Chuyên mục lưu trữ: LượcTrích Dhammapada – Con đường của Phật

LượcTrích Dhammapada – Con đường của Phật (đủ bộ)

600_dhammapadavol1

Dhammapada

CON ĐƯỜNG CỦA PHẬT

¨

ĐÂY LÀ CON ĐƯỜNG

ĐI TỚI CHÂN LÍ TỐI THƯỢNG

Osho

Tập 2 Hà Nội 5/2011 ( tiếp theo )

Tâm trí người ngu cứ làm lặp đi lặp lại cùng một

điều mãi. Tâm trí người ngu là cái vòng luẩn quẩn – nó

đi theo vòng tròn. Người trí huệ không lặp chút nào.

Người đó sống từng khoảnh khắc mới mẻ, người đó

được sinh ra mới từng khoảnh khắc. Người đó chết đi

quá khứ mọi khoảnh khắc, và lại được sinh ra lần nữa.

Toàn thể cuộc sống của người trí huệ là quá trình

tái sinh. Người trí huệ không được sinh ra một lần,

người đó được sinh ra mọi khoảnh khắc lặp đi lặp lại.

Cái cũ không bao giờ nắm giữ người đó. Nhưng người

ngu được sinh ra chỉ mỗi một lần, và thế rồi người đó

cứ lặp lại.

Nếu bạn cứ lặp bạn sẽ bỏ lỡ con đường, bởi vì linh

hồn bạn, bản thể bạn tuyệt đối tươi tắn và bao gờ cũng

trẻ trung. Nó không bao giờ già. Tâm trí già đi, thân

thể già đi, nhưng bản thể không biết gì về thời gian cả

– làm sao nó có thể già đi được? Nó bao giờ cũng trẻ,

nó bao giờ cũng thanh xuân. Nó tươi trẻ như giọt

sương trong ánh mặt trời buổi sớm, nó tươi trẻ như lá

sen trong hồ.

238

Nếu lữ khách không thể tìm ra

thầy hay bạn đi cùng mình,

để người đó đi một mình

hơn là đi cùng người ngu.

Điều tốt nhất là tìm ra thầy, bởi vì thầy là người

bạn vĩ đại nhất có thể có; do đó Phật nói thầy hay bạn.

Nếu lữ khách không thể tìm ra thầy hay bạn đi

cùng mình, để người đó đi một mình thay vì đi cùng

người ngu. Nhưng tránh người ngu ra. Và đó là điều

bạn chưa bao giờ làm. Bạn thu thập những người ngu

quanh bản thân bạn. Có bí mật nào đó trong việc ấy:

khi bạn được bao quanh bởi những người ngu, bạn

dường như cao siêu. Đó chính là việc thoả mãn bản

ngã; do đó không ai muốn sống với ai đó cao siêu hơn.

Mọi người muốn sống với người thấp kém hơn, bởi vì

những người thấp kém hơn bạn cho bạn ý tưởng rằng

bạn vĩ đại.

Sống cùng với thầy bạn sẽ phải vứt bỏ ý tưởng đó

rằng bạn vĩ đại, bạn sẽ phải vứt bỏ tất cả những rác

rưởi đó, bạn sẽ phải vứt bỏ toàn thể bản ngã của mình,

bạn sẽ phải buông xuôi. Bạn sẽ phải tan biến đi trong

thầy; do đó mọi người tránh né thầy. Làm sao nhiều

người tới với Jesus được? Rất ít người, họ có thể được

đếm trên đầu ngón tay. Bao nhiêu người tới với Phật?

Rất ít… Điều này bao giờ cũng như vậy. Nhưng mọi

người rất sung sướng tới câu lạc bộ Rotary. Người ta

cảm thấy rất thích khi bạn được những kẻ ngu bao

quanh – điều đó cho cảm giác rất thích thú: mọi kẻ ngủ

đều ăn vận tề chỉnh, và mọi kẻ ngu đều cảm thấy hơn

người khác, và mọi kẻ ngu đều ba hoa về bản thân

mình, và mọi kẻ ngu đều được những kẻ ngu khác

nâng đỡ.

239

Mọi người thích ở trong đám đông, bởi vì trong

đám đông bạn có thể quên đi cái kém cỏi của mình. Đó

là lí do tại sao mọi người không rời bỏ đám đông. Đám

đông này là của người Hindus, đám đông khác là của

người Mô ha mét giáo, đám đông thứ ba là của người

Ki tô giáo vân vân và vân vân. Chẳng ai muốn rời bỏ

đám đông cả.

Và ngay cả đôi khi mọi người rời bỏ đám đông

này, họ lập tức gia nhập đám đông khác. Bằng cách

nào đó họ trốn khỏi nhà tù này để đi vào trong nhà tù

khác – họ không thể sống một mình được. Phật nói

sống một mình tốt hơn là sống với người ngu. Nếu bạn

có thể tìm thấy thầy hay bạn, tốt; nếu bạn không thể

tìm được, thế thì tốt hơn cả là một mình thôi. Tất

nhiên, một mình sẽ vất vả, sẽ khó khăn bởi vì đám

đông sẽ tạo ra nhiều khó khăn cho bạn. Đám đông

không thích cá nhân, nó không muốn ai độc lập cả; nó

muốn mọi người đều phụ thuộc vào đám đông. Nó sẽ

tạo ra rắc rối cho bạn. Nhưng tất cả những rắc rối đó là

việc lau sạch, tất cả những rắc rối đó đều là thách thức.

Chúng mài sắc thông minh của bạn, chúng sẽ làm cho

bạn trí huệ.

“Con ta, của cải của ta!”

Người ngu tự gây rắc rối cho mình.

Nhưng người đó làm sao có con hay của cải?

Người đó thậm chí không là người chủ riêng của

mình.

Người ngu sống quanh ý tưởng về “của tôi” và “cái

của tôi”: quốc gia của tôi, tôn giáo của tôi, giống nòi

của tôi, gia đình của tôi, của cải của tôi, con tôi, bố mẹ

tôi… người đó sống quanh “của tôi” và “cái của tôi.”

240

Và người đó đã tới một mình rồi sẽ đi một mình;

không ai đem bất kì cái gì vào thế giới này và không ai

lấy bất kì cái gì khỏi thế giới này. Một mình, với đôi

bàn tay trống chúng ta tới; một mình, với đôi bàn tay

trống chúng ta đi. Người trí huệ biết điều đó; do đó

người trí tuệ chẳng tuyên bố cái gì là “cái của tôi” cả.

Người đó dùng mọi thứ, nhưng người đó không sở hữu

chúng. Việc dùng là hoàn toàn tốt – dùng mọi thứ của

thế giới này, chúng là dành cho bạn. Thế giới là món

quà từ Thượng đế – dùng nó đi, nhưng đừng sở hữu nó.

Khoảnh khắc bạn trở thành kẻ sở hữu, bạn không thể

dùng mọi thứ được – mọi thứ bắt đầu dùng bạn.

Khoảnh khắc bạn trở thành kẻ sở hữu, thực ra bạn bị

các vật của mình sở hữu, bạn trở thành nô lệ. Và chính

ý tưởng về sở hữu là ngu xuẩn. Làm sao bạn có thể sở

hữu được cái gì? Bạn thậm chí không sở hữu được bản

thể riêng của mình. Bạn có thể sở hữu được cái gì

khác? Bạn thậm chí không là người chủ của bản thân

mình.

Phật nói: “Con ta, của cải của ta!” Cho nên người

ngu tự gây rắc rối cho mình. Và bao nhiêu lo âu nảy

sinh từ cái “của tôi” này, từ công việc “của tôi” này?

Giả dối toàn bộ! Về căn bản là giả, nhưng nó có thể

tạo ra nhiều, nhiều khổ. Điều đó cũng giống như là

trong đêm tối bạn nhìn chiếc dây thừng và bạn cứ

tưởng là đó là con rắn. Thế là bạn vùng chạy, la hét,

run rẩy, bạn có thể bị đau tim nữa. Và chẳng có rắn

chút nào – chỉ có mỗi chiếc dây thừng! Nhưng cơn đau

tim sẽ là thực, nhớ lấy: con rắn không thực có thể tạo

ra cơn đau tim thực.

Đây là những vấn đề không thực. Tuyên bố “cái

của tôi” – bất kì cái gì! Quốc gia, nhà thờ, con cái, của

cải, bất kì cái gì – khi bạn công bố “Nó là của tôi!” bạn

241

đang tạo ra một nguồn lo âu phiền não lớn cho bản

thân bạn. Bạn đang tạo ra địa ngục quanh bản thân

bạn.

Nhưng người đó làm sao có con hay của cải? Phật

hỏi. Người đó thậm chí là người chủ riêng của mình.

Một kẻ ngu ngã từ cửa sổ tầng thứ sáu. Anh nằm

trên đất với một đám đông lớn bu xung quanh. Một

cảnh sát tới và nói, “Có chuyện gì vậy?”

Người ngu nói, “Tôi không biết. Tôi vừa mới tới

đây.”

Bạn biết gì về cách bạn tới đây? Bạn biết gì về chỗ

mà bạn tới không? Bạn biết gì về nơi bạn nhất định sẽ

tới không? Bạn biết gì về bạn là ai không? Những câu

hỏi nền tảng nhất vẫn còn trong bóng tối, và dầu vậy

bạn cứ tuyên bố, “Đây là nhà của tôi…”

Khi Phật trở nên chứng ngộ, ông ấy đã trở về nhà.

Người bố giận lắm, hiển nhiên – đây là đứa con duy

nhất của ông ấy và nó đã trở thành kẻ bỏ dở nửa

chừng. Người bố đang già đi, và ông ta đã cai quản

một vương quốc lớn. Ông ta rất lo âu: “Ai sẽ sở hữu

nó? Ai sẽ cai trị nó đây? Thằng ngu kia, con ta, đã bỏ

trốn mất rồi.”

Nhiều nỗ lực đã được thực hiện để thuyết phục

Phật quay về, nhưng tất cả đều thất bại. Khi ông ấy đã

trở nên chứng ngộ ông ấy đã tới theo cách riêng của

ông ấy – cuộc chạm trán đó là một trong những cuộc

chạm trán hay nhất trong lịch sử nhân loại.

242

Người bố đã già của Phật giận lắm, giận tới mức

nước mắt giận dữ bắt đầu trào ra từ đôi mắt già nua

của ông ấy. Ông ấy quát tháo, la hét, lăng mạ, còn Phật

đứng đó, hoàn toàn bình thản và yên tĩnh, cứ dường

như chẳng có gì xảy ra cả. Phải đến cả nửa giờ, một

giờ… thế rồi người bố, ông già này, kiệt sức. Thế rồi

ông ấy trở nên nhận biết rằng đứa con thậm chí đã

không thốt ra lấy một lời, đứa con đã không phản ứng

chút nào. “Và nó trông bình thản và yên tĩnh thế!

Chuyện gì vậy? Nó điếc hay cái gì đó không nhỉ? Nó

đã phát điên hay cái gì vậy?” Ông ấy hỏi, “Sao con

không trả lời ta?”

Phật nói, “Người đã rời bỏ ông không còn nữa rồi.

Ông không nói với ta – ông đang nói với con ông,

người không còn nữa. Nhiều nước đã chảy qua sông

Hằng từ ngày đó rồi. Mười hai năm đã qua rồi. Ta là

người hoàn toàn khác.”

Phật, tất nhiên, ngụ ý ẩn dụ. Ông ấy ngụ ý, “Ta

không còn là cùng tâm thức ấy nữa, không còn là cùng

tâm trí ấy nữa. Thái độ của ta đã bị bỏ đi rồi, định kiến

của ta đã mất rồi. Ta là người hoàn toàn tươi tắn. Bây

giờ ta biết mình là ai. Thời đó ta đã là kẻ ngu. Bây giờ

ánh sáng đã tới bên trong linh hồn ta. Đó là lí do tại

sao,” ông ấy nói, “ta không còn là người cũ nữa.”

Ông bố già của Phật trở nên tức điên lên. Ông ấy

nói, “Con ngụ ý gì việc con không là người cũ nữa?

Chẳng lẽ ta không thể nhận ra con trai ta sao? Ta

không biết con sao? Ta đã sinh ra con, máu của ta chảy

trong huyết quản con, con được tạo ra từ máu và

xương ta – và ta không biết con sao? Con phải đã thần

kinh khi nói điều này rồi!”

243

Và Phật nói, “Ta xin lỗi, nhưng ta phải nói rằng

thân thể ta có thể là một phần của thân thể ông – nhưng

ta thì không. Bây giờ ta biết rằng ta không là thân thể,

không là tâm trí. Bây giờ ta biết ta là ai. Và ông chẳng

liên quan gì tới bản thể ta cả; ông đã không tạo ra bản

thể của ta, ông đã không cho sinh thành ra bản thể của

  1. Ta đã từng hiện hữu từ trước việc sinh của ta, và ta

sẽ hiện hữu sau cái chết của ta. Xin cố gắng hiểu ta;

đừng tức giận làm gì, đừng bực mình làm gì. Ta tới chỉ

để chia sẻ vui vẻ mà ta đã tìm ra.”

Nhưng các bố mẹ cứ nghĩ con cái là của họ, con

cái nghĩ bố mẹ là của họ. Trong thế giới này, bản thể

bạn là tuyệt đối một mình. Vâng, chia sẻ vui vẻ của

bạn với người khác, nhưng đừng bao giờ sở hữu. Chỉ

kẻ ngu mới sở hữu, người trí huệ không có tính sở

hữu.

Người ngu biết mình là ngu

là khôn hơn nhiều.

Người ngu nghĩ mình khôn

thực sự là người ngu.

Đào sâu về điều đó: bạn nghĩ gì về bản thân mình?

Thấy ra cái ngu xuẩn của mình sẽ là điều đau đớn. Dễ

dàng nhìn người khác như những người ngu – thực ra,

mọi người đều biết rằng mọi người khác là ngu –

nhưng thấy cái ngu riêng của bạn là bước tiến lớn tới

trí huệ. Thấy cái ngu riêng của bạn là đã biến đổi bản

thể bạn, tâm thức bạn.

244

Một người tới thăm nước Pháp. Anh ta đi lang

thang chút ít trong đêm đầu tiên. Làm tình với vợ ông

chủ, với con gái ông ta, với người nấu ăn, người hầu

gái, vân vân. Ông chủ mắng mỏ người đó vào buổi

sáng.

“Ý tưởng to tát gì thế này? Ở đây anh là khách của

tôi. Tôi đón anh như người bạn. Còn anh làm gì? Anh

làm tình với vợ tôi, con gái tôi và nửa số người hầu –

còn với tôi, chẳng làm gì cả sao?”

Người ngu bao giờ cũng quan tâm chỉ với một điều

– bản ngã của người đó. Bất kì cái gì ủng hộ cho người

đó đều tốt – bất kì cái gì. Và người đó sẵn sàng níu

bám lấy nó. Người ngu thậm chí còn níu bám lấy khổ,

bởi vì đó là khổ của người đó. Người đó cứ tích lũy bất

kì cái gì người đó có thể kiếm được, bởi vì người ngu

không có ý tưởng gì về vương quốc bên trong của

mình, về kho báu bên trong của mình; người đó cứ tích

luỹ những đồ đồng nát bởi vì người đó nghĩ đây là tất

cả những gì có thể được sở hữu. Đồ đồng nát bên

ngoài và đồ đồng nát bên trong; đó là điều mọi người

cứ thu thập – mọi vật họ thu thập và ý nghĩ họ cũng thu

thập. Mọi vật là đồ đồng nát bên ngoài, ý nghĩ là đồ

đồng nát bên trong, và bạn bị chìm nghỉm trong đống

đồng nát của mình.

Nhìn đi, nhìn một cách thản nhiên, tách rời vào

cuộc sống của bạn mà xem, bạn đã làm gì với nó, và

bạn đã được cái gì từ nó. Và đừng cố gắng tự lừa

mình, bởi vì đây là cách tâm trí cứ tiếp diễn. Nó nói,

“Trông mình được nhiều thế! Bao nhiêu là tiền trong

ngân hàng, bao nhiêu là người biết tới mình, kính

trọng mình, tôn vinh mình; mình có vị trí lớn lao thế,

245

về mặt chính trị mình quyền hành thế… còn cái gì

khác? Người ta có thể hi vọng vào cái gì khác? Cuộc

sống đã cho tất cả những cái người ta có thể hi vọng

rồi.”

Nhưng tiền hay quyền hay danh chẳng là gì cả, bởi

vì cái chết sẽ tới và tất cả những thành trì vĩ đại của

bạn về của cải, quyền lực, danh vọng, kính trọng, sẽ

chỉ bắt đầu sụp đổ đi cứ dường như bạn đã làm chúng

bằng con bài. Chỉ một cú đáng của cái chết và mọi thứ

tan tành.

Chừng nào bạn chưa có cái gì đó mà bạn có thể

đem ra bên ngoài cái chết, nhớ lấy, bạn không có cái gì

cả đâu – tay bạn trống rỗng. Chừng nào bạn chưa có

cái gì đó bất tử, vĩnh hằng, bạn vẫn cứ là người ngu.

Phật gọi người trí huệ là người đã đạt tới kho báu thực

nào đó – của thiền, của từ bi, của chứng ngộ.

Thìa có nếm canh không?

Người ngu có thể sống cả đời

cùng với thầy

và vẫn lỡ con đường.

Thìa không thể nếm được canh, thìa là thứ chết –

người ngu cũng vậy. Người đó chỉ dường như là sống

thôi; bằng không, trái tim người đó chết rồi, gần như

chết, bởi vì trái tim người đó không hoạt động. Người

đó sống qua cái đầu, và cái đầu chỉ là cái thìa.

Qua cái đầu bạn không thể nếm trải bất kì vui vẻ

nào của cuộc sống được. Bạn có thể thấy cái đẹp qua

cái đầu không? Bạn có thể thấy được đoá hoa, nhưng

bạn sẽ bỏ lỡ cái đẹp; bạn sẽ thấy mặt trăng, nhưng bạn

246

sẽ bỏ lỡ cái đẹp; bạn sẽ thấy mặt trời lặn, nhưng bạn sẽ

bỏ lỡ cái đẹp. Đầu bạn không thể biết gì về cái đẹp.

Đầu bạn có thể biết cái gì đó về dục nhưng không

thể biết cái gì về tình yêu. Đầu bạn có thể hiểu phần

văn xuôi của cuộc sống, đầu bạn là cái máy tính –

nhưng nó không thể biết tới thơ ca của sự tồn tại. Và

thơ ca của sự tồn tại chứa chân lí. Âm nhạc của sự tồn

tại chứa ích lợi thực sự. Nó chỉ có thể được biết tới

bằng trái tim. Chỉ trái tim mới có thể kinh nghiệm

được điều đó.

Nhớ lấy, tất cả những điều là vô nghĩa, cái đầu là

hiệu quả với nó; còn tất cả những cái có ý nghĩa, chỉ

trái tim mới có khả năng biết nó. Và tất cả chúng ta

đều đang sống trong đầu. Các trường phổ thông, cao

đẳng, đại học chỉ tồn tại vì mỗi một chủ định, vì mỗi

cái tội duy nhất mà chúng tồn tại, và tội đó là: làm

chệch năng lượng của mọi người khỏi trái tim để

hướng lên đầu, để cho họ tất cả đều có thể trở thành

máy tính, các thư kí hiệu quả và những người thu thuế,

trưởng ga… Nhưng hệ thống giáo dục không cho phép

bạn trở thành người yêu, nhà thơ, ca sĩ. Nó không cho

phép bạn biết ý nghĩa thực của cuộc sống. Nó không

cho phép bạn đi vào trong đền chùa, nó giữ bạn ở

ngoài.

Cái đầu là ở bề mặt, trái tim là ở trung tâm. Và nếu

trái tim không vận hành, bạn chỉ là cái thìa, cái thìa gỗ.

Bạn sẽ không nếm canh. Người ngu có thể sống cả đời

cùng với thầy và vẫn lỡ con đường.

Bây giờ, có vài người ở đây đang bỏ lỡ và vài

người cứ lỡ mãi nếu họ vẫn còn hướng theo cái đầu.

Đây không phải là chỗ để sống trong cái đầu. Không

đầu đi! Sannyasin thực sự sẽ không có đầu. Người đó

sẽ có tính trái tim, bởi vì chính là qua trái tim mà tôi có

thể thấm nhuần vào trong bạn. Chính là chỉ qua trái

tim mà mới có khả năng giao cảm. Bằng không, bạn sẽ

nghe lời tôi và bạn sẽ cóp nhặt lời tôi, và bạn sẽ trở

thành vẹt và bạn sẽ lặp lời tôi – và đó là mọi sự vô tích

sự… chừng nào bạn chưa nếm trải, chừng nào bạn chưa

uống lấy tôi.

Lưỡi nếm canh. Xin đừng là thìa, là lưỡi đi. Khi

bạn ở quanh vị phật, đừng là thìa, là lưỡi đi – sống

động, nhạy cảm, mang tính trái tim, đáng yêu, tin cậy.

Lưỡi nếm canh.

Nếu ông thức trong hiện diện của thầy

một khoảnh khắc sẽ chỉ cho ông con đường.

Một khoảnh khắc là đủ! Vấn đề không phải là sống

với thầy cả thời gian dài; thời gian không đi vào trong

nó. Đấy không phải là vấn đề số lượng, về việc bạn đã

sống bao lâu với thầy. Vấn đề là bạn đã yêu thầy sâu

sắc thế nào, không phải là bạn đã sống bao lâu với thầy

– bạn đã trở nên bị thu hút vào thầy mạnh mẽ, đam mê

thế nào… không ở chiều dài thời gian, mà ở chiều sâu

của tình cảm của bạn. Thế thì một khoảnh khắc của

nhận biết, của trái tim thức tỉnh, một khoảnh khắc của

248

im lặng… và việc truyền trao, việc truyền trao bên

ngoài mọi kinh sách.

Người ngu là kẻ thù riêng của mình.

Tai hoạ người đó gây ra phá huỷ của người đó.

Người đó chịu cay đắng làm sao!

Người ngu là kẻ thù riêng của mình, Phật nói. Tại

sao? – bởi vì điều đó đơn giản là từ thoả thuận riêng

của mình mà người đó cứ bỏ lỡ tất cả những điều có ý

nghĩa trong sự tồn tại. Không ai cản đường cả. Thơ ca

của cuộc sống là sẵn có cho mọi người. Người ngu vẫn

còn điếc, người đó giữ cho tai mình bị bịt kín. Cuộc

sống tràn đầy ánh sáng, nhưng người ngu cứ giữ cho

mắt nhắm lại. Cuộc sống liên tục mưa rào niềm vui

thiêng liêng, hoa cứ mưa xuống, nhưng người ngu vẫn

còn quên lãng hoàn toàn. Cho dù đôi khi mặc cho bản

thân mình người đó bắt gặp một đoá hoa, người đó

không tin vào điều đó. Người đó nói, “Mình phải bị

lừa rồi.”

Điều đó xảy ra gần như mọi ngày. Mọi người viết

thư cho tôi rằng trong thiền của họ điều gì đó kì lạ

đang xảy ra: họ cảm thấy rất hạnh phúc – điều đó

không thể đúng được! Không ai đã viết cho tôi, “Tôi

cảm thấy bất hạnh – nó không thể đúng được!” Nhưng

bất kì khi nào hạnh phúc được cảm thấy, vui vẻ phát

sinh, họ trở nên sợ, họ không thể tin được vào điều đó.

Họ bắt đầu nghi ngờ. Họ bắt đầu nghi ngờ và họ bắt

đầu lí thuyết hoá rằng điều đó chắc phải là do tính thôi

miên của chỗ này, điều đó phải là do nhiều người áo

da cam bao quanh, đó là lí do tại sao họ bị ảnh hưởng.

Làm sao họ có thể hạnh phúc được?! Họ chỉ biết mỗi

khổ trong toàn thể các kiếp sống của mình, họ đã trở

249

nên quen với điều đó, khổ đã trở thành bản thể của họ.

Bây giờ cực lạc sao? Không, những hoa này không thể

đúng được – cái gì đó sai rồi.

Trong hầu hết mọi ngôn ngữ trên thế giới đều có

câu ngạn ngữ như câu này trong tiếng Anh: bạn nói,

“Điều đó không thể thật được bởi vì nó tốt thế.” Cái tốt

không thể thật được sao? Không ai tin vào cái tốt cả.

“Quá tốt để là thật,” bạn nói. Không ai nói, “Quá xấu

để là thật.” Không câu ngạn ngữ nào giống như vậy có

trong bất kì ngôn ngữ nào trên thế giới: “Quá xấu để là

thật.” Cái xấu được chấp nhận, cái xấu xí được chấp

nhận, cái trần tục được chấp nhận – còn cái linh thiêng

bị phủ nhận.

Và cho dù bạn chấp nhận cái linh thiêng, bạn cũng

chỉ chấp nhận nó một cách hình thức. Bạn đi tới đền

chùa và nhà thờ như các nghi thức xã hội; bạn không

thực tin vào Thượng đế, bạn không thực tin vào đền

chùa. Điều đó là tốt, nó giữ cho mọi sự được trôi chảy,

nó giống như chất bôi trơn. Nếu bạn đi tới đền chùa và

nhà thờ, mọi người nghĩ bạn là người tốt, chân thành,

tôn giáo; và nếu mọi người nghĩ bạn có tính tôn giáo,

chân thành và tốt bụng, bạn có thể lừa họ theo cách

ngoạn mục hơn là bạn có thể làm điều ngược lại. Họ sẽ

tin cậy bạn, và bạn có thể lừa họ và dối họ chỉ nếu họ

tin cậy vào bạn. Đó là nghi thức xã hội, có thể là một

chiến lược xã hội để lừa và dối mọi người. Nhưng bạn

không tin.

Bất kì khi nào cái gì đó mênh mông, khổng lồ, lớn

hơn bạn, mà giáng xuống bạn, bạn đơn giản co lại, bạn

nhắm mắt lại, bạn trở thành con đà điểu. Bạn đơn giản

phủ nhận nó! Điều đó không thể như vậy được. Không

phải là Thượng đế không tới trên con đường của bạn –

ngài đã tới nhiều lần rồi, ngài đã gõ cửa nhà bạn nhiều

lần rồi, nhưng bạn không mở cửa. Ngược lại, bạn cứ

tìm cách hợp lí hoá. Khi thì bạn nói, “Đấy chỉ là gió

thôi, đấy phải là trời mưa, đấy phải là con hàng xóm

đang chơi trên bậu cửa, gõ vào cánh cửa.” Bạn cứ giải

thích cho mình… nhưng bạn chưa bao giờ mở cửa ra và

xem ai có đó.

Người ngu là kẻ thù riêng của mình.

Tai hoạ người đó gây ra phá huỷ của người đó.

Người đó chịu cay đắng làm sao!

Tại sao làm điều ông sẽ hối tiếc?

Tại sao mang nước mắt theo bản thân ông?

Làm chỉ điều ông không tiếc,

Từ từ bi lớn lao của mình, ông ấy nêu ra câu hỏi –

ông ấy đang nói với bạn – Tại sao làm điều ông sẽ hối

tiếc? Tại sao cứ mang nước mắt mãi theo bản thân

ông?

Làm chỉ điều ông không tiếc,

và rót đầy bản thân ông bằng vui vẻ.

Nhớ lấy, để điều này là tiêu chuẩn: bất kì điều gì

đem tới vui vẻ và phúc lạc và phúc lành đều là thực –

bởi vì phúc lạc là bản tính của Thượng đế. Chân lí là

cái tên khác của phúc lạc. Giả dối đem tới khổ. Nếu

bạn sống trong dối trá, bạn sẽ sống trong khổ. Và nếu

bạn sống trong khổ, nhớ và tìm ra cuộc sống bạn đã

dựa trên điều dối trá nào. Tự rút lui bản thân mình khỏi

những dối trá đó. Đừng phí thời gian và đừng trì hoãn.

Rút lui ngay lập tức! Việc rút lui đó tôi gọi là tính chất

sannyas.

251

Nó không phải là rút lui khỏi thế giới, nó là rút lui

khỏi những dối trá mà bạn đã từng sống mãi cho tới

giờ. Nó không phải là từ bỏ thế giới, nó là từ bỏ những

dối trá mà bạn đã dựa cả đời mình vào. Khoảnh khắc

bạn tự rút bản thân mình khỏi dối trá, chúng bắt đầu

sụp đổ, bắt đầu chết, bởi vì chúng phụ thuộc vào bạn,

chúng tự nuôi dưỡng chúng trên bạn – chúng không thể

sống mà thiếu sự hỗ trợ của bạn được. Rút đi sự hợp

tác của bạn, và mọi dối trá đều biến mất. Và khi mọi

dối trá biến mất, cái còn là chân lí.

Chân lí là bản tính bên trong nhất của bạn. Chân lí

phải không được tìm ở bất kì đâu khác. Aes dhammo

sanantano – đây là luật tối thượng, luật không cạn,

chân lí tối thượng, cái ở bên trong bạn. Bạn không cần

đi đâu cả. Bạn có thể tìm thấy nó bên trong bản thân

bạn nếu bạn có thể hoàn thành chỉ một điều kiện này:

rút lui khỏi mọi điều dối trá mà bạn đã đã đầu tư vào

nhiều thế – rút lui khỏi chúng. Từ bỏ tất cả những cái

không thật. Khổ là chỉ dẫn cho cái không thật.

Bất kì khi nào phúc lạc nào đó xảy ra, tin cậy vào

nó, và đi vào theo chiều hướng đó… và bạn sẽ đi

hướng tới Thượng đế. Phúc lạc là hương thơm của

ngài. Nếu bạn có thể theo phúc lạc, bạn sẽ không bao

giờ đi lạc lối. Nếu bạn theo phúc lạc, bạn sẽ đi theo tự

nhiên. Và nếu bạn tự nhiên, phúc lạc, thảnh thơi, trí

huệ nảy sinh.

Trí huệ là trạng thái rất thảnh thơi của bản thể. Trí

huệ không phải là tri thức, không phải là thông tin; trí

huệ là sự thức tỉnh bản thể bên trong của bạn, tỉnh táo,

có tính quan sát, chứng kiến, đầy ánh sáng. Tràn đầy

ánh sáng đi – đó là quyền tập ấm của bạn. Nếu bạn bỏ

252

lỡ, bạn là người ngu. Và bạn đã bỏ lỡ nhiều kiếp rồi –

lần này, xin từ bi thêm chút nữa cho bản thân mình.

8

Thượng đế yêu tiếng cười

Câu hỏi thứ nhất:

Thưa Thầy kính yêu,

Ở phương Tây tôi đã được huấn luyện là một công

nhân xã hội. Tôi được dạy rằng điều quan trọng là

một người kính trọng và yêu mến bản thân mình và

cảm thấy xứng đáng. Tôi đã được dạy rằng điều

quan trọng là hỗ trợ để giúp làm mạnh cho bản

ngã. Thầy nói giết chết bản ngã. Tôi bị lẫn lộn.

Prem Aradhana, bản ngã được cần tới bởi vì cái ta

thực chưa được biết tới. Bản ngã là cái thay thế, nó là

thực thể giả. Bởi vì bạn không biết bản thân mình nên

bạn phải tạo ra một trung tâm nhân tạo; bằng không

hoạt động trong cuộc sống sẽ không thể được. Bởi vì

bạn không biết khuôn mặt thật của mình, bạn phải đeo

254

mặt nạ. Không biết về cái bản chất, bạn phải tin cậy

vào cái bóng.

Chỉ có hai cách sống trong cuộc sống. Một là sống

nó từ chính cốt lõi của bản thể bạn – đó đã là cách của

các nhà huyền môn. Thiền không là gì ngoài phương

cách làm cho bạn nhận biết về cái ta thực của mình –

cái không do bạn tạo nên, cái bạn đã là vậy rồi. Bạn

được sinh ra với nó, bạn là nó! Nó cần được phát hiện

  1. Nếu điều này là không thể, hay nếu xã hội không

cho phép điều đó xảy ra… và không xã hội nào cho

phép nó xảy ra cả, bởi vì cái ta thực là nguy hiểm –

nguy hiểm cho nhà thờ đã được lập, nguy hiểm cho

nhà nước, nguy hiểm cho đám đông, nguy hiểm cho

truyền thống – bởi vì một khi con người biết tới cái ta

thực của mình, người đó trở thành cá nhân. Người đó

không còn thuộc vào tâm lí đám đông nữa; người đó sẽ

không mê tín, và người đó không thể bị khai thác.

Người đó không thể bị dẫn đi như trâu bò, người đó

không thể bị ra lệnh và chỉ huy. Người đó sẽ sống theo

ánh sáng của mình, người đó sẽ sống từ nội tâm riêng

của mình. Cuộc sống của người đó sẽ có cái đẹp, sự

toàn vẹn vô cùng. Nhưng đó là nỗi sợ của xã hội.

Con người được hợp nhất trở thành cá nhân, và xã

hội muốn bạn trở thành phi cá nhân. Thay vì tính cá

nhân, xã hội dạy bạn là cá tính. Từ ‘cá tính –

personality’ phải được hiểu. Nó bắt nguồn từ một gốc,

‘persona’ – persona nghĩa là mặt nạ. Xã hội cho bạn

một ý tưởng giả tạo về bạn là ai; nó cho bạn mỗi một

thứ đồ chơi, và bạn cứ níu bám lấy đồ chơi này cả đời

bạn.

Cách duy nhất là sống qua thiền – thế thì bạn sống

cuộc sống của nổi dậy, của phiêu lưu, của dũng cảm.

255

Thế thì bạn thực sự sống! Cách khác để sống, hay để

sống giả, là cách thức của bản ngã – làm mạnh bản

ngã, nuôi dưỡng bản ngã; để cho bạn không cần nhìn

vào cái ta, cứ níu bám lấy bản ngã. Bản ngã là vật

phẩm do xã hội tạo ra để lừa dối bạn, làm sao lãng bạn.

Bản ngã là do con người tạo ra, được chúng ta chế

tạo ra. Và bởi vì nó do xã hội chế tạo ra, xã hội có

quyền trên nó. Bởi vì nó do nhà nước và nhà thờ tạo

ra, và do những người đang có quyền lực tạo ra, họ có

thể phá huỷ nó vào bất kì lúc nào; điều đó tuỳ thuộc

vào họ. Bạn phải thường xuyên trong sợ, và bạn phải

thường xuyên vâng lời họ, tuân theo họ, để cho bản

ngã của bạn còn nguyên không bị động chạm. Xã hội

cho bạn sự kính trọng nếu bạn không phải là cá nhân.

Xã hội tôn vinh bạn nếu bạn không phải là một Jesus,

không phải là một Socrates, không phải là một Phật.

Nó kính trọng bạn chỉ nếu bạn là con cừu, không phải

là con người.

Aradhana, điều bạn đã được bảo cho là hoàn toàn

vô nghĩa. Không thành vấn đề ai nói điều đó – các đại

256

học, các chính khách, các tu sĩ. Chắc chắn, bạn sẽ cảm

thấy bị lẫn lộn, bởi vì tôi đang nói cho bạn chính cái

đối lập lại: Tôi đang bảo bạn gạt bỏ bản ngã, bởi vì

nếu bạn gạt bỏ bản ngã, bạn gạt bỏ tảng đá đang ngăn

cản luồng tâm thức của bạn.

Tâm thức của bạn có đó, ngay ở sau tảng đá này;

nó phải không được đem từ đâu đó khác lại. Loại bỏ

tảng đá này đi – tôn giáo thực chỉ bao gồm việc loại bỏ

cái không cần thiết, và thế rồi cái cần thiết bắt đầu

tuôn chảy. Cái không bản chất phải bị loại bỏ đi. Và

cái bản chất đã có đó rồi, nó đã là hoàn cảnh rồi! Bạn

loại bỏ tảng đá và bạn sẽ ngạc nhiên: bạn không cần

tạo ra cái ta thực – nó tự lộ ra cho bạn.

Và cái thực có cái đẹp, và cái thực là bất tử. Bởi vì

nó bất tử nó không sợ. Cái không thực thường xuyên

run rẩy. Bản ngã bao giờ cũng trong nguy hiểm – bất kì

ai đều có thể phá huỷ được nó. Bởi vì nó đã được

những người khác trao cho bạn, họ có thể lấy lại nó.

Hôm nay họ kính trọng bạn, ngày mai họ có thể không

kính trọng bạn. Nếu bạn không theo ý tưởng của họ về

cuộc sống, nếu bạn không xác nhận phong cách hiện

hữu của họ, họ sẽ rút lại sự kính trọng của họ. Và bạn

sẽ bị xẹp lép trên đất… và bạn sẽ không biết mình là

ai.

Cái không biết lớn nhất tồn tại bên trong bạn. Biển

chưa được thăm dò nhất là tâm thức bạn, và nguy hiểm

lớn nhất nữa, bởi vì khi bạn bắt đầu đi vào bên trong,

bạn bắt đầu rơi vào trong cái trống rỗng, và hoảng sợ

lớn lao nảy sinh, sợ bị điên, sợ mất căn cước của bạn…

Bởi vì bạn đã biết tới bản thân mình như cái tên, bạn

đã biết tới bản thân mình như một người đặc biệt – bạn

đã biết tới bản thân mình như bác sĩ, như kĩ sư, như

doanh nhân; bạn đã biết tới bản thân mình như người

Ấn Độ, người Đức, người Trung Quốc; bạn đã biết tới

bản thân mình như người da đen hay da trắng; bạn đã

biết tới bản thân mình như đàn ông hay đàn bà; bạn đã

biết tới bản thân mình như người có giáo dục hay

không giáo dục – tất cả những phân loại này bắt đầu

biến mất.

Khi bạn đi vào bên trong, bạn không là đàn ông

không là đàn bà: Neti, neti – không cái này không cái

nọ, không da trắng không da đen, không Hindu giáo

không Mô ha mét giáo, không người Ấn Độ không

người Pakistan. Khi bạn đi vào bên trong, tất cả những

phân loại này bắt đầu tuột khỏi tay bạn. Thế thì bạn là

ai? Bạn bắt đầu mất dấu vết bản ngã của bạn, và nỗi sợ

lớn nảy sinh – sợ cái không. Bạn rơi vào trong cái vô

hạn. Ai biết liệu bạn sẽ có khả năng quay lại hay

không? Và ai biết cái gì sẽ là kết quả của việc thám

hiểm này? Kẻ hèn nhát níu bám lấy bến bờ và quên

mất tất cả về biển. Đó là điều đang xảy ra trên khắp thế

giới. Mọi người níu bám lấy bản ngã bởi vì bản ngã

cho bạn ý tưởng nào đó về bạn là ai, cho bạn sáng tỏ

259

nào đó. Nhưng bản ngã là giả, và sáng tỏ này cũng là

giả.

Thà bị lẫn lộn bởi thực tại còn tốt hơn là được sáng

tỏ với cái không thực ra.

Aradhana, bạn đúng đấy: với tôi lẫn lộn lớn nhất

định xảy ra – bởi vì mọi tri thức của bạn, dần dần, dần

dần sẽ được chứng tỏ đơn giản là dốt nát chứ không gì

khác. Ẩn giấu đằng sau tri thức của bạn là dốt nát của

bạn. Ẩn đằng sau cái láu lỉnh của bạn là tâm trí ngu

đần của bạn. Và đằng sau bản ngã chẳng có gì cả – nó

là cái bóng.

Một khi điều này trở thành rõ ràng cho bạn, rằng

bạn đã níu bám lấy cái bóng, sợ hãi lớn và lẫn lộn lớn,

hỗn độn lớn nhất định xảy ra. Nhưng từ hỗn độn này

các ngôi sao được sinh ra. Người ta phải trải qua

những hỗn độn như vậy – đó là một phần của trưởng

thành tâm linh. Bạn phải làm mất đi cái giả để có được

cái thật. Nhưng giữa hai điều này sẽ là một khoảng hở

mà cái giả sẽ mất đi và cái thật sẽ chưa tới. Đó là

những khoảnh khắc, khoảnh khắc mấu chốt nhất… đây

là những khoảnh khắc mà bạn cần thầy hay bạn.

Mới hôm nọ, Phật đã nói, “Thầy hay bạn là được

cần.” Đây là những khoảnh khắc đó khi bạn sẽ cần bàn

tay của ai đó, người có thể giữ bạn, người có thể đỡ

bạn, người có thể nói, “Đừng sợ. Cái trống rỗng này sẽ

biến mất. Chẳng mấy chốc bạn sẽ tuôn trào – chỉ chút

ít chờ đợi thêm nữa, chút ít kiên nhẫn thêm nữa.” Thầy

không thể cho bạn cái gì, nhưng thầy có thể cho bạn

dũng cảm. Thầy có thể đưa bàn tay của mình cho bạn

260

vào những khoảnh khắc mấu chốt đó khi tâm trí bạn

muốn quay lại, trở lại, níu bám bến bờ này.

Vui vẻ của thầy, niềm tin của thầy, thẩm quyền

của thầy… nhớ lấy, khi tôi nói “thẩm quyền của thầy”

tôi không ngụ ý rằng thầy là người cầm quyền. Thầy

không bao giờ là người cầm quyền, nhưng thầy có

thẩm quyền, bởi vì thầy là nhân chứng cho cái ta riêng

của mình. Thầy biết về bờ bên kia, thầy đã từng ở bờ

bên kia. Bạn chỉ mới nghe nói về bờ bên kia, bạn đã

đọc về nó; bạn chỉ biết về bờ bên này, sự thoải mái và

an ninh, và an toàn của bờ này. Và khi cơn bão hoành

hành dữ dội và bạn bắt đầu mất cái nhìn về bờ này, và

bạn không có khả năng thấy được bờ bên kia, tâm trí

bạn sẽ nói, “Quay lại thôi! Quay lại nhanh nhất có thể

được đi! Bờ cũ đang biến mất và bờ mới không xuất

hiện. Có thể không có gì ở bờ bên kia cả, có thể không

có bờ bên kia chút nào. Và cơn bão to thế!”

Trong những khoảnh khắc đó, nếu bạn ở cùng

thầy, và ai đó đang ngồi trong thuyền im lặng, hoàn

toàn bình thản và yên tĩnh, cười lớn và nói, “Đừng lo,”

vẫn cứ thổi sáo, hay ca hát bài ca, hay kể chuyện cười

cho bạn, và người đó nói, “Đừng lo. Có bờ bên kia – ta

biết, ta đã từng ở đó. Kiên nhẫn thêm chút nữa đi..

Bờ bên kia không xa xôi gì; chỉ tại mỗi mắt bạn

đầy khói đến mức bạn không thể thấy được. Thực ra,

chính bờ này là bờ bên kia. Nếu mắt bạn sáng tỏ, nếu

cảm nhận của bạn không bị u ám, nếu sáng suốt đã nảy

sinh trong bản thể bạn, nếu bạn có thể thấy và nghe,

chính bờ này là bờ bên kia. Khi người ta biết, người ta

262

thực sự cười vào toàn thể cái nhố nhăng của cuộc sống

– bởi vì chúng ta đã thu được cái chúng ta khao khát.

Kho báu này đi cùng với chúng ta, và chúng ta cứ chạy

quanh đây đó.

Bản ngã phải không được tạo ra, bởi vì bạn có cái

ta tối cao bên trong mình.

Nhưng tôi có thể hiểu được lẫn lộn của bạn. Vẫn

còn bị lẫn lộn đi. Đừng quay sự sáng tỏ cũ của bạn – nó

là lừa dối. Ở trong lẫn lộn này, ở cùng tôi thêm chút

nữa, và chẳng mấy chốc lẫn lộn sẽ tản mát đi và biến

mất. Và thế rồi một loại sáng tỏ hoàn toàn mới tới.

Có hai loại sáng tỏ – một, sáng tỏ chỉ đơn giản có

tính trí tuệ, bất kì khoảnh khắc nào cũng có thể bị lấy

đi, hoài nghi có thể được tạo ra vào bất kì khoảnh khắc

nào… Trí tuệ đầy những hoài nghi. Bất kì cái gì bạn đã

nghe thấy và bất kì cái gì bạn đã được bảo đều bị tôi dễ

dàng lấy đi thế; nó chẳng giá trị gì mấy. Huấn luyện cả

đời của bạn, và tôi đã lấy đi mảnh đất từ dưới chân bạn

dễ dàng thế… và bạn bị lẫn lộn. Sáng tỏ như vậy có thể

có giá trị gì? Nếu tôi có thể làm cho bạn lẫn lộn dễ

dàng thế, điều đó nghĩa là nó không thực sự sáng tỏ

đâu. Tôi sẽ cho bạn một loại sáng tỏ mới mà không thể

bị làm lẫn lộn được.

Câu hỏi thứ ba:

Thưa Thầy kính yêu,

Tôi là nhà tâm lí. Tôi đã hi vọng rằng việc nghiên

cứu tâm lí sẽ giúp làm thay đổi cuộc đời tôi, nhưng

chẳng cái gì như thế đã xảy ra. Tôi phải làm gì

bây giờ?

Tâm lí học vẫn còn là khoa học rất, rất chưa chín

muồi. Nó còn rất thô sơ, nó chỉ mới là bắt đầu. Nó

276

chưa là cách sống – nó không thể biến đổi bạn được.

Nó chắc chắn có thể cho bạn vài sáng suốt trong tâm

trí, nhưng những sáng suốt đó sẽ không là biến đổi. Tại

sao? – bởi vì biến đổi bao giờ cũng xảy ra từ bình diện

cao hơn. Biến đổi chưa bao giờ có nghĩa là giải quyết

vấn đề – vẫn còn ở cùng bình diện cũ – điều đó nghĩa là

điều chỉnh. Tâm lí học vẫn đang cố gắng giúp bạn điều

chỉnh – điều chỉnh theo xã hội, cái bản thân nó đã điên

khùng rồi, điều chỉnh theo gia đình, điều chỉnh theo

các ý tưởng đang chi phối quanh bạn. Nhưng tất cả

những ý tưởng đó – gia đình bạn, xã hội bạn – bản thân

chúng đều ốm yếu, bệnh tật, và điều chỉnh theo chúng

sẽ cho bạn sự bình thường nào đó, ít nhất có vẻ bề

ngoài lành mạnh, nhưng điều đó sẽ không làm biến đổi

bạn.

Biến đổi có nghĩa là thay đổi bình diện của hiểu

biết của bạn. Nó tới qua việc siêu việt lên. Nếu bạn

muốn thay đổi tâm trí bạn, bạn phải đi sang trạng thái

vô trí. Chỉ từ tầm cao đó bạn mới có khả năng thay đổi

tâm trí mình, bởi vì từ chiều cao đó bạn sẽ là người

chủ. Vẫn còn trong tâm trí và cố thay đổi tâm trí bằng

bản thân tâm trí là quá trình vô tích sự. Điều đó cũng

giống như tự kéo mình lên qua dây giầy của mình.

Điều đó cũng giống như con chó cố bắt đuôi của nó;

đôi khi chúng làm vậy, đôi khi chúng hành xử rất con

người. Con chó đang ngồi sưởi nắng mặt trời buổi

sáng sớm và nó thấy cái đuôi ngay bên cạnh nó – một

cách tự nhiên, tò mò phát sinh: Sao không bắt lấy nó?

Nó thử, không được, cảm thấy bực mình, khó chịu; thử

mạnh hơn, thất bại mạnh hơn, trở nên điên, khùng.

Nhưng nó sẽ không bao giờ có khả năng bắt được đuôi

– đấy là đuôi riêng của nó. Nó càng nhảy lên, cái đuôi

cũng sẽ càng nhảy lên.

277

Tâm lí học có thể cho bạn vài điều sáng suốt nhìn

vào tâm trí, nhưng bởi vì nó không thể đưa bạn vượt ra

ngoài tâm trí nên nó không thể có ích gì được.

Sam trở thành nhà tâm thần và bắt đầu làm ăn phát

đạt. Anh ta mua về một chiếc xe hơi to đắt tiền và lái

nó lần đầu tiên. Anh ta vừa lái được một chốc, một

chiếc xe khác đâm sầm vào anh ta. Anh ta nhảy ra khỏi

chiếc Cadillac bẹp dúm, đi tới chiếc xe đã đụng vào xe

mình, rung rung nắm đấm với nó, và gầm lên, “Đồ

ngu! Đồ khờ! Đồ đê tiện! Đồ chó… !” Thế rồi anh ta

sực nhớ mình là nhà tâm thần và hạ giọng xuống hỏi

một cách mềm mỏng, “Sao anh ghét mẹ anh?”

Tâm lí học chẳng thể giúp ích được. Tôi đã nghe

kể một câu chuyện khác về cũng anh chàng Sam này –

một câu chuyện khi anh ta không còn trên thế giới này

nữa, anh ta đã chết.

Bà quả phụ chăm sóc cây quanh nấm mồ của

chồng mình. Khi bà ấy nghiêng người qua, vài nhành

cỏ xuyên vào chỗ da trần dưới váy bà ấy. Giật mình,

bà ấy nhanh chóng quay lại, nhưng chẳng thấy ai cả.

Thở dài, bà ấy quay nấm mồ và thì thào, “Sam ơi, cư

xử cho phải phép vào! Và nhớ đấy, anh được coi là

chết rồi mà.”

Tâm lí học sẽ không giúp gì mấy cho bạn cả trong

sống lẫn trong chết. Bạn có thể được giúp đỡ chỉ bởi

tôn giáo.

278

Bây giờ các nhà tâm lí đang cố gắng đóng vai trò

của người thầy, hoàn toàn chỉ giả vờ. Nhà tâm lí, nhà

phân tâm và nhà tâm thần đều không phải là thầy! Họ

không biết bản thân họ. Vâng, họ đã hiểu chút ít về cơ

chế của tâm trí, họ đã nghiên cứu, họ có thông tin tốt.

Nhưng thông tin không bao giờ thay đổi ai cả, nó chưa

bao giờ đem tới bất kì cách mạng nào. Sâu bên dưới

người này vẫn còn như cũ. Người đó có thể nói hay,

người đó có thể cho bạn lời khuyên tốt, nhưng người

đó không thể đi theo lời khuyên riêng của mình.

Nhà phân tâm không thể là thầy được. Nhưng đặc

biệt ở phương Tây ông ta đã trở nên thành công một

cách chuyên nghiệp tới mức ngay cả linh mục cũng

cực kì kính nể. Ngay cả các linh mục – Cơ đốc giáo và

Tin Lành – đang nghiên cứu phân tâm học và các

trường phái khác của tâm lí, bởi vì họ thấy rằng mọi

người không tới các linh mục nữa, họ tới nhà phân

tâm. Linh mục trở nên sợ rằng mình mất việc.

Linh mục đã chi phối mọi người từ hàng trăm năm

nay. Ông ta là người khôn ngoan – ông ta đã mất hấp

dẫn rồi. Và mọi người không thể sống được mà thiếu

các cố vấn; họ cần ai đó bảo họ phải làm gì bởi vì họ

chưa bao giờ trưởng thành. Họ giống như trẻ nhỏ, bao

giờ cũng cần được bảo cho cái gì làm và cái gì không

làm. Mãi cho tới nay các linh mục vẫn thường làm

điều đó; bây giờ linh mục đã mất sức mê hoặc của

mình, sự hợp thức của mình. Ông ta không còn đương

đại nữa, ông ta đã trở thành lạc hậu rồi. Bây giờ nhà

phân tâm đã chiếm vị trí của ông ta, nhà phân tâm là tu

sĩ thời nay.

Nhưng như tu sĩ là giả, nhà phân tâm cũng vậy. Tu

sĩ đã dùng lối nói tôn giáo để khai thác mọi người; nhà

279

phân tâm dùng lối nói khoa học để khai thác cũng

người đó. Tu sĩ không thức tỉnh mà nhà phân tâm cũng

không thức tỉnh.

Con người có thể được giúp đỡ chỉ bởi ai đó đã là

vị phật; bằng không người đó không thể được giúp đỡ.

Mọi cố vấn của bạn sẽ làm cho bạn ngày một trở

thành đống lộn xộn nhiều hơn. Bạn càng nghe cố vấn,

bạn sẽ càng trở thành đống lộn xộn lớn hơn – bởi vì họ

không biết điều họ nói! Họ thậm chí không đồng ý

trong bản thân họ. Freud nói điều này, Adler nói điều

khác, Jung lại nói điều khác. Và bây giờ có cả nghìn lẻ

một trường phái. Và mọi trường phái đều cuồng tín về

triết học của nó – rằng nó có chân lí, toàn thể chân lí và

không có gì ngoài chân lí. Mà không chỉ nó nói rằng

nó đúng đâu; nó nói nó có chân lí, và mọi người khác

đều nói dối, lừa dối.

Nếu bạn nghe theo các nhà phân tâm này, nếu bạn

đi từ nhà phân tâm này sang nhà phân tâm khác, bạn sẽ

còn bị phân vân hơn. Giúp đỡ duy nhất họ có thể trao

cho bạn là ở chỗ nếu bạn đủ thông minh bạn sẽ trở nên

ngán họ, chán họ tới mức bạn sẽ đơn giản vứt bỏ cái ý

tưởng về được biến đổi, và bạn có thể bắt đầu sống

cuộc sống của bạn một cách bình thường, chẳng bận

tâm nhiều tới biến đổi – nếu bạn thông minh, điều rất

hãn hữu, bởi vì thông minh đã bị nghiền nát từ ngay

ban đầu. Bạn bị làm cho thành người xoàng xĩnh. Từ

ngay chính ban đầu, thông minh đã bị phá huỷ. Chỉ vài

người bằng cách nào đó trốn thoát khỏi xã hội và vẫn

còn thông minh.

