Chuyên mục lưu trữ: Ngữ Lục

NAM TUYỀN NGỮ LỤC

Nam Tuyền Ngữ Lục – Phần Một

Trì Châu Nam Tuyền Phổ Nguyện Thiền Sư (CN-747-834) quê ở Tân Trịnh, Trịnh Châu, họ Vương, theo Đại Hoè Sơn, Đại Huệ Thiền Sư xuất gia, đến Tung Nhạc thọ giới cụ túc. Ban sơ theo Pháp Tướng Tông, học giáo lý và giới luật, Sư đi các nơi nghe giảng kinh pháp, như Kinh Lăng Già, kinh Hoa Nghiêm v.v… rồi đi sâu vào Trung Quán Luận, Bách Môn Luận, Sư thấu suốt diệu nghĩa của tất cả kinh luận. Sau cùng đến Thiền hội của Mã Tổ Đạo Nhất Thiền Sư tham vấn, bỗng nhiên được khai ngộ, đắc du hý tam muội. Sư làm hành đơn (chức vụ làm trong phòng ăn) nơi thiền hội của Mã Tổ. Một ngày kia, Sư đang dọn cháo cho chư Tăng. Mã Tổ hỏi: “Trong thùng (đựng cháo) là cái gì?” Sư đáp: “Ông già này, bịt miệng đi, nói lời thế này!” Mã Tổ liền thôi. Từ đó, các đồng tham chẳng ai dám cật vấn Sư.

Năm mười một niên hiệu Trinh Nguyên nhà Đường (CN 795), Sư làm trụ trì ở Trì Dương, ba mươi mấy năm chẳng xuống núi Nam Tuyền. Các tòng lâm tôn ngài là một vị thiền sư nổi bật.

Dưới núi Nam Tuyền có một am chủ; có người nói với am chủ rằng: “Gần đây có Hòa Thượng Nam Tuyền ra đời, tại sao không đi để yết kiến?”. Vị am chủ nói: “Chẳng những Nam Tuyền ra đời, dẫu cho ngàn Phật ra đời, tôi cũng không đi”. Sư nghe rồi, sai đệ tử là Triệu Châu đi khám xét. Triệu Châu đi từ Đông qua Tây, từ Tây qua Đông, am chủ cũng chẳng màng. Châu nói: “Thảo tặc đại bại”, rồi buông rèm xuống đi về, kể lại với Sư, Sư nói: “Xưa nay ta nghi ông này”. Ngày hôm sau, Sư cùng sa di đem một bình trà với ba cái chén đến am, liệng xuống đất, rồi nói: “Hôm qua đó, hôm qua đó”. Am chủ hỏi: “Hôm qua đó là gì?” Sư đánh vào lưng vị sa di một cái và nói: “Chớ gạt ta! Chớ gạt ta!” và liền quay đầu trở về. Sư thượng đường (thăng tòa)rằng: “Phật Nhiên Đăng đã nói rồi, nếu do tâm thức suy nghĩ sanh ra các Pháp, đều hư giả chẳng thật. Tại sao? Vì tâm còn chẳng có, làm sao sanh ra các pháp? Giống như lấy hình ảnh để phân biệt hư không, như lấy âm thanh để trong rương, cũng như thổi mạng lưới muốn cho đầy” nên Lão Túc (Mã Tổ) nói: “Chẳng phải Tâm, chẳng phải Phật, chẳng phải Vật, để dạy các anh em thực hành. Căn cứ lời Phật, Thập Địa Bồ Tát trụ Thủ Lăng Nghiêm tam muội, đắc pháp tạng bí mật của chư Phật, đắc tất cả thiền định giải thoát, thần thông diệu dụng, đến tất cả thế giới phổ hiện sắc thân, thị hiện thành Đẳng Chánh Giác, chuyển đại pháp luân, nhập niết bàn, đem vô lượng nhập vào một lỗ chân lông, giảng một câu kinh trải qua vô lượng kiếp, nghĩa cũng chưa hết, giáo hóa vô lượng chúng sanh, đắc vô sanh pháp nhẫn, còn bị gọi là sở tri ngu, cực vi tế sở tri ngu, toàn trái với đạo, thực khó! thực khó! Trân trọng (cáo biệt). (Nếu chấp theo những lời kể trên làm sở tri, thì bị gọi là sở tri ngu).

Sư thượng đường rằng: “Các ông, lão Tăng từ 18 tuổi đã biết cách làm kế sống, nay hễ có kẻ nào cũng biết cách làm kế sống thì ra đây cùng nhau thương lượng. Phải là người trụ núi mới được”. (Người trụ núi nghĩa là người sau khi ngộ).

Lương cửu (cách một lát sau), Sư nhìn khắp đại chúng, hiệp chưởng (chắp tay) nói: “Trân trọng, vô sự hãy mỗi mỗi tự tu hành đi”.

Đại chúng đứng yên chẳng giải tán. Sư nói: “Thánh quả rất đáng sợ, người siêu việt số lượng còn chẳng nại hà (giống như không có cách nào đối phó), ta lại chẳng phải nó, nó lại chẳng phải ta – nó làm sao nại hà ta – những nhà kinh luận nói pháp thân là cùng tột, gọi là lý tận tam muội, nghĩa tận tam muội. Như lão Tăng, khi xưa bị người dạy cách phản bổn hoàn nguyên, hiểu theo như thế là việc tai họa. Các anh em, gần đây thiền sư quá nhiều, muốn tìm một người ngu độn chẳng thể được. Chẳng phải hoàn toàn không có, nhưng mà rất ít, nếu có thì ra đây cùng ta thương lượng. Như thời không kiếp, có người tu hành hay không? Có hay không? Sao chẳng ai đáp? Các ông bình thường lưỡi như dao bén (biện luận rất hay), nay ta hỏi đều không mở miệng, tại sao không ra đây nói? Các anh em, chẳng kể việc lúc Phật ra đời. Mọi người hiện nay cứ gánh Phật trên vai mà đi, nghe lão Tăng nói: “Tâm chẳng phải Phật, trí chẳng phải đạo”, bèn tụ nhau suy đoán. Lão tăng chẳng có chỗ để các ông suy đoán, nếu các ông rút hư không làm cây gậy, đánh được lão Tăng, thì mặc kệ các ông suy đoán.

Lúc ấy có tăng hỏi: “Từ xưa chư Tổ cho đến Giang Tây Mã Tổ đều nói: “Tức tâm là Phật, bình thường tâm là đạo.” Nay Hòa Thượng nói tâm chẳng phải Phật, trí chẳng phải đạo, khiến học nhơn rất sanh nghi hoặc, xin Hòa Thượng từ bi chỉ dạy”.

Sư lớn tiếng đáp rằng: “Ông nếu là Phật, thì còn gì để nghi Phật như thế. Lão Tăng chẳng phải Phật, cũng chẳng gặp Tổ Sư, ông nói như thế hãy tự tìm Tổ Sư đi”.

Tăng nói: “Hòa thượng dạy thế này, bảo học nhơn làm sao hộ trì được”.

Sư nói: “Ông mau dùng tay nâng hư không đi”.

Tăng nói: “Hư không chẳng tướng động làm sao nâng?”

Sư nói: “Ông nói chẳng tướng động đã là động rồi, hư không làm sao biết nói chẳng tướng động, đây đều là kiến giải, tình chấp của ông thôi”.

Tăng nói: “Hư không chẳng tướng động còn là tình chấp, vậy hồi nãy bảo con nâng vật gì?”

Sư nói: “Ông đã biết chẳng nên nói nâng, còn tính ở đâu hộ trì nó?”.

Tăng hỏi: “Tức Tâm là Phật, tâm ấy làm Phật được chăng?”.

Sư đáp: “Tức Tâm là Phật, tâm ấy là Phật thuộc về tình chấp, đều do suy lường mà thành. Phật là trí nhơn, tâm là chủ chiêu tập nghiệp. Lúc đối vật mới có diệu dụng, Đại đức chớ nhận tâm nhận Phật. Nếu nhận được là cảnh, bị gọi là sở tri ngu. Nên Giang Tây Mã Tổ nói, chẳng phải tâm, chẳng phải Phật, chẳng phải vật để dạy người đời sau thực hành. Hiện nay kẻ học đạo đắp y đi khắp nơi, nghi việc không đáng kể như thế này còn được chăng?”.

Tăng nói: “Đã chẳng phải tâm, chẳng phải Phật, chẳng phải vật, nay Hòa Thượng còn nói tâm chẳng phải Phật, trí chẳng phải đạo, thật chưa rõ là thế nào?”.

Sư nói: “Ông chẳng nhận tâm là Phật, Trí là Đạo, lão Tăng thì chẳng đắc tâm, vậy còn dính mắc chỗ náo?”.

Tăng nói: “Thảy đều không được, đâu khác gì thái hư”.

Sư nói: “Đã chẳng phải vật, so thái hư cái gì? Lại bảo khác hay chẳng khác”.

Tăng nói: “Chẳng lẽ cũng không có “chẳng phải Tâm, chẳng phải Phật, chẳng phải Vật” luôn chăng?”.

Sư nói: “Ông nếu nhận cái này thì lại thành Tâm thành Phật rồi!”.

Tăng nói: “Xin Hòa thượng giải thích”.

Sư nói: “Lão tăng tự chẳng biết”.

Tăng nói: “Tại sao chẳng biết?”.

Sư nói: “Bảo ta nói gì?”

Tăng nói: “Chẳng lẽ không cho học nhân hội đạo?”.

Sư nói: “Hội đạo nào? Làm sao mà hội?”.

Tăng nói: “Con không biết!”.

Sư nói: “Không biết thì tốt. Nếu chấp lấy lời lão Tăng thì gọi là người y thông (y là dựa theo). Nếu gặp Di Lặc ra đời, thì sẽ bị ngài nắm tóc”.

Tăng nói: “Làm sao dậy kẻ hậu học đời sau?”.

Sư nói: “Ông hãy tự khán, chớ lo người đời sau!”.

Tăng nói: “Hồi nãy không cho con hội đạo, nay lại bảo con tự khán, thực con chưa rõ”.

Sư nói: “Âm thầm hội, diệu hội. Cho ông hội thế này”.

Tăng nói: “Thế nào là diệu hội?”.

Sư nói: “Còn muốn học lời lão Tăng! Dẫu nói được, cũng là lời của lão Tăng, ông còn muốn làm sao?”.

Tăng nói: “Con nếu tự hội được thì chẳng phiền Hòa Thượng. Nay con xin Hòa Thượng dạy bảo”.

Sư nói: “Chẳng lẽ chỉ Đông chỉ Tây để gạt người. Lúc ông còn mới bập bẹ sao không đến hỏi lão Tăng, nay lại làm tài khôn nói ta chẳng hội, mong muốn cái gì?  Ông ló đầu ra nói ta xuất gia làm thiền sư, vậy lúc chưa xuất gia đã từng làm cái gì? Hãy thử nói xem, ta sẽ cùng ngươi thương lượng”.

Tăng nói: “Lúc bấy giờ con không biết”.

Sư nói: “Đã không biết thì nay nhận được này nọ là phải chăng?”.

Tăng nói: “Nhận được đã chẳng phải, chẳng nhận phải chăng?”.

Sư nói: “Nhận với chẳng nhận là lời nói gì?”.

Tăng nói: “Đến chỗ này con càng chẳng hội được”.

Sư nói: “Ông nếu chẳng hội ta còn chẳng hội hơn”.

Tăng nói: “Con là học nhân nên chẳng hội, còn Hòa Thượng là Thiện Tri Thức thì phải hội”.

Sư nói: “Ông này! Đã nói với ông chẳng hội thì còn ai mà luận Thiện Tri Thức. Chớ làm tài khôn! Xem khi Mã Tổ còn tại thế, có một học sĩ hỏi “Như nước không gân xương, nâng ghe muôn ngàn tấn. Lý này là thế nào?”. Mã Tổ nói: “Ở đây chẳng nước cũng chẳng ghe, luận gì gân xương”. Học sĩ liền thôi. Như thế phải ít phí sức không? Cho nên ta thường nói: “Phật chẳng hội đạo, ta tự tu hành, vậy cần biết làm gì?”.

Tăng nói: “Thế thì làm sao tu hành?”.

Sư nói: “Không thể suy lường được. Nói với ngươi tu như vậy, hành như vậy, thực khó!”.

Tăng nói: “Vậy còn cho học nhân tu hành hay không?”.

Sư nói: “Lão Tăng chẳng thể chướng ngại ngươi”.

Tăng nói: “Con làm sao tu hành?”.

Sư nói: “Muốn hành thì hành, cứ tìm hỏi người khác”.

Tăng nói: “Nếu chẳng nhờ Thiện Tri Thức chỉ thị, làm sao hội được. Như Hòa Thượng thường nói tu hành cần phải hiểu mới được. Nếu không hiểu thì e lọt vào nhân quả, chẳng có phần tự do. Chưa rõ tu hành thế nào mới khỏi lọt vào nhân quả”.

Sư nói: “Chẳng cần thương lượng. Nếu nói đi tu hành, chỗ nào không đi được”.

Tăng nói: “Làm sao đi được?”.

Sư nói: “Chẳng lẽ tùy người mà tìm được?”.

Tăng nói: “Hòa Thượng chưa nói, bảo con làm sao tìm?”.

Sư nói: “Dẫu cho nói, đi chỗ nào tìm? Như ông từ sáng tới chiều đi Đông đi Tây, thương lượng với ai? Được hay không được. Người khác làm sao mà biết”.

Tăng nói: “Lúc đi Đông đi Tây đều không suy nghĩ, phải chăng?”.

Sư nói: “Lúc ấy ai nói phải với chẳng phải?”.

Tăng nói: “Hòa Thượng thường nói “Ta ở tất cả nơi mà vô sở hành, tất cả nơi câu thúc ta chẳng được, gọi là biến hành tam muội, phổ hiện sắc thân”, tức là lý này chăng?”.

Sư nói: “Nếu kẻ tu hành chỗ nào chẳng đi được, chẳng nói câu với bất câu, cũng chẳng nói tam muội”.

Tăng nói: “Vậy khác gì có pháp để đắc Bồ Đề đạo?”.

Sư nói: “Chẳng kể khác hay chẳng khác”.

Tăng nói: “Cái thuyết tu hành của Hòa Thượng siêu việt và khác với đại thừa, chưa rõ thế nào?”.

Sư nói: “Chẳng quản khác hay chẳng khác. Ta chưa từng học. Nếu muốn xem giáo thì có tọa chủ, kinh luận. Các nhà giáo môn thật rất đáng sợ. Ông hãy đi nghe tốt hơn”.

Tăng nói: “Rốt cuộc khiến học nhân làm sao mà hội”.

Sư nói: “Theo sự hỏi của ông vốn chỉ ở bên nhân duyên, thấy ông còn chẳng nại hà. Duyên là nhận được vật trên sáu cửa. Ông hãy hội bên Phật rồi đến thương lượng với ta. Chớ truy tìm thế này, chẳng phải thế này, chớ lấy lời cổ nhân hành hạnh Bồ Tát. Duy có một người hành thiền, ma Ba Tuần lãnh các quyến thuộc thường theo dõi sau lưng Bồ Tát, tìm chỗ tâm hành khởi lên liền chộp ngã. Nhưng trải qua vô lượng kiếp tìm chỗ một niệm khởi cũng chẳng thể được, mới cùng quyến thuộc lễ tạ, tán thán cúng dường, ấy còn là cấp bậc tiến tu, người trung hạ căn lại chẳng nại hà, huống là chỗ tuyệt công dụng, như Văn Thù, Phổ Hiền thì khỏi cần nói. Thế nào là đạo hành của ông? Là có hay không? Tìm người hành một ngày cũng chẳng thể được. Hiện nay cứ từ đầu năm đến cuối năm đi khắp nơi chỉ là tìm cứu cánh làm cái gì? chỉ là đầu môi chót lưỡi sinh ra kiến giải.

Tăng nói: “Lúc bấy giờ chẳng tên Phật, chẳng tên chúng sanh, khiến con làm sao suy nghĩ thực hành”.

Sư nói: “Ông nói chẳng tên Phật chẳng tên chúng sanh đã là suy nghĩ rồi, cũng là nhớ lời người khác”.

Tăng nói: “Nếu như thế tất cả đều thuộc về việc lúc Phật ra đời, chẳng thể không nói”.

Sư nói: “Ông làm sao nói?”.

Tăng nói: “Giả sử nói, nói cũng không tới”.

Sư nói: “Nếu nói là nói không tới, là lời tới. Ông uổng công truy tìm, ai làm cảnh cho ông tìm”.

Tăng nói: “Đã không vì làm cảnh, ai là người bên kia?”.

Sư nói: “Nếu ông không dẫn chứng giáo lý thì nơi nào để luận Phật. Đã chẳng luận Phật, lão Tăng luận với ai mà nói bên đây bên kia”.

Tăng nói: “Quả dù chẳng trụ đạo, nhưng đạo hay làm nhân, là nghĩa thế nào?”.

Sư nói: “Ấy là lời cổ nhân. Hiện nay không thể không trì giới. Ta chẳng phải nó, nó chẳng phải ta. Cứ làm theo như con trâu con chồn! Hễ nổi lên một niệm thấy khác thì khó mà tu hành”.

Tăng nói: “Một niệm thấy khác thì khó mà tu hành là thế nào?”.

Sư nói: “Mới một niệm thấy khác liền có hai gốc tốt xấu. Chẳng phải tình kiến đuổi theo nhân quả họ, lại còn có phần tự do gì?”.

Tăng nói: “Thường nghe Hòa Thượng dạy Báo thân Hóa thân đã chẳng phải Phật thật, vậy Pháp thân là Phật thật chăng?”.

Sư nói: “Đã là Ứng thân rồi!”.

Tăng nói: “Nếu như thế này thì Pháp thân cũng chẳng phải Phật thật”.

Sư nói: “Pháp thân là thật hay chẳng thật, lão Tăng không lưỡi, không nói được, ông bảo ta nói là được thì được”.

Tăng nói: “Ngoài lìa tam thân, pháp nào là Phật thật?”.

Sư nói: “Ông này! Cùng ông già tám chín chục tuổi chửi lộn, nói với ông rồi đó, còn hỏi gì lìa, chẳng lìa, bộ muốn đem đinh đóng hư không hay sao?”.

Tăng nói: “Theo kinh Hoa Nghiêm là Pháp thân Phật thuyết, là thế nào?”.

Sư nói: “Ông vừa nói lời gì?”.

Tăng nhắc lại.

Sư nhìn qua nhìn lại rồi than: “Nếu là Pháp thân thuyết, ông hướng vào chỗ nào để nghe?”.

Tăng nói: “Con chẳng hội”.

Sư nói: “Thực khó, thực khó. Ông xem Tọa chủ Lượng là người Tứ Xuyên biết giảng ba mươi hai bộ kinh luận, lúc đang giảng ở tỉnh Giang Tây, có dịp đến tham vấn Mã Tổ trong Khai Nguyên Tự. Mã Tổ hỏi: “Nghe nói Tọa chủ hay giảng kinh, phải chăng?” Tọa chủ nói: “Không dám”. Mã Tổ nói: “Đem cái gì để giảng?” Tọa chủ nói: “Đem tâm để giảng”. Mã Tổ nói: “Tâm như người múa rối, ý như người hòa nhạc, làm sao giảng được?” Tọa chủ nói: “Vậy có lẽ hư không giảng được chăng?” Mã Tổ nói: “Đúng là hư không giảng được”. Tọa chủ quay lưng đi liền. Mã Tổ lớn tiếng gọi: “Tọa chủ!” Tọa chủ! quay đầu lại. Mã Tổ lớn tiếng: “Là cái gì?”, Tọa chủ liền khai ngộ. Ông xem thử, mau không?”.

Tăng nói: “Căn cứ lời Hòa Thượng tức là Pháp thân thuyết pháp”.

Sư nói: “Nếu hội như thế đã là Ứng thân rồi”.

Tăng nói: “Đã là Ứng thân há chẳng có người thuyết pháp?”.

Sư nói: “Ta không biết”.

Tăng nói: “Con không hội”.

Sư nói: “Không hội thì tốt, khỏi cùng nó phân giải nữa”.

Tăng hỏi: “Trong kinh nói chỗ Pháp thân Đại Sĩ hội ngộ tức thấy Pháp thân Phật. Địa vị Bồ Tát tức thấy Báo thân Phật. Nhị thừa chỉ thấy Hóa thân Phật là lý này chăng?”.

Sư nói: “Mắt ta chưa từng xem kinh giáo, lỗ tai cũng chưa từng nghe. Ông tự xem lấy. Nếu ghi nhớ như thế thì sau này mới chẳng nại hà. Giống như người chơi hạt châu, nói ánh sáng hạt châu chiếu cùng khắp, có đĩa vàng thì phản chiếu được, bỗng bị lấy mất đĩa vàng thì chỗ nào chơi châu, chỗ nào tìm ánh sáng khắp với chẳng khắp”.

Tăng lễ bái.

Sư cười rằng: “Thực khó, thực khó. Cổ nhân mắng ông là hạng thợ săn ngư phủ, cũng là người đem phẩn vào. Trân trọng”.

Triệu Châu hỏi: “Đạo chẳng phải ngoài vật. Ngoài vật chẳng phải đạo. Thế nào là đạo ngoài vật?”.

Sư liền đánh.

Triệu Châu nắm lấy gậy rằng: “Về sau chớ đánh lầm người”.

Sư nói: “Rồng rắn dễ phân biệt. Nạp tử (Tu sĩ) khó lừa gạt”.

Bình: Tuyết Đậu Hiển thiền sư nói: “Triệu Châu như rồng không sừng, như rắn có chân. Lúc ấy không kể “Tận pháp vô dân”, cần phải cho ăn gậy rồi đuổi ra”.

*

*     *

Lúc đang thưởng trăng, Tăng hỏi: “Bao giờ được giống như cái này?”.

Sư nói: “Vương lão sư hai mươi năm trước cũng như thế này”.

Tăng nói: “Vậy hiện nay thì làm sao?”.

Sư bèn về phương trượng.

Nam Tuyền Ngữ Lục – Phần Hai

Một hôm Sư hỏi Huỳnh Bá: “Vàng ròng làm thế giới. Bạc trắng làm vách tường. Đấy là chỗ người gì ở?”.

Bá nói: “Là chỗ thánh nhân ở”.

Sư nói: “Còn có một người ở quốc độ nào?”.

Bá Khoanh tay đứng yên.

Sư nói: “Nói chẳng được sao không hỏi Vương lão sư?”.

Bá hỏi lại: “Còn có một người ở quốc độ nào?”.

Sư nói: “Đáng tiếc thay!”.

*

*     *

Sư hỏi Huỳnh Bá: “Định huệ đẳng học, minh kiến Phật tánh, lý này thế nào?”.

Bá nói: “Trong mười hai thời chẳng y dựa một vật”.

Sư nói: “Ấy là chỗ thấy của Trưởng lão chăng?”.

Hoàng Bá nói: “Không dám”.

Sư nói: “Tiền nước tương tạm gác một bên. Tiền dép cỏ bảo ai trả?”.

Bình: Diệu Hỷ Đại Huệ Thiền Sư nói: “Không thấy lời rằng “Trên đường gặp kiếm khách nên hiến kiếm, chẳng phải nhà thơ chớ truyền thơ”.

*

*     *

Sư tham vấn Bá Trượng Niết Bàn Hòa Thượng.

Trượng hỏi: “Từ xưa chư Thánh còn có pháp nào chẳng vì người mà thuyết chăng?”.

Sư nói: “Có”.

Trượng nói: “Thế nào là Pháp chẳng vì người mà thuyết?”.

Sư nói: “Chẳng phải tâm, chẳng phải Phật, chẳng phải Vật”.

Trượng nói: “Đã thuyết rồi đó!”.

Sư nói: “Con chỉ biết như thế. Hòa Thượng làm thế nào?”.

Trượng nói: “Ta chẳng phải Đại Thiện Tri Thức, đâu biết thuyết hay chẳng thuyết.

Sư nói: “Con chẳng hội”.

Trượng nói: “Ta đã quá sức vì ngươi mà nói rồi vậy”.

Bình: Tuyết Đậu Hiển Thiền Sư tụng rằng:

Phật Tổ từ xưa chẳng vì người.

Nạp Tăng xưa nay đua nhau chạy.

Trên đài gương sáng tượng khác biệt

Mỗi mỗi hướng Nam nhìn Bắc Đẩu

Chuôi Bắc Đẩu

Không chỗ thảo (thảo nghĩa là tìm lấy)

Bắt được lỗ mũi lại mất khẩu

*

*     *

Sư và Lỗ Tổ, Qui Tông, Sam Sơn bốn người lìa nơi Mã Tổ, mỗi người đều muốn đi tìm nơi ở. Nửa đường chia tay, Sư cắm cây gậy xuống nói:

– Nói được cũng bị cái này chướng ngại, nói không được cũng bị cái này chướng ngại.

Qui Tông nhổ cây gậy lên, đánh Sư rồi nói:

– Cũng chỉ là Vương lão sư này thôi. Nói gì ngại, chẳng ngại.

Lỗ Tổ nói: “Chỉ một lời nói này, truyền bá khắp thiên ha”.

Qui Tông nói: “Còn có kẻ không truyền bá chăng?”.

Lỗ Tổ nói: “Có”.

Qui Tông nói: “Thế nào là kẻ không truyền bá”.

Lỗ Tổ làm thế muốn bạt tai.

*

*     *

Sư cùng Lỗ Tổ, Sam Sơn, Qui Tông đang uống trà. Lỗ Tổ giơ chén trà lên nói: “Lúc thế giới chưa thành đã có cái này”.

Sư nói: “Người thời nay chỉ biết cái này, chưa biết thế giới”.

Qui Tông nói: “Phải”.

Sư nói: “Bộ Sư huynh đồng ý kiến này chăng?”.

Qui Tông lại nâng chén trà lên nói: “Hướng vào lúc thế giới chưa thành, nói được chăng?”.

Sư giơ tay làm thế muốn bạt tai. Qui Tông đưa mặt làm thế muốn nhận.

*

*     *

Ma Cốc cầm tích trượng đến Chương Kỉnh, nhiễu thiền sàng ba vòng rồi dộng tích trượng một cái, nghiêm mặt đứng thẳng.

Chương Kỉnh nói: “Phải! Phải!”.

Bình: Tuyết Đậu nói: “Sai”

*

*     *

Ma Cốc lại đến chỗ Sư, cũng nhiễu thiền sàng ba vòng rồi cũng dộng tích trượng một cái, nghiêm mặt đứng thẳng.

Sư nói: “Chẳng phải! Chẳng phải!”.

Bình: Tuyết Đậu nói: “Sai”.

*

*     *

Ma Cốc nói: “Chương Kỉnh nói phải, tại sao Hòa Thượng lại nói chẳng phải?”.

Sư nói: “Chương Kỉnh thì phải, là ông chẳng phải. Đó là sức gió sở chuyển, chung qui bại hoại”.

Bình: Tuyết Đậu tụng:

Này sai kia sai

Rất kỵ liệng bỏ

Bốn biển sóng yên

Trăm sông triều xuống

Cổ sắc phong cao thập nhị môn

Môn môn hữu lộ không tiêu điều.

Phi tiêu điều

Trăm năm ham cầu thuốc không bịnh

*

*     *

Viên Ngộ Cần thiền sư rằng: “Cần phải nhận lấy hai “Sai” mới được. Tuyết Đậu muốn đề chỗ hoạt bát nên như thế. Nếu mà thằng dưới da có máu, tự nhiên chẳng hướng vào ngôn cú để hiểu. Có người nói Tuyết Đậu thay cho Ma Cốc dùng hai chữ “Sai” này, có dính dáng gì đâu! Đâu biết cổ nhân dùng lời nói là khóa chặt quan ải. Bên đây cũng phải, bên kia cũng phải, rốt cuộc chẳng ở hai đầu này”.

Khánh tạng chủ nói: “Cầm tích trượng nhiễu thiền sàng như phải và chẳng phải đều sai. Kỳ thực ý cũng chẳng ở đây”.

Qui Sơn Triệt thiền sư rằng: “Chương Kỉnh nói “phải” cũng lọt vào trong vòng của Ma Cốc. Nam Tuyền nói “chẳng phải” cũng lọt vào trong vòng của Ma Cốc. Đại Quy thì không như vậy. Bỗng có người cầm tích trượng, nhiễu thiền sàng ba vòng, nghiêm mặt đứng thẳng, chỉ hướng họ rằng: Khi chưa đến đây, nên cho ba mươi gậy”.

*

*     *

Diêm Quan Thiền Sư dạy chúng rằng: “Hư không làm trống, tu di làm chùy. Người nào đánh được?”.

Không ai trả lời.

Có Tăng kể lại với Sư. Sư nói: “Vương lão sư không đánh cái trống bể này!”.

Bình: Pháp Nhãn thiền sư nói cách khác rằng: “Vương lão sư không đánh”.

Huỳnh Long Tâm thiền sư rằng: “Nam Tuyền Pháp Nhãn chỉ biết nhìn trước, chẳng biết dòm sau. Cũng như Diêm Quan nói hư không làm trống Tu Di làm chùy, chỗ nào là chỗ bể. Còn kiểm điểm ra được chăng? Dẫu cho kiểm điểm được chỗ bể rõ ràng, ta còn muốn hỏi ngươi tìm trống đó!”.

*

*     *

Sư với Qui Tông, Ma Cốc cùng nhau đi tham lễ Nam Dương Quốc Sư. Sư ở trên đường vẽ một vòng tròn, rằng: “Nói được thì đi”.

Qui Tông liền ngồi trong vòng tròn Ma Cốc bèn lạy kiểu người nữ. Sư nói: “Thế này thì không đi”.

Qui Tông nói: “Là tâm hạnh gì?”.

Sư liền rủ tất cả quay về, không đi tham lễ Quốc Sư nữa.

Bình: Tuyết Đậu tụng rằng:

                     Dưỡng Do Cơ bắn vượn

                     Nhiễu cây sao quá thẳng!

                     Ngàn con và muôn con

                     Ấy là ai bi trúng?

                     Gọi nhau, rủ nhau

                     Đi về đi!

                     Trên đường Tào Khê chớ leo dốc.

                     Lại nói đường Tào Khê bằng phẳng

                     Tại sao chớ leo dốc.

*

*      *

Có một tọa chủ từ giã Sư. Sư hỏi: “Đi chỗ nào?”.

Đáp: “Đi dưới núi”.

Sư nói: “Đệ nhất không được báng Vương lão sư?”.

Đáp: “Đâu dám báng Hòa Thượng!”

Sư làm bộ hắt xì, hỏi: “Bao nhiêu?”.

Tọa chủ bèn ra đi.

Bình: Vân Cư Ưng thiền sư rằng: “Phi Sư bổn ý”.

Tiên Tào Sơn rằng: “Lì!”.

Thạch Sương thiền sư rằng: “Chẳng vì người thương lượng”.

Trường Khánh thiền sư rằng: “Xin lãnh lời”.

Vân Cư Tích thiền sư rằng: “Tọa chủ lúc ấy ra đi là hội hay chẳng hội?”.

*

*     *

Một hôm Sư đóng cửa phương trượng, đem vôi rải vòng ở ngoài cửa, bảo chúng rằng: “Nếu có người nói được thì mở”.

Có nhiều người nói, nhưng đều chưa thỏa ý Sư. Triệu Châu nói: “Trời xanh!”.

Sư liền mở cửa.

*

*     *

Lục đại phu với Sư gặp người chơi xúc xắc.

Lục đại phu chỉ quân xúc xắc nói: “Thế này! Chẳng thế này! Đang thế này! Lúc trúng là thế nào?”.

Sư lượm hột xúc xắc nói: “Xương thú mười tám!”.

*

*     *

Lục đại phu nói với Sư: “Pháp  sư Tăng Triệu cũng rất kỳ lạ, biết nói trời đất với ta cùng gốc, vạn vật với ta một thể”.

Sư chỉ hoa mẫu đơn trước sân, rằng: “Đại phu! Người đời thấy cây hoa này tương tự như mơ”.

Lục đại phu chưng hửng.

Bình:   Tuyết Đậu tụng:

                     Kiến văn giác tri phi mỗi mỗi

                     Núi sông chẳng quán ở nơi gương

                     Trời sương trăng lặn đêm sắp tàn

                     Cùng ai đầm lặng chiếu ảnh hàn.

Viên Ngộ Cần Thiền Sư rằng: “Nam Tuyền tiểu thùy ngữ, Tuyết Đậu đại thùy ngữ. Mặc dầu nằm chiêm bao mà là chiêm bao tốt. Trước kia nói nhất thể, ở đây nói chẳng đồng. “Kiến –Văn – Giác – Tri phi mỗi mỗi, núi sông chẳng quán ở nơi gương”. Nếu nói quán trong gương rồi mới hiểu được thì chẳng lìa chỗ gương. Núi sông đất đai, tùng lâm thảo mộc chớ đem gương chiếu soi. Nếu đem gương chiếu soi liền thành hai đoạn. Nên chỉ có thể nói núi là núi, sông là sông. Pháp đó trụ ngôi pháp, tướng thế gian thường trụ”. Núi sông chẳng ngại mắt sáng, hãy nói hướng vào chỗ nào mà quán. Còn hội chăng? Đến chỗ này hướng vào “Trời sương trăng lặn đêm sắp tàn”, bên này cùng người ăn khớp rồi. Bên kia ngươi tự đoán lấy. Còn biết Tuyết Đậu dùng việc bổn phận vì người chăng? “Cùng ai đầm trong chiếu ảnh hàn” ấy là tự chiếu hay cùng người chiếu? Cần phải tuyệt cơ tuyệt giải mới đến được cảnh giới này. Không muốn đầm trong cũng không đợi trời sương trăng lặn, thì hiện nay làm sao?”.

Kỉnh Sơn Cảo Thiền Sư rằng: “Nếu hướng trên lý mà xem, chẳng những Nam Tuyền gạt Lục Tuyên đại phu một chút không được, cũng chưa mò trúng một sợi lông dưới gót chân. Nếu hướng trên sự mà xem, chẳng những Lục Tuyên đại phu gạt Nam Tuyền một chút không được, cũng chưa mộng kiến được cái mồ hôi thúi của ngài. Hoặc có người ra đây nói. Đại, Tiểu Kỉnh Sơn thuyết sự, thuyết lý, chỉ hướng họ rằng hãy hướng vào trên lý, sự, hội lấy. Còn có bài tụng rằng;

                     Trời đất đồng gốc trình câu hỏi

                     Chưa từng dợm bước đã quên nhà

                     Đất chẳng âm dương hoa lại nở

                     Ngọc vốn không vết lại có vết.

Một hôm Pháp Sương Ngộ Thiền Sư cùng Nột Thủ tọa đang xem hoa đàn hỏi về việc Nam Tuyền nói: “Người đời thấy cây hoa này tương tự như mơ”. Người thấy tựa như cái gì, nói thử xem”.

Nột nói: “Chỉ một cây hoa”.

Ngộ nói: “Vậy thì ngươi cũng ở trong hang ổ của Nam Tuyền”.

Nột nói: “Cố nhân ý là thế nào?”.

Ngộ nói: “Đem gạch lại!”.

Nột đưa gạch rồi hỏi nữa. Ngộ nói: “Phật xưa đã đi lâu rồi!”.

*

*     *

Sư vào Tuyên Châu. Lục Tuyên đại phu ra đón, chỉ cửa thành rằng: “Người người đều gọi là Ung Môn, chưa rõ Hòa Thượng gọi là gì?”.

Sư nói: “Lão Tăng nếu nói e xỉ nhục phong hóa của đại phu”.

Lục đại phu nói: “Bỗng nhiên có kẻ giặc đến thì làm sao?”.

Sư nói: “Lão Tăng tội lỗi!”.

Lục đại phu hỏi tiếp: “Trong nhà đệ tử có một tảng đá, có lúc để ngồi, lúc để nằm. Hiện nay tính khắc làm tượng Phật, được chăng?”.

Sư nói: “Được!”.

Lục đại phu nói: “Có lẽ không được chăng?”.

Sư nói: “Không được!”.

Vân Nham Thiền Sư nói: “Ngồi tức Phật, chẳng ngồi tức phi Phật”.

Động Sơn nói: “Chẳng ngồi tức Phật, ngồi tức phi Phật!”.

Thiên Đồng Giác Thiền Sư nói: “Chuyển công theo ngôi vị, chuyển ngôi vị theo công, ấy là cha con Động Sơn. Còn ý của Nam Tuyền là thế nào? Thực là kim dùi không vô”.

*

*     *

Tăng hỏi: “Lúc cha mẹ chưa sanh, lỗ mũi ở đâu?”.

Sư nói: “Cha mẹ đã sanh rồi, lỗ mũi đâu?”.

Sư hỏi Thần Sơn Thiền Sư: “Từ đâu đến?”.

Thần Sơn nói: “Đánh Cầu đến”,

Sư nói: “Tay đánh hay chân đánh”.

Thần Sơn không trả lời được.

Sư nói: “Ngươi hỏi ta, ta nói với ngươi”.

Thần Sơn nói: “Tay đánh hay chân đánh”.

Sư nói: “Ghi lấy rõ ràng về sau gặp người mắt sáng, kể lại cho họ”.

*

*     *

Sư hỏi một Tọa chủ: “Ông giảng kinh gì?”.

Tọa chủ nói: “Kinh Di Lặc hạ sanh”.

Sư nói: “Di Lặc lúc nào hạ sanh”.

Tọa chủ nói: “Hiện còn ở trên Thiên cung chưa đến”.

Sư nói: “Trên trời chẳng Di Lặc, dưới đất chẳng Di Lặc”.

Bình: Kỉnh Sơn Cảo Thiền Sư nói: “Bỗng có thằng nào ra hỏi: “Trên trời chẳng Di lặc, dưới đất chẳng Di Lặc” vậy bảo ai hạ sanh? Lại làm sao để trả lời họ? Chỉ nói với họ: “Lão Tăng tội lỗi”.

*

*     *

Tăng hỏi: Trong mười hai thời lấy gì làm cảnh?”.

Sư nói: “Sao không hỏi Vương lão sư?”

Tăng nói: “Đã hỏi rồi”.

Sư nói: “Đã từng với ngươi làm cảnh chăng?”.

Tăng hỏi: “Sư về phương trượng đem gì chỉ nam?”.

Sư nói: “Canh Ba đêm qua mất con trâu, trời sáng thức dậy lại mất lửa”.

*

*     *

Sư vì Đông đường và Tây đường giành con mèo, bị Sư gặp, bạch chúng rằng: “Nói được thì cứu con mèo. Nói không được thì chém liền”.

Chúng chẳng ai trả lời. Sư bèn chém. Triệu Châu ở ngoài về, Sư bèn kể lại chuyện này cho biết. Triệu Châu cởi giày để trên đầu rồi đi ra.

Sư nói: “Hồi nãy ông nếu có mặt thì cứu được con mèo”.

Bình: Qui Tông Thiền Sư đang cuốc cỏ, có giảng Tăng đến tham vấn. Bỗng có con rắn chạy bò ngang. Sư dùng cuốc chém đứt.

Giảng Tăng nói: “Nghe tiếng Qui Tông đã lâu, ai dè lại là một Sa môn thô hạnh”.

Qui Tông Thiền Sư nói: “Ngươi thô hay ta thô?”.

Giảng Tăng nói: “Thế nào là thô?”.

Sư giơ lên cây cuốc.

Giảng Tăng tiếp: “Thế nào là tế?”.

Sư làm thế chém rắn.

Giảng Tăng tiếp: “Thế thì theo đó mà hành”.

Sư nói: “Theo đó mà hành để một bên. Ngươi chỗ nào thấy ta chém rắn?”.

Tăng không  trả lời được.

Chân Tịnh Thiền Sư rằng: “Đại chúng! Chỉ như Qui Tông chém rắn, hói Tăng ấy rằng “Ngươi thô, ta thô” chỗ thấy của cổ nhân là thế nào?”.

Nói xong, giơ phất trần lên: “Hôm nay ta giơ phất trần với Qui Tông chém rắn là đồng hay khác?”.

Cách một lát sau, rằng: “Người người có cái thiên chân Phật, diệu dụng tung hoành trọn chẳng biết. Hôm nay rõ ràng cùng chỉ ra. Chém rắn, giơ phất lại do ai?”

Chân Tịnh nói tiếp: “Nam Tuyền chém mèo, Qui Tông chém rắn, trong tòng lâm thương lượng còn có tốt xấu tạm ngưng. Chỉ như Triệu Châu đội giày lên đầu đi ra là thế nào? Nếu là rõ được chỗ này thì Đức Sơn quở Phật mắng Tổ có lỗi gì? Nếu ở đây chẳng rõ, Đơn Hà thiêu Phật gỗ, viện chủ rụng lông mày. Cho nên nói họa phước không cửa, do người tự chiêu lấy. “Hét một tiếng rồi xuống tòa”.

Tuyết Đậu tụng về Nam Tuyền chém mèo rằng:

  Lưỡng đường đều là kẻ tham thiền

  Khuấy động bụi trần chẳng nại hà

  Nhớ được Nam Tuyền hành chánh lịnh

  Một dao hai khúc mặc ông bình!

  Tuyết Đậu tụng Triệu Châu đội giày:

  Bổn lai công án hỏi Triệu Châu

  Trong thành Trường An mặc dạo chơi

  Dép cỏ đội đầu chẳng ai hội

  Về đến quê nhà tức liền thôi.

Sư nói: “Văn Thù Phổ Hiền canh ba đêm qua đánh lộn. Mỗi người cho hai chục gậy đuổi ra viện rồi đó”.

Triệu Châu nói: “Gậy Hòa Thượng bảo ai ăn?”.

Sư nói: “Vương lão sư lỗi chỗ nào?”.

Triệu Châu liền đảnh lễ.

*

*     *

Bình: Kỉnh Sơn Cảo Thiền Sư tụng:

                     Nam Tuyền không lỗi

                     Miệng hay chiêu họa

                     Triệu Châu lễ bái

                     Thảo tặc đại bại

                     Kỉnh Sơn bất quản

                     Theo việc kết án

                     Văn Thù Phổ Hiền

                     Tạm gát một bên.

*

*     *

Nam Tuyền thượng đường nói: “Vương lão sư tử nhỏ nuôi một con trâu, tính muốn chăn bên khe Đông cũng không khỏi phạm cỏ nước của nhà vua, tính chăn bên Tây cũng không khỏi phạm cỏ nước của nhà vua. Chẳng bằng tùy phận nạp chút chút, trọn chẳng thấy được”.

Thượng đường: “Vương lão sư bán thân đi, có ai mua chăng?”.

Một Tăng ra nói: “Con mua”.

Sư nói: “Chẳng phải mắc, chẳng phải rẻ, ngươi làm sao mua?’.

Tăng không trả lời.

Sư hỏi Duy Na: “Hôm nay phổ thỉnh, làm việc gì?”.

Duy Na trả lời rằng: “Kéo cối xay”.

Sư nói: “Cối thì cho ông kéo, nhưng không được động tới trục cối chính giữa”.

Duy Na không thể trả lời.

Ngài khai thị rằng: “Chân lý nhất như (bất nhị) mạc hạnh, mạc dụng, chẳng có người biết gọi là vô lậu trí, cũng là tánh bất động, vô lậu bất khả tư nghì, tánh không v.v…  Chẳng phải dòng sanh tử, đạo là đại đạo vô ngại Niết Bàn, diệu dụng tự đầy đủ mới được chỗ hành khắp nơi mà được tự tại. Nên nói nơi chư hành xứ mà vô sở hành, cũng gọi là biến hành tam muội, phổ hiện sắc thân”.

Chỉ vì chẳng có người biết chỗ dụng của nó vốn chẳng có tông tích, chẳng thuộc kiến văn giác tri, chân lý tự thông, diệu dụng tự đầy đủ. Đại đạo vô hình, chân lý vô đối, nên chẳng thuộc kiến văn giác tri, chẳng có tư tưởng thô hay tế, như nói chẳng nghe mà nghe là ĐẠI NIẾT BÀN. Cái việc này chẳng phải nghe hay không nghe.

Tăng hỏi: “Đại đạo chẳng thuộc kiến văn giác tri, vậy làm sao khế hội?” (lãnh hội).

Ngài đáp: “Cần âm thầm khế hội thì tự thông. Cũng nói liễu nhân chẳng từ kiến văn giác tri mà có, kiến văn giác tri thuộc về duyên, đối vật mới có, đại đạo linh diệu, bất khả tư nghì, chẳng phải có tương đối nên nói diệu dụng tự thông, chẳng y dựa vật nào, cho nên đạo thông chẳng phải y thông. Y thông phải nhờ vật mới được sự thấy, đại đạo thì chẳng nhờ vật.

Nên nói đạo chẳng phải pháp sáng tối, lìa có lìa không, lý tiềm ẩn âm thầm tự thông, chẳng có người biết, cũng nói thầm hội chân lý, chẳng phải kiến văn giác tri. “Tâm ngưng (thôi nghỉ) đặt bổn nguyên, nên gọi như như Phật, là người tự tại cứu cánh vô y cũng gọi là bổn quả, chẳng từ nhân sanh mà sanh. Văn Thù nói: “Chỉ (duy nhất) liễu nhân mà liễu, chẳng từ nhân sanh mà sanh” (liễu nhân là chẳng có nhân sanh khởi, sanh nhân là có cái nhân sanh khởi).

Sư Nam Tuyền nói tiếp: “Từ xưa đến nay chỉ bảo người ngộ đạo, chớ nên cầu cái khác. Nếu suy nghĩ ra được đạo lý cao siêu đều thuộc về cú nghĩa (nghĩa chữ).  Nghĩa lý tam thừa ngũ tánh là chỗ hành, nói chỗ thọ dụng hằng ngày đầy đủ thì được, nói đạo thì chẳng phải. Nếu chấp thật thì bị ý thức trói buộc, gọi là thế gian trí. Theo giáo môn nói: nếu học giả cứ chấp thật tam tạng giáo điển (kinh luật luận) thì thành thợ săn, ngư phủ vì lợi dưỡng mà tổn hại đại thừa, cũng là tập khí tham dục. Cho nên Cổ Đức nói: “Phật chẳng hội đạo ta tự tu hành, ta tự có diệu dụng cũng gọi là chánh nhân, liễu sáu Ba La Mật đều KHÔNG, cảnh vật lôi cuốn ta chẳng được”.

Tổ Sư từ Tây Trúc đến, e sợ các ngươi mê chấp nhân quả, địa vị, nên “Truyền pháp cứu mê tình, đốn ngộ hoa tình dĩ ( tức là xong)”. (Tánh là chủng tánh hoa, cũng là Bồ Đề hoa), nên Mã Tổ nói: “Chẳng phải tâm, chẳng phải Phật, chẳng phải vật”; dù Tổ trước kia từng nói: Tức tâm, tức Phật. Ấy là lời phương tiện tạm thời như dùng nắm tay không, lá cây vàng để dụ con nít nín khóc. Nhưng hiện nay có người gọi Tâm là Phật, gọi trí là Đạo, cho kiến văn giác tri cũng là đạo. Nếu hội đạo như thế khác gì Diễn Nhã Đạt Đa mê đầu nhận bóng, phát điên bỏ chạy. Dẫu cho nhận được bóng cũng chẳng phải cái đầu bổn lai của mình. Nên Duy Ma Cật quở Ca Chiên Diên dùng tâm sanh diệt thuyết pháp thực tướng, ấy đều là tình chấp kiến giải. Nếu nói: tức tâm tức Phật, cũng như nói: Thỏ ngựa có sừng; nói phi tâm phi Phật, như nói trâu dê không sừng. Tâm ngươi nếu là Phật, thì đâu cần phải “Tức nó hay là phi nó”. Hình tướng có hay không, lấy tướng gì làm đạo? nên giáo môn cũng chẳng cho.

“Thà làm thầy cho tâm, chẳng cho tâm làm thầy”. “Tâm như đóng vai chánh, ý như đóng vai phụ”, nếu nói Phật có tâm đạo, ấy là chẳng lìa được kiến văn giác tri, là do nhân duyên mà có, đều là soi vật mới co, chẳng thể thường soi, cho nên tâm trí đều chẳng phải đạo. Lại đại đạo chẳng phải pháp sáng tối, lìa số hữu vô, số lượng chẳng thể đến, như lúc kiếp không (chưa có trời đất), chẳng có tên Phật, chẳng có tên chúng sanh, ngay lúc ấy chính là đạo. Chỉ là không ai biết, không ai thấy, số lượng chẳng tiếp xúc nó được, gọi là VÔ DANH ĐẠI ĐẠO. Nói vậy đã lọt vào danh cú rồi! Cho nên chân lý nhất như, chẳng có tư tưởng, vừa có tư tưởng liền bị ấm (ngũ ấm) trói, sau đó mới có tên chúng sanh, mới có tên Phật. Phật ra đời gọi là tam giới trí nhân, khi Phật chưa ra đời gọi là gì? Phật ra đời chỉ khiến người ngộ đạo, bản thể chẳng phải thánh phàm, gọi là “Hoàn nguyên qui bổn, thể giải đại đạo”. Hôm nay đã ngộ đạo như thế, tức từ vô lượng kiếp đến nay, lục đạo tứ sanh đều có khứ lai, là chỗ hành tạm thời”.

“Bản Hành Tập của bậc Thánh xưa có nói: Ta vô sở bất hành. Tất cả chúng sanh dù đang ở chỗ hành như thế vì không biết liễu nhân, nên sinh ra tham dục, đó chỉ là tạm thời lạc đường ở nơi trói buộc, chẳng được tự tại. Thật ra cũng như thấy mây trôi cho là trăng động, thấy thuyền xuôi cho là bờ chuyển. Chúng sanh vọng tưởng, vật vốn vô trụ, huống là có lý hay biến đổi. Nay đã ngộ như thế, cứ theo đó thực hành, chẳng giống như lúc xưa, vì nay đã ngộ liễu nhân bản quả, nên liễu được ngũ ấm KHÔNG, thập bát giới KHÔNG, sáu Ba La Mật đều KHÔNG, cho nên được tự tại”.

Nếu chẳng theo đó thực hành, làm sao thải trừ năm thứ tham, hai thứ dục. Chẳng trụ Thanh văn, chẳng tùy số kiếp, vì chư Phật, Bồ Tát đầy đủ phúc trí. do liễu nhân, liễu sáu Ba La Mật không theo thọ dụng này, chẳng còn tri kiến mới được tự tại.

Đại thánh quở là: nội kiến ngoại kiến, tình lượng chưa sạch. Kẹt nơi nhị chướng nhị ngu, cho nên dòng sông kiến chấp hay trôi hương tượng; chân lý vô hình làm sao thấy biết, đại đạo vô hình, lý tuyệt suy lường. Hôm nay hành sáu Ba La Mật, trước tiên dùng liễu nhân ngộ bản quả, biết liễu vật này chỉ là phương tiện thọ dụng, mới được tự do, đi ở tự tại vô chướng ngại, cũng gọi là phương tiện cần trang nghiêm, cũng là vi diệu tịnh pháp thân, đầy đủ ba mươi hai tướng tốt, chỉ là không cho có ngằn mé của tâm lượng. Nếu chẳng có tâm như thế thì tất cả chỗ hành, cho đến búng tay hiệp chưởng đều là chánh nhân, muôn thiện thảy đồng vô tắc, vậy mới được tự tại, cho nên thiên ma ngoại đạo tìm ta chẳng thể được, gọi là vô trụ tâm, cũng là vô lậu trí, diệu dụng tự tại bất khả tư nghì, Bồ Đề Niết Bàn! Đều là cảnh giới của người tu hành đều thuộc danh cú. Nếu ngộ bổn lai chẳng phải vật phàm, thì như nước chẳng thể rửa nước. Tại sao vậy? Vì vốn chẳng có vật. Như kinh nói: Trong kho vua thật chẳng có dao này; cũng nói: đối với công đức thiên, hắc ám nữ, vị chủ nhân có trí, cả hai đều không nhận. Vì đạo chẳng phải sáng tối, nên nói tánh hải chẳng phải giác hải, giác hải thuộc duyên cần phải đối vật, tánh hải luôn luôn diệu dụng chẳng có ai biết, gọi là cực vi tế thấu kim sắc thủy trần (nghĩa là không bị vật nào chướng ngại). Sở nhân của Bồ Tát gọi là đồ thọ dụng, nếu nước chẳng rửa nước, tức bản thể chẳng phải sáng tối, cũng gọi là vô lậu trí, vô ngại trí. Nếu như thế thì chỗ nào cũng câu thúc ta chẳng được.

Hiện nay lại đuổi theo tri giải ngữ ngôn, kiến lập nghĩa cú để tìm hơn thua, cho là chúng sanh hạ liệt, nói có Phật Thánh cứu độ chúng sanh, cho đến cầu Phật Bồ đề, đều thuộc tham dục, cũng là tỳ kheo phá giới, cách xa với đạo. Đại đạo chẳng có sáng cũng chưa từng có tối, chẳng thuộc tam giới, chẳng quá khứ hiện tại vị lai. Như Lai tạng thực chẳng che lấp, sư tử đâu từng ở hang, ngũ ấm vốn không, đâu có xứ sở, lại Pháp thân vô vi, chẳng đọa số lượng. Pháp chẳng lay động, chẳng dựa lục trần, nên kinh mới nói: Phật tánh là thường, tâm là vô thường, cho nên trí chẳng phải đạo, tâm chẳng phải Phật. Nay chớ nên gọi tâm là Phật, chớ hiểu theo kiến văn giác tri. Vật này vốn chẳng danh tự, diệu dụng tự thông, số lượng hạn chế nó chẳng được, gọi là đại giải thoát. Đạo nhân tâm vô sở trụ, dấu tích chẳng thể tìm, nên gọi vô lậu trí là trí bất tư nghì.

Thôi sứ quân hỏi Ngũ Tổ rằng: “Năm trăm Tăng chúng tại sao chỉ có Huệ Năng đại sư được truyền y bát, còn những người khác đều chẳng được?”.

Ngũ Tổ đáp: “Bốn trăm chín mươi chín người kia đều hiểu Phật pháp, chỉ có Huệ Năng là người siêu việt số lượng nên được truyền y bát”.

Thôi nói: “Vậy nên biết đạo chẳng trí ngu và liền bảo đại chúng: “Trọn phải ghi nhớ!”.

Ngài Nam Tuyền nói: “Ghi nhớ thuộc thức thứ sáu, dùng không được!” Lại nói: “Tạm thời đắp y cấu bẩn, vì các ngươi nói trắng ra, chẳng phải vật Thánh phàm, đâu có làm nhân cho người cũng đâu có làm quả cho người. Nếu làm nhân cho người thì chẳng tự tại, bị nhân quả trói buộc, chẳng được tự do. Khi Phật chưa ra đời không ai hiểu được, sau Phật ra đời mới cho hiểu được ít phần, hễ thầm hội chí lý thì vô sự tự thông, biết vốn tự vô vật, nếu hiểu theo kiến văn giác tri, tức là báo thân hóa thân, vì có ba mươi hai tướng khác nhau. Nếu báo, hóa đều lìa hết, chẳng còn chỗ kiến lập, tức đồng Như Lai. Thật chẳng phải không cho kiến lập, cũng như  Di Lăc trở lại làm phàm phu, nhưng Ngài vẫn hành sáu Ba La Mật, gặp cái nào cũng chẳng chướng ngại, sao mà chẳng cho kiến lập? Ngài chưa từng kẹt nơi Thánh phàm, ở bên kia ngộ rồi qua bên này thực hành mới được phần tư do. Hiện nay người học Phật phần nhiều xuất gia không chịu nhập gia, chỗ tốt thì nhận, chỗ xấu thì không nhận, như thế làm sao được!

Bồ tát hành nơi phi đạo, ấy là thông đạt Phật đạo. Họ đi ở tự do là thế nào? Nếu biết thì bị chỗ sở biết trói, nếu không như vậy thì làm sao chẳng cho! cái định của họ không có biến đổi. Nếu không định thì thuộc về tạo hóa rồi! Vì ta không bao giờ biến đổi nên mười hai phần giáo quyết định chẳng phải ta, nhưng ta lại hướng vào mười hai phần giáo mà thực hành. Nếu mười hai phần giáo là ta thì phải chịu biến đổi rồi!

Nói đại đạo nhất như, vô sư tự như thế, vì như như bất biến nên chưa từng mê, báo thân hóa thân chẳng phải chân Phật, chớ lầm nhận pháp thân. Quả báo Thánh phàm đều là bóng, nếu nhận lấy thì thuộc sanh diệt vô thường rồi. Theo thô tế mà nói thì mảy may chẳng lập. Lý cùng tánh tận thì tất cả đều KHÔNG, như lúc thế giới chưa thành, hư vô trống rỗng, chẳng tên Phật, chẳng tên chúng sanh. Như vậy mới có phần tương ứng, ở bên kia ngộ rồi thì ở bên này thực hành, chẳng chứng quả Thánh phàm. Theo căn bản mà nói, thực chẳng có pháp nào để đắc, huống là có những tên gọi sai biệt như tam thừa ngũ tánh ư! Hễ có nhân có quả đều thuộc sanh diệt vô thường, tâm như cây khô mới có ít phần tương ưng.

Phải biết từ vô lượng kiếp đến nay tánh không biến đổi tức là tu hành, diệu dụng mà chẳng trụ là hạnh Bồ Tát. Thông đạt các pháp không, diệu dụng tự tại là sắc thân tam muội, luôn luôn hành sáu Ba La Mật nơi nào cũng vô ngại, dạo nơi địa ngục cũng như vườn hoa, chẳng thể nói họ không có tác dụng. Chúng sanh từ vô lượng kiếp đến nay, mê tự bản tánh, chẳng tự liễu ngộ, bị mây trần che khuất, dính mắc các thứ ác dục, cũng như thấy mây bay cho là trăng động, thấy thuyền xuôi cho là bờ chuyển, tạm thời lạc đường chẳng được tự tại, chịu đủ thứ khổ mà chẳng tự biết. Nay nếu ngộ được thì bản tánh xưa nay chẳng khác”.

Ngài sắp tịch, thủ tọa hỏi: “Hòa thượng trăm năm sau đi về đâu?”

Ngài nói: “Đi dưới núi làm một con trâu”.

Thủ tọa nói: “Con theo Hòa Thượng đi được chăng?”

Ngài nói: “Nếu theo ta thì phải ngậm một cọng cỏ lại đây!”.

Xong, Ngài thị hiện có bệnh, ngày 25 tháng chạp, năm Giáp Dần, thuộc năm thứ tám niên hiệu Đại Hòa (CN.834). Tảng sáng, bảo môn đồ rằng: “Cái thân huyển hóa đã lâu rồi, đừng cho ta có khứ lai!” Nói xong, Ngài liền tịch, tuổi đời tám mươi bảy, tuổi Tăng năm mươi tám.

HẾT

BÁ TRƯỢNG QUẢNG LỤC

Thứ Bảy, 9 tháng 3, 2013
BÁ TRƯỢNG QUẢNG LỤC
Thiền học
Hoài Hải Thiền Sư – Bá Trượng Quảng Lục
Thích Duy Lực
18/04/2555 12:01 (GMT+7)
Kích cỡ chữ: Giảm Tăng
Hoài Hải Thiền Sư – Bá Trượng Quảng Lục
Mục lục

