát-nhã là
như thế. Nói thênh thang là để chúng ta thấy rõ nơi chúng ta có một cái rộng lớn
thênh thang hằng tri hằng giác, mà chúng ta bỏ quên, rồi bám vào những tướng
buồn vui, giận ghét, theo hình sắc, theo âm thanh cho đó là mình, nên chúng ta bị
quyện ở trong ấy, như những cọng cỏ bị cuốn trong bánh xe đang quay vùn vụt
không gỡ ra được, cứ như thế mà trôi lăn trong sanh tử, lên xuống không có ngày
cùng. Nay chúng ta biết gỡ ra, không kẹt vào đó nữa, tự nhiên tâm hồn mình thênh
thang. Đó là chỗ mà chư Phật, chư Tổ cố tình muốn chỉ cho chúng ta. Sống được
với cái đó rồi, mới thấy nó là cái chân thật. Vì thế quí vị mới thấy rõ chủ trương
của đạo Phật dạy chúng ta tu là phải định.
Định là gì ? Tức là dừng các vọng tưởng lăng xăng, vui buồn giận ghét lao
xao. Dừng được chúng rồi mới thấy tâm thể thênh thang, mới đi đến chỗ giác ngộ.
Tất cả phương pháp, không phương pháp nào ngoài định; định là định những vọng
tưởng lăng xăng, mà lâu nay chúng ta cứ chấp nhận là mình, nên nó mới dẫn
chúng ta chạy vùn vụt không phút nào ngừng, cả đến giờ nghỉ cũng không nghỉ,
chạy riết đến nóng đầu, đó là tại chúng ta đã lầm nhận nó là mình ! Như thế bao
nhiêu phương pháp của Phật, Tổ dạy cốt để chúng ta dừng được vọng tưởng, dừng
được rồi mới thấy tâm thể thênh thang của chính mình, tâm thể thênh thang đó gọi
là Ma-ha Bát-nhã. Như thế hàng ngày quí vị tụng ba biến, bảy biến Bát-nhã mà
những chữ đầu có vẻ chưa thấm. Nếu chúng ta thấm các chữ đó rồi thì tụng Bátnhã là để chúng ta sống, chớ không phải tụng suông. Đa số người hiện nay cứ tụng
suông, tụng rồi tíùnh biến để cộng sổ, kể công với Phật, mà không hiểu điểm quan
trọng chính là phải sống trở lại trí tuệ của mình. Chúng ta chỉ nhớ lời Phật dạy mà
không biết trở lại cái thể chân thật của chính mình nên mới lầm lẫn. Nhân giảng
Bát-nhã tôi mới nói cho quí vị biết ý nghĩa chữ Chân Không tên của Tu viện
chúng tôi. Chính chỗ mà đức Lục Tổ chỉ, chỗ không có một vật, vốn không một
pháp có thể được, chỗ đó mới gọi là tự tánh chân không, tức là tánh của chính
mình, thật là rỗng rang không còn một cái gì trong đó. Này Thiện tri thức, chớ nghe tôi nói Không liền chấp không, thứ nhất là
không nên chấp không, nếu để tâm không ngồi tĩnh tọa, đó tức là chấp vô ký
không.
Ngài dạy đừng có nghe Ngài nói không rồi chấp không, như chấp chân
không là không có gì cả, nếu cho thật không có gì cả là lầm. Không có tất cả
những vọng tưởng lăng xăng, chớ cái rỗng rang chân thật đâu phải không, cũng
như tôi đã thí dụ không có người lao xao trong nhà thiền, chớ không phải cái nhà
là không. Nhiều khi chúng ta hiểu lầm nghe nói không là bám vào không, nói là
không ngơ rồi nghĩ tu đến chỗ không ngơ đó làm chi. Thế nên chấp không là một
bệnh, Lục Tổ mới bảo: “Thứ nhất là không nên chấp không, nếu để tâm không
ngồi tĩnh tọa đó là chấp vô ký không.” Có người vì nghe nói giữ tâm mình cho
đừng xao xuyến, đừng loạn động, cho nó không ngơ mới đúng, nên khi ngồi để
tâm không ngơ, nghĩa là không cho nó có gì hết, như vậy đúng không ? Đó là vô
ký không, cái không mà không biết gì cả. Trái lại người biết tu, khi không có vọng
niệm thì cái thể tri giác tràn đầy. Cũng như nghe tôi nói trong nhà thiền không có
người, quí vị biết đây là nhà thiền trống. Nhà thiền trống chớ không phải không có
nhà thiền. Tôi nói trong nhà thiền không có người thì đừng chấp là không có nhà
thiền, không là không người, chớ không phải là không có nhà thiền. Cũng thế
không có những tâm loạn tưởng, chớ không phải không có trí Bát-nhã thênh thang.
Hiểu như vậy thì khi chúng ta lặng hết những vọng tưởng tức trí Bát-nhã thênh
thang hiện tiền, hằng nghe, hằng thấy, như thế làm sao nói là không. Thế mà có
nhiều người đọc kinh Pháp Bảo Đàn đến đoạn này thì sợ, nói rằng: Thầy dạy con
buông xả, đừng để tâm theo vọng tưởng, mãi rồi nó im lìm, nó không ngơ thì lúc
đó lạc vào chỗ chấp vô ký không của Lục Tổ nói rồi ! Đó là đa số người đã lầm
lẫn. Thật ra chúng ta nói không và người không biết mà nói không, hai bên khác
nhau. Người không biết khi nói không là để không ngơ luôn không biết chi cả; còn
chúng ta nói không vọng tưởng, khi vọng tưởng lặng cái tri giác hay cái hằng tri
hằng giác đó hằng nghe hằng thấy. Tôi thường chỉ quí vị tuy không có vọng tưởng,
nhưng mắt vẫn thấy, tai vẫn nghe, tất cả giác quan đều có biết thì làm sao nói
không được. Không là không vọng tưởng chớ cái hằng giác đó đâu có không, như
thế đâu có rơi vào “vô ký không” như Lục Tổ nói. Hiểu thật rõ, quí vị mới không
bị lầm. Thế nên người tu chỉ nhích một tí là sai, khéo một chút là đúng.
Tôi thường nhắc quí vị lời dạy của ngài Huyền Giác: “tỉnh tỉnh lặng lặng
phải” và “lặng lặng tỉnh tỉnh phải”, lặng lặng là không nhưng hằng tỉnh tỉnh, chớ
không phải là không ngơ. Trái lại “tỉnh tỉnh loạn tưởng sai” và “lặng lặng hôn
trầm sai”. Thế nên chúng ta phải thấy rõ lặng trong cái tỉnh, tỉnh trong cái lặng thì
phải. Nếu tỉnh mà loạn thì sai, khi ngồi tỉnh táo mà nghĩ đủ chuyện thì đó là bệnh.
Nếu lặng lặng mà vẫn tỉnh vẫn sáng thì đúng, nếu lặng lặng mà hôn trầm, gật lên
gật xuống là sai. Quí vị nhớ đó là một công thức rõ ràng trong khi tu để biết thế
nào là đúng, thế nào là sai. Có nhiều người ngồi gật lên gật xuống, nói: “Hôm nay
tôi ngồi không có chút vọng tưởng nào”, ngồi ngủ thì làm sao có vọng tưởng. Có
người nói: “Tôi ngồi tỉnh táo” mà thật là nghĩ nhớ đủ chuyện, như thế cả hai đều
sai. Phải tỉnh mà lặng, lặng mà tỉnh mới đúng, chớ lặng mà thiếu tỉnh, tỉnh mà thiếu lặng đều là sai. Quí vị phải nhớ lặng là không, tỉnh là hằng giác, như thế luôn
luôn cạnh cái không có cái giác chớ không phải là không ngơ, nên không lạc vào
vô ký không. Những người không biết, ngồi để tâm không ngơ, đâu biết thế nào là
tỉnh, thế nào là lặng nên rơi vào vô ký không, đó là do không biết được cái tỉnh
trong cái không; trái lại chúng ta không mà tỉnh, chớ không phải chỉ có lặng, đó là
yếu điểm của sự tu.
Này Thiện tri thức, thế giới hư không hay bao hàm vạn vật sắc tượng, mặt
trời, mặt trăng, sao, núi, sông, đất liền, suối khe, cỏ cây rừng rậm, người lành
người dữ, pháp lành pháp dữ, thiên đường địa ngục, tất cả biển lớn, các núi Tu-di,
thảy ở trong hư không. Tánh không của người đời cũng lại như thế.
Trong đoạn này, Ngài dùng hư không để ví dụ cho tánh không của chúng ta,
hư không bao trùm tất cả thế giới, người vật v.v… đều nằm trong hư không. Có thế
giới nào không nằm trong hư không ? Có vật nào không nằm trong hư không ?
Như vậy hư không bao trùm muôn tượng, muôn tượng đều nằm trong hư không.
Lục Tổ bảo tâm tánh chúng ta khi rỗng lặng cũng như thế, rộng như hư không nên
nói tâm như hư không. Như hư không chớ không phải là hư không, nhớ như thế.
Hư không vô tri còn chúng ta hằng giác, như là như cái thể rỗng rang rộng lớn đó,
nhưng một bên vô tri, một bên hằng giác nên khác nhau. Nhiều người không hiểu
nghe nói tâm như hư không, họ tưởng tu rồi tâm thành hư không, đó là sự lầm lẫn
của một số học giả, họ cho Niết-bàn là chỗ không ngơ. Đã không ngơ thì tu làm
chi ? Thế nên phải biết rõ tất cả sự tu hành chủ yếu là đến chỗ rỗng lặng đó, nó có
diệu dụng gì chúng ta mới muốn đến đó, chớ thành không ngơ thì đến làm chi ?
Này Thiện tri thức, tự tánh hay bao hàm muôn pháp ấy là Đại. Muôn pháp
ở trong tự tánh của mọi người, nếu thấy tất cả người ác cùng với lành, trọn đều
không chấp không bỏ, cũng không nhiễm trước, tâm cũng như hư không, gọi đó là
Đại, nên nói là Ma-ha.
Đoạn trước Ngài diễn tả thể đại của tâm, của Bát-nhã, đoạn này Ngài chỉ
chúng ta cách được thể đại đó, tức là Ngài dạy chúng ta tu. Trước hết Ngài bảo tự
tánh của chúng ta bao hàm muôn pháp, nó trùm tất cả. Tất cả muôn pháp đều ở
trong tự tánh; muốn được tánh rỗng rang đó chúng ta phải làm sao. Phải thấy tất cả
người ác, người lành đều không thủ, không xả, cũng không nhiễm trước, tâm như
hư không, đó là Đại. Như thế là được cái tánh rỗng rang đó. Chúng ta được như
thế không ? Thấy người ác thì giận, thấy người hiền thì thương, bình thường mọi
người đều như vậy. Thấy tốt thì thích, thấy xấu thì chê, vì thế mới có nhiễm, có
trước, nên tâm mình luôn luôn có chớ không thể không. Trái lại, nếu thấy tất cả
việc đó mà không dính, không nhiễm, tâm rỗng rang như hư không là được tánh
như hư không. Dễ hay khó ? Quí vị chỉ cần thấy được tất cả mà tâm vẫn như hư
không thì tâm đó rỗng rang, còn nếu thấy mà có thêm điều gì như yêu ghét v.v…
thì nó hết rỗng rang, tức là nó cuốn theo hình ảnh mình thấy. Đó là Tổ dạy chúng
ta tu một cách hết sức đơn giản, như vậy lúc nào chúng ta cũng tu được, đi đâu,
đối tiếp ai… nếu muốn được tâm thênh thang thì phải như thế. Nếu kẹt vào bất cứ
một cái nào là mất thênh thang, đó là chỗ ứng dụng tu rất rõ ràng. Nhiều khi đọc
qua chúng ta không thấy Tổ dạy tu, nhưng khi nghiên cứu kỹ mới thấy Ngài dạy rất rõ. Vậy muốn được cái tánh rỗng rang đó thì, khi thấy tất cả người thiện ác, tốt
xấu v.v… chúng ta đừng thủ, đừng xả, không nhiễm trước thì lúc đó tâm mình
đồng với hư không, thể tâm đồng với hư không, thể đó là thể đại nên gọi là Ma-ha.
Thể đại của tâm mình, thể đại của Bát-nhã thênh thang như hư không, nó không
tướng mạo, nó trùm hết muôn pháp. Muốn được cái thể đó thì phải tu thế nào ?
Đối với tất cả việc tốt xấu, phải quấy của người, chúng ta đừng nhiễm, đừng dính
mắc. Như thế là Đại, là Ma-ha. Mỗi khi tụng Ma-ha Bát-nhã thì quí vị phải nhớ
như vậy, chớ không phải cứ đọc suông là đủ.
Này Thiện tri thức, người mê miệng nói, người trí tâm hành.
Người mê chỉ nói suông ngoài miệng, còn người trí hành ở trong tâm.
Người mê đi đâu cũng nói Bát-nhã, cũng tụng làu làu Bát-nhã ở ngoài miệng, còn
người trí không nói một câu Bát-nhã nào nhưng gặp duyên, gặp cảnh thì không
chạy theo, như thế trong hai người, người nào tu thật ? Một người gặp việc gì cũng
nói đó là không, là hư dối, không thật, chỉ nói suông thôi, nhưng tâm vẫn duyên
theo; còn một người hằng thấy, hằng biết, tâm không duyên với cảnh thì đó gọi là
hành trong tâm. Thế nên tụng ở ngoài miệng với hành trong tâm là hai việc khác
nhau. Hiện nay, đa số người tu chúng ta thích tụng ngoài miệng hơn hành trong
tâm. Kinh nào cũng thuộc làu… rồi lấy đó làm sự nghiệp ! Tụng cho mình, tụng
luôn cả cho người, độ người cũng bằng tụng, như vậy cho là tu Bát-nhã ! Vì thế
chúng ta phải hiểu rõ chân tinh thần của đạo Phật là phải tỉnh giác, tỉnh giác cái
chân thật của chính mình. Nghe kinh để biết điều đúng sai, tà chánh, bỏ những cái
sai, cái tà, trở về cái chánh, cái đúng, như thế mới là học đạo, chớ không phải
chúng ta học thuộc lòng để nói nhiều, tụng nhiều, căn bản là chúng ta phải hành ở
trong tâm, thế mới gọi là người trí biết tu.
Lại có người mê, để tâm rỗng không ngồi tĩnh tọa, trăm việc không cho
nghĩ tự gọi là đại, một bọn người này không nên cùng họ nói chuyện vì là tà kiến.
Tổ quở nặng những người nói để tâm rỗng không, không cho nghĩ gì cả, đó
gọi là đại, bọn người này không nên cùng họ nói chuyện, vì sao ? Vì họ rơi vào tà
kiến. Tâm không ngơ là vô ký không. Vì những người này không biết vọng lặng
thì chân hiện, họ chỉ biết cái vọng thôi mà không biết cái chân, như vậy là tà, tức
là nhìn lệch; chỉ để tâm không ngơ tức nhiên rơi vào không, mà rơi vào không,
không phải tà kiến là gì ? Chúng ta ngồi thiền trăm vật có nghĩ không ? Có niệm gì
không ? Có hai lối niệm: cái niệm dấy lên từng câu, từng lời là cái niệm động, còn
cái niệm hằng nhớ tánh giác của mình, biết mình có tánh giác, hằng sống với cái
tỉnh giác đó thì niệm đó là niệm tỉnh, nên gọi là niệm chân như. Niệm là nhớ, hằng
nhớ tánh giác, không chạy theo vọng tưởng, như vậy đâu phải chúng ta không nghĩ.
Tổ Qui Sơn có nói “Tư lương phi tư lương xứ”, nghĩa là suy nghĩ chỗ không suy
nghĩ, tức là hằng nhớ chỗ không suy nghĩ, chớ không phải là không ngơ. Như vậy
mới hằng giác, chính đó gọi là “nhất niệm vạn niên”, là một niệm muôn năm. Bởi
vì nhớ là tỉnh, quên thì mê, quí vị ngồi một lúc mà quên không biết mình làm gì thì
khi đó muốn gục, hoặc bị dẫn đi chỗ khác. Thế nên mình hằng tỉnh hằng giác,
hằng nhớ mình đang sống bằng tánh giác, chớ không phải là không nhớ, không
nghĩ. Còn người nói ngồi không nghĩ gì hết thì họ rơi vào không ngơ, như vậy không phải tà kiến là gì ? Thế nên đoạn này không giản trạch khéo một chút, thì
người đọc kinh Pháp Bảo Đàn dễ lầm. Quí vị thấy nói để tâm trống không là đúng
thì bị Tổ quở nặng, đám người đó không nên nói chuyện với họ, vì đó là tà kiến.
Chúng ta không nghĩ tới một vật gì ở ngoài, nhưng hằng nhớ chân như hằng nhớ
tánh giác, hằng nhớ nên mới tỉnh, chớ còn quên thì mê rồi. Hằng nhớ tánh giác,
nhớ mà không tìm, tỉnh giác mà không tìm nó, tìm nó là sai, chỗ này thật khó nói,
nhưng phải hiểu thật rõ mới không lầm. Nếu chúng ta cứ đè, không cho nó nghĩ
gì cả, mà nói là Đại, nên bị Tổ quở là tà kiến.
Này Thiện tri thức, tâm lượng rộng lớn khắp giáp cả pháp giới, dụng tức rõ
ràng, phân minh ứng dụng liền biết tất cả, tất cả tức một, một tức tất cả, đi lại tự do,
tâm thể không bị ngăn ngại tức là Bát-nhã.
Ngài chỉ cho chúng ta thấy tâm lượng rộng thênh thang đó nếu dụng tức
liễu liễu thường tri, nếu dùng thì hằng tri hằng giác chớ không phải không ngơ, rõ
ràng ứng dụng chớ không phải là không biết, nghe vẫn hằng nghe, thấy vẫn hằng
thấy, đó gọi là liễu liễu thường tri. Biết tất cả, tất cả tức một, một tức tất cả, tâm
thể đó thênh thang nên bao trùm tất cả. Như tôi nói tất cả núi sông, cây cối,
muôn vật đều nằm trong hư không. Đứng về tất cả cây cối núi rừng v.v… thì rất là
nhiều, nhưng đứng về hư không thì không nhiều. Hư không chỉ có một mà trùm tất
cả muôn vật, nên một là tất cả; tất cả cây cối núi rừng đều không ngoài hư không,
nên tất cả là một. Cũng như vậy, muôn pháp không rời tự tánh, thì đó là tất cả là
một, tự tánh tức là tâm tánh mình, tất cả không rời tâm tánh mình nên nói tất cả là
một. Tâm tánh mình bao trùm tất cả, nên nói một là tất cả. Chúng ta nói hư không
bao trùm vạn tượng, điều đó ai cũng hiểu, nhưng nói tâm mình bao trùm muôn vật
thì ai hiểu nổi ? Nói bao trùm, đừng hiểu nó bao trùm tất cả những hiện tượng.
Muôn vật có tên là từ đâu mà ra ? Muôn vật thành vật này vật vật kia… thành
muôn vật là do tâm, như vậy tâm không trùm muôn vật là gì ?
Nếu không có tâm thì muôn vật có tên muôn vật hay không ? Nếu không có
tâm thì đâu gọi đây là bàn, đây là ly, đây là đồng hồ v.v… Không có tất cả tên đó,
thì muôn vật không thành muôn vật. Tâm trùm muôn vật, muôn vật từ tâm mà ra,
điều đó rất là rõ ràng. Tỉ dụ nơi đây chúng ta có cả trăm người, mỗi người có mỗi
tên khác nhau, nên nói cả trăm người khác nhau. Tên khác nhau là từ đâu có ? Rõ
ràng là từ tâm dấy niệm của cha mẹ hoặc Thầy Tổ ban cho mình một cái danh
thành mỗi người khác biệt nhau. Như vậy sự khác biệt đó là do tâm khởi, nếu tâm
không khởi thì chắc gặp nhau chúng ta không biết chào gọi nhau bằng gì. Như vậy
muôn pháp có là từ tâm. Đa số người không hiểu cứ nghĩ muôn pháp có là từ tâm
mình biến ra, biến cái này nó nhảy ra cái này, biến cái kia nó nhảy ra cái kia,
nhưng không ngờ chính vì tâm mới có tên muôn pháp. Nếu không tâm thì đâu có
tên muôn pháp. Muôn pháp không có tên thì đâu thành muôn pháp. Thế nên nói
tâm trùm muôn pháp là vậy. Đã trùm muôn pháp thì tâm đó rộng lớn, khắp giáp,
nó hằng liễu tri nên khi ứng dụng thì biết tất cả, bởi vì nó an danh tất cả mà không
biết tất cả sao được ? Tất cả tên là một tâm đặt, nói một tâm, quí vị đừng hiểu là
một người, tâm tôi, tâm quí vị cũng là tâm thôi, chúng ta an danh cho mọi sự vật là
tâm của chúng ta, mà tâm thì đâu có hai. Muôn vật từ tâm mà có tên nên nói tất cảlà một; từ tâm đó mà có tên muôn vật nên một là tất cả. Như vậy nhìn hai mặt: một
là tất cả là từ tâm mà đặt muôn tên khác nhau; tất cả là một vì tất cả đều gốc từ
tâm mà có.
Lại tới lui được tự do, không có gì ngăn trở, đó là Bát-nhã. Như vậy Bátnhã là thênh thang nhưng hằng tri hằng giác, chớ không phải thênh thang như hư
không rỗng, không biết gì cả. Cái thể đó, nếu tế nhị một chút là thấy rõ, nhất là khi
ngồi thiền, có những phút giây không có một niệm gì, xem như tâm mình trống
rỗng, nhưng khi ấy mắt vẫn thấy, tai vẫn nghe, mình vẫn biết, như vậy là hằng tri,
hằng giác mà trống rỗng, không phải Bát-nhã là gì ? Ai không có cái đó ? Chính
sống được với cái đó là trở về tâm Phật của mình. Trái lại, nếu không sống với cái
đó mà sống với những buồn thương giận ghét là trở về tâm chúng sanh, tâm tạo
nghiệp. Như vậy ai sống với những buồn thương giận ghét hàng ngày, đó là người
sống với tâm chúng sanh, còn ai biết buông xả, sống với tâm rỗng rang hằng tri
hằng giác không một niệm thương ghét chen lẫn vào, đó là sống với tâm Phật.
Thật là rất gần ! Nơi mình có sẵn một kho báu mà không biết dùng. Nếu người có
kho báu nhưng không biết dùng, lại than nghèo than khổ thì có đáng thương
không ? Có mà không biết dùng rồi than trời trách đất, thật là đáng thương. Vì họ
không biết dùng nên mới khổ, chúng ta thấy cái khổ đó thật đáng thương, vì vậy
đức Phật mới bốn mươi chín năm thuyết pháp độ sanh, nhưng có độ chi đâu. Ngài
có cho chúng ta chi đâu mà gọi là độ, Ngài chỉ cho chúng ta biết chúng ta có cái
đó, sống trở về với cái đó thì hoàn toàn hết khổ, trái lại không sống với cái đó thì
khổ không biết chừng nào dứt.
Này Thiện tri thức, tất cả trí Bát-nhã đều từ tự tánh sanh, chẳng từ bên
ngoài vào, chớ lầm dụng ý nên gọi là chân tánh tự dụng.
Ngài chỉ thật là xác đáng. Ngài bảo: Tất cả trí Bát-nhã đều từ nơi tự tánh
của mình, không phải từ ngoài vào, chớ lầm dụng ý. Như có nhiều người tu cứ
mong thành Phật, hoặc mong Phật đến ấn chứng, như vậy là trông ra ngoài, nhưng
cái đó đâu phải từ ngoài đến, nó sẵn nơi mình, có ở đâu xa mà tìm mà cầu ? Nếu
tìm cầu ở ngoài đó là lầm dụng ý. Ngược lại là chân tánh tự dụng, khéo như vậy
thì tánh chân thật của mình tự mình dùng thôi.
Một chân thì tất cả chân, tâm lượng rộng lớn không đi theo con đường nhỏ,
miệng chớ trọn ngày nói Không mà trong tâm chẳng tu hạnh này, giống như người
phàm tự xưng là quốc vương, trọn không thể được, không phải là đệ tử của ta.
Có người trọn ngày nói không mà trong tâm chẳng không, tỉ dụ như đã xuất
gia rồi nhưng ai làm buồn lòng một chút liền mắng chửi người, khi ấy nếu có
người khác quở tại sao tu mà ác khẩu, tạo nghiệp, thì nói ác khẩu có thật không ?