Gợi ý của tôi cho bạn là, chỉ ngồi im lặng nhiều nhất khi bạn có thể có thời gian cho nó. Thiền nhân ngồi im lặng ít nhất sáu tới tám giờ một ngày. Ban đầu

282

điều đó thực sự là điên khùng. Tâm trí giở ra nhiều thủ đoạn với bạn, cố dẫn bạn phát rồ, tạo ra những hình ảnh kinh sợ, những ảo giác. Thân thể bắt đầu giở trò với bạn… đủ loại điều sẽ xảy ra. Nhưng nếu bạn có thể cứ chứng kiến, trong vòng ba tới chín tháng mọi sự được lắng đọng, và lắng đọng theo cách riêng của nó – không phải bởi vì bạn phải làm cái gì đó. Không có việc làm của bạn, nó đơn giản lắng đọng, và khi tĩnh lặng nảy sinh, cái không được trau dồi, cái không được thực hành, nó là cái gì đó tuyệt vời, cái gì đó cực kì duyên dáng, thanh tú. Bạn chưa bao giờ nếm trải cái gì giống như nó trước đây – nó là nước cam lồ thuần tuý… Bạn đã siêu việt lên trên tâm trí! Mọi vấn đề tâm trí đều được giải quyết. Không phải là bạn đã tìm thấy giải pháp, mà đơn giản chúng đã tự rơi rụng đi – bởi việc chứng kiến, chỉ bởi việc chứng kiến. Bạn đã quá thông thái. Đừng thêm tri thức nữa; bạn cần dỡ bỏ bớt. Người thông thái là người rất tinh ranh – họ bao giờ cũng có thể tìm ra cớ để vẫn còn như cũ.
Một giáo sư triết học và tâm lí học nghiện rượu lậu. Một đêm, sau khi ăn uống no nê, ông ta đi và buồng ngủ, cởi quần áo lên giường, và cố gắng thổi tắt nến. Hơi thở nồng nặc rượu của ông ta làm bùng lên ngọn lửa. Rùng mình buồn bã bởi kinh nghiệm này, ông ta gọi vợ, “Đem cho anh cuốn Kinh Thánh, Martha. Đây là bài học ghê rợn với anh. Anh sẽ phải thề.”

283

Người vợ sung sướng vội vàng đem cuốn Kinh Thánh lại, đứng cạnh trong khi chồng mình đặt tay lên cuốn sách và nhìn lên trời: “Tôi xin thề với thánh thần linh thiêng rằng tôi sẽ không bao giờ thổi tắt ngọn nến đang cháy nữa.”

Tâm trí tinh ranh. Bạn phải vượt ra ngoài tâm trí – đó là điều thiền tất cả là gì.

Gieo mầm phúc lạc 
Thỉnh thoảng người ngu láu lỉnh nếm đồ ngọt, ngọt như mật. nhưng đến cuối nó biến thành đắng. Và người đó chịu đắng làm sao!

Người ngu có thể nhịn ăn vài tháng, ăn từ đầu nhành cỏ. Dầu vậy người đó không đáng một xu bên cạnh thầy có thức ăn là con đường.

Sữa tươi cần thời gian để chua. Láu lỉnh của người ngu cũng vậy cần thời gian để bắt vào người đó. Giống như than hồng của lửa nó cháy âm ỉ bên trong người đó.

Bất kì điều gì người ngu học, điều đó chỉ làm cho người đó mụ mị hơn. Tri thức dính đầu người đó.

288

Với điều đó người ấy muốn thừa nhận. vị trí trước mọi người khác. vị trí trên mọi người khác.

“Để họ biết công việc của ta, để mọi người nhìn ta xin chỉ dẫn.” Ham muốn của người đó là vậy, tự hào thổi phồng của người đó là vậy.

Một đường đưa tới giàu có và tiếng tăm, Đường kia đi tới chấm dứt con đường này.

Đừng tìm thừa nhận mà đi theo người đã thức tỉnh và làm cho bản thân ông được tự do.
Lời cuối cùng của Phật Gautama trên thế gian là: Là ánh sáng lên bản thân ông đi. Đừng đi theo người khác, đừng bắt chước, bởi vì bắt chước, đi theo, tạo ra ngu xuẩn. Bạn được sinh ra với khả năng vô cùng về thông minh. Bạn được sinh cùng với ánh sáng bên trong bạn. Lắng nghe tiếng nói tĩnh lặng, nhỏ bé ở bên trong, và cái đó sẽ hướng dẫn bạn. Không ai khác có thể hướng dẫn được bạn, không ai khác có thể trở thành mô hình cho cuộc sống của bạn, bởi vì bạn là duy nhất. Không ai đã từng hiện hữu đích xác giống như bạn, và không ai sẽ lại đích xác giống bạn. Đây là vinh quang của bạn, vĩ đại của bạn – rằng bạn là hoàn toàn không thể thay thế được, rằng bạn chỉ là bản thân bạn và không là ai khác.
288

Với điều đó người ấy muốn thừa nhận. vị trí trước mọi người khác. vị trí trên mọi người khác.

“Để họ biết công việc của ta, để mọi người nhìn ta xin chỉ dẫn.” Ham muốn của người đó là vậy, tự hào thổi phồng của người đó là vậy.

Một đường đưa tới giàu có và tiếng tăm, Đường kia đi tới chấm dứt con đường này.

Đừng tìm thừa nhận mà đi theo người đã thức tỉnh và làm cho bản thân ông được tự do.

Lời cuối cùng của Phật Gautama trên thế gian là: Là ánh sáng lên bản thân ông đi. Đừng đi theo người khác, đừng bắt chước, bởi vì bắt chước, đi theo, tạo ra ngu xuẩn. Bạn được sinh ra với khả năng vô cùng về thông minh. Bạn được sinh cùng với ánh sáng bên trong bạn. Lắng nghe tiếng nói tĩnh lặng, nhỏ bé ở bên trong, và cái đó sẽ hướng dẫn bạn. Không ai khác có thể hướng dẫn được bạn, không ai khác có thể trở thành mô hình cho cuộc sống của bạn, bởi vì bạn là duy nhất. Không ai đã từng hiện hữu đích xác giống như bạn, và không ai sẽ lại đích xác giống bạn. Đây là vinh quang của bạn, vĩ đại của bạn – rằng bạn là hoàn toàn không thể thay thế được, rằng bạn chỉ là bản thân bạn và không là ai khác.

289

Người đi theo người khác trở thành giả, người đó trở thành rởm, người đó trở thành máy móc. Người đó có thể là thánh nhân lớn trong mắt người khác, nhưng sâu bên dưới, người đó đơn giản không thông minh và chẳng có gì khác. Người đó có thể có tính cách rất đáng kính nhưng đó chỉ là bề mặt, nó thậm chí không sâu hơn làn da. Cào vào người đó một chút và bạn sẽ ngạc nhiên rằng bên trong người đó là một người hoàn toàn khác, chính cái đối lập với vẻ ngoài của người đó. Bằng việc theo người khác bạn có thể trau dồi một tính cách đẹp, nhưng bạn không thể có tâm thức đẹp, và chừng nào bạn chưa có tâm thức đẹp bạn chẳng thể nào tự do. Bạn có thể cứ thay đổi các nhà tù của mình, bạn có thể cứ thay đổi tù túng của mình, cảnh nô lệ của mình. Bạn có thể là người Hindu giáo hay người Mô ha mét giáo hay người Ki tô giáo hay người Jaina giáo – điều đó sẽ không giúp được bạn. Là người Jaina giáo nghĩa là đi theo Mahavira như mô hình. Bây giờ, không có ai giống Mahavira hay có thể bao giờ giống thế. Đi theo Mahavira bạn sẽ trở thành thực thể giả. Bạn sẽ làm mất đi mọi thực tại, bạn sẽ mất đi mọi chân thực, bạn sẽ không thực là bản thân bạn. Bạn sẽ trở thành nhân tạo, phi tự nhiên và là nhân tạo, là phi tự nhiên là con đường của người tầm thường, kẻ ngu, kẻ khờ. Phật định nghĩa trí huệ là sống theo ánh sáng của tâm thức riêng của bạn, và ngu xuẩn là đi theo người khác, bắt chước người khác, trở thành cái bóng của ai đó khác.

LượcTrích Dhammapada – Con đường của Phật (đủ bộ)

600_dhammapadavol1

Dhammapada

CON ĐƯỜNG CỦA PHẬT

¨

ĐÂY LÀ CON ĐƯỜNG

ĐI TỚI CHÂN LÍ TỐI THƯỢNG

Osho

Tập 2 Hà Nội 5/2011

Trí huệ của hồn nhiên
Làm sao tâm trí rối loạn
hiểu con đường?
Nếu một người bị rối loạn
Người đó sẽ không bao giờ được tràn đầy với tri
thức.
Tâm trí không rối loạn,
không còn tìm kiếm xem xét
cái gì là phải và cái gì là trái,
Tâm trí vượt ra ngoài mọi phán xét,
quan sát và hiểu.
Biết rằng thân thể là cái bình mảnh mai,
và tạo nên lâu đài của tâm trí ông.
Trong mọi thử thách
để hiểu biết tranh đấu cho ông
để bảo vệ điều ông có được.
2
Vì chẳng mấy chốc thân thể này sẽ bị bỏ đi.
Vậy nó cảm thấy cái gì?
Khúc gỗ vô dụng, nằm trên đất.
Vậy nó biết gì?
Kẻ thù tồi tệ nhất của ông không thể làm hại ông
nhiều như các ý nghĩ riêng, khinh suất của ông.
Nhưng một khi bị nó khống chế,
không ai có thể giúp ông được mấy,
cho dù cả bố hay mẹ ông.

Có lần tôi được hỏi, “Triết lí là gì?” Tôi nói, “Triết

lí là nghệ thuật hỏi câu hỏi sai.” Người mù hỏi “Ánh

sáng là gì?” – đây là triết lí. Người điếc hỏi “Âm nhạc

là gì? Âm thanh là gì?” – đây là triết lí.

Nếu người mù hỏi, “Làm sao tôi có thể lấy lại

được đôi mắt?” đây không còn là triết lí nữa, đây là tôn

giáo. Nếu người điếc đi tới bác sĩ để được chữa trị sao

cho người đó có thể nghe được, thế thì người đó đang

đi theo hướng của tôn giáo và không theo hướng của

triết lí.

Triết lí là đoán chừng, nó là bàn tán; chẳng biết gì,

người ta cố phát minh ra chân lí. Và chân lí không thể

được phát minh, và bất kì cái gì được phát minh ra

không thể đúng được. Chân lí phải được khám phá ra.

Nó đã có đó rồi… mọi điều chúng ta cần là con mắt cởi

mở – con mắt để thấy nó, trái tim để cảm nó, bản thể

để hiện diện với nó. Chân lí bao giờ cũng hiện diện

nhưng chúng ta vắng mặt, và bởi vì chúng ta vắng mặt

3

chúng ta không thể thấy được chân lí. Và chúng ta cứ

hỏi về chân lí, mà chúng ta không hỏi câu hỏi đúng:

Làm sao hiện diện? Làm sao để trở thành sự hiện diện?

Chúng ta hỏi về chân lí và việc hỏi đó đi xa khỏi

nó, bởi vì việc hỏi ngụ ý rằng câu trả lời là có thể có từ

ai đó khác. Việc hỏi ngụ ý rằng ai đó khác có thể nói

cho bạn chân lí là gì. Không ai có thể nói cho bạn điều

đó được, điều đó không thể được nói.

Lão Tử nói: Chân lí có thể được nói ra không còn

là chân lí nữa. Một khi được nói ra, nó trở thành dối

trá.

Tại sao? – bởi vì người biết, biết nó không phải

như thông tin; bằng không, sẽ rất dễ dàng truyền thông

tin này cho bất kì ai sẵn sàng nhận nó. Chân lí được

biết như kinh nghiệm bên trong. Nó giống như việc

nếm trên lưỡi. Nếu một người chưa bao giờ nếm vị

ngọt là gì, bạn không thể giải thích nó cho người đó

được – điều đó là không thể được. Nếu một người chưa

thấy mầu sắc, bạn không thể giải thích cho người đó

nó là gì.

Có những điều chỉ có thể được kinh nghiệm, và

qua kinh nghiệm, được hiểu. Thượng đế là kinh

nghiệm tối thượng đó, điều hoàn toàn không thể diễn

đạt nổi, không thể truyền đạt nổi. Nó không thể được

truyền đạt. Nhiều nhất, vài hướng dẫn có thể được cho;

nhưng những hướng dẫn đó cũng phải được nhận bằng

trái tim rất thông cảm, bằng không bạn sẽ bỏ lỡ chúng.

Nếu bạn diễn giải chúng bằng tâm trí mình bạn sẽ

bỏ lỡ chúng, bởi vì tâm trí bạn có thể làm gì khi có liên

quan tới việc diễn giải? Nó chỉ có thể đem quá khứ

riêng của nó vào. Nó chỉ có thể đem hỗn độn riêng của

4

nó vào. Nó có thể đem những xung đột, hoài nghi, lẫn

lộn của nó vào. Và với tất cả những cái đó nó sẽ áp đặt

lên chân lí, lên hướng dẫn được trao cho bạn, và lập

tức mọi sự bị bóp méo. Tâm trí bạn không ở trong

trạng thái để thấy, để cảm.

Tôn giáo đơn giản nghĩa là tạo ra một không gian

trong tâm trí của bạn, cái có năng lực thấy, cái có năng

lực của không xung đột, cái có năng lực là một mà

không chia chẻ gì, cái có năng lực toàn vẹn, sáng tỏ,

cảm nhận. Tâm trí với đầy những ý nghĩ không thể

cảm nhận được; những ý nghĩ đó cứ can thiệp vào.

Những ý nghĩ có đó, hết tầng nọ tới tầng kia. Vào lúc

cái gì đó đạt tới cốt lõi bên trong nhất của bạn, nếu mà

nó đạt tới, nó không còn là như nó đã được chuyển

giao bởi ai đó, người đã biết. Nó là một hiện tượng

khác toàn bộ.

Phật hay lặp lại từng hướng dẫn ba lần. Ai đó hỏi

ông ấy, “Sao thầy lặp lại một thứ những ba lần?”

Ông ấy nói, “Ngay cả ba lần cũng không đủ. Khi ta

nói điều đó lần thứ nhất, ông chỉ nghe thấy lời thôi.

Những lời đó trống rỗng, chỉ trống rỗng, cái vỏ hổng,

không có nội dung. Ông không thể nghe thấy nội dung

ở lần thứ nhất. Lần thứ hai, ông nghe nội dung qua lời,

hương thơm tới, nhưng ông bàng hoàng thế, ông bị bối

rối bởi sự hiện diện của nó đến mức ông không ở vào

trạng thái để hiểu. Ông nghe, nhưng ông không hiểu.

Đó là lí do tại sao ta phải lặp lại nó ba lần.”

Tôi cứ lặp đi lặp lại bởi một lẽ đơn giản là các bạn

ngủ thế – nó phải được lặp lại, được gõ búa vào. Có thể

trong khoảnh khắc nào đó, khoảnh khắc thuận lợi nào

5

đó, các bạn sẽ không ở sâu thế trong giấc ngủ; các bạn

có thể ở gần, rất gần với việc thức, và cái gì đó có thể

đi vào trong các bạn. Các bạn có thể có khả năng nghe

thấy. Vâng, có những khoảnh khắc khi các bạn rất gần

với việc thức – không thức, không ngủ, chỉ ngay ở

giữa, đâu đó ở giữa.

Mỗi sáng các bạn đều biết, có vài khoảnh khắc khi

giấc ngủ không còn nữa nhưng các bạn vẫn chưa thức,

các bạn không thể nói được là mình thức. Các bạn có

thể nghe thấy, theo một cách rất mơ hồ, âm thanh của

chim chóc, và tiếng người rao hàng, và tiếng vợ nói

với hàng xóm và tiếng trẻ con sửa soạn tới trường, và

tiếng ồn ào giao thông, và tiếng tàu hoả chạy qua –

nhưng theo một cách rất mơ hồ, không toàn bộ, chỉ bộ

phận. Và các bạn cứ lơ lơ trong giấc ngủ. Khoảnh khắc

này các bạn nghe thấy tiếng ồn của tàu hoả chạy qua,

khoảnh khắc khác các bạn đã đi sâu hơn vào giấc ngủ

của mình.

Bây giờ các nhà nghiên cứu về giấc ngủ nói rằng

điều đó xảy ra liên tục trong giấc ngủ của bạn: nếu bạn

ngủ tám giờ, bạn không ở cùng mức độ liên tục, mức

độ của bạn cứ thay đổi, hết đỉnh đến thung lũng. Cả

đêm bạn đi lên và đi xuống. Đôi khi bạn ở rất sâu

trong giấc ngủ nơi ngay cả mơ cũng biến mất –

Patanjali đã gọi điều đó là sushupti, ngủ không mơ – và

đôi khi bạn đầy những mơ. Và đôi khi bạn chỉ ngay

bên bờ thức tỉnh. Nếu cái gì đó vỡ tan, sốc xảy ra, bạn

sẽ thức dậy, đột nhiên thức dậy.

Đó là nỗ lực của mọi chư phật: đợi đến đúng

khoảnh khắc khi bạn rất gần tới việc thức tỉnh. Thế thì

một chút ít thúc đẩy và mắt bạn mở ra và bạn có thể

thấy.

6

Thượng đế không thể được giải thích nhưng có thể

được thấy, có thể được kinh nghiệm – không thể được

giải thích. Bất kì giải thích nào về Thượng đế không là

gì ngoài việc giải thích sai về ngài; do đó, càng có

nhiều tu sĩ, nhà thượng đế học, giáo sư, tôn giáo càng

ít có trên thế giới. Càng nhiều giáo hoàng và nhiều

shankaracharyas, càng ít tôn giáo có đó trên thế giới –

bởi vì những người này cứ giải thích và Thượng đế

không thể nào được giải thích. Họ nhồi nhét vào tâm

trí bạn bằng biết bao nhiêu lời giải thích, bây giờ

những lời giải thích đó trong xung đột. Bây giờ gần

như không thể nào hình dung ra điều đó, cái gì là cái

gì, cái nào là cái nào. Bạn trong lẫn lộn hoàn toàn. Con

người chưa bao giờ trong lẫn lộn như thế trước đây,

bởi vì nhân loại chưa bao giờ ở gần thế trước đây. Trái

đất thực sự đã trở thành làng, làng toàn cầu.

Trong những ngày cổ đại đó các Phật tử chỉ biết

mỗi điều Phật đã nói, và người Mô ha mét giáo chỉ biết

mỗi điều Mohammed đã nói, và người Ki tô giáo chỉ

biết mỗi Jesus. Bây giờ chúng ta đã trở thành người

thừa kế của toàn thể di sản thừa kế của nhân loại. Bây

giờ bạn biết Jesus, bạn biết Zarathustra, bạn biết

Patanjali, bạn biết Phật, bạn biết Mahavira, bạn biết

Lão Tử và hàng trăm lời giải thích khác, hướng dẫn

khác – và chúng tất cả đều nhảy bổ vào bạn. Bây giờ

rất khó kéo bạn ra khỏi sự lẫn lộn này. Cách có thể duy

nhất là vứt toàn bộ sự ồn ào này đi, không phải từng

phần mà toàn bộ. Đó là thông điệp của tôi.

Và bằng việc vứt nó đi, các bạn sẽ không vứt bỏ

Jesus hay Mohammed hay Phật; bằng việc vứt bỏ nó

các bạn sẽ tới gần họ hơn. Bằng việc vứt bỏ nó, các

bạn sẽ đơn giản vứt bỏ các tu sĩ và các truyền thống và

các tục lệ và sự khai thác cứ diễn ra nhân danh truyền

7

thống và tục lệ. Bằng việc xoá đi tất cả những điều

này, quên đi Kinh Thánh và Vedas và Gita, bạn sẽ đạt

tới sáng tỏ, trong sạch. Vâng, bạn cần việc dọn dẹp

mùa xuân, các bạn cần làm nhẹ gánh toàn bộ cho trái

tim. Chỉ thế, trong im lặng đó, bạn sẽ có khả năng để

hiểu.

Phật nói:

Làm sao tâm trí rối loạn

hiểu con đường?

Hàng nghìn người đã tụ tập quanh Phật, cũng như

các bạn đã tụ tập quanh tôi – hàng nghìn người tìm

kiếm đã tới Phật và họ đã hỏi đủ mọi loại câu hỏi. Và

Phật đã không quan tâm tới câu hỏi của họ chút nào;

ông ấy không quan tâm tới việc trả lời chúng. Ông ấy

quan tâm, chắc chắn, tới việc chỉ ra cho họ con đường,

nhưng vấn đề là ở chỗ họ quá băn khoăn với những

câu hỏi và câu trả lời của họ mà họ đã thu thập, họ bị

quá bối rối bởi đủ mọi tri thức họ đã từng mang theo

mình, đến mức không thể nào, gần như hoàn toàn

không thể nào chỉ được cho họ con đường. Do đó mới

có lời kinh này: Làm sao tâm trí rối loạn hiểu được

con đường?

Cho nên thay vì cho họ thêm câu trả lời, thêm giải

thích, Phật bắt đầu lấy đi tri thức của họ, những câu trả

lời làm sẵn của họ, những quan niệm tiên thiên của họ,

những định kiến của họ. Ấn Độ không bao giờ có khả

năng tha thứ cho Phật vì điều đó. Lập tức sau khi ông

ấy chết tâm trí truyền thống của đất nước này bắt đầu

nhổ bật gốc rễ mọi cây cối ông ấy đã trồng; mọi bụi

8

hồng đều bị thiêu rụi. Phật đã hoàn toàn bị tống ra khỏi

đất nước này. Người con vĩ đại nhất của mảnh đất này

không còn chỗ trú ngụ ở đây nữa; giáo huấn phải tìm

chỗ cư ngụ ở những mảnh đất nước ngoài.

Điều này không phải là ngẫu nhiên, điều này bao

giờ cũng xảy ra. Jesus đã bị những người Do Thái kết

án, người Do Thái đóng đinh, và Jesus là người Do

Thái vĩ đại nhất đã từng ở trên trái đất, việc nở hoa vĩ

đại nhất của tâm thức Do Thái, việc diễn đạt tột cùng,

cao trào, đỉnh Everest. Nhưng sao người Do Thái đã

phủ nhận ông ấy? Họ đáng phải hạnh phúc, họ đáng

phải nhảy múa và mở hội, nhưng họ không thể – họ

không thể tha thứ được cho ông ấy, bởi vì sự hiện diện

của ông ấy làm cho họ cảm thấy rất tầm thường; đó là

tội của ông ấy. Ông ấy phải bị trừng phạt vì điều đó, vì

ở cao thế, vì vượt ra ngoài thế, vì cao siêu thế, vì

duyên dáng thế, vì đem tới tình yêu thế. Vì sự hiện

diện của mình mà ông ấy phải bị trừng phạt, bởi vì sự

hiện diện của ông ấy làm cho mọi người cảm thấy xấu

xí khi so sánh. Ông ấy phải bị loại bỏ để cho tâm trí

tầm thường có thể cảm thấy thoải mái.

Jesus không bị giết bởi người Do Thái, ông ấy bị

giết bởi tâm trí tầm thường. Điều đó đã xảy ra cho tâm

trí Do Thái tầm thường trong trường hợp của Jesus.

Cùng điều đó đã xảy ra với Phật. Phật đã không được

người Hindu dung thứ, và ông ấy đã là người Hindu vĩ

đại nhất. Ông ấy đã là người Hindu thuần khiết nhất có

thể được, chính tinh hoa của Hindu giáo. Điều

Upanishads nói, ông ấy đã hiện thực nó. Ông ấy là việc

hiện thực hoá của khao khát sâu sắc nhất của mảnh đất

này, nhưng ông ấy bị nhổ bật gốc rễ từ đây, ông ấy bị

tống ra khỏi đây.

9

Phật giáo đã biến mất khỏi Ấn Độ, thậm chí không

dấu vết nào còn đằng sau – hoàn toàn bị xoá sạch sẽ.

Tại sao? Ông ấy đã cực kì được kính trọng ở Tây

Tạng, ở Trung Quốc, ở Hàn Quốc, ở Nhật Bản, ở Thái

Lan, ở Miến Điện, ở Sri Lanka. Toàn thể châu Á yêu

mến con người này, giáo huấn của ông ấy duy nhất

thế, lời của ông ấy hàm chứa thế. Nhưng Ấn Độ đơn

giản đã quên mất tất cả về ông ấy – tâm trí Ấn Độ tầm

thường. Điều đó chẳng liên quan gì với người Ấn Độ

cả – lại là tâm trí tầm thường. Tâm trí tầm thường chưa

bao giờ cho phép các thiên tài; người tầm thường sung

sướng với người tầm thường khác. Người ngu sung

sướng với người lãnh đạo ngu. Lãnh đạo càng ngu,

mọi người càng sung sướng – bởi vì ông ta trông giống

họ nhiều thế.

Tôi đã nghe:

Một giám thị mới được bổ nhiệm vào một nhà

thương điên. Người cũ chuyển giao trách nhiệm, ông

ta về hưu, và một bữa tiệc nhỏ được tổ chức để để mọi

người trong bệnh viện cám ơn người cũ về phục vụ

của ông ta, và tiếp đón người mới bởi các bệnh nhân.

Mọi người điên được tập hợp.

Giám thị cũ có chút ít phân vân; ông ấy chưa bao

giờ thấy họ sướng thế. Mọi người điên đều sướng, vui

tới mức ông ta không thể đừng được cám dỗ hỏi họ –

và ông ta sắp đi cùng ngày này, cho nên ông ta phải

hỏi ngay; bằng không bao giờ cũng còn điều tò mò

trong tâm trí và ông ta sẽ chẳng bao giờ biết được câu

trả lời.

Ông ta hỏi người điên. “Sao anh trông sướng thế?”

10

Họ nói, “Bởi vì ông giám thị mới kia – ông ấy

trông hệt như chúng tôi! Ông là người ngoài chúng tôi,

ông lành mạnh. Ông ấy trông có vẻ điên!”

Và điều đó là sự thật – viên giám thị mới gần như

điên khùng. Nhưng những người điên rất sướng Ai đó

bây giờ đã tới, người sẽ không làm cho họ cảm thấy họ

điên.

Điều này bao giờ cũng là tình huống trên trái đất

này – trái đất này là nhà thương điên – và bất kì khi nào

một người lành mạnh xảy ra, chúng ta đều cư xử

không phải với người đó. Hàng nghìn người đã tới

Phật để hỏi, “Thượng đế ở đâu? Thượng đế là gì?” Và

đặc biệt là các brahmins, các bác học, các học giả,

những người đầy am hiểu, am hiểu về các kinh sách,

họ thường tới ông ấy để hỏi, “Ông có tin vào Thượng

đế không? Định nghĩa niềm tin của ông, giải thích khái

niệm của ông.”

Và Phật cứ khăng khăng lặp đi lặp lại: Làm sao

tâm trí rối loạn hiểu được con đường? Ông ấy thường

nói, “Xin đừng hỏi về Thượng đế. Việc hỏi của ông về

Thượng đế hệt như người mù hỏi về ánh sáng – điều đó

không thể được giải thích. Ta là thầy chữa,” ông ấy

nhấn mạnh. “Ta có thể chữa mắt của ông, ta có thể trao

lại cho ông cái nhìn. Và thế rồi tự bản thân ông sẽ có

khả năng thấy, và ánh sáng phải được ông thấy chứ.

Việc thấy ánh sáng của ta chẳng có ích gì cả. Ta có thể

thấy ánh sáng, ta thậm chí có thể mô tả nó, nhưng điều

đó sẽ không cho ông ý tưởng nào về nó là gì.”

Thực ra không có cách nào có thể để diễn đạt cho

người mù ánh sáng là gì. Ánh sáng là kinh nghiệm, cái

11

gì đó có tính tồn tại, không giải thích nổi. Và Thượng

đế là ánh sáng tối thượng, ánh sáng của mọi ánh sáng,

ánh sáng đằng sau mọi ánh sáng, cội nguồn của mọi

ánh sáng. Làm sao Thượng đế có thể được giải thích

cho bạn nếu bạn mù?

Do đó Phật chẳng bao giờ nói về Thượng đế. Và

các nhà bác học và các brahmins sẽ quay về chỗ của

họ mà lan truyền tin đồn và nói rằng “Người này

không trả lời câu hỏi này bởi vì ông ta không biết;

bằng không, sao ông ấy không thể đơn giản nói có hay

không? Chúng tôi đã hỏi câu hỏi rất đơn giản, ‘Ông có

tin vào Thượng đế không?’ Ông ấy có thể đã nói có

hay không – nếu ông ấy biết thế thì câu trả lời là đơn

giản. Nhưng ông ấy nói vòng vo; chúng tôi hỏi về

Thượng đế và ông ấy nói theo kiểu cách ngôn. Ông ấy

nói, ‘Làm sao điều đó có thể được nói ra? Làm sao

điều đó có thể được giải thích?’ Sự kiện thực là ông ấy

không biết. Sự kiện thực là ở chỗ ông ấy là kẻ vô thần

trá hình; ông ấy đang lừa mọi người, làm biến chất mọi

người.”

Người Hindus đã bịa ra một câu chuyện rất tinh

ranh về Phật. Họ nói rằng Thượng đế đã tạo ra thế

giới, và đồng thời ngài đã tạo ra địa ngục và cõi trời –

địa ngục cho những người bị trừng phạt và cõi trời cho

những người được trọng thưởng vì đức hạnh của họ.

Nhưng chuyện xảy ra là hàng nghìn năm qua đi chẳng

ai vào địa ngục cả, bởi vì không ai phạm tội. Tất nhiên,

quỉ rất mệt mỏi vì cứ chờ đợi hoài và chờ đợi và chờ

đợi – không có việc làm, không có kinh doanh! Thậm

chí không một linh hồn nào đã xuất hiện!

12

Cực kì tức giận, quỉ lên Thượng đế và nói, “Sao

ông làm ra địa ngục này, để làm gì? Và sao ông đẩy tôi

vào đó chịu trách nhiệm? Chúng tôi mệt rồi, nhân viên

của tôi mệt hết cả rồi. Chẳng ai xuất hiện cả. Chúng tôi

mở cửa hàng và chúng tôi ngồi cả ngày mà chẳng có

một khách hàng nào! Chúng tôi để cửa mở – không

một linh hồn nào đã từng vào. Phỏng có ích gì? Xin

giải phóng chúng tôi khỏi việc này đi.”

Thượng đế nói, “Sao ông không đến sớm hơn? Ta

quên khuấy mất về điều đó. Ta sẽ thu xếp vậy. Ngay

đây ta sẽ sinh vào trong thế giới là Phật Gautama, và ta

sẽ làm biến chất tâm trí mọi người. Ta sẽ làm biến chất

tâm trí họ nhiều tới mức ông sẽ bị chật ních đấy. Ông

cứ về địa ngục đi và đợi đấy.”

Và đó là cách chuyện xảy ra. Câu chuyện nói,

Thượng đế vào thế giới là Phật Gautama, làm biến chất

tâm trí mọi người, phá huỷ tin của họ, nhổ bật gốc rễ

những tục lệ của họ, làm rung chuyển đức tin của họ,

tạo ra hoài nghi trong tâm trí họ, nghi ngờ. Từ đó địa

ngục bị chật ních đến mức quỉ cứ phải nói đi nói với

Thượng đế, “Thôi bây giờ dừng đi! Xin dừng đi!

Chúng tôi mệt hết rồi, nhiều người thế! Chúng tôi phục

vụ cả hai mươi bốn tiếng, hết ngày nọ tới ngày kia;

thậm chí cả trong đêm cửa cũng không thể đóng được.

Mọi người đơn giản cứ kéo tới!”

Một câu chuyện rất tinh ranh. Bạn có thấy cái tinh

ranh tinh vi trong nó không? Theo một nghĩa nào đó

Phật được thừa nhận là hiện thân của Thượng đế.

Người Hindus tinh ranh hơn người Do Thái theo cách

đó. Người Do Thái đơn giản phủ nhận rằng Jesus là

Con của Thượng đế, họ bác bỏ Jesus. Người Hindus

13

tinh vi hơn theo cách đó, trau chuốt hơn, văn hoá hơn –

tất nhiên, một nền văn minh cổ đại hơn mà. Và nền

văn minh càng trở nên cổ đại hơn, nó càng trở nên tinh

ranh hơn.

Thấy cái tinh ranh này: Phật được chấp nhận là

hoá thân thứ mười của Thượng đế, và vậy mà Thượng

đế lấy hoá thân này vào thế giới để làm biến chất tâm

trí mọi người. Cho nên mặc dầu Phật là Thượng đế,

cẩn thận đấy, chớ có nghe ông ta! Bạn thấy chiến lược

này, cái mẹo này chưa? Họ không phủ nhận Phật có

tính thượng đế – thực ra gần như không thể nào phủ

nhận được Phật có tính thượng đế.

H.G. Wells đã nói rằng Phật Gautama là nghịch lí:

con người vô thượng đế nhất và vậy mà có tính thượng

đế nhất. Ông ấy chưa bao giờ nói về Thượng đế, ông

ấy chưa bao giờ bảo mọi người tin vào Thượng đế.

Thượng đế đơn giản bị thiếu trong giáo huấn của ông

ấy. Đấy không cần là giả thuyết, điều đó không được

cần. Vô thượng đế nhất và vậy mà có tính thượng đế

nhất… không ai dường như có tính thượng đế như

Phật, duyên dáng như Phật – hệt như bông sen, tâm

thức thuần khiết nhất có thể quan niệm được, tươi mát

như giọt sương trong ánh bình minh.

Họ đã không thể phủ nhận được điều đó, họ phải

chấp nhận rằng ông ấy là Thượng đế. Nhưng họ không

thể chấp nhận cách tiếp cận của ông ấy bởi vì cách tiếp

cận của ông ấy, nếu được chấp nhận, sẽ phá huỷ toàn

thể tôn giáo đã được thiết lập, toàn thể tổ chức. Ông ấy

lấy đi mọi niềm tin; thực ra ông ấy làm cho một điều

thành rất quan trọng, rất bản chất là con người của

niềm tin sẽ không có khả năng biết được. Ông ấy

không ngụ ý trở thành người không tin, bởi vì không

14

tin lại là tin theo cách phủ định. Không là người tin

không là người không tin.

Cách tiếp cận của Phật là cách tiếp cận của người

bất khả tri. Ông ấy không hữu thần không vô thần –

ông ấy là người truy tìm. Và ông ấy muốn bạn còn mở

cho việc truy tìm. Đi không có định kiến, đi không có

ý tưởng được làm sẵn – bởi vì nếu bạn đi với ý tưởng

nào đó, bạn sẽ phóng chiếu ý tưởng của bạn lên thực

tại. Và nếu bạn có ý tưởng bắt rễ sâu trong tâm trí bạn,

bạn sẽ thấy ý tưởng đó được hoàn thành trong thực tại

và nó sẽ chỉ là ảo giác, mơ được bạn phóng chiếu lên.

Bạn phải đi hoàn toàn trống rỗng. Nếu bạn thực sự

muốn biết chân lí bạn phải tuyệt đối trống rỗng, bạn

phải không mang ý tưởng nào, ý thức hệ nào; bạn phải

đi trần trụi, trần truồng, trống rỗng. Bạn phải vận hành

từ trạng thái của không biết. Trạng thái của không biết

là trạng thái của người kinh ngạc.

Có một câu ngạn ngữ cổ của Jesus, không được

ghi trong Kinh Thánh, nhưng người Sufis đã gìn giữ

nó. Người Sufis đã gìn giữ nhiều câu nói hay của

Jesus. Câu nói này quan trọng vô cùng đến mức người

ta tự hỏi sao nó không được ghi vào trong Kinh Thánh,

nhưng nếu bạn cân nhắc kĩ càng về nó thì lí do trở nên

rõ ràng.

Câu nói này là: Người được ân huệ là người ngạc

nhiên, bởi vì vương quốc của Thượng đế là của người

đó. Người được ân huệ là người ngạc nhiên. Điều này

đã không được ghi trong Kinh Thánh. Tại sao? – bởi vì

Kinh Thánh muốn tạo ra tôn giáo nào đó, giáo phái

nào đó; nó muốn truyền bá ý thức hệ nào đó. Còn con

người của ngạc nhiên phải bỏ mọi ý thức hệ.

15

Người được ân huệ là người ngạc nhiên, bởi vì chỉ

trong việc ngạc nhiên bạn mới có thể giống như trẻ

con, hồn nhiên. Và chỉ trong hồn nhiên đó bạn có thể

biết cái đang đó. Làm sao tâm trí rối loạn hiểu được

con đường?

Cho nên bất kì khi nào một người tới Phật và lục

vấn – những câu hỏi lớn lao về cuộc sống và những bí

ẩn của cuộc sống – Phật đều nói, “Ông đợi đấy, ông

thiền đi. Trước hết để tâm trí rối loạn của ông trở thành

không rối loạn. Để cơn bão tâm trí này của ông qua đi.

Để im lặng tới, bởi vì im lặng sẽ cho ông đôi mắt. Ta

có thể chỉ cho ông con đường để im lặng, và thế rồi

ông không cần hướng dẫn của bất kì ai. Một khi ông

im lặng được, ông sẽ có khả năng thấy con đường và

ông sẽ có khả năng đạt tới mục đích.”

Và tâm trí chúng ta thực sự rối loạn. Cả nghìn lẻ

một rắc rối có đó. Trước hết, mọi người đều trong

trạng thái tinh thần phân liệt, nhiều hay ít; khác biệt

chỉ ở mức độ. Mọi người đều bị chia chẻ bởi vì những

kẻ bóc lột, cả tôn giáo và chính trị, đều phụ thuộc vào

chiến lược này: phân chia con người, không cho phép

con người toàn vẹn, và con người sẽ vẫn còn là nô lệ.

Ngôi nhà bị chia ra chống lại bản thân nó thì nhất định

yếu. Cho nên bạn đã được dạy phải tranh đấu với thân

thể; đó là chiến lược phân chia gốc rễ, của việc phân

chia bạn. “Tranh đấu với thân thể, thân thể là kẻ thù

của bạn. Chính thân thể đang lôi bạn tới địa ngục.

Tranh đấu, cầm dao trong tay! Tranh đấu cả ngày lẫn

đêm! tranh đấu trong nhiều kiếp! Chỉ thế thì một ngày

nào đó bạn sẽ có khả năng thắng được nó. Và chừng

nào bạn chưa thắng thân thể mình, bạn sẽ không đi vào

được thế giới của Thượng đế.”

16

Trong hàng thế kỉ điều vô nghĩa này đã được dạy

cho mọi người. Và kết quả là ở chỗ mọi người đều bị

phân chia, mọi người đều chống thân thể họ. Và nếu

bạn chống thân thể bạn, bạn nhất định sẽ bị rắc rối.

Bạn sẽ tranh đấu với thân thể bạn, và bạn và thân thể

bạn là một năng lượng. Thân thể là linh hồn thấy được,

và linh hồn là thân thể không thấy được. Thân thể và

linh hồn không bị phân chia ở bất kì đâu, chúng là các

bộ phận của nhau, chúng là bộ phận của một toàn thể.

Bạn phải chấp nhận thân thể, bạn phải yêu mến thân

thể, bạn phải kính trọng thân thể, bạn phải biết ơn thân

thể mình. Chỉ thế thì bạn mới đạt tới loại toàn vẹn nào

đó, sự kết tinh sẽ xảy ra; bằng không bạn sẽ vẫn còn bị

rắc rối. Và thân thể sẽ không bỏ bạn dễ dàng thế; ngay

cả sau hàng trăm kiếp sống việc tranh đấu sẽ vẫn có

đó. Bạn không thể đánh bại thân thể được.

Tôi không nói rằng thân thể không thể bị mòn mỏi

đi, nhớ lấy, nhưng bạn không thể đánh bại được thân

thể. Bạn không thể đánh bại được nó bằng việc thù

địch với nó. Bạn có thể thắng nó bằng việc thân thiện,

bằng việc yêu thương, bằng việc kính trọng, bằng việc

tin cậy nó. Đó đích xác là cách tiếp cận của tôi: thân

thể là ngôi đền chùa, bạn là vị thần của ngôi đền chùa

này. Đền chùa bảo vệ bạn, là chỗ che mưa, che gió,

che nóng cho bạn. Nó đang phục vụ bạn đấy! Tại sao

bạn phải tranh đấu với nó? Điều đó cũng ngốc như

người lái xe tranh đấu với chiếc xe. Nếu người lái xe

tranh đấu với xe, điều gì sẽ xảy ra? Anh ta sẽ phá huỷ

chiếc xe và anh ta sẽ phá huỷ bản thân mình trong việc

tranh đấu với nó. Chiếc xe là phương tiện đi tốt, nó có

thể đưa bạn đi trên cuộc hành trình xa nhất.

Thân thể là cơ chế phức tạp nhất trong sự tồn tại.

Nó đơn giản tuyệt diệu! – và người phúc lạc là người kì

17

diệu. Bắt đầu cảm thấy ngạc nhiên với thân thể riêng

của bạn đi, bởi vì đó là cái gần bạn nhất. Tự nhiên gần

nhất đã tiếp cận bạn, Thượng đế gần nhất đã tới với

bạn, là qua thân thể. Trong thân thể bạn là nước của

đại dương, trong thân thể bạn là lửa của các vì sao và

mặt trời, trong thân thể bạn là không khí, thân thể bạn

được tạo ra từ đất. Thân thể bạn đại diện cho toàn thể

sự tồn tại, mọi yếu tố. Và biến đổi làm sao! Biến thái

làm sao! Nhìn đất và rồi nhìn vào thân thể bạn mà xem

– biến đổi làm sao, và bạn chưa bao giờ ngạc nhiên về

nó cả! Cát bụi đã trở thành điều thiêng liêng – bí ẩn

nào lớn hơn là có thể có? Phép màu nào lớn lao hơn

mà bạn chờ đợi? Và bạn thấy phép màu này đang xảy

ra mọi ngày. Từ bùn hoa sen tới…và từ bụi đất đã nảy

sinh thân thể tuyệt vời của chúng ta. Và một cơ chế

phức tạp thế, chạy êm thế – không tiếng ồn. Và nó thực

sự phức tạp.

Các nhà khoa học đã làm những cái máy rất phức

tạp, nhưng không cái gì sánh được với thân thể cả.

Ngay cả máy tính phức tạp nhất cũng chỉ là đồ chơi

nếu so với cỗ máy bên trong của thân thể. Và bạn đã

được dạy tranh đấu với nó. Điều đó tạo ra chia chẻ,

điều đó giữ bạn trong rắc rối, điều đó giữ bạn trong

cuộc nội chiến thường xuyên.

Và bởi vì bạn tranh đấu với bản thân mình – điều

hoàn toàn ngu ngốc – cuộc sống của bạn trở thành ngày

một ít thông minh và ngày một nhiều ngu xuẩn. Và thế

rồi bạn muốn những biến đổi lớn lao – bạn muốn ghen

tị bị vứt bỏ và bạn muốn giận dữ biến mất và bạn

muốn không tham lam trong mình. Điều đó là không

thể được! Với những hiểu lầm như vậy từ ngay chỗ bắt

đầu, làm sao bạn có thể tạo ra được không gian nơi

biến đổi xảy ra, nơi giận dữ trở thành từ bi, nơi ghét

18

trở thành yêu, nơi tham lam trở thành chia sẻ, nơi dục

trở thành samadhi? Làm sao bạn có thể hi vọng, làm

sao bạn có thể trông đợi biến đổi lớn lao thế, với trạng

thái rối loạn thế?

Điều nền tảng là vứt bỏ chia chẻ, trở thành một. Là

một đi, và thế thì mọi điều khác là có thể; ngay cả điều

không thể cũng thành có thể.

Làm sao tâm trí rối loạn hiểu con đường?

Con đường là rất đơn giản và trực tiếp. Ngay cả trẻ

con cũng có thể hiểu được điều đó. Nó đơn giản như

hai cộng hai là bốn, hay thậm chí còn đơn giản hơn.

Nó đơn giản như tiếng hót của con chim, đơn giản như

bông hồng – đơn giản và đẹp, đơn giản và cực kì vĩ đại.

Nhưng chỉ một tâm trí không rối loạn mới có thể hiểu

được nó, chỉ một tâm trí không rối loạn mới có khả

năng thấy nó; bằng không bạn sẽ sống trong tham lam

và bạn sẽ sống trong giận dữ và bạn sẽ sống trong

ghen tị và sở hữu, và bạn sẽ sống trong hận thù. Bạn

có thể giả vờ, bạn có thể trở thành thánh nhân trên bề

mặt, nhưng bạn vẫn còn là tội nhân sâu bên dưới. Và

tội lỗi lớn nhất là phân chia bản thân mình. Tội lỗi lớn

nhất này không phạm phải với người khác, nó bao giờ

cũng phạm phải với chính bản thân bạn. Đây là trạng

thái của tự tử, việc tạo ra phân chia này giữa thân thể

bạn và bản thân bạn. Kết án thân thể, bạn chỉ có thể trở

thành kẻ đạo đức giả, bạn chỉ có thể sống cuộc sống

của kẻ giả vờ.

Trong khoang tàu hoả hạng nhất, hai quí bà ăn vận

đẹp đang thảo luận về quần áo trong khi một quí ông

19

trong góc vờ ngủ. Khi một bà nói mình thấy giá quần

áo ngày nay là không thể được, bà kia gợi ý bà ấy nên

theo gương bà này và kiếm người bạn trai ở bên mình:

“Anh ấy sẽ cho bạn năm trăm đô la một tháng làm

món quà nhỏ – chồng bạn sẽ chẳng bao giờ làm điều

đó đâu.”

“Nhưng điều gì xảy ra nếu tôi không thể kiếm

được người bạn có năm trăm đô la?”

“Thế thì lấy hai người với mỗi người hai trăm năm

mươi đô.”

Quí ông này lên tiếng: “Nghe đây thưa các bà, tôi

sắp ngủ bây giờ. Đánh thức tôi dậy khi các bà giảm giá

xuống hai mươi đô la.”

Mọi người đều giả vờ theo mọi cách có thể. Người

giả vờ là thánh nhân có thể chính là điều đối lập lại, và

người giả vờ thức có thể ngủ, và người giả vờ ngủ có

thể thức… đủ mọi loại giả vờ, bởi vì xã hội tạo ra hoàn

cảnh nó cho phép bạn chỉ hoặc sống một cuộc hoàn

toàn bị kết án, cuộc sống của kẻ tội phạm, hoặc cuộc

sống của kẻ đạo đức giả, của kẻ giả vờ. Xã hội cho bạn

chỉ hai phương án: hoặc chân thật và là tội phạm, hoặc

không thật và đáng kính. Nó không cho phép bạn có

phương án thứ ba. Tại sao nó không cho phép bạn

phương án thứ ba? – bởi vì phương án thứ ba tạo ra

một Jesus, một Phật, một Krishna, và sự hiện diện của

họ làm cho đám đông cảm thấy rất tầm thường, rất bị

sỉ nhục, mất mặt.

Cho nên xin đừng quyết định bằng việc nhìn vào

hình tướng của người khác. Nhiều cơ hội hơn, gần

chín mươi chín phẩy chín phần trăm, bất kì cái gì họ

20

xuất hiện trên bề mặt họ sẽ không là vậy ở sâu bên

dưới. Bạn có thể chắc chắn được về điều đó; tôi nói

gần như chắc chắn hoàn toàn, bởi vì chỉ không phẩy

một phần trăm bạn có thể lỡ – không nhiều gì. Chỉ

thỉnh thoảng bạn mới bắt gặp vị phật, người có hình

tướng là một với nội tâm của người đó; bằng không

bạn sẽ bắt gặp những người là điều này ở bên ngoài và

là điều khác ở bên trong. Đừng bị lừa bởi dáng vẻ.

Một nữ diễn viên tình cờ làm quen với một người

lang thang thất nghiệp và đưa anh ta về căn hộ của

mình bởi vì anh ta đi đôi giầy rất lớn và cô ấy đã được

bảo rằng đàn ông chân lớn có chim lớn. Cô ấy cho anh

ta ăn bữa tối thịt nướng với nhiều hạt tiêu và bia, thế

rồi lôi anh ta lên giường.

Sang hôm sau người này thức dậy một mình và

thấy tờ mười đô la để trên bệ lò sưởi, với lời nhắn ngắn

gọn: “Tự mua đôi giầy vừa cho anh.”

Nhưng đó là cách chúng ta cứ quyết định… từ bên

ngoài. Thực ra, bởi vì chúng ta thậm chí không biết

bên trong của riêng mình, làm sao chúng ta có thể nhìn

vào bên trong của người khác được? Chúng ta không

biết nghệ thuật nhìn vào trong. Trước hết bạn phải

thực hành nghệ thuật này với bản thân mình. Trước hết

bạn phải đi vào trong lãnh thổ của mình, thế giới bên

trong của mình. Bạn phải đi ngày một sâu hơn vào tâm

thức của mình, tới chính trung tâm của nó. Một khi

bạn đã thấm vào cốt lõi của bản thể mình, bạn sẽ có

khả năng nhìn vào cốt lõi của bản thể của bất kì ai

khác. Thế thì không ai có thể lừa được bạn, bởi vì thế

21

thì bạn không nhìn vào hình tướng – bạn nhìn vào thực

tại.

Làm sao tâm trí rối loạn hiểu con đường?

Tâm trí rối loạn không thể hiểu được cái gì. Nó

không ở trong trạng thái việc hiểu là có thể. Việc hiểu

không có nghĩa là tri thức. Tâm trí rối loạn có thể trở

thành rất thông thái – bạn có thể tới các đại học và bạn

có thể thấy các giáo sư, rất thông thái – nhưng họ còn

rối loạn hơn cả bạn, trong xung đột bên trong còn

nhiều hơn cả bạn. Tri thức của họ chẳng ích gì cho họ

chút nào. Tri thức chưa bao giờ có ích cho bất kì ai, nó

chỉ làm nặng gánh. Nó cho bạn sự kính trọng, chắc

chắn. Nó là trò bản ngã lớn, và bản ngã cảm thấy được

thổi phồng lên; nhưng bản ngã càng được thổi phồng

lên, bạn sẽ càng rối loạn bên trong hơn bởi vì bản ngã

là hiện tượng giả tạo. Và khi bạn trở thành quá gắn bó

với cái giả, bạn bắt đầu mất tiếp xúc với cái thật. Khi

bạn bắt đầu bắt thêm rễ vào cái giả, bạn quên mất việc

bắt rễ vào cái thực.

Con người của tri thức là vô thức như bạn. Người

dốt nát và người thông thái không phải là trên những

con thuyền khác nhau; họ là bạn đồng hành. Khác biệt

giữa họ chỉ ở thông tin – điều không phải là khác biệt

chút nào, điều không phải là khác biệt làm ra mọi khác

biệt. Tôi có thể chỉ biết vài điều, bạn có thể biết thêm

vài điều nữa, ai đó khác có thể biết cả nghìn lẻ một

điều, và ai đó khác có thể chỉ như đi dạo qua từ điển

bách khoa toàn thư Encyclopedia Britannica – điều đó

chẳng tạo nên khác biệt chút nào.

Phật không phải là con người của tri thức, ông ấy

là con người của hiểu biết – không tràn đầy thông tin

22

mà tràn đầy sáng suốt. Tràn đầy linh ảnh, không tràn

đầy ý nghĩ – sáng tỏ, sáng tỏ tựa tấm gương, và nhận

biết lớn.

Bạn đang đi như kẻ mộng du, người vừa đi vừa

ngủ. Bạn không biết điều mình đang làm, bạn không

biết tại sao bạn làm nó; bạn không biết mình đang đi

đâu, bạn không biết tại sao bạn đi. Cuộc sống của bạn

là ngẫu nhiên, và cuộc sống ngẫu nhiên là cuộc sống

vô ý thức – nó giống như người máy.

Một anh chàng ở nhà hát cùng vợ đi ra nhà vệ sinh

vào lúc nghỉ giữa giờ, nhưng đi nhầm cửa và thấy

mình đi ra vườn. Vì quá tiện để nghĩ tới việc dùng mặt

đất, anh ta nhấc một cây ra khỏi chậu hoa và đái vào

chậu nó, rồi đặt lại cây đó vào.

Anh ta trở về và thấy màn kịch tiếp đã bắt đầu.

“Điều gì đã xảy ra cho tới giờ trong màn này vậy?”

anh ta thì thào hỏi vợ.

“Anh nên biết,” cô ấy nói một cách lạnh nhạt.

“Anh đã ở trong đó đấy!”

Con người sống trong vô ý thức. Con người không

nhận biết, không nhận biết chút nào. Bạn có thể quan

sát bất kì người nào, bạn có thể quan sát bản thân

mình, dần dần, dần dần, và bạn sẽ thấy nhiều hành

động vô ý thức đang xảy ra đến mức gần như không

thể nào tin được làm sao bạn đã sống cho tới giờ. Bạn

nói dối chẳng vì lí do nào cả! Và khi bạn bắt quả tang

bản thân mình nói dối, bạn sẽ ngạc nhiên: sao mình nói

dối ngay chỗ đầu tiên? – bởi vì chẳng có lí do gì, bạn

không định thu được gì từ điều đó. Chỉ là thói quen,

23

chỉ là lệ thường máy móc. Bạn trở nên buồn chẳng vì lí

do nào cả.

Bây giờ có vài nhà nghiên cứu nói bạn có thể làm

lịch về tâm trạng bạn, và tôi thấy nghiên cứu của họ có

ý nghĩa – bạn thực sự có thể làm ra lịch về tâm trạng

bạn. Cứ viết ra trong một tháng mà xem: Thứ hai buổi

sáng bạn cảm thấy thế nào, và vào buổi chiều và vào

buổi tối và vào buổi đêm… ít nhất tám lần một ngày,

cứ ghi mọi ngày và đích xác cùng một giờ bạn cảm

thấy thế nào. Và trong vòng ba hay bốn tuần bạn sẽ

ngạc nhiên rằng vào mỗi thứ hai và cùng lúc bạn đều

cảm thấy đích xác cùng một tâm trạng.

Bây giờ điều này không thể thế được vì bất kì hoàn

cảnh nào bên ngoài, bởi vì mỗi thứ hai chúng là khác.

Nó là cái gì đó bên trong – mặc dầu bạn sẽ thấy những

cái cớ bên ngoài, bởi vì chẳng ai muốn cảm thấy có

trách nhiệm cho khổ riêng của mình. Điều cảm thấy tốt

là làm cho người khác cảm thấy có trách nhiệm về khổ

của bạn. Và bạn có thể tìm ra cớ, bạn thậm chí có thể

bịa ra chúng nếu chúng không có đó.

Đó là chỗ mọi người đã trở thành rất, rất sáng tạo.

Thực ra toàn thể tính sáng tạo của họ đều bao gồm

trong việc tạo ra cớ: “Sao mình buồn?” và bạn có thể

tìm thấy cả nghìn lẻ một lí do. Vợ bạn nói điều này và

con cái không cư xử đúng và hàng xóm và ông chủ ở

văn phòng và giao thông và giá cả đang lên cao… và

bạn có thể tìm ra cả nghìn lẻ một thứ; chúng bao giờ

cũng có đó. Và bạn có thể vẽ ra cả thế giới rất ảm đạm,

đen tối, và thế rồi bạn có thể cảm thấy thoải mái rằng

đấy không phải là trách nhiệm của bạn mà bạn buồn.