Bá Trượng Quảng Lục

Ngôn ngữ cần phải phân biệt trắng đen, cần phải biết là lời nói chung hay lời nói riêng, lời nói liễu nghĩa hay bất liễu nghĩa.
Giáo liễu nghĩa phân biệt về thanh (trong), còn bất liễu nghĩa phân biệt về trược (đục). Nói cấu bên pháp uế là phân biệt về phàm, nói cấu bên pháp tịnh là phân biệt về Thánh. Từ chín bộ giáo nói thẳng ra chúng sanh không có mắt, cần phải nhờ người gọt giũa. Nếu nói với người tục tai điếc, cần phải dạy họ xuất gia trì giới, tu thiền học huệ. Nếu là người tục siêu xuất thì không nên dạy họ như thế, như trường hợp các ngài Duy Ma Cật, Phó Đại Sĩ… đối với bậc xuất gia đã thọ giới cụ túc, sức giới, định, huệ đã có mà nói như thế thì gọi là phi thời ngữ (chẳng ứng cơ) cũng gọi là ỷ ngữ (nói thêu dệt), nếu là bậc xuất gia phải nói cấu bên pháp tịnh, phải nói lìa các pháp có, không, lìa tất cả tu chứng, cũng lìa cái lìa nữa. Nếu trong hàng xuất gia tẩy trừ tập nhiễm tham, sân không được cũng gọi là kẻ tục tai điếc, phải dạy họ tu thiền học huệ. Tăng sĩ Nhị thừa đã dứt được bệnh tham sân mà còn trụ nơi vô tham, cho đó là đúng là thuộc về Vô sắc giới, là ngăn trở ánh sáng Phật, là làm thân Phật chảy máu cũng phải dạy họ tu thiền học huệ.
Cần phải biện biệt rõ ràng lời nói thanh, trược. Pháp trược là các danh từ tham, sân, ái, thủ… Pháp thanh là các danh từ Bồ đề, Niết bàn, giải thoát… Cái giác chiếu soi hiện tại chỉ cần đối với hai dòng thanh trược, các pháp Thánh, phàm, sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, các pháp thế gian và xuất thế gian đều chẳng nên có mảy may ái thủ. Đã chẳng ái thủ mà y trụ vào chẳng ái thủ cho đó là phải, ấy là Sơ Thiện, là trụ nơi điều phục tâm, là hàng Thanh Văn, là người đã đến bờ rồi mà còn lưu luyến chiếc bè không chịu bỏ, là đạo Nhị thừa, là quả Thiền na. Đã chẳng ái thủ cũng chẳng y trụ nơi chẳng ái thủ, là Trung thiện, là bán tự giáo vẫn còn là Vô sắc giới khỏi sa vào đạo Nhị thừa, khỏi lạc vào lối Ma Vương, vẫn còn là bệnh Thiền na, là còn bị trói buộc vào Bồ Tát thừa. Đã không y trụ nơi chẳng ái thủ và cũng không khởi cái tri giải về không y trụ, ấy là Hậu thiện, là mãn tự giáo, khỏi rơi vào Vô sắc giới, tránh khỏi bệnh Thiền na, khỏi sa vào Bồ Tát thừa, khỏi bị đoạ vào địa vị Ma vương, là trí chướng, địa chướng, hạnh chướng nên thấy Phật tánh của mình như ban đêm thấy hình sắc. Như nói: Ở địa vị Phật dứt hai thứ ngu: Một là vi tế sở tri ngu, hai là cực vi tế sở tri ngu. Cho nên nói: Có bậc đại trí đập vỡ hạt bụi lấy ra quyển Kinh. Nếu thấu suốt nghĩa ba câu thì chẳng bị ba đoạn sơ, trung, hậu thiện khống chế. Giáo môn thí dụ con hươu ba lần nhảy ra khỏi lưới, gọi là làm Phật ngoại triền, không có vật gì ràng buộc được người này. Đây thuộc về Phật sau đức Nhiên Đăng, là Tối thượng thừa, là Thượng thượng trí, là đứng trên Phật đạo; người này là Phật, có Phật tánh, là Đạo sư, là điều khiển được vô sở ngại phong, là vô ngại huệ, về sau được tự do sai khiến nhân quả phước trí, là làm xe chuyên chở nhân quả, ở nơi sanh không bị sanh nhốt, ở nơi tử không bị từ ngại, ở nơi ngũ ấm như cửa đã mở, không bị ngũ ấm ngăn trở, đi ở tự do, ra vào không khó. Nếu được như thế, không luận thứ bậc hơn kém cho đến thân con kiến, chỉ cần được như thế thì đều là cõi nước thanh tịnh vi diệu không thể nghĩ bàn. Đó còn là lời nói mở trói, họ vốn không thương tích thì đừng làm cho bị thương. Những cái thương tích Phật, thương tích Bồ Tát đều là thương tích (Có nghĩa là chấp Phật là thương tích Phật, chấp Bồ Tát là thương tích Bồ Tát). Phàm nói các pháp “có, không” đều là thương tích. “Có, Không” bao gồm tất cả pháp.
Hàng Thập địa là chúng ở trong dòng nước đục, tự cho là dòng nước thanh, dựng tướng thanh để nói lỗi của tướng trược. Trước kia mười vị đại đệ tử như Xá Lợi Phất, Phú Lâu Na, chánh tín như A Nan, tà tín như Thiện Tinh… mỗi người có một cốt cách riêng, mỗi người có một phép tắc riêng đều bị Đạo Sư (Phật) nói toạc ra là chẳng đúng. Tứ thiền, Bát định, A La Hán…. trụ trong định tám muôn kiếp, họ là người tu hành theo kiến chấp vì bị rượu tịnh pháp làm say nên hàng Thanh Văn nghe Phật pháp không phát được đạo tâm vô thượng, do đó bị gọi là người đoạn thiện căn không có Phật tánh. Kinh nói: “Chỗ gọi là hầm sâu giải thoát đáng sợ, nếu có một niệm tâm lui sụt thì rơi vào địa ngục mau như tên bắn”. Chẳng được nhất định nói lui sụt, cũng chẳng được nhất định nói không lui sụt, như các ngài Văn Thù, Quan Âm, Thế Chí… đến thị hiện đồng loại với Tư Đà Hườn để dẫn dụ, chẳng được nói họ lui sụt, lúc bấy giờ chỉ được gọi là người Tu Đà Hườn thôi. Hiện tại các giác chiếu soi chỉ cần chẳng bị các pháp “có, không” khống chế, thấu suốt nghĩa ba câu và tất cả nghịch thuận thì dầu có nghe trăm nghìn muôn ức đức Phật xuất hiện ở thế gian cũng như không nghe, cũng không y trụ vào chỗ không nghe, cũng không khởi tri giải về sự không y trụ, nói họ là người lui sụt chẳng được, vì số lượng không khống chế họ được, ấy là Phật thường trụ thế gian mà chẳng nhiễm thế gian.
Nói Phật chuyển pháp luân, lui sụt cũng là phỉ báng Phật, Pháp, Tăng. Nói Phật chẳng chuyển pháp luân, chẳng lui sụt cũng là phỉ báng Phật, Pháp, Tăng. Ngài Tăng Triệu nói: “Đạo Bồ Đề không thể suy lường, cao vô thượng, rộng vô cùng, sâu thăm thẳm”. Rơi vào lời nói là bệnh, nói giác chiếu soi cũng còn là không đúng, chỉ là từ trược biện thanh (trong cái đục mà biện biệt cái trong) mà thôi. Nếu cho nói giác chiếu soi hiện nay là đúng, tức là ngoài cái giác chiếu soi còn có cái khác thì đều là ma thuyết. Nếu chấp lấy cái giác chiếu soi hiện tại thì cũng đồng ma thuyết, cũng gọi là tự nhiên ngoại đạo. Nói các giác chiếu soi hiện tại là Phật của chính mình, đó là lời nói thước tấc, là lời tính toán, giống như con chồn (dã can) kêu, vẫn thuộc về cửa keo sơn (chấp trước). Từ trước đến nay chẳng nhận cái tự tri, tự giác là Phật của chính mình mà lại hướng ra ngoài tìm Phật, nhờ thiện tri thức nói ra cái tự tri tự giác để làm thuốc trị cái bệnh hướng ngoại tìm cầu, bệnh hướng ngoại tìm cầu đã lành thì thuốc cũng phải bỏ. Nếu chấp lấy cái tự tri tự giác thì đó là bệnh Thiền na, là định tánh Thanh Văn, như nước đóng băng, toàn băng là nước khó mong cứu được nạn khát; cũng nói: “Bệnh chắc chắn hết, lương y bó tay”.
Vô thỉ chẳng phải là Phật, chớ cho là Phật, Phật là thuốc của chúng sanh, không có bệnh chẳng cần uống thuốc, thuốc và bệnh đều tiêu, thí dụ: như nước trong, Phật là cam thảo hoà với nước, cũng như mật hoà với nước ấy rất là ngon ngọt, nếu xem đó là cùng loại nước trong thì chẳng đúng, chẳng phải không, vốn là sẵn có, nên cũng nói: Lý này mọi người đều vốn sẵn có. Chư Phật, Bồ Tát được mệnh danh là người chỉ cho biết hạt châu. Từ xưa đến nay nó chẳng phải là vật, chẳng cần biết nó, hiểu nó, không cần cho nó là phải hay chẳng phải, chỉ cần cắt đứt câu đầu hai, cắt đứt câu có, câu chẳng có, cắt đứt câu không, câu chẳng không, dấu vết hai đầu chẳng hiện. Hai đầu kéo ông chằng được, số lượng chi phối ông chẳng được, chẳng phải thiếu thốn, chẳng phải đầy đủ, chẳng phải phàm, chẳng phải Thánh, chẳng phải sáng, chẳng phải tối, chẳng phải hữu tri, chẳng phải vô tri, chẳng phải rang buộc, chẳng phải giải thoát, phải tất cả danh mục. Tại sao không phải là lời nói thật? Nếu cho rằng đục đẽo hư không làm được tướng mạo Phật, hoặc cho rằng hư không là do xanh, vàng, đỏ, trắng làm thành, như nói: Pháp không có so sánh, không thể ví dụ, nên Pháp thân vô vi bất đoạ chư số; nên nói: Thánh thể vô danh chẳng thể nói được, lý như thật của không môn khó ghé, thí dụ như con thái mạt trùng (tên một loại côn trùng đặc biệt rất nhỏ), có thể đậu ở khắp mọi nơi, nhưng không thể đậu được trên ngọn lửa. Ý thức của chúng sanh cũng vậy, có thể duyên ở mọi nơi, nhưng không thể duyên trên Bát Nhã.
Tham học nơi Thiện tri thức để tìm cầu một tri, một giải đó là thiện tri thức ma, vì sanh ngữ kiến. Nếu phát tứ hoằng thệ nguyện, nguyện độ hết tất cả chúng sanh rồi sau ta mới thành Phật, đó là Bồ Tát pháp trí ma vì thệ nguyện không buông bỏ; nếu trì trai giữ giới, tu Thiền học Huệ đều là thiện căn hữu lậu, dẫu cho ngồi đạo tràng thị hiện thành Đẳng Chánh Giác độ chúng sanh nhiều như số cát sông Hằng thảy đều chứng quả Bích Chi Phật, đó là thiện căn ma, vì khởi tâm tham đắm, nếu đối với các pháp không tham nhiễm, thần lý độc tôn trụ trong Thiền định sâu không còn tiến lên nữa, đó là Tam muội ma, vì đam mê cái vui Thiền định. Niết Bàn chí thượng, ly dục tịch tịnh, là nghiệp ma. Nếu trí huệ thoát lưới ma chưa triệt để thì dẫu cho hiểu được trăm bổn kinh Phật thảy đều là cặn bã địa ngục, tìm sự tương tự như Phật không bao giờ có.
Như nay nghe nói chẳng chấp trước vào tất cả pháp thiện, ác, có, không vv… liền cho đó là rơi vào không, mà chẳng biết rằng bỏ gốc theo ngọn mới chính là rơi vào không. Cầu Phật, cầu Bồ Đề và tất cả pháp có, không… là bỏ gốc theo ngọn, hiện tại chỉ cần ăn đạm bạc sống, mặc áo vá đỡ lạnh, khát thì bụm lấy nước uống, ngoài ra đối với tất cả pháp có, không đều không có mảy may hệ niệm (nghĩ tưởng), người này dần dần sẽ chút phần nhẹ nhàng sáng suốt.
Thiện tri thức chẳng chấp có, chẳng chấp không, thoát được mười câu ma ngữ, nói ra không trói buộc người, có lời nói nào ra chẳng tự xưng là Thầy nói, cũng như tiếng dội trong hang, tiếng nói trùm khắp thiên hạ mà không có khẩu quá (lỗi do từ miệng mình nói ra), đủ sức làm y chỉ cho người. Nếu nói ta biết thuyết, biết giải, nói ta là Hoà thượng, người là đệ tử, cái đó đồng như ma thuyết. Vô cớ nói rằng: Mục kích đạo tồn (mắt thấy đạo còn). Phật hay chẳng phải Phật, Bồ đề, Niết bàn, giải thoát… Vô cớ nói ra một tri, một giải, giơ một cánh tay, dựng một ngón tay bảo là Thiền, là Đạo, lời nói này trói buộc người không biết đến khi nào mới thôi, chỉ là chồng thêm dây trói buộc Tỳ Kheo. Dẫu cho không nói cũng có cái khẩu quá. Thà làm thầy cho tâm, chẳng cho tâm làm thầy.
Giáo bất liễu nghĩa có Thiên nhân sư, có Đạo sư. Trong giáo liễu nghĩa chẳng làm Thiên nhân sự, chẳng cho phép làm thầy, chưa y được huyền giám (tự tánh), tạm y được giáo liễu nghĩa còn có phần thân cận, nếu là giáo bất liễu nghĩa thì chỉ thích hợp để nói trước bọn người tục tai điếc. Nay chỉ cần chẳng y trụ tất cả pháp có, không, cũng không làm cái chẳng y trụ, cũng không khởi cái tri giải về chẳng y trụ, cũng không khởi cái tri giải về chẳng y trụ, đây gọi là đại thiện tri thức, cũng nói: Chỉ có một người đại thiện tri thức là Phật, không có người thứ hai, ngoài ra đều gọi là ngoại đạo, cũng gọi là ma thuyết. Nay chỉ cần nói phá câu hai đầu, không tham nhiễn tất cả cảnh pháp có, không và việc mở trói, ngoài ra không có ngữ cú nào khác để dạy người. Nếu nói ra có ngữ cú khác để dạy người, có pháp khác để cho người, đó gọi là ngoại đạo cũng gọi là ma thuyết.
Cần phải biết lời giáo liễu nghĩa hay giáo bất liễu nghĩa, cần phải biết lời nghịch tục hay lời tuỳ tục, cần phải biết lời nói sống hay lời nói chết, cần phải biết lời thuốc hay lời bệnh, cần phải biết lời ví dụ thuận hay nghịch, cần phải biết lời nói chung hay lời nói riêng. Nói do tu hành được thành Phật, có tu có chứng, thị tâm thị Phật, tức tâm tức Phật, đấy là lời Phật: Là lời nói giáo bất liễu nghĩa, là lời tuỳ tục, là lời nói chung, là lời nhẹ như mang một lon một lít, là lời nói về bên pháp uế, là lời ví dụ thuận, là lời nói chết, là lời nói trước kẻ phàm phu. Chẳng cho do tu hành mà được thành Phật, không tu không chứng, phi tâm phi Phật cũng là lời của Phật: là lời giáo liễu nghĩa, là lời nghịch tục, là lời nói riêng, là lời nặng như mang trăm tạ, là lời nói ngoài giáo tam thừa, là lời ví dụ nghịch, là lời nói về bên pháp tịnh, là lời nói sống, là lời nói trước ngoài có quả vị.
Từ Tu Đà Hườn trở lên thẳng đến bậc Thập địa hễ có lời nói đều thuộc về pháp trần cấu, hễ có lời nói đều thuộc về bên phiền nào, hễ có lời nói đều thuộc về giáo bất liễu nghĩa. Giáo liễu nghĩa là trì, giáo bất liễu nghĩa là phạm. Phật địa không có trì, phạm, nên giáo liễu nghĩa và bất liễu nghĩa và bất liễu nghĩa đều chẳng cho.
Do mạ mà biết đất, từ trược biện thanh. Cái giác chiếu soi hiện tại nếu theo bên thanh mà đến thì có giác chiếu soi, cũng chẳng phải thanh, cũng chẳng phải không thanh, không có giác chiếu soi, cũng chẳng phải thanh cũng chẳng phải không thanh, chẳng phải Thánh, chẳng phải không Thánh; không phải thấy nước đục rồi nói lỗi của nước đục, nếu nước trong thì không có lỗi để nói, nói ra là làm đục nước rồi.
Nếu có cái hỏi mà không hỏi cũng có cái nói mà không nói, bởi Phật chẳng vì Phật mà nói pháp. Bình đẳng chân như pháp giới không có Phật nào mà không độ chúng sanh. Phật không trụ Phật gọi là chân phước điền.
Cần phải biện biệt lời chủ khách, tham nhiễm tất cả cảnh pháp có, không, bị tất cả cảnh có, không làm hoặc loạn thì tự tâm là ma vương, chiếu dụng thuộc ma dâm. Cái giác chiếu soi hiện tại chỉ cần chẳng y trụ vào tất cả pháp có, không, pháp thế gian, xuất thế gian; cũng không có tri giải về chẳng y trụ; cũng chẳng y trụ nơi không tri giải thì tự tâm là Phật, chiếu dụng thuộc Bồ Tát. Tâm tâm là chủ tể, chiếu dụng thuộc khách trần, như thấy sóng nói nước, nước ấy chiếu vạn tượng mà không cho là công dụng. Nếu được tích chiếu, chẳng tự do huyền diệu, thì tự nhiên thấu suốt cổ kim, như nói: “Thần vô chiếu công, chí công thường tồn” (1). Người như thế được ở khắp mọi nơi làm Đạo sư.
(1) Thần dụ cho tự tánh; chiếu công = công dụng – chí công = công dụng tối cao. (Công dụng của tự tánh không qua sự tác ý nhưng công dụng ấy đạt đến cực điểm và luôn luôn được như thế).
Tánh thức chúng sanh là tánh keo sơn (chấp trước) vì chưa từng bước lên thềm bực Phật nên thường dính khắn vào các pháp có, không, nay thình lình uống thuốc huyền chỉ không được, thình lình nghe lời xuất cách họ tin chẳng nổi, cho nên đức Phật ngồi dưới cội Bồ đề bốn mươi chín ngày lặng lẽ tư duy. Trí tuệ mênh mông khó nói, không tỷ dụ được, nói chúng sanh có Phật tánh cũng là phỉ báng Phật, Pháp, Tăng, nói chúng sanh không Phật tánh cũng là phỉ báng Phật, Pháp, Tăng. Nếu nói có Phật tánh là chấp trướng báng. Nếu nói không Phật tánh là hư vong báng. Như bảo: Nói Phật tánh có là tăng ích báng (nói thêm), nói Phật tánh không là tổn giảm báng (nói bớt), nói Phật tánh cũng có cũng không là tương vi báng (trái ngược nhau), nói Phật tánh chẳng có chẳng không là hý luận báng (nói bông đùa); nếu không nói thì chúng sanh không có hy vọng giải thoát; còn nếu nói thì chúng sanh lại theo lời nói mà sai tri giải, lợi ít mà hại nhiều. Do đó Ngài nói: “Ta thà không nói pháp, mau nhập Niết Bàn”. Nhưng sau đó tìm về chư Phật quá khứ, thấy các Ngài đều nói pháp tam thừa. Về sau, Phật mới giả lập kệ thuyết, giả lập danh tự, vốn chẳng phải Phật nói với họ là Phật, vốn chẳng phải Bồ Đề, nói với họ là Bồ Đề, Niết Bàn, giải thoát…. Biết họ gánh trăm tạ chẳng nổi tạm cho họ gánh một lon, một lít, biết họ khó tin giáo liễu nghĩa tạm nói với họ giáo bất liễu nghĩa, tạm được pháp lành lưu hành còn hơn là pháp ác. Thiện quả mãn rồi thì ác quả đến, được Phật thì có chúng sanh đến, được Niết Bàn thì có sanh tử đến, được sáng thì có tối đến, chỉ là nhân quả hữu lậu đối đãi nhau; nếu muốn khỏi thấy sự đối đãi chỉ cần cắn đứt câu hai đầu thì số lượng khống chế không được; không Phật, không chúng sanh, không thân, không sơ, không cao, không thấp, bình thường, không đẳng, không đi, không đến, chỉ cần chẳng chấp trước văn tự, cách xa hai đầu thì nó nắm bắt ông chẳng được, tránh khỏi các sự khổ vui, sáng tối đối đãi nhau. Thật lý chân thật cũng chẳng chân thật, hư vọng cũng chẳng hư vọng, không phải là vật có số lượng, thí dụ như không chẳng thể tu sửa được, nếu tâm có một chút tri giải liền bị số lượng khống chế cũng như keo sơn, năm chỗ (ngũ uẩn) đều bị dính mắc thì bị ma vương nắm bắt được, chẳng được tự do về nhà.
Luận về giáo ngữ đều có ba câu liền nhau là sơ thiện, trung thiện và hậu thiện. Sơ là dạy họ phát thiện tâm, trung là phá thiện tâm, hậu mới là thiện tốt. Bồ Tát tức phi Bồ Tát thị danh Bồ Tát. Pháp, phi pháp, phi phi pháp, tất cả đều phải như thế. Nếu chỉ nói một câu hoặc hai câu làm cho chúng sanh vào địa ngục là tội của Pháp sư, nếu đồng thời nói cả ba câu mà họ tự vào địa ngục thì việc ấy không liên can đến Pháp sư. Nói cái giác chiếu soi hiện tại là Phật của mình, là sơ thiện, không chấp lấy cái giác chiếu soi này là trung thiện, cũng không có cái tri giải về sự không chấp lấy là hậu thiện. Những lời trên còn thuộc về Phật sau đức Nhiên Đăng, chỉ là không phàm cũng không thánh chớ nói lầm Phật chẳng phải phàm chẳng phải Thánh. Sơ Tổ Trung Hoa nói: “Vô năng, vô thánh là Phật tánh”. Nếu nói có thần thông biến hoá là Phật thánh thì chín phẩm tinh linh rồng, súc sanh… cho đến các cõi Trời Thích, Phạm trở lên cũng có tinh linh thượng phẩm cũng biết được việc xưa nay trăm kiếp đâu được gọi là Phật ư? Như A Tu La Vương thân gấp đôi núi Tu Di vô cùng to lớn, lúc cùng với trời Đế Thích giao chiến, tự biết sức không bằng bèn dắt trăm muôn binh sĩ chui vào cọng sen ẩn núp, thần thông biện tài cũng không ít nhưng chẳng phải là Phật.
Giáo ngữ có cấp bậc mau chậm, lên xuống bất đồng. Lúc chưa ngộ, chưa giải thoát gọi là tham, sân, ngộ rồi gọi là trí huệ Phật, nên nói: “Không khác người thuở trước, mà chỉ khác cái hành vi thuở trước”.
Hỏi: – Chặt cây cuốc cỏ, khai mương, đào đất có tướng tội báo không?
Sư đáp: – Không thể nhất định nói là có tội hay không tội. Việc có tội hay không tội là do nơi người đó. Nếu tham nhiễm tất cả pháp có, không, có tâm lấy bỏ, không thấu suốt nghĩa ba câu thì nói người này nhất định có tội. Nếu thấu suốt nghĩa ba câu tâm như hư không cũng chẳng có cái nghĩ tưởng hư không thì người này nhất định là không tội, lại nữa, nếu tội đã tạo rồi lại nói là không thấy có tội thật là vô lý. Nếu không tạo tội mà nói là có tội thì cũng là vô lý. Như trong luật nói: “Người hôn mê giết người và chuyển tướng giết người còn không bị tội giết huống là sự truyền thừa củaThiền Tông, chẳng trụ một pháp nào, tâm như hư không, cũng không có tướng hư không thì đem tội để ở chỗ nào?” Cũng nói: “Đạo Thiền chẳng cần tu, chỉ cần đừng ô nhiễm”. Cũng nói: “Chỉ cần tiêu dung hết tâm trong ngoài là được”. Cũng nói: “Về sự chiếu cảnh, đối với tất cả pháp có không đều không tham đắm cũng đừng chấp trước”. Cũng nói: “Phải học như vầy, cái học đó giống như giặt áo dơ, áo là cái sẵn có, dơ bẩn là từ bên ngoài đến”. Nghe nói tất cả pháp có, không, thanh, sắc, như cáu bẩn đừng đem tâm bám lấy. dưới cội Bồ Đề, ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp thuộc về sắc, mười hai phần giáo thuộc về thanh. Nay chỉ cần cắt đứt tất cả dòng nước có, không, thanh, sắc, tâm như hư không, phải học như thế, như cứu lửa cháy đầu mới được, vậy mà đến lúc lâm chung tìm đường quen thuộc cũ để đi còn không được triệt để, huống là đến lúc đó mới điều tâm, mới tập học thì có hy vọng gì!
Lúc lâm chung các cảnh tốt đẹp hiện ra trước mắt, tuỳ theo tâm ưa thích, chỗ nặng chịu trước. Như nay không làm việc ác thì đến lúc đó không có cảnh ác, dầu cho có cảnh ác cũng biến thành tốt đẹp. Nếu e lúc lâm chung kinh sợ điên cuồng, không được tự do, thì cần hiện tại được tự do mới được. Hiện tại đối với mỗi cảnh pháp đều không ái nhiễm, cũng chẳng y trụ vào tri giải, mới là người tự do. Hiện tại là nhân, lúc lâm chung là quả. Nghiệp quả đã hiện thì làm sao lo cho kịp! Lo là phải lo từ trước cho đến ngày nay. Xưa nếu có nay thì nay cũng có xưa, nghĩa là ngày trước có Phật thì ngày nay cũng có Phật. Hiện tại nếu được một niệm chẳng bị tất cả pháp có không quản nhiếp, thì chẳng đến tận vị lai cũng được như vậy. Xưa cũng như nay, Phật chỉ là người, người chỉ là Phật, cũng là Tam muội định, chẳng cần đem định nhập định, chẳng cần đem Thiền tưởng Thiền, chẳng cần đem Phật tìm Phật. Như nói: “Pháp chẳng cầu pháp, pháp chẳng đắc pháp, pháp chẳng hành pháp, pháp chẳng thấy pháp, tự nhiên đắc pháp, chẳng lấy đắc để đắc thêm”. Cho nên Bồ Tát cần phải chánh niệm như vầy: đối với pháp rỗng không độc tồn, cũng không biết cái pháp độc tồn thì trí tánh tự như như, chẳng phải do nhân làm ra cũng gọi là thể kết, cũng gọi là thể tập, chẳng phải là trí biết, chẳng phải là thức biết, bặt chỗ suy lường, tột cái thể ngưng tịch, sự suy nghĩ dứt hẳn như nước biển cạn sạch, sóng không còn sanh khởi nữa.
Cũng nói: Như lượn sóng lăn tăn không gió trên biển cả, cái chợt biết cái lượn sóng lăn tăn ấy là thô trong tế. Quên cái biết ở nơi biết vẫn còn là tế trong tế, là cảnh giới Phật. Từ đây cái biết đầu tiên được gọi là cái đảnh của Tam muội,cũng gọi là vua Tam muội, cũng gọi là nhĩ diệm trí (trí sở tri), nó sanh ra hết thảy các Tam muội, tưới trên đảnh của tất cả các vị Pháp vương tử, Nơi tất cả cõi nước sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, cõi nước đều thảnh Đẳng Chánh Giác, trong ngoài thông đạt đều không có trở ngại thì một sắc một trần, một Phật một sắc, tất cả Phật tất cả sắc, tất cả trần tất cả Phật, tất cả sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp, mỗi mỗi cùng khắp tất cả cõi nước cũng đều như vậy.
Đây là thô trong tế, là cảnh giới thiệu, là tất cả thượng lưu, kiến văn giác tri cũng là tất cả thượng lưu, xuất sanh nhập tử độ tất cả có, không… là thượng lưu, có nói ra điều gì cũng là thượng lưu. Niết Bàn là đạo Vô thượng, là Vô đẳng đẳng chú, là Thuyết đệ nhất, ở trong các thuyết rất là sâu xa, không người nào có thể đến được, là chư Phật hộ niệm. Như thấy sóng trong trẻo thì được nói tất cả nước là trong trẻo, từ đó chảy ra cái dụng công rộng lớn mênh mông cũng là chư Phật hộ niệm. Kinh nói: “Đi, đứng, nằm, ngồi nếu được như vậy, lúc ấy Ta liền hiện thân thanh tịnh quang minh” Lại nói: “Như ông thân bằng, ngữ bằng, ta cũng như vậy, một Phật sát thanh (Phật sát thanh: Một tam thiên đại thiên thế giới), một Phật sát hương, một Phật sát vị, một Phật sát xúc, một Phật sát sự, thảy đều như vậy. Từ đây lên đến thế giới Liên Hoa Tạng cao rộng thảy đều như vậy”.
Nếu giữ lấy cái biết đầu tiên làm tri giải, gọi là đảnh kết, cũng gọi là đoạ cảnh kết, là căn bản của tất cả trần lao. Tự sanh tri kiến, không dây mà tự trói; vì có sở tri nên bị ràng buộc vào thế giới thứ hai mươi lăm cõi. Lại nữa cái làm tan tất cả cửa phiền não trói buộc người cũng là cái biết đầu tiên này mà hàng Nhị thừa cho là Nhĩ diệm thức (thức sở tri), cũng gọi là vi tế phiền não thì liền bèn dứt trừ. Đã dứt trừ xong, gọi là đem thần tánh trở về cái hang không, cũng gọi là bị rượu Tam muội làm say, cũng gọi là bị ma giải thoát buộc. Định lực Nhị thừa làm ra sự thành hoại trong thế giới còn bị lọt vào quốc độ khác mà không biết, cũng gọi là chỗ hầm sâu giải thoát đáng sợ. Còn hàng Bồ Tát thì xa lìa hết thảy.
Người đọc kinh xem giáo, ngữ ngôn đều phải uyển chuyển quay về tự kỷ, bởi vì tất cả ngôn giáo chỉ đều nói về cái tánh giác chiếu soi, nếu không bị tất cả cảnh có không chuyển ấy là Đạo sư của ông. Cái hay chiếu soi tất cả cảnh có không kia là Kim Cang huệ, tức có phần tự do độc lập. Nếu không hiểu được cái đó thì dẫu cho có tụng được mười hai bộ kinh Phật cũng chỉ là thành kẻ tăng thượng mạn, là kẻ khinh Phật, chẳng phải là kẻ tu hành. Chỉ cần lìa tất cả thanh sắc, cũng không trụ ở lìa, cũng không trụ vào tri giải, đó là người tu hành.
Đọc kinh xem giáo nói theo thế gian thì đó là việc tốt, nhưng nếu đem so với người thấu lý mà nói thì đó là người ngu si, bậc Thập địa thoát ra không khỏi, còn bị trôi lặn vào dòng sanh tử. Song tam thừa giáo đều dùng để trị bệnh tham, sân,… Như nay niệm niệm đều có cái bệnh tham, sân, … thì trước tiên cần phải điều trị. Chẳng cần tìm tri giải về nghĩa cú, tri giải thuộc về tham, tham lại biến thành bệnh. Nay chỉ cần lìa tất cả pháp có, không, cũng lìa cả cái lìa, thấu suốt nghĩa ba câu, tự nhiên cùng Phật không khác. Đã tự là Phật còn lo chi Phật không biết nói Pháp. Chỉ sợ chẳng phải Phật, nên bị các pháp có không trói buộc, chẳng được tự do. Thế nên, lý chưa vững mà trước tiên đã có phước trí thì sẽ bị phước trí lôi đi như kẻ hèn sai khiến người sang, chẳng bằng đầu tiên ngộ lý rồi sau hãy có phước trí. Nếu cần phước trí tức khắc làm ra được. Phước trí xài ra, nắm vàng thành đất, nắm đất thành vàng, biến nước biển thành tô lạc, đập núi Tu Di làm bụi nhỏ, đem bốn biển để vào lỗ chân lông, ở nơi một nghĩa làm vô lượng nghĩa, ở nơi vô lượng nghĩa làm một nghĩa. Cũng nói: “Sẩy chân làm Chuyển Luân Vương, khiến cho nhân dân trong bốn châu thiên hạ một ngày tu hành Thập thiện, phước trí này cũng không bằng phước trí trên”. Cái giác chiếu soi của chính mình (Tự tánh) gọi là Vương (vua). Niệm chấp trước cáp pháp có không, gọi là Chuyển Luân Vương. Hiện tại chỉ cần trong tạng phủ không dung nạp tất cả pháp có không, lìa ngoài tứ cú gọi là “KHÔNG”, “KHÔNG” gọi là thuốc bất tử, vì đối với Vương trước (Tự tánh) mới gọi là thuốc bất tử. Tuy nói là thuốc bất tử với Vương cùng uống, nhưng cũng chẳng phải là hai vật, cũng chẳng phải là một vật. Nếu cho là một, là hai, cũng gọi là Chuyển Luân Vương. Như nay có người dùng phước trí tứ sự cúng dường tứ sinh lục đạo khắp bốn trăm muôn ức a tăng kỳ thế giới, tuỳ theo sự ưa thích của chúng sanh đến mãn tám mươi tuổi rồi, mới nghĩ rằng các chúng sanh này đã già yếu, ta nên đem Phật pháp dạy dỗ họ khiến cho đều đắc quả Tu Đà Hườn cho đến A La Hán. Người bố thí này trước kia bố thí cho chúng sanh tất cả đồ ưa thích, công đức còn là vô lượng, huống chi sau này làm cho đắc quả Tu Đà Hườn cho đến A La Hán, công đức càng thêm vô lượng vô biên mà cũng còn không bằng công đức nghe Kinh tuỳ hỷ của người thứ năm mươi.
Kinh Báo Ân nói: “Ma Da phu nhân sanh năm trăm Thái tử đắc quả Bích Chi Phật. Mỗi vị đều được xây tháp cúng dường lễ bái mà bà than rằng: “Không bằng sanh một đứa con đắc Vô thượng Bồ Đề, ít phí tâm lực của ta” ”. Nay tìm ở trong chúng trăm nghìn muôn đời, có một người đắc đạo thì giá trị bằng tam thiên đại địa thế giới. Do đó ta thường khuyên mọi người phải nên huyền giải tự lý (ngộ), tự lý nếu huyền thì sai khiến được phước trí như người sang sai khiến kẻ hèn, cũng như xe vộ trụ (Phật thừa). Nếu chấp trước cái này làm tri giải thì gọi là hạt châu thường trong búi tóc, cũng gọi là hạt châu có giá, cũng gọi là chở phẩn vào. Nếu chẳng chấp cái này làm tri giải thì như hạt minh châu trong búi tóc nhà vua cũng gọi là vô giá đại bảo, cũng gọi là chở phẩn ra.
Phật chính là người ở ngoài sự trói buộc, lại vào trong vòng trói buộc mà làm Phật. Ngài chính là người bên kia bờ sanh tử, là người bên kia bờ huyền tuyệt lại trở qua bờ bên này làm Phật. Người cùng khỉ, vượn đều không thể làm được, người dụ cho hàng Thập địa, khỉ vượn dụ cho phàm phu.
Đọc kinh xem giáo, cầu tất cả tri giải chẳng phải là không cho. Dù hiểu được tam thừa giáo là khéo được đồ anh lạc trang nghiêm, được ba mươi hai tướng, nhưng tìm Phật thì chẳng phải. Kinh nói: “Người học giả tham chấp tam tạng Tiểu thừa còn không cho thân cận, huống chi tự cho mình là đúng”. Trong Kinh Niết Bàn, Tỳ Kheo phá giới và danh tự A La Hán bị liệt vào trong mười sáu ác luật nghi, đồng với người săn bắn, lưới cá vì lợi dưỡng mà giết hại sinh vật. Loại kinh Đại Thừa Phương Đẳng cũng như cam lồ mà lại cũng như thuốc độc, tiêu được thì như cam lồ, tiêu không được thì như thuốc độc, Người học kinh xem giáo nếu không hiểu được đó là lời nói sống hay lời nói chết (tử ngữ) thì chắc chắn không thấu nghĩa cú, thà đừng học tốt hơn.
Cũng nói: Cần xem giáo mà cũng cần phải tham học với bậc thiện tri thức, nhất là cần phải tự có mắt để biện biệt lời nói sống hay lời nói chết mới được. Nếu biện tài chẳng được thì chắc chắn thấu qua không nổi, chỉ là chồng thêm dây trói buộc Tỳ Kheo. Vì thế, dạy người học huyền chỉ, không cho học văn tự. Như bảo: Nói thể chẳng nói tướng, nói nghĩa chẳng nói văn, người nói như vậy gọi là chân thuyết. Nếu nói văn tự thì đều là phỉ báng đây gọi là tà thuyết. Bồ Tát nếu nói thì phải nói đúng như Pháp cũng gọi là chân thuyết, phải làm cho chúng sanh trì tâm chẳng trì sự, trì hạnh chẳng trì Pháp, nói người chẳng nói chữ, nói nghĩa chẳng nói văn.
Nói Dục giới không có Thiền đó là lời nói của người chột mắt. Đã nói Dục giới không có thiền thì dựa vào đâu để lên Sắc giới? Đầu tiên ở Nhân địa tu tập hai thứ định, về sau mới lên đến Sơn thiền. Hai thứ định ấy là Hữu tưởng định và Vô tưởng Thiền ở Sắc giới. Vô tưởng định sanh vào các cõi Trời Tứ không ở Vô sắc giới. Dục giới hiển nhiên là có Thiền, Thiền chẳng phải chỉ ở Sắc giới mới có.
Hỏi: Hiện tại nói cõi này có Thiền, là như thế nào?
Sư đáp: Chẳng động chẳng Thiền là Như lai thiền, lìa cái khởi ý tưởng thiền.
Hỏi: Thế nào là hữu tình không Phật tánh và vô tình có Phật tánh?
Sư đáp: Từ người đến Phật là tính chấp Thánh, từ người đến địa ngục là tình chấp phàm. Như nay đối với hai cảnh phàm, Thánh có tâm ái nhiễm thì gọi là hữu tình không Phật tánh. Còn như nay đối với hai cảnh phàm, Thánh và tất cả pháp có không đều không có tâm lấy bỏ, cũng không có luôn cả cái trí giải về không lấy bỏ thì gọi là vô tình có Phật tánh. Do vì không bị tình chấp ràng buộc nên gọi là vô tình chứ không đồng với loài vô tình như gỗ, đá, hư không, hoa vàng, trúc biếc mà cho là có Phật tánh. Nếu nói các loài vô tình ấy có Phật tánh, tại sao trong kinh không thấy thọ ký cho nó thành Phật? Chỉ như cái giác chiếu soi hiện tại chẳng bị hữu tình cải biến, dụ như trúc biếc, không lúc nào chẳng ứng cơ, chẳng bất tri thời, dụ như hoa vàng.
Lại nói “Nếu bước lên bậc thang Phật là vô tình có Phật tánh, còn chưa bước lên nấc thang Phật là hữu tình không Phật tánh”.
Hỏi: – Đại Thông Trí Thắng Phật (Bích Chi Phật) mười kiếp ngồi đạo tràng, Phật pháp chẳng hiện tiền, chẳng được thành Phật đạo là như thế nào?
Sư đáp: – Kiếp nghĩa là mắc kẹt, cũng có nghĩa là trụ. Trụ nơi một điều thiện, mắc kẹt nơi Thập thiện. Ấn Độ nói Phật, Trung Hoa dịch là Giác, là cái giác chiếu soi của chính mình. Người mắc kẹt nơi thiện là người có thiện căn mà không có Phật tánh nên nói Phật chẳng phải hiện tiền, chẳng được thành Phật đạo.
Gặp ác trụ nơi ác, gọi là chúng sanh giác, gặp thiện trụ nơi thiện gọi là Thanh Văn Giác. Chẳng trụ hai bên thiện ác và cho sự chẳng y trụ là đúng, đây gọi là Nhị thừa giác, cũng gọi là Bích Chi Phật giác. Đã chẳng y trụ hai bên thiện ác và cũng chẳng khởi tri giải về chẳng y trụ gọi đó là Bồ Tát giác. Đã chẳng y trụ cũng không cái biết chẳng khởi cái tri giải về không y trụ mới được gọi là Phật giác. Như nói Phật chẳng trụ nơi Phật, gọi là chân phước điền, nếu ở trong nghìn muôn người chợt có một người được như thế thì gọi là của báu vô giá, được ở khắp mọi nơi làm Đạo sư. Chỗ không có Phật nói là Phật, chỗ không có Pháp nói là Pháp, chỗ không có Tăng nói là Tăng, đấy là chuyển đại pháp luân.
Hỏi: – Từ trước Tổ Tông đều có mật ngữ lần lượt truyền cho nhau là như thế nào?
Sư đáp: – Không có mật ngữ. Như Lai không có tạng bí mật. Chỉ cái giác chiếu soi hiện tại, lời nói rõ ràng mà tìm hình tướng không được, đó là mật ngữ. Từ Tu Đà Hườn lên đến Thập địa hễ có ngữ cú đều thuộc về pháp trần cấu, hễ có ngữ cú đều thuộc về giáo bất liễu nghĩa, hễ có ngữ cú đều không đúng. Giáo bất liễu nghĩa đều sai lại còn đòi mật ngữ gì nữa?
Hỏi: – Hư không sanh trong đại giác như một hòn bọt nổi trong biển cả là như thế nào?
Sư đáp: – Hư không dụ cho bọt, nước biển dụ cho tự tánh. Tự tánh linh giác của chính mình siêu việt hư không, nên nói hư không sanh trong đại giác như một hòn bọt nổi trong biển cả.
Hỏi: – Đốn rừng chớ chặt cây là thế nào?
Sư đáp: – Rừng dụ cho tâm, cây dụ cho thân. Nhân vì nói là “đốn rừng” nên sanh ra sợ hãi, do đó nói đốn rừng chớ chặt cây.
Hỏi: Lời nói như cái mô đất để chịu tên bắn. Lời nói sanh ra không thể nào chẳng bị hại như cái mô đất kia (Mô đất dụ như thân, chịu tên bắn dụ như bệnh, thân đã sanh rồi thì tất nhiên phải có bệnh). Tai hại đã đồng, đúng sai làm sao biện biệt?
Sư đáp: Như hai người bắn tên nhau, hai đầu mũi tên đụng nhau giữa đường, nếu như sai chệch một chút ắt sẽ có kẻ bị thương. Trong hang tìm tiếng, nhiều kiếp cũng không có hình, tiếng ở bên miệng, đúng sai là ở nơi người đến hỏi. Cái hỏi trở lại thì bị trúng tên, cũng như cái biết huyễn chẳng phải huyễn. Tam Tổ nói: “Chẳng biết huyền chỉ, uổng công niệm tịnh”. Cũng nói: Nhận vật làm cái thấy như nắm miếng ngói bể dùng gì được đâu! Nếu nói chẳng thấy thì có khác gì gỗ đá. Thế nên thấy và chẳng thấy cả hai đều có lỗi. Nay nêu lên một để làm ví dụ cho tất cả.
Hỏi: – Vốn không có phiền não thì ba mươi hai tướng là thế nào?
Sư đáp: – Việc bên Phật vốn không có phiền não, có ba mươi hai tướng chỉ là phàm tình hiện nay thôi.
Hỏi: – Bồ Tát Vô Biên Thân chẳng thấy đảnh tướng của Như Lai là thế nào?
Sư đáp: – Do vì cái thấy hữu biên và vô biên nên chẳng thấy được đảnh tướng của Như Lai. Chỉ như nay không có tất cả cái thấy có và cũng không có cái thấy không, đó gọi là đảnh tướng hiện.
Hỏi: – Như hiện nay các thầy Sa Môn đều nói: Tôi y theo lời Phật dạy học một kinh, một luận, một thiền, một luật, một tri, một giải, đáng thọ nhận bốn sự cúng dường của đàn việt như thế có tiêu được không?
Sư đáp: – Theo như nay chiếu dụng, một thanh, một sắc, một hương, một vị, đối với tất cả pháp có, không, ở trên mọi cảnh đều không có mảy may đắm nhiễm, cũng chẳng y trụ vào sự không đắm nhiễm và cũng không khởi tri giải về sự chẳng y trụ, người được như vậy mỗi ngày ăn muôn lượng vàng ròng cũng tiêu. Như nay chiếu soi tất cả pháp có, không… nơi cửa lục căn dầu có cạo gọt mà đối với tham ái có một mảy may trị chẳng hết thì người này dù cho đến xin thí chủ một hạt cơm, một sợi chỉ, đều phải mang lông đội sừng, kéo cày chở nặng, mỗi mỗi đều phải trả nợ thí chủ mới được, vì họ chẳng y theo Phật. Phật là người vô trước, vô cầu, vô y, như nay cứ lăng xăng tham đi tìm Phật đều là trái vậy. Cho nên nói:
“Nhiều kiếp gần bên Phật,
Mà chẳng biết Phật tánh.
Chỉ thấy người cứu thế (Phật tánh),
Luân hồi trong lục đạo.
Lâu mới thấy được Phật,
Lại nói Phật khó gặp”.
Ngài Văn Thù là Tổ Sư của bảy Đức Phật cũng gọi vị Bồ Tát đứng đầu thế giới Ta Bà này vô cớ tác ý tưởng thấy Phật, tưởng nghe pháp, nên bị sức oai thần của Phật đày xuống hai hòn núi Thiết Vi. Chẳng phải Ngài không hiểu, nhưng đặc biệt để làm gương cho người học, để kẻ hậu học đừng có thấy nghe như thế. Chỉ cần không có tất cả pháp, có, không, các kiến chấp có, không, mỗi mỗi đều thấu suốt ngoài ba câu, đây gọi là ngọc báu như ý, cũng gọi là đặt chân lên Bửu Liên Hoa. Nếu có tri kiến Phật, tri kiến Pháp, tri kiến có không gọi là con mắt bệnh, vì cái năng kiến, sở kiến, cũng gọi là kiến trói buộc, cũng gọi là kiến che lấp, cũng gọi là kiến tác nghiệt. Chỉ như nay niệm niệm cùng tất cả kiến, văn, giác, tri và hết thảy trần cấu khử bỏ được hết thì một trần, một sắc đều là một Phật. Dẫu khởi một niệm cũng là một Phật, niệm niệm của thân ngũ ấm quá khứ, hiện tại, vị lai vô lượng vô biên, đây gọi là Phật lấp bít hư không, cũng gọi là phân thân Phật, cũng gọi là Bảo Tháp hiện. Vì thế thường than rằng: “Sinh mạng ngày nay bị tứ đại nắm chặt, thiếu một ngày không sống, thiếu một ngày không chết, phải nhờ một hột gạo, một cọng rau, không được ăn thì bị chết đói, không được uống thì bị chết khát, không được lửa sưởi ấm thì bị chết lạnh, như thế chẳng bằng người đã đạt đạo vào lửa không bị cháy, xuống nước không chìm, muốn cháy liền cháy, muốn chìm liền chìm, muốn sống liền sống, muốn chết liền chết, đi ở tự do, người này có phần tự do vậy”.
Tâm nếu không loạn thì chẳng cần cầu Phật, cầu Bồ Đề, cầu Niết Bàn. Nếu chấp trước cầu Phật là tham, tham biến thành bệnh, nên nói: “Bệnh Phật rất khó trị”. Báng Phật, phỉ Pháp mới được lấy cơm ăn. Người ăn là tánh linh giác của chính mình, cơm vô lậu, thức ăn giải thoát, những lời trên là trị bệnh cho hàng Bồ Tát Thập địa.
Như nay hễ có tất cả tâm mong cầu đều gọi là Tỳ Kheo phá giới, là danh dự A La Hán, đều gọi là con chồn, hiển nhiên là không tiêu được đồ cúng dường của người.
Chỉ cần hiện tại nghe tiếng như vang, ngửi hương như gió, lìa hết tất cả pháp có, không, cũng chẳng trụ nơi lìa, cũng không có tri giải về chẳng trụ. Người này tất cả tội cấu không thể buộc ràng được.
Vì cầu Vô thượng Bồ Đề, Niết Bàn nếu gọi là xuất gia, vẫn còn là nguyện tà, huống là sự tranh luận hơn thua ở thế gian, như nói: “Tôi làm được, tôi hiểu được”. Tham thêm một môn đồ, thương một đệ tử, lưu luyến một chỗ ở, kết duyên với một đàn việt, một manh áo, một chén cơm, một danh, một lợi mà lại nói: “Ta được tất cả đều vô ngại”. Đó chỉ là tự dối mình.
Chỉ cần hiện tại đối với ngũ ấm của mình chẳng bị nó làm chủ. Bị người chặt đứt thân thể ra từng khúc vẫn không có tâm oán tiếc, cũng không phiền. Cho đến việc đệ tử của mình bị người đánh đập từ đầu đến chân, những việc kể trên đều không có một niệm sanh tâm bỉ ngã. Song, nếu còn y trụ nơi không có một niệm trên cho đó là đúng đây gọi là sự nhơ bợn của pháp trần. Hàng Thập địa còn thoát chưa được nên còn bị trôi vào dòng sanh tử. Do đó ta thường khuyên mọi người phải sợ phiền não của pháp trần như sợ tam đồ thì mới có phần độc lập. Giải sử có một pháp nào hơn cả Niết Bàn đi nữa, cũng không sanh ra ý tưởng quý trọng thì người này mỗi bước đi là Phật chẳng cần chân đạp hoa sen, chẳng cần phân thân trăm ức. Nếu hiện tại đối với các pháp có không, có tâm ái nhiễm bằng mảy lông thì dẫu cho chân có đạp hoa sen cũng đồng như ma làm.
Nếu chấp vốn thanh tịnh, vốn giải thoát, tự là Phật, tự là Thiền đạo, có kiến giải này, thuộc về phái ngoại đạo tự nhiên.
Nếu chấp nhân duyên tu thành, chứng đắc, tức thuộc về phái ngoại đạo nhân duyên.
Chấp có tức thuộc về phái ngoại đạo thường kiến.
Chấp không tức thuộc về phái ngoại đạo đoạn kiến.
Chấp cũng có cũng không tức thuộc về phái ngoại đạo biên kiến.
Chấp chẳng có chẳng không tức thuộc về phái ngoại đạo không kiến cũng gọi là ngoại đạo ngu si.
Hiện nay chó khởi các kiến chấp Phật, Niết Bàn… Không có tất cả kiến chấp có không, cũng không có cả cái không kiến chấp nữa, mới được gọi là chánh kiến.
Không có kiến chấp nghe và không nghe, cũng không có cái không có kiến chấp nữa mới được gọi là chánh nghe, ấy gọi là dẹp trừ ngoại đạo.
Không có ma phàm phu đến là đại thần chú, không có ma Nhị thừa đến là đại minh chú, không có ma Bồ Tát đến là vô thượng chú, không có ma Phật đến là Vô đẳng đẳng chú.
Một biến chúng sanh là siểm khúc Tu La (B), hai biến Nhị thừa là siểm khúc Tu La, ba biến Bồ Tát là siểm khúc tu la. Đó là tam biến Tịnh độ (C). Tất cả pháp có, không, phàm, thánh… dụ như quặng vàng; tự mình đúng lý dụ như vàng. Vàng với quặng tách rời nhau thì vàng thật lộ ra. Bỗng người muốn tiền thì liền biến vàng thành tiền cho người ấy dùng. Cũng như bột mì thiệt, nếu có người đến xin bánh liền làm thành bánh cho người đó. Cũng như viên quan hầu cận có trí khéo hiểu được ý nhà vua, vua lúc muốn đi kêu “Tiên đà bà”, liền đem ngựa đến; lúc muốn ăn kêu “Tiên đà bà”, liền đem muối đến. Những việc trên dụ cho người học huyền chỉ khéo thông đạt được thì ứng cơ chẳng sai lầm, nên cũng gọi là lục tuyệt sư tử (tự tánh). Ngài Chí Công nói: “Tuỳ người tạo tác trăm sự biến hoá”. Hàng Bồ Tát Thập địa chẳng đói chẳng no, vào nước không chìm, vào lửa không cháy, ví như muốn cháy cũng chẳng được cháy, vì các vị ấy còn bị số lượng quản định. Phật thì chẳng phải như thế, vào lửa chẳng cháy, còn như muốn cháy liền cháy, vào nước chẳng chìm, muốn chìm liền chìm. Ngài sử dụng tứ đại được tự do, tất cả sắc là sắc Phật, tất cả thanh là thanh Phật, cặn bã nhơ uế của tâm siểm khúc sạch hết, thấu vượt nghĩa ba câu được nói lời này: Bồ Tát thanh tịnh, đệ tử sáng suốt, có nói ra điều gì chẳng chấp có không, tất cả chiếu dụng chẳng lạc vào thanh hay trược.
Người có bệnh mà không uống thuốc là người ngu. Người không bệnh mà uống thuốc là hàng Thanh Văn. Người chấp quyết định vào một pháp gọi là định tánh Thanh Văn. Người luôn luôn đa văn gọi là Tăng thượng mạn Thanh Văn. Người ham biết các Pháp ngoài tâm gọi là hữu học Thanh Văn. Người trầm không trệ tịch và tự biết mình gọi là vô học Thanh Văn.
Tham, sân, si là độc, mười hai phần giáo là thuốc, độc chưa tiêu hết, thuốc không được bỏ, không bệnh mà uống thuốc, thuốc trở thành bệnh. Bệnh hết mà thuốc không bỏ nên nói bất sanh bất diệt là nghĩa vô thường. Kinh Niết Bàn nói: “Có ba điều ác dục: Một là muốn được tứ chúng vây quanh; hai là muốn mọi người làm môn đồ mình; bà là muốn cho mọi người biết ta là Thánh nhân, là người có trí huệ cao”. Kinh Ca Diếp nói: “Một là muốn cầu thấy Phật vị lai; hai là muốn cầu làm Chuyển Luân Vương; ba là muốn cầu vào dòng Sát Đế Lợi; bốn là muốn được vào hàng Bà La Môn nhẫn đến chán sanh tử cầu Niết Bàn.” Những điều ác dục như vậy trước hết phải dứt trừ. Hiện tại hễ có dấy niệm đắm nhiễm đều gọi là ác dục, đều thuộc về sáu cõi trời dục bị ma Ba tuần cai quản.
Hỏi: – Trong hai mươi năm thường sai đi trừ phẩn là thế nào?
Đáp: – Chỉ cần dứt hết thảy các tri kiến có không, chỉ cần dứt tất cả các sự tham cầu, mỗi mỗi đều thấu suốt nghĩa ba câu thì gọi là trừ phẩn. Còn như nay cầu Phật, cầu Bồ Đề, cầu tất cả pháp có không,… Thì đó là chở phẩn vào, không gọi là chở phẩn ra. Nếu hiện tại khởi ra Phật kiến, Phật giải, hễ có sở kiến, sở cầu, sở trước đều gọi là phẩn hý luận, cũng gọi là thô ngôn, cũng gọ là tử ngữ. Như nói: “Biển lớn không chứa tử thi”. Bình thường nói chuyện chẳng gọi là hý luận. Lời nói biện biệt thanh, trược, gọi là hý luận. Văn trong kinh có nói chung hai mươi mốt thứ “không” là để gạn lọc trần luỵ của chúng sanh.
Bậc Sa môn trì trai, giữ giới, nhẫn nhục, nhu hoà, từ bi, hỷ xả là phép tắc thông thường của Tăng sĩ. Đã biết như thế là rõ ràng làm theo lời Phật dạy, song không nên chấp trước. Nếu hy vọng được Phật, được Bồ Đề và các pháp…. Thì khác nào để tay chạm vào lửa. Ngài Văn Thù nói: “Nếu khởi Phật kiến, Pháp kiến thì sẽ tự hại mình”. Vì thế Ngài Văn Thù cầm gươm bên Phật, ông Ương Quật cầm đao bên Thích thị (Phật). Như nói: “Bồ Tát làm ngũ vô gián mà chẳng bị vào địa ngục Vô gián, vì các Ngài là người huyền thông Vô gián nên không đồng như chúng sanh tạo tội ngũ nghịch Vô gián”.
Từ Ba tuần thẳng đến Phật đều là cáu ghét. Không có mảy may y chấp như thế còn gọi là đạo Nhị thừa, huống chi tranh luận tìm sự hơn thua, nói “Ta làm được, ta hiểu được” thì chỉ được gọi là tranh luận Tăng, chẳng được gọi là Vô vi Tăng.
Hiện tại chỉ cần không tham nhiễm tất cả các pháp có không thì gọi là vô sanh, cũng gọi là chánh tín. Tin mà còn chấp trước vào tất cả pháp thì gọi là lòng tin chẳng đủ, cũng gọi là lòng tin không trọn vẹn, cũng gọi là lòng tin lệch lạc. Lòng tin chẳng đủ cho nên gọi là Nhất xiển đề. Như nay muốn được hoát nhiên ngộ giải thì chỉ cần nhân pháp đều bặt, nhân pháp đều đứt, nhân pháp đều không, thấu suốt nghĩa ba câu đây gọi là người bất đoạ chư số (không lọt vào số lượng), đó là tin pháp, đó là giới thí, văn huệ… Bồ Tát chịu nhịn chẳng thành Phật, chịu nhịn chẳng làm chúng sanh, chịu nhịn chẳng trì giới, chịu nhịn chẳng phá giới, cho nên nói là không trì, không phạm.
Trí trược chiếu thanh, huệ thanh biết trược. Nơi Phật gọi là chiếu huệ, nơi Bồ Tát gọi là trí, nơi Nhị thừa và chúng sanh gọi là thức, cũng gọi là phiền não. Nơi Phật gọi là trong quả nói nhân, nơi chúng sanh gọi là trong nhân nói quả. Nơi Phật gọi là Chuyển pháp luân, nơi chúng sanh gọi là Pháp luân chuyển. Nơi Bồ Tát gọi là đồ anh lạc trang nghiêm, nơi chúng sanh gọi là ngũ ấm Tòng lâm. Nơi Phật gọi là bốn địa vô minh, do vì hiểu rõ vô minh nên nói vô minh là đạo thể, chẳng đồng với ám muội vô minh của chúng sanh.
Kia là sở, đây là năng,
Kia là sở văn, đây là năng văn,
Chẳng một, chẳng khác,
Chẳng đoạn, chẳng thường,
Chẳng đến, chẳng đi.
Là lời nói sống, là lời nói vượt ra ngoài khuôn khổ ngữ cú, chẳng sáng, chẳng tối, chẳng Phật, chẳng chúng sanh cũng đều như vậy. Đến, đi, đoạn, thường, Phật, chúng sanh đều là lời nói chết. Khắp hay chẳng khắp, đồng hay dị đoạn hay thường, … đều là cái nghĩa của ngoại đạo. Bát Nhã Ba La Mật là Phật tánh của chính mình cũng gọi là Ma Ha Diễn (Đại thừa). Nếu chấp giữ cái tri giác của mình thì thần ngoại đạo tự nhiên. Không giữ cái giác chiếu soi hiện tại, không cầu Phật, nếu cầu cái khác thì thuộc về ngoại đạo nhân duyên. Sơ Tổ nói: “Tâm có chỗ phải, ắt có chỗ quấy”. Nếu quý một vật ắt thì bị một vật làm mê hoặc, nếu trọng một vật thì bị vật làm mê hoặc. Tin thì bị lòng tin làm mê hoặc, không tin thì lại thành phỉ báng. Thế nên đừng quý, cũng đừng không quý, đừng tin cũng đừng không tin.
Phật cũng chẳng phải là vô vi, tuy chẳng phải là vô vi lại cũng chẳng phải là cái tối tăm yên lặng như hư không. Phật là chúng sanh thân lớn, giác chiếu soi nhiều nhưng thanh tịnh, quỷ tham sân bắt không được. Phật là người ở ngoài vòng trói buộc không có mảy may ái thủ, cũng không có tri giải về không ái thủ, đây gọi là đầy đủ lục độ vạn hạnh, nếu cần đồ trang nghiêm thì thứ nào cũng có, còn như không cần không dùng thì cũng chẳng mất nó. Tự do sai khiến được nhân quả, phước trí là tu hành, chứ chẳng phải nhọc nhằn mang nặng mới gọi là tu hành.
Ba thân một thể, một thể ba thân.
1. PHÁP THÂN THẬT TƯỚNG PHẬT:
Pháp thân Phật không sáng, không tối. Sáng tối thuộc về huyễn hoá. Thật tướng là do đối với hư tướng mà đặt tên, thật ra nó vốn không có tất cả tên gọi, như nói: Pháp thân vô vi bất đoạ chư số, thành Phật cao quý, … đều là lời nhẹ như gánh một lon, một lít. Do tên trược mới được đặt tên thanh nên nói thật tướng Pháp thân Phật, cũng gọi Thanh tịnh Pháp thân Tỳ Lô Giá Na Phật, cũng gọi hư không Pháp thân Phật, cũng gọi Đại Viên Cảnh Trí, cũng gọi đệ bát thức, cũng gọi là Tánh Tông, cũng gọi không tông, cũng gọi là Phật ở cõi không tịnh, không uế, cũng gọi sư tử ở tại hang, cũng gọi Kim cang Hậu đắc trí, cũng gọi Vô cấu đàn, cũng gọi Đệ nhất nghĩa không, cũng gọi Huyền chỉ. Tam Tổ nói: “Chẳng biết huyền chỉ, uổng công niệm định”.
2. BÁO THÂN PHẬT:
Báo thân Phật là Phật dưới cội Bồ Đề, cũng gọi là huyễn hoá Phật, cũng gọi là tướng hảo Phật, cũng gọi là Ứng thân Phật, cũng gọi là viên mãn Báo thân Lô Xá Na Phật, cũng gọi là Bình đẳng tánh trí, cũng gọi là đệ Thất thực, cũng gọi là Thù nhân đáp quả Phật, đồng với số năm mươi hai Thiền na, đồng với A La Hán, Bích Chi Phật, đồng với tất cả Bồ Tát, đồng chịu các khổ sanh diệt mà không đồng nghiệp khổ ràng buộc của chúng sanh.
3. HOÁ THÂN PHẬT:
Hiện tại đối với các pháp có, không đều không tham nhiễm, cũng không cả cái không tham nhiễm, lìa ngoài tứ cú. Tất cả ngôn thuyết biện tài đều gọi là Hoá thân Phật, cũng gọi là Thiên bá ức Hoá thân Thích Ca Mâu Ni Phật, cũng đại thần biến, cũng gọi là Du hí thần thông, cũng gọi là Diệu quan sát trí, cũng gọi là đệ Lục thức.
Cúng dường nghĩa là làm thanh tịnh ba nghiệp. Tiền tế (quá khứ) không phiền não để đoạn, trung tế (hiện tại) không tự tánh để giữ, hậu tế (vị lai) không Phật để thành, đó là Tam tế (tam thế) đoạn, là ba nghiệp thanh tịnh, là Tam luân không, là tam đàn không (Tam đàn: người bố thí, người nhận bố thí, tài vật bố thí). Thế nào là Tỳ Kheo hầu hạ Phật? Đó là người lục căn chẳng lậu, cũng gọi là “Trang nghiêm vô chư lậu”, “Rừng cây trang nghiêm vô chư nhiễm”, “Hoa quả trang nghiêm vô Phật nhãn”. Về pháp nhãn của người tu hành biện biệt thanh trược, cũng không có tri giải về sự biện biệt thanh trược, đây gọi là Ngũ nhãn (nhục nhãn cho đến Phật nhãn).
Kinh Bảo Tích nói: Pháp thân không thể dùng kiến, văn, giác, tri để cầu, Nhục nhãn không thấy được vì nó vô sắc, Thiên nhãn không thấy được vì nó vô vọng, Huệ nhãn không thấy được vì nói lìa tướng, Pháp nhãn không thấy được vì nói lìa hành, Phật pháp nhãn không thấy được vì nó lìa thức. Nếu không có những tri kiến trên thì gọi là Tri kiến Phật. Đồng sắc mà chẳng phải hình sắc nên gọi là chân sắc. Đồng không mà chẳng phải thái hư nên gọi là chân không. Sắc với không cũng là lời nói thuốc với bệnh để trị nhau (chấp sắc lấy không trị, chấp không lấy sắc trị).
Pháp giới quan nói: “Chớ nói tức sắc, chẳng tức sắc, cũng chớ nói tức không chẳng tức không”.
Nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý không lãnh nạp tất cả pháp có không, gọi là chuyển vào đệ Thất địa. Bồ Tát Thất địa không lui sụt thất địa. Từ Bồ Tát Bát địa đến Bồ Tát Thập địa, tâm địa trong sạch để hiện diệu dụng của tự tánh, nói lửa lửa liền cháy.
Từ Sắc giới trở lên bố thí là bệnh; bỏn xẻn tham làm là thuốc. Từ Sắc giới trở xuống bỏn xẻn tham lam là bệnh, bố thí là thuốc.
Hữu tác giới là cắt dứt pháp thế gian, chẳng phải thân tay làm thì không có lỗi. Vô tác giới, cũng gọi là Vô biểu giới, cũng gọi là Vô lậu giới. Hễ có dấy tâm động niệm đều gọi là phá giới. Nay chỉ cần không bị các cảnh có không làm hoặc loạn, cũng chẳng y trụ nơi không hoặc loạn, cũng không có tri giải về chẳng y trụ, đây gọi là biến học (phổ biến) cũng gọi là cần tán niệm (cần = siêng, tán = khen), cũng gọi là Quảng lưu bố.
Lúc chưa ngộ, chưa hiểu gọi là mẹ, ngộ rồi hiểu rồi gọi là con. Cũng không có cái tri giải về ngộ hay không ngộ, hiểu hay không hiểu, đây gọi là mẹ con đều chết. Không có sự ràng buộc của thiện, của ác, của Phật, của chúng sanh; số lượng cũng vậy, nhẫn đến không có sự ràng buộc của tất cả số lượng. Cho nên nói Phật là bậc siêu việt số lượng, vượt ra ngoài các sự ràng buộc.
Tham lam, ưa thích tri giải, nghĩa cú cũng như mẹ thương con, chỉ biết cho con ăn nhiều sữa ngon mà con có tiêu hoá được hay không đều không biết. Những lời này dụ cho:
– Hàng Thập địa thọ sự cúng dường của trời, người là tôn quý phiền não.
– Thiền định sanh vào Sắc giới, Vô sắc giới, là phước lạc phiền não.
– Được thần thông tự tại bay đi ẩn hiện khắp tịnh độ mười phương chư Phật, là nghe pháp phiền não.
– Học từ bi hỷ xả là nhân duyên phiền não.
– Học lý không, bình đẳng, là Trung đạo phiền não.
– Học tam minh, Lục thông là Tứ vô ngại phiền não.
– Học tâm Đại thừa là phát Tứ hoằng thệ nguyện phiền não.
– Sơ địa, Nhị địa, Tam địa, Tứ địa là minh giải phiền não. Ngũ địa, Lục địa, Thất địa là chư tri kiến phiền não. Bát địa, Cửu địa, Thập địa là song chiếu Nhị đế (chân đế và tục đế) phiền não. Cho đến học Phật quả là bá vạn A tăng kỳ chư hạnh phiền não. Chỉ biết tham nghĩa cú tri giải chẳng biết đó là trói buộc phiền não, nên nói: “Dòng sông kiến chấp hay cuốn trôi hương tượng” (loài voi lớn ở Hy Mã Lạp Sơn dụ cho hàng Bồ Tát).
Hỏi: – Thấy chăng?
Đáp: – Thấy.
Lại hỏi: – Sau khi thấy thì thế nào?
Đáp: – Cái thấy không hai.
Đã nói thấy không hai thì không được lấy “kiến” để “kiến” cái “kiến”. Nếu “kiến” lại thêm “kiến” thì thành hai câu đầu. Vậy cái “kiến” trước phải hay cái “kiến” sau phải? Cũng như Kinh Lăng Nghiêm nói: “Kiến kiến chi thời, kiến phi thị kiến. Kiến do ly kiến, kiến bất năng cập” (Hai chữ “kiến kiến” này là chỉ cho “kiến tánh”. Khi đã kiến tánh thì kiến (- trước) không phải là năng kiến cho nên không có tánh để làm sở kiến (- sau). Gọi là kiến còn phải lìa kiến, nếu có năng kiến thì không thấy được tự tánh, cho nên nói: Kiến bất năng cập).
Vì thế không hành kiến pháp, không hành văn pháp, không hành giác pháp, không hành tri pháp, thì chư Phật liền thọ ký cho.
Hỏi: – Kiến pháp đã chẳng phải là lời thọ ký thì dùng cái gì để thọ ký?
Sư đáp: – Người đã ngộ Tông thì chẳng bị tất cả pháp có không trói buộc như giặt áo bẩn vậy, nên nói: Ly tướng gọi là Phật, hư thật đều không còn; trung chỉ độc huyền, huyền đạt một lối (Trung chỉ = tự tánh, độc huyền = bất khả tư nghì. Tự tánh huyền diệu bất khả tư nghì, đạt đến cái huyền diệu ấy chỉ có một đường lối là phải tự ngộ mới được), kẻ đồng đạo hậu tấn (hậu học) khế hợp đến bậc đó, nên nói thọ ký vậy.
Vô minh là cha, tham ái là mẹ. Tự kỷ là bệnh, tự kỷ cũng là thuốc. Tự kỷ là dao giết cha vô minh, mẹ tham ái của chính mình, nên nói giết cha hại mẹ. Đó là một cách nói để phá hết thảy pháp. Người ăn phi thời thực cũng vậy. Hiện tại đắm nhiễm tất cả pháp có không đều gọi là ăn phi thời thực cũng gọi là ác thực, là thức ăn nhơ đựng trong chén báu, là phá giới, là làm nhơ chén, là tạp thực.
Phật là người không cầu, hiện nay tham cầu tất cả pháp có không, hễ có sở tác đều là quấy cả, tức là phỉ báng Phật. Hễ có tham nhiễm đều gọi là thọ thủ (trao tay). Còn như nay không tham nhiễm, cũng chẳng y trụ vào không tham nhiễm, cũng không có tri giải về chẳng y trụ, đây gọi là lửa Bát Nhã, lửa đốt ngón tay là không tiếc thân mạng, là cắt thân ra từng mảnh, là xuất thế gian, là cầm thế gian trong lòng bàn tay ném qua phương khác.
Hiện tại, nếu đối với mười hai phần giáo và tất cả pháp có, không ở trong tạng phủ còn có một mảy may lưu giữ là chưa ra khỏi lưới. Hễ có sở cầu, sở đắc, hễ có khởi tâm động niệm đều là con chồn. Như nay chỉ cần trọng tạng phủ đều vô sở cầu, vô sở đắc thì người này là đại thí chủ, là sư tử rống. Lại cũng chẳng y trụ vào Vô sở đắc, cũng không có tri giải về chẳng y trụ, đây gọi là lục tuyệt sư tử.
Nhân ngã chẳng sanh, các điều ác không khởi, đó là để núi Tu Di vào trong hạt cải, chẳng khởi tất cả tham sân và bát phong, … Đó là hút được hết tất cả nước bốn biển lớn vào miệng. Chẳng thọ nhận tất cả ngữ ngôn hư vong, đó là chẳng lọt vào lỗ tai. Chẳng cho thân tạo các điều ác đối với người, đây là nạp tất cả lửa vào trong bụng. Hiện tại chỉ cần đối với mọi cảnh chẳng mê lầm, chẳng tán loạn, chẳng giận, chẳng mừng, nơi của lục căn của mình phải cạo gọt cho sạch sẽ, đó là người vô sự hơn hẳn tất cả những người tri giải, Đầu đà tinh tấn, gọi là Thiên nhãn, cũng gọi là Liễu chiếu nhãn, cũng gọi là Pháp giới tánh, cũng gọi là xe chở nhân quả.
Hỏi: – Phật xuất thế độ chúng sanh là thế nào?
Đáp: – Niệm trước không sanh, niệm sau không tiếp nối, nghiệp trong niệm trước đã hết gọi là độ chúng sanh. Niệm trước nếu giận hờn thì liền đem thuốc hoan hỷ để trị tức gọi là có Phật độ chúng sanh. Tất cả ngôn giáo chỉ là thuốc trị bệnh, vì bệnh chẳng đồng nên thuốc có khác, cho nên có lúc nói có Phật, có lúc nói không Phật. Lời chân thật dùng để trị bệnh, nếu trị lành được bệnh thời mỗi lần đều là lời chân thật, còn nếu trị bệnh chẳng lành thì mỗi lời đều là lời hư vọng. Lời chân thật thành lời hư vọng vì sanh kiến chấp; lời hư vọng thành lời chân thật vì dứt được điên đảo của chúng sanh. Bởi vì bệnh là hư vong, nên dùng thuốc hư vong để trị.
Phật xuất thế độ chúng sanh là chính bộ giáo ngữ, là giáo ngữ bất liễu nghĩa. Giận hờn và hoan hỷ, bệnh tật và thuốc men đều là tự kỷ chứ không có ai khác, thì chỗ nào có Phật xuất thế, chỗ nào có chúng sanh để độ? Như Kinh Kim Cang nói: “Thật không có chúng sanh được diệt độ”. Cũng nói: “Không ưa thích Phật, Bồ Đề, không tham nhiễm các pháp có không gọi là độ tha, cũng chẳng chấp lấy tự kỷ gọi là tự độ”. Vì bệnh không đồng, thuốc cũng không đồng, cho toa cũng không đồng, không được cố chấp. Y theo Phật, y theo Bồ Đề và các pháp, … đều là cơ sở y. Cho nên người trí chẳng được y theo một pháp nào cả. Lời trong kinh dụ như lá vàng, chẳng biết lý này thì gọi là đồng với vô minh. Như nói: “Bồ Tát thực hành Bát Nhã chẳng nên chấp lấy lời ta và y theo lời dạy”.
Sân như cục đá, ái như nước sông. Hiện nay chỉ cần không sân, không ái là thấu được núi sông, vách đá chỉ là trị bệnh cho kẻ tục tai điếc thôi, còn đa văn biện thuyết là để trị bệnh đau mắt.
Từ người lên đến Phật là đắc, từ người trở xuống địa ngục là thất. Thị phi cũng vậy, Tam Tổ nói: “Đắc thất thị phi, nhất thời buông bỏ”.
Không chấp trụ vào tất cả pháp có không thì gọi là bất trụ hữu duyên, chẳng y trụ vào không, y trụ thì gọi là bất trụ không nhẫn.
Người có kiến giải chấp tự kỷ là Phật, tự kỷ là Thiền, đạo gọi là nội kiến, chấp nhân duyên tu chứng mà thành gọi là ngoại kiến, Ngài Chí Công nói: “Nội kiến, ngoại kiến đều sai”.
Mắt, tai, mũi, lưỡi mỗi cái không tham nhiễm tất cả pháp có, không gọi là thọ trí bốn câu kệ, cũng gọi là Tứ quả Lục nhập không dấu tích, cũng gọi là Lục thông. Hiện tại chỉ cần không bị các pháp có, không làm ngại, cũng chẳng y trụ nơi vô ngại và cũng không có tri giải về chẳng y trụ, đây gọi là Thần thông. Không chấp thần thông này là đúng gọi là Không thần thông. Như bảo: Bồ Tát không thần thông, dấu chân không thể tìm là người hướng lên Phật, là người không thể nghĩ bàn là tự kỷ.
Trời là trí chiếu soi. Khen ngợi liền vui mừng, vui mừng thuộc về cảnh. Cảnh là trời, khen ngợi là người. Trời người giao tiếp cả hai được thấy nhau. Cũng nói: Tịnh trí là trời, chánh trí là người, vốn chẳng phải là Phật mà nói với họ là Phật, gọi là thể kết. Nay chỉ cần chớ có tri giải Phật, cũng chẳng y trụ nơi không tri giải Phật, đây gọi là diệt kết, cũng gọi là chân như, cũng gọi là thể như.
Cầu Phật, cầu Bồ Đề gọi là hiện thân ý. Hiện tại hễ có tất cả tâm cầu thì gọi là hiện thân ý. Như nói: Cầu Bồ Đề tuy là sự mong cầu tốt nhưng mà là chồng thêm trần luỵ. Cầu Phật là Phật chúng, cầu tất cả pháp có không là chúng sanh chúng. Hiện tại đối với các môn sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp… không yêu thích, đối với mọi cảnh không tham đắm, hễ không có mười câu trược tâm là liễu chân thành Phật. Học văn cú, tìm tri giải gọi là duyên nhân thành Phật.
Thấy Phật, biết Phật thì được, nói Phật có biết, có thấy tức là phỉ báng Phật. Nếu nói Phật biết, Phật thấy, Phật nghe, Phật nói thì không được, như nói thấy lửa thì được, mà nói lửa thấy thì không được; như dao cắt vật thì được mà vật cắt dao thì không được. Người biết Phật, người thấy Phật, người nghe Phật, người nói Phật thì trong muôn người không có một, còn người nói Phật biết, Phật thấy, Phật nghe, Phật nói thì nhiều như số cát sông Hẳng, chỉ vì tự mình không có mắt, mượn mắt người khác làm mắt, trong kinh gọi là Tỷ lượng trí, như nay tham lam tri giải Phật cũng gọi là Tỷ lượng trí.
Thí dụ của thế gian là thí dụ thuận, giáo bất liễu nghĩa là thí dụ thuận, giáo liễu nghĩa là thí dụ nghịch, xả bỏ đầu, mắt, não, tuỷ là thí dụ nghịch, như nay chẳng thích các pháp Phật, Bồ Đề … là thí dụ nghịch rất khó buông bỏ; cái thí dụ về đầu, mắt, não, tuỷ có ý nghĩa như sau: chấp trước tất cả các cảnh pháp có không gọi là đầu, bị tất cả các cảnh pháp có, không làm nhiễm loạn gọi là tay, lúc chưa chiếu soi tiền cảnh gọi là não tuỷ.
Bậc Thánh làm nhân phàm là Phật, vào trong chúng sanh thị hiện đồng loại để dẫn dụ hoá đạo, đồng bọn với ngạ quỷ chịu lửa đốt từng nóng xương thuyết pháp Bát Nhã Ba La mật cho chúng nghe, khiến chúng phát tâm. Nếu cứ ở nơi địa vị Thánh thì làm sao đến chỗ họ để dạy dỗ. Phật vào trong các loài để làm thuyền bè cho chúng sanh, cả bọn cùng nhau chịu khổ, nhọc nhằn vô hạn; Phật vào chỗ khổ cũng chịu khổ đồng như chúng sanh, nhưng Phật đi ở tự do chẳng đồng chúng sanh, Phật chẳng phải hư không thì lúc chịu khổ đâu thể không khổ. Nếu nói không khổ thì lời này sai trái. Chớ nên nói bậy: Nói Phật được thần thông tự tại hay không tự tại.
Vả lại, người biết hổ thẹn thì không dám nói Phật là hữu vi hay vô vi, chẳng dám nói Phật là tự do hay không tự do, trừ sự khen ngợi phương thuốc ra, chằng muốn để lộ ra hai điều xấu xí (tương đối). Kinh nói: “Nếu người để Phật Bồ Đề ở bên đúng, người này mắc tội lớn”. Cũng nói: “Như ở trước người không biết Phật pháp nói với họ như vậy thì không lỗi”. Như sữa bò vô lậu hay trị bệnh hữu lậu, loài bò này không ở cao nguyên cũng không ở nơi ẩm thấp, sữa bò này có thể làm thuốc, cao nguyên dụ cho Phật, ẩm thấp dụ cho chúng sanh. Như nói: “Pháp thân Phật trí Như Lai không có bệnh này”. Biện tài vô ngại, bay đi tự tại, bất sanh bất diệt, đây gọi là sanh, già, bệnh, chết đau đớn chập chồng, là lối ăn canh nấm bị bệnh kiết lỵ cũng là tối. Sáng ẩn thì tối bày. Sáng, tối đều quét chớ chấp lấy một bên cũng không có cái không, chấp lấy vốn chẳng sáng chẳng tối. Phật từ cung vua sanh, cưới Da Du Đà La cho đến bát tướng thành đạo, những thị hiện này, hàng Thanh Văn và ngoại đạo vọng tưởng cho đó là thật, như nói: “Chẳng phải thân tạp thực”. Ông Thuần Đà nói: “Tôi biết Đức Như Lai chắc chắn không thọ không ăn”. Nhất là cần phải có đủ hai con mắt soi thấu cả hai đầu sự việc không nên chỉ dùng một con mắt hướng bên này đi tức có bên kia đến. Công đức Thiên, Hắc ám Nữ, người chủ có trí thì đối với cả hai đều không nhận. Hiện tại chỉ cần tâm như hư không thì sự học mới thành.
Cao Tổ (ở Ấn Độ) nói: “Tâm tâm như gỗ đá”.
Tam Tổ nói: “Thiện ác đều chớ nghĩ”.
Tiên Sư (Mã Tổ) nói: “Như người lầm đường chẳng biết phương hướng”.
Ngài Tăng Triệu nói: “Đóng chặt trí, lấp thông minh, tánh giác làu làu”.
Ngài Văn Thù nói: “Tâm đồng hư không nên sự kính lễ không có sở quán, kinh điển sâu xa chẳng nghe, chẳng thọ trì”.
Nay chỉ cần đối với tất cả pháp có, không đều chẳng thấy, chẳng nghe, lục căn lấp bít, nếu học được như thế, trì kinh như thế mới có phần tu hành. Lời này nghe qua thật trái tai, đắng miệng nhưng nếu làm được như thế thì đến đời thứ hai, đời thứ ba, có thể hướng đến chỗ không có Phật, ngồi đại đạo tràng thị hiện thành đẳng chánh giác, biến ác thành thiện, biến thiện thành ác. Dùng pháp ác để giáo hoá hàng Bồ Tát Thập địa, dùng pháp thiện để giáo hoá địa ngục, ngạ quỷ, được hướng chỗ sáng để cởi mở sự ràng buộc của sáng, được hướng chỗ tối để cởi mở sự ràng buộc của tối, nắm vàng thành đất, nắm đất thành vàng, trăm thứ biến hoá tự do. Ở ngoài hằng sa thế giới có người cầu cứu, Phật liền dùng ba mươi hai tướng hiện ra trước người ấy, dùng tiếng giống họ để thuyết pháp, ứng cơ tiếp vật, tuỳ hình cảm hóa, biến hiện vào các loài, lìa ngã, ngã sở là thuộc về việc bên kia còn là tiểu dụng cũng là nằm trong các môn Phật sự. Đại dụng là thân lớn ẩn nơi vô hình, là tiếng to giấu trong hy thanh (tiếng ngoài tần số nghe), như lửa trong gỗ, như tiếng ở trong chuông trống; lúc nhân duyên chưa đến thì không thể nói là có hay không. Báo thân sanh lên cõi trời, bỏ Báo thân này như bỏ đàm dãi. Lục độ, vạn hạnh của Bồ Tát như cõi thây chết để qua sông, như ở lao ngục, trong lỗ cầu xí được thoát ra. Phật mang tấm thân ba mươi hai tướng, tướng ấy bị gọi là áo bẩn nhơ, cũng nói: Nếu nói Phật luôn luôn không thọ thân ngũ ấm thì thật vô lý, Phật chẳng phải là hư không thì đâu thể luôn luôn không thọ, Phật chỉ đi ở tự do không đồng với chúng sanh. Từ một cõi trời đến mội cõi trời, từ một Phật sát đến một Phật sát là pháp thường của chư Phật.
Lại nói: Nếu căn cứ vào tam thừa giáo thì thọ người tín thí cúng dường, họ ở trong địa ngục, Bồ Tát phải thực hành tâm từ bi đồng loại hoá độ để báo ân, chứ chẳng nên thường ở Niết Bàn.
Lại nói: Như lửa, thấy lửa đừng mó tay vào thì lửa chẳng đốt người. Hiện tại chỉ cần không có mười câu trược tâm: tâm tham, tâm ái, tâm nhiễm, tâm sân, tâm chấp, tâm trụ, tâm y, tâm trước, tâm thủ, tâm luyến. Mỗi câu đều có ba câu, hễ thấu suốt được nghĩa ba câu thì tất cả chiếu dụng mặc tình tung hoành, thì tất cả cử động làm việc, nói, nín, khóc, cười đều là Phật huệ. Phiền các vị đã ứng lâu, trân trọng cám ơn.
Hỏi: – Thế nào là pháp yếu nhập đạo Đại thừa đốn ngộ?
Sư đáp: – Trước hết ông phải bặt hết các duyên, dẹp bỏ muôn việc, các pháp thiện hay bất thiện, thế gian và xuất thế gian thảy đều buông bỏ, đừng ghi đừng nhớ, đừng duyên đừng niệm, buông bỏ thân tâm, đều cho tự tại, tâm như gỗ đá, miệng không biện luận, tâm không mống niệm, tâm địa nếu không thì mặt trời trí huệ tự hiện, như tan lớp mây mù thì mặt trời xuất hiện, chỉ cần dứt tất cả phan duyên thì các tình chấp tham sân, ái, thủ, sạch, nhơ, đều hết; đối với ngũ dục, bát phong, tâm chẳng động, chẳng bị cái kiến, văn, giác, tri làm chướng ngại, chẳng bị các pháp làm mê lầm thì tự nhiên đầy đủ tất cả công đức, đầy đủ tất cả thần thông, diệu dụng, đó là người giải thoát.
Đối với tất cả cảnh pháp, tâm không tranh cãi loạn động, không nhiếp, không tan, thấu qua tất cả thanh sắc, không bị vướng mắc gọi là đạo nhân.
Thiện ác, phải quấy đều không dùng, cũng không mến một pháp nào, cũng không bỏ một pháp nào gọi là người Đại thừa.
Chẳng bị tất cả thiện ác, không hữu, cấu tịnh, hữu vi vô vi, thế gian xuất thế gian, phước đức trí huệ, ràng buộc gọi là Phật huệ.
Phải quấy, tốt, xấu, đúng lý, không đúng lý, các thứ tình chấp tri giải đều sạch hết, chẳng còn ràng buộc được, nơi nơi đều tự tại đây gọi là Bồ Tát mới phát tâm được lên địa vị Phật.
Hỏi: – đối với tất cả cảnh làm sao để được tâm như gỗ đá?
Sư đáp: – Tất cả pháp vốn chẳng nói không, chẳng tự nói sắc, cũng chẳng tự nói phải quấy, nhơ sạch, chẳng có tâm trói buộc người, chỉ vì con người tự sanh hư vọng trói buộc, làm ra biết bao thứ tri giải và lãnh hội, khởi ra biết bao loại tri kiến, sanh ra biết bao sự yêu thương, sợ hãi, chỉ cần rõ biết các pháp chẳng tự sanh, đều từ một niệm vọng tưởng điên đảo của mình chấp tướng mà có. Biết tâm và cảnh vốn chẳng đến với nhau, ngay nơi đó chính là giải thoát, mỗi mỗi các pháp, ngay nơi đó là tịch diệt, ngay nơi đó là đạo tràng.
Lại nữa tánh sẵn có, không thể đặt lên, vốn chẳng phải phàm chẳng phải Thánh, chẳng phải nhơ sạch, chẳng phải không hữu, cũng chẳng phải thiện ác, nếu nó cùng với các pháp nhiễm tương ưng gọi là cõi người, cõi trời, cõi Nhị thừa, nếu tâm nhơ sạch đều dứt, chẳng trụ nơi ràng buộc, chẳng trụ nơi giải thoát, không có tất cả tâm lượng hữu vi, vô vi, ràng buộc, giải thoát, thì ở nơi sanh tử mà tâm vẫn tự tại, cứu cánh chẳng hoà hợp với các pháp hư vong, huyễn hoá trần lao, sanh tử, ngũ uẩn, lục nhập… xa lìa tất cả, không y trụ một nơi nào. Chẳng bị pháp nào ràng buộc, đi ở vô ngại, qua lại trong sanh tử tử tương tự như cửa mở.
Người học đạo nếu gặp các thứ khổ vui, việc vừa ý hay không vừa ý mà tâm vẫn không lui sụt, chẳng nghĩ đến tất cả thứ danh tiếng, lợi dưỡng, ăn mặc, chẳng tham tất cả công đức, lợi ích, chẳng bị các pháp thế gian làm vướng mắc, không thân, không mến, bình tâm trước mọi sự khổ vui, áo thô ngừa lạnh, cơm hẩm đỡ lòng, ngây ngây như ngu, như điếc, như câm, thì mới có chút phần tương ưng. Nếu trong tâm ham học rộng, biết nhiều, cầu phước, cầu trí đều là sanh tử, đối với lý đạo vô ích lại bị gió tri giải thổi trôi, chìm trong biển sanh tử.
Phật là người không cầu, nếu cầu tức là trái lý – Lý là lý không cầu, nếu cầu liền mất, nếu chấp thì đồng với hữu vi. Do đó Kinh Kim Cang nói: “Chẳng chấp lấy pháp, chẳng chấp lấy phi pháp, chẳng chấp lấy phi phi pháp”. Lại nói: “Pháp mà đức Như Lai được, pháp này không thực cũng không hư”, chỉ cần suốt đời tâm như gỗ đá, chẳng bị ấm giới các nhập, ngũ dục, bát phong làm trôi chìm tức là nhân sanh tử đã được cắt đứt, đi ở tự do, chẳng bị tất cả nhân quả hữu vi trói buộc, chẳng bị hữu lậu câu thúc, mai kia sẽ trở lại dùng sự không tự trói buộc làm nhân, đồng sự lợi ích, dùng tâm vô trước ứng tất cả vật, dùng huệ vô ngại mở tất cả sự trói buộc cũng gọi là tuỳ bệnh cho thuốc
Hỏi: – Như nay xuất gia thọ giới, thân miệng thanh tịnh, đã đủ các pháp có được giải thoát không?
Sư đáp: – Được chút phần giải thoát mà chưa được tâm giải thoát, cũng chưa được tất cả chỗ giải thoát.
Hỏi: – Thế nào là tâm giải thoát và tất cả chỗ giải thoát?
Sư đáp: – Chẳng cầu Phật, chẳng cầu pháp, chẳng cầu Tăng, nhẫn đến chẳng cầu phước trí, tri giải … Tình chấp nhơ sạch đều dứt hết, cũng chẳng chấp không cầu là phải, cũng chẳng trụ nơi chỗ dứt hết, cũng chẳng mến thiên đường, sợ địa ngục, trói buộc và giải thoát đều vô ngại, tức là thân tâm và tất cả chỗ đều được giải thoát.
Ông chớ cho rằng có được chút phần giới thân miệng ý thanh tịnh là xong, đâu biết rằng: Môn giới, định, huệ như số cát sông Hằng mà vô lậu giải thoát đều chưa dính một mảy lông.
Hãy nỗ lực tiến lên! Hãy dũng mãnh tham cứu! Đừng đợi tai điếc, mắt mờ, mặt nhăn, đầu bạc, già khổ đến thân, buồn thương vương vít rơi lệ dầm dề, trong lòng sợ hãi không có gì để nương tựa và cũng không biết phải đi về đâu. Đến lúc ấy, muốn tay chân không run rẩy cũng không được. Dẫu cho có phước trí, tiếng tăm, lợi dưỡng cũng không cứu được, vì tâm huệ chưa mở, chỉ nghĩ đến các cảnh, chẳng biết phản chiếu, chẳng thấy Phật đạo, nghiệp duyên thiện ác của một đời, tất cả nghiệp ác trong lục đạo, ngũ ấm, hoặc vui, hoặc sợ, từ tham ái của tự tâm hiện ra, biến thành những cảnh thù thắng: nhà cửa xe thuyền tốt đẹp chói lọi hiển hách, chỉ theo chỗ nặng của tham ái, tuỳ nghiệp thọ sanh rồng, súc sinh tốt xấu chưa định được, chẳng chút tự do.
Hỏi: – Thế nào là được phần tự do?
Sư đáp: – Như nay được thì được, hoặc đối với ngũ dục, bát phong, tâm không lấy bỏ, bỏn xẻn, đố kỵ, tham ái, ngã sở đều sạch, nhơ sạch đều quên, cũng như mặt trời trên hư không, chẳng duyên mà chiếu, tâm tâm như gỗ đá, niệm niệm (tham thiền) như cứu lửa cháy đều cũng như voi lớn qua sông cứ băng ngang dòng nước không chút nghi ngờ. Người này thiên đường, địa ngục không câu thúc được.

GƯƠNG THIỀN (Thiền Gia Quy Giám) Tây Sơn Đại Sư ( 1520 ~ 1604 ) Tào Khê Thối Ẩn thuật Thị Giới: dịch Việt THIỆN TRI THỨC 2016

    GƯƠNG THIỀN (Thiền Gia Quy Giám)
Tây Sơn Đại Sư ( 1520 ~ 1604 )
Tào Khê Thối Ẩn thuật
Thị Giới: dịch Việt
THIỆN TRI THỨC 2016

 

Lời Đầu Bản Dịch Tiếng Việt

Thiền thì đốn ngộ Tự Tánh tức Phật Tánh rồitiệm tu (Diệu tu). Giáo thì đạt đến Nhất Tâm và tu trong Nhứt Tâm đó.
Hành giả Giáo môn thực hành theo lời Phật dạy trong Kinh để đạt được tâm chuyên nhất. Nơi tâm chuyên nhất, tu tập qua nhiều từng bực, nếm từng phần mùi vị của Pháp, hướng đến cứu cánh toàn giác. Hành giả tu Thiền theo lời dạy của Thầy, Tổ để có được cái thấy ban đầu gọi là đốn ngộ hay thấy Tánh, sau đó tiệm tu, giữ gìn và vận dụng cái thấy đó cho đến khi hoàn toàn sáng tỏ, hoàn toàn nhuần nhuyễn.
Giáo như bản đồ đường bộ vẽ con đường dẫn lên đỉnh núi. Thiền như bức không ảnh cho thấy khung cảnh đỉnh núi. Dù dùng bản đồ đường bộ hay không ảnh, cả hai đều cùng hướng về một đỉnh núi, theo con đường Giới-Định-Huệ của Giáo, hay Huệ-Định-Hạnh của Thiền. Nơi Giáo môn, Giới-Định-Huệ hiển bày trong Một Vị, hay Nhất Tâm. Nơi Thiền, Huệ-Định-Hạnh toàn chứa trong Thấy Tánh hay Vô Niệm. Lúc nào cũng ở trong Nhất Tâm là lúc nào cũng ở trong Giới-Định-Huệ, lúc nào cũng Thấy Tánh là lúc nào cũng ở trong  Huệ-Định-Hạnh. Nơi Nhất Tâm hay Một Vị, Giới-Định-Huệ là một. Trong Thấy Tánh hay Vô Niệm, Huệ-Định-Hạnh là một. Đó là ba thời bình đẳng.
Theo ngài Tây Sơn Đại Sư, Giáo là Lời của Phật, Thiền là Tâm của Phật. Giáo môntheo lời dạy của Phật mà đi vào Tâm Phật, Thiền theo sự khai mở của Tổ mà vào ngayTâm Phật. Cả hai đều có cùng một đích là tỏ bày cái không lời, cùng đi đến một cứu cánh là cái không thể gọi tên tả hình, vượt ngoài tri giải. Cái đó chính là Tánh Phật cũng là Tánh Không.
Giáo và Thiền do đó không phải là hai cánh cửa, hai con đường hoàn toàn biệt lập, không thể hổ trợ cho nhau.
Đặc biệt trong phần Tế Hạnh, Tây Sơn Đại Sư dạy rõ về những hạnh mà người tu Thiền thường không coi trọng. Đó là những hạnh như: Bố thí, Giữ giới, Nhẫn nhục, Tinh tấn, Trì chú, Lễ bái, Niệm Phật, Nghe Kinh v.v.
Thiền Gia Quy Giám được ngài Tây Sơn Đại Sư, một vị Thiền Sư ngộ đạo lại học rộngnhớ nhiều, từng hoạt động trong nhiều môi trường và hoàn cảnh, viết ra để dạy đệ tửthuộc nhiều căn cơ. Do đó, ngài đã dùng những phương tiện thiện xảo để dẫn vào Nhứt Vị hay Nhứt Tâm của Phật, Kiến Tánh của Tổ, mở cửa cho sự thành tựu Giới Định Huệ và lục độ, vạn hạnh.
Nội dung của Thiền Gia Quy Giám có thể được tóm tắt bằng lời của Đại sư viết trong phần kết luận cuốn sách: “Toàn giáo pháp bắt đầu với cái không thể gọi tên tả hình, kết thúc với việc không còn tri giải. Bao nhiêu vướng mắc, một câu phá hết” và “Trước sau một nghĩa, giữa nêu vạn hạnh.”
Trong nhiều thế kỷ cho đến ngày nay, Thiền Gia Quy Giám đã được coi như cẩm nangtu học của tăng, ni và cư sĩ ở Đại Hàn, Trung Hoa, Nhật Bản cả trong Thiền lẫn Giáo.
Tôi mạo muội dịch ra tiếng Việt cuốn sách nhỏ vô giá nầy, trước là để tự học hỏi, sau làhy vọng có thể góp một phần nhỏ vào kho tàng Phật học, nhất là Thiền học nước nhà. Nếu có được chút ít công đức, xin hồi hướng cho tất cả chúng sanh và nguyện đượcgặp nhau trong Pháp Hội Long Hoa của Đức Di Lặc.
Bản tiếng Việt nầy được dịch theo bản dịch tiếng Anh The Mirror of Zen của Thiền sưHyon Gak Sunim và bản chữ Hán Thiền Gia Quy Giám của Tây Sơn Đại Sư do CBETA (Trung Hoa Điện Tử Phật Điển Hiệp Hội) phổ biến. Để tiện cho sự tham khảo của độc giả, trong phần chú thích, tôi để thêm âm Hán Việt những câu chủ đề của mỗi chương và  những câu trích dẫn trong ngoặc kép, và kèm theo bản Hán văn.
Bản dịch chắc chắn không tránh khỏi những sai sót. Kính mong chư thiện trí thức chỉ giáo.
Xin sám hối chư Phật, chư Tổ, bổn sư Thượng Tịch Hạ Chiếu, anh em bạn đạo và chưthiện trí thức về việc thêm sóng trên nước, vẽ hoa trong không nầy.
Thành phố Calgary, AB Canada
Mùa Thu 2010
Thị Giới.
(Sửa lần 1: Tháng 12 năm 2016.)