Nghiệp có thật không ? Như vậy là nói không mà tâm chẳng không. Nếu không thì
đâu có giận, mắng chửi người, nếu giận mắng chửi người thì tâm chưa không.
Tâm chẳng không mà miệng nói không, thì không xứng đáng là đệ tử của Tổ,
huống chi là của Phật. Ai lỡ có bệnh đó thì nhớ, Tổ không chấp nhận làm đệ tử
của Ngài, còn đứng ngoài xa chớ chưa bước vào chùa, người như vậy là người nói
rỗng không có thực hành. Thế nên chúng ta phải hiểu cho thật rõ, khi lỡ có sân si
nếu có ai hỏi tại sao tu mà còn sân si, thì nói tại tôi còn dở, tại tập khí lâu đời, nhưvậy là người tốt. Nếu nghe hỏi tại sao sân si, liền hỏi lại sân si có thật không, thì
kẻ đó đáng ăn đòn, không xứng đáng là đệ tử của Phật. Tôi giản trạch để quí vị
đừng hiểu lầm, khi nghe nói như trên thì vội cho người ấy rất hay, rất hiểu đạo.
Nếu còn sân si là chưa hiểu đạo và nói như thế là nói để che lỗi, kẻ đó là kẻ đáng
tội. Hiểu như thế, quí vị mới thấy chỗ tu chân thật, nên Tổ ví dụ như kẻ thường
dân mà xưng là quốc vương. Có ổn không ? Thế nào cũng bị ngồi khám, hoặc bị
đứt đầu. Cũng như tâm thì có mà miệng nói không, có ngày phải đền tội, vì vậy
Ngài bảo không phải là đệ tử của ta.
Này Thiện tri thức, sao gọi là Bát-nhã ? Bát-nhã, Trung Hoa dịch là trí tuệ.
Tất cả chỗ, tất cả thời, mỗi niệm không ngu, thường hành trí tuệ tức là Bát-nhã
hạnh.
Ngài dạy Bát-nhã là tiếng Phạn, Trung Hoa dịch là trí tuệ. Tất cả chỗ như ở
chùa, ra xóm, đến chợ…, tất cả thời là sáng trưa chiều… lúc nào cũng vậy, mỗi
niệm đều không ngu. Thế nào là mỗi niệm ngu, thế nào là mỗi niệm không ngu ?
Tỉ dụ chúng ta đang đi trên đường, bất chợt nghe trong nhà có hai người đang cãi
nhau, chúng ta dừng lại nghe xem ai phải ai quấy. Niệm dừng lại nghe ai phải ai
quấy là niệm gì ? Là niệm ngu, tức là chạy theo cảnh thì niệm đó gọi là niệm ngu.
Trái lại nếu hằng sống với trí tuệ, không theo, không dính với bất cứ điều gì, đó là
không ngu. Thường hành trí tuệ là hành cái trí không bị kẹt, bị dính nơi mọi cảnh.
Đó là chỗ tôi hay nhắc quí vị. Hoặc nghe tiếng nói, hoặc thấy hình sắc liền phân
biệt hay dở, tốt xấu v.v… đó là người ngu, mải đuổi theo ngoại cảnh nên làm mờ
mắt trí tuệ Bát-nhã. Niệm niệm không ngu là hằng không dấy niệm đuổi theo
ngoại cảnh, lúc nào cũng hằng tỉnh, hằng giác, người được như vậy tức là đã hành
Bát-nhã.
Một niệm ngu tức Bát-nhã bặt, một niệm trí tức Bát-nhã sanh.
Như vừa rồi tôi nói, nếu chúng ta thấy vật gì liền cho là đẹp, đó là niệm ngu.
Ngu thì khi ấy có Bát-nhã không ? Bát-nhã là thấy các pháp như huyễn, nếu thấy
vật đẹp thì vật là thật nên ngu, tức mất Bát-nhã. Trái lại, vừa thấy một vật gì liền
biết đó là tướng duyên hợp không thật, vì biết không thật nên tâm không dính mắc
thì Bát-nhã sanh. Thế nên niệm ngu thì Bát-nhã tuyệt, niệm trí là Bát-nhã sanh.
Tôi giảng cho quí vị thấy cái ngu, cái trí. Thấy người, thấy vật, duyên theo để phân
biệt đẹp xấu hoặc khen chê, đó là niệm ngu; thấy người thấy vật mà khởi quán các
pháp, người vật đều duyên hợp không thật, đó là niệm trí. Niệm ngu thì bị tham
sân si dẫn, niệm trí thì tâm an, biết là huyễn tức nhiên tâm lặng, tức là sống với trí
tuệ Bát-nhã. Hai niệm đó, có niệm này là mất niệm kia. Niệm trí là chúng ta thắp
đèn, đốt đuốc, niệm ngu là chúng ta đi trong đêm không đèn, không đuốc để rồi
phải đau khổ. Quí vị thử nghiệm xem ! Thấy người, thấy vật nhưng luôn luôn sống
với niệm trí thì có đau khổ không ? Hẳn là không. Như vậy rõ ràng khổ hay hết
khổ là do mình sống với trí hay với ngu. Ngu là vô minh, nó dẫn chúng ta đi trong
chốn khổ đau, trầm luân sanh tử. Còn niệm trí là trí tuệ để giác ngộ thành Phật.
Như vậy sự tu hành thật là cụ thể. Nếu đối duyên, đối cảnh chúng ta luôn luôn
sống với niệm trí thì chúng ta giải thoát sanh tử; trái lại đối duyên đối cảnh chúng
ta sống với niệm ngu thì chúng ta luân hồi không cùng. Quí vị thử tập xem, kể từnay rán sống với niệm trí, làm sao trong mười hai giờ ít ra cũng được sáu giờ trí,
nếu không có lời, ít ra cũng đừng lỗ. Nhưng hiện nay quí vị đã sống được mấy giờ
trí ? Thử kiểm lại xem ! Được bao nhiêu ? Trong mười hai giờ chỉ sống được một
giờ rưỡi, chưa đủ cái lẻ nữa thì biết rằng đó là ánh sáng đom đóm. Đêm ba mươi
có ánh sáng đom đóm nên khó tránh khỏi hầm hố. Vì thế chúng ta tu là hiểu cho rõ
lời Phật Tổ dạy và hiểu cho rõ điều mình đang hành, biết mình như thế nào, không
cần phải tìm hỏi mình có căn tu hay không. Tóm lại Tổ dạy rất rõ ràng: một niệm
ngu thì Bát-nhã bặt, một niệm trí thì Bát-nhã sanh, một giờ chúng ta ngu thì giờ đó
không có Bát-nhã, giờ đó là vô minh; còn một giờ chúng ta trí thì đó là giờ Bátnhã, giờ sáng suốt. Như vậy người nào sống trong tỉnh nhiều hơn mê thì bảo đảm
ngày ra đi sẽ đi vào con đường của Thánh Hiền, còn người nào sống với mê nhiều
hơn trí, chắc chắn người đó sẽ đi vào lục đạo, hoặc ba đường trên thiên, nhân, atu-la, hoặc ba đường dưới địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh. Quí vị hãy tự xét là biết,
mình tu mình phải tự giác, tự tri, không cần phải hỏi ai cả. Lại ngu có nghĩa là
theo cảnh, trí có nghĩa là lìa cảnh. Một niệm tâm theo cảnh là ngu, một niệm tâm
lìa cảnh là trí. Trong bốn oai nghi hằng lìa cảnh đó là hằng sống với trí tuệ Bát-nhã.
Người đời ngu mê không thấy Bát-nhã, miệng nói Bát-nhã mà trong tâm
thường ngu.
Miệng nói vật này không thật, vật kia không thật, nhưng gặp vật gì cũng
duyên theo, đó là nói Bát-nhã mà trong tâm thường ngu. Có người khi lý luận nói
cái gì cũng không thật, nói nghe thật hay, nhưng gặp cảnh gặp duyên thì đuổi theo,
đó là người ngu, miệng nói Bát-nhã mà tâm thường ngu.
Thường tự nói ta tu Bát-nhã, niệm niệm nói không nhưng không biết được
chân không.
Miệng luôn luôn nói không nhưng thật không biết được chân không. Chân
không là không có một niệm, một pháp nào chứa chấp ở trong, chỉ có cái hằng tri
hằng giác. Như vậy quí vị từ nay vừa bước đến cổng “Chân Không” phải nhớ chỗ
đó, biết mình phải sống với chân không.
Bát-nhã không có hình tướng, tâm trí tuệ ấy vậy.
Trí tuệ Bát-nhã không có tướng mạo, nó là tâm trí tuệ tức là cái tâm hằng
sáng hằng giác chớ không có gì lạ, nên nói Bát-nhã chỉ là tâm trí tuệ hằng giác của
chúng ta.
Nếu khởi hiểu như thế tức gọi là Bát-nhã trí.
Thường chữ trí tuệ là dịch hai chữ Bát-nhã. Tại sao lại còn nói Bát-nhã trí ?
Nếu nói trí tuệ e có sự lầm lẫn vì người đời nếu khôn ngoan một chút thì nói là
người có trí tuệ, thành ra trí tuệ của người đời là trí tuệ sắp đặt công ăn việc làm
hoặc là trí tuệ tính toán lấn hiếp người… Trí tuệ Bát-nhã là trí tuệ thấy rõ cái chân
thật của tự tâm, biết rõ tự tâm mình cái nào là hư giả, cái nào là chân thật, biết rõ
tự tánh của các pháp, biết các pháp do duyên hợp không thật, tánh là không. Vì thế
để tránh sự hiểu lầm, chữ Bát-nhã phải dịch đủ là Trí tuệ Bát-nhã.
Sao gọi là Ba-la-mật ? Đây là lời nói của Ấn Độ, Trung Hoa dịch là đến bờ
kia, giải nghĩa là lìa sanh diệt. Tôi nhắc lại một lần nữa cho quí vị nhớ, những chữ Phạn mà chúng ta
thường tụng: “Ma-ha Bát-nhã Ba-la-mật”. Ma-ha là lớn, là thênh thang, chỉ cho
tâm thể chúng ta khi không còn một niệm nào dấy khởi. Bát-nhã là trí tuệ, cái trí
tuệ không bị các pháp làm nhiễm, làm chướng tức là đối với tất cả pháp luôn hằng
giác hằng tri nhưng không dính mắc. Ba-la-mật là đến bờ kia, bờ kia là bờ Niếtbàn. Đến bờ kia là đến được bờ Niết-bàn. Bờ Niết-bàn là bờ không sanh diệt, thế
nên nói bên này là bờ sanh tử, bên kia là bờ Niết-bàn. Sanh tử là sanh diệt. Niếtbàn là không sanh diệt, nên đến bờ kia dịch nghĩa là lìa được sự sanh diệt.
Chấp cảnh thì sanh diệt khởi như nước có sóng mòi, tức gọi là bờ này, lìa
cảnh thì không sanh diệt như nước thường thông lưu, ấy gọi là bờ kia, nên gọi là
Ba-la-mật.
Ngài chỉ cho chúng ta phương pháp tu thật là rõ. Thế nào là sanh diệt ? Thế
nào là lìa sanh diệt ? Vừa chấp cảnh thì tâm sanh diệt khởi. Chấp cảnh là thế nào ?
Tỉ dụ thấy người liền chấp người đẹp xấu, hay dở, phải quấy v.v… đó là chấp cảnh;
hoặc thấy vật cũng chấp là đẹp xấu… đó cũng là chấp cảnh. Vừa chấp đẹp xấu thì
niệm thương ghét dấy lên, gọi là tâm sanh diệt. Thế nên nói chấp cảnh thì sanh
diệt khởi, ví dụ như mặt nước bằng mà có gió. Chấp cảnh dụ như gió. Mặt biển
nguyên bằng phẳng, vừa có gió thổi là sóng lớn, sóng nhỏ nổi lên. Sóng lớn sóng
nhỏ nổi lên dụ cho sanh diệt. Vừa chấp cảnh thì tâm sanh diệt khởi. Trái lại lìa
cảnh thì không sanh diệt, như nước thường thông lưu, lìa cảnh tức là thấy cảnh,
thấy người, thấy vật nhưng không có niệm phân tích đẹp xấu… Thấy nghe nhưng
không bị dính gọi là lìa. Lìa cảnh thì tâm sanh diệt không khởi, dụ như nước
không có sóng, nhưng vẫn hằng trôi, hằng chảy. Cũng như vậy, chúng ta không
chấp cảnh, tâm sanh diệt không khởi, nhưng hằng tri giác chớ không phải không
tri không giác, đó gọi là “Ba-la-mật”.
Tóm lại, “Ma-ha” là lớn, “Bát-nhã” là trí tuệ. Tâm thể hay tự tánh của
chúng ta thênh thang, không tướng mạo, nhưng hằng tri hằng giác không dính với
cảnh gọi là trí tuệ, là Bát-nhã. Ba-la-mật là đến chỗ không sanh diệt. Tại sao gọi là
không sanh không diệt ? Bởi vì vừa dính với cảnh thì tâm niệm sanh diệt dấy lên,
còn đối cảnh mà không dính đó là lìa được sanh diệt. “Ma-ha Bát-nhã Ba-la-mật”
từ đâu mà có ? Có sẵn nơi chúng ta. Do đâu mà được? Do biết lìa cảnh, đối cảnh
không chấp. Nếu người nào đối cảnh mà chấp đó là mất. Vậy mỗi khi chúng ta
khởi xướng “Ma-ha Bát-nhã Ba-la-mật” đừng lắng nghe lời người này hay, lời
người kia dở, nên nhớ rõ rằng “Ma-ha Bát-nhã Ba-la-mật” là cái để mình hằng
sống, đó là mình biết tu.
Này Thiện tri thức, người mê miệng tụng, chính khi đang tụng mà có vọng
có quấy; niệm niệm nếu hành Bát-nhã, ấy gọi là chân tánh. Người ngộ được pháp
này, ấy là pháp Bát-nhã; người tu hạnh này, ấy là hạnh Bát-nhã. Không tu tức là
phàm, một niệm tu hành tự thân đồng với Phật.
Giống như chúng ta hiện nay, chính trong khi đang tụng mà đã có vọng
tưởng, có những niệm sai quấy. Ngài nói thẳng người không tu theo Bát-nhã là
phàm, còn một niệm tu hành thì một niệm đó đồng với Phật. Phật là giác, một
niệm tu Bát-nhã tức là một niệm giác, một niệm giác tức là đồng với Phật, đồng một niệm chớ không phải đồng suốt đời. Tổ muốn phá mặc cảm của chúng ta.
Chúng ta cho Phật với mình cách biệt rất xa nên Ngài muốn chỉ Phật với chúng ta
không cách xa, chỉ mê là chúng sanh, ngộ là Phật. Nhưng mê ngộ chia nhiều phần,
ngộ toàn phần hay ngộ một cách viên mãn, khác với ngộ từng ly từng tí. Trong
một giờ đồng hồ tức trong sáu mươi phút, chúng ta không được trọn sáu mươi
phút nhưng được một phút bằng với Phật thì cũng bằng được một phút. Nếu hiện
đời chúng ta chưa hẳn là giác, nhưng được một niệm giác thì niệm đó chúng ta
cũng bằng với Phật. Như vậy chúng ta thấy tại chúng ta không ưng làm Phật, chớ
Phật đâu có cấm chúng ta làm Phật. Có ai ngăn trở quí vị làm Phật không ?
Không một ai, kể cả Phật cũng không ngăn trở, nên Ngài mới nói Ngài là “Vô
thượng giác” tức là người giác mà không ai trên, chớ không phải không ai bằng,
nếu ai ưng giác như Ngài thì bằng Ngài !
Này Thiện tri thức, phàm phu tức Phật, phiền não tức Bồ-đề. Niệm trước
mê tức phàm phu, niệm sau ngộ tức Phật; niệm trước chấp cảnh tức phiền não,
niệm sau lìa cảnh tức Bồ-đề.
Thật là hay ! Lục Tổ dạy thẳng tắt vô cùng. Ngài chỉ cho chúng ta thấy
phàm phu tức Phật, phiền não tức Bồ-đề. Thế nào là tức ? Ngài bảo: niệm trước
mê tức là phàm phu, niệm sau ngộ tức là Phật. Tỉ dụ nhìn bình bông, vừa nhìn liền
phân biệt nhánh trắc đẹp, bông cúc xấu v.v… vừa có niệm phân biệt, đó là mê,
nhưng liền tỉnh giác biết dù đẹp xấu cũng là huyễn hóa. Như vậy niệm trước mê là
phàm phu, niệm sau ngộ là Phật. Có người thứ hai chen vào làm Phật không ?
Cũng chỉ là mình, nhưng niệm trước mê, đó là phàm phu, chuyển niệm sau ngộ là
thành Phật. Như vậy đâu có Phật ngoài phàm phu, phàm phu ngoài Phật, nên nói
phàm phu tức là Phật. Thí dụ thứ hai, như có một món quí kim rơi ngoài đường
hay ở trong nhà một người nào, vừa thấy món quí kim chúng ta dấy niệm nó có giá
trị, vừa dấy niệm tham, liền biết đó là sai quấy, vì người biết đạo lý không được có
niệm tham. Vậy niệm trước là niệm gì ? Niệm sau là niệm gì ? Tất cả những thay
đổi đó đâu có người thứ hai chen vào. Chính ngay người phàm phu trước đổi thành
người giác sau. Người mê trước đổi thành người giác sau, không có một người mê
riêng, một người giác riêng, như vậy không phải “tức” là gì? Như khi còn ở trong
hoàng cung thái tử Tất-đạt-đa là Phật chưa ? Nhưng khi xuất gia, Ngài tu thành
Phật. Cũng là Ngài, con người phàm phu ở trong hoàng cung rồi thành Phật chớ
không phải ai khác. Đó là nói xa, còn Lục Tổ nói thẳng trên niệm, niệm trước mê
là phàm phu, niệm sau ngộ là Phật. Chúng ta thấy phàm phu khác, Phật khác là tự
phỉ báng mình, phỉ báng chánh pháp. Rõ ràng mình với Phật không có khác, chỉ
khác chỗ mê ngộ, mà mê ngộ do nơi mình, niệm trước mê là phàm, niệm sau giác
là Phật !
“Niệm trước chấp cảnh tức phiền não, niệm sau lìa cảnh tức Bồ-đề”. Thí dụ
nghe người nào nói một lời trái tai, vừa chấp đó là lời ngang ngược trái tai, muốn
nổi sân, nhưng liền biết lời nói giả dối không thật thì không giận. Niệm trước vừa
chấp lời nói trái tai liền nổi giận, gọi là chấp cảnh tức phiền não sanh; niệm sau
biết lời nói không thật, nên không chấp liền lìa cảnh, lìa cảnh đó là Bồ-đề. Như
vậy tức phiền não là Bồ-đề đâu có Bồ-đề ngoài phiền não. Nếu tìm Bồ-đề ngoài phiền não thì không cần tu, vì nó ở ngoài, tu là ngay niệm mê đổi thành niệm giác,
ngay phiền não biến thành Bồ-đề. Có nhiều người nói phiền não là phiền não, tại
sao nói phiền não tức Bồ-đề ? Họ cứ nghĩ phiền não là riêng, Bồ-đề là riêng, nhất
là những vị chưa thông kinh Đại thừa hay chấp phiền não khác, Bồ-đề khác,
nhưng thật ra ngay phiền não mà tỉnh lại tức là Bồ-đề. Mê thì phiền não, tỉnh là
Bồ-đề, chúng ta thấy thực tế vô cùng. Phiền não tức Bồ-đề, phàm phu tức Phật là
như thế. Như vậy ai dám khi ai không ? Ngày nay họ là phàm phu, ngày mai họ
giác thành Phật; giờ này họ sân là phàm phu, chốc nữa họ tỉnh cũng là Phật. Đừng
nghĩ ta giác hơn người, vì khi người tỉnh giác người cũng bằng ta. Trên thế gian
này không ai hơn ai cả. Ngay phàm phu tức là Phật, ngay phiền não tức là Bồ-đề.
Người có nhiều phiền não, vì cố chấp nên những gì đến với họ đều biến thành
phiền não; đến khi họ tỉnh, họ xả được cái chấp đó tức nhiên thành Bồ-đề. Không
có Bồ-đề ngoài phiền não, không có Phật ngoài chúng sanh.
Này Thiện tri thức, Ma-ha Bát-nhã Ba-la-mật tối tôn, tối thượng, tối đệ nhất,
không trụ, không qua cũng không lại, chư Phật ba đời từ trong đó mà ra. Phải dùng
đại trí tuệ này đập phá ngũ uẩn, phiền não, trần lao, tu hành như đây quyết định
thành Phật đạo, biến tam thành giới định tuệ.
Tổ ca ngợi Bát-nhã vô cùng. Ngài bảo Bát-nhã là tối tôn, tối thượng, tối đệ
nhất, Bát-nhã là không trụ, không qua, không lại, nghĩa là nó không có những
tướng qua lại, trụ trước gì cả. Tất cả chư Phật ba đời cũng từ Bát-nhã mà ra. Muốn
giác ngộ làm Phật phải từ trí tuệ mà được. Không ai giác ngộ ngoài trí tuệ, nên nói
ba đời chư Phật đều từ đó mà ra. Như vậy phải dùng đại trí tuệ này đập phá phiền
não trần lao ngay trong thân ngũ uẩn. Tu hành như vậy thì quyết định thành Phật
đạo không nghi và người đó đã chuyển tam thành giới định tuệ. Ngay nơi ba
tham sân si chúng ta chuyển thành giới định tuệ, đó là chỗ chân chánh tu hành.
Này Thiện tri thức, pháp môn của tôi đây từ một Bát-nhã phát sanh tám
muôn bốn ngàn trí tuệ. Vì cớ sao ? Vì người đời có tám muôn bốn ngàn trần lao,
nếu không có trần lao thì trí tuệ thường hiện chẳng lìa tự tánh. Người ngộ pháp
này tức là vô niệm, vô ức, vô trước, chẳng khởi cuống vọng, dùng tánh chân như
của mình, lấy trí tuệ quán chiếu, đối với tất cả pháp không thủ không xả tức là thấy
tánh thành Phật đạo.
Đến đây Ngài dạy từ một môn Bát-nhã này sanh ra tám muôn bốn ngàn
trí tuệ. Tại sao đến tám muôn bốn ngàn trí tuệ ? Vì chúng sanh có đến tám muôn
bốn ngàn trần lao, nên người biết tu thì chuyển tám muôn bốn ngàn trần lao thành
tám muôn bốn ngàn trí tuệ. Tôi ví dụ như chúng ta nghe lời nói trái tai, chấp là lời
nói nặng liền giận, khi vừa giận liền thức tỉnh biết tiếng nói không thật nên không
giận, như vậy chúng ta dùng một trí tuệ phá một trần lao. Trên thế gian này, có bao
nhiêu thứ để chúng ta phiền não ? Vật nào đẹp thì muốn lấy, đó là tham, vật nào
xấu thì ghét muốn quăng bỏ, đó là sân v.v… đủ cả tham sân si…! Nếu gặp bất cứ
việc gì, chúng ta đều dùng trí tuệ Bát-nhã để phá dẹp, không cho dính mắc, như
vậy có bao nhiêu phiền não tức có bấy nhiêu trí tuệ. Thế nên tám muôn bốn ngàn
trần lao trở thành tám muôn bốn ngàn trí tuệ. Như vậy để biết rằng trí tuệ không
riêng có, vì đối trần lao mà lập. Do có trần lao nên trí tuệ không thường hiện, nay các trần lao hết thì trí tuệ hiện. Trí tuệ hiện là ngay nơi tự tánh mà hiện, nên nói
chẳng lìa tự tánh. Người ngộ pháp này tức là vô niệm. Vô niệm là không dấy khởi
niệm, vô ức là không nhớ tưởng, vô trước là không dính mắc, chẳng khởi cuống
vọng là không khởi hư dối. Dùng tánh chân như của mình, lấy trí tuệ quán chiếu,
đối tất cả pháp mình không khởi thủ xả, đó là thấy tánh thành Phật đạo. Nghĩa là
chúng ta không dấy niệm, không nhớ tưởng, không chấp trước cũng không lừa dối,
như vậy sống với tự tánh chân thật của mình, hằng dùng trí tuệ quán chiếu để
không lầm, thì đối với tất cả pháp không còn thủ xả tức lìa hai bên. Người được
như thế là thấy tánh thành Phật.