Nhưng vẫn cùng thế giới đó, và sáng thứ ba bạn

cảm thấy rất sôi nổi, rất vui vẻ, rạng ngời – lần nữa bạn

24

có thể tìm ra cớ: “Hôm nay là buổi sáng đẹp trời, và

mặt trời cùng chim chóc và cây cối và bầu trời, và tất

cả đều đầy ánh sáng – sáng đẹp thế!” Bạn có thể tìm ra

cớ cho mọi loại tâm trạng, nhưng nếu bạn viết nhật kí

trong bốn tuần bạn sẽ thực sự thấy choáng rằng mọi

thứ xảy ra cho bạn gần như phụ thuộc vào bạn. Bạn có

bánh xe bên trong cứ quay mãi, và cùng cái nan hoa đó

cứ lên đến đỉnh lặp đi lặp lại.

Vâng, có những hoàn cảnh bên ngoài, nhưng

chúng không phải là nguyên nhân; nhiều nhất chúng

làm lẩy cò. Một tâm trạng nào đó nhất định xảy ra

được lẩy cò bởi hoàn cảnh nào đó. Nếu hoàn cảnh này

không có đó, cái gì đó khác sẽ thành điểm lẩy cò –

nhưng nó nhất định được lẩy cò.

Những người đã sống trong cô lập đều trở nên

nhận biết về sự kiện này. Phật hay phái các đệ tử của

ông ấy tới những nơi cô lập. Trong công xã mới chúng

ta sẽ có các hầm dưới đất cho nên tôi có thể cử bạn tới

chỗ cô lập trong một tháng – tuyệt đối cô lập. Bạn biến

mất khỏi thế giới, cho nên bạn không thể đổ tại bất kì

hoàn cảnh nào bên ngoài bởi vì không có gì bên ngoài

cả… bạn và những bức tường của hầm. Và bạn sẽ ngạc

nhiên: một hôm bạn hạnh phúc, một hôm bạn bất hạnh,

một hôm bạn cảm thấy rất tham lam, một hôm bạn

cảm thấy giận dữ và không có ai đã xúc phạm bạn,

chọc giận bạn. Một hôm bạn sẽ thấy bạn đang tự mình

nói dối cho mình vì bạn không thể tìm ra bất kì ai

khác.

“Tôi có thể mua đồ uống cho cô được không?” anh

ta hỏi, bằng cách gợi lên cuộc đối thoại.

25

“Không, cám ơn ông,” cô ấy nói. “Tôi không

uống.”

“Thế ăn tối chút ít với tôi trong phòng tôi vậy?”

“Không, tôi không nghĩ điều đó sẽ thích hợp,” cô

ấy nói.

Không có kết quả gì với cách tiếp cận tinh tế hơn,

chàng thanh niên đi thẳng vào vấn đề: “Tôi bị say đắm

bởi cái đẹp tươi mát của cô, thưa cô, và tôi sẽ cho cô

bất kì cái gì trái tim cô mong ước nếu cô dành một

đêm với tôi.”

“Ô, không, không thưa ông, tôi không bao giờ làm

điều như vậy đâu.”

“Nói cho tôi đi,” anh thanh niên nói vừa cười, “cô

không bao giờ làm cái gì hơi chút không đúng sao?”

“Vâng,” cô gái Pháp nói, “tôi nói dối.”

Bạn quan sát bao nhiêu lần trong ngày việc bạn nói

dối – và chẳng vì lí do gì chút nào – và bao nhiêu lần

bạn trở nên giận dữ, chẳng lí do chút nào, và thế rồi

bạn sẽ thấy mình đang sống trong thế giới bên trong,

thế giới chủ thể của riêng bạn. Hiểu biết nghĩa là hiểu

những điều nền tảng này của việc vận hành của cuộc

sống. Và nếu bạn hiểu những điều nền tảng này, biến

đổi là không khó khăn. Thực ra, bản thân hiểu biết trở

thành việc biến đổi.

Làm sao tâm trí rối loạn

hiểu con đường?

Nếu một người bị rối loạn

26

Người đó sẽ không bao giờ được tràn đầy với tri

thức.

Từ ‘tri thức’ không ngụ ý điều bạn ngụ ý bởi tri

thức. Khi Phật dùng từ ‘tri thức’ ông ấy ngụ ý trí huệ,

không phải thông tin; ông ấy ngụ ý việc biết, không

phải tri thức.

Nếu một người bị rối loạn… đang trong xung đột,

đang trong lẫn lộn, đang trong phân chia, bị chia chẻ ở

bên trong, nếu một người là đám đông bên trong…

Người đó sẽ không bao giờ được tràn đầy với trí huệ.

Trí huệ cần thống nhất, trí huệ cần tích hợp, trí huệ

cần kết tinh của nhận biết, của tính quan sát, của việc

quan sát hành động của bạn, tâm trạng của bạn, ý nghĩ

của bạn, xúc động của bạn… quan sát mọi thứ đang

xảy ra trong thế giới bên trong của bạn. Chỉ bằng việc

quan sát nó, phép màu bắt đầu xảy ra. Nếu bạn bắt đầu

thấy rằng bạn nói dối chẳng bởi lí do gì cả, chính nhận

biết đó sẽ trở thành trở ngại. Lần sau bạn ở ngay bên

bờ nói dối thì một giọng nói bên trong bạn sẽ nói,

“Quan sát đi, cẩn thận vào – mình đang đi vào trong

bẫy lần nữa.” Lần sau bạn đang rơi vào trong buồn rầu,

cái gì đó bên trong bạn sẽ làm cho bạn tỉnh táo, sẽ báo

động bạn.

Đây là con đường của việc biến đổi năng lượng

của bạn – aes dhammo sanantano. Aes maggo

visuddhya – đây là cách làm thuần khiết, đây là luật

vĩnh hằng của biến đổi.

Tâm trí không rối loạn,

không còn tìm kiếm xem xét

cái gì là phải và cái gì là trái,

27

Tâm trí vượt ra ngoài mọi phán xét,

quan sát và hiểu.

Cho nên yêu cầu đầu tiên cho sannyasin là: Tâm

trí không rối loạn, không còn tìm kiếm xem xét cái gì

là phải và cái gì là trái…

Một phát biểu cực kì quan trọng và cách mạng.

Phật đang nói: Đừng xét cái gì là phải và cái gì là trái,

bởi vì nếu bạn xét cái gì là phải và cái gì là trái, bạn sẽ

bị phân chia, bạn sẽ trở thành kẻ đạo đức giả. Bạn sẽ

giả vờ là cái phải và bạn sẽ làm cái trái. Và khoảnh

khắc bạn xét cái gì là phải và cái gì là trái, bạn trở nên

bị gắn bó, bạn trở nên bị đồng nhất. Bạn chắc chắn trở

thành bị đồng nhất với cái phải.

Chẳng hạn, bạn thấy bên đường một tờ bạc một

trăm ru pi; nó thể đã rơi ra từ túi ai đó. Bây giờ câu hỏi

nảy sinh: Lấy nó hay không lấy nó? Một phần của bạn

nói, “Lấy nó là hoàn toàn phải rồi. Chẳng ai thấy cả,

chẳng ai bao giờ nghi ngờ. Và mình có ăn cắp đâu – nó

chỉ nằm đấy thôi! Nếu mình không lấy nó, ai đó khác

đằng nào cũng sẽ lấy nó thôi. Cho nên tại sao bỏ lỡ

nó? Lấy là hoàn toàn phải đấy!”

Nhưng một phần khác nói, “Điều này là sai – tiền

này đâu có thuộc vào mình, nó không phải là của

mình. Theo một cách nào đó, một cách gián tiếp, đó là

ăn cắp. Mình phải báo cho cảnh sát, hay nếu mình

không muốn bị bận tâm với nó, cứ đi tiếp, quên hết nó

đi. Thậm chí không nhìn nữa. Đây là tham và tham là

tội lỗi!”

Bây giờ, hai tâm trí này có đó. Một bên nói, “Điều

đó đúng rồi, lấy đi,” bên kia nói, “Điều đó sai rồi, đừng

lấy.” Bạn sẽ đồng nhất bản thân mình với tâm trí nào?

28

Bạn chắc chắn sẽ đồng nhất với tâm trí nói điều đó là

vô đạo đức, bởi vì điều đó thoả mãn bản ngã hơn.

“Mình là con người đạo đức, mình đâu có là người

thường; bất kì ai khác cũng sẽ lấy tờ một trăm ru pi

này. Trong những thời khó khăn thế, mọi người không

nghĩ tới điều tinh tế như thế.” Bạn sẽ đồng nhất bản

thân mình với tâm trí đạo đức. Nhưng có mọi khả năng

bạn sẽ lấy tờ bạc này. Bạn sẽ đồng nhất bản thân mình

với tâm trí đạo đức, và bạn sẽ không đồng nhất bản

thân mình với tâm trí sẽ lấy tờ bạc. Bạn sẽ lên án nó từ

sâu bên dưới; bạn sẽ nói, “Điều đó là không đúng – đó

là phần tội lỗi của mình, phần thấp kém, phần bị kết

án.” Bạn sẽ giữ cho mình tách rời nó. Bạn sẽ nói,

“Mình chống lại điều đó. Nó là bản năng của mình, nó

là vô thức của mình, nó là thân thể mình, nó là tâm trí

mình, cái đã thuyết phục mình làm điều đó; bằng

không, mình đã biết nó rồi, rằng nó là sai. Mình là

người biết rằng nó là sai.”

Bạn bao giờ cũng đồng nhất bản thân mình với cái

đúng, thái độ đạo đức, và bạn không đồng nhất với

hành động vô đạo đức – mặc dầu bạn làm điều đó. Đây

là cách đạo đức giả phát sinh.

Thánh Augustine đã nói trong buổi thú tội của

mình: Lạy chúa, xin tha thứ cho con, bởi vì con cứ làm

những điều con biết con không nên làm, và con không

làm những điều con biết con phải làm.

Đây là xung đột, đây là cách người ta trở nên bị rối

loạn. Do đó Phật cho bạn một chìa khoá bí mật. Đây là

chiếc chìa khoá đó, cái có thể đưa bạn ra khỏi mọi sự

đồng nhất: đừng bị đồng nhất với tâm trí đạo đức – bởi

vì điều đó nữa cũng là một phần của tâm trí. Đấy là

cùng một trò chơi: phần này nói tốt, phần khác nói xấu

29

– đấy là cùng tâm trí tạo ra xung đột trong bạn. Tâm trí

bao giờ cũng hai mặt. Tâm trí sống trong các cực đối

lập. Nó yêu và nó ghét cùng một người; nó muốn làm

hành động này và nó không muốn làm hành động đó.

Nó là xung đột, tâm trí là xung đột. Đừng bị đồng nhất

với cả hai.

Phật nói: Trở thành chỉ là việc quan quan sát. Thấy

rằng phần này đang nói cái này, phần kia đang nói cái

kia. “Mình không là cả hai – neti, neti, không cái này

không cái nọ – mình chỉ là nhân chứng.” Chỉ thế thì

mới có khả năng rằng hiểu biết sẽ nảy sinh.

Tâm trí không rối loạn,

không còn tìm kiếm xem xét

cái gì là phải và cái gì là trái,

Tâm trí vượt ra ngoài mọi phán xét,

quan sát và hiểu.

Vượt ra ngoài phán xét về tốt và xấu là con đường

của quan sát. Và chính là qua quan sát mà biến đổi xảy

  1. Đây là khác biệt giữa đạo đức và tôn giáo. Đạo đức

nói, “Chọn điều phải và bỏ điều trái. Chọn cái tốt và

bỏ cái xấu.” Tôn giáo nói, “Đơn giản quan sát cả hai.

Không chọn cái nào. Vẫn còn trong tâm thức vô chọn

lựa.”

Tôn giáo là rất, rất khác với đạo đức. Đạo đức là

rất tầm thường, trần tục, xoàng xĩnh; đạo đức không

thể đưa bạn tới điều tối thượng, nó không phải là con

đường của điều thiêng liêng. Đạo đức chỉ là chiến lược

của xã hội. Đó là lí do tại sao điều này là đúng trong

xã hội này và cũng điều đó là sai trong xã hội khác;

một điều được coi là tốt ở Ấn Độ và cùng điều đó bị

coi là xấu ở Nhật Bản. Một điều được coi là tốt hôm

30

nay và có thể trở thành sai ngày mai. Đạo đức là sản

phẩm phụ của xã hội, nó là chiến lược của xã hội để

kiểm soát. Nó là viên cảnh sát bên trong bạn, viên

quan toà bên trong bạn – nó là thủ đoạn của xã hội để

thôi miên bạn theo những quan niệm nào đó mà xã hội

muốn áp đặt lên mọi người. Cho nên nếu bạn được

sinh ra trong gia đình ăn chay, người không ăn chay là

kẻ tội lỗi lớn nhất.

Một sư Jaina có lần bảo tôi rằng “Tôi thích sách

của ông, nhưng sao ông nhắc tới cả Jesus, Mohammed

và Ramakrishna cùng với Mahavira? Ông không nên

nhắc tới họ theo cùng một hàng. Mahavira là Mahavira

– làm sao có thể so sánh ông ấy và đặt ông ấy theo

cùng cách, theo cùng phân loại với Jesus, Mohammed

và Ramakrishna được?”

Tôi nói, “Sao không?”

Ông ta nói, “Jesus uống rượu này, ăn thịt này – còn

tội lỗi nào lớn hơn mà người ta có thể phạm phải

nữa?”

Mohammed ăn thịt và lấy chín đàn bà! Người ta

phải từ bỏ đàn bà – đây không chỉ một mà những chín!

Con số hoàn hảo. Thực ra, không có số thêm nữa; chín

là số cuối cùng, thế rồi lặp cùng số…

“Mohammed lấy chín đàn bà, là người ăn thịt nữa –

làm sao ông đặt Mohammed bằng Mahavira được? Và

làm sao ông đặt Ramakrishna ngang bằng Mahavira

được? Ông ấy hay ăn cá.”

Người Bengali thì nhất định là ăn cá rồi.

Chỉ trích duy nhất của ông ta về sách của tôi là ở

chỗ tôi đã đặt những người này cùng nhau.

31

Bây giờ hỏi người Ki tô giáo… Có lần tôi đã hỏi

một nhà truyền giáo Ki tô giáo, “Ông nói gì về sư

Jaina này? Ông ta đã nói điều này… ông có phản đối gì

không?”

Ông ta nói, “Chắc chắn! Làm sao ông đặt

Mahavira ngang bằng Jesus được? Jesus đã sống vì

nhân loại, đã hi sinh đời mình vì nhân loại – Mahavira

đã làm được gì? Mahavira cực kì ích kỉ, ông ấy chỉ

nghĩ tới mỗi cứu rỗi của riêng ông ấy Ông ấy chẳng

quan tâm tới người khác! Ông ấy chưa bao giờ chữa

lành cho người mù, ông ấy chưa bao giờ dựng dậy

người chết từ cái chết. Ông ấy chỉ thiền trong mười hai

năm trên núi non, trong rừng rậm – còn gì ích kỉ hơn

thế nữa…? Và thế giới này đang đau khổ và mọi người

đang trong nỗi đau lớn, còn ông ấy không tới an ủi họ.

Cái gì xa hoa hơn có thể có đó? Chỉ thiền bên sông

trong rừng – còn gì xa hoa hơn! Ông ấy đã làm gì cho

nhân loại đáng thương này? Jesus đã hi sinh bản thân

mình – ông ấy đã sống và đã chết cho người khác.

Toàn bộ cuộc sống của ông ấy không là gì ngoài sự hi

sinh thuần khiết. Làm sao ông có thể đặt Mahavira

ngang bằng với Jesus được?”

Và ông ấy nữa cũng dường như phải. Bây giờ, bạn

quyết định thế nào? Phật chưa bao giờ chữa cho người

bệnh, người mù, người điếc, người câm – chỉ thiền.

Dường như ích kỉ quá! Ông ấy đáng phải mở bệnh

viện chứ, hay ít nhất thì cũng mở trường học; phải

phân phối thuốc, phải đi vào những vùng lụt lội và cứu

trợ mọi người… ông ấy chưa bao giờ làm cái gì như thế

cả. Đây là cái loại tâm linh gì vậy? Theo người Ki tô

giáo, điều đó thuần tuý ích kỉ.

32

Bây giờ, ai đúng? Và ai sẽ quyết định? Chúng ta

sống theo định kiến của chúng ta.

Sư Jaina này sai và nhà truyền giáo Ki tô giáo này

cũng sai, bởi vì cả hai đều phán xét – và phán xét là

sai. Jesus là Jesus – ông ấy sống theo cách riêng của

ông ấy. Phật là Phật – ông ấy sống theo cách riêng của

ông ấy. Các cá tính duy nhất, các cách diễn đạt duy

nhất của Thượng đế. Không ai là bản sao của người

khác, và không ai cần là bản sao của người khác. Và

điều tuyệt vời là ở chỗ thế giới có đa dạng. Nếu như

chỉ có các Jesus và các Jesus lặp đi lặp lại, họ sẽ trông

giống như các xe Ford ra từ dây chuyền lắp ráp – mỗi

giây một xe Ford xuất xưởng, hệt nhau, đích xác cùng

như nhau. Điều tuyệt vời là Jesus là một và đơn giản là

một và không lặp lại. Và điều tốt là Phật là mỗi mình

và không lặp lại.

Người tôn giáo thực sự có cách tiếp cận không

phán xét. Nhà đạo đức không thể tránh được việc phán

xét, ông ta trở thành quan toà. Bây giờ, sư Jaina này,

một người bình thường, ngu xuẩn, sẵn sàng phán xét

Jesus, Ramakrishna, Mohammed. Ông ta chẳng biết gì,

chẳng hiểu gì, chưa bao giờ thiền – chưa hiểu được bản

thân mình. Đó là lí do tại sao ông ta đã tới tôi.

Ông ta đã tới tôi để hiểu thiền là gì và làm sao

thiền. Thiền vẫn chưa xảy ra, nhưng phán xét đã có đó

rồi – và ông ta sẵn sàng phán xét ngay cả người như

Jesus, mà thậm chí không thấy xấu hổ về điều ông ta

làm, không dụt dè, rất cao ngạo. Và đấy cũng là trường

hợp với nhà truyền giáo Ki tô giáo này! Ông ấy chẳng

biết gì về thiền, điều Phật đang làm, điều Mahavira

đang làm. Ông ấy chẳng biết gì về những con đường

tinh tế mà theo đó vị phật hành động. Việc trở nên

33

chứng ngộ của ông ấy là phục vụ vĩ đại nhất có thể có

cho nhân loại – không gì hơn có thể được làm. Ông ấy

chắc chắn không chữa được con mắt vật lí, nhưng ông

ấy là người đã chữa con mắt tâm linh của hàng nghìn

người – và đó là phục vụ thực! Ông ấy đã làm cho

hàng nghìn người nghe, lắng nghe, hiểu – đó là phục

vụ thực.

Nhưng nhà truyền giáo Ki tô giáo này, bởi vì ông

ta cai quản một trường phổ thông và một bệnh viện,

nên cứ cho mình là ai đó có quyền phán xét. Các nhà

đạo đức bao giờ cũng phán xét, người tôn giáo không

bao giờ phán xét. Người đó sống trong tâm thức vô

phán xét.

Tâm trí vượt ra ngoài mọi phán xét, quan sát và

hiểu. Người đó đơn giản quan sát và hiểu. Nếu Phật

bắt gặp Jesus, ông ấy chắc hiểu ngay; nếu Jesus bắt

gặp Mahavira, ông ấy chắc hiểu ngay. Chỉ quan sát,

thấy và có hiểu biết.

Biết rằng thân thể là cái bình mảnh mai,

và tạo nên lâu đài của tâm trí ông.

Với ‘tâm trí’ Phật ngụ ý tâm thức. Với ‘tâm trí’ Phật

ngụ ý Tâm trí với chữ T hoa – không phải là tâm trí

thường mà bạn có mà là Tâm trí xảy ra khi mọi ý nghĩ

đều đã biến mất, khi tâm trí hoàn toàn trống rỗng ý

nghĩ. Làm ra lâu đài của Tâm trí của bạn đi bởi vì thân

thể này sắp sửa chết – đừng phụ thuộc vào nó.

Trong mọi thử thách

để hiểu biết tranh đấu cho ông

để bảo vệ điều ông có được.

34

Và liên tục nhớ lấy, bởi vì cuộc tranh đấu là lâu

dài, và cuộc hành trình là gian nam. Nhiều lần bạn sẽ

ngã và quên, nhiều lần bạn sẽ bắt đầu phán xét. Nhiều

lần bạn sẽ bắt đầu bị đồng nhất với cái này cái nọ,

nhiều lần bản ngã sẽ tự khẳng định nó lặp đi lặp lại.

Bất kì khi nào bản ngã tự khẳng định nó, bất kì khi nào

đồng nhất xảy ra, bất kì khi nào phán xét nảy sinh,

ngay lập tức nhớ: quan sát, đơn giản quan sát, và sẽ có

hiểu biết.

Và hiểu biết là bí mật của biến đổi. Nếu bạn có thể

hiểu được giận dữ, lập tức bạn sẽ được mưa rào lên

bằng từ bi. Nếu bạn có thể hiểu được dục, lập tức bạn

sẽ đạt tới samadhi. ‘Hiểu biết’ là từ quan trọng nhất cần

nhớ.

Vì chẳng mấy chốc thân thể này sẽ bị bỏ đi.

Vậy nó cảm thấy cái gì?

Khúc gỗ vô dụng, nằm trên đất.

Vậy nó biết gì?

Đừng phụ thuộc vào thân thể và đừng vẫn còn bị

giam cầm trong thân thể. Dùng nó, kính trọng nó, yêu

thương nó, chăm sóc nó, nhưng nhớ: bạn phải rời bỏ

nó một ngày nào đó. Nó chỉ là cái lồng, nó sẽ bị bỏ

đằng sau, và con chim sẽ ra đi. Trước khi điều đó xảy

ra, chăm nom cho con chim nữa. Lau sạch tâm thức

bạn, bởi vì nó sẽ đi cùng bạn. Hiểu biết của bạn sẽ đi

cùng bạn, không cùng thân thể bạn.

Cho nên đừng phí thời gian quá nhiều trong việc

trang trí cho nó bằng mĩ phẩm trang điểm, bằng quần

áo, bằng đồ trang sức – đừng phí quá nhiều thời gian

với thân thể, bởi vì thân thể thuộc về đất và đất sẽ đòi

35

nó lại. Cát bụi trở về với cát bụi. Bạn không thuộc vào

đất, bạn thuộc vào cõi bên kia nào đó, chỗ nào đó

không biết. Nhà bạn là ở trong cái không biết, ở đây

bạn chỉ là khách thăm. Tận hưởng cuộc viếng thăm

này và dùng nó nhiều nhất có thể được để trưởng thành

trong hiểu biết và chín muồi, để cho bạn có thể đem về

nhà chín chắn của bạn, hiểu biết của bạn, trí huệ của

bạn.

Kẻ thù tồi tệ nhất của ông không thể làm hại ông

nhiều như các ý nghĩ riêng, khinh suất của ông.

Khi các ý nghĩ không được canh giữ, không được

quan sát, tâm trí bạn là kẻ thù lớn nhất của bạn.

Nhưng một khi bị nó khống chế,

không ai có thể giúp ông được mấy,

cho dù cả bố hay mẹ ông.

Nhưng cùng tâm trí đó, nếu bị làm chủ – bị làm

chủ bởi tính quan sát, bị làm chủ bởi thiền – được biến

đổi. Nó trở thành người bạn lớn lao nhất. Không ai có

thể giúp bạn được nhiều như nó.

Tâm trí là chiếc thang: không được canh giữ nó

đưa bạn đi xuống, được canh giữ nó đưa bạn đi lên.

Vẫn cùng chiếc thang đó! Tâm trí là cánh cửa: không

được canh giữ nó đưa bạn ra ngoài, được canh giữ nó

đưa bạn vào trong. Cùng tâm trí đó không được canh

giữ trở thành giận dữ, hận thù, ghen tị; được canh giữ

nó trở thành từ bi, tình yêu, ánh sáng.

Có tính quan sát, thức tỉnh, tỉnh táo, không phán

xét đi. Đừng là nhà đạo đức: tạo ra tâm thức tôn giáo.

Và với “tâm thức tôn giáo” điều đó được ngụ ý nhận

36

biết vô chọn lựa. Để cho cụm từ này chìm sâu vào

trong tim bạn: nhận biết vô chọn lựa. Đây là chính tinh

tuý của giáo huấn của Phật – aes dhammo sanantano.

 

Dhammapada

CON ĐƯỜNG CỦA PHẬT

¨

ĐÂY LÀ CON ĐƯỜNG

ĐI TỚI CHÂN LÍ TỐI THƯỢNG

Tập 2 ( tiếp theo )

3
Và đi tiếp
Ai sẽ chinh phục thế giới này
Và thế giới của chết với mọi thần của nó?
Ai sẽ khám phá ra
Con đường chói sáng của luật?
Ông sẽ, ngay cả như người
tìm hoa,
tìm thấy đoá hoa đẹp nhất,
hiếm nhất.
Hiểu rằng thân thể
Đơn thuần là bọt sóng,
Cái bóng của cái bóng.
Chộp lấy mũi tên hoa của ham muốn
Và rồi, vô hình,
Thoát khỏi Diêm vương.
Và đi tiếp.
Cái chết bắt người
74
thu nhặt hoa
Khi với tâm trí phân tán và giác quan thèm khát
Người đó tìm vô vọng về hạnh phúc
Trong hoan lạc của thế giới.
Cái chết bắt lấy người đó đi
Như trận lụt mang đi cả làng đang ngủ.
Cái chết đánh bại người đó
Khi với tâm trí phân tán và giác quan thèm khát
Người đó thu nhặt hoa.
Người đó sẽ chẳng bao giờ có thoả thích
hoan lạc của thế giới.
Ong hút mật hoa từ hoa
Không làm hỏng cái đẹp hay hương thơm của nó.
cho nên để người chủ định cư, và lang thang.
Nhìn vào lỗi riêng của ông,
Điều ông đã làm hoặc bỏ không làm.
Bỏ qua lỗi lầm của người khác.
Giống như đoá hoa đáng yêu,
Sáng chói nhưng không thơm,
Là lời đẹp nhưng trống rỗng
Về người không ngụ ý điều mình nói.
Giống như đoá hoa đáng yêu,
Sáng chói và thơm ngát,
Là lời đẹp và chân lí
Của người ngụ ý điều mình nói.
Giống như vòng hoa được kết từ đống hoa,
Kiểu cách từ cuộc sống của ông được kết như
nhiều việc làm tốt.
75
Lời kinh. Phật nói:
Ai sẽ chinh phục thế giới này
Và thế giới của chết với mọi thần của nó?
Ai sẽ khám phá ra
Con đường chói sáng của luật?

85

Ông ấy đang ném thách thức vào bạn đấy. Ông ấy

đang nêu ra một câu hỏi trong tim bạn. Ông ấy đang

hỏi: Ai sẽ chinh phục thế giới này và thế giới của chết

với mọi thần của nó?

Thế giới này là thế giới của chết, và các thần mà

bạn đã tạo ra từ tưởng tượng của bạn đều là một phần

của thế giới này – chúng sẽ chết. Bạn, thế giới của bạn,

các thần của bạn, chúng tất cả đều sẽ chết, bởi vì thế

giới này được tạo ra bởi ham muốn của bạn, và các

thần này cũng được tạo ra bởi ham muốn và tưởng

tượng của bạn.

Bạn không biết mình là ai – làm sao bạn có thể biết

Thượng đế thực? Và làm sao bạn có thể biết thế giới

thực? Bất kì cái gì bạn biết đều là phóng chiếu, là một

loại mơ. Vâng, khi mơ có đó, nó có vẻ thật. Mọi đêm

bạn đều mơ, và bạn biết rằng trong mơ bạn không bao

giờ nghi ngờ nó cả, bạn không bao giờ hoài nghi nó,

bạn không bao giờ nêu ra câu hỏi.

Gurdjieff thường nói với các đệ tử của ông ấy,

“Mọi đêm khi các ông đi ngủ, khi các ông chỉ ngay

bên bờ và bức màn của giấc ngủ sắp sửa buông xuống

các ông, các ông vẫn còn nhớ được chút ít, chưa chìm

ngập trong bóng tối của giấc ngủ, một chút ít của nhận

biết, và giấc ngủ đang tới… những khoảnh khắc đó,

những khoảng đó giữa thức và ngủ,” Gurdjieff thường

nói, “những khoảnh khắc đó là rất có ý nghĩa. Nêu ra

câu hỏi trong tâm trí ông và cứ lặp nó trong khi các

ông đang rơi vào giấc ngủ. Một câu hỏi đơn giản: Nó

có thực không? Nó có dành cho cái thực không? Cứ

lặp câu hỏi này trong khi các ông đang chìm vào giấc

ngủ, để cho một ngày nào đó trong mơ các ông có thể

86

hỏi: Nó có thực không?” Ngày đó đem lại phúc lành

lớn.

Nếu bạn có thể hỏi trong mơ, “Nó có thực không?”

mơ lập tức biến mất. Ở đây bạn hỏi, và ở kia mơ

không còn nữa. Đột nhiên thức tỉnh lớn lao xảy ra bên

trong. Trong giấc ngủ bạn trở nên tỉnh táo. Việc ngủ

tiếp tục; do đó có cái đẹp vô cùng của kinh nghiệm của

nó. Việc ngủ tiếp tục; thân thể vẫn còn ngủ, tâm trí vẫn

còn ngủ, nhưng cái gì đó bên ngoài thân thể và tâm trí

trở nên tỉnh táo; một nhân chứng nảy sinh trong bạn.

“Nó có thực không?” – nếu bạn hỏi điều đó trong mơ

của mình… rất khó nhớ bởi vì khi bạn đang mơ bạn đã

quên hoàn toàn bản thân mình. Do đó có phương cách

này – trong khi rơi vào giấc ngủ, cứ lặp câu hỏi này:

Nó có thực không? Nó có thực không? Rơi vào giấc

ngủ vẫn lặp câu hỏi này.

Ở đâu đó giữa ba và chín tháng, một ngày nào đó

điều đó xảy ra – trong mơ đột nhiên câu hỏi này nảy

sinh: Nó có thực không? và bạn có một trong những

kinh nghiệm sâu sắc nhất của cuộc đời bạn. Khoảnh

khắc câu hỏi này nảy sinh, mơ lập tức biến mất, và có

trống rỗng và im lặng hoàn toàn. Giấc ngủ có đó vậy

mà một ánh sáng nhỏ của nhận biết đã xảy ra.

Và chỉ thế thì bạn sẽ nhận biết về cuộc sống này và

tính ảo tưởng của nó; thế thì bạn sẽ có khả năng thấy

rằng thế giới của ham muốn, ghen tị, tham vọng, chỉ là

mơ được thấy bằng mắt mở. Và nếu bạn có thể thấy

rằng thế giới này cũng là mơ, bạn đang trên bờ của

chứng ngộ.

Nhưng nhớ lấy, tin không có ích gì cả. Bạn có thể

tin thế giới này là ảo tưởng – ở Ấn Độ hàng triệu người

tin và lặp liên tục, như vẹt: “Thế giới này là maya, ảo

87

tưởng” – thế này thế nọ. Và điều họ nói toàn là rác

rưởi, vô nghĩa, bởi vì đấy không phải là kinh nghiệm

đích thực của họ. Họ đã nghe mọi người nói điều đó,

và họ lặp lại. Họ không biết theo cách riêng của họ, họ

không phải là nhân chứng cho điều đó; do đó nó chẳng

bao giờ thay đổi các kiếp sống của họ. Họ cứ lặp lại,

“Thế giới này là không thực,” và họ cứ sống trong thế

giới này cũng như những người nghĩ nó là thực –

không khác biệt gì, không khác gì về chất.

Khác biệt là gì giữa người duy vật và cái gọi là

người tôn giáo? Khác biệt gì? Bởi vì người đó tới nhà

thờ mọi chủ nhật sao? hay bởi vì người đó thỉnh

thoảng đi tới đền chùa? Đấy là khác biệt duy nhất;

bằng không, trong cuộc sống thực, bạn sẽ thấy họ đích

xác như nhau. Đôi khi người phi tôn giáo có thể chân

thực hơn, đích thực hơn, chân thành hơn, đúng đắn

hơn người tôn giáo – bởi vì người tôn giáo đã không

chân thực trong khi có tính tôn giáo mà không có kinh

nghiệm nào của riêng mình. Tính tôn giáo của người

đó dựa trên sự không chân thực; người đó đã phạm

phải sự không chân thực lớn nhất mà con người có thể

phạm phải: người đó tin vào Thượng đế và người đó

chẳng biết gì về Thượng đế; người đó tin vào cuộc

sống vĩnh hằng và người đó không thưởng thức nó.

Người đó đã không thấy gì, vậy mà người đó cứ giả

vờ. Tính tôn giáo của người đó về cơ bản là không

chân thực; do đó không có kinh ngạc, không có ngạc

nhiên rằng trong cái gọi là những đất nước tôn giáo đó

như Ấn Độ, bạn sẽ thấy mọi người không chân thực

hơn cái gọi là các quốc gia duy vật của phương Tây.

Người duy vật phương Tây là chân thành hơn.

Người tôn giáo Ấn Độ rất tầm thường, không chân

thực, lừa dối, bởi vì nếu bạn có thể lừa được Thượng

88

đế, bạn sẽ bỏ quên ai? Nếu tôn giáo của bạn là giả,

toàn thể cuộc sống của bạn sẽ là giả. Người có can

đảm nói, “Chừng nào tôi chưa biết Thượng đế tôi sẽ

không tin đâu,” là người chân thành, chân thực ngầm.

Đây là quan sát của tôi: rằng những người vô thần có

nhiều khả năng để biết Thượng đế hơn cái gọi là người

hữu thần.

Ai sẽ chinh phục thế giới này

Và thế giới của cái chết với mọi thần của nó?

Ai sẽ khám phá ra

Con đường chói sáng của luật?

Aes dhammo sanantano – ai sẽ phát hiện ra luật

vĩnh hằng, không cạn? Aes maggo visuddhya – ai sẽ

tìm ra con đường của sự thuần khiết vĩnh hằng, của

hồn nhiên vĩnh hằng? Ai? Phật ném vào bạn một thách

thức và nói:

Ông sẽ, đúng như người

tìm hoa,

tìm thấy đoá hoa đẹp nhất,

hiếm nhất.

Vâng, bạn có thể chinh phục thế giới này của cái

chết – bởi vì tại cốt lõi sâu nhất của bản thể mình, bạn

là một phần của vĩnh hằng, bạn không phải là một

phần của thời gian. Bạn tồn tại trong thời gian, nhưng

bạn thuộc vào vĩnh hằng. Bạn là việc xuyên thấu của

vĩnh hằng vào trong thế giới của thời gian. Bạn là bất

tử, sống trong thân thể của cái chết. Tâm thức bạn

không biết tới chết, không biết tới sinh. Chính là chỉ

mỗi thân thể bạn mới được sinh ra và chết đi. Nhưng

89

bạn không nhận biết về tâm thức bạn; bạn không ý

thức tới tâm thức bạn.

Và đó là toàn thể nghệ thuật của thiền: trở nên có ý

thức về bản thân tâm thức. Khoảnh khắc bạn biết ai

đang ngụ bên trong thân thể, bạn là ai, trong chính

khải lộ đó bạn đã siêu việt lên trên cái chết và thế giới

của cái chết. Bạn đã siêu việt lên trên mọi cái nhất

thời.

Ông sẽ, cũng hệt đúng như người tìm hoa, tìm thấy

đoá hoa đẹp nhất, hiếm nhất.

Jesus nói: tìm và ông sẽ thấy, hỏi và điều đó sẽ

được trao cho ông, gõ cửa và cửa sẽ mở ra cho ông.

Cuộc truy tìm lớn lao là cần thiết, việc tìm kiếm

lớn lao là cần thiết. Cũng như cuộc truy tìm khoa học

vào thế giới khách quan, tôn giáo là cuộc truy tìm vào

tính chủ quan. Khoa học truy tìm vào cái bạn thấy, và

tôn giáo truy tìm vào bản thân người thấy. Tất nhiên

tôn giáo là khoa học của khoa học.

Khoa học không bao giờ có thể quan trọng hơn tôn

giáo; không thể có chuyện khoa học quan trọng hơn

tôn giáo, bởi vì khoa học sau rốt là nỗ lực của con

người. Đó là điều bạn làm – nhưng ai là người làm bên

trong bạn? Người làm không bao giờ có thể kém hơn

việc làm của người đó. Hoạ sĩ không bao giờ có thể

kém hơn bức vẽ của mình, và nhà thơ không bao giờ

có thể kém hơn thơ ca của mình. Nhà khoa học biết về

thế giới nhưng chẳng biết gì về bản thân nhà khoa học

cả.

Albert Einstein trong những ngày cuối của mình

thường nói, “Đôi khi tôi hoài nghi cuộc đời mình đã bị

phí hoài. Tôi đã truy tìm vào chỗ xa nhất của các ngôi

90

sao và quên mất hoàn toàn việc truy tìm vào bản thân

tôi – và tôi là ngôi sao gần nhất!”

Chỉ bởi vì chúng ta có ý thức, chúng ta coi nó như

đương nhiên – thiền nhân không bao giờ coi nó được

đương nhiên. Ông ấy đi vào, ông ấy gõ cửa bản thể

bên trong riêng của mình, ông ấy tìm và kiếm ở bên

trong, ông ấy không để một hòn đá nào chưa được lật

lên. Ông ấy đi vào trong bản thể riêng của mình. Và sự

hoàn thành của ông ấy là lớn lao, bởi vì ông ấy đã tìm

ra điều hiếm hoi nhất. Vâng, có nhiều hoa, nhưng

không có hoa nào như hoa của tâm thức bạn. Nó là

hiếm hoi nhất – nó là hoa sen một nghìn cánh, nó là sen

vàng, kim liên. Chừng nào người ta chưa biết tới nó,

người ta chẳng biết gì. Chừng nào người ta chưa tìm ra

nó, mọi của cải đều vô dụng, mọi quyền lực đều vô

tích sự.

Hiểu rằng thân thể

Đơn thuần là bọt sóng,

Cái bóng của cái bóng.

Chộp lấy mũi tên hoa của ham muốn

Và rồi, vô hình,

Thoát khỏi Diêm vương.

Thân thể là hiện tượng nhất thời. Một ngày nào đó

nó đã không có, một ngày nào đó nó sẽ lại không có.

Nó tồn tại chỉ cho thời hiện tại – nó như bọt sóng;

trông đẹp thế từ bờ biển, bọt sóng, bọt sóng trắng xoá.

Và nếu mặt trời đã lên, quanh bọt sóng cầu vồng còn

có thể được tạo ra; trông tuyệt vời thế, trông như kim

cương, trông trắng thế và thuần khiết thế. Nhưng nếu

bạn cầm nó trong tay, nó bắt đầu biến đi. Chỉ tay bạn

còn ướt, có vậy thôi.

91

Cho nên đó cũng là trường hợp với thân thể. Nó

trông đẹp đấy, nhưng cái chết đang lớn lên trong nó,

cái chết đang ẩn mình trong nó, tuổi già đang chờ đợi

ở đó. Vấn đề chỉ là thời gian thôi.

Không phải là vào một ngày nào đó bạn chết. Thực

ra, thực tế là ở chỗ ngày bạn được sinh ra, bạn bắt đầu

chết. Đứa trẻ một ngày tuổi đã chết đi một chút rồi, nó

đã chết đi một ngày rồi. Nó sẽ tiếp tục chết từng ngày

một. Điều bạn gọi là ngày sinh của bạn thực sự không

phải là ngày sinh của bạn đâu – bạn nên gọi nó là ngày

chết của bạn. Người kỉ niệm ngày sinh lần thứ năm

mươi của mình thực sự là kỉ niệm ngày chết thứ năm

mươi của mình. Cái chết đã tới gần hơn. Bây giờ nếu

người đó định sống bẩy mươi năm, chỉ còn hai mươi

năm nữa thôi. Năm mươi năm người đó đã chết rồi!

Chúng ta liên tục chết đi khi có liên quan tới thân

thể… nó là bọt sóng đang biến đi. Đừng bị lừa dối bởi

bẩy mươi năm bởi vì bẩy mươi năm chẳng có nghĩa gì

trong sự trải rộng của vĩnh hằng – bẩy mươi năm có

nghĩa lí gì? Nó là bọt sóng, nó là tạm thời.

Hiểu rằng thân thể đơn thuần là bọt sóng, cái

bóng của cái bóng. Nó thậm chí không phải là cái

bóng, mà là cái bóng của cái bóng. Phật muốn nhấn

mạnh vào tính không thật của nó. Nó là tiếng vọng của

tiếng vọng, rất, rất xa với thực tại. Thượng đế là thực –

gọi nó là chân lí. Phật thích gọi nó là dhamma – luật.

Thượng đế là thực tại tối thượng; thế rồi linh hồn là cái

bóng của ngài và thân thể là cái bóng của cái bóng. Đi

từ thân thể tới linh hồn và từ linh hồn tới dhamma – tới

Thượng đế, tới luật vĩnh hằng.

Chừng nào bạn chưa đạt tới luật vĩnh hằng, đừng

nghỉ, bởi vì chẳng ai biết cả – hôm nay bạn ở đây, mai

92

bạn có thể không ở đây. Đừng bỏ phí những ngày quí

báu này khi thèm khát, ham muốn những thứ vô tích

sự. Mọi người cứ thu thập những đồ đồng nát, và thế

rồi một ngày nào đó họ qua đời. Và rồi tất cả những

thứ đồ đồng nát mà họ đã thu thập cả đời mình bị bỏ

sau. Họ không thể đem đi một thứ nào trong chúng.

Chuyện kể rằng khi Alexander Đại đế chết, ông ta

đã yêu cầu các bộ trưởng của ông ta rằng khi quan tài

của ông ta được đem tới nấm mồ, tay ông ta phải được

để thõng bên ngoài quan tài.

“Sao vậy?” các bộ trưởng hỏi. “Chẳng ai đã bao

giờ nghe nói tới điều như vậy cả! Điều đó chưa bao

giờ được làm! Đấy không phải là truyền thống. Sao có

cái ý tưởng kì lạ, quái gở này? Sao tay bệ hạ phải bỏ

thõng bên ngoài quan tài?”

Alexander nói, “Ta muốn để cho mọi người biết

rằng ngay cả ta, Alexander Đại đế, cũng đi tay không.

Ta không đem cái gì đi cùng ta cả. Cả đời ta đã là phí

hoài khủng khiếp. Ta đã làm việc vất vả” – và ông ấy

thực sự làm việc vất vả, ông ấy tranh đấu vất vả, ông

ấy là con người thực sự tham vọng, điên vì quyền lực,

muốn trở thành người cai trị thế giới, và đã có ít nhiều

thành công, đã ít nhiều trở thành người cai trị của thế

giới đã được biết tới… Nhưng ngay cả ông ta cũng nói,

“ta đang chết đi và ta không thể đem được cái gì theo

ta; do đó toàn thể nỗ lực chỉ là bài tập trong vô tích sự.

Để cho mọi người biết, để cho họ trở nên nhận biết, để

cho họ hiểu cái ngu xuẩn của ta, cái xuẩn ngốc của ta.

Điều đó có thể giúp họ hiểu hình mẫu cuộc sống riêng

của họ, phong cách sống của họ.”

93

Chộp lấy mũi tên hoa của ham muốn

Và rồi, vô hình,

Thoát khỏi Diêm vương.

Nếu bạn có thể trở thành vô ham muốn, thế thì cái

chết không thể có bất kì ảnh hưởng gì lên bạn được.

Chính tâm trí ham muốn bị mắc vào lưới của cái chết,

và chúng ta tất cả đều đầy những ham muốn: ham

muốn về tiền, về quyền, về danh vọng, kính trọng – cả

nghìn lẻ một ham muốn. Ham muốn tạo ra tham lam,

và tham lam tạo ra cạnh tranh, và cạnh tranh tạo ra

ghen tị. Điều này dẫn tới điều khác, và chúng ta cứ rơi

vào trong đống lộn xộn, vào trong rối loạn của thế

giới. Đó là điên khùng, thế giới điên khùng, nhưng

nguyên nhân gốc rễ của điên khùng là ham muốn.

Một khi bạn gieo hạt mầm của ham muốn… ham

muốn nghĩa là có thêm nữa. Bạn có một số tiền nào đó,

bạn sẽ muốn có gấp đôi số đó. Ham muốn nghĩa là

khao khát có thêm nữa. Và không ai nghĩ hai lần rằng

bất kì thay đổi số lượng nào sẽ không thoả mãn bạn.

Nếu bạn không thể được thoả mãn bởi mười nghìn

đồng ru pi, làm sao bạn có thể được thoả mãn bởi hai

mươi nghìn đồng ru pi? Số ru pi được gấp đôi lên.

Nhưng nếu mười nghìn ru pi mà không thể cho bạn

thoả mãn nào, thoả mãn của bạn không thể được gấp

đôi lên; đã không có thoả mãn nào ngay chỗ đầu tiên.

Thực ra, khi bạn có mười nghìn đồng ru pi, bạn có một

lượng lo âu, lo sợ nào đó – những lo âu đó sẽ được gấp

đôi lên khi bạn có hai mươi nghìn ru pi, gấp ba lên khi

bạn có ba mươi nghìn ru pu, và cứ thế mãi. Bạn có thể

cứ nhân mãi lên…

Và bất kì cái gì bạn có, ai đó bao giờ cũng sẽ có

nhiều hơn cái đó – nó là thế giới lớn. Do đó mới có

94

ghen tị, và ghen tị là cơn sốt của linh hồn. Ngoại trừ

thiền, không có thuốc nào cho nó cả. Bác sĩ có thể giúp

bạn nếu thân thể bạn bị sốt, nhưng chỉ thầy mới có thể

giúp bạn, vị phật mới có thể giúp bạn, nếu bạn bị cơn

sốt của linh hồn. Rất ít người bị sốt vật lí, và gần như

mọi người đều bị sốt tâm linh – ghen tị.

Ghen tị nghĩa là ai đó khác có nhiều hơn bạn có.

Và việc là người thứ nhất trong mọi thứ là điều không

thể được. Bạn có thể có số tiền nhiều nhất trên thế

giới, nhưng bạn có thể không có khuôn mặt đẹp. Và kẻ

ăn xin có thể làm cho bạn ghen tị – thân thể người đó,

khuôn mặt người đó, đôi mắt người đó, và bạn ghen tị.

Kẻ ăn xin có thể làm cho cả hoàng đế phải ghen tị.

Napoleon không cao lắm – ông ấy chỉ quãng một

mét sáu lăm. Tôi chẳng thấy gì sai trong đó cả; điều đó

là hoàn toàn được – tôi cũng một mét sáu lăm và tôi

chưa bao giờ khổ sở vì điều đó, bởi vì cho dù bạn cao

mét tám hay mét rưỡi chân bạn vẫn cứ chạm đất như

nhau! Cho nên vấn đề là ở đâu? Nếu người mét rưỡi

mà treo một chân trên đất, thế thì chắc đã có vấn đề!

Nhưng Napoleon khổ sở nhiều lắm. Ông ấy liên tục ý

thức về sự kiện là ông ấy không cao. Và tất nhiên, ông

ấy ở lẫn trong số những người rất cao. Lính tráng,

tướng lĩnh, họ đều là những người cao còn ông ấy rất

thấp.

Ông ấy hay đứng lên cái gì đó cao hơn… Đích xác

cũng hệt như trường hợp của thủ tướng Ấn Độ đầu

tiên, Jawaharlal Nehru. Ông ấy cũng cao chừng mét

sáu lăm – cái mét sáu lăm này là cái gì đó đấy chứ! Và

phó vương cuối cùng của Ấn Độ, huân tước

Mountbatten, rất cao – Bà Mountbatten thậm chí cao

95

hơn nữa. Bây giờ, khi huân tước Mountbatten cho ông

ấy nói lời thề của thủ tướng thứ nhất… bạn có thể thấy

trong tấm hình, những tấm hình đó có khắp mọi nơi:

Nehru đang đứng trên một bậc còn Mountbatten đang

đứng trên sàn, chỉ để trông ít nhất là như nhau, nếu

không cao hơn Mountbatten. Rồi nữa, ông ấy không

cao hơn Mountbatten, ngay cả đứng trên một bậc…

một cảm giác sâu sắc về tự ti.

Napoleon liên tục tự kỉ. Một hôm ông ấy chữa

chiếc đồng hồ tường và tay ông ấy không với tới được.

Chiếc đồng hồ treo cao trên tường. Vệ sĩ của ông ấy –

và vệ sĩ thì nhất định là người cao, người khoẻ rồi – vệ

sĩ của ông ấy nói, “Xin đợi, tôi lớn hơn ông ấy, tôi sẽ

sửa nó.”

Napoleon giận lắm và ông ấy nói, “Đồ ngốc! Xin

lỗi đi! Anh không lớn hơn ta, anh chỉ đơn giản cao

hơn. đổi lời anh đi. Lớn hơn sao? Anh ngụ ý gì?” Ông

ta rất phật ý. Và anh chàng vệ sĩ đáng thương này

chẳng ngụ ý điều gì xúc phạm ông ta cả – anh ta thậm

chí không nhận biết rằng nói “lớn hơn” là xúc phạm.

Bây giờ, Napoleon có mọi thứ, nhưng chiều cao là vấn

đề.

Rất khó có mọi thứ trên thế giới và là người đầu

tiên trong mọi thứ. Điều đó là không thể được! Thế thì

ghen tị cứ còn dai dẳng, nó tiếp diễn. Ai đó có nhiều

tiền hơn bạn, ai đó có sức khoẻ hơn bạn, ai đó đẹp hơn

bạn, ai đó thông minh hơn bạn… và bạn thường xuyên

so sánh. Tâm trí ham muốn tiếp tục so sánh.

96

Goldstein và Weinberg cùng kinh doanh với nhau

và có một thời gian tồi tệ. Một hôm Goldstein, trong

khi đi dạo qua rừng, bỗng ngạc nhiên bởi mẹ đỡ đầu

hiện ra nói với anh ta, “Ta sẽ ban cho con ba điều ước,

nhưng nhớ lấy, bất kì điều gì con ước, Weinberg sẽ

được gấp đôi.”

Trên đường về Goldstein cứ đắn đo mãi, “Mình sẽ

không phản đối biệt thự rộng lớn.” Và trước khi anh ta

kịp nhận ra điều xảy ra, đã có đó – ngôi biệt thự của

anh ta. Nhưng đồng thời anh ta thấy Weinberg bên kia

đường đầy tự hào nhìn hai biệt thự của mình.

Goldstein kìm nén sự ghen tị của mình và đi vào xem

ngôi nhà mới của mình. Khi anh ta bước vào phòng

ngủ, một ham muốn thứ hai điểm vao anh ta: “Mình sẽ

không phản đối một phụ nữ như Sophia Loren.” Và

thật sự, cô ấy ở đó – con bé lộng lẫy trông hệt như

Sophia Loren. Nhưng khi anh ta nhìn qua cửa sổ

phòng ngủ, anh ta thấy Weinberg trên ban công với hai

đàn bà lộng lẫy.

“Được,” anh ta thở dài khi nghĩ về mẹ đỡ đầu tiên,

“bà có thể cắt một hòn của con!”

Ghen tị là ghen tị… Nếu bạn không thể có được tất

cả, ít nhất bạn cũng có thể làm cho bất kì ai khác

không có điều đó. Ghen tị trở thành phá huỷ, ghen tị

trở thành bạo hành. Và ghen tị là cái bóng của ham

muốn. Ham muốn bao giờ cũng so sánh và, bởi vì so

sánh mới có đau khổ. Mọi người phí hoài các kiếp

sống của mình trong ham muốn, trong ghen tị, trong so

sánh và thời gian quí báu đơn giản bị mất. Cho dù

Thượng đế có cho bạn ba điều ước, bạn cũng sẽ làm

hệt như Goldstein – bởi vì người Do Thái tồn tại trong

97

mọi người. Chỉ vị phật không là người Do Thái; bằng

không mọi người khác đều là Do Thái.

Bản chất của ham muốn là tính chất người Do

Thái. Nó muốn thêm nữa, nó điên lên vì thêm nữa. Và

những người sống trong ham muốn nhất định là nạn

nhân của cái chết. Chỉ người hiểu cái điên khùng của

ham muốn, của tham lam, của thường xuyên khao khát

thêm nữa, của ghen tị, của so sánh, người trở nên nhận

biết về tất cả những điều vô nghĩa này và vứt bỏ nó,

mới vượt ra ngoài cái chết. Người đó trở thành vô

hình. Phật dùng một từ hay. Ông ấy nói: Và rồi, vô

hình, thoát khỏi Diêm vương.

Cái chết chỉ có thể thấy người sống trong vỏ bọc

của ham muốn. Cái chết chỉ có thể thấy ham muốn.

Nếu ham muốn bị vứt bỏ, bạn trở thành vô hình với cái

chết; cái chết không thể chạm tới bạn được, bởi vì

không có ham muốn thì bạn đơn giản là tâm thức

thuần khiết và không là gì khác. Bạn không còn bị

đồng nhất với thân thể hay tâm trí. Bạn đơn giản biết

một điều, rằng bạn là nhân chứng. Cái chết không thể

thấy được bạn – bạn có thể thấy cái chết.

Thông thường, cái chết có thể thấy bạn, bạn không

thể thấy được cái chết – bởi vì ham muốn là thô, có thể

bị cái chết thấy. Tâm thức là vô hình, nó không phải là

vật chất – nó là năng lượng thuần tuý, nó là ánh sáng.

Bạn có thể thấy cái chết, nhưng cái chết không thể

thấy được bạn. Và thấy cái chết lại là một kinh nghiệm

lớn, một kinh nghiệm vui nhộn. Người ta bắt đầu cười

khi người ta thấy cái chết – cái chết bất lực thế. Quyền

lực của nó không phải là của riêng nó, quyền lực của

nó là trong tâm trí ham muốn của bạn. Bạn trao quyền

cho nó. Bạn càng ham muốn nhiều, bạn càng sợ chết

98

nhiều. Bạn càng tham nhiều, bạn càng sợ chết. Bạn

càng tham nhiều, bạn càng sợ hơn. Bạn càng có nhiều,

một cách tự nhiên bạn càng nhiều lo âu hơn – cái chết

sẽ tới và mọi thứ sẽ bị lấy đi.

(Còn Nữa)

Dhammapada

CON ĐƯỜNG CỦA PHẬT

¨

ĐÂY LÀ CON ĐƯỜNG

ĐI TỚI CHÂN LÍ TỐI THƯỢNG

Tập 2 ( tiếp theo )

Chộp lấy mũi tên hoa của ham muốn
Và rồi, vô hình,
Thoát khỏi Diêm vương.
Và đi tiếp.