GƯƠNG THIỀN(Thiền Gia Quy Giám)

(1)
Có một vật sáng sủa ẩn mật, từ vô thủy đến nay chưa từng sanh, chưa từng diệt, gọi tên không được, diễn tả không được.
Một vật đó là vật gì?
Người xưa có bài tụng:
Khi Cổ Phật chưa sanh
Một vật đã toàn nên
Thích Ca cũng không hiểu
Ca Diếp lấy gì truyền?
(Cổ Phật vị sanh tiền
Ngưng nhiên nhất tướng viên
Thích Ca do vị hội
Ca Diếp khởi năng truyền?)
Vật đó không sanh, không diệt, gọi tên không được, diễn tả không đuợc.
Lục Tổ dạy chúng: “Ta có một vật không tên không tướng, có ai biết là vật gì?” (1)Thiền sư Thần Hội liền trả lời: “Nguồn gốc chư Phật, Phật Tánh của Thần Hội.” (2) Do đó Thần Hội chỉ là con giòng thứ của Lục Tổ (không được truyền tâm ấn).
Thiền sư Hoài Nhượng từ Tung Sơn đến, Lục Tổ hỏi: “Vật gì từ đâu đến?” (3) Sư khôngtrả lời được. Đến tám năm sau mới trả lời:  “Nói giống một vật là không trúng.” (4)  Do đó Hoài Nhượng trở thành con giòng chính của Tổ.
Thánh nhân Tam Giáo
Ra từ câu nầy
Ai muốn tỏ bày
Lông mày rụng sạch.
(Tam giáo Thánh nhân
Tòng thử cú xuất
Thùy thị cử giả
Tích thủ mi mao.)
(2)
Phật, Tổ xuất hiện trong đời, không gió nổi sóng.
Phật, Tổ tức Thế Tôn và Ca Diếp. Các ngài xuất hiện trong đời vì tâm đại bi cứu độchúng sanh.
Nói về một vật thì đó là khuôn mặt xưa nay người người đều trọn đủ, sao lại mượn bột phấn mà trét thêm vào? Do đó, sự xuất thế của Phật, Tổ giống như không có gió mà sóng khởi lên. Kinh Hư Không Tạng nói: “Chữ nghĩa là nghiệp ma, danh tướng lànghiệp ma, cho đến lời Phật cũng là nghiệp ma.” (1)
Ý muốn nói: Tự mình làm tròn, Phật, Tổ không dính dáng.
Đất trời trở tối
Mặt trời mặt trăng không ánh sáng.
(Kiền khôn thất sắc
Nhật nguyệt vô quang.)
(3)
Pháp có nhiều nghĩa, người có nhiều căn cơ, do đó ứng dụng không ngại.
Pháp là Một Vật, người là chúng sanh (do các duyên sinh ra).  Pháp có nghĩa theo duyên mà không biến đổi, người thì có khả năng nhanh chậm khác nhau. Do đó không ngại áp dụng nhiều phương tiện ngữ ngôn, như câu: “Quan không dung tội gian lận một cây kim nhưng tư thông cả xe.” (1)
Chúng sanh tuy đã viên thành nhưng không mở mắt tuệ nên chịu sự luân chuyển(trong sáu đường). Do đó, nếu không dùng kiếm xuất thế (kiếm trí tuệ), làm sao gọt sạch lớp vỏ dày vô minh? Vượt biển khổ để đi đến bờ vui đều nhờ ân đức đại bi (của Phật, Tổ), dùng vô số thân mệnh như cát sông Hằng cũng khó báo đền.
Trên đây là nói ân sâu của Phật, Tổ đối với chúng ta.
Vua lên điện báu
Già quê hát ca.
(Vương đăng bảo điện,  
Dã lão âu ca.)
(4)
Tạm lập các tên gọi, hoặc Tâm hoặc Phật hoặc chúng sanh, nhưng không nên bám vào danh tự mà hiểu. Thể thật ngay đó, khởi niệm liền sai.
Một Vật tạm lập ba tên gọi, Hiển giáo bất đắc dĩ lập ra. Thiền dạy không nên bám vào tên gọi mà hiểu.
Nâng lên, hạ xuống, tạo ra, phá đi, đều là hành động tự tại của đấng Pháp Vương.
Ở trên là nói về các phương tiện của chư Phật, Tổ.
Nắng lâu gặp mưa tốt
Phương xa gặp người xưa.
(Cửu hạn phùng giai vũ 
Tha hương kiến cố nhân)
(5)
Thế Tôn ba lần truyền Tâm lập nên tông chỉ Thiền (1). Những lời dạy suốt đờicủa Phật lập nên Giáo. Vì vậy nói rằng Thiền là Tâm của Phật, Giáo là Lời của Phật.
Ba lần đó là: lần thứ nhất tại tháp Đa Tử khi Đức Phật chia chỗ ngồi cho Ma Ha Ca Diếp, lần thứ hai tại Pháp hội Linh Sơn đưa cành hoa, lần thứ ba dưới hai cây sa lađưa chân ra ngoài quan tài. Đó là truyền riêng cho ngài Ca Diếp ngọn đèn Thiền.
Trong bốn mươi chín năm, Phật thuyết gồm Năm Giáo. Thứ nhất là Nhân Thiên giáo, thứ hai là Tiểu Thừa giáo, thứ ba là Đại Thừa giáo, thứ tư là Đốn giáo, thứ năm là Viên giáo. Ngài A Nan lưu thông biển Kinh Giáo nầy.
Khởi đầu của Thiền và Giáo là đức Thế Tôn. Phân ra Thiền và Giáo là Ca Diếp và A Nan.
Lấy không lời để tỏ bày cái không lời là Thiền. Lấy có lời để tỏ bày cái không lời là Giáo. Tâm là phương pháp của Thiền, Lời là phương pháp của Giáo. Do đó Pháp tuy một vị, sự nhận biết thì cách nhau như trời với đất.
Trên đây là nói về hai con đường Thiền và Giáo.
Đừng nên buông thả
Sinh thân bò trường.
(Bất đắc phóng quá
Thảo lí hoành thân.)
(6)
Do đó nếu chỉ theo lời thì việc đưa hoa mỉm cười (niêm hoa vi tiếu) cũng chỉ là dấu vết của Giáo. Từ Tâm mà được thì lời dỡ lời hay của thế gian đều là Thiền truyền riêng ngoài giáo.
Pháp không có tên nên lời không đến được, Pháp không hình tướng nên tâm khôngđến được. Khi vừa nói ra liền đánh mất tâm vương nguyên thủy. Mất tâm vươngnguyên thủy thì việc Thế Tôn đưa cành hoa ngài Ca Diếp mỉm cười cũng rơi vào lời phô, rốt cuộc rỗng không.
Đạt được bằng Tâm thì không những lời nói khoe khoan ngạo mạn cũng nói lên Pháp yếu, cho đến tiếng chim kêu cũng nói lên Thật Tướng. Do đó, Thiền sư Bảo Tích (1) nghe tiếng khóc giác ngộ vui mừng, Thiền sư Bảo Thọ (2) thấy đánh nhau liền nhận rõdiện mục.
Trên là làm rõ sự sâu cạn của Thiền, Giáo.
Ngọc sáng trên tay
Mân mê lui tới.
(Minh châu tại thủ
Lộng khứ lộng lai.)
(7)
Ta có một lời:
Dứt nghĩ quên duyên
Tự nhiên vô sự
Xuân về cỏ xanh.
(Ngô hữu nhất ngôn
Tuyệt lự vong duyên 
Ngột nhiên vô sự tọa
Xuân lai thảo tự thanh.)
Dứt nghĩ quên duyên đạt được Tâm, gọi là nhàn đạo nhân (đạo nhân không còn gì phảithực hành). Thật là tuyệt. Xưa nay không vướng bận, xưa nay đều vô sự. Khi đói thì ăn, khi buồn ngủ thì ngủ. Nước biếc núi xanh tùy ý tiêu diêu, thôn chài hang rượu tự tại an giấc. Năm tháng trôi qua không cần biết, Xuân đến như xưa cỏ tự xanh.
Trên nói về nhất niệm hồi quang (niệm khởi liền biết).
Toan bảo không ai
Lại có một người.
(Tương vị vô nhân
Lại hữu nhất cá.)
(8)
Giáo môn chỉ truyền pháp môn Nhất Tâm. Thiền môn chỉ truyền pháp môn Kiến Tánh.
Tâm như thể của gương, Tánh như ánh sáng của gương. Tánh tự trong sạch. Ngay lập tức trở lại tâm nguyên thủy.
Ở đây nhấn mạnh về nhất niệm.
Trùng trùng núi cùng nước
Nếp nhà cũ sạch làu.
(Trùng trùng sơn dữ thủy
Thanh bạch cựu gia phong.)
Bình:
Tâm có hai loại: Tâm bổn nguyên và tâm vô minh chấp tướng. Tánh có hai loại: Pháp Tánh bổn nguyên và tánh đối lại tướng. Do đó cả Thiền và Giáo đều mê khi dựa vàodanh để hiểu, hoặc lấý cạn làm sâu, hoặc lấý sâu làm cạn. Tất cả đều là bệnh lớn trong cái thấy và việc làm, do đó cần nói rõ.
(9)
Chư Phật nói Kinh, trước phân biệt các pháp, sau nói về tánh Không cứu cánh.  Sự khai mở của Tổ Sư không để dấu vết trên đất ý niệm, chân lý bày rõ ở nguồn Tâm.
Chư Phật là nơi nương tựa cho vạn đời nên theo cách có thể truyền đạt. Tổ Sư độ thoát tức thời, do đó trao truyền bí mật. Dấu vết: lời của Tổ Sư gọi là dấu vết. Ý: sự suy nghĩ của người học.
Bày tỏ loạn cuồng
Tay không cong ngược.
(Hồ loạn chỉ chú
Tí bất ngoại khúc)
(10)
Cách chư Phật dạy như cây cung, cách Tổ Sư dạy như dây cung.  Phật nói các pháp vô ngại quy về một vị. Chạm vào dấu vết Một Vị đó, liền hiện Nhất Tâm màTổ Sư tỏ bày. Do đó nói: thoại đầu “cây tùng trước sân” không tìm thấy trong hang rồng (nơi giữ Kinh).(1)
Nói cung là cong, nói dây là thẳng. Kho Rồng là nơi chứa Kinh ở Long cung. Vị Tăng hỏi ngài Triệu Châu: (2) “Ý của Tổ Sư từ Tây qua là gì?” Ngài Triệu Châu đáp: “Cây tùng trước sân.” Cho nên nói tông chỉ của Thiền ở ngoài khuôn mẫu.
Cá lội đục nước
Chim bay rụng lông.
(Ngư hành thủy trọc
Điểu phi mao lạc)
(11)
Do đó, người học trước tiên học hiểu giáo lý như thật của Phật, phân biệt rõ ràng hai chân lý bất biến và tùy duyên, là Tánh và Tướng của Tự Tâm. Cả hai môn đốn ngộ và tiệm tu đều là khởi đầu và chung cùng của việc tu tập. Sau đó mới bỏ giáo nghĩa, nơi nhất niệm hiện tiền của Tự Tâm mà tham, cuối cùng tất sẽ có kết quả, đó là thoát thân vào con đường sống.
Người trí tuệ căn cơ lớn không cần phải ở trong giới hạn đó. Người căn cơ trung và thấp không thể vượt qua giới hạn đó.
Hiển Giáo dạy bất biến mà tùy duyên, đốn ngộ và tiệm tu có trước có sau. Với Thiền,trong một niệm bất biến tùy duyên, Tánh và Tướng, Thể và Dụng vốn cùng một lúc. Vì vậy rời có rời không.
Do đó các vị Tổ Sư rời lời nói mà chỉ thẳng, một niệm thấy Tánh thành Phật. Đó làbuông bỏ giáo nghĩa.
Ngày sáng rỡ ràng
Mây ẩn hố sâu.
Từ nơi sâu kín
Trời chiếu tạnh không.
(Minh lịch lịch thời
Vân tàng thâm cốc
Thâm mật mật xứ
Nhật chiếu tình không.)
(12)
Người tu Thiền nên tham cứu câu sống (hoạt cú), không nên tham cứu câu chết (tử cú).(1)
Từ nơi hoạt cú mà được thì trở thành bậc ngang hàng với Phật, Tổ. Chạy theo tử cú thì tự cứu cũng không xong.
Do đó chỉ từ hoạt cú mới có hy vọng tự ngộ nhập.
Muốn gặp Lâm Tế (2)
Nên là người sắt.
(Yếu kiến Lâm Tể
Tu thị thiết hán.)
Bình:
Thoại đầu có hai cửa vào: tham cứu thoại đầu theo con đường trực chỉ gọi là hoạt cú (câu sống), không theo ý niệm, không nương vào lời, không có gì để nắm giữ. Tham cứu thoại đầu bằng ý niệm là thực hành giáo lý viên đốn bằng cách bám vào tử cú (câu chết), còn lý luận, còn ngôn ngữ, còn hiểu biết bằng tư tưởng, ý niệm.
(13)
Tham cứu công án phải với tâm khẩn thiết, như gà ấp trứng, như mèo rình chuột, như đói muốn ăn, như khát muốn uống, như con thơ nhớ mẹ, tất sẽ có lúc thấu triệt.
Công án của Tổ Sư có một nghìn bảy trăm tắc. Như các công án: “Con chó không cóPhật tánh;” (1) “Cây tùng trước sân;” “Ba cân gai;” (2) “Que dính cứt khô” v.v…  Gà ấp trứng: khí ấm của trứng được giữ liên tục không dứt. Mèo rình chuột: tâm và mắt không động. Cho đến đói nghĩ đến ăn, khát nghĩ đến uống, trẻ thơ nhớ mẹ. Tất cả những thứ đó đều phát ra từ tâm chân thật, không phải từ tâm hời hợt. Cho nên nói là khẩn thiết.Tham Thiền không có tâm khẩn thiết mà có thể thấu triệt thì không thể có.
(14)
Tham Thiền cần hội đủ ba điều quan trọng: thứ nhứt là có Lòng Tin lớn, thứ hai là có Lòng Mong Cầu lớn, thứ ba là có Tâm Nghi lớn. Nếu thiếu một trong ba điều đó thì giống như chiếc đỉnh gãy chân, trở thành vật vô dụng.
Phật dạy: “Muốn thành Phật, đức tin là căn bản.” Ngài Vĩnh Gia nói (1): “Người tu đạotrước tiên lập chí.” Ngài Mông Sơn (2) nói: “Người tham Thiền không phát khởi Nghi Tình là bịnh nặng.” (3) Lại nói: “Nghi lớn tất sẽ có ngộ lớn.” (4)
(15)
Hằng ngày theo duyên chỉ cử câu thoại đầu “Con chó không có Phật Tánh.” Cử tới cử lui, nghi tới nghi lui. Khi giác ngộ rồi thì không còn lý lẽ, không còn khái niệm, không còn ham thích món ăn ngon. Đó là lúc rũ bỏ thân và mệnh. Cũng là nền tảng để thành Phật, làm Tổ.
Một vị Tăng hỏi Triệu Châu: “Con chó có Phật Tánh hay không?” (1) Ngài Triệu Châuđáp: “Không.” (2) Một chữ nầy là cổng vào Tông môn. Nó cũng là dụng cụ phá hủy vô số hiểu biết sai lầm. Cũng là mặt mũi của chư Phật, cũng là cốt tủy của chư Tổ. Qua được cổng nầy sau đó mới có thể thành Phật, thành Tổ.
Người xưa có bài tụng:
Kiếm bén của Triệu Châu
Sáng lánh như sương băng
Suy nghĩ hỏi thế nào
Cắt thân làm hai khúc.
(Triệu Châu lộ nhận kiếm
Hàn sương quang diễm diễm
Nghĩ nghị vấn như hà
Phân thân tác lưỡng đoạn.)
(16)
Khi cử thoại đầu không nên tìm ra giải đáp hợp lý, cũng không nên dùng tư tưởng suy nghĩ, cũng không từ mê trông chờ giác ngộ. Đến lúc ý không còn chỗ để suy nghĩ, tâm không còn chỗ để bước vào, giống như con chuột già lọt vào chiếc bẫy sừng trâu, lùi không được, tiến không được. Thật là vô minh khi toan tính tìm kiếm, luân lưu trong sinh tử, trong sư sợ hãi kinh hoàng. Người đời nay không biết đó là bịnh, không ngừng ra vào trong đó.
Thoại đầu có mười thứ bịnh: dùng ý niệm để suy lường, dương mày nháy mắt (bắt chước Thầy), dùng ngôn ngữ để nắm bắt, tìm bằng chứng trong văn tự, bắt chước sựbiểu lộ lấy làm của mình, rơi vào chấp không xả bỏ mọi thứ, phân biệt có không, rơi vàotuyệt đối không, rơi vào lý lẽ, khởi tâm mong cầu giác ngộ.
Rũ bỏ mười căn bịnh nầy, khi cử thoại đầu giữ tinh thần phấn chấn, giữ chắc Tâm Nghi (Nghi Tình), nhắm thẳng vào câu hỏi “cái đó là gì?” (1)
(17)
Giống như muỗi chích vào trâu sắt, không thắc mắc làm cách này hay cách kia, cứ cắm vòi vào chỗ không thể cắm bất kể thân mệnh, toàn thể thân mệnh thấu nhập trong đó.
Đây là nói lại ý trên, khiến cho người tham cứu hoạt cú (câu sống) không lùi bước. Một vị Thầy ngày xưa nói: “Tham thiền nên tận ngõ Tổ Sư, diệu ngộ cốt đến chỗ hết đường tâm ý.” (1)
(18)
Tu tập giống như điều chỉnh dây đàn, căng giản để được chỗ quân bình. Cần mẫn thì gần với chấp trước, xao lãng thì rơi vào vô minh. Chỉ nên giữ tịch tịnhsáng láng, tiếp nối không dừng.
Người chơi đàn nói: Giản căng được quân bình thì tiếng đàn sẽ hay. Việc tu tập cũng như vậy. Căng thẳng thì làm động máu huyết (bị kích thích quá đáng), lơ là thì rơi vào hang quỉ (lu mờ). Không chậm không nhanh, khéo léo ở chỗ giữa.
(19)
Khi công phu đến chỗ đi không biết là đi, ngồi không biết là ngồi, khi đó bốn vạn tám ngàn thiên ma nơi sáu căn theo tâm mà sanh. Tâm nếu không khởi, nương đâu mà sanh!
Ma là tên loài quỉ ưa vui sinh tử. Tám vạn bốn ngàn ma quân là tám vạn bốn ngàn phiền não của chúng sanh. Ma vốn không có loài, người tu hành đánh mất chánh niệm lànguyên do sinh ra ma. Chúng sanh nương theo cảnh nên ở trong ma cảnh. Người tu đạo không theo cảnh nên nghịch với ma. Vì vậy nói rằng: Đạo cao ma thịnh.
Trong  thiền định hoặc thấy người con hiếu (người đưa tang) đẵn vào đùi, hoặc thấy heo kéo mũi (1), cũng là do từ trong tâm khởi lên mà thấy cảnh ma bên ngoài. Tâm nếu không khởi thì bao nhiêu tài nghệ của ma quân cũng trở thành như chém dao vào nước, như xua đuổi ánh sáng. Người xưa nói: “Lỗ hổng trên vách khiến có gió động, lỗ hổng trong tâm khiến ma lọt vào.” (2)
(20)
Khởi tâm là thiên ma, không khởi tâm là ấm ma (ngũ ấm ma), vừa khởi vừa không khởi là phiền não ma. Trong Chánh Pháp vốn không có việc như vậy.
Vô tâm là Phật Đạo, phân biệt là cảnh giới ma. Do đó cảnh ma giống như chuyệnchiêm bao, cần gì phải tốn sức luận bàn?
(21)
Công phu khi đã gom thành một khối, nếu đời nầy không thấu đạt, đến lúc nhắm mắt cũng không bị ác nghiệp dẫn đi.
Nghiệp tức là vô minh. Thiền là Bát nhã (Trí Tuệ). Sáng và tối không cùng hiện hữu là lýtự nhiên.
(22)
Người tu Thiền nên luôn tự hỏi: Có biết đến bốn ân sâu dày chăng? Có biết rằng thân thể dơ dáy do bốn đại hợp thành đang suy hoại trong từng niệm niệmchăng? Có biết rằng sinh mệnh con người tùy thuộc vào hơi thở chăng? Sanh ra có được gặp Phật, Tổ chăng? Khi nghe Pháp Vô Thượng có sinh tâm khó gặp chăng? Không rời Tăng đường để giữ hạnh trong sạch chăng? Không cùng người chuyện trò tạp nhạp chăng? Có hay bàn chuyện thị phi chăng? Thoại đầucó được rõ ràng không lu mờ liên tục trong mọi lúc chăng? Khi nói chuyện cùng người, thoại đầu có không bị gián đoạn chăng? Khi thấy nghe nhận biết, thoại đầu có gom thành một khối chăng? Sự quán chiếu có bắt được và đánh bại Phật, Tổ chăng? Đời nầy có quyết định tiếp nối tuệ mênh của Phật chăng? Khi đứng ngồi thoải mái có nghĩ đến nỗi khổ địa ngục chăng? Có quyết định thoát khỏi luân hồi trong một báo thân nầy chăng? Đối với cảnh tám ngọn gió (1), tâm có không động chăng?
Đó là những điều quan trọng mà người tu Thiền phải quán sát hằng ngày. Người xưa nói:
Thân nầy không quyết đời nầy độ
Đợi đến đời nào độ thoát thân?
(Thử thân bất hướng kim sanh độ,
Cánh đãi hà sanh độ thử thân.)
Bốn ân là ân cha mẹ, ân nước nhà, ân thầy dạy và ân thí chủ. Thân tứ đại dơ nhớp: tinh cha hòa với huyết mẹ tạo chất ướt (thủy đại); tinh cha tạo ra xương, huyết mẹ tạo ra da là chất cứng (địa đại); một khối tinh huyết không hư không hủy là hơi ấm của chất nóng (hỏa đại); lỗ mũi trước tiên được sinh ra để hơi thở ra vào thuộc sự động của gió (phong đại).
Ngài A Nan nói: “Khí ham muốn thô dơ hôi tanh gặp nhau sinh ra thân dơ nhớp.” (2)
Thân thể suy mục từng giây, thời gian trôi đi không ngừng, da mặt nhăn nheo, tóc trở nên trắng. Bây giờ không giống như xưa, về sau không giống bây giờ. Đó là thể của vô thường. Quỉ vô thường lấy sát hại làm vui. Thật là mỗi phút giây đều đáng sợ. Hơi thởra là lửa, hơi thở vào là gió. Thân mệnh con người chỉ tùy thuộc vào hơi thở ra vào. Tám gió là các cảnh thuận, nghịch trong đời sống. Khổ địa ngục: một ngày một đêm ởđịa ngục dài bằng sáu mươi kiếp ở nhân gian, nấu trong nước sôi, đốt trong lò lửa, thảy vào rừng kiếm, núi dao, không thể nào diễn tả hết được.
Thân người khó được giống như tìm kim trong biển. Cảnh đáng xót thương đó khá nêncảnh tỉnh.
Bình:
Những lời Pháp ở trên giống như người uống nước nóng lạnh tự biết. Dù thông minhcũng không thể chống lại nghiệp. Huệ khô (càn huệ: trí thông minh bằng khái niệm) không giúp thoát khỏi vòng khổ đau. Quí vị nên suy xét, đừng tự nên tự mãn.
(23)
Người học theo chữ nghĩa, khi nói thì giống như đã giác ngộ, nhưng khi đối diện với sự việc hằng ngày thì trở lại mê mờ. Đó là lời nói và hành động trái nhau.
Ở đây triển khai ý tự mãn đề cập ở trên. Lời nói và hành động khác nhau, có thể phân biệt thật, giả.
(24)
Muốn chiến thắng sanh tử, phải từ nơi nhất niệm phá thủng để thấu suốt đượcsinh tử.
Thùng sơn bị phá vỡ phát ra tiếng. Khi phá vỡ thùng sơn thì sanh tử mới có thể đương đầu. Nhân địa tu hành của chư Phật cũng chỉ như vậy.
(25)
Sau khi một niệm được phá thủng, nên cầu minh sư chứng minh chánh nhãn (cái thấy đúng).
Việc nầy không phải dễ dàng. Cần phải có tâm rất khiêm tốn với cái thấy đầu tiên. Đạo giống như biển lớn, càng vào càng sâu. Cẩn thận đừng lấy chút ít cho là đủ. Sau khi ngộ nếu không tìm thầy chứng minh thì vị ngon ngọt của đề hồ sẽ trở thành thuốc độc.
(26)
Người xưa nói: “Chỉ trọng cái thấy đúng, không trọng cách hành xử.”
Xưa Ngưỡng Sơn khi được thầy là Quy Sơn (1) hỏi, đáp: “Kinh Niết Bàn bốn mươi quyển thảy đều là ma thuyết. Đó là cái thấy chân chánh của Ngưỡng Sơn.” (2) Ngưỡng Sơn lại hỏi về sự hành xử, Quy Sơn đáp: “Chỉ trọng thấy đúng.” (3) Do đó, trước tiênphải có cái thấy đúng, sau đó mới nói đến cách hành xử. Do đó nói: “Nếu muốn tu hành, trước cần đốn ngộ.” (4)
(27)
Nguyện chư vị tu đạo tin sâu Tâm mình, không tự hạ, không tự cao.
Tâm nầy bình đẳng, vốn không phàm,  thánh. Nhưng người có mê ngộ khác nhau nên gọi là phàm, thánh.  Nhờ Thầy chỉ dạy liền ngộ cái ngã chân thật thì cùng với chư Phật không khác gọi là đốn (ngộ tức thì.) Do đó không tự hạ. Như nói: “Xưa nay không một vật.”
Do ngộ mà dứt trừ các thói quen xấu, chuyển từ phàm sang thánh, đó là tiệm tu (tu từ từ). Do đó không tự cao. Như nói: “Giờ giờ thường lau chùi.” Tự hạ là bịnh của người học theo Giáo, tự cao là bịnh của người tu Thiền. Người tu theo Giáo không tin bí quyếtngộ nhập của nhà Thiền, chìm sâu trong giáo pháp phương tiện, chấp có thật giả, không tu thiền quán để khám phá ra châu báu nơi chính mình. Do đó sanh tâm yếukém.
Người học Thiền thì không tin vào Kinh giáo, do đó không tin kinh điển dạy về sự tiệm tuvà giảm trừ tập khí, nhiễm tập khởi lên mà không hổ thẹn, quả mới ở bước đầu mà đã sinh nhiều kiêu mạn, lời nói ngạo nghễ.
Do đó, người tu hành đúng đắn không tự hạ, không tự cao.
Bình:
Nơi sơ tâm, nhân gồm đủ trong quả, chỉ tin vào một vị (tự tánh), không tự hạ không tự cao.  Các vị Bồ tát đạt được quả bằng sự tu tập trãi qua năm mươi lăm từng bậc.
(28)
Dùng tâm mê tu chỉ giúp cho vô minh.
Chưa tỏ ngộ làm sao nói được là tu hành chân thật! Giác ngô và tiệm tu như dầu và ánh sáng (lửa) tương quan nhau, mắt và chân nương tựa nhau.
(29)
Nền tảng của sự tu hành chỉ là chấm dứt ý niệm phàm tình, không phải đi tìm sựhiểu biết của bậc thánh.
Bịnh hết thì không còn cần thuốc. Chỉ cần trở lại con người xưa kia.
(30)
Không từ bỏ tâm chúng sanh, chỉ đừng làm nhiễm ô tự tánh. Cầu Chánh pháp là tà.
Từ bỏ hay tìm cầu đều là nhiễm ô.
(31)
Dứt trừ phiền não là Nhị Thừa. Phiền não không sanh là Đại Niết bàn.
Dứt trừ thì có chủ (năng) có khách (sở).  Không sanh thì không chủ không khách.
(32)
Quán chiếu chỗ rỗng rang nơi tâm, tin rằng một niệm khởi lên là do duyên khởi, vốn không có sanh.
Đây là nói làm sao thấy rõ tự tánh.
(33)
Quán sát rõ ràng thì thấy rằng trộm cắp, tà dâm, nói dối đều từ tâm mà ra. Tâm vốn tịch lặng có gì phải dứt trừ!
Nói rõ sự tương quan giữa tánh và tướng.
Bình:
Kinh nói: “Một niệm không khởi gọi là đoạn trừ vô minh.” (1) Lại nói: “Niệm khởi liền biết.” (2)
(34)
Biết huyễn tức lìa, không cần phương tiện. Lìa huyễn tức giác, không có trước sau.
Tâm là thầy huyễn, thân là thành huyễn, ngoại cảnh là áo huyễn, danh tướng là thức ănhuyễn. Cho đến tâm khởi lên một ý niệm, nói chân nói vọng, đều không ra ngoài huyễn.
Những cái huyễn vô minh vô thủy nầy đều sanh ra từ tâm giác ngộ, giống như hoa đốmsinh ra trong hư không. Khi huyễn không còn thì gọi là bất động. Trong mơ thấy có mụt thì cầu thuốc, thức ra thì không còn bịnh. Biết huyễn cũng giống như vậy.
(35)
Chúng sanh ở trong chỗ không sanh lầm thấy có sinh tử và niết bàn, giống như thấy hoa đốm sinh ra và biến mất trong hư không.
Tánh vốn không sanh nên không có sanh và diệt. Không trung vốn không có hoa nên không có sinh ra và biến mất. Khởi vốn thật sự là không khởi, diệt vốn thật sự là không diệt. Hai cái thấy nầy không cần phải luận bàn. Kinh Tư Ích nói: “Chư Phật ra đời không phải để độ chúng sanh, chỉ muốn độ hai cái thấy sinh tử và Niết bàn.” (1)
(36)
Bồ Tát độ chúng sanh vào cảnh giới tịch diệt (niết bàn), nhưng thật không cóchúng sanh nào được diệt độ.
Bồ Tát lúc nào cũng vì chúng sanh. Biết thể của niệm là không mà độ chúng sanh. Niệm vốn rỗng lặng thật không có chúng sanh nào được diệt độ. Đây là nói về tin và hiểu (tín giải).
(37)
Lý có thể đốn ngộ (ngộ ngay) nhưng sự thì không thể đốn trừ (trừ ngay).
Văn Thù thấu pháp tánh (tánh thật của vạn pháp), Phổ Hiển rõ duyên khởi. Thấu hiểu nhanh như điện chớp, tu giống như kẻ cùng tử (người nghèo khổ). Ở đây luận về tu và chứng.
(38)
Tu Thiền mà còn tà dâm như nấu cát để được cơm, tu Thiền mà còn giết hại như bịt tai mà cầu tiếng, tu Thiền mà còn trộm cắp như rò chảy mà cầu đầy, tu Thiền mà còn nói dối như lấy phẩn làm chất thơm. Dù được trí tuệ cũng thànhma đạo.
Đây là nói rõ về khưôn phép tu hành Tam Vô Lậu Học.  Tiểu Thừa lấy pháp (hình tướngbên ngoài) làm giới, chữa thô nơi ngọn. Đại Thừa lấy nhiếp tâm làm giới, khéo trừ tận gốc.
Lấy pháp làm giới thì không phạm nơi thân, nhiếp tâm làm giới thì không phạm trong ý.Tà dâm thì dứt sự thanh tịnh, giết hại thì dứt tâm từ bi, trộm cắp thì dứt phước đức, nói dối thì dứt chân thật. Dù có đạt được trí tuệ, chứng được sáu thần thông, nếu khôngdứt trừ gíết hại, trộm cắp, tà dâm, nói dối thì cũng sẽ rơi vào đường ma, vĩnh viễn mấtcon đường Bồ đề chân chính.
Bốn giới nầy là căn bản của trăm giới, nói rõ ở đây để khỏi nghĩ và phạm. Không nhớ gọi là Giới, không nghĩ gọi là Định, không lầm lẫn gọi là Tuệ.
Giới để bắt giặc, Định để trói giặc, Huệ để giết giặc. Giới giữ vững, Định lắng trong thìmặt trăng Trí Tuệ xuất hiện.
Ba Môn Học nầy chính là nguồn gốc của vạn Pháp. Do đó nói rõ để tránh không bị rỉ chảy. Hội Linh Sơn lại có Phật khinh suất lời dạy của mình, núi Thiếu lâm lại có Tổ vọng ngữ sao?
(39)
Người không đức không theo giới luật của Phật, không giữ gìn ba nghiệp,buông lung lười biếng, coi thường người khác, coi nhẹ phải trái.
Một khi phá giới dù phá ở trong tâm thì trăm lỗi lầm liền sanh.
Bình:
Thời mạt pháp các thứ ma thịnh hành làm loạn Chánh Pháp.
(40)
Người học nên rõ: nếu không giữ giới, tái sanh làm thân dã can ghẻ còn khó thay huống là chứng quả Bồ đề thanh tịnh!
Trọng giới giống như trọng Phật thì Phật thường hiện tiền. Nên bắt chước vị tăng bị trói vào cỏ (1) và vị tăng thấy ngỗng nuốt châu (2).
(41)
Muốn thoát sinh tử trước phải dứt trừ tham muốn và khát ái.
Ái là gốc của luân hồi, tham muốn là duyên của thọ sanh. Phật dạy: “Tâm dâm không trừ thì không thể ra khỏi thế gian.” (1) Lại dạy: “Sự trói buộc vào ân ái đưa con ngườivào cửa tội lỗi.” (2) Sự ham muốn tình ái rất gắn bó với con người.
(42)
Trí tuệ thanh tịnh không ngăn ngại đều từ thiền định mà ra.
Vượt phàm vào thánh, giải thoát trong khi ngồi, chết trong lúc đứng đều do sức củathiền định. Cho nên nói: “Muốn cầu Thánh Đạo, không đi con đường nầy thì không còn đường nào khác.” (1)
(43)
Tâm định thì biết được các tướng sinh diệt của thế gian.
Ánh sáng qua lỗ hổng, bụi nhỏ lăng tăng
Đáy nước dưới ao trong, ảnh chiếu rõ ràng.
(Hư khích nhật quang tiêm ai nhiễu nhiễu.
Thanh đàm thủy để ảnh tượng chiêu chiêu.)
(44)
Thấy cảnh tâm không khởi gọi là không sanh. Không sanh là vô niệm. Vô niệm làgiải thoát.
Giới Định Tuệ nếu được một liền đủ cả ba, không phải riêng lẻ.
(45)
Tu đạo mà có chỗ chứng thì không phải là chân thật. Tâm và pháp vốn rỗng lặng là tịch diệt chân thật (niết bàn chân thật). Do đó nói rằng: “Các pháp xưa nayvốn tướng tịch diệt.”
Mắt không thể tự thấy, thấy mắt tức là dối. Do đó Văn Thù suy lường, Tịnh Danh không nói.
(46)
Sau đây nói về tế hạnh:
Người nghèo đến xin tùy thuận ban cho. Tâm đại bi thấy mình và người là một là sự ban cho chân thật.
Thấy mình và người là một gọi là đồng thể. Đến tay không và ra đi tay không, đó là sự thật về cuộc đời của chúng ta.
(47)
Có người đến hại, giữ tâm không nóng giận. Một niệm nóng giận nổi lên thì vô số cửa chướng ngại mở ra.
Phiền não tuy nhiều vô số, nóng giận là nặng nhất. Kinh Niết Bàn dạy: “Được thoa hương hay bị tùng xẻo đều không động tâm.” (1) Lòng giận giống như lửa sét đánh trong mây lạnh.
(48)
Nếu không có hạnh nhẫn nhục, các hạnh khác đều không thành tựu.
Các hạnh tuy vô số, từ và nhẫn là nguồn cội. Tâm nhẫn giống như huyễn mộng thì cảnh nhục cũng giống như lông rùa.
(49)
Giữ gìn chân tâm là tinh tấn bậc nhất.
Nếu khởi tâm tinh tấn thì đó là dối không phải thật tinh tấn. Nên nói: “Đừng tưởng lầm đừng tưởng lầm.” (1)
Người giải đãi thường ngóng về tương lai, đó là người tự bỏ rơi mình.
(50)
Nói về trì chú:
Nghiệp tạo trong đời nầy dễ chế ngự nên có thể cố gắng để tự trừ, nghiệp tạo từ đời trước khó trừ nên phải nhờ thần lực.
Ma Đăng Già đắc quả là chuyện có thật. Do đó không trì thần chú mà xa rời được việc ma là chuyện khó có.
(51)
Lễ bái có ý nghĩa là cung kính và khuất phục: cung kính chân tính, khuất phục vô minh.
Thân miệng ý thanh tịnh thì Phật hiện ra trong thế gian nầy.
(52)
Nói về niệm Phật: Ở miệng gọi là tụng, ở tâm gọi là niệm. Tụng mà không niệm thì chỉ vô ích.
Pháp môn niệm sáu chữ A Di Đà Phật là con đường tắt ra khỏi luân hồi. Tâm nương vào cảnh giới Phật nhớ giữ không quên, miệng xưng danh hiệu rõ ràng không loạn, tâm và miệng tương ưng gọi là niệm Phật.
Bình:
Ngũ Tổ nói: “Giữ chân tâm hơn niệm chư Phật mười phuơng.” (1) Lục Tổ nói: “Thườngniệm Phật bên ngoài không khỏi được sanh tử, giữ bổn tâm thì đến bờ bên kia.” (2) Lại nói: “Phật từ trong Tánh, không nên huớng ra ngoài mà cầu.” (3) Lại nói: “Người mêniệm Phật cầu vãng sanh, người giác ngộ thì chỉ thanh tịnh tâm mình.” Lại nói: “Chúng sanh ngộ được tâm thì cứu được mình, Phật không cứu chúng sanh” (4) vân vân. Các bậc nói trên chỉ thẳng vào Tâm, không nương vào phương tiện. Lý thật là như vậy.
Tuy nhiên với Tích môn thì thật có Cực Lạc Thế Giới, Phật A Di Đà có bốn mươi tám nguyện lớn, niệm được mười tiếng nương vào nguyên lực đó được vãng sanh vào hoa sen, thoát khỏi luân hồi, chư Phật ba đời khác miệng cùng lời, các Bồ tát trong mười phương đều nguyện vãng sanh, huống chi chuyện ghi chép về những người đượcvãng sanh từ xưa đến nay thật rõ ràng. Xin các vị tu hành nên thận trọng đừng lầm lẫn.
Trong Phạn ngữ, A Di Đà có nghĩa là thọ mạng không cùng, cũng có nghĩa là ánh sáng không cùng, danh hiệu Phật cao quí bậc nhất trong mười phương ba đời. Nguyên do tỳ kheo Pháp Tạng, ở trước đức Phật Thế Tự Tại Vương phát bốn mươi tám nguyệnrằng: Khi tôi thành Phật, các loài trời người cho đến các loài bọ trên không côn trùngdưới nước, nếu niệm tên tôi mười niệm thì được sanh vào nước của tôi. Nếu khôngthành tựu nguyện nầy, tôi sẽ không thành Phật. Vân vân.
Chư Thánh ngày xưa nói: “Xướng danh hiệu Phật một tiếng, thiên ma vở mật, tên được xóa trong quỷ bộ, hoa sen mọc trong ao vàng (vãng sanh).” (5) Sám Pháp cũng nói: “Tự lực và tha lực, một chậm một mau. Muốn vượt qua biển, trồng cây để làm thuyền thì chậm, đó là tự lực, mượn thuyền vượt biển thì nhanh, đó là Phật lực.” (6)
Lại nói: “Trẻ con ở thế gian khi bị lửa nước bức bách cất tiếng kêu gào, cha mẹ nghe tiếng chạy nhanh đến cứu. Người đến giờ lâm chung cao tiếng niệm Phật thì Phật có đủ thần thông nhất định đến đón. Lòng từ bi của đức Đại Thánh hơn cả cha mẹ, sự khổsanh tử của chúng sanh nặng nề hơn nạn nước lửa.”
Có người nói: “Tự tâm là Tịnh độ, Tịnh độ không thể sanh. Tự Tánh là Di Đà, Di Đàkhông thể thấy.” Lời nói cũng có phần có lý, nhưng cũng không phải hoàn toàn đúng.Đức Phật (A Di Đà) thì không tham không sân, còn chúng ta có được không tham không sân chưa? Đức Phật biến địa ngục thành hoa sen dễ như trở bàn tay, cònchúng ta do nghiệp lực thường lo sợ đọa vào địa ngục, huống là biến thành hoa sen!Đức Phật nhìn thấy thế giới mười phương như ở trước mắt còn chúng ta thì việc bên kia vách cũng không biết, huống là nhìn thấy thế giới trong mười phương như ở trước mắt!
Do đó, mặc dù Tánh của mọi người đều là Phật, hành động của chúng ta là hành độngchúng sanh. Nói về tướng và dụng thì xa nhau như trời với đất. Ngài Khuê Phong (7) nói: “Đốn ngộ xong rồi thì tu theo tiệm hạnh.” (8) Lời nầy chân thật làm sao!
Giờ xin hỏi người nói rằng Tự Tánh là Di Đà: Đức Thích Ca sanh ra tự nhiên là A Di Đàchăng? Xin hãy suy nghĩ.
Há không tự biết rằng, khi giờ lâm chung đến, nơi biên giới đau khổ giữa sống và chết, có thể tự tại quyết định hay không? Nếu không được như vậy, đừng cống cao nhất thời, không suy nghĩ chín chắn, để bị đắm chìm nhiều kiếp.
Các ngài Mã Minh (9), Long Thọ (10) đều là Tổ Sư, cũng dạy rõ khuyên tu vãng sanh.Chúng ta vì sao lại không muốn vãng sanh? Đức Phật cũng lại nói: “Tây Phương cáchđây mười vạn thế giới và tám ngàn xứ sở.” Đó là đối với người căn chậm mà nói về tướng. Lại nói: “Tây Phương cách đây không xa, tức Tâm là Phật.” Đó là đối với ngườicăn tánh lanh lẹ mà nói về Tánh.
Giáo lý có quyền (phương tiện) và thật. Lời có hiển và mật. Nếu hiểu và hành tương ưng, xa gần đều thông. Do đó các bậc trong Thiền tông, hoặc khuyên niệm A Di Đà(như ngài Huệ Viễn (11)) hoặc dạy tìm Chủ Nhân Ông (như ngài Thụy Nham (12).)
(53)
Nghe Kinh tạo mối liên hệ giữa Kinh và tai (nhĩ căn), được hưởng phước vui. Thân huyễn có ngày mất, thực hành theo sự chân thật thì không mất.
Ở đây nói rõ sự học sáng suốt (trí học) giống như nuốt kim cương (1), hơn hẳn việc bố thí bảy món trân quí. Thọ Sư (2) nói: “Nghe mà không tin vẫn tạo được hạt giống Phật. Học mà không thành vẫn có ích được phước cõi trời, cõi người.” (3)
(54)
Xem Kinh nếu không hướng vào bên trong mà thực hành, dù xem hết vạn tạng cũng không ích gì.
Ở đây nói rõ sự học ngu muội (ngu học) giống như chim kêu trong ngày Xuân, côn trùng kêu trong đêm Thu (không có ý hướng). Mật Sư (1) nói: “Theo chữ nghĩa mà xem Kinh thì không chứng ngộ được. Nghiền ngẫm câu văn, tìm tòi ý nghĩa chỉ làm tăng thêm tham, sân và tà kiến.” (2)
(55)
Học chưa đến nơi, dùng lời hùng biện miệng lưỡi để khoe sự hiểu biết của mình giống như sơn vẽ nhà xí làm cho giống ngôi chùa.
Nói về sự học ngu si của thời mạt pháp. Học vốn để thấy Tánh, nhưng lại toàn lấy của người khác làm của mình.
(56)
Người xuất gia mà học ngoại điển giống như dùng dao chém bùn. Bùn không dùng được vào việc gì mà dao bị tổn hại.
Ngoài cửa con trưởng giả
Lại trở vào nhà lửa.
(Môn ngoại trưởng giả tử,
Hoàn nhập hỏa trạch trung)
(57)
Xuất gia làm Tăng lại là việc nhỏ sao? Không phải để cầu sự ẩn dật an nhàn, không phải để cầu lợi danh, nhưng là vì chuyện sinh tử, vì muốn cắt dứt phiền não, vì muốn tiếp nối tuệ mệnh của Phật, vì muốn ra khỏi ba cõi để độ chúng sanh.
Có thể nói là bậc đại trượng phu có chí khí ngất trời.
(58)
Phật dạy: “Lửa vô thường thiêu đốt thế gian.” Lại dạy: “Lửa khổ của chúng sanh bốn phương thiêu đốt.” Lại dạy: “Các giặc phiền não thường tìm dịp để hại người. Người tu đạo nên tự biết mà phòng ngừa, như cứu lửa cháy trên đầu.”
Thân có sanh già bịnh chết. Thế giới có thành trụ hoại không. Tâm thì có sanh trụ dị (biến đổi) diệt. Lửa khổ vô thường đó thiêu đốt bốn bề. Xin người tham cứu lẽ huyền đừng hao phí thời gian, tham danh rỗng của thế gian chỉ uổng công nhọc xác.
(59)
Mưu cầu thế lợi như chất thêm củi vào ngọn lửa nghiệp.
Về việc ham tiếng tăm hư ảo của thế gian, có thơ rằng:
Chim hồng bay lưu dấu chân trên cát
Người chết rồi để tiếng tại nhà.
(Hồng phi thiên mạt tích lưu sa
Nhân khứ hoàng tuyền danh tại gia.)
Về việc mưu cầu lợi lộc thế gian, có thơ rằng:
Sau khi lấy mật trăm hoa

Ai người nếm ngọt chẳng hay nhọc nhằn?

(Thải đắc bách hoa thành mật hậu
Bất tri tân khổ vi thùy điềm?)
Tốn công mệt xác, giống như sự khéo léo chạm trổ trên băng, chẳng có ích lợi gì. Thêm củi vào lửa nghiệp: Sắc hương thô lậu giống như dụng cụ chứa lửa.
(60)
Người mặc áo nhà tu mà mưu cầu danh lợi chẳng bằng người quê mùa áo vải.
Bỏ ngai vàng tìm vào núi tuyết, đó là phép tắc của các đức Thế Tôn. Trong đời mạt pháp, những người thực chất là dê mà đội lốt cọp không biết xấu hổ, đón gió theo thời, chìu nịnh để giữ được ân huệ. Ôi hạng người như vậy làm sao răn bảo!
Người có tâm nhiễm lợi lộc thế gian, dua nịnh theo người có quyền, chạy theo cát bụi ở đời, cả người thế tục cũng cho là đáng cười. Việc làm của người mặc áo nhà tu nầy cho thấy thực chất của họ.
(61)
Phật dạy: “Kẻ giặc trộm mặc y phục của ta, buôn bán Như Lai, tạo các thứ nghiệp.”
Thời mạt pháp, có nhiều danh từ để gọi các tỳ kheo (phạm lỗi): hoặc là con dơi, hoặc dê câm, hoặc cư sĩ ngốc, hoặc đồ nhơ nhớp trong địa ngục, hoặc giặc mặc cà sa. Đó là buôn bán Như Lai vậy.
Bình:
Bài bát nhơn quả, không tin tội phúc, thân và miệng sục sôi, không ngừng khởi tâmthương ghét, thật là đáng thương.
Không ra tăng không ra tục cho nên gọi là con dơi, lưỡi không thuyết Pháp gọi là dê câm, bề ngoài là tăng mà tâm thế gian nên gọi là cư sĩ ngốc, tội nặng không đổi nên gọi là đồ dơ trong địa nguc, buôn Phật để mưu sống nên gọi là giặc mặc cà sa. Nói chung là giặc mặc cà sa.
(62)
Người đệ tử Phật mặc một bộ y, ăn ngày một bữa, không coi thường máu huyết của nhà nông, sự khổ cực của người thợ dệt, nếu đạo nhãn chưa tỏ làm sao tiêu được.
Truyền Đăng (1): “Một đạo nhân đạo nhãn chưa tỏ, thân sinh làm nấm để trả lại cho tín thí.” (2)
(63)
Nên nói: “Muốn biết vì sao sinh làm loài mang lông đội sừng, đó là do ngày nay nhận không không từ tín thí.” Có người không đói mà ăn, không lạnh mà mặc, không biết họ nghĩ thế nào? Không biết rằng cái vui trước mắt sẽ là nỗi khổ về sau.
Trí Luận viết: “Một vị đạo sĩ vì phí phạm chỉ năm hạt gạo mà phải đầu thai làm thân trâu, sống thì đền bù bằng xương gân, chết thì trả bẳng da thịt.” Nhận không không từ tín thí,báo ứng nhanh như tiếng vang.
(64)
Thà dùng sắt nóng che thân, không nhận áo của người tín tâm. Thà rót đồng vào miệng, không nhận thức ăn của người tín tâm. Thà vào lò nấu sắt, không nhận chỗ ở của người tín tâm.
Kinh Phạm Võng nói: “Không dùng thân phá giới mà nhận các vật cúng dường và bố thícủa người tín tâm. Bồ Tát nếu không phát nguyện nầy tức bị tội khinh cấu.” (1)
(65)
Vì vậy nói rằng: “Người tu đạo nhận thực phẩm như nhận thuốc độc, nhận củaban cho như bị tên bắn. Xử tốt, lời ngọt là điều sợ hãi của người tu đạo.”
“Nhận thức ăn như nhận thuốc độc” là sợ mất đạo nhãn. “Nhận thí nhự bị tên bắn” là sợ mất đạo quả.
(66)
Cho nên nói rằng: “Người tu đạo giống như tảng đá mài dao. Trương Tam đến mài, Lý Tứ đến mài. Mài tới mài lui, dao của người thì trở nên bén, nhưng đá nhà dần mòn. Thế nhưng có người lại sợ không ai đến mài dao trên đá của mình, thật là đáng thương!
Người tu đạo như vậy suốt đời chỉ nhắm đến sự ấm thân no bụng.
(67)
Do đó người xưa có câu: “Nỗi khổ trong ba đường chưa đáng gọi là khổ. Người mặc áo cà sa khi mất thân người mới thật là khổ.”
Người xưa nói: “Đời nầy không được minh tâm, một giọt nước cũng khó tiêu.” (1) Đó làlý do người mặc áo cà sa bị mất thân người (sau khi chết.) Người Phật tử nên đem lòng phấn khích.
(68)
Thật đáng kinh sợ cho cái thân nầy. Chín lỗ thường chảy ra (những chất dơ), trăm ngàn loại ung nhọt mọc ra trên làn da mỏng. Lại nói: Túi da chứa đầy phẩn và máu mủ, dơ bẩn đáng gớm, không đáng yêu thích, huống lại trăm năm nuôi nấng, trong một hơi thở liền bỏ đi.
Các nghiệp đề cập từ trước đến đây đều do có thân nầy. Nhìn kỹ vào thân sẽ sợ hãikêu lên tiếng lớn, làm cho chúng ta cảnh tỉnh. Cội rễ của thân nầy là lòng yêu thích. Biết rõ sự hư dối thì lòng yêu thích sẽ được tiêu trừ. Nếu cứ mê giữ sẽ sinh ra vô số lỗi lầmân hận. Vì vậy tỏ rõ điều nầy để mở con mắt đạo.
Bình:
Bốn đại không sanh (sự kết hợp của đất nước gió lửa không có thật) nên gọi là bốn kẻ oán. Bốn đại không biết nhớ ơn nên gọi là bốn con rắn. Chúng ta vì không biết thân nầy là hư vọng nên nổi lòng sân si cao ngạo với người khác. Người khác cũng không biết thân nầy là hư vọng nên cũng sanh sân si ngạo mạn với ta. Việc đó cũng giống như hai con quỷ tranh giành xác chết. Thây chết là thân thể của chúng ta, tựa như bọt nước, như chiêm bao, đau khổ và dơ nhớp, dễ bị hư hoại lại rất xấu xa. Trên thì bảy lỗ thường chảy nước mắt nước mũi, dưới thì hai lỗ thường ra phẩn tiểu. Ngày đêm thường lo giữ thân sạch sẽ để tiếp xúc với người. Cơ thể không sạch thì thiện thần cũng tránh xa.
Kinh Nhân Quả nói: “Dùng tay không sạch mà cầm kinh điển, khạt nhổ trước tượng Phật sẽ chịu quả báo sinh làm loài trùng trong cầu tiêu.” (1) Kinh Văn Thù nói: “Khi đạitiểu tiện thì giữ thân tâm như cây như đá, không nói năng, không gây tiếng động, không vẽ viết trên tường, không khạt nhổ đàm trong nhà cầu. Đi cầu mà không rửa ráy sạch sẽ thì không được ngồi vào nệm thiền, không được vào điện thờ.” (2) Luật nói: “Khi vào nhà xí, trước tiên phài búng móng tay ba lần để làm cho loài quỷ sống trong chổ dơ nhớp biết, rồi niệm thầm các thần chú mỗi câu bảy lần…” (3)
(69)
Có tội thì sám hối, có lỗi thì hổ thẹn, đó là khí tượng của người trượng phu. Sửa đổi lỗi lầm tự làm mới mình, tội theo tâm mà tiêu diệt.
Sám hối tức ăn năn lỗi trước, nguyện chừa những sai lầm về sau. Tàm quý tức bên trong tự trách, bên ngoài hổ thẹn. Tâm vốn rỗng lặng, tội nghiệp không có chỗ nương.
(70)
Người tu đạo nên giữ tâm đoan chánh, lấy đơn giản và ngay thẳng làm nền tảng. Một bầu một áo, không bị trói buộc vào nơi trọ nghỉ.
Phật dạy: “Tâm như dây đàn thẳng.” (1) Lại dạy: “Tâm ngay là đạo tràng.” (2) Nếu không dính bám vào sự vui về thân thì không bị trói buộc vào nơi trọ nghỉ.
(71)
Người phàm phu theo cảnh, người tu đạo theo tâm. Tâm cảnh đều quên đó làpháp chân thật.
Người theo cảnh giống như con nai chay theo hoa đốm trong hư không. Người theo tâm giống như con khỉ tìm bắt mặt trăng dưới nước. Cảnh và tâm tuy khác nhưng đều là bịnh như nhau. Đây nói về phàm phu nhị thừa.

Trên trời đất không mặt trời mặt trăng nước Tần

Khắp núi sông không thấy vua tôi nhà Hán.
(Thiên địa thượng không Tần nhật nguyệt,
Sơn hà bất kiến Hán quân thần.)
(72)
Thanh văn ngồi yên trong núi ma vương tìm được. Bồ tát dạo chơi trong thế gian ngoại ma không nhìn thấy.
Thanh văn lấy tĩnh làm hạnh nên tâm động, tâm động thì quỷ thấy được. Bồ tát tánh vốn rỗng lặng nên không dấu vết, không dấu vết thì ngoại ma không thấy. Ở đây luận về Nhị thừa Bồ tát.
Tháng ba ngại đi đường hoa rụng
Một nhà buồn đóng cửa trong mưa.
(Tam nguyệt lãn du hoa hạ lộ,
Nhất gia sầu bế vũ trung môn.)
(73)
Người phàm khi đến lúc sắp lìa đời chỉ quán năm ấm là không, bốn đại  không cótự tánh, Tâm chân thật không có hình tướng, không đi không đến, khi sanh Tánh cũng không sanh, khi chết Tánh cũng không mất, thanh tịnh sáng suốt, đầy đủ lặng yên, tâm và cảnh cùng một thể. Chỉ cần ngay lập tức thông suốt được như vậy, không bị ba đời ràng buộc (ràng buộc vào nhân quả), liền là người tự do ở ngoài thế gian. Khi đó, thấy chư Phật không khởi tâm theo nương, thấy địa ngục không khởi tâm sợ hãi. Chỉ tự vô tâm thì cùng với pháp giới (không khác). Đó là điều quan trọng. Sinh hoạt trong đời sống hằng ngày là nhân, khi chết là quả. Người tu đạo nên đem mắt quán sát.
Đến tuổi già sợ chết thì gần gũi đức Thích Ca.
Lúc nầy nên hướng soi tự kỷ
Trăm năm ánh sáng lướt qua đầu.
(Như hướng thử thời minh tự kỉ,
Bách niên quang ảnh chuyển đầu phi)
(74)
Người phàm đến giờ lâm chung, nếu có một mảy may phân biệt phàm thánh,nghĩ ngợi không dứt, sẽ bị kéo vào thai lừa, bụng ngựa, bị nấu trong chảo nước sôi, cho đến sinh làm con kiến con muỗi.
Ngài Bạch Vân (1) nói: “Giả như một mảy ý niệm phàm thánh cũng không còn, cũng không khỏi nhập vào thai lừa bụng ngựa.”
(2) Còn một tâm niệm chia hai thì còn có thể bị lôi kéo tái sinh vào đường xấu.
Lửa lớn mênh mông
Gươm báu ngăn che.
(Liệt hỏa mang mang
Bảo kiếm đương môn.)
Bình:
Hai tiết nầy đặc biệt mở bày cửa vô tâm hợp đạo của Thiền, phương tiện ngăn chậnpháp môn niệm Phật cầu vãng sanh trong Giáo môn.
Tuy nhiên căn khí không giống nhau, chí nguyện cũng khác. Hai pháp môn nẩy không ngăn ngại nhau.
Xin các người học đạo thường ngày tùy theo phận sự mà cố gắng, để đến phút cuốikhông sinh nghi ngờ.
(75)
Người học Thiền nếu chưa thấu rõ được bổn tâm rỗng sáng thì làm sao thấu được cái cửa chót vót huyền diệu? Người ta thường lấy cái ‘không’ đoạn diệtcho là Thiền, cái ‘không’ vô ký cho là đạo, ‘hết thẩy đều không’ cho là cao kiến.
Cái ý tưởng ngoan không u tối đó là một chứng bịnh sâu xa. Những người gọi làtu Thiền ngày nay mấy ai là không bị chứng bịnh đó!?
Con đường đi lên không có chỗ để đặt chân. Vân Môn (1) nói: “Có hai thứ bệnh ngăn cản sự thấu rõ. Khi thấu đạt pháp thân rồi cũng còn có hai thứ bịnh.” (2) Do đó lúc nào cũng ở trong tự tánh (thủy đắc).
Không đi đường cỏ thơm
Khó đến thôn hoa rơi.
(Bất hành phương thảo lộ,
Nan chí lạc hoa thôn.)
(76)
Các bậc thầy cũng có nhiều bịnh. Bịnh tại tai mắt như dương mày nhướng mắt nghiêng tai gật đầu cho là Thiền. Bịnh tại miệng lưỡi như miệng nói lời đảo điênvô nghĩa, hô hoán lung tung cho là Thiền. Bệnh tại tay chân như đi tới đi lui, chỉ vẽ lung tung cho là Thiền. Bệnh trong tâm như nghĩ tìm điều huyền diệu, cho mình ở trên phàm tình, xa rời sự thấy biết cho là Thiền.
Giết cha mẹ thì có thể sám hối Phật, chê Bát nhã thì không có cách gì sám hối.
Bắt bóng không trung không tài khéo
Bên ngoài tìm dấu há người tài?
(Không trung toát ảnh phi vi diệu
Vật ngoại truy tung khởi tuấn ki.)
(77)
Việc của các bậc Thầy giác ngộ chỉ là bày tỏ câu nầy. Như người gỗ gõ nhịp, lò hồng điểm tuyết. Lại như ánh sáng lửa đá. Người học thật khó thể suy lường. Do vậy người xưa nhớ ơn Thầy mà nói rằng: “Không trọng đạo đức của Thầy, chỉ trọng Thầy dạy dỗ không vị ngã.” (1)
Đừng nói! Đừng nói.
Viết ra gây hoang mang.
(Bất đạo bất đạo
Khủng thượng chỉ mặc.)

Tên xuyên qua bóng trăng dưới sông

Hẳn đến từ người bắn chim điêu.
(Tiễn xuyên giang nguyệt ảnh,
Tu thị xạ điêu nhân.)
(78)
Người học trước tiên nên hiểu rõ về đường lối của Tông môn. Xưa Mã Tổ (1) hét một tiếng làm cho tai của Bách Trượng điếc, lưỡi của Hoàng Bá rụng. Một tiếng hét đó là tiêu tức đưa hoa, cũng là khuôn mặt của Đạt Ma lúc mới qua. Đó là đầu mối của tông Lâm Tế.
Người biết pháp thì la. Mở miệng thì đánh.
Gậy gỗ một cây không đốt mắt
Ân cần giao phó kẻ đi đêm.
(Trượng tử nhất chi vô tiết mục,
Ân cần phân phó dạ hành nhân.)
Xưa Mã Tổ hét một tiếng làm cho Bách Trượng (2) được đại cơ, Hoàng Bá (3) được đại dụng. Đại cơ là hoàn toàn ứng hợp, đại dụng là cắt đứt không vướn ngại. Nhữngcâu chuyện trên là từ sách Truyền Đăng Lục.
(79)
Tổng quát mà nói, Thiền có năm phái là Lâm Tế, Tào Động, Vân Môn, Quy Ngưỡng, Pháp Nhãn.
Lâm Tế Tông:
Từ đức Bổn Sư Thích Ca cho đến đời thứ ba mươi ba Lục Tổ Huệ Năng trực tiếp truyền thọ gồm các Thiền Sư: Nam Nhạc Hoài Nhượng, Mã Tổ Đạo Nhất, Bách Trượng Hoài Hải, Hoàng Bá Hy Vận, Lâm Tế Nghĩa Huyền, Hưng Hóa Tồn Tưởng, Nam Viện Thủ Ngung, Phong Huyệt Diên Chiểu, Thủ Sơn Tỉnh Niệm, Phần Dương Thiện Chiêu, Từ Minh Sở Viên, Dương Kì Phương Hội, Bạch Vân Thủ Đoan, Ngũ Tổ Pháp Diễn, (Viên Ngộ Khác Cần, Kính Sơn Tông Cảo).
(80)
Tào Động Tông:
Gồm những vị Thiền sư sau Lục Tổ không được truyền trực tiếp. Đó là các Thiền Sư:Thanh Nguyên Hành Tư, Thạch Đầu Hi Thiên, Dược Sơn Duy Nghiễm, Vân Nham Đàm Thịnh, Động Sơn Lương Giới, Tào Sơn Đam Chương, Vân Cư Đạo Ưng.
(81)
Vân Môn Tông:
Bàng truyền từ Mã Tổ, gồm các Thiền sư: Thiên Vương Đạo Ngộ, Long Đàm Sùng Tín,Đức Sơn Tuyên Giám, Tuyết Phong Nghĩa Tồn, Vân Môn Văn Yển, Tuyết Đậu Trọng Hiển, Thiên Y Nghĩa Hoài.
(82)
Qui Ngưỡng Tông:
Bàng truyền từ Bách Trượng, gồm các Thiền Sư: Qui Sơn Linh Hữu, Ngưỡng Sơn Huệ Tịch, Hương Nghiêm Trí Nhàn, Nam Tháp Quang Lậu, Ba Tiêu Huệ Thanh, Hoắc Sơn Cảnh Thông, Vô Trước Văn Hỉ.
(83)
Pháp Nhãn Tông:
Bàng truyền từ ngài Tuyết Phong, gồm các Thiền Sư: Huyền Sa Sư Bị, Địa Tạng Quế Sâm, Pháp Nhãn Văn Ích, Thiên Thai Đức Thiều, Vĩnh Minh Diên Thọ, Long Tể Thiệu Tu, Nam Thai Thủ An.
(84) 
Lâm Tế hét, Đức Sơn gậy đều chứng suốt vô sinh, thấu ngọn thấu gốc, đại cơđại dụng, tự tại không cùng, toàn thân hiện mất, toàn thân đảm đương, nắm giữcảnh giới của Văn Thù, Phổ Hiền. Tuy nhiên, hai vị Thầy nầy cũng không tránh khỏi loài ma quỷ bắt hồn.
Gió buốt thổi lông, không phạm đầu nhọn.
Rạng rỡ hàn quang, châu đẹp nước
Không không mây tản, nguyệt qua trời.
(Thước thước hàn quang châu mị thủy 
Liêu liêu vân tán nguyệt hành thiên.)
(85)
Bậc đại trượng phu gặp Phật gặp Tổ như gặp oán thù. Cầu Phật liền bị Phật trói, cầu Tổ liền bị Tổ trói. Có cầu có khổ, không bằng vô sự.
“Gặp Phật Tổ như oán thù”: Ở trên nói “Không gió mà nổi sóng.” “Có cầu có khổ”: Ở trên nói “Thể thật ngay đó.” “Không bằng vô sự”: Ở trên nói “Khởi niệm liền sai.”
Đạt đến chỗ đó thì có thể cắt đứt hết đầu lưỡi của người trong thiên hạ, bánh xe sinh tửsẽ dừng lại.
Cứu giúp nguy khốn, dẹp yên loạn lạc, như Đan Hà đốt Phật (1), Vân Môn cho chó ăn (2), Lão bà không gặp Phật (3). Thảy đều là thủ đoạn dẹp tan tà kiến, làm rõ chánh kiến.Cuối cùng thì như thế nào?
Thường nhớ bờ nam trong tháng Ba
Chá cô kêu hót giữa trăm hoa
(Thường ức giang nam tam nguyệt lí,
Chá cô đề xứ bách hoa hương.)
(86)
Thần quang không mờ, vẫn tự ngàn xưa. Vào trong cửa nầy, không còn tri giải.
“Thần quang không mờ” ở trên nói là “chiêu chiêu linh linh”. “Vẫn tự ngàn xưa” ở trên nói là “vốn không sinh diệt.” “Không còn tri giải” ở trên nói “không thể theo danh mà hiểu.” “Cửa” là chỉ sự ra vào của phàm Thánh, như Thần Hội nói: “Một chữ biết là cửa vào của các điều huyền diệu.” (1)
Toàn giáo pháp bắt đầu với cái không thể gọi tên tả hình, kết thúc với việc không còn tri giải. Bao nhiêu vướng mắc, một câu phá hết.
Trước sau một nghĩa, giữa nêu vạn hạnh. Như ba nghĩa trong sách vở thế gian, hai chữ tri giải (biết hiểu) là mối nguy lớn của Phật Pháp. Do đó, đưa ra rồi chấm dứt.Thiền sư Hà Trạch Thần Hội cũng do đây mà không được coi là đích tử (con chính, tứcđệ tử được ấn chứng) của Lục Tổ Tào Khê.
Tụng rằng:
Như muốn nêu bày rõ tông chỉ
Cười ngất Tây Tăng cặp mắt xanh.
(Như tư cử xướng minh tông chỉ
Tiếu sát Tây lai bích nhãn tăng.)
Rốt ráo thì thế nào?
Trăng đơn riêng chiếu sông núi lặng
Cười lên một tiếng trời đất kinh.
(Cô luân độc chiếu giang sơn tĩnh
Tự tiếu nhất thanh thiên địa kinh.)
(Thiền Gia Quy Giám hết



LỜI BẠT
Của Một Người Đệ Tử Của Tây Sơn Đại Sư
Bản văn trên được viết do ngài Do-Eun (Thiền sư Tây Sơn), một vị Thiền sư sáng chói thuộctông phái Choye của Phật Giáo Đại Hàn.
Than ôi! Phật Giáo Đại Hàn đã suy thoái trên 200 năm. Những vị lãnh đạo Thiền tông và những vị chuyên về kinh điển khoanh vùng trong những quan điểm riêng. Những vị chuyên về kinh điển khai triển một khẩu vị cho những sự việc nhỏ hơn, và những vị nầy thì rất nhiều. Các vị nầy không biết có một con đường có thể giác ngộ từ bên trong, không nương tựa vào năm thừa giáo.
Trong khi đó, những người chuyên thực hành thiền quán thì chỉ tin vào sự thanh tịnhnguyên sơ nên coi thường vai trò của tiệm tu. Họ thường coi nhẹ việc thực hiện sựtoàn giác sau khi đốn ngộ. Những vị chỉ tập trung vào việc tu tập thiền quán có thể không chú ý đến tác dụng của việc thực hành nhiều pháp môn để cho diệu dụng củagiác ngộ được thuần thục và hoàn hảo.
Vì những lý do đó, vai trò của Thiền và Giáo thường bị lẫn lộn, như vàng và cát hòa trộn. Kinh Viên Giác nói: “Có người nói rằng vì con người sinh ra đã có Phật Tánh, và đã hoàn hảo, do đó ‘không có vô minh, không có giác ngộ’ nên quên mất nhân quả. Đó là cái thấy sai lầm. Lại có người cho rằng đốn ngộ là ảo tưởng vì vô minh chỉ đượcvượt qua bằng việc tu tập từ từ, do đó không nhìn thấy bản tánh chân thật không thay đổi của chính mình. Đây cũng là cái thấy sai lầm.”
Thật là nguy hiểm!
Vì sao truyền đạo lý nầy một cách đúng đắn rất khó khăn?
Truyền thống của chúng ta đang trên đường đi xuống như treo vạn cân trên một sợi tóc giữa hư không khi vị Lão Sư của chúng tôi ngồi viết tác phẩm nầy. Ngài dùng mọi thời gian rãnh rỗi trong mười năm chăn trâu ở núi Tây Sơn để kết tập. Ngài nghiền ngẫmnăm mươi bộ Kinh và những sớ giải liên quan, và chỉ ghi xuống những giòng rõ ràngnhất và căn bản nhất mà ngài tìm thấy. Rồi ngài trực tiếp dạy cho chúng tôi, những đệ tử của ngài, cho chúng tôi thấy lòng thương yêu của một người chăn cừu đối với đàn cừu: Với lòng lân mẫn, ngài dạy ít lại cho những người vượt quá và thúc đẩy những người lười biếng và không theo kịp. Tất cả những việc làm đó của ngài chỉ với mục đích đưa họ đến cửa đại ngộ.
Tuy nhiên, đệ tử của ngài quá đần độn, cảm thấy khó khăn với những thời Pháp cao siêu khó hiểu của ngài. Do đó, vị Lão Sư cảm thương, thêm phần chú giải vào mỗi câu và sắp xếp theo thứ tự. Kết quả là tất cả các câu được nối lại thành một xâu, và máu huyết bắt đầu lưu thông, đem giáo lý sống động đến cho những người đệ tử nầy.
Bản văn chứa đựng tinh túy của tám mươi bốn ngàn bộ kinh và cốt tủy của năm phái Thiền. Mỗi chữ đều mở bày chân lý, mỗi câu đều phù hợp với giáo pháp mà ngài muốn chỉ bày. Học hỏi bản văn, người quá độ sẽ tìm thấy sự tiết điệu, người bị đình trệ sẽvượt qua. Bản văn nầy quả thật là một tấm gương cho cả Thiền cũng như Giáo, một món thuốc rất hiệu nghiệm để đạt được hiểu biết chân chính và tác dụng của sự hiểu biết đó cho sự đốn ngộ cũng như việc tiệm tu.
Chúng ta nên biết rằng vị Lão Sư đã luôn luôn thận trọng tối đa khi nói về những vấn đềtrong tác phẩm nầy. Giống như bước đi trên một lưỡi dao bén, ngài lo rằng chỉ một chữ hay nửa câu cũng có thể đưa đến hậu quả trong một bản văn như bản văn nầy. Vì vậylưu hành rộng rãi hay vinh danh bản văn có thể là việc ngài muốn. Trong số những đệ tử của ngài, Thiền Sư Baek Un Bo Won sao chép và Đại Sư Byeok Chon Ui Cheonhiệu đính. Sau đó, những đệ tử khác như Đại Sư Jeong Wong, Đại Sư Dae Sang và Cheong Ha Boep Yung cung kính lễ bái và tán dương tác phẩm nầy là một tác phẩmkhông gì sánh. Cùng với sáu bảy vị tăng khác, họ quyên được đủ tiền khắc bản gỗ đểlưu hành về sau. Bản văn được phổ biến rộng rãi để trả ơn phần nào cho lòng từ bi lớn lao trong việc giáo hóa khai ngộ của ngài.
Chân lý thâm sâu của đức Phật và giáo pháp vi tế của chư Tổ giống như biển lớn: Nếu muốn tìm viên ngọc quý giá trong miệng rồng lớn dưới đáy biển, thì phải vào biền lúc mặt đại dương như thế nào? Và cái gì sẽ giúp cho sự tìm kiếm? Nếu không có nhữngphương tiện để di chuyển dưới biển giống như đi trên đất một cách tự tại thì không thể nào thực hiện ngoài việc ngồi trên bờ mà kêu oán.
Do đó sự thành tựu của vị Thầy chúng ta trong việc chọn lựa tinh túy của các lời dạy, và lòng từ bi của ngài trong việc khai ngộ chúng ta cao như núi và sâu như biển. Dù có nghiền xương cả ngàn lần, lấy thân mạng để đền đáp vạn lần cũng không thể đền đáp một chút xíu lòng từ mẫn bao la mà ngài đã ban cho chúng ta.
Chỉ đừng kinh nghi khi nghe và thấy những lời dạy nầy. Nếu đọc với lòng tôn kính và coi nó như kho tàng của mình, bản văn nầy sẽ trở thành một nguồn sáng dẫn đường, chẳng những cho đời nầy mà còn cho đời sau, đời sau nữa.
Những lời nầy được viết vào mùa Xuân niên hiệu Gimyo trều đại Manryeok (1579)

 

Tỳ kheo Yu Jeong, thuộc tông phái Choye Phật giáo Đại Hàn, kính lạy những lời dạy cốt tủy nầy được truyền từ Bổn Sư của chúng tôi, với lòng khiêm cung xin dâng những lời cuối cùng nầy.nguồn: http://thuvienhoasen.org/p33a26911/chu-thich

thien

Căn bản của thiền Bankei

Căn bản của thiền Bankei

Tâm – theo Bankei mô tả, là một cơ cấu năng động, nghề của nó là phản chiếu, ghi lại và hồi tưởng những ấn tượng về thế giới bên ngoài; nó như một loại gương soi sống động luôn luôn vận hành, không bao giờ ở yên từ giây phút này sang giây phút kế. Trong cái tâm như gương sáng này, những ý tưởng và cảm giác cứ đến rồi đi, sinh, diệt rồi lại tái sinh tùy hoàn cảnh, tự bản chất chúng không tốt cũng không xấu. Nhưng khác với người an trú Bất sinh; người hay phản ứng phải chịu khổ vì thói bám víu ràng buộc. Người ấy không bao giờ tự nhiên thoải mái vì họ là một tên nô lệ cho những phản ứng của mình, không nhận ra được đấy chỉ là những cái bóng thoáng qua. Kết quả là người ấy luôn luôn bị treo, vướng vào những ý tưởng hay cảm xúc đặc biệt nào đó, làm trở ngại sự tuôn chảy tự nhiên của cái tâm bình thường.

Mọi sự sẽ vận hành suông sẻ, Bankei nhấn mạnh, nếu chúng ta làm ơn xê ra để cho mọi sự tự nhiên vận hành. Ngài chứng minh điều này bằng cách chỉ cho thính giả thấy rằng, ngay dù trong khi tập trung lắng tai nghe giảng, họ vẫn tự động ghi nhận được mọi sự khác ở xung quanh, như tiếng quạ kêu, chim sẻ chíp chíp, những màu sắc và mùi hương khác nhau, đủ hạng người đang ở trong phòng giảng. Không ai cố tình làm vậy, chuyện ấy chỉ xảy xa một cách tự nhiên. Bankei bảo, đó chính là cái cách mà Bất sinh vận hành.
Đối với Bankei, điều quan trọng là buông xả, phá vỡ cái khuôn ngã chấp và những thói quen xấu, những thành phần chính của si mê. Ngã chấp hay sự tập trung vào tự ngã, là căn để của cái tôi giả tạo. Chính ngã chấp khiến chúng ta phán đoán mọi sự trên một quan điểm ích kỷ hẹp hòi. Chất liệu nuôi dưỡng thái độ này là những thói quen xấu, những tì vết trong nhân cách, cũng như sự chấp ngã, vốn là hậu quả của hoàn cảnh.
Theo Bankei, chúng ta khi còn bé thường bắt chước những người lớn xung quanh mình, và dần dần tích tập một số thói xấu cuối cùng trở thành thâm căn cố đế tới nỗi ta lầm cho đó là bản ngã đích thực của mình. Tuy nhiên, khác với Phật tâm bất sinh ; thói xấu hay sự chấp ngã đều không phải bẩm sinh, được hấp thụ về sau, do ảnh hưởng bên ngoài. Mỗi khi bị si mê lầm lạc là chúng ta tạm thời bỏ rơi Tâm Phật mà ta đã có từ khởi thủy để đổi lấy những phản ứng mới học đòi này. Khi sự tình này xảy đến thì phát sinh đối đãi nhị nguyên, từ tính nhất thể nguyên ủy, ta sinh vào những cảnh huống khác nhau như ngạ quỷ (quỷ đói), a tu la (quỷ chiến đấu), súc sinh, địa ngục, đi từ loài này đến loài khác, bị vướng vào luân hồi bất tận. Cách duy nhất để ra khỏi ngõ bí này, theo Bankei là trở về theo con đường mà từ đó ta đã phát xuất, trở về cái Vô điều kiện, cái chưa từng được tạo tác – cái Bất sinh. Cái mà ta có được từ lúc mới sinh, ấy chính là cái Tâm Phật.
Tâm Phật là bất sinh và chiếu sáng một cách kỳ diệu, với cái bất sinh ấy thì mọi sự đều hoàn bị cả rồi. Hãy an trú trong Tâm Phật bất sinh. Đây là căn bản của thiền Bankei, cương yếu của ngài về Bất sinh. Ngài giải thích điều ấy nhiều lần bằng nhiều cách, vì theo ngài thì chân lý Bất sinh thực quá đơn giản, quá trực chỉ, ai cũng nắm được. Theo nghĩa ấy, thiền của Bankei quả là rất phổ thông. Cũng có nhiều thiền sư khác đã giảng dạy cho người thế tục, nhưng phần nhiều, thiền chính thống được xem là quá khó đối với người thường, nên giáo lý phổ thông của các thiền sư ấy không bao giờ nói đến thiền. Thay vì thế, họ chỉ nói về giáo lý chung chung, đề cao những việc công đức như lễ bái niệm Phật, và thảo luận về những khái niệm trong các kinh Phật.
Bankei hoàn toàn ngược lại. Ngài cho rằng cốt tủy của thiền hoàn toàn giản dị, trực tiếp, mà bất cứ ai có tâm hồn mở rộng cũng có thể hiểu khi được chỉ cho. Bankei nhấn mạnh, muốn dạy thiền, người ta phải đi ngay vào cốt lõi, lột hết những gì màu mè che đậy bên ngoài – những thuật ngữ khó hiểu, những danh từ ngoại lai lạ tai.
Đấy là lý do chính khiến Bankei phản đối sử dụng công án trong thiền. Theo ngài, toàn thể phương pháp thiền công án thật là gượng ép một cách thảm hại. Ngài thấy sự uyên bác là điều hoàn toàn không cần thiết để học thiền, lại còn là một sự vướng bận vô ích. Ngài loại bỏ công án vì cho đấy là một kỹ thuật giả tạo. Những công án nguyên ủy không phải là những mẫu mực mà là những sự thật xảy ra trong đời sống. Những thiền sư ngày trước chỉ đơn giản ứng phó với những tình huống đặc biệt mà họ gặp, tùy theo nhu cầu của những môn đệ đương thời. Bất cứ thiền sư nào cũng tùy cơ ứng biến như vậy cả.
Vậy thì, chỉ cần bảo họ nhìn vào những công án riêng của chính họ, cái cách mà tâm Bất sinh đang vận hành ngay tại đây và bây giờ, trong những hoàn cảnh sống hiện thực. Đây là điều mà Bankei gọi là lối dạy trực tiếp, đối lại với lối tham công án mà ngài gọi là tham cứu giấy lộn. Bankei bảo công án chỉ là một phương tiện, những bậc thầy nào còn dựa vào đó hay vào bất cứ kỹ thuật nào khác, thì cũng đều thực hành pháp thiền phương tiện. Tại sao cần phải dựa vào phương tiện khi ta có thể dùng ngay thứ thiệt? Bankei lập luận.
Theo nghĩa ấy, Bankei lại là một người theo truyền thống. Ngài quay về những thiền sư của thời hoàng kim – trước cả thời vinh quang của công. Bankei nhấn mạnh rằng giáo lý ngài cũng như của Lâm tế, và nhiều điểm tương đồng giữa những Bài giảng của ngài với Lâm tế ngữ lục cho ta thấy có lẽ bậc thầy Trung hoa đã có ảnh hưởng quan trọng trong pháp thiền Bankei. Nhưng nhìn chung, giáo lý của Bankei vẫn có gì rất thực độc nhất vô nhị.
Một điều mỉa mai, sở dĩ giáo lý ấy không thịnh hành cũng bởi chính những đức tính độc đáo của nó, những đức tính đặc biệt đã lôi cuốn những người đến học Bankei: đó là nó quá giống với cá tính ngài, không thỏa hiệp với bất cứ phương pháp hay kỹ thuật nào. Cuối cùng, pháp thiền Hakuin (Bạch Ẩn) khôi phục và hệ thống hóa thiền công án ở Nhật, đã quét sạch những tu viện thuộc tông Thiên thai và lại còn xâm nhập Long môn tự cùng các chùa khác thuộc hệ thống Bankei.
Hakuin cho rằng giáo lý Bất sinh của Bankei là phạm thánh và cực lực đả kích. Nhưng thế kỷ hai mươi lại bắt đầu chú ý đến thiền Bankei. Nhà học Phật D.T. Suzuki (1886-1975) là người tiên phong hiện đại đã đề cao giáo lý Bankei, hoan nghênh giáo lý này xem như một liều giải độc cho pháp tham công án quá khô khan, và xem Bankei như một trong ba thiền sư vĩ đại của Nhật bản, ngang hàng với Dogen và Hakuin (Đạo Nguyên và Bạch Ẩn). Suzuki cùng những học giả khác khởi sự sưu tập và ấn hành những ngữ lục và giáo lý của Bankei, mà phần lớn còn nằm rải rác bị bỏ quên trong các chùa ngoại ô – và hiện nay một lần nũa Bankei lại được nhiều người biết đến.
Tính lôi cuốn của Bankei cũng dễ hiểu. Mặc dù thế giới ngài sống khác xa với thế giới hiện đại, song vẫn có cái gì rất gần gũi với chúng ta trong nhiều điều ngài dạy. Cảm nghĩ về tự do giải thoát, tính nhân hậu của ngài, cách ngài đề cập những vấn đề tối hậu không tách rời với đời sống hàng ngày của con người, dường như hoàn toàn ăn nhịp với tinh thần thời đại. Và khi chúng ta đang lật xem những trang Bài giảng, thì Bankei dường như vẫn còn đấy, sống động một cách lạ lùng, và đang chiếu sáng một cách kỳ diệu.