Này Thiện tri thức, nếu muốn vào pháp giới thậm thâm và Bát-nhã tammuội thì phải tu Bát-nhã hạnh, phải trì tụng kinh Kim Cang Bát-Nhã tức được thấy
tánh, nên biết kinh này công đức vô lượng vô biên, trong kinh đã khen ngợi rõ
ràng không thể nói đầy đủ được. Pháp môn này là Tối thượng thừa, vì những
người đại trí mà nói, vì những người thượng căn mà nói. Những người tiểu căn
tiểu trí nghe pháp này tâm sanh không tin. Vì cớ sao ? Ví như có một trận mưa lớn
khắp cả cõi nước, thành ấp chợ búa đều bị trôi giạt cũng như trôi những lá táo.
Nếu trận mưa lớn đó mưa nơi biển cả thì không tăng không giảm. Như người Đại
thừa hoặc người Tối thượng thừa nghe kinh Kim Cang thì tâm khai ngộ, thế nên
biết bản tánh họ tự có trí Bát-nhã, tự dùng trí tuệ thường quán chiếu nên không
nhờ văn tự. Thí như nước mưa không phải từ trời có, nguyên là từ rồng mà dấy lên
khiến cho tất cả chúng sanh, tất cả cỏ cây, hữu tình vô tình thảy đều được đượm
nhuần. Trăm sông các dòng đều chảy vào biển cả hợp thành một thể, trí tuệ Bátnhã nơi bản tánh chúng sanh cũng lại như thế.
Tức là mọi người chúng ta đều có trí tuệ Bát-nhã sẵn trong tự tánh của
mình như là tất cả dòng sông đều chảy về biển chớ không có khác.
Này Thiện tri thức, người tiểu căn nghe pháp môn đốn giáo này, ví như là
cỏ cây gốc rễ nhỏ, nếu bị mưa to thì đều ngả nghiêng không thể nào tăng trưởng
được. Người tiểu căn cũng lại như thế, vốn có trí tuệ Bát-nhã cùng với người đại
trí không sai biệt, nhân sao nghe pháp không thể khai ngộ ? Vì do tà kiến chướng
nặng, cội gốc phiền não sâu, ví như đám mây lớn che kín mặt trời, không có gió
thổi mạnh thì ánh sáng mặt trời không hiện. Trí Bát-nhã cũng không có lớn nhỏ, vì
tất cả chúng sanh tự tâm mê ngộ không đồng, tâm mê bên ngoài thấy có tu hành
tìm Phật, chưa ngộ được tự tánh tức là tiểu căn. Nếu khai ngộ đốn giáo không thể
tu ở bên ngoài, chỉ nơi tâm mình thường khởi chánh kiến, phiền não trần lao
thường không bị nhiễm tức là thấy tánh.
Trong đoạn trên Ngài nói có người tiểu căn, người đại căn, người tiểu trí,
người đại trí. Tại sao có tiểu trí, đại trí, tiểu căn, đại căn ? Trên tánh Bát-nhã
không có sai biệt, nhưng người nghe pháp liền đốn ngộ thì gọi là đại căn, còn
người nghe nhưng không đốn ngộ nên gọi là tiểu trí. Sở dĩ nghe Bát-nhã mà không
ngộ, không hiểu là vì:
– Một là tà kiến của họ sâu nặng, chấp tà kiến là chấp lệch lạc, nghiêng bên
có hoặc nghiêng bên không quá nặng.
– Hai là gốc phiền não của họ sâu dầy, họ hay sân si, đủ các việc lôi thôi… Ngài thí dụ như có một đám mây đen kịt bao phủ bầu trời vào giữa trưa che
kín mặt trời, chúng ta thấy ánh sáng mặt trời mất tiêu, ánh sáng mất là tại mặt trời
không có ánh sáng hay tại cái gì ? Mặt trời lúc nào cũng tỏa ánh sáng đầy đủ và
công bằng. Nhưng khi mây dầy đen quá thì ánh sáng phải chịu khuất. Khi không
thấy ánh sáng là lỗi tại mặt trời hay lỗi tại mây ? Tất cả mọi người ai cũng có trí
tuệ Bát-nhã như là giữa trưa nhất định có mặt trời vậy, nhưng có người nghe pháp
liền ngộ, có người nghe mà không ngộ là tại sao ? Giữa trưa mà không mây, khi
người ta chỉ mặt trời, nhìn lên liền thấy. Trái lại mây dầy quá, dù chỉ mặt trời cũng
không thấy, chỉ thấy bầu trời đen kịt. Đối với trí tuệ của Phật cũng thế, Ngài dùng
trí tuệ đó giảng dạy chúng ta hiểu chỗ ngộ, chỗ sở đắc của Ngài để chúng ta theo
đó tu hành. Nếu nghe nhưng không hiểu gì cả là tại phiền não của chúng ta quá
nhiều, quá sâu; nếu người nào phiền não ít, mỏng thì nghe liền hiểu, mà hiểu thì
tu được. Như thế lỗi không phải tại pháp mà lỗi tại người, pháp thì bình đẳng
nhưng tại người phiền não sâu hay cạn. Biết như vậy, chúng ta thấy nếu căn cơ
chúng ta kém, phiền não dầy, chúng ta phải nỗ lực sao cho phiền não tan và căn cơ
được tăng trưởng, chớ đừng tưởng thật có người đại trí và người tiểu trí, vì trí Bátnhã là bình đẳng, nhưng do các chủng tử tà kiến và chủng tử phiền não nhiều ít mà
thành sai biệt.
Này Thiện tri thức, trong ngoài không trụ, đi lại tự do, hay trừ tâm chấp,
thông đạt không ngại, hay tu hạnh này cùng kinh Bát-nhã vốn không sai biệt.
Trong đoạn này Lục Tổ dạy chúng ta tu. Trong ngoài không trụ là không
trụ trong không trụ ngoài, tức là không chấp trong không chấp ngoài. Đi lại tự do
là trong mọi hoạt động chúng ta không bị chướng ngăn. Hay trừ tâm chấp, tâm
chấp là thế nào ? Tôi nói một ví dụ nhỏ cho quí vị thấy, như có người nhìn bình
bông, phân tích như thế nào đó rồi kết luận bình bông đẹp, nhưng có người ngồi
bên cạnh bảo xấu quá, đâu có đẹp ! Khi đó người ấy nổi sân, tại sao lại nổi sân ?
Vì chấp lời của họ là chân lý, lời người kia không phải chân lý, họ nói đúng, người
kia nói sai… Thế nên tất cả các chấp là gốc của phiền não. Trái lại nếu chúng ta
thấy đẹp, người khác thấy không đẹp chúng ta biết đó là do cái thấy của họ khác
mình, thì không còn tranh chấp. Tỉ dụ chúng ta nói cái này có, người kia nói
không, chúng ta nói: Tôi thấy có, còn huynh thấy không là cái thấy của huynh.
Trái lại nếu chúng ta nói có, người khác nói không, chúng ta nổi giận, đó là chấp.
Vậy tất cả phiền não đều gốc từ tâm chấp mà ra. Quí vị thấy có ai không chấp ?
Nếu người nào không chấp thì người đó không nổi giận, nếu có giận là có chấp !
Thí dụ gần nhất như thầy giáo hay cô giáo dạy học trò, bảo chúng nó giờ nào học
thì học, giờ nào nghỉ thì cũng ngồi chơi có trật tự đừng la to. Nhưng khi chơi nó
hứng la om sòm, khi ấy thầy cô giận muốn phạt nó. Như vậy là mình không tâm lý,
lúc dặn thì chúng nhớ, khi chơi thì chúng quên… vì mình chấp việc chúng không
nhớ lời dặn nên nổi giận. Quí vị nhớ con cái ở nhà cũng vậy, khi chúng ta dạy nó,
thật ra chúng nó biết, nhớ, nhưng khi gặp cảnh chúng nó quên… Cũng như chúng
ta khi nghe kinh thì nhớ, gặp cảnh thì quên, chúng ta quên theo người lớn, chúng
nó quên theo con nít ! Nếu giận chúng nó thì đúng hơn chúng ta phải giận chúng ta.
Nếu không giận mình mà giận chúng nó là mình hơi hẹp lượng đó. Hiểu như vậy, quí vị mới thấy trong cuộc sống này do chấp mà thành hẹp lượng rồi sân hận… đủ
các phiền não. Vì vậy chấp là một cái họa, từ đó sanh ra bao nhiêu thứ bệnh ! Khi
phá chấp rồi thì tâm hồn chúng ta thênh thang vô cùng. Chấp có, chấp không, chấp
phải, chấp quấy… tất cả chấp đều là gốc phiền não. Thế nên phá được tâm chấp rồi
thì trí được thông đạt vô ngại. Người hay tu được hạnh đó gọi là tu Bát-nhã.
Này Thiện tri thức, tất cả kinh điển và các văn tự, Đại thừa, Tiểu thừa,
mười hai bộ kinh đều nhân người mà an trí, nhân tánh trí tuệ mới hay dựng lập.
Nếu không có người đời thì tất cả muôn pháp vốn tự chẳng có, thế nên biết muôn
pháp vốn tự nhân nơi người mà dựng lập, tất cả kinh sách nhân người mà nói có;
nhân vì trong người kia có ngu và có trí, người ngu là tiểu nhân, người trí là đại
nhân, người ngu hỏi nơi người trí, người trí vì người ngu mà nói pháp, người ngu
bỗng nhiên ngộ hiểu, tâm được khai tức cùng với người trí không có khác.
Chúng tôi giải thích cho quí vị thấy Lục Tổ dạy rất là thực tế. Ngài bảo tất
cả kinh điển Phật lập ra, trong đó chia ra Đại thừa Tiểu thừa, cả mười hai bộ kinh
đều nhân nơi người mà lập. Tại sao ? Vì người đời căn tánh bất đồng, có kẻ thấp
người cao nên kinh Phật dạy có khi thấp, có khi cao. Nói thấp gọi là nói cho Tiểu
thừa, nói cao gọi là nói cho Đại thừa. Như vậy kinh điển có sai biệt là nhân trí tuệ
của con người, người thấp thì phải nói theo chỗ thấp, người cao phải giải thích
theo chỗ cao. Tất cả muôn pháp trên thế gian này vốn không có, nhưng hiện có là
do nơi người. Có người mới có muôn pháp. Tại sao ? Như tôi thường nhắc quí vị,
nếu không có tâm trí của con người thì lấy cái gì đặt tên đây là đồng hồ, kia là
bình bông, đó là cái bàn v.v…. Như vậy tất cả các tên sai biệt của muôn pháp gốc
từ nơi người mà lập. Thế nên biết rằng từ kinh điển đến vạn vật có các tên sai biệt,
đều gốc từ tâm trí sai biệt của con người, chớ không phải ngẫu nhiên. Như vậy
không phải đức Phật muốn nói nhiều thứ, sở dĩ Ngài phải nói nhiều là do trình độ
sai biệt của con người; cũng như tất cả sự vật ở thế gian không phải có nhiều thứ
nhưng có nhiều thứ là tại người đặt. Người ta đặt ra thứ này, thứ kia, mỗi thứ mỗi
tên. Tỉ dụ như tất cả chúng ta, nếu cha mẹ không đặt tên mình thì đến đây gặp
nhau chỉ cười chớ không biết ai tên gì mà gọi. Nay có cả trăm tên khác nhau là tại
sao ? Tại vọng thức của cha mẹ chúng ta an bày người này tên A, người kia tên B
v.v… rồi chúng ta thấy có cả trăm tên. Sự thật nếu không có đặt tên thì thấy mặt
nhau là thấy chớ không biết tên gì, nếu không tên thì đâu thành người này người
kia… tất cả chỉ có tên “người”. Tóm lại muôn pháp nhân người mà lập là vì nhân
nơi tâm trí của con người mà đặt tên thành ra muôn pháp, chớ sự thật muôn pháp
không có tên, thành tên là từ nơi người.
Ngài lại giải thích về người ngu và người trí. Người ngu là họ chưa hiểu,
chưa thấy được đạo. Người trí là đã hiểu, đã thấy được đạo. Như vậy người chưa
hiểu, chưa thấy đối với người đã hiểu, đã thấy thì gọi là người ngu, còn người đã
hiểu, đã thấy gọi là người trí. Nhưng cái ngu, trí đó có cố định hay không ? Giả sử
ông A hiểu, ông B chưa hiểu, đối với chỗ hiểu và chưa hiểu thì ông A gọi là trí,
ông B gọi là ngu. Nhưng nay ông B hỏi, ông A nói cho ông B hiểu bằng ông A thì
hai người ai ngu ai trí ? Cả hai đều trí ! Như vậy ngu trí cũng không cố định.
Chúng ta thường tự cao nghĩ rằng ta là trí, người khác là ngu, tưởng ngu trí là thật. Đối với Tổ không phải vậy. Khi chưa biết gọi là ngu, biết rồi cũng là trí. Thí dụ
một đứa bé khi mới vào học lớp một, nó thấy thầy giáo, cô giáo là trí, còn nó là
ngu. Nhưng nếu nó học đến mười mấy năm sau, khi ấy lớp nó học hoặc bằng hoặc
trên thầy giáo, cô giáo nó, như vậy nó đâu còn ngu nữa. Thế nên trí, ngu đâu có cố
định, nhưng chúng ta có tật thấy bất cứ người nào đều cố định là khôn hoặc là dại.
Tóm lại ngu trí chẳng qua là biết và chưa biết; biết thì gọi là trí, chưa biết gọi là
ngu, khi người chưa biết mà biết được rồi thì họ cũng là trí… Từ đó chúng ta suy
ra, chúng sanh với Phật có khác nhau không ? Có cố định chúng sanh là chúng
sanh, Phật là Phật hay không ? Nếu chúng ta hiểu ngu và trí thì chúng sanh với
Phật cũng như vậy. Nay chúng ta chưa giác, chúng ta là chúng sanh, còn Phật đã
giác thì Phật là Phật. Mai kia theo đường lối Phật dạy, chúng ta giác ngộ như Phật
thì khi ấy chúng ta cũng ngang với Phật. Như vậy chúng ta không có mặc cảm là
mình phải làm chúng sanh kiếp kiếp đời đời, mà chỉ có mặc cảm là mình không
chịu giác. Nếu ngày nào tất cả chúng ta đều giác thì đương nhiên chúng ta như
Phật. Vậy phàm phu và Phật không có hai, hai là vì có mê ngộ. Nếu chúng ta bỏ
mê và ngộ như Phật, khi ấy mình với Phật là đồng, không còn hai nữa. Từ nghĩa
ngu và trí đến nghĩa mê giác, chúng ta thấy giống như nhau. Không có một pháp
cố định mà chúng ta lầm tưởng là cố định rồi tự khinh mình, đó là điều dở. Thế
nên Lục Tổ dạy tiếp:
Này Thiện tri thức, chẳng ngộ tức Phật là chúng sanh, khi một niệm ngộ,
chúng sanh là Phật.
Khi chưa ngộ tức Phật là chúng sanh, tại sao ? Nơi mình có Phật sẵn nhưng
mình chưa thấy nên khi ấy ông Phật đó làm chúng sanh; đến khi mình thấy thì thế
nào ? Thì chúng sanh đó nay biến thành Phật. Thế nên nói một niệm ngộ chúng
sanh là Phật. Như vậy giữa mình và Phật không cách biệt bao xa. Theo chúng ta
học thì từ phàm phu lên đến Phật phải trải qua bao nhiêu số kiếp xa thật là xa. Còn
Tổ nói thì quá gần, nghĩa là khi chưa ngộ thì Phật là chúng sanh, còn một niệm
ngộ thì chúng sanh là Phật. Như vậy sở dĩ có chúng sanh, có Phật là tại mê với ngộ,
chớ không phải riêng có một cái cố định là chúng sanh, cố định là Phật. Đó là
điểm then chốt.
Thế nên biết muôn pháp trọn ở nơi tự tâm, sao chẳng từ trong tự tâm liền
thấy được chân như bản tánh ?
Biết rằng muôn pháp đều từ nơi tự tâm, tại sao chúng ta không ngay nơi tự
tâm chóng thấy được chân như, lại đi tìm Phật ở đâu cho xa. Mê thì Phật là chúng
sanh, ngộ thì chúng sanh là Phật, như vậy thành Phật là thành ở trong tự tâm. Mê
ngộ là tâm, vậy tại sao không đào xới ngay trong tâm mình để thành Phật, lại chạy
đi cầu ở chỗ nào làm chi ? Có cần đi lên núi ông Cấm hay Ngũ Đài Sơn v.v… hay
là đi tới những núi thật xa, thật cao tìm chỗ thanh tịnh để tìm Phật không ? Nếu
biết thì ngồi ở giữa chợ cũng có Phật. Vì tâm mình là Phật thì ngay trong tâm, nếu
biết chuyển đương nhiên chúng sanh trở thành Phật, nếu không biết chuyển tức
nhiên Phật làm chúng sanh. Thế nên Lục Tổ cố dạy chúng ta muốn thành Phật thì
chuyển ngay tự tâm mình, đừng tìm kiếm nơi nào khác, tìm nơi khác là lầm ! Vì thế Ngài bảo: Tất cả đều trọn nơi tâm mình, tại sao không ngay trong tâm mình
chóng thấy chân như bản tánh ?
Kinh Bồ Tát Giới nói: Bản tánh của ta nguyên tự thanh tịnh, nếu biết được
tự tâm, thấy tánh đều thành Phật đạo. Kinh Tịnh Danh nói: Liền khi đó bỗng hoát
nhiên được bản tâm.
Tóm lại, trong đoạn này Lục Tổ muốn chỉ chúng ta rõ rằng, thành Phật hay
thành chúng sanh là gốc nơi tự tâm mê hay tự tâm ngộ. Tâm mê là chúng sanh,
tâm ngộ là Phật, nay chúng ta tu, muốn thành Phật phải nhắm vào chỗ nào mà tu ?
Muốn chuyển chúng sanh thành Phật phải chuyển từ đâu ? Từ ngay nơi tâm chớ
không còn lối nào khác ! Như vậy chúng ta không thể nghe nói ông Phật hiện ở
trên núi Cấm rồi nhất bộ nhất bái đến lạy để Ngài chứng minh cho mình được
thành Phật. Chúng ta phải ngay nơi tâm mình khéo chuyển mê thành ngộ thì đó là
Phật. Chúng ta phải đào xới ngay nơi bản tâm chớ đừng tìm kiếm ở đâu xa. Đây là
gốc của sự tu hành.
Này Thiện tri thức, xưa ta ở nơi Ngũ tổ Nhẫn, một phen nghe liền được ngộ,
chóng thấy chân như bản tánh, nên đem giáo pháp này lưu hành khiến cho người
học đạo chóng ngộ được Bồ-đề. Mỗi người tự quán nơi tâm, tự thấy bản tánh, nếu
tự chẳng ngộ phải tìm những bậc Đại thiện tri thức, người hiểu được giáo pháp Tối
thượng thừa, chỉ thẳng con đường chánh, ấy là Thiện tri thức, có nhân duyên lớn,
gọi là hóa đạo khiến được thấy tánh.
Ngài nhắc lại, ngày xưa khi nghe được Ngũ Tổ nói một câu, Ngài liền ngộ
đạo. Khi ngộ đạo, Ngài đem giáo pháp đó chỉ dạy lại cho người học sau này chóng
thấy được Bồ-đề, chóng ngộ được bản tánh. Nay người nào nghe nhưng chưa ngộ
thì nên tìm Thiện tri thức. Thiện tri thức là ai ? Người hiểu được pháp Tối thượng
thừa, biết chỉ thẳng con đường chánh, đó là Thiện tri thức. Có nhiều người nói
Phật Tổ dạy học đạo phải nhờ Thiện tri thức hướng dẫn, nhưng người nào là Thiện
tri thức ? Tùy theo pháp môn, nếu Thiền tông thì Tổ dạy: Thiện tri thức là người
hiểu được pháp Tối thượng thừa và người đó chỉ thẳng con đường chánh cho mình
đi. Có nhân duyên lớn là gì ? Tức là hóa đạo khiến cho người được thấy tánh.
Tất cả pháp lành nhân nơi Thiện tri thức mà hay phát khởi. Ba đời chư Phật,
mười hai bộ kinh, ở trong tánh của người vốn tự có đủ, không có thể tự ngộ thì
phải cầu Thiện tri thức chỉ dạy mới thấy. Nếu tự mình ngộ thì không nhờ cầu bên
ngoài, nếu một bề chấp, bảo rằng phải nhờ Thiện tri thức khác, mong được giải
thoát thì không có lẽ phải.
Đây là chỗ lầm lẫn của một số người tu. Ngài nói: Giáo pháp Tối
thượng thừa này được Phật Tổ chỉ dạy, nếu ngay nơi đó mình ngộ rồi thì thôi, nếu
không ngộ thì phải nhờ Thiện tri thức chỉ dạy để chúng ta nhân đấy mà ngộ. Như
vậy muốn được ngộ là phải nhờ sự chỉ dạy của Thiện tri thức để nhận ra bản tâm,
bản tánh của mình, chớ không phải cầu Thiện tri thức ở bên ngoài để làm cho
mình được giải thoát. Có nhiều Phật tử cứ nghĩ rằng đi đến cầu Thầy, cầu những vị
tu hành cứu mình hết phiền não, làm cho mình hết khổ. Nếu y theo pháp Phật mà
tu thì mỗi người tự giải khổ, chớ có ai làm cho ai hết khổ được ? Có ai làm cho ai
hết phiền não được ? Như hiện nay quí Thầy tu, còn Phật tử chưa tu, quí Thầy muốn dạy cho Phật tử hết phiền não phải dạy thế nào ? Phật dạy các pháp quán
hoặc là nhẫn nhục hoặc là từ bi hoặc là vô thường, hoặc là dùng trí Bát-nhã thấy
các pháp là giả dối v.v… Chúng ta biết ứng dụng các pháp Phật dạy, tu sửa lần lần
hết phiền não, chớ các Thầy không thể nào làm cho Phật tử hết phiền não được.
Vậy khi có phiền não chạy đến cầu Thầy cứu được không ? Chư Tăng chư Ni chỉ
là người đi trước, biết được những gì Phật Tổ dạy, rồi đem những pháp đó chỉ lại,
Phật tử ứng dụng tự nhiên bớt phiền não, chớ không ai làm cho mình hết phiền
não. Nếu trông cầu Thiện tri thức đưa mình đến chỗ giải thoát thì không đúng,
không bao giờ có việc như vậy. Thiện tri thức chỉ cho mình tự tỉnh, tự giác, sau
khi tỉnh giác mình tiến tu mới giải thoát. Nếu người khác làm cho mình giải thoát
được thì thuở xưa những đệ tử gần với Phật nhất như ngài A-nan, ngài La-hầu-la
không cần phải tu. Ngài A-nan là em của Phật, ngài La-hầu-la là con Phật, Phật
thành Phật rồi hai vị đó nhờ Phật độ cũng được giải thoát ? Nhưng học kinh Lăng
Nghiêm, chúng ta thấy ngài A-nan bị Ma-đăng-già dẫn dụ, Ngài khổ sở, hối hận,
khóc bạch với Phật: Con ỷ lại là em của Phật, nay mới thấy nếu con không tu thì
không thể nào giải thoát được. Như vậy chính em đức Phật, con đức Phật mà đức
Phật không độ cho giải thoát được, huống nữa là chư Tăng phàm phu. Như thế để
quí vị hiểu rằng muốn được giải thoát là y theo lời Phật dạy mà tự tu sửa phiền não
che lấp bản tâm. Do tu sửa rồi tự mình sáng, tự mình giác, cái sáng, cái giác đó
làm cho mình được giải thoát, chớ không ai làm cho mình giải thoát cả.
Vì cớ sao ? Trong tự tâm có tri thức tự ngộ, nếu khởi tà mê vọng niệm điên
đảo thì Thiện tri thức bên ngoài tuy có giáo hóa chỉ dạy, cứu cũng không thể được.