Nhớ câu này: Và đi tiếp.

Thế thì cuộc hành trình thực, cuộc hành hương, bắt

đầu. Trước đó bạn chỉ đi trong vòng tròn – cùng những

ham muốn: nhiều tiền hơn, nhiều tiền hơn, nhiều

quyền hơn, nhiều quyền hơn… cái vòng luẩn quẩn,

chẳng đi đến đâu cả. Một khi bạn đã vứt bỏ mọi ham

muốn, tâm thức bạn được tự do khỏi cái thô thiển của

ham muốn. Bây giờ đi tiếp – bây giờ bạn có thể đi vào

trong sự tồn tại vô hạn, bạn có thể đi vào trong cái

vĩnh hằng của sự tồn tại. Bây giờ, các bí ẩn tiếp bí ẩn

cứ mở ra trước bạn. Bây giờ toàn thể sự tồn tại là sẵn

có cho bạn, trong tính toàn bộ của nó, nó là của bạn…

bây giờ đi tiếp.

Cái chết bắt người

thu nhặt hoa

Khi với tâm trí phân tán và giác quan thèm khát

Người đó tìm vô vọng về hạnh phúc

Trong hoan lạc của thế giới.

Cái chết bắt lấy người đó đi

Như trận lụt mang đi cả làng đang ngủ.

99

Nếu bạn quá bị phân tán bởi ham muốn, hoan lạc,

hài lòng, và nếu bạn quá khao khát trong cảm giác kích

động dục, nếu bạn tìm kiếm một cách ngu ngốc về

hạnh phúc trong thế giới bên ngoài, thế thì cái chết tới

và bắt bạn đi như trận lụt đem đi cả làng đang ngủ.

Người đang đi tìm hạnh phúc trong thế giới bên

ngoài là người ngủ say. Người đó không nhận biết về

điều mình đang làm, bởi vì hạnh phúc chưa bao giờ

được tìm thấy ở bên ngoài. Và bất kì điều gì xuất hiện

như hạnh phúc chung cuộc tỏ ra là cội nguồn của bất

hạnh và không là gì khác. Thế giới bên ngoài chỉ hứa

hẹn, mà chẳng bao giờ chuyển giao hàng hoá. Khi bạn

còn ở xa xa, mọi sự dường như rất đẹp. Bạn càng lại

gần, chúng càng bắt đầu biến mất đi. Khi bạn có được

chúng sau nỗ lực lâu dài và vất vả, bạn đơn giản lúng

túng. Bạn không thể tin được điều đã xảy ra – nó là ảo

ảnh.

Mọi sự là đẹp chỉ từ khoảng cách xa. Khi bạn có

chúng, chúng chẳng có gì trong chúng cả. Tiền là có ý

nghĩa chỉ cho những người không có nó. Những người

có nó, họ biết cái vô tích sự của nó. Danh vọng là có ý

nghĩa chỉ với những người không có nó. Những người

có nó… cứ hỏi họ mà xem: họ phát mệt mỏi vì nổi

tiếng, họ hoàn toàn mệt mỏi vì nổi tiếng. Họ muốn

được giấu tên. Họ muốn là không ai cả.

Voltaire đã viết trong hồi kí của ông ấy rằng khi

ông ấy chưa nổi tiếng ham muốn duy nhất của ông ấy

là được nổi tiếng; ông ấy sẵn sàng hi sinh mọi thứ để

được tiếng tăm. Và nếu bạn cứ đi tìm cái gì đó mãi,

bạn nhất định sẽ được nó, nhớ lấy. Một ngày nào đó

ông ấy trở nên nổi tiếng, và thế rồi ông ấy viết, “Tôi

100

mệt mỏi thế về tiếng tăm của mình, bởi vì mọi sự riêng

tư trong cuộc đời tôi bị biến mất, mọi mối quan hệ

thân mật biến mất – tôi nổi tiếng tới mức tôi bao giờ

cũng bị mọi người vây quanh, ở mọi nơi, bất kì chỗ

nào tôi đi. Nếu tôi đi dạo trong vườn, một đám đông sẽ

theo sau. Tôi gần như là một vật trưng bày, một loại

xiếc đi bộ.”

Danh tiếng của ông ấy đạt tới đỉnh mà nó trở thành

nguy hiểm cho cuộc sống của ông ấy. Một lần khi ông

ấy đi từ ga về nhà mình sau một cuộc hành trình, ông

ấy về nhà gần như trần truồng, bị cào xước khắp

người, máu rỉ ra từ nhiều chỗ – bởi vì ở Pháp vào

những ngày đó đây là điều mê tín, rằng nếu bạn có thể

lấy được một mảnh quần áo của người nổi tiếng, bạn

cũng có thể trở nên nổi tiếng. Cho nên mọi người xé

quần áo ông ấy, và trong khi xé quần áo, họ làm cào

xước thân thể ông ấy.

Ông ấy kêu và khóc hôm đó, và nói, “Tôi ngu làm

sao mà tôi đã muốn được nổi tiếng. Hay biết bao khi

chẳng ai biết tôi và tôi là người tự do. Bây giờ tôi

không còn là người tự do nữa.”

Thế rồi ông ấy muốn là không ai cả. Và điều đó đã

xảy ra nữa rằng tiếng tăm biến mất. Trong cuộc sống

này chẳng cái gì là thường hằng cả – một ngày nào đó

bạn nổi tiếng, ngày khác bạn là không ai cả. Ngày ông

ấy chết, chỉ bốn người đi theo ông ấy ra nấm mồ; và

trong bốn người này thì một là con chó của ông ấy –

cho nên thực sự chỉ có ba. Mọi người đã hoàn toàn

quên mất ông ấy, họ đã quên rằng ông ấy vẫn còn

sống. Họ đi tới biết khi báo chí công bố bản tường

trình rằng Voltaire đã chết. Thế thì mọi người mới

101

nhận biết và bắt đầu hỏi lẫn nhau, “Ông ấy vẫn còn

sống à?”

Nếu bạn có tiếng tăm, bạn phát mệt vì điều đó.

Nếu bạn có tiền của, bạn sẽ không biết phải làm gì với

nó. Nếu bạn được mọi người kính trọng, bạn trở thành

nô lệ, bởi vì thế thì bạn phải cứ hoàn thành những

trông đợi của họ; bằng không kính trọng với bạn sẽ

biến mất. Chỉ khi bạn không nổi tiếng bạn mới coi nó

là cái gì đó có ý nghĩa. Khi bạn không được kính

trọng, bạn khao khát điều đó. Khi bạn được kính trọng,

bạn phải trả giá cho sự kính trọng. Mọi người càng

kính trọng bạn, họ càng quan sát bạn kĩ hơn – liệu bạn

có hoàn thành những trông đợi của họ hay không. Mọi

tự do của bạn mất đi. Nhưng đây là cách mọi người

đang sống.

Phật nói điều đó cũng giống như một làng đang

ngủ – trận lụt tới và nhấn chìm cả làng, trận lụt của cái

chết tới.

Cái chết đánh bại người đó

Khi với tâm trí phân tán và giác quan thèm khát

Người đó thu nhặt hoa.

Người đó sẽ chẳng bao giờ có thoả thích

hoan lạc của thế giới.

Và không ai đã bao giờ có thể hài lòng được trong

thế giới này – điều đó là không thể được. Bạn có thể

trở nên ngày một bất mãn hơn, có vậy thôi, bởi vì hài

lòng chỉ xảy ra khi bạn đi vào bên trong. Hài lòng là

bản tính bên trong nhất của bạn. Hài lòng không thuộc

vào đồ vật. Bạn có thể thoải mái với đồ vật – nhà đẹp,

102

vườn đẹp, không lo nghĩ về chuyện tiền nong – vâng,

bạn có thể thoải mái, nhưng bạn vẫn còn như cũ:

không hài lòng một cách thoải mái. Thực ra, khi bạn

có mọi tiện nghi và bạn không có gì để làm kiếm tiền,

hai mươi bốn giờ một ngày bạn nhận biết về sự không

hài lòng của mình, bởi vì không bận bịu nào khác còn

lại.

Đó là lí do tại sao người giầu còn không hài lòng

hơn người nghèo. Đáng phải không như thế chứ – một

cách logic đáng phải không như vậy – nhưng đấy là

cách thức cuộc sống vậy đấy. Cuộc sống không theo

Aristotle và logic của ông ấy. Người giầu tới từ

phương Tây trở nên rất phân vân khi họ thấy người Ấn

Độ nghèo với khuôn mặt mãn nguyện. Họ không thể

tin được vào mắt mình. Những người này chẳng có gì

cả – sao họ có vẻ hài lòng? Và cái gọi là các thánh

nhân và mahatmas và những người lãnh đạo chính

khách Ấn Độ, họ cứ ba hoa với thế giới rằng “Đất

nước chúng tôi tâm linh lắm – trông mà xem! mọi

người mãn nguyện thế cho dù họ nghèo, bởi vì họ giầu

có bên trong.”

Điều này tất cả đều vô nghĩa. Họ chẳng giầu có

bên trong. Mãn nguyện mà bạn thấy trên khuôn mặt

Ấn Độ nghèo không phải là mãn nguyện của việc nhận

ra bên trong. Chỉ đơn giản bởi vì họ quá bị bận tâm tới

tiền bạc, bánh mì và bơ, đến mức họ không thể có

được thời gian để mà không hài lòng. Họ không thể

đảm đương được việc ngồi đó và suy nghĩ ủ ê về khổ

của họ. Họ khổ thế và họ chẳng bao giờ biết tới hoan

lạc nào, cho nên họ không thể có bất kì so sánh nào.

Khi xã hội trở nên giầu, nó có thời gian để nghĩ,

“Bây giờ cái gì tiếp theo…?” Và dường như chẳng có

103

gì còn cả. Khi mọi thứ bên ngoài là sẵn có bạn bắt đầu

nghĩ, “Mình đang làm gì ở đây nhỉ? Mọi thứ đều có

đó, nhưng mình vẫn cứ trống rỗng như bao giờ.”

Người ta bắt đầu quay vào trong.

Người ăn xin trông mãn nguyện bởi vì họ không

có mùi vị gì của giàu có. Nhưng người giàu trở nên rất

không hài lòng. Bởi vì giầu có của mình mà người đó

trở nên nhận biết về cái vô tích sự của mọi giàu sang.

Cái chết đánh bại người đó

Khi với tâm trí phân tán và giác quan thèm khát

Người đó thu nhặt hoa.

Người đó sẽ chẳng bao giờ có thoả thích

hoan lạc của thế giới.

Bạn không thể có sự thoả thích của mình được.

Điều đó là không thể được. Bạn không thể được thoả

mãn với mọi thứ; tâm trí sẽ cứ đòi hỏi thêm nữa. Bạn

càng có nhiều, bạn sẽ càng tạo ra thêm nhiều rắc rối

cho mình – bởi vì bạn có thể đảm đương được rắc rối,

bạn có thời gian. Thực ra, bạn có nhiều thời gian trong

tay đến mức bạn chẳng biết phải làm gì với nó. Bạn sẽ

bắt đầu lừa dối xung quanh. Bạn sẽ tạo ra nhiều khổ

hơn, nhiều lo âu hơn cho bản thân mình. Và không tìm

thấy thoả mãn bên ngoài, bạn có thể trở nên bất mãn

đến mức bạn có thể bắt đầu nghĩ tới tự tử.

Nhiều người tự tử ở các nước giầu hơn hơn ở nước

nghèo. Hay bạn có thể trở nên bất mãn tới mức bạn có

thể phát điên, bạn có thể thành gàn dở. Nhiều người

phát điên ở các nước giầu hơn ở các nước nghèo.

Giầu theo một cách nào đó là rất nguy hiểm: nó có

thể lái bạn tới tự tử, nó có thể lái bạn tới loại điên

104

khùng nào đó – nhưng nó cũng rất có ý nghĩa bởi vì nó

có thể lái bạn hướng tới tôn giáo, hướng tới nội tâm

mình, lãnh thổ bên trong, nó có thể trở thành cuộc cách

mạng nội tâm. Điều đó tuỳ thuộc vào bạn – các phương

án đều để mở. Người giầu hoặc trở nên thần kinh, tự

tử, hoặc người đó phải trở thành thiền nhân; không có

phương án thứ ba khác cho người đó.

Người nghèo không thể tự tử được, không thể bị

thần kinh được; người đó thậm chí còn không có đủ

cơm, còn nói gì tới tâm trí? Người đó mệt mỏi thế vào

buổi tối, người đó không thể nghĩ được, không có năng

lượng để nghĩ… rơi luôn vào giấc ngủ. Đến sáng lại

con đường mòn cũ của việc kiếm cơm. Mọi ngày

người đó đều phải kiếm sống, bằng cách nào đó để vẫn

còn sống, tồn tại. Người đó không thể đảm đương

được xa hoa của người thần kinh, người đó không thể

đảm đương được xa hoa của việc phân tâm – đây là

những xa hoa chỉ người giầu mới có thể đảm đương!

Và người đó không thể thực sự là thiền nhân được.

Người đó sẽ đi tới đền chùa, nhưng người đó sẽ hỏi

xin cái gì đó trần tục. Vợ người đó ốm, con người đó

không có tiền để vào trường học, người đó thất nghiệp.

Người đó đi tới đền chùa để hỏi xin những điều này.

Phẩm chất tôn giáo của người nghèo là rất nghèo nàn.

Có hai loại tính tôn giáo trong thế giới này: tính

tôn giáo của người nghèo – nó rất trần tục, nó rất vật

chất – và tính tôn giáo của người giầu – nó rất tâm linh,

rất phi vật chất. Khi người giầu cầu nguyện, lời cầu

nguyện của người đó không thể vì tiền. Nếu người đó

vẫn cầu nguyện về tiền, người đó vẫn chưa đủ giầu.

105

Có một thánh nhân Sufi, Farid. Một lần các dân

làng hỏi ông ấy, “Farid ơi, nhà vua vĩ đại, Akbar, tới

ông biết bao nhiêu lần – sao ông không hỏi xin ông ấy

để mở trường học cho người nghèo trong làng chúng

ta? Chúng ta không có trường học.”

Farid nói, “Tốt, sao tôi phải đợi ông ấy tới? Tôi sẽ

đi.”

Ông ấy tới Delhi, ông ấy được đón tiếp – mọi

người đều biết rằng Akbar kính trọng ông ấy lắm.

Akbar đang cầu nguyện trong đền thờ riêng của mình;

Farid được phép vào. Ông ấy đi vào, ông ấy thấy

Akbar đang cầu nguyện. Ông ấy đứng đằng sau Akbar

– ông ấy có thể nghe thấy điều ông này đang nói. Với

đôi tay giang ra, Akbar vừa mới kết thúc lời cầu

nguyện của mình, namaz của ông ấy, và ông ấy đang

nói với Thượng đế, “Cái một từ bi toàn năng, xin mưa

rào thêm giầu có lên con! Xin cho con vương quốc lớn

hơn!”

Farid lập tức quay đi. Đấy là vừa lúc kết thúc lời

cầu nguyện, cho nên Akbar trở nên nhận biết rằng ai

đó đã ở đó và đã đi mất. Ông ấy nhìn ngoái lại, thấy

Farid đang đi xuống bậc thang, tới chạm chân Farid và

hỏi, “Sao ông đã tới?” – bởi vì lần đầu tiên ông ấy tới –

“và sao ông đi mất?”

Farid nói, “Tôi đã tới với ý tưởng rằng ông giầu

có, nhưng nghe lời cầu nguyện của ông tôi nhận ra là

ông vẫn còn nghèo. Và nếu ông vẫn còn hỏi xin thêm

tiền, thêm quyền, thế thì việc tôi hỏi xin tiền là không

tốt, vì tôi phải tới xin ít tiền để mở trường học trong

làng tôi. Không, tôi không thể hỏi xin từ người nghèo

được. Bản thân ông còn cần thêm nữa. Tôi sẽ đi quyên

góp một ít ở trong làng và đem nó cho ông! Còn khi có

106

liên quan tới trường học, nếu ông đang hỏi xin từ

Thượng đế, tôi có thể hỏi xin trực tiếp từ Thượng đế –

sao tôi phải dùng ông làm trung gian làm gì?”

Câu chuyện này được đích thân Akbar kể trong tự

truyện của mình. Ông ấy nói, “Lần đầu tiên tôi trở nên

nhận biết rằng, vâng, tôi chưa đủ giầu, tôi vẫn chưa hết

thoả mãn với tất cả tiền bạc này. Nó đã không cho tôi

cái gì và tôi cứ hỏi xin thêm nữa, gần như hoàn toàn vô

ý thức! Đây là lúc tôi phải được chấm dứt với nó.

Cuộc sống cứ bay vùn vụt và tôi thì vẫn cứ hỏi xin rác

rưởi. Và tôi đã tích luỹ nhiều thứ – nó chẳng cho tôi cái

gì cả.”

Nhưng gần như một cách máy móc người ta cứ hỏi

xin mãi. Nhớ lấy, tôn giáo nảy sinh khi bạn đã sống

trong thế giới này và đã biết thế giới này và cái vô tích

sự của nó, khi bạn có một hương vị hoàn toàn khác

cho nó từ tôn giáo, cái nảy sinh trong bạn bởi vì nhu

cầu vật lí của bạn là không được đáp ứng.

Tôn giáo của người nghèo là nghèo, tôn giáo của

người giầu là giầu. Và tôi muốn tôn giáo giầu trên thế

giới này; do đó tôi không chống công nghệ, không

chống công nghiệp hoá. Tôi không chống việc tạo ra

xã hội sung túc, tôi tất cả ủng hộ cho nó, bởi vì đây là

quan sát của tôi: rằng tôn giáo đạt tới cực đỉnh của nó

chỉ khi mọi người hoàn toàn thất vọng với giầu có trần

tục, và cách duy nhất để làm cho họ hoàn toàn thất

vọng là để cho họ kinh nghiệm chúng.

Ong hút mật hoa từ hoa

Không làm hỏng cái đẹp hay hương thơm của nó.

cho nên để người chủ định cư, và lang thang.

107

Phật đã gọi các sư của mình là “người ăn xin”,

madhukari. Madhukari nghĩa là lấy mật như con ong.

Khất sĩ, sannyasin Phật giáo, đi hết nhà nọ tới nhà kia;

ông ta chẳng bao giờ hỏi xin chỉ từ một nhà bởi vì điều

đó có thể là quá nặng gánh. Cho nên ông ta hỏi xin từ

nhiều nhà, chỉ chút xíu từ nhà này, chút xíu từ nhà

khác, để cho ông ta không là gánh nặng cho ai cả. Và

ông ta không bao giờ đi tới cùng một nhà lần nữa.

Điều này được gọi là madhukari – như con ong mật.

Con ong đi từ hoa này sang hoa khác, và cứ bay từ hoa

sang hoa – nó không sở hữu.

Ong hút mật hoa từ hoa không làm hỏng cái đẹp

hay hương thơm của nó. Nó chỉ lấy chút xíu từ một

đoá hoa đến mức cái đẹp của hoa không bị hư hỏng,

hương thơm không bị phá huỷ. Hoa đơn giản chẳng

bao giờ trở nên nhận biết về ong; nó tới một cách im

lặng thế và đi im lặng thế.

Phật nói: con người của nhận biết sống trong thế

giới này giống như con ong. Người đó không bao giờ

làm hư hỏng cái đẹp của thế giới này, người đó không

bao giờ phá huỷ hương thơm của thế giới này. Người

đó sống im lặng, đi im lặng. Người đó chỉ yêu cầu cái

cần thiết. Cuộc sống của người đó là đơn giản, nó

không phức tạp. Người đó không thu thập cho ngày

mai. Ong không bao giờ lấy mật cho ngày mai, hôm

nay là đủ cho chính nó.

Cho nên để người chủ định cư, và lang thang..

Một phát biểu rất kì lạ: …định cư, và lang thang. Định

cư bên trong, định tâm bên trong, và bên ngoài là

người lang thang: bên trong hoàn toàn được bắt rễ, còn

bên ngoài không ở lâu ở bất kì một chỗ nào, không ở

108

với một người trong thời gian lâu, bởi vì gắn bó nảy

sinh, sở hữu phát sinh. Cho nên chỉ giống như con ong.

Mới đêm hôm nọ tôi có đọc một hồi kí của một

nhà thơ. Ông ấy nói, “Tôi đã tìm thấy một điều rất kì

lạ: khi tôi rơi vào tình yêu với một người thực đẹp, tôi

không thể sở hữu được người đó. Và nếu tôi sở hữu,

tôi lập tức thấy rằng tôi đang phá huỷ cái đẹp của

người đó. Nếu tôi trở nên bị gắn bó, theo cách nào đó

tôi đang làm tổn thương người kia, tự do của họ.”

Các nhà thơ là những người nhạy cảm; họ có thể

trở nên nhận biết về nhiều điều mà người thường

chẳng bao giờ trở nên nhân biết tới. Nhưng đó là cái

nhìn hay, có chiều sâu sâu lắng: nếu bạn thực sự trong

tình yêu với người đẹp bạn sẽ không thích sở hữu, bởi

vì sở hữu là phá huỷ. Bạn sẽ giống như con ong; bạn

sẽ thích thú bầu bạn, bạn sẽ tận hưởng tình bạn, bạn sẽ

chia sẻ tình yêu, nhưng bạn sẽ không sở hữu. Sở hữu

là thu người thành đồ vật. Nó là phá huỷ tâm linh của

người đó, nó là việc làm cho người đó thành món hàng

– và điều này có thể được làm chỉ nếu bạn không yêu.

Điều này có thể được làm chỉ nếu tình yêu của bạn

không là gì ngoài ghét đeo mặt nạ như yêu.

Phật nói: Cũng giống như ong, đi trong cuộc sống

– tận hưởng, mở hội, nhảy múa, ca hát, nhưng giống

như ong – bay từ hoa này sang hoa khác. Có mọi kinh

nghiệm đi, bởi vì chính chỉ qua kinh nghiệm mà bạn

mới trở nên chín chắn. Nhưng đừng có tính sở hữu,

đừng bị mắc kẹt ở đâu cả. Vẫn còn tuôn chảy như

dòng sông – không trở thành tù đọng. Định cư bên

trong, chắc chắn, trở nên kết tinh bên trong, nhưng bên

ngoài vẫn còn là người lang thang.

109

Nhìn vào lỗi riêng của ông,

Điều ông đã làm hoặc bỏ không làm.

Bỏ qua lỗi lầm của người khác.

Cách thông thường của con người là bỏ qua lỗi của

riêng mình và nhấn mạnh, khuếch đại lỗi của người

khác. Đây là cách thức của bản ngã. Bản ngã cảm thấy

rất thoải mái khi nó thấy, “Mọi người đều có nhiều lỗi

thế mà mình chẳng có lỗi nào.” Và thủ đoạn là: bỏ qua

lỗi của bạn, khuếch đại lỗi của người khác, cho nên

chắc chắn mọi người đều giống như quỉ còn bạn giống

như thánh nhân.

Phật nói: đảo ngược quá trình này. Nếu bạn thực

sự muốn được biến đổi, bỏ qua lỗi của người khác đi –

đó không phải là công việc của bạn. Bạn là không ai

cả, bạn không được yêu cầu can thiệp vào, bạn không

có quyền, cho nên sao bận tâm? Nhưng đừng bỏ qua

lỗi của riêng bạn, bởi vì chúng phải được thay đổi,

vượt qua.

Khi Phật nói, nhìn vào lỗi riêng của ông, điều ông

đã làm hoặc bỏ không làm, ông ấy không ngụ ý ăn năn

nếu bạn đã làm điều gì đó sai; ông ấy không ngụ ý

khoe khoang, vỗ lưng bạn nếu bạn đã làm điều gì đó

tốt. Không. Ông ấy đơn giản ngụ ý nhìn để cho bạn có

thể nhớ trong tương lai rằng không gì sai nên được lặp

lại, để cho bạn có thể nhớ trong tương lai rằng cái

thiện nên được mở rộng, được nâng cao, còn cái ác

nên bị giảm đi – không để ăn năn mà để nhớ lại.

Đó là khác biệt giữa thái độ Ki tô giáo và thái độ

Phật giáo. Người Ki tô giáo nhớ tới chúng để ăn năn;

do đó Ki tô giáo tạo ra tội lỗi lớn. Phật giáo không bao

giờ tạo ra bất kì tội lỗi nào, nó không dành cho ăn năn,

110

nó dành cho nhớ lại. Quá khứ là quá khứ; nó đã qua và

qua mãi mãi – không cần phải lo nghĩ về nó. Nhớ đừng

lặp cùng sai lầm lần nữa. Lưu tâm hơn đi.

Giống như đoá hoa đáng yêu,

Sáng chói nhưng không thơm,

Là lời đẹp nhưng trống rỗng

Về người không ngụ ý điều mình nói.

Những người cứ lặp kinh sách một cách máy móc,

lời của họ là hay nhưng trống rỗng. Họ giống như hoa,

đáng yêu, sáng lạn, nhưng chẳng có hương thơm nào.

Họ giống như hoa giấy hay hoa nhựa – họ không thể có

hương thơm được, họ không thể có tính sống động.

Tính sống động, hương thơm là có thể chỉ khi bạn nói

theo lời riêng của mình, không theo thẩm quyền của

kinh sách; khi bạn nói theo thẩm quyền riêng của bạn,

khi bạn nói như một nhân chứng cho chân lí, không

như học giả có học, không như bác học, mà khi bạn

nói như người đã thức tỉnh.

Giống như đoá hoa đáng yêu,

Sáng chói và thơm ngát,

Là lời đẹp và chân lí

Của người ngụ ý điều mình nói.

Nhớ đừng lặp lại lời của người khác. Kinh nghiệm,

và chỉ nói điều bạn đã kinh nghiệm, và lời của bạn sẽ

có thực chất, trọng lượng; và lời của bạn sẽ có toả

sáng, lời của bạn sẽ có hương thơm. Lời của bạn sẽ

hấp dẫn mọi người; không chỉ hấp dẫn – ảnh hưởng.

Lời của bạn sẽ hàm chứa nghĩa lớn lao, và những

người đã sẵn sàng nghe chúng sẽ được biến đổi qua

111

chúng. Lời bạn sẽ là việc thở, sống động; sẽ có nhịp

tim đập trong chúng.

Giống như vòng hoa được kết từ đống hoa,

Kiểu cách từ cuộc sống của ông được kết như

nhiều việc làm tốt.

Để cho cuộc sống của bạn trở thành vòng hoa –

vòng hoa của những hành vi tốt. Nhưng hành vi tốt

theo Phật, chỉ nảy sinh nếu bạn trở nên lưu tâm hơn,

tỉnh táo hơn, nhận biết hơn. Hành vi tốt không phải là

được trau dồi như một tính cách; hành vi tốt phải là

sản phẩm phụ của việc có ý thức nhiều hơn của bạn.

Phật giáo không nhấn mạnh vào tính cách mà vào

tâm thức – đó là đóng góp lớn nhất cho nhân loại và

tiến hoá của nhân loại.

( còn Nữa )

Dhammapada

CON ĐƯỜNG CỦA PHẬT

¨

ĐÂY LÀ CON ĐƯỜNG

ĐI TỚI CHÂN LÍ TỐI THƯỢNG

Tập 2 ( tiếp theo )

Câu hỏi :

Thưa Thầy kính yêu,
Hiểu biết của tôi về bản thân tôi là ở chỗ mọi việc
làm của tôi đều nảy sinh từ ham muốn trao đổi.
Ngay cả ý nghĩ tinh tế nhất cũng là đối thoại, một
mưu tính để có kinh nghiệm của người khác và
thẩm tra sự tồn tại của tôi. Với việc nhận thức ra
rằng tôi là người duy nhất có thể kinh qua những
kinh nghiệm của mình và cho chúng sự hợp thức,
mọi việc làm không cần thiết này phải biến mất.
Nó đơn giản và hiển nhiên thế. Sao việc nhận thức
ra này không đạt tới cốt lõi bên trong nhất của
tôi?

128

Prem Steven, đấy chưa phải là nhận ra đâu – nó

vẫn là thông tin đấy, nó vẫn là phỏng đoán đấy, nó vẫn

là suy nghĩ đấy; theo đường đúng, chắc chắn, theo

hướng đúng, đúng, nhưng nó chưa phải là nhận thức

  1. ‘Nhận thức ra’ là từ lớn lao. Người ta phải dùng từ

đó rất thận trọng. Bạn có thể nghĩ tới những ý tưởng

lớn lao, nhưng chúng không trở thành nhận thức của

bạn bằng việc suy nghĩ. Bạn có thể nghĩ về Thượng đế

và bạn có thể đi tới kết luận rằng Thượng đế hiện hữu,

và bạn có thể cảm thấy rằng bây giờ không có hoài

nghi gì trong tâm trí mình về sự tồn tại của Thượng đế

– dầu vậy nó vẫn không phải là nhận thức.

Nhận thức ngụ ý nhận ra chính xác – nó phải trở

thành thực tại của bạn, không phải chỉ là ý tưởng! Cho

dù một ý tưởng tốt có đó, nó vẫn cứ là ý tưởng. Ý

tưởng không thể biến đổi được bạn, và ý tưởng không

thể đạt tới chính cốt lõi của bản thể bạn. Nó vẫn còn ở

chu vi.

Mọi ý tưởng đều là ở chu vi – cũng như mọi con

sóng vẫn còn trên bề mặt. Sóng không thể đi sâu vào

trong đại dương được; không có cách nào để nó đi vào.

Tại cốt lõi sâu nhất không có sóng. Trên bề mặt bão có

thể điên cuồng, nhưng tại cốt lõi sâu nhất, đại dương

bình lặng và yên tĩnh – và bao giờ cũng vậy. Chỉ bề

mặt có thể bị rối loạn.

Mọi suy nghĩ đều là rối loạn trên chu vi của bản

thể bạn. Những ý tưởng xấu, ý tưởng tốt, tất cả đều là

ngoại vi. Mọi người có niềm tin này rằng các ý tưởng

xấu là ngoại vi và ý tưởng tốt là trung tâm – điều đó

không phải vậy. Tốt hay xấu không tạo ra khác biệt gì.

Ý tưởng là ý tưởng, và ý tưởng vẫn còn là ngoại vi.

Chỉ việc chứng kiến mới có thể ở trung tâm.

129

Cho nên điều thứ nhất là nhận thức rằng bạn vẫn

chưa nhận thức ra. Một khi điều gì đó được nhận thức

ra, nó nhất định làm biến đổi bạn – ngay lập tức nó

biến đổi bạn. Thế thì câu hỏi không thể phát sinh được:

“Nó đơn giản và hiển nhiên thế. Sao việc nhận thức

này không đạt tới cốt lõi bên trong nhất của tôi?” Cái

“sao?” này không thể có đó được. Nếu bạn nhận thức

ra điều gì đó, tính cách của bạn lập tức thay đổi. Tính

cách của bạn là cái bóng của tâm thức bạn. Một khi

tâm thức mới, toàn thể tính cách trở thành mới.

Nếu bạn hỏi tại sao, nếu bạn hỏi làm sao thay đổi,

thế thì việc nhận thức ra chỉ là ý tưởng – và đừng tin

vào ý tưởng. Chúng lừa dối bạn, chúng là những kẻ lừa

dối lớn lao, chúng là đồng tiền giả. Bạn có thể cứ tích

luỹ chúng mà tin rằng bạn đang trở nên giầu có, nhưng

một hôm bạn sẽ bị tan nát. Hối hận sẽ là lớn và khổ sẽ

lớn, bởi vì mọi lúc bạn tích luỹ những đồng tiền giả

đều đơn giản phí hoài. Và nó không thể được giành lại

– nó đã trôi qua vĩnh viễn rồi.

Điều thứ hai… bạn nói, Steven, “Hiểu biết của tôi

về bản thân tôi là ở chỗ mọi việc làm của tôi đều nảy

sinh từ ham muốn trao đổi. Ngay cả ý nghĩ tinh tế nhất

cũng là đối thoại, một mưu tính để có kinh nghiệm của

người khác và thẩm tra sự tồn tại của tôi.”

Tại sao? Tại sao bạn phải muốn người khác thẩm

tra sự tồn tại của bạn, để cho sự tồn tại của bạn có tính

hợp thức? Bởi vì bạn nghi ngờ về nó, bạn ngờ vực về

sự tồn tại của bạn. Bạn thực sự không biết rằng bạn

hiện hữu; bạn biết bạn chỉ khi người khác nói bạn hiện

hữu. Bạn phụ thuộc vào ý kiến của người khác.

Nếu họ nói rằng bạn đẹp, bạn nghĩ bạn đẹp. Nếu

họ nói bạn thông minh, bạn nghĩ bạn thông minh. Do

130

đó, bạn muốn gây ấn tượng cho mọi người – bằng

thông minh của bạn, bằng cái đẹp của bạn, bằng đủ

mọi loại điều bạn muốn gây ấn tượng cho mọi người,

bởi vì nếu bạn có thể thấy cái gì đó trong mắt họ, cái

đó trở thành hợp thức cho bạn.

Đó là lí do tại sao bạn phát rồ lên khi ai đó xúc

phạm bạn, làm hỏng hình ảnh đó khi ai đó gọi bạn là

đồ ngốc; bằng không, sao bạn phải bận tâm? Đấy

không phải là việc của bạn. Nếu người đó gọi bạn là

đồ ngốc, đấy là vấn đề của người đó. Chỉ bằng việc

người đó gọi bạn là đồ ngốc, bạn đâu có trở thành đồ

ngốc. Nhưng bạn trở thành đồ ngốc, bởi vì bạn phụ

thuộc vào ý kiến của người khác.

Đó là cách chúng ta sống trong xã hội. Chúng ta

liên tục cố gắng gây ấn tượng lẫn cho nhau. Đó là lí do

tại sao chúng ta sống như nô lệ, bởi vì nếu bạn muốn

gây ấn tượng lên người khác, bạn phải theo các ý

tưởng của họ; chỉ thế thì họ mới bị ấn tượng. Bạn phải

tốt theo cách họ muốn bạn là tốt. Nếu họ là người ăn

chay, bạn cũng phải là người ăn chay, thế thì họ sẽ bị

ấn tượng – họ sẽ nói bạn là thánh nhân. Nếu họ đang

sống theo một kiểu cách sống nào đó, bạn phải sống

theo kiểu đó; chỉ thế thì họ mới thừa nhận bạn.

Bạn có thể thu được sự kính trọng chỉ nếu bạn tuân

theo các ý tưởng của họ. Đó là việc hiểu lẫn nhau rằng

bạn hỗ trợ cho ý tưởng của họ để cho họ cảm thấy

thoải mái rằng ý tưởng của họ là đúng; do đó họ là

đúng. Và thế rồi họ hỗ trợ cho bạn và họ cho bạn sự

kính trọng bởi vì bạn tuân theo ý tưởng đúng, bạn là

người đúng. Họ ca ngợi bạn, họ biểu lộ cho bạn sự tôn

kính, họ gọi bạn là thánh nhân, hiền nhân… điều đó

làm cho bạn cảm thấy vừa lòng. Điều đó làm vừa lòng

131

họ bởi vì bạn kính trọng ý thức hệ của họ, và họ bày tỏ

sự kính trọng với nhân cách của bạn. Đây là sự thu xếp

lẫn nhau. Và các bạn cả hai đều trong ảo tưởng. Bạn

hỗ trợ cho ảo hưởng của họ, họ hỗ trợ cho ảo tưởng

của bạn. Các bạn là đối tác trong cùng một việc gây ảo

giác.

Sao người ta muốn được người khác thẩm tra, làm

hợp thức? Nếu bạn biết về cái riêng của mình, nếu bạn

đã kinh nghiệm bản thể của bạn và cái đẹp của nó và

vui vẻ của nó và sự vĩ đại của nó và vinh quang của

nó, ai thèm để ý tới điều người khác nói?

Phật đi qua một làng, và mọi người của làng đó

chống đối Phật nhiều lắm. Tại sao họ chống Phật? –

bởi vì Phật được sinh ra tại làng đó, ông ấy đã sống tại

làng đó trong nhiều năm, và dân làng không thể tin

được rằng một người đã được sinh ra trong số họ đã

trở nên chứng ngộ. Điều đó làm khó chịu cho bản ngã

của họ!

Đó là lí do tại sao Jesus nói: Nhà tiên tri không

được kính trọng, không được yêu mến, bởi những

người riêng của mình. Bản thân Jesus đã bị tống ra

khỏi nơi sinh của mình. Chỉ mỗi một lần ông ấy đi –

sau đó ông ấy đã trở nên chứng ngộ, ông ấy đã đi chỉ

một lần. Và mọi người cứ phát rồ lên bởi khẳng định

của ông ấy, “Ta đã nhận thức ra, ta là Con của Thượng

đế,” đến mức họ bắt ông ấy lên núi để ném ông ấy

xuống núi. Họ muốn giết chết ông ấy. Bằng cách nào

đó ông ấy phải trốn khỏi nanh vuốt của họ, khỏi tay

họ. Và ông ấy chưa bao giờ quay chỗ đó.

132

Phật đã đi qua làng đó nơi ông ấy đã được sinh ra,

chỉ ở đâu đó ngay biên giới giữa Ấn Độ và Nepal, và

mọi người đã tụ tập và bắt đầu sỉ nhục ông ấy, lăng mạ

ông ấy, gọi ông ấy bằng đủ thứ tên. Và ông ấy im lặng

lắng nghe suốt nửa giờ, và rồi ông ấy nói, “Trời sắp

nóng lên rồi và ta phải đi sang làng bên, mọi người

đang đợi ta. Ta không thể dành thêm thời gian cho các

ông lần này. Nếu các ông có thêm cái gì nữa để nói với

ta, xin đợi. Khi ta quay lại, thế thì ta sẽ có thêm chút

thời gian nữa. Các ông có thể tụ tập, và các ông có thể

trao đổi bất kì cái gì các ông muốn trao đổi. Nhưng lần

này ta xin lỗi. Ta phải đi đây.”

Bình thản thế, bình tĩnh thế, và họ thực sự gọi ông

ấy bằng những cái tên bẩn thỉu. Họ không thể tin được

vào mắt mình. Họ nói, “Chúng tôi không nói điều gì

với ông đâu – chúng tôi đang sỉ nhục ông đấy, chúng

tôi đang lăng mạ ông đấy! Ông không thể hiểu được

điều chúng tôi đang nói sao?”

Phật nói, “Ta có thể nghe thấy, ta có thể hiểu mọi

điều mà các ông đang nói – nhưng đó không phải là

vấn đề của ta! Nếu các ông giận, đó là vấn đề của các

ông. Can thiệp vào cuộc sống của các ông không phải

là việc của ta. Nếu các ông muốn giận, nếu các ông

thích điều đó, cứ tận hưởng đi! Nhưng ta không định

nhận bất kì điều vô nghĩa nào từ các ông.

“Thực ra, các ông đã tới chậm chút ít rồi. Nếu như

các ông thực sự muốn ta bị rối loạn, các ông đáng phải

tới từ mười năm trước đây. Thế thì ta đã thực sự giận

các ông lắm. Ta sẽ phản ứng, ta sẽ đánh các ông!

Nhưng bây giờ, nhận biết lớn lao đã xảy ra là bản thể

ta không phụ thuộc vào ý kiến của người khác. Điều

các ông nghĩ về ta chỉ biểu lộ cái gì đó về các ông, chứ

133

không về ta! Ta biết bản thân ta; do đó ta không phụ

thuộc vào ý kiến của bất kì ai về ta. Những người dốt

nát về bản thân họ, họ phải phụ thuộc vào người khác.”

Steven, toàn thể tâm trí này về việc trao đổi với

mọi người trong nỗ lực để được họ thẩm tra đơn giản

chỉ ra bóng tối sâu sắc bên trong; bằng không, không

có nhu cầu. Và tôi không nói rằng khi một người trở

nên tràn đầy ánh sáng, người đó dừng việc trao đổi –

không. Chỉ người đó mới có thể trao đổi được, bởi vì

người đó có cái gì đó để trao đổi. Bạn có gì để trao

đổi? Cái gì có đó mà bạn có thể chia sẻ với mọi người?

Bạn là kẻ ăn xin, bạn đang ăn xin. Khi bạn muốn được

thẩm tra, được làm hợp thức, được xác nhận, bạn đang

ăn xin đấy. Bạn đang bảo họ, “Xin nói điều gì đó tốt

cho tôi đi, điều gì đó hay vào, để cho tôi có thể cảm

thấy hay về bản thân tôi. Tôi đang cảm thấy rất chán

nản, tôi đang cảm thấy rất vô giá trị – cho tôi cái gì đó

có giá trị! làm cho tôi cảm thấy có ý nghĩa.” Bạn đang

ăn xin đấy, điều đó đâu phải là trao đổi.

Trao đổi là có thể chỉ khi bài ca đã bật tung ra từ

bản thể bạn, khi vui vẻ đã nảy sinh, khi phúc lạc đã

được kinh nghiệm – thế thì bạn có thể chia sẻ được.

Thế thì không chỉ trao đổi, không chỉ trao đổi bằng lời,

mà ở mức độ sâu sắc hơn nhiều, giao cảm cũng bắt đầu

xảy ra. Nhưng thế thì bạn không là kẻ ăn xin, bạn là

hoàng đế.

Chỉ chư phật mới có thể giao cảm và trao đổi.

Những người khác chẳng có gì để nói, chẳng có gì để

cho. Thực ra, điều bạn đang làm trong khi bạn nói với

mọi người… và mọi người đang liên tục nói, tán gẫu

huyên thuyên, nếu không nói ra, cũng là trong tâm trí

134

của họ – cũng như bạn nói rằng sâu trong tâm trí mình

bạn cũng đang nói với ai đó, người tưởng tượng nào

đó… Bạn đang nói điều gì đó từ phía bạn, và bạn cũng

đang trả lời từ phía bên kia; tán gẫu, đối thoại liên tục

bên trong bạn.

Đây là trạng thái của không lành mạnh. Tôi sẽ

không gọi nó là trạng thái điên khùng mà là không

lành mạnh. Toàn thể nhân loại tồn tại trong trạng thái

không lành mạnh. Người điên khùng đã vượt ra bên

ngoài biên giới bình thường. Người không lành mạnh

cũng là điên khùng nhưng bên trong các giới hạn.

Người đó vẫn còn điên khùng bên trong, nhưng bên

ngoài người đó cứ hành xử theo cách lành mạnh. Cho

nên với người đó tôi có từ này ‘không lành mạnh’.

Lành mạnh xảy ra chỉ khi bạn trở thành im lặng

toàn bộ đến mức mọi việc tán gẫu bên trong đều biến

mất. Khi tâm trí không còn nữa, bạn lành mạnh. Tâm

trí là không lành mạnh – đó là điên khùng thông

thường, hay điên khùng – điều có nghĩa là điên khùng

bất thường. Vô trí là lành mạnh. Và trong vô trí bạn

hiểu, bạn nhận thức, không chỉ về sự hiện hữu riêng

của mình mà về sự hiện hữu – chính sự hiện hữu – của

sự tồn tại. Thế thì bạn có cái gì đó để chia sẻ, để trao

đổi, để nhảy múa, để mở hội.

Trước đó, đấy là nỗ lực vô vọng để bằng cách nào

đó thu thập hình ảnh của bản thân bạn từ ý kiến của

những người khác. Và hình ảnh của bạn sẽ vẫn còn là

đống lộn xộn bởi vì bạn sẽ thu thập ý kiến từ nhiều

nguồn thế – chúng sẽ vẫn còn mâu thuẫn.

Người này nghĩ bạn xấu, ghét bạn, không thích

bạn; người khác nghĩ bạn đẹp, duyên dáng đến mức

không ai có thể so sánh được với bạn – bạn vô song.

135

Bây giờ bạn sẽ định làm gì với hai ý kiến này? Bạn

không biết mình là ai; bây giờ hai ý kiến có đó – làm

sao bạn có thể đánh giá cái nào đúng? Bạn thích ý kiến

đúng nói bạn đẹp; bạn không thích ý kiến nói rằng bạn

xấu. Nhưng đấy không phải là vấn đề thích hay không

thích. Bạn không thể điếc với ý kiến kia được, cái đó

nữa cũng có đó. Bạn có thể kìm nén nó trong vô thức,

nhưng nó sẽ vẫn còn ở đó.

Bạn sẽ thu thập các ý kiến từ bố mẹ mình, từ gia

đình mình, từ hàng xóm mình, từ những người bạn làm

việc cùng, từ thầy giáo, từ tu sĩ… cả nghìn ý kiến la hét

bên trong bạn. Và đây là cách bạn đang tạo ra hình ảnh

của bản thân mình. Nó sẽ là một đống lộn xộn. Nó sẽ

không có khuôn mặt nào, hình dạng nào, nó sẽ là hỗn

độn. Đó là cách mọi người đang hiện hữu, hỗn độn.

Không trật tự là có thể, bởi vì chính trung tâm bị mất,

cái có thể tạo ra trật tự.

Trung tâm đó tôi gọi là nhận biết, thiền – aes

dhammo sanantano. Đây là luật không cạn, luật tối

thượng, rằng chỉ những người đã trở nên nhận biết mới

biết họ là ai. Và khi họ biết, không ai có thể lay

chuyển được việc biết của họ. Không ai có thể làm

được! Toàn thế giới có thể nói một điều, nhưng nếu

bạn biết, nếu bạn đã nhận ra bản thân mình, điều đó

không thành vấn đề.

Cả thế giới đều nói rằng Jesus điên. Cái ngày ông

ấy bị đóng đinh, không có lấy một người… cả nghìn

người đã tụ tập – không người nào bênh vực ông ấy.

Tất cả đều nghĩ ông ấy điên.

Vào thời đó đã thành tục lệ là vào ngày nghỉ đặc

biệt thì một kẻ tội phạm có thể được tha. Hôm đó là

ngày nghỉ và ba người đã bị đóng đinh: hai kẻ cắp và

136

Jesus. Pontius Pilate đã hỏi mọi người, “Chúng ta có

thể tha thứ cho một trong ba người này. Các vị muốn

người nào được tha thứ?” Ông ta cứ tưởng rằng họ sẽ

đòi hỏi Jesus được tha, nhưng họ đã không đòi hỏi cho

Jesus. Họ đã đòi hỏi tha cho một kẻ cắp – không phải

Jesus mà là kẻ cắp, kẻ cắp nổi tiếng – cả thành phố đều

biết người đó. Nhưng họ đã không thể tha thứ cho con

người hồn nhiên Jesus. Tại sao?

Nhưng Jesus không run. Cả thế giới có thể chống

ông ấy; ông ấy biết Thượng đế là cùng ông ấy. Ông ấy

chết với tâm trí bình thản và yên tĩnh, không bị phân

tán, với lời cầu nguyện trên môi – lời cầu nguyện duy

nhất. Lời nói cuối cùng của Jesus là: “Cha ơi, xin tha

thứ cho họ, bởi vì họ không biết họ đang làm gì.

Amen….” Tha thứ cho họ, vì họ không biết họ đang

làm gì! Họ đang đóng đinh ông ấy, nhưng trái tim ông

ấy đầy từ bi với tất cả những người đó.

Khi bạn biết, bạn biết một cách tuyệt đối thế. Khi

nhận thức xảy ra, nó tối thượng tới mức cho dù cả thế

giới chống điều đó, không tạo ra khác biệt gì cả. Bạn

không cần bất kì sự hợp thức nào từ bất kì ai khác.