***

Lắng nghe

Sư bảo chúng: Trong tất cả quý vị tại đây hôm nay, không một ai là người chưa giác ngộ. Mỗi người ở đây đều là một vị Phật. Bởi thế hãy lắng nghe cho kỹ. Cái mà tất cả quý vị thừa hưởng của cha mẹ lúc mới lọt lòng, chỉ là cái tâm Phật bất sinh. Không có cái bẫm sinh nào khác ở nơi quý vị. Cái tâm Phật mà quý vị có từ lúc mới sinh, thực sự là bất sinh và chiếu sáng một cách kỳ diệu. Hơn thế nữa, với cái bất sinh này mọi sự đều được thu xếp một cách toàn hảo. Bằng chứng về điều này là, trong lúc tất cả quý vị đang lắng nghe tôi nói, mà ngoài kia có tiếng quạ kêu, tiếng chim sẻ chíp chíp, tiếng gió xào xạc… mặc dù không cố tình phân biệt những âm thanh ấy, quý vị vẫn nhận ra và phân biệt được từng tiếng: tiếng chim quạ, tiếng chim sẻ, tiếng gió xao cành – quý vị nghe mà không lầm lẫn, đấy gọi là nghe với cái Bất sinh.
Với cái Bất sinh, tất cả mọi sự được thu xếp hoàn toàn ổn thỏa cũng y như vậy. Đấy là bằng chứng thực sự về cái Bất sinh. Hãy nhận ra một cách dứt khoát rằng cái không sinh và đang chiếu sáng kỳ diệu ấy đích thực là Tâm Phật. “An trú ngay trong Tâm Phật Bất Sinh ấy, thì từ đây cho đến mãi mãi quý vị là một đức Như Lai sống”.Vì khi đã nhận ra một cách rốt ráo thì từ nay trở đi quý vị sẽ luôn an trú trong Tâm Phật, nên trường phái của tôi mệnh danh là trường phái “Phật tâm”.
Thật vậy, trong khi đang lắng nghe tôi nói, quý vị vẫn không lầm lẫn tiếng chim sẻ với tiếng quạ kêu bên ngoài, không lầm lẫn tiếng chuông với tiếng trống, tiếng đàn ông với tiếng phụ nữ, tiếng người lớn với tiếng trẻ con – quý vị nhận ra và phân biệt rõ ràngtừng thứ tiếng quý vị nghe, không lẫn lộn chút nào. Đấy chính là cái diệu dụng linh động chiếu sáng của Bất sinh. Đó không là gì khác, mà chính là Phật tâm bất sinh đang chiếu sáng một cách kỳ diệu, là bằng cứ xác thực về bản chất chiếu sáng vi diệu của Tâm.
Mỗi người, khi dứt khoát nhận ra được cái bất sinh và chiếu sáng kỳ diệu ấy, an trú trong đó, thì từ nay cho đến mãi về sau là một vị Phật sống. Cả đến khái niệm Phật cũng chỉ là một tên gọi được đặt ra về sau, bởi thế, từ nơi Bất sinh mà nhìn, thì đó cũng chỉ là chuyện phụ thuộc, không có gì quan trọng. Con người của Bất sinh ở tận nguồn gốc của tất cả các vị Phật. Cái gì bất sinh thì đó là suối nguồn của tất cả mọi sự, là khởi điểm của mọi sự. Không có gì “nguyên sơ” hơn là cái Bất sinh, không có gì ở trước nó. Bởi thế nên khi quý vị trú trong Bất sinh là quý vị ở nơi ngọn nguồn của tất cả Phật, và bởi thế Bất sinh là một cái gì quý báu tuyệt trần. Ở đây không có vấn đề diệt, cho nên khi trú trong bất sinh thì cũng không cần gì nói đến bất diệt. Đấy là lý do tại sao tôi chỉ nói về Bất sinh mà không đề cập bất diệt. Cái gì không được tạo tác thì cũng không bị hủy hoại, bởi thế, khi nó đã bất sinh thì đương nhiên cũng bất diệt. Phải vậy không nào?
Dĩ nhiên, từ ngữ bất sinh bất diệt đã có rải rác trong kinh điển và ngữ lục từ xưa, nhưng chưa ai nói bằng chứng thực sự của cái Bất sinh. Ai cũng chỉ học từ ngữ bất sinh bất diệtrồi lặp đi lặp lại, nhưng đến việc nhận cho ra và thực sự đi thẳng vào trọng tâm vấn đề, thì không ai hiểu được Bất sinh là cái gì.

Giới luật

Một bậc thầy thuộc Luật tông đến hỏi: Ngài có tuân giữ giới luật không?
Sư trả lời: Từ khởi thủy, tất cả những gì mà người ta gọi là giới luật đều cốt dành cho những thầy tu tồi tệ phá giới. Với người an trú trong tâm Phật bất sinh thì không cần nói đến giới. Giới được dạy là để giúp chúng sinh, không để giúp Phật! Mọi người khi cha mẹ mới sinh chỉ có duy nhất cái Tâm Phật Bất sinh, bởi thế hãy an trú trong tâm bất sinh ấy. Khi an trú trong Bất sinh, thì bạn đã là một vị Phật sống ngay bây giờ rồi, và vị Phật ấy cố nhiên không vẽ vời những chuyện như thọ giới, bởi thế không có giới điều nào cho ông ta thọ. Bày đặt những chuyện như thọ giới thì không phải là ý nghĩa của Tâm Bất sinh. Khi ta an trú trong Bất sinh thì không cách gì phạm giới nổi. Từ nơi Bất sinh, giới luật cũng thành phụ thuộc nhảm nhí, trong chỗ Bất sinh, thực sự không có gì là giới luật.

Biết tâm người khác

Có người hỏi: Ai cũng nói ngài có tha tâm thông, có phải thế không?
Sư đáp: Trong trường phái của tôi, không có những chuyện phi thường. Và dù nếu có, chúng tôi cũng không sử dụng, vì tâm Phật vốn bất sinh. Khi nói với bạn, thì tôi làm việc với chính bản ngã của bạn, nên bạn tưởng là tôi có tha tâm thông. Nhưng tôi không có thần thông như thế. Tôi cũng giống như bạn mà thôi. Khi bạn trú trong Bất sinh, là bạn ở tận ngọn nguồn của tất cả thần thông diệu dụng của chư Phật, không cần tìm kiếm thần thông mà có thể xử lý mọi chuyện một cách êm thấm dễ dàng. Trong chính giáo lý về Bất sinh, bạn có thể dàn xếp mọi sự bằng cách làm việc với chính bản ngã của bạn, không cần đưa vào những vấn đề ngoại lai.
Có người hỏi: Tôi đã nỗ lực hết sức để tiến đừng lùi, nhưng dù làm gì đi nữa, khuynh hướng thụt lùi vẫn mạnh hơn, và có những lúc tôi lùi thực sự. Và càng cố tiến tới, thì tôi chỉ có thấy mình lại thụt lùi. Làm sao cho tôi khỏi thụt lùi?
Sư nói: Hãy an trú trong Tâm Bất sinh! Khi an trú, bạn không cần bận tâm về tiến hay thoái. Quả vậy, khi bạn an trú Bất sinh, thì nỗ lực tiến tới là lập tức đang lùi khỏi vị trí Bất sinh. Người của Bất sinh không can dự gì đến tiến hay lùi, mà vượt trên cả hai.

Sống như Phật

Cái gì đã khiến một đám đông người như thế này đến đây khi trời vừa mới sáng, để lắng nghe tôi nói, cái ấy không gì khác hơn là Tâm Phật Bất sinh. Nếu không thấy có cái gì thật phi thường trong những lời tôi nói, thì quý vị đã không quày quả ra đi sớm như vậy để đến nơi đây. Vậy là, trong số quý vị đến tham dự buổi giảng hôm nay, những người tuổi ngũ tuần thì đã sống 50 năm không nhận ra Tâm Phật ngay trong mình, những người tuổi ba mươi đã sống 30 năm mà cho đến ngày hôm nay vẫn chưa nhận ra được sự thật ấy – tất cả quý vị đều trải qua những năm tháng của đời mình trong sự mờ mịt.
Nhưng tại giảng đường hôm nay khi quý vị đã hoàn toàn nắm vững rằng mỗi người trong đây đều có sẵn tâm Phật Bất sinh ngay trong mình, thì từ hôm nay trở đi quý vị sẽ sống trong cái Tâm Phật ấy mà thôi, và sẽ mãi mãi thành những vị Phật sống. Điều tôi đang nói với tất cả quý vị chỉ cốt là làm cho quý vị nhận ra rằng Tâm Phật Bất sinh đang chiếu sáng một cách kỳ diệu. Khi đã hoàn toàn nhận ra điều này, thì từ đây mãi mãi về sau, quý vị sẽ có một thân Phật không khác gì thân đức Phật Thích ca, và sẽ không bao giờ đọa lạc trở lại vào ba ác đạo. Tuy nhiên, trong khi nghe giảng như thế này quý vị dù có thể hiểu rõ Tâm Phật Bất sinh, mà khi trở về lại nhà, những điều quý vị trông thấy và nghe thấy sẽ khởi động cái tâm giận dữ nơi quý vị trở lại. Và khi ấy, dù chỉ nổi giận một chút xíu, quý vị cũng sẽ mang tội gấp triệu lần trước khi nghe tôi giảng về Tâm Phật Bất sinh. Khi ấy quý vị sẽ chuyển từ cái tâm Phật Bất sinh mà quý vị đã biết, thành ra những chúng sinh ở địa ngục, súc sinh, ngạ quỷ, mãi mãi luân hồi.
Cái tâm Phật bất sinh đó là gì vậy? Trong khi tất cả quý vị đều tập trung thính giác nghe giảng như thế, mà bên ngoài có tiếng chó sủa, tiếng người hàng rong rao hàng, mặc dù không cố ý nghe, quý vị vẫn nghe được tất cả những thứ tiếng ấy: đó là nghe với cái Bất sinh, diệu dụng của Phật tâm. Ví như: Tâm Phật, vốn chưa từng sinh ra và đang chiếu sáng kỳ diệu, tâm ấy giống như một tấm gương sáng. Gương thì phản chiếu bất cứ gì xuất hiện trước nó. Nó không cố ý phản chiếu sự vật, nhưng bất cứ vật gì đến trước gương, thì màu sắc dáng hình của nó đều chắc chắn hiện ra. Cũng vậy, khi vật được dời đi, thì tấm gương cũng không cố ý không phản chiếu, nhưng khi vật đã bỏ đi thì bóng nó cũng không còn hiện trong gương. Cái tâm Phật Bất sinh cũng hệt như thế. Khi bạn cố ý nhìn và nghe điều gì, thì bạn sẽ nghe và thấy, đó là lẽ tự nhiên. Nhưng khi bạn thấy và nghe được những gì mà trước đấy bạn không dự định để thấy nghe, thì đó chính là nhờ cái diệu dụng linh hoạt của Tâm Phật mà mọi người ai cũng có. Đấy là ý nghĩa cái Tâm Phật Bất sinh. Khi tôi đã tìm cách giảng giải về cái Bất sinh sao cho tất cả quý vị đều hiểu được như thế, mà nếu có người vẫn chưa hiểu, thì dù vị ấy có nghe ngàn vạn lần cũng không ăn thua gì. Người nào dù chỉ nghe một bài giảng, đã nhận ra được Tâm Phật bẩm sinh nơi tất cả mọi người, thì người ấy từ đó trở đi trở thành Phật sống.
Lấy một ví dụ khác. Giả sử có người đi từ Takamatsu đến Marugame mà không biết đường, gặp một người biết rành đường lối chỉ bày cho. Sau khi nhớ kỹ những lời chỉ dẫn, người ấy theo đó mà đi và đến đích không khó khăn gì. Cũng thế, khi tất cả quý vị đã nắm được chính xác những gì tôi nói, thì từ đấy trở đi quý vị sẽ an trú trong tâm Phật bản nhiên. Ngược lại nếu không an trú được như thế, thì cũng như đã được người ta chỉ cho đường đến Marugame mà không theo, lại theo con đường dẫn tới nơi nào khác. Đó là lý do quý vị nên lắng nghe kỹ những gì tôi nói. Tôi không chắc có thể trở lại đây nói chuyện cùng quý vị nữa không. Cho dù quý vị đi nghe giảng nơi nào khác, cũng không chắc có người nào giải thích cho quý vị về cái Tâm Phật bất sinh mà chiếu sáng kỳ diệu này. Bởi vậy nếu chư vị thấy lời tôi nói có lý, thì hãy nên coi chừng ngăn chặn sự nổi lên đủ loại ý tưởng, để chấm dứt vòng luân hồi. Nếu không thành Phật ngay bây giờ thì trong mười ngàn kiếp quý vị cũng sẽ khỏi tái sinh lại trong cõi này, bởi thế hãy nỗ lực thực chứng một cách rốt ráo cái Tâm Phật Bất sinh, và chớ để bị mê lầm. Được như vậy thì ngay từ hôm nay, quý ông sẽ là những người nam an trú Tâm Phật, quý bà sẽ là những người nữ an trú Tâm Phật, tất cả đều hết si mê lầm lạc. Đó không gì khác hơn là Phật quả, là giác ngộ.
Tôi có thể nói cho quý vị vài điều về Tâm Phật nơi phụ nữ. Theo tôi hiểu, phụ nữ thường rất buồn khi nghe nói họ không thể thành Phật. Nhưng sự thực không phải vậy. Có gì khác nhau giữa nam và nữ? Thân nam là thân Phật, thân nữ cũng là thân Phật. Quý vị không nên nghi ngờ gì về điểm này. Khi quý vị đã hoàn toàn nắm được lý Bất sinh, thì trong Bất sinh, không có gì khác nhau giữa nam hay nữ. Mọi người đều là thân Phật.
Về phương diện hình thể, rõ ràng là nam nữ khác nhau, nhưng về phương diện Tâm Phật thì không có khác gì. Quý vị đừng bị tướng bề ngoài làm cho lầm lạc. Tâm Phật vẫn giống nhau, không có khác biệt nào giữa nam với nữ.
Tôi xin chứng minh với quý vị điều này. Trong giảng đường hôm nay có rất đông người tụ tập, nhưng khi nghe tiếng trống hay tiếng chuông ngoài kia, quý vị có nghĩ là phụ nữ lầm tiếng chuông là tiếng trống, tiếng trống là tiếng chuông chăng? Quý vị có thực nghĩ rằng có gì khác nhau trong cách đàn ông nghe với cách phụ nữ nghe những tiếng ấy? Tuyệt đối không khác chút nào. Lại nữa, thưa tất cả quý vị, đâu phải việc này chỉ đúng cho “nam giới và nữ giới” mà thôi. Trong giảng đường này, chúng ta có những người trẻ và người già, tăng và tục, đủ tất cả hạng người; nhưng nói đến sự nghe chuông trống, quý vị có thể nói được hay chăng, rằng người già nghe cách này, người trẻ nghe cách khác? Không có sự khác nhau trong cách tu sĩ nghe, cách cư sĩ nghe, cách đàn ông nghe, cách đàn bà nghe chăng? Điều ấy chứng tỏ tất cả mọi người đều sẵn có bẩm sinh một Tâm Phật đồng nhất. Vậy thì nói về nam và nữ chẳng qua chỉ là những danh từ, những cái bóng của tâm sản xuất ra. Trước khi những cái bóng ấy phát sinh, ở trong cảnh giới Bất sinh không có gì là nam hay nữ. Và vì sự tình là vậy, thì không có gì khác nhau giữa Tâm Phật nơi người nam và Tâm Phật nơi người nữ.
Giả sử trong lúc bạn đang an trú liên tục trong Bất sinh, trong Tâm Phật, quên hết những phân biệt nam nữ, nhưng đột nhiên bạn trông thấy hay nghe một việc gì rối rắm, chẳng hạn có người nào nói xấu bạn, hay những ý niệm tham dục bám víu khởi lên trong bạn mà bạn ràng buộc vào đó, thế là bạn đang chuyển tâm Phật thành ra ý nghĩ, chẳng hạn nghĩ “chỉ vì mình là một phụ nữ” hay đại loại như thế. Nếu không bị đánh lừa bởi hình tướng bên ngoài, hoàn toàn nắm lấy con đường duy nhất, cái Bất sinh, thì bạn sẽ thấy rằng không những nam hay nữ, mà chư Phật trong quá khứ hay vị lai cũng đều là một Tâm Phật đồng nhất ấy. Không lý do gì phụ nữ lại là một trường hợp đặc biệt, không thể chứng thành Phật quả.
Nếu sự thực có vài lý do khiến phụ nữ không thể thành Phật, mà tôi lại nói là họ có thể, để xí gạt tất cả quý vị, thì bảo đảm tôi sẽ phải đáp xuống địa ngục ngay lập tức. Chỉ vì mong thành Phật quả mà ngay từ tấm bé tôi đã phải chịu bao nhiêu gian khổ tu hành; không lẽ ngày nay tôi lại cố nói dối với quý vị để bị đọa xuống địa ngục? Những gì tôi nói với quý vị không phải là dối trá. Tôi muốn các vị phải nắm kỹ điều này, để từ nay trở đi, hãy an tâm mà sống những ngày tháng của các vị ở trong Tâm Phật Bất sinh…
Lại nữa, ngay cả nơi những người xấu ác, Tâm Phật vẫn không biến mất. Khi bạn lật ngược cái tâm xấu của họ, thì đấy là tâm Phật không gì khác. Tôi xin kể cho quý vị nghe một kẻ ác có tâm Phật là thế nào. Giả sử có hai người cùng đi với nhau từ đây đến Taka-matsu, một người thiện một người ác. Nhưng cả hai không ai để ý gì đến chuyện thiện ác mà cứ vừa đi vừa nói chuyện dọc đường. Hai bên đường hoặc trên đường có cái gì, thì mắt của người thiện cũng như người ác đều trông thấy như nhau. Nếu có con ngựa hay con bò xông tới trước mặt thì cả hai đều biết nhảy tránh, mặc dù không tính trước. Nếu có gặp hố nước, cả hai cùng nhảy qua, gặp sông thì cùng lội. Sở dĩ có phản ứng giống nhau như vây là vì người tốt lẫn người xấu đều cùng có một căn bảnchung là Tâm Phật Bất sinh.
Mỗi người trong đây cũng thế, từ trước đến nay, đã từng làm ác, bị ngốn ngấu bởi đủ loại bám víu và thèm khát, bị xâm chiếm bởi sân si, nên phải chịu luân hồi, chuyển đổi cái tâm Phật quý vị vốn có thành a tu la và quỷ đói. Nhưng sau khi nghe giải thích về tâm Phật Bất sinh rồi nếu quý vị hiểu rõ, thì chính cáitâm tham dục sân giận bám víu bấy lâu nơi quý vị lập tức sẽ chuyển thành Tâm Phật bất sinh, và quý vị sẽ không bao giờ mất tâm ấy, dù trải qua bao nhiêu kiếp. Khi quý vị an trú trong tâm Phật ấy, thì từ đây quý vị sẽ là những Phật sống. Nhưng đừng lầm; nếu bây giờ quý vị đánh mất tâm Phật ấy thì cả đến trăm ngàn kiếp sau quý vị cũng không thành Phật được. Hãy nên nhớ kỹ điều này.
Dù cho những thói tật thâm căn cố đế nơi quý vị sẽ khiến quý vị bám lấy những gì gặp phải, vọng tưởng chốc lát khởi lên, thì người có đức tin bền chắc sẽ không bám víu cũng không xua đuổi chúng – trong nháy mắt, người ấy sẽ dễ dàng quay trở về với Phật tính bất sinh. Ngay cả đối với chư Phật chư tổ, cũng không phải rằng các ngài hoàn toàn không có tư tưởng nào từ khởi thủy. Nhưng vì các ngài không bị vướng vào tư tưởng, và cũng như trẻ con, không có tưởng tương tục, nên cũng như thể là tư tưởng chưa từng sinh khởi. Chính vì vậy mà Phật, tổ giải thoát khỏi tư tưởng.
Khi tư tưởng không khởi lên, thì cái diệu dụng chiếu sáng linh hoạt của tâm Phật không hiện rõ, bởi thế sự sinh khởi những ý tưởng kỳ thực là diệu dụng của Phật tâmchiếu sáng. Nội cái việc tôi đang giải thích điều này và quý vị đang tiếp nhận đó cũng là do mọi người đều có được cái công năng chiếu sáng kỳ diệu của Tâm Phật bẩm sinh. Có phải điều ấy thật quý báu không? Vậy hãy nhớ kỹ điều này, nhận thức rõ rằng, gặp cảnh gì cũng dấy động tư tưởng thì chỉ chuốc lấy khổ đau. Bởi thế đừng chuyển cái Tâm Phật thành ra những tơ tưởng vốn không phải bẩm sinh nơi bạn, và hãy sống trọn ngày an trú trong Tâm Phật Bất sinh….
Chúng ta thường thấy, khi có người nào được ca tụng “Anh ta hay thật, giỏi thật!”, khi nghe vậy, một người khác sẽ tìm cách bôi nhọ cả đến những tài năng của người khác. Rõ ràng, đó là thói xấu của người kiêu ngạo. Có phải thái độ ấy thực sai lầm ghê gớm không? Chúng ta nên hoan hỉ khen ngợi người đáng khen, và khi nghe ai được hạnh phúc, hãy vui mừng như chính mình hạnh phúc. Sự thể đáng lẽ phải vậy. Người được như thế là người sáng suốt không để mờ tâm Phật. Nhưng nếu khi thấy hay nghe điều gì, mà bạn phản ứng với lòng kiêu căng hay cuồng tín, thì thế là bạn đã chuyển cái tâm Phật bẩm sinh nơi bạn thành một giống dân địa ngục…
Khi dẹp bỏ thói tức giận, tham lam, bám víu, chấp ngã, thì dù với kẻ tôi tớ, quý vị cũng không dữ dằn, mà bày tỏ lòng thương. Dù với tôi tớ, ta cũng không nên nghĩ họ không liên hệ gì đến mình. La mắng người khác xối xả, tức giận điên cuồng, đó là một lỗi lầm lớn. Từ trước đến nay, vì không hiểu nguyên tắc đằng sau sự việc, nên bạn tha hồ nổi nóng không cần suy nghĩ, tin rằng sự sân si tức giận là lẽ tự nhiên thường tình trong cõi người ta. Nhưng bây giờ, khi đã nghe về Tâm Phật bất sinh mà mỗi người đều sẵn có từ lúc mới sinh ra, thì từ đây về sau quý vị nên giữ gìn đừng làm hại cái tâm ấy.
Trên thế gian không có gì quý bằng Tâm Phật. Vì tất cả quý vị đều đang cố thực chứng Tâm Phật bất sinh, nên cần phải hiểu cho thấu đáo mới được. Tôi không bảo quý vị phải tu theo pháp này pháp nọ, phải giữ giới, phải tụng kinh, phải xem Ngữ lục của chư tổ, phải tọa thiền…Tâm Phật vốn đã sẵn nơi tất cả quý vị, không có cái chuyện tôi đem lại cho quý vị tâm Phật ấy. Khi lắng nghe bài giảng này, hãy nhận ra tâm Phật mà mỗi người đều có ngay trong chính mình, rồi từ nay về sau hãy an trú trong Tâm Phật bất sinh ấy. Một khi quý vị đã xác chứng được Tâm Phật mà mọi người bẩm sinh đều có, thì quý vị muốn đọc kinh cứ việc đọc kinh, muốn ngồi thiền cứ việc ngồi thiền, muốn giữ giới cứ việc thọ giới, muốn niệm Phật cứ việc niệm Phật, muốn trì chú cứ việc trì chú, hay cứ việc làm phận sự hàng ngày của quý vị – công việc sẽ là pháp chánh định của mỗi người. Tôi chỉ nói một điều duy nhất là: hãy nhận ra tâm Phật mà mỗi người quý vị bẩm thụ từ lúc cha mẹ mới sinh. Điều cốt yếu là nhận ra, và an trú trong tâm ấy với trọn vẹn niềm tin tưởng…
Sư dạy chúng: Như quý vị đều đã nghe tôi nói, mọi người bẩm sinh đều có tâm Phật, vậy quý vị chỉ cần làm mỗi một việc duy nhất là an trú trong cái tâm Bất sinh ấy. Thế nhưng, vì theo thói đời, quý vị đã vướng vào những tệ đoan và đã chuyển tâm Phật thành ra quỷ đói luôn bám víu thèm khát. Hãy nhớ kỹ điều này, để luôn trú trong tâm Phật bất sinh. Nhưng nếu vì mong mỏi nhận cho ra cái Bất sinh mà quý vị rán ngăn chặn những ý tưởng giận dữ thèm khát không cho chúng khởi lên, thì khi làm như vậy quý vị đã phân chia một cái tâm duy nhất ra làm hai. Cũng như thể là quý vị đuổi theo một cái gì đang trốn chạy. Khi ta còn cố ý ngăn tư tưởng khởi lên, thì cái ý ấy chống lại với những ý khác đang khởi lên liên tục, thế là không bao giờ có sự chấm dứt thật sự. Việc ấy cũng như thể là dùng máu để rửa máu, không bao giờ sạch được. Cũng vậy, mặc dù những tư tưởng giận dữ mà bạn ngăn chặn ấy có thể chấm dứt, nhưng cái tư tưởng sau dùng để ngăn chặn tư tưởng trước cứ tiếp tục không bao giờ dừng nghỉ. Bạn có thể hỏi, vậy phải làm sao? Nếu bỗng dưng ý tưởng giận dữ, hay thèm khát, hay bám víu… khởi lên nơi bạn một cách bất trị, ngoài ý muốn, thì đừng khai triển nó thêm, đừng để ý đến nó. Đừng bận tâm ngăn chặn hay không ngăn chặn, chỉ cần mặc kệ nó, thì nó không thể làm gì khác hơn là đi đến chấm dứt. Bạn không thể cãi với vách tường nếu bạn chỉ đứng một mình. Khi không có ai ở đấy để chiến đấu, thì mọi việc tự động đi đến chấm dứt.
Dù cho đủ mọi thứ tư tưởng tạp loạn thò mặt ra, thì cũng chỉ ló ra trong một chốc. Nếu bạn không bám víu một tư tưởng nào đặc biệt, như vui hay buồn, không nghĩ tới chuyện chấm dứt hay không chấm dứt nó, thì thế chính là an trú trong Tâm Bất sinh. Hãy giữ cho cái tâm duy nhất vẫn là cái tâm duy nhất. Nếu tâm bạn luôn luôn như vậy, thì dù cho điều tốt điều xấu gì khởi lên cũng tự động chấm dứt mà không cần bạn phải cố nghĩ hay không nghĩ. Cái mà bạn gọi là cơn giận hay niềm vui toàn là do bạn sản xuấtvới mãnh lực của tính chấp ngã, hậu quả của dục vọng ích kỷ. Khi vượt ngoài mọi ý tưởng bám víu thì những tư tưởng kia sẽ tự động tan biến. Sự biến mất ấy chính là cái Bất diệt. Và cái bất diệt chính là Tâm Phật bất sinh.
Tóm lại, điều chính yếu là luôn luôn nhớ đến Tâm Phật bất sinh, không hâm nấu những tư tưởng này nọ trên cái nền Bất sinh ấy, nghĩa là đừng bám lấy những gì bạn gặp phải và đổi cái tâm Phật thành ra những ý tưởng. Khi bạn không bị lay chuyển, thì không tư tưởng nào còn khởi lên dù tốt hay xấu và do đó cũng không cần gì phải diệt. Như thế có phải là bạn không tạo tác cũng không hủy diệt hay chăng? Đấy không gì khác hơn là cái Tâm Phật bất sinh bất diệt đó vậy. Hãy hiểu rõ điều này.

Tự tại trong sống chết

Khi bàn đến vấn đề tự tại với sống chết, người ta thường dễ hiểu lầm. Có những người công bố trước ngày giờ họ sẽ chết, rồi đến lúc ấy, không đau ốm gì họ lăn ra chết thực; hoặc đôi khi triển hạn qua ngày khác mới chết. Rất nhiều người xem đấy là tự tại trong việc sống chết. Tôi không phủ nhận điều đó. Nói về tự tại, thì những người ấy quả là tự tại kinh khủng! Nhưng những chuyện như thế chỉ là do năng lực khổ hạnh nơi họ, và thường họ chưa mở được con mắt tuệ (Tuệ nhãn hay Pháp nhãn của Bồ tát để thấy rõ thực chất mọi sự vật và để cứu độ hữu tình). Ngay trong số những người thường, ta cũng thấy những trường hợp biết trước cái chết như vậy, trong khi họ chưa mở khai đạo nhãn.
Con người của Bất sinh thì siêu việt cả sống chết. Bây giờ, có lẽ quý vị đang tự hỏi siêu việt sống chết là thế nào. Cái gì đã bất sinh thì bất diệt, và cái gì bất diệt thì không chết, nên gọi là siêu việt sinh tử. Vậy một người tự tại trước sống chết theo tôi, là một con người khi chết không bận tâm về chuyện sống chết. Hơn nữa, vấn đề sống chết vẫn xảy ra hàng ngày với chúng ta, không phải đợi đến lúc ta chạm mặt với cái chết thực sự mới gọi là chết. Một người tự tại trong sinh tử là người không bao giờ bận tâm đến sống chết, vì biết khi còn được sống thì cứ sống, khi đến thời chết thì cứ chết, dù chết ngay bây giờ cũng được, cái chuyện lúc nào chết không quan trọng lắm. Người như thế cũng là người đã rốt ráo thực chứng cái Tâm Phật bất sinh chiếu sáng kỳ diệu. Cứ nói và suy nghĩ về những chuyện vặt vãnh như bạn sẽ chết vào giờ ngày nào, quả thực là tâm lý hẹp hòi, phải vậy không?
Rồi lại có ý nghĩ cho rằng “sinh tử là niết bàn”, đây cũng lại là một cái gì vẫn còn ràng buộc với sinh tử. Ai cũng biết cảnh giới của sinh tử không khác gì cảnh giới của niết bàn. Cái lý do người ta phải nói lên như vậy là vì họ không thực chứng cái Tâm Phật mà mọi người bẩm sinh đã có và hiện tại đang giải quyết mọi sự với Bất sinh. Bị bao phủ, gói kín trong danh tự chữ nghĩa, họ cứ lang thang tìm khắp nơi cái sinh tử và niết bàn ở bên ngoài, đổi cái Tâm Phật bất sinh của họ để lấy những khái niệm về sống chết và niết bàn, khiến họ tối ngày cứ lẩn quẩn trong lĩnh vực sinh tử không có giây phút nào bình yên. Nghĩ thật đáng thương xót.
Vì Tâm Phật đang dàn xếp mọi sự một cách hoàn toàn ổn thỏa với cái Bất sinh, nên nó không cần biết đến sinh tử hay niết bàn. Từ vị trí Bất sinh, thì sinh tử và niết bàn cũng chỉ là một mớ tư duy trống rỗng. Nên ngay cả một người mới hôm nào vẫn ngụp lặn trong sinh diệt, mà hôm nay nhận ra mình đã lầm, từ đó không còn đổi cái Tâm Phật bất sinh thành ra ba độc (tham sân si) hay vướng vào sinh tử niết bàn nữa, thì người ấy cũng sẽ an trú trong Tâm Phật bất sinh. Khi ấy, lúc các yếu tố làm nên thân xác của mình đã đến thời tan rã, họ cứ để cho nó tan rã, và chết không chút lưu luyến. Đây là một con người mà đối với họ sinh tử là niết bàn chân thật, một con người tự tại trước sống chết.

Bản lai diện mục

Cái được gọi là bản lai diện mục cũng không khác gì Tâm Phật bất sinh. Cái mà bạn thừa hưởng của cha mẹ từ lúc mới sinh chỉ là Tâm Phật, không gì khác. Đây là từ ngữ mà một bậc thầy ngày xưa đã đặt ra cốt làm cho người học nhận ra rằng Tâm Phật bất sinh chính là mặt mũi nguyên ủy của mình, hay bản lai diện mục. Ngay danh từ cha hay mẹ cũng là những gì đặt cho cái đã sinh ra. Con người thực chứng được Tâm Phật thì ở tận ngọn nguồn của cha và mẹ, đó là lý do ta nói đến một cái “hiện hữu trước cả khi cha và mẹ ra đời”. Cái đó không gì khác hơn là cái Bất sinh; bởi thế Tâm Phật cũng chính là Bản lai diện mục của bạn…

Nước và băng

Vì cái Tâm Phật mỗi người sinh ra đã có, vốn không do tạo tác mà thành, nên nó không chứa đựng một chút mê lầm nào. Bởi thế, người nào bảo “tôi mê lầm, vì tôi là một con người không được giác ngộ” là một người con hết sức bất hiếu vì đã phỉ báng cha mẹ mình. Về cái Tâm Phật mà mỗi người có sẵn từ lúc cha mẹ mới sinh, thì chư Phật quá khứ và những con người hiện tại đều có cùng bản chất, không gì khác nhau. Việc ấy cũng như nước ở đại dương: Giữa mùa đông, nước đông lại thành băng giá nên có những hình thù khác nhau như vuông tròn, nhưng khi băng tan, thì tất cả chỉ là một thứ nước biển.
Khi bạn ngộ được bản chất bất sinh của Tâm Phật, thì đó chính là nước như xưa nay nó vẫn là, và bạn có thể tha hồ thọc tay vào đó. (Nghĩa là, khi cái tâm trở về nguyên trạng của nó – như băng trở lại thành nước – thì nó trở nên lưu nhuận, trong suốt, không gì ngăn bít dòng chảy tự do của nó)

Chấm dứt tư tưởng

Vì trong Tâm Phật bất sinh chiếu sáng kỳ diệu ấy vốn không có một chút thiên kiếnnào, nên nó tha hồ thích ứng, mỗi khi gặp cảnh là những tư tưởng lại ló ra. Nếu bạn không quan tâm đến chúng thì không sao cả; nhưng nếu bạn vướng vào chúng và tiếp tục triển khai, những ý tưởng ấy thì bạn không thể dừng lại. Khi ấy bạn làm mờ cái công năng chiếu diệu của tâm Phật và tạo nên si mê lầm lạc. Trái lại, vì từ khởi thủy, Tâm Phật vẫn chiếu sáng kỳ diệu, sẵn sàng soi sáng và phân biệt mọi thứ, nên khi bạn căm ghét những ý tưởng si mê đã khởi lên ấy, và cố ngăn chặn chúng, thì bạn bị vướng vào công việc ngăn chặn, tạo ra mâu thuẫn giữa người ngăn chặn và cái bị ngăn chặn (năng – sở). Nếu bạn cố dùng ý tưởng để ngăn ý tưởng, thì sẽ không bao giờ đi đến cùng tận. Việc ấy cũng như dùng máu rửa máu, dù bạn tẩy được lớp máu trước, vẫn còn lại lớp máu sau.

Gương sáng

Vì tâm Phật vốn bất sinh và chiếu sáng kỳ diệu, nên nó ngàn vạn lần sáng hơn một tấm gương, không có cái gì mà tâm ấy không nhận ra và không phân biệt được. Với một mặt gương, hình thể của vật nào vừa đi qua trước mặt thì liền có bóng hiện ra. Gương không có ý định nhận vào hay bỏ ra vật gì, cũng không định phản chiếu hay không phản chiếu một cái bóng nào. Đấy là công năng của gương sáng. Vì không có ví dụ nào tốt hơn nên chúng ta đành phải mượn tấm gương để ví với diệu dụng chiếu sáng của Tâm Phật, kỳ thực Tâm Phật còn ngàn vạn lần kỳ diệu hơn thế nữa.
Với công năng chiếu sáng kỳ diệu của tâm Phật, mọi đối tượng xuất hiện trước mắt bạn đều được nhận ra và phân biệt rành rẽ, bạn không cần phải làm bất cứ gì. Bởi thế mặc dù không cố ý, bạn vẫn nhận ra trăm ngàn ấn tượng khác nhau qua hình sắc hoặc âm thanh. Đấy là những vật thể có hình dáng. Nhưng ngay cả những thứ vô hình, như những gì xảy ra trong tâm người, cũng được phản chiếu rõ ràng. Dù bạn gặp nhiều gương mặt khác nhau đủ loại, những tư tưởng thiện hay ác của họ đều được phản chiếu nhờ tâm Phật chiếu sáng kỳ diệu. Ví dụ trong chúng hội đang nghe pháp tại đây, nếu có người ho lên, thì mặc dù bạn không cố ý lắng nghe, mà vừa khi có tiếng ho, bạn có thể phân biệt ngay tiếng ho ấy là của đàn ông hay đàn bà, già hay trẻ. Hoặc lấy ví dụ một người bạn đã hai mươi năm không gặp, nay tình cờ gặp lại trên đường, tự nhiên những biến cố thuộc hai mươi năm trước tuôn dậy rõ ràng trong ý thức. Việc này thật khác xa công năng của tấm gương!
Cái sự bạn nhận ra và phân biệt được ngay lập tức, một cách tự nhiên bất cứ gì bạn thấy và nghe, chính là công năng linh hoạt của tâm Phật mà bạn có được một cách bẩm sinh từ lúc mới lọt lòng, cái tâm Phật bất sinh và chiếu sáng kỳ diệu.
Một ví dụ khác về công năng bẩm sinh của tâm Phật là: khi bạn đang ngồi yên bỗng có ai dí vào tay một đóm lửa thì bạn giật mình, và tự động rụt tay lại. Điều này cũng chứng tỏ cái tâm Phật chiếu sáng kỳ diệu vốn bất sinh và dàn xếp một cách toàn hảo mọi sự.
Ngược lại, khi bạn nghĩ “vừa rồi là một đóm lửa” rồi nhận ra “lửa nóng” và tức giận kẻ nào đã đốt bạn, thì chính bạn đã rơi vào lãnh vực của kinh nghiệm phụ thuộc sau khi sự kiện đã xảy ra.

Không có gì gọi là giác ngộ

Một vị tăng từ Sendai đến bảo: Tôi nhớ đâu đó có một thành ngữ rằng: “Tâm bị lụy vì hình hài.” Tôi mong sống hợp với tâm nguyên thủy vào mọi thời, nhưng làm sao tu tập để được như thế? Xin Ngài chỉ giáo cho.
Sư dạy: Trong tông phái tôi, không có hình thức chỉ giáo nào đặc biệt về pháp tu, cũng không có phương pháp đặc biệt nào. Vì người ta không nhận ra rằng ngay trong chính mình đã sẵn đủ cái tâm Phật mà họ có từ thuở sơ sinh, nên họ mất hết tự do giải thoát và nói về chuyện muốn sống hợp với tâm nguyên thủy. Khi bạn ngộ được rằng tâm Phật bạn có từ cha mẹ sinh, vốn bất sinh và chiếu sáng kỳ diệu, thì tay chân bạn vận hành thoải mái, và đấy là công năng của tâm Phật chiếu sáng vốn bất sinh. Bằng chứng là, vì muốn nghe Bankei, bạn đã từ Sendai lặn lội đến đây qua một đoạn đường dài. Nhưng khi bạn dừng chỗ này chỗ kia dọc đường để nghỉ, thì không phải lúc nào bạn cũng nghĩ đến Bankei. Ban ngày, bạn ngắm phong cảnh trên đường, và nếu có người cùng đi, bạn nói chuyện với họ. Mặc dù trong lúc đi, bạn không nghĩ gì về cuộc gặp gỡ với tôi, cuối cùng bạn vẫn đến chỗ tôi. Đây là ý nghĩa về tâm Phật vốn bất sinh và dàn xếp mọi sự một cách êm đẹp.
Lại nữa, ở Sendai bạn thấy những con cò màu trắng và những con quạ màu đen không cần ai nhuộm. Ở đây cũng vậy, mặc dù không cố ý phân biệt, vừa khi thấy chúng xuất hiện, bạn biết ngay con trắng là cò và con đen là quạ. Không cần dấy lên ý tưởng nào, tất cả điều đó được dàn xếp một cách trơn tru phải thế không?
Khi ấy vị tăng hỏi: Tôi thấy không thể nào kiểm soát tất cả những sân si dục vọng trong tôi. Tôi phải làm sao, xin Ngài chỉ giáo.
Sư trả lời: Cái ý tưởng muốn kiểm soát của bạn chính là một vọng tưởng, đổi tâm Phật thành ra vọng tưởng. Vọng tưởng vốn không có thực chất khi nó sinh khởi. Sự thật chúng chỉ là những cái bóng, những sự việc bạn đã thấy và nghe khi gặp cơ hội lại trồi lên.
Vị tăng lại hỏi: Giác ngộ là gì?
Sư trả lời: Không có điều gì gọi là giác ngộ, đấy hoàn toàn là một đeo đuổi vô ích. Hãy nhận ra một cách rốt ráo rằng tâm Phật mà bạn có từ cha mẹ vốn bất sinh và chiếu sáng kỳ diệu – đó chính là giác ngộ. Không nhận ra điều này là si mê. Vì tâm Phật nguyên ủy vốn bất sinh, nên nó vận hành không có những ý tưởng về si mê hay mong cầu giác ngộ. Vừa khi có ước muốn giác ngộ là bạn đã rời khỏi vị trí của Bất sinh và đi ngược lại với nó. Vì tâm Phật là bất sinh, nó tuyệt nhiên không có tư tưởng gì cả. Tư tưởng là nguồn gốc của vô minh. Khi hết tư tưởng thì vô minh cũng diệt. Và khi bạn đã hết vô minh thì không cần gì nói đến mong muốn đạt giác ngộ, phải vậy không?

An trú trong tâm Phật

Một vị tăng hỏi: Con thường đọc kinh và tọa thiền, vì con cảm thấy những việc này có công đức. Bây giờ con có nên dẹp hết vì vô ích chăng?
Sư trả lời: Tọa thiền và xem kinh là việc tốt. Tọa thiền là việc mà tất cả tu sĩ muốn uống nước từ nguồn Thích Ca đều phải thực hành không được coi khinh. Mặc dù tất cả những pháp này thay đổi tùy hoàn cảnh khác nhau và tùy cách dạy của mỗi bậc thầy, song tất cả đều liên hệ đến việc bạn phải tự mình thực chứng cái tâm Phật bất sinh. Khi bạn không lầm tiếng chuông với tiếng trống, tiếng chim sẻ với tiếng chim quạ, tất cả những âm thanh nghe qua, bạn đều nhận ra và phân biệt từng thứ một, không sót tiếng nào. Đấy chính là cái tâm Phật chiếu sáng kỳ diệu đang lắng nghe. Những gì nói trong Lâm tế ngữ lục và những gì tôi nói chỉ là một thứ không có gì khác nhau. Vấn đề duy nhất là bạn có đức tin hay không. Nếu bạn không thể an trú trong tâm Phật bất sinh mà khuấy động lên đủ thứ tư tưởng như nuối tiếc quá khứ, lo lắng về tương lai, thì chính là bạn đang xoay vần biến hóa trong sinh tử mà không tự biết. Bạn đã đổi tâm Phật thành ra những tư tưởng phù du, không bao giờ có một giây phút an ổn.
Bây giờ bạn có thể tọa thiền đọc kinh, nhưng hãy an trú trong tâm Phật mà bạn có, và thực chứng cái bất sinh. Nếu bạn tọa thiền hay đọc kinh, với mục đích hay hy vọng tích lũy công đức, thì thế là bạn đổi tâm Phật lấy công đức, đổi tâm Phật lấy tọa thiền và tụng kinh! Thế đấy, nên điều bạn cần làm là nhận ra với niềm tin tưởng sâu xa rằng, mọi sự tự nó được nhận chân và được phân biệt mà không cần bạn phải để tâm suy nghĩ. Tất cả là vì tâm Phật chiếu sáng kỳ diệu vốn bất sinh, và thu xếp mọi sự một cách trôi chảy.

Khi tư tưởng khởi lên

Một chú tiểu hỏi: Khi con tọa thiền, tư tưởng lại khởi lên. Con phải làm sao?
Sư dạy: Phân biệt được và nhận ra được từng ý nghĩ khởi lên, đấy chính là công năng linh hoạt của tâm Phật. Vì tâm Phật vốn bất sinh mà cũng chiếu sáng kỳ diệu nữa, nên bất cứ gì được lưu giữ trong tâm con bây giờ trồi lên. Trong tâm Phật không có một tư tưởng hay một vật gì, bởi thế khi con không để mình vương vấn với chúng, tức là đã phù hợp với tâm Phật bất sinh. Đừng lo cố xua đuổi chúng hay ngăn chặn chúng.

Tâm Phật sống động

Sư bảo đại chúng: Với một người thực chứng tâm Phật một cách rốt ráo vào mọi lúc, thì khi vị ấy đi ngủ, cũng đi ngủ với tâm Phật; khi dậy là dậy với tâm Phật; khi ở là ở với tâm Phật; khi đi là đi với tâm Phật; khi ngồi là ngồi với tâm Phật; khi đứng là đứng với tâm Phật; khi nói là nói với tâm Phật; khi im lặng là im lặng với tâm Phật; khi ăn cơm là ăn với tâm Phật; khi uống trà là uống với tâm Phật; khi mặc áo là mặc áo với tâm Phật. Vào mọi lúc, vị ấy an trú liên tục trong tâm Phật, không có lúc nào là vị ấy không ở trong tâm Phật. Vị ấy hành xử ung dung tùy theo hoàn cảnh, cứ để mọi sự theo cách tự nhiên của chúng. Chỉ cốt là không làm những điều ác mà chỉ làm những việc lành.
Nhưng nếu bạn tự hào về những việc lành của mình, bám víu vào đó và ghét cái xấu, thì thế là đi ngược với tâm Phật. Tâm Phật không thiện cũng không ác, mà vận hành vượt ngoài cả thiện ác. Đó không phải là tâm Phật sống động hay sao? Khi bạn đã ngộ được điều này không còn một chút nghi ngờ nào cả, thì ngay lúc ấy bạn sẽ mở được con mắt thấy suốt tâm người. Bởi thế mà tông phái của tôi được mệnh danh là tông Mắt Sáng.

Đàn áp cũng là mê muội

Một vị Tăng hỏi: Con nhận thấy không thể nào đàn áp tất cả phiền não vọng tưởng của con. Con phải làm sao?
Sư đáp: Cố mà đàn áp vọng tưởng thì cũng là mê muội. Vọng tưởng nguyên ủy vốn không hiện hữu, mà chỉ do chính bạn tạo ra vì phân biệt.
Một vị Tăng từ Sendai đến hỏi: Làm thế nào con có thể thực chứng cái tâm bản nhiên?
Sư đáp: Ngoài con người đang hỏi tôi lúc này ra, thì không có tâm bản nhiên nào. Cái tâm bản nhiên ấy siêu việt tư duy mà phân biệt rõ ràng mọi sự. Bằng cớ điều này là, nếu tôi hỏi bạn điều gì liên hệ đến nơi bạn ở, có phải là bạn trả lời vanh vách không cần suy nghĩ hay không.

Buông xả

Một cư sĩ nói: Vài năm về trước, tôi hỏi Ngài phải làm sao để ngăn vọng tưởng sinh khởi, và Ngài đã dạy tôi cứ để mặc chúng sinh diệt tùy ý. Tôi vẫn làm theo lời khuyên của Ngài, nhưng tôi lại thấy thật khó mà cứ để cho những vọng tưởng cứ khởi và diệt như vậy.
Sư bảo: Lý do bạn gặp khó khăn là vì bạn tưởng rằng có một phương pháp đặc biệt nào để phó mặc cho ý tưởng cứ khởi và diệt.

Như bạn vốn là

Sư bảo đại chúng: Tất cả quý vị nên nhận ra cái tâm Phật vận hành sống động này! Từ nhiều trăm năm nay người học Phật đã hiểu lầm giáo lý Thiền, cố đạt giác ngộ bằng cách tọa thiền hoặc cố tìm cho ra “con người thấy và nghe”, tất cả điều này là một sai lầm lớn. Tọa thiền chỉ là một tên khác của tâm bản lai, nó có nghĩa là ngồi an tịnh với một cái tâm an tịnh. Khi ngồi thiền bạn chỉ cần ngồi như bạn vẫn ngồi; khi bạn thiền hành, thì bạn cứ tản bộ như bạn vẫn đi. Dù cho miệng của bạn rộng lớn đủ để nuốt trọng cả trời đất, cũng không thể nào diễn tả Phật Pháp bằng lời. Những người nói về Phật Pháp, phần đông chỉ làm cho người ta lòa mắt.
Trong cái “tâm” mà bạn thừa hưởng của Cha Mẹ từ lúc mới sinh, không có một chút mê lầm nào cả. Bởi thế, khi bạn quả quyết rằng “tôi mê mờ vì tôi là một người sinh ra đã ngu dốt” thì thế là bạn đổ lỗi cho cha mẹ mình một cách bất công. Chư Phật trong quá khứ với con người trong hiện tại đều có đồng một tâm Phật duy nhất ấy, không có khác gì nhau. Tôi sẽ lấy một ví dụ cho bạn hiểu: khi nước biển múc lên đổ vào những bình chứa khác nhau, và gặp thời tiết nước đông lại, thì tùy theo những bình chứa lớn nhỏ vuông tròn khác nhau mà nước đông thành đá sẽ có những hình dạng khác nhau; nhưng khi băng tan thì tất cả nước trở lại đồng là nước của biển cả. Vì không biết tâm Phật vận hành sống động như thế, nên bạn nghĩ bạn sẽ thành Phật nhờ tích lũy quả báo tu hành và giác ngộ. Bị rơi vào mê lầm, đi từ bóng tối vào trong bóng tối, thật là bi đát phải không? Tôi không giảng dạy về Phật giáo, nhưng khi nói chuyện tôi chỉ xử lý những ý tưởng sai lầm nơi các bạn.

Không một dấu vết

Một khách tăng hỏi: Con tu hành với mục đích là đạt giác ngộ. Ngài nghĩ sao về vấn đề này?
Sư dạy: Giác ngộ chỉ có khi có si mê. Nhưng mọi người đều có bản chất giác ngộ, nên một chút mê lầm cũng không hiện hữu. Thế thì bạn cần phải đạt đến cái gì?
Vị Tăng nói: Điều ấy tôi nghe thật điên rồ. Chính nhờ đạt giác ngộ mà tất cả thánh hiền xưa kể từ sơ tổ Bồ đề đạt ma, đã hoàn toàn chứng đắc về Pháp.
Sư bảo: Như Lai cứu độ hữu tình bằng cách “điên rồ” như thế đấy, không đến không đi, mà vẫn như tính bạn bẩm sinh, không để cho tâm trở nên mờ mịt – đấy chính là ý nghĩa của Như Lai. Và đấy cũng là đường lối chư Tổ trong quá khứ.

Bịt mắt

Một vị khách tăng hỏi : Tọa thiền có công đức gì không?
Sư nói: Tọa thiền là điều không nên coi thường, cũng không nên xem thường việc tụng kinh, lễ bái. Tổ Đức Sơn dùng gậy, Thiên Thai dùng tiếng hét, Đạt ma diện bích – Tất cả đều là những phương tiện của các bậc thầy, những phương pháp đối phó với những tình huống đặc biệt và đáp ứng những nhu cầu của từng cá nhân trong cuộc. Ngay từ đầu đã không có những quy luật cố định. Nếu bạn xem những phương tiện tạm thời ấy như những lời dạy bất di dịch, thì cũng như bạn tự bịt mắt mình. Chỉ cần vững tin vào lời tôi nói, giữ tâm hồn nhiên như lúc mới sinh không có những phân biệt phù phiếm, hệt như khi mọi vật phản chiếu trong gương, thì khi đó không có gì trên đời mà bạn không thâm nhập thông suốt. Đừng nghi ngờ!

Mọi sự đều được dàn xếp trơn tru

Một vị tăng từ Tamba đến hỏi: ước nguyện chân thành của con trong dịp này là chứng được giác ngộ và trở thành một con người toàn hảo về mọi mặt. Xin Ngài chỉ giáo cho con.
Sư nói: Bạn đã lặn lội từ xa đến và có những ước nguyện đáng khen, nhưng chúng toàn là vọng tưởng. Trong cái tâm nguyên ủy, không có vọng tưởng cũng không có ước nguyện. Trong cái công năng chiếu sáng kỳ diệu nội tâm, không hề có một ước nguyện nào cả, thế mà mọi sự vẫn được dàn xếp trơn tru. Ngay cả cái việc muốn thành Phật liền bây giờ cũng là một điều giả tạo. Chỉ cần nhận thức rằng mình đang tạo những ước nguyện, rồi cứ sống tự nhiên, đừng vướng mắc bất cứ sự gì, thì bản lai diện mục của bạn sẽ được hiển lộ.

Đi đâu

Một cư sĩ hỏi: Khi thành Phật rồi, ta sẽ đi đâu?
Sư trả lời: Nếu bạn thành Phật, không có nơi nào để đi cả. Khi đó bạn ở khắp cả tam thiên đại thiên thế giới. Chỉ khi bạn trở thành loại chúng sinh nào khác thì mới có nhiều chỗ khác nhau để đi.

Trái banh bằng vàng

Có lần Sư bảo : Không giống như những bậc thầy khác ở khắp nơi, trong giáo lý tôi, tôi không lập ra một mục tiêu đặc biệt nào như chứng đắc giác ngộ hay tham cứu công án. Tôi cũng không dựa vào lời Phật và tổ. Tôi chỉ thẳng vào sự việc, nên không có gì để bám lấy, và cũng vì vậy không có người nào sẵn sàng chấp nhận những gì tôi giảng dạy. Trước hết, những người thông minh và đa văn thì bị chướng ngại bởi chính sự thông minh tính toán của họ, nên họ không thể chấp nhận lời tôi. Ngược lại, có rất nhiều phụ nữ ngu dốt không biết đọc biết viết, lại không có tài năng đặc biệt nào, và cũng không thể đẩy họ lên làm thiền sư. Nhưng họ có được thực chứng và không vướng vào tri thức.
Sư lại thêm : Mặc dù vậy, dù không có ai chấp nhận hoàn toàn, giáo lý tôi giống như một trái banh bằng vàng bị đập vỡ ra nhiều mảnh tung tóe khắp nơi, để cho ai được một mảnh thì sẽ có được một mảnh giác ngộ, ai được hai mảnh thì sẽ có được hai mảnh giác ngộ…, từng mảnh nhỏ, nhưng không ai là không lợi lạc tùy theo chỗ chứng đắc của mình.

Nghi lớn

Một vị Tăng hỏi: Người xưa tuyên bố nghi lớn ngộ lớn (đại nghi đại ngộ). Tại sao Ngài không sử dụng cái nghi lớn của các bậc Thầy xưa?
Sư đáp: Về ý nghĩa của nghi lớn là như sau: ngày xưa khi Nam Nhạc Hoài Nhượng đến thăm Lục tổ, tổ hỏi, vật gì đến đó? Nam Nhạc hoàn toàn bối rối, thắc mắc về vấn đề này đến 8 năm, và cuối cùng đã trả lời: nói là một vật thì không trúng. Đây mới thực sự là đại nghi đại ngộ. Ví dụ khi một vị tăng mất chiếc y ca sa độc nhất, ông ta đi tìm khắp nơi không lúc nào không nghĩ đến nó – đấy là nghi thực sự! Người ngày ngày cứ khơi lên hoài nghi chỉ vì họ bảo những bậc thầy ngày xưa cũng làm như vậy; bởi thế họ chỉ phát sinh được một thứ hoài nghi bắt chước. Vì sự hoài nghi này không chân thật, nên họ sẽ không có ngày nào ngộ. Việc ấy cũng như thể là họ đi tìm khắp nơi tưởng mình mất một cái gì mà thực sự chưa từng bị mất.

Khác nhau trời vực

Vào một dịp khác, Sư bảo: Về cái chân lý mà tôi đã tìm ra năm tôi 26 tuổi khi nhập thất trong làng Nonaka – chân lý mà tôi đã tìm đến thiền sư Dosha để được ấn chứng – cái thấy lúc ấy với bây giờ không có chút gì khác nhau. Tuy nhiên, nói về sự thâm nhập Phật pháp với pháp nhãn hoàn toàn trong sáng và giải thoát tuyệt đối, thì từ ngày tôi gặp Dosha đến nay thực khác nhau một trời một vực. Tất cả quý vị hãy tin rằng điều này có thể xảy ra, và hãy đợi đến cái ngày quý vị hoàn toàn chứng được pháp nhãn.
Có người hỏi: Có phải pháp nhãn hoàn toàn trong sáng cần phải có thời gian mới chứng được? Người ta chứng pháp nhãn ngay lập tức có được không?
Sư trả lời: Đương nhiên là cần một số lượng thời gian. Khi đã phát sinh con mắt Pháp trong suốt không chút tì vết (pháp nhãn ly trần vô cấu) là bạn đã chứng ngộ một cách toàn vẹn. Và việc chứng ngộ của bạn tùy thuộc vào sự tu tập một cách nghiêm túc và nhất tâm.

Hãy coi chừng nơi bạn đi

Khi tôi (tức Sonin đệ tử thừa kế của Bankei) mới gặp Sư lần đầu, tôi thọ giáo với Ngài nhưng vì không có được sự thấu hiểu sâu xa, tôi đã nói: Những gì thầy dạy là cảnh giới của bậc thầy. Nhưng với một kẻ như con chưa từng chứng ngộ, con nghĩ rằng thật khó mà với tới cảnh giới bậc thầy.
Sư đã bảo tôi: Nếu ông muốn chân lý, ông phải làm như tôi nói. Những người học đạo trước hết phải cẩn thận xem chừng mình đang đi ở đâu. Ví dụ, nếu một người muốn đi Edo và được người ta chỉ cho phải đi về phía đông. Nếu anh ta đi đúng hướng thì cứ mỗi dặm đường là tiến gần đến đích một dặm; nhưng nếu anh ta lầm đi sang phía tây, thì càng đi nhanh càng xa với mục tiêu của mình. Có lần tôi hỏi Sư: Trong việc học đạo, có cần đọc kinh Phật và ngữ lục của các vị tổ không?
Sư trả lời: Cũng còn tùy. Nếu ông đọc kinh điển và ngữ lục mà ông hoàn toàn lệ thuộc vào những nguyên tắc trong đó, tức là ông tự bịt mắt mình lại. Ngược lại, khi ông đủ trình độ để bất chấp nguyên tắc mà đọc những thứ ấy, thì ông sẽ tìm ra bằng cứ cho sự chứng ngộ của mình.
Một lần tôi hỏi Sư: Con luôn luôn bị khổ vì những thói quen xấu. Con có thể chấm dứt chúng bằng cách luôn luôn đề phòng hay không?
Sư hỏi: Nếu ông nhận ra rằng từ khởi thủy, không có thói quen xấu, thì có gì để chấm dứt?
Tôi trả lời: Con công nhận rằng khởi thủy không có thói quen xấu, con không nghi ngờ gì về điều ấy. Nhưng thỉnh thoảng những thói quen xấu của con lại xuất hiện, và khi con đề phòng chúng thì chúng không xuất hiện. Bởi thế mặc dù con hoàn toàn công nhận sự thật là, từ đầu thói xấu không hiện hữu, nhưng riêng về chuyện tu hành hằng ngày của con, thì có phải tốt nhất nên đề phòng?
Sư nói: Đó không phải là chân thật công nhận.
Bây giờ từ khi khắc cốt ghi tâm những lời dạy từ bi của bậc thầy, tôi đã thực chứng một cách rốt ráo thực tướng của chân lý. Vào một dịp khác tôi hỏi: Từ lúc mới sinh, con đã bị những cơn đau thắt ghê gớm trong bụng, mỗi lần như vậy con phải hoàn toàn nhịn ăn trong nhiều ngày, bị nhức đầu kinh khủng và cảm thấy đau đớn tới độ muốn đưa tay lên mà sửa cái gối cũng không thể được. Bình thường khi đang khỏe thì con hết sức dũng mãnh tinh tấn, sẵn sàng vì Pháp mà hy sinh mạng sống và tay chân. Nhưng vào những lúc cơn đau vừa nổi lên, là con hoàn toàn bất lực. Khi cơn đau đến tột đỉnh thì con yếu hơn bao giờ cả. Dường như là tinh thần dũng mãnh thường lệ của con bị ngọn gió bệnh làm cho điêu đứng. Con vô cùng buồn khổ vì chuyện này.
Sư hỏi: Một khi ông lành mạnh trở lại thì thế nào? Tôi trả lời: Khi con mạnh trở lại thì mọi sự lại trở lại như thường.
Sư bảo: Thế thì tốt. Từ đấy về sau vào mọi lúc, tôi luôn luôn giống như bây giờ, vượt ngoài phân biệt, hoàn toàn tự do thoải mái, không một chút gắng gượng.
Một lần tôi hỏi Sư: Con đã theo thầy khá lâu, và được may mắn hầu cận bên thầy trong nhiều năm làm thị giả. Về những điều cốt yếu trong giáo lý thầy, con không có một chút hoài nghi nào cả. Tuy nhiên điều con nhận thấy tuyệt vời khi gần Ngài là: Con càng vào sâu, thầy càng trở nên rắn chắc, con càng ngước lên cao mà nhìn, thì thầy càng bay cao hơn. Bởi thế con vô cùng thán phục. Thầy đáp ứng những nhu cầu của người học một cách lưu loát vô giới hạn đến nỗi trải qua bao nhiêu ngày tháng cũng không ai địch nổi. Làm sao chúng con cũng có thể đạt đến sự toàn hảo ấy?
Sư bảo: Những thiền sinh thường trong 10 điều có thể nắm được 7, 8 điều, nhưng không thể vượt qua được 2 hay 3 điều còn lại. Tôi nói: Có cách nào để vượt qua không?
Sư đáp: Không cách nào để vượt qua. Tôi hỏi: Lỗi nằm ở đâu?
Sư im lặng một lúc rồi trả lời: Nói cho cùng, thì chính là vì lòng khát khao đạt đến chân lý còn yếu.

Đối xử với kẻ hư

Khi Sư nhập thất ở chùa Jizoji, vị tăng tri sự ở chùa Long môn phái tăng sĩ Tenkyu đến vấn an Ngài và trình bày: Tại chùa Long môn có một số tăng bê trễ phận sự, hành vi thô tháo, xáo trộn quy củ thiền môn. Chúng con nghĩ nên gởi họ đi đến các chùa khác họa may họ có thay đổi. Kính mong được tôn ý của Ngài.
Khi Tenkyu nói xong, Sư triệu tập Shùin, Sokako và Shonin. Ngài nhắc lại cho họ nghe những lời Tenkyu vừa nói, và bảo: Một thiền viện được lập ra cốt là để quy tụ những bọn xấu xa như bọn ấy, chinh phục chúng bằng sự tiếp xúc thân mật để làm chúng trở thành người tốt. Thế mà các ông hoàn toàn thiếu từ bi, các ông muốn tẩy những bọn tội phạm đi nơi khác để cho chúng đi gây rối chỗ khác! Một người như thế có xứng đáng làm trụ trì một thiền viện không? Khi một người không có tâm từ bi quảng đại mà làm trụ trì chùa tôi, đó là bắt đầu thời suy tàn của giáo lý tôi dạy.
Sau lần quở trách nghiêm khắc ấy, tất cả mọi người gồm trụ trì, chức sự trong chùa cũng như các thị giả không ai còn dám phàn nàn gì với Sư về hành vi các tu sĩ.

Không quy luật

Vào một kỳ đại kiết thất ở chùa Long môn, có trên mười ngàn người tham dự. Mọi người bảo: “Trong kỳ hội này, chắc người ta sẽ phải lập ra những quy luật sách tấn mọi người khiến cho toàn thể phải sợ run!” Nhưng sau đó chẳng có một bản quy luật nào được đặt ra, mà mọi người vẫn an tịnh.
Thỉnh thoảng Sư thăng pháp tòa bảo đại chúng: “Cái bất sinh có từ khởi thủy – tất cả mọi người hãy bảo đảm là quý vị không làm nó ẩn mất trong quý vị! Cái bất sinh ấy giống như một quả bóng lớn bằng lửa: động vào nó bạn sẽ bị đốt cháy. Tôi có thể nói với quý vị về nó ngay bây giờ, nhưng nói không hết lời; tôi có thể sử dụng nó, nhưng dùng không bao giờ hết. Với tôi, muốn sách tấn người khác mà la lối um sùm khiến cho họ sợ hãi phải tuân hành, thì chỉ là một sự lừa dối vô ích. Không bao giờ nên làm vậy.” Khi những người trong chúng hội nghe điều này, tất cả hoài nghi của họ điều tiêu tan.

Như ông bây giờ

Khi Sư ở chùa Nyoroshi, Ngài dạy chúng: Tất cả các ông quả thật may mắn đã gặp được bậc thầy! Không cần phải đi mòn dép cỏ, phí sức theo đuổi hoa đốm giữa hư không, hay dấn mình vào những khổ hạnh đau đớn, các ông vẫn có thể đi thẳng vào chánh giáo. Thật là may mắn! Đừng phí thì giờ! Một vị tăng hiện diện nói: Duy chỉ có điều này. Ví dụ một người muốn qua sông để ra khỏi thành phố, mà nếu không dùng một con thuyền, cũng không đi một bước nào, thì anh ta sẽ không bao giờ đạt đến đâu cả.
Sư nói: Cũng như ông đang ở đây lúc này, phải không? Không có cái sự đi đến đâu hay không đi đến đâu. Đây là ý nghĩa đốn giáo. Bạn do dự thì nó tuột mất; chần chờ thì nó càng ngày càng xa.

Phương pháp tự nhiên của Bankei

Trong một kỳ kiết thất, có trên một ngàn ba trăm người tham dự, chưa kể tăng và tục từ ngoài đến chùa hàng ngày để nghe pháp. Những ngưòi tham dự chia nhau ở trong các phòng, nơi thì tọa thiền, nơi thì đọc tụng. Không cần lập ra quy luật, mỗi người theo đuổi hoạt động của mình một cách tự nhiên, tu tập một cách tinh cần và lặng lẽ đến nỗi dường như không có ai ở trong phòng.
Ngày nay, các thiền viện khắp nơi quy tụ năm ba trăm tu sĩ, đặt ra thời gian biểu cho đến từng phút, hạn chế khu vực lui tới, gần như trói tay chân người ta không khác gì ở tù. Nếu có ai phạm dù một lỗi nhỏ cũng bị đánh và ném ra khỏi chùa không bao giờ tha thứ. Sự rình rập và độc ác còn tồi tệ hơn những viên chức nhà nước! Mỗi khi xong các kỳ thất, có nhiều người ngã bệnh, nhiều người khác hoàn toàn suy kiệt. Thế là những mầm non chưa ra đã bị nổ tung, khiến cho cha mẹ và thầy đâm chán.
Đấy là hành động của những người tự xưng chuyên môn dạy thiền ngày nay. Than ôi! Những ông thầy theo phong trào ấy không thể vượt trên đám đông tầm thường, thật đáng thương. Người xưa dựng ra tấm ngăn là cái chết, mở ra cái hố để chôn sống những người học đạo thiền (1). Tất cả những điều này ngày xưa được làm là nhắm một mục tiêu đặc biệt, nhưng ngày nay người ta bắt chước một cách mù quáng, với hy vọng sai lầm là sẽ phát sinh cùng một hậu quả.

DUY TÂM QUYẾT

DUY TÂM QUYẾT

Lời Dịch Giả
PHẬT pháp là pháp bất nhị, tâm trí không thể đến được, nhưng người đời nay ưa thích đem tâm trí suy lường lời Phật Tổ, nên không đến được chỗ rốt ráo giải thoát.Chúng tôi góp nhặt những lời chân thật của Phật Tổ và Thánh Hiền để chứng tỏ.“TÂM NGÔN LỘ TUYỆT”.                                                                                                                                             THÍCH DUY LỰC
DUY TÂM QUYẾT     
 (Đại Tạng)
    Nói đến chữ tâm chẳng phải chơn, vọng, hữu, vô có thể phân biệt được ; chẳng phải văn tự. Lời nói có thể diễn tả được. Nhưng các bật thánh ca ngợi, các hiền triết giải thích, ngàn lối khác nhau, chỉ là tùy theo đương cơ mà giả lập phương tiện, cuối cùng đều quy về một pháp mà thôi.
Nên kinh Bát Nhã nói Bất Nhị, Pháp Hoa nói Nhất thừa, Tư Ích nói Bình đẳng Như như, Hoa nghiêm nói Thuần chơn pháp giới, Viên Giác kiến lập tất cả, Lăng Nghiêm bao gồm Mười phương, Đại Tập Nhiễm tịnh dung thông, Bảo Tích Căn trần hòa hợp, Niết Bàn An nơi bí tạng, Tịnh Danh Đạo tràng khắp nơi… tất cả tống nhiếp bao gồm, tỏ hết sự và lý chẳng có thiếu sót. Cho nên một pháp ngàn tên, tùy duyên lập hiệu, người học đạo chớ nên mê lầm việc tùy sự lập danh, kẹt vào lời nói phương tiện mà cho chúng sanh là giả. Chư Phật là thật ! Nếu ngộ được nhất pháp thì vạn pháp viên thông, sự mắc kẹt của nhiều kiếp ngay đó tan rã, vô biên diệu nghĩa nhất thời đều không, thấu triệt nguồn gốc của tâm pháp, rõ hết phương tiện của chư phật, chẳng tốn mốt chút công lực, chẳng dời một bước mà du lịch hằng sa thế giới, không một Phật sát đạo tràng nào mà chẳng đến, không một pháp hội nào mà chẳng dự, không một tướng nào mà chẳng phải thật tướng, không một nhân nào mà chẳng phải viên nhân (cái nhân tròn đầy bao gồm tất cả tâm pháp), hằng sa Như Lai rõ ràng ngay trước mắt, mười phương phật pháp sáng tỏ trong bàn tay, núi sông cao thấp cùng chuyển căn bản pháp luân, hàm linh lớn nhỏ phổ hiện sắc thân Tam muội. Ở một chỗ mà mười phương cùng hiện giảng một âm mà pháp giới cùng nghe, nói huyền nói diệu mà chẳng hoại pháp thế gian, muôn ngàn biến hóa mà chưa dời chổ thật tế. Cùng tam thế chư phật nhất thời hành đạo, với mười loài chúng sanh đồng chứng Niết Bàn, đánh trống Phật pháp nơi cung ma, sấm xét Phật pháp nơi sứ tà, đi ngược mà tự thuận, nơi cương mà tự nhu, lên cao mà chẳng nguy, nước đầy mà chẳng tràn, ở yên trên đất tuyệt học, sâu vào nguồn gốc vô vi, nhập cửa huyền của chúng diệu, dạo cảnh giới của thật tướng.
Chẳng một pháp vốn có, chẳng một pháp mới thành, diệt trung biên, tuyệt tiền hậu, ấn đồng dị (đồng và dị cùng trong một pháp ấn), nhất khứ lai. Muôn cảnh cùng quán, nhất tâm bình đẳng, tiếng Phật thường nghe, huệ quan thường chiếu, đây là Đại Tịch Tam Muội Kim Cang định môn Thánh phàm bằng nhau, cổ kim đều vậy. Như tánh ướt của giọt nước với biển cả vốn đồng, sự dung nạp của cái lổ nhỏ bằng hạt cải so với hư không chẳng khác, kẻ tin được  thì công siêu nhiều kiếp, kẻ ngộ được thì rõ trong sát na.
Cái pháp môn của nhất tâm này thật là đại đạo chẳng có phương sở, tu tập bụi trần mà chẳng phải hợp, tan rã quốc độ mà chẳng phải phân (phân tán), hòa quang mà bất quần (chẳng phải nhiều chúng hợp lại), đồng trần mà chẳng nhiễm, siêu xuất mà chẳng lìa, dung hợp mà chẳng tụ, nuôi dưỡng Thánh phàm mà chẳng có hình tướng thật chất để thấy, kiến tạo pháp giới mà chẳng có tên họ để gọi, che khắp cỏ cây, phủ khắp kim cổ, cùng khắp hư không pháp giới, bầu trời chẳng thề che lấp bản thể , thường chiếu thường hiện, địa ngục chẳng thể ấn dấu ánh sáng, vô trụ  vô y, trần lao chẳng thể đổi cái tánh, phi thuần phi tạp, muôn pháp chẳng thể dấu cái chơn, vắng lặng mà âm thanh khắp nơi, vô tướng mà hình tượng đầy trời, dung hợp lẫn nhau mà cảnh vật muôn ngàn sai biệt, hình tướng sum la chỉ là một, chẳng tụ chẳng chia, chẳng vì việc hỏng mà mất bản thể, cũng đồng cũng khác, tùy duyên mà chẳng cần giữ tánh, tức tướng là tánh nên chẳng ngại kiến lập ; tức lý là sự nên chẳng ngại chơn thường. Dùng cái không của hữu đâu ngại đủ thứ sanh khởi ; dùng cái động của tịnh, đâu ngại muôn cảnh tịch lặng, nói một thì lớn nhỏ khác nhau, nói khác thì cao thấp đều bằng, nói có thì chơn lý tịch diệt, nói không thì sự dụng chẳng bỏ, dù sanh mà thường tịch, tướng thế gian trống rỗng, dù động mà thường trụ, muôn pháp chẳng dời, dù ẩn mà thường khởi, thích ứng tùy cơ. Chẳng giả mà ảo tưởng hòa hợp, chẳng thật mà chơn tánh trạm nhiên, chẳng thành mà đủ loại cùng sáng, chẳng hoại mà các duyên tự diệt. Cảnh dù hiện mà chẳng có tánh hiện, trí dù chiếu mà chẳng có công chiếu, tịch mà dụng chẳng khác, năng và sở chỉ một. Đồng như gương sáng mà vạn tượng chẳng giấu mình, tánh như hư không mà tướng chẳng rời bản thể, làm tạng thường trụ, là cửa biến thông, trạm nhiên kiên cố mà thường tùy vật biến hóa, lăng xăng tạo tác mà chẳng động được chơn như, thân nam ẩn, thân nữ hiện, phương Đông nhập, phương Tây xuất, đang còn mà thường diệt, đang nắm mà thương buông, phổ biến mà ánh sáng chẳng động, khắp nơi mà một vật chẳng có, một hạt buội gồm vô biên quốc độ, một niệm tưởng lập vô tận cổ kim. Tức tịnh thường nhiễm ở thật tướng mà chẳng phải thăng (cấp bật cao), tức đục thường trong, vào lục đạo mà chẳng phải đọa.
Nhìn vào ngoài chẳng dư, nhìn vào trong chẳng thiếu, đầy mắt mà chẳng thấy đầy tai mà chẳng nghe, đầy lòng mà chẳng biết, đủ lượng mà chẳng hay, đã thành mà chẳng phải cũ, nay hiện mà chẳng phải mới, chẳng mài mà tự sáng tỏ, chẳng chùi mà tự trong sạch, chơn tánh độc lập, diệu thể thường trụ, linh quang xán lạn, công đức đầy tràn.
Diệu dụng của hàm linh phổ hội, làm vua của muôn Pháp, Tam thừa và Ngũ tánh (năm thứ chủng tánh : tam thừa, ngoại đạo và bất định chủng tánh) qui tụ, làn mẹ của ngàn Thánh, độc tôn độc quý, chẳng gì sánh bằng, là chơn pháp yếu, là thật đại đạo, tông tích nhiệm mầu chẳng định, tùy theo tánh vật mà vuông tròn, diệu dụng thích ứng tự nhiên, tùy theo căn cơ mà ẩn hiện, cho nên gốc sanh ngọn mà ngọn tùy gốc, thể dụng lẫn nhau ; chơn thành tục mà tục lập chơn, Thánh phàm cùng tỏ ; chính ta giúp người mà người lại giúp ta chủ bạn cùng tham.
Chúng sanh thành phật mà phật độ chúng sanh, nhân quả rõ ràng. Cảnh chẳng tự tánh mà người khác thành tự kỷ tâm chẵng tự tánh mà tự kỷ thành người khác, lý chẳng thành tựu mà một tức nhiều sự chẳng thành tựu làm nhiều tức một, tướng dù giả mà âm thầm một thể, tánh dù thật mà thường nơi vạn duyên. Dù hiểu lộ mà tìm cầu rất khó, dù siêu tuyệt mà đại dụng chẳng ngại, hiện ra ảo tượng nơi một tánh mà dung chơn (dung hợp chơn đế), Tịch diệt linh thiêng, nhờ sum la mà hiển tướng. Đế và Trí (Đế : Chơn đế, Tục đế, Trí : Quyền trí, Thật trí) phát minh lẫn nhau, nhiễm và tịnh huân tập lẫn nhau, tùy sức yếu mạnh mà chìm nổi vô thường, tùy duyên tụ tán mà nắm buông chẳng định, nhiếp nhau thì vi trần chẳng hiện , giúp nhau thì muôn cảnh đều sanh, đến như bóng trăng bỗng hiện trong nước, đi như đám mây bỗng tan trên trời, động tịnh vô ngại, trống rỗng thấu nhập, tương sanh tương khắc, linh thông khó lường, chẳng trong chẳng ngoài, diệu tánh khắp nơi.
Biển trí mênh mông, dung nạp tất cả chẳng kẻ thiết sót, linh châu (tự tánh) sáng tỏ, chiếu khắp mười phương chẳng từng mảy may ẩn giấu. như vàng thiệt tùy theo đồ dùng làm ra đủ thứ khuôn hình, muôn ngàn sai biệt mà chẳng ngại, như nước trong lặng nổi nhiều làn sóng, hiển tướng mà bản thể chẳng chút mất mát. Đều đúng đều sai, cũng tà cũng chánh, chẳng có mà thị hiện có, mơ hồ như trong mộng, chẳng thành mà tựu như thành, thấm thoát như huyễn hóa. Tùy nguồn không mà sanh diệt, pháp pháp vô tri, theo biến ảo mà thịnh suy, duyên duyên tuyệt đối (đối đãi). Cho nên, đĩnh núi chót vót mà chẳng vực thẩm, biến rộng không đáy mà chẳng thâm sâu, tam độc, tứ đảo (điên đảo) mà chẳng phải phàm, bát giải lục thông mà chẳng phải Thánh, đồng ở đất chơn như tịch diệt, cùng vào cửa bất nhị vô sanh. Tạo tác trong đại giải thoát, trùng trùng vô tận hiển hiện trong bất tư nghì, mỗi mỗi khó tìm, đâu thể kiến lập thủy chung, chỉ định xứ sở ! Đâu cần sùng chơn chê vọng, chán dị ham đồng !