Nghĩa là trong tâm mình tự có Thiện tri thức, nếu mình khởi niệm xấu thì
niệm thiện của tâm quở trách cái xấu, cái xấu hết. Niệm thiện biết quở trách cái
xấu là Thiện tri thức của tự tâm. Còn nếu quí vị khởi niệm xấu, ví như ra chợ, ai
nói tức, quí vị giận muốn mắng chửi người, khi ấy Thiện tri thức ở chùa làm sao
gặp quí vị mà khuyên cho kịp. Khi muốn mắng người, chỉ Thiện tri thức của tự
tâm khởi lên mới chận kịp, chớ Thiện tri thức ở chùa xa quá không thể đến chận
kịp. Như vậy để biết rằng cứu mình gần nhất là Thiện tri thức của tự tâm, còn
Thiện tri thức ở xa như thầy bạn khó cứu mình kịp. Thành ra thầy bạn chỉ là người
hướng dẫn cho mình biết đạo lý rồi tự ứng dụng hằng ngày hằng giờ tự tu.
Nếu khởi chánh chân Bát-nhã quán chiếu thì trong khoảng một sát-na vọng
niệm đều diệt. Nếu biết tự tánh một phen ngộ tức đến quả vị Phật.
Phật địa tức là quả vị Phật. Đoạn trước Ngài dạy nếu khởi tâm tà mê, sanh
điên đảo thì Thiện tri thức ở ngoài cứu không được. Đoạn này Ngài dạy nếu
chúng ta khởi tâm chân chánh, dùng trí tuệ Bát-nhã quán chiếu thì chỉ trong
khoảng một sát-na hay là trong khoảng một phút, một giây bao nhiêu vọng niệm
đều hết, đó là tự biết được tự tánh rồi tự ngộ mà đến Phật địa. Chúng ta phải hiểu
thật rõ, Bát-nhã chia ra làm ba phần: Văn tự Bát-nhã, Quán chiếu Bát-nhã và Thật
tướng Bát-nhã. Như quí vị thường tụng một thời ba biến, đọc chữ, đọc nghĩa, đó là
Văn tự Bát-nhã. Còn Quán chiếu Bát-nhã là sao ? Nếu đọc đi đọc lại bài Bát-nhã
đến thuộc làu, đó chỉ là thuộc văn tự thôi. Nay đọc “Quán Tự Tại Bồ-tát hành
thâm Bát-nhã Ba-la-mật-đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không…”, chiếu kiến là quán chiếu. Quán chiếu như thế nào ? Tức ngay thân năm uẩn, chúng ta phân tích
cái gì là sắc uẩn ? Sắc uẩn là phần hình thức vật chất. Trong phần hình thức vật
chất này có những thứ nào kết hợp lại ? Đất nước gió lửa. Cái gì là đất ? Tức là
những chất cứng như tóc, lông, răng, móng, da thịt, gân xương v.v… Cái gì là chất
ướt ? Máu mủ, mồ hôi v.v… Chúng ta phân tích, quán chiếu như thế. Ví như quí vị
đang phiền não vì bị người hiếp đáp hoặc nói xấu v.v… quí vị không nhớ câu họ
nói mà lại quán chiếu thân này có thật hay không, quán kỹ nó do đất nước gió lửa
kết hợp v.v… quán một lúc quí vị còn sân si với câu người ta nói không ? Nếu
quán chiếu thấy thân không thật thì nói tốt, nói xấu, hoặc khen, hoặc chê cũng là
thừa. Thế nên nói khi dùng Quán chiếu Bát-nhã thì tất cả vọng niệm đều diệt. Trái
lại chúng ta cứ đọc Văn tự Bát-nhã mãi nên không diệt được gì cả, rồi nói tôi tu
mấy mươi năm, Thầy dạy tụng Bát-nhã nhưng đến nay phiền não vẫn còn ! Muốn
hết phiền não phải Quán chiếu Bát-nhã, nhờ quán chiếu chúng ta mới thấy rõ thân
là duyên hợp hư giả; từ thân đến tâm cũng xét nó là duyên hợp không thật. Như
vậy cả thân lẫn tâm biết rõ là tướng duyên hợp không thật thì bao nhiêu phiền não
đều hết. Quán chiếu đến đó thì phiền não dứt, Thật tướng Bát-nhã hiện. Như vậy
từ Văn tự đến Quán chiếu, Quán chiếu rồi mới hiện Thật tướng. Chúng ta tu chỉ
mới phần đầu thôi, chỉ Văn tự đã thấy là đủ nên không Quán chiếu, vì thế không
hết phiền não. Quí vị thấy rõ trong kinh Bát-nhã nói: Bồ-tát Quán Tự Tại khi dùng
trí Bát-nhã quán chiếu năm uẩn là không thật liền qua tất cả khổ nạn. Khổ nạn nào
Ngài cũng qua, còn chúng ta vì không quán chiếu nên qua khổ nạn không nổi !
Vậy muốn qua khổ nạn phải quán chiếu chớ không được nói tôi tụng Bát-nhã qua
hết khổ nạn ! Tụng mãi cũng không qua hết, chỉ khi nào quán chiếu như thế mới
hết. Vậy chúng ta thấy rõ trong sự tu hành, muốn diệt phiền não phải dùng trí tuệ
mà diệt, tức là đúng như trong kinh Bát-nhã dạy là hằng dùng trí để quán sát. Như
vậy mới đúng câu: “Mồi đuốc trí tuệ của mình từ đuốc của Phật”. Nhân lời Phật
Tổ dạy, chúng ta đem trí tuệ mình quán chiếu, do đó mới có trí sáng. Nay chúng ta
nghe đọc suông, đọc thuộc lòng, nhưng không quán chiếu thì làm sao có sáng,
không sáng thì làm sao hết phiền não ? Đây là cội gốc của sự tu hành, Tổ dạy
những lẽ thật, chúng ta phải thấy rõ. Thế nên Ngài bảo nếu dứt phiền não thì tự
thấy bản tánh, thấy bản tánh là ngộ, ngộ tức nhiên đến quả vị Phật.
Này Thiện tri thức, trí tuệ quán chiếu trong ngoài sáng suốt, biết bản tâm
mình, nếu biết bản tâm tức là gốc của sự giải thoát. Nếu được giải thoát tức là Bátnhã tam-muội, tức là vô niệm.
Ngài dạy cho chúng ta thấy do dùng trí tuệ Bát-nhã quán chiếu, nên trong
ngoài chúng ta đều rỗng suốt, do đó chúng ta mới nhận ra được bản tâm. Tôi
thường nói với quí vị muốn biết được cái thật thì điều kiện tiên quyết là phải nhận
ra cái giả. Biết được cái giả rõ ràng thì trên cái giả đó mình mới nhận ra mặt thật.
Vì vậy từ Quán chiếu Bát-nhã chúng ta mới thấy được vọng niệm là hư giả, vọng
niệm hết rồi thì tự tánh chân thật mới hiển bày. Tự tánh chân thật hiển bày là mình
thấy được bản tâm của mình; thấy được bản tâm là gốc của giải thoát. Thế nên tôi
thường nói giác ngộ mới giải thoát. Thấy được bản tâm tức là thấy được cái chân
thật, nhân thấy được cái chân thật nên tất cả những vọng tưởng phiền não hư giảkhông còn đủ sức lôi cuốn chúng ta nữa, như vậy mới gọi là thoát ly sanh tử. Nếu
không có giác ngộ thì không bao giờ giải thoát, mà muốn giác ngộ là phải thấy
được cái thật. Muốn thấy cái thật thì trước phải biết cái giả. Muốn biết cái giả phải
dùng trí tuệ Bát-nhã quán chiếu. Chúng ta quán thấy các pháp là duyên hợp hư giả,
nhưng không phải là bi quan, vì chúng ta biết rõ cái giả để nhận ra cái thật, chớ
không phải để chán. Nếu không nhận ra cái thật thì người ta có thể bi quan, còn
chúng ta biết ngay cái giả đó có cái thật, như vậy sự tu mới đưa chúng ta đến chỗ
viên mãn cứu kính. Ngài dạy rằng được giải thoát như thế là được Bát-nhã tammuội, đó là vô niệm.
Sao gọi là vô niệm ? Nếu thấy tất cả pháp mà tâm không nhiễm trước, ấy là
vô niệm.
Thật là đơn giản ! Vô niệm là gì ? Thấy tất cả pháp mà tâm không nhiễm.
Không nhiễm trước là không dính, không mắc. Thấy người, thấy vật, thấy đủ cả,
biết rõ ràng mà không dính mắc nơi người, nơi vật, đó là vô niệm. Còn dính là có
niệm. Suy nghĩ về người, về vật thì sự suy nghĩ đó làm cho chúng ta có niệm
thương ghét… đó là chúng ta dính mắc. Thế nên khi chúng ta thấy tất cả mà không
suy nghĩ việc đó thế này, thế kia v.v… thì đó là vô niệm. Nếu vô niệm thì thế nào ?
Dụng tức khắp tất cả chỗ, cũng không dính mắc tất cả chỗ, chỉ thanh tịnh
nơi bản tâm, khiến sáu thức ra sáu cửa đối trong sáu trần không nhiễm không tạp,
đi lại tự do, thông dụng không kẹt tức là Bát-nhã tam-muội, tự tại giải thoát gọi là
vô niệm hạnh.
Ngài dạy thật là cụ thể. Ngài bảo rằng đối với tất cả pháp mà tâm không
nhiễm, không trước, đó là vô niệm; vì không nhiễm không trước nên dụng khắp tất
cả chỗ nhưng không dính mắc ở tất cả chỗ, chỉ bản tâm mình thanh tịnh. Khi bản
tâm thanh tịnh thì sáu thức ra sáu cửa: Lỗ tai có cái biết của lỗ tai, con mắt cũng có
cái biết của con mắt… , sáu thức ra vào đối tiếp với sáu trần nhưng không dính,
không lẫn trong sáu trần, đi lại tự do, như vậy gọi là Bát-nhã tam-muội. Đừng
nghe nói tam- muội là chánh định rồi tưởng rằng ngồi một chỗ, ngó xuống, tâm
yên hết thì gọi là chánh định Bát-nhã. Làm thế nào sáu căn tiếp xúc sáu trần vẫn
có sáu thức phân biệt, nhưng không dính, không kẹt lẫn trong sáu trần thì đó là
Bát-nhã tam-muội. Như vậy tu Bát-nhã tam-muội dễ hay
khó ? Đâu có bắt chúng ta ngồi một chỗ kềm cho được yên lặng rỗng rang, chỉ làm
sao sáu căn tiếp xúc với sáu trần, có sáu thức theo đó nhưng không dính không kẹt
với sáu trần, đó là Bát-nhã tam-muội. Như thế quí vị có thể cả ngày đi ngoài
đường ngoài chợ mà vẫn Bát-nhã tam-muội như thường. Trái lại nếu bị dính mắc
thì hết tam-muội ! Đấy sự tu hành rõ ràng như thế, nên Ngài nói “khiến cho sáu
thức ra sáu cửa tiếp xúc sáu trần mà không nhiễm, không tạp, đi lại tự do, thông
dụng không kẹt, đó là Bát-nhã tam-muội, tự tại giải thoát gọi là vô niệm hạnh”.
Như vậy không dính không mắc rồi giải thoát tự tại đó gọi là vô niệm hạnh, nghĩa
là cái hạnh vô niệm. Trong khi hành động đối với mọi cảnh, mọi người chúng ta
hằng sống trong vô niệm. Đến đây Ngài mới quở chỗ bệnh:
Nếu trăm vật chẳng nghĩ, chính khi đó khiến cho niệm bặt đi, ấy là pháp
phược, ấy gọi là biên kiến. Qua đoạn này quí vị thấy lối tu của Lục Tổ rõ ràng khác với lối tu của
những người kềm giữ. Ngài nói rằng nếu trăm vật chẳng nghĩ tức là mình chối bỏ
tất cả không dám thấy, không dám biết gì hết, chỉ ngồi một chỗ kềm, đè tâm mình
xuống không cho nó nhớ nghĩ điều gì, chính khi ấy khiến cho niệm bặt đi, nếu
khiến cho niệm bặt là pháp phược. Pháp phược là bị pháp trói. Nghe nói tâm mình
thanh tịnh không động, chúng ta cứ đè cho nó thanh tịnh, không động thì đó là bị
pháp trói, đó là biên kiến chớ chưa phải thấy đạo. Đoạn này phải hiểu kỹ để quí vị
khỏi đâm ra nghi ngờ. Vậy Lục Tổ cho nghĩ hay không cho nghĩ ? Như ngồi suy
nghĩ ông A sớm mai nói cái gì, cô B ban chiều nói điều gì, nghĩ việc này việc kia
v.v… cho là đúng. Chỗ này tôi thấy dễ bị lầm lắm. Tổ bảo trăm vật không nghĩ tức
đè cho niệm bặt đó là biên kiến. Như vậy chúng ta tu thế nào để không phải là biên
kiến ? Tức là phải tu “vô niệm” như Ngài dạy, nghĩa là thấy nghe tất cả mà không
dính không mắc với tất cả. Có người khi ngồi thiền nghe tiếng nói bên ngoài họ sợ
lắm, cho rằng nghe tiếng là động, thấy bóng người đi qua cũng sợ, họ cố đừng
nghe đừng thấy để đè tâm xuống, như vậy là biên kiến. Còn chúng ta ngồi thiền thì
cứ ngồi, người ta nói chúng ta cũng nghe, nhưng không suy nghĩ xem người đó nói
cái gì, khen ai, chê ai… nghe thì biết mình đang nghe. Có ai đi tới cũng thấy và
biết mình đang thấy, chớ không có cái “không biết”. Thành ra hai việc khác nhau,
tôi nói cho quí vị đừng lầm. Nếu ngồi thiền mà sợ tiếng, sợ thấy, sợ tất cả, chỉ đè
tâm mình xuống cho nó lặng, như vậy chỉ có một cách đè thôi, nên không có cái
giác. Trái lại chúng ta ngồi thiền mà hằng giác, tai nghe, mắt thấy, tất cả cơ quan
đều có cảm giác, nhưng không chạy theo trần cảnh bên ngoài. Người ta nói cái gì
mình cũng nghe, biết mà không chạy theo, suy nghĩ thêm cái đó hay dở ra sao, như
vậy không phải là trăm vật không nghĩ. Chỗ này rất tế nhị và đa số người tu hay bị
kẹt trong hai trạng thái: hoặc là không nghĩ tức là đè, hoặc là nghĩ tức là suy nghĩ
đủ thứ… Chúng ta thường bị kẹt vào một trong hai điều đó, chớ không chịu ở
khoảng giữa như Lục Tổ dạy. Chỗ Lục Tổ dạy là thấy nghe đều biết mà không
chạy theo, nghe nói vẫn biết câu nói đó thế nào, người nói là nam hay nữ, biết rõ
ràng nhưng không thêm cái gì trong câu đó; thấy người đi biết người, thấy vật biết
vật, thấy cái gì biết cái ấy nhưng không thêm điều gì trong cái thấy đó. Như vậy
ngồi thiền vẫn tỉnh, vẫn sáng không có đè; hằng thấy hằng biết nên là tỉnh, vì tỉnh
nên với tâm đó mình không bao giờ mất. Nếu chúng ta chỉ đè cho nó lặng xuống
thì một lúc coi như cây khô; nếu nó lặng được như cây khô là vô tri vì không nghe,
không thấy, không biết gì cả, như ngồi chết khô. Cái đó là một sức mạnh nhưng
chính là định của Tiểu thừa, thường trong kinh Đại thừa Phật quở là trầm không
trệ tịch. Còn cái định của Thiền tông, định mà như không định. Người ta nói mình
nghe rõ ràng, nói tiếng nào mình biết tiếng ấy, người ta đi tới đi lui mình thấy rõ
ràng nhưng không chạy theo, đó là định. Bởi vì tâm không dấy khởi, đó là định,
không dấy khởi mà hằng tri hằng giác, đó mới là quí. Chỗ mà Lục Tổ dạy đây là
sáu căn tiếp xúc với sáu trần, sáu thức vẫn ra tiếp nhưng không dính, không mắc
với sáu trần, đó là định, đó là vô niệm, chớ không phải đè là vô niệm. Vì vậy nếu
tu theo Lục Tổ thì ít có dịp ngồi thiền lắm. Khi Lục Tổ còn ở đời, có lần thấy một
ông Tăng ngồi thiền nơi hành lang, Ngài đến kê miệng vào tai thổi phèo một cái; lại một lần khác Ngài thấy một vị Tăng ngồi thiền ở một góc vườn, Ngài cầm gậy
đập. Nhưng sau này các Tổ thấy chúng ta không thực hành nổi lời dạy của Lục Tổ,
sáu căn của chúng ta vừa tiếp xúc thì nó chạy ra hòa với sáu trần rồi, nó dẫn chúng
ta chạy mãi nên chư Tổ bắt ngồi lại cho đỡ một chút. Nhưng việc ngồi của chúng
ta khác hơn, là khi ngồi không có đè, cũng không bặt hết không biết gì, mà là hằng
biết tất cả vật nhưng không chạy theo, nghĩa là kia nói “bách vật bất tư” còn chúng
ta “bách vật hằng tri” nhưng không chạy theo vật nào cả, như thế mới đúng với lời
dạy của Lục Tổ. Hiểu như thế, chúng ta mới thấy Lục Tổ chỉ phương pháp tu rất là
đơn giản, rất là thẳng tắt, đường lối của Lục Tổ là ngay trong cuộc sống hiện tại,
chúng ta hằng hoạt động mà hằng tu, chớ không phải ngồi một chỗ mới tu. Sáu
căn tiếp xúc sáu trần, sáu thức vẫn ra nhưng không bị dính, bị kẹt, đó là thông suốt,
mà thông suốt như vậy gọi là vô niệm hạnh.
Này Thiện tri thức, người ngộ được pháp vô niệm thì muôn pháp đều thông,
người ngộ được pháp vô niệm thì thấy cảnh giới của chư Phật, người ngộ được
pháp vô niệm thì đến địa vị Phật.
Trong đoạn này Tổ khen ngợi pháp môn vô niệm. Người ngộ được pháp
môn vô niệm thì muôn pháp đều thông, nghĩa là pháp nào cũng thấu suốt được.
Vậy muốn đến địa vị Phật, muốn thấy được cảnh giới Phật và muốn thông được tất
cả pháp thì phải tu vô niệm. Vô niệm là gì ? Đoạn trước đã giảng vô niệm là đối
với tất cả cảnh, tất cả xứ, trong tất cả thời mà không dính mắc. Vô niệm là như vậy
và người được như thế là thông tất cả pháp, là thấy được cảnh giới Phật, là đến
được quả vị Phật. Như vậy quí vị thấy thành Phật hình như không khó. Bởi vì đối
với tất cả cảnh mình không dính mắc là được, nhưng không hiểu tại sao chúng ta
không chịu như thế, mà cứ dính mắc hoài ! Đâu cần thêm điều gì, chỉ đừng dính,
đừng mắc là được. Vì vậy khó là tại chúng ta dính mắc, chớ nếu y lời Tổ dạy, gặp
tất cả cảnh mà không dính mắc thì cảnh giới Phật đâu còn khó đối với mình.
Này Thiện tri thức, đời sau người được pháp của ta, đem pháp môn đốn
giáo này, đối với hàng người đồng kiến đồng hành phát nguyện thọ trì như là thờ
Phật.
Ngài nói thêm cho chúng ta biết về sau những người được pháp môn đốn
giáo này tức là pháp môn vô niệm do Tổ dạy, nên đem pháp môn ấy đối với người
mà truyền bá, đối với người đồng tu hành và phát nguyện thọ trì pháp môn đốn
giáo này, những người truyền pháp môn đốn giáo này thì mình thờ kính như là thờ
kính Phật.
Cố gắng tu thân không dám lui sụt thì quyết định vào quả vị Thánh; nhưng
phải truyền trao, từ trước đến giờ, thầm truyền trao phó chớ không được giấu kín
chánh pháp.
Ngài bảo tất cả chúng ta khi nhận hiểu được pháp môn đốn giáo này rồi,
phải y theo sự truyền thừa của các bậc tiền bối mà truyền lại cho kẻ hậu lai, không
được ẩn giấu pháp môn này.
Nếu không phải là hàng đồng kiến đồng hành, ở trong pháp môn khác thì
không được truyền trao, e tổn tiền nhân kia, cứu kính vô ích, sợ người ngu không
hiểu, chê bai pháp môn này rồi trăm kiếp ngàn đời đoạn chủng tánh Phật. Đoạn trước nói gặp người đồng kiến đồng hành, đây nói trường hợp không
phải đồng kiến đồng hành. Chữ tiền nhân kia, ở đây có hai ý: Tiền nhân là người
trước, người hiện đối mặt với mình cũng là người trước, hoặc người thuộc quá khứ
cũng là người trước, trong đoạn này cả hai đều có nghĩa. Đối với người trước như
bậc tôn túc của chúng ta chỉ cho chúng ta pháp môn đốn giáo, pháp đó cao, nay
chúng ta đem chánh pháp cao quí như vậy dạy người trình độ thấp quá, không hợp
nên họ khinh lờn, như vậy là làm cho giá trị người trước bị tổn giảm, đó là tại
chúng ta sai. Đối với người đối diện mình, nếu họ không hiểu nổi pháp môn đốn
giáo, tỉ dụ họ chỉ cần Thầy dạy tu thế nào để đời sau họ sung sướng hơn đời này,
mà chúng ta dạy việc giải thoát, pháp vô niệm thì họ không hiểu gì cả. Như vậy
không có lợi cho họ, không đúng điều họ muốn, dĩ nhiên họ đâm ra chán khinh
pháp cao cả của Phật Tổ, khinh pháp là có tội cũng là tổn giảm cho họ. Thế nên cả
hai đều có tổn giảm. Nhưng ở đây chữ tiền nhân chỉ cho người đối diện nhiều hơn,
vì những câu sau Ngài nói “cứu kính vô ích” nghĩa là chúng ta trao pháp cho họ
rồi làm tổn hại tiền nhân kia, cứu kính là vô ích. “Sợ người ngu không hiểu, chê
bai pháp môn này rồi trăm kiếp ngàn đời đoạn chủng tánh Phật”. Như vậy hình
như nhắm vào người đối diện nhiều hơn. Vì e họ không hiểu rồi khinh chê làm cho
trăm kiếp ngàn đời đoạn chủng tánh Phật. Tại sao ? Ngay nơi tâm mình tức là Phật,
mê là chúng sanh, ngộ là Phật, nay không hiểu, chê pháp đó là sai thì chừng nào
họ tìm ra Phật ? Ngay nơi tâm mình đã có Phật mà không chấp nhận thì bao giờ
tìm ra Phật ? Thế nên đó là làm cho họ trăm kiếp ngàn đời đoạn chủng tánh Phật.
Này Thiện tri thức, tôi có một bài tụng Vô tướng, mỗi người phải tụng lấy,
người tại gia, người xuất gia chỉ y đây mà tu, nếu không tự tu, chỉ ghi nhớ lời của
tôi thì cũng không có ích gì. Nghe tôi tụng đây.
Tổ dạy chung không dạy riêng cho giới nào. Tại gia hay xuất gia, nếu hiểu
được, y như vậy tu đều có lợi, chớ đừng nhớ lời dạy, nhớ suông không có ích gì.
Nhưng đa số chúng ta hiện nay hay thuộc lòng, nghe Tổ nói bài tụng hay quá, cứ
học thuộc làu mà không chịu tu gì cả.
Tiếp theo giải thích từng đoạn bốn câu của bài tụng:
Thuyết thông cập tâm thông,
Như nhật xử hư không,
Duy truyền kiến tánh pháp,
Xuất thế phá tà tông.
Thuyết là chỉ cho giáo lý, tâm chỉ cho Thiền. Mở đầu bài tụng Ngài bảo:
Người học đạo nếu thông cả hai mặt thuyết và tâm thì chẳng khác nào mặt trời ở
giữa hư không. Ngôn ngữ thông, tâm thể cũng thấy được, thì người đó như mặt
trời ở giữa hư không, rọi sáng khắp mọi nơi. Chỉ truyền pháp kiến tánh, ra đời phá
tà tông. Chủ yếu của Lục Tổ là truyền pháp thấy tánh (kiến tánh thành Phật), pháp
đó ra đời để phá những tông tà lệch. Như vậy là nói lập trường, chủ trương của
Ngài, nghĩa là bao nhiêu pháp Ngài chỉ dạy nhắm thẳng chỗ kiến tánh, nếu không
kiến tánh thì chưa đúng chỗ Ngài muốn dạy, kiến tánh tức là nhận ra mình có bản
tánh.