( Còn nữa )

Dhammapada

CON ĐƯỜNG CỦA PHẬT

¨

ĐÂY LÀ CON ĐƯỜNG

ĐI TỚI CHÂN LÍ TỐI THƯỢNG

Tập 2 ( tiếp theo )

5
Trong rác của lề đường
Hương của đàn hương,
đỗ quyên, hay nhài,
không thể đi ngược chiều gió.
Nhưng hương của đức hạnh
vẫn đi ngược chiều gió,
xa tới tận cùng thế giới.
Hương của đức hạnh
cao quí hơn nhiều so với
hương của đàn hương, đỗ quyên,
của sen xanh, hay nhài!
Hương của đàn hương hay đỗ quyên
không đi xa.
nhưng hương của đức hạnh
bay lên trời.
150
Ham muốn chưa bao giờ cắt ngang con đường
của người đức hạnh và thức tỉnh.
Sáng dạ làm cho họ tự do.
Hoa sen mọc duyên dáng làm sao
trong rác rưởi của lề đường.
Hương thuần khiết của nó làm thích thú trái tim.
Đi theo người đã thức tỉnh
và từ trong những người mù
ánh sáng của trí huệ của bạn
sẽ chiếu sáng hoàn toàn bên ngoài.
Con người không phải là hiện hữu mà chỉ là sự trở
thành. Con người là quá trình, sự trưởng thành, khả
năng, tiềm năng. Còn người vẫn chưa là thực tại. Con
người phải hiện hữu, con người phải đạt tới. Con
người được sinh ra không phải như điều bản chất mà
chỉ như sự tồn tại… một không gian lớn nơi nhiều điều
có thể xảy ra, hay chẳng cái gì có thể xảy ra – mọi điều
đó đều phụ thuộc vào bạn.
Con người phải tạo ra bản thân mình. Con người
không phải là thứ đã được làm sẵn, con người không
được cho sẵn. Và việc sáng tạo phải là tự sáng tạo –
không ai khác có thể làm ra bạn được. Bạn không phải
là một vật, một thứ hàng hoá; bạn không thể được sản
xuất hay chế tạo. Bạn phải tự tạo ra bản thân mình, bạn
phải trở thành được thực tỉnh về phần riêng của mình,
không ai có thể đánh thức bạn dậy được.
151
Đây là cao thượng của con người, vinh quang của
con người, rằng con người là sinh linh duy nhất trên
trái đất, không chỉ là sinh linh mà còn là tự do để hiện
hữu. Mọi sinh linh khác đều đã bị cố định, theo hình
mẫu. Chúng đem theo bản thiết kế tổng thể, và chúng
đơn giản tuân theo bản thiết kế đó. Vẹt sẽ trở thành
vẹt, chó sẽ trở thành chó, sư tử sẽ trở thành sư tử;
không có chuyện sư tử là ai đó khác. Nhưng với con
người điều liên quan là hỏi liệu người đó có thực sự là
con người không.
Từng con sư tử đều thực sự là sư tử, và từng con
voi cũng là con voi, nhưng con người là dấu chấm hỏi.
Con người có thể là con người, có thể không. Con
người có thể rơi xuống thấp hơn con vật, và con người
có thể vươn cao trên các thần. Trạng thái tối thượng
trên các thần đó là phật tính – thức tỉnh, thức tỉnh tối
thượng, việc nhận ra tiềm năng của bạn trong tính toàn
bộ của nó.
Vị phật ở trên các thần. Đây là một trong những lí
do mà người Hindus đã không thể dung thứ được Phật
Gautama, bởi vì ông ấy nói rằng phật ở trên các thần.
Các thần cũng ngủ; tất nhiên, mơ của họ đẹp, mơ của
họ không phải là ác mộng; họ sống trên cõi trời. Các
kiếp sống của họ chỉ toàn hoan lạc. Cõi trời không là
gì ngoài chủ nghĩa khoái lạc thuần tuý, chính ý tưởng
là khoái lạc. Địa ngục là chính cái đối lập. Địa ngục là
đau đớn, cõi trời là hoan lạc; địa ngục là ác mộng, cõi
trời là mơ dịu ngọt. Nhưng mơ là mơ; dù dịu ngọt hay
cay đắng, không thành vấn đề gì.
Các thần cũng ngủ và mơ những giấc mơ đẹp. Vị
phật thức tỉnh, ông ấy không còn mơ nữa. Kinh sách
Phật giáo nói: Ngày Siddhartha Gautam trở thành phật
152
các thần từ trên trời tới để tôn sùng ông ấy, để rửa
chân ông ấy. Người Hindus không thể tha thứ được ý
tưởng này, bởi vì với họ các thần ở trên cõi trời – Indra
và các thần khác – đều là tối cao nhất rồi. Và nhìn vào
cao ngạo của Phật tử, những người nói các thần từ cõi
trời tới để rửa chân cho một người.
Phật giáo đã nâng nhân loại lên đỉnh cao nhất của
nó. Không tôn giáo nào khác đã làm điều đó. Con
người trở thành trung tâm của sự tồn tại. Thượng đế
không phải là trung tâm của sự tồn tại, theo Phật, mà
chính là người đã trở nên chứng ngộ. Ngoại vi bao
gồm những người ngủ và mù, và trung tâm bao gồm
những người có mắt, người đã thức tỉnh. Thượng đế
đơn giản bị loại bỏ đi; họ không còn liên quan nữa.
Điều Nietzsche đã làm hai nghìn năm sau, Phật đã làm
rồi.
Một nhà thơ lớn, Chandidas, rất bị ấn tượng bởi
Phật Gautam – và ai không bị ấn tượng bởi con người
này được? Ông ấy đã nói: Sabar upar manus satya,
tahar upar nahin – chân lí của con người là chân lí cao
nhất, không có chân lí nào khác cao hơn cái đó. Nhưng
để tôi nhắc bạn lần nữa: khi Phật nói về con người,
ông ấy nói về người đã chứng ngộ, không về bạn – bạn
chỉ đang trên đường thôi, bạn chỉ đang trong quá trình.
Bạn là hạt mầm.
Hạt mầm có thể có bốn khả năng. Hạt mầm có thể
vẫn còn là hạt mầm mãi mãi, khép kín, không cửa sổ,
không trong giao cảm với sự tồn tại, chết, bởi vì sống
có nghĩa là giao cảm với sự tồn tại. Hạt mầm là chết,
nó chưa được trao đổi với đất, với trời, với khí, với
gió, với mặt trời, với các vì sao. Nó chưa làm nỗ lực
nào để có đối thoại với tất những cái đang tồn tại. Nó
153
hoàn toàn đơn độc, bị bao vây, bị gói gọn trong bản
thân nó, bị bao quanh bởi Trường Thành Trung Quốc.
Hạt mầm sống trong nấm mồ riêng của nó.
Khả năng thứ nhất là ở chỗ hạt mầm có thể vẫn
còn là hạt mầm. Điều đó là rất không may mắn – con
người có thể vẫn còn đơn giản là hạt mầm. Với mọi
tiềm năng có trong tay bạn, với mọi phúc lành sẵn
sàng mưa rào lên bạn, bạn có thể chẳng bao giờ mở ra
cánh cửa của mình.
Khả năng thứ hai là ở chỗ hạt mầm có thể đủ dũng
cảm, có thể chìm sâu vào trong đất, có thể chết đi như
một bản ngã, có thể vứt bỏ lớp áo giáp của nó, có thể
bắt đầu giao cảm với sự tồn tại, có thể trở thành một
với đất. Dũng cảm lớn được cần tới, bởi vì ai biết
được? – cái chết này có thể là tối hậu, có thể không có
việc sinh theo sau nó nữa. Cái gì là đảm bảo? Không
có đảm bảo nào cả; đó là mạo hiểm. Chỉ vài người thu
được đủ dũng cảm mới dám mạo hiểm, mới dám liều
mạng.
Làm sannyasin là việc bắt đầu của mạo hiểm. Bạn
đang mạo hiểm cuộc đời mình, bạn đang mạo hiểm
bản ngã mình. Bạn đang liều mạng bởi vì bạn đang vứt
bỏ mọi an ninh của mình, mọi thu xếp an toàn cho
mình. Bạn đang mở ra các cửa sổ… ai biết ai sẽ vào –
bạn hay thù? Ai biết? Bạn trở nên mong manh. Đó là
điều tính chất sannyas tất cả là gì. Đó là điều Phật đã
dạy trong cả đời ông ấy. Bốn mươi hai năm liên tục,
biến đổi các hạt mầm thành cây cối – đó là công việc
của ông ấy – biến đổi người thường thành sannyasins.
Sannyasin là cây, mầm mới nhú lên – mềm mại,
tinh tế. Hạt mầm chẳng bao giờ trong nguy hiểm, nhớ
lấy. Nguy hiểm gì có thể có đó cho hạt mầm? Nó được
154
bảo vệ tuyệt đối. Nhưng cây bao giờ cũng trong nguy
hiểm, cây rất mềm mại. Hạt mầm giống như hòn đá,
cứng rắn, ẩn đằng sau lớp vỏ cứng. Nhưng cây phải
trải qua cả nghìn lẻ một mối nguy. Đó là giai đoạn thứ
hai: hạt mầm tan biến vào trong đất, con người biến
mất như một bản ngã, biến mất như một cá tính, trở
thành cây.
Khả năng thứ ba, thậm chí còn hiếm hoi hơn, bởi
vì không phải mọi cây cối đều đạt tới chiều cao đó nơi
chúng có thể nở hoa, cả nghìn lẻ một hoa… Rất ít
người đạt tới giai đoạn thứ hai, và rất ít trong số những
người đã đạt tới giai đoạn hai, đạt tới giai đoạn ba, giai
đoạn của hoa. Tại sao họ không thể đạt tới giai đoạn
thứ ba, giai đoạn của hoa? Bởi vì tham lam, bởi vì keo
kiệt, họ không sẵn sàng chia sẻ… bởi vì trạng thái
không có tình yêu.
Dũng cảm là cần để trở thành cây, và tình yêu là
cần để trở thành hoa. Hoa nghĩa là cây đang mở trái
tim nó ra, toả ra hương thơm của nó, đem tặng linh
hồn nó, rót sự hiện hữu của nó vào trong sự tồn tại.
Hạt mầm có thể trở thành cây mặc dầu khó vứt vỏ áo
giáp, nhưng theo cách nào đó điều này là đơn giản. Hạt
mầm sẽ chỉ thu lấy ngày một nhiều hơn, tích luỹ ngày
một nhiều hơn; hạt mầm chỉ lấy từ đất. Cây chỉ lấy từ
nước, từ không khí, từ mặt trời; tham lam của nó
không bị quấy rối, mà ngược lại, tham vọng của nó
được hoàn thành. Nó cứ trở nên ngày một lớn hơn.
Nhưng một thời điểm tới khi bạn đã lấy quá nhiều đến
mức bây giờ bạn phải chia sẻ. Bạn đã được ích lợi
nhiều thế, bây giờ bạn phải phục vụ. Thượng đế đã cho
bạn nhiều thế, bây giờ bạn phải cám ơn, phải biết ơn
chứ – và cách duy nhất để biết ơn là làm mưa rào kho
báu của bạn xuống, cho chúng trở với sự tồn tại, hào
155
phóng như sự tồn tại đã từng hào phóng với bạn. Thế
thì cây phát triển thành hoa, nó nở hoa.
Và giai đoạn thứ tư là giai đoạn của hương thơm.
Hoa vẫn còn thô, nó vẫn còn là vật chất, nhưng hương
thơm là tinh tế, nó gần như cái gì đó phi vật chất. Bạn
không thể thấy được nó, nó là vô hình. Bạn chỉ có thể
ngửi được nó, bạn không thể nắm bắt nó, bạn không
thể ôm được nó. Chính hiểu biết nhạy cảm được cần
tới để có đối thoại với hương thơm. Và bên ngoài
hương thơm chẳng có gì cả. Hương thơm biến mất vào
trong vũ trụ, trở thành một với nó.
Đây là bốn giai đoạn của hạt mầm, và đây là bốn
giai đoạn của con người nữa. Đừng vẫn còn là hạt
mầm. Thu lấy dũng cảm – dũng cảm vứt bỏ bản ngã,
dũng cảm vứt bỏ an ninh, dũng cảm vứt bỏ an toàn,
dũng cảm là mong manh. Nhưng thế thì cũng đừng vẫn
còn là cây, bởi vì cây không hoa nghèo nàn lắm. Cây
không hoa là trống rỗng, cây không hoa là đang thiếu
đi cái gì đó rất tinh tuý. Nó không có cái đẹp – không
tình yêu không có cái đẹp. Và chỉ qua hoa mà cây mới
biểu lộ tình yêu của nó. Nó đã lấy bao nhiêu thứ từ mặt
trời và mặt trăng và từ đất rồi; bây giờ đến lúc nó cho!
Cuộc sống bao giờ cũng phải đạt tới cân bằng. Bạn
đã lấy nhiều rồi, bây giờ cho nó đi. Trở thành hoa đi!
Chỉ khi bạn trở thành hoa mới có khả năng biến mất
như hương thơm. Nhưng thế nữa, nhớ lấy, đừng vẫn
còn là đoá hoa khép kín, đừng vẫn còn là nụ; bằng
không thì hương thơm của bạn sẽ không toả ra được.
Và chừng nào hương thơm của bạn chưa toả ra, bạn
không tự do, bạn vẫn trong tù túng.
Tù túng này Phật gọi là sansara – thế giới. Và ông
ấy gọi tự do, tự do của hương thơm, là niết bàn: dừng
156
toàn bộ, biến mất, tan biến. Bộ phận biến mất vào
trong toàn thể, giọt sương tuột vào trong đại dương và
trở thành đại dương. Ngày bạn biến mất và trở thành
đại dương là ngày theo một nghĩa nào đó bạn không
còn nữa, và theo nghĩa khác bạn hiện hữu lần đầu tiên
– bạn đã đạt tới tính hiện hữu.
Tính hiện hữu này mới là tính thượng đế thực.
Tính hiện hữu này, kinh nghiệm đại dương kết tinh
này, là giải thoát, cứu rỗi, moksha, kaivalya, niết bàn.
Bạn có thể dùng bất kì từ nào bạn muốn dùng nhưng
chúng tất cả đều mang cùng một nghĩa: tự do tuyệt đối
của linh hồn, không biên giới, không giới hạn.
Lời kinh:
Hương của đàn hương,
đỗ quyên, hay nhài,
không thể đi ngược chiều gió.
Hiển nhiên! Hương của đàn hương, đỗ quyên hay
nhài là một phần của thế giới vật chất. Nó chỉ có thể đi
cùng gió, không đi ngược được gió. Nó phải tuân theo
luật của vật chất. Nó là vật chất. Bởi vì nó phải tuân
theo luật của vật chất nên nó không thực sự tự do – tự
do chỉ theo nghĩa tương đối. Hương này tự do hơn hoa,
hoa tự do hơn cây, cây tự do hơn hạt mầm. Nhưng
những tự do này chỉ là tương đối, không tuyệt đối.
Và Phật nói, nhớ lấy: mục tiêu là tự do tuyệt đối,
siêu việt lên trên mọi luật. Chính chỉ trong việc siêu
việt lên trên mọi luật mà bạn sẽ trở thành một phần của
luật tối thượng: Aes dhammo sanantano. Chính chỉ
157
bằng việc siêu việt lên trên mọi giới hạn của vật chất
thô mà bạn sẽ có khả năng trở thành vô hạn như bầu
trời.
Chừng nào bạn chưa trở thành vũ trụ bạn vẫn chưa
đạt tới tiềm năng của mình. Bạn được ngụ ý trở thành
vũ trụ, và bạn đã trở thành con người nhỏ bé, bị giới
hạn, gần như bạn đang sống trong xà lim tù đày, tối
tăm và ảm đạm, không cửa ra vào, không cửa sổ, sự
tồn tại xấu xí, bị bao quanh bởi đủ mọi loại bệnh hoạn
– bản ngã, tham lam, giận dữ, thèm khát, ghen tị, sở
hữu. Đây là những bạn đồng hành của bạn. Bạn đã
kinh nghiệm hương thơm nào trong cuộc đời?
Bạn chưa biết tới tình yêu không thèm khát. Bạn
chưa biết tới bất kì trạng thái nào nơi không giới hạn
nào tồn tại. Bạn bị trói buộc vào một số luật rất thô.
Bạn là một phần của lực hút, bạn vẫn chưa biết gì về
ân huệ. Bạn cứ đi xuống mãi, bởi vì những luật hút đó
cứ kéo bạn xuống. Bạn không biết cách vươn lên, bay
bổng lên. Bạn không biết gì về bay lên cả.
Trong khoa học, họ không nói về bay lên, họ chỉ
nói về hút, kéo xuống. Nhưng đây là hiện tượng đơn
giản thế cần hiểu, rằng trong tự nhiên mọi thứ đều
được cân bằng bởi cực đối lập của nó. Nếu có lực kéo
xuống, lực hút, sẽ phải có lực kéo lên để cân bằng nó –
đó là bay lên. Theo ngôn ngữ thơ ca hơn nó được gọi
là ân huệ.
Có hai luật: luật hút, luật của đất, thô, vật chất; và
luật của ân huệ, luật thiêng liêng, điều Phật gọi là luật
thiêng liêng – aes dhammo sanantano – luật vĩnh hằng,
không cạn, luật thiêng liêng, cái kéo bạn lên.
Hương của đàn hương,
158
đỗ quyên, hay nhài,
không thể đi ngược chiều gió.
Nó có những giới hạn tuyệt đối nào đó, nó chỉ có
thể cưỡi lên gió. Nó không thể có ý chí riêng của nó,
nó không thực sự tự do. Chừng nào bạn chưa thể tồn
tại trong tự do toàn bộ, cái gì đó vẫn còn thiếu. Nếu
bạn phải tuân theo luật, thế thì bạn là tù nhân. Luật có
thể cho bạn chiếc dây vừa đủ, nhưng dẫu sao bạn vẫn
cứ là tù nhân.
Đó là cách mọi sự là vậy: nếu chiếc dây vừa đủ
được trao cho bạn, bạn quên mất nhà tù. Chẳng hạn,
cái gọi là các quốc gia – Ấn Độ, Pakistan, Nhật Bản,
Đức – đây tất cả đều là những nhà tù lớn, nhưng chúng
lớn tới mức bạn không thể thấy được biên giới nhà tù
của mình. Đi ngang qua biên giới quốc gia mình và
bạn sẽ thấy rằng mình quả là tù nhân. Nhưng nhà tù đủ
lớn; bạn có thể đi trong nhà tù này tới bất kì chỗ nào
bạn muốn. Nhưng cứ bước ra khỏi nhà tù này, thử đi
vào nhà tù khác mà xem, và thế thì bạn sẽ thấy giới
hạn.
Đây là những nhà tù nhân tạo; đủ lớn đến mức
chúng có thể cho bạn cảm giác giả tạo về tự do, nhưng
không có tự do. Chừng nào mọi quốc gia chưa biến
mất khỏi thế giới, trái đất sẽ vẫn còn là nô lệ, nhân loại
sẽ vẫn còn trong tù, nhỏ hay lớn. Nhưng không khác
biệt gì việc nhà tù rất lớn và bạn không thể nào thấy
được bức tường bao quanh nó… Bức tường có thể rất
tinh vi – về hộ chiếu hay visa – bức tường có thể rất
tinh vi, bạn có thể không thấy chúng, nhưng chúng có
đó. Bạn không được tự do di chuyển.
159
Gần như mọi hiến pháp của thế giới đều nói rằng
tự do di chuyển là quyền tập ấm của mọi người, nhưng
điều đó chỉ được viết trong sách vở, điều đó là không
đúng. Bạn không thể di chuyển tự do được. Nếu bạn
muốn sang Nga, không thể được; nếu bạn muốn vào
Trung Quốc, không thể được.
Các quốc gia đã trở thành những nhà tù lớn thế, và
các tổng thống của bạn và cái gọi là các thủ tướng của
bạn tất cả đều không là gì khác hơn các cai tù. Những
người vẫn nói về tự do không là gì khác hơn cảnh sát.
Họ nói họ đang canh gác cho sự an toàn riêng của bạn,
nhưng thực ra họ là cai tù đang theo dõi để bạn không
thể trốn thoát được.
Tôi đã nghe:
Một ông già Nga sắp chết, và ông ấy nghe tiếng gõ
trên cửa. Ông ấy hỏi, “Ai đấy?”
Và một giọng nói rất ma quỉ cất lên, “Thần chết.”
Ông già Nga nói, “Cám ơn Thượng đế! Tôi cứ
tưởng đấy là cảnh sát chìm.”
Và có những nhà tù bên trong nhà tù kiểu như cái
hộp Trung Quốc – hộp bên trong hộp… Ấn Độ là một
nhà tù lớn; thế rồi có người Hindus và người Mô ha
mét giáo và người Ki tô giáo và người Sikhs và người
Jainas và Phật tử – bây giờ đây là những nhà tù nhỏ.
Người Ki tô giáo có thể đi nhà thờ, người đó không thể
tới đền thờ được; người Hindu có thể tới đền thờ,
người đó không thể tới nhà thờ. Người đó đã được dạy
và được ước định rằng nhà thờ không phải là chỗ có
160
tính tôn giáo; người Ki tô giáo đã được bảo rằng nhà
thờ là chỗ đúng duy nhất để tới – mọi tôn giáo khác
đều là sai, và mọi tôn giáo khác đều dẫn bạn đi lạc lối.
Chừng nào bạn chưa là người Ki tô giáo bạn không thể
được cứu. Và thế rồi trong Ki tô giáo có Cơ đốc giáo
và Tin lành, và trong Tin lành và Cơ đốc giáo có
những giáo phái con ngày một nhỏ hơn. Và nhà tù trở
thành ngày một nhỏ hơn.
Rồi có các nhà tù chính trị: ai đó là người cộng sản
và ai đó là người xã hội, và ai đó là người tư bản… vân
vân và vân vân. Và bạn không thoả mãn ngay cả với
những điều này: thế rồi bạn làm ra câu lạc bộ Rotary,
câu lạc bộ Lions… Khát khao của bạn để là tù nhân
mạnh tới mức bạn không thể đơn giản là một con
người được. Bạn phải là một người của Rotary và bạn
tự hào tuyên bố, “Tôi là người của Rotary,”
“Tôi là người của Lion.” Bạn không được thoả
mãn với việc đơn giản là một con người, bạn phải là
người của Lion. Và thế rồi có những ngăn còn nhỏ hơn
nữa.
Thay vì chui ra khỏi những xà lim nhà tù này,
chúng ta cứ trang hoàng cho chúng, chúng ta cứ làm
cho chúng ngày một tiện nghi hơn. Chúng ta đang
sống dưới luật hút, chúng ta đang sống như tù nhân.
Chúng ta không thể đi ngược chiều gió được – cuộc
sống chúng ta là thô. Phật nói: nhận biết về điều đó:
ông đang làm gì với cuộc sống của ông? Cân nhắc lại,
thiền về nó, điều bạn đã làm cho bản thân mình.
Nhưng hương của đức hạnh
vẫn đi ngược chiều gió,
xa tới tận cùng thế giới.
161
Phật nói: Nhưng có việc nở hoa của bản thể bên
trong của bạn, cái đẹp hơn cả đàn hương, đỗ quyên hay
nhài. Cái đẹp của nó là tự do tuyệt đối của nó. Nó có
thể đi ngược chiều gió. Người đức hạnh thực sự sống
trong tự do; người đó không tuân theo điều răn dạy
nào, người đó không tuân theo kinh sách nào, người đó
không tuân theo bất kì ai khác ngoài ánh sáng bên
trong riêng của mình. Người đó sống theo trái tim của
mình – người đó là người nổi dậy.
Nhưng Phật đang nói về hương của đức hạnh thật.
Ông ấy không nói về cái gọi là chính đáng, ông ấy
không nói về cái gọi là “con người có cá tính”, cái gọi
là các thánh nhân và mahatma của bạn – ông ấy không
nói về họ. Họ không phải là người tự do. Thực ra,
hương của đàn hương, đỗ quyên và nhài còn tự do hơn
nhiều cái gọi là các thánh nhân của bạn. Họ sống theo
các luật nhân tạo. Hương của đàn hương, hương của
các loại hoa, ít nhất cũng tuân theo các luật của tự
nhiên. Nhưng các thánh nhân của bạn, cái gọi là những
người đức hạnh của bạn, họ tuân theo luật nhân tạo –
luật do những kẻ mù làm ra, luật do những người dốt
nát làm ra, luật do những người chưa thức tỉnh làm ra,
những người không biết gì về nhận biết cả.
Ai làm ra luật của bạn? Ai làm ra Hiến pháp của
bạn? Ai chịu trách nhiệm cai quản xã hội và thu xếp và
quản lí xã hội? Chính những người mù như bạn, có thể
có học hơn, có thể có hiểu biết hơn. Nhưng không có
gì khác biệt liệu người mù có hiểu biết hơn về ánh
sáng hay ít hiểu biết hơn về ánh sáng – người mù là
người mù. Quan sát các thánh nhân của bạn mà xem,
và bạn sẽ ngạc nhiên! – họ sống tù túng sâu hơn nhiều
so với người thường.
162
Một sư Jaina muốn tới gặp tôi. Ông ta gửi một
thông điệp rằng ông ta đã từng khao khát gặp tôi trong
nhiều năm, và bây giờ ông ấy ở trong thành phố này và
ông ấy muốn gặp tôi. Nhưng các tín đồ của ông ấy
không cho phép ông ấy, người Jainas không cho phép
ông ấy tới công xã này. Bây giờ người này là loại
thánh nhân gì mà các tín đồ quyết định được nơi ông
ấy phải đi và nơi ông ấy phải không đi? Nhưng có thu
xếp lẫn nhau: các tín đồ gọi ông ấy là thánh nhân, họ
tôn thờ ông ấy, bây giờ ông ấy phải nhân nhượng, thoả
hiệp. Ông ấy phải theo các tín đồ.
Cái gọi là các thánh nhân và người lãnh đạo của
bạn đều là tín đồ của các tín đồ của riêng họ. Đó là
một thế giới ngu xuẩn thế, nực cười thế, toàn thể tình
huống này. Trên bề mặt dường như là các thánh nhân
là nhân tố quyết định; ông ấy cho mọi người lời
khuyên để theo ông ấy. Nhưng nếu bạn nhìn sâu xuống
dưới, bạn sẽ ngạc nhiên – ông thánh này đang tuân theo
các tín đồ riêng của mình. Thực ra, họ quyết định. Và
họ có quyền lực quyết định bởi vì họ có thể tôn thờ
bạn và họ có thể sỉ nhục bạn. Họ có thể tôn thờ bạn
nếu bạn theo họ, nếu bạn đi theo các ý tưởng, định
kiến mà họ đang mang trong tâm trí họ; bằng không
bạn không còn là thánh nhân nữa. Họ có thể hạ bệ bạn
– họ có quyền đưa bạn lên tới bậc thánh hay hạ bệ bạn
xuống thành tội nhân. Nếu bạn muốn là thánh nhân
bạn phải tuân theo đủ mọi loại ngu xuẩn. Bạn có thể
biết sâu bên dưới rằng điều này là ngu xuẩn.
Tôi đã gửi cho ông ấy một thông điệp nói, “Điều
này là ngu xuẩn, lố bịch! Sao ông phải hỏi tín đồ của
ông? Tín đồ là ai, ông hay họ? Sao ông phải hỏi họ?”
163
Ông ấy nói, “Thầy phải đấy, nhưng tôi phải phụ
thuộc vào họ. Vào tuổi tôi đây, tôi không thể rời bỏ
được họ bởi vì tôi chưa bao giờ làm việc trong đời
mình. Tôi bị phụ thuộc vào họ từ thức ăn, quần áo, mọi
thứ.”
Bây giờ bạn thấy thu xếp đấy. Điều này được gọi
là tâm linh, và việc thu xếp là tài chính!
Người đức hạnh thực sự chắc chắn tự do, và tự do
tới mức người đó có thể đi ngược chiều gió, người đó
có thể đi ngược toàn thể xã hội, người đó có thể đi
ngược toàn thể quá khứ, người đó có thể đi ngược mọi
tập tục. Thực ra người đó làm vậy – bởi vì đi ngược
mọi tập tục và quá khứ chết người đó xác nhận tự do
của mình.
Chính bởi vì điều này mà tôi bị kết án trên khắp
nước này và bây giờ, dần dần trên khắp thế giới. Lí do
duy nhất là ở chỗ họ muốn tôi đi cùng chiều gió, họ
muốn tôi chính thống, theo tập tục. Họ sẵn sàng tôn
thờ tôi, họ đã nhiều lần tới tôi nói rằng nếu tôi có thể
đơn giản tuân theo tôn giáo truyền thống thì họ sẽ tôn
thờ tôi như thánh nhân. Tôi nói, “Tôi không quan tâm
tới việc được tôn thờ hay là thánh nhân. Tôi đơn giản
muốn là bản thân mình. Và tôi không định thoả hiệp
với bất kì ai, dù người đó là ai. Thoả hiệp không phải
là cách thức của tôi.”
Bởi vì tôi đi ngược chiều gió nên họ bực mình
lắm. Nhưng nếu bạn mà đức hạnh… và đức hạnh là gì?
Nó không phải là cá tính nào đó được trau dồi từ bên
ngoài. Đức hạnh là hương thơm của tính thiền, đức
hạnh là hương thơm của hoa của thiền; do đó, tôi nói
nó không phải là ngay thẳng đạo đức, nó không là đạo
đức.
164
Tôi đã nghe:
Gái điếm thành phố ở Jerusalem bị ném đá. Khi
Jesus nói, “Để ai trong số các vị không có tội lỗi nào
ném hòn đá đầu tiên,” một bà già lẩy bẩy mang một
hòn đá lớn, thả nó vào đầu gái điếm và lên tiếng chê
bai con mụ dâm đãng.
Jesus nhìn xuống và nói, “Bà biết đấy, thưa mẹ,
đôi khi bà thực sự làm tôi bực mình.”
Người ngay thẳng, người đạo đức, người khắt khe
đạo đức bao giờ cũng sẵn sàng… thực ra toàn thể vui
vẻ của người đó là làm sao lên án, làm sao tống ngày
một nhiều người xuống địa ngục, làm sao đóng đinh
mọi người, làm sao giết và phá huỷ. Người đó thực sự
khổ sở, người đó thực sự là tự bạo, người đó thực sự
trải qua đủ mọi loại khổ hạnh ngu xuẩn, chỉ để tận
hưởng cảm giác của tính cao siêu, cảm giác của việc
đạo đức hơn người khác, cảm giác rằng “Các ông tất
cả đều là tội nhân còn ta đây là thánh nhân.”
Vị thánh thực có phẩm chất hoàn toàn khác. Ông
ấy không đạo đức; ông ấy biết cách tha thứ, bởi vì ông
ấy biết Thượng đế đã tha thứ cho ông ấy nhiều thế.
Ông ấy biết những giới hạn của con người, bởi vì bản
thân ông ấy đã chịu đựng qua những giới hạn con
người đó. Ông ấy có thể tha thứ. Ông ấy hiểu biết.
Người đạo đức không bao giờ hiểu, người đó
không bao giờ tha thứ; người đó không thể tha thứ
được bởi vì người đó đã từng hà khắc với bản thân
mình. Người đó đã đạt tới cái gọi là tính cách của mình
với những khó khăn đến mức vui vẻ duy nhất, thoải
165
mái duy nhất người đó có thể có được là ở việc đạo
đức hơn bạn. Làm sao người đó có thể tha thứ được?
Nếu người đó tha thứ thế thì người đó không thể tận
hưởng cuộc hành trình bản ngã mà người đó đang đi.
Người khổ hạnh là người bản ngã nhất trên thế
giới. Người đức hạnh không phải là người khổ hạnh.
Câu chuyện này được kể về bản thân Phật:
Trong sáu năm khi ông ấy rời bỏ cung điện của
mình ông ấy đã sống qua những cách khổ hạnh lớn lao
– đó là cách thức truyền thống của việc tìm kiếm chân
lí. Ông ấy đã hành hạ thân thể mình, ông ấy nhịn ăn,
ông ấy nhịn ăn tới mức tương truyền ông ấy trở nên
gầy còm giơ xương; bạn có thể đếm được các xương
sườn của ông ấy. Ông ấy trở thành khẳng khiu đến
mức dạ dầy ông ấy dính lưng – chẳng có gì còn giữa dạ
dày và lưng cả. Ông ấy trở nên yếu đến mức ông ấy
không thể vượt qua được con sông nhỏ, sông
Niranjana. Tôi đã từng tới chỗ đó để xem. Sông
Niranjana là con sông nhỏ, và lúc đó không phải là
mùa mưa, nhưng ông ấy đã không thể vượt qua sông
được, ông ấy không thể bơi qua sông được. Ông ấy
phải cực kì yếu.
Hôm đó, một khải lộ lớn lao đã xảy ra cho ông ấy:
“Mình đã làm những việc bạo hành không cần thiết
cho bản thân mình.” Ông ấy có năm tín đồ; họ tất cả
đều là người khổ hạnh và họ đã trở thành tín đồ của
Phật bởi vì ông ấy đi xa trước họ. Họ chỉ có thể làm
chừng đó, nhưng ông ấy đã làm nhiều lần hơn; do đó
họ mới là tín đồ. Tối hôm đó Phật quyết định, “Hành
hạ thân thể là ngu xuẩn, và làm sao các ông đạt tới
166
được linh hồn bằng việc hành hạ thân thể? Dường như
chẳng có mối quan hệ logic nào.” Và ông ấy thấy,
“Nếu ta thậm chí không thể vượt qua được con sông
này, con sông Niranjana bé tẹo, làm sao ta vượt qua
được đại dương thế giới khổng lồ này? Thân thể cần
thức ăn, thân thể cần nuôi dưỡng, thân thể cần sức
mạnh, để cho ta có thể thiền, để cho ta có thể suy tư,
để cho ta có thể truy tìm, với y mê, nhiệt tình, nghị
lực.”
Ông ấy quyết định vứt bỏ mọi khổ hạnh. Năm tín
đồ của ông ấy lập tức rời bỏ ông ấy. Họ nói, “Gautam
đã sa ngã khỏi trạng thái thiêng liêng của ông ấy, ông
ấy không còn là thánh nhân nữa.” Họ bỏ ông ấy ngay
lập tức; họ không ở cùng ông ấy nữa. Họ đã ở với ông
ấy chỉ vì phong cách sống tự bạo của ông ấy – bản thân
họ cũng phải là những kẻ tự bạo.
Và Phật Gautam đã trở nên chứng ngộ ngày hôm
sau. Vứt bỏ mọi khổ hạnh, vứt bỏ mọi xung đột bên
trong không cần thiết, cuộc nội chiến đó, ông ấy đã trở
nên yên tĩnh, im lặng tới mức sáng hôm sau ông ấy có
thể thấy, ông ấy đã trở nên cảm nhận. Trong im lặng
của mình, mọi rối loạn, mọi tán gẫu đều biến mất. Vào
sáng sớm khi mặt trời lên, ông ấy bắt đầu vươn lên bên
trong bản thể mình. Ông ấy đã thức tỉnh, ông ấy đã trở
thành vị phật.
Đức hạnh bắt nguồn từ im lặng, từ tính thiền, từ
thảnh thơi – không từ nỗ lực, không từ căng thẳng,
không từ vật lộn. Ông ấy đã đi tìm năm tín đồ cũ của
mình để cho họ thông điệp: “Đừng tự hành hạ mình
nữa. Điều này chẳng liên quan gì tới điều thiêng liêng
cả. Điều này chẳng liên quan gì tới tôn giáo cả.”
167
Thiền phải xảy ra trước hết, thế rồi tính cách tới
như cái bóng của nó. Và nếu thiền không xảy ra, thế
thì tính cách của bạn chỉ là thói đạo đức giả chứ không
là gì khác. Thánh nhân của bạn là những kẻ đạo đức
giả lớn; họ nói điều này, họ nghĩ điều khác, có thể là
cái đối lập. Họ làm điều này, nhưng họ muốn làm điều
gì đó đích xác đối lập lại. Trên bề mặt họ biểu lộ điều
này, nhưng sâu bên dưới họ là chính điều tương phản
lại.
Một cô gái thú tội rằng cô ấy đã để cho bạn trai để
tay lên đầu gối mình. “Và đấy là tất cả những gì anh ta
đã làm sao?” linh mục hỏi.
“Không. Anh ấy luồn ngón tay vào dưới dây chun
si lip con nữa.”
“Thế rồi sao?”
“Thế rồi anh ấy rẽ chỗ lông tơ của con và bắt đầu
mơn trớn chỗ thích thích của con.”
“Rồi sao? Rồi sao?”
“Thế rồi mẹ con bước vào.”
“Ô, cứt thật!” linh mục nói.
Những linh mục này, những thánh nhân này, họ
còn xấu hơn bạn nhiều, xấu hơn bạn đã từng có thể là
vậy nhiều, bởi vì họ chia chẻ nhiều hơn, phân chia
nhiều hơn. Họ bị kìm nén nhiều tới mức phần ý thức
và vô ý thức của họ đã rời nhau ra. Họ thuyết giảng
điều này, họ thực hành điều khác. Tại cửa trước nhà họ
bạn sẽ thấy người này, tại cửa sau bạn sẽ thấy một
168
người hoàn toàn khác. Bạn thậm chí sẽ không có khả
năng nhận ra được họ – họ đeo mặt nạ.
Những người này không phải là người đức hạnh.
Phật không nói về đức hạnh như vậy, ông ấy nói về
đức hạnh nảy sinh từ việc nở hoa của thiền. Phật nhấn
mạnh vào dhyan – thiền. Đó là đóng góp cơ bản của
ông ấy cho thế giới. Cách tiếp cận nền tảng nhất của
ông ấy là ở chỗ trước hết bạn phải trở nên thức tỉnh tại
trung tâm, thế rồi chu vi của bạn sẽ tràn đầy ánh sáng –
theo cách riêng của nó, không ngược lại.
Bạn đã được các linh mục bảo trước hết thực hành
tính cách, và thế rồi trung tâm của bạn sẽ thay đổi.
Điều đó là vô nghĩa. Trung tâm không bao giờ có thể
theo chu vi được, bởi vì trung tâm còn quan trọng hơn
nhiều, cơ sở hơn nhiều – nó là trung tâm, nó không thể
đi theo chu vi được. Nhưng chu vi bao giờ cũng đi
theo trung tâm. Biến đổi trung tâm đầu tiên đi, và đừng
lo nghĩ về chu vi. Đó là nhấn mạnh của tôi nữa, tại đó
tôi tuyệt đối đồng ý với Phật. Thiền trước hết, và thế
rồi tất cả những cái khác sẽ theo sau bằng cách riêng
của nó.
Jesus nói: tìm kiếm vương quốc của Thượng đế
trước, và tất cả những cái khác sẽ được thêm vào cho
ông.
Điều Jesus nói bằng “vương quốc của Thượng đế”
thì Phật nói bằng “thiền.” Lời của Phật khoa học hơn
nhiều so với lời của Jesus. Jesus nhiều tính nhà thơ
hơn Phật; Jesus nói nhiều theo kiểu cách ngôn hơn
Phật. Phật nói theo cách rõ ràng, logic, toán học. Ông
ấy là người không muốn nói bất kì cái gì theo bất kì
cách nào có thể được diễn giải theo nhiều cách. Ông ấy
không muốn dùng thơ ca, bởi vì thơ ca là mơ hồ, có
169
thể có nhiều diễn giải. Ông ấy nói như nhà toán học,
ông ấy nói như nhà logic, để cho từng lời có nghĩa cố
định và hàm ý cố định.
Nhưng hương của đức hạnh
vẫn đi ngược chiều gió,
xa tới tận cùng thế giới.
Hương của đức hạnh
cao quí hơn nhiều so với
hương của đàn hương, đỗ quyên,
của sen xanh, hay nhài!
Hương của sen xanh hay nhài hay đàn hương là
thơm ngát, dịu, nhưng so với hương của đức hạnh thì
nó rất thô. Đức hạnh thực sự có hương thơm, và hương
này đi tới những góc xa xôi nhất của thế giới.
Làm sao bạn đã tới đây với tôi? Từ những góc
khác nhau của thế giới bạn đã du hành, đôi khi không
thật đích xác rõ ràng vì sao; nhưng cái gì đó đã kéo
bạn đi, lực vô hình nào đó đã làm xúc động trái tim
bạn, cái gì đó đã được cảm thấy từ cốt lõi sâu thẳm
nhất của bản thể bạn. Đôi khi bạn thậm chí đã tới
ngược với chính bản thân mình. Tâm trí của bạn nói,
“Đừng đi! Không cần đi đâu cả.” Dầu vậy bạn đã tới.
Bạn phải đã ngửi thấy mùi thơm – mùi thơm này chẳng
liên quan gì tới cái thấy được. Nó là hiện tượng vô
hình.
Nhiều, nhiều người nữa sẽ sớm tới. Hương thơm
đang vươn tới họ, nhất định tới. Bất kì ai ở bất kì đâu,
người thực sự đang đi tìm chân lí đều nhất định tới.
Điều đó không thể cưỡng được, điều đó phải xảy ra.
Đó là cách nó đã xảy ra qua nhiều thời đại. Hàng nghìn
170
người đã du hành tới Phật, hàng nghìn người đã du
hành tới Mahavira, tới Lão Tử, tới Zarathustra – chẳng
bởi lí do nào cả, bởi vì bất kì điều gì họ đã nói đều có
trong kinh sách.
Điều tôi đang nói đây bạn có thể đọc trong
Bhagavadgita, trong Kinh Thánh, trong Koran, trong
Dhammapada, điều tôi đang nói bạn có thể dễ dàng
tìm thấy trong Upanishads, trong Đạo Đức Kinh –
nhưng bạn sẽ không tìm thấy hương thơm. Đấy là hoa
– cũ, chết, khô héo. Bạn có thể kẹp giữ bông hồng
trong cuốn Kinh Thánh của mình; chẳng mấy chốc nó
sẽ khô đi, hương thơm sẽ bay đi, nó sẽ chỉ là cái xác,
một kỉ niệm về hoa thực. Kinh sách cũng vậy. Chúng
được làm sống lại lần nữa bởi vị phật khác; bằng
không chúng không thể thở được.
Đó là lí do tại sao tôi đang nói về Dhammapada,
về Gita, về Kinh Thánh – để cho chúng thở lần nữa.
Tôi có thể thổi cuộc sống vào trong chúng. Tôi có thể
chia sẻ hương của tôi với chúng, tôi có thể rót hương
của tôi vào chúng. Do đó, người Ki tô giáo, người thực
sự là người Ki tô giáo, không chỉ bởi những ước định
xã hội mà bởi vì tình yêu lớn lao với Christ, người đó
sẽ thấy Christ sống lại trong lời tôi. Hay nếu ai đó là
phật tử người đó sẽ thấy trong lời tôi Phật đang nói lại
– theo ngôn ngữ của thế kỉ hai mươi, với những người
của thế kỉ hai mươi.
Hương của đức hạnh cao quí hơn nhiều so với
hương của đàn hương, đỗ quyên, của sen xanh, hay
nhài! Nó thơm dịu thế, nó có thể đi ngược chiều gió,
nó có thể đi ngược mọi luật. Nó có thể đi ngược lực
hút, nó có thể vươn lên cao, nó có thể đạt tới những
bầu trời cao nhất.
( còn nữa )

Dhammapada

CON ĐƯỜNG CỦA PHẬT

¨

ĐÂY LÀ CON ĐƯỜNG

ĐI TỚI CHÂN LÍ TỐI THƯỢNG

Tập 2 ( tiếp theo )

HÀ NỘI ( tiếp theo )

Hương của đàn hương hay đỗ quyên

không đi xa.

nhưng hương của đức hạnh

bay lên trời.

Hương của hoa không thể đi xa được. Nó là nhất

thời, nó là hữu hạn; nó có thể lan đi chừng mực nào đó

thế rồi nó biến mất. Nhưng hương của phật tính có thể

đi tới chính tận cùng của thế giới bởi vì nó vô hạn, và

nó là cái gì đó bên ngoài thời gian, bên ngoài không

gian. Thực ra, ngay cả khi thân của vị phật mất rồi,

hương thơm vẫn tiếp tục du hành.

Những người thực sự cảm nhận, nhạy cảm, có thể

bắt giữ được nó ngay cả khi vị phật đã qua hàng thế kỉ.

Có khả năng là người đương đại của Phật ngay cả bây

giờ, Đoá hoa không còn nữa, nhưng hương thơm đã trở

thành một phần của vũ trụ – cây có nó, gió có nó, mây

có nó. Bây giờ Phật không trong thân thể vật lí, nhưng

Phật đã trở thành vũ trụ. Nếu bạn biết cách uống từ vũ

trụ này, nếu bạn biết cách tiếp xúc với vũ trụ, bạn sẽ

ngạc nhiên: tất cả chư phật đều trở thành sống vì họ là

mọi thời đại, thời gian không tạo ra khác biệt.

Nếu bạn có thể là người

đương đại của những linh hồn thức tỉnh này, phỏng có

ích gì mà còn đương đại với thế giới bình thường của

bạn cùng những công dân bình thường của nó, cái gọi

là con người, những người chẳng có tính người gì

trong họ, những người vẫn chưa trở thành sinh linh,

những người chỉ là lỗ hổng, trống rỗng, vô nghĩa?

172

Phỏng có ích gì mà sống bên cạnh những xà lim trống

rỗng khi bạn có thể ở bên cạnh Phật Gautama?

Vâng, điều đó là có thể – điều đó là có thể bởi việc

siêu việt lên trên thời gian và không gian. Và trong

thiền bạn siêu việt lên trên cả hai. Trong thiền bạn

không biết mình ở đâu, bạn không biết thời gian, bạn

không biết không gian. Trong thiền, thời gian và

không gian cả hai đều biến mất – bạn đơn giản hiện

hữu.

Khoảnh khắc đó, khi bạn đơn giản hiện hữu, Phật

ở ngay bên cạnh bạn; bạn được bao quanh bởi chư

phật của mọi thời đại. Bạn sẽ sống lần đầu tiên một

cuộc sống xứng đáng để sống, một cuộc sống có ý

nghĩa: khi bạn có thể cầm tay chư phật. Điều đó là có thể – bởi vì

chỉ hoa đã biến mất, nhưng hương thơm là vĩnh hằng.

Nó không thể biến mất được.

Ham muốn chưa bao giờ cắt ngang con đường

của người đức hạnh và thức tỉnh.

Sáng dạ làm cho họ tự do.

Ham muốn nghĩa là tham lam để được ngày một

nhiều hơn. Ham muốn nghĩa là không hài lòng, không

hài lòng với cái đang đó, không hài lòng với hiện tại;

do đó bạn tìm kiếm mãn nguyện trong hi vọng vào

tương lai. Hôm nay là trống rỗng; bạn có thể sống chỉ

173

bằng hi vọng vào ngày mai. Ngày mai sẽ đem tới cái gì

đó… mặc dầu nhiều ngày mai đã tới rồi đi mà cái gì đó

kia vẫn chẳng bao giờ xảy ra, nhưng bạn cứ hi vọng

tựa vào hi vọng mãi. Chỉ cái chết sẽ tới.

Ham muốn chưa bao giờ được hoàn thành cả.

Trong chính bản chất của mọi sự chúng không thể

được hoàn thành. Người thức tỉnh nhìn vào trong tâm

trí ham muốn và cười to. Tâm trí ham muốn là tâm trí

ngu xuẩn nhất, bởi vì nó ham muốn cái gì đó mà

không thể được hoàn thành trong chính bản chất của

mọi sự. Cũng như bạn không thể lấy được dầu từ cát –

bạn có thể cứ làm việc mãi trên cát, nhưng bạn sẽ

không lấy được dầu từ nó, nó không tồn tại trong cát,

điều đó là không thể được – đích xác giống thế, ham

muốn chỉ là lừa dối.

Nó giữ cho bạn bận bịu – hiển nhiên, đó là toàn thể

chủ định của nó – nó giữ cho bạn bận bịu, nó giữ cho

bạn hi vọng, nó cứ hứa hẹn với bạn. Ham muốn là

chính khách: nó cứ hứa với bạn, “Đợi chút – thêm năm

năm nữa và mọi thứ sẽ tuyệt đối đúng. Chỉ cần năm

năm nữa thôi và thế giới sẽ trở thành thiên đường.” Và

các chính khách đã nói điều đó từ hàng nghìn năm. Và

nhìn vào nhân loại không thông minh mà xem: nó vẫn

cứ tin vào các chính khách. Nó thay đổi các chính

khách; nó trở nên nhàm chán người này, nó bắt đầu

nghe người khác. Nhưng điều đó không phải là thay

đổi chút nào. Chính khách này được thay thế bởi chính

khách khác; do đó các nền dân chủ sống như hệ thống

hai đảng.

Đảng này nắm quyền trong năm năm; tương ứng

với những lời hứa bạn cứ thế mà hi vọng, thế rồi bạn bị

thất vọng – chẳng cái gì xảy ra cả. Mọi sự còn tồi tệ

hơn chúng trước đây. Nhưng đến lần này, đảng không

nắm quyền kia bắt đầu hứa hẹn với bạn. Và điều ngu

xuẩn là bạn bắt đầu tin vào đảng kia. Bạn đưa đảng kia

lên nắm quyền; trong năm năm nó sẽ lừa bạn. Đến lúc

đó đảng đầu mà đã lừa bạn trước đây lại trở thành

đáng khen; lần nữa nó lại thu được lòng tin, lần nữa nó

đã phê bình đang cầm quyền và lần nữa nó đã lại thu

được kính trọng trong mắt bạn. Và lần nữa nó lại

khuấy động tâm trí hi vọng của bạn. Và kí ức của mọi

người là rất thiển cận; do đó các chính khách cứ thế

mà đánh lừa.

Ham muốn là chính khách. Ham muốn này giữ cho

bạn bận bịu trong nhiều năm; thế rồi, thất vọng trong

tay, bạn chán ngán về nó, mòn mỏi về nó, bạn vứt nó

đi – nhưng ngay lập tức bạn đi vào trong ham muốn

khác. Chính khách khác đang đợi bạn. Bạn chạy theo

tiền; rồi chán ngán, bạn quên mất tất cả về nó và bạn

bắt đầu xô theo quyền hay danh.

Ham muốn tinh ranh tới mức nó thậm chí có thể

lấy dạng tôn giáo, nó có thể trở thành có tính tôn giáo.

Nó sẵn sàng đeo bất kì mặt nạ nào. Nó có thể bắt đầu

nghĩ về cõi trời và các thú vui cõi trời. Nó có thể cho

bạn ý tưởng rằng kiếp sống này điều đó là không thể

được, nhưng kiếp sống tiếp bạn sẽ trên thiên đường, và

ở thiên đường thì có đủ mọi loại thoả mãn… cây thoả

ước. Bạn chỉ ngồi dưới gốc cây, bạn ước, và điều đó

được hoàn thành. Bạn sẽ ước gì? Ước muốn của bạn sẽ

ngu xuẩn bởi vì chúng bắt nguồn từ tâm trí bạn. Bạn

định đi tìm vui thú nào trên cõi trời? Một hôm cứ thử

nghĩ mình đã lên đến cõi trời rồi: bây giờ bạn muốn

gì? Bạn sẽ bắt đầu hỏi về khách sạn, về rạp chiếu

bóng, về đàn bà, về đàn ông… còn gì khác nữa? Vẫn

175

toàn những điều ấy thôi! Và cùng những thất vọng sẽ

theo sau.

Ham muốn chưa bao giờ cắt ngang con đường của

người đức hạnh và tỉnh thức. Phật nói: Ta gọi một

người là đức hạnh nếu người đó hoàn toàn nhận biết về

tính lừa dối của ham muốn và do đó ham muốn không

bao giờ nảy ra trong tâm trí người đó. Tâm trí người

đó vẫn còn vô ham muốn. Cách duy nhất để vô ham

muốn là tỉnh thức, có tính quan sát. Tính quan sát tạo

ra ánh sáng trong bạn, và trong ánh sáng đó bóng tối

của ham muốn không thể đi vào được.

Sáng tỏ làm cho họ tự do. Và khi bạn có tính quan

sát, có chói sáng trong bản thể bạn; thông minh lớn lao

nảy sinh trong bạn. Người thường sống trong ngu

xuẩn; người thường sống theo cách rất đần độn.

Khoảnh khắc bạn trở nên hài hoà với âm nhạc bên

trong của mình, bạn trở nên hài hoà với tính thiền,

thông minh lớn lao được thoát ra. Trong thông minh

đó bạn không thể nào bị lừa dối bởi ham muốn. Trong

thông minh đó lần đầu tiên bạn bắt đầu hiểu mọi sự

như chúng vậy, bạn dừng việc hiểu lầm. Thông thường

mọi hiểu biết của bạn đều không là gì ngoài hiểu lầm.

Bạn có thể cho rằng bạn rất thông minh, nhưng chỉ

người ngu mới nghĩ rằng họ thông minh. Bản thân

thông minh là rất không tự ý thức. Nó vận hành, vận

hành hoàn hảo, nhưng nó không tạo tự ý thức, nó

không đem tới ý tưởng về bản ngã, không có tính siêu

đẳng. Nó rất khiêm tốn, nó rất đơn giản.

Nhưng khi người thường tồn tại, người đó cứ hiểu

lầm. Bạn đọc Kinh Thánh và bạn hiểu lầm. Ngay cả

những đệ tử gần gũi nhất của Jesus không bao giờ hiểu

ông ấy. Tôi nói đi nói rằng Jesus là một trong những

176

thầy không may nhất đã từng bước chân trên trái đất

này – không chỉ bởi vì ông ấy bị đóng đinh và chỉ có

ba năm làm việc, mà bởi vì ông ấy có nhiều tín đồ rất

ngu.

Ngày Jesus sắp bị bắt, và điều tuyệt đối chắc chắn

là ông ấy đã bị một trong những đệ tử của mình phản

bội, Judas, ông ấy đã hỏi mười một tông đồ khác, “Các

ông có điều gì hỏi ta không?” Và bạn có biết họ đã hỏi

cái gì không? Họ đã hỏi những điều ngu xuẩn thế.

Jesus phải phát khóc. Ông ấy có thể phải đã cầu

nguyện từ sâu trong trái tim mình, như ông ấy đã làm

lần nữa trên cây chữ thập: “Cha ơi, xin tha thứ cho họ,

vì họ không biết điều họ đang hỏi.”

Họ đã hỏi cái gì? Họ đã hỏi, “Thưa thầy, vì thầy

sắp ra đi, đôi điều cần được làm rõ. Trong thế giới của

Thượng đế, trong vương quốc của Thượng đế, mà thầy

đã nói đi nói lại nhiều thế, thầy chắc chắn sẽ ở bên

phải Thượng đế rồi; vậy ai sẽ ở bên phải thầy? Trong

số chúng tôi ai sẽ là người thứ hai tiếp thầy và ai sẽ là

người thứ ba và người thứ tư? Cấp bậc sẽ là gì?”

Xem câu hỏi đấy! Thầy sắp bị đóng đinh ngày

mai, mà những người ngu này lo nghĩ về cấp bậc, ai sẽ

cao nhất. Họ sẵn sàng nhân nhượng với Jesus, “Thôi

được, đến chừng ấy thì chúng tôi chấp nhận, rằng thầy

sẽ là người thứ hai cạnh Thượng đế, nhưng ai sẽ thứ ba

và thứ tư và thứ năm? Để điều đó được quyết định rõ

ràng đi, bởi vì bây giờ thầy sắp ra đi và chúng tôi có

thể không sớm gặp lại nữa, cho nên mọi thứ phải chắc

chắn!”

177

Tâm trí ham muốn, tâm trí tham vọng này – họ đã

không hiểu Jesus chút nào. Và tương truyền Jesus quì

xuống và cầu nguyện và nước mắt lăn dài trên má ông

ấy. Không ai biết ông ấy cầu nguyện gì, nhưng ông ấy

phải đã cầu nguyện: “Xin tha thứ cho những người

này, họ không biết họ đang hỏi gì.” Và ông ấy phải đã

khóc vì đây là công trình cả đời của ông ấy, những

người này. Và ông ấy đã bảo họ đừng ham muốn, đừng

tham vọng. Ông ấy đã bảo họ, “Những người đầu tiên

trong thế giới này sẽ là người cuối cùng trong vương

quốc của Thượng đế của ta, và những người cuối cùng

sẽ là những người đầu tiên.” Nhưng họ đã không hiểu

rằng ông ấy đang nói với họ đừng tham vọng.

Mới hôm nọ, Premgeet đã gửi cho tôi một giai

thoại nhỏ về việc diễn giải nhầm:

Một cô y tá điên chạy theo một bệnh nhân đang la

hét dọc theo hành lang của khu nhà thương, mang cái

bát. Cô ta bị bác sĩ giải phẫu chặn nói, “Cô y tá! Cô y

tá! Tôi đã bảo cô chích chỗ sưng!”

Bạn có hiểu điều đó không? Cô ấy đang làm sưng

chim anh ta! Nhưng đây là điều đích xác đang xảy ra –

tâm trí quần chúng không thể hiểu được. Hiểu lầm là

không tránh khỏi, bởi vì tâm trí đám đông là điếc.

Trong khi bạn nói với mọi người, họ không thực sự

lắng nghe, họ chỉ giả vờ nghe. Cả nghìn lẻ một ý nghĩ

đan chéo qua tâm trí họ; họ không thực sự ở đó, họ

chưa bao giờ diện diện với bất kì tình huống nào, họ

bao giờ cũng vắng mặt. Họ không ở chỗ họ đang ở, họ

bao giờ cũng ở đâu đó khác. Khi họ đang ở Pune, họ ở

178

Bắc Kinh; khi họ ở Bắc Kinh, họ ở Pune. Những người

kì lạ! Dù họ ở bất kì đâu bạn cũng có thể chắc chắn

rằng ít nhất họ không ở đó; họ có thể đang ở chỗ nào

đó khác trên thế giới. Làm sao họ có thể hiểu được?

Và họ chỉ lắng nghe lời, họ không bao giờ lắng

nghe nghĩa cả – bởi vì nghĩa có thể được nghe chỉ bằng

trái tim. Lời có thể được nghe bằng đầu. Bây giờ, họ

không biết cách nghe qua trái tim. Lắng nghe qua trái

tim là nghĩa của việc là đệ tử; lắng nghe qua trái tim

nghĩa là lắng nghe trong tình yêu, trong tin cậy, trong

thông cảm sâu sắc, và cuối cùng trong thấu cảm sâu

sắc. Lắng nghe qua trái tim nghĩa là lắng nghe dường

như bạn đã trở thành một với điều được nói cho bạn –

khi đệ tử trở nên hài hoà với thầy tới mức ngay cả

trước khi lời được thốt ra thì đệ tử đã nghe thấy chúng,

và không chỉ lời mà cả nghĩa, hương thơm do lời mang

theo. Nhưng điều đó rất vô hình. Cái đầu là thô.

Cái vô hình chỉ có thể được nắm bắt qua mạng

lưới của trái tim.

Nếu bạn có thể là bạn của tôi, nếu bạn có thể trong tình yêu

và tin cậy sâu sắc ở đây trong sự hiện diện của tôi, nếu

chúng ta có thể đối diện lẫn nhau và soi gương lẫn

nhau, những điều cực kì quan trọng sẽ bắt đầu xảy ra

theo cách riêng của chúng – bởi vì trái tim bạn sẽ hiểu,

và khi trái tim hiểu, lập tức biến đổi xảy ra.

Khi cái đầu hiểu, thế thì nó hỏi, “Làm sao? Vâng

điều đó đúng; bây giờ, làm sao nó có thể được làm?”

Nhớ khác biệt này: trong cái đầu, tri thức và hành động

là hai điều khác nhau; trong trái tim, tri thức là hành

động.

Socrates nói: Tri thức là đức hạnh – và ông ấy đã

không được hiểu qua nhiều thời đại. Ngay cả các đệ tử

riêng của ông ấy, Plato và Aristotle, đã không hiểu ông

ấy đúng. Khi ông ấy nói tri thức là đức hạnh, ông ấy

ngụ ý có cách lắng nghe và hiểu trong đó khoảnh khắc

bạn hiểu ra một điều, bạn không thể làm khác được.

Khi bạn thấy rằng đây là cửa, thế thì bạn không thể cứ

cố đi ra qua tường được, bạn sẽ đi ra qua cửa. Thấy

nghĩa là hành động, thấy đem tới hành động.

Nếu khi tôi bảo bạn, “Đây là cửa. Bất kì khi nào

bạn muốn ra, xin ra qua cửa này, bởi vì bạn đập đầu

mình khi cố đi ra qua tường là đủ rồi,” bạn nói, “Vâng,

thưa thầy, tôi hiểu rõ lắm, nhưng làm sao đi ra qua cửa

được?” câu hỏi của bạn sẽ chỉ ra rằng trái tim vẫn chưa

lắng nghe đâu, chỉ mỗi cái đầu. Cái đầu bao giờ cũng

hỏi “Làm sao?”

Cái đầu bao giờ cũng hỏi những câu hỏi dường

như rất thích đáng trên bề mặt nhưng tuyệt đối lố bịch.

Trái tim không bao giờ hỏi cả – nó lắng nghe và hành

động. Lắng nghe và hành động là một trong trái tim;

tình yêu biết và hành động tương ứng. Nó chưa bao

giờ hỏi “Làm sao?” Trái tim có thông minh của riêng

nó. Cái đầu là trí tuệ, trái tim là thông minh.

Hoa sen mọc duyên dáng làm sao

trong rác rưởi của lề đường.