Lại muốn hoại thân thể huyễn hóa, muốn dứt ý thức chiêm bao mà chẳng biết mỗi niệm đều là Thích Ca ra đời, mỗi bước đều là Di Lặc hạ sanh, phân biệt là hiện cái tâm của Phổ Hiền, mọi cửa đều là cam lồ, mọi vị đều là đề hồ, thật chẳng ra ngoài vườn bồ đề, thường ở nơi thế giới Liên Hoa Tạng. Chói rọi không vật nào chẳng soi thấu, rõ ràng sáng tỏ đầy mắt, khỏi nhờ biện tài diễn tả, chẳng cần thần thông hiển thị , động tịnh thường gặp, sáng tối chẳng lìa, chẳng phải xưa thạnh nay suy, đâu phải ngu chìm mà trí hiện !
Nói nín thường khế hợp, đầu đuôi thầm dung thông, Đạt Ma đâu cần đến Đông Độ, bảy Phật đâu cần thị hiện trên đời ! Hễ tâm không thì trời đất hư tịch, tâm hữu thì quốc độ sum sê, niệm khởi thì sơn nhạc lay động, niệm lặng thì song ngòi yên tịnh, ứng cơ cao tột thì lời lời liễu nghĩa, trí huệ sáng tỏ thì niệm niệm hư huyền, căn khí lớn thì pháp pháp đầy đủ, độ lượng rộng thì trần trần vô tận, ý địa trong thì thế giới sạch, tâm thủy đục thì cảnh tượng tối, đề ra một mà bao gồm toàn bộ, khang trang bình đẳng, sẳn sàng cụ túc, chỉ ở nơi chánh quán mà thôi.
Muôn pháp vốn do người tạo, chơn như tự đủ nhiều đức, vô niệm mà công đức chẳng có, vô tác diệu hạnh đều viên. Chẳng tạo mà thành, linh trí sẳn sàng, chẳng tìm tự đắc, diệu tánh thiên chơn, mới biết lý trí viên dung, đại đạo chẳng ở bên ngoài, tuyệt một hạt bụi mà độc lập, có tướng nào để tung hoành ? Vì vậy, ngay nơi âm thanh tức là nghe, ngoài sự thấy chẳng có pháp khác (bản văn cũng là bản kiến, cùng khắp không gian và thời gian) sắc đẹp chẳng thể mê hoặc, âm điệu chẳng thể lôi chìm, như nước biển hổi đủ mùi vị của ngàn sông, như núi tu di nuốt hết sắc tướng của quần đảo, không một tên chẳng hoằng danh hiệu Như Lai, không một vật chẳng tỏ hình tướng của chư Phật, cây cối nhà cửa tự tỏ diệu tướng vô biên, khỉ kêu chim hót đều nói diệu âm bất nhị, si ái thành nguồn chơn giải thoát, tham sân tỏ đại dụng Bồ đề, vọng tưởng khởi mà Niết Bàn hiện, trần lao sanh mà Phật đạo thành. Từ bản thể làm nên mà Hóa thân, báo thân tịch lặng, tùy nhân duyên hiển hiện mà Phật pháp đầy đủ khắp nơi, thật là chỗ quy về của giáo pháp, linh ngộ của Thánh Hiền, thực tế của chúng sanh, căn bản của vạn vật, đại cương của chánh pháp, bản ý của xuất thế, đường lối của Tam thừa, bến đò của Phật đạo, linh nguyên của Bát Nhã, quê nhà của Niết Bàn.
Bởi vì diệu lý mầu nhiệm sâu xa, huyền chỉ hy hữu khó lường, kẻ cường huệ uổng nhọc tinh thần, kẻ si thiền chỉ có thể tự trói. Kỳ thật thì con đường của ngôn ngữ cắt tuyệt, ý thức phân biệt dứt bặt, tinh thần trong sạch, trí huệ tự nhiên, không hữu song dung, căn trần trống rỗng như nhìn thấu trời xanh, như ở dưới mặt trời chói chang, không một pháp môn nào hiển hiện, không một chí lý nào chẳng rõ. Chẳng động tình thức, dưới ao sâu mà lượm nhầm thất bảo, chẳng phí tâm lực, trong nước đục mà tự được huyền châu, quán đại thiên thế giới ngay trước mắt, chỉ hằng sa quốc độ nơi bên cạnh, nắm chúng sanh trong bàn tay, ôm vạn vật ở trong lòng, chẳng tốn chút công, thành tựu Lăng Nghiêm đại định, chẳng nhìn một chữ, xem hết tất cả kinh điển, nghĩa của Tứ cú thông, đường của Bách phi tuyệt. Dọc xuyên tam tế, ngang thấu mười phương, duy nhất tổng trì (Tổng nhất thiết pháp, Trì nhất thiết nghĩa hiệu Đại Tự Tại)
Thần quang hiển hách, oai đức lừng lẫy, ngoại đạo kinh hồn, tà ma sợ hãi, phiền não tan rã, sanh tử bay mất, tình ái rửa sạch, ngạo mạn sụp đổ, thông thả vô ngại, đạm bạc rộng rãi, vô đắc vô cầu, khoáng đạt tự tại, cao rộng quá hư không, ánh sáng hơn nhật nguyệt, vậy thì huyền trí và thật trí đi đôi, từ bi, trí huệ song hành, cứu thế như huyễn, độ sanh đồng không, vào hữu mà chẳng trái vô, hành chơn mà chẳng ngại tục, như trời che đất chở, như nhật nguyệt cùng sáng, thị Thánh hiện phàm, xuất sanh nhập tử, đem thật tướng tâm ấn,dựng đại pháp tràng tạo một ánh sáng mà cứu tế muôn loài, khiến tro lạnh bừng lên sức ấm, hạt giống cháy sống lại làm thuyền. Từ nơi biển khô, làm đạo sư cho kẻ lạc đường. Che và chiếu tự động, nắm buông tùy trí, dù vô tri mà muôn pháp viên thông, dù vô kiến mà tất cả rõ ràng. Chỉ cần khế hợp ý chỉ này thì bản thể vốn tự nhiên, như mùa xuân nẩy mầm, như đất sanh vạn vật, Thập thân bỗng hiện, Tứ trí đồng khởi, là như ý tràng (cây lọng), là Thất bảo tụ, pháp tài phong phú, lợi sanh chẳng cùng, nên gọi Vô Tận Tạng, hiệu rừng công đức,đâu thể có ánh nắng mà chẳng chiếu, có đèn đốt mà chẳng sáng!
Chớ nên dùng tâm có giới hạn mà sanh kiến giải có ngằn mé, đo lường rộng hẹp của hư không, xác định biên thùy của pháp giới, khiến cho tình thức phân biệt, chẳng siêu việt được cảnh trần, vọng tâm bừng dậy nơi đất chơn như, đánh lên làng sóng ý thức trong biển tịch diệt, hạn chế sự thấy trong ống dòm, trộm cấp ánh sáng nơi kẻ vách, vọng lập cái tri của năng sở, lầm khởi cái kiến giải của tốt xấu, đuổi theo lời nói văn tự để định đoạt tông chỉ, cũng như con muỗi muốn bay theo đại bàng, đom đóm muốn so với mặt trời vậy !
Tự tánh khởi dụng dung nạp mười phương hư không trong một lỗ chân lông, hiện muôn ức Phật sát trong một sát na, mỗi mỗi thân cùng khắp mỗi mỗi Phật sát, mỗi mỗi Phật sát bao gồm vô biên thân, rút nhiều kiếp trong khoảnh khắc, quăng quả đất ra ngoài vũ trụ, trong một lỗ chân lông phóng ra vô tận quang minh, trong một lời nói tỏ hết tất cả giáo pháp, ấy là bổn phận của chúng sanh, sức bằng với chư Phật, không một pháp nào mà chẳng phải vậy, hễ có tâm là sẳn sàng, chẳng nhờ sức của thần thông, chẳng do tu chứng mà được, đức lượng như như, tất cả đầy đủ, nếu bỏ biển mà nhận bọt, ý chí thấp kém mà tự khinh mình, cũng như cầm hạt châu như ý mà đi xin, có kho vàng lại nghèo khổ, cô phụ tánh linh của chính mình, chôn vùi gia tài mà không biết xài !
– Người học đạo chẳng tin tự tâm hoặc muốn bỏ vọng mà giữ chơn,hoặc cho mình chẳng có phần mà cam chịu trần lao, hoặc nhận vọng làm chơn mà hành theo tà đạo, hoặc chấp phương tiện mà khổ tu tiện hạnh, hoặc chấp cao vị mà suy tôn cực Thánh, hoặc tích chứa công đức, hy vọng mãn ba A tăng kỳ kiếp để thành Phật, chẳng biết toàn thể hiện tiền, lại cầu mong cầu diệu ngộ, chẳng biết xưa nay vốn đầy đủ mà chẳng đợi sự thành công. Nếu chẳng nhập viên thường ắt phải chịu luân hồi !
– Chỉ vì mê muội nơi đức tánh, chẳng phân biệt được chơn tông, buông thả theo trần, bỏ gốc tìm ngọn, theo lưới ma của hữu vô, vào rừng tà của đồng dị, mổ xẻ chơn không, phân chia pháp tánh, sanh diệt theo trần, hữu vô tùy cảnh, chấp đoạn mê thường, lấy duyên bỏ tánh, vọng khởi tri giải, lầm lẫn tu hành.
– Hoặc hòa thần dưỡng khí mà chấp tự nhiên, hoặc cho khổ thân hủy hình là hành theo chí đạo, hoặc chấp lấy cái cột vô trước để dựng lên thành cảnh trước mắt, hoặc cầu tịnh lụ mà đè nén vọng tâm, hoặc gọi tình diệt pháp để kết thành không, hoặc theo hình bóng của nhân duyên pháp trần mà ôm thành tướng, hoặc bỏ mất chơn chiếu của linh tâm, hoặc hủy hoại chánh nhân của Phật pháp.
– Hoặc kết tụ tinh thần cắt tuyệt tâm thức, thọ báo thành loài vô tình, hoặc tĩnh tâm bặt sắc trụ quả nơi cỏi trời tứ không, hoặc chấp thật có lạc vào thành huyễn hóa, hoặc chấp KHÔNG lại đồng như sừng thỏ, hoặc tuyệt kiến giải đọa vào nhà đen tối, hoặc lập chiếu soi trở thành chấp sở tri, hoặc nhân HỮU GIÁC là hình của chơn Phật hoặc nhận VÔ TRI như loài gỗ đá, hoặc chấp vọng bằng với quả cứu cánh, cũng như nhận đất làm bình, hoặc bỏ duyên để vào cửa giải thoát cũng như vạch sóng tìm nước.
– Hoặc đuổi theo ngoại cảnh, vọng tạo việc trong chiêm bao, hoặc trong giữ u nhàn ở yên nơi ngu si, hoặc chấp đồng cho vạn vật đều bằng nhau, hoặc chấp dị mỗi mỗi tự lập pháp giới, hoặc cam chịu ngu si cho chẳng có phân biệt làm đại đạo, hoặc ham không kiến (tri kiến chấp không) bài xích thiện ác cho là chơn tu, hoặc hiểu lầm tánh bất tư nghì lọt vào ngoan không, hoặc cho diệu tánh chơn thiện là thật có, hoặc trầm cơ tuyệt tưởng (cơ: linh động)đồng như cõi trời hữu lậu, hoặc giác quán tư duy đọa nơi tình lượng (tình thức suy lường), hoặc chẳng cứu xét vọng tánh cho ấy là thời hỗn độn sơ khai của trời đất, hoặc mê muội nơi ảo thể lấy “tuyệt không” làm Tông chỉ.
– Hoặc nhận bóng làm chơn, hoặc lấy vọng để tìm thật, hoặc nhận tánh kiến văn cho là loài hữu tình, hoặc chỉ cảnh huyễn hóa cho là loài vô tình, hoặc khởi ý trái với tịch tri, hoặc dứt niệm phế bỏ phật dụng, hoặc mê tánh công đức khởi tri kiến của tâm sắc, hoặc căn cứ lời “Tất cánh không” sanh tâm đoạn diệt, hoặc chấp chí lý liền bỏ trang nghiêm,hoặc mê tiệm thuyết (đốn tiệm tương đối) luôn luôn tạo tác, hoặc chiếu theo “Bản thể lìa duyên” kiến cố ngã chấp, hoặc tiêu diệt tất cả giữ lấy tự kỷ, hoặc quyết định “Người và pháp tự nhiên” thành ngoại đạo vô nhân, hoặc chấp cảnh và trí hòa hợp đọa vào cộng kiến, hoặc chấp tâm và cảnh lẫn lộn thành pháp năng sở, hoặc chấp sự phân biệt chơn tục bị buộc nơi ngu xuẩn của tri chướng.
– Hoặc giữ “nhất như bất biến” lọt vào thường kiến, hoặc thấy tứ tướng dời đổi chìm vào đoạn kiến, hoặc chấp vô tu lìa bỏ Thánh vị, hoặc nói có chứng trái ngược thiên chơn, hoặc đam mê y báo, chánh báo, theo thế tục luân hồi ; hoặc chán sanh tử, lạc mất chơn giải thoát ; hoặc mê chấp chơn không, sùng nhân trước quả ; hoặc mê muội thực tế, ham Phật ghét ma, hoặc chấp thuyết phương tiện tùy nghi, cho lời Phật Tổ là chơn.
– Hoặc bỏ mất thật tướng âm thanh, muốn lìa ngôn ngữ cầu nơi nín lặng; hoặc tuân theo giáo thừa, phá hoại định thể của tự tánh ; hoặc hoằng thiền quán, bài xích lời giải thích của kinh liễu nghĩa ; hoặc vì tranh đoạt danh lợi, đặt ra lời kỳ lạ, bị chìm vào biển ý thức ; hoặc muốn tịnh khiết tìm cầu huyền bí lại đọa vào thành Ngũ ấm ; hoặc khởi tri giải thù thắng, móc thịt đắp ghẻ ; hoặc trụ nơi bản tánh trong sạch mà chấp thuốc thành bệnh ; hoặc theo văn tìm nghĩa, thích ăn đàm dãi của người khác.
– Hoặc cố giữ thanh nhàn, ngồi nơi pháp trần; hoặc sanh tâm có sở đắc để bàn luận Đại thừa vô tướng ; hoặc dùng tư tưởng suy lường để tìm huyền chỉ bên ngoài vật ; hoặc phế bỏ ngôn thuyết sanh kiến giải tịnh khẩu ; hoặc chấp sự giải thích kỹ càng cho ngón tay là mặt trăng ; hoặc nhận lầm sự dụng làm nguồn gốc của sanh diệt ; hoặc chuyên ghi nhớ, trụ trong thức tưởng ; hoặc hay sắp đặt, đánh mất bản tánh của viên giác ; hoặc phóng túng đi lầm cửa đạo, hoặc muốn thân tâm tinh tấn kẹt nơi hữu vi.
– Hoặc chấp chơn tánh vô vật, bị trói nơi trí huệ ; hoặc siêng tu niệm, đánh nơi chánh thọ (chánhđịnh) ; hoặc bắt chước “tự tại vô ngại” bỏ sự tu hành ; hoặc ỷ “Bản tánh vốn không”, tùy thuận tập khí ; hoặc chấp “thật có ràng buộc” nên muốn dứt trừ.
– Đối với phật pháp, kẻ quý trọng thì sanh trưởng pháp ái, kẻ khinh mạn thì hủy hoại nhân Phật ; hoặc cầu tiến mà trái với bản tâm ; hoặc lui sụt trở thành buông lung ; hoặc thể và dụng khác nhau, trái với phật thừa ; hoặc trầm không trệ tịch, làm mất bản tánh của đại bi ; hoặc bặt duyên chán giả, vi phạm pháp môn sẵn đủ ; hoặc mê muội chơn ngã vốn không, mà chấp ngã kiến ; hoặc cố chấp phật pháp, mê lầm hiện lượng (pháp ngã vốn không) ; hoặc có giải chẳng có tín, mống lên tà kiến ; hoặc có tín chẳng có giải, sanh trưởng vô minh.
– Hoặc cho người đúng pháp sai ; hoặc cho cảnh sâu trí cạn ; hoặc chấp lấy nên mê pháp tánh ; hoặc xả bỏ thành trái chơn như ; hoặc chấp tánh lìa nên nghịch với nhân ; hoặc chấp thường trụ nên trái với quả ; hoặc chấp cái sai phỉ báng cái thật ; hoặc chấp cái đúng phá hoại sự tùy nghi ; hoặc chán vô minh, xa trái bất động trí môn ; hoặc ghét vọng cảnh, tổn thương pháp tánh tam muội ; hoặc chấp cái lý đồng, hành tăng thường mạn ; hoặc bác cái tướng dị, hoại cửa phương tiện.
– Hoặc chấp Bồ Đề là thật, phỉ báng chánh pháp luân ; hoặc chấp chúng sanh là giả ; hủy hoại chơn Phật thể ; hoặc chấp thật trí mà bỏ quyền trí ; hoặc chấp sự tùy cơ giáo hóa mà mê muội chánh tông ; hoặc kẹt trên lý, lọt vô hầm vô vi ; hoặc chấp nơi sự, nhảy vào lưới hư huyễn ; hoặc xóa bỏ dấu tích đối đãi, trái ngược với sự song chiếu (thể và dụng đi đôi) ; hoặc chấp nơi trung đạo, làm mất bản ý phương tiện ; hoặc có định mà chẳng huệ, làm mầm đạo bị cháy ; hoặc cố chấp hạnh nguyện, thành chốn vùi giống Phật ; hoặc tu hạnh vô tác mà trở thành bồ đề hữu vi ; hoặc chấp cái tâm vô trước nên thành bát nhã tương tự (chẳng phải bát nhã chân thật) ; hoặc ham tướng tịnh mà thành cáu bẩn của thật  tánh ; hoặc trụ nơi chánh vị (ngôi pháp) làm mất cái tự tánh vốn Không ; hoặc kiến lập thiền quán vô tướng làm chướng ngại chơn như.
– Hoặc sanh khởi tâm liễu tri, thành phản bội pháp tánh ; hoặc chấp chơn thuyên (lời giải thích kỹ càng) sanh ngữ kiến (tà kiến chấp ngôn ngữ), như uống cam lồ mà chết sớm ; hoặc ôm chí lý tròn đầy, khởi tâm chấp trước, như uống đề hồ mà trúng độc vậy.
Một trăm hai mươi thứ tà tông kiến giải kể trên, đều là mê trái tông chỉ, lầm mất bản chơn, cũng như dụi mắt nên thấy hoa đóm trên không ; leo cây để tìm cá. Mùi đắng chẳng làm được giống ngọt ; đất cát đâu thể nấu thành cơm ! Ấy đều vì chẳng biết Pháp tánh dung thông, nên mê lầm lời phương tiện của chư Phật, Chư Tổ, chìm nơi kiến chấp, tự chướng bản tâm, chẳng nhập Trung đạo, bò lết trên đường thăng trầm, ràng buột trong lòng thủ xả, nơi vô tâm mà muốn đoạn trừ, nơi vô sự mà muốn lìa bỏ, lấy pháp không làm thành cảnh si ái, đem chơn trí lập thành tư tưởng chướng ngại, luôn luôn theo đuổi bát phong, khó ra khỏi lưới chấp trước. thật chẳng biết cái lý sanh tử âm thầm khế hợp với đạo, vọng vốn là bồ đề, xưa nay dung thông giác tánh, sáng thường trụ nơi tối, nước chẳng lìa băng, diệu dụng vô tận linh trí thường tồn.
Sao lại dứt niệm tưởng để cầu tịch lặng diệt phiền não để chứng chơn như ? Vọng tu vọng tập, tự khó tự dễ mà không biết bản tánh viên giác vốn chẳng bí mật, kho tàng Như Lai thật chẳng che giấu !
Nên biết, lý của viên thường chẳng thiếu, chỉ vì lòng tín giải khôgn đủ, cũng như thấy Bồ Tát đứng trên mũi kim, thấy chỉ mành treo núi Tu Di, chỉ biết tán thán hy hữu kỳ lạ mà chẳng biết tại sao ! Như trong kinh Pháp Hoa, con đi xin ăn mà chẳng biết cha (tự tánh) là triệu phú, chẳng dám thừa kế gia tài của mình, suốt ngày tìm cầu bên ngoài mà chẳng tự tỉnh ngộ, bỏ vàng lượm sỏi, cam chịu nghèo khổ.Cho nên, chư Phật thương tiếc, chư Tổ xót xa, đều nói chúng sanh chẳng chịu đi thẳng đến chổ thực tế, lạc mất bản tâm, chỉ theo vọng thức thăng trầm đuổi theo cảnh trần so đo chấp trước, chẳng biết muôn pháp vô thể, tất cả vô danh, tùy ý hiện hình, theo ngôn lập hiệu, ý tùy tưởng sanh, ngôn theo niệm khởi, kỳ thật, tưởng và niệm đều không, gốc ngọn phi hữu. Cho nên, tam giới vô vật, vạn hữu trống rỗng, tà chánh đồng nhau, thiện ác không khác. Chúng sanh vì ôm chặt tư tưởng chấp thật, bỏ hết đại nghĩa của Phật pháp, chẳng trở về được tự tánh, lại ở nơi vô tâm mà phân chia đồng dị, ở trong nhất thể và vọng lập ly hợp, vừa lập mình và người thì liền sanh sự thuận nghịch, dấy lên đầu mối đấu tranh, kết thành nghiệp quả mê hoặc, dệt thành lưới thị phi, tạo thành cái lòng của yêu ghét, nhìn bóng tượng trong gương phân biệt xấu đẹp, nghe tiếng dội trong hang mống khởi buồn vui, trách hạnh kiểm của người huyễn hóa, mà chẳng biết năng sở song tịch, lý sự đều không. Đã tạo cái nhân mê hoặc thì phải chịu cái quả huyễn hóa.
Muốn rõ diệu lý nên truy cứu tự tâm, một niệm chứng ngộ liên tiêu hàng sa ác nghiệp, một đèn đốt lên liên phá ngàn năm đen tối, muôn cảnh đối diện mà chẳng lập danh tướng, mê ngộ chẳng còn, trạm nhiên trong sạch, thân tâm thấy nghe tùy duyên dưỡng tánh, phóng khoáng tung hoành,tiêu dao tự tại, sự tiếp xúc hằng ngày đều là giải thoát bất tư nghì, cũng là Đạo tràng đại tịch diệtNay khuyên các vị hậu hiền nên đi theo đường lối này, dẫu cho nghe mà chẳng tin, cũng được gieo trồng giống Phật ; dẫu cho học mà chưa thành cũng được phước báo trời người, huống là chứng quả thành Phật, chẳng có gì bằng !

Những lời trên đây đều có ghi đủ trong kinh điển của Phật, chẳng phải khi không mà đặt ra,xin học giả hãy tự xem xét kỹ !

PHẬT TÂM Một Hợp Tuyển Những Tác Phẩm của Longchen Rabjam về Đại Toàn

PHẬT TÂM
Một Hợp Tuyển Những Tác Phẩm của Longchen Rabjam về Đại Toàn Thiện
Nguyên tác: BUDDHA MIND
An Anthology of Longchen Rabjam’s Writings on Dzogpa Chenpo
Tulku Thondup Rinpoche – Snow Lion, 1989
Việt Dịch: Đương Đạo – Nhà xuất bản Thiện Tri Thức, 2000

THIỀN ĐỊNH (CON ĐƯỜNG)