Pháp tức vô đốn tiệm, Mê ngộ hữu trì tật,
Chỉ thử kiến tánh môn,
Ngu nhân bất khả tất.
Ngài bảo pháp không chia là đốn hay tiệm, pháp chỉ như vậy, nhưng đốn
tiệm là tùy theo căn cơ của người. Vì có người mê, có người ngộ nên có mau, có
chậm; mau gọi là đốn, chậm gọi là tiệm. Sở dĩ pháp thành đốn tiệm là tùy căn cơ
mê ngộ của người. Nhưng pháp kiến tánh này người ngu không thể hiểu. Tại sao ?
Bởi vì chỉ thẳng bản tánh cho họ, nếu họ mê không nhận thì làm sao hiểu được.
Thế nên phải nhận ra được bản tánh mình mới hiểu được pháp của Tổ dạy.
Thuyết tức tuy vạn ban,
Hiệp lý hoàn quy nhất,
Phiền não ám trạch trung,
Thường tu sanh tuệ nhật.
Nói tuy có muôn thứ nhưng hợp với lý, trở về lý thì chỉ có một. Ở trong nhà
tối phiền não, thường phải sanh mặt trời trí tuệ. Ngài nói về danh ngôn thì có
muôn thứ, nhưng về lý thật thì chỉ có một, chớ không có nhiều. Dụ như hiện nay
chúng ta học nào là Chân tâm, Phật tánh, nào là Niết-bàn, Chân như v.v… tên thì
cả trăm, nhưng về lý thì chỉ một sự thật đó thôi, chớ không có cái khác. Vì tùy chỗ
mà đặt tên nên kinh luận đặt rất nhiều tên gọi là thuyết, tức là trên danh ngôn, chớ
đến chỗ chân thật chỉ có một, nên nói lý thì trở về một. Điểm quan trọng nhất là
ngay trong nhà tối phiền não, chúng ta phải làm sao cho mặt trời trí tuệ xuất hiện.
Đó mới là việc quan trọng trong sự tu hành. Hiện nay nhà chúng ta tối hay sáng ?
Tối thì phải cho mặt trời trí tuệ mọc lên sẽ hết tối, chớ không có gì khác.
Tà lai phiền não chí,
Chánh lai phiền não trừ,
Tà chánh câu bất dụng,
Thanh tịnh chí vô dư.
Tà đến thì phiền não theo đó sanh, chánh đến thì phiền não hết. Tại sao tà
lai phiền não chí ? Ví như trước mặt chúng ta có người để một vật quí, xong họ đi
vắng. Nếu khi ấy chúng ta dấy niệm tà thì thế nào ? Bao nhiêu phiền não từ đó
sanh. Nếu cũng vật đó, người chủ vắng mặt, nhưng chúng ta có niệm chánh thì
phiền não hết. Như chúng ta vừa có niệm tà, muốn có vật quí ấy thì phiền não dấy
lên; nếu niệm chánh đến, chúng ta tự trách sao mình lại xấu như vậy thì bao nhiêu
phiền não cũng theo đó hết. Như vậy chỉ có một niệm thôi, nhưng sai đi thì bao
nhiêu phiền não dẫn đến. Thế nên trong kinh thường nói “Nhất ba tài động vạn ba
tùy”, tức là một lượn sóng vừa nổi lên, muôn lượn sóng kéo theo. Cũng thế, một
niệm sai thì bao nhiêu niệm khác dẫn, cho nên vừa có một niệm sai là phải dẹp và
phiền não cũng theo đó dứt, như vậy là lấy chánh độ tà. Trong tương đối phải như
thế, nhưng đến chỗ cứu kính thì sao ? Cả tà lẫn chánh đều không dùng, mới hoàn
toàn thanh tịnh không còn thừa gì nữa cả. Vậy là tu từ cái đối đãi, lần lần đến chỗ
vượt khỏi đối đãi. Hiện nay chúng ta trong giai đoạn đầu khéo ứng dụng cái đối
đãi mà tu, rồi lần lần sẽ đi tới chỗ hết đối đãi. Tóm lại, Ngài chỉ cho chúng ta tu từcái đối đãi, khéo tu thì phiền não hết, rồi cả hai bên tà chánh đều buông thì lúc đó
mới là hoàn toàn thanh tịnh.
Bồ-đề bản tự tánh,
Khởi tâm tức thị vọng,
Tịnh tâm tại vọng trung,
Đãn chánh vô tam chướng.
Bồ-đề là giác, cái giác đó ở đâu ? Vốn là tự tánh của mình. Giác vốn không
phải cái gì xa, mà ngay nơi tự tánh của chúng ta, cho nên kiến tánh là thấy Bồ-đề,
là giác. Khởi tâm tức là vọng. Như vậy tự tánh hằng tri hằng giác là Bồ-đề, vừa
dấy niệm lên là vọng. Tâm tịnh ở trong vọng, chỉ ngay đó mà chánh lại thì không
có ba chướng. Ba chướng là gì ? Là nghiệp chướng, phiền não chướng, báo
chướng. Nghiệp chướng là những thói quen, việc làm của mình. Thí dụ như chúng
ta quen hút thuốc, ngày nào không có thuốc thì ngáp tới ngáp lui đó là nghiệp
chướng, vì cái nghiệp quen hút thuốc nay thiếu, nó sanh chướng làm phiền mình.
Đó là nói nghiệp nhỏ, nghiệp lớn cũng vậy. Phiền não chướng tức tham sân si. Báo
chướng tức là thân bệnh hoạn, muốn tu, muốn làm lành làm công đức, nhưng cứ
bệnh mãi nên tu không được. Đa số người tu hiện nay bị ba chướng làm khổ sở
làm trở ngại, có người thì bị nghiệp chướng thói quen dẫn chạy hoài, dừng không
nổi; có người bị phiền não chướng, mỗi lần nghe người nói thế này, thế kia là nổi
sân lên; có người không có hai chướng trên nhưng thân cứ đau mãi. Nay muốn hết
ba chướng, phải làm sao ? Phải ngay trong vọng mà tâm mình thanh tịnh thì ba
chướng hết, nghĩa là những vọng tưởng lặng, tâm thanh tịnh hiện thì chướng dứt.
Vì sống với tâm thanh tịnh thì không có báo chướng, cũng không có nghiệp
chướng, cũng không cả phiền não chướng. Trái lại sống với thân này là bị báo
chướng, nghiệp chướng… Tóm lại, Ngài chỉ cho chúng ta biết rõ bản tánh mình là
Bồ-đề, bản tánh mình là cái hằng tri hằng giác sẵn có. Chưa dấy niệm thì bản tánh
đó là Bồ-đề, vừa dấy niệm là vọng, vọng lặng, tâm thanh tịnh thì thoát khỏi ba
chướng. Thật dễ dàng như vậy đó !
Thế nhân nhược tu đạo,
Nhất thiết tận bất phòng,
Thường tự kiến kỷ quá,
Dữ đạo tức tương đương.
Người đời nếu muốn tu hành thì tất cả trọn không có chướng ngại. Ai tu
cũng được cả, nhưng muốn tu hành cho dễ, trước thường tự thấy lỗi mình. Nếu
thường thấy lỗi của mình tức là hợp với đạo. Trên thế gian này ai cũng tu được cả,
không có lựa người nào, nhưng muốn tu cho gần với đạo là phải thường thấy lỗi
của mình. Thí dụ như đang đi, vừa khởi một niệm gì liền biết niệm là sai, dừng nó
lại, thường thấy như vậy là cùng đạo tương đương. Trái lại, thì cùng đạo không
tương đương.
Sắc loại tự hữu đạo,
Các bất tương phòng não.
Ly đạo biệt mích đạo,
Chung thân bất kiến đạo. Các loại có hình sắc tự có đạo, mỗi cái không phòng não nhau, không làm
chướng ngại nhau, nếu lìa đạo riêng tìm đạo, tức lìa sắc loại v.v… tìm đạo thì trọn
đời không bao giờ thấy đạo. Tại sao sắc có đạo ? Thí dụ như cái đồng hồ này có
đạo không ? Nếu thấy đồng hồ mà chúng ta không dấy niệm gì cả thì có đạo, còn
nếu thấy đồng hồ mà sanh niệm xấu tốt thì không có đạo. Như vậy trên thế gian
này tất cả hình sắc đều không có gì chướng ngại, không có lỗi lầm, chỉ tại tâm
chúng ta chạy theo cảnh nên thành chướng ngại, thành lỗi lầm. Nếu tâm không
theo cảnh thì cảnh đâu có lỗi lầm gì, khi ấy thấy cái gì cũng là thấy đạo cả, cho
nên gọi là “Kiến sắc minh tâm”, thấy sắc biết là mình có cái hay thấy tức nhiên là
thấy đạo rồi ! Như vậy cái gì không phải đạo ? Đâu phải thấy đạo là không thấy gì
cả, nhà cửa cây cối người vật đều là hiện tướng của đạo, nếu tâm mình thấy mà
không dính không mắc. Trái lại nếu tâm mình dính mắc thì đó là chướng ngại, chớ
không phải là đạo. Thế nên, nói tất cả sắc loại đều là đạo. Chúng ta thường nói:
Thế gian này trần tục lắm, cái gì cũng không có đạo lý hết, khó tu lắm ! Phải đi
đâu tu mới hết thấy người, thấy cảnh ? Lên trên núi ở một mình nhưng hết gạo
cũng phải xuống núi gặp người thế gian, quần áo rách rưới cũng phải xuống thế
gian… như vậy trốn ở đâu bây giờ ? Sao bằng ngay trong thế gian này chúng ta
thấy tất cả đều là đạo, như thế mới tu được, chớ trốn tất cả cảnh để cầu đạo thì khi
nào được ? Vì thế Tổ bảo: Ly đạo biệt mích đạo, Chung thân bất kiến đạo, tức là
lìa đạo, lìa cái hiện hữu ở đây đi tìm đạo nơi nào khác thì trọn đời không bao giờ
thấy đạo. Có nhiều người tu không bao giờ hài lòng, ở thành thị thì nói thành thị
ồn quá, muốn đến thôn quê ở, về thôn quê cũng thấy những cái phiền của thôn quê,
muốn vào trong núi cũng gặp những cái phiền của núi… Sự thật đi suốt kiếp cũng
không có chỗ nào như ý mình được, vì mỗi chỗ có cái phiền khác nhau, chỉ là
ngay đó chúng ta đừng dính đừng kẹt thì đó là đạo, đạo ngay trong thế gian.
Ba ba độ nhất sanh,
Đáo đầu hoàn tự áo,
Dục đắc kiến chân đạo,
Hạnh chánh tức thị đạo.
“Ba ba độ nhất sanh” tức là lăng xăng qua một đời, nay ở chỗ này, mai dời
chỗ kia, trọn một đời chưa tìm được chỗ ở. “Đáo đầu hoàn tự áo” là rốt cuộc rồi
cũng tự phiền, tự buồn, không hài lòng. Muốn thấy đạo chân thật, hạnh chánh đó
là đạo rồi, chớ không tìm đâu cả, nghĩa là trong mọi cảnh chúng ta đừng dính mắc
bên này bên kia thì đó là đạo. Ngay cái chánh này là đừng dính mắc hai bên có
không, phải quấy, tốt xấu, thì ngay đó là đạo. Trái lại nếu chúng ta còn có tâm
niệm dính mắc, dù chạy vào rừng hay lên núi lên non cũng không bao giờ thấy đạo.
Như vậy là quá rõ ! Chúng ta phải biết như vậy mà tu. Có những người cứ lăng
xăng nay chỗ này mai nơi kia để tìm đạo, rốt cuộc làm gì có đạo. Thế nên Ngài
dạy lăng xăng qua một đời, cuối cùng rồi tự phiền muộn; muốn thấy đạo chân thật
không gì hơn là hạnh đúng đắn tức là hạnh không kẹt vào bên này hoặc bên kia thì
đạo hiện tiền.
Tự nhược vô đạo tâm,
Ám hạnh bất kiến đạo, Nhược chân tu đạo nhân,
Bất kiến thế gian quá.
Ám hạnh tức là hạnh mờ tối. Tổ dạy vì trong tâm mình không có đạo nên
hạnh mình mờ tối, do đó không thấy đạo. Nếu người chân chánh tu hành thì không
thấy lỗi của thế gian. Trong đoạn trước Ngài bảo người nào không thấy lỗi của kẻ
khác thì người đó gần với đạo, tương đương với đạo. Trong đoạn này Ngài nhắc
người chân chánh tu hành là không thấy lỗi thế gian. Còn chúng ta hiện nay thế
nào ? – Thấy lỗi người nhiều quá ! Ở chung năm, ba chị em thì chị nào cũng có lỗi
cả. Ngồi lại nói chuyện với người khác thì chị số một lỗi này, chị số hai lỗi kia, chị
số ba lỗi nọ… chỉ có mình là không kể lỗi. Vì thấy lỗi thế gian nhiều quá nên
không làm sao gần đạo được. Thế nên Ngài dạy người tu hành chân chánh phải
không thấy lỗi của thế gian.
Nhược kiến tha nhân phi,
Tự phi khước thị tả,
Tha phi ngã bất phi,
Ngã phi tự hữu quá.
Trong đoạn này Ngài chỉ thẳng cho chúng ta thấy căn bản của sự tu hành.
Nếu thấy lỗi của người khác thì lỗi của chính mình đã tới bên tả, tức là bên cạnh
rồi. Người khác quấy, ta chẳng quấy, ta quấy tự nhiên ta có lỗi. Nếu cứ thấy lỗi
người này người kia, đến đâu cũng kể lỗi người tức mình đã có lỗi, lỗi của mình
đã sờ sờ đó rồi ! Điều đó dễ hiểu lắm. Người lỗi ta chẳng lỗi, ta quấy tự ta có lỗi.
Tại sao người lỗi mà ta không lỗi ? Tức là người đó có cái dở, nhưng là chuyện
của họ, chúng ta đừng can thiệp vào, như vậy họ có lỗi mà ta không lỗi. Tại sao cả
ngày chúng ta cứ làm việc thiên hạ, đi xóm này nói chuyện của xóm kia, đi xóm
kia nói chuyện của xóm này. Chúng ta không tự thấy lỗi mà cứ thấy lỗi của người,
rồi chen vào việc của họ, nếu chúng ta chen vào lỗi của người thì ta thành có lỗi.
Nếu chúng ta có lỗi thì tự thấy rồi tự sửa, tại sao chỉ thấy lỗi của người rồi đem
mách người này người kia chi cho thêm phiền, cho thành lỗi ? Thật ra hầu hết
chúng ta đều có bệnh hay đem chuyện người ra nói, còn chuyện của mình, điều
hay thì nói, điều dở thì giấu kín, từ đó sanh ra tự cao. Vì thấy người có lỗi nên ai
cũng thua mình, còn lỗi mình thì giấu mất nên thấy mình cao hơn thiên hạ, đó là
ngã mạn. Trái lại, chúng ta thấy lỗi mình thì đâu có tự cao, đâu dám tự xưng ta
hơn người; không thấy lỗi người thì đâu dám xem người thấp, đâu biết ai dở mà
dám khi, như vậy ngã mạn theo đó hết. Việc tu hành tế nhị như vậy, nếu thấy lỗi
người mà không thấy lỗi mình thì sanh ngã mạn, đó là bệnh làm cho người tu bị
chướng ngại.
Đãn tự khước phi tâm,
Đả trừ phiền não phá,
Tắng ái bất quan tâm,
Trường thân lưỡng cước ngọa.
Tổ nói thật là dễ dàng, chỉ tự mình dẹp lỗi nơi tâm mình, trừ hết các phiền
não, yêu ghét đều không bận lòng thì duỗi thẳng hai chân ngủ. Thương ghét không
có bận lòng thì duỗi thẳng hai chân ngủ khò ! Chúng ta ngủ không được là tại còn thương ghét. Người thương mà xa thì nhớ ngủ không được, người ghét mà gần
cũng tức ngủ không được. Như vậy hai việc làm cho chúng ta ăn không ngon, ngủ
không yên là thương và ghét, nay thương ghét không bận lòng thì duỗi chân ngủ.
Đức Phật cũng đã dạy người nào không bận đến chuyện thương ghét, hơn thua thì
người đó ngủ ngon. Đoạn này Tổ cũng nói như vậy, ai mà yêu ghét không bận
trong lòng thì duỗi thẳng hai chân nằm ngủ. Người đến giờ ngủ, duỗi chân ngủ
khò, đó là người sung sướng. Chắc ai cũng muốn vậy mà làm không được là vì bỏ
hai điều thương ghét chưa được, bỏ không được nên ngủ hết ngon ! Đó là sự thật
trăm phần trăm.
Dục nghĩ hóa tha nhân,
Tự tu hữu phương tiện,
Vật linh bỉ hữu nghi,
Tức thị tự tánh hiện.
Tiếp theo Ngài dạy muốn lợi tha, muốn nghĩ giáo hóa người khác thì tự
mình phải có phương tiện, tức là mình phải thông phải hiểu, như đoạn trước nói
thuyết thông, tâm thông, đó là phương tiện đầu. Muốn giáo hóa người mà mình
chưa có gì cả thì dạy người điều gì ? Nhiều khi dạy không đúng khiến người đi
quàng trong lùm bụi càng khổ hơn, cho nên muốn giáo hóa người thì trước chúng
ta phải có phương tiện, chớ khiến người kia còn nghi ngờ. Dạy là để giải quyết
nghi ngờ cho người thấy đạo, nếu chúng ta dạy mà người càng nghi, không biết
Thầy dạy có đúng lời Phật dạy không, thử hỏi dạy làm gì ? Nếu họ không còn nghi
tức là tự tánh hiện. Chúng ta dạy cho họ hết nghi ngờ, tâm không còn thắc mắc
băn khoăn thì phiền não lặng, phiền não lặng thì tự tánh hiện, đó là căn bản giáo
hóa.
Bốn câu kệ tiếp theo đây, hầu hết người đọc kinh Pháp Bảo Đàn đều thuộc.
Phật pháp tại thế gian,
Bất ly thế gian giác,
Ly thế mích Bồ-đề,
Kháp như cầu thố giác(Có quyển khác ghi là “Kháp như tầm thố giác”.).
Phật pháp ở ngay nơi thế gian này, chớ không ở đâu xa lạ. Không thể lìa thế
gian mà có sự giác ngộ. Đức Phật giác ngộ ngay nơi thân này, cảnh này. Vậy thì
chúng ta giác ngộ cũng là giác ngộ ngay thân cảnh này. Tỉ dụ như ngay trong thân
này chúng ta biết cái nào là giả, cái nào là thật, thấy được chân tánh của mình thì
đó là giác ngộ. Ngay nơi cảnh này chúng ta biết cái gì là tướng duyên hợp, biết rõ
nó thì đó là giác. Như vậy là giác trên cảnh hiện tại, ngay nơi thân hiện tại. Thế
nên nói: Không lìa thế gian mà có giác ngộ, nếu lìa thế gian mà tìm Bồ-đề (tức là
cầu giác ngộ) giống như chúng ta tìm cái sừng của con thỏ. Tìm chừng nào được ?
Chính đoạn này nói lên tinh thần thực tế của Lục Tổ, Ngài chỉ cho chúng ta thấy rõ
sự thật là như thế. Không phải chỉ Lục Tổ mà chư Tổ và cả đức Phật cũng là giác
ngộ ngay nơi cảnh thế gian, vì thế bao nhiêu lời dạy của Phật, bao nhiêu kinh điển
cũng chỉ thẳng cho chúng ta thấy được lẽ thật của cảnh thế gian này. Nếu bỏ thế
gian mà tìm giác ngộ thì đó là chuyện xa xôi, vô nghĩa. Như vậy chủ yếu chúng ta
muốn giác ngộ là phải giác ngộ ngay nơi thế gian. Chánh kiến danh xuất thế,
Tà kiến thị thế gian,
Tà chánh tận đả khước,
Bồ-đề tánh uyển nhiên.
Chánh kiến gọi là xuất thế, tà kiến gọi là thế gian. Tại sao ? Tà kiến là thấy
lệch tức là hiểu lệch, kẹt vào hai bên, hoặc là chấp có chấp không, hoặc là chấp
phải chấp quấy… Chấp lệch một bên là thế gian. Chánh kiến tức là thấy đúng, thấy
không kẹt vào hai bên, đó là xuất thế. Cả hai “chánh” và “tà” đều dẹp hết thì tánh
Bồ-đề hiện rõ ràng không nghi ngờ. Trong những đoạn trước Ngài nói yêu ghét
không bận lòng thì ngủ ngon, hoặc tà chánh đều không dùng thì thanh tịnh đến vô
dư. Trong đoạn này Ngài lặp lại một lần nữa: Cả hai “tà, chánh” đều dẹp thì tánh
Bồ-đề sáng rỡ. Như vậy chúng ta thấy cốt yếu muốn tánh Bồ-đề hiện thì đừng kẹt
hai bên, chớ không có gì lạ.
Thử tụng thị đốn giáo,
Diệc danh đại pháp thuyền,
Mê văn kinh lụy kiếp,
Ngộ tắc sát-na gian.
Bài tụng này gọi là đốn giáo, cũng gọi là thuyền đại pháp, thuyền pháp lớn.
Người mê nghe thì trải qua nhiều kiếp, còn người ngộ nghe thì chỉ trong khoảng
sát-na liền ngộ.
Tóm lại trong bài tụng này Ngài chỉ thẳng cho chúng ta biết rõ đâu là mê,
đâu là ngộ. Tôi giản trạch chủ yếu Ngài dạy chúng ta tu hành là đừng kẹt ở hai bên.
Giai đoạn đầu khi tu phải giữ cái chánh bỏ cái tà, tà đến thì dẹp, chánh đến
thì giữ, dùng chánh phá tà, khi tà hết rồi thì cái chánh cũng phải buông, tà chánh
đều không dùng thì đến chỗ thanh tịnh.
Thứ hai là phải thấy mình chớ đừng thấy người. Thấy lỗi mình nghĩa là
thấy từ vọng tưởng cho đến hành động, ngôn ngữ, điều gì sơ sót mình phải sửa. Tu
là sửa, nếu không thấy lỗi thì làm sao sửa ? Thế nên từ tâm niệm đến thân miệng,
thấy được điều gì sai, điều gì lỗi thì sửa, đó là tu. Trái lại thấy người mà không
thấy mình, đó là lỗi, đó là tạo nghiệp. Vì vậy muốn gần với đạo, người tu phải
hằng thấy mình, đúng tinh thần nhà Thiền gọi là phản quan tự kỷ. Phản quan tức là
soi lại, tự kỷ là chính mình, hằng soi lại chính mình, nhờ soi lại mới thấy mình lỗi,
đó là tu. Chúng ta có tật là hay soi ra ngoài, con mắt luôn nhìn ra, vì thế chỉ thấy
người khác mà không thấy mình. Nay phải nhìn trở vào, soi trở lại mình để thấy
từng hành động, từng tâm niệm, thấy như vậy mới tu được, còn nếu chỉ thấy người
là tu không được. Thế nên người tu Thiền là phải phản quan, đó là gốc của sự tu
hành. Người nào thấy được mình thì cùng với đạo tương đương, tức là gần với đạo.
Điểm thứ ba, Ngài dạy chúng ta tu thì phải hằng dùng tâm chân chánh dẹp
bỏ những tâm tà vạy, nhất là làm sao dứt sạch các thứ phiền não. Muốn dẹp sạch
phiền não thì đừng bận lòng về sự yêu ghét. Yêu ghét không bận lòng thì phiền
não theo đó dứt, trái lại nếu bận lòng về yêu ghét thì phiền não không dứt.
Điểm thứ tư, Ngài chỉ thẳng cho chúng ta thấy tu là tu ngay trong thế gian
này chớ không phải ở nơi nào khác. Ngay trên thế gian mà tỉnh giác đó là tu, nếu bỏ thế gian để tìm nơi huyền bí nào, bỏ thế gian để cầu giác ngộ (thí dụ như xuất
hồn vào trong hư không để tìm đạo) thì đối với Tổ cũng như tìm lông rùa, sừng
thỏ. Phải ngay thế gian mà giác chớ đừng tìm cầu ở đâu xa.