Hương thuần khiết của nó làm thích thú trái tim.

180

Nhớ điều đó lặp đi lặp bởi vì bạn sẽ quên đi quên

lại rằng đó là vấn đề của trái tim. Nếu trái tim vui

mừng trong cái gì đó, thế thì bạn có thể chắc chắn cuộc

sống của bạn đang phát triển, mở rộng; tâm thức bạn

đang trở thành rõ ràng hơn, thông minh của bạn đang

thoát ra khỏi tù túng của nó.

Hoa sen mọc duyên dáng làm sao trong rác rưởi

của lề đường. Từ về hoa sen mà Phật dùng là pankaj;

đó là một trong những từ hay nhất. Pankaj nghĩa là cái

được sinh ra từ bùn, từ bùn bẩn. Hoa sen là một trong

những hiện tượng huyền diệu nhất trong sự tồn tại; do

đó ở phương Đông nó đã trở thành biểu tượng của biến

đổi tâm linh. Phật ngồi trên hoa sen, Vishnu đứng trên

hoa sen. Tại sao lại hoa sen? – bởi vì hoa sen có một ý

nghĩa rất biểu tượng: nó mọc ra từ bùn bẩn. Nó là biểu

tượng biến đổi, nó là sự biến thái. Bùn thì bẩn, có thể

còn bốc mùi hôi; hoa sen là hương thơm, và nó bắt

nguồn từ bùn hôi.

Phật đang nói: Theo đích xác cùng cách đó, cuộc

sống thường chỉ là bùn hôi – nhưng khả năng trở thành

hoa sen được ẩn ở đó. Bùn có thể được biến đổi, bạn

có thể trở thành hoa sen. Dục có thể được biến đổi và

nó có thể trở thành samadhi. Giận có thể được biến đổi

và nó có thể trở thành từ bi. Ghét có thể được biến đổi

và nó có thể trở thành yêu. Mọi thứ mà bạn có cái nhìn

tiêu cực bây giờ, như bùn, có thể được biến đổi. Tâm

trí ồn ào của bạn có thể được làm trống rỗng và được

biến đổi, và nó trở thành âm nhạc tinh tú.

Đi theo người đã thức tỉnh

và từ trong những người mù

ánh sáng của trí huệ của ông

sẽ chiếu sáng hoàn toàn bên ngoài.

181

Nhưng lối ra duy nhất khỏi đống lộn xộn này là ở

việc hài hoà với ai đó đã thức tỉnh. Bạn đang ngủ; chỉ

ai đó thức tỉnh mới có thể lay bạn ra khỏi giấc ngủ của

mình, mới có thể giúp bạn ra khỏi nó.

Gurdjieff thường nói: Nếu bạn đang trong tù, chỉ ai

đó ở ngoài nhà tù mới có thể xoay xở, mới có thể thu

xếp để cho bạn có thể thoát ra khỏi nhà giam; bằng

không điều đó là không thể được. Và bạn không chỉ

trong nhà giam – bạn đã bị thôi miên và được bảo rằng

đây không phải là nhà giam, đây là nhà bạn. Bạn

không chỉ trong tù – bạn đã tin nó là nhà bạn và bạn

đang trang hoàng cho nó. Toàn thể cuộc sống của bạn

không là gì ngoài việc trang hoàng cho nhà giam này,

và bạn đang đua với các tù nhân khác, những người

cũng đang trang hoàng cho xà lim đen tối của mình.

Chỉ ai đó tự do, người đã có thời ở trong tù và

không còn trong tù nữa, mới có thể xoay xở đánh thức

bạn, làm cho bạn nhận biết về thực tại. Người đó có

thể xoay xở để giải thôi miên bạn, người đó có thể

giúp bạn giải ước định, và người đó có thể phát minh

ra các phương pháp và phương tiện để cho bạn có thể

thoát khỏi nhà giam. Người đó có thể hối lộ cai ngục,

cai tù; người đó có thể đem chiếc thang gần bức tường,

người đó có thể ném dây thừng vào bên trong. Người

đó có thể làm ra lỗ hổng trong tường từ bên ngoài… cả

nghìn lẻ một khả năng.

Nhưng hi vọng duy nhất cho bạn là trong tiếp xúc

sâu với ai đó đã thức tỉnh. Người thức tỉnh được gọi là

thầy – satguru. Nếu bạn có thể tìm thấy thầy, đừng bỏ

lỡ cơ hội này – buông xuôi, thảnh thơi trong hiện hữu

của thầy, thấm đẫm nhận biết của thầy, để hương thơm

182

của thầy bao quanh bạn. Và ngày đó không xa xôi gì

khi bạn cũng được thức tỉnh, bạn cũng sẽ là vị phật.

Tự nhủ mình rằng chừng nào bạn chưa là vị phật,

cuộc sống của bạn vẫn còn là phí hoài. Chỉ bằng việc

là vị phật cuộc sống của người ta mới có vẻ duyên

dáng, đẹp đẽ, thông minh, ý nghĩa, phúc lành.

( còn nữa )

Dhammapada

CON ĐƯỜNG CỦA PHẬT

¨

ĐÂY LÀ CON ĐƯỜNG

ĐI TỚI CHÂN LÍ TỐI THƯỢNG

Tập 2 ( tiếp theo )

7

Thìa có nếm canh không?

Đêm dài làm sao với người gác,

Đường dài làm sao với lữ khách mệt lử,

Lang thang lâu sao qua nhiều kiếp

với người ngu bỏ lỡ con đường.

Nếu lữ khách không thể tìm ra

thầy hay bạn đi cùng mình,

để người đó đi một mình

hơn là đi cùng người ngu.

“Con ta, của cải của ta!”

Người ngu tự gây rắc rối cho mình.

Nhưng người đó làm sao có con hay của cải?

Người đó thậm chí không là người chủ riêng của

mình.

Người ngu biết mình là ngu

là khôn hơn nhiều.

218

Người ngu nghĩ mình khôn

thực sự là người ngu.

Thìa có nếm canh không?

Người ngu có thể sống cả đời

cùng với thầy

và vẫn lỡ con đường.

Lưỡi nếm canh.

Nếu ông thức trong hiện diện của thầy

một khoảnh khắc sẽ chỉ cho ông con đường.

Người ngu là kẻ thù riêng của mình.

Tai hoạ người đó gây ra phá huỷ của người đó.

Người đó chịu cay đắng làm sao!

Tại sao làm điều ông sẽ hối tiếc?

Tại sao mang nước mắt theo bản thân ông?

Làm chỉ điều ông không tiếc,

và rót đầy bản thân ông bằng vui vẻ.

Con người là cây cầu giữa cái biết và cái không

biết. Vẫn còn bị giới hạn trong cái biết là kẻ ngu. Đi

tìm cái không biết là bắt đầu của trí huệ. Trở thành một

với cái không biết là trở thành người thức tỉnh, vị phật.

Nhớ lấy, lặp đi lặp lại, rằng con người vẫn chưa là

sự hiện hữu – con người đang trên đường, một lữ

khách, một người hành hương. Con người chưa ở nhà,

con người đang đi tìm nhà. Người nghĩ rằng mình

đang ở nhà là người ngu, vì thế thì việc tìm kiếm dừng

lại, thế thì việc tìm không còn nữa. Và khoảnh khắc

219

bạn dừng tìm tòi và tìm kiếm, bạn trở thành cái vũng

năng lượng tù đọng, bạn bắt đầu bốc mùi. Thế thì bạn

chỉ chết, thế thì bạn không sống chút nào.

Sống là trong tuôn chảy, sống là trong duy trì dòng

sông – bởi vì chỉ dòng sông sẽ đạt tới đại dương. Nếu

bạn trở thành cái ao tù đọng thế thì bạn chẳng đi đâu

cả. Thế thì bạn không thực sự sống. Người ngu không

sống, người đó chỉ giả vờ sống. Người đó không biết,

người đó chỉ giả vờ biết. Người đó không yêu, người

đó chỉ giả vờ yêu. Người ngu tự phụ.

Người trí huệ sống, yêu, người trí huệ truy tìm.

Người trí huệ sẵn sàng, bao giờ cũng sẵn sàng, đi vào

biển chưa lập bản đồ. Người trí huệ có tính phiêu lưu.

Người ngu sợ.

Khi Phật dùng từ ‘ngu’ bạn phải nhớ mọi nghĩa này

của từ này. Không phải là nghĩa thường mà Phật đem

cho từ ‘ngu’. Với ông ấy, người ngu nghĩa là người

sống trong tâm trí và không biết gì về vô trí; người

sống trong thông tin, tri thức, và đã không nếm trải cái

gì của trí huệ; người sống cuộc sống vay mượn, bắt

chước, nhưng chẳng biết gì về bất kì cái gì nảy sinh

trong bản thể riêng của mình.

Với “người ngu” Phật ngụ ý người đã quá quen

thuộc với kinh sách, nhưng chưa nếm trải lấy một

khoảnh khắc của chân lí. Người đó có thể là học giả

lớn, rất thông thái – thực ra, người ngu là các học giả;

họ phải như vậy bởi vì đó là cách duy nhất để che giấu

cái ngu của họ. Người ngu là những người rất có học;

họ phải như vậy, bởi vì chính là chỉ qua những lời có

học, các lí thuyết, các triết lí mà họ mới có thể che

giấu cái dốt nát bên trong của họ, mà họ mới có thể

220

che giấu cái trống rỗng của họ, mà họ mới có thể tin

rằng họ cũng biết.

Nếu bạn muốn tìm thấy người ngu, vào các đại

học, vào các viện hàn lâm. Tại đó bạn sẽ tìm thấy họ –

trong dốt nát hoàn toàn của họ, nhưng vẫn giả vờ biết.

Họ chắc chắn biết điều người khác đã nói, nhưng đấy

không phải là cái biết thực. Người mù có thể thu thập

mọi thông tin có đó về ánh sáng, nhưng người đó sẽ

vẫn còn mù. Người đó có thể nói về ánh sáng, người

đó có thể viết ra các chuyên luận về ánh sáng; người

đó có thể rất láu lỉnh trong dự đoán, trong nguỵ tạo các

lí thuyết, nhưng dầu vậy người đó vẫn còn là người mù

và người đó chẳng biết gì về ánh sáng cả. Nhưng thông

tin mà người đó thu thập có thể không chỉ lừa dối

người khác, nó có thể lừa dối bản thân người đó nữa.

Người đó có thể bắt đầu nghĩ rằng mình biết, rằng

mình không mù nữa.

Khi Phật dùng từ ‘ngu’ ông ấy không ngụ ý đơn

giản là dốt nát, bởi vì nếu người dốt nát mà nhận biết

rằng mình dốt nát, người đó không phải là người ngu.

Và điều có thể hơn đối với người dốt nát là nhận biết

rằng mình dốt nát hơn chính cái gọi là những người có

học. Bản ngã của họ cũng được thổi phồng thế; rất khó

cho họ thấy – điều đó đi ngược lại đầu tư của họ. Họ đã

dành cả các kiếp sống của họ cho tri thức, và bây giờ,

thật là khó khăn, thật là gian nan để nhận ra sự kiện là

tất cả tri thức này là vô nghĩa, vô tích sự, vì bản thân

họ đã không nếm trải chân lí.

Người dốt nát có thể nhớ rằng mình dốt nát –

người đó chẳng có gì để mất; nhưng người có học,

người đó không thể nhận ra được rằng mình dốt nát –

người đó có nhiều thứ để mất. Người thông thái là

221

người ngu thực. Người dốt nát là hồn nhiên; người đó

biết rằng mình không biết, và bởi vì người đó biết rằng

mình không biết, vì người đó là người dốt nát, nên

người đó ở ngay ngưỡng cửa của trí huệ. Bởi vì người

đó biết mình không biết, người đó có thể truy tìm, và

cuộc truy tìm của người đó sẽ thuần khiết, không định

kiến. Người đó sẽ truy tìm mà không có kết luận nào.

Người đó sẽ truy tìm mà không là người Ki tô giáo hay

người Mô ha mét giáo hay người Hindu giáo. Người

đó đơn giản sẽ truy tìm như người truy tìm. Việc truy

tìm của người đó sẽ không bắt nguồn từ những câu trả

lời làm sẵn, việc truy tìm của người đó sẽ bắt nguồn từ

trái tim riêng của người đó. Việc truy tìm của người đó

sẽ không phải là sản phẩm phụ của tri thức, việc truy

tìm của người đó sẽ có tính tồn tại. Người đó truy tìm

bởi vì đó là vấn đề sống và chết với người đó. Người

đó truy tìm bởi vì người đó thực sự muốn biết. Người

đó biết rằng mình không biết – đó là lí do tại sao người

đó truy tìm. Việc truy tìm của người đó có cái đẹp của

riêng nó. Người đó không phải là người ngu, người đó

đơn giản dốt nát. Người ngu thật là người nghĩ mình

biết mà chẳng biết gì cả.

Socrates đã cố gắng làm cùng điều đó ở Athens:

ông ấy đã cố gắng làm cho những người ngu có học

này nhận biết rằng mọi học vấn của họ đều là giả, rằng

họ thực sự là người ngu, kẻ giả vờ, đạo đức giả. Một

cách tự nhiên, mọi giáo sư và mọi triết gia và mọi cái

gọi là nhà tư tưởng… và Athens đầy những họ. Athens

là thủ đô của tri thức vào những ngày đó. Cũng như

ngày nay mọi người nhìn vào Oxford hay Cambridge,

mọi người đã nhìn tới Athens. Nơi đó đầy những

người ngu có học, và Socrates đang cố gắng đưa họ

xuống đất, làm tan nát tri thức của họ, đang nêu ra

222

những câu hỏi – đơn giản theo cách nào đó, nhưng khó

được trả lời bởi những người chỉ đi góp nhặt tri thức từ

người khác.

Athens trở nên giận Socrates lắm. Họ đã đầu độc

con người này. Socrates là một trong những người vĩ

đại nhất đã từng bước đi trên trái đất; và điều ông ấy

đã làm rất ít người đã làm được. Phương pháp của ông

ấy là phương pháp cơ bản. Phương pháp của Socrates

để truy tìm là tới mức nó phơi bày người ngu là ngu.

Phơi bày người ngu là ngu là điều nguy hiểm, tất

nhiên, bởi vì người đó sẽ trả thù. Socrates đã bị đầu

độc, Jesus đã bị đóng đinh, Phật đã bị kết án.

Ngày Phật chết, Phật giáo bị tống khỏi đất nước

này, bị trục xuất khỏi đất nước này. Các học giả, các

nhà bác học, những người brahmins, không thể cho

phép nó còn lại. Nó quá không thoải mái cho họ. Công

kích cơ sở của nó là vào các brahmins, những kẻ ngu

có học, và một cách tự nhiên họ đều bị bực mình. Họ

đã không thể đối diện được với Phật, họ đã không thể

đương đầu được với ông ấy. Họ chờ đợi cơ hội của họ

theo cách tinh ranh: khi Phật chết, thế rồi họ bắt đầu

đánh các tín đồ. Khi ánh sáng đã tắt rồi, thế thì đó là

thời gian cho cú, cho người ngu có học, để cai trị đất

nước này lần nữa. Và kể từ lúc đó họ đã cai trị mãi cho

tới nay – họ vấn đang nắm quyền. Vẫn cùng những

người ngu đó!

Thế giới đã chịu đựng nhiều rồi. Con người có thể

đã trở thành vinh quang của trái đất, nhưng bởi vì

những kẻ ngu này… và bởi vì họ có quyền họ có thể

gây hại, và bởi vì họ có quyền họ có thể phá huỷ bất kì

khả năng nào, bất kì cơ hội nào cho con người tiến

hoá. Con người đã đi trong vòng tròn, và những người

223

ngu này không muốn con người trở thành trí huệ, bởi

vì nếu con người trở thành trí huệ những người ngu

này sẽ không ở đâu cả. Họ sẽ không trong quyền lực

nữa – về tôn giáo, chính trị, xã hội, tài chính, mọi

quyền lực sẽ mất đi. Họ có thể vẫn còn trong quyền

lực chỉ nếu họ có thể cứ phá huỷ đi mọi khả năng của

trí huệ đối với con người.

Khi bạn đứng trên đỉnh núi chan hoà ánh nắng, bạn

biết mọi thứ bên dưới thung lũng. Người dưới thung

lũng có thể không nhận biết về bạn chút nào, điều đó

là không thể được cho họ. Thung lũng có mối bận tâm

riêng của nó, vấn đề riêng của nó. Thung lũng bận tâm

với bóng tối riêng của nó.

Người ngu có thể tới một thầy nhưng sẽ vẫn còn

chẳng được lợi lộc gì bởi vì người đó sẽ chỉ thấy cái

bên ngoài. Người đó sẽ không có khả năng thấy được

cái bản chất, người đó sẽ không có khả năng thấy được

cái cốt lõi. Người ngu cũng tới đây nữa, nhưng người

đó chỉ nghe những lời – và người đó cứ diễn giải

những lời này theo ý tưởng riêng của mình. Người đó

cứ thoả mãn hoàn toàn rằng mình biết điều đang xảy

ra.

Có nhiều người ngu không tới đây – họ không cảm

thấy cần thiết. Họ đơn giản phụ thuộc vào các báo cáo

của những người ngu. Thế là đủ. Chỉ một người ngu có

229

thể thuyết phục cả nghìn người ngu, bởi vì ngôn ngữ

của họ là như nhau, định kiến của họ là như nhau,

quan niệm của họ là như nhau… không có vấn đề gì!

Một người ngu đã thấy, và tất cả những người ngu

khác bị thuyết phục. Một người ngu tường trình trên

báo chí và tất cả những người ngu khác đọc nó vào

buổi sáng, và được thuyết phục.

Lời kinh:

Đêm dài làm sao với người gác,

Đường dài làm sao với lữ khách mệt lử,

Lang thang lâu sao qua nhiều kiếp

với người ngu bỏ lỡ con đường.

Đêm rất dài đối với người gác đêm – tại sao?

Người đó không thể thảnh thơi, người đó phải giữ bản

thân mình thức bằng cách nào đó. Đó là cuộc vật lộn.

Người đó phải giữ bản thân mình thức đi ngược tự

nhiên, bởi vì đêm có nghĩa là dành cho thảnh thơi và

nghỉ ngơi và đi vào giấc ngủ. Người đó đang tranh đấu

chống lại tự nhiên – người ngu là như vậy. Người ngu

cứ tranh đấu chống lại tự nhiên. Người đó cố gắng bơi

ngược dòng; do đó, khổ của người đó kéo dài, dài

không cần thiết. Người đó nhân nó lên cả nghìn lần bởi

vì người đó không thể buông bỏ được, người đó không

thể thảnh thơi được.

Chỉ dẫn thứ nhất về tâm trí ngu si là ở chỗ nó

không thể thảnh thơi được, nó bao giờ cũng căng

thẳng, nó bao giờ cũng canh gác, nó bao giờ cũng sợ.

Đêm dài làm sao với người gác… Nó không dài

như vậy với những người đang nghỉ ngơi, thảnh thơi,

230

và đã đi vào trong giấc ngủ sâu. Nó trôi qua nhanh thế!

Mới khoảnh khắc này bạn còn thức, thế rồi bạn rơi vào

giấc ngủ… và khoảnh khắc sau bạn thức dậy, trời đã

sáng rồi. Bạn không thể tin được đêm đã bay qua

nhanh thế. Nếu bạn thực sự nghỉ… bạn càng nghỉ

nhiều, đêm bay qua càng nhanh. Nếu bạn nghỉ toàn bộ,

thời gian biến mất. Đây là điều gì đó cần được hiểu.

Thời gian là hiện tượng tâm lí. Tôi không nói về

thời gian bạn thấy trên đồng hồ, tôi đang nói về thời

gian tâm lí. Khi bạn hạnh phúc, thảnh thơi, an bình,

thời gian bay qua nhanh. Khi bạn đau đớn, khổ sở,

buồn phiền, thời gian trôi qua rất chậm; nó dường như

không chấm dứt.

Bạn đã ngồi bên cạnh người sắp chết trong đêm

chưa? Dường như sáng chẳng bao giờ tới. Đêm dường

như dài thế… vẫn cùng đêm đó thôi. Cùng đêm đó bạn

ngồi cùng người yêu, và đêm bay qua nhanh tới mức

bạn không thể tin được vào điều đó – bởi vì bạn hạnh

phúc và bạn thảnh thơi và bạn tận hưởng và bạn đi với

tự nhiên, không tranh đấu. Yêu nghĩa là buông xuôi,

yêu nghĩa là thảnh thơi.

Người ta cứ hỏi Albert Einstein lặp đi lặp lại mãi

trong đời ông ấy, “Lí thuyết tương đối là gì?” Đó là

một lí thuyết phức tạp và nó không thể được giải thích

một cách dễ dàng cho những người không biết về toán

học cao cấp. Thực ra, người ta nói rằng chỉ có mười

hai người trên cả trái đất hiểu đích xác điều Einstein

ngụ ý bởi lí thuyết tương đối. Làm sao giải thích nó

cho người thường được?

Cho nên ông ấy đã đưa ra cách giải thích hay này.

Ông ấy sẽ nói, “Ngồi trên bếp lò nóng thì một giây

dường như vĩnh viễn, không chấm dứt – nó nóng thế,

231

nó đau thế. Và thế rồi cầm tay người yêu và ngồi bên

cô ấy trên bờ sông trong đêm trăng tròn, và hàng giờ

trôi qua như khoảnh khắc.” Điều này, ông ấy thường

nói, là lí thuyết tương đối.

Mọi thứ đều phụ thuộc vào bạn, vào trạng thái tâm

lí của bạn. Thời gian không phải là hiện tượng vật lí,

vật chất; nó có tính tâm lí. Do đó, trong thiền sâu thời

gian biến mất toàn bộ. Và điều này không phải là cái

gì mới, các nhà huyền môn đã biết tới nó trong nhiều

thời đại. Họ đã nói, mọi nhà huyền môn của mọi nước,

rằng thời gian dừng khi thiền thực sự bắt đầu.

Thế giới này bao gồm thời gian và không gian. Đó

là cách Albert Einstein định nghĩa nó: không-thờigian.

Ông ấy tạo ra một từ từ hai từ, bởi vì ông ấy nói

thời gian không là gì ngoài chiều thứ tư của không

gian. Cho nên thế giới này bao gồm không gian và thời

gian, và trong thiền bạn biến mất khỏi cả hai, hay cả

hai biến mất khỏi bản thể bạn. Bạn không biết bạn ở

đâu. Bạn hiện hữu, chắc chắn, còn hơn cả bạn đã từng

hiện hữu; bạn toàn bộ ở đó nhưng không có không

gian giới hạn bạn và không có thời gian xác định bạn.

Sự tồn tại thuần khiết. Một khi được nếm trải rồi, mọi

cái ngu ngốc biến mất.

Người ngu sống trong thời gian, người trí huệ sống

trong vô thời gian.

Người ngu sống trong tâm trí, người trí huệ sống

trong vô trí.

Đêm dài làm sao với người gác, đường dài làm

sao với lữ khách mệt lử… nhìn vào mặt mọi người mà

xem – họ trông mệt mỏi làm sao, mòn mỏi, hoàn toàn

thất vọng. Và họ không chỉ trông như vậy, họ là như

vậy đấy. Linh hồn của họ mệt mỏi, chính bản thể họ đã

trở thành một loại chán ngán. Họ đang kéo lê bản thân

mình – họ không vui vẻ, không nhảy múa trong bước

đi của họ, không bài ca trong trái tim họ, không biết

233

ơn, không cám ơn… ngược lại, nhiều phàn nàn ca cẩm

thế.

Một trong những nhân vật của Dostoevsky trong

cuốn Anh em nhà Karamazov nói, “Tôi muốn trả lại

cuộc sống này cho Thượng đế nếu tôi gặp ngài. Tôi

không muốn sống thêm nữa. Cuộc sống đầy khổ não

thế!” Anh ta muốn trả vé. Làm sao anh ta có thể cám

ơn được?

Nghĩ mà xem: nếu bạn gặp Thượng đế một ngày

nào đó, bạn định nói gì với ngài? Thậm chí khó mà nói

“Chào ngài!” Bạn sẽ giận ngài thế, hoàn toàn bực tức

thế, cáu bẳn vì rằng đây là người đã tạo ra bạn, đây là

người đã tạo ra thế giới này! Điều đó là đơn giản bởi vì

điều này mà Thượng đế cứ trốn tránh; bằng không thì

mọi người nhất định giết chết ngài. Họ sẽ không để

cho ngài sống đâu; ngài phải đi trốn, chỉ để sống sót

mà ngài phải đi trốn.

Đêm dài làm sao với người gác, đường dài làm

sao với lữ khách mệt lử, lang thang qua nhiều kiếp dài

làm sao với người ngu bỏ lỡ con đường. Và người ngu

nhất định bỏ lỡ con đường rồi. Tại sao? – bởi vì người

đó nghĩ mình đã biết con đường rồi, bởi vì người đó

nghĩ người đó đang trên đường rồi. Mọi người khác

đều sai, người đó đúng. Người đó tin rằng nếu mọi

người theo người đó, mọi thứ sẽ đúng trên thế giới.

Người đó là cuồng tín. Người đó có Kinh Thánh,

Koran, Vedas – còn cần gì khác nữa? Người đó biết

mọi giáo điều hay của mọi tôn giáo rồi – còn cần gì

thêm nữa? Người đó biết con đường rồi!

Nhưng khi Phật dùng từ ‘đạo’, ông ấy ngụ ý pháp

dhamma – aes dhammo sanantano. Ông ấy ngụ ý con

đường đưa bạn ra khỏi bản ngã của bạn, con đường

234

đưa bạn ra khỏi tâm trí của bạn, con đường đưa bạn ra

khỏi sự đồng nhất của mình, con đường làm cho bạn

thành cái không tuyệt đối… con đường giúp bạn tan

biến vào trong cái toàn thể.

Ông ấy không nói về tôn giáo, ông ấy không nói

về cái gọi là kĩ thuật, phương cách, phương pháp. Khi

ông ấy dùng từ ‘con đường’, ông ấy ngụ ý đích xác

điều Lão Tử ngụ ý bởi ‘đạo’. Đạo đích xác nghĩa là

“con đường” – con đường tới cái gì? Con đường đi ra

ngoài bản thân bạn, con đường dẫn bạn đi ra khỏi trạng

thái bi giới hạn của bạn, trạng thái bị cầm tù, vào chỗ

mở.

Lang thang qua nhiều kiếp dài làm sao… Và điều

đó thực sự dài, việc lang thang dài – không phải một

ngày hay một kiếp, mà nhiều kiếp, hàng triệu kiếp. Và

nếu mọi người mệt mỏi, điều đó không gây ngạc

nhiên. Nếu mắt họ đầy bụi, điều đó không gây ngạc

nhiên. Nếu linh hồn họ bị bao phủ bởi nhiều tầng bụi

bặm, điều đó không gây ngạc nhiên. Nếu chúng không

còn phản chiếu, nếu những tấm gương của họ bị mất,

điều đó không phải là ngẫu nhiên – điều đó là hiểu

được, mặc dầu không tha thứ được, bởi vì không ai

khác chịu trách nhiệm cho tình huống này ngoại trừ

bạn. Nếu bạn quyết định, bạn có thể vứt bỏ mọi tầng

bụi bặm này ngay chính khoảnh khắc này, và khoảnh

khắc bạn vứt đi mọi bụi bặm của ý nghĩ của mình, bạn

đang trên đường. Bạn là con đường rồi!

 

 

LượcTrích Dhammapada – Con đường của Phật (đủ bộ)

600_dhammapadavol1

Kính thưa tất cả mọi người!

Nhờ hồng ân chư Phật ba đời, nhờ công đức phước lành nơi diễn đàn mà trực tiếp là Thầy Admin và Ngài Viên Quang 6 cùng toàn thể những người giữ vai trò quan trọng nơi diễn đàn. Mục giao lưu Tư Tưởng mà Ngài Viên Quang 6 mở ra đã đem lại không khí cởi mở, tự do và chân thành trong trao đổi học hỏi.

Chân lý mà Đức Phật đưa ra thì không bao giờ có thể thay đổi, giáo pháp của đức Phật thì bao la rộng lớn vô biên, chúng sinh thì trăm ngàn căn cơ chẳng đồng. chính vì thế mà việc truyền thừa và tiếp cận chân lý và giáo pháp của Đức Phật cũng muôn ngàn vạn hướng.

Cũng như tại Việt Nam ta, việc giáo huấn của các Thầy đến với Phật tử cũng tùy cơ mà ứng dụng có khác nhau, nhiều khi trong cùng một bài pháp, nhưng ở mỗi vùng miền, đối tượng… có khác nhau về truyền thống, phong tục, điều kiện thiên nhiên, tâm lý…cho nên cũng có lối giảng không giống nhau , những cũng đưa về một chân lý.

Trên thế giới có rất nhiều cách tiếp cận chân lý đạo Phật. Thiết nghĩ rằng trong giao lưu, chúng ta không nên vì một lý do nào đó mà vội vàng tranh luận . Hãy đón nhận như những cơn gió từ nhiều hướng đến với thực tại. chỉ cần ngọn gió đó thực sự là lợi ích cho việc mát mẻ an lành trong tâm mọi người và đúng trên tinh thần hướng thượng giải thoát theo chánh pháp . hãy xem mỗi một luồng tư tưởng đến với đạo Phật như là một phương tiện tiếp cận đa dạng và phong phú, làm mới thêm những khao khát phù hợp với tinh thần và tri thức thời đại văn minh khoa học.

Trong trích dẫn giao lưu các luồng tư tưởng, nếu có chỗ nào không đồng ý, Kính xin mọi người xác quyết chỉ dẫn để chúng ta không bị sa vào cái mê lầm tà đạo, làm lạc đường lạc lối trên con đường đi đến giải thoát.

Nhưng khi bàn và thảo luận thì chỉ y cứ nơi bài viết cụ thể, không nên vì tên tuổi hay bất cứ vì dư luận nào. mà chỉ y cứ ngay nơi bài viết, có lợi hay hại mà thôi. Đây là tinh thần giao lưu trung thực, Kính mong mọi người đồng thuận theo ý kiến và mong muốn ( ý kiến riêng ) nếu có sai xin được chỉ dạy

Phạm Văn Dũng. Email : phamvandung57@gmail.com

Nay  xin được giới thiệu bài đầu tiên :

Như Lai là gì?

Như Lai (Tathagata) là gì?

Một trong các cái tên của Phật là Như Lai (Tathagata). Chúng ta có nhiều tên cho Phật, chỉ để biểu thị các phẩm chất khác nhau của phật tính. Một trong các tên được dùng nhiều nhất là Như Lai; bản thân Phật đã dùng nó. Ông ấy hiếm khi dùng từ tôi, ông ấy dùng Như Lai. Ông ấy sẽ nói, “Như Lai cư ngụ trong vườn nào đó, và thế rồi điều này xảy ra.” “Như Lai đang trên đường, đi vào thành phố nào đó, thế rồi điều này xảy ra.” Ông ấy sẽ dùng từ ‘Như Lai’ thường xuyên hơn là ông ấy dùng từ tôi.

Câu hỏi là: Như Lai (Tathagata) là gì?

Về từ ngữ nó có nghĩa là ‘người tới như gió và đi như gió’, ‘thoắt tới, thoắt đi’. Đó là nghĩa từ nguyên của từ Như Lai: chỉ là làn gió thoảng chợt đến. Nó đã không có đó một khoảnh khắc trước và thế rồi nó có đó, và thế rồi khoảnh khắc tiếp nó mất rồi. Và nó không để lại dấu vết nào đằng sau. Bạn không thể thấy được làn gió, bạn chỉ có thể cảm nó. Bạn không thể thấy được phật, bạn chỉ có thể cảm thấy ông ấy. Do đó những người tới nhìn phật sẽ đi với tay trống rỗng, bởi vì bất kì cái gì họ sẽ thấy đều không là phật.

Thấy thân thể tôi không phải là thấy phật. Thân thể chỉ là ngôi nhà nơi phật cư ngụ. Thấy nhà không phải là thấy người đang ngụ bên trong nó. Bạn không thể thấy được người đang cư ngụ trong ngôi nhà, bạn chỉ có thể cảm thấy người đó. Do đó những người tới với tâm trí suy nghĩ đều bỏ lỡ. Những người tới với trái tim cảm nhận lập tức cảm động, xúc động, được biến đổi.

Nó giống như gió: bạn không thể thấy được nó nhưng bạn có thể cảm được nó. Bạn có thể cảm cái chạm của nó, cái mát mẻ của nó. Nó làm tươi mát thế, nó làm sảng khoái thế, nó làm cho bạn sống động thế!

Ở trong phật trường là ở trong trường nơi gió này thổi thường xuyên. Nó có thể được thấy chỉ bởi các đệ tử. Với ‘thấy’ tôi ngụ ý nó có thể được cảm chỉ bởi đệ tử. Đó là cách nó phải được thấy. Và nó có thể được thở vào và thở ra bởi những người sùng kính. Đệ tử cảm thấy nó chạm vào thân thể mình, chơi với tóc mình, lay động quần áo mình. Người đó cảm thấy nó, người đó suy diễn rằng nó có đó. Nhưng người sùng kính thở trong nó; nó luân chuyển trong bản thể người đó, nó trở thành một phần của bản thể người đó.

Học trò tới để nhìn, đệ tử tới để cảm, người sùng kính tới để hiện hữu.

Bồ đề đạt ma nói:

Người biết rằng mình không tới từ đâu cả và không đi từ đâu.

Gió này tới từ đâu và nó đi đâu? Nó không có điểm đích… nó không có động cơ. Nó không đi bất kì đâu và không tới từ bất kì đâu; nó bao giờ cũng ở đây.

Swami Ramateertha thường kể một chuyện ngụ ngôn:

Có một người vô thần lớn. Trong phòng khách của mình ông ấy đã viết lên dòng chữ lớn: God is nowhere – Thượng đế không có ở đâu cả.

Một hôm đứa con nhỏ của ông ấy đang chơi đùa khi ông ấy đang đọc báo. Cậu bé đang học đọc, cho nên nó thử đọc câu viết trên tường: God is nowhere – Thượng đế không ở đâu cả. Nhưng ‘nowhere’ là từ lớn, cho nên nó chia từ này ra làm đôi. Nó đọc, “God is now here – Thượng đế là bây giờ ở đây.”

Ông bố choáng – ông ấy chưa bao giờ đọc câu này theo cách đó. Toàn thể động thái đã đổi: “God is nowhere – Thượng đế không có ở đâu cả,” và đứa con đã đọc là, “God is now here – Thượng đế là bây giờ ở đây.” Có khác biệt lớn giữa ‘không đâu cả’ và ‘bây giờ ở đây’! Lần đầu tiên ông ấy đọc câu đó với cái nhìn của đứa trẻ, với sự hồn nhiên của đứa trẻ.

Chuyện kể rằng kể từ ngày đó ông ấy không thể đọc được câu cũ theo cách cũ nữa: “God is nowhere – Thượng đế không có ở đâu cả.” Bất kì khi nào ông ấy nhìn ông ấy đều phải đọc, “Thượng đế là bây giờ ở đây.” Nó trở thành cái gì đó cố định – tác động của đứa trẻ đến mức đó.

Vị phật bao giờ cũng ở đây. Bạn bao giờ cũng ở đây. Bạn không tới từ bất kì chỗ nào và bạn không đi chỗ nào đó khác. Toàn thể vũ trụ này chứa bạn; chúng ta là một phần của nó.

Bồ đề đạt ma nói:

Như Lai là người biết rằng mình không tới từ đâu cả và không đi từ đâu.

Đọc ‘nowhere-không đâu cả’ là ‘now here – ở đây bây giờ’. Như Lai là người bây giờ ở đây và biết rằng ông ấy bao giờ cũng bây giờ ở đây. Ông ấy đã không tới và ông ấy không đi.

Ramana Maharshi sắp chết, và một đệ tử hỏi, “Bhagwan, thầy sẽ đi đâu?”

Ông ấy mở mắt ra và cười. Đó là không phải là lúc cười chút nào. Ông ấy sắp chết, cái chết của ông ấy là tuyệt đối chắc chắn – ông ấy chết vì ung thư – đau đớn lắm. Dầu vậy ông ấy vẫn cười và ông ấy nói, “Ông ngu thì có! Cả đời mình ta đã từng nói với ông rằng không có đâu mà đi cả, chúng ta bao giờ cũng ở đây. Cho nên ta có thể đi đâu được? Ta sẽ ở đây thôi! Thân thể sẽ mất đi, cát bụi trở về với cát bụi, nhưng ta có thể đi đâu được? Ta sẽ là một phần của vũ trụ này như ta đang là một phần của nó bây giờ. Bây giờ thân thể cho ông ý tưởng rằng ta tách rời – đó là ý tưởng của ông, không phải của ta. Với ta, thân thể của ta không tách rời khỏi sự tồn tại mà bắc cầu với ta.”

Bạn có thấy khác biệt giữa người dốt nát và người trí huệ không? Cùng thân thể đó với người dốt nát là bức tường phân tách bạn với sự tồn tại. Cùng thân thể đó với người trí huệ, với người chứng ngộ, là chiếc cầu; nó nối bạn với sự tồn tại.

Quan sát thân thể bạn và bạn sẽ nhận biết về nó. Thân thể bạn liên tục thở không khí vào và ra – không chỉ qua mũi mà còn qua mọi lỗ chân lông của thân thể bạn đang thở vào và ra. Các nhà khoa học nói rằng nếu mọi lỗ chân lông của thân thể bạn bị bít lại, nếu thân thể bạn bị sơn dầy và mọi lỗ chân lông bị bít lại và chất đầy với sơn nhưng mũi được để cho vẫn thở, bạn sẽ chết trong vòng ba giờ, vì chỉ mũi là không đủ. Mọi phần của thân thể bạn đều cần việc thở riêng của nó.

Bạn liên tục trong trao đổi với sự tồn tại. Nếu mặt trời không mọc ngày mai, tất cả chúng ta sẽ chết. Chúng ta sẽ không có khả năng sống chút nào, thậm chí không sống được vài phút, vì không có mặt trời toàn thể hơi ấm sẽ biến mất. Và không có hơi ấm, cuộc sống là không thể có được. Chúng ta sẽ trở nên lạnh, đông cứng tới mức cái chết nhất định xảy ra. Chúng ta liên tục trong trao đổi với sự tồn tại. Chúng ta không tách rời, chúng ta là một.

Và nếu điều này là như vậy với thân thể, với tâm thức bên trong thì sao? Tâm thức bên trong đó không bị phân chia chút nào. Sân trong của bạn được bao quanh bởi một bức tường, nhưng sân trong của bạn vẫn thuộc về bầu trời, là một phần của bầu trời.

Cũng giống điều đó, người biết rằng mình không tới từ đâu cả và không đi từ đâu, người đó là Như Lai. Người đó bao giờ cũng giống như làn gió mát thoảng qua. Những người có thể hiểu được điều này, họ sẽ được làm tươi lại bởi làn gió thoảng này. Họ sẽ nhảy múa trong gió thoảng của vị phật, trong ánh mặt trời của ông ấy. Họ sẽ cười cùng vị phật, họ sẽ nhảy múa cùng vị phật.

Trích OSHO

 

Dhammapada

CON ĐƯỜNG CỦA PHẬT

¨ĐÂY LÀ CON ĐƯỜNG

ĐI TỚI CHÂN LÍ TỐI THƯỢNG

Tập 1

                          OSHO

HÀ NỘI 4/2011

1

Chúng ta là điều ta nghĩ

Chúng ta là điều ta nghĩ.
Mọi điều ta là đều nảy sinh bằng ý nghĩ của chúng ta.
Với ý nghĩ của mình chúng ta tạo ra thế giới.
Nói hay làm với tâm trí không thuần khiết
Và rắc rối sẽ theo ông
Như bánh xe theo trục kéo chiếc xe.
Chúng ta là điều ta nghĩ.
Mọi điều ta là đều nảy sinh bằng ý nghĩ của chúng ta.
Với ý nghĩ của mình chúng ta tạo ra thế giới.
Nói hay làm với tâm trí thuần khiết
Và hạnh phúc sẽ theo ông
Như cái bóng của ông, không lay chuyển được.
“Nhìn cách nó xúc phạm tôi và đánh tôi.
Cách nó quật tôi xuống và cướp bóc tôi.”
2
Sống với ý nghĩ như vậy và ông sống trong ghét.
“Nhìn cách nó xúc phạm tôi và đánh tôi.
Cách nó quật tôi xuống và cướp bóc tôi.”
Bỏ ý nghĩ như vậy, và sống trong yêu.
Trong thế giới này
Ghét chưa bao giờ xua tan ghét.
Chỉ yêu xua tan ghét.
Đây là luật,
Cổ đại và vô tận.
Ông cũng sẽ mất đi
Biết điều này, làm sao ông có thể cãi lộn?
Gió thổi đổ cây mảnh mai dễ làm sao.
Tìm hạnh phúc theo nghĩa này,
Mê đắm trong ăn và ngủ,
Và ông cũng sẽ bị bật rễ.
Gió không thể lật đổ núi.
Cám dỗ không thể chạm tới người,
Người thức tỉnh, mạnh mẽ và khiêm tốn,
Người làm chủ bản thân mình và lưu tâm tới luật.
Nếu ý nghĩ của một người là bùn lầy,
Nếu người đó coi thường và đầy những giả dối,
Làm sao người ấy có thể mặc áo thụng vàng?
Bất kì ai là người chủ bản tính riêng của mình,
Sáng sủa, trong vắt và đúng đắn,
Người đó quả thực có thể mặc áo thụng vàng.

3

Các bồ tát yêu mến của tôi ơi… Vâng, đó là cách tôi nhìn

vào các bạn. Đó là cách các bạn phải bắt đầu nhìn vào bản

thân mình. Bồ tát có nghĩa là vị phật về bản chất, vị phật còn

trong hạt mầm, vị phật còn ngủ, nhưng với mọi tiềm năng

thức tỉnh. Theo nghĩa đó mọi người đều là bồ tát, nhưng

không phải mọi người đều có thể được gọi là bồ tát – chỉ

những người đã bắt đầu mò mẫm đi tìm ánh sáng, người đã

bắt đầu khao khát bình minh, trong trái tim người đó hạt

mầm không còn là hạt mầm mà đã trở thành chồi, đã bắt đầu

lớn lên.

Bạn là bồ tát bởi vì khát khao của bạn được có ý thức,

được tỉnh táo, bởi vì cuộc truy tìm của bạn về chân lí. Chân

lí không xa xôi, nhưng có rất ít người may mắn trên thế giới

khao khát về nó. Nó không xa xôi gì nhưng đạt tới nó là gian

nan, là vất vả. Việc đạt tới là vất vả, không phải bởi vì bản

chất của nó, mà bởi vì đầu tư của chúng ta vào dối trá.

Chúng ta đã đầu tư hết kiếp nọ tới kiếp kia vào dối trá.

Đầu tư của chúng ta nhiều đến mức chính ý tưởng về chân lí

làm cho chúng ta kinh khiếp. Chúng ta muốn né tránh nó,

chúng ta muốn thoát khỏi chân lí. Dối trá là cách trốn thoát

đẹp – những giấc mơ thuận tiện, thoải mái. Nhưng mơ chỉ là

mơ thôi. Chúng có thể mê hoặc bạn một chốc, chúng có thể

nô lệ bạn một chốc, nhưng chỉ một chốc. Và mỗi giấc mơ

được tiếp theo sau bởi thất vọng cùng cực, và mỗi ham

muốn được tiếp sau bởi thất bạn sâu sắc.

Nhưng chúng ta cứ xô vào trong dối trá mới; nếu dối trá

cũ được biết tới, chúng ta lập tức bịa ra dối trá mới. Nhớ

rằng chỉ dối trá có thể được bịa ra; chân lí không thể được

bịa ra. Chân lí đã đấy rồi! Chân lí phải được khám phá ra,

không phải là bịa ra. Dối trá không thể được khám phá ra,

chúng phải được bịa ra.

4

Tâm trí cảm thấy rất thoải mái với dối trá bởi vì tâm trí

trở thành kẻ phát minh, người làm. Và khi tâm trí trở thành

người làm, bản ngã được tạo ra. Với chân lí, bạn chẳng có gì

mà làm cả… và bởi vì bạn không có gì để làm, tâm trí dừng

lại, và với tâm trí này, bản ngã biến mất, bay hơi. Đó là nguy

cơ, nguy cơ tối thượng.

Bạn đã đi theo nguy cơ đó. Bạn đã tiến vài bước – loạng

choạng, vấp váp, dò dẫm, lưỡng lự, với nhiều nghi ngại,

nhưng bạn vẫn tiến lên vài bước; do đó tôi gọi bạn là bồ tát.

Và Dhammapada, giáo huấn của Phật Gautama, chỉ có

thể được dạy cho bồ tát. Nó không thể được dạy cho người

thường, phàm nhân, bởi vì nó không thể được họ hiểu.

Những lời này của Phật tới từ im lặng vĩnh hằng. Chúng

có thể đạt tới bạn chỉ nếu bạn đón nhận chúng trong im lặng.

Những lời này của Phật tới từ sự thuần khiết mênh mông.

Chừng nào bạn chưa trở thành một phương tiện, chỗ chứa,

khiêm tốn, vô ngã, tỉnh táo, nhận biết, bạn sẽ không thể nào

hiểu được chúng. Về mặt trí tuệ bạn sẽ hiểu chúng – chúng là

những lời rất đơn giản, đơn giản nhất có thể được. Nhưng

chính tính đơn giản của chúng là vấn đề, bởi vì bạn không

đơn giản. Để hiểu tính đơn giản bạn cần tính đơn giản của

trái tim, bởi vì chỉ trái tim đơn giản mới có thể hiểu chân lí

đơn giản. Chỉ cái thuần khiết mới có thể hiểu cái đã bắt

nguồn từ thuần khiết.

Tôi đã chờ đợi từ lâu… bây giờ thời gian chín muồi, các

bạn đã sẵn sàng. Hạt mầm có thể được gieo. Những lời quan

trọng mênh mông này có thể được thốt ra lần nữa. Hai mươi

nhăm thế kỉ qua, chưa từng có một sự tụ hội như vậy chút

nào. Vâng, đã có vài thầy chứng ngộ với vài đệ tử – nhiều

nhất chừng nửa tá – và trong những tụ tập nhỏ đó

Dhammapada đã được dạy. Nhưng những tụ tập nhỏ này

5

không thể làm biến đổi một nhân loại khổng lồ như vậy. Nó

cũng tựa như ném đường vào đại dương bằng chiếc thìa: nó

không thể làm đại dương ngọt lên được – đường của bạn đơn

giản chỉ phí hoài.

Một thực nghiệm vĩ đại, chưa từng có phải được tiến

hành, trên qui mô rộng lớn đến mức ít nhất phần bản chất

nhất của nhân loại được nó động chạm tới – ít nhất là linh

hồn của nhân loại, trung tâm của nhân loại, có thể được nó

đánh thức dậy. Tại ngoại vi, tâm trí phàm nhân sẽ vẫn cứ

ngủ – cứ để họ ngủ – nhưng tại phần trung tâm nơi thông

minh tồn tại, ánh sáng có thể được nhen nhóm lên.

Thời gian chín muồi, thời gian đã tới cho nó. Toàn bộ

công trình của tôi ở đây bao gồm việc tạo ra một phật

trường, trường năng lượng nơi những chân lí vĩnh hằng này

có thể được thốt ra lần nữa. Nó là cơ hội hiếm hoi. Chỉ thỉnh

thoảng, sau nhiều thế kỉ, một cơ hội như thế mới tồn tại.

Đừng bỏ lỡ nó. Rất tỉnh táo, chăm chú. Lắng nghe những lời

này không chỉ bằng đầu mà bằng trái tim bạn, bằng mọi thớ

thịt con người bạn. Để tính toàn bộ của bạn được chúng

khuấy động lên.

Và sau mười ngày im lặng này, đích xác đúng khoảnh

khắc để đem Phật lại, để làm cho ông ấy sống lại trong các

bạn, để ông ấy di chuyển trong các bạn, để cho gió của Phật

thổi qua bạn. Vâng, ông ấy có thể được gọi lại lần nữa, bởi

vì không ai biến mất cả. Phật không còn là người có thân

thể; chắc chắn ông ấy không tồn tại như một cá nhân ở bất kì

đâu – nhưng tinh hoa của ông ấy, linh hồn ông ấy, bây giờ là

một phần của linh hồn vũ trụ.

Nếu nhiều, nhiều người – với khao khát sâu sắc, với

khao khát mênh mông, với trái tim cầu nguyện – ham muốn

điều đó, ham muốn một cách đam mê về điều đó, thế thì linh

6

hồn đã biến mất trong linh hồn vũ trụ có thể lại trở nên biểu

lộ theo hàng triệu cách thức.

Không thầy chân chính nào chết cả, thầy không thể chết

được. Cái chết không xuất hiện cho thầy, không tồn tại cho

họ. Do đó họ là thầy. Họ đã biết cái vĩnh hằng của cuộc

sống. Họ đã thấy rằng thân thể biến mất nhưng họ cũng thấy

rằng thân thể không phải là tất cả: thân thể chỉ là ngoại vi,

thân thể chỉ là lớp vỏ. Thân thể là ngôi nhà, nơi trú ngụ,

nhưng khách trọ không hề biến mất. Khách trọ chỉ chuyển từ

nơi trú ngụ này sang nơi khác. Một ngày nào đó, chung

cuộc, khách trọ sẽ bắt đầu sống giữa trời, không nơi trú ẩn…

nhưng khách trọ vẫn tiếp tục. Chỉ thân thể, nhà cửa, tới rồi

đi, được sinh ra và rồi chết. Nhưng có liên tục bên trong, tiếp

tục bên trong – cái đó là vĩnh hằng, vô thời gian, bất tử.

Bất kì khi nào bạn có thể yêu một thầy – một thầy như

Jesus, Phật, Zarathustra, Lão Tử – nếu đam mê của bạn là

toàn bộ, ngay lập tức bạn được bắc cầu.

Việc nói của tôi về Phật không chỉ là lời bình chú: nó

đang tạo ra cây cầu. Phật là một trong những thầy vĩ đại nhất

đã từng tồn tại trên trái đất này – vô song, duy nhất. Và nếu

bạn có thể có nếm trải bản thể ông ấy, bạn sẽ được lợi, được

phúc lành vô biên.

Tôi vui mừng vô cùng, bởi vì sau mười ngày im lặng

này tôi có thể nói với các bạn rằng nhiều người trong số các

bạn bây giờ đã sẵn sàng để giao cảm với tôi trong im lặng.

Đó là điều tối thượng trong trao đổi. Lời là không thích hợp;

lời nói ra, nhưng chỉ nói được một phần. Im lặng giao cảm

một cách toàn bộ.

Và dùng cũng lời là một trò chơi nguy hiểm nữa, bởi vì

nghĩa sẽ còn lại với tôi, chỉ lời là đạt tới bạn; và bạn sẽ cho

nó nghĩa riêng của bạn, mầu sắc riêng của bạn. Nó sẽ không

7

chứa cùng chân lí mà nó được dự định hàm chứa. Nó sẽ

chứa cái gì đó khác, cái gì đó nghèo nàn hơn rất nhiều. Nó sẽ

chứa nghĩa của bạn, không phải nghĩa của tôi. Bạn có thể

bóp méo ngôn ngữ – thực ra gần như không thể nào tránh

được bóp méo – nhưng bạn không thể nào bóp méo cái im

lặng. Hoặc là bạn hiểu hoặc là bạn không hiểu.

Và trong mười ngày này chỉ có hai loại người ở đây:

những người hiểu và những người không hiểu. Nhưng không

có một người nào hiểu sai. Bạn không thể hiểu sai im lặng –

đó là cái đẹp của im lặng. Lằn ranh là tuyệt đối: hoặc là bạn

hiểu hoặc, đơn giản, bạn không hiểu – không có gì để hiểu

sai.

Với lời hoàn cảnh là ngược lại: rất khó để hiểu, rất khó

để hiểu rằng bạn không hiểu; hai điều này là gần như không

có khả năng. Và điều thứ ba là khả năng duy nhất: hiểu sai.

Mười ngày này đã đẹp kì lạ, và có một vẻ uy nghi huyền

bí nữa. Tôi không còn thực sự thuộc vào bờ này nữa. Con

tầu của tôi đã đợi tôi từ lâu rồi – tôi phải ra đi. Chính phép

màu là tôi vẫn còn trong thân thể này. Toàn bộ công trạng

thuộc về các bạn: vào tình yêu của bạn, vào lời cầu nguyện

của bạn, vào khao khát của bạn. Các bạn muốn tôi nấn ná lâu

thêm chút nữa trên bờ bên này, do đó điều không thể đã trở

thành có thể.

Mười ngày này, tôi đã không cảm thấy còn cùng với

thân thể tôi. Tôi đã cảm thấy gần bị nhổ bật gốc rễ, đứt gẫy.

Thật là kì lạ mà vẫn còn trong thân thể khi mà bạn không

cảm thấy rằng mình đang trong thân thể. Và cũng kì lạ mà

tiếp tục sống ở một nơi không còn thuộc vào bạn nữa – ngôi

nhà của tôi là ở bờ bên kia. Và lời gọi tới bền bỉ. Nhưng bởi

vì các bạn cần tôi, chính từ bi của vũ trụ – bạn có thể gọi nó

8

là từ bi của Thượng đế – điều cho phép tôi vẫn còn trong

thân thể thêm một chút nữa.

Điều đó thật kì lạ, điều đó thật đẹp đẽ, điều đó thật bí ẩn,

điều đó thật uy nghi, điều đó thật kì diệu. Và nhiều người

trong các bạn đã cảm thấy nó. Nhiều người trong các bạn đã

cảm thấy nó theo những cách khác nhau. Vài người đã cảm

thấy nó như một hiện tượng rất kinh hoàng, dường như cái

chết đang gõ cửa. Vài người đã cảm thấy nó như sự lẫn lộn

lớn. Vài người đã cảm thấy choáng, choáng hoàn toàn.

Nhưng mọi người đều đã được động chạm tới theo cách này

hay cách khác.

Chỉ những người mới tới có chút ít lúng túng – họ không

thể hiểu điều gì đang diễn ra. Nhưng tôi cảm thấy cám ơn họ

nữa. Mặc dầu họ có thể không hiểu điều gì đang diễn ra, họ

đã đợi – họ đã đợi tôi nói, họ đã đợi tôi nói điều gì đó, họ đã

hi vọng. Nhiều người sợ rằng tôi có thể không nói lại nữa…

điều đó cũng là một khả năng. Tôi không chắc chắn về bản

thân mình.