  1. Thiền định về Ý Nghĩa của cái Thấy
Về thiền định, sau khi đã thấu hiểu cái thấy thoát khỏi những cực đoan nhị biên, người ta tham thiền về cái thấy để tịnh hóa những phiền não nhiễm ô và để hoàn thiện những con đường và những giai đoạn hầu tiến đến mục đích tối thượng. Longchenpa tổng kết thiền định trong ba phạm trù của sự tiếp cận với thiền định đối với ba cấp độ của hành giả trong chương thứ mười một của Shingta Chenpo.
THIỀN ĐỊNH SAU KHI ĐÃ XÁC QUYẾT CÁI THẤY
Sau khi đã xác quyết rõ ràng cái thấy (tri kiến), cần thiết phải tham thiền trong trạng thái thiền định. Nếu không người ta sẽ không hoàn thành giải thoát khỏi đám đông những nhiễm ô phiền não và sẽ không có thể hoàn thiện những giai đoạn và những con đường. Thế nên chắc chắn người ta cần thực hành thiền định. Thiền định là tham thiền trong trạng thái tự nhiên, nó tự nhiên như hư không, bằng phương tiện là sự tự do thoát khỏi những ý niệm, nghi ngờ và mong cầu….
Trước hết, người ta cần học hỏi, rồi tư duy và sau đó người ta cần đi vào thực hành về nó, vì cần thiết phải phát sanh nghĩa cốt yếu trong chính mình.
NHỮNG THIỀN ĐỊNH CHO NHỮNG CẤP ĐỘ 
KHÁC NHAU CỦA TRÍ NĂNG
Thiền định cho Người Trí Năng Cao
(i) Người có trí năng cao nhất đạt giải thoát nơi chứng ngộ. Người phước đức có trí năng cao nhất, họ đã tích tập công đức trong quá khứ, đạt giải thoát chỉ bằng chứng ngộ trạng thái tự nhiên của Tâm, nghĩa như hư không, siêu việt khỏi thiền định và không thiền định, nhờ vào những trường hợp (của những những ban phước) của Lama. Họ an trụ tự nhiên trong trạng thái yoga của dòng Tâm luôn luôn trong mọi lúc, không cần đến thiền định với cố gắng.
(ii) Với người chứng ngộ hoàn toàn, không có thiền định nào để thực hành. Khi một người đạt trạng thái chứng ngộ hoàn toàn (Klong-Gyur)…. bởi vì nó đã giải thoát khỏi luyến chấp vào (ý niệm) hiện hữu có thật, bấy giờ sẽ không có những cái dùng để đối trị nào để thiền định. Thế nên trạng thái chứng ngộ là không-có-thiền-định. Đã an trụ trong sự tương tục vắng mặt luyến chấp vào hiện hữu có thật, nó là trò chơi nhậm vận của vô trụ không kẽ hở, siêu việt những chiều kích, phương diện, và nó là sự thọ hưởng cõi Phật của Phổ Hiền vốn tự giải thoát…. Trong cái ấy không có những dấu hiệu và cấp độ, vì không có những loại thiền định hữu tướng…. Trong đó không có chỗ cho lầm lạc, vì nó không đi đâu cả. Không có những che ám của người canh chừng vì nó không được canh chừng….
Sự xảy ra những che ám và sai lầm : khi thiền giả canh chừng Tâm, nó vốn không thể tri giác được bằng sự canh chừng, thì sự canh chừng tự trở thành che ám. Tiến đến (nơi không có) có chỗ để đi đến thì tự nó trở thành sai lầm…. Trước hết đã có sự xác tín rằng Tâm mình tự nhiên là chân Phật từ vô thủy, sau đó người ta chứng ngộ rằng không cần ước mong Phật quả từ nguồn gốc nào khác. Ngay lúc ấy, người ta an trụ trong Phật quả.
(iii) Với người trí năng bình thường và thấp kém, cần phải thiền định. Đối với người trí năng bình thường và thấp, cần thiết phải thiền định với sự chuyên cần lớn lao, bởi vì họ chưa giải thoát khỏi sự nắm bắt bản ngã, nguyên nhân của sanh tử. Sự phân biệt giữa thiền định và không thiền định là theo sự việc (cái ý niệm) người nắm bắt và cái được nắm bắt (chủ thể và đối tượng) trong tâm đã tiêu tan hay chưa.
(iv) Sự đúng đắn của hành thiền. Bao giờ những sanh khởi (trong tâm mình) không là tự-khởi lên và tự-giải thoát, thì mọi tư tưởng chỉ là những ý niệm bình thường tạo ra sanh tử và dẫn đến những cõi thấp…. Bằng cách thiền định để làm bình lặng những ý niệm này, chắc chắn trí huệ, tức là sự giải thoát của những hiện tượng, sẽ sanh ra.
(v) Cần hợp nhất an định và quán chiếu. An định (Chỉ) hàng phục nhiễm ô phiền não, quán chiếu (Quán) nhổ gốc nhiễm ô phiền não….
Có hai phương diện của an định và quán chiếu, (sự đồng đẳng và những bản sắc tách biệt của an định và quán chiếu). Về đồng đẳng : Phương diện an trụ là an định và phương diện sáng tỏ là quán chiếu. Sự hợp nhất của an định và quán chiếu, sự chứng ngộ sáng tỏ và tánh Không thoát khỏi những biên kiến, giải thoát người ta khỏi sanh tử….
Về tách biệt : theo ngữ nguyên, tâm tập trung vào ý nghĩa của cái đã học được là an định và sự chứng ngộ ý nghĩa là quán chiếu. Theo ý nghĩa, có thể qua thiền định tập trung nhất tâm vào lúc ban đầu là an định và rồi thấu hiểu vô tự tánh là quán chiếu.
(vi) Lý do (tại sao thiền định là cần thiết). Đối với người trí năng cao, cũng như trên một đảo bằng vàng, dầu cho bạn có tìm kiếm, bạn sẽ không tìm ra đất hay đá, bất cứ cái gì sanh khởi đều được giải thoát trong bản tánh tối hậu. Thế nên những cái đối trị được tịnh hóa ở trong cảnh giới tối hậu (dByings), và không cần thiết những thời kỳ tham thiền nữa….
Đối với người trí năng bình thường : sau khi đã thấu hiểu cái thấy, bằng cách tham thiền mà không có sự chuyển động, trong trạng thái không sanh khởi thoát khỏi hôn trầm và trạo cử, như một ao nước không dơ bẩn, người ta hợp nhất an định và quán chiếu, tức định và huệ, và làm tan biến những ý niệm vào cảnh giới tối hậu, và sự ‘chứng ngộ như hư không’ xảy ra….
Đối với người trí năng kém, người ta cần thiền định và thuần hóa cái tâm hoang dã như khỉ vượn, nó không chịu ở yên dù chốc lát, bằng an định nhất tâm. Khi người ta có thể tập trung được, bấy giờ bằng thiền định, như cái đối trị, trên sự quán chiếu phân biệt chẳng hạn về tánh Không, vô tự tánh của hiện tượng, và bằng cách thiền quán rằng tất cả hình tướng là huyễn, người ta chứng ngộ nghĩa của sự không sanh khởi.
ĐƯỜNG LỐI THAM THIỀN CHO NGƯỜI TRÍ NĂNG BÌNH THƯỜNG
Phương pháp Thiền định
(i) Lời khuyên tham thiền về vô niệm. Khi có những sóng mạnh trong nước thì không có những phản chiếu, dù nước có tiềm năng phản chiếu. Cũng thế, tâm tự nhiên có những phẩm tính như thần thông, nhưng bởi vì tốc độ của những con sóng của tư tưởng lan man, những phẩm tính không biểu lộ. Thế nên quan trọng là tham thiền nhất tâm…. Nếu bạn tham thiền, bấy giờ những con sóng quấy nhiễu của những ý niệm sẽ biến mất và ánh sáng của ngọn đèn Tâm sáng ngời sẽ tự nhiên chiếu rọi. Thế nên hãy tham thiền mà không quấy nhiễu nước tâm.
(ii) Những tư thế của thân và cách tham thiền. Người ta cần tham thiền trong ba trạng thái thoát khỏi những cực đoan….
(a) Để cho một thân thể bất động, có tư thế bảy điểm của thân : chân xếp tréo, tay trong cử chỉ tham thiền, xương sống thẳng, lưỡi chạm vòm miệng trên, thở chậm, mắt nhìn (ngang tầm) đầu mũi và cổ hơi cong.
(b) Để cho những khả năng giác quan bất động : mắt không chuyển động và không làm ngừng những khả năng giác quan của tai, mũi, lưỡi, thân, và tâm. Dầu gặp sắc, thanh, hương, vị, xúc và tư tưởng nào, chớ đóng chặt cửa cũng không theo nó. Nếu những khả năng giác quan này bị đóng chặn, bấy giờ ngũ nhãn, như thiên nhãn và lục thông của tâm, chúng là những công đức của phương diện đã thanh tịnh của những khả năng giác quan, sẽ không đạt được. Nếu chạy theo những tư tưởng, chuỗi xích liên tục của những tư tưởng sẽ không ngừng và người ta vẫn không khác gì một người bình thường. Bởi thế, người ta tham thiền trong cái hồ bất động của những khả năng giác quan với sự khởi lên không ngừng của nhiều đối tượng xuất hiện, như những phản chiếu của những ngôi sao. Nếu những đối tượng khác nhau không bị những tư tưởng nắm bắt, bấy giờ những đối tượng xuất hiện không chỉ không làm hại sự tham thiền, mà những phẩm tính của chúng sẽ sinh khởi. Đó gọi là “trí huệ bổn nguyên vô niệm”, vì những hình sắc xuất hiện nhưng không có những ý niệm. Nếu không có sự xuất hiện của những hình sắc, bấy giờ không có trí năng để thấy chúng, và bấy giờ không có vấn đề có tư tưởng hay không có tư tưởng, và cũng không có “trí huệ bổn nguyên vô niệm”. Bởi thế, khi những đối tượng xuất hiện với những giác quan, bằng cách ở trong vô niệm, vị thầy (Lama) đã có trí huệ phân biệt sẽ trực tiếp đạt được sự dứt diệt những tư tưởng đến và đi, và điều này được gọi là “sự dứt diệt của hơi thở.” Dù cho hơi thở qua miệng và mũi có tiếp tục, những tư tưởng sẽ không dao động. Sự chấm dứt việc ý niệm hóa được xem là cái chết của những tư tưởng. Khi không có việc ý niệm hóa, không cần thiền định như là một đối trị của nó và không cần trí huệ, tức là thiền giả nữ của sự tự do thoát khỏi những ý niệm hóa, nó là cái đối trị của việc ý niệm hóa….
Khi người ta hoàn thiện điểm cốt yếu này (của việc dừng dứt hơi thở), đó gọi là (trạng thái của) sáu thức tự nhiên hay không tạo tác. Bởi vì những đối tượng xuất hiện với những giác quan, mà những giác quan không tạo ra ý niệm về những đối tượng, và dù cho “những giác quan rơi vào trong những đối tượng” hay những đối tượng trở nên trong sáng (trong những giác quan), thì không chỉ những giác quan không làm hại tham thiền, cái nhìn thấy sáng suốt, mà chúng còn giúp tham thiền tiến bộ….
(c) Để cho một tâm bất động : sự tham thiền trong sự tự do với những cực đoan xảy ra tự nhiên khi thân thể và những khả năng giác quan bất động. Nó là sự tham thiền không chuyển động khỏi trạng thái tâm trong trẻo và sáng ngời thoát khỏi mọi phóng chiếu và thu hồi….
Vào lúc đó, nếu bạn bị phóng dật vì những ý niệm về những đối tượng bên ngoài có chất thể xuất hiện và về những cái không chất thể của tâm bên trong, bấy giờ mọi sự ràng buộc được tạo ra làm che ám Phật tánh, Tâm vốn tròn đủ. Thế nên người ta phải không có sự nắm bắt và luyến bám dù nhỏ nhất vào sanh tử và niết bàn như là xấu hay tốt, và thậm chí vào sự tham thiền. Như thế, không có những ý niệm về chất thể hay không chất thể, không có những tư tưởng về bất cứ sự vật nào khác. Vào lúc đó, tất cả những chuyển động của tư tưởng tan biến vào Tâm, cái nền tảng. Bấy giờ khi tâm trở nên bất biến và vững chắc, người ta đạt giải thoát khỏi sinh tử và sẽ không có luyến chấp vào ta và người và sự nắm bắt nhị nguyên. Đó là sự đạt được Thân Tối Hậu (Pháp thân) tuyệt hảo, siêu vượt khỏi những tạo tác, ý niệm và diễn tả.
(iii) Cách khai triển những đức hạnh. Khi tham thiền (theo cách như vậy), mọi sự ý niệm hóa sẽ được giải thoát…. Bấy giờ vì những ý niệm được thăng hoa vào bản tánh tối hậu và mọi tư tưởng được tan biến vào cảnh giới tối hậu, Đại Toàn Thiện quang minh hiển lộ ra, nó là sự chứng ngộ một vị như là Pháp thân, siêu vượt mọi dấu hiệu, ý nghĩa của lạc, sáng tỏ và vô niệm cùng với những kinh nghiệm về chúng.
(iv) Chứng ngộ bản tánh tối hậu. Vào lúc trí huệ bổn nguyên vốn sẵn khởi hiện trong tâm thiền giả, ….nó thấy một cách toàn triệt tánh không thể phân chia của tánh Không và những hình tướng như tám ví dụ về huyễn, và bản tánh tối hậu của mọi hiện tượng, tức là bản tánh vô sanh…. Tâm hiển lộ như trò chơi phô diễn của tính bất nhị của sanh tử và niết bàn, trí huệ bổn nguyên siêu việt có và không, và sự bất biến của Sáng Tỏ…. Vào lúc đó, trí huệ bổn nguyên thì bất nhị với những đối tượng được biết và trí năng hiểu biết khởi hiện trong trạng thái bình đẳng nhất như.
(v) Nó là nguyên nhân trực tiếp của trí huệ bổn nguyên của những bậc cao cả. Sau tiến bộ vô biên trong những kinh nghiệm về trí huệ bổn nguyên của sự không ý niệm hóa, như là kết quả của những hành động, những chứng đắc cao như Con Đường Quán Thấy (Kiến Đạo vị) sẽ tự nhiên thành tựu.
Phương Pháp Tham Thiền
(i) Tham thiền trong sự không dao động và không ý niệm hóa. Trong Tâm như hư không, bằng cách để cho những tư tưởng của những biến cố tâm thức ở yên tự nhiên, chúng tan biến như mây biến mất (trong bầu trời). Người ta cần tham thiền trong trạng thái của cái thấy này, bản tánh của bầu trời, mà không dao động.
(ii) Tham thiền trong sự trong trẻo và sáng tỏ không có những ô nhiễm. Hãy tham thiền với sự sáng tỏ trong trạng thái không bị làm bẩn bởi những ý niệm về người nắm bắt và cái được nắm bắt và trong sự sáng tỏ không hôn trầm và trong an tĩnh không trạo cử, như một đại dương bình an, nó trụ trong chính nó.
(iii) Tham thiền không thiên chấp, như hư không. Hãy tham thiền trong trạng thái của Tâm, nó là tánh Không xưa nay như hư không, không có những phóng chiếu và thu hồi của những tư tưởng.
(iv) Tham thiền một cách tự nhiên và không gắng sức. Hãy tham thiền về tâm trong trạng thái không biến đổi như núi Tu Di, không có ý niệm ngăn chận hay bảo vệ và mong cầu hay nghi ngờ nào.
(v) Tham thiền về những đối tượng của những xuất hiện không dứt. Trong trạng thái thanh tịnh và sáng tỏ của tâm, hãy tham thiền về những đối tượng của những hình tướng xuất hiện trước các giác quan, sống động mà không có những ý niệm nắm bắt hay dao động.
(vi) Tham thiền trong sự sáng tỏ và thanh tịnh vốn giải thoát. Hãy tham thiền trong sự sáng tỏ và thanh tịnh sống động mà không hôn trầm hay trạo cử…. Tham thiền như thế, người ta sẽ chứng ngộ những hình tướng là tánh Không, như những ánh sáng cầu vồng.
(vii) Tham thiền nhất tâm như một người bắn cung. Hãy tham thiền về tâm trong trạng thái của bản tánh tối hậu, trần truồng và thẳng tắp, không dao động, như nhắm thẳng một mũi tên.
(viii) Tham thiền trong sự không gắng sức và tự nhiên. (Trước tiên) có sự thâm tín Pháp thân thường trụ nơi địa vị của nó bằng cách tham thiền tâm một cách tự nhiên, sau đó hãy tham thiền bằng cách buông xả trong trạng thái tự do khỏi những mong cầu và nghi ngờ…. Không cần sự gom tụ rất sống động, mà buông xả ba cửa tự nhiên và đơn giản an trụ, không có lang thang. Dầu cho (tâm) phóng dật tự do, nhưng bởi vì nó đã rơi vào trạng thái bình thường, hãy tham thiền một cách tự nhiên trong tâm bình thường (Tha-Mal-Gyi Shes-Pa) mà không dao động.
(ix) Kết luận về tám cách tham thiền. (Trong những cách tham thiền trên) không có cái được nắm bắt và người nắm bắt, thế nên chúng là những tham thiền thanh tịnh một cách tự nhiên. Chúng là sự hợp nhất giữa an định và quán chiếu, định và huệ. Dù cho có nói rằng phương diện an trụ trong “cái đang là” của chúng là an định và phương diện sáng tỏ của chúng là quán chiếu, (thực sự) chúng không phân chia, và được gọi là hợp nhất. Ở điểm này, không có những phân biệt về phương diện nào, ý niệm về an định lắng mất và quán chiếu cũng không còn được quan niệm như quán chiếu. Đó là sự hợp nhất bất phân và vốn sẵn đủ.
Sự Tiến Bộ Trên Con Đường trong Bảy Phương Diện
(i) Đường lối thấy (cái) không thể diễn tả nhờ tám tham thiền. Sự giải thích về tiến bộ trên con đường qua bốn cấp độ của trí huệ bổn nguyên như là kết quả của tham thiền…. Đã làm yên lặng những thâm nhập của trí thức vào trạng thái của Tâm vốn siêu vượt khỏi những tư tưởng và diễn tả, sự hiện khởi trong lần đầu trí huệ bổn nguyên trong sáng, chiếu rạng và không biến đổi là (1) “trí huệ bổn nguyên biểu lộ” (Con đường của những Tích Tập). Nó là sự hoàn thiện của trí huệ bổn nguyên quang minh.
(ii) Những dấu hiệu đạt đến con đường giải thoát. Đã chứng biết, (1) “trí huệ bổn nguyên quang minh biểu lộ”, người ta nhận biết Tâm, trí huệ vốn sẵn đủ. Do đã đi vào con đường giải thoát, hạt giống giác ngộ đã được gieo (trong chính mình)…. Khi một người nhận ra Tâm, “trí huệ bổn nguyên quang minh nền tảng” (A’od-gSal gZhi’i Ye-Shes), những tư tưởng ngoại sanh tức thời được giải thoát và ánh sáng rực rỡ con và mẹ được kết hợp. Bởi vì mọi hoạt động đã trở thành thuần chỉ đức hạnh, nó thoát khỏi bám chấp vào những hiện tượng, năm đối tượng bên ngoài và sự hồi ức bên trong và ý thức phủ định và xác định. Qua trạng thái của tâm tự sáng và trống không, nó hưởng thụ những đức hạnh của lòng bi khai triển đến tất cả chúng sanh không phân biệt xa gần và cỡ loại. Nó cũng gây cảm hứng cho những người khác (dấn thân vào những hoạt động) công đức. Nó từ bỏ xao lãng phóng dật và tiêu khiển, hưởng thụ cô đơn trong rừng núi. Dù trong những giấc mộng, chỉ có những tư tưởng thanh tịnh và đức hạnh. Bởi vì thân, khẩu, tâm đã được tu hành cao, nó khai triển những phẩm tính của “Con đường Tích Tập” và thấy nhiều thị kiến ánh sáng trong thất thiền.
(iii) Trí huệ bổn nguyên của tiến bộ. Khi người ta đã tiến bộ lớn lao trong những kinh nghiệm nhờ sự thiền định ở trước, và những che ám với tâm sáng tỏ và trống không đã được giảm trừ, bấy giờ trí huệ, tham thiền và những kinh nghiệm trở nên mãnh liệt. Những hình tướng bên ngoài sẽ tự nhiên được thấy như mộng, như huyễn. Sự chứng nghiệm (thấy) những hiện tượng khác nhau đều có cùng một vị sẽ khởi lên và an trụ trong trạng thái như hư không. Đó là (2) “trí huệ bổn nguyên của tiến bộ” (Con đường của Áp dụng).
(iv) Những dấu hiệu đạt đến hơi nóng (nỗn địa). (Vào lúc đó), khi sự chứng nghiệm thành trong trắng phi thường, người ta đạt được những dấu hiệu mềm dẻo phi thường của thân và tâm. Trụ suốt ngày và đêm trong tham thiền hợp nhất phi thường, người ta không thể lìa khỏi nó. Vì lòng bi người ta hành động cho lợi lạc của chúng sanh và khai triển sự chán sợ đặc biệt và sự ngoi lên quyết liệt khỏi sanh tử. Thậm chí trong giấc mộng, người ta thấy những hiện tượng là mộng và huyễn…. Sẽ không còn sâu trùng hay sán lãi và trứng của chúng trong thân. Những cái này là những đạt được những dấu hiệu của “Con đường Áp dụng” và người ta sớm đến “Con đường Thấy.”
(v) Trí huệ bổn nguyên cao cả được chứng ngộ. Trước hết đã thấy Tâm, trí huệ bổn nguyên quang minh và bất nhiễm, người ta đạt được cái gọi là (3) “trí huệ bổn nguyên được chứng ngộ”. (Vào lúc đó,) khí trăm cánh hoa ở trong luân xa trái tim sẽ được tịnh hóa. Trí huệ của tinh túy trong sáng trở nên sáng rỡ cao độ, và bằng cách cũng làm tỏa sáng những luân xa khác, 1200 khí và tâm đức hạnh sẽ được làm vững chắc và 1200 khí phiền não sẽ dừng dứt. Bấy giờ (như một kết quả) theo những tantra, những tịnh độ vốn hiện diện xuất hiện trong tinh túy bên trong (Nang Gi Khams) (của người ta). Theo kinh, những tịnh độ bên ngoài, như khuôn mặt của hàng trăm vị Phật xuất hiện (trước nó). Người ta sẽ thành tựu một số lượng rất nhiều loại nhãn và các thông thanh tịnh và không che ám hơn là các nhãn và các thông của người bình thường đầy che ám và giới hạn. Người ta đã giải thoát khỏi những nhiễm ô phiền não của vọng tưởng, “những đối tượng cần đoạn trừ của Con đường Thấy”, và đã thể hiện trí huệ bổn nguyên, cái nhìn thấy (thị kiến) quang minh.
(vi) Bằng cách tu hành theo cái đã chứng ngộ, trí huệ bổn nguyên hiện khởi. Tu hành theo cái đã được thấy (trong con đường thấy) là “con đường thiền định”. Người ta đạt được những trình tự thấp, trung và cao của con đường này, và trong mỗi giai đoạn người ta thành tựu những đức hạnh đã nói ở trước lên gấp nhiều lần và hành động cho lợi lạc của chúng sanh. Từ sự chứng đắc giai đoạn thứ nhất (sơ địa) qua đến giai đoạn thứ bảy (thất địa), sẽ còn những ý niệm trong những lúc ngoài thiền định và những khác biệt giữa thiền định và ngoài thiền định. Trong ba giai đoạn thanh tịnh (địa thứ tám đến thứ mười), vì không có những tư tưởng trực tiếp (mNgon-Gyur), lúc đó có sự hợp nhất (của thiền định và ngoài thiền định), và ở đây mọi sự là một vị trong trí huệ bổn nguyên tối sơ.
(vii) Hoàn thiện trọn vẹn, sự thành tựu con đường cao cả. Trí huệ bổn nguyên của “con đường thiền định” được gọi là “trí huệ bổn nguyên được chứng ngộ trọn vẹn”. Đã thiền định về tám con đường cao cả, người ta đã tịnh hóa những nhiễm ô của chín giai đoạn (của con đường thiền định). Tổng quát, những đức hạnh của con đường và những giai đoạn (địa) xuất hiện bằng cách dựa trên những kinh mạch, khí và tinh chất (hạt). Những tích tập công đức và trí huệ bổn nguyên được phát sanh qua những hoàn thiện (về những kinh mạch, khí và tinh chất) và qua những nỗ lực tu hành hoàn thiện chúng.
(Con Đường Cho) Người Trí Năng Kém
(i) Những giai đoạn của thiền định
(a) AN ĐỊNH (Zhi-gNas)
(1) THUẦN HÓA NHỮNG TƯ TƯỞNG
Trước hết vấn đề là làm sao tìm thấy sự an định…. Người ta cần tham thiền ở một nơi không có những gai góc (quấy nhiễu) cho tham thiền, như mối nguy hiểm từ con người, những tiêu khiển và tiếng ồn, một nơi tâm tự nhiên có thể buông xả. Hãy ngồi trên một chỗ ngồi tiện nghi trong tư thế tréo chân, bàn tay phủ lên đầu gối và quán tưởng ba kinh mạch. Khi thở ra, nghĩ rằng người ta thở ra qua kinh mạch Roma màu trắng bên phải và rồi qua lỗ mũi phải, và tất cả bệnh tật, chướng ngại và che ám bất thiện được tẩy sạch như khói qua một ống khói lò sưởi. Khi thở vào, nghĩ rằng những thu hút chư Phật trong hình thức ánh sáng đi vào qua lỗ mũi trái, kinh mạch Kyangma màu đỏ bên trái và rồi đi vào kinh mạch trung ương. Trong một chốc, giữ hơi thở ngay dưới rốn (bằng cách ép hơi thở một chút) vừa cả đi xuống và đi lên. Rồi chầm chậm thở ra như trước, nhưng giữ lại một ít. Trong ba tháng mùa xuân, không khí là không khí thuộc đất, và đó là thời gian đờm dãi phát triển. Thế nên, như đối trị của nó, người ta cần quán tưởng nó là không khí của không khí có màu lục. Ba tháng hè, để xua tan hơi nóng của lửa, hãy quán tưởng nó là không khí của nước màu trắng. Ba tháng mùa thu, để loại trừ những chuyển động của mật, hãy quán tưởng nó là không khí của đất có màu vàng. Trong ba tháng mùa đông, như đối trị cái lạnh của nước, hãy quán tưởng nó là không khí-lửa có màu đỏ. Về hình thể của không khí, hãy quán tưởng tinh túy của tâm và khí trong hình cái cung, tam giác, vòng tròn, hình vuông trong trái tim. (Quán tưởng chúng) như có cùng cảm nhận. Về số hơi thở, đếm lên đến bảy chu kỳ trong tâm. Một người mới học cần quán tưởng khí trong hình thể hình vuông v.v…. và khi nó phát ra qua hai lỗ mũi, nó dần dần lớn cho đến mức trở thành kích cỡ của ba ngàn thế giới…. Người ta cần tham thiền về nó với một tâm không dao động. Khi những đại bị đầy nghẽn, cần vượt qua bằng cách nói mạnh một chữ Ha ! mà không giữ hơi thở nào. Khi phúc lạc và sùng mộ v.v…. khởi lên, người ta nên giữ hơi thở (một chốc lát). Bằng cách thực hành hơi thở trong vài ngày đêm, sự an định của tâm trong sáng và rạng rỡ không có ý niệm sẽ hiện khởi. Vào lúc đó, vì không có không khí thô và những tư tưởng, mặt trăng trắng và mặt trời đỏ, tinh chất của hai kinh mạch Roma và Kyangma, sẽ trở nên vững chắc ổn định. Trong đó sẽ không có ngay cả một chuyển động vi tế của không khí, bởi vì người ta ở yên trong trạng thái không tư tưởng (vô niệm) trong kinh mạch trung ương và nhờ đó chứng ngộ trí huệ bổn nguyên vốn sẵn.
(2) TẬP TRUNG NHẤT TÂM
Sau khi thải bỏ những tư tưởng thô, ….người ta cần tu hành bốn trạng thái vô biên của tâm (bốn vô lượng tâm) và hai tâm của giác ngộ (Bồ đề tâm), chúng là những nguyện vọng và thực hành. Bồ tát hạnh nói : “Đã làm an những tư tưởng, hãy thiền định về Bồ đề tâm.” Hoặc tập trung vào giai đoạn phát triển hay vào (những đối tượng như) những khối và hình vẽ những thần bổn tôn. Kinh Samadhiraja nói : “Trên màu của vàng của hình ảnh trang nghiêm thế giới, bất cứ ai tập chú tâm mình đều là một Bồ tát đang tham thiền.” Nói tóm, một người chưa kinh nghiệm thiền định “vô niệm” cần tham thiền về bất cứ đối tượng đức hạnh nào mà không dao động, lạc vào những đối tượng khác.
(3) SỰ NHẬP ĐỊNH THẬT SỰ CỦA AN ĐỊNH
Khi không có những phóng chiếu của tư tưởng người ta không bỏ sự tham thiền tập trung vào đối tượng, tâm và thân thoải mái, ngữ giảm thiểu, lời nói trở nên dịu dàng và vẻ mặt trở nên ấm áp tráng lệ ; bấy giờ người ta đã hoàn thành an định nhất tâm.
(b) QUÁN CHIẾU (Lhag-mThong)
(1) CÁCH TU HÀNH QUÁN CHIẾU
Hãy thiền định về (những hiện tượng là) không hiện hữu từ cội nguồn của chúng mà xuất hiện như tám thí dụ như huyễn…. Trong thật nghĩa của chúng, mọi sự, thế giới và chúng sanh, đều là những tri giác bất tịnh của tâm mê lầm và Tam Bảo, là những tri giác thanh tịnh, đều không hiện hữu như một giấc mộng. Nhưng trong tâm mê lầm chúng xuất hiện bởi vì sự tích tập những thói quen tập khí. Mọi hình tướng có vẻ là thật, nhưng chúng là giả bởi vì chúng xuất hiện đối với những tri giác nhị nguyên…. Chư Phật xuất hiện với những tri giác mê lầm là giả bởi vì bản chất của những thân thể biểu lộ thì giống như những phản chiếu của mặt trăng trên mặt nước và vì đó là những hình tướng (cho người thường) trong khi (bản thân chư Phật) không lìa khỏi Pháp thân và Báo thân. Tuy nhiên, bản tánh thanh tịnh của chư Phật thường trụ trong cảnh giới chân thật tuyệt đối thì không giả. Bởi vì những tư tưởng sai lầm, có vẻ như người ta lang thang trong sanh tử đời này sang đời khác và kinh nghiệm sướng khổ liên tiếp. Nhưng ngay vào khoảnh khắc (lang thang đó), theo cái thấy trạng thái vô sanh của Tâm, thì không có phân biệt giữa lang thang hay không lang thang trong sanh tử. Những hình tướng như mộng của mê lầm là không hiện hữu, vô tự tánh ngay lúc vừa xuất hiện suốt giấc ngủ của những tập khí huyễn ảo….
Tóm tắt, những hiện tượng hình tướng và sự gán tên là không hiện hữu mà chỉ xuất hiện giống như tám ví dụ như huyễn. Người ta cần tham thiền về điều này với sự sáng tỏ mà không tìm cách nắm bắt chúng.
(2) CÁCH LÀM KHỞI LÊN QUÁN CHIẾU
Đó là thiền định (thấy tất cả) như hư không mà không có bất cứ sự ý niệm hóa nào dù là ý niệm tri giác những sự vật là như huyễn…. Thậm chí (cái thấy rằng) “xuất hiện nhưng không có thật” bản thân nó chỉ là một khẳng định. Trong thật nghĩa, bản tánh không phải là một đối tượng cho sự ý niệm hóa để nói là có hay không. Thế nên người ta cần tham thiền về nghĩa này. Do thực hành này, ý tưởng thấy những hiện tượng bên ngoài là thật hay không thật, như huyễn cũng ngừng dứt. Như vậy, khi người ta chứng ngộ sự không thể ý niệm hóa của những đối tượng nắm bắt, bởi vì ý tưởng về cái được nắm bắt không có, sự bám chấp cũng không có, từ đó người ta chứng ngộ sự không hiện hữu của người nắm bắt. Hãy tham thiền về sự chứng ngộ bản tánh vô tự tánh của tất cả mọi sự và bản tánh siêu việt khỏi mọi ý niệm.
(ii) Phân tích tham thiền
(a) PHÂN TÍCH TÂM
Trong tâm, khi chuỗi dây những tư tưởng thích và không thích, đúng và sai, sướng và khổ khởi sanh, người ta cần cố gắng khảo sát nó mà không dao động dù chỉ một khoảnh khắc : lúc khởi đầu những tư tưởng đến từ đâu, hiện giờ chúng ở đâu, và cuối cùng chúng đi đâu, màu sắc, hình dáng và những đặc tính của chúng là gì ?
(b) CÁCH NHÌN THẤY BẢN TÁNH
Tri giác về sự hiện hữu của tâm chính là một nhiễm ô do những tư tưởng. Bởi vì trong thật nghĩa của nó, tâm không có hiện hữu, tâm không có nguyên nhân nào để sanh khởi. Thế nên nó trống không nguyên nhân sanh khởi. Không có cái gì hiện hữu bởi vì không có cái gì đã từng sanh ra. Thế nên sự hiện hữu của tâm là trống không mọi thực thể. Vì tâm không hiện diện, không có cái gì diệt mất. Thế nên sự diệt mất trống không mọi đặc tính. Tâm không có màu sắc, hình dáng và không có cái gì để chỉ ra hay tìm thấy, dù cho khảo sát và tìm kiếm nó khắp bên ngoài, bên trong hay ở giữa. Sự không tìm thấy này giống như hư không, trong sáng, bình đẳng, thoát khỏi chỉ định và phân tích, và không dính dáng gì đến chủ thể tác động và cái được tác động. Đó là cái thấy bản tánh của Thân Tối Hậu (Pháp thân).
(c) THAM THIÊN TRONG TRẠNG THÁI BUÔNG XẢ
Như yên nghỉ sau khi kiệt sức vì vác nặng, bằng cách buông bỏ những kinh nghiệm quá khứ về phân tích thô và tế, người ta ở trong trạng thái hoàn toàn thong dong, như đạt đến đích hay nghỉ ngơi tại chỗ khi hoàn toàn kiệt sức. Theo truyền thống này, hãy tham thiền bằng cách ở yên trong thong dong toàn diện qua buông xả, trong trạng thái mọi hình tướng bày hiện rõ ràng, trọn vẹn và toàn hảo, thoát khỏi mọi trí nhớ hay tư tưởng và sự không dứt của ánh sáng tự nhiên (mDangs) của tánh giác và phúc lạc…. Nói chung, thật là tự nhiên nếu bạn thiền định và tập trung nhất tâm mà tâm vẫn phóng chiếu. Nếu bạn buông thả cho tâm thong dong, nghĩ rằng, “Hãy đi nơi nào mày muốn đi”, nó sẽ ở yên như nó vẫn là, giống như một con lạc đà…. Khi bạn để cho tâm đi, nói rằng, “Chớ có trở về dù một chút”, dù nếu nó có vẻ đã ra đi, nó sẽ trở về bên trong và an trụ như tánh Không tự-an trụ. Nó cũng giống như một con quạ trên chiếc tàu giữa biển khơi…. Khi tâm phóng chiếu đến những đối tượng như các hình sắc, bởi vì những đối tượng là không thực, tâm sẽ không tiếp tục nương dựa vào chúng dù chỉ một chốc lát. Tâm sẽ trở về lại và trụ trong tánh Không thoát khỏi những ràng buộc của phân tích. Ví dụ, một con quạ bay đi từ một chiếc tàu giữa biển sẽ không đậu xuống chỗ nào khác được và sẽ trở lại chiếc tàu.
(d) CÁCH KHỞI SANH CHỨNG NGỘ
Bằng cách có được kinh nghiệm trong ý nghĩa của sự không tìm thấy tư tưởng luyến bám vào cái “tôi” và “bản ngã” khi truy cứu, người ta chứng ngộ sự vô ngã của người nắm bắt và do đó chứng ngộ sự không hiện hữu của người nắm bắt (chủ thể). Người ta đã chứng ngộ (trong những bài học ở trước) sự không hiện hữu của “bản ngã của những hiện tượng”, bởi vì cái được nắm bắt thì vô tự tánh. Sau khi chứng ngộ hai cái không có bản ngã (vô ngã và vô pháp), những đối tượng trong đó người ta nhận lấy sự tái sanh trong sanh tử và chủ thể để tái sanh cả hai được xác định là không hiện hữu. Sự giải thoát của sanh tử như là không hiện hữu trong thật tánh là sự đạt được cái thấy niết bàn, bởi vì sanh tử không là gì khác hơn tâm…. Nếu người ta thấu hiểu như thế, dù cho người ta không thể đạt giải thoát trong đời này, chắc chắn người ta sẽ được giải thoát trong đời tới…. Nó giống như “định nghiệp”, nghĩa là nếu người ta phạm vào một tội ác trầm trọng hay một hành động đức hạnh, người ta sẽ không thể không kinh nghiệm những hậu quả của nó trong đời tới.
(e) ĐẠT ĐƯỢC VỮNG CHẮC (TRONG AN ĐỊNH VÀ QUÁN CHIẾU)
Khi sự phản chiếu của mặt trăng xuất hiện trong một cái ao, nước và sự phản chiếu không thể tách rời. Cũng thế, khi (những sự vật) xuất hiện (trước tâm) và khi chúng được tâm nắm hiểu, tâm không tách lìa với những hình tướng. Cần hiểu rằng những sự xuất hiện (trước tâm) là (những hiện tượng) được nắm hiểu và không phải là những đối tượng thực sự xuất hiện. Đối tượng của những xuất hiện hình tướng và tánh Không của nó thì không thể tách rời như phản chiếu của mặt trăng và nước.
(f) HỌC NGHĨA BẤT NHỊ NHƯ THẾ NÀO
Do nắm lấy đối tượng không hiện hữu như là bản ngã, người ta tự làm mê lầm mình vào trong sanh tử, như khi tri giác nước trong một giấc mộng thấy là đáng sợ, cái sợ còn trầm trọng thêm. Những sáng tạo thuộc về những thói quen đã kiên cố của những tri giác sai lầm là không chỗ kiến lập (không gì khác hơn là những mê vọng). Nền tảng để khởi sanh những mê vọng, cái tâm, thì vốn thanh tịnh và vô tự tánh. Thế nên nó không bao giờ bị ô nhiễm bởi những cấu uế…. Người ta cần tham thiền trong trí huệ bổn nguyên vô nhiễm như hư không, cái cốt lõi không nhiễm ô bởi những cực đoan và cái tinh túy thoát khỏi những sự ý niệm hóa, mà không có sự tìm tòi nào bằng khảo sát hay phân tích. Nếu bạn tìm kiếm, Tâm sẽ bị ô nhiễm và do đó những tư tưởng thế gian sẽ tăng trưởng. Nếu bạn để yên một con rắn độc trong một cái lồng, nó sẽ không làm hại ai, nhưng nếu bạn quấy phá nó, nó sẽ cắn. Cũng thế, tâm (tự nó) là thoát khỏi những gắng sức, nhận và bỏ.
(g) CÁCH CHỨNG NGỘ TRUNG ĐẠO, THOÁT KHỎI NHỮNG BIÊN KIẾN
Bởi thế người ta làm bình lặng những nhiễm ô của phiền não, và qua sự trầm mình không có ý niệm hóa vào trí huệ bổn nguyên, nó vốn thoát khỏi nhị nguyên của cái được nắm bắt và người nắm bắt, người ta thành tựu những nhãn và những thông…., những công đức của chứng ngộ và giải thoát.
(h) GIẢI THOÁT KHỎI SỰ THIỀN ĐỊNH VÀ NGƯỜI THIỀN ĐỊNH LÀ CHỨNG NGỘ CỦA PHẬT
Khi một người đang ở trong tham thiền, dù đối tượng có xuất hiện, không có gì cả trong tâm nó mà chỉ an trụ trong (tánh) như hư không vắng bặt mọi phóng chiếu và thu hồi. Thế nên với nó không có ý niệm về người nắm bắt. Đó là trí huệ bổn nguyên bất nhị, bởi vì ý niệm về nhị nguyên không có chỗ dùng, và đó chính là giải thoát khỏi người tạo ra và sự tạo ra bởi vì vắng bặt trò nhị nguyên của người thiền định và sự thiền định. Vào lúc đó, người ta đạt đến cảnh giới bổn nguyên tự nhiên bằng cách làm tan biến tâm và những biến cố của tâm thức vào trong cảnh giới thực tại tối hậu, và người ta trụ trong sự chứng ngộ Tâm, tức là Phật tuyệt đối, sự tự-hiện diện của Pháp thân…. Vào lúc đó, tâm và những biến cố tâm thức tan biến trong tánh thanh tịnh tự nhiên của Tâm, như muối hòa tan trong nước, và không có những tư tưởng chập chờn như đom đóm nữa.
(i) CÁCH CHỨNG NGỘ BẢN TÁNH TỐI HẬU
Bằng cách thấu suốt năm đối tượng được nắm bắt bên ngoài như là những phản chiếu của mặt trăng (trong nước) và là một ảo ảnh, sẽ không có chút khuynh hướng nhỏ nào bám níu do những ý niệm bám nắm vào (những đối tượng như là) thật có. Bằng cách thấu suốt những giác quan nắm bắt bên trong là không có phần tử như hư không, người nắm bắt chúng là trống không trong thực thể của nó. Cảm giác tự nhiên, vắng dứt người nắm bắt và cái được nắm bắt, và tự do khỏi những phóng chiếu và thu hồi là trí huệ ba la mật như cam lồ. Nó là tánh sáng ngời tự nhiên, sâu thẳm, an bình, tự do và là trí huệ bổn nguyên tự-phân biệt…. Nó là sự hoàn thiện của trí huệ trong đó không có sanh tử ở đây, niết bàn ở kia, hay con đường tu hành ở giữa.
(j) CÁCH LÀM VIÊN MÃN CÁI THẤY
Ở trong trạng thái chứng ngộ nghĩa của cái thấy vĩ đại bao la như một con tàu, người ta vượt qua đại dương ý niệm hóa của sanh tử, và rồi không có ý niệm nào, người ta hợp nhất trí năng của mình với cái nền tảng vốn thoát khỏi mọi sự ý niệm hóa. Bởi vì cảnh giới tối hậu và trí huệ vốn không thể chia cách, cái thấy được gọi là trạng thái của Đại Toàn Thiện, và thế nên nó được gọi là sự hoàn thiện của Đại Toàn Thiện. Đó là sự hiển lộ của chứng ngộ cái toàn thiện của nghĩa tự hữu và vô sanh.
(k) SỰ NHẬN BIẾT AN ĐỊNH VÀ QUÁN CHIẾU TOÀN HẢO
Khi người ta tham thiền như vậy, tâm tự nhiên an trụ mà không có những phóng chiếu và thu hồi. Phương diện vô niệm và trống không do an trụ (trong tham thiền) là sự an định. Nó là sự hoàn thành của tích tập trí huệ bổn nguyên và là giai đoạn hoàn thiện của trí huệ, nguyên nhân của Pháp thân. Phương diện những hình tướng xuất hiện do sự sáng tỏ là quán chiếu. Nó là sự hoàn thành của tích tập công đức và là giai đoạn phát triển của phương diện thiện xảo, nguyên nhân của Sắc thân. Vào lúc đó người ta thành tựu sáu ba la mật tuyệt đối, sự tự do đối với ý niệm hóa…. Tu hành bố thí, trì giới, nhẫn nhục,…. là sự nhẫn chịu trong chúng và nó không phải là sự hoàn thiện dần dần hay vượt lên chúng. Khi Bồ tát siêu vượt chúng, nó trở thành sự hoàn thiện của chúng. Vào lúc đó, người ta hoàn thiện giới luật tuyệt đối. Trong kinh Arya-susthitamatidevaputra-pariprccha-nama-mahayana có nói : “Trong người nào không có ý niệm về giới cũng như những dấu vết nhiễm ô của giới, đó là sự hoàn thiện của giới.”
(l) CHỨC NĂNG CỦA AN ĐINH VÀ QUÁN CHIẾU
Đạt được kinh nghiệm trong quán chiếu đã chứng ngộ ở trước tùy thuộc vào an định. Thế nên chắc chắn người ta cần những nỗ lực để thành tựu sự hợp nhất (của an định và quán chiếu).
(m) THỜI GIAN CHỨNG NGỘ VÔ NIỆM SAU KHI CÓ ĐƯỢC
KINH NGHIỆM
Khi thực hành về nghĩa toàn thiện, chứng ngộ rằng những chủ thể và những đối tượng và những chất thể và những không chất thể đều không có tự tánh là quán chiếu, nó đến trước tiên. An trụ trong trạng thái chứng ngộ ấy mà không có sự sanh khởi của những hình sắc trong tâm trí là an định, nó đến sau. Khi cõi giới và trí huệ bổn nguyên trở thành không thể chia tách, sự không thể chia tách của chúng phải được biết như là sự đạt đến kết quả của hợp nhất.
(iii)Đã được kinh nghiệm, cách hoàn thiện sự tham thiền
(a) NHỮNG ĐỨC HẠNH CỦA THAM THIỀN
Trong tâm, những đức hạnh hiện diện một cách bổn nguyên, vốn có, nhưng khi tâm bị che phủ bởi những che ám thì những đức hạnh không biểu lộ. Bằng cách thiền định về an định và quán chiếu, người ta tịnh hóa một số che ám (như những ý niệm ngoại sanh) và thành tựu những chứng đắc phần hạn. Khi những ý niệm tâm thức tan vào cõi giới tối hậu, ….bởi vì đã tịnh hóa những ý niệm tâm thức, với thời gian người ta hoàn thành nhiều đức hạnh, như những định.
(b) CHÍN ĐỊNH
Chín định là tâm của sự ngừng dứt, bốn cấp độ định (của sắc giới) và bốn cấp độ của vô sắc giới. Chúng là chín tham thiền, những hoàn thiện của chín định….
Tâm nhất tâm với trí huệ của lạc, sáng tỏ và vô niệm được thành tựu trong đời của những chúng sanh dục giới, như con người, nhờ sự tu hành an định và quán chiếu, như đã giải thích ở trước. Nó được thành tựu nhờ cuộc đời làm người quý báu, bởi thế nó liên hệ với con người…. Tâm của bốn định của những cõi sắc : (1) Định thứ nhất : Khi người ta thực hành tham thiền nhất tâm, cái sơ bộ là khả năng tham thiền. Nó sẽ bắt đầu với tư tưởng (thô) rằng tôi nên tham thiền, và qua áp dụng sự gom tụ những tư tưởng phân tích vi tế để tham thiền trong trạng thái vô niệm, trí huệ thoát khỏi những ý niệm, thiền định thực sự được khởi sanh. Trong thời gian ngoài thiền định, người ta sẽ có vừa cả những tư tưởng (thô) và những tư tưởng phân tích (tế). (2) Định thứ hai : Qua những sơ bộ của cấp độ tâm thức định thứ nhất và bằng sự áp dụng không có những tư tưởng (vô niệm) thô mà chỉ có những tư tưởng phân tích tế, định thực sự của sáng tỏ và vô niệm sanh khởi. (3) Định thứ ba : Qua những sơ bộ của cấp độ tâm thức của định thứ hai và bằng sự áp dụng sự dứt bặt những tư tưởng thô và những tư tưởng phân tích tế, định phi thường thực sự của vô niệm khởi sanh trực tiếp. (4) Định thứ tư : Qua những sơ bộ của cấp độ tâm thức của định thứ ba và bằng áp dụng những tham thiền, định phi thường thực sự của hỷ và lạc sanh khởi. Trung Bát Nhã Ba la mật nói :
“Một cái định với những tư tưởng (thô) và phân tích (tế) là định thứ nhất. Với phân tích mà không có những tư tưởng là định thứ hai. Không có những tư tưởng lẫn phân tích là định thứ ba. Tâm hoan hỷ là định thứ tư.”
(c) NHỮNG ĐỊNH CỦA VÔ SẮC GIỚI
Nhờ tâm của bốn định sắc giới, những tâm phi thường của bốn cõi vô sắc được phát sanh. (1) Thứ nhất là trạng thái (thiền) vô biên như hư không. Nó là một ý niệm vững chắc rằng tất cả hiện tượng là thanh tịnh và không dơ nhiễm như hư không. (2) Trạng thái vô biên của thức. Nó ý niệm rằng ngay cả sự vô biên như hư không cũng chỉ là tâm và tâm thức đó là vô hạn, tự do từ vô thủy đến vô chung. (3) Trạng thái của không. Nó là cái ý niệm không quan sát thậm chí sự vô biên của thức, và (trong nó) không có gì được thấy bởi tâm. (4) Trạng thái đỉnh cao của hiện hữu. Nó ý niệm sự vượt khỏi cả hai cực đoan hiện hữu và không hiện hữu.
Trạng thái dứt diệt (diệt tận định) : Nó là sự dứt diệt của tất cả mọi thứ ý niệm hóa…. Có hai sự dứt diệt : Sự dứt diệt phân tích thuộc cá nhân (đạt được qua) những phân biệt và phân tích bởi tâm. Sự dứt diệt không phân tích (đạt được qua) tham thiền về bản tánh tối hậu mà không có những phân biện (của tâm thức). Trong trường hợp dứt diệt của những Bồ tát, các vị (vẫn) phụng sự chúng sanh qua (năng lực của) lòng bi….
Câu hỏi : (Nếu vị ấy có lòng bi,) bấy giờ làm sao vị ấy có thể thoát khỏi những ý niệm hóa ?
Trả lời : Không có những ý niệm hóa bởi vì vị ấy sở hữu lòng bi của trí huệ vô niệm.
(d) NHỮNG PHƯƠNG PHÁP TU HÀNH CHÍN ĐỊNH
Bằng cách thiền định về những định sau chót, người ta phát lộ (năm) nhãn thiêng liêng và (sáu) thông mà nó chưa có. Nó sẽ thấy những giai đoạn khác nhau của những cõi Phật và những đức hạnh Phật khi tiến bộ trong những giai đoạn của con đường. Nó nhận được những chỉ dạy và hoàn thiện những tích tập của mình.
(e) THỜI GIAN ĐẠT ĐƯỢC BA THAM THIỀN
Mặt trời độc nhất được biết (qua nhiều tên như) “cái chiếu sáng” vì nó xua tan bóng tối, “cái ngàn ánh sáng” vì nó phóng chiếu những tia sáng, và “bạn của hoa sen” vì nó làm hoa sen nở. Cũng như vậy, sự tham thiền được biết có tên là “định như huyễn”, vì nó là tham thiền nhất tâm về sự chứng ngộ những hình tướng là huyễn, “định không ô nhiễm như mặt trăng”, vì nó xua tan bóng tối và đau đớn của phiền não, “định không che ám như hư không”, vì nó là sự chứng ngộ mọi hiện tượng là như hư không v.v…. Sự tham thiền là cùng một bản tánh, nhưng tùy theo sự tiến bộ của nó, những đức hạnh của nó tăng thêm và có hàng trăm ngàn đức hạnh nữa sẽ đạt được.
(f) ĐẠT ĐẾN THAM THIỀN HỢP NHẤT
Những lời và những ý nghĩa của Pháp được chứng ngộ hoàn toàn bởi quán chiếu phân biện, và chúng được duy trì nhất tâm trong tâm bằng an định. Thế nên quán chiếu là sự gom tụ (nghĩa là chứng ngộ) và an định là tham thiền. Trong Ye-Shes rGyas-Pa có nói :
Quán chiếu là sự gom tụ (chứng ngộ) của Pháp,
An định là tham thiền.
  1. Thiền định về Ý Nghĩa của cái Thấy
Về thiền định, sau khi đã thấu hiểu cái thấy thoát khỏi những cực đoan nhị biên, người ta tham thiền về cái thấy để tịnh hóa những phiền não nhiễm ô và để hoàn thiện những con đường và những giai đoạn hầu tiến đến mục đích tối thượng. Longchenpa tổng kết thiền định trong ba phạm trù của sự tiếp cận với thiền định đối với ba cấp độ của hành giả trong chương thứ mười một của Shingta Chenpo.
THIỀN ĐỊNH SAU KHI ĐÃ XÁC QUYẾT CÁI THẤY
Sau khi đã xác quyết rõ ràng cái thấy (tri kiến), cần thiết phải tham thiền trong trạng thái thiền định. Nếu không người ta sẽ không hoàn thành giải thoát khỏi đám đông những nhiễm ô phiền não và sẽ không có thể hoàn thiện những giai đoạn và những con đường. Thế nên chắc chắn người ta cần thực hành thiền định. Thiền định là tham thiền trong trạng thái tự nhiên, nó tự nhiên như hư không, bằng phương tiện là sự tự do thoát khỏi những ý niệm, nghi ngờ và mong cầu….
Trước hết, người ta cần học hỏi, rồi tư duy và sau đó người ta cần đi vào thực hành về nó, vì cần thiết phải phát sanh nghĩa cốt yếu trong chính mình.
NHỮNG THIỀN ĐỊNH CHO NHỮNG CẤP ĐỘ 
KHÁC NHAU CỦA TRÍ NĂNG
Thiền định cho Người Trí Năng Cao
(i) Người có trí năng cao nhất đạt giải thoát nơi chứng ngộ. Người phước đức có trí năng cao nhất, họ đã tích tập công đức trong quá khứ, đạt giải thoát chỉ bằng chứng ngộ trạng thái tự nhiên của Tâm, nghĩa như hư không, siêu việt khỏi thiền định và không thiền định, nhờ vào những trường hợp (của những những ban phước) của Lama. Họ an trụ tự nhiên trong trạng thái yoga của dòng Tâm luôn luôn trong mọi lúc, không cần đến thiền định với cố gắng.
(ii) Với người chứng ngộ hoàn toàn, không có thiền định nào để thực hành. Khi một người đạt trạng thái chứng ngộ hoàn toàn (Klong-Gyur)…. bởi vì nó đã giải thoát khỏi luyến chấp vào (ý niệm) hiện hữu có thật, bấy giờ sẽ không có những cái dùng để đối trị nào để thiền định. Thế nên trạng thái chứng ngộ là không-có-thiền-định. Đã an trụ trong sự tương tục vắng mặt luyến chấp vào hiện hữu có thật, nó là trò chơi nhậm vận của vô trụ không kẽ hở, siêu việt những chiều kích, phương diện, và nó là sự thọ hưởng cõi Phật của Phổ Hiền vốn tự giải thoát…. Trong cái ấy không có những dấu hiệu và cấp độ, vì không có những loại thiền định hữu tướng…. Trong đó không có chỗ cho lầm lạc, vì nó không đi đâu cả. Không có những che ám của người canh chừng vì nó không được canh chừng….
Sự xảy ra những che ám và sai lầm : khi thiền giả canh chừng Tâm, nó vốn không thể tri giác được bằng sự canh chừng, thì sự canh chừng tự trở thành che ám. Tiến đến (nơi không có) có chỗ để đi đến thì tự nó trở thành sai lầm…. Trước hết đã có sự xác tín rằng Tâm mình tự nhiên là chân Phật từ vô thủy, sau đó người ta chứng ngộ rằng không cần ước mong Phật quả từ nguồn gốc nào khác. Ngay lúc ấy, người ta an trụ trong Phật quả.
(iii) Với người trí năng bình thường và thấp kém, cần phải thiền định. Đối với người trí năng bình thường và thấp, cần thiết phải thiền định với sự chuyên cần lớn lao, bởi vì họ chưa giải thoát khỏi sự nắm bắt bản ngã, nguyên nhân của sanh tử. Sự phân biệt giữa thiền định và không thiền định là theo sự việc (cái ý niệm) người nắm bắt và cái được nắm bắt (chủ thể và đối tượng) trong tâm đã tiêu tan hay chưa.
(iv) Sự đúng đắn của hành thiền. Bao giờ những sanh khởi (trong tâm mình) không là tự-khởi lên và tự-giải thoát, thì mọi tư tưởng chỉ là những ý niệm bình thường tạo ra sanh tử và dẫn đến những cõi thấp…. Bằng cách thiền định để làm bình lặng những ý niệm này, chắc chắn trí huệ, tức là sự giải thoát của những hiện tượng, sẽ sanh ra.
(v) Cần hợp nhất an định và quán chiếu. An định (Chỉ) hàng phục nhiễm ô phiền não, quán chiếu (Quán) nhổ gốc nhiễm ô phiền não….
Có hai phương diện của an định và quán chiếu, (sự đồng đẳng và những bản sắc tách biệt của an định và quán chiếu). Về đồng đẳng : Phương diện an trụ là an định và phương diện sáng tỏ là quán chiếu. Sự hợp nhất của an định và quán chiếu, sự chứng ngộ sáng tỏ và tánh Không thoát khỏi những biên kiến, giải thoát người ta khỏi sanh tử….
Về tách biệt : theo ngữ nguyên, tâm tập trung vào ý nghĩa của cái đã học được là an định và sự chứng ngộ ý nghĩa là quán chiếu. Theo ý nghĩa, có thể qua thiền định tập trung nhất tâm vào lúc ban đầu là an định và rồi thấu hiểu vô tự tánh là quán chiếu.
(vi) Lý do (tại sao thiền định là cần thiết). Đối với người trí năng cao, cũng như trên một đảo bằng vàng, dầu cho bạn có tìm kiếm, bạn sẽ không tìm ra đất hay đá, bất cứ cái gì sanh khởi đều được giải thoát trong bản tánh tối hậu. Thế nên những cái đối trị được tịnh hóa ở trong cảnh giới tối hậu (dByings), và không cần thiết những thời kỳ tham thiền nữa….
Đối với người trí năng bình thường : sau khi đã thấu hiểu cái thấy, bằng cách tham thiền mà không có sự chuyển động, trong trạng thái không sanh khởi thoát khỏi hôn trầm và trạo cử, như một ao nước không dơ bẩn, người ta hợp nhất an định và quán chiếu, tức định và huệ, và làm tan biến những ý niệm vào cảnh giới tối hậu, và sự ‘chứng ngộ như hư không’ xảy ra….
Đối với người trí năng kém, người ta cần thiền định và thuần hóa cái tâm hoang dã như khỉ vượn, nó không chịu ở yên dù chốc lát, bằng an định nhất tâm. Khi người ta có thể tập trung được, bấy giờ bằng thiền định, như cái đối trị, trên sự quán chiếu phân biệt chẳng hạn về tánh Không, vô tự tánh của hiện tượng, và bằng cách thiền quán rằng tất cả hình tướng là huyễn, người ta chứng ngộ nghĩa của sự không sanh khởi.
ĐƯỜNG LỐI THAM THIỀN CHO NGƯỜI TRÍ NĂNG BÌNH THƯỜNG
Phương pháp Thiền định
(i) Lời khuyên tham thiền về vô niệm. Khi có những sóng mạnh trong nước thì không có những phản chiếu, dù nước có tiềm năng phản chiếu. Cũng thế, tâm tự nhiên có những phẩm tính như thần thông, nhưng bởi vì tốc độ của những con sóng của tư tưởng lan man, những phẩm tính không biểu lộ. Thế nên quan trọng là tham thiền nhất tâm…. Nếu bạn tham thiền, bấy giờ những con sóng quấy nhiễu của những ý niệm sẽ biến mất và ánh sáng của ngọn đèn Tâm sáng ngời sẽ tự nhiên chiếu rọi. Thế nên hãy tham thiền mà không quấy nhiễu nước tâm.
(ii) Những tư thế của thân và cách tham thiền. Người ta cần tham thiền trong ba trạng thái thoát khỏi những cực đoan….
(a) Để cho một thân thể bất động, có tư thế bảy điểm của thân : chân xếp tréo, tay trong cử chỉ tham thiền, xương sống thẳng, lưỡi chạm vòm miệng trên, thở chậm, mắt nhìn (ngang tầm) đầu mũi và cổ hơi cong.
(b) Để cho những khả năng giác quan bất động : mắt không chuyển động và không làm ngừng những khả năng giác quan của tai, mũi, lưỡi, thân, và tâm. Dầu gặp sắc, thanh, hương, vị, xúc và tư tưởng nào, chớ đóng chặt cửa cũng không theo nó. Nếu những khả năng giác quan này bị đóng chặn, bấy giờ ngũ nhãn, như thiên nhãn và lục thông của tâm, chúng là những công đức của phương diện đã thanh tịnh của những khả năng giác quan, sẽ không đạt được. Nếu chạy theo những tư tưởng, chuỗi xích liên tục của những tư tưởng sẽ không ngừng và người ta vẫn không khác gì một người bình thường. Bởi thế, người ta tham thiền trong cái hồ bất động của những khả năng giác quan với sự khởi lên không ngừng của nhiều đối tượng xuất hiện, như những phản chiếu của những ngôi sao. Nếu những đối tượng khác nhau không bị những tư tưởng nắm bắt, bấy giờ những đối tượng xuất hiện không chỉ không làm hại sự tham thiền, mà những phẩm tính của chúng sẽ sinh khởi. Đó gọi là “trí huệ bổn nguyên vô niệm”, vì những hình sắc xuất hiện nhưng không có những ý niệm. Nếu không có sự xuất hiện của những hình sắc, bấy giờ không có trí năng để thấy chúng, và bấy giờ không có vấn đề có tư tưởng hay không có tư tưởng, và cũng không có “trí huệ bổn nguyên vô niệm”. Bởi thế, khi những đối tượng xuất hiện với những giác quan, bằng cách ở trong vô niệm, vị thầy (Lama) đã có trí huệ phân biệt sẽ trực tiếp đạt được sự dứt diệt những tư tưởng đến và đi, và điều này được gọi là “sự dứt diệt của hơi thở.” Dù cho hơi thở qua miệng và mũi có tiếp tục, những tư tưởng sẽ không dao động. Sự chấm dứt việc ý niệm hóa được xem là cái chết của những tư tưởng. Khi không có việc ý niệm hóa, không cần thiền định như là một đối trị của nó và không cần trí huệ, tức là thiền giả nữ của sự tự do thoát khỏi những ý niệm hóa, nó là cái đối trị của việc ý niệm hóa….
Khi người ta hoàn thiện điểm cốt yếu này (của việc dừng dứt hơi thở), đó gọi là (trạng thái của) sáu thức tự nhiên hay không tạo tác. Bởi vì những đối tượng xuất hiện với những giác quan, mà những giác quan không tạo ra ý niệm về những đối tượng, và dù cho “những giác quan rơi vào trong những đối tượng” hay những đối tượng trở nên trong sáng (trong những giác quan), thì không chỉ những giác quan không làm hại tham thiền, cái nhìn thấy sáng suốt, mà chúng còn giúp tham thiền tiến bộ….
(c) Để cho một tâm bất động : sự tham thiền trong sự tự do với những cực đoan xảy ra tự nhiên khi thân thể và những khả năng giác quan bất động. Nó là sự tham thiền không chuyển động khỏi trạng thái tâm trong trẻo và sáng ngời thoát khỏi mọi phóng chiếu và thu hồi….
Vào lúc đó, nếu bạn bị phóng dật vì những ý niệm về những đối tượng bên ngoài có chất thể xuất hiện và về những cái không chất thể của tâm bên trong, bấy giờ mọi sự ràng buộc được tạo ra làm che ám Phật tánh, Tâm vốn tròn đủ. Thế nên người ta phải không có sự nắm bắt và luyến bám dù nhỏ nhất vào sanh tử và niết bàn như là xấu hay tốt, và thậm chí vào sự tham thiền. Như thế, không có những ý niệm về chất thể hay không chất thể, không có những tư tưởng về bất cứ sự vật nào khác. Vào lúc đó, tất cả những chuyển động của tư tưởng tan biến vào Tâm, cái nền tảng. Bấy giờ khi tâm trở nên bất biến và vững chắc, người ta đạt giải thoát khỏi sinh tử và sẽ không có luyến chấp vào ta và người và sự nắm bắt nhị nguyên. Đó là sự đạt được Thân Tối Hậu (Pháp thân) tuyệt hảo, siêu vượt khỏi những tạo tác, ý niệm và diễn tả.
(iii) Cách khai triển những đức hạnh. Khi tham thiền (theo cách như vậy), mọi sự ý niệm hóa sẽ được giải thoát…. Bấy giờ vì những ý niệm được thăng hoa vào bản tánh tối hậu và mọi tư tưởng được tan biến vào cảnh giới tối hậu, Đại Toàn Thiện quang minh hiển lộ ra, nó là sự chứng ngộ một vị như là Pháp thân, siêu vượt mọi dấu hiệu, ý nghĩa của lạc, sáng tỏ và vô niệm cùng với những kinh nghiệm về chúng.
(iv) Chứng ngộ bản tánh tối hậu. Vào lúc trí huệ bổn nguyên vốn sẵn khởi hiện trong tâm thiền giả, ….nó thấy một cách toàn triệt tánh không thể phân chia của tánh Không và những hình tướng như tám ví dụ về huyễn, và bản tánh tối hậu của mọi hiện tượng, tức là bản tánh vô sanh…. Tâm hiển lộ như trò chơi phô diễn của tính bất nhị của sanh tử và niết bàn, trí huệ bổn nguyên siêu việt có và không, và sự bất biến của Sáng Tỏ…. Vào lúc đó, trí huệ bổn nguyên thì bất nhị với những đối tượng được biết và trí năng hiểu biết khởi hiện trong trạng thái bình đẳng nhất như.
(v) Nó là nguyên nhân trực tiếp của trí huệ bổn nguyên của những bậc cao cả. Sau tiến bộ vô biên trong những kinh nghiệm về trí huệ bổn nguyên của sự không ý niệm hóa, như là kết quả của những hành động, những chứng đắc cao như Con Đường Quán Thấy (Kiến Đạo vị) sẽ tự nhiên thành tựu.
Phương Pháp Tham Thiền
(i) Tham thiền trong sự không dao động và không ý niệm hóa. Trong Tâm như hư không, bằng cách để cho những tư tưởng của những biến cố tâm thức ở yên tự nhiên, chúng tan biến như mây biến mất (trong bầu trời). Người ta cần tham thiền trong trạng thái của cái thấy này, bản tánh của bầu trời, mà không dao động.
(ii) Tham thiền trong sự trong trẻo và sáng tỏ không có những ô nhiễm. Hãy tham thiền với sự sáng tỏ trong trạng thái không bị làm bẩn bởi những ý niệm về người nắm bắt và cái được nắm bắt và trong sự sáng tỏ không hôn trầm và trong an tĩnh không trạo cử, như một đại dương bình an, nó trụ trong chính nó.
(iii) Tham thiền không thiên chấp, như hư không. Hãy tham thiền trong trạng thái của Tâm, nó là tánh Không xưa nay như hư không, không có những phóng chiếu và thu hồi của những tư tưởng.
(iv) Tham thiền một cách tự nhiên và không gắng sức. Hãy tham thiền về tâm trong trạng thái không biến đổi như núi Tu Di, không có ý niệm ngăn chận hay bảo vệ và mong cầu hay nghi ngờ nào.
(v) Tham thiền về những đối tượng của những xuất hiện không dứt. Trong trạng thái thanh tịnh và sáng tỏ của tâm, hãy tham thiền về những đối tượng của những hình tướng xuất hiện trước các giác quan, sống động mà không có những ý niệm nắm bắt hay dao động.
(vi) Tham thiền trong sự sáng tỏ và thanh tịnh vốn giải thoát. Hãy tham thiền trong sự sáng tỏ và thanh tịnh sống động mà không hôn trầm hay trạo cử…. Tham thiền như thế, người ta sẽ chứng ngộ những hình tướng là tánh Không, như những ánh sáng cầu vồng.
(vii) Tham thiền nhất tâm như một người bắn cung. Hãy tham thiền về tâm trong trạng thái của bản tánh tối hậu, trần truồng và thẳng tắp, không dao động, như nhắm thẳng một mũi tên.
(viii) Tham thiền trong sự không gắng sức và tự nhiên. (Trước tiên) có sự thâm tín Pháp thân thường trụ nơi địa vị của nó bằng cách tham thiền tâm một cách tự nhiên, sau đó hãy tham thiền bằng cách buông xả trong trạng thái tự do khỏi những mong cầu và nghi ngờ…. Không cần sự gom tụ rất sống động, mà buông xả ba cửa tự nhiên và đơn giản an trụ, không có lang thang. Dầu cho (tâm) phóng dật tự do, nhưng bởi vì nó đã rơi vào trạng thái bình thường, hãy tham thiền một cách tự nhiên trong tâm bình thường (Tha-Mal-Gyi Shes-Pa) mà không dao động.
(ix) Kết luận về tám cách tham thiền. (Trong những cách tham thiền trên) không có cái được nắm bắt và người nắm bắt, thế nên chúng là những tham thiền thanh tịnh một cách tự nhiên. Chúng là sự hợp nhất giữa an định và quán chiếu, định và huệ. Dù cho có nói rằng phương diện an trụ trong “cái đang là” của chúng là an định và phương diện sáng tỏ của chúng là quán chiếu, (thực sự) chúng không phân chia, và được gọi là hợp nhất. Ở điểm này, không có những phân biệt về phương diện nào, ý niệm về an định lắng mất và quán chiếu cũng không còn được quan niệm như quán chiếu. Đó là sự hợp nhất bất phân và vốn sẵn đủ.
Sự Tiến Bộ Trên Con Đường trong Bảy Phương Diện
(i) Đường lối thấy (cái) không thể diễn tả nhờ tám tham thiền. Sự giải thích về tiến bộ trên con đường qua bốn cấp độ của trí huệ bổn nguyên như là kết quả của tham thiền…. Đã làm yên lặng những thâm nhập của trí thức vào trạng thái của Tâm vốn siêu vượt khỏi những tư tưởng và diễn tả, sự hiện khởi trong lần đầu trí huệ bổn nguyên trong sáng, chiếu rạng và không biến đổi là (1) “trí huệ bổn nguyên biểu lộ” (Con đường của những Tích Tập). Nó là sự hoàn thiện của trí huệ bổn nguyên quang minh.
(ii) Những dấu hiệu đạt đến con đường giải thoát. Đã chứng biết, (1) “trí huệ bổn nguyên quang minh biểu lộ”, người ta nhận biết Tâm, trí huệ vốn sẵn đủ. Do đã đi vào con đường giải thoát, hạt giống giác ngộ đã được gieo (trong chính mình)…. Khi một người nhận ra Tâm, “trí huệ bổn nguyên quang minh nền tảng” (A’od-gSal gZhi’i Ye-Shes), những tư tưởng ngoại sanh tức thời được giải thoát và ánh sáng rực rỡ con và mẹ được kết hợp. Bởi vì mọi hoạt động đã trở thành thuần chỉ đức hạnh, nó thoát khỏi bám chấp vào những hiện tượng, năm đối tượng bên ngoài và sự hồi ức bên trong và ý thức phủ định và xác định. Qua trạng thái của tâm tự sáng và trống không, nó hưởng thụ những đức hạnh của lòng bi khai triển đến tất cả chúng sanh không phân biệt xa gần và cỡ loại. Nó cũng gây cảm hứng cho những người khác (dấn thân vào những hoạt động) công đức. Nó từ bỏ xao lãng phóng dật và tiêu khiển, hưởng thụ cô đơn trong rừng núi. Dù trong những giấc mộng, chỉ có những tư tưởng thanh tịnh và đức hạnh. Bởi vì thân, khẩu, tâm đã được tu hành cao, nó khai triển những phẩm tính của “Con đường Tích Tập” và thấy nhiều thị kiến ánh sáng trong thất thiền.
(iii) Trí huệ bổn nguyên của tiến bộ. Khi người ta đã tiến bộ lớn lao trong những kinh nghiệm nhờ sự thiền định ở trước, và những che ám với tâm sáng tỏ và trống không đã được giảm trừ, bấy giờ trí huệ, tham thiền và những kinh nghiệm trở nên mãnh liệt. Những hình tướng bên ngoài sẽ tự nhiên được thấy như mộng, như huyễn. Sự chứng nghiệm (thấy) những hiện tượng khác nhau đều có cùng một vị sẽ khởi lên và an trụ trong trạng thái như hư không. Đó là (2) “trí huệ bổn nguyên của tiến bộ” (Con đường của Áp dụng).
(iv) Những dấu hiệu đạt đến hơi nóng (nỗn địa). (Vào lúc đó), khi sự chứng nghiệm thành trong trắng phi thường, người ta đạt được những dấu hiệu mềm dẻo phi thường của thân và tâm. Trụ suốt ngày và đêm trong tham thiền hợp nhất phi thường, người ta không thể lìa khỏi nó. Vì lòng bi người ta hành động cho lợi lạc của chúng sanh và khai triển sự chán sợ đặc biệt và sự ngoi lên quyết liệt khỏi sanh tử. Thậm chí trong giấc mộng, người ta thấy những hiện tượng là mộng và huyễn…. Sẽ không còn sâu trùng hay sán lãi và trứng của chúng trong thân. Những cái này là những đạt được những dấu hiệu của “Con đường Áp dụng” và người ta sớm đến “Con đường Thấy.”
(v) Trí huệ bổn nguyên cao cả được chứng ngộ. Trước hết đã thấy Tâm, trí huệ bổn nguyên quang minh và bất nhiễm, người ta đạt được cái gọi là (3) “trí huệ bổn nguyên được chứng ngộ”. (Vào lúc đó,) khí trăm cánh hoa ở trong luân xa trái tim sẽ được tịnh hóa. Trí huệ của tinh túy trong sáng trở nên sáng rỡ cao độ, và bằng cách cũng làm tỏa sáng những luân xa khác, 1200 khí và tâm đức hạnh sẽ được làm vững chắc và 1200 khí phiền não sẽ dừng dứt. Bấy giờ (như một kết quả) theo những tantra, những tịnh độ vốn hiện diện xuất hiện trong tinh túy bên trong (Nang Gi Khams) (của người ta). Theo kinh, những tịnh độ bên ngoài, như khuôn mặt của hàng trăm vị Phật xuất hiện (trước nó). Người ta sẽ thành tựu một số lượng rất nhiều loại nhãn và các thông thanh tịnh và không che ám hơn là các nhãn và các thông của người bình thường đầy che ám và giới hạn. Người ta đã giải thoát khỏi những nhiễm ô phiền não của vọng tưởng, “những đối tượng cần đoạn trừ của Con đường Thấy”, và đã thể hiện trí huệ bổn nguyên, cái nhìn thấy (thị kiến) quang minh.
(vi) Bằng cách tu hành theo cái đã chứng ngộ, trí huệ bổn nguyên hiện khởi. Tu hành theo cái đã được thấy (trong con đường thấy) là “con đường thiền định”. Người ta đạt được những trình tự thấp, trung và cao của con đường này, và trong mỗi giai đoạn người ta thành tựu những đức hạnh đã nói ở trước lên gấp nhiều lần và hành động cho lợi lạc của chúng sanh. Từ sự chứng đắc giai đoạn thứ nhất (sơ địa) qua đến giai đoạn thứ bảy (thất địa), sẽ còn những ý niệm trong những lúc ngoài thiền định và những khác biệt giữa thiền định và ngoài thiền định. Trong ba giai đoạn thanh tịnh (địa thứ tám đến thứ mười), vì không có những tư tưởng trực tiếp (mNgon-Gyur), lúc đó có sự hợp nhất (của thiền định và ngoài thiền định), và ở đây mọi sự là một vị trong trí huệ bổn nguyên tối sơ.
(vii) Hoàn thiện trọn vẹn, sự thành tựu con đường cao cả. Trí huệ bổn nguyên của “con đường thiền định” được gọi là “trí huệ bổn nguyên được chứng ngộ trọn vẹn”. Đã thiền định về tám con đường cao cả, người ta đã tịnh hóa những nhiễm ô của chín giai đoạn (của con đường thiền định). Tổng quát, những đức hạnh của con đường và những giai đoạn (địa) xuất hiện bằng cách dựa trên những kinh mạch, khí và tinh chất (hạt). Những tích tập công đức và trí huệ bổn nguyên được phát sanh qua những hoàn thiện (về những kinh mạch, khí và tinh chất) và qua những nỗ lực tu hành hoàn thiện chúng.
(Con Đường Cho) Người Trí Năng Kém
(i) Những giai đoạn của thiền định
(a) AN ĐỊNH (Zhi-gNas)
(1) THUẦN HÓA NHỮNG TƯ TƯỞNG
Trước hết vấn đề là làm sao tìm thấy sự an định…. Người ta cần tham thiền ở một nơi không có những gai góc (quấy nhiễu) cho tham thiền, như mối nguy hiểm từ con người, những tiêu khiển và tiếng ồn, một nơi tâm tự nhiên có thể buông xả. Hãy ngồi trên một chỗ ngồi tiện nghi trong tư thế tréo chân, bàn tay phủ lên đầu gối và quán tưởng ba kinh mạch. Khi thở ra, nghĩ rằng người ta thở ra qua kinh mạch Roma màu trắng bên phải và rồi qua lỗ mũi phải, và tất cả bệnh tật, chướng ngại và che ám bất thiện được tẩy sạch như khói qua một ống khói lò sưởi. Khi thở vào, nghĩ rằng những thu hút chư Phật trong hình thức ánh sáng đi vào qua lỗ mũi trái, kinh mạch Kyangma màu đỏ bên trái và rồi đi vào kinh mạch trung ương. Trong một chốc, giữ hơi thở ngay dưới rốn (bằng cách ép hơi thở một chút) vừa cả đi xuống và đi lên. Rồi chầm chậm thở ra như trước, nhưng giữ lại một ít. Trong ba tháng mùa xuân, không khí là không khí thuộc đất, và đó là thời gian đờm dãi phát triển. Thế nên, như đối trị của nó, người ta cần quán tưởng nó là không khí của không khí có màu lục. Ba tháng hè, để xua tan hơi nóng của lửa, hãy quán tưởng nó là không khí của nước màu trắng. Ba tháng mùa thu, để loại trừ những chuyển động của mật, hãy quán tưởng nó là không khí của đất có màu vàng. Trong ba tháng mùa đông, như đối trị cái lạnh của nước, hãy quán tưởng nó là không khí-lửa có màu đỏ. Về hình thể của không khí, hãy quán tưởng tinh túy của tâm và khí trong hình cái cung, tam giác, vòng tròn, hình vuông trong trái tim. (Quán tưởng chúng) như có cùng cảm nhận. Về số hơi thở, đếm lên đến bảy chu kỳ trong tâm. Một người mới học cần quán tưởng khí trong hình thể hình vuông v.v…. và khi nó phát ra qua hai lỗ mũi, nó dần dần lớn cho đến mức trở thành kích cỡ của ba ngàn thế giới…. Người ta cần tham thiền về nó với một tâm không dao động. Khi những đại bị đầy nghẽn, cần vượt qua bằng cách nói mạnh một chữ Ha ! mà không giữ hơi thở nào. Khi phúc lạc và sùng mộ v.v…. khởi lên, người ta nên giữ hơi thở (một chốc lát). Bằng cách thực hành hơi thở trong vài ngày đêm, sự an định của tâm trong sáng và rạng rỡ không có ý niệm sẽ hiện khởi. Vào lúc đó, vì không có không khí thô và những tư tưởng, mặt trăng trắng và mặt trời đỏ, tinh chất của hai kinh mạch Roma và Kyangma, sẽ trở nên vững chắc ổn định. Trong đó sẽ không có ngay cả một chuyển động vi tế của không khí, bởi vì người ta ở yên trong trạng thái không tư tưởng (vô niệm) trong kinh mạch trung ương và nhờ đó chứng ngộ trí huệ bổn nguyên vốn sẵn.
(2) TẬP TRUNG NHẤT TÂM
Sau khi thải bỏ những tư tưởng thô, ….người ta cần tu hành bốn trạng thái vô biên của tâm (bốn vô lượng tâm) và hai tâm của giác ngộ (Bồ đề tâm), chúng là những nguyện vọng và thực hành. Bồ tát hạnh nói : “Đã làm an những tư tưởng, hãy thiền định về Bồ đề tâm.” Hoặc tập trung vào giai đoạn phát triển hay vào (những đối tượng như) những khối và hình vẽ những thần bổn tôn. Kinh Samadhiraja nói : “Trên màu của vàng của hình ảnh trang nghiêm thế giới, bất cứ ai tập chú tâm mình đều là một Bồ tát đang tham thiền.” Nói tóm, một người chưa kinh nghiệm thiền định “vô niệm” cần tham thiền về bất cứ đối tượng đức hạnh nào mà không dao động, lạc vào những đối tượng khác.
(3) SỰ NHẬP ĐỊNH THẬT SỰ CỦA AN ĐỊNH
Khi không có những phóng chiếu của tư tưởng người ta không bỏ sự tham thiền tập trung vào đối tượng, tâm và thân thoải mái, ngữ giảm thiểu, lời nói trở nên dịu dàng và vẻ mặt trở nên ấm áp tráng lệ ; bấy giờ người ta đã hoàn thành an định nhất tâm.
(b) QUÁN CHIẾU (Lhag-mThong)
(1) CÁCH TU HÀNH QUÁN CHIẾU
Hãy thiền định về (những hiện tượng là) không hiện hữu từ cội nguồn của chúng mà xuất hiện như tám thí dụ như huyễn…. Trong thật nghĩa của chúng, mọi sự, thế giới và chúng sanh, đều là những tri giác bất tịnh của tâm mê lầm và Tam Bảo, là những tri giác thanh tịnh, đều không hiện hữu như một giấc mộng. Nhưng trong tâm mê lầm chúng xuất hiện bởi vì sự tích tập những thói quen tập khí. Mọi hình tướng có vẻ là thật, nhưng chúng là giả bởi vì chúng xuất hiện đối với những tri giác nhị nguyên…. Chư Phật xuất hiện với những tri giác mê lầm là giả bởi vì bản chất của những thân thể biểu lộ thì giống như những phản chiếu của mặt trăng trên mặt nước và vì đó là những hình tướng (cho người thường) trong khi (bản thân chư Phật) không lìa khỏi Pháp thân và Báo thân. Tuy nhiên, bản tánh thanh tịnh của chư Phật thường trụ trong cảnh giới chân thật tuyệt đối thì không giả. Bởi vì những tư tưởng sai lầm, có vẻ như người ta lang thang trong sanh tử đời này sang đời khác và kinh nghiệm sướng khổ liên tiếp. Nhưng ngay vào khoảnh khắc (lang thang đó), theo cái thấy trạng thái vô sanh của Tâm, thì không có phân biệt giữa lang thang hay không lang thang trong sanh tử. Những hình tướng như mộng của mê lầm là không hiện hữu, vô tự tánh ngay lúc vừa xuất hiện suốt giấc ngủ của những tập khí huyễn ảo….
Tóm tắt, những hiện tượng hình tướng và sự gán tên là không hiện hữu mà chỉ xuất hiện giống như tám ví dụ như huyễn. Người ta cần tham thiền về điều này với sự sáng tỏ mà không tìm cách nắm bắt chúng.
(2) CÁCH LÀM KHỞI LÊN QUÁN CHIẾU
Đó là thiền định (thấy tất cả) như hư không mà không có bất cứ sự ý niệm hóa nào dù là ý niệm tri giác những sự vật là như huyễn…. Thậm chí (cái thấy rằng) “xuất hiện nhưng không có thật” bản thân nó chỉ là một khẳng định. Trong thật nghĩa, bản tánh không phải là một đối tượng cho sự ý niệm hóa để nói là có hay không. Thế nên người ta cần tham thiền về nghĩa này. Do thực hành này, ý tưởng thấy những hiện tượng bên ngoài là thật hay không thật, như huyễn cũng ngừng dứt. Như vậy, khi người ta chứng ngộ sự không thể ý niệm hóa của những đối tượng nắm bắt, bởi vì ý tưởng về cái được nắm bắt không có, sự bám chấp cũng không có, từ đó người ta chứng ngộ sự không hiện hữu của người nắm bắt. Hãy tham thiền về sự chứng ngộ bản tánh vô tự tánh của tất cả mọi sự và bản tánh siêu việt khỏi mọi ý niệm.
(ii) Phân tích tham thiền
(a) PHÂN TÍCH TÂM
Trong tâm, khi chuỗi dây những tư tưởng thích và không thích, đúng và sai, sướng và khổ khởi sanh, người ta cần cố gắng khảo sát nó mà không dao động dù chỉ một khoảnh khắc : lúc khởi đầu những tư tưởng đến từ đâu, hiện giờ chúng ở đâu, và cuối cùng chúng đi đâu, màu sắc, hình dáng và những đặc tính của chúng là gì ?
(b) CÁCH NHÌN THẤY BẢN TÁNH
Tri giác về sự hiện hữu của tâm chính là một nhiễm ô do những tư tưởng. Bởi vì trong thật nghĩa của nó, tâm không có hiện hữu, tâm không có nguyên nhân nào để sanh khởi. Thế nên nó trống không nguyên nhân sanh khởi. Không có cái gì hiện hữu bởi vì không có cái gì đã từng sanh ra. Thế nên sự hiện hữu của tâm là trống không mọi thực thể. Vì tâm không hiện diện, không có cái gì diệt mất. Thế nên sự diệt mất trống không mọi đặc tính. Tâm không có màu sắc, hình dáng và không có cái gì để chỉ ra hay tìm thấy, dù cho khảo sát và tìm kiếm nó khắp bên ngoài, bên trong hay ở giữa. Sự không tìm thấy này giống như hư không, trong sáng, bình đẳng, thoát khỏi chỉ định và phân tích, và không dính dáng gì đến chủ thể tác động và cái được tác động. Đó là cái thấy bản tánh của Thân Tối Hậu (Pháp thân).
(c) THAM THIÊN TRONG TRẠNG THÁI BUÔNG XẢ
Như yên nghỉ sau khi kiệt sức vì vác nặng, bằng cách buông bỏ những kinh nghiệm quá khứ về phân tích thô và tế, người ta ở trong trạng thái hoàn toàn thong dong, như đạt đến đích hay nghỉ ngơi tại chỗ khi hoàn toàn kiệt sức. Theo truyền thống này, hãy tham thiền bằng cách ở yên trong thong dong toàn diện qua buông xả, trong trạng thái mọi hình tướng bày hiện rõ ràng, trọn vẹn và toàn hảo, thoát khỏi mọi trí nhớ hay tư tưởng và sự không dứt của ánh sáng tự nhiên (mDangs) của tánh giác và phúc lạc…. Nói chung, thật là tự nhiên nếu bạn thiền định và tập trung nhất tâm mà tâm vẫn phóng chiếu. Nếu bạn buông thả cho tâm thong dong, nghĩ rằng, “Hãy đi nơi nào mày muốn đi”, nó sẽ ở yên như nó vẫn là, giống như một con lạc đà…. Khi bạn để cho tâm đi, nói rằng, “Chớ có trở về dù một chút”, dù nếu nó có vẻ đã ra đi, nó sẽ trở về bên trong và an trụ như tánh Không tự-an trụ. Nó cũng giống như một con quạ trên chiếc tàu giữa biển khơi…. Khi tâm phóng chiếu đến những đối tượng như các hình sắc, bởi vì những đối tượng là không thực, tâm sẽ không tiếp tục nương dựa vào chúng dù chỉ một chốc lát. Tâm sẽ trở về lại và trụ trong tánh Không thoát khỏi những ràng buộc của phân tích. Ví dụ, một con quạ bay đi từ một chiếc tàu giữa biển sẽ không đậu xuống chỗ nào khác được và sẽ trở lại chiếc tàu.
(d) CÁCH KHỞI SANH CHỨNG NGỘ
Bằng cách có được kinh nghiệm trong ý nghĩa của sự không tìm thấy tư tưởng luyến bám vào cái “tôi” và “bản ngã” khi truy cứu, người ta chứng ngộ sự vô ngã của người nắm bắt và do đó chứng ngộ sự không hiện hữu của người nắm bắt (chủ thể). Người ta đã chứng ngộ (trong những bài học ở trước) sự không hiện hữu của “bản ngã của những hiện tượng”, bởi vì cái được nắm bắt thì vô tự tánh. Sau khi chứng ngộ hai cái không có bản ngã (vô ngã và vô pháp), những đối tượng trong đó người ta nhận lấy sự tái sanh trong sanh tử và chủ thể để tái sanh cả hai được xác định là không hiện hữu. Sự giải thoát của sanh tử như là không hiện hữu trong thật tánh là sự đạt được cái thấy niết bàn, bởi vì sanh tử không là gì khác hơn tâm…. Nếu người ta thấu hiểu như thế, dù cho người ta không thể đạt giải thoát trong đời này, chắc chắn người ta sẽ được giải thoát trong đời tới…. Nó giống như “định nghiệp”, nghĩa là nếu người ta phạm vào một tội ác trầm trọng hay một hành động đức hạnh, người ta sẽ không thể không kinh nghiệm những hậu quả của nó trong đời tới.
(e) ĐẠT ĐƯỢC VỮNG CHẮC (TRONG AN ĐỊNH VÀ QUÁN CHIẾU)
Khi sự phản chiếu của mặt trăng xuất hiện trong một cái ao, nước và sự phản chiếu không thể tách rời. Cũng thế, khi (những sự vật) xuất hiện (trước tâm) và khi chúng được tâm nắm hiểu, tâm không tách lìa với những hình tướng. Cần hiểu rằng những sự xuất hiện (trước tâm) là (những hiện tượng) được nắm hiểu và không phải là những đối tượng thực sự xuất hiện. Đối tượng của những xuất hiện hình tướng và tánh Không của nó thì không thể tách rời như phản chiếu của mặt trăng và nước.
(f) HỌC NGHĨA BẤT NHỊ NHƯ THẾ NÀO
Do nắm lấy đối tượng không hiện hữu như là bản ngã, người ta tự làm mê lầm mình vào trong sanh tử, như khi tri giác nước trong một giấc mộng thấy là đáng sợ, cái sợ còn trầm trọng thêm. Những sáng tạo thuộc về những thói quen đã kiên cố của những tri giác sai lầm là không chỗ kiến lập (không gì khác hơn là những mê vọng). Nền tảng để khởi sanh những mê vọng, cái tâm, thì vốn thanh tịnh và vô tự tánh. Thế nên nó không bao giờ bị ô nhiễm bởi những cấu uế…. Người ta cần tham thiền trong trí huệ bổn nguyên vô nhiễm như hư không, cái cốt lõi không nhiễm ô bởi những cực đoan và cái tinh túy thoát khỏi những sự ý niệm hóa, mà không có sự tìm tòi nào bằng khảo sát hay phân tích. Nếu bạn tìm kiếm, Tâm sẽ bị ô nhiễm và do đó những tư tưởng thế gian sẽ tăng trưởng. Nếu bạn để yên một con rắn độc trong một cái lồng, nó sẽ không làm hại ai, nhưng nếu bạn quấy phá nó, nó sẽ cắn. Cũng thế, tâm (tự nó) là thoát khỏi những gắng sức, nhận và bỏ.
(g) CÁCH CHỨNG NGỘ TRUNG ĐẠO, THOÁT KHỎI NHỮNG BIÊN KIẾN
Bởi thế người ta làm bình lặng những nhiễm ô của phiền não, và qua sự trầm mình không có ý niệm hóa vào trí huệ bổn nguyên, nó vốn thoát khỏi nhị nguyên của cái được nắm bắt và người nắm bắt, người ta thành tựu những nhãn và những thông…., những công đức của chứng ngộ và giải thoát.
(h) GIẢI THOÁT KHỎI SỰ THIỀN ĐỊNH VÀ NGƯỜI THIỀN ĐỊNH LÀ CHỨNG NGỘ CỦA PHẬT
Khi một người đang ở trong tham thiền, dù đối tượng có xuất hiện, không có gì cả trong tâm nó mà chỉ an trụ trong (tánh) như hư không vắng bặt mọi phóng chiếu và thu hồi. Thế nên với nó không có ý niệm về người nắm bắt. Đó là trí huệ bổn nguyên bất nhị, bởi vì ý niệm về nhị nguyên không có chỗ dùng, và đó chính là giải thoát khỏi người tạo ra và sự tạo ra bởi vì vắng bặt trò nhị nguyên của người thiền định và sự thiền định. Vào lúc đó, người ta đạt đến cảnh giới bổn nguyên tự nhiên bằng cách làm tan biến tâm và những biến cố của tâm thức vào trong cảnh giới thực tại tối hậu, và người ta trụ trong sự chứng ngộ Tâm, tức là Phật tuyệt đối, sự tự-hiện diện của Pháp thân…. Vào lúc đó, tâm và những biến cố tâm thức tan biến trong tánh thanh tịnh tự nhiên của Tâm, như muối hòa tan trong nước, và không có những tư tưởng chập chờn như đom đóm nữa.
(i) CÁCH CHỨNG NGỘ BẢN TÁNH TỐI HẬU
Bằng cách thấu suốt năm đối tượng được nắm bắt bên ngoài như là những phản chiếu của mặt trăng (trong nước) và là một ảo ảnh, sẽ không có chút khuynh hướng nhỏ nào bám níu do những ý niệm bám nắm vào (những đối tượng như là) thật có. Bằng cách thấu suốt những giác quan nắm bắt bên trong là không có phần tử như hư không, người nắm bắt chúng là trống không trong thực thể của nó. Cảm giác tự nhiên, vắng dứt người nắm bắt và cái được nắm bắt, và tự do khỏi những phóng chiếu và thu hồi là trí huệ ba la mật như cam lồ. Nó là tánh sáng ngời tự nhiên, sâu thẳm, an bình, tự do và là trí huệ bổn nguyên tự-phân biệt…. Nó là sự hoàn thiện của trí huệ trong đó không có sanh tử ở đây, niết bàn ở kia, hay con đường tu hành ở giữa.
(j) CÁCH LÀM VIÊN MÃN CÁI THẤY
Ở trong trạng thái chứng ngộ nghĩa của cái thấy vĩ đại bao la như một con tàu, người ta vượt qua đại dương ý niệm hóa của sanh tử, và rồi không có ý niệm nào, người ta hợp nhất trí năng của mình với cái nền tảng vốn thoát khỏi mọi sự ý niệm hóa. Bởi vì cảnh giới tối hậu và trí huệ vốn không thể chia cách, cái thấy được gọi là trạng thái của Đại Toàn Thiện, và thế nên nó được gọi là sự hoàn thiện của Đại Toàn Thiện. Đó là sự hiển lộ của chứng ngộ cái toàn thiện của nghĩa tự hữu và vô sanh.
(k) SỰ NHẬN BIẾT AN ĐỊNH VÀ QUÁN CHIẾU TOÀN HẢO
Khi người ta tham thiền như vậy, tâm tự nhiên an trụ mà không có những phóng chiếu và thu hồi. Phương diện vô niệm và trống không do an trụ (trong tham thiền) là sự an định. Nó là sự hoàn thành của tích tập trí huệ bổn nguyên và là giai đoạn hoàn thiện của trí huệ, nguyên nhân của Pháp thân. Phương diện những hình tướng xuất hiện do sự sáng tỏ là quán chiếu. Nó là sự hoàn thành của tích tập công đức và là giai đoạn phát triển của phương diện thiện xảo, nguyên nhân của Sắc thân. Vào lúc đó người ta thành tựu sáu ba la mật tuyệt đối, sự tự do đối với ý niệm hóa…. Tu hành bố thí, trì giới, nhẫn nhục,…. là sự nhẫn chịu trong chúng và nó không phải là sự hoàn thiện dần dần hay vượt lên chúng. Khi Bồ tát siêu vượt chúng, nó trở thành sự hoàn thiện của chúng. Vào lúc đó, người ta hoàn thiện giới luật tuyệt đối. Trong kinh Arya-susthitamatidevaputra-pariprccha-nama-mahayana có nói : “Trong người nào không có ý niệm về giới cũng như những dấu vết nhiễm ô của giới, đó là sự hoàn thiện của giới.”