Chúng ta thấy bài tụng tuy dài nhưng có thể tóm lại mấy điểm chánh yếu để
làm then chốt cho sự tu hành. Nếu chúng ta hằng thấy hằng biết như vậy là chúng
ta hằng tu, quí vị nhớ kỹ biết như vậy là tu, chớ không phải thuộc lòng bài tụng
này là tu. Tôi nhắc lại một lần nữa: Yếu chỉ của Ngài dạy chúng ta là đừng thấy lỗi
người mà phải thấy lỗi mình (điểm này tuy ở giữa nhưng đúng ra phải ở đầu) vì
thấy như vậy rất cần thiết cho sự tu, kế đó phải bỏ hai bên, tà chánh đều buông,
tiếp đến cả tắng ái cũng phải dẹp, sau cùng thấy rõ thế gian là đạo, chớ không phải
tìm đạo ở ngoài thế gian.
Tổ lại bảo: “Nay ở chùa Đại Phạm nói pháp đốn giáo này, khắp nguyện cả
pháp giới chúng sanh ngay lời nói này đều được thấy tánh thành Phật”. Khi ấy Vi
Sử quân cùng quan liêu đạo tục nghe Tổ nói, không ai mà chẳng tỉnh ngộ, đồng
thời làm lễ đều tán thán: “Lành thay ! Đâu ngờ ở Lãnh Nam có Phật ra đời !”
Mọi người đều hoan hỉ tán thán: Đâu ngờ ở Lãnh Nam có Phật ra đời. Vì
những lời Tổ nói giống như lời Phật dạy nên khen Ngài cũng như là Phật vậy. Tất
cả không ai mà chẳng tỉnh ngộ, quí vị nghe có tỉnh chưa ? Điều đó là cần đấy !
Phải rán tỉnh !
DPHẨM THỨ BA: NGHI VẤN
DỊCH
Một hôm Vi Thứ sử vì Tổ thiết đại hội trai, trai xong, Thứ sử thỉnh Tổ đăng
tòa, quan liêu sĩ thứ đều thành kính lễ bái, hỏi rằng: “Đệ tử nghe Hòa thượng
thuyết pháp, thật không thể nghĩ bàn, nay có một ít nghi, cúi mong Ngài đại từ đại
bi đặc biệt vì giải nói.”
Tổ bảo: “Có nghi liền hỏi, tôi sẽ vì các ông mà nói.”
Thứ sử thưa: “Hòa thượng nói pháp, đâu không phải là tông chỉ của Tổ
Đạt-ma ư ?”
Tổ bảo: “Đúng vậy !”
Thứ sử thưa: “Đệ tử nghe Tổ Đạt-ma khi mới đến vua Lương Võ Đế, Võ
Đế hỏi: Trẫm một đời cất chùa độ Tăng, bố thí thiết trai có những công đức gì ?
Tổ Đạt-ma bảo: Thật không có công đức. Đệ tử chưa thấu được lẽ này, cúi mong
Hòa thượng vì nói.”
Tổ bảo: “Thật không có công đức, chớ nghi lời của bậc tiên Thánh. Võ Đế
tâm tà, không biết chánh pháp, cất chùa độ Tăng, bố thí, thiết trai đó gọi là cầu
phước, chớ không thể đem phước đổi làm công đức. Công đức là ở trong pháp
thân, không phải do tu phước mà được.” Tổ lại nói: “Thấy tánh là công, bình đẳng
là đức, mỗi niệm không ngưng trệ, thường thấy bản tánh, diệu dụng chân thật gọi
là công đức. Trong tâm khiêm hạ là công, bên ngoài hành lễ phép là đức; tự tánh
dựng lập muôn pháp là công, tâm thể lìa niệm là đức; không lìa tự tánh là công,
ứng dụng không nhiễm là đức. Nếu tìm công đức pháp thân, chỉ y nơi đây mà tạo
là chân công đức. Nếu người tu công đức, tâm tức không có khinh, thường hành
khắp kỉnh. Tâm thường khinh người, ngô ngã không dứt tức là không công, tự
tánh hư vọng không thật tức tự không đức, vì ngô ngã tự đại thường khinh tất cả.
Này Thiện tri thức, mỗi niệm không có gián đoạn là công, tâm hành ngay thẳng là
đức, tự tu tánh là công, tự tu thân là đức. Này Thiện tri thức, công đức phải là nơi
tự tánh mà thấy, không phải do bố thí cúng dường mà cầu được. Ấy là phước đức
cùng với công đức khác nhau. Võ Đế không biết chân lý, không phải Tổ Sư ta có
lỗi.”
Thứ sử lại hỏi: “Đệ tử thường thấy Tăng tục niệm Phật A-di-đà, nguyện
sanh Tây phương, thỉnh Hòa thượng nói, được sanh nơi cõi kia chăng ? Nguyện vì
phá cái nghi này.”
Tổ bảo: “Sử quân khéo lắng nghe, Huệ Năng sẽ vì nói. Thế Tôn ở trong
thành Xá-vệ nói Tây phương dẫn hóa, văn kinh rõ ràng cách đây không xa. Nếu
luận về tướng mà nói, số dặm có mười muôn tám ngàn, tức là trong thân có mười
ác và tám tà, liền là nói xa, nói xa là vì kẻ hạ căn, nói gần là vì những người
thượng trí. Người có hai hạng nhưng pháp không có hai thứ, mê ngộ có khác, thấy
có mau chậm. Người mê niệm Phật cầu sanh về cõi kia, người ngộ tự tịnh tâm
mình, sở dĩ Phật nói: Tùy tâm tịnh liền được cõi Phật tịnh. Sử quân, người phương
Đông chỉ tâm mình tịnh liền không có tội, tuy người phương Tây tâm không tịnh cũng có lỗi. Người phương Đông tạo tội niệm Phật cầu sanh về phương Tây, còn
người phương Tây tạo tội, niệm Phật cầu sanh cõi nào ? Phàm ngu không rõ tự
tánh, không biết trong thân Tịnh độ, nguyện đông, nguyện tây, người ngộ ở chỗ
nào cũng vậy, cho nên Phật nói: Tùy chỗ mình ở hằng được an lạc. Sử quân, tâm
địa chỉ không có bất thiện thì Tây phương cách đây không xa. Nếu ôm lòng chẳng
thiện, niệm Phật vãng sanh khó đến. Nay khuyên Thiện tri thức trước nên dẹp trừ
thập ác tức là đi được mười muôn, sau trừ tám cái tà bèn qua được tám ngàn, mỗi
niệm thấy tánh thường hành bình trực, đến như trong khảy móng tay, liền thấy đức
Phật A-di-đà. Sử quân, chỉ hành mười điều thiện đâu cần lại nguyện vãng sanh,
không đoạn tâm thập ác thì Phật nào đón tiếp. Nếu ngộ được đốn pháp vô sanh,
thấy Tây phương chỉ trong khoảng sát-na. Còn chẳng ngộ, niệm Phật cầu sanh thì
con đường xa làm sao đến được ! Huệ Năng vì mọi người dời cõi Tây phương
trong khoảng sát-na ở trước mắt khiến cho quí vị được thấy, quí vị có muốn thấy
hay chăng ?”
Chúng đều đảnh lễ thưa rằng: “Nếu ở cõi này mà thấy được thì đâu cần
phải nguyện vãng sanh, nguyện Hòa thượng từ bi liền hiện Tây phương khiến cho
tất cả được thấy.”
Tổ bảo: “Này Đại chúng ! Người đời tự sắc thân là thành, mắt tai mũi lưỡi
là cửa, ngoài có năm cửa, trong có cửa ý. Tâm là đất, tánh là vua, vua ở trên đất
tâm, tánh còn thì vua còn, tánh đi mất thì vua mất; tánh ở thì thân tâm còn, tánh đi
thì thân tâm hoại. Phật nhằm trong tánh mà tạo, chớ hướng ra ngoài mà cầu. Tự
tánh mê tức là chúng sanh, tự tánh giác tức là Phật, từ bi tức là Quán Thế Âm, hỉ
xả gọi là Đại Thế Chí, hay tịnh tức là đức Thích-ca, bình trực tức là Phật Di-đà.
Nhân ngã ấy là Tu-di, tà tâm là biển , phiền não là sóng mòi, hại là rồng dữ, hư
vọng là quỉ thần, trần lao là rùa trạnh, tham sân là địa ngục, ngu si là súc sanh.
Này Thiện tri thức, thường làm mười điều lành thì thiên đường liền đến, trừ nhân
ngã thì núi Tu-di ngã, dẹp được tham dục thì biển nước độc khô, phiền não không
thì sóng mòi mất, hại trừ thì rồng cá đều dứt. Ở trên tâm địa mình là giác tánh
Như Lai phóng đại quang minh, ngoài chiếu sáu cửa thanh tịnh hay phá sáu cõi
trời dục, tự tánh trong chiếu ba độc tức liền trừ địa ngục v.v… các tội một lúc đều
tiêu diệt, trong ngoài sáng tột, chẳng khác với cõi Tây phương, không chịu tu như
thế này làm sao đến được cõi kia ?”
Đại chúng nghe nói rồi đều rõ ràng thấy được tự tánh, thảy đều lễ bái, đều
tán thán: “Lành thay !” Thưa rằng: “Khắp nguyện pháp giới chúng sanh nghe một
thời liền ngộ hiểu.”
Tổ bảo: “Này Thiện tri thức, nếu muốn tu hành, tại gia cũng được, không
cần ở chùa, người tại gia mà hay hành như người ở phương Đông mà tâm được
thiện, còn người ở chùa mà không tu cũng như người ở phương Tây mà tâm ác.
Chỉ tâm thanh tịnh tức là tự tánh Tây phương.”
Thứ sử Vi Cừ lại hỏi: “Người tại gia làm sao tu hành ? Cúi xin Ngài vì chỉ
dạy.” Tổ bảo: “Tôi vì Đại chúng làm một bài tụng Vô Tướng, chỉ y đây mà tu,
thường cùng tôi đồng ở không khác, nếu không tu như thế này dù có cạo tóc xuất
gia đối với đạo cũng không có ích gì. Tụng rằng:
Tâm bình không nhọc giữ giới,
Hạnh thẳng không cần tu thiền,
Ân thì nuôi dưỡng cha mẹ,
Nghĩa thì trên dưới thương nhau.
Nhường thì trên dưới hòa mục,
Nhẫn thì các ác không ồn,
Nếu hay dùi cây ra lửa,
Trong bùn quyết mọc sen hồng.
Đắng miệng tức là thuốc hay,
Nghịch tai là lời ngay thẳng,
Sửa lỗi ắt sanh trí tuệ,
Giữ quấy trong tâm không hiền.
Mỗi ngày thường làm lợi ích,
Thành đạo không do thí tiền,
Bồ-đề chỉ hướng tâm tìm,
Đâu nhọc hướng ngoại cầu huyền.
Nghe nói y đây tu hành,
Cực lạc chỉ ngay trước mắt.”
(Tâm bình hà lao trì giới,
Hạnh trực hà dụng tu thiền,
Ân tắc thân dưỡng phụ mẫu,
Nghiã tắc thượng hạ tương lân.
Nhượng tắc tôn ti hoà mục,
Nhẫn tắc chúng ác vô huyên,
Nhược năng toản mộc xuất hoả,
Ứ nê định sanh hồng liên.
Khổ khẩu đích thị lương dược,
Nghịch nhĩ tức thị trung ngôn,
Cải quá tức sanh trí tuệ,
Hộ đoản tâm nội phi hiền.
Nhật dụng thường hành nhiêu ích,
Thành đạo phi do thí tiền,
Bồ đề chỉ hướng tâm mích,
Hà lao hướng ngoại cầu huyền.
Thính thuyết y thử tu hành,
Tây phương chỉ tại mục tiền.)
Tổ lại bảo: “Này Thiện tri thức, thảy phải y kệ đây mà tu hành, nhận lấy tự
tánh, thẳng đó thành đạo. Pháp không đợi nhau, mọi người hãy giải tán, tôi trở về
Tào Khê, chúng nếu có nghi, lại đến hỏi nhau.” Khi ấy Thứ sử quan liêu ở trong hội, kẻ thiện nam tín nữ mỗi người đều
được khai ngộ, tin thọ vâng làm.
GIẢNG
Một hôm Vi Thứ sử vì Tổ thiết đại hội trai, trai xong, Thứ sử thỉnh Tổ đăng
tòa, quan liêu sĩ thứ đều thành kính lễ bái, hỏi rằng: “Đệ tử nghe Hòa thượng
thuyết pháp, thật không thể nghĩ bàn, nay có một ít nghi, cúi mong Ngài đại từ đại
bi đặc biệt vì giải nói.”
Tổ bảo: “Có nghi liền hỏi, tôi sẽ vì các ông mà nói.”
Thứ sử thưa: “Hòa thượng nói pháp, đâu không phải là tông chỉ của Tổ
Đạt-ma ư ?”
Tổ bảo: “Đúng vậy !”
Thứ sử thưa: “Đệ tử nghe Tổ Đạt-ma khi mới đến vua Lương Võ Đế, Võ
Đế hỏi: Trẫm một đời cất chùa độ Tăng, bố thí thiết trai có những công đức gì ?
Tổ Đạt-ma bảo: Thật không có công đức. Đệ tử chưa thấu được lẽ này, cúi mong
Hòa thượng vì nói.”
Tổ bảo: “Thật không có công đức, chớ nghi lời của bậc tiên Thánh. Võ Đế
tâm tà, không biết chánh pháp, cất chùa độ Tăng, bố thí, thiết trai đó gọi là cầu
phước, chớ không thể đem phước đổi làm công đức. Công đức là ở trong pháp
thân, không phải do tu phước mà được.”
Phẩm thứ ba là phẩm Nghi Vấn tức là nếu có những điều nghi ngờ, đem ra
hỏi Lục Tổ.
Điều nghi đầu tiên là khi Tổ Bồ-đề Đạt-ma sang Trung Hoa, đến yết kiến
vua Lương Võ Đế, vua liền hỏi: Trẫm một đời cất chùa độ Tăng, bố thí thiết trai
có những công đức gì ? Tổ Đạt-ma bảo: Thật không có công đức. Chính câu nói
này khiến nhiều người nghi, không biết tại sao làm những điều đó mà không công
đức. Theo sử ghi: Vua Võ Đế thời đó cất mấy trăm ngôi chùa, độ Tăng tu hành rất
đông, thiết trai bố thí và chính nhà vua giảng được kinh. Như vậy Võ Đế cho rằng
những việc làm ấy là đầy đủ công đức, nhưng không ngờ khi hỏi Tổ, Tổ bảo:
Không công đức. Đó là tạt một gáo nước lạnh vào mặt Võ Đế, nhà vua nản quá
không thiết nói chuyện nữa. Vì thế đang đêm Tổ phải lén bỏ đi qua nước Ngụy,
đến chùa Thiếu Lâm, ngồi trong động đến chín năm…
Nhắc lại câu Tổ Đạt-ma trả lời vua Lương Võ Đế, người học Phật chúng ta
không ai không nghi ngờ, cất chùa, độ chư Tăng tu hành, làm nhiều việc phước mà
Tổ bảo không công đức. Thật là vô lý ! Khi làm các việc như vậy, các chùa thường
bảo là công đức vô lượng vô biên, vì sao Tổ Đạt-ma lại nói không công đức ?
Trong phần này Lục Tổ giản trạch: Công đức thuộc về nội tâm, không phải ở bên
ngoài. Công đức là do ngộ đạo đạt được tự tánh, rồi từ tánh khởi dụng, những
dụng ấy gọi là công đức. Còn phước đức là do việc làm bên ngoài mà được, như
cúng dường, bố thí v.v… Vua Võ Đế lầm nghĩa phước đức và công đức là một nên
Tổ nói không công đức. Tổ lại nói: “Thấy tánh là công, bình đẳng là đức, mỗi niệm không ngưng
trệ, thường thấy bản tánh, diệu dụng chân thật gọi là công đức. Trong tâm khiêm
hạ là công, bên ngoài hành lễ phép là đức; tự tánh dựng lập muôn pháp là công,
tâm thể lìa niệm là đức; không lìa tự tánh là công, ứng dụng không nhiễm là đức.
Nếu tìm công đức pháp thân, chỉ y nơi đây mà tạo là chân công đức. Nếu người tu
công đức, tâm tức không có khinh, thường hành khắp kỉnh. Tâm thường khinh
người, ngô ngã không dứt tức là không công, tự tánh hư vọng không thật tức tự
không đức, vì ngô ngã tự đại thường khinh tất cả. Này Thiện tri thức, mỗi niệm
không có gián đoạn là công, tâm hành ngay thẳng là đức, tự tu tánh là công, tự tu
thân là đức. Này Thiện tri thức, công đức phải là nơi tự tánh mà thấy, không phải
do bố thí cúng dường mà cầu được. Ấy là phước đức cùng với công đức khác nhau.
Võ Đế không biết chân lý, không phải Tổ Sư ta có lỗi.”
Thấy tánh tức là đạt được bản tánh mình là công, hành hạnh bình đẳng là
đức. Trong tâm không ngô ngã rồi hành những hạnh cung kính mọi người đó là
công đức v.v…. Như vậy công đức là nhằm thẳng bản tâm mình, ngộ được tự tánh
mình rồi từ đó khởi dụng làm những hành động hợp đạo lý, thuyết pháp độ sanh
hay tu các công hạnh, đó gọi là công đức.
Chúng ta ngày nay hay lầm lẫn cho rằng cất chùa, giúp chư Tăng, bố thí
cúng dường là lập nhiều công đức và tự hào rằng mình làm công đức vô lượng vô
biên cần phải được tán thán, không ngờ làm những việc ấy chỉ là tạo phước đức
mà thôi. Lục Tổ giảng cho Thứ sử Vi Cừ và cả hội chúng hiểu rõ, đừng lầm phước
đức với công đức.
Thứ sử lại hỏi: “Đệ tử thường thấy Tăng tục niệm Phật A-di-đà, nguyện
sanh Tây phương, thỉnh Hòa thượng nói, được sanh nơi cõi kia chăng ? Nguyện vì
phá cái nghi này.”
Điều nghi thứ hai là người tu hành niệm Phật A-di-đà cầu vãng sanh về
Tây phương Cực Lạc, việc ấy như thế nào ?
Tổ bảo: “Sử quân khéo lắng nghe, Huệ Năng sẽ vì nói. Thế Tôn ở trong
thành Xá-vệ nói Tây phương dẫn hóa, văn kinh rõ ràng “cách đây không xa”. Nếu
luận về tướng mà nói, số dặm có mười muôn tám ngàn, tức là trong thân có muời
ác và tám tà, liền là nói xa, nói xa là vì kẻ hạ căn, nói gần là vì những người
thượng trí. Người có hai hạng nhưng pháp không có hai thứ, mê ngộ có khác, thấy
có mau chậm. Người mê niệm Phật cầu sanh về cõi kia, người ngộ tự tịnh tâm
mình, sở dĩ Phật nói: Tùy tâm tịnh liền được cõi Phật tịnh. Sử quân, người phương
Đông chỉ tâm mình tịnh liền không có tội, tuy người phương Tây tâm không tịnh
cũng có lỗi. Người phương Đông tạo tội niệm Phật cầu sanh về phương Tây, còn
người phương Tây tạo tội, niệm Phật cầu sanh cõi nào ?
Tổ giải thích: Niệm Phật cầu sanh về Tây phương là vì người hạ căn; Tây
phương cách chúng ta mười muôn ức cõi, nói xa như vậy là vì kẻ hạ căn. Nếu nói
gần là vì người thượng trí, nói gần là: Tâm mình tịnh là cõi Phật tịnh, nếu tâm
mình thanh tịnh thì ngay đây là Tịnh độ. Như vậy nói xa hay gần là tùy căn cơ,
người mê hay người hạ căn niệm Phật cầu sanh về Tây phương tức về một cõi xa
tít mù; người ngộ hay người thượng trí niệm Phật để tâm thanh tịnh, tâm thanh tịnh tức cõi Phật thanh tịnh, vậy cõi Phật thanh tịnh ở ngay tâm thanh tịnh của
mình.
Tổ lại bảo: Từ đây đến cõi Cực Lạc cách xa mười muôn tám ngàn, là chỉ
cho mười ác và tám tà. Nếu chúng ta hành Thập thiện và tu tám điều chánh (Bát
chánh đạo) là chúng ta qua được mười muôn tám ngàn, đến được cõi Cực Lạc. Cõi
Cực Lạc là do chúng ta hành thiện và thấy đúng, chớ không phải do chúng ta bay
qua không gian đến cõi ấy. Tổ lại nêu vấn đề như chúng ta hiện nay ở cõi Ta-bà
mê lầm tạo tội, nên cố gắng niệm Phật để sanh về Tây phương cho hết tội lỗi; Tổ
bảo người mê tạo tội ở phương Đông, niệm Phật cầu sanh về phương Tây, nếu
người phương Tây lỡ tạo tội, niệm Phật cầu sanh về đâu ? Chẳng lẽ cầu sanh trở
lại phương Đông ? Như vậy điều cần yếu là hết tội chớ không phải cầu sanh về nơi
nào. Nếu chúng ta ở phương Đông mà hết tội thì phương Đông là Cực Lạc; nếu ở
phương Đông tạo tội, cầu về phương Tây, chúng ta mang tâm tham sân si về cõi
Cực Lạc thì cõi Cực Lạc cũng trở thành ô uế. Thí dụ quí Phật tử ở thành phố ồn
náo, lâu lâu lên núi thấy cảnh núi thanh tịnh, mong được lên núi cho thanh tịnh.
Nếu khoảng một trăm vị lên núi, các vị này hay rầy rà gây gổ thì cảnh núi sẽ biến
thành ồn náo như dưới chợ. Như vậy cảnh thanh tịnh là do tâm người thanh tịnh,
sự thanh tịnh cốt ở tâm mình chớ không phải ở cảnh. Chúng ta ngày nay vì yếu
đuối nên ỷ lại, niệm Phật cầu về Cực Lạc; tội lỗi không trừ dẹp, hung dữ vẫn còn,
dù niệm Phật được nhiều chuỗi, thử hỏi có sanh được về cõi kia không ? Trong
kinh A-di-đà có câu: “Bất khả dĩ thiểu thiện căn phước đức nhân duyên đắc sanh
bỉ quốc”, nghĩa là không thể lấy một chút ít phước đức nhân duyên mà được sanh
về cõi kia. Như vậy muốn được sanh về cõi kia, phải đầy đủ phước đức nhân
duyên, tức là ngay đây phải hiền lành, phải thuần thiện mới được. Tổ chỉ thẳng
cho chúng ta phải tịnh tâm mình thì cõi này là Tịnh độ. Nếu không tịnh tâm mà
cầu sanh về cõi kia, điều đó khó thực hiện.
Phàm ngu không rõ tự tánh, không biết trong thân Tịnh độ, nguyện đông,
nguyện tây, người ngộ ở chỗ nào cũng vậy, cho nên Phật nói: Tùy chỗ mình ở
hằng được an lạc. Sử quân, tâm địa chỉ không có bất thiện thì Tây phương cách
đây không xa. Nếu ôm lòng chẳng thiện, niệm Phật vãng sanh khó đến. Nay
khuyên Thiện tri thức trước nên dẹp trừ thập ác tức là đi được mười muôn, sau trừ
tám cái tà bèn qua được tám ngàn, mỗi niệm thấy tánh thường hành bình trực, đến
như trong khảy móng tay, liền thấy đức Phật A-di-đà. Sử quân, chỉ hành mười
điều thiện đâu cần lại nguyện vãng sanh, không đoạn tâm thập ác thì Phật nào đón
tiếp. Nếu ngộ được đốn pháp vô sanh, thấy Tây phương chỉ trong khoảng sát-na.
Còn chẳng ngộ, niệm Phật cầu sanh thì con đường xa làm sao đến được !
Người phàm phu ngu muội không nhận được tự tánh của mình, ngay trong
thân mình đã có sẵn Tịnh độ mà không biết, cứ cầu Tịnh độ ở ngoài. Còn người trí
ngộ được tự tánh của mình, liền thấy tự tánh là Tịnh độ. Nếu chúng ta được chừng
năm phút trong tâm không có niệm thương ghét buồn giận, thì ngay lúc ấy thấy
đây là cõi tịnh. Trái lại nếu trong tâm còn buồn giận thương ghét thì đến chỗ nào
cũng thấy toàn là phiền não. Vì thế chủ yếu của việc tu hành là tịnh ngay tâm mình,
nhận được tự tánh thanh tịnh của mình và sống với nó, đó là Tịnh độ. Người không biết tu, cứ chạy tìm cầu bên ngoài, rốt cuộc không đi đến đâu, vì làm sao
tìm được lẽ thật ở bên ngoài !