Lời ngày càng trở nên khó khăn hơn cho tôi. Chúng

đang ngày càng là nỗ lực. Tôi phải nói điều gì đó cho nên tôi

cứ nói điều gì đó cho bạn. Nhưng tôi muốn bạn sẵn sàng

nhất có thể được để cho chúng ta có thể đơn giản ngồi im

lặng… lắng nghe tiếng chim và tiếng hót của chúng… hay

lắng nghe chỉ nhịp tim bạn đang đập… chỉ ở đây, không làm

gì cả…

Sẵn sàng sớm nhất có thể được đi, bởi vì tôi có thể dừng

việc nói vào bất kì ngày nào. Và để cho tin tức lan rộng đi

khắp mọi xó xỉnh trên thế giới: những người muốn hiểu tôi

chỉ qua lời nói, họ nên đến sớm, bởi vì tôi có thể dừng nói

vào bất kì ngày nào. Không dự đoán trước được, bất kì ngày

nào, điều đó có thể xảy ra – điều đó có thể xảy ra vào giữa

9

câu. Thế thì tôi sẽ không hoàn thành câu ấy nữa! Thế thì nó

sẽ treo mãi mãi … không hoàn chỉnh.

Nhưng lần này các bạn đã kéo tôi lại.

Những lời này của Phật được gọi là Dhammapada –

Pháp Lộ. Cái tên này cần phải được hiểu. Dhamma – Pháp

có nghĩa nhiều điều. Nó có nghĩa là luật tối thượng, thần

ngôn. “Luật tối thượng” có nghĩa là cái giữ toàn thể vũ trụ

lại với nhau. Nó là vô hình, không sờ nắm được – nhưng nó

là chắc chắn; bằng không vũ trụ này sẽ sụp đổ. Một vũ trụ

bao la thế, vô hạn thế, vận hành một cách nhịp nhàng thế,

hài hoà thế, đủ là bằng chứng rằng phải có dòng chảy ngầm

nối mọi thứ, gắn mọi vật, bắc cầu qua mọi thứ – rằng chúng

ta không phải là các hòn đảo, rằng một nhành cỏ nhỏ nhất

cũng được nối với vì sao lớn nhất. Phá huỷ một nhành cỏ

nhỏ và bạn đã phá huỷ cái gì đó có giá trị mênh mông đối

với bản thân sự tồn tại.

Trong sự tồn tại không có cấp bậc, không có cái gì nhỏ

và cái gì lớn. Ngôi sao lớn nhất và nhành cỏ nhỏ nhất, cả hai

đều tồn tại bình đẳng; do đó có ý nghĩa khác của từ pháp –

‘dhamma’. Nghĩa khác là công bằng, bình đẳng, sự tồn tại

không cấp bậc. Sự tồn tại tuyệt đối là cộng sản; nó không

biết tới giai cấp, nó tất cả là một. Do đó ý nghĩa khác của từ

pháp ‘dhamma’ – là công bằng.

Và ý nghĩa thứ ba là tính ngay thẳng, đức hạnh. Sự tồn

tại là rất đức hạnh. Cho dù bạn có tìm thấy điều gì đó mà bạn

không thể gọi là đức hạnh được, điều đó phải là vì hiểu sai

của bạn; bằng không sự tồn tại là tuyệt đối đức hạnh. Bất kì

cái gì xảy ra ở đây, bao giờ cũng xảy ra đúng đắn. Cái sai

không bao giờ xảy ra. Nó có thể dường như sai với bạn bởi

vì bạn có ý tưởng nào đó về việc đúng là gì, nhưng khi bạn

nhìn mà không có định kiến nào, không cái gì sai, mọi cái

10

đều đúng. Sinh là đúng, tử là đúng. Đẹp là đúng và xấu là

đúng.

Nhưng tâm trí chúng ta nhỏ bé, hiểu biết của chúng ta bị

giới hạn; chúng ta không thể thấy cái toàn thể, chúng ta bao

giờ cũng chỉ thấy một phần nhỏ. Chúng ta giống như người

đang ẩn đằng sau cánh cửa và nhìn phố xá qua lỗ khoá.

Người đó bao giờ cũng thấy mọi thứ… vâng, ai đó đang đi,

một chiếc xe đột nhiên vút qua. Một khoảnh khắc nó đã

không có đó, một khoảnh khắc nó có đó, và khoảnh khắc

khác nó đã mất đi vĩnh viễn. Đó là cách thức chúng ta nhìn

vào sự tồn tại. Chúng ta nói điều gì đó là trong tương lai, thế

rồi nó đi vào trong hiện tại, và thế rồi nó trôi vào trong quá

khứ.

Thực ra, thời gian là phát minh của con người. Nó bao

giờ cũng là bây giờ! Sự tồn tại không biết quá khứ, không

biết tới tương lai – nó chỉ biết hiện tại.

Nhưng chúng ta đang ngồi sau lỗ khoá và nhìn. Một

người không có đó, thế rồi đột nhiên người đó xuất hiện; và

thế rồi đột nhiên cũng như khi người đó xuất hiện, người đó

biến mất nữa. Bây giờ bạn phải tạo ra thời gian. Trước khi

người đó xuất hiện, người đó đã ở trong tương lai; người ấy

đã ở đó, nhưng với bạn người đó là trong tương lai. Thế rồi

người đó xuất hiện; bây giờ người đó trong hiện tại – người

đó vẫn thế! Và bạn không thể nào thấy người đó nữa qua lỗ

khoá của mình – người đó đã trở thành quá khứ. Chẳng cái gì

trong quá khứ cả, chẳng cái gì trong tương lai cả – tất cả bao

giờ cũng hiện tại. Nhưng cách chúng ta nhìn là rất bị giới

hạn.

Do đó chúng ta cứ hỏi tại sao có khổ trong thế giới này,

tại sao có cái này cái nọ… tại sao? Nếu chúng ta có thể nhìn

vào cái toàn thể, tất cả những cái tại sao này biến mất. Và để

11

nhìn vào cái toàn thể, bạn sẽ phải đi ra ngoài căn phòng của

mình, bạn sẽ phải mở cánh cửa ra… bạn sẽ phải vứt bỏ cách

nhìn lỗ khoá này.

Đây là điều tâm trí là gì: cái lỗ khoá, và nó là cái lỗ khoá

rất nhỏ. So sánh với vũ trụ bao la, mắt, tai, tay chúng ta là

gì? Chúng ta có thể nắm bắt cái gì? Chẳng cái gì quan trọng

mấy. Và những mảnh chân lí tí xíu đó, chúng ta trở nên quá

gắn bó với chúng.

Nếu bạn thấy cái toàn thể, mọi thứ đều dường như nó

phải vậy – đó là nghĩa của “mọi thứ đều đúng.” Cái sai

không tồn tại. Chỉ Thượng đế tồn tại; quỉ là sáng tạo của con

người.

Nghĩa thứ ba của pháp ‘dhamma’ có thể là Thượng đế –

nhưng Phật chưa bao giờ dùng từ ‘Thượng đế’ bởi vì nó đã

trở nên bị liên kết sai với cái ý tưởng về một người, còn luật

là sự hiện diện, không phải là người. Do đó Phật chưa bao

giờ dùng từ ‘Thượng đế’, nhưng bất kì khi nào ông ấy muốn

truyền đạt điều gì đó về Thượng đế, ông ấy dùng từ pháp

‘dhamma’. Tâm trí ông ấy là tâm trí của nhà khoa học rất

sâu sắc. Bởi vì điều này, nhiều người đã tưởng ông ấy là kẻ

vô thần – ông ấy không phải vậy. Ông ấy là người hữu thần

vĩ đại nhất mà thế giới đã từng biết hay sẽ biết – nhưng ông

ấy chưa bao giờ nói về Thượng đế. Ông ấy chưa bao giờ

dùng từ này, có vậy thôi, nhưng bằng từ pháp ‘dhamma’ ông

ấy ngụ ý đích xác Thượng đế. “Cái đang đó’ là nghĩa của từ

‘Thượng đế’, và đó là đích xác ý nghĩa của từ pháp

‘dhamma’.

Pháp ‘dhamma’ cũng có nghĩa là kỉ luật discipline –

những chiều hướng khác của từ này. Người muốn biết tới

chân lí sẽ phải đặt kỉ luật lên bản thân mình theo nhiều cách.

Đừng quên nghĩa của từ ‘kỉ luật’ – nó đơn giản có nghĩa là

12

năng lực để học, tính sẵn có để học, tính tiếp nhận để học.

Do đó mới có từ ‘disciple’ đệ tử. Đệ tử có nghĩa là người sẵn

sàng vứt bỏ những định kiến cũ của mình, gạt tâm trí mình

sang bên, và nhìn vào trong vấn đề không có định kiến nào,

không có bất kì quan niệm tiên thiên nào.

Và pháp ‘dhamma’ cũng có nghĩa là chân lí tối thượng.

Khi tâm trí biến mất, khi bản ngã biến mất, thế thì cái gì còn

lại? Cái gì đó chắc chắn còn lại, nhưng nó không thể được

gọi là ‘cái gì đó’ – do đó Phật gọi nó là ‘cái không’. Nhưng

để tôi nhắc bạn, bằng không bạn sẽ hiểu sai ông ấy: bất kì

khi nào ông ấy dùng từ ‘cái không’ ông ấy đều ngụ ý không

gì. Chia từ này ra làm đôi: đừng dùng nó như một từ – đặt

dấu gạch ngang vào giữa ‘không’ và ‘gì’, thế thì bạn biết

đích xác ý nghĩa của từ ‘không gì’.

Luật tối thượng không phải là một vật. Nó không phải là

một đối tượng mà bạn có thể quan sát. Nó là tính chất nội bộ

của bạn, nó là tính chủ quan.

Phật chắc đã đồng ý hoàn toàn với nhà tư tưởng Đan

mạch, Soren Kierkegaard. Ông ấy nói: Chân lí là tính chủ

quan. Đó là khác biệt giữa sự kiện và chân lí. Sự kiện là một

sự vật khách quan. Khoa học cứ tìm kiếm ngày càng nhiều

sự kiện, và khoa học sẽ chẳng bao giờ đi tới chân lí – nó

không thể đi tới được bởi chính định nghĩa của từ này. Chân

lí là tính nội bộ của nhà khoa học, nhưng ông ta chưa bao

giờ nhìn vào nó cả. Ông ta cứ quan sát những vật khác. Ông

ta chưa bao giờ trở nên nhận biết về bản thể riêng của mình.

Đó là ý nghĩa cuối cùng của pháp ‘dhamma’: vùng bên

trong của bạn, tính chủ quan của bạn, chân lí của bạn.

Một điều rất có ý nghĩa – cho phép nó chìm sâu vào

trong trái tim bạn: chân lí chưa bao giờ là lí thuyết, giả

thuyết; nó bao giờ cũng là kinh nghiệm. Do đó chân lí của

13

tôi không thể là chân lí của bạn. Chân lí của tôi là chân lí của

tôi không thể tránh đi đâu được; nó sẽ vẫn còn là chân lí của

tôi, nó không thể là của bạn được. Chúng ta không thể chia

sẻ nó. Chân lí là không chia sẻ được, không chuyển nhượng

được, không trao đổi được, không diễn đạt được.

Tôi có thể giải thích cho bạn cách tôi đã đạt tới nó,

nhưng tôi không thể nói nó là gì. ‘Cách thức’ là giải thích

được, nhưng không ‘tại sao’. Kỉ luật có thể được chỉ ra,

nhưng mục đích không chỉ ra được. Từng người phải đi tới

nó theo cách riêng của mình. Từng người phải đi tới nó

trong bản thể bên trong riêng của mình. Trong một mình

tuyệt đối nó được hiển lộ.

Và từ thứ hai là pada. ‘Pada’ cũng có nhiều nghĩa. Một,

nghĩa nền tảng nhất, là con đường. Tôn giáo có hai chiều:

chiều của ‘cái gì’ và chiều của ‘cách nào’. ‘Cái gì’ không thể

được nói tới; điều đó là không thể được. Nhưng ‘cách thức’

có thể được nói tới, ‘cách thức’ là chia sẻ được. Đó là nghĩa

của ‘con đường’. Tôi có thể chỉ con đường cho bạn; tôi có

thể chỉ cho bạn cách tôi đã đi qua, cách tôi đã đạt tới những

đỉnh đầy ánh mặt trời. Tôi có thể nói cho bạn về toàn thể địa

lí của nó, toàn thể địa hình của nó. Tôi có thể trao cho bạn

tấm bản đồ đường đi, nhưng tôi không thể nói cảm thấy thế

nào trên đỉnh ánh mặt trời đó.

Cũng giống như bạn có thể hỏi Edmund Hillary hay

Tensing về cách họ đã đạt tới đỉnh cao nhất của Himalayas,

Gourishankar. Họ có thể cho bạn toàn thể bản đồ về cách họ

đã đạt tới. Nhưng nếu bạn hỏi họ cảm thấy gì khi họ đạt tới,

họ chỉ nhún vai. Tự do đó, cái họ phải đã biết là không thể

nào nói ra nổi; cái đẹp, phúc lành, bầu trời bao la, độ cao ấy,

và những đám mây nhiều mầu sắc, và mặt trời và không khí

không ô nhiễm, rồi tuyết trong trắng mà chưa ai đã đi qua

trước đó… tất cả những điều đó không thể nào truyền đạt

14

được. Người ta phải đạt tới những đỉnh cao ánh mặt trời đó

để mà biết nó.

‘Pada’ có nghĩa là con đường, ‘pada’ cũng còn có nghĩa

là bước đi, bàn chân, nền tảng. Tất cả những nghĩa này đều

có ý nghĩa. Bạn phải đi từ nơi bạn đang ở. Bạn phải trở

thành một tiến trình lớn, sự trưởng thành. Mọi người đã trở

thành những vũng tù đọng; họ phải trở thành dòng sông, bởi

vì chỉ dòng sông mới đạt tới đại dương. Và điều đó cũng có

nghĩa là nền tảng, bởi vì nó là chân lí nền tảng của cuộc

sống. Không có pháp dhamma, không có quan hệ theo cách

nào đó với chân lí tối thượng, cuộc sống của bạn không có

nền tảng, không có nghĩa, không ý nghĩa, nó không thể có

bất kì vinh quang nào. Nó sẽ là bài tập trong vô tích sự hoàn

toàn. Nếu bạn không được bắc cầu với cái toàn bộ bạn

không thể có bất kì ý nghĩa nào riêng của mình được. Bạn sẽ

còn là mẩu gỗ trôi dạt – phó mặc cho gió, không biết bạn

đang đi đâu và không biết bạn là ai. Việc tìm kiếm chân lí,

tìm kiếm đam mê về chân lí, tạo ra cây cầu, cho bạn nền

tảng. Những lời kinh này đã được soạn thành Dhammapada

cần được hiểu không phải qua trí tuệ mà là qua việc tồn tại.

Trở thành giống như miếng bọt biển đi: để cho nó ngấm

nước, để cho nó chìm vào trong bạn. Đừng ngồi đó pahsn

xét; bằng không bạn sẽ bỏ lỡ Phật. Đừng ngồi đó tán gẫu

thường xuyên trong tâm trí bạn về liệu điều đó đúng hay sai

– bạn sẽ lỡ vấn đề. Đừng bị bận tâm liệu nó đúng hay là sai.

Điều đầu tiên, điều chủ chốt nhất, là hiểu nó là gì – điều

Phật đang nói, điều Phật đang cố nói. Không cần đánh giá

ngay bây giờ. Nhu cầu đầu tiên, cơ sở là hiểu đích xác điều

ông ấy ngụ ý. Và cái đẹp của nó là ở chỗ nếu bạn hiểu đích

xác nó nghĩa là gì, bạn sẽ bị thuyết phục về chân lí của nó,

bạn sẽ biết chân lí của nó. Chân lí có cách của riêng nó để

thuyết phục mọi người; nó không cần bằng chứng khác.

15

Chân lí chưa bao giờ tranh biện: nó là bài ca, không phải

suy luận.

Lời kinh

Chúng ta là điều ta nghĩ.

Mọi điều ta là đều nảy sinh bằng ý nghĩ của chúng ta.

Với ý nghĩ của mình chúng ta tạo ra thế giới.

Phải nói đi nói lại cho bạn rằng các nhà huyền môn

phương Đông tin rằng thế giới này là ảo tưởng. Điều đó

đúng: họ không chỉ tin rằng thế giới này là không thực, ảo

tưởng, maya – họ biết rằng nó là maya, nó là ảo tưởng, là

mơ. Nhưng khi họ dùng từ sansara – thế giới – họ không ngụ

ý thế giới khách quan mà khoa học nghiên cứu; không,

không chút nào. Họ không ngụ ý thế giới của cây cối và núi

non và và dòng sông; không, không chút nào. Họ nói tới thế

giới mà bạn tạo ra, thêu dệt ra bên trong tâm trí bạn, bánh xe

của tâm trí cứ quay và thêu dệt ra mãi. Sansara chẳng liên

quan gì tới thế giới bên ngoài.

Có ba điều cần được nhớ. Một là thế giới bên ngoài, thế

giới khách quan. Phật sẽ không bao giờ nói điều gì về nó bởi

vì đấy không phải là mối bận tâm của ông ấy; ông ấy không

phải là một Albert Einstein. Thế rồi có thế giới thứ hai: thế

giới của tâm trí, thế giới mà các nhà phân tâm, các nhà tâm

thần, các nhà tâm lí nghiên cứu. Phật sẽ có vài điều để nói về

nó, không nhiều lắm, chỉ đôi điều thôi – thực ra, chỉ có một:

rằng nó là ảo tưởng, rằng nó không có chân lí, dù là khách

quan hay chủ quan, rằng nó là ở giữa.

Thế giới thứ nhất là thế giới khách quan, điều khoa học

nghiên cứu. Thế giới thứ hai là thế giới của tâm trí, điều các

16

nhà tâm lí nghiên cứu. Và thế giới thứ ba là tính chủ quan

của bạn, vùng bên trong của bạn, cái ta bên trong của bạn.

Chỉ dẫn của Phật là hướng về cốt lõi bên trong nhất của

bản thể bạn. Nhưng bạn quá dính líu với tâm trí. Chừng nào

ông ấy chưa giúp bạn trở nên không bị mắc bẫy tâm trí, bạn

sẽ chẳng bao giờ biết được tới thế giới thứ ba, thế giới thực:

bản chất bên trong của bạn. Do đó ông ấy bắt đầu bằng phát

biểu: Chúng ta là điều ta nghĩ. Đó là điều mọi người đang

vậy: tâm trí của người đó. Mọi điều ta là đều nảy sinh bằng ý

nghĩ của chúng ta.

Hình dung ra một chút rằng tất cả ý nghĩ đã dừng lại…

thế thì bạn là ai? Nếu mọi ý nghĩ dừng lại trong một khoảnh

khắc, thế thì bạn là ai? Không câu trả lời nào tới cả. Bạn

không thể nói, “Tôi là người Cơ đốc giáo,” “Tôi là người

Tin lành”, “Tôi là người Hindu”, “Tôi là người Mô ha mét

giáo” – bạn không thể nói điều đó được. Mọi ý nghĩ đã dừng

lại. Cho nên Koran đã biến mất, Kinh thánh, Gita … mọi từ

đã dừng lại! Thậm chí bạn không thể thốt ra tên bạn. Mọi

ngôn ngữ đã biến mất cho nên bạn không thể nói bạn thuộc

vào quốc gia nào, giống nòi nào. Khi ý nghĩ dừng lại, bạn là

ai? Trống rỗng hoàn toàn, cái không, không – cái gì.

Chính bởi điều này mà Phật đã dùng một từ lạ: không ai

đã từng làm một việc như vậy trước đây, hay từ đó về sau.

Các nhà huyền môn bao giờ cũng dùng từ ‘ngã’ để chỉ cốt

lõi bên trong nhất của bản thể bạn – Phật dùng từ ‘vô ngã’.

Và tôi hoàn toàn đồng ý với ông ấy; ông ấy còn chính xác

hơn rất nhiều, gần hơn với chân lí. Việc dùng từ ‘ngã’ – cho

dù bạn có dùng từ ‘Ngã’ với chữ hoa ‘N’ đi chăng nữa, cũng

chẳng tạo ra khác biệt gì mấy. Nó vẫn liên tục cho bạn cái

cảm giác về bản ngã, và với chữ ‘N’ hoa nó có thể còn cho

bạn một bản ngã thậm chí lớn hơn.

17

Phật không dùng từ atma, ‘ngã’, atta. Ông ấy dùng ngay

từ đối lập: ‘vô ngã’, anatma, anatta. Ông ấy nói rằng khi

tâm trí dừng lại, không có cái ngã nào còn lại cả – bạn đã trở

thành vũ trụ, bạn đã tràn qua các biên giới của bản ngã, bạn

là không gian thuần khiết, không bị ô nhiễm bất kì cái gì.

Bạn chỉ là tấm gương phản ánh cái không.

Chúng ta là điều ta nghĩ.

Mọi điều ta là đều nảy sinh bằng ý nghĩ của chúng ta.

Với ý nghĩ của mình chúng ta tạo ra thế giới.

Nếu bạn thực sự muốn biết bạn là ai, thực ra bạn sẽ phải

học cách dừng lại như một tâm trí, cách dừng suy nghĩ. Đó

chính là thiền tất cả là gì. Thiền có nghĩa là đi ra ngoài tâm

trí, vứt bỏ tâm trí và đi vào trong không gian được gọi là vô

trí. Và trong vô trí bạn sẽ biết chân lí tối thượng, dhamma –

pháp.

Và việc chuyển từ tâm trí sang vô trí là một bước, pada.

Và đây là toàn bộ bí mật của Dhammapada.

Nói hay làm với tâm trí không thuần khiết

Và rắc rối sẽ theo ông

Như bánh xe theo trục kéo chiếc xe.

Bất kì khi nào Phật dùng cụm từ ‘tâm trí không thuần

khiết’ bạn có thể hiểu lầm nó. Với ‘tâm trí không thuần

khiết’ ông ấy ngụ ý tâm trí, bởi vì mọi tâm trí đều không

thuần khiết. Tâm trí như nó vậy là không thuần khiết, và vô

trí là thuần khiết. Thuần khiết nghĩa là vô trí; không thuần

khiết nghĩa là tâm trí.

18

Nói hay làm với tâm trí không thuần khiết – nói hay làm

với tâm trí – và rắc rối sẽ theo ông… Khổ là sản phẩm phụ,

cái bóng của tâm trí, cái bóng của tâm trí ảo tưởng. Khổ là

ác mộng. Bạn khổ chỉ bởi vì bạn ngủ. Và không có cách nào

thoát khỏi nó trong khi bạn còn đang ngủ. Chừng nào bạn

chưa thức tỉnh, ác mộng vẫn còn dai dẳng. Nó có thể thay

hình đổi dạng, nó có thể có hàng triệu dạng, nhưng nó sẽ còn

dai dẳng.

Khổ là cái bóng của tâm trí: tâm trí nghĩa là ngủ, tâm trí

nghĩa là vô ý thức, tâm trí nghĩa là không nhận biết. Tâm trí

nghĩa là không biết bạn là ai và vẫn giả vờ rằng bạn biết,

rằng bạn biết cuộc sống được ngụ ý vì cái gì – không biết gì

về cuộc sống và vẫn tin rằng bạn biết.

Tâm trí này sẽ đem lại khổ chắc chắn như bánh xe theo

trục kéo chiếc xe.

Chúng ta là điều ta nghĩ.

Mọi điều ta là đều nảy sinh bằng ý nghĩ của chúng ta.

Với ý nghĩ của mình chúng ta tạo ra thế giới.

Nói hay làm với tâm trí thuần khiết

Và hạnh phúc sẽ theo ông

Như cái bóng của ông, không lay chuyển được.

Lần nữa, nhớ: khi Phật nói “tâm trí thuần khiết” ông ấy

ngụ ý vô trí. Rất khó dịch một người như Phật. Đấy gần như

là việc không thể được, bởi vì một người như Phật hay dùng

ngôn ngữ theo cách riêng của ông ấy; ông ấy tạo ra ngôn

ngữ riêng của ông ấy. Ông ấy không thể dùng ngôn ngữ bình

thường với nghĩa thông thường, bởi vì ông ấy có cái gì đó

phi thường để truyền đạt.

Còn nữa

 

Dhammapada

CON ĐƯỜNG CỦA PHẬT

¨

ĐÂY LÀ CON ĐƯỜNG

ĐI TỚI CHÂN LÍ TỐI THƯỢNG

Tập 1 ( tiếp theo )

Những từ ngữ thông thường tuyệt đối vô nghĩa khi tham

chiếu kinh nghiệm của Phật. Nhưng bạn nên hiểu vấn đề

này. Vấn đề là, ông ấy không thể dùng ngôn ngữ tuyệt đối

mới được; không ai sẽ hiểu nó. Nó sẽ giống như câu nói lắp

bắp.

Đó là cách mà từ ‘nói lắp bắp’ đi vào trong sự tồn tại.

Nó tới từ một người Sufi; tên người đó là Jabbar. Ông ấy đã

phát minh ra một ngôn ngữ mới. Không ai có thể đoán dược

đầu đuôi nó ra sao cả. Làm sao mà bạn hiểu được một ngôn

ngữ tuyệt đối mới? Ông ấy trông như người điên, thốt ra

những điều vô nghĩa, nói ra điều vô nghĩa. Đó là cách nó xảy

ra! Nếu bạn lắng nghe tiếng Trung quốc và bạn không hiểu

tiếng Trung quốc, đó là thốt ra điều vô nghĩa.

Ai đó hỏi một người vừa đi Trung quốc về. “Họ tìm ra

những cái tên kì lạ cho mọi người như thế nào? – Ching,

Chung, Chang…”

Người này nói, “Họ có cách đấy: họ tập hợp mọi thìa

trong nhà lại rồi họ tung chúng lên trời, và khi những cái thìa

này rơi xuống… ching! Chung! Chang! Hay bất kì âm thanh

nào chúng tạo ra, đó là cách họ đặt tên cho đứa trẻ.”

Nhưng cũng điều đó là hoàn cảnh: nếu người Trung

quốc nghe tiếng Anh thì anh ta nghĩ, “Vô nghĩa làm sao!”

Nếu đó là trường hợp với ngôn ngữ mà hàng triệu người

dùng, cái gì sẽ là trường hợp với Phật nếu ông ấy phát minh

ra một ngôn ngữ nguyên bản? Chỉ ông ấy hiểu nó và không

ai khác hiểu. Jabbar đã làm điều đó – ông ấy phải là người rất

dũng cảm. Mọi người nghĩ rằng ông ấy điên.

20

Từ tiếng Anh ‘nói lắp bắp’ bắt nguồn từ Jabbar. Không

ai biết ông ấy đang nói gì. Thậm chí không ai cố gắng thu

thập nó… làm sao mà thu thập nó được? Không có bảng chữ

cái. Và điều ông ấy nói không tạo nên ý nghĩa nào cả, cho

nên chúng ta không biết chúng ta đã bỏ lỡ mất kho báu nào.

Vấn đề đối với Phật là ở chỗ hoặc là ông ấy phải dùng

ngôn ngữ của bạn như bạn dùng nó – thế thì ông ấy không

thể truyền đạt được kinh nghiệm của ông ấy chút nào – hoặc

là ông ấy phải phát minh ra ngôn ngữ mới không ai sẽ hiểu

được. Cho nên mọi thầy vĩ đại đều phải cố gắng nhiều lắm ở

giữa. Họ sẽ dùng ngôn ngữ của bạn, nhưng họ sẽ cho lời của

bạn mầu sắc của họ, hương vị của họ. Cái chai sẽ là của bạn,

rượu sẽ là của họ. Và tưởng rằng bởi vì cái chai là của bạn,

rượu cũng là của bạn, bạn sẽ mang chúng hàng thế kỉ. Và có

khả năng là, cứ tưởng rằng đấy là rượu của bạn bởi vì chai

của bạn, đôi khi bạn có thể uống nó, bạn có thể trở nên say.

Đó là lí do tại sao rất khó dịch. Phật dùng một ngôn ngữ

được hiểu bởi những người xung quanh ông ấy, nhưng ông

ấy đã cho chỗ quanh co lắt léo vào từ ngữ theo cách tinh tế

đến mức ngay cả người đã biết ngôn ngữ này cũng không

tỉnh táo, cũng không bị sốc. Họ tưởng họ đã nghe theo ngôn

ngữ riêng của họ.

Phật dùng từ “tâm trí thuần khiết” cho vô trí, bởi vì nếu

bạn nói ‘vô trí’, ngay lập tức điều đó trở thành không hiểu

được. Nhưng nếu bạn nói “tâm trí thuần khiết”, thế thì trao

đổi nào đó là có thể có. Dần dần, dần dần ông ấy sẽ thuyết

phục bạn rằng tâm trí thuần khiết nghĩa là vô trí. Nhưng điều

đó sẽ cần thời gian; rất chậm rãi bạn phải bị bắt và mắc bẫy

vào một kinh nghiệm mới toàn bộ. Nhưng bao giờ cũng nhớ:

tâm trí thuần khiết nghĩa là vô trí, không thuần khiết nghĩa là

tâm trí.

21

Bằng việc đặt các tính từ này, không thuần khiết và

thuần khiết, ông ấy đang thoả hiệp với bạn để cho bạn không

trở nên tỉnh táo quá sớm và trốn mất. Bạn sẽ phải bị quyến

rũ, dụ dỗ. Mọi thầy vĩ đại đều dụ dỗ – đó là nghệ thuật của

họ. Họ dụ dỗ bạn theo cách mà dần dần, dần dần bạn sẵn

sàng uống bất kì cái gì, bất kì cái gì họ đưa. Trước hết họ

cung cấp cho bạn nước thường, thế rồi dần dần, rượu phải

được trộn lẫn vào trong nó. Thế rồi nước phải được rút dần

ra… và một hôm nào đó bạn hoàn toàn say sưa. Nhưng nó

phải là một quá trình rất chậm rãi.

Khi bạn đi sâu hơn vào trong lời kinh này bạn sẽ hiểu.

Tâm trí không thuần khiết nghĩa là tâm trí, tâm trí thuần

khiết nghĩa là vô trí. Và hạnh phúc sẽ theo sau bạn nếu bạn

có tâm trí thuần khiết hay vô trí… Hạnh phúc sẽ theo ông

như cái bóng của ông, không lay chuyển được.

Khổ là sản phẩm phụ, phúc lạc cũng là vậy. Khổ là sản

phẩm phụ của việc đang ngủ, phúc lạc là sản phẩm phụ của

việc tỉnh thức. Do đó bạn không thể nào tìm và kiếm phúc

lạc trực tiếp được, và những người tìm và kiếm phúc lạc trực

tiếp nhất định thất bại, mang định mệnh thất bại. Phúc lạc có

thể được đạt tới chỉ bởi những người không tìm kiếm phúc

lạc trực tiếp; ngược lại, họ tìm kiếm nhận biết. Và khi nhận

biết tới, phúc lạc tới theo cách riêng của nó, giống hệt như

cái bóng của bạn, không lay chuyển được.

“Nhìn cách nó xúc phạm tôi và đánh tôi.

Cách nó quật tôi xuống và cướp bóc tôi.”

Sống với ý nghĩ như vậy và ông sống trong ghét.

“Nhìn cách nó xúc phạm tôi và đánh tôi.

Cách nó quật tôi xuống và cướp bóc tôi.”

Bỏ ý nghĩ như vậy, và sống trong yêu.

22

Cái gì đó có tầm quan trọng sâu lắng: ghét tồn tại với

quá khứ và tương lai – yêu không cần quá khứ, tương lai.

Yêu tồn tại trong hiện tại. Ghét có tham chiếu trong quá khứ:

ai đó xúc phạm bạn hôm qua và bạn mang nó như một vết

thương, một dư âm khó chịu. Hay bạn sợ rằng ai đó sẽ xúc

phạm bạn ngày mai – nỗi sợ, cái bóng của sợ. Và bạn đã sẵn

sàng; bạn đang được chuẩn bị để đương đầu với nó.

Ghét tồn tại trong quá khứ và tương lai. Bạn không thể

ghét trong hiện tại được – thử đi, và bạn sẽ hoàn toàn bất lực.

Thử điều đó hôm nay: ngồi im lặng và ghét ai đó trong hiện

tại, không tham chiếu tới quá khứ hay tương lai… bạn không

thể làm được điều đó. Điều đó không thể được làm; trong

chính bản chất của mọi sự điều đó là không thể được. Ghét

chỉ có thể tồn tại nếu bạn nhớ tới quá khứ: người này đã làm

điều gì đó với bạn hôm qua – thế thì ghét là có thể. Hay

người này sắp làm điều gì đó ngày mai – thế nữa ghét là có

thể. Nhưng nếu bạn không có bất kì tham chiếu nào tới quá

khứ hay tương lai – người này đã không làm bất kì điều gì

với bạn và người này không định làm bất kì điều gì với bạn,

người này chỉ ngồi đó – làm sao bạn có thể ghét được?

Nhưng bạn có thể yêu.

Yêu không cần tham chiếu – đó là cái đẹp của yêu và tự

do của yêu. Ghét là tù túng. Ghét là tù đầy – bị bạn áp đặt lên

chính mình. Và ghét tạo ra ghét, ghét khơi ra ghét. Nếu bạn

ghét ai đó, bạn đang tạo ra ghét trong trái tim người đó với

bản thân bạn. Và toàn thể thế giới này tồn tại trong ghét,

trong huỷ diệt, trong bạo hành, trong ghen tị, trong cạnh

tranh. Mọi người đều đang chẹt cổ lẫn nhau trong thực tại,

thực tế, trong hành động, hoặc ít nhất trong tâm trí họ, trong

ý nghĩ của họ, mọi người đang sát hại, giết chóc. Đó là lí do

tại sao chúng ta đã tạo ra địa ngục từ trái đất tươi đẹp này –

nơi đáng ra có thể trở thành thiên đường.

23

Yêu, và trái đất này lại trở thành thiên đường. Và cái đẹp

mênh mông của yêu là ở chỗ nó không có tham chiếu. Yêu

tới từ bạn không lí do gì cả. Nó là phúc lạc trào ra của bạn,

nó là sự chia sẻ của trái tim bạn. Nó là việc chia sẻ bài ca

của bản thể bạn. Và việc chia sẻ vui vẻ thế – do đó người ta

chia sẻ! Chia sẻ chỉ để chia sẻ, không vì động cơ nào khác.

Nhưng điều mà bạn đã biết yêu trong quá khứ không

phải là yêu Phật đang nói tới hay tôi đang nói tới. Yêu của

bạn không là gì ngoài phía bên kia của ghét. Do đó yêu của

bạn có tham chiếu: ai đó hôm qua là đẹp với bạn, anh ta điển

trai đến mức bạn cảm thấy tình yêu lớn với anh ta. Đây

không phải là yêu; đây là phía bên kia của ghét – điểm tham

chiếu gợi ra nó. Hay ai đó ngày mai sẽ là xinh với bạn: cách

anh ta mỉm cười với bạn, cách anh ta nói với bạn, cách anh

ta mời bạn tới nhà anh ta ngày mai – anh ta sắp đáng yêu với

bạn. Và tình yêu lớn nảy sinh.

Đây không phải là tình yêu chư phật nói tới. Đây là ghét

trá hình làm yêu – đó là lí do tại sao yêu của bạn có thể biến

thành ghét vào bất kì khoảnh khắc nào. Cào một người chút

xíu, và yêu biến mất và ghét nảy sinh. Thậm chí nó không

sâu quá làn da. Ngay cả cái gọi là những người yêu vĩ đại

vẫn liên tục đánh nhau, liên tục chẹn họng nhau – chì chiết,

huỷ diệt. Và mọi người nghĩ đây là yêu…

Bạn có thể hỏi Astha và Abhiyama – họ đang trong yêu

đến mức Astha có mắt đen gần như mọi ngày. Đánh nhau to!

Nhưng khi việc đánh nhau to tiếp diễn, mọi người nghĩ điều

gì đó đang xảy ra. Khi không có gì xảy ra – không đánh

nhau, không cãi nhau – mọi người cảm thấy trống rỗng.

“Đánh nhau còn tốt hơn là trống rỗng.” – đó là ý tưởng của

hàng triệu người trên thế giới. Ít nhất đánh nhau giữ bạn

dính líu vào, ít nhất đánh nhau giữ bạn tham dự vào, và đánh

24

nhau làm cho bạn thành quan trọng. Cuộc sống dường như

có nghĩa nào đó – nghĩa xấu, nhưng ít nhất có nghĩa nào đó.

Yêu của bạn không phải là yêu thực sự: nó chính là cái

đối lập của nó. Nó là ghét trá hình làm yêu, được nguỵ trang

là yêu, phô trương như yêu. Yêu thực sự không có tham

chiếu. Nó không nghĩ tới hôm qua, nó không nghĩ tới ngày

mai. Yêu thực là sự tự phát trào lên từ vui vẻ trong bạn… và

chia sẻ nó… và mưa rào nó… không bởi vì lí do nào, không

động cơ nào khác, chỉ là vui vẻ của việc chia sẻ nó.

Tiếng chim hót buổi sáng, tiếng cúc cu này vọng từ chỗ

xa xa… không lí do nào. Trái tim chỉ tràn đầy vui vẻ mà bài

ca buột phát ra. Khi tôi đang nói về yêu tôi nói về yêu như

vậy. Nhớ lấy điều đó. Và nếu bạn có thể đi vào trong chiều

hướng của yêu này, bạn sẽ trong thiên đường – ngay lập tức.

Và bạn sẽ bắt đầu tạo ra thiên đường trên trái đất này.

Yêu tạo ra yêu hệt như ghét tạo ra ghét.

Trong thế giới này

Ghét chưa bao giờ xua tan ghét.

Chỉ yêu xua tan ghét.

Đây là luật,

Cổ đại và vô tận.

Aes dhammo sanantano – luật này là vĩnh hằng, cổ đại

và không cạn.

Luật gì vậy? Rằng ghét chưa bao giờ xua tan ghét – bóng

tối không thể xua tan bóng tối – rằng chỉ yêu xua tan ghét.

Chỉ ánh sáng mới có thể xua tan bóng tối: yêu là ánh sáng,

ánh sáng của bản thể bạn, và ghét là bóng tối của bản thể

bạn. Nếu bạn tối bên trong, bạn cứ ném ra ghét khắp xung

25

quanh bạn. Nếu bạn sáng bên trong, chói sáng, thế thì bạn cứ

toả ra ánh sáng quanh bạn.

Sannyasin phải là tình yêu toả sáng, ánh sáng toả sáng.

Aes dhammo sanantano… Phật lặp đi lặp lại điều này

mãi – đây là luật vĩnh hằng. Luật vĩnh hằng là gì? Chỉ yêu

xua tan ghét, chỉ ánh sáng xua tan bóng tối. Tại sao? – bởi vì

bóng tối trong bản thân nó chỉ là trạng thái tiêu cực; nó

không có sự tồn tại tích cực của riêng nó. Nó không tồn tại

thực – làm sao bạn có thể xua tan nó được? Bạn không thể

làm bất kì cái gì trực tiếp với bóng tối. Nếu bạn muốn làm

cái gì với bóng tối, bạn sẽ phải làm cái gì đó với ánh sáng.

Đem ánh sáng vào và bóng tối mất đi, đem ánh sáng ra và

bóng tối lại vào. Nhưng bạn không thể đem bóng tối vào hay

ra một cách trực tiếp – bạn không thể làm bất kì cái gì với

bóng tối. Nhớ lấy, bạn không thể làm bất kì điều gì với ghét

nữa.

Và đó là khác biệt giữa thầy giáo đạo đức và nhà huyền

môn tôn giáo: thầy giáo đạo đức cứ đề xuất luật giả. Họ cứ

đề xuất, “Đấu tranh với bóng tối – đấu tranh với ghét, đấu

tranh với giận, đấu tranh với dục, đấu tranh với cái này, đấu

tranh với cái nọ!” Toàn thể cách tiếp cận của họ là, “Đấu

tranh với cái tiêu cực,” trong khi thầy chân chính, thực sự

dạy bạn luật tích cực: Aes dhammo sanantano – luật vĩnh

hằng, “Đừng đấu tranh với bóng tối.” Và ghét là bóng tối, và

dục là bóng tối, và ghen tị là bóng tối, và tham lam là bóng

tối và giận dữ là bóng tối.

Đem ánh sáng vào…

Làm sao ánh sáng được đem vào? Trở thành im lặng, vô

ý nghĩ, có ý thức, tỉnh táo, nhận biết, thức tỉnh – đây là cách

ánh sáng được đem vào. Và khoảnh khắc bạn tỉnh táo, nhận

26

biết, ghét sẽ không được tìm thấy. Thử ghét ai đó với nhận

biết mà xem…

Đây là những thực nghiệm để được làm, không chỉ là lời

để được hiểu – thực nghiệm cần được làm. Đó là lí do tại sao

tôi nói đừng cố hiểu chỉ về trí tuệ: trở thành người thực

nghiệm sự tồn tại.

Thử ghét ai đó một cách có ý thức và bạn sẽ thấy điều đó

là không thể được. Hoặc là ý thức biến mất, thế thì bạn có

thể ghét; hoặc nếu bạn có ý thức, ghét biến mất. Chúng

không thể tồn tại cùng nhau. Không có khả năng cùng tồn

tại: ánh sáng và bóng tối không thể cùng tồn tại – bởi vì bóng

tối không là gì ngoài thiếu vắng của ánh sáng.

Các thầy thực dạy bạn cách đạt tới Thượng đế: họ chưa

bao giờ nói từ bỏ thế giới này. Từ bỏ là tiêu cực. Họ không

bảo bạn trốn khỏi thế giới này, họ dạy bạn thoát vào trong

Thượng đế. Họ dạy bạn đạt tới chân lí, không đấu tranh với

dối trá. Và dối trá có hàng triệu. Nếu bạn cứ đấu tranh sẽ

phải mất hàng triệu kiếp, dầu vậy không cái gì được đạt tới.

Và chân lí là một; do đó chân lí có thể được đạt tới ngay,

chính khoảnh khắc này điều đó là có thể.

Ông cũng sẽ mất đi

Biết điều này, làm sao ông có thể cãi lộn?

Cuộc sống ngắn thế, tạm thời thế, và bạn đang phí hoài

nó trong cãi lộn? Dùng toàn thể năng lượng cho thiền đi – nó

là cùng năng lượng ấy. Bạn có thể tranh đấu với nó hay bạn

có thể trở thành ánh sáng qua nó.

Gió thổi đổ cây mảnh mai dễ làm sao.

Tìm hạnh phúc theo nghĩa này,

27

Mê đắm trong ăn và ngủ,

Và ông cũng sẽ bị bật rễ.

Phật nói: Nhớ lấy, nếu ông phụ thuộc vào các giác quan

ông sẽ vẫn còn rất mảnh mai – bởi vì các giác quan không

thể cho bạn sức mạnh được. Chúng không thể cho bạn sức

mạnh bởi vì chúng không thể cho bạn nền tảng thường hằng.

Chúng là thường hằng theo luồng: mọi thứ đều thay đổi. Bạn

có thể có chỗ trú ngụ ở đâu? Bạn có thể tạo ra nền tảng ở

đâu?

Khoảnh khắc này người phụ nữ này trông đẹp và khoảnh

khắc khác người phụ nữ khác trông đẹp. Nếu bạn chỉ quyết

định theo giác quan, bạn sẽ rối loạn thường xuyên – bạn

không thể quyết định được bởi vì các giác quan cứ thay đổi

ý kiến của chúng. Khoảnh khắc này cái gì đó dường như là

lạ thường thế, và khoảnh khắc khác nó lại chỉ là xấu xí,

không thể chịu nổi. Và chúng ta lệ thuộc vào những giác

quan này.

Phật nói: Đừng lệ thuộc vào giác quan – lệ thuộc vào

nhận biết. Nhận biết là cái gì đó ẩn đằng sau các giác quan.

Không phải là mắt thấy đâu. Nếu bạn tới chuyên gia mắt ông

ấy sẽ nói chính mắt thấy, nhưng điều đó không đúng. Mắt

chỉ là một cơ chế – qua đó ai đó khác thấy. Mắt chỉ là cửa sổ;

cửa sổ không thể thấy được. Khi bạn đứng tại cửa sổ, bạn có

thể nhìn ra ngoài. Ai đó đi qua trên phố có thể nghĩ, “Cái cửa

sổ đang nhìn mình.” Mắt chỉ là cửa sổ, một kẽ hở. Ai ở đằng

sau mắt?

Tai không nghe – ai ở đằng sau tai để nghe? Ai là người

cảm thấy? Cứ đi tìm cái đó và bạn sẽ thấy nền tảng nào đó;

bằng không, cuộc sống của bạn sẽ chỉ là chiếc lá khô cuốn

theo gió.

28

Gió không thể lật đổ núi.

Cám dỗ không thể chạm tới người,

Người thức tỉnh, mạnh mẽ và khiêm tốn,

Người làm chủ bản thân mình và lưu tâm tới luật.

Thiền sẽ làm cho bạn thức tỉnh, mạnh mẽ và khiêm tốn.

Thiền sẽ làm cho bạn thức tỉnh bởi vì nó sẽ cho bạn kinh

nghiệm đầu tiên về bản thân mình. Bạn không phải là thân

thể, bạn không phải là tâm trí – bạn là tâm thức chứng kiến

thuần khiết. Và khi tâm thức chứng kiến thuần khiết này

được động chạm tới, thức tỉnh lớn lao xảy ra – dường như

con rắn vẫn cuộn mình ngồi đó và đột nhiên nó tháo khúc

cuộn ra, dường như ai đó đã ngủ và bị lay và tỉnh dậy. Đột

nhiên có thức tỉnh lớn ở bên trong: lần đầu tiên bạn cảm thấy

bạn có đấy. Lần đầu tiên bạn cảm thấy chân lí của bản thể

bạn.

Và chắc chắn điều đó làm cho bạn mạnh mẽ; bạn không

còn mong manh nữa, không giống như cái cây mảnh mai mà

bất kì ngọn gió nào cũng có thể thổi đổ. Bây giờ bạn trở

thành núi! Bây giờ bạn có nền tảng, bây giờ bạn đã bắt rễ –

không gió nào có thể thổi đổ núi được. Bạn trở nên thức

tỉnh, bạn trở nên mạnh mẽ, và dầu vậy bạn trở nên khiêm

tốn. Sức mạnh này không đem tới bất kì bản ngã nào trong

bạn. Bạn trở nên khiêm tốn bởi vì bạn trở nên nhận biết rằng

cùng một linh hồn chứng kiến đang tồn tại trong mọi người,

ngay cả trong con vật, chim chóc, cây cối, tảng đá.

Đây chỉ là những cách ngủ khác nhau! Ai đó ngủ

nghiêng bên phải, và ai đó ngủ nghiêng bên trái, và ai đó ngủ

ngửa… đây chỉ là những cách ngủ khác nhau! Đá có cách

ngủ riêng của nó, cây có cách ngủ khác, chim có cách khác –

nhưng chỉ khác biệt về cách thức và phương pháp ngủ; bằng

không sâu bên dưới tại cốt lõi của mọi sinh linh đều là cùng

29

sự chứng kiến, cùng Thượng đế. Điều đó làm cho bạn khiêm

tốn. Ngay cả trước một tảng đá bạn biết bạn không là ai đặc

biệt cả, bởi vì toàn bộ sự tồn tại được tạo nên từ cùng chất

liệu gọi là tâm thức. Và nếu bạn thức tỉnh, mạnh mẽ, và

khiêm tốn, điều này cho bạn việc làm chủ bản thân bạn.

Còn nữa

Dhammapada

CON ĐƯỜNG CỦA PHẬT

ĐÂY LÀ CON ĐƯỜNG

ĐI TỚI CHÂN LÍ TỐI THƯỢNG

Tập 1 ( tiếp theo )

Câu hỏi:

Thưa thầy kính yêu,

Đấy là về cảm giác rằng nó bao giờ cũng có đó, và ngay

khi tôi cảm thấy nó, dường như nó xa xôi thế – nhưng cái

‘nó’ này là gì vậy?

Deva Prashantam, nó là một trong những vấn đề tái diễn

mà mọi người tìm kiếm chân lí đều gặp phải. Bạn không thể

41

nào hiểu thấu được chân lí – nếu bạn cố, nó sẽ ở xa, xa xăm.

Bạn không thể nào sở hữu chân lí – nếu bạn cố, bạn sẽ thấy

tay bạn trống rỗng hoàn toàn. Chân lí không thể nào bị sở

hữu bởi vì nó không phải là vật. Ngược lại, bạn phải có đủ

dũng cảm để bị chân lí sở hữu – bởi vì đấy là chuyện tình.

Cho phép bản thân mình bị nó sở hữu đi và bạn sẽ biết

nó là gì. Nhưng bạn đang làm chính điều ngược lại: bạn đã

cố gắng nắm bắt nó. Đó là điều tâm trí bao giờ cũng khao

khát, ham muốn. Đó là điều tâm trí gọi là ‘hiểu biết’. Chừng

nào tâm trí còn chưa có khả năng nắm bắt điều gì đó, tâm trí

chưa được thoả mãn.

Nhưng chân lí là thuỷ ngân: nếu bạn cố giữ nó trong tay

bạn, nắm tay càng chặt, nó sẽ lại càng trở nên lảng tránh

hơn, và ra xa nhất – xa xôi đến mức bạn sẽ chấm dứt việc tin

vào nó, tin cậy vào nó… xa xôi đến mức bạn sẽ không thể

nào thấy rằng nó tồn tại chút nào.

Chân lí tới; nó không thể bị đem tới. Chân lí xảy ra; bạn

không thể làm bất kì điều gì về nó – bởi vì người làm là vấn

đề, là cản trở, là chướng ngại. Người làm là bản ngã. Và nếu

bạn xoay xở cách nào đó và không cho phép người làm can

thiệp vào, nó tới theo cửa sau – như người kinh nghiệm, như

người quan sát, như người kinh nghiệm. Nó vẫn là cùng bản

ngã đó, dưói lớp vỏ bọc mới.

Đó là lí do tại sao khi bạn cảm thấy nó, nó bị mất đi –

người làm bây giờ đã tới như người cảm. Người làm phải bị

tan biến đi toàn bộ; người làm phải không được phép quay

lại theo cách tinh vi nào, theo cách bí mật nào.

Để chân lí hiện hữu! Đừng vội vàng hiểu nó hay cảm nó

– cứ để nó đấy. Bạn không cần làm bất kì cái gì về nó. Nếu

bạn có thể vẫn còn trong trạng thái không làm như vậy, của

vô nỗ lực, vô bản ngã, bạn sẽ hiểu, bạn sẽ cảm, bạn sẽ biết,

42

bạn sẽ có nó. Nó chỉ có thể có được một cách gián tiếp,

không trực tiếp.

Prashantam, đó là nơi bạn đang bỏ lỡ nó. Và đó là nơi

mà mọi người bỏ lỡ nó. Vâng, có những khoảnh khắc, khi

đột nhiên nó ở cận kề thế… bạn sẽ muốn bắt lấy nó. Chính

ham muốn nắm bắt nảy sinh từ tham lam, chính ham muốn

nắm bắt nảy sinh từ sợ hãi. Chính ham muốn nắm bắt là ham

muốn của tâm trí. Và khi tâm trí đi vào, chân lí đi ra.

Bạn không thể đơn giản im lặng, không làm gì cả –

không làm ở mức độ trí tuệ, không làm ở mức độ vật lí,

không làm ở mức độ xúc động – không làm gì chút nào, chỉ

hiện hữu ở đó, hoàn toàn tĩnh lặng sao? Và thế thì bạn sẽ bị

nó sở hữu. Và cách duy nhất để biết nó là để bị nó sở hữu.

Bạn nói, “đấy là về cảm giác rằng nó bao giờ cũng có

đó…”

Vâng, nó bao giờ cũng có đó rồi. Nó là chính bản thể

của chúng ta. Nó là chất liệu tạo nên chúng ta. Chân lí không

phải là cái gì đó tách rời khỏi bạn: bạn là chân lí. Nó là

chính tâm thức của bạn, chính nền tảng của bản thể bạn. Bạn

không cần phải đi đâu khác để tìm và kiếm, dù tới Kashi hay

Kaaba. Thậm chí đến một bước cũng chẳng cần.

Lão Tử nói: Ông có thể tìm thấy nó khi ngồi ngay trong

nhà riêng của mình, không cần phải đi đâu cả – vì nó đã có

đấy rồi! Khi bạn cứ đi tìm, khi bạn đi kiếm, bạn đi xa hơn

khỏi nó. Từng tìm kiếm đưa bạn đi xa khỏi chân lí đã có đấy

rồi.

Và có những khoảnh khắc khi bạn cảm thấy nó, rằng nó

bao giờ cũng đã có đấy rồi – những khoảnh khắc của vui vẻ,

tình yêu, cái đẹp. Những khoảnh khắc khi bỗng nhiên thế

giới dừng lại: mặt trời lặn đẹp… và bạn bị nó nắm bắt. Nhớ

43

lấy tôi đang nói bạn bị nó nắm bắt, bị nó sở hữu, không phải

là bạn sở hữu nó. Làm sao bạn có thể sở hữu mặt trời lặn

được? Mặt trời lặn sở hữu bạn, rót đầy bạn; mọi xó xỉnh của

bản thể bạn đều tràn ngập với cái đẹp của nó.

Và thế thì người ta biết, sâu bên dưới trong chiều sâu

của bản thể người ta, nó bao giờ cũng ở đó rồi. Thậm chí

chẳng cần đến lời nào cả; người ta đơn giản biết mà không

cần lời – người ta cảm thấy.

Hay, khi bạn đang trong yêu… hay khi bạn nghe bài thơ

hay… hay điệu hót của chim… hay chỉ tiếng gió thổi qua

rặng thông… hay tiếng nước… Bất kì khi nào bạn cho phép

bản thân mình bị sở hữu, bạn sẽ thấy, bỗng nhiên, chẳng từ

đâu cả, chân lí đã xuất hiện ra, Thượng đế đã xuất hiện, pháp

đã xuất hiện. Bạn đã chạm tới cái gì đó không sờ nắm được,

bạn đã thấy cái gì đó vô hình. Bạn đã trong tiếp xúc với cái

gì đó vĩnh hằng… aes dhammo sanantano – luật vĩnh hằng,

luật không cạn.

Bất kì khi nào bạn đang trong trạng thái hài hoà, mọi thứ

rì rào, vận hành trong hài hoà, bất kì khi nào bạn đang trong

hoà hợp… và những khoảnh khắc này xảy ra cho mọi người.