(l) CHỨC NĂNG CỦA AN ĐINH VÀ QUÁN CHIẾU
Đạt được kinh nghiệm trong quán chiếu đã chứng ngộ ở trước tùy thuộc vào an định. Thế nên chắc chắn người ta cần những nỗ lực để thành tựu sự hợp nhất (của an định và quán chiếu).
(m) THỜI GIAN CHỨNG NGỘ VÔ NIỆM SAU KHI CÓ ĐƯỢC
KINH NGHIỆM
Khi thực hành về nghĩa toàn thiện, chứng ngộ rằng những chủ thể và những đối tượng và những chất thể và những không chất thể đều không có tự tánh là quán chiếu, nó đến trước tiên. An trụ trong trạng thái chứng ngộ ấy mà không có sự sanh khởi của những hình sắc trong tâm trí là an định, nó đến sau. Khi cõi giới và trí huệ bổn nguyên trở thành không thể chia tách, sự không thể chia tách của chúng phải được biết như là sự đạt đến kết quả của hợp nhất.
(iii)Đã được kinh nghiệm, cách hoàn thiện sự tham thiền
(a) NHỮNG ĐỨC HẠNH CỦA THAM THIỀN
Trong tâm, những đức hạnh hiện diện một cách bổn nguyên, vốn có, nhưng khi tâm bị che phủ bởi những che ám thì những đức hạnh không biểu lộ. Bằng cách thiền định về an định và quán chiếu, người ta tịnh hóa một số che ám (như những ý niệm ngoại sanh) và thành tựu những chứng đắc phần hạn. Khi những ý niệm tâm thức tan vào cõi giới tối hậu, ….bởi vì đã tịnh hóa những ý niệm tâm thức, với thời gian người ta hoàn thành nhiều đức hạnh, như những định.
(b) CHÍN ĐỊNH
Chín định là tâm của sự ngừng dứt, bốn cấp độ định (của sắc giới) và bốn cấp độ của vô sắc giới. Chúng là chín tham thiền, những hoàn thiện của chín định….
Tâm nhất tâm với trí huệ của lạc, sáng tỏ và vô niệm được thành tựu trong đời của những chúng sanh dục giới, như con người, nhờ sự tu hành an định và quán chiếu, như đã giải thích ở trước. Nó được thành tựu nhờ cuộc đời làm người quý báu, bởi thế nó liên hệ với con người…. Tâm của bốn định của những cõi sắc : (1) Định thứ nhất : Khi người ta thực hành tham thiền nhất tâm, cái sơ bộ là khả năng tham thiền. Nó sẽ bắt đầu với tư tưởng (thô) rằng tôi nên tham thiền, và qua áp dụng sự gom tụ những tư tưởng phân tích vi tế để tham thiền trong trạng thái vô niệm, trí huệ thoát khỏi những ý niệm, thiền định thực sự được khởi sanh. Trong thời gian ngoài thiền định, người ta sẽ có vừa cả những tư tưởng (thô) và những tư tưởng phân tích (tế). (2) Định thứ hai : Qua những sơ bộ của cấp độ tâm thức định thứ nhất và bằng sự áp dụng không có những tư tưởng (vô niệm) thô mà chỉ có những tư tưởng phân tích tế, định thực sự của sáng tỏ và vô niệm sanh khởi. (3) Định thứ ba : Qua những sơ bộ của cấp độ tâm thức của định thứ hai và bằng sự áp dụng sự dứt bặt những tư tưởng thô và những tư tưởng phân tích tế, định phi thường thực sự của vô niệm khởi sanh trực tiếp. (4) Định thứ tư : Qua những sơ bộ của cấp độ tâm thức của định thứ ba và bằng áp dụng những tham thiền, định phi thường thực sự của hỷ và lạc sanh khởi. Trung Bát Nhã Ba la mật nói :
“Một cái định với những tư tưởng (thô) và phân tích (tế) là định thứ nhất. Với phân tích mà không có những tư tưởng là định thứ hai. Không có những tư tưởng lẫn phân tích là định thứ ba. Tâm hoan hỷ là định thứ tư.”
(c) NHỮNG ĐỊNH CỦA VÔ SẮC GIỚI
Nhờ tâm của bốn định sắc giới, những tâm phi thường của bốn cõi vô sắc được phát sanh. (1) Thứ nhất là trạng thái (thiền) vô biên như hư không. Nó là một ý niệm vững chắc rằng tất cả hiện tượng là thanh tịnh và không dơ nhiễm như hư không. (2) Trạng thái vô biên của thức. Nó ý niệm rằng ngay cả sự vô biên như hư không cũng chỉ là tâm và tâm thức đó là vô hạn, tự do từ vô thủy đến vô chung. (3) Trạng thái của không. Nó là cái ý niệm không quan sát thậm chí sự vô biên của thức, và (trong nó) không có gì được thấy bởi tâm. (4) Trạng thái đỉnh cao của hiện hữu. Nó ý niệm sự vượt khỏi cả hai cực đoan hiện hữu và không hiện hữu.
Trạng thái dứt diệt (diệt tận định) : Nó là sự dứt diệt của tất cả mọi thứ ý niệm hóa…. Có hai sự dứt diệt : Sự dứt diệt phân tích thuộc cá nhân (đạt được qua) những phân biệt và phân tích bởi tâm. Sự dứt diệt không phân tích (đạt được qua) tham thiền về bản tánh tối hậu mà không có những phân biện (của tâm thức). Trong trường hợp dứt diệt của những Bồ tát, các vị (vẫn) phụng sự chúng sanh qua (năng lực của) lòng bi….
Câu hỏi : (Nếu vị ấy có lòng bi,) bấy giờ làm sao vị ấy có thể thoát khỏi những ý niệm hóa ?
Trả lời : Không có những ý niệm hóa bởi vì vị ấy sở hữu lòng bi của trí huệ vô niệm.
(d) NHỮNG PHƯƠNG PHÁP TU HÀNH CHÍN ĐỊNH
Bằng cách thiền định về những định sau chót, người ta phát lộ (năm) nhãn thiêng liêng và (sáu) thông mà nó chưa có. Nó sẽ thấy những giai đoạn khác nhau của những cõi Phật và những đức hạnh Phật khi tiến bộ trong những giai đoạn của con đường. Nó nhận được những chỉ dạy và hoàn thiện những tích tập của mình.
(e) THỜI GIAN ĐẠT ĐƯỢC BA THAM THIỀN
Mặt trời độc nhất được biết (qua nhiều tên như) “cái chiếu sáng” vì nó xua tan bóng tối, “cái ngàn ánh sáng” vì nó phóng chiếu những tia sáng, và “bạn của hoa sen” vì nó làm hoa sen nở. Cũng như vậy, sự tham thiền được biết có tên là “định như huyễn”, vì nó là tham thiền nhất tâm về sự chứng ngộ những hình tướng là huyễn, “định không ô nhiễm như mặt trăng”, vì nó xua tan bóng tối và đau đớn của phiền não, “định không che ám như hư không”, vì nó là sự chứng ngộ mọi hiện tượng là như hư không v.v…. Sự tham thiền là cùng một bản tánh, nhưng tùy theo sự tiến bộ của nó, những đức hạnh của nó tăng thêm và có hàng trăm ngàn đức hạnh nữa sẽ đạt được.
(f) ĐẠT ĐẾN THAM THIỀN HỢP NHẤT
Những lời và những ý nghĩa của Pháp được chứng ngộ hoàn toàn bởi quán chiếu phân biện, và chúng được duy trì nhất tâm trong tâm bằng an định. Thế nên quán chiếu là sự gom tụ (nghĩa là chứng ngộ) và an định là tham thiền. Trong Ye-Shes rGyas-Pa có nói :
Quán chiếu là sự gom tụ (chứng ngộ) của Pháp,
An định là tham thiền.
  1. Hai Mươi Bảy Bài Giảng về Tu hành Đại Toàn Thiện
Trong Những Giáo Huấn Ý Nghĩa về Ba Đức Hạnh Buông Xả trong Trạng Thái Tự Nhiên của Tâm, Longchen Rabjam trình bày một trăm bốn mươi mốt bài giảng về tu hành chia thành ba chương. Chương thứ nhất về những giáo lý chung bên ngoài của Kinh, chương hai về những giáo lý mật bên trong của Tantra, và chương ba về những giáo lý sâu nhất của Đại Toàn Thiện. Phần sau đây là một rút ngắn của chương ba, gồm hai mươi bảy bài giảng về tu hành.
NHẬN BIẾT (NỀN TẢNG) QUA (THẤU HIỂU) CÁI THẤY
Những Đối Tượng Bên ngoài Được Nắm Bắt là  
Tánh Không Vô Tự Tánh
(i) Những hình tướng là những phản chiếu không thực như tám thí dụ về huyễn.Mỗi phương diện của năm đối tượng, như sắc, gồm trong những hiện tượng của thế giới và chúng sanh, chỉ là những hình tướng không có hiện hữu thật sự. Mọi hình tướng xuất hiện với cả hai những tri giác thanh tịnh của chư Phật và những tri giác bất tịnh của chúng sanh mê lầm đều là những cái thấy biết của trí huệ và tâm. Khi những hình tướng xuất hiện với cả hai loại tri giác, chúng xuất hiện mà vô tự tánh, như sự phản chiếu trong một tấm gương và những tia cầu vồng trong bầu trời. Với tri giác thanh tịnh của trí huệ, những hình tướng siêu vượt khỏi những cực đoan có và không vì không có những nhiễm ô của người nắm bắt và cái được nắm bắt. Vì không có tạo ra, diệt mất và biến đổi, tất cả thoát khỏi những tính cách của những hiện tượng hợp tạo hữu vi và những xuất hiện không hợp tạo vô vi, và hoàn toàn thoát khỏi mọi ý niệm hóa. Còn với tri giác của tâm mê lầm, (những hình tướng) chỉ xuất hiện như đối tượng cho sự nắm bắt của bản ngã, sự nắm bắt này rơi vào (những ý niệm) cực đoan có và không, lìa khỏi (bản tánh) không hợp tạo, và làm mạnh thêm những thói quen ngoại sanh và theo duyên. Thế nên, ở đây, người ta sẽ hiểu rằng những đối tượng, những hình tướng xuất hiện huyễn ảo của tâm, là không thực. Những hình tướng khác biệt bên ngoài, như trắng và đỏ, chỉ là những cái thấy biết của thói quen khô cứng, như một giấc mộng do một người say rượu trong giấc ngủ vô minh tạo ra. Không có chút hiện hữu nào (trong chúng) như là đối tượng trong thật nghĩa. Lại nữa, những hình tướng ấy không phải là tâm từ điểm ban đầu sanh khởi, bởi vì những tính cách chất thể của chúng như màu sắc, kích cỡ và những phân biệt, phủ nhận tính chất của tâm. Đồng thời chúng không khác tâm, bởi vì ngoài hiện thể của chúng vốn chỉ là những tri giác hư vọng (của tâm) thì không có vật thể nào khác được xác lập như vậy cả. Những hình tướng xuất hiện với tâm chỉ là những loại kinh nghiệm của thói quen khô cứng tiếp tục từ vô thủy. Nó giống như nằm mộng đêm qua về một màn trình diễn ảo thuật đã thấy buổi hôm kia. Bởi thế, người ta phải nghĩ rằng bất cứ cái gì xuất hiện đều là những hình tướng của không hiện hữu, và không có nền tảng, chỗ ở, hiện hữu tự nhiên và (thực thể) có thể phân biệt. Chúng chỉ là một hình tướng xuất hiện trong suốt của bản tánh trống không như một giấc mộng, một trò huyễn thuật, một ảo ảnh, một tiếng vang, một cái nhìn thấy bóng dáng mập mờ, một mặt trăng trong nước, một phép lạ hóa hiện và như một thành phố của những kẻ ăn mùi hương (một thế giới hồn ma). Bất cứ cái gì xuất hiện, ta và người, thù và bạn, đồng quê hay thành thị, nơi chốn hay nhà cửa, thức ăn, thức uống hay tài sản và bất cứ điều gì người ta làm, ăn hay ngủ, đi hay ngồi, người ta phải tu hành thấy chúng là không thật. Người ta cần hiến mình cho sự tu hành này trong mọi phương diện : những thực hành sơ bộ, chánh yếu và kết thúc.
(ii) Những đối tượng, nếu phân tích, là trống không. Nếu những hình tướng được khảo sát từ thô đến tế xuống đến những nguyên tử, chúng là không có phần tử và không hiện hữu. Thế nên sắc là Không. (Cũng thế,) bằng cách khảo sát màu sắc và nhận biết âm thanh, nó sẽ được tìm thấy là trống không. Bằng cách khảo sát hình sắc và bản chất của mùi hương, nó sẽ được tìm thấy là trống không. Bằng cách khảo sát những phương diện của vị, chúng sẽ được tìm thấy là trống không. Đặc biệt, bằng cách khảo sát những nguồn gốc (những đối tượng giác quan) sự trống không của xúc chạm sẽ được đạt đến. Dù chúng khác nhau trong sự xuất hiện, chúng là như nhau trong bản tánh của chúng là tánh Không, thế nên tánh Không của nhiều đối tượng khác nhau không phải là những phạm trù tách biệt. Bản tánh của chúng, như hư không thanh tịnh, siêu vượt khỏi tách biệt hay đồng nhất. Thế nên, bản tánh của những xuất hiện đối tượng là trống không trong tinh túy của nó.
Người Nắm Bắt Không Có Nền Tảng và Không Gốc Rễ
(i) Những thức là tự-sáng tỏ mà không nền tảng. (Có tám thức). Năm thức giác quan khởi sanh như là năm đối tượng như sắc…., ý thức tri nhận ấn tượng tổng thể (của những đối tượng xuất hiện) và chỉ định chúng như là những đối tượng, ý thức nhiễm ô là cảm thức phủ nhận, chấp nhận, ghét bỏ và thù địch…., ý thức khởi sanh sau sáu thức (năm thức giác quan và thức nền tảng của tất cả hiện hữu – a lại da thức), ….và thức của nền tảng phổ quát là tự-sáng tỏ (Rang-gSal) và vô niệm không dính dáng đến những đối tượng : đấy là tám thức. Ngay vào lúc phát động của bất cứ cái nào trong bản thân tám thức ấy, dầu bất cứ thức nào cũng là trong sáng, sống động và tự-sáng tỏ mà không có những nền tảng. Dù chúng có vẻ trong sáng, không có thực thể chất thể nào. Chúng xuất hiện mà không có sự hiện hữu, như hư không quang đãng và một ngọn gió mát nhẹ không có bụi bặm. Sự sáng tỏ của chúng thì hiện diện tự nhiên như bầu trời không mây. Những chuyển động của chúng giống như gió, không có những chất thể phân biệt. Từ lúc tối sơ xuất hiện, những thức như là những người nắm bắt là tự-sáng tỏ và không phân biệt. Hãy quan sát chúng khi chúng khởi sanh và khi chúng trụ. Hãy buông xả tự nhiên và quan sát cách thức xuất hiện của người nắm bắt. Nhờ đó người ta sẽ thấu hiểu những người nắm bắt (những thức) thực chất chỉ là một hình tướng xuất hiện của sự sáng tỏ mà không có tự tánh, trống không không thiên chấp, và là sự tự-sáng tỏ không nền tảng.
(ii) Chủ thể, nếu phân tích, là trống không, không có gốc rễ. Bằng cách phân tích (hoặc là) tâm tự-sáng, không có căn cứ trong những hình tướng bên ngoài, trong thân thể hay nơi những chuyển động ở chặng giữa, hoặc nếu thực thể của tâm tự trụ được nhận biết theo hình dáng, màu sắc, sanh, trụ, diệt của nó, người ta sẽ chứng ngộ rằng bản tánh của tâm là không hiện hữu, không có căn cứ, và thoát khỏi những cực đoan có hay không. Trong sự tu hành này, lòng sùng tín đối với Lama là điều quan trọng nhất.
KÉO DÀI TRẠNG THÁI (CHỨNG NGỘ CÁI THẤY) 
BẰNG THAM THIỀN
Phác Họa sự Tham Thiền cho Người thuộc Ba Cấp Độ Trí Năng
(i) Cấp độ tham thiền cho người trí năng kém.
(a) TÌM KIẾM SỰ AN ĐỊNH
(1) THUẦN HÓA NHỮNG TƯ TƯỞNG
Trước hết người ta cần thực hành Guru Yoga. Rồi ngồi trong tư thế Vairocana (Tỳ Lô Giá Na) có bảy điểm. Đặc biệt, bày tay phủ lên đầu gối và cổ cần giữ thẳng. Hãy quán tưởng ba kinh mạch, và khi thở ra từ những phần dưới chót của kinh mạch Roma và Kyangma hãy thở ra không khí sáng rỡ như như một chuỗi khói cuộn (nhiều màu và bản chất khác nhau) : Trắng và trong sáng, xanh và lan tỏa, đỏ và sâu, vàng và trong sáng, lục và ấm áp, xanh và đơn điệu. Khi thở vào, đếm đến năm trong tâm bạn. Như thế, bằng cách tham thiền một xâu chuỗi (108 chu kỳ thở), những tư tưởng thô sẽ bình lặng.
(2) TẬP TRUNG CỦA TÂM
Hãy giữ một đối tượng như một hình ảnh, một cuốn kinh, một hòn sỏi hay một miếng gỗ trước mặt bạn. Giữ sự trông chừng đối tượng mà không chuyển động và tập trung vào nó mà không xao lãng. Khi tập trung, bất kỳ khó chịu, mùi hương, tư tưởng nào khởi lên, hãy cắt lìa chúng và để chúng ra đi. Xem đối tượng tập trung với một tâm trống trơn. Nếu tâm nhất tâm, bấy giờ hãy thiền định nhất tâm bằng cách nhắm mắt, và tập trung trên hình sắc những của đối tượng (in trong tâm). Nếu tâm trở nên phóng dật, hãy mở mắt ra và tập trung thẳng vào chính đối tượng. Bằng cách thực hành theo cách này, hãy khai triển sự an định của tâm, sự tập trung vào những hình tướng của năm đối tượng của năm giác quan và những hiện tượng, đối tượng của tâm.
(3) TẬP TRUNG VÀO ÂM THANH VÀ NHỮNG CÁI KHÁC
Cũng thế người ta tu hành trên âm thanh…. Hãy tham thiền bằng cách tập trung tai nhất tâm vào âm thanh của người, gió, những con chó…. Lại nữa, tham thiền bằng cách xoay vào trong, thôi nghe tiếng động thực sự và nghe tiếng được in vào trong tâm. Bằng cách lập lại hai sự tu hành (về âm thanh) này lần lượt, người ta sẽ hoàn thiện sự tập trung vào âm thanh. Trong cùng cách đó, hãy thực hành trên hương, vị và xúc dùng cùng những kỹ thuật. Bằng cách làm những thực hành này, về sau, khi người ta tham thiền (về bất cứ loại thiền định nào,) năm đối tượng giác quan sẽ không có những phóng dật mà là những hỗ trợ. Thế nên nó rất quan trọng.
(4) TU HÀNH TRÊN PHÁP
Hãy tự quán tưởng mình là một hóa thần bổn tôn và tham thiền trong trạng thái ấy mà không dao động. Khi người ta có thể duy trì sự tập trung nhất tâm, hãy tham thiền rằng những hóa thần ấy ban phước cho chúng sanh khi phát ra và thu hồi những tia sáng, hoặc bốn tâm vô lượng với chúng sanh, tập chú vào những thiền định ấy với tâm sáng tỏ và nhất niệm mà không dao động. Lập lại hai sự tu hành này (chỉ tập trung và ban phước cho chúng sanh) lần lượt kế tiếp nhau, người ta sẽ khai triển an định khi duy trì sự tập trung vào tính bình đẳng (của hai trường hợp) phóng chiếu và an trụ của tâm.
(b) KHAI TRIỂN QUÁN CHIẾU
(1) THAM THIỀN TRONG TRẠNG THÁI BÌNH ĐẲNG NHƯ HƯ KHÔNG DỨT BẶT NHỮNG ĐỐI TƯỢNG BÊN NGOÀI ĐỂ NẮM BẮT
Nhiều đối tượng khác nhau xuất hiện biểu lộ như mộng và huyễn thuật, nhưng nếu được phân tích xuống tới những nguyên tử không có phần tử, chúng (được thấy) là trống không, vì chúng không hiện hữu. Thế nên, hãy tham thiền tự nhiên trong trạng thái tự-sáng tỏ và trống không, không có đối tượng cũng như các giác quan nắm bắt để hiểu biết. Đây là một điểm quan trọng cho sự chứng ngộ vô ngã của những đối tượng và những tri giác.
(2) NGƯỜI NẮM BẮT BÊN TRONG LÀ KHÔNG CÓ GỐC RỄ VÀ 
TRỐNG KHÔNG
Khi người ta tìm kiếm bản chất của tâm, cái tâm hiểu biết những chủ thể và những đối tượng, người ta sẽ không tìm thấy nó có bất kỳ hiện hữu nào, quá khứ hay hiện tại, vật chất hay chẳng phải vật chất, đến, trụ và đi, hay màu sắc và hình dáng v.v…. Đến đây, hãy an trụ tự nhiên trong trạng thái của tâm không gốc rễ, vô trụ mà không có sự nắm bắt. Điều này sẽ đưa đến chứng ngộ tánh Không của sự nắm bắt cho là “tôi” và “bản thân tôi”.
(3) THAM THIỀN VỀ SỰ HỢP NHẤT (CỦA AN ĐịNH VÀ QUÁN CHIẾU)
Đây là sự tu hành hợp nhất an định và quán chiếu, trong khi sự tu hành ở trước chúng được thực hành riêng rẽ…. Bất cứ cái gì xuất hiện (trong tâm), hãy tham thiền trong trạng thái bình thản tự nhiên, bằng phẳng một cách an lạc, trong sáng không dấu vết, tự do bao la, và rỗng rang không giới hạn mà không có một biên giới nào của phân tích dựng lên. Vào lúc đó sự chứng ngộ như hư không hiện khởi, nó không có trong, ngoài hay ở giữa. Nó là sự thành tựu tự nhiên của an định vì nó an trụ, của quán chiếu vì nó trong sáng và của hợp nhất một vị vì nó không thể chia tách.
(ii) Cách thiền định cho người trí năng bình thường.
(a) THIỀN ĐỊNH VỀ TÁNH KHÔNG NHƯ HƯ KHÔNG
Thân ở trong tư thế Vairocana bảy điểm không cử động, như núi Tu Di. Những giác quan ở yên một cách trong sáng trong sự tự-sáng tỏ không ngừng, như phản chiếu của mặt trăng trong một cái ao. Bất cứ hình tướng gì khởi lên (trong tâm), chớ tập trung vào phương diện xuất hiện mà ở yên với phương diện tánh Không của nó, đó là sự sáng tỏ toàn triệt, vô trụ và tràn đầy mà không có (những phân biệt và giới hạn) ngoài, trong hay giữa. Qua sự thiền định này người ta chứng ngộ tất cả mọi hiện tượng là tánh Không không kẽ hở không gián đoạn như hư không.
(b) THIỀN ĐỊNH VỀ SỰ SÁNG TỎ NHƯ TẤM GƯƠNG
Tư thế của thân và sự tập chú của những khả năng giác quan thì tương tự với thiền định ở trước. Ở đây người ta không tập trung vào phương diện tánh Không mà tham thiền trạng thái tự-sáng tỏ không có nắm bắt của những thấy biết, một cách trong sáng, sống động và mãnh liệt. Bấy giờ sự chứng ngộ về không định nghĩa (những tri giác hay những hình tướng không được định nghĩa) (Khral-Ma Khrol) hiện khởi, trong đó mọi hiện tượng xuất hiện mà không có sự nắm hiểu.
(c) THIỀN ĐỊNH VỀ NHỮNG SANH KHỞI NHƯ SÓNG
Tư thế của thân và sự tập chú của những khả năng giác quan giống như ở trên. Ở đây, người ta đặc biệt tập chú vào sự sanh khởi của những tư tưởng phóng ra và thu vào, qua trạng thái của tánh giác vốn có sẵn (Rig-pa). Từ đó, hiện khởi sự chứng ngộ về giải thoát những tư tưởng là không có căn cứ và không thể nắm bắt như những cơn sóng tan biến trong nước.
(iii) Cách thiền định cho người trí năng cao.
Ở đây, (trạng thái thiền định và chứng ngộ) là một dòng tương tục không ngừng như sự chảy của một dòng sông. Trong sự chứng ngộ tánh giác là Pháp thân, những phóng chiếu và thu hồi (của tâm thức) khởi lên và tan biến như trò chơi của bản tánh tối hậu. Từ đó, mọi sự khởi sanh như là sự tu hành làm sáng tỏ cho chứng ngộ, mà không có những lấy hay bỏ và những lệch lạc hay che ám. Trên một đảo bằng vàng, đá thường và đất là không thể có dù cố sức tìm kiếm. Cũng thế, bởi vì bất cứ cái gì sanh khởi trong tâm thức là sanh khởi như trí huệ tự nhiên sanh khởi, những tư tưởng nơi chủ thể không gì khác hơn là sự chứng ngộ của Phổ Hiền (Samantabhadra) vốn giải thoát từ vô thủy. Bất cứ cái gì sanh khởi như đối tượng là sanh khởi như sắc tướng của tánh Không. Thế nên, (đối với thiền giả) những tư tưởng về đối tượng không gì khác hơn là pháp giới thênh thang của Phổ Hiền Nữ (Samantabhadri) vốn tự giải thoát từ vô thủy. (Với thiền giả đó) tất cả mọi phương diện hiện tượng, chúng thường được nắm bắt riêng rẽ như tâm và đối vật, đã dừng dứt trong cảnh giới Đại Toàn Thiện bất nhị. Trong đó mọi hiện tượng vốn khởi sanh trong pháp giới của trí huệ mà không có (những phân biệt) ngoài và trong, vốn trở thành bình đẳng nhất như không có đỉnh cao hay đáy thấp, vốn sanh khởi như trí huệ bổn nguyên tự-khởi mà không có phương hướng và điểm trụ, vốn sanh khởi như trò chơi của bản tánh tối hậu không thiên trệ, vốn tự hoàn thiện chính chúng trong trạng thái tự nhiên trụ mà không có ta và người, và vốn đạt đến cảnh giới bổn nguyên không thời gian không nơi chốn. Đó là lúc mà trí năng của thiền giả đã cạn kiệt, nó hân hoan hạnh phúc trong trạng thái tịch diệt, cạn sạch những hình tướng trong bản tánh tối hậu. Ở đây, do đã được đưa vào sự chứng ngộ không gián đoạn và sự tỉnh giác đã trở thành trần truồng, người ta hộ trì tâm thanh tịnh tự nhiên không thiền định, trôi nổi phiêu bồng một cách trần truồng và hoàn toàn không ngăn ngại, và với sự tin cậy sâu thẳm vào Nó.
Giải Thích Những Phương Tiện Thiện Xảo trong Chi Tiết
(i) An định.
(a) ĐẮC AN ĐỊNH
(1) THAM THIỀN VỀ NHỮNG ĐỐI TƯỢNG THẤY ĐƯỢC
Tham thiền về những đối tượng thấy được ở bên ngoài như một hình vẽ thì giống như đã nói ở trước. Đối với tham thiền về những đối tượng xuất hiện bên trong, khi những giác quan bị phóng dật và không an trụ trong tập trung, hãy quán tưởng trong tim một hoa sen trắng hay một chày kim cương chữ thập…., và hãy quán tưởng phần đỉnh chót của nó kéo dài xuống dưới và đụng đến “nền đất bằng vàng uy nghi” và được ổn định. Khi tâm đã có thể tham thiền, hãy rút phần đỉnh chót vào tim và an trụ nhất tâm. Bằng sự thực hành này, (sự chứng ngộ) “vô niệm” sẽ hiện khởi.
(2) TẬP TRUNG VÀO NHỮNG ĐỐI TƯỢNG KHÔNG XUẤT HIỆN
Nó là sự tham thiền trong trạng thái không có những tư tưởng trong tâm. Nó là một tu hành tham thiền trong trạng thái của tánh Không, (trong đó), đã làm tan biến mọi hiện tượng bên trong và bên ngoài, hay bằng cách quán tưởng khuôn mặt hay những tay…. của những thần bổn tôn, người ta làm tan biến mọi tư tưởng khác vào trong quán tưởng, và rồi người ta tham thiền về quán tưởng đó cũng trong trạng thái không hình tướng. Qua những thực hành này, an định của không ý niệm hóa sẽ hiện khởi.
(b)TIẾN BỘ
Đi bộ một lát khi tập chú (tâm thức) vào sự tham thiền ở trước (sự an định không có ý niệm hóa). Bằng cách tham thiền trong an định, hòa trộn nó với nói chuyện và suy nghĩ chút chút, kinh nghiệm (của tham thiền) sẽ tiến bộ. Nếu sự tham thiền trở nên không trong sáng, hãy nâng cao nó bằng cách để cho tâm dao động. Rồi sự tham thiền sẽ trở thành rất trong sáng.
(ii) Quán Chiếu.
(a) ĐẮC QUÁN CHIẾU
(1) TU HÀNH VỚI NHỮNG HÌNH TƯỚNG XUẤT HIỆN
Nghĩ rằng bất cứ cái gì xuất hiện là không thực, tham thiền rằng những hình tướng của những đối tượng hiện tượng là sự xuất hiện huyễn thuật và là những giấc mộng. Có một khác biệt lớn giữa “Nó là xuất hiện huyễn thuật” và “Nó giống như xuất hiện huyễn thuật”. Trong những tu hành ở trước có dạy rằng những hiện tượng là giống như một xuất hiện huyễn thuật, và ở đây dạy rằng chúng quả thực là xuất hiện huyễn thuật.
(2) TU HÀNH TÁNH KHÔNG
Ngay khoảnh khắc xuất hiện của hiện tượng, dầu người ta quán sát cái gì, hãy thấy chúng là bản tánh trống không, không có dấu vết gì và hãy trụ trong bản tánh như hư không mà không suy nghĩ cái gì cả. Những tu hành ở trước về tánh Không được đạt đến bằng phân tích, và ở đây là tu hành về tánh Không (do) tiếp cận trực tiếp với sự tự-sáng tỏ. Thế nên có một khác biệt lớn.
(b) TIẾN BỘ CỦA QUÁN CHIẾU
Bất cứ hoạt động nào của người ta, hãy thiền định bằng cách hợp nhất chúng với tánh Không do tập trung vào việc làm tan biến những hình tướng vào tánh Không. Sau đó, không một phút giây phóng dật đến những đối tượng như sắc…., hãy tu hành tự nhiên trong tánh sáng tỏ, tánh Không và vắng dứt sự nắm bắt.
(iii) Hợp nhất (An định và Quán chiếu).
(a) HỢP NHẤT THỰC SỰ
Hãy ngồi trong tư thế thích hợp. Bất cứ cái gì xuất hiện hay sanh khởi, ngay lúc đó, không có phân biệt, hãy quan sát triệt để tánh giác nội tại, miếng đất cội nguồn của sự sanh khởi. Hãy tham thiền tại đó mà không phân tích chỗ nào khác. Đây là điểm sâu xa nhất. Bấy giờ, bởi vì luôn luôn an trụ trong trạng thái bình đẳng của phóng chiếu và an trụ (của những tư tưởng), những chuyển động của tâm sẽ không làm hại sự an trụ (trong trạng thái tánh giác nội tại). Đây là sự đạt đến tinh túy của tánh giác nội tại, sự hợp nhất của tánh Không, sự sáng tỏ và sự sanh khởi. Nó là sự chứng ngọâ trạng thái nguyên thủy của ba thân.
(b) TIẾN BỘ (CỦA HỢP NHẤT)
Khi bầu trời sạch mây, hãy xoay lưng về mặt trời và nhìn đăm đăm vào chiều sâu của bầu trời trong “những tư thế quan sát” (lTa-sTangs). Vì bầu trời bên ngoài trong sáng, bầu trời-giác quan bên trong cũng trong sáng. Bấy giờ tức thời hiển lộ bản tánh tối hậu (Ch’os Nyid) của bầu trời trong sáng của tinh túy quang minh bí mật, siêu vượt những cực đoan hay trung tâm. Đây là giáo huấn tối thâm sâu do Kamasri ở Nepal ban cho. Nếu (những kinh nghiệm) không sáng sủa rõ ràng, hãy tu hành sự thiện xảo của an định và quán chiếu ; nếu chúng hôn trầm, hãy nâng cao chúng, và nếu chúng trạo cử, hãy làm chúng lặng xuống. Áp dụng phương pháp này cho tất cả mọi hoạt động ban ngày là một điểm rất quan trọng để hoàn thiện sự khéo léo thiện xảo.
(iv) Hoàn thiện (phương tiện thiện xảo của tu hành).
Khi thiền định như vậy, mọi kinh nghiệm, sự an trụ của tâm trong thiền định, những tư tưởng tốt, những tư tưởng xấu, những tri giác thanh tịnh và bất tịnh, đều là một vị tánh Không không chỗ trụ bao la, sự cạn sạch vĩ đại của những hiện tượng, siêu vượt trí thức, tánh bình đẳng vĩ đại không thiên trệ và là sự rỗng rang vĩ đại giải thoát khỏi mọi căn cứ trụ trước. Thế nên chớ bám nắm cái gì, chớ suy nghĩ về cái gì, chớ hỏi ai điều gì, chớ nương tựa vào cái gì, và hãy cắt đứt sợ hãi và sự bám níu những hy vọng và nghi ngờ, mà hãy đi vào trong trạng thái siêu việt vĩ đại khỏi trí thức và sự tan biến của những hiện tượng (vào trong bản tánh tối hậu), hãy đi đến cảnh giới vĩ đại của không có hành động và không bao giờ trở lại. Đây là sự khai triển xác tín tự tin vào cái hiện tiền.
KẾT QUẢ, SỰ THOÁT KHỎI MỌI MONG CẦU VÀ NGHI NGỜ
Tự Tánh của Cảnh Giới Tối Hậu của Bản Tánh Tối Hậu
Đây là chân lý tuyệt đối, cảnh giới tối hậu, trong đó không có cái gọi là sanh tử hay niết bàn. Nó không rơi vào những cực đoan của bất kỳ phương diện nào, mà là căn cứ cho sự khởi lên của mọi sự. Nó cũng được gọi là mục tiêu rốt ráo của chứng ngộ, nguồn của sự cạn sạch, mục đích của chứng đắc, và cõi giới tối hậu của trạng thái bổn nguyên. Nó không gì khác hơn là trí huệ bổn nguyên tự hữu. Nó là cái tự giác, thoát khỏi những ý niệm hóa và không rơi vào những nhị biên của mọi phương diện, chiều kích, mà vị Lama đã giới thiệu người ta vào. Cái ấy sẽ không được tìm thấy trong những nguồn (bên ngoài) nào khác…. Bởi vì cảnh giới tối hậu của Phật đã bị chúng ta che ám bởi những nhiễm ô ngoại sanh, mặc dù nó được định nghĩa như là “tánh thanh tịnh tự nhiên”, người ta cần hiểu rằng trong tinh túy không có cái gì là xấu hay tốt trong đó. Đây là sự chứng đắc xác tín vào sự hợp nhất hiện tiền của tánh giác và tánh Không như là cảnh giới tối hậu vốn tự viên thành.
Bản Tánh của những Thân, những Hình Tướng Xuất Hiện của 
Cõi Giới Tối Hậu
Trong cõi giới tối hậu này hiện tiền sự thành tựu của sự hợp nhất của thân và trí huệ bổn nguyên. Phương diện hiện tiền của bản tánh của cảnh giới tối hậu này, tự do khỏi sanh diệt và biến đổi và lìa ngoài lời nói, ý niệm và diễn tả, là Pháp thân. Phương diện sanh khởi tự nhiên những tướng chánh và những tướng phụ, siêu vượt khỏi thường kiến và đoạn kiến, thường trụ trong cảnh giới sáng ngời, là Báo thân. Phương diện phóng chiếu lòng bi không thiên vị, như cảnh giới của sự sanh khởi không ngừng, là Hóa thân. Phương diện của sự tự nhiên sở hữu những công đức thanh tịnh một cách nguyên thủy như là mười lực và vốn vô úy của Phật, nhiều như cát sông Hằng, trong cảnh giới tối hậu, là Tam Bồ đề (Sambodhi) thân. Phương diện hiện tiền viên thành của bản tánh tối hậu của cõi giới tối hậu không biến đổi trong ba thời là “Thân Kim cương vĩnh cửu”. Dù những nhiễm ô ngoại sanh có được tịnh hóa hay không, từ vô thủy của đời sống người ta như một chúng sanh bình thường, tinh túy của cái giác là tánh Không, bản tánh của nó là sự sáng tỏ, cách thế khởi hiện của nó là không ngừng, mọi sự (mọi công đức, đức hạnh) là hiện tiền và không biến đổi khỏi bản tánh của cái giác. Những cái ấy là những phương diện của năm thân, chúng hiện có mặt (trong chúng ta) ngay giờ đây. Thế nên người ta phải tin rằng năm thân là tự nhiên hiện diện (trong bản thân mình) mà không cần tìm kiếm chúng từ bất cứ nguồn nào khác. Đó là thấu hiểu rằng sự hợp nhất của tánh giác nội tại và tánh Không là năm thân.
Sự Phô Diễn của những Trí huệ Bổn Nguyên từ những Thân (Phật)
Trí huệ bổn nguyên của Pháp thân là sự siêu vượt khỏi ngôn ngữ, ý niệm và diễn tả. Trí huệ bổn nguyên của Báo thân có năm tính chất. Trí huệ bổn nguyên của Hóa thân là sự hiểu biết chân lý tuyệt đối và chân lý tương đối. Những nhiễm ô dù có được tịnh hóa hay không, những trí huệ bổn nguyên này tự nhiên hiện tiền hoàn toàn trong cõi giới tối hậu. Thế nên chúng có mặt trong sự tỉnh giác ngay vào lúc này. Tánh Không-Giác và trí huệ phân biệt vốn có sẵn, năm độc và sự tự-giải thoát không có dấu vết, là những tinh túy và phẩm tính hay những hiện tượng và bản tánh của những hiện tượng, và chúng hiện hữu trọn vẹn trong tánh giác như là những phương diện của nó. Đặc biệt khi một tư tưởng tham muốn chớp nhoáng trong người nào, dù nó là một nhiễm ô phiền não bình thường, nhưng bằng cách nhận ra nó và tham thiền về nó, nó sẽ sanh khởi như phúc lạc không có nắm bắt. Đó là Trí Huệ Bổn Nguyên Phân Biệt (Diệu Quan Sát Trí). Thù ghét khởi sanh đối với một đối tượng là giận dữ bình thường. Bằng cách nhận ra nó, nó khởi sanh như sự sáng tỏ, thoát khỏi những ý niệm. Đó là Trí Huệ Bổn Nguyên Như Tấm Gương (Đại Viên Cảnh Trí). Sự khởi lên của cái không biết là vô minh. Bằng cách nhận biết nó, nó khởi sanh như sự sáng tỏ tự nhiên không có những ý niệm. Nó là cảnh giới tối hậu của trí huệ bổn nguyên. Khoa trương, tự phụ mình tốt hơn những người khác là sự kiêu hãnh bình thường. Bằng cách nhận biết nó, người ta chứng ngộ bất nhị và bình đẳng. Đó là Trí Huệ Bổn Nguyên của Bình Đẳng (Bình Đẳng Tánh Trí). Sự khởi sanh của tư tưởng tranh đua là sự ghen ghét bình thường. Bằng cách nhận ra nó, nó được rửa sạch vì thoát khỏi thiên chấp. Đó là Trí Huệ Bổn Nguyên của Thành Tựu (Thành Sở Tác Trí). Trong tánh giác, mặc dù hậu quả của sự không nhận biết (chính tánh giác vốn sẵn đủ) khởi sanh như là năm độc, một khi nó được nhận biết, các độc khởi sanh như năng lực hay trò chơi của năm trí huệ bổn nguyên. Thế nên vào khoảnh khắc tối sơ này, nghĩa không chia tách của những thân (Phật) và những trí huệ bổn nguyên là tự nhiên hiện diện (trong chính mình). Hãy khai triển xác tín. Chớ có nghi ngờ hay hy vọng hão huyền. Hãy quyết định và phát sanh can đảm. Đây là sự đưa vào (Đại Toàn Thiện).
  1. Tâm Giải Thoát Tự Nhiên, Đại Toàn Thiện
    Sanskrit : Mahasandhicittatasvamukti-nama
    Tây Tạng : rDzogs-Pa Ch’en-Po Sems-Nyid Rang-Grol.
Phần này là một bản dịch trọn vẹn bản văn Tâm Giải Thoát Tự Nhiên. Nó là một của Ba Vòng nói về Giải Thoát Tự Nhiên trong Dzogpa Chenpo của Longchen Rabjam. Nó gồm ba chương. Chương thứ nhất là về những cái thấy, những tri kiến về “nền tảng”, chương hai về con đường thiền định, và chương ba về sự hoàn thiện quả. Trong phần này chúng tôi cố gắng giữ gìn chuỗi thứ tự những dòng kệ Tây Tạng trong bản dịch, nhưng có một số chỗ không thể tránh khỏi phải xáo trộn chữ từ dòng này sang dòng khác.
Kính lễ Phổ Hiền (Kuntu Zangpo)(1) Vinh Quang
Từ tinh túy(2) rốt ráo thanh tịnh siêu việt khỏi tư tưởng về đối tượng
Khởi lên như vầng sáng tĩnh lặng(3) tinh túy của bản tánh(4) tự nhiên thành tựu
Thanh tịnh khỏi những tính cách khác nhau của nhị nguyên người nắm bắt và cái được nắm bắt,(5)
Tâm,(6) thoát khỏi những phân biệt về phương diện và thiên chấp : con tôn kính quy mệnh.
Những hiện hữu hiện tượng là vô sanh, tự tánh bình đẳng ;
Trong đó thuần chỉ những hình tướng vốn tự giải thoát và tâm(7) thuần không có chút nắm bắt ;
Về vương quyền kỳ diệu này, Tâm Tự Nhiên Giải Thoát.
Hãy nghe khi tôi nói cho các bạn cái tôi đã chứng ngộ.
SỰ GIẢI THOÁT BẰNG CÁCH CHỨNG NGỘ NỀN TẢNG,”
chương một của
TÂM GIẢI THOÁT TỰ NHIÊN, ĐẠI TOÀN THIỆN
Cái thấy rốt ráo thanh tịnh không có những cực biên hay trung tâm.
Nó không thể được chỉ ra bằng cách nói “Nó là cái này”, trong nó cũng không có bất kỳ phân biệt cao thấp hay rộng hẹp nào,
Nó siêu vượt khỏi thường và đoạn, thoát khỏi những nhiễm ô của bốn khẳng định cực đoan.(8)
Tìm, sẽ không bao giờ tìm ra ; quan sát, nó không thể thấy.
Nó xa lìa phương hướng và thiên vị, siêu thoát khỏi mọi đối tượng của ý niệm.
Nó không có lập trường quan điểm, không phải không mà cũng chẳng không không.
Không có chứng ngộ và không chứng ngộ, không tính đếm, không mục tiêu đối tượng.
Tất cả mọi hiện tượng vốn thanh tịnh và giác ngộ một cách bổn nguyên,
Thế nên nó không sanh không diệt, không quan niệm và diễn tả.
Trong cõi giới(9) tối hậu, thanh tịnh và bất tịnh vốn là tự nhiên thanh tịnh và
Những hiện tượng là đại toàn thiện bình đẳng, lìa ý niệm vọng tưởng.
Vì không có trói buộc và giải thoát, trong đó không có đi, có đến, có ở.
Hình tướng và tánh Không là những quy ước đặt bày, người nắm bắt và cái được nắm bắt là huyễn hóa.
Hạnh phúc và khổ đau của sanh tử và niết bàn như những giấc mộng tốt và xấu.
Từ khoảnh khắc ban đầu xuất hiện, bản tánh của nó thoát khỏi mọi tạo tác.
Từ đó và trong nó, nhân quả duyên sanh của khởi diệt vĩ đại
Xuất hiện như một giấc mộng, như huyễn hóa, một ảo ảnh thị giác, một thành Càn Thát Bà,
Một tiếng vang, một phản chiếu, không có thực tại nào.
Mọi biến cố như sanh, trụ, diệt, trong thực tánh của chúng là vô sanh.
Thế nên chúng sẽ không bao giờ diệt cũng không chịu đựng đổi thay nào trong ba thời.
Chúng không đến từ đâu cũng không đi về đâu.
Chúng không trụ ở đâu : chúng như mộng như huyễn.
Một người ngu mê bị bám chấp vào hiện tượng cho là có thực,
Và nắm bắt chúng như những hiện tượng vật chất thô nặng, “tôi” và “bản ngã tôi”, trong khi
Chúng như một cô gái huyễn biến mất khi chạm đến.
Chúng không thật bởi vì chúng lừa dối và chỉ tác động như hình tướng xuất hiện.
Sáu cõi chúng sanh và những Tịnh Độ của chư Phật cũng
Không phải là những tập hợp của nguyên tử, mà chỉ là những tự-xuất hiện của những tâm chúng sanh.
Ví dụ, trong một giấc mộng chư Phật và những chúng sanh
Xuất hiện như là thật, với những đặc tính không thể nghĩ bàn.
Tuy nhiên, khi người ta thức dậy, chúng chỉ là một đối tượng thoáng chốc của tâm.
Mọi hiện tượng của sanh tử và niết bàn phải được thấu hiểu theo cùng cách ấy.
Không có tánh Không tách lìa với những hiện tượng bề ngoài nào.
Cũng như lửa và sức nóng, những phẩm tính của lửa.
Quan niệm về sự tách biệt của chúng chỉ là một phân chia bởi vọng tâm.
Nước và phản chiếu của mặt trăng trong nước là một, bất khả phân trong ao.
Cũng thế, những hình tướng(10) và tánh Không(11) là một trong Pháp tánh(12) vĩ đại.
Những hình tướng ấy là không sanh từ vô thủy, và chúng là Pháp thân.
Chúng giống như những phản chiếu, vốn tự nhiên không nhiễm ô và thanh tịnh.
Sự tạo tác của tâm ra hiện hữu và không hiện hữu của chúng là một ảo tưởng,
Thế nên chớ ý niệm hóa bất kỳ hình tướng nào sanh khởi ;
Những đối tượng xuất hiện ấy cũng là những phản chiếu của tâm.
Chúng như một khuôn mặt và hình phản chiếu của nó trong một tấm gương.
Trong khi vốn không làm gì có nhị nguyên, tri giác nhị nguyên là
Đặc tính tự nhiên của những kinh nghiệm của thói quen(13) từ vô thủy.
Tâm và những giấc mộng không tách lìa nhau,
Hơn nữa nó giống như sự xuất hiện của những giấc mộng với một người bị nhiễm độc bởi giấc ngủ.
Người ta phải biết rằng, không làm gì có một phân biệt căn bản giữa (chủ thể và đối tượng).
Chẳng hạn, giống như một đứa bé nhìn một tấm gương,
Người không biết thì lấy hay bỏ những đối tượng bên ngoài.
Khi một người mẹ thấy tấm gương, bà lau sạch nó ; tương tự
Thừa Nhân và Quả(14) biến đổi những đối tượng bên ngoài.
Một phu nhân, thấy nó, lau sạch mặt mình ; cũng thế
Người biết tánh Như(15) nhìn vào Tự Tâm.
Đây là Thừa Cốt Yếu, không hình tướng.
Trong tâm vốn vô tự tánh, những sự vật khác nhau
Khởi lên do những duyên như những phản chiếu
Xuất hiện trong một tấm gương hay trong đại dương.
Tinh túy tánh Không, bản tánh bất đoạn, và
Tính cách xuất hiện đa thù, trò phô diễn huyễn thuật, là
Sự phóng chiếu phân hai của sanh tử và niết bàn trong Nhất Tâm.
Nó giống như màu của một pha lê bị biến đổi bởi áo đen hay trắng.
Tinh túy thì không biến đổi, nhưng do những tri giác làm duyên như căn cứ của sự sanh khởi,
Những tri giác khác nhau có vẻ như thay đổi vào lúc chúng xuất hiện ;
Nhưng thực tế nó không thay đổi như sự thanh tịnh của pha lê.
Tâm vốn nguyên trống không, không có gốc rễ,
Nó không nhiễm ô bởi những hình tướng xuất hiện của sanh tử và niết bàn.
Suốt khắp ba thời từ vô thủy, trạng thái Phổ Hiền,
Tinh túy của sự toàn thiện bất biến tự nền tảng
Thì không bị nhiễm ô bởi những hình tướng của sáu đối tượng,(16) như trăng trong nước.
Với những hình tướng không hiện hữu của sanh tử niết bàn như một trò huyễn thuật,
Chớ nỗ lực phân biệt lấy bỏ, phủ nhận và bảo vệ, hay hy vọng và e sợ.
Đạt giải thoát bằng cách biết bản tánh của trò phô diễn huyễn thuật :
Đó như là, thấy đạo quân của huyễn hóa thì người ta bị bắt vào, nhưng
Do biết thực tại, không có gì sợ hãi. Cũng thế
Không cần thiết phải nhất thiết từ chối những hình tướng đối tượng.
Bản tánh của sanh tử là tinh túy của tâm,
Nó vốn nguyên là không sanh và giác ngộ,
Thế nên bằng cách thấy Tâm, sự chứng ngộ bản tánh của toàn bộ đời sống đạt được.
Bấy giờ không có Thái Bình nào khác để thành tựu.
Đó như sợ hãi những lực lượng của chính mình lầm cho là của những ai khác,
Rồi sau, nhận biết chúng, người ta cất khỏi gánh nặng.
Giờ đây do sự ban phước của Đạo Sư vinh quang,
Những tư tưởng thế gian được chứng ngộ là Pháp thân. Thế nên
Đại Lạc tự nhiên sanh khởi bên trong vô tận.
Không cần gì chấp nhận hay chối bỏ vì tất cả hiện tượng hiện hữu sanh khởi như là Đạo Sư.
Mọi giáo huấn không bao giờ vơi cạn là sự nâng đỡ cho giác ngộ.
Sự thỏa mãn trong An Lạc không bao giờ chấm dứt.
Tất cả là hạnh phúc, phổ khắp trong Pháp tánh, từ đó
Trò chơi biến đổi không ngừng của những hiện tượng là
Sắc thân(17) vốn tự viên thành và Pháp thân, những hình tướng xuất hiện và tánh Không, hai sự tích tập Phước-Huệ,
Phương tiện thiện xảo và trí huệ, thiền định và ra khỏi thiền định,
Tất cả vốn tự viên thành một cách tự nhiên.
Năm Thân và Năm Trí Bổn Nguyên tự nhiên không do chế tạo
Được hoàn thiện trong trạng thái của Tánh Giác Bổn Nhiên, không chỗ bám níu cho tri giác và thức.
Những địa, những con đường, sự gom tụ và tham thiền –
Những phẩm tính – là tự nhiên hoàn thiện trong tinh túy Pháp tánh.
Tánh Giác Bổn Nhiên tự-khởi vĩ đại không thiên trệ
Không thoái hóa biến chất bởi một (đối tượng) được nắm bắt và không ràng buộc bởi một chủ thể.
Nó giống như bản tánh của huyễn hóa, bất nhị và thanh tịnh.
Thế nên ích gì mà suy tính, luận bàn hay tham thiền ?
Không có gì là những giai đoạn phát triển và thành tựu, không nhị nguyên, không hợp nhất,
Không quan điểm hay phân chia các Thừa.
Tất cả những cái ấy đều là những quy ước và vẽ vời của tâm thức.
Tất cả là trạng thái tự-hữu và vốn tự-giải thoát.
Tánh Giác không có điểm nhắm và không thể định nghĩa như “nó là cái này”,
Thế nên chớ cố gắng nắm hiểu nó, suy nghĩ đây kia, vì nó siêu vượt tâm thức.
Tâm thì không làm và vốn toàn thiện ;
Chớ làm méo mó nó bằng những đối trị sửa sang và chuyển hóa : hãy để nó thong dong.
Nếu Pháp tánh, trong đó chứng ngộ và không chứng ngộ là bình đẳng,
Không bị biến chất hư hỏng vì bám nắm nó bằng những rào lưới tham thiền,
Bấy giờ trong nghĩa tối hậu không có “là” hay “không là”, không có hiện tượng hay tánh Không.
Nó không thể được định nghĩa như là “một và nhiều” và v.v….
Nó siêu vượt cái thấy và thiền định, thoát khỏi khẳng định và phủ định, không đến không đi,
Tự do với những cực đoan, bất nhị, như huyễn hóa và một giấc mộng.
Mục đích của hai chân lý(18) là ngừa tránh sự bám chấp cho là có thực.
Trong thật nghĩa vốn không có tuyệt đối và tương đối.
Những sự vật không hiện hữu như chúng được lý giải,
Vậy mà người ta bị trói buộc trong mạng lưới của sự nắm hiểu chúng như là “cái này đây”.
Bất cứ cái gì người ta khẳng định, họ sẽ rơi vào những cực đoan của bám chấp ;
Và qua những nỗ lực và những thành tựu, sanh tử sẽ không ngừng.
Nghiệp tốt và xấu làm cho lang thang trong thế giới này,
Và những kinh nghiệm hạnh phúc và đau khổ, cao và thấp, như sự quay tròn của một guồng nước.
Trong sanh tử của ba thời, chúng sanh của ba cõi lang thang trong mê vọng ;
Họ bị hành hạ bởi bệnh vô minh, những tạo tác và nỗ lực –
Không có bắt đầu hay chấm dứt cho nó – ôi đáng thương cho những chúng sanh !
Kye Ho ! Tất cả chỉ như mộng và huyễn.
Trong nghĩa tối hậu không có sanh tử và ai lang thang trong đó.
Tất cả vốn là giải thoát trong cảnh giới Phổ Hiền.
Không làm gì có căn cứ, gốc nguồn hay bản chất. Thỏa mãn biết bao nhiêu !
Tâm không biến cải, xưa nay thanh tịnh
Không bị nhiễm ô bởi những hiện tượng của hiện hữu : đó giống như một phản chiếu.
Trong đối tượng xuất hiện không có gì được ý niệm hóa để nắm bắt ;
Trong bản tâm tự hữu, không có gì để được quan niệm là người nắm bắt.
Trí huệ bổn nguyên bất nhị này thường trụ ngoài những tri giác nhị nguyên.
Bởi thế, tâm bất đoạn và đối tượng của nó là đại biểu tượng.
Con voi của bất thủ (không nắm bắt) rong chơi tự do trên cánh đồng bằng
Từng bước của Tự-Giải Thoát, trang sức bằng uy quyền của bất nhị.
Nó hủy hoại đầm lầy của lấy bỏ, hy vọng và nghi ngờ….
Nó sở hữu sức mạnh của chứng ngộ và đi vào đại dương bất nhị.
Nó lang thang tự do mà không có những phần đoạn khác nhau giữa sanh khởi và giải thoát,
Và không bị trói buộc bởi những sợi thừng của những đối tượng để đoạn trừ và những đối trị.
Nó tự do nắm giữ quan điểm thành tựu đầy quyền uy.
Bằng cách thành tựu trọn vẹn quyền năng vĩ đại, thế giới hiện tượng khởi sanh là Pháp thân.
Khi những tri giác của sáu đối tượng là không dứt và người tri giác rốt ráo trống không,
Và Tâm thoát khỏi những cực đoan đạt đến tự do không mục đích,
Bấy giờ Tánh Giác Bổn Nhiên của sự bất nhị giữa sanh tử và niết bàn đạt đến Địa nguyên sơ,
Đó gọi là sự chứng đắc Phật tánh.
Vì là sự hoàn thành tuyệt hảo mục tiêu của bản thân mình và của những người khác,
Nó là sự chứng đắc giác ngộ trong Tịnh Độ không gì sánh.
Than ôi ! Những người tham thiền giống như thú vật
Ngừng dứt những tri giác và ở trong chỗ không có tư tưởng nào.
Họ gọi đó là bản tánh tuyệt đối và trở nên kiêu căng.
Do đạt được kinh nghiệm trong trạng thái (tập trung) ấy, họ sẽ tái sanh vào cõi thú.
Dù cho họ không lọt vào kinh nghiệm đó, họ cũng không thoát khỏi tái sanh vào định Sắc và Vô Sắc giới.
Sẽ không có cơ hội để giải thoát khỏi sanh tử luân hồi.
Thế đấy, những người kiêu căng cùng cực,
Họ bị con ma quan điểm phá hoại của họ ám nhập,
Đi theo những giáo lý do thức tạo tác và làm mê lầm.
Bởi vì những tạo tác ô nhiễm của họ, họ sẽ không thấy Pháp Tánh.
Dù họ có phân tích Hai Chân Lý, họ cũng sẽ rơi vào thường và đoạn.
Dù họ có phân tích cái tự do thoát khỏi những cực biên, họ cũng sẽ chỉ khám phá cái thấy tột đỉnh của sanh tử.
Dù họ có làm gì, vì sự nô lệ vào quan điểm của họ,
Họ sẽ không bao giờ thực sự thấy Trí Huệ Bổn Nguyên tự nhiên.
Nghĩa thực sự thì không bị che ám bởi suy tính, diễn tả và những ý niệm.
Do không hiểu những đường lối đích thực của suy tính, kinh nghiệm và ý niệm hóa,
Sai lầm xảy ra khi xoay chuyển nghĩa của đối tượng tìm kiếm thành những nỗ lực của người tìm kiếm.
Tâm và trí huệ bổn nguyên giống như nước và tánh ướt của nó :
Trong mọi thời không có sự chia tách giữa chúng,
Nhưng chúng bị làm hỏng vì những phân biệt của lấy bỏ thức tâm.
Tâm và đối tượng của nó, bất kỳ cái gì xuất hiện, chính là bản tánh thiết yếu,
Nhưng do thiên vị nắm bắt, tánh rỗng rang khai mở của nó bị ngăn chặn.
Bây giờ, nếu các người muốn nghĩa của Pháp thân thoát khỏi ý niệm hóa(19)
Chớ nỗ lực tìm kiếm bản tánh bổn nhiên.
“Vương quyền của bất kỳ cái gì sanh khởi” đình chỉ lập tức những bám luyến và ý niệm,
Không phân biệt, không “biết” theo như “nó là cái này”,
Trong nó những hiện tượng không hiện hữu như là chúng có sanh khởi.
Trong bản tánh của chúng, chúng không hiện hữu như chúng có vẻ là thế.
Tri giác bình thường, vốn vô ngại và giải thoát từ vô thủy,
Là cái thấy của Đại Toàn Thiện Tự Nhiên.
Bản tánh của những hiện tượng được ví như hư không,
Nhưng những hiện tượng là không thể quan niệm, như bản tánh của hư không,
“Tâm thì không sanh và những hiện tượng như hư không”
Chúng ta nói thế, nhưng đó chỉ là chỉ định và đặt tên.
Nó tự do khỏi “là” và “không là”, vượt khỏi tư tưởng.
Nó không thể được chỉ định bằng cách nói “Đây là”, và nó vốn toàn thiện từ vô thủy.
Kye Ho ! Trong bản tánh thanh tịnh của hiện hữu hiện tượng
Là Tánh Giác Bổn Nhiên thanh tịnh, không nắm bắt và đốn giác hiện tiền.
Từ tối sơ khởi hiện, nó không hiện hữu nơi đâu.
Đại Toàn Thiện vốn tự giải thoát – khi nào tôi sẽ có thể thấy nó ?
Trong Tâm không gốc rễ, không chỗ trụ, thanh tịnh vốn xưa nay,
Không có cái gì để làm và không có ai để làm – thỏa mãn biết bao !
Tánh Giác Bổn Nhiên của những hiện tượng không mục đích,
Trong đó nắm hiểu luận bàn đại loại “nó là thế, là kia” tan biến – hạnh phúc biết bao !
Trong cái thấy và thiền định tuyệt nhiên không phân biệt,
Không rộng hay hẹp, cao hay sâu – thích thú biết bao !
Trong hạnh và quả tuyệt nhiên không có lấy bỏ, mong và nghi,
Không có cái gì để đắc, không có cái gì để mất – ấm áp biết bao !
Trong bản tánh hoàn toàn bình đẳng như huyễn,
Không có tốt để lấy và xấu để bỏ – tôi cảm thấy tức cười !
Trong những tri giác mờ ảo, mau phai, không xác định,
Chắp vá, không liên tục, không ngăn ngại và tự nhiên,
Bất cứ cái gì xuất hiện, không có sự nắm bắt “nó là cái này” hay “đây là những hình tướng này”.
“Là” và “không là” là tâm nắm bắt ; và viễn ly tâm ấy là Pháp thân.
Khi trong đối tượng không mục đích, những hình tướng bất định khởi sanh,
Cái biết không nắm bắt đạt vào giải thoát mà không có nhị nguyên ;
Bấy giờ tất cả những hiện tượng của tri giác là trò chơi vĩ đại của Tâm.
Trong Tâm vốn giải thoát khỏi nền tảng, gốc rễ và bản chất,
Những phẩm tính tự nhiên không từ chế tạo vốn hoàn thiện trọn vẹn.
Bằng cách giải thoát chối bỏ và chấp nhận vào trong Pháp thân, hạnh phúc sẽ thành tựu.
Tất cả những ý niệm luận bàn là những thứ chế tạo.
Nếu bất cứ cái gì sanh khởi mà thoát khỏi sự ý niệm hóa, thì chính nó là Trí Huệ Bổn Nguyên đích thực.
Bằng cách giải thoát lấy và bỏ trong trạng thái của chính nó, hạnh phúc sẽ thành tựu.
Bằng cách giải thoát lấy và bỏ trong trạng thái của chính nó, đối tượng của tư tưởng được siêu thoát.
Với Phật tánh vốn thanh tịnh rốt ráo và tự nhiên,
Chớ tìm kiếm ở đâu khác ngoài tự tâm các người.
Ngoài chính người tìm kiếm không có nơi tách biệt nào khác để tìm kiếm.
Đấy như giai cấp của người huyễn và nước trong một ảo ảnh.
Không có nhị nguyên của sanh tử và niết bàn khi sự nắm hiểu nhị nguyên
Đã dừng dứt trong Tánh Giác Bổn Nhiên tự hữu không biến chất.
Ai thấy nghĩa bình đẳng của tất cả những hiện tượng
Và chứng ngộ Tâm là vô sanh như bầu trời
Thì thành tựu những hiện tượng thế giới và chúng sanh là cảnh Phật thanh tịnh tự nhiên,
Trạng thái bình đẳng của sự thành tựu tự nhiên vô sanh.
Tinh túy của những hình tướng và tâm là tánh Không, và đó là nghĩa của Pháp thân ;
Bản tánh của nó là không dứt, và đó là sự xuất hiện của Báo thân ;
Những tính cách của chúng thì đa dạng và đó là Hóa thân.
Hiểu biết như thế,
Mọi sự là Ba thân, Trí huệ Bổn Nguyên và Tịnh Độ.
Không làm gì có sự sửa sang, chuyển hóa, từ bỏ và đối trị, thế nên hoàn toàn mãn nguyện.
E Ma ! Chúng sanh do bám chấp vào nhị nguyên ta – người,
Khi họ ở trong sanh tử ảo huyễn như mộng,
Bất cứ nỗ lực nào họ làm đều là những nhân và những quả của sanh tử.
Bằng cách kinh nghiệm nền tảng phổ quát(20) vô niệm, họ lạc vào cõi Vô Sắc ;
Kinh nghiệm thức sáng tỏ – trống không của nền tảng phổ quát, họ lạc vào cõi Sắc ;
Kinh nghiệm sáu thức, họ lạc vào cõi Dục.
Những biến đổi của tâm là những bước đến những cõi khác nhau của sanh tử luân hồi.
Với người muốn giác ngộ, nghĩa của cái tuyệt đối không biến cải
Là để cho tâm thong dong không nỗ lực.
Tâm bình thường, không biến cải và tự nhiên,
Không nhiễm ô bởi nắm bắt sanh tử và niết bàn, đạt giải thoát trong trạng thái tự nhiên của nó.
Đạt giải thoát theo cách ấy, an trụ trong bản tánh khoảnh khắc hiện tiền
Mà không có tư tưởng là trạng thái của Pháp thân ;
Nền tảng bất đoạn của sanh tử, sáng tỏ và tánh Không là Báo thân, và
Sự lưu xuất, giải thoát ngay khi sanh khởi là Hóa thân.
Với xác tín tự tin vào điều đó
Chắc chắn những tư tưởng thế gian sẽ được giác ngộ.
Kye Ho ! Bởi vì tính cách của những hình tướng và của tâm là biến đổi,
Hãy nhìn vào tấm gương của Pháp thân vô trụ.
Sự sanh khởi của không-người-nắm-bắt trong những hiện tượng không mục đích
Là bí mật của tâm ; không có cái gì khác có ý nghĩa.
Đó là tính cách tự nhiên của Tánh Giác Bổn Nhiên vốn tự toàn thiện, nghĩa thiết yếu của bất cứ cái gì sanh khởi ;
Chớ có tạo ra những sửa sang và biến dạng.
Những hiện tượng là tánh chất của vô tự tánh.
Bầu trời của tâm không-nắm-bắt không có trung tâm hay chỗ hết.
Dù chúng khởi sanh tự nhiên mà không có sự sanh ra hay diệt mất,
Sự vắng tuyệt bác bỏ, khẳng định và bám luyến vào những tính chất, đó chính là thực nghĩa ;
Và chúng không biến đổi suốt hết cả ba thời – điều này người ta cần biết.
Trí huệ bổn nhiên vốn sẵn, thoát khỏi nhị nguyên cái được tri giác và tâm
Chỉ có thể có ý nghĩa bằng cách chứng ngộ nó, nhưng không có cái gì được chỉ ra và không có gì để thấy.
Tâm tuyệt đối thì đẹp đẽ trong trạng thái tự nhiên của nó.
Bằng những phương tiện khác nhau – tham thiền không dao động, trí huệ phân tích và
Những giới điều, hiểu biết trí thức và những giáo huấn – người ta sẽ chỉ đạt được cái hiểu lý thuyết,
Nhưng người ta không bao giờ thành tựu Trí Huệ Bổn Nguyên trần trụi.
Chẳng hạn, dù cho người ta có chỉ ra, “Đây là hư không”,
Thì nó không phải là một vật có thể thấy, thế nên đó chỉ là một cách để phân biệt, chia rẽ.
Sự khởi lên của chứng ngộ qua lòng tốt của Lama thì
Giống như mặt trời xua tan bóng tối.
Khoảnh khắc người ta thấy tất cả là Pháp thân bởi Trí huệ Bổn Nhiên trực tiếp hiện tiền,
Vô minh được chuyển thành Trí Huệ Bổn Nguyên và những nhiễm ô thành những dấu hiệu (của Năm
Trí Huệ Bổn Nguyên).
Người ta cần hiến mình (cho thực hành) bằng mọi phương tiện mà không dao động.
Những chứng đắc chung và không chung sẽ thành tựu trong đời này.
Những người ngu ghét sanh tử và tìm niết bàn.
Đó cũng như ném bỏ một viên ngọc như ý rất hiếm có,
Lấy một viên ngọc như ý khác cần chùi sạch,
Và sau khi chùi nó, kiếm chung quanh để đổi lấy một món nữ trang rẻ tiền.
Tâm tự-giải thoát, viên ngọc quý báu,
Bằng cách chứng ngộ tự tánh của nó sẽ chùi sạch những vết bẩn mê lầm.
Hiểu rằng nó là kho báu của muôn vàn đức hạnh
Và là trái tim của sự hoàn thành lợi lạc cho bản thân và những người khác.
Khi sự chứng ngộ nghĩa của Tâm khởi hiện
Như những sóng và nước, những phóng chiếu và an trụ đều ở trong trạng thái của Pháp thân.
(Bấy giờ) bất cứ cái gì xảy ra, không cần từ chối hay chấp nhận.
Không bao giờ cần một thực hành từ chối hay chấp nhận nào.
Trong mọi thời với người yogi vui vẻ
Nó là yoga ‘dòng sông vĩ đại miên man’,
Trong trạng thái của bản tánh toàn thiện vĩ đại hoàn toàn bình đẳng.
Ngay khi chứng ngộ hiện khởi, (tâm) trở nên trong trẻo và sáng ngời tự nhiên.
Dù khi có trở lại sự phóng chiếu, nó sẽ ở trong Pháp tánh như cũ
Vì Tánh Giác Bổn Nhiên quang minh không có những cực biên và trung tâm,
Không có nhị nguyên của những ô nhiễm và những đối trị.
Như vậy, những sự vật để từ bỏ, những đối trị, xa lìa, chứng đắc, hy vọng và nghi ngờ, đều được giải thoát trong trạng thái tự nhiên của chúng.
Người không biết làm sao phân biệt ngọc và đèn
Nghĩ rằng ánh sáng đèn là ánh sáng của ngọc.
Nếu người ta không phân biệt định và những kinh nghiệm của sự tự-giải thoát,
Bấy giờ y sẽ bị trói buộc bởi tham luyến vào sự giải thoát khỏi ngay chính sự sanh khởi.
Nếu người ta không phân biệt giữa những kinh nghiệm và chứng ngộ,
Nó sẽ bị mê lầm do bám trụ vào những kinh nghiệm cho là chứng ngộ.
Sau khi chứng ngộ, trong mọi thời gian không có những thay đổi của tốt và xấu.
Do đạt được kinh nghiệm về điều đó, những kinh nghiệm đức hạnh khởi lên.
Ví như hư không, trong đó bốn đại thay đổi,
Không chịu bất kỳ biến chất nào : hư không vốn nguyên như cũ.
Cũng thế, đối với yogi đã chứng ngộ Tâm,
Không có chứng ngộ hay và dở do tăng hay giảm của những kinh nghiệm.
Nếu có cái hay và dở, thì đó là kinh nghiệm, không phải là chứng ngộ.
Chứng ngộ thực sự phải được tìm thấy ở một bậc thánh.
Sau đó, thuận theo (những lời dạy của ngài) người ta cần an trụ trong tham thiền,
Thiền định về nó là cái thấy tuyệt đối rốt ráo.
Thấy nó, người thượng căn sẽ đạt giải thoát.
Không dựa vào những kinh nghiệm tri giác, mọi sự sẽ khởi sanh như là chứng ngộ.
Không có cái gì để từ chối, thế nên không có đối trị nào để thiền định,
Như với một người khỏe mạnh thì thuốc thang chẳng cần.
Như thế, các bạn cần học cái thấy không nắm bắt, thoát khỏi thiên chấp.
GIẢI THOÁT QUA KINH NGHIỆM VỀ CON ĐƯỜNG
cho người trí năng trung bình và kém
chương hai của
TÂM GIẢI THOÁT TỰ NHIÊN, ĐẠI TOÀN THIỆN
Trong thiền định, nó là tự-toàn thiện vĩ đại tự nhiên,
Không cần những sửa sang chỉnh trị và chuyển hóa : bất cứ cái gì khởi sanh đều là Đại Toàn Thiện.
Không cần chấp nhận và từ chối, khi trong chính trạng thái bổn nguyên
Thế giới và chúng sanh của sanh tử và niết bàn an trụ như như bình đẳng.
Trong “Tánh giác Rigpa Bổn Nhiên bất cứ cái gì sanh khởi đều là Nó”, sáu thức tự phát,
Hãy hộ trì “Tánh Giác Rigpa không do tạo tác” như một đứa bé.
Nếu các bạn ở trong trạng thái vô trụ qua sự viễn ly tâm thức
Các bạn sẽ thành tựu một cách tự nhiên và không biến đổi, vương quyền bất khả tư nghì.
Trong “tâm bình thường”, không sanh tạo và tự nhiên,
“Tâm tự nhiên” như nước đổ vào trong nước,
Hãy hộ trì “tâm bất nhị” rỗng rang với những tạo tác và biến dạng ;
Nơi “tâm không nỗ lực” thường trụ trong Pháp tánh bao la.
Trong sự rỗng rang tự do bổn nhiên, sự thanh bình của tâm,
Hãy lưu lại tự nhiên và lịch thiệp như một người già.
Qua trạng thái vĩ đại của tự-khởi, trong đó không có sự tuân thủ những thời kỳ thiền định,
“Tánh Giác Bổn Nhiên tự-giải thoát” vĩ đại và lơ là đang ngự trị.
Trong “Tánh Giác Bổn Nhiên không mục đích” nó là đại vô ngại,
Hãy hộ trì “Tánh Giác Bổn Nhiên không nắm bắt” như một người điên.
Qua “Tánh Giác Bổn Nhiên tự giới luật” nó không có mảy may phân biệt,
Những hoàn cảnh xấu khác nhau khởi sanh như trò chơi của Pháp tánh.
Những tri giác khác nhau là tự tâm mình, sự phô diễn thần kỳ của Tánh Giác Bổn Nhiên ;
Hãy an trụ không sợ hãi như sư tử.
Qua đại Trí Huệ Bổn Nguyên, người nghiến nát những tri giác mê lầm,
“Tánh Giác Bổn Nhiên tự nhiên sanh” khởi hiện như là tự-giải thoát vĩ đại.
Cho đến khi người ta đã hoàn toàn đạt được tinh túy của chứng ngộ,
Hãy tham thiền như với đôi mắt của chó sói, không có những khác biệt của đêm ngày.
Bằng cách đạt kinh nghiệm và sự quen thuộc, nếu mẹ (trạng thái hoàn toàn giác ngộ) và con (sự chứng ngộ của con đường) được hợp nhất,
Mọi sự sẽ khởi sanh đồng thời trong vô tư vĩ đại.
Trong “Tánh Giác Bổn Nhiên không thiên trệ” nó không có ở giữa và những cực biên,
Không có sự chỉ định như “nó là cái này”, hãy an trụ như hư không.
Bấy giờ ý nghĩa của “Tánh Giác bổn nhiên không thiền định”, không do tạo tác và không biến chất,
Nó là “Tánh Giác Bổn Nhiên tự sanh khởi”, sanh khởi bên trong một cách tự nhiên.
Trong sự tẩy sạch tự nhiên vĩ đại, thoát khỏi sự làm bẩn của những nhiễm ô,
Hãy hộ trì “Tánh Giác Bổn Nhiên tự nhiên sáng tỏ” như đại dương.
“Tánh Giác Bổn Nhiên giải thoát-ngay-khi-sanh-khởi” khởi hiện như những sóng lớn, như
Một khuôn mặt trong tấm gương và sự phản chiếu của những vì sao.
Trong Tâm bất động và bất biến, hãy hộ trì Pháp tánh thường trụ như núi Tu Di.
“Tánh Giác Bổn Nhiên toàn thiện đồng thời”, tự nhiên toàn thiện và không hợp tạo,
Trung tính (của tốt và xấu) và sự bất nhị của những hành động và nỗ lực sẽ được thành tựu tự nhiên.
Trong Tâm Bẩm Sinh tự-khởi sanh và tự-giải thoát,
Hãy an trụ không ngừng như một dòng sông.
Bất cứ tư tưởng nào sanh khởi sẽ cùng một vị Pháp thân :
Không cần gì phải lấy-bỏ, tất cả là ở trong niết bàn trọn vẹn.
Tóm tắt, trong bất cứ cái gì sanh khởi, trò chơi của Pháp tánh,
Tự do khỏi ý niệm và tham thiền tự-giải thoát được hoàn thành một cách tự nhiên.
Bằng cách kéo dài thiền định không cách hở,
Người ta cần tu hành những thực tập của chứng ngộ mà không có biếng lười.
Để cho “sự tiến bộ” của thực hành này, nó là chỗ nương dựa con đường,
Với “những hành động của người huyễn”, thoát ngoài lấy bỏ,
Để chuyển những biến cố bất lợi vào con đường, và để hợp nhất thiền định và xuất định,
Hãy đi đến những đỉnh núi, nghĩa địa, đảo nhỏ và bãi chợ….
Những nơi chốn làm cho tâm dao động,
Và hãy để cho thân nhảy nhót, miệng hát những bài ca,
Và tâm phóng chiếu đủ thứ tư tưởng :
Hãy nấu chảy chúng hòa với cái thấy và thiền định của
tự-giải thoát khoảnh khắc.
Bấy giờ mọi sự khởi sanh chính là con đường.
Thỉnh thoảng hãy làm sự thực hành sùng mộ (tri giác) những hiện tượng là (mạn đà la của) Lama,
(Và sự thực hành) tích tập công đức, tịnh hóa những nhiễm ô, và tham thiền về vô thường,
Tất cả những hiện tượng hiện hữu bản tánh đều là mộng và huyễn.
Chúng như một tiếng vang, một ảo ảnh, một phản chiếu và một hóa hiện thần thông.
Và như một ảo tưởng thị giác và phản chiếu của trăng trong nước, bản tánh của chúng là trống không.
Hãy tu hành những hình tướng đa thù là không thật và mờ ảo,
Một cách tức thời, không phân biệt nhận dạng chúng.
Đã tu hành những thực tập thiền định và xuất thiền định suốt ngày đêm không đi lạc,
Trong trạng thái của lạc, sáng tỏ và vô niệm, (chúng) vốn giải thoát-ngay khi-khởi sanh và tự nhiên hiện tiền,
Thiền định tự-trụ (tiến bộ) không ngừng.
Bằng cách làm tan biến những giấc mộng huyễn hóa vào trong (bản tánh) không thực và sáng ngời của chúng,
Ngày và đêm, sanh tử và niết bàn được giải thoát trong thực tánh của chúng.
Bằng cái thấy người ta mở rộng sự kéo dài, bằng thiền định người ta ngăn che dao động,
Bằng những hành động người ta đương đầu với những hoàn cảnh,
Và bằng những kết quả người ta tự bảo vệ không rơi vào những lầm lỗi.
Bản tánh của chứng ngộ, Trí Huệ Bổn Nguyên vô niệm,
Thường trụ trong mọi thời gian không biến đổi.
Vào lúc đó, thuần chỉ bản tánh đơn nhất, trạng thái bổn nguyên ;
Trong “trạng thái-không-thiền định” đó, người ta được bảo đảm chân thường.
Sau đó, sẽ không có quả nào hơn, Đại Lạc, để tìm kiếm,
“Tánh Giác Bổn Nhiên bất cứ cái gì sanh khởi đều là Nó” là Ba thân vốn tự viên thành.
Không một nỗ lực, sự lợi lạc của mình của người đều thành tựu.
Chỉ hiện tiền Tánh Giác Bổn Nhiên, đầy đủ mọi phẩm tính, công đức và thoát khỏi những phân biệt.
Như thế, một yogi đạt giải thoát chỉ trong đời này,
Làm tan biến địa đại vào trong nước, nước vào lửa, lửa vào không khí, không khí vào thức, và thức vào Tịnh Quang(21) sáng rỡ.
Rồi, hợp nhất với Trí Huệ Bổn Nguyên và Pháp Giới
Bảo đảm chân thường trong trạng thái của tánh bổn nguyên.
Vì lợi lạc cho những người khác, như một giấc mộng,
Trí huệ bổn nguyên và Hai thân(22)
Xuất hiện với chúng sanh, như những phẩm tính của mục tiêu (làm lợi lạc cho những người khác).
Đây là bản tánh của Trí Huệ Bổn Nhiên, bí mật của tâm,
Và tự-giải thoát tức thời tối thượng. Do chứng ngộ nó
Sự khai triển bao la những đức hạnh là giống như
Mặt trăng non ngày mồng một đến mặt trăng ngày rằm,
Khiến cho đối với người ta có vẻ như mặt trăng tăng trưởng,
Trong khi thực sự không có tăng hay giảm. Cũng thế
Dù cho người ta thấy khuôn mặt của sự chứng ngộ và tăng trưởng năng lực của thiền định,
Sự chứng ngộ thì không biến đổi, và tuy nhiên những công đức của kinh nghiệm khởi lên.
Vì sự sáng tỏ của mặt trăng, bóng tối trên mặt trăng có vẻ nhỏ lại,
Hay vì bóng tối trên mặt trăng nhỏ đi, mặt trăng có vẻ lớn lên. Cũng thế
Bởi vì sự lìa xa khỏi nắm bắt nhị nguyên, kinh nghiệm và chứng ngộ có vẻ tăng trưởng. Hay
Bởi vì sự tăng trưởng của chứng ngộ, những nhiễm ô có vẻ bớt đi.
Dù cho người ta hoàn thiện những đức hạnh từ bỏ và chứng ngộ,
Tinh túy không đổi thay và bản tánh thì không dứt,
(Vì) Pháp tánh vốn thanh tịnh và giải thoát khỏi mọi điều kiện nhân duyên.
Tóm tắt, nếu những nhiễm ô không khởi lên như là hiện thực,
Bấy giờ sau khi từ bỏ năm độc sẽ không có con đường tuyệt hảo chuyển tiếp nào (để theo).
Nếu các bạn không biết bí mật của sự tự-giải thoát (của tất cả vào trong một) Thân đơn nhất,
Bấy giờ các bạn sẽ bị mê lầm bởi nắm bắt nhị nguyên của những nhiễm ô và những đối trị.
Nếu người nắm bắt và cái được nắm bắt không được giải thoát ngay tại chính chỗ của chúng vào điểm quyết định,
Thì dù người ta có nói về một quan điểm cao, đó cũng chỉ là những lời bí mật của ma, và
Dù người ta có sự tham thiền tốt đẹp, kết quả cũng chỉ là hạnh phúc của những cõi cao hơn.
Bất cứ nỗ lực nào được làm cũng chỉ là những nguyên nhân của sanh tử.
Cái thấy rộng rãi, thiền định vô trụ, không mục đích,
Thái độ hành xử được tinh thuần, và tự do với sự nắm bắt có chủ tâm là quan trọng.
Khi trong bất kỳ ai, giữa những hiện hữu hiện tượng vô trụ không mục đích,
Sự bất nhị bao la của giải thoát-ngay khi-sanh khởi hiện tiền không dao động,
Đó là dấu hiệu của một thiền giả (yogi) đã vượt qua đại dương sanh tử.
(Bấy giờ) không có sự trói buộc chặt chẽ bởi đối tượng được nắm bắt và sự bám chấp vào chủ thể nắm bắt,
Tất cả mọi hiện hữu ở trong cõi giới phúc lạc của Pháp thân đồng thời toàn thiện.
Không có sợ hãi khi vượt qua những đèo núi, thung lũng và hẻm núi chật hẹp (gặp trên con đường thực hành).
Nó là sự về đến nơi quê nhà sinh quán của mình, siêu vượt mọi hy vọng và sợ hãi.
Bằng cách thấu đạt kinh nghiệm theo lối ấy, (những dấu hiệu của) bốn yếu tố như là
Những cấp đôï chứng đắc con đường không nắm bắt sẽ khởi lên.
[a.] Nghiệp lành được tích tập trước kia, lòng tốt của Lama.
Thời gian và thiện xảo trong phương tiện : khi những duyên này hội đủ với nhau,
Bấy giờ “Tánh Giác Bổn Nhiên tự hữu” vô ngại, tự do, đơn giản,
Nó là cái không nắm bắt – ngay khi – khởi sanh, được trực tiếp chứng ngộ,
Đó là cái thị kiến vĩ đại của “Chứng Ngộ Trực Tiếp Pháp Tánh”
[b.] Do xác tín rằng mọi sự được gán tên bên ngoài và bên trong là Pháp thân,
Bất cứ cái gì sanh khởi, sẽ không có gì để lấy-bỏ, sửa sang hay chuyển hóa
Mọi sự sẽ khởi sanh độc chỉ như là sự thực tập của chứng ngộ.
Bấy giờ, khi những kinh nghiệm này được tăng trưởng,
Người ta sẽ có thể chuyển những hoàn cảnh bất lợi của xác nhận và phủ nhận những hiện hữu bên ngoài và bên trong vào con đường.
Do sự khởi lên (của chứng ngộ) giải thoát sẽ đạt được, và bằng cách an trụ (trong nó), lạc sẽ tựu thành.
Do có được kinh nghiệm, các loại “nhãn”, trí, thần thông và v.v….
Những đức hạnh khác nhau của Tánh Giác Bổn Nhiên khởi lên.
Bấy giờ, điều đó được biết như là “Thị Kiến của Khai Triển Kinh Nghiệm”
[c.] Do mở rộng thêm kinh nghiệm,
Tánh Giác Bổn Nhiên (trở thành) sự sáng tỏ, tánh Không và Trí Huệ Bổn Nguyên trần truồng,
Trong đó không có hôn trầm và trạo cử, không có dao động và không dao động,
Không có khác nhau giữa thiền định và xuất thiền định, mà nó luôn luôn (không ngừng) như một dòng sông.
Khi một cấp độ những đức hạnh phi thường như vậy đã thành tựu,
Đó là sự đạt đến “Thị Kiến về sự Toàn Thiện của Tánh Giác Bổn Nhiên”
[d.] Khi người ta không hề dời khỏi trạng thái này,
Người ta thoát khỏi những ý niệm hóa nắm bắt những đặc tính, và siêu vượt khỏi những đối tượng tham luyến, những cái để đoạn trừ và những đối trị với chúng,
Mọi sự đồng thời toàn thiện và thoát khỏi những nắm hiểu có chủ định và
Sự bám luyến những hiện hữu bên ngoài và bên trong cạn kiệt
Bấy giờ đó là sự chứng ngộ “Thị Kiến về sự Tan Biến vào trong Pháp Tánh”.
Rồi, bằng cách đem Tánh Giác Bổn Nhiên đến chỗ hoàn thiện trong bốn thị kiến,(23)
Những Sắc thân tan biến vào Pháp thân,
Và người ta đạt giải thoát bằng cách siêu vượt những hình tướng trống không và những nắm bắt –
Đó là sự đạt được thường hằng trong trạng thái bổn nguyên.
Khi người ta thực hành theo cách này, bởi vì người ta không lạc khỏi con đường (chánh),
Cũng có (những dấu hiệu của) ba cấp độ những giấc mộng :
Thứ nhất, do tu hành sự giải thoát của những hình tướng xuất hiện (vào trong) tâm ngay lúc sự sanh khởi của chúng,
Khi những giấc mộng xấu chuyển hóa thành những giấc mộng tốt,
Đó là dấu hiệu của một vị của công đức của người ta(24) do sự tịnh hóa nghiệp xấu.
Giống như khói đến từ lửa và ngũ cốc đến từ hạt giống.
Thứ hai, do có được kinh nghiệm, sự nhận biết những giấc mộng
Và giải thoát tức thời của những giấc mộng xảy ra một cách đồng thời.
Đó là dấu hiệu của giải thoát thậm chí của bản thân cái đối trị (nhận biết) vào trạng thái tự nhiên của nó.
Thứ ba, qua quán chiếu trọn vẹn, kinh nghiệm toàn bộ sẽ đạt được,
Những giấc mộng ngừng dứt, và người ta cả ngày và đêm ở trong tịnh quang.
Đó là một dấu hiệu đã làm tan biến những tư tưởng thế gian vào trong bản tánh của chúng.
Bấy giờ người ta gần với sự đạt đến niết bàn tối hậu, và đồng thời
Sự đạt đến thường hằng trong trạng thái bổn nguyên của tịch diệt.
Đã giải thoát ba cõi và ba cửa(25) trong trạng thái của Ba Thân,
Người ta đạt đến niết bàn, nó không ở trong những cực đoan của trạng thái bình an.
Trong Tâm, không có những kiến lập và từ bỏ từ vô thủy,
Không cần có những đối trị sửa sang và chuyển hóa (bởi vì) nó ở trong bản tánh vốn có bẩm sinh.
Nó tự do với mọi nắm bắt phân biệt, thế nên
Nó là sự thành tựu tự nhiên mà không có thiền định cũng không có cái gì để thiền định.
Như thế trong Tâm Bình Thường Tự-Giải Thoát
Không có trong và ngoài, và vượt khỏi những cực biên của người nắm bắt và cái được nắm bắt.
Xác nhận và phủ nhận đều tự-giải thoát, và những nhiễm ô và những đối trị sanh khởi như là bản tánh vốn có bẩm sinh.
Giải thoát đạt được mà không có mục tiêu đối tượng nào (như là) “cái này”, “cái kia”.
Không cần gì chấp nhận hay từ bỏ. Trí Huệ Bổn nguyên toàn khắp là
Thoát khỏi những phân biệt, là đại lạc, không phải tìm kiếm và vốn tự thành tựu.
Nó là “đại giải thoát toàn diện”, tự do từ vô thủy và tự nhiên,
(Trong nó) không có cái gì được nhận biết như là “ai” (chủ thể), “cái này” (hành động), hay “chúng nó” (những đối tượng).
Nó là vô trụ, không mục đích, thoát khỏi nắm bắt và siêu vượt những cực đoan có-không.
Kye Ho ! do sự giải thoát toàn bộ của nó từ vô thủy,
Tánh Giác không-nỗ-lực giải thoát trong trạng thái bình đẳng
Sự thống trị vốn tự thành tựu của nó thì không sanh không diệt.
Thế nên nó không trụ, không thể tri giác và bản chất của nó là không thể giải thích.
Mọi sự đều ở trong trạng thái vô tác và là thật tánh.
Ah Ho ! Trong tri giác vốn tự nhiên và thanh tịnh từ vô thủy,
Khởi hiện Tánh Giác Bổn Nhiên kỳ diệu khiến người ta phải cười.
Không có nhị nguyên của tâm và đối tượng của nó, và người tri giác vốn không có tự tánh.
Nó không thể được chỉ định bằng cách nói “nó là cái này” – nó là tự do trong cái không mục đích vĩ đại.
Nó là trạng thái đơn nhất của phương tiện và trí huệ đồng thời toàn thiện.
Mọi sự thì không biến đổi và an trụ bình đẳng như chúng vốn là.
Trong nó không quan niệm ra những khác biệt của những hành tinh, ngôi sao, ngày tháng của lịch ;
Nó siêu việt thời gian và sự tính đếm của thời gian.
Bốn châu lục không hiện hữu, Núi Tu Di và mặt trời mặt trăng là trống không ;
Không có mạn đà la để quan niệm ra, và không có trì tụng hay thực hành những khổ hạnh.
Không có những đối tượng được quan niệm ra ; chúng là trống không (thanh tịnh) trong hình thức những kinh mạch, tinh chất và luân xa.
Dù những đối tượng bên ngoài tự chúng xuất hiện, chúng không bị ý niệm hóa.
Thế nên toàn cõi thế gian, năm đối tượng,(26) là trống không trong tinh túy.
Mọi sự là không sanh khởi, (vì chúng là) lâu đài tôn nghiêm tự-sanh khởi.
Không có ai sáng tạo, (vì chúng là) hóa thần của ý nghĩa tuyệt đối.
Sự phóng chiếu và thu hồi của những tư tưởng là trò chơi vĩ đại của Trí Huệ Bổn Nguyên.
Những đối tượng là những mây cúng dường ; bằng cách cúng dường chúng cho những hóa thần-Trí Huệ Bổn Nguyên
Những tích tập vĩ đại được hoàn thiện ; những âm thanh và lời nói là Đại Thần Chú.
Những nhiễm ô sanh khởi tự nhiên như trí huệ bổn nguyên ; đây là Giai Đoạn Thành Tựu tự-sanh.
Không cần những hành động và nỗ lực, vì nó tự nhiên vốn thành tựu.
Nó là trạng thái vượt qua (ba la mật), sự toàn thiện của những giai đoạn và những con đường.
Nó không trụ như là khoảng giữa, vì nó là sự hợp nhất thuần túy.
Không có lấy một vi trần của nhiễm ô, đối trị hay lỗi lầm che ám.
Thế nên, “thiền định của bất kỳ cái gì sanh khởi” được tự nhiên thành tựu không cần sức.
Những hiện tượng đồng và dị và nhân quả của thiện hạnh trắng và ác hạnh đen tác động như duyên khởi :
Chúng vô tự tánh nhưng chúng không ngừng xuất hiện như những phản chiếu.
Thế nên người ta cần biết sự tự giải thoát toàn thể siêu việt.
Do nghiệp tốt và xấu mà những thế giới cao và thấp được kiến lập.
Nếu nghiệp được siêu thoát, niết bàn tự nhiên sẽ được đạt đến.
Nếu người ta thực hành chấp nhận và chối bỏ, người ta chắc chắn sẽ thoát khỏi sự bất thiện.
Nhưng dù nếu người ta thực hành thiện hạnh, người ta cần không bị ràng buộc bởi tham luyến (thiện hạnh).
Về sau người ta cần tìm kiếm ý nghĩa của tự do khỏi chấp nhận và chối bỏ.
Người ta cần lấy những bậc thánh làm gương mẫu và cần thực hành.
Hãy từ bỏ những hoạt động vô nghĩa và mê lầm trẻ con.
Hãy luôn luôn sống cùng người hiền thánh.
Hãy theo những thực hành sơ bộ (sNgon-Gro) không lầm lạc của chứng ngộ, nghe và suy nghĩ.
Hãy kiên định chịu đựng (những hoàn cảnh khắc nghiệt) một mình trong chốn núi non hẻo lánh,
Với quyết tâm có được chân tánh.
Hãy làm giảm những lăng xăng trù tính bằng cách suy nghĩ về vô thường và ghê sợ.
Thực hành Pháp với những nỗ lực từ lòng mình là cốt yếu.
Nếu trong đời này người ta không thể tiến hành con đường giải thoát,
Thì sau này sẽ khó tìm được đời người tự do(27) và thuận lợi(28) và Chánh Pháp.
Hãy kéo lên ngọn cờ chiến thắng của sự thực hành trong một chốn cô đơn,
Và kiểm điểm lại điều gì mình đã thành tựu nếu mình chết lúc này.
Nếu người ta dùng ngày và đêm để ở trong Pháp theo cách như vậy,
Thì dù người ta mất đi thân thể như huyễn này, Tâm không có sanh không có chết.
Người ta sẽ bảo đảm cho sự trị vì của Pháp thân bất biến.
Cuộc đời này sẽ đầy ý nghĩa và sự thành đạt tối thượng sẽ hoàn thành.
Dù người có trí trung bình và kém
Sẽ đạt giải thoát trong trung ấm hay sẽ thành tựu quả trong đời kế tiếp.
Họ sẽ tìm thấy con đường giải thoát khỏi nhân quả của sanh tử.
Và đạt được thành trì của Tâm trong xứ sở của Đại Lạc.
Đây là trái tim của nghĩa tuyệt đối.
Nếu đi một con đường lầm lạc, có nhiều che ám của sai trệch ;
(Nên) người ta sẽ không bao giờ thành tựu bản tánh Như.
Họ mệt mỏi trong đời này và không kết quả trong đời tới.
Bởi thế người ta cần tìm kiếm cái thấy và thiền định không sai lầm.
Nếu sự tu hành của người ta không có những tư tưởng từ, bi và Bồ đề tâm,
Thì chắc chắn đó là một con đường khác với Đại thừa.
Nếu thực hành đến một mức mà tâm người ta trở nên khô cứng,
Thì chắc rằng sự thực hành Pháp và hành giả cả hai đã đi trên những đường lối tách biệt.
Nếu người ta bị bám luyến vào những thiền định bên ngoài, bên trong và chặng giữa,
Thì chắc rằng người ta không có cơ hội chứng ngộ tánh bất nhị.
Nếu người ta không nhớ sự khẩn thiết phải thoát khỏi và sự ghê sợ sanh tử,
Chắc chắn người ta bị mê lầm bởi ma của sự bám luyến cuộc đời này.
Nếu người ta không có đạt được nào mới dù người ta thiền định,
Thì chắc rằng đã có những sai trệch và che ám, như hôn trầm và trạo cử.
Nếu “tính ướt” của an định không thấm nhuần quán chiếu,
Đó không phải là thiền định quán chiếu mà chỉ là một hình dung của chứng ngộ.
Nếu người ta nói về bất nhị từ một cái hiểu trí thức,
Mà không thể giáp mặt với những hoàn cảnh không thuận lợi, bấy giờ cái bất nhị trí thức ấy chỉ là một chỗ dựa cho năm độc sanh trưởng.
Nếu sức mạnh của thiền định quán chiếu không nâng đỡ cho thiền định an định,
Đó không phải là thiền định an định mà chỉ là sự trụ trong vô minh,
Và dù đạt được vững chắc, nó là nguyên nhân của những cõi cao.
Đối với định nằm trong hôn trầm, trạo cử và giải đãi, thiền định của loài thú,
Chớ bao giờ bị hấp dẫn. Sức mạnh của Trí Huệ Bổn Nguyên của quán chiếu,
Một khi được chứng ngộ không dấu vết dơ nhiễm qua lời thuyết pháp của những bậc thánh,
Chuyển mọi loại thiền định thành những hỗ trợ cho Giác Ngộ.
Lạc, sáng tỏ và vô niệm đều không do tạo tác sẽ khởi hiện bên trong.
Nếu khác đi, thì không phải là tinh túy tuyệt đối.
Nếu người ta không hiểu bí mật của Tánh Giác Bổn Nhiên bây giờ,
Rồi người ta sẽ bám luyến vào thiền định, và sẽ bị trói buộc bởi chuỗi xích chấp nhận và chối bỏ.
Ít sự việc thuận lợi sẽ xảy đến, và những cái không thuận lợi sẽ đến nhiều như mưa.
Những ước mong của người ta sẽ không thành và người ta sẽ luôn luôn bị sợ hãi quấy rầy.
Dù cho lạc, sáng tỏ và vô niệm có được phát minh bởi thân, ngữ và tâm
Cũng như một cái bình trong tay một đứa con nít, không có lợi lạc vì chúng sẽ bị vỡ.
Nguồn không do tạo dựng, bất hoại của những chứng đắc,
Sự chứng ngộ cái tinh túy tự nhiên, tìm kiếm nó là quan trọng.
Dù có điều thân, im lời, làm linh hoạt tâm, ngăn ngừa những tư tưởng,
Và đâm xuyên với ngọn giáo của tỉnh giác trong sáng và sống động,
Thì ngăn ngừa những ý niệm và cảm giác trong trạng thái nắm bắt
Người ta chỉ thành tựu những cõi Sắc và Vô Sắc của sanh tử.
Đối tượng bề ngoài của những giác quan, những tri giác không ý niệm và trong sáng ;
Trạng thái của Trí Huệ Bổn Nguyên vĩ đại, tự-giải thoát của năm độc,
Và Trí Huệ Bổn Nhiên vi tế thanh tịnh không hôn trầm trạo cử
Được (một số người) xem như những đối tượng để đoạn trừ, gọi là (những đoạn trừ) “rất thô, thô và vi tế”