Ví dụ như người học trò khôn rán học bài thuộc, đi thi đậu; người học trò
biếng nhác không chịu học bài, khi gần thi lo chạy tìm các thầy giáo năn nỉ xin
giúp đỡ, như vậy làm sao bảo đảm được thi đậu ? Nếu người có thiện chí giúp, ít
nhất chúng ta phải có khả năng tương đương, còn dốt mà muốn thi đậu, việc ấy rất
khó. Sự tu hành cũng như thế, nếu chúng ta không siêng năng hành thiện, dẹp trừ
tội lỗi mà cứ cầu sanh về Cực Lạc, chờ Phật rước, làm sao Phật rước chúng ta về
cõi Phật được, không sợ chúng ta làm nhơ cõi ấy hay sao ? Như hiện nay có người
hung dữ vào chùa xin tu, tuy chúng tôi phải độ người tu hành, nhưng chúng tôi
phải dè dặt vì người hung dữ quá vào chùa làm ồn, chúng tu không được; huống là
cõi Phật thanh tịnh mà đem những người ô uế về làm rối loạn nơi thanh tịnh sao ?
Thế nên phải biết rõ, điều cốt yếu là phải tịnh ngay tâm mình, đó là Tịnh độ.
Huệ Năng vì mọi người dời cõi Tây phương trong khoảng sát-na ở
trước mắt khiến cho quí vị được thấy, quí vị có muốn thấy hay chăng ?”
Chúng đều đảnh lễ thưa rằng: “Nếu ở cõi này mà thấy được thì đâu cần
phải nguyện vãng sanh, nguyện Hòa thượng từ bi liền hiện Tây phương khiến cho
tất cả được thấy.
Tổ bảo: “Này đại chúng ! Người đời tự sắc thân là thành, mắt tai mũi lưỡi
là cửa, ngoài có năm cửa, trong có cửa ý. Tâm là đất, tánh là vua, vua ở trên đất
tâm, tánh còn thì vua còn, tánh đi mất thì vua mất; tánh ở thì thân tâm còn, tánh đi
thì thân tâm hoại. Phật nhằm trong tánh mà tạo, chớ hướng ra ngoài mà cầu. Tự
tánh mê tức là chúng sanh, tự tánh giác tức là Phật, từ bi tức là Quán Thế Âm, hỉ
xả gọi là Đại Thế Chí, hay tịnh tức là đức Thích-ca, bình trực tức là Phật Di-đà.
Nhân ngã ấy là Tu-di, tà tâm là biển độïc, phiền não là sóng mòi, hại là rồng dữ,
hư vọng là quỉ thần, trần lao là rùa trạnh, tham sân là địa ngục, ngu si là súc sanh.
Này Thiện tri thức, thường làm mười điều lành thì thiên đường liền đến, trừ nhân
ngã thì núi Tu-di ngã, dẹp được tham dục thì biển nước độc khô, phiền não không
thì sóng mòi mất, hại trừ thì rồng cá đều dứt. Ở trên tâm địa mình là giác tánh
Như Lai phóng đại quang minh, ngoài chiếu sáu cửa thanh tịnh hay phá sáu cõi
trời dục, tự tánh trong chiếu ba độc tức liền trừ địa ngục v.v… các tội một lúc đều
tiêu diệt, trong ngoài sáng tột, chẳng khác với cõi Tây phương, không chịu tu như
thế này làm sao đến được cõi kia ?”
Đại chúng nghe nói rồi đều rõ ràng thấy được tự tánh, thảy đều lễ bái, đều
tán thán: “Lành thay !” Thưa rằng: “Khắp nguyện pháp giới chúng sanh nghe một
thời liền ngộ hiểu.”
Đến đây Tổ hỏi đại chúng: Các người muốn thấy cõi Cực Lạc không ?
Cả chúng đều hoan nghinh, xin được thấy, nghĩ rằng Tổ có thần thông hiện cõi
Cực Lạc ngay trước mắt. Tổ mới dạy: Muốn thấy cõi Cực Lạc phải ngay nơi tâm
mình thanh tịnh, trừ dẹp những tâm xấu xa ác thì cõi Cực Lạc hiện tiền, không
phải cầu sanh về nơi nào khác. Ngài bảo dẹp tham sân thì địa ngục mất, hết ngu si
thì súc sanh không còn, dẹp phiền não thì sóng mòi lặng, dẹp tâm ác thì biển khô,
dứt ngô ngã thì núi Tu-di ngã. Nếu dẹp sạch được các điều xấu xa nhơ nhớp thì cõi Cực Lạc hiện tiền, không cần chạy đi đâu để tìm Cực Lạc. Thế mà người thế gian
không chịu dẹp cái xấu, cứ một bề đòi về Cực Lạc thì làm sao đến được cõi ấy !
Có nhiều vị tu hành cũng lâu, cũng khá rồi nhưng tâm sân chưa dẹp sạch. Mỗi khi
nghe lời trái tai liền nổi giận rồi bảo: Tánh tôi như vậy ! Nếu thật tánh mình là sân,
như thế là chấp nhận mình ở địa ngục mãi sao ? Đâu biết cái giận chỉ là một thói
quen lâu ngày, biết nó là xấu phải mạnh dạn chừa bỏ, không nên chấp nhận và bảo
đó là tánh của tôi. Điều cốt yếu của sự tu là tịnh tâm mình, tâm mình thanh tịnh rồi,
dù ở đâu cũng là cõi thanh tịnh.
Ví dụ nơi trường học có cậu học trò nhỏ vừa bắt đầu học lớp một, rồi muốn
vào đại học ngay, việc đó được không ? Dù người cai quản đại học có cảm tình
với nó, cũng không thể nào đưa đứa học trò ấy vào đại học được. Đứa học trò phải
học từ từ, xong phần trung học rồi có đủ khả năng mới vào đại học. Việc tu hành
cũng như thế, dù Phật có lòng từ vô lượng, muốn độ chúng ta về cõi Phật, nhưng
nếu chúng ta xấu xa ô nhiễm, thử hỏi Phật có độ về cõi kia được chăng ? Muốn về
cõi Phật, chúng ta phải có đủ khả năng, tức là tâm phải thanh tịnh, thì Phật sẽ đưa
về cõi tịnh, việc ấy là chắc chắn. Tổ lại nói rộng quan niệm của Ngài về việc tu.
Tổ bảo: “Này Thiện tri thức, nếu muốn tu hành, tại gia cũng được, không
cần ở chùa, người tại gia mà hay hành như người ở phương Đông mà tâm được
thiện, còn người ở chùa mà không tu cũng như người ở phương Tây mà tâm ác.
Chỉ tâm thanh tịnh tức là tự tánh Tây phương.”
Như vậy người tại gia mong vào chùa để được yên ổn tu hành, dứt bỏ
những điều xấu dở, nhưng khi vào chùa lại không bỏ những điều xấu dở ấy, vẫn
còn phiền não thì khi ấy sẽ chạy về đâu ? Vì lẽ đó Tổ mới sách tấn chúng ta: Ở đâu
cũng tu được, miễn là biết làm lành, miễn là biết trừ những tâm xấu. Chính việc đó
Tổ đã làm, mười mấy năm Ngài sống chung với nhóm thợ săn dưới hình thức cư sĩ,
tâm Ngài vẫn thanh tịnh. Thế nên Ngài dạy chúng ta ở chùa hay ở nhà mà biết tu
cũng đều tốt, cũng đều quí. Tuy nhiên quí vị không nên hiểu lầm rồi sanh tự cao
ngã mạn nói rằng: “Tôi ở nhà mà làm lành còn hơn các vị ở chùa mà làm ác.” Nếu
các vị ở chùa mà làm lành nữa vẫn còn hơn các vị ở tại gia làm lành một bậc.
Thứ sử Vi Cừ lại hỏi: “Người tại gia làm sao tu hành ? Cúi xin Ngài vì chỉ
dạy.”
Tổ bảo: “Tôi vì đại chúng làm một bài tụng Vô Tướng, chỉ y đây mà tu,
thường cùng tôi đồng ở không khác, nếu không tu như thế này dù có cạo tóc xuất
gia đối với đạo cũng không có ích gì. Tụng rằng:
Tâm bình hà lao trì giới,
Hạnh trực hà dụng tu thiền,
Ân tắc thân dưỡng phụ mẫu,
Nghĩa tắc thượng hạ tương lân.
Người nào tâm bình rồi không nhọc phải giữ giới, hạnh được thẳng rồi
không cần phải tu thiền. Tại sao ? Tâm bình nghĩa là tâm không động, tâm không
động đâu còn tạo nghiệp nữa mà phải trì giới. Tâm bình ví như mặt nước lặng,
bằng phẳng, đâu có sóng gió. Tâm bình đâu có dấy niệm tham sân si. Sở dĩ chúng
ta giữ giới là để ngừa tham sân si, nếu tâm đã bình, đâu còn tham sân si để ngừa ! Thế nên nói: Tâm bình không cần trì giới, hạnh trực không cần phải tu thiền. Hạnh
đây cũng là tâm, tức là tâm hạnh nếu ngay thẳng thì không cần phải tu thiền. Ngay
thẳng là thế nào ? Là không vướng bên này, không kẹt bên kia. Thường chúng ta
hay dấy niệm chạy theo phải quấy tốt xấu, đó là hai bên. Nếu tâm mình ngay thẳng
không kẹt hai bên, còn gì nữa mà tu thiền ? Tu thiền là dứt tâm lăng xăng, nếu tâm
lăng xăng không còn nữa, tu thiền là dư, nên nói hạnh trực không cần tu thiền.
Tuy nhiên nếu tâm chúng ta còn lăng xăng, nghĩ đây nghĩ kia thì cần tu
thiền không ? Dĩ nhiên là cần. Nếu tâm chúng ta chưa bình, gặp việc thì sân si nổi
dậy, có cần giữ giới không ? Tất nhiên là phải giữ giới, nếu không giữ giới, chắc
tạo tội không sao kể xiết. Vì thế tâm chưa bình thì giới là quan trọng, hạnh chưa
trực thì thiền rất thiết yếu. Khi nào tâm bình hạnh trực mới không cần giữ giới và
tu thiền, nếu chưa được như thế mà đem hai câu này ra nói, là một điều lầm lỗi lớn.
Tỉ dụ khi nghe ai khuyên trì giới thì nói: “Tâm bình cần gì trì giới, Tổ đã nói rõ
ràng, các người còn hình thức quá !” Nghe ai dạy tu thiền thì bảo: “Hạnh trực đâu
cần tu thiền, Tổ đã dạy rồi mà !” Nhưng thử hỏi tâm chúng ta đã bình chưa? Hạnh
chúng ta đã trực chưa ? Nếu tự biết tâm mình chưa bình, hạnh chưa trực thì trì giới
và tu thiền rất cần thiết. Người học pháp thông thì ít, chấp thì nhiều, chấp chữ chấp
nghĩa, đem kinh ra nói khoác mà không tu, trở thành công kích người khác, tạo tội
ác khẩu, vậy chúng ta phải cẩn thận. Tóm lại muốn tu thiền, muốn giữ giới không
gì hơn là tâm bình, hạnh trực. Tâm bình, hạnh trực là đủ cả giới, thiền trong đó.
Về cách xử sự tại gia, Tổ dạy: “Ân thì nuôi dưỡng cha mẹ, nghĩa thì trên
dưới thương nhau.” Nói về ân, không ân nào cao bằng ân cha mẹ. Khi đọc đến đây
chúng tôi thấy rõ tâm niệm Phật Tổ không hai. Chính trong kinh Tăng Nhất A
Hàm có một bài kinh nói về báo ân, đức Phật bảo: “Người nào biết đền ân, giả sử
ở xa ta ngàn dặm, cũng như ở bên cạnh ta, người không biết đền ân, dầu đứng hầu
bên cạnh ta, cũng như cách xa ta ngàn dặm.” Phật giải thích: Không ân nào hơn ân
cha mẹ, thân này có từ nơi cha mẹ, nên đem cả sanh mạng bù đắp cho cha mẹ
cũng không phải là quá ! Thế nên người biết đền ân, trước phải nhớ ân cha mẹ, kế
đó biết đền ân những người mình đã chịu ân, những người ấy, Phật bảo là gần với
Phật. Trong đoạn này, Tổ cũng dạy: Người biết ân là phải nuôi dưỡng cha mẹ.
Người biết ân như vậy đối với Tổ đó là người tốt, đối với Phật đó là người gần với
Phật.
Nói về nghĩa, tình thâm nghĩa nặng nhất là tình nghĩa ruột thịt, không gì
hơn tình nghĩa anh chị em, kẻ trên người dưới đều thương nhau. Tương lân là kẻ
trên người dưới đều thương nhau. Như vậy đối với cha mẹ chúng ta hằng nhớ ân
để đền đáp, đối với anh chị em hằng có tâm niệm thương nhau, đó là nền tảng đạo
đức gia đình. Được như thế mới xứng đáng là người Phật tử biết đạo. Nếu chúng
ta đi chùa vái lạy liên miên, khi về nhà gặp cha mẹ thì ngó ngang không chào hỏi,
gặp anh em rầy rà lớn tiếng, người lối xóm nhìn vào sẽ bảo đó là đạo đức giả. Đây
là điều không tốt, chúng ta không thể chấp nhận những người như vậy. Muốn đi
chùa, muốn lạy Phật, trước hết chúng ta phải biết cha biết mẹ rồi biết anh em. Từ
cha mẹ đến anh em chúng ta cư xử tốt, khi vào đạo chúng ta mới là người tốt. Nếu
chúng ta là người ngoan đạo mà ở gia đình là kẻ bất hiếu bất nghĩa, sự ngoan đạo ấy chỉ làm trò cười cho thiên hạ. Nếu trăm người Phật tử đều như vậy, chắc không
ai dám vào đạo Phật nữa, vì vào đạo mà bất hiếu bất nghĩa thì vào làm gì ? Chúng
tôi nhắc lại, người Phật tử chân chánh phải có những bài thuyết pháp sống ngay
nơi mình, nghĩa là trong cuộc sống gia đình phải là người mẫu mực biết làm lành,
làm phải, biết ân cha mẹ, biết tình nghĩa anh em. Nếu chỉ có nếp sống đạo đức ở
chùa mà không áp dụng nơi gia đình, đạo đức ấy không phải thật, vì người Phật tử
không ở chùa thường, chỉ đến chùa một hay hai lần trong tháng, mà ở nhà thường
trực hơn. Nếu sống thường trực nơi gia đình không ra gì thì sống một, hai ngày ở
chùa có nghĩa lý gì đâu. Điều quan trọng là cách cư xử tại nhà: hiếu kính cha mẹ,
thương mến anh em. Cha mẹ anh em là ân là nghĩa, là người ruột thịt gần gũi, nếu
chúng ta không kể đến thì những người ngoài không có tình máu mủ, không ân
nghĩa nặng nề, có làm điều trái ý, chúng ta có thể hại họ được. Tình thương ruột
thịt không có thì tình thương xã hội khó mà tìm được. Hiểu được như vậy mới
thấy rõ Phật, Tổ đều dạy chúng ta điều căn bản là đối với cha mẹ phải lấy ân để
đền đáp, đối với anh em phải lấy nghĩa mà thương mến nhau.
Nhượng tắc tôn ti hòa mục,
Nhẫn tắc chúng ác vô huyên,
Nhược năng toản mộc xuất hỏa,
Ứ nê định sanh hồng liên.
Nhượng tức là nhường. Nhường nhịn nhau trên dưới mới được hòa mục.
Anh em thương nhau chưa đủ, còn phải nhường nhịn nhau mới ổn, kẻ trên người
dưới đều hòa hợp nhau. Người ẩn nhẫn thì những việc ác không còn làm ồn náo họ
nữa. Người không ẩn nhẫn được thường hay mích lòng, bực tức dễ nổi sân si… nên
việc ác làm ồn náo họ mãi. Nếu hay nhẫn được thì mọi sự ồn náo đều dứt sạch.
Tóm lại Tổ dạy chúng ta ở tại gia phải làm sao cho tình anh em không mất, muốn
được như vậy anh em phải nhường nhịn nhau, nhường nhịn nhau mới đem lại hòa
mục, đem lại êm ấm cho gia đình.
Ngài dạy tiếp: Nếu chúng ta hay dùi cây cho ra lửa, trong bùn nhất định hoa
sen hồng mọc lên. Ngài muốn chỉ rằng người tại gia ở trong cảnh ồn náo khó tu,
nhưng trong cảnh ấy mà vẫn cố gắng tiến tu như dùi cây cho ra lửa, như hoa sen
mọc trong bùn. Trong bùn mới có hoa sen còn trên tảng đá sạch sẽ này làm gì có
hoa sen mọc. Vì thế người tại gia gặp nhiều phiền não mà khéo tu cũng như trong
bùn mọc lên hoa sen, cũng như dùi cây ra lửa vậy. Đây là Tổ muốn khuyến khích
người cư sĩ tại gia phải nỗ lực tiến tu dù ở hoàn cảnh khó khăn nào, không vì cảnh
khó mà sanh tâm thối chuyển, như vậy mới biến được dở thành hay.
Khổ khẩu đích thị lương dược,
Nghịch nhĩ tất thị trung ngôn,
Cải hóa tất sanh trí tuệ,
Hộ đoản tâm nội phi hiền.
Khổ khẩu là đắng miệng. Theo quan niệm xưa, thuốc hay tất phải đắng
miệng, lời nói nghịch tai là lời ngay thẳng. Tại sao ? Tỉ dụ chúng ta làm điều gì
quấy, có người gan dạ chỉ lỗi giùm: Huynh làm điều ấy sai. Nếu chúng ta nghe lời
chỉ dạy, biết nhận lỗi, đó là thuốc hay; nếu chúng ta nghe trái tai một chút liền nổi sân lên, đó là không tốt. Nhưng đa số người thế gian, ai cũng như ai đều thích
được khen và không chịu bị chê. Giả sử chúng ta làm quấy một trăm phần trăm
nhưng được người khác khen, chúng ta cũng vui thích. Ví dụ có người ăn trộm,
trong xóm trong làng ai cũng biết mặt. Nếu chú ấy ăn mặc chải chuốt, có người
khen: Chà ! Chú mầy giống như một nhà văn, một tài tử v.v… Thử hỏi chú ấy có
vui lên không ? Có muốn gây với người khen chú không ? Trái lại, nếu gặp chú ăn
trộm ăn mặc chải chuốt, chúng ta liền nói: “Kẻ ăn trộm mà cũng ăn diện bảnh
bao.” Tức nhiên chú ấy sẽ gây với mình ngay. Như vậy người đời lúc nào cũng
thích được khen dù lời khen không đúng sự thật, còn lời nói thẳng dù đúng sự thật
một trăm phần, người đời cũng vẫn giận, đây là nói chung cho tất cả mọi người, kể
cả chúng ta. Vì thế chúng ta nên tập làm sao trước những lời nói trái tai vẫn vui vẻ
nghe để sửa mình. Ai chỉ điều quấy, chúng ta liền nhận lỗi để sửa, như vậy mới là
người biết tu. Những lời trái tai là lời trung thực, chúng ta rán nghe để sửa mình.
Tổ dạy tiếp: Cải quá ắt sanh trí tuệ, còn gìn giữ hay bảo hộ điều quấy trong
tâm là không phải người hiền. Người có lỗi mà che giấu là không phải người hiền,
trái lại người làm quấy mà biết sửa là người trí tuệ. Đây là điều rất thiết yếu cho
việc tu. Đa số chúng ta thường có quan niệm lầm lẫn, cứ nhìn vào người xuất gia,
cho là những thần tượng, là những bậc Hiền Thánh, là những vị đã vượt qua người
thế gian. Nhưng nếu được ở gần các vị ấy một thời gian, mới thấy các vị ấy thỉnh
thoảng cũng lộ ra đôi chút phiền não; lúc bấy giờ các thần tượng đều sụp đổ, các
Phật tử mới than: “Tưởng các vị tu hành là Thánh hết, tại sao còn dở quá vậy ?”
Rồi chán nản không còn muốn tu theo. Như thế, quan niệm đó đúng hay sai ? Đấy
là điều tôi muốn nhắc quí vị. Người tại gia, kể cả người xuất gia, quí vị phải quan
niệm cho đúng. Chúng tôi chưa có ai được vào hàng Thánh, chúng tôi là phàm
Tăng, phàm Ni; đã là phàm tức là đang tu, đang tu tức là chưa sạch. Quí vị nên
nhớ rõ, người nào đang tu tức người đó chưa sạch, như chiếc áo còn đang giặt
chưa phải là áo sạch, nếu sạch rồi không ai giặt nữa. Như vậy còn giặt là còn nhơ,
còn tu là còn khuyết điểm; còn khuyết điểm nên mới tu cho hết điều dở, xấu; hết
khuyết điểm thì tu làm chi nữa, vì đã là Phật rồi. Vì thế đối với người tu, không
nên đòi hỏi các vị ấy phải là thần tượng, phải là hiện thân của chân lý. Tuy nhiên
có thể đòi hỏi các người tu như thế này: Nếu người tại gia xấu một trăm phần thì ít
ra người xuất gia cũng được năm chục phần tốt, chỉ còn năm chục phần xấu, điều
đó khả dĩ được. Người còn tu chưa phải toàn vẹn trăm phần, toàn vẹn là khi nào
thành Phật. Người đang tu hơn được quí vị chừng hai, ba mươi phần trăm, hay khá
lắm là năm mươi phần trăm là được lắm rồi, không nên đòi hỏi quá đáng. Hiểu
như vậy, quí vị mới có thể thông cảm được với người tu và ở gần không chán.
Nhưng người tu có nhiều điểm khác người thế gian, như người thế gian nghe lời
trái tai có thể giận mười năm không bỏ; với người tu thì khác, trong sách có câu
“Tăng hận bất cách túc” nghĩa là Tăng giận không quá một đêm. Như vậy người tu
hay người thế gian đều có giận nhưng người tu chỉ giận chốc lát rồi bỏ. Không nên
đòi hỏi người tu không còn tâm giận, vì tham sân si là ba cái gốc của cõi luân hồi
này, còn ở cõi này tức là còn tham sân si. Khi nào dẹp sạch ba này là chứng quả
A-la-hán; song hiện nay mấy ai chứng quả A-la-hán ? Nhưng có điều hay là người tu khi làm điều dở bị phê bình liền biết hối cải. Tỉ dụ như người biết tu khi vừa nổi
sân liền bị người chỉ lỗi “đó là hắc phong”, người biết tu liền hối hận bỏ ngay.
Như vậy là tốt, là đáng khen, chớ đừng bảo người tu không có giận. Tất cả quí
Phật tử cũng vậy, khi làm việc gì dở, được sự chỉ dạy của người trên, hoặc sự nhắc
nhở của đồng bạn hay tự mình biết điều đó là dở liền bỏ, đó là người trí tuệ. Đừng
bao giờ nghĩ rằng mình không có điều dở, chúng ta có dở, nhưng biết sửa đổi, đó
là tốt, là trí tuệ. Nếu dở mà cứ che giấu trong lòng hoài, đó là người không hiền.
Không hiền là người gì ? Là kẻ dữ. Người che giấu lỗi hoài là kẻ dữ, còn người
hiền có lỗi gì phơi bày ra rồi chừa bỏ, đó là người tốt, người khôn ngoan, người trí
tuệ.
Tóm lại, lời dạy của Tổ thực tế vô cùng,
Ngài chỉ cho chúng ta tu một cách thiết thực. Ngài bảo ở trong gia đình,
trên kính thờ cha mẹ, dưới thương anh em và nhường nhịn nhau cho trong nhà
được an vui, đem lại sự hòa mục, nhẫn nhịn để lòng mình hết ồn náo. Được như
vậy là mình khéo ở trong bùn mà mọc hoa sen. Ngài lại dạy lời nói ngay nghe trái
tai nhưng có lợi, vì đó là lời trung thực cũng như thuốc đắng đã tật vậy; có lỗi liền
biết sửa, đó là trí tuệ, có lỗi mà che giấu thì không phải là người hiền, hay nói
nặng hơn, đó là kẻ dữ.
Nhật dụng thường hành nhiêu ích,
Thành đạo phi do thí tiền,
Bồ-đề chỉ hướng tâm mích,
Hà lao hướng ngoại cầu huyền.