Những con lừa ấy cố gắng tìm những cách để chối bỏ chúng.
Người ta gom tụ những tư tưởng đã qua bằng những tư tưởng kế tiếp, và
Chỉ bằng cách kinh nghiệm điều đó, nói rằng họ thấy nghĩa vốn sẵn xưa nay
(Như thế) người ta tính đếm những sanh khởi và dừng diệt (của những tư tưởng) và tiếp tục những tư tưởng,
Và chấp nhận chúng như nghĩa của bất nhị : sự thiền định này là mê lầm.
Dù cố gắng thiền định bao nhiêu, nếu từ mạng lưới tư tưởng,
(Trạng thái định ở) sau khởi lên trên sự dừng dứt của những tư tưởng trước,
Dù người ta xem (sự dừng dứt này) là giải thoát, nó chỉ là những tư tưởng nối tiếp nhau, chẳng phải là giải thoát.
Trong con đường của phương tiện thiện xảo,(29) buông thả cho lạc của những giác quan,
Là sự tham luyến nhục dục ; thế nên trong hầu hết trường hợp, đó là nguyên nhân của tái sanh vào cõi thấp.
Dù nếu người ta đạt đến những cõi hạnh phúc, rồi họ cũng sẽ tái sanh trong các cõi thấp.
“Phương tiện thiện xảo” là con đường của chỉ rất ít yogi.
(Trong con đường này) có những nguy hiểm lớn lao của những che ám trệch lối, và rất khó khăn để thấy nghĩa của chứng ngộ.
Chuyển tiếp lần lượt (mà không hợp nhất) hai sự tích tập các giai đoạn phát triển và thành tựu, với (những quán tưởng) và không có (những quán tưởng)
Được một số người tuyên bố là thật nghĩa, và họ bám dính vào đó ; nhưng sẽ có ít lợi lạc.
Chỉ có đạt được những cõi cao ; không thể chấm dứt sanh tử.
Tóm tắt, trước kia người đã tích tập ít phước tài tốt đẹp,
Và đi vào những con đường thấp, lạc hướng và sai trệch, họ đáng thương biết bao nhiêu.
Nguyện vào một lúc nào tất cả chúng sanh tìm thấy những con đường tuyệt hảo, không lầm lạc
Và theo đó đạt đến giải thoát !
Bất kỳ ai có tánh Không và đại bi không lầm lạc
Và pháp giải thoát tức thời, họ đang ở trên con đường đến Pháp thân tự-trụ.
Sự hiển lộ của nó là trí huệ – quán chiếu trần trụi, và
Vì nó là nơi an trú, nó là phương tiện của trạng thái bình đẳng an định.
Nó là tự nhiên, hợp nhất và thoát khỏi mọi tạo tác và biến chất.
Sự thay đổi tạo ra dao động và sự vững chắc vượt thắng chúng (tạo tác và biến chất).
Trong trạng thái không có hôn trầm, trạo cử, thoát khỏi gốc của những nhiễm ô,
Bất cứ cái gì khởi sanh chính là Pháp thân tự-giải thoát.
Tuy nó tự biểu lộ chính nó, nó hằng ở trong trạng thái bất nhị bình đẳng.
Không cần lấy bỏ, nó là nghĩa của chân tâm.
Trong tánh vốn sẵn đủ, Trí Huệ Bổn Nguyên của Pháp tánh,
Xin hãy tu hành không gián đoạn.
Đây là sự tự-giải thoát của bản tánh tuyệt đối vốn sẵn.
Nó là sự thiền định tối thượng sâu mầu và tuyệt hảo,
Tinh túy của trái tim, được cô đọng lập đi lập lại.
Nó là tinh túy của tất cả đỉnh cao, chân lý kim cương
tối thượng.
KẾT QUẢ ĐẠI THÀNH TỰU TỰ NHIÊN
chương ba của
TÂM GIẢI THOÁT TỰ NHIÊN, ĐẠI TOÀN THIỆN 
Kết quả thành tựu tự nhiên có hai phương diện : lập tức (hay tạm thời) và tối hậu.
Với cái lập tức, bằng cách thiền định về cái thấy, người ta sẽ hoàn thành những đức hạnh.
Những nhiễm ô và tâm nhị nguyên sẽ được giải thoát trong trạng thái tự nhiên của chúng.
Sự ổn định, vững chắc trong tương quan với những hiện tượng bên trong và bên ngoài sẽ hoàn thành.
Người ta sẽ hoàn thành những “nhãn”, trí và thần thông.
Chứng ngộ sẽ khai triển, lòng bi vì những người khác sẽ khởi sanh.
Vào lúc đó, trong Trí Huệ Bổn Nguyên tức thời của Tánh Giác Bổn Nhiên,
Nếu xếp thành những khía cạnh khác nhau, những đức hạnh sau đây hiện diện :
Những hình tướng xuất hiện như phương tiện thiện xảo, và giai đoạn phát triển là sự tích tập công đức.
(Qua đó người ta đạt) sự từ bỏ những ý niệm phiền não và những tư tưởng được nắm bắt.
Tánh Không (như là) trí huệ, và giai đoạn thành tựu (là) sự Tích Tập Trí Huệ Bổn Nguyên.
(Qua đó người ta đạt) giải thoát khỏi những nhiễm ô trí thức bẩm sinh và những tư tưởng nắm bắt.
Keo kiệt, không đạo đức, giận dữ, giải đãi, phóng dật,
Kém trí, không phương tiện, yếu đuối, không hứng khởi và vô minh ;
Những trạng thái thanh tịnh của mười khía cạnh này là
Sự thành tựu bố thí, giới luật, nhẫn nhục, tinh tấn, tham thiền, trí huệ, phương tiện thiện xảo,
Thần lực, nguyện vọng, và trí huệ bổn nguyên, Mười Hoàn Thiện.
Khi chứng ngộ khởi sanh do lòng tốt của Lama,
Sự khai triển của niềm tin tối thượng là “Hoan hỷ địa”.
Sự tự giải thoát của những nhiễm ô là “Thanh Tịnh địa”
Trí Huệ Bổn Nguyên phúc lạc, trong sáng và vô niệm là “Phát Quang địa”
Tự-giải thoát của những tư tưởng phóng chiếu là “Diệm Huệ địa” (địa Sáng Rỡ)
Mục tiêu không gì ngoài những bậc Thế Tôn là “Nan Thắng địa” (địa Vô Địch)
Hiện thực hóa sự chứng ngộ là “Hiện Tiền địa” (địa Hiện Thực).
Giải thoát khỏi sanh tử là “Viễn Hành địa” (địa Đi Chơi Rong Ở Xa).
Sự chứng ngộ không còn biến động như núi Tu Di là “Bất Động địa”.
Tối thượng của tất cả là “Thiện Huệ địa”.
Tràn ngập khắp bầu trời của Tâm, Địa Thứ Mười là “Pháp Vân địa”.
Sự hoàn thiện của tích tập công đức và Trí Huệ Bổn Nguyên là (những con đường) “tích tập” và “áp dụng” (tư lương vị và gia hạnh vị),
Thấy và kinh nghiệm nghĩa của chứng ngộ là (những con đường) “thấy” và “thiền định” (Kiến đạo vị và Tu tập vị),
Sự giải thoát được gọi là giai đoạn của “Kết Quả” (Cứu cánh vị).
Tự do với ba độc (trong tánh giác bổn nhiên) là (nghĩa) của Ba Tạng.
(Cũng thế), sự tịnh hóa (tánh giác bổn nhiên) của ba cửa là sự hoàn thiện của Ba Học (Giới, Định, Huệ).
Giải thoát khỏi mọi sự (trong tánh giác bổn nhiên) là Kriya Yoga, và đó (cũng) là Carya Yoga.
Đạt đến quán chiếu chứng ngộ là Yoga Tantra và Anuttara Yoga.
Thế nên bốn tantra này được thành tựu trong (tánh giác bổn nhiên).
Lợi lạc cho chính mình (trong tánh giác bổn nhiên) là những thừa của Thanh Văn và Bích Chi Phật,
Lợi lạc cho những người khác là Đại thừa, và chứng ngộ là Kriya Tantra,
Kinh nghiệm (của thiền định) là Upatantra, và thọ hưởng nó là Yoga Tantra,
Và phương tiện thiện xảo và trí huệ là Maha Yoga và Anu Yoga ;
Tất cả chín thừa tương đương với tự-toàn thiện của Ati Yoga (Đại Toàn Thiện) :
Sự nhớ (niệm) và tham thiền với tinh túy của Trí Huệ Bổn Nguyên
Hiện diện (trong tánh giác bổn nhiên) như là những phần của “tự-giải thoát tức thời”
Có nghĩa là những giai đoạn, những con đường và Giác ngộ là đồng nhất (trong tánh giác bổn nhiên).
Trí Huệ Bổn Nguyên vốn sẵn đủ, tâm giác ngộ, Đại Ấn (Mahamudra),
Đều hoàn thiện (trong tánh giác bổn nhiên) như sự thành tựu vĩ đại tự nhiên.
[a. Pháp thân] : Trong quả tối hậu, trạng thái bổn nguyên không trụ trong những cực đoan,
Là cảnh giới Phật của Pháp thân, không thể quan niệm và không thể diễn tả.
Khi Pháp giới và Trí Huệ Bổn Nguyên đã trở nên không thể tách lìa,
Giác Ngộ Viên Mãn đạt được và Ba Thân tự nhiên thành tựu.
Trong Trí Huệ Bổn Nguyên Vi Tế ở trong cõi giới như bầu trời
Bản tánh toàn giác ở (trong trạng thái) hiện khởi.
Nó không có những thành tựu và những từ bỏ, thế nên nó là Pháp tánh thành tựu tự nhiên,
Không sanh, không diệt, bản tánh như hư không.
[b. Báo thân] : Từ trạng thái ấy xuất hiện (1) Cõi Phật thanh tịnh và trang nghiêm đẹp đẽ,
Mạn đà la tự-xuất hiện sáng rỡ và thành tựu tự nhiên,
(Cùng với) (2) những Đạo Sư của Năm Bộ(30) với đầy đủ tướng trọn hảo, ánh sáng chiếu soi,
Mỗi vị thọ hưởng bản tánh của Cõi Tối Hậu, Đại Viên Cảnh Trí, Bình Đẳng Tánh Trí, Diệu Quan Sát Trí
Và Thành Sở Tác Trí, Năm Trí Huệ Bổn Nguyên.
(3) Với quyến thuộc đệ tử tự tri giác của mười phương và bốn thời,(31)
Những mạn đà la của những Đạo Sư Năm Bộ, nhiều như một chậu chứa đầy hột mè,
Những vị khắp không gian mười phương.
Những cửa lớn, khung cửa, cửa gió và hàng rào (của những lâu đài)
Đẹp đẽ rực rỡ phù hợp với mỗi bộ
Mọi sự đều thành tựu tự nhiên trong bản tánh của một mạn đà la duy nhất.
(4) Khắp nơi, không biên giới hay trung tâm đều thấm nhuần những giáo lý toàn thiện bình đẳng.
(5) Ba thời và thời gian không-thời-gian là thời gian của Phổ Hiền.
Nó là trạng thái vốn thành tựu xưa nay và bất biến.
[c. Hóa thân] : Từ trạng thái ấy (biểu lộ) (1) Năm loại Tịnh Độ của chư Phật Hóa Thân Tự Nhiên :
Ogmin, Ngon-ga, Rinchen Yongkang,
Pematseg và Lerabtrub,
Trong đó những Đạo Sư của Năm Bộ trong tất cả ba thời,
Phô bày Sắc Tướng Như Gương Tuyệt Hảo cho những Đệ tử trong Mười Địa.
Do những tia sáng của các Ngài, những đệ tử được tịnh hóa những che ám cho đến Địa Thứ mười,
Và có thể đạt được Địa Thứ Mười Một “Sáng Chói Hoàn Toàn”.
Những Tịnh Độ này xuất hiện cho những Đứa Con Thanh Tịnh của bậc Chiến Thắng.
Từ những tia sáng phát từ những miệng của những sắc tướng Báo thân
Trong sáu cõi thiên, bán-thiên, người, thú, quỷ đói và địa ngục
Biểu lộ những sắc tướng của (sáu vị Phật  Gyachin, Thegzang, Sakyamuni,
Seng-ge Rabten, Khabar Deva, và
Awa Lang-go.
Các Ngài hoạt động cho lợi lạc của những chúng sanh bất tịnh, và y cứ nơi cảnh giới tối hậu bình an.
Những Hóa thân Khác Nhau như những hình thức nghệ thuật, sự sanh ra (như những chúng sanh),
Những ao, cầu, hoa sen, cây như-ý,
Dược liệu, ngọc và đèn
Cung cấp nguồn hạnh phúc và hoan hỷ cho chúng sanh và
Đem đến cái tốt tối hậu (giác ngộ) như kết quả rốt ráo.
Sau khi giải thoát hết những đệ tử, những Đạo Sư sẽ tan biến vào Pháp giới.
Điều này được hiểu theo ba phương diện :
(a.) Sự tan biến của những “Hóa thân Khác Nhau” và những “Hóa thân Chinh Phục Chúng Sanh”
Như khi không có đồ chứa nước (đệ tử), sự phản chiếu tan biến.
Sự phóng chiếu và thu hồi của trò chơi của cái Tự Nhiên (Hóa thân) chỉ là trò chơi.
(b.) Khi những người trong địa vị đệ tử đã đạt an lạc,
Đạo Sư, năm loại “Hóa thân Tự Nhiên”
Tự động tan vào Báo thân tự-biểu lộ vốn không phân cách,
Như sự tan biến của mặt trăng non vào không gian.
(c.) “Báo thân tự-biểu lộ” tan vào cõi giới Pháp thân.
Bấy giờ nó không xuất hiện bên ngoài, mà trong bản tánh nền tảng của nó, đó là mạn đà la vĩ đại.
Nó không trụ trước hay sau, tăng hay giảm, hay biến đổi ;
Như dù có khuyết có đầy bề ngoài, mặt trăng vẫn là một.
Và nếu có một đệ tử, các thân sẽ xuất hiện lại như trước.
Đây là những kết quả của Giải Thoát Viên Mãn.
[ LỜI KẾT ]
Như thế lời dạy này, tinh túy của mặt trời,
Được soi sáng bởi sự mọc lên của Ánh Sáng Rực Rỡ Không Nhiễm(32)
Ngày nay trong thời đại chiến đấu (khi người ta) bị bao bọc trong bóng tối của những tà kiến,
Để xua tan (những thứ ấy), con đường tuyệt đối này được viết ra.
Do công đức tạo luận, nguyện tất cả chúng sanh, giống như bản thân tôi,
Đồng đạt Giải Thoát trong trạng thái bổn nguyên, không còn sót lại.
Nguyện cho họ hoàn thiện trọn vẹn những phẩm tính của từ bỏ và chứng ngộ,
Và trở thành những Vị Nắm Vương Quyền Của Pháp, hoàn thành tự nhiên lợi lạc cho chúng sanh.
Lời dạy Dzogpa Chenpo (Đại Toàn Thiện) này về Tâm Giải Thoát Tự Nhiên được Yogi Trimed Dzer (Longchen Rabjam, 1308-1363) viết ra, người đã được Acarya Padmasambhava vinh quang vĩ đại của Orgyen ban phước vì lợi lạc của những thế hệ tương lai ở nơi linh thánh siêu tuyệt, Thành Trì Orgyen, và hoàn thành trên đỉnh Kangri Thodkar. Nguyện đưa đến đức hạnh !
CHÚ THÍCH PHẦN VII
  1. Kuntu Zangpo, S. Samantabhadra. Danh hiệu của Phật Bổn Nguyên : sự hợp nhất của cõi giới tối hậu và trí huệ bổn nguyên của chân lý tối hậu.
    2. Ngo-Bo, S. bhava. Bản tánh, tính chất và bản tánh của những hiện hữu. Trong bản văn chúng tôi phần nhiều dịch nó thành “tinh túy”.
    3. gDangs : Vầng sáng bên trong hay tự nhiên, sự sáng tỏ tối hậu hay vi tế, bản tánh sáng ngời ; năng lực, sự sâu thẳm tối hậu bên trong hay vi tế.
    4. Rang-bzhin, S. svabhava. Nghĩa là tính cách của những hiện hữu. Trong bản văn phần nhiều được dịch là bản tánh.
    5. gZung Drin : sự bám nắm và người bám nắm, cái được nắm bắt và người nắm bắt, tri giác hay sự nắm hiểu thuộc về chủ thể và đối tượng.
    6. Sems-Nyid, S. cittata. Nó là bản tánh tuyệt đối của tâm ; tâm tánh ; tâm-như-vậy ; thật tánh của tâm ; tánh giác bổn nhiên ; tinh túy của tâm. Trong bản văn, được dịch đơn giản là “Tâm”.
    7. sNang-Sems : những hình tướng xuất hiện và tâm, “cái được tri giác và tâm”, những hình tướng đối tượng và tri giác của chủ thể. Trong bản văn này, hầu hết được dịch là “tri giác”.
    8. Là, không là, cả hai và không phải cả hai.
    9. dBings (Ch’os Byings), S. dharmadhatu ; cõi giới, cảnh giới tối hậu.
    10. sNang (-Ba), S. avabhasa. Những hình tướng ; cái được tri giác ; những hiện tượng bề ngoài hay như huyễn, chân lý tương đối.
    11. sTong (-Nyid) S. sunyata. Tánh Không ; bản tánh chân thật ; sự rỗng rang ; chân lý tuyệt đối.
    12. Ch’os-Nyid, S. dharmata. Bản tánh tuyệt đối của những hiện hữu, Pháp tánh ; tánh Như.
    13. Bag-Ch’ags, S. vasana. Những dấu vết hay thói quen (tập khí) do những hành động và kinh nghiệm quá khứ tạo ra.
    14. Gyu-’Bras (Kyi) Theg-pa : những Thừa Nhân và Quả. Thừa Nhân là con đường chung của tu hành Phật giáo, Tiểu thừa và Đại thừa. Thừa Quả là con đường của tu hành tantra hay kim cương thừa, trong đó gồm cả ati yoga, hay Dzogpa Chenpo (Đại Toàn Thiện).
    15. De-Nyid, S. tathata ; cái như thế, như thị ; bản tánh chân thật.
    16. Yul-Drug : Sáu đối tượng của giác quan : sắc, thanh, hương, vị, xúc và những biến cố của tâm thức.
    17. sZhungs-sKu, S. rupakaya. Sắc thân của Phật, nó là Báo thân và Hóa thân.
    18. Chân lý Tuyệt đối và Chân lý Tương đối.
    19. dMigs-Med, S. nivaralamba : tính không tuân thủ, không có mục đích.
    20. Kun-gZhi, S. alaya, Hán Việt : a lại da thức.
    21. A’od-gSal, S. abhasvara, prabhasvara : sự sáng tỏ, tịnh quang, định quang minh.
    22. sKu-gNyis : hai Thân của Phật, thân tuyệt đối không có hình sắc (dharmakaya) và sắc thân (rupakaya).
    23. bZhi : trong bản văn đọc là gZhi (căn bản), nhưng theo Khyentse Rinpoche nó phải đọc là bZhi, tức là Bốn Thị Kiến của Đại Toàn Thiện.
    24. Nghĩa là chỉ có một vị của công đức trong tính cách của con người.
    25. sGo-gSum : thân, ngữ, tâm.
    26. Yul-lNga : sắc, thanh, hương, vị và xúc.
    27. Dal (-Ba) : Đời người tự do có tám phương diện : tự do thoát khỏi sự tái sanh trong những cõi địa ngục, quỷ đói, súc sanh, chư thiên sống lâu, người hoang dã, người tà kiến, trong một thế giới nơi không có Phật đã từng xuất hiện, và làm một người ngu đần.
    28. ’Byor (-Ba) : Một đời người thuận lợi có mười sự phú bẩm : sanh làm người, có đủ mọi khả năng (đủ mọi bộ phận giác quan), sanh trong một xứ sở trung tâm có liên hệ với Pháp, không trở lại một cuộc sống tà mạng, có niềm tin vào Phật pháp, có Phật đã từng xuất hiện và thuyết Pháp, Phật pháp được gìn giữ, người ta đã đi vào Phật pháp và người ta đã được chấp nhận bởi một vị thầy thiêng liêng.
    29. Thabs-Lam, S. upayamarga : sự tu hành mật truyền gồm những thân kim cương của chính mình và của những người khác.
    30. Rigs-lNga’i sTon-Pa : S. Aksohya
(A Súc), Amogasiddhi (Bất Không Thành Tựu), Ratnasambhava (Bảo Sanh), Amitabha (A Di Đà), và Vairocana (Tỳ Lô Giá Na).
31. Dus-bZhi : quá khứ, hiện tại, tương lai và thời gian-không-thời-gian.
  1. Dri-Med A’od-Zer : một trong những tên của Kunkhyen Longchen Rabjam.
  2. Những Giáo huấn Thiền định
    về Tâm Giải Thoát Tự Nhiên, Đại Toàn Thiện
Đây là một bản dịch trọn vẹn bản văn ngắn của Longchen Rabjam tựa đề Nghĩa Tinh Yếu – Những giáo huấn về những Giai Đoạn của Con Đường của Tâm Giải Thoát Tự Nhiên, Đại Toàn Thiện. Nó là một tóm gọn của Tâm Giải Thoát Tự Nhiên, sắp xếp những giáo lý thành những phần tu hành, bắt đầu từ những sơ bộ đến cấp độ cao nhất của thiền định Thregchod. Vì nó rất ngắn và cô đọng, nhiều chỗ khó hiểu. Dù nó giải thích phương tiện tu hành, thích hợp là đi vào thực hành này chỉ sau khi có đầy đủ những giáo huấn và những trao truyền riêng biệt từ một đạo sư rất thẩm quyền.
NGHĨA TINH YẾU – NHỮNG GIÁO HUẤN VỀ NHỮNG GIAI ĐOẠN CỦA CON ĐƯỜNG CỦA TÂM GIẢI THOÁT TỰ NHIÊN, ĐẠI TOÀN THIỆN
Kính lễ Vajrasattva Vinh Quang,
Bản tánh Ngài từ vô thủy là vô sanh,
Không thể diễn tả, không thể quan niệm, bất nhị, Thân Tối Hậu,
Tâm Đại Bi, Phổ Hiền tự nhiên hiện tiền,
(Bậc là) sự Toàn Thiện tự nền tảng không có biến đổi : con kính lễ Ngài.
Những giáo lý cho những yogi vì sự chứng đắc của họ chắc chắn ngay trong đời này,
Những ban phước trực tiếp của các bậc Thánh,
Nghĩa tự-giải thoát của bất cứ cái gì sanh khởi mà không lấy hay bỏ,
Tôi sẽ viết ra để chỉ dạy ở đây.
Đức Phật giác ngộ viên mãn đã tuyên thuyết vô số những cổng vào của các thừa và những loại giáo lý với đại bi và phương tiện thiện xảo phù hợp với bản chất và trí năng của chúng sanh. Nghĩa của tất cả những giáo lý này bao gồm trong tánh giác bổn nhiên, tâm giác ngộ. Dù có nhiều giáo lý để thực hành về nó, có rất ít con đường (thực sự) đưa đến giải thoát trong chỉ một đời, bởi vì những con đường khác bị giới hạn trong những luyến chấp nắm bắt những cực đoan biên kiến. Giáo huấn về Tâm Giải Thoát Tự Nhiên của Đại Toàn Thiện là phương pháp bí mật nhất của sự chứng ngộ tức khắc những chấp nhận và chối bỏ là sự giải thoát ngay tại nền tảng của chúng. Giáo lý này vượt khỏi hết mọi thừa khác. Để học nó, có ba phần : (a) dòng các đạo sư, (b) giáo lý được truyền qua các vị ấy, và (c) mệnh lệnh giao phó giáo lý (cho những hộ pháp) vì sự quan trọng của nó.
Dòng những Đạo Sư
Giáo lý này được truyền qua :
  1. Samantabahadra (Phổ Hiền), Thân Tối Hậu của cảnh giới Phật không gì so sánh
    2. Amitabha (A Di Đà), Báo Thân
    3. Padmasambhava, Hóa thân
    4. Dakini Yeshey Tshogyal
    5. Guru Silamati
    6. Khedrub Geleg Gyatsho
    7. Choje Monlam Odzer
    8. Bản thân tôi (Longchen Rabjam)
Giáo lý được truyền qua các vị ấy
(i) Giáo lý thực hành để tự-giải thoát ngay trong đời này.
(a) NHỮNG SƠ BỘ
(1) HỢP NHẤT VỚI GURU ĐỂ NHẬN NHỮNG BAN PHƯỚC
Hãy ngồi trên một chỗ tiện lợi. Hãy quy y Tam Bảo và phát Bồ đề tâm. Bấy giờ hãy quán tưởng một cách tức thời : Trên đỉnh đầu là đại đạo sư Padmasambhava, không tách lìa với bổn sư của mình, ngồi trên một tọa cụ hoa sen, mặt trời và mặt trăng. Ngài mặc y phục Heruka, chói ngời với những tướng chánh và tướng phụ. Da ngài màu xanh. Ngài cầm một chày kim cương và chuông trong tay và ôm người phối ngẫu. Ngài trang sức bằng ngọc quý và xương. Trong lòng ngài là đức bà dòng họ Kharchen (tức Yeshey Tshogyal). Bà có nước da màu hơi đỏ. Bà cầm một lưỡi dao cong và một xương sọ và ôm người phối ngẫu. Hai vị được tất cả những đạo sư của dòng phái bao quanh và vô số chư Phật, Bồ tát, Daka, và Dakini. Trước các ngài, trong tâm mình : hãy lễ kính, cúng dường, sám hối tịnh hóa nghiệp xấu, tùy hỷ công đức, thỉnh cầu chư đạo sư chuyển bánh xe Pháp và cầu xin các vị ở lại không vào sự diệt tận của phiền não. Rồi cầu khẩn các ngài :
Guru quý báu ! (hiện thân của tất cả các bậc giác ngộ) Xin ban những phước lành cho con (và tất cả chúng sanh) để tịnh hóa những che chướng của thân, ngữ, tâm, của con đạt được những thành tựu của thân, ngữ, tâm (của những bậc giác ngộ) và có thể đạt đến Phật tánh ngay trong đời này.
Rồi suy nghĩ, “Ánh sáng phát ra từ thân của Guru (và của chúng hội). Chỉ do ánh sáng chạm đến mà những che chướng của thân ngữ tâm của tất cả chúng sanh được tịnh hóa và toàn thể vũ trụ được chuyển hóa vào trong bản tánh của Guru. Rồi ánh sáng phát ra từ thân, ngữ, tâm của tất cả (những đối tượng của sự sùng mộ) và đi vào đỉnh đầu mình, làm phát sanh trí huệ bổn nguyên của lạc, sáng tỏ và vô niệm, nó là sự chứng ngộ phi thường, sự tự-giải thoát tức thời.” Giữ hơi thở trong một lúc. Thực hành bằng cách kéo dài (dần dần) thiền định. Vào lúc kết thúc, hồi hướng những công đức bằng cách thấu hiểu trạng thái của sự xuất hiện như huyễn thuật. Nếu người ta tu hành như thế trong bảy ngày, những ban phước phi thường và những dấu hiệu thành tựu của Guru sẽ nhận được một cách thình lình.
(2) TU HÀNH CÚNG DƯỜNG MẠN ĐÀ LA ĐỂ HOÀN THIỆN 
HAI ĐẠI TÍCH TẬP
Hãy quán tưởng chúng hội những Guru và những mạn đà la của những hóa thần bổn tôn trong bầu trời trước mặt mình. Sắp xếp những phẩm vật cúng dường Mạn Đà La. Suy nghĩ, “Tất cả thế giới và cả Phật mười phương được tượng trưng bởi hệ thống thế giới bốn châu và làm bằng đủ loại châu báu quý giá. Chúng đầy những vật thọ hưởng khác nhau của trời và người.” Rồi cúng dường chúng cho thánh chúng với thân thể, sự sung túc và công đức của chính mình, và nghĩ rằng tất cả chúng hội đều vui lòng. Hãy tiếp tục cúng dường Mạn Đà La trong bảy ngày. Mục đích của thực hiện hai sự tích tập công đức và trí huệ bổn nguyên là phát sanh sự chứng ngộ phi thường trong tâm mình.
(3) TU HÀNH THẦN CHÚ MỘT TRĂM ÂM ĐỂ TỊNH HÓA 
HAI CHE CHƯỚNG
Từ trạng thái (thiền định) tánh không, hãy quán tưởng tức khắc Vajrasattva màu trắng và một mặt. Ngài cầm chày kim cương và chuông. Ngài trang sức hồng ngọc quý và ngồi kiết già. Ở tim ngài, giữa một hoa sen và dĩa mặt trăng là một chữ HUM bao quanh bởi thần chú một trăm âm. Những tia sáng phát ra từ những chữ khắp mọi hướng và những che ám của tất cả chúng sanh được tịnh hóa (chỉ bằng chạm vào những ánh sáng). Trì tụng thần chú một trăm âm càng nhiều càng tốt trong bảy ngày. Mục đích của sự tu hành này là tịnh hóa những che chướng của nghiệp xấu và chứng ngộ bản tánh tối hậu một cách nhanh chóng.
(4) THỰC HÀNH VỀ VÔ THƯỜNG CỦA ĐỜI SỐNG ĐỂ ĐÍCH THỰC PHÁT SANH SƯ VƯỢT LÊN KHỎI SANH TỬ VA CHÁN SỢ NÓ
Hãy suy nghĩ, “Đời người có được những tự do và thuận lợi quý giá, nhưng bản chất của nó hẳn là vô thường và nhanh chóng hủy hoại. Những đối tượng xuất hiện bên ngoài là vô thường bởi vì chúng thay đổi với ngày, tháng, năm. Không có chúng sanh nào vượt khỏi cái chết.” Nghĩ về “cái chết xảy ra cho bà con và bạn bè của mình.” Hãy nghĩ về “sự chắc chắn của cái chết của chính mình vì cuộc sống là vô thường. Thân thể người ta đang tan rã và phân tán như một bong bóng nước đang vỡ, và không có gì chắc chắn là người ta không chết trong hôm nay.” Hãy nghĩ, “Hôm nay là ngày chót của ta ở trong thế giới này, bốn đại đang tan biến và tâm và thân đang tách rời.” Hãy thiền định về điều này từ tận đáy lòng trong bảy ngày. Mục tiêu của thiền định này là để khởi điểm (tỉnh giác về) vô thường trong tâm mình, giảm bớt những dự phóng của ý thức, và khiến người ta có thể đi vào và nỗ lực tu hành pháp.
(5) SỰ THỰC HÀNH QUY Y, NÓ KHỞI ĐẦU CON ĐƯỜNG TU HÀNH
Hãy quán tưởng Tam Bảo trong bầu trời trước mặt mình, như chư Phật của ba thời mười phương với chư Bồ Tát, những Mạn Đà La của những Hóa thần bổn tôn và những A La Hán và Bích Chi Phật. Với ý định nương dựa các ngài như những chỗ quy y cho đến khi người ta đạt đến giác ngộ, hãy tụng đọc những lời cầu nguyện quy y Guru và Thánh chúng. Khi làm thế, hãy nghĩ, “Khi các bậc cha mẹ thương yêu và tốt lòng với con cái của họ, những bậc để quy y đang nhìn chúng sanh với lòng bi mẫn.” Đọc những lời cầu nguyện quy y từ đáy lòng mình, nghĩ rằng, “Tất cả chúng sanh đang lập lại vang to lời quy y với tôi.” Hãy hiến mình cho sự thực hành này trong bảy ngày. Mục tiêu là để làm bình lặng những ngăn chướng của việc tu hành Pháp và khai triển chứng ngộ.
(6) SỰ THỰC HÀNH KHAI TRIỂN BỒ ĐỀ TÂM,
NÓ LÀ SỰ TIẾN LÊN TRÊN CON ĐƯỜNG CỦA PHÁP
Hãy nghĩ đến những khổ đau của địa ngục nóng và lạnh, sự đói khát của cõi ngạ quỷ, sự nô dịch của cõi thú, sự chiến đấu của cõi Atula và cái chết rồi rớt xuống của cõi trời v.v…. ở trước mặt mình. Như thế, chúng sanh khổ đau trong mọi lúc, và bản chất của sanh tử không gì khác hơn là khổ đau. Thế nên hãy nghĩ, “Nguyện cho tất cả chúng sanh, họ đang tả tơi trong những đau khổ của sanh tử, nhờ những công đức, thân thể và sự sung túc của tôi…. được ở trong bốn kinh nghiệm vô lượng hưởng thụ hạnh phúc, thoát khỏi khổ đau (không lìa khỏi hạnh phúc và thoát khỏi khổ đau, và thản nhiên) không có thương ghét. Rốt ráo, nguyện họ đạt được trạng thái Phật tánh.” Khai triển Bồ đề tâm bằng lời nói với một lễ nghi đơn giản và tụng đọc :
Ôi các bậc giải thoát, với các đứa con của các ngài, xin hãy chú ý đến con.
Như chư Phật ba thời
Khai phát tâm Bồ đề,
Cũng thế vì lợi lạc của chúng sanh,
Con phát tâm Bồ đề trong chính thân tâm của con.
Trong những con đường của các ngài đã chỉ dạy (trong kinh điển),
Con tu hành thích hợp theo trình tự.
Nguyện con có thể hủy diệt những khổ đau của chúng sanh,
Và bất cứ điều gì con làm, nguyện nó làm cho lợi lạc của những người khác được đáp ứng.
Cũng thiền định về sự tu hành mang lấy những khổ đau của những người khác vào chính mình và đem hạnh phúc của chính mình cho họ. Hãy thiền định về lòng bi sâu sắc trong bảy ngày. Mục tiêu của nó là bất cứ cái gì người ta làm bằng thân xác hay lời nói đều chỉ vì lợi lạc của những người khác, và nhờ đó trở thành sự tu hành trong con đường Đại thừa.
(7) TU HÀNH TRÊN CON ĐƯỜNG THIẾT YẾU CỦA NGHĨA XÁC ĐỊNH ĐỂ PHÁT SANH SỰ CHỨNG NGỘ BẢN TÁNH TỐI HẬU
(a) TÌM KIẾM AN ĐỊNH
Hãy ngồi trong thế tréo chân. Tham thiền trong trạng thái mà trong đó những tư tưởng quá khứ đã dứt, những tư tưởng tương lai chưa sanh, và đối với hiện tại không có những ý niệm hóa trong bất kỳ giác quan nào. Tham thiền về cái này trong bảy ngày. Mục tiêu là trừ những tư tưởng xấu bình thường, những che chướng, và làm cho dễ nhận ra hơn bất cứ tư tưởng ngoại sanh nào khởi lên bằng cách phân biệt những phương diện của sáng tỏ và những bất tịnh trong tánh giác bổn nhiên.
(b) PHÁT SANH QUÁN CHIẾU
Vào lúc những tư tưởng đang phóng chiếu thô hơn trước, người ta cần phân tích chúng. Khi những tư tưởng phân tán, hãy tìm chúng khởi lên ở đâu. Hãy tìm kiếm thân thể từ đỉnh tới đáy và những hiện tượng bên trong, bên ngoài và ở giữa. Hãy tìm kiếm màu sắc, hình dạng, và bản sắc của những tư tưởng. Vì chúng không khởi sanh từ đâu, người ta chứng ngộ trạng thái của Tâm không sanh, giải thoát khỏi những gốc rễ. Khi một tư tưởng đang hiện diện, hãy phân tích màu sắc, hình dạng và bản sắc của nó là cái gì và nó ở trong, ở ngoài hay ở giữa. Người ta sẽ chứng ngộ sự sáng tỏ vĩ đại, không dứt và tánh Không của Tâm, sự hiện diện vĩ đại ở nền tảng. Những tư tưởng thình lình khởi lên và rồi biến mất đi đâu không dấu vết. Vào lúc dừng dứt (của những tư tưởng), bằng cách phân tích chúng đi đâu, người ta sẽ chứng ngộ nghĩa của tánh giác bổn nhiên, sự giải thoát trong trạng thái của bản thân nó, không có chút dấu vết gì, siêu vượt mọi nhận biết.
(c) NHẬN BIẾT HỢP NHẤT 
(CỦA AN ĐỊNH VÀ QUÁN CHIẾU)
Đã buông xả thân tâm một cách tự nhiên, hãy ở trong sự bình đẳng, bình an, sáng tỏ và tỉnh biết, trong trạng thái của tâm siêu vượt khỏi những tư tưởng và nhớ nghĩ. (Kết quả là), phương diện làm bình lặng chuyển động của những tư tưởng và nhớ nghĩ là “an định” và thấy nó rõ ràng và sống động là “quán chiếu”. Kinh nghiệm cả hai phương diện một cách đồng thời là “hợp nhất”. Mục tiêu của sự tu hành này là nhận biết định với phương tiện thiện xảo. Hãy tham thiền trong một ngày về mỗi thứ.
(ii) Con dường hiện thực, đưa vào sự chứng ngộ. Hãy để tâm và thân trong trạng thái buông xả hoàn toàn. Sự nhận biết xảy ra ngay điểm của tâm hiện diện khoảnh khắc. Tất cả thế giới và chúng sanh bên ngoài và bên trong là những cách thức sanh khởi của tâm của chính mình. Chúng như những giấc mộng. Bản thân cái tâm cũng trống không trong tinh túy của nó, sáng tỏ trong bản tánh của nó và sanh khởi sai khác trong tính cách của nó, như những xuất hiện của những hình sắc trong một tấm gương không dơ bẩn. Chúng tự do đối với mọi tạo tác thành những cực đoan có hiện hữu và không hiện hữu khi chúng xuất hiện, nhưng đồng thời chúng cũng tự do với sự có thể nhận biết. Thế có nghĩa là không có một bản tánh tối hậu nào khác tách biệt khỏi tâm hiện tại đang phóng chiếu trong nhiều hình thức khác nhau.
Đại Đạo Sư (Padmasambhava) nói :
Nếu người ta hiểu rằng tâm đích thật là bản tánh tối hậu,
Bấy giờ không có cảnh giới tối hậu nào khác để thiền định về nó.
(Chỉ) biết những phương pháp để chứng ngộ và giải thoát là đủ,
Vì tâm đích thực là Pháp thân (Thân Tối Hậu.)
Con đường toàn hảo này là độc nhất cao hơn (những con đường khác)
Đây là : Thừa phổ quát toàn khắp của Phổ Hiền.
Bất cứ ai thực hiện cái gọi là từ bỏ những tư tưởng, thiền định về không tư tưởng,
Và nhìn vũ trụ như những kẻ thù của sự giải thoát và như mê lầm, sẽ rơi (vào những cực đoan).
Thế nên hãy buông xả tự nhiên trong chính tâm hiện tại mà không có những cố gắng và đặt tên nào khởi sanh, hãy tham thiền trong nó (tâm hiện tại) bằng cách buông xả bình thường, như tâm vốn là, và trần trụi không có những lấy-bỏ. Ở trong tinh túy nó là sự giải thoát ngay trên sự thấy ; trong bản tánh nó giải thoát ngay trên sự thấu hiểu ; và trong tính cách nó là tự-giải thoát, đó là trạng thái tự nhiên của tâm. Bất cứ cái gì sanh khởi (trong tâm), hãy đối xử với nó mà không quá chú ý, bấy giờ tâm ở yên trong sự tự nhiên của tánh giác bổn nhiên và sự tự trọn vẹn hiện thành một cách tự nhiên. Vào lúc đó, không có ảnh hưởng của vướng mắc vào lấy hay bỏ, hãy an trụ trong trạng thái của tánh giác bổn nhiên bất biến, trí huệ bổn nguyên giải thoát tức thời, là sự hợp nhất của lạc, sáng tỏ và vô niệm. Khi không nắm bắt tâm hiện tại với những khẳng định “cái này là cái này”, bản thân tỉnh giác nội tại trở thành tự-giải thoát, và đồng thời nó tan biến. Khi tỉnh giác nội tại tan biến, hãy ở yên trong trạng thái không có những đặt tên gán ghép và những ô nhiễm cho đến khi sự tỉnh giác nội tại kế tiếp khởi sanh. Khi nó khởi sanh trở lại chớ có kéo dài sự tỉnh giác nội tại vô tri mà hãy ở yên trong nó một cách tự do, hộ trì nó một cách rỗng rang, và để cho nó vận hành mà không bám níu vào nó. Giống như lấy những vật từ một bình không đáy, hãy gặt hái kinh nghiệm trong cái tỉnh giác nội tại, nó là trong suốt, tức thời, tự-giải thoát, không ngăn ngại và không có tiêu điểm đối tượng nào của cái “cái này là cái này”. Tóm tắt, khi cái thấy và thiền định của sự giải thoát-ngay khi-khởi sanh xảy ra (theo cách) tự-khởi sanh và vỡ toang từ chiều sâu, cả hai thứ đối tượng để đoạn trừ và những đối trị được giải thoát qua sự tự-tan biến. Bấy giờ, vì tất cả hiện tượng hiện hữu khởi lên như là bản tánh tối hậu, sự thiền định không có cách hở, ngừng nghỉ. Khi tánh giác bổn nhiên và tánh không tự-giải thoát không có nắm bắt, những nhiễm ô được tịnh hóa như là trí huệ bổn nguyên. Khi những đức hạnh hiện diện như là sự toàn thiện tự nhiên, người ta siêu vượt những cố gắng và những thành tựu. Khi tất cả khởi lên như là bản tánh, nó là sự chứng đắc bản tánh tối hậu, thanh tịnh khỏi mọi lỗi lầm và che chướng. Bởi thế, tất cả những tư tưởng và nhớ nghĩ bình thường hiện tại là trạng thái tự tánh của Thân Tối Hậu. Đại Đạo Sư (Padmasambhava) nói :
Trong tâm thoát khỏi những ý niệm :
Hãy ở yên trong tánh bình đẳng không có thiền định.
Dù (con) thiền định, hãy ở yên tự nhiên không có bác bỏ.
Hãy ở yên trong cái khoảnh khắc không có dao động,
Dù (con) dao động, hãy ở yên tự do không bác bỏ.
Hãy ở yên trong đình chỉ, không có quan sát.
Dù (con) quan sát, hãy ở yên trống trơn không có bác bỏ.
Hãy ở yên trong bản năng nguyên sơ, không có phóng chiếu.
Dù (con) phóng chiếu, hãy ở yên “tại đây” không có bác bỏ.
Hãy ở yên trong rạch ròi không có rút lui.
Dù (con) rút lui, hãy ở yên rõ ràng trong sáng không có bác bỏ.
Hãy ở yên trong rỗng rang không có những nỗ lực.
Dù (con) nỗ lực, hãy ở yên kềm giữ không có bác bỏ.
Hãy ở yên trong sáng sủa không có những sửa sang chỉnh trị.
Dù (con) sửa sang chỉnh trị, hãy ở yên một cách thanh tịnh không có bác bỏ.
Hãy ở yên trong không cố gắng không có chỗ được.
Dù (con) được, hãy ở yên tự nhiên không có bác bỏ.
Hãy ở yên trong tánh tự nhiên không có từ chối.
Dù (con) từ chối, hãy ở yên cái không sanh mà không có bác bỏ.
Hãy ở yên trong cảnh giác không có giới hạn.
Dù (con) bị giới hạn, hãy ở yên tự nhiên không có bác bỏ
Hãy ở yên trong buông xả không có những cố gắng.
Dù (con) cố gắng, hãy ở yên tự nhiên không có bác bỏ,
Hãy ở yên trong không có-căn cứ mà không có tham thiền.
Dù (con) tham thiền, hãy ở yên tự nhiên không có bác bỏ.
Tâm hiện tại được giải phóng tự do vào trạng thái của tánh tự nhiên, sự toàn thiện tự nhiên không sửa sang chỉnh trị của bất cứ cái gì sanh khởi, không có sự bám luyến đối với những hiện tượng bên ngoài và bên trong. (Trong tâm hiện tại), vì không có những tư tưởng từ chối hay chấp nhận, trạng thái của bất nhị của tâm tồn tại không dừng dứt. Vì không có những tư tưởng thô, tâm lang thang hoang dã được giải thoát khỏi những tư tưởng của cõi dục. Vì những tư tưởng phóng chiếu sanh khởi trong tánh tự nhiên, tâm siêu vượt khỏi mọi trệch hướng về những cõi sắc và vô sắc. Không có sự nắm bắt như là “cái này”, an định được thành tựu tự nhiên. Vì tánh tự nhiên (của tâm) hiện khởi một cách tự phát, quán chiếu được thành tựu tự nhiên. Vì không có phóng chiếu và trụ định tách lìa, sự hợp nhất của chúng được thành tựu tự nhiên. Vì nó được giải thoát trong bản thân trạng thái tức thời khoảnh khắc (hay một cách tức thời trong trạng thái của chính nó), trí huệ được thành tựu một cách tự nhiên. Vì không có trụ, định được thành tựu một cách tự nhiên. Vì không có sự nắm hiểu cái giải thoát-ngay trên-sanh khởi, trí huệ bổn nguyên được thành tựu một cách tự nhiên. Vì mọi lỗi lầm đều hiện diện qua việc nắm bắt, chúng được giải thoát trong tự do khỏi sự nắm bắt và những chướng ngại. Vì tất cả đức hạnh khởi lên trong trí huệ tánh giác, chúng tiến bộ không ngừng. Đó là tâm được hoàn thiện trong tánh tự nhiên của chính nó, và đó là sự đạt được thành tựu tối thượng về Đại Ấn (Mahamudra), ngay trong đời này.
Hãy ở yên trong tánh giác không do tạo tác, tự nhiên và không ngăn ngại,
Trạng thái của bất cứ cái gì sanh khởi, qua cái tự-sanh khởi vĩ đại (sự chứng ngộ)
Vị vua không có chỗ nương dựa toại nguyện với sự không có những nắm bắt.
Và đạt được Thân Tối Hậu vô sanh, trạng thái thường trụ.
(iii) Kết luận.
(a) NHỮNG THỰC TẬP THIỀN ĐỊNH
Trong những thời kỳ xuất thiền định – lúc tu hành tham thiền thực sự, tánh tự nhiên của tâm hiện tại của bất cứ cái gì sanh khởi – hãy tu hành một cách rõ ràng sức mạnh của những thực tập (thấy rằng) tất cả những hình tướng bên ngoài và tỉnh giác bên trong, cũng như những kinh nghiệm tu tập, đều không hiện hữu ngay từ điểm sanh khởi của chúng, như một giấc mộng, huyễn thuật, ảo ảnh, mặt trăng trong nước, và sự xuất hiện không thực. Những thực tập này giải thoát sự luyến bám vào mọi hiện hữu cho là thật có. Dù trong giấc ngủ, người ta an trụ trong Pháp thân, sự dứt bặt mọi nắm bắt, tìm hiểu.
(b) XUA TAN NHỮNG CHE ÁM, NHƯ LÀ BỆNH TẬT VÀ 
NHỮNG TÁC ĐỘNG GÂY HẠI
Bệnh tật và những tác động gây hại là những biểu lộ của những tư tưởng, nếu được khảo sát, chắc chắn rằng chúng không hiện hữu ở đâu cả, bên ngoài, bên trong hay chặng giữa. Thế nên với một thái độ vui vẻ bởi vì nhờ (cơ hội) chuyển những chướng ngại che ám thành phương tiện thực hành trên con đường của cái không sanh, hãy thiền định (bằng cách suy nghĩ và quán tưởng) : về sự xuyên thấu vào và làm nhẹ những đau đớn của bệnh, và về sức mạnh của những thực tập lòng bi và của sự thấu hiểu sự không hiện hữu trong chính thật tánh của những chướng ngại gây hại. Chắc chắn sẽ làm bình lặng chúng.
(c) TIẾN BỘ TRONG NHỮNG THỰC TẬP
Nếu sự tu hành đức hạnh trở nên chậm chạp, hay nếu không có tiến bộ, hãy mạnh mẽ cầu nguyện đến Guru, phát sinh sự vượt lên khỏi và ghê sợ (sanh tử) trong tâm, hãy tích tập công đức bằng những lễ tiệc cúng dường (Tshog) và thiền định về từ, bi và Bồ đề tâm. Hãy đi đến một nơi hoàn toàn hoang vắng như một nghĩa địa, một thung lũng, hay những đỉnh núi. Hãy quán tưởng Guru trên đỉnh đầu, và chạy, nhảy (vòng quanh một cách tự nhiên), kêu to những lời nói (bất cứ lời nào xảy đến), và phóng chiếu trong tâm thức những kinh nghiệm sướng khổ và lấy bỏ. Rồi kết hợp những kinh nghiệm ấy một cách tự nhiên với sự tự-giải thoát tức thời. Tu hành như thế nhiều ngày làm sản sinh ra nhiều chứng ngộ phi thường khác nhau. Đây là những điểm rất cốt yếu của sự tu hành.
Một hành giả đã có được những kinh nghiệm như vậy đạt được xác tín tự tin không sợ chết và giải thoát người nắm bắt và cái được nắm bắt trong trạng thái tự nhiên của chúng. Nó chứng ngộ một cách trực tiếp những thành tựu chung và không chung ngay trong đời này. Đây là một cô đọng ngắn vì giải thích sự tu hành này trong chi tiết thì không cùng. Những giáo lý cho sự đạt giải thoát ngay trong đời này đã trọn vẹn.
Chỉ dạy về Sáng Tỏ, Căn cứ Sanh Khởi của Trạng Thái Trung Ấm
Nhờ những kinh nghiệm trong những điểm cốt yếu về giải thoát tức thời của sanh và chết (qua thiền định) trong quá khứ, cũng như vào lúc trạng thái giấc mộng trung ấm (rMi-Lam Bar-do), trạng thái tự nhiên của giải thoát bổn nguyên, vốn thoát khỏi những nắm bắt, hiện khởi. Vào lúc chết, do làm tan biến (hay chuyển di sự tập chú của năng lực của) đất (nguyên tố của thân) vào nước, thiền giả mất đi năng lực thể xác, do làm tan biến nước vào trong lửa, thủy đại khô đi, bằng cách làm tan biến lửa vào trong không khí, hơi nóng rút khỏi những chu vi bên ngoài, và bằng cách làm tan biến không khí vào trong thức, thiền giả ngừng thở. Bằng cách làm tan biến (hay chuyển di sự tập chú năng lực của) hình sắc vào trong âm thanh, nó sẽ không thấy những hình sắc bằng mắt mình, bằng cách làm tan biến âm thanh vào hương nó sẽ không nghe âm thanh nào nữa, bằng cách làm tan biến hương vào vị nó sẽ không cảm thấy hương với mũi, bằng cách làm tan biến vị vào trong xúc nó sẽ không cảm thấy vị với lưỡi, bằng cách làm tan biến xúc vào những hiện tượng nó sẽ không cảm thấy xúc chạm, và bằng cách làm tan biến những hiện tượng vào tâm thì những tư tưởng thô chủ thể và đối tượng ngừng dứt. Điều này tương tự với trở nên vô ý thức. Đó là sự hòa tan của tám thức vào nền tảng phổ quát. Ngay vào thời điểm tham thiền trong định, người ta giải thoát mình như là những thành phần của năm gia đình (bộ) Phật và đạt đến trạng thái bổn nguyên. Nó là trạng thái có đầy đủ năm gia đình Phật và sự toàn thiện.
Ngay vào lúc tham thiền một cách tự nhiên và không có điểm tựa vào ánh sáng xanh như là Trí Huệ Bổn Nguyên của cảnh giới Tối Hậu, người ấy giải thoát tự-tỉnh giác của nó như là thân của Phật Vairocana (Tỳ Lô Giá Na). Cũng thế, sự tham thiền về ánh sáng trắng như là Trí Huệ Bổn Nguyên Giống Như Tấm Gương giải thoát nó như là Aksobhya (A Súc), ánh sáng vàng như là Trí Huệ Bổn Nguyên Bình Đẳng giải thoát nó như là Ratmasambhava (Bảo Sanh), ánh sáng đỏ như là Trí Huệ Bổn Nguyên Phân Biệt giải thoát nó như là Amitabha (A Di Đà), và ánh sáng lục như là Trí Huệ Bổn Nguyên của sự Thành Tựu giải thoát nó như là Phật Amoghasddhi (Bất Không Thành Tựu). Rồi qua thân biểu lộ người ấy phụng sự chúng sanh. Đây là sự đạt được giác ngộ hoàn toàn tại nền tảng bổn nguyên. Đây là (phương pháp của) sự giải thoát tức thời bằng cách hợp nhất (trí huệ bổn nguyên) với sự sáng tỏ (hiểu là tịnh quang – bản dịch Việt) của trạng thái trung ấm khi nhận biết trí huệ bổn nguyên của lạc, sáng tỏ và vô niệm tự nhiên hiện diện và không phải tìm kiếm, nó tự nhiên khởi lên và tự nhiên được nhận biết khi người ta đã có những kinh nghiệm trong điểm cốt yếu tự-giải thoát tức thời này trong quá khứ. Vì tinh túy của tánh giác bổn nhiên là Tánh Không, nó không trụ ở đâu cả. Vì bản tánh của tánh giác bổn nhiên là sáng tỏ, căn cứ khởi lên là không ngừng. Vì tính cách của tánh giác bổn nhiên là sai khác, nó hiện diện trong trạng thái tất cả-đồng khởi, tự do khỏi những phân biệt. Những cái này (được gọi là) ba tính chất phú bẩm (của tánh giác bổn nhiên). Bấy giờ bốn thị kiến riêng biệt của sự tan biến của bốn đại xuất hiện và chúng là bốn tính chất phú bẩm. Bấy giờ người ta đã đạt giải thoát như năm thân (của năm gia đình Phật) bằng cách chứng ngộ sự sáng tỏ như là những trí huệ bổn nguyên. Chúng là năm tính chất phú bẩm (của tánh giác bổn nhiên). Bấy giờ người ta làm lợi lạc cho chúng sanh qua những biểu lộ. Nó là sự phú bẩm của hoàn thiện toàn triệt. Bấy giờ bằng cách làm tan biến Báo Thân vào Thân Tối Hậu và bảo đảm trạng thái bất biến của bản tánh tối hậu, người ta ở trong sự hoàn thiện đại bình đẳng. Nó là sự phú bẩm của đại hoàn thiện toàn triệt. Đó là giáo huấn về sự giải thoát trong trạng thái trung ấm cho những hành giả (trí năng) bình thường.
Những Giáo Huấn Phụ Thêm về sự Tiếp Tục Tiến Trình Nghiệp trong Trạng Thái Trung Ấm của Hiện Hữu (Srid-Pa Bardo)
Nếu người ta không thể nhận ra hay duy trì sự sáng tỏ vào lúc chết, bấy giờ người ta sẽ lấy một thân (vi tế hay) thân bằng thức, thân ấy xuất hiện trong nửa đầu của thời kỳ đời sống trong trạng thái trung ấm trong hình dạng của lần sanh trước và nửa sau trong hình dạng của lần sanh tới. Thân này có đủ mọi khả năng giác quan, và nó đi đến bất kỳ nơi đâu (trong sanh tử) bằng ý nghĩ do bởi nghiệp lực của nó. Người có thân đó đi qua không ngăn ngại tất cả mọi sự vật chỉ trừ bụng người mẹ của nó và tòa Kim Cương (Trạng Thái Giác Ngộ). Nó trải qua nhiều kinh nghiệm hạnh phúc và khổ đau như những hình tướng xuất hiện trong một giấc mộng. Sự kéo dài của sự việc này là không xác định. Một số người tái
sanh nhanh hơn trong khi những người khác phải ở trong 49 ngày. Khi họ biết rằng họ đã chết, họ kinh nghiệm sự buồn rầu. Vào thời gian đó, nếu họ nhớ lại những giáo huấn đã nhận được trước kia và tu hành sự không nắm bắt vĩ đại những hình tướng và tâm, và nếu họ cầu nguyện Guru, bấy giờ có những người tu hành trong số họ đạt được giải thoát. Trong tình hình này, cũng rất quan trọng là tâm cần nhớ nghĩ đến các cõi tịnh độ, thấu hiểu rằng những tri giác trong trạng thái trung ấm là không thật, và nhớ lại sự sùng mộ và kính ngưỡng (với các bậc giác ngộ). Có nói (trong kinh điển) rằng những người tu hành như vậy sẽ tái sanh trong những cõi tịnh độ và đạt giác ngộ ở đó.
Cách tốt nhất (tu hành chuyển trạng thái trung ấm thành phương tiện cho những chứng đắc cao hơn) là sự thấu hiểu rằng những hiện tượng là không thực sự hiện hữu. Cách tốt thứ hai là tri giác những hình tướng như là giai đoạn phát triển, giai đoạn thành tựu, và những tịnh độ giống như một huyễn thuật. Cách tốt ít nhất là tu hành niêm kín những cánh cổng của những tử cung của các cõi thấp. Để đóng kín những cánh cửa của tái sanh người ta cần nhận biết những hình ảnh tượng trưng của chúng. Cánh cửa tái sanh của cõi thiên xuất hiện như một khu vườn hay một lâu đài, của cõi bán thiên như một bánh xe ánh sáng, của cõi người như một cái nhà, hoặc là một nhà để vui chơi hay đầy người, của cõi thú như một cái hang hay một túp lều, của cõi quỷ đói như một khe núi khô, một cái hang hay một chỗ dơ bẩn, và của cõi địa ngục như bóng tối và một cơn mưa giông và v.v…. Vào lúc đó, chớ bị hấp dẫn bởi bất kỳ cánh cửa tái sanh nào như vậy. Hãy tri giác một cánh cửa tái sanh đặc biệt, hoặc của cõi trời hay cõi người, như là một lâu đài cõi trời và trong đó quán tưởng một chữ “HUM” rồi đưa thức đi vào chữ. Nghĩ rằng “Ta sẽ gặp Pháp và đạt thành tựu tối thượng trong đời tới”, hãy quán tưởng mình là vị thần bổn tôn. Bằng phương pháp này người ta tái sanh trong một đời sống quý báu của con người hay của chư thiên, có những phẩm tính tự do và thuận lợi, người ta gặp những bạn thánh hạnh, như là những vị thầy tâm linh và đạt sự thành tựu tối thượng trong đời đó. Giáo huấn về trạng thái trung ấm đã trọn vẹn.
Những Giáo huấn về Kết Quả, sự Toàn Thiện
Dù người ta đạt giải thoát trong đời này, trong trạng thái trung ấm hay trong đời tới, kết quả nhất định là Phật quả không gì sánh. Bằng cách làm cho tâm mình trở nên hoàn toàn thanh tịnh bởi được tự giải thoát, và bằng cách chứng ngộ nghĩa của sự sáng tỏ (tịnh quang) một cách trực tiếp, người ta sẽ bảo đảm sự an trụ trong trạng thái của Thân Tối Hậu vô nhiễm. Vào lúc đó, như mặt trời và mặt trăng mọc lên trong bầu trời, từ trong trạng thái của Thân Tối Hậu Báo thân xuất hiện cùng với năm điều chắc thực và phụng sự chúng sanh ở trong mười địa. Qua nhiều hình thức khác nhau của Hóa thân, người ta hoàn thành những lợi lạc của nhiều chúng sanh một cách tự nhiên. Đặc biệt, (a) nếu người ta chứng ngộ những tự-xuất hiện của trạng thái trung ấm là sự sáng tỏ của nền tảng, người ta bảo đảm trạng thái của Thân Tối Hậu. Bấy giờ, từ trạng thái đó, những lợi lạc cho chúng sanh xảy ra qua những Báo thân và những Hóa thân. (b) Nếu người ta chứng ngộ những tự-xuất hiện như là những xuất hiện của trí huệ bổn nguyên có năm khía cạnh, người ta bảo đảm trạng thái của Báo thân và đáp ứng lợi ích của chúng sanh bằng những Hóa thân. Và rồi những Hóa thân tan biến vào trong những Báo thân, chúng lại tan biến vào trong Thân Tối Hậu, và ở đó người ta ở trong nền tảng bổn nguyên. Rồi lại từ trạng thái bổn nguyên này, người ta phụng sự chúng sanh qua những xuất hiện của hai Sắc thân. (c) Nếu người ta chứng ngộ tự-xuất hiện như là những thân thanh tịnh và cõi Phật thanh tịnh của những Hóa thân, người ta bảo đảm trạng thái của Hóa thân và những xuất hiện của những Báo thân và Hóa thân tan biến vào trong Thân Tối Hậu, và từ nó người ta hoàn thành những lợi lạc của chúng sanh (qua hai sắc thân).
Trong chính tỉnh giác bổn nhiên hiện tại này, cả sanh tử và niết bàn được thành tựu. Thế nên, nếu người ta không thể chứng ngộ nó, nhiều loại hạnh phúc và đau khổ khác nhau khởi sanh trong những hình tướng xuất hiện như mộng của sanh tử trong giấc ngủ vô minh, và người ta lang thang trong ba cõi và sáu loại chúng sanh. Nếu người ta có được những kinh nghiệm của chứng ngộ, thì những thị kiến của niết bàn như mộng xuất hiện như những cõi tịnh độ khác nhau của Báo thân và họ phụng sự chúng sanh trong những giấc mộng. Bất cứ màu sắc nào xuất hiện, ngay khoảnh khắc xuất hiện của chúng, (bằng cách nhận biết rằng chúng) không hiện hữu trong thực tế, chúng biến mất như những giấc mộng biến mất khi người ta tỉnh dậy và rồi chúng trở thành một vị trong Thân Tối Hậu, thoát khỏi mọi tạo tác, như những hình tướng xuất hiện của ban ngày.
Thế nên, nếu người ta không chứng ngộ tánh Không, tinh túy của tỉnh giác bổn nguyên hiện tiền, bấy giờ vì vô minh, người ta trở nên mê lầm vào tâm và cõi vô sắc. Những cái này thuộc về bản tánh vô niệm. (Cũng thế, nếu người ta không chứng ngộ) sự sáng tỏ (quang minh), bản tánh (của tỉnh giác bổn nhiên hiện tiền), bấy giờ bởi vì sân giận người ta trở nên mê lầm vào trong ngữ và cõi sắc. Những cái này thuộc về bản tánh sáng tỏ. Nếu người ta không chứng ngộ những đặc thù đa dạng, tính cách (của tỉnh giác bổn nhiên hiện tiền), bởi vì tham người ta trở nên mê lầm vào thân thể và cõi dục. Những cái này thuộc về bản tánh lạc.
Kết quả là, từ những hành động bất thiện người ta sẽ chịu khổ trong những cõi địa ngục, từ những hành động thiện nhiễm ô không liên hệ với những tham thiền (người ta sẽ chịu khổ) trong sự lưu lạc của người và chư thiên, từ sự sáng tỏ của tham thiền người ta sẽ chịu khổ trong những cõi sắc và từ việc ở yên trong những tham thiền vững chắc (người ta sẽ chịu khổ) trong cõi vô sắc.
Khi người ta thấy và chứng ngộ tánh giác hiện tiền, bấy giờ tinh túy tánh Không của nó là Thân Tối Hậu thoát khỏi những tạo tác, bản tánh sáng tỏ của nó là Báo thân với năm điều chắc thật và tính cách của nó, xuất hiện trong nhiều hình thức khác nhau, là Hóa thân xuất hiện một cách thích ứng để thành tựu lợi lạc của chúng sanh một cách tự nhiên. Thân Tối Hậu là sự tự do khỏi mọi tạo tác, như hư không, và từ trạng thái đó xuất hiện “cõi Phật không gì sánh” của Báo thân, với những đạo sư của chư Phật An Bình và Hung Nộ của Báo thân trang nghiêm bằng những tướng chánh và tướng phụ. Những vị đạo sư ấy làm hài lòng vô tận chư Phật tự-xuất hiện và chư Bồ tát thập địa với những giáo lý Đại thừa cho đến khi sanh tử trống trơn. Từ trạng thái ấy (Báo thân), qua vô số Hóa thân của thân, ngữ, tâm bất tận với (hai) trí huệ thấu biết chân lý tuyệt đối và những đa thù quy ước, người ta thực hiện những hành động giác ngộ cho chúng sanh trong tất cả sáu loại khắp mười phương, phù hợp với những tri giác khác biệt của họ. Đây là lòng đại bi của vô lượng hành động giác ngộ.
Trong phương diện của biểu lộ trí huệ bổn nguyên của chư Phật có hai phạm trù : năm cái vĩ đại của Báo thân, chúng là tinh túy xuất hiện bên trong ; và hai cái vĩ đại của Hóa thân, chúng là những hình thức xuất hiện bên ngoài. Năm trí huệ bổn nguyên bên trong là : những trí huệ bổn nguyên của cảnh giới tối hậu, như tấm gương, bình đẳng, phân biệt và thành tựu. Hai trí huệ bổn nguyên bên ngoài là : trí huệ bổn nguyên biết mọi chi tiết của những hiện tượng quy ước một cách riêng biệt không lầm lẫn chúng, và trí huệ bổn nguyên biết bản tánh tối hậu một vị như nó là. Sự giải thích những giai đoạn hiện khởi của kết quả, sự hoàn thiện của con đường, đã trọn vẹn.
Con đường tuyệt hảo và cỗ xe vĩ đại của chúng sanh phước đức :
Trí Huệ Bổn Nguyên vốn sẵn đủ bất nhị tự giải thoát
Là tâm tự-giải thoát, hiện tại khoảnh khắc.
Nó giải thoát đồng thời ngay-khi-khởi sanh và giải thoát tự nhiên không trước hơn hay sau hơn.
Nó không ô nhiễm do bị nắm bắt và không dơ bẩn bởi người nắm bắt.
Nó là sự khởi sanh của tất cả những nhiễm ô phiền não như là chính trí huệ bổn nguyên.
Vì (giáo lý này) được trao truyền cho tôi nhờ hồng ân của Guru,
Cho những người học đạo tương lai, tôi đã gom chúng lại như những giáo huấn viết ra.
Người muốn giải thoát khỏi cuộc sanh tử này cần nương dựa vào đây.
Bất luận thế nào, người nào tạo ra từ chối và chấp nhận
Không có cơ hội tốt cho những giáo lý bất nhị,
Trên con đường này, vì tất cả kinh nghiệm chính là trí huệ đích thật,
Người ta đạt được trạng thái vĩnh cửu của Thân Tối Hậu, cái toàn thiện tại ngay nền tảng.
Hỡi các bạn ! Trong tòa lâu đài tinh chất này thoát khỏi những cực biên,
Hãy sở hữu sự giàu sang của Tâm Tối Hậu.
Chắc chắn rằng người ta sẽ đạt được kết quả đại phúc lạc trong chỉ đời này.
Và sau đó, những lợi lạc của những người khác sẽ được thành tựu tự nhiên.
Cuộc đời chúng ta đổi thay như những đám mây,
Thân thể thì không có tự tánh như bọt nổi.
Khó nghe được những giáo lý và càng khó hơn là thực hành điều người ta đã nghe.
Thế nên hãy nhanh chóng phát sanh năng lực tinh tấn.
Do làm chín những quả và hoa của những nỗ lực đức hạnh đúng thời,
Nguyện tất cả chúng sanh đạt được trạng thái của Phật.
Ở Kangri Thodkar (Núi Tuyết Đỉnh Trắng), thành Ogyen (Oddiyana, tức Pamasambhava),
Bản văn này được viết bởi Trimed Odzer (Ánh Sáng Rực Rỡ Vô Nhiễm, tức Longchen Rabjam).
Do những công đức, nguyện cả ba cõi không sót một ai
Đều thành tựu trạng thái của Trọn Hảo (tức là Phổ Hiền).
Giáo huấn nghĩa tinh yếu của con đường của những giai đoạn của Tâm Giải Thoát Tự Nhiên của Đại Toàn Thiện, được viết ra bởi Longchen Rabjam (Pháp Giới Bao La Vô Tận), đã trọn vẹn.
Mệnh Lệnh giao Phó Giáo Lý vì sự Quan Trọng của Nó
Vì giáo lý này là một tinh chất của những giáo huấn bí mật nhất, nếu nó được dạy cho hơn ba người phước đức, điều đó sẽ đem lại những trừng phạt của những Dakini. Thế nên hãy giữ nó một cách nghiêm nhặt (bí mật). Hỡi hộ pháp vinh quang Legden Nagpo, hộ pháp nữ cho những tantra Ekajati và Rahula, hiền triết của (đẳng cấp) Za, xin hãy bảo vệ giáo lý này một cách nghiêm nhặt. Nguyện nó được là đức hạnh !
  1. Sự Tu Hành và những Chứng đắc
    Năm Con đường của Đại Thừa
Trong những giáo lý Kinh (công truyền) của Đại thừa, những cấp độ chứng đắc tâm linh trong tiến trình tu hành được chia thành mười giai đoạn (mười địa) và năm con đường. Trong những kinh Mười Địa và Năm Con Đường với Ba Mươi Bảy Phương Diện của Giác ngộ (Ba Mươi Bảy Phẩm Trợ Đạo) được bàn luận chi tiết và cơ cấu ấy là căn cứ chung cho giáo lý tantra và cho Đại Toàn Thiện. Trong Shingta Chenpo, Longchen Rabjam tóm tắt sự tu hành “ba mươi bảy phương diện của giác ngộ” để hoàn thiện năm con đường.
CON ĐƯỜNG TÍCH TẬP (Tshogs-Lam)
Sự tham thiền về những chứng ngộ, chẳng hạn, của nghe, suy nghĩ và thiền định với những đức hạnh của chúng, bắt đầu từ sự khai triển Bồ đề tâm trong Đại thừa, cho đến sự khai triển của hơi nóng (nỗn địa của con đường áp dụng) trong tâm người ta, dẫn đến hòn đảo của giải thoát là con đường tích tập (tư lương vị).
Nguyên nhân : Sự đánh thức của dòng (Rigs), nó là căn cứ cho sự phát triển Bồ đề tâm.
Kết quả : Bốn con đường tiếp theo.
Ngữ nguyên : Con đường của những tích tập, vì nó chủ yếu tích tập sự nghe (nghiên cứu), suy gẫm và những công đức.
Phân chia : Có ba :
Nhỏ (Chi Phần của Con Đường Tích Tập)
Trong sự thực hành này người ta thiền định về tỉnh giác có bốn phần (Bốn niệm xứ) trong cả thiền định và sau thiền định. Đó là những tham thiền về : (i) (Thấy) những thân thể của mình và những người khác như hư không trong thời gian thiền định. Trong thời gian sau thiền định thấy thân như huyễn thuật. Người ta cũng thiền định về sự dơ bẩn của thân như là cái đối trị với tham ái. (ii) (Thấy) cảm thọ mà không có những quan niệm trong thời thiền định, và trong thời sau thiền định là như bóng cây trong nước. Người ta cũng thiền định về thấy chúng chỉ là khổ đau. (iii) (Thấy) tâm là vô sanh (trong thời thiền định) và vô thường (trong thời gian sau thiền định). (iv) (Thấy) rằng những hiện tượng chỉ là giả danh (trong thời thiền định) và chúng chỉ là huyễn (trong thời sau thiền định).
Vừa (Chi Phần của Con Đường Tích Tập)
Nó là sự thiền định về bốn sự tịnh hóa toàn hảo (bốn chánh cần), chúng là mức độ cao nhất của những kinh nghiệm tiến bộ hoàn thành qua những tham thiền ở trước. Chúng là (i) không phát sanh các pháp ác chưa sanh, (ii) đoạn tận các cái ác đã sanh, (iii) phát sanh các pháp thiện chưa sanh, và (iv) làm phát triển các pháp thiện đã sanh trong chính mình qua bốn phương tiện : Ngưỡng mộ, nỗ lực, những cố gắng và siêng năng.
Lớn (Chi Phần của Con Đường Tích Tập)
Nó là sự tham thiền về bốn bước thần diệu (bốn như ý túc) : (i) ngưỡng mộ, (ii) nghiên tầm, (iii) tập trung, và (iv) chánh niệm.
Thiền định : Trong khi tu hành Con Đường Tích Tập, với ý định hoàn thành giác ngộ, người ta có những cố gắng trong kỷ luật để niêm kín những cánh cửa của những khả năng giác quan, ăn đạm bạc, và không ngủ trong phần đầu và phần sau của đêm. Thiền giả hoan hỷ bởi vì chánh niệm trong những cố gắng chấp nhận và từ bỏ. Nó tiến lên trên con đường dẫn đến Con Đường Áp Dụng mà không có những hối tiếc nhưng với niềm tin, lòng tin và ngưỡng mộ…. với tất cả những đức hạnh khác là nguyên nhân của giải thoát. Nó hiến mình cho học hỏi, suy nghĩ và thiền định.
Thời gian : Chi phần Nhỏ của Con Đường Tích Tập là sự bắt đầu của ba vô số kiếp tu hành (trên con đường giác ngộ). Vào lúc thực hành tỉnh giác bốn phần, thời gian đạt đến Con Đường Áp Dụng là không xác định chắc chắn. Vào lúc thực hành bốn chánh cần, chắc chắn rằng sự đạt đến Con Đường Áp Dụng sẽ xảy ra trong đời kế tiếp. Vào lúc tu hành bốn bước thần diệu, chắc chắn người ta sẽ đạt đến Con Đường Áp Dụng ngay trong đời này.
Đối trị : Trong Con Đường Tích Tập, người ta thực hành cái đối trị là sự tấn công những ô nhiễm bằng cách thấy những yếu tố hợp tạo là lỗi lầm, khuyết điểm.
Đoạn trừ : Người ta từ bỏ tất cả những tham luyến trực tiếp bằng cách thấy những hiện tượng bị nhiễm ô là lỗi lầm, khuyết điểm.
Thấu hiểu : Người ta thấu hiểu một cách tổng quát hai vô ngã chủ yếu bằng sự học hỏi và suy nghĩ và trong một số trường hợp bằng thiền định.
Đức hạnh : Người ta đạt được những đức hạnh các “nhãn” và các thông và v.v….
Thiền định : Người ta thiền định về những tu hành sau đây : tự chế phục trong tập trung vào việc đi vào và rút khỏi những hoạt động thân và ngữ (thích hợp và không thích hợp) ; trí huệ của những sự học hỏi, suy nghĩ và thiền định về những lời nói và những ý nghĩa của kinh điển và những nhớ nghĩ đến Tam Bảo. Người ta thiền định về bốn Pháp Ấn, thấy rằng mọi hợp tạo đều vô thường, mọi sự có khuyết điểm là khổ, tất cả những hiện tượng là Không và tất cả chúng sanh là vô ngã. Hãy thiền định về năm công đức giải thoát : xác tín, chuyên cần, nhớ nghĩ, tham thiền và trí huệ (ngũ căn), chúng còn chưa được khai triển trong hình thức năm khả năng (ngũ căn). Người ta tham thiền về những giới luật, sự bố thí và những nhớ nghĩ về cuộc đời người đáng quý, cái chết, sự sanh ra, hơi thở vào và hơi thở ra.
Những hoạt động : Khi làm việc người ta thiền định về (chín) điều bất tịnh và tám quan niệm của những bậc đại nhân. Người ta thiền định về chúng, bắt đầu với quy y và khai phát Bồ đề tâm và hồi hướng những công đức. Những thiền định về chín điều bất tịnh là thấy thân thể mình và của những người khác thối rữa, dòi bọ ăn, tím ngắt, xanh xám, đen thui, phân rã, bị thiêu đốt, và hư thối. Như (đối trị) với tham dục người ta thiền định về sự dơ bẩn, với sân hận là thiền định về lòng từ và với si (vô minh) là về duyên sanh.
Chín quan niệm của những bậc đại nhân : Trong Nyi-Khri gZhung-Grel nói :
Chúng là những tư tưởng (1) Khi nào tôi xua tan được khổ đau của chúng sanh ? (2) Khi nào tôi dẫn dắt được người ta đang trong sự hiểm nguy của nghèo khó đến giàu có lớn lao ? (3) Khi nào tôi đáp ứng được những nhu cầu của chúng sanh với thân thể bằng thịt và máu của tôi ? (4) Khi nào tôi làm lợi lạc cho chúng sanh bằng cách sống lâu dài trong địa ngục ? (5) Khi nào tôi thỏa mãn được những mong ước của chúng sanh bằng những phồn vinh lớn lao của thế giới và sự vượt khỏi thế giới ? (6) Khi nào tôi trở thành một vị Phật và nhổ sạch gốc những khổ đau của chúng sanh ? (7) Khi nào tôi không bao giờ có những tái sanh không làm lợi lạc cho chúng sanh mà biết phân tích vị của chân lý tuyệt đối, không nói lời lơ là với lợi lạc của chúng sanh, có đời sống, thân thể, trí năng, sung túc hay oai nghi làm lợi cho những người khác và không thiết tha làm hại những người khác ? (8) Khi nào tôi chịu kinh nghiệm những kết quả của những hành vi bất thiện của những người khác và cho những người khác kinh nghiệm những kết quả của những hành vi thiện của tôi ?
CON ĐƯỜNG ÁP DỤNG [NỖ LỰC] (sByor-Lam)
Căn cứ : Những giai đoạn chót của chi phần lớn của Con Đường Tích Tập được phát sanh trong chúng sanh của sáu cõi. Trong kinh có nói rằng (Con Đường Áp Dụng hay Nỗ Lực) được phát sanh trong nhiều chúng sanh chư thiên, rồng (long) và bán thiên.
Căn cứ để thực hiện : Đó là tâm của những cõi dục hay của sáu giai đoạn định.
Nguyên nhân : Nó là giai đoạn cuối cùng của cấp độ lớn của Con Đường Tích Tập.
Tinh túy : Nó là trí huệ thế gian phát sanh bởi thiền định.
Phân chia : Có bốn : hơi nóng (nỗn địa), đỉnh cao (đỉnh địa), nhẫn chịu (nhẫn địa) và chứng ngộ tối thượng thuộc thế gian (thế đế đệ nhất địa).
Thiền định : Trong “hơi nóng” và “đỉnh cao” người ta thực hành năm khả năng (ngũ căn) : niềm tin, chuyên cần, tỉnh giác, tham thiền và trí huệ. Chúng được gọi là những khả năng vì chúng trực tiếp làm mạnh sự phát sanh giác ngộ…. Trong “nhẫn chịu” và chứng ngộ tối thượng thuộc thế gian người ta thực hành năm lực : niềm tin, chuyên cần, tỉnh giác, tham thiền và trí huệ.
Trí Huệ Bổn Nguyên : Trong bốn chi phần của Con Đường Áp Dụng có bốn trí huệ bổn nguyên :
(1) Sự đạt được ánh sáng của trí huệ bổn nguyên của “hơi nóng” của Đại thừa là cái đối trị với sự nắm bắt những đối tượng như là thật, bằng cách thấy mọi hiện tượng chỉ là những ánh sáng của tâm, một ánh sáng nhỏ phát sanh do thiền định thuộc thế gian…. Ở đây, ánh sáng nghĩa là sự nhẫn chịu của tập trung thật sự vào Pháp….
(2) Sự tăng trưởng của ánh sáng của trí huệ bổn nguyên của “đỉnh cao” là sự đạt được ánh sáng bình thường phát sanh bởi thiền định thế gian qua những nỗ lực thiền định về vô ngã với mục đích tăng trưởng ánh sáng của bản thân Pháp….
(3) Trí huệ bổn nguyên của việc đi vào một phần trong cái nhẫn tánh Như là cái đối trị cho những phóng dật đối với những hiện tượng bên ngoài (thấy chúng) như là những đối tượng, qua việc đạt được ánh sáng lớn phát sanh do thiền định về sự an trụ trong tâm thuần túy….
(4) Trí huệ bổn nguyên của chứng ngộ tối thượng thuộc thế gian (được thành tựu) “ngay trước” sự đạt đến Con Đường Thấy mà không gián đoạn (bởi bất kỳ chứng đắc nào khác). Trí huệ bổn nguyên này là sự hoàn thành trọn vẹn những thị kiến phát sanh bởi những tham thiền thế gian, vì không có phóng dật do nắm bắt những đối tượng.
Chi phần : Mỗi cái trong bốn phương diện của Con Đường Áp Dụng có ba chi phần, xếp loại như nhỏ, bình thường, và lớn….
Đối trị : Nó là sự từ bỏ những nhiễm ô bằng cách đè nén chúng. Thông thường có bốn loại đối trị : đối trị của tấn công, từ bỏ, căn cứ và sự nhổ gốc, như con đường không đứt đoạn nhổ sạch từ gốc rễ….
Đoạn trừ : Nó giảm thiểu hạt giống và những che chướng trực tiếp, và giải thoát khỏi sự suy tàn và nghèo khó của chúng sanh bình thường.
Thấu hiểu : Thấu hiểu tổng quát về hai vô ngã qua trí huệ bổn nguyên do những thiền định thế gian phát sanh.
Đức hạnh : Trong Kinh Ratnamegha đề cập đến nhiều đức hạnh như tham thiền, nhớ nghĩ và các thông.
Tối cao hơn Con Đường Tích Tập : Không có sự khác biệt giữa cái này và Con Đường Tích Tập phát sanh do thiền định, nhưng trong cái này trí huệ bổn nguyên của vô niệm thì sáng tỏ hơn và gần với Con Đường Thấy hơn.
CON ĐƯỜNG THẤY (mThong-Lam)
Trí huệ bổn nguyên của Con Đường Thấy (Kiến đạo vị) khởi hiện lúc chấm dứt của sự chứng ngộ tối thượng thuộc thế gian (của Con Đường Áp dụng) và nó xảy ra trong khoảnh khắc thứ mười sáu. Những khoảnh khắc đó là sự nhẫn của hiểu biết về các pháp, sự hiểu biết về các pháp, những nhẫn của hiểu biết theo sau đó, và sự hiểu biết theo sau đó của bốn chân lý : khổ, tập, diệt, đạo….
Căn cứ : Căn cứ hiện khởi của trí huệ bổn nguyên là như nhau trong đại chứng ngộ cao nhất thuộc thế gian (của Con Đường Áp Dụng) và ở nơi bất kỳ chúng sanh nào của sáu cõi.
Căn cứ của tâm : Nó là định thứ tư (tứ thiền).
Nguyên nhân : Sự chứng ngộ cao nhất thuộc thế gian của Con Đường Áp Dụng là nguyên nhân trực tiếp và những khía cạnh khác của Con Đường Tích Tập và Con Đường Áp Dụng là những nguyên nhân gián tiếp.
Kết quả : Nó là sự khai triển của hai con đường về sau.
Tinh túy : Có mười sáu khoảnh khắc liên quan đến (những cấp độ của) sự tịnh hóa những nhiễm ô thuộc về bản chất bởi những phần nhỏ của bốn chân lý.
Những đoạn trừ : Có mười nhiễm ô : năm nhiễm ô liên quan đến cái thấy và năm nhiễm ô không liên quan đến cái thấy. Năm cái liên quan đến cái thấy là : những cái thấy về những tổ hợp tạm thời (tôi và cái của tôi là thực), cái thấy chấp các cực biên, cái thấy sai lầm (tà kiến), thấy (một tà kiến) là tối thượng, và thấy rằng đạo đức và khổ hạnh là tối thượng (giới cấm thủ). Năm cái không liên quan đến cái thấy là : tham, sân, kiêu mạn, vô minh và nghi ngờ.
Trong cõi dục, mười đoạn trừ trở thành 40 do nhân mỗi cái với bốn chân lý. Đối với hai cõi trên (sắc và vô sắc), loại trừ sân, còn có chín nhiễm ô, và nhân chúng lên (với bốn chân lý) chúng thành 72. Thế nên tổng cộng có 112 nhiễm ô phiền não của ba cõi cần được đoạn trừ trong Con Đường Thấy….
Trong bốn định (sắc giới) và bốn định của vô sắc giới, sân không có mặt để đoạn trừ, vì tâm thức của chúng sanh được thấm nhuần bởi an định, vì họ không có chín căn cứ của sân, tư tưởng làm hại. Chín căn cứ là : (nghĩ rằng người này) đã hại ta trong quá khứ, đang hại ta trong hiện tại, và sẽ hại ta trong tương lai. Cùng cách đó, ba đối với những bạn bè mình và ba đối với những kẻ thù của mình, nghĩ rằng nó làm lợi cho kẻ thù của mình và v.v…. Mười nhiễm ô phiền não này dẫn vào con đường sai lầm. Chẳng hạn, trong trường hợp chân lý về khổ (khổ đế) : (1) do cái thấy về tổ hợp tạm thời người ta hiểu chân lý về khổ như là “tôi” và “của tôi”. (2) Do cái thấy chấp các cực biên người ta hiểu chân lý về khổ như là hiện hữu hay không hiện hữu và thường hay đoạn. (3) Do cái thấy sai lầm người ta hiểu rằng chân lý về khổ là không hiện hữu. (4) Do vô minh người ta đi vào nó mà không biết những tính cách của nó. (5) Do nghi ngờ người ta đi vào nó với nghi ngờ rằng chân lý về khổ không biết có thật hay không. Có năm cách nhiễm ô liên quan đến chân lý về khổ. (6) Tham phát sanh bám luyến. (7) Kiêu mạn phát sanh tự cao và khoe khoang. (8) Hiểu (những tà kiến) như là cái thấy tối thượng phát sanh sự nắm hiểu chúng là tối thượng. (9) Kiến giải cho đạo đức và khổ hạnh là tối thượng phát sanh sự chấp chúng như là đường lối của giải thoát và thanh tịnh. (10) Sân tạo ra ác ý đối với bất cứ cái gì không phù hợp với năm cách liên hệ này. Vì mười nhiễm ô này áp dụng cho chân lý về khổ, chúng cũng áp dụng cho ba chân lý kia. Trong trường hợp chân lý về diệt, phương diện danh xưng được liên quan đến, mà không phải là ý nghĩa….
Đối trị : Tất cả nhiễm ô phiền não của ba cõi, chúng là những đoạn trừ của Con Đường Thấy, cùng được tịnh hóa. Bốn cái nhẫn của sự hiểu biết về các pháp của bốn chân lý khổ, tập, diệt, đạo là một trong những hiện tượng tâm thức của chúng, nhưng chúng là bốn trong những yếu tố riêng rẽ. Khi cái đối trị khởi lên, trong chỉ một khoảnh khắc sát na, nó trở thành con đường tương tục bất đoạn, đó là cái đối trị từ bỏ cái cần đoạn trừ của Con Đường Thấy từ gốc rễ. Nó từ bỏ 112 cái cần đoạn trừ của Con Đường Thấy trong một khoảnh khắc. (Tiến trình đoạn trừ : Trong khoảnh khắc thứ nhất,) nguyên nhân phụ của những nhẫn và sự hiểu biết về thuộc tính của mỗi cái trong bốn chân lý và những đoạn trừ tương ứng hoạt động gặp gỡ nhau. Trong khoảnh khắc thứ hai, nguyên nhân thực sự (của những nhẫn và sự hiểu biết về thuộc tính của mỗi cái trong bốn chân lý) và những đoạn trừ tương ứng không hoạt động gặp gỡ nhau. Trong khoảnh khắc thứ ba, bốn nhẫn của các thuộc tính khởi lên và sự dừng diệt của toàn bộ đoạn trừ các vi tế xảy ra tự nhiên….
Bốn thuộc tính của bốn chân lý thuộc về cá nhân là những hiện tượng tâm thức như nhau. Thế nên sự giải thoát khỏi những nhiễm ô của những hình sắc của bốn chân lý trong ba cõi là con đường giải thoát (Con Đường Thấy), những cái đối trị. Tương tự, bốn nhẫn có ra từ đó và bốn hiểu biết có ra từ đó là con đường phân cách (sanh tử và niết bàn), cái đối trị xa lìa…. Những cái cần đoạn trừ này gồm trong hai che chướng, và những đối trị giải thoát người ta khỏi chúng….
Sự phân biệt của hai che chướng là : Tánh chất của khổ và v.v…., của những che chướng bất thiện hay trung tính làm cho tâm rất không an bình là “những che chướng thuộc phiền não” (phiền não chướng). Chủ thể và đối tượng của ý niệm người nắm bắt và cái được nắm bắt với bản chất ô nhiễm hay trung tính không che ám, nó không thoát khỏi sự bám luyến vào ba chu kỳ (ba luân : chủ thể, đối tượng, và hành động), là “che chướng thuộc trí thức” (sở tri chướng). Trong hai loại che chướng đó, những che chướng phiền não do vọng tưởng là những cái cần đoạn trừ của Con Đường Thấy, và những phiền não bẩm sinh là những cái cần đoạn trừ của Con Đường Thiền Định. Ý niệm thô về người nắm bắt và cái được nắm bắt, những che chướng thuộc trí thức, là những cái cần đoạn trừ của Con Đường Thấy, và những cái vi tế là những cái cần đoạn trừ của Con Đường Thiền Định….
Chứng ngộ : Nó là sự chứng ngộ trực tiếp hai vô ngã nhờ Trí huệ bổn nguyên xuất thế gian.
Những đức hạnh : Một ngàn hai và vân vân, của giai đoạn thứ nhất (địa thứ nhất, sơ địa) đã được nói ở trước.
Thời gian : Trước hết, bốn nhẫn của những thuộc tính của bốn chân lý khởi sanh đồng thời. Sau đó, bốn hiểu biết về những thuộc tính khởi sanh đồng thời. Sau đó, bốn nhẫn có từ đó khởi sanh đồng thời. Sau đó, bốn hiểu biết từ đó khởi sanh đồng thời. Thế nên, trong bốn bộ “những khoảnh khắc trong đó một hành động có thể được thành tựu” khởi sanh tất cả bốn loại thực thể với mười sáu yếu tố tách biệt của chúng, bởi vì sự chứng ngộ bốn chân lý sanh khởi tức thời và hai bộ của bốn nhẫn và hai bộ của bốn hiểu biết của chúng được khai triển liên tục. Những đoạn trừ của Con Đường Thấy được từ bỏ trong một khoảnh khắc bởi những nhẫn của những thuộc tính, và Con Đường Thấy sanh khởi trong bốn phần một cách liên tục….
Thiền định : Trong địa thứ nhất, người ta thiền định về bảy chi của giác ngộ (bảy giác chi)….
Kinh Aryabodhipaksanirdesa nói :
(1) Văn Thù, người nào thấy tất cả những hiện tượng là không có gì cả, bởi vì không có những ý niệm và sự nhớ nghĩ là chi tỉnh giác của giác ngộ. (2) Văn Thù, người nào tách biệt khỏi mọi hiện tượng mà không có những sự ý niệm hóa, vì nó không khi nào lập ra những hành vi thiện, bất thiện hay trung tính, đó là chi phân biệt của giác ngộ. (3) Văn Thù, người nào không bỏ không lấy ba cõi, vì nó đã đoạn diệt tri giác về thân, là chi tinh tấn của giác ngộ. (4) Văn Thù, người nào không phát sanh hỷ trong những sự thành lập hữu vi, vì nó đã đoạn diệt vui và buồn, là chi hỷ của giác ngộ. (5) Văn Thù, người nào có sự mềm dẻo hoàn toàn của tâm trong mọi hiện tượng, vì không có sự ý niệm hóa về những sự vật vốn không-ý-niệm hóa, là chi mềm dẻo của giác ngộ (theo Hán Việt : khinh an giác chi). (6) Văn Thù, người nào tâm họ không ý niệm hóa, vì nhờ đó mà hình dung được sự hủy diệt của những hiện tượng, là chi tham thiền của giác ngộ. (7) Văn Thù, người nào không trú trong, không trụ vào hiện tượng nào và như thế không tham luyến và không bị chúng trói buộc và giữ trung tính về mọi cái thấy được và có được niềm vui là chi bình thản của giác ngộ (xả giác chi).
CON ĐƯỜNG THIỀN ĐỊNH (bsGom-Lam)
Chính sự thiền định làm tiến triển những kinh nghiệm về những ý nghĩa của (những tu hành và những chứng ngộ) của những phương diện phù hợp với Con Đường Áp Dụng và Con Đường Thấy hiện giờ đã được chứng ngộ….
Có chín cấp độ trong con đường này : nhỏ, vừa và lớn, mỗi cái như vậy còn phân chia thành những cấp độ nhỏ, vừa và lớn….
Những cái cần Đoạn Trừ : Trong Con Đường Thiền Định có những cái cần đoạn trừ lớn, vừa và nhỏ, chúng lại được chia thành chín phần ; cái lớn của cái lớn, cái vừa của cái lớn, cái nhỏ của cái lớn, cái lớn của cái vừa, cái vừa của cái vừa, cái nhỏ của cái vừa, cái lớn của cái nhỏ, cái vừa của cái nhỏ và cái nhỏ của cái nhỏ. Chín cái phải đoạn trừ này được đoạn trừ trong chín địa, như cái “không nhiễm” (Ly cấu địa, địa thứ hai). Trong cấp độ nhỏ của nhỏ của Con Đường Thiền Định, địa không nhiễm (Ly cấu địa) những cái đoạn trừ là cái lớn của cái lớn, và trong cấp độ lớn của lớn tức địa thứ mười của Con Đường Thiền Định những cái nhỏ của cái nhỏ cần được đoạn trừ. Ở đây những nhiễm ô thô được gọi là những cái lớn cần được đoạn trừ và những nhiễm ô tế được gọi là những cái nhỏ….
Căn cứ : Căn cứ sanh ra cho sự hiện khởi của Con Đường Thiền Định thì tương tự với Con Đường Thấy. Và mỗi đời người sanh ra là thích đáng nếu nó giữ gìn trong nó những chứng đắc đã từng phát sanh trong bản thân nó….
Căn cứ của tâm thức : Hầu hết những chứng đắc của Con đường thiền định được đặt nền trên định thứ tư (tứ thiền), nhưng cũng có thể được đặt nền trên những định khác.
Nguyên nhân : Ba con đường trước là nguyên nhân của nó.
Kết quả : Đó là con đường “không tu nữa”….
Tinh túy : Từ quan điểm đoạn trừ những nhiễm ô của chín địa, có bốn cấp độ (trong mỗi địa) ; con đường sơ bộ, con đường không ngừng dứt, con đường giải thoát và con đường đặc biệt. Hai con đường sơ bộ và không ngừng dứt là những đối trị của sự từ bỏ những cái cần đoạn trừ. Con đường giải thoát là căn cứ của cái đối trị. Con đường đặc biệt là xa lìa cái đối trị. Ví dụ, (1) Chấm dứt địa thứ nhất (“con đường sơ bộ”) nó là khoảnh khắc cuối cùng trước khi trí huệ của địa thứ hai hiện khởi, “người ta trừ những phiền não biểu lộ”, chúng che ám sự hiện khởi của địa thứ hai, (2) do “con đường không ngừng dứt”, nó là sự hiện khởi của địa thứ hai, người ta “từ bỏ những lỗi lầm về giới luật của địa này từ gốc rễ”, (3) con đường giải thoát, bắt đầu từ khoảnh khắc thứ hai (của sự hiện khởi địa thứ hai), là “căn cứ của cái đối trị”, và (4) con đường đặc biệt, con đường chót của địa, là “xa lìa cái đối trị”.
Như thế, mọi nhiễm ô tương ứng với địa này được trừ bỏ khi bắt đầu từ khoảnh khắc thứ nhất đến sự tròn vẹn của địa. Tất cả những nhiễm ô của mỗi địa tương ứng được trừ bỏ vào thời gian mà mỗi địa chấm dứt.
Những đức hạnh : Giải thích ở trước….
Cách Trừ Bỏ Chín Nhiễm Ô của Chín Địa : Có sáu nhiễm ô bẩm sinh ; tham, sân, kiêu mạn, si, cái thấy có những hợp thể tạm thời (tôi và của tôi là thật), cái thấy chấp vào những cực đoan biên kiến. Chúng có thể được chia nhỏ thành hai cách khác nhau. (a) Theo quan điểm về các cõi, có mười sáu nhiễm ô. Đó là sáu nhiễm ô của cõi dục, và đối với những định (những cõi sắc) và những cõi vô sắc mỗi cõi có năm nhiễm ô, chỉ trừ sân. (b) Theo những cấp độ, có bốn mươi sáu nhiễm ô. Sáu của cõi dục, mỗi năm cái đối với bốn định và bốn cõi vô sắc. Nếu mỗi cái còn được chia nhỏ thành chín mức độ lớn, vừa, nhỏ, bấy giờ sáu nhiễm ô của cõi dục trở thành năm mươi bốn và năm nhiễm ô, ngoại trừ sân, của bốn định trở thành bốn bộ bốn mươi lăm (= 180) cái phải đoạn trừ. Tương tự, trong cõi vô sắc có bốn bộ bốn mươi lăm (= 180) nhiễm ô. Thế nên tổng cộng có bốn trăm mười bốn cái phải đoạn trừ trên Con Đường Thiền Định.
“Con Đường sơ bộ” hàng phục những cái cần đoạn trừ, “con đường không ngừng dứt” đoạn trừ chúng một cách trực tiếp, “con đường giải thoát” tạo ra căn cứ của cái đối trị và “con đường đặc biệt” xa lìa những cái đối trị….
Trong những địa này người ta thực hành Bát Chánh Đạo…. Trong Kinh Aryabodhipaksanirdesa có nói :
(1) Văn Thù, người nào thấy mọi hiện tượng mà không mất sự thản nhiên bình đẳng và với sự bất nhị thì có chánh kiến. (2) Văn Thù, người nào thấy rằng mọi hiện tượng là không bao giờ hiện hữu, chưa từng hiện hữu và hoàn toàn không bao giờ hiện hữu qua đường lối không thấy tướng thì có chánh tư duy. (3) Văn Thù, thấy mọi hiện tượng là không thể diễn tả là chánh ngữ. (4) Văn Thù, thấy mọi hiện tượng giải thoát khỏi người sáng tạo và sự được tạo là chánh hạnh (hành động chân chánh, chánh nghiệp trong Hán Việt).(5) Văn Thù, thấy mọi hiện tượng không tăng không giảm là chánh mạng. (6) Văn Thù, thành tựu mọi hiện tượng mà không có những cố gắng và tạo tác là chánh tinh tấn. (7) Văn Thù, thấy mọi hiện tượng mà không có những ý niệm và những nhớ nghĩ là chánh niệm. (8) Văn Thù, thấy mọi hiện tượng trong thiền định tự nhiên mà không động và không có những sự ý niệm hóa bởi vì chúng thoát khỏi những ý niệm hóa là chánh định.
Những giai đoạn này, theo bản tánh của chúng, thoát khỏi những ý niệm và suy nghĩ…. Nhưng chúng được phân chia riêng rẽ bởi vì sự đạt đến giác ngộ, nó là sự chuyển hóa vào trong bản tánh tối hậu, dựa trên sự tịnh hóa những mức độ của những che chướng cái bản tánh. Vào lúc thanh tịnh tối hậu, người ta thấy sự tự-sáng tỏ của cõi bổn nguyên hay Phật Vô Lượng Quang, như thấy mặt trăng tròn vì đó là ngày rằm.
CON ĐƯỜNG KHÔNG TU NỮA (Mi-Slob-Lam)