Mỗi ngày thường làm những điều lợi ích cho mọi người, cho chúng sanh.
Nhiêu ích là lợi ích cho nhiều người, cho chúng sanh. Người tu thành đạo không
phải đem tiền thí mà thành đạo; thành đạo là do tu nơi tâm mình, thí tiền chỉ là
phước ở bên ngoài. Thế nên người tu muốn giác ngộ là phải tự tâm mình giác ngộ,
chớ không phải cúng thí nhiều mà giác ngộ. Cúng thí là tạo phước để mình được
những quả tốt cho đời sau, chớ không phải là thành đạo. Bồ-đề chỉ cho tánh giác.
Bồ-đề chỉ hướng trong tâm mà tìm, đâu có nhọc hướng ra ngoài cầu sự huyền diệu.
Muốn giác ngộ phải ngay nơi tâm mình giác, đừng mong tìm ở bên ngoài, bên
ngoài không có những huyền diệu đó.
Thính thuyết y thử tu hành,
Tây phương chỉ tại mục tiền.
Nghe nói y đây tu hành, Cực Lạc chỉ ngay trước mắt. Ngài bảo người nào y
theo bài kệ Ngài dạy mà tu hành thì cõi Cực Lạc ở ngay trước mắt, không có xa
xôi, không có cách mười muôn ức cõi. Vậy muốn thấy Cực Lạc thì hằng ngày ứng
dụng đúng như bài kệ này sẽ thấy Cực Lạc hiện tiền.
Tổ lại bảo: “Này Thiện tri thức, thảy phải y kệ đây mà tu hành, nhận lấy tự
tánh, thẳng đó thành đạo. Pháp không đợi nhau, mọi người hãy giải tán, tôi trở về
Tào Khê, chúng nếu có nghi, lại đến hỏi nhau.”
Khi ấy Thứ sử quan liêu ở trong hội, kẻ thiện nam tín nữ mỗi người đều
được khai ngộ, tin thọ vâng làm.
DPHẨM THỨ TƯ: ĐỊNH TUỆ
DỊCH

Tổ dạy chúng: “Này Thiện tri thức, pháp môn của ta đây lấy Định Tuệ làm
gốc, đại chúng chớ lầm nói Định Tuệ riêng, Định Tuệ một thể không phải là hai.
Định là thể của Tuệ, Tuệ là dụng của Định, ngay khi Tuệ, Định ở tại Tuệ, ngay khi
Định, Tuệ ở tại Định, nếu biết được nghĩa này tức là cái học Định Tuệ bình đẳng.
Những người học đạo chớ nói trước Định rồi sau mới phát Tuệ, trước Tuệ rồi sau
mới phát Định, mỗi cái riêng khác. Khởi cái thấy như thế ấy thì pháp có hai tướng.
Miệng nói lời thiện mà trong tâm không thiện thì không có Định Tuệ, Định Tuệ
không bình đẳng. Nếu tâm, miệng đều là thiện, trong ngoài một thứ, Định Tuệ tức
là bình đẳng. Tự ngộ tu hành không ở chỗ tranh cãi, nếu tranh trước sau tức là
đồng với người mê, không dứt sự hơn thua, trở lại tăng ngã và pháp, không lìa bốn
tướng.
Này Thiện tri thức, Định Tuệ ví như cái gì ? Ví như ngọn đèn và ánh sáng.
Có ngọn đèn tức có ánh sáng, không đèn tức là tối, đèn là thể của ánh sáng, ánh
sáng là dụng của đèn, tên tuy có hai mà thể vốn đồng một, pháp Định Tuệ này
cũng lại như thế.”
Tổ dạy chúng: “Này Thiện tri thức, Nhất hạnh tam-muội là đối với tất cả
chỗ, đi đứng ngồi nằm thường hành một trực tâm ấy vậy. Kinh Tịnh Danh nói:
Trực tâm là đạo tràng, trực tâm là Tịnh độ. Tâm chớ làm những chuyện siểm khúc,
miệng chỉ nói trực, miệng nói Nhất hạnh tam-muội mà không hành trực tâm; còn
hành trực tâm, đối với tất cả pháp chớ có chấp trước. Người mê chấp pháp tướng,
chấp Nhất hạnh tam-muội, chỉ nói ngồi không động, tâm vọng không khởi tức là
Nhất hạnh tam-muội, người khởi hiểu thế này tức là đồng với vô tình, trở lại là
nhân duyên chướng đạo.
Này Thiện tri thức, đạo phải thông lưu, do đâu trở lại ngưng trệ, tâm không
trụ nơi pháp, đạo tức là thông lưu. Tâm nếu trụ pháp gọi là tự phược, nếu nói
thường ngồi không động, ấy chỉ như ngài Xá-lợi-phất ngồi yên trong rừng lại bị
ngài Duy Ma Cật quở trách. Này Thiện tri thức, lại có người dạy ngồi khán tâm
quán tịnh, không động không khởi, từ đây mà lập công khóa, người mê không hiểu
liền chấp thành ra điên cuồng; những người như thế này thật là đông, dạy nhau
như thế, nên biết đó là lầm lớn.”
Tổ dạy chúng: “Này Thiện tri thức, xưa nay chánh giáo không có đốn tiệm,
tánh người tự có lợi và độn, người mê thì lần lần khế hợp, người ngộ thời chóng tu,
tự biết bản tâm, tự thấy bản tánh, tức là không có sai biệt, do đó nên lập giả danh
đốn tiệm. Này Thiện tri thức, pháp môn của ta đây từ trước đến nay, trước lập vô
niệm làm tông, vô tướng làm thể, vô trụ làm bản. Vô tướng là đối với tướng mà lìa
tướng; vô niệm là đối với niệm mà không niệm; vô trụ là bản tánh của người. Ở
thế gian nào là thiện ác, tốt xấu, cho đến những việc oán cùng với thân, ngôn ngữ
xúc chạm, hư dối tranh đua v.v… thảy đều đem về không; không nghĩ trả thù hại lại, trong mỗi niệm không nghĩ cảnh trước, nếu niệm trước, niệm hiện tại, niệm
sau, trong mỗi niệm tương tục không dứt gọi là hệ phược (trói buộc). Đối trên các
pháp mỗi niệm không trụ, tức là không phược, đây là lấy vô trụ làm gốc. Này
Thiện tri thức, ngoài lìa tất cả tướng gọi là vô tướng, hay lìa nơi tướng tức là pháp
thể thanh tịnh, đây là lấy vô tướng làm thể. Này Thiện tri thức, đối trên các cảnh
tâm không nhiễm gọi là vô niệm. Đối trên niệm thường lìa các cảnh, chẳng ở trên
cảnh mà sanh tâm. Nếu chỉ trăm vật chẳng nghĩ, niệm phải trừ hết, một niệm dứt
tức là chết, rồi sẽ sanh nơi khác, ấy là lầm to. Người học đạo suy nghĩ đó, nếu
không biết cái ý của pháp thì tự lầm còn có thể, lại dạy người khác (là không nên),
tự mê không thấy lại còn chê bai kinh Phật, vì thế nên lập vô niệm làm tông. Này
Thiện tri thức, thế nào lập vô niệm làm tông ? Chỉ vì miệng nói thấy tánh, người
mê ở trên cảnh có niệm, trên niệm lại khởi tà kiến, tất cả trần lao vọng tưởng từ
đây mà sanh. Tự tánh vốn không một pháp có thể được, nếu có sở đắc, vọng nói
họa phước tức là trần lao tà kiến, nên pháp môn này lập vô niệm làm tông. Này
Thiện tri thức, vô là vô việc gì ? Niệm là niệm vật nào ? Vô đó là không có hai
tướng, không có các tâm trần lao; niệm là niệm chân như bản tánh. Chân như tức
là thể của niệm, niệm tức là dụng của chân như, chân như tự tánh khởi niệm,
không phải mắt tai mũi lưỡi hay khởi niệm, chân như có tánh cho nên khởi niệm,
chân như nếu không có tánh thì mắt tai sắc thanh chính khi ấy liền hoại. Này
Thiện tri thức, chân như tự tánh khởi niệm, sáu căn tuy có thấy nghe hiểu biết mà
không nhiễm muôn cảnh, mà chân tánh thường tự tại, nên kinh nói Hay khéo phân
biệt các pháp tướng mà đối với nghĩa đệ nhất không có động.”

GIẢNG
Tổ dạy chúng: “Này Thiện tri thức, pháp môn của ta đây lấy Định Tuệ làm
gốc, đại chúng chớ lầm nói Định Tuệ riêng, Định Tuệ một thể không phải là hai.
Định là thể của Tuệ, Tuệ là dụng của Định, ngay khi Tuệ, Định ở tại Tuệ, ngay khi
Định, Tuệ ở tại Định, nếu biết được nghĩa này tức là cái học Định Tuệ bình đẳng.
Những người học đạo chớ nói trước Định rồi sau mới phát Tuệ, trước Tuệ rồi sau
mới phát Định, mỗi cái riêng khác. Khởi cái thấy như thế ấy thì pháp có hai tướng.
Miệng nói lời thiệïn mà trong tâm không thiện thì không có Định Tuệ, Định Tuệ
không bình đẳng. Nếu tâm, miệng đều là thiện, trong ngoài một thứ, Định Tuệ tức
là bình đẳng. Tự ngộ tu hành không ở chỗ tranh cãi, nếu tranh trước sau tức là
đồng với người mê, không dứt sự hơn thua, trở lại tăng ngã và pháp, không lìa bốn
tướng.
Này Thiện tri thức, Định Tuệ ví như cái gì? Ví như ngọn đèn và ánh sáng.
Có ngọn đèn tức có ánh sáng, không đèn tức là tối, đèn là thể của ánh sáng, ánh
sáng là dụng của đèn, tên tuy có hai mà thể vốn đồng một, pháp Định Tuệ này
cũng lại như thế.”
Phẩm này là những điều chủ yếu của sự tu thiền. Thường trong các kinh
hay nói do Định mà được Tuệ, do Định phát ra Tuệ, như vậy chúng ta thấy Định
trước, Tuệ sau; nhưng trong đoạn này Tổ dạy Định Tuệ bình đẳng, không có trước
sau, như vậy thành ra khác. Nói Định trước Tuệ sau là lối nói của Tiểu thừa, còn theo lời Tổ dạy thì Định Tuệ đồng thời. Tại sao ? Điều này khi chúng ta tu rồi tự
nhiên thấy. Tôi chỉ cho quí vị thấy một chút. Tỉ dụ như khi chúng ta ngồi thiền tâm
chúng ta lặng, đó là Định. Nhưng tâm chúng ta lặng mà hằng giác tri, giác tri đó là
gì ? Là Tuệ. Như vậy Tuệ đâu có rời Định. Trong khi Định thì có Tuệ, Tuệ sẵn ở
trong Định, Định Tuệ không tách rời được, nên không thể nói đợi cái này dứt mới
phát cái kia, như vậy là thấy Định Tuệ riêng biệt, thế nên Tổ không chấp nhận. Lối
dạy của Tổ là Định Tuệ đồng thời bình đẳng, không có trước, không có sau. Ngài
dẫn ví dụ như ngọn đèn và ánh sáng. Khi chúng ta đốt ngọn đèn lên, ngay khi
ngọn đèn vừa cháy là có ánh sáng phát ra. Như vậy ngọn đèn là thể, ánh sáng là
dụng, thể dụng không rời nhau. Cũng thế Định là thể, Tuệ là dụng. Khi tâm mình
lặng gọi là Định, bởi lặng nên nó mới sáng, cũng như nước trong thì mới sáng, vậy
cái trong là sáng; cũng như cái gương không có bụi, gương trong thì tự sáng, cái
sáng không tách rời gương trong được. Định Tuệ cũng thế. Khi những vọng tưởng
không dấy khởi thì tâm lặng, đó gọi là Định, và khi Định thì Tuệ đã sẵn ở trong,
nên nói trí tuệ không rời chánh định mà chánh định cũng không rời trí tuệ, hai cái
không hai, không khác, nếu thấy hai, thấy khác, tức nhiên không đúng lẽ thật. Như
ngọn đèn và ánh sáng tuy hai tên nhưng hai cái có tách rời được không ? Nếu nghe
hai tên chúng ta nói cái này riêng cái kia riêng thì không bao giờ đúng; như vậy để
hiểu rõ rằng ngọn đèn và ánh sáng không rời nhau được, thì Định Tuệ cũng không
rời nhau được, đó là thí dụ để hiểu rõ pháp.
Tổ dạy chúng: “Này Thiện tri thức, Nhất hạnh tam-muội là đối với tất cả
chỗ, đi đứng ngồi nằm thường hành một trực tâm ấy vậy. Kinh Tịnh Danh nói:
Trực tâm là đạo tràng, trực tâm là Tịnh độ. Tâm chớ làm những chuyện siểm khúc,
miệng chỉ nói trực, miệng nói Nhất hạnh tam-muội mà không hành trực tâm; còn
hành trực tâm, đối với tất cả pháp chớ có chấp trước.
Tiếp theo Tổ dạy về Nhất hạnh tam-muội. Tam-muội là chánh định. Một
hạnh ở trong chánh định là thế nào ? Nghĩa là trong tất cả chỗ, đi, đứng, ngồi, nằm
chỉ là một trực tâm, gọi là Nhất hạnh tam-muội. Không phải chỉ ngồi thẳng mới là
Nhất hạnh tam-muội. Không phải chỉ ở tại chùa, mà ở tất cả chỗ, nghĩa là ở chợ, ở
xóm làng v.v… đi đứng nằm ngồi đều một trực tâm, đó là Nhất hạnh tam-muội.
Ngài dẫn kinh Tịnh Danh (kinh Duy Ma Cật): “Trực tâm là đạo tràng, trực tâm là
Tịnh độ” nghĩa là tâm mình ngay thẳng đó là đạo tràng, tâm mình ngay thẳng đó là
Tịnh độ. Chữ ngay thẳng này tôi sợ nhiều người hiểu lầm, nên tôi giản trạch rõ
một chút. Có nhiều người nói: Tôi không cần niệm Phật, không cần tụng kinh,
không cần thọ giới, không cần tu thiền gì cả, tâm tôi ngay thẳng là được rồi ! Họ
cho rằng họ thấy thế nào thì nói thế ấy, đó là tâm ngay thẳng. Nói như thế đối với
đạo Phật chưa phải ngay thẳng. Tại sao? Vì còn ở trong “Có, Không, Phải, Quấy”
nên chưa ngay. Khi nói phải, khi nói quấy, khi nói có, khi nói không, thành ra còn
ở hai bên, chớ chưa phải là ngay. Trực tâm đây là không kẹt ở hai bên. Điều này
thật không đơn giản đâu. Đừng nghĩ rằng: “Tôi thấy sao nói vậy” là trực tâm, đó là
trực tâm ở thế gian, còn trực tâm Tổ nói đây là tâm không kẹt hai bên. Người được
như vậy thì ở chỗ nào cũng là đạo tràng, ở chỗ nào cũng là Tịnh độ. Ngài quở: Có những người chỉ nói ở ngoài miệng là trực mà hạnh không
trực, tức là không hành trực tâm; còn người hành trực tâm là đối với tất cả pháp
không có chấp trước, tức là đối với tất cả pháp không dính không kẹt vào bên này
hay bên kia… Như vậy đối với tất cả pháp chớ có chấp trước !
Người mê chấp pháp tướng, chấp Nhất hạnh tam-muội, chỉ nói ngồi không
động, tâm vọng không khởi tức là Nhất hạnh tam-muội, người khởi hiểu thế này
tức là đồng với vô tình, trở lại là nhân duyên chướng đạo.
Người mê không hiểu, chấp trước Nhất hạnh tam-muội, họ cho rằng chỉ
khi ngồi yên bất động, tâm vọng không khởi nữa, đó là Nhất hạnh tam-muội, hiểu
như vậy Tổ cho là đồng với vô tình. Đi, đứng, nằm, ngồi, nơi nơi đều trực tâm, nơi
nơi đừng dính mắc, đó mới là Nhất hạnh tam-muội, chớ không phải ngồi đè cho
tâm lặng xuống không biết gì cả là Nhất hạnh tam-muội. Nếu chỉ đè cho tâm lặng
xuống không biết gì thì Tổ bảo đó là đồng với cây đá, đồng với vô tình, chớ không
phải là tri giác. Lặng mà hằng tri, hằng giác mới đúng. Trái lại đè để tâm không
biết gì đó là đồng với vô tình, là nhân duyên chướng đạo.
Này Thiện tri thức, đạo phải thông lưu, do đâu trở lại ngưng trệ, tâm không
trụ nơi pháp, đạo tức là thông lưu. Tâm nếu trụ pháp gọi là tự phược, nếu nói
thường ngồi không động, ấy chỉ như ngài Xá-lợi-phất ngồi yên trong rừng lại bị
ngài Duy Ma Cật quở trách.
Đạo là phải thông lưu. Thông lưu tức là luôn luôn linh động mà không
dính mắc. Đạo không phải là việc ngồi kềm đè cho tâm lặng yên rồi gọi là đạo, mà
luôn luôn trong mọi động tác đi, đứng, nằm, ngồi đều không dính mắc, đó mới là
đạo. Đạo là thông lưu như vậy. Hiểu như thế, chúng ta mới thấy đạo không phải
do tâm chúng ta kẹt một chỗ, trái lại đối với pháp luôn luôn không dính mắc, đó là
thông lưu. Cũng như một bè cây thả trôi trên sông, nếu bè cây tấp vào bờ nào thì
bè cây đó không trôi suông, vì trôi suông là không bị dính, không tấp vào đâu cả.
Cũng thế đạo hạnh được thông lưu là không dính, không mắc, nếu ai đối tất cả
pháp không dính không mắc, đó là người thấy đạo, trái lại người nào còn dính mắc
thì không thấy đạo, cả đến dính mắc vào pháp mình tu, chấp vào đó để kềm tâm
cũng không thấy đạo nữa, đó là chỗ chân thật.
Nếu tâm chúng ta kẹt vào một pháp nào thì gọi là tự phược. Nếu nói ngồi
yên không động là đạo thì tại sao ngài Xá-lợi-phất ngồi yên trong rừng lại bị ngài
Duy Ma Cật quở trách ? Như vậy việc ngồi yên chưa hẳn là đạo, đạo là thông lưu
tức là không dính không chấp.
Này Thiện tri thức, lại có người dạy ngồi khán tâm quán tịnh, không động
không khởi, từ đây mà lập công khóa, người mê không hiểu liền chấp thành ra
điên cuồng; những người như thế này thật là đông, dạy nhau như thế, nên biết đó
là lầm lớn.
Đây là Tổ muốn chỉ ngài Thần Tú. Ngài Thần Tú dạy ngồi thiền là khán
tâm quán tịnh tức là nhìn tâm mình và nhìn chỗ nó lặng lẽ. Nếu nhìn chỗ lặng lẽ
thì lặng lẽ là cái bị nhìn, không phải mình mà chấp là mình, đó là lầm. Số người
lầm như thế rất nhiều, nếu dạy nhau như vậy là lầm lớn. Tổ dạy chúng: Này Thiện tri thức, xưa nay chánh giáo không có đốn tiệm,
tánh người tự có lợi và độn, người mê thì lần lần khế hợp, người ngộ thời chóng tu,
tự biết bản tâm, tự thấy bản tánh, tức là không có sai biệt, do đó nên lập giả danh
đốn tiệm.
Này Thiện tri thức, pháp môn của ta đây từ trước đến nay, trước lập vô
niệm làm tông, vô tướng làm thể, vô trụ làm bản.
Tông tức là chủ, vô tướng là cái không tướng, bản là gốc. Đây là ba điểm
then chốt trong lối dạy của Lục Tổ: Vô niệm làm tông, vô tướng làm thể, vô trụ
làm bản.
Vô tướng là đối với tướng mà lìa tướng; vô niệm là đối với niệm mà không
niệm; vô trụ là bản tánh của người.
Vô tướng là thế nào ? Ngay nơi tướng mà lìa tướng đó gọi là vô tướng. Tỉ
dụ như ngay bình bông này mà lìa bình bông là thế nào ? Chúng ta cũng nhìn bình
bông, nhưng không có niệm phân biệt đẹp xấu, là ngay bình bông mà lìa bình
bông. Nếu vừa nhìn bình bông liền phân biệt đẹp xấu là dính mắc nơi bình bông,
như vậy lìa bình bông là thấy mà không dính, chớ không phải nhắm mắt đừng thấy
nó mới gọi là lìa. Điểm này phải hiểu thật rõ cho khỏi lầm, nghe nói lìa tướng rồi
đi đâu cũng che mắt lại, không nhìn cảnh vật vì sợ thấy nó là kẹt với tướng. Không
phải như thế. Ngay nơi tướng, thấy vẫn thấy nhưng không thêm niệm gì để phân
biệt, để so sánh thì đó là lìa tướng; nơi tướng mà lìa tướng đó là vô tướng.
Vô niệm là thế nào ? Đối với niệm mà không niệm.
Vô trụ là thế nào ? Bản tánh của người là vô trụ nên mới lập vô trụ làm bản,
tức là bản tánh của chúng ta không dính, không mắc, dính mắc đó là vọng chớ
không phải bản tánh.
Ở thế gian nào là thiện ác, tốt xấu, cho đến những việc oán cùng với thân,
ngôn ngữ xúc chạm, hư dối tranh đua v.v… thảy đều đem về không; không nghĩ trả
thù hại lại, trong mỗi niệm không nghĩ cảnh trước, nếu niệm trước, niệm hiện tại,
niệm sau, trong mỗi niệm tương tục không dứt gọi là hệ phược (trói buộc).
Ở thế gian, tất cả những việc hơn thua, phải quấy, tốt xấu v.v… đều đưa về
không. Tại sao ? Thí dụ việc phải quấy ở thế gian, có cố định hay không ? Một
việc vào ngày xưa là phải, ngày nay cũng phải và muôn đời là phải, hoặc vào ngày
xưa là quấy, ngày nay cũng quấy và muôn đời là quấy. Hay việc phải quấy chỉ tùy
thời ? Vào một thời nào đó đặt cho một việc nào đó là phải thì nó phải, đến một
thời khác đổi nó là quấy thì nó quấy. Như vậy phải quấy đâu có cố định, đã không
cố định thì chấp làm gì ? Không cố định nên nói nó là không. Tôi thí dụ một việc
nhỏ như người Việt Nam ra đường đi phía tay mặt là phải, nếu sang Ấn Độ hay
sang Anh thì đi phía tay trái là phải. Như vậy phải quấy là tùy địa phương và tùy
thời, chớ không cố định. Thế nên chúng ta phải hiểu rõ rằng tất cả những việc phải
quấy chỉ là đối đãi thôi, không có thật; đã không thật mà chấp là chân lý thì sai,
cho nên nói tất cả đều đưa vào không. Cả tốt xấu cũng vậy, ví dụ như có một
người nam hoặc một người nữ thật đẹp, nhưng bất thần một hôm họ bị nổi đơn thì
lúc đó quí vị còn khen người đó đẹp nữa không ? Như vậy cái đẹp xấu không cốđịnh, nó không thật, những cái không thật mà chúng ta chấp, rồi mê say có phải là
điên cuồng hay không ? Nếu không thật thì đưa nó vào không !
Tóm lại, tất cả những phải quấy, tốt xấu, hơn thua đều không thật, nên khi
nó xảy đến liền đưa vào chỗ hư giả thì mọi việc đều an bài. Trái lại, nếu chấp phải,
chấp quấy thì buồn bực phiền não đủ thứ… Đó là Tổ chỉ cho chúng ta một lẽ thật.
Thế nên tất cả đều đưa vào không, “không nghĩ trả thù hại lại, trong mỗi niệm
không nghĩ cảnh trước”, tức là trong mỗi niệm không suy nghĩ về cảnh này cảnh
khác. “Nếu niệm trước, niệm hiện tại, niệm sau, trong mỗi niệm tương tục không
dứt gọi là hệ phược.” Nếu chúng ta quen nghĩ việc này việc kia rồi niệm trước mất,
niệm kế hiện, niệm kế mất, niệm sau hiện liên tục không dừng thì đó là bị trói
buộc. Người nào cứ niệm niệm liên tục là kẻ bị trói buộc. Chúng ta có bị không ?
Tất cả chúng ta đều bị trói buộc là vì niệm niệm không d