Những khoảnh khắc này chẳng liên quan gì tới nhà thờ và

chùa chiền và đền thờ gì cả. Thực ra, rất hiếm khi tìm thấy

một người trở nên chứng ngộ trong nhà thờ hay trong chùa

chiền, trong đền đài.

Phật đã trở nên chứng ngộ dưới một gốc cây, khi quan

sát ngôi sao mai cuối cùng đang biến mất trên bầu trời;

không phải trong đền đài, không phải trong nhà thờ – dưới

gốc cây, đang quan sát ngôi sao. Phải đã trở nên bị sở hữu.

Và ngôi sao đang biến đi, chậm chạp biến đi… cứ dần dần

mất đi. Một khoảnh khắc trước nó còn có đó, và bây giờ nó

không còn đấy nữa. Và trong khoảnh khắc đó, bỗng nhiên

44

cái gì đó trong ông ấy, pháo đài cuối cùng của bản ngã, cũng

biến mất luôn. Giống hệt như ngôi sao mai đang tan biến,

bản ngã ông ấy cũng tan biến.

Bầu trời trống rỗng, và ông ấy trống rỗng. Và bất kì khi

nào hai vật mà trống rỗng, chúng trở thành một – bởi vì hai

vật trống rỗng không thể bị phân ranh giới được. Bạn sẽ

phân ranh giới cái trống rỗng bằng cái gì? Hai cái không

không thể nào được giữ tách biệt; hai cái không trở thành

một cái không. Ngôi sao biến đi ở kia, và bầu trời trống

rỗng, và bản ngã biến mất ở bên trong và bầu trời cũng trống

rỗng bên trong… và bỗng nhiên bên trong và bên ngoài biến

mất. Nó chỉ là một bầu trời.

Khoảnh khắc đó Phật trở nên chứng ngộ. Khoảnh khắc

đó ông ấy trở nên biết tới pháp, thần ngôn, Đạo, Thượng đế,

nguyên lí vũ trụ của cuộc sống.

Mahavira đã trở nên chứng ngộ, không trong đền đài –

thậm chí không trong ngôi đền Jaina! Đã có đền thờ Jaina

trong thời của Mahavira. Mahavira là tirthankara thứ hai

mươi tư của Jaina – thầy vĩ đại thứ hai mươi tư. Hai mươi ba

thầy đã đi trước ông ấy. Đã có đền đài Jaina, nhưng ông ấy

đã không trở nên chứng ngộ trong đền đài Jaina – người

Jaina phải chú ý đến sự kiện này. Ông ấy đã trở nên chứng

ngộ trong rừng. Chỉ ngồi đó, không làm gì cả, và bỗng nhiên

nó tới. Nó tới như trận lụt.

Mohammed đã trở nên chứng ngộ trên núi. Và đấy cũng

là trường hợp của mọi người: Lão Tử, Zarathustra, Kabir,

Nanak… không một người nào đã trở nên chứng ngộ trong

đền đài, nhà thờ, chùa chiền. Tại sao bạn đi tới đó?

45

Đi sớm buổi sáng để xem mặt trời lên. Ngồi giữa đêm

quan sát bầu trời đầy sao. Đi, làm bạn với cây cối và đất đá.

Đi, nằm dài bên cạnh sông và lắng nghe âm thanh của nó.

Và bạn sẽ tới ngày càng gần hơn với ngôi đền thực của

Thượng đế. Tự nhiên là ngôi đền thực của ngài. Và tại đó, bị

sở hữu đi – đừng cố sở hữu. Nỗ lực sở hữu là phàm tục; ham

muốn bị sở hữu là thiêng liêng.

Prashantam, lần sau nó xảy ra, đừng cố gắng làm gì về

nó. Không cần hiểu, không cần quan sát, không cần xem xét,

không cần phân tích – cứ để nó đấy! Bị sở hữu bởi nó đi!

Nhảy múa nó! Hát nó. Và là một toàn bộ với nó. Đó là cách

duy nhất để biết nó.

Bạn hỏi tôi, “Đấy là về cảm giác rằng nó bao giờ cũng

có đó” – cảm giác này là tuyệt đối thật – “và ngay khi tôi cảm

thấy nó, dường như nó xa xôi thế.” Bởi vì với cảm giác này,

cái ‘tôi’ bước vào – và cái ‘tôi’ là khoảng cách giữa bạn và

chân lí. Cái ‘tôi’ càng lớn, khoảng cách càng lớn, cái ‘tôi’

càng nhỏ thì khoảng cách càng nhỏ. Không cái ‘tôi’, không

khoảng cách.

Và bạn hỏi tôi, “…nhưng cái ‘nó’ này là cái gì vậy?”

Tôi không thể nói về nó. Nó là bây giờ. Bị nó sở hữu đi!

Nó là ở đây! Bị nó sở hữu đi! Nó không phải là trong lời tôi

mà là ở trong các lỗ hổng. Nó không phải là trong phát biểu

của tôi mà là trong các khoảng hở. Đọc nó giữa các dòng.

Nhưng nhớ một điều rất, rất có ý nghĩa: rằng bạn phải bị

nó sở hữu để hiểu nó. Và chúng ta rất sợ bị sở hữu – dường

như là chúng ta mất điều khiển, dường như là chúng ta đang

tan biến. “Ai biết được nó sẽ đưa chúng ta đáp xuống đâu?

Ai biết được liệu tôi sẽ có thể quay lại từ nó hay không?”

46

Tất cả những sợ hãi này nảy sinh và bạn co lại. Và đó là

khoảnh khắc bạn tạo ra khoảng cách. Khoảng cách là sáng

tạo của bạn. Bằng không, nó bao giờ cũng ở đây, nó bao giờ

cũng bây giờ. Đừng tạo ra khoảng cách, đừng đem sợ vào.

Trong mọi ngôn ngữ trên thế giới, có những từ cho

người tôn giáo như ‘sợ Thượng đế’ – những từ xấu xí, tuyệt

đối dối trá, bởi vì người tôn giáo không phải là người sợ

Thượng đế chút nào. Người tôn giáo là người yêu Thượng

đế, không phải là người sợ Thượng đế. Nhưng các tu sĩ lại

phụ thuộc vào nỗi sợ, ông ta khai thác nỗi sợ của bạn, và ông

ta tạo ra nỗi sợ trong bạn. Toàn thể kinh doanh của ông ta

phụ thuộc vào liệu bạn có sợ hay không.

Vứt bỏ sợ của bạn đi. Không cần phải sợ Thượng đế.

Thượng đế đơn giản nghĩa là tính toàn bộ, cái toàn thể, cái

đang đấy. Chúng ta là một phần của nó! Làm sao bộ phận sợ

cái toàn thể? Cái toàn thể chăm nom cho cái bộ phận, cái

toàn thể yêu mến cái bộ phận, bởi vì cái toàn thể sẽ không là

cái toàn thể nếu thiếu cái bộ phận. Nó không thể dửng dưng

với cái bộ phận được.

Biết điều này, người ta tin cậy. Biết điều này, người ta

cho phép cái toàn thể sở hữu. Biết điều này, người ta vứt bỏ

mọi sợ hãi, người ta buông xuôi. Và chỉ trong buông xuôi nó

hiện hữu, chỉ trong tin cậy nó hiện hữu.

Tôi có thể chỉ hướng tới nó, nhưng tôi không thể giải

thích nó cho bạn được. Và nó đã xảy ra cho bạn rồi,

Prashantam. Bạn được ân huệ đấy. Chỉ cần chấm dứt cách

bạn tạo ra khoảng cách giữa bạn và nó thôi. Và điều đó có

thể được làm một cách dễ dàng: nhận chút rủi ro, bước vào

cái không biết… Sợ sẽ có đó – mặc nó, đi vào trong cái

không biết. Để sợ ở đó – vẫn đi vào trong cái không biết. Chỉ

47

bằng cách đi vào trong cái không biết, nỗi sợ sẽ biến mất,

bởi vì bạn sẽ đi tới biết không có gì để sợ cả.

Và một khi bạn được cái không biết làm cho say mê thế

thì không có chỗ kết thúc cho cuộc hành hương này – nó là

cuộc hành trình vĩnh hằng, không bao giờ chấm dứt, bao giờ

cũng tiếp diễn; nó là không cạn. Aes dhammo sanantano – nó

là vĩnh hằng và không cạn…

Còn nữa

Dhammapada

CON ĐƯỜNG CỦA PHẬT

ĐÂY LÀ CON ĐƯỜNG

ĐI TỚI CHÂN LÍ TỐI THƯỢNG

Tập 1 ( tiếp theo )

Câu hỏi:

Thưa thầy kính yêu,

Sở thích riêng của thầy là gì?

Anando, tôi không có sở thích riêng nào. Tôi không cần

sở thích riêng nào. Sở thích riêng là cần thiết để giữ cho bạn

bận bịu. Khi bạn mệt mỏi về những bận bịu thường của bạn –

và một cách tự nhiên người ta mệt mỏi về việc kiếm bánh mì

và bơ – khi bạn mệt mỏi về mối bận bịu thường ngày của bạn

chỉ có hai phương án. Hoặc là được nhàn rỗi… điều tạo ra

nỗi sợ lớn trong bạn, bởi vì nhàn rỗi có nghĩa là ở với bản

thân mình, hoàn toàn một mình với bản thân mình. Nó là đối

diện với chiều sâu vực thẳm của riêng người ta – điều đó gây

kinh hoàng, điều đó gây hoảng sợ. Nó có nghĩa là đối diện

với cuộc sống của người ta và cái chết của người ta, nó có

nghĩa là đối diện với nội tâm riêng của người ta – cái vô hạn,

bao la đến mức bạn không thể nào hiểu được nó. Và chính

48

cái bao la này gây kinh hoàng. Run rẩy lớn nảy sinh trong

bạn.

Một phương án là: thiền khi bạn nhàn rỗi với công việc

thường của bạn. Phương án khác là: lại kiếm bận bịu trong

hoạt động ngu xuẩn nào đó, và gọi nó là sở thích riêng.

Vài người sưu tầm tem bưu điện – bây giờ, xem cái ngu

xuẩn của nó – và họ gọi đó là sở thích riêng. Mọi sở thích

riêng đều giống điều đó. Đây là cách thức và phương tiện để

giữ cho bạn thoát khỏi bản thân mình.

Tôi hoàn toàn phúc lạc với bản thân mình. Ở một mình,

hiện hữu, không làm gì, là một kinh nghiệm sâu lắng đến

mức là nếu một khi bạn đã nếm trải nó, bạn sẽ vứt bỏ tất cả

những hoạt động ngu xuẩn này mà vẫn được gọi là sở thích

riêng. Sở thích riêng là bận bịu giả. Khi bận bịu thực không

có đó, bạn lâm vào bận bịu giả. Bây giờ, thấy cái xuẩn ngốc

của nó đi. Sáu ngày trong tuần bạn chờ đợi tới chủ nhật – để

cho bạn có thể thảnh thơi, để cho bạn có thể nghỉ ngơi, để

cho bạn có thể ở với bản thân mình. Bạn mệt mỏi về thế

giới; thế giới thành quá nhiều với bạn. Bạn mệt mỏi về mọi

người, bạn mệt mỏi với mọi thứ. Và bạn hi vọng chủ nhật sẽ

sớm tới, và khi chủ nhật tới bạn lại bận bịu nữa – bây giờ đấy

là sở thích riêng của bạn. Bạn không thể nào còn nhàn rỗi

được; đó là vấn đề của bạn.

Và điều thường xảy ra là người ta mệt mỏi sau chủ nhật

còn hơn sau các ngày khác, bởi vì biết bao nhiêu là sở thích

riêng, nào là đi cắm trại, lái xe, và cả nghìn lẻ một thứ mà

bạn chờ đợi suốt trong sáu ngày. Và bạn nghĩ rằng bạn định

nghỉ ngơi sao?

Bạn không thể nghỉ được! Bạn không biết cách nghỉ.

Bạn không thể thảnh thơi được – bạn không biết cách thảnh

thơi. Ngay cả nhân danh thảnh thơi bạn sẽ đi vào việc nào

49

đó, loại công việc nào đó; ngay cả nhân danh nghỉ ngơi bạn

sẽ bắt đầu một loại việc nào đó. Đơn giản bởi vì bạn không

được trả tiền cho việc đó, nó có thành nghỉ ngơi không? Bạn

sẽ chơi bài hay chơi cờ. Bạn không được trả tiền cho việc

đó, điều đó đúng, nhưng điều đó cũng chẳng tạo ra khác biệt

gì mấy; nó chỉ là công việc không được trả tiền mà thôi.

Thay vì tìm kiếm sở thích riêng, dùng cơ hội ấy đi. Bất

kì khi nào bạn có khả năng có thời gian trống, hoàn toàn

nhàn rỗi, với bản thân mình, vẫn còn… vẫn còn trong nó,

đừng đi ra khỏi nó. Đừng bắt đầu sưu tầm tem.

Hai người Do Thái đang ngồi trên ghế dài công viên.

“Này, bác có làm gì khi về hưu không?” một người hỏi.

“Tôi có sở thích riêng: tôi nuôi chim bồ câu,” người kia

đáp.

“Chim bồ câu à? Thế bác để chúng ở đâu? Bác sống

trong khu nhà tập thể cơ mà!”

“Tôi để chúng trong nhà vệ sinh.”

“Trong nhà vệ sinh à? Chúng không ỉa vãi ra giầy và

quần áo bác sao?”

“Không,” người này nói, “Tôi để chúng trong hộp.”

“Trong hộp à? Chúng thở sao được?”

“Thở à? Chúng đâu có thở,” người này nói, “Chúng chết

mà.”

“Chết à?” ông bạn kêu lên, bị choáng. “Bác nuôi chim

bồ câu chết sao?”

“Thứ chết tiệt, đấy chỉ là sở thích riêng thôi!”

50

Câu hỏi :

Thưa Thầy kính yêu,

Sáng nay khi Thầy nói với chúng tôi “Các bồ tát yêu

mến của tôi ơi,” có cảm giác là vào khoảnh khắc đó

dường như điều đó thực tế đúng. Nhưng về sau, ngay cả

khả năng mà chúng tôi một ngày nào đó sẽ trở thành bồ

tát dường như giống giấc mơ…

Sheela, điều đó là chân lí – đó là lí do tại sao khi được

thốt ra với sự tin cậy, với tình yêu, nó lập tức dội điều gì đó

sâu vào trái tim bạn, nó rung chuông. Nhưng đấy là bởi sự

tin cậy của tôi mà nó rung chuông. Tôi nói lại: các bạn là bồ

tát – chư phật trong bản chất, trong hạt mầm, trong tiềm

năng.

Khi tôi nói điều đó, tôi ngụ ý điều đó. Khi tôi nói điều

đó, tôi nói điều đó bởi vì nó là như vậy. Và trong khoảnh

khắc đó bạn hoà điệu với tôi đến mức điều đó dường như

tuyệt đối đúng; chẳng cần bằng chứng gì, chẳng cần biện

minh gì.

Tôi không cần tranh cãi về những chân lí tôi thốt ra.

Thực ra, không chân lí nào đã bao giờ cần bất kì biện luận

nào; nó là đơn giản, nhưng nó lập tức rung chuông. Điều duy

nhất được cần là ở chỗ nó phải tới từ trái tim, thế thì nó đạt

tới trái tim bạn.

Tôi không nói từ đầu tôi. Tôi rót bản thể tôi vào bản thể

bạn. Đấy là gặp gỡ của các năng lượng. Đấy là gặp gỡ của

các linh hồn. Do đó, khi bạn ở cùng tôi, điều đó dường như

tuyệt đối đúng – bạn không thể hoài nghi nó được, đấy là

điều không thể được. Nhưng khi bạn một mình và tôi không

có đó, nghi ngờ nảy sinh. Tâm trí cũ của bạn trở lại, với báo

51

thù, và nói, “Sheela, mình mà là bồ tát sao? Và tình yêu của

mình với Veetrag thì sao? – và mình, một bồ tát sao? Và

ghen tị của mình thì sao, và giận dữ của mình thì sao, tất cả

những cái mình đang là thì sao? Mình mà là bồ tát sao? Ông

ta phải đã đùa rồi; ông ta chơi xỏ mình!” Nghi ngờ lớn nảy

sinh bởi vì chúng bao giờ cũng có đó trong tâm trí bạn.

Có thể là bạn đến với tôi, chúng ta đi cùng nhau, chúng

ta bước bên nhau trong một thời gian. Tôi có đèn trong tay,

nhưng bởi vì ánh sáng của tôi, con đường của bạn cũng được

chiếu sáng. Thế rồi một khoảnh khắc tới khi chúng ta tách ra

– chúng ta phải tách ra; ngã ba đường đã tới, con đường của

chúng ta tách ra. Tôi đi theo một hướng, bạn đi theo hướng

khác. Bỗng nhiên bạn bị trong bóng tối và bạn phân vân ghê

lắm “Cái gì xảy ra cho chiếc đèn?”

Chiếc đèn đó không phải là của bạn. Tất nhiên, con

đường của bạn được chiếu sáng, nhưng ánh sáng không phải

là của bạn. Cho nên khi bạn ở cùng tôi, có ánh sáng bao

quanh bạn. Trong ánh sáng đó, mọi thứ là rất rõ ràng. Khi

bạn không ở cùng tôi đột nhiên có bóng tối, và trong bóng

tối đó bạn sẽ nghi ngờ mọi điều mà bạn đã tin cậy, và trong

bóng tối đó bạn sẽ nghi ngờ ngay cả khả năng của ánh sáng.

Bạn sẽ nghi ngờ ngay cả thực tại của ánh sáng mà bạn vừa

mới sống vài khoảnh khắc trước đó. Tâm trí bạn sẽ nói,

“Mình phải đã mơ rồi. Mình chắc đã bị ảo giác. Ánh sáng

nào? Ánh sáng đâu? Nếu nó có đó nó đã đi đâu mất rồi?”

Và điều này cứ xảy ra đi xảy ra lại. Điều này có ý nghĩa

sâu sắc cần phải được hiểu. Khi bạn ở cùng tôi, tại đây, lắng

nghe tôi, ngồi cạnh tôi, tình huống có thể vẫn còn như vậy

khi bạn không hiện hữu về mặt vật lí với tôi. Bạn sẽ phải đi

sâu thêm một chút vào tình yêu của bạn, để cho ngay cả về

mặt vật lí bạn có thể xa xôi, về mặt tâm linh bạn không xa.

52

Thế thì chân lí sẽ tiếp tục. Thế thì nghi ngờ sẽ không dám

tới.

Ngay bây giờ nghi ngờ tới bởi vì bạn có tình yêu nào đó

với tôi nhưng nó vẫn còn chưa toàn bộ. Có những khoảng

trống bên trong bản thể bạn, bạn đã chưa cho phép tôi thâm

nhập tới. Và điều này không phải chỉ như vậy đối với

Sheela, nó là như vậy với nhiều người trong các bạn. Các

bạn đang giữ kín một vài góc, tách biệt, riêng tư, riêng của

bạn. Bạn vẫn còn chưa cởi mở trái tim bạn một cách toàn bộ,

bạn vẫn còn chưa trần trụi hoàn toàn. Và nếu bạn đang che

giấu điều gì đó, thế thì bất kì cái gì bạn che giấu sẽ vẫn còn

là khoảng cách giữa tôi và bạn.

Cho nên khi bạn ở đây, dưới tác động của tôi, khi bạn ở

đây về mặt vật lí với tôi, thì sự hiện diện của tôi có thể gạt

tâm trí bạn sang bên. Nhưng khi bạn không hiện diện về vật

lí với tôi, tâm trí bạn sẽ quay lại – bạn đã không gạt nó sang

bên! Học bài học: khi bạn đi xa khỏi tôi, khi bạn không thể

nào thấy tôi, cố vẫn ở cùng tôi đi. Hấp thu tinh thần của sự

gần gũi này, thân mật này – thế thì ngay cả cái chết cũng

không thể nào tách biệt được chúng ta. Thế thì không có vấn

đề không gian và thời gian. Thế thì bạn ở cùng tôi mãi mãi.

Và tin cậy sẽ bền vững, và tin cậy sẽ tiếp tục; nó sẽ trở thành

sự tố thường hằng trong bạn. Điều duy nhất sẽ là thường

hằng sẽ là tin cậy của bạn. Mọi thứ khác sẽ thay đổi, nhưng

tin cậy thì không.

Bạn sẽ tìm thấy trung tâm của bản thể bạn. Và việc tìm

ra đó là về tới nhà.

Dhammapada

CON ĐƯỜNG CỦA PHẬT

¨

ĐÂY LÀ CON ĐƯỜNG

ĐI TỚI CHÂN LÍ TỐI THƯỢNG

Tập 1 ( tiếp theo )

Thật hay giả
Lầm cái giả thành cái thật
Và cái thật thành cái giả,
Ông bỏ sót trái tim
Và rót đầy bản thân mình bằng ham muốn.
Thấy cái giả là giả,
Cái thật là thật..
Nhìn vào trái tim ông.
Đi theo bản tính của ông.
Tâm trí không phản xạ là chiếc mái nghèo nàn.
Đam mê, như mưa, làm ngập lụt ngôi nhà.
Nhưng nếu mái mạnh mẽ, có chỗ trú ẩn.
Bất kì ai đi theo ý nghĩ không thuần khiết
Đều khổ trong thế giới này và thế giới sau.
Trong cả hai thế giới người ấy khổ,
Và vĩ đại làm sao,
Khi người ấy thấy điều sai mình đã làm.
66
Nhưng bất kì ai tuân theo luật
Đều vui vẻ ở đây và vui vẻ ở kia.
Trong cả hai thế giới người ấy đều hân hoan,
Và thật là lớn lao,
Khi người ấy thấy điều tốt mình đã làm.
Thu hoạch trong thế giới này là lớn,
và vẫn còn lớn hơn trong thế giới tiếp.
Dù ông đọc bao nhiêu lời linh thiêng,
Dù ông nói bao nhiêu lời,
Chúng sẽ làm điều gì tốt cho ông
Nếu ông không hành động theo chúng?
Ông là người chăn cừu
Ai đi đếm cừu của người khác,
Chưa bao giờ chung một đường?
Đọc ít lời như ông muốn
Và nói ít hơn.
Nhưng hành động theo luật.
Từ bỏ con đường cũ –
Đam mê, thù hận, điên rồ.
Biết chân lí và tìm an bình.
Chia sẻ con đường.

67

Chân lí có đấy. Nó không cần nỗ lực về phần bạn để

phát minh ra nó. Chân lí phải được phát hiện ra, không phát

minh ra. Và điều gì cản trở chúng ta không phát hiện ra nó?

Chúng ta đã bị dạy cho nhiều điều dối trá, cả núi dối trá. Đấy

là rào chắn mà cứ làm sai đi chân lí, cái không cho phép trái

tim chúng ta phản xạ cái đang đấy.

Chân lí không phải là kết luận logic. Chân lí là sự tồn

tại, thực tại. Nó đã ở đây rồi – nó bao giờ cũng ở đây. Chỉ

chân lí tồn tại. Thế thì tại sao chúng ta không thể tìm ra nó?

Chúng ta xoay xở thế nào không tìm ra nó? Bởi vì ngay từ

hồi trẻ thơ chúng ta đã được dạy những điều giả dối, định

kiến, ý thức hệ, tôn giáo, triết học… tất cả đều dẫn bạn đi lạc

lối.

Một khi bạn vứt bỏ các ý tưởng của mình về chân lí bạn

sẽ đương đầu với nó, cả bên trong và bên ngoài. Bạn sẽ đối

diện với nó – bởi vì không có gì khác cả!

Nhưng bố mẹ, xã hội, quốc gia, nhà thờ, hệ thống giáo

dục, tất cả chúng đều lệ thuộc vào dối trá. Khi đứa trẻ được

sinh ra họ bắt đầu đánh bẫy nó vào dối trá. Và đứa trẻ bất

68

lực. Nó không thể thoát khỏi bố mẹ, nó hoàn toàn lệ thuộc.

Bạn có thể khai thác sự lệ thuộc của nó… và điều đó đã bị

khai thác từ các thời đại.

Không ai đã từng bị khai thác nhiều như trẻ con – không

vô sản không phụ nữ, không ai đã bị khai thác nhiều thế và

sâu sắc thế và huỷ diệt thế, như đứa trẻ hồn nhiên này. Bởi

vì chúng bất lực và phụ thuộc nên chúng phải học bất kì cái

gì bạn dạy cho chúng. Chúng phải hấp thu tất cả những điều

dối trá mà bạn cứ áp đặt lên chúng. Đấy là vấn đề về sự sống

còn cho chúng – chúng không thể sống còn mà thiếu bạn.

Thay vì làm cho chúng tỉnh táo hơn, nhận biết hơn, sống

động hơn, phản xạ hơn, thay vì làm cho chúng tựa gương soi

nhiều hơn, thuần khiết, bạn làm cho chúng đầy những ý

tưởng… hết tầng bụi bặm nọ đến tầng bụi bặm kia. Và thế thì

chúng sẽ trở nên không thể nào thấy được cái đang đó.

Chúng bắt đầu việc thấy cái không có đó và chúng dừng việc

thấy cái có đó.

Do đó, việc là tôn giáo thực sự nghĩa là tái sinh: lần nữa

lại trở thành giống như đứa trẻ, vứt bỏ tất cả những cái mà

xã hội đã trao cho bạn.

Tôn giáo là nổi dậy – nổi dậy chống lại tất cả những cái

đã được áp đặt lên bạn, nổi dậy chống lại việc bị thu lại

thành chiếc máy tính. Nhìn vào bên trong đi! Bất kì điều gì

bạn biết, bạn đều được bảo cho biết; nó không phải là cái

biết của bạn, nó không phải là chân thực. Làm sao nó có thể

chân thực nếu nó không phải là của bạn? Bạn không phải là

69

nhân chứng cho nó, bạn chỉ là nạn nhân – nạn nhân của tình

huống.

Chỉ là ngẫu nhiên mà được sinh ra ở Ấn Độ hay được

sinh ra ở Anh. Chỉ là ngẫu nhiên mà được sinh ra trong gia

đình người Hindu hay trong gia đình Ki tô giáo. Bởi vì

những điều ngẫu nhiên này mà bản tính tinh tuý của bạn đã

bị mất – bạn đã bị buộc phải làm mất nó. Nếu bạn muốn

giành lại nó bạn sẽ phải được tái sinh.

Jesus ngụ ý bởi ‘tái sinh’ là có chủ ý, có ý thức, bây giờ

bạn có khả năng vứt bỏ mọi cái đã từng được dạy cho bạn.

Vứt bỏ tri thức của bạn và trở thành hồn nhiên. Và đó là

cách duy nhất để trở thành hồn nhiên. Tri thức là cái làm

bẩn. Trong trạng thái không biết là hồn nhiên, và vận hành

từ trạng thái đó là cách duy nhất để biết tới chân lí.

Thiền về những lời kinh cực kì có ý nghĩa này của Phật

Gautama. Ông ấy nói:

Lầm cái giả thành cái thật

Và cái thật thành cái giả,

Ông bỏ sót trái tim

Và rót đầy bản thân mình bằng ham muốn.

70

Tâm trí không là gì ngoài ham muốn. Trái tim không

biết tới ham muốn. Bạn sẽ ngạc nhiên mà nghe thấy điều đó,

rằng tất cả những ham muốn đều thuộc về cái đầu. Trái tim

sống trong hiện tại; nó rộn ràng, nó đập, trong ở đây và bây

giờ. Nó không biết gì về quá khứ và không biết gì về tương

lai. Nó bao giờ cũng ở đây, bây giờ.

Và tôi không nói về triết lí nào đó. Tôi đơn giản phát

biểu một sự kiện đơn giản thế để bạn có thể quan sát nó bên

trong bản thân mình: tim bạn đang đập bây giờ. Nó không

thể đập trong quá khứ, nó không thể đập trong tương lai.

Trái tim chỉ biết hiện tại, do đó nó hoàn toàn thuần khiết. Nó

không bị ô nhiễm bởi kí ức quá khứ, bởi tri thức, bởi kinh

nghiệm, bởi tất cả những cái bạn đã được bảo và được dạy,

bởi kinh sách, bởi truyền thống. Nó không biết gì về tất cả

những cái vô nghĩa đó! Và nó không biết gì về tương lai, về

ngày hôm sau. Với nó, quá khứ không tồn tại nữa, tương lai

chưa tới. Nó hoàn toàn ở đây. Nó là ngay tức khắc.

Nhưng tâm trí là chính cái đối lập của trái tim: tâm trí

chưa bao giờ ở đây, bây giờ. Hoặc là nó nghĩ về những kinh

nghiệm đẹp của quá khứ hoặc là nó ham muốn cùng kinh

nghiệm đẹp đó trong tương lai. Nó cứ qua lại như con thoi

giữa quá khứ và tương lai, nó chưa hề dừng lại ở hiện tại. Nó

hoàn toàn không nhận biết gì về hiện tại. Với tâm trí, hiện tại

không tồn tại. Thấy ra điểm này: hiện tại là điều duy nhất

đang tồn tại, nhưng với tâm trí hiện tại là điều duy nhất

không tồn tại. Quá khứ là không tồn tại, tương lai là không

tồn tại, nhưng đấy là những điều tồn tại cho tâm trí.

Cái đầu là vấn đề… và trái tim là giải pháp. Đứa trẻ vận

hành từ trái tim. Khi bạn bắt đầu lớn lên, bạn bắt đầu chuyển

từ tim lên đầu. Khi bạn tốt nghiệp đại học bạn đã hoàn toàn

quên mất tim. Bạn bị treo trong đầu, toàn thể năng lượng của

bạn đã chuyển lên đầu. Bây giờ bạn không biết gì về thực

71

tại. Bạn đầy tràn những rác – rác học giả, điều vô nghĩa hàn

lâm. Bạn có thể là tiến sĩ, tiến sĩ văn chương. Bạn biết nhiều,

chẳng biết gì cả! – bởi vì việc biết thực xảy ra trong tim,

không trong đầu. Và các đại học tồn tại để phân tán năng

lượng của bạn từ tim lên đầu.

Mọi đại học trên thế giới cho tới nay đã từng là kẻ thù

của nhân loại. Toàn thể vận hành của chúng là để phục vụ

cho quốc gia và nhà thờ. Chúng là tác nhân của nguyên

trạng, chúng là tác nhân của những quyền lợi được đầu tư.

Chúng không phục vụ bạn, chúng phục vụ cho quyền lực,

cho ông chủ, cho kẻ áp bức, cho kẻ bóc lột. Bất kì ai ngẫu

nhiên lọt vào trong giới quyền lực, đại học đều phục vụ cho.

Chúng còn chưa phục vụ cho nhân loại.

Nếu như chúng thực sự phục vụ cho nhân loại, thế thì

đại học sẽ là chỗ để học nổi dậy. Đại học sẽ tạo ra các cuộc

cách mạng. Đại học sẽ không tạo ra người rập khuôn theo

qui tắc, kẻ tuân thủ; đại học sẽ tạo ra những người không

tuân thủ, không rập khuôn. Nó sẽ tạo ra người nổi dậy –

phiêu lưu, sẵn sàng mạo hiểm cuộc sống của mình cho chân

lí. Điều đó vẫn còn chưa xảy ra.

Sự kiện đáng buồn là ở chỗ nhân danh giáo dục điều gì

đó xấu xa vẫn đang được tiếp tục, điều gì đó rất xấu. Đằng

sau cái mặt nạ đó, cái gì đó rất tội ác vẫn đang tiếp tục. Và

đây là tội ác: rằng chúng làm trệch năng lượng của bạn từ

tim lên đầu, chúng phá huỷ năng lực yêu của bạn và chúng

buộc bạn học logic. Với chúng logic còn quan trọng hơn

yêu, suy nghĩ là quan trọng hơn nhạy cảm. Đây chính là việc

đặt con bò sau chiếc xe. Nó hoàn toàn là lộn ngược.

Đó là lí do tại sao nhân loại đang trong đống lộn xộn thế:

cái không thật dường như là thật và cái thật dường như là

không thật. Chúng đã thành công trong việc bóp méo cách

72

nhìn của bạn. Chư phật đang chiến đấu chống lại tất cả

những quyền lợi được đầu tư đó.

Phật nói: Lầm cái giả thành cái thật và cái thật thành

cái giả, ông bỏ sót trái tim và rót đầy mình bằng ham

muốn.

Tâm trí là ham muốn, và bạn cứ rót đầy bản thân mình

bằng ngày càng nhiều ham muốn, ngày càng nhiều tham

vọng, ngày càng nhiều khao khát quyền lực, danh vọng, của

cải. Và bạn hoàn toàn quên mất rằng có trái tim đang đập

bên trong bạn cái đã sống trong Thượng đế, cái đã là một

phần của luật tối thượng – aes dhammo sanantano – mà đã là

một phần của luật không cạn, vĩnh hằng. Bạn đang được nối

từ trái tim tới Thượng đế. Trái tim bạn là rễ trong mảnh đất

Thượng đế.

Trái tim bạn vẫn còn được nuôi dưỡng bởi Thượng đế,

chân lí, nhưng bạn không ở đó. Bạn đã bỏ trống chỗ này.

Bạn sống trong đầu bạn. Ngày tới ngày đi, bạn sống trong

đầu bạn; bạn chưa bao giờ đi xuống từ đó. Ngay cả trong

đêm khi ngủ bạn vẫn cứ làm ầm ĩ trong đầu… mơ, rồi mơ

trùm lên mơ. Ban ngày ý nghĩ, ban đêm mơ. Chúng không

khác biệt.

Mơ chỉ là việc dịch của suy nghĩ sang ngôn ngữ của ngủ,

và ngược lại: suy nghĩ không là gì ngoài việc dịch mơ sang

ngôn ngữ của ngày. Bạn cứ di chuyển giữa hai điều này: mơ

và nghĩ. Cả hai đều là ham muốn. Bạn nghĩ gì? Cái gì có đó

để suy nghĩ ngoại trừ ham muốn? Và bạn mơ gì ngoại trừ

ham muốn?

Phật nói cái giả dường như là thật bởi vì bạn đã trở thành

giả đối với cái thật riêng của mình, với trái tim riêng của

mình. Quay lại trái tim đi, và thế thì bạn sẽ có khả năng biết

73

tới cái thật là thật và cái giả là giả. Đó là chứng ngộ, đó là

đang về nhà.

Thấy cái giả là giả

Nhưng bắt đầu từ đâu? Bắt đầu từ việc thấy cái giả là

giả. Đó là lí do tại sao mọi chư phật đều dường như phủ

định, mọi chư phật dường như có tính phá huỷ

Phật nói: Không có cái thật trong Veda, trong

Upanishad. Thận trọng với những lời đẹp đẽ này, thận trọng

với những suy đoán triết lí này. Đừng phí thời gian chẻ đôi

sợi tóc, bằng logic. Im lặng đi! Vứt Veda ra khỏi đầu bạn,

chỉ thế thì bạn mới có thể im lặng được. Ông ấy có vẻ như

74

phủ định, ông ấy có vẻ như hư vô, ông ấy có vẻ nguy hiểm –

nhưng đó là cách duy nhất bạn có thể được giúp.

Bạn phải được bảo cho cái giả là giả. Bạn phải bắt đầu

với điều này: neti, neti – không cái này không cái kia. Thầy

phải nói với bạn, “Cái này là giả, cái kia là giả.” Thầy phải

cứ chỉ ra cho bạn bất kì cái gì là giả trước hết, bởi vì khi bạn

đã biết tất cả những cái giả, đột nhiên biến đổi xảy ra trong

tâm thức của bạn. Khi bạn đã trở nên nhận biết về cái giả,

bạn bắt đầu nhận biết về cái thật.

Bạn không thể được dạy cái gì là chân lí, nhưng bạn

chắc chắn có thể được dạy cái gì là không là chân lí. Bạn đã

bị ước định, bạn có thể được giải ước định đó. Bạn đã bị thôi

miên – Chức năng của thầy là giải thôi miên cho bạn.

Một khi bạn được giải thôi miên, đột nhiên bạn sẽ có khả

năng thấy chân lí. Chân lí không cần được dạy.

Thấy cái giả là giả, cái thật là thật.

Nhìn vào trái tim ông

Đi theo bản tính của ông.

Một trong những phát biểu có ý nghĩa nhất từ trước tới

giờ: Nhìn vào trái tim ông. Đi theo bản tính của ông. Ông ấy

không nói theo kinh sách. Ông ấy không nói theo ta. Ông ấy

không nói theo qui tắc đạo đức nào đó. Ông ấy không dạy

bạn bất kì đạo đức nào. Ông ấy không cố tạo ra tính cách

nào đó quanh bạn, bởi vì mọi tính cách đều là các phòng

giam đẹp. Ông ấy không cho bạn cách sống nào đó. Thay vì

thế ông ấy cho bạn lòng dũng cảm, sự động viên, để đi theo

bản tính riêng của bạn. Ông ấy muốn bạn đủ bạo dạn để lắng

nghe trái tim riêng của bạn và đi theo nó tương ứng.

75

“Đi theo bản tính của ông” nghĩa là tuôn chảy với bản

thân bạn. Bạn là kinh sách… và ẩn sâu bên trong bạn là tiếng

nói nhỏ bé, tĩnh lặng. Nếu bạn trở nên im lặng thì bạn sẽ

được hướng dẫn từ đó.

Thầy chỉ phải làm cho bạn nhận biết về người thầy bên

trong của bạn. Thế thì chức năng của thầy được hoàn tất.

Thế thì thầy có thể bỏ bạn lại với bản thân bạn; thầy có thể

ném bạn về với bản thân bạn. Thầy không làm cho đệ tử

thành nô lệ; thầy là để giải phóng người đó, cho người đó tự

do toàn bộ. Và đây là khả năng duy nhất để đạt tới tự do toàn

bộ: Đi theo bản tính của ông. Với “bản tính” Phật ngụ ý

pháp. Cũng hệt như bản tính của nước là chảy xuống và bản

tính của lửa là bốc lên, cho nên có bản tính nào đó ẩn bên

trong bạn. Nếu mọi ước định đã từng được xã hội đặt quanh

bạn, được vứt bỏ đi, đột nhiên bạn sẽ khám phá ra bản tính

của bạn. Bản tính của bạn đã trở thành Thượng đế. Aes

dhammo sanantano – đây là luật vĩnh hằng, không cạn: bản

tính của bạn là trở thành Thượng đế.

Con người là thượng đế tiềm năng – bồ tát. Con người

được ngụ ý để trở thành thượng đế. Kém hơn điều đó sẽ

không thoả mãn cho bạn, kém hơn điều đó là không ích gì.

Bạn có thể có tất cả tiền bạc trong thế giới này, tất cả quyền

lực, tất cả danh vọng có thể có, và dầu vậy bạn vẫn còn trống

rỗng – chừng nào bản tính thiêng liêng của bạn còn chưa nở

hoa, chưa mở nụ của nó ra, chừng nào bạn còn chưa trở

thành hoa sen, hoa sen một nghìn cánh, chừng nào điều

thiêng liêng của bạn còn chưa hiển lộ ra cho bạn, bạn không

bao giờ có thể được mãn nguyện.

Người tôn giáo bình thường được bảo vẫn còn thoả mãn,

mãn nguyện, với bất kì cái gì là hoàn cảnh. Cái gọi là các

thánh nhân tôn giáo cứ thuyết giảng cho mọi người: Được

76

thoả mãn đi. Thoả mãn là một trong những giáo lí nền tảng

của họ. Điều đó không phải là cách thức của các thầy thực.

Thầy thực tạo ra bất mãn trong bạn – và bất mãn đến

mức không điều gì của thế giới này có thể thoả mãn được

nó. Thầy tạo ra khát khao trong bạn đến mức chừng nào bạn

chưa đạt tới điều tối thượng bạn vẫn còn bốc cháy, bốc lửa.

Thầy tạo ra đau trong trái tim bạn, thầy tạo ra khổ não… bởi

vì cuộc sống đang tuột đi mọi khoảnh khắc, và từng khoảnh

khắc trôi qua là trôi qua mãi mãi, và bạn chưa đạt tới

Thượng đế, và một ngày lại qua đi.

Thầy tạo ra khao khát sâu lắng thế trong bạn, nỗi đau

đến thế trong tim! Thầy tạo ra nước mắt trong mắt bạn, bởi

vì chỉ qua sự bất mãn thiêng liêng như thế bạn sẽ chuyển

động, bạn sẽ lấy bước nhảy lượng tử, bước nhảy tối thượng

vào cái không biết. Chính chỉ qua sự bất mãn thiêng liêng

đến mức bạn sẽ thu lấy mọi năng lượng của bạn, và bạn sẽ

mạo hiểm, và bạn sẽ đi vào cuộc phiêu lưu tối thượng để tìm

ra bạn là ai.

Đi theo bản tính riêng của bạn. Bản tính của bạn là tâm

thức. Nhưng bạn đã được các tu sĩ bảo cho: hãy theo những

qui tắc đạo đức nào đó, mười điều răn dạy, tuân theo nguyên

lí nào đó – không phải là bản tính của bạn. Các tu sĩ rất sợ

bản tính của bạn, bởi vì nếu bạn đi theo bản tính của bạn,

bạn sẽ thoát ra khỏi sự nắm bắt của họ, bạn sẽ không còn là

kẻ nô lệ nữa. Bạn sẽ không đến nhà thờ, đền đài, chùa chiền

nữa, và bạn sẽ không nghe những tu sĩ ngốc nghếch, các

chính khách, cái gọi là những lãnh tụ. Tôi gọi họ là “cái gọi

là lãnh tụ” bởi vì điều thực tế đang xảy ra là ở chỗ người mù

đang dẫn dắt người mù khác.

Bạn sẽ không lắng nghe họ thêm nữa nếu bạn lắng nghe

bản tính riêng của mình. Nếu bạn biết tiếng nói bên trong

77

riêng của mình, bạn sẽ trở nên tự do. Tiếng nói bên trong của

bạn phải bị nghiền nát, phải bị phá huỷ, hoàn toàn bị phá huỷ

– ít nhất bị bóp méo đến mức cho dù bạn nghe thấy nó, bạn

không thể hiểu được nó. Và họ đã thành công. Chừng nào

bạn chưa đấu tranh gian nan chống lại họ, không có khả

năng nào cho thành công. Khai thác của họ cũ thế, áp bức

của họ cổ thế, chiến lược của họ tinh ranh thế… và họ có vô

hạn quyền lực trong tay. Và bạn là gì mà chống lại họ như

một cá nhân?

Nhưng nếu bạn đi vào, nếu bạn lắng nghe trái tim bạn,

bạn sẽ đạt tới sức mạnh mà không quyền lực nào trên trái đất

này có thể làm bạn nô lệ lần nữa.

Đi theo bản tính của ông… Nhưng làm sao đi theo bản

tính của bạn nếu bạn không biết nó là gì? Và bạn không

được phép biết nó! Bạn được trao cho những lệnh chính xác

phải làm gì: ăn gì, khi nào dậy vào buổi sáng, khi nào đi ngủ.

Bạn đã được trao cho những lệnh chính xác. Những lệnh

này, nếu được tuân theo, làm bạn thành nô lệ. Nếu không

được tuân theo, họ làm cho bạn thành tội nhân. Nếu được

tuân theo, bạn trở thành thánh nhân – nhưng là nô lệ. Mọi

người sẽ tôn thờ bạn, kính trọng bạn, nhưng tất cả những

kính trọng đó đều là ngầm hiểu lẫn nhau: “Nếu anh tuân theo

lệnh của chúng tôi, chúng tôi sẽ kính trọng anh. Nếu anh

không tuân theo, anh sẽ bị tống vào nhà giam.”

Hoặc là bạn bị làm thành kẻ nô lệ về tâm linh hoặc là bị

làm thành tù nhân về thể chất: đây là hai phương án xã hội

trao cho bạn. Và nó không bao giờ để bạn trở nên nhận biết

rằng có nguồn vô hạn những hướng dẫn bên trong bạn.

Trở nên sẵn có cho bản tính bên trong của bạn là điều tôi

gọi là thiền.

Tâm thức là bản tính của bạn. Vâng, con người của tâm thức có tính cách nào đó, nhưng tính cách đó đi theo tâm thức người đó. Nó không bị bất kì ai khác áp đặt vào người đó; nó là quyết định riêng của người đó. Và người đó không bị giam hãm trong nó; người đó tự do toàn bộ để thay đổi nó vào bất kì khoảnh khắc nào. Khi hoàn cảnh thay đổi, thì tâm thức người đó trao cho người đó những chỉ đạo khác và người đó thay đổi tính cách của mình.

Người có tính cách – cái gọi là người có tính cách – là bị

giam cầm. Cho dù hoàn cảnh thay đổi người đó vẫn cứ lặp

lại cùng tính cách đó, mặc dầu nó không còn liên quan nữa,

nó không khớp nữa. Hoàn cảnh mà trong đó nó có nghĩa đã

biến mất, nhưng người đó vẫn cứ lặp lại cùng những điều vô

nghĩa. Người đó giống như con vẹt. Người đó là cái máy:

người đó không đáp ứng, người đó chỉ phản ứng.

Người có tâm thức đáp ứng, và đáp ứng của người đó là

tự phát. Người đó tựa tấm gương: người đó phản xạ bất kì

cái gì tới trước mình. Và từ tính tự phát này, từ tâm thức

này, một loại hành động mới được sinh ra. Hành động đó

chưa bao giờ tạo ra bất kì tù túng nào, bất kì nghiệp nào.

Hành động đó giải phóng bạn. Bạn vẫn còn là tự do nếu bạn

lắng nghe bản tính của bạn.

79

Nhưng lời khuyên đơn giản này dường như là rất khó

đối với mọi người. Nó phải là điều đơn giản nhất trên thế

giới này. Từng đứa trẻ được sinh ra đều tuân theo bản tính

của nó, nhưng khi bạn lớn lên, dần dần bạn mất tiếp xúc với

nó – bạn bị buộc phải mất tiếp xúc với nó. Tiếp xúc này có

thể được giành lại, nó có thể được khám phá lại. Về sau, khi

bạn trở nên rất thông thái, bị giam cầm trong tính cách nào

đó, hoàn toàn mù quáng với trái tim và bản tính riêng của

bạn, bạn bắt đầu hỏi câu hỏi như vậy.

Mới hôm nọ Prem Vijen đã hỏi:

“Thưa Thầy kính yêu, thầy ngụ ý gì khi thầy nói ‘Đi

vào’?”

Một phát biểu đơn giản thế – “Đi vào” – và bạn hỏi tôi,

“Thầy ngụ ý gì?” Bạn không thể hiểu những từ đơn giản này

sao, ‘đi vào’? Tôi biết bạn hiểu các từ này, nhưng đi vào đã

trở thành khó thế bởi vì bạn đã được dạy chỉ mỗi cách đi ra.

Bạn chỉ có thể đi ra, bạn chỉ biết cách đi ra. Tâm thức của

bạn đã quay hướng sang người khác; nó đã quên mất con

đường vào bản thân nó. Bạn cứ gõ lên cửa của người khác,

và bất kì khi nào bạn được bảo, “Về nhà đi,” bạn nói, “Thầy

ngụ ý gì bởi ‘về nhà’?” Bạn chỉ biết nhà của người khác,

nhưng bạn không biết nhà riêng của mình. Và bạn đang

mang nó bên trong bản thân mình. Bạn đã bị buộc phải trở

thành hướng ngoại. Người ta phải học lại cách hướng nội.

Soren Kierkegaard đã nói: Tôn giáo có nghĩa là hướng

nội – đi vào bên trong nội tâm riêng của bạn. Nhưng từ đơn

giản, ‘đi vào’, đã trở nên khó hiểu thế. Tâm trí chỉ biết cách

đi ra; nó không có bánh răng ngược trong nó.

80

Tôi đã nghe nói rằng khi Ford làm những chiếc xe ô tô

đầu tiên của ông ấy chúng không có bánh răng quay ngược.

Bánh răng đó mãi về sau mới được thêm vào. Không có

bánh răng quay ngược nó là vấn đề thực sự: bất kì khi nào

bạn muốn quay lại bạn phải đi nhiều dặm đường không cần

thiết, bạn phải đi vòng. Cho dù bạn muốn đi lùi vài mét, bạn

có thể phải làm cuộc hành trình nhiều cây số. Thế rồi Ford

trở nên nhận biết rằng bánh răng ngược được cần tới.

Tôi đang dạy bạn ở đây rằng bánh xe ngược có đó, có

sẵn rồi, bạn chỉ quên mất nó thôi. Bạn biết cách đi ra. Không

ai hỏi, “Điều đó có nghĩa gì khi thầy nói ‘Đi ra’?” Nhưng

mọi người đều muốn hỏi, “Thầy ngụ ý gì khi thầy nói, ‘Đi

vào’?” Từ đơn giản!

Suy nghĩ là đi ra: không suy nghĩ là đi vào. Nghĩ, và bạn

bắt đầu đi xa khỏi bản thân mình. Ý nghĩ là cách đưa bạn đi

  1. Ý nghĩ là dự án. Không ý nghĩ… và bỗng nhiên bạn ở

trong. Không ý nghĩ, bạn không thể đi ra được, không ham

muốn, bạn không thể đi ra được. Bạn cần nhiên liệu của ham

muốn và chiếc xe ý nghĩ để đi ra.

Ngồi im lặng, không làm gì… thậm chí không nghĩ, thậm

chí không ham muốn… và bạn sẽ ở đâu?

Đi vào không thực sự là đi vào. Nó đơn giản là dừng đi

ra… và bỗng nhiên bạn thấy bản thân mình ở trong.

Prem Vijen, bạn cần không đi vào bởi vì nếu bạn đi, bao

giờ cũng là đi ra. Đi nghĩa là đi ra. Dừng việc đi! Dừng việc

đi bất kì đâu! Bạn không thể ngồi im lặng mà không đi đâu

cả sao? Vâng, về mặt vật lí bạn có thể ngồi, điều đó không

khó gì mấy. Bạn có thể học tư thế yoga và bạn có thể làm

cho thân thể mình gần như là bức tượng, nhưng vấn đề là –

bạn đang làm gì bên trong? Ham muốn, ý nghĩ, kí ức, tưởng

tượng, đủ mọi loại dự án? – dừng chúng lại nữa.

81

Làm sao dừng chúng lại? Chỉ trở nên dửng dưng với

chúng, không bận tâm. Cho dù chúng có đó, đừng chú ý tới

chúng. Cho dù chúng có đó, đừng cho chúng là quan trọng.

Cho dù chúng có đó, cứ để chúng đấy. Bạn ngồi im lặng bên

trong – quan sát. Nhớ từ ‘quan sát’ đó – chứng kiến, chỉ tỉnh

táo.

Và khi việc quan sát lớn dần lên, trở nên sâu sắc hơn,

cùng năng lượng đã trở thành ham muốn và ý nghĩ và kí ức

và tưởng tượng – cùng năng lượng ấy được hấp thu vào

chiều sâu mới. Cùng năng lượng ấy được dùng với việc đi

sâu vào bên trong này. Và bạn sẽ biết điều đó có nghĩa gì khi

tôi nói ‘Đi vào’.

Đừng bắt đầu nhìn vào từ điển hay Bách khoa toàn thư

Encyclopaedia Britannica. Đấy không phải là vấn đề từ ngữ!

Từ ngữ đơn giản để hiểu; khi tôi nói “Đi vào,” đó đích xác là

điều tôi ngụ ý – đi vào! Đừng bắt đầu hỏi về từ ngữ – hãy

lắng nghe thông điệp ẩn kín; bằng không bạn sẽ lỡ tầu. Tôi

ngụ ý gì bởi ‘lỡ tầu’?

Để tôi kể cho bạn một câu chuyện:

Vợ của một nông dân chất phác tới ga Paddington để

đáp chuyến tầu, và có thời gian dư trước khi tầu tới, cô ấy

nghĩ cô ấy sẽ kiểm tra cân nặng của mình trên chiếc cân máy

gần đó.

Cô ấy leo lên, cho một xu vào và máy bật ra một tấm thẻ

có ghi, “Bạn nặng một trăm năm mươi pound và trong năm

phút nữa kể từ bây giờ bạn sẽ đánh rắm.” Đỏ mặt sượng

sùng và cảm thấy có chút ít bị xúc phạm, cô ấy bước ra khỏi

chiếc cân và vội vã ra xa. Năm phút sau với toàn bộ sự ngạc

nhiên của mình, cô ấy đánh cái rắm rõ to và dài.

82

Rất thẹn thùng, nhưng đầy tò mò, cô ấy quay lại chiếc

máy để xem nó nói gì lần này. Cho vào một xu – một thẻ

tuồn ra: “Bạn vẫn nặng một trăm năm mươi pound và năm

phút nữa kể từ bây giờ bạn sẽ bị cưỡng hiếp.” Cô ấy nhảy ra

khỏi máy một cách phẫn nộ và cương quyết bước ra xa.

Một người bán báo, người đang có buổi sáng nghỉ ngơi

đặc biệt, nhìn thấy cô thôn nữ vụng về này và nghĩ có trò vui

vẻ, cho nên trước khi cô ấy biết điều gì xảy ra, thì cô ấy bị

kéo vào sau quầy và bị cưỡng hiếp. Vài phút sau đó thoát ra

khỏi trạng thái khủng khiếp, với cái mũ còn ở một bên, gót

gầy bị vỡ, và trong trạng thái sốc hoàn toàn, cô ấy lảo đảo

bước lại cái máy và mò mẫm đút vào một xu. Một cái thẻ lại

tuồn ra: “Bạn vẫn nặng một trăm năm mươi pound, và với

tất cả những việc đánh rắm và đéo đó, bạn sẽ lỡ tầu!”

Nếu bạn trở nên quá quan tâm tới từ ngữ – “Đi vào có

nghĩa là gì? Nó có nghĩa gì, bằng lời, bằng ngôn từ?” –

Vijen, bạn sắp lỡ tầu đấy. Đừng phí thời gian với từ ngữ!

Và đấy là loại bệnh tật đặc biệt mới mà những trí thức

của thế giới này hay mắc phải. Trong ít nhất năm mươi năm

thế giới triết học đã trở nên quan tâm quá nhiều tới từ ngữ,

phân tích ngôn từ. Họ không hỏi thêm Thượng đế là gì. Họ

không hỏi thêm liệu Thượng đế có tồn tại hay không. Các

triết gia hiện đại hỏi, “Khi bạn dùng từ ‘Thượng đế’ nó có

nghĩa gì?” Đấy không phải là câu hỏi liệu Thượng đế có tồn

tại hay không. Đấy không phải là câu hỏi Thượng đế là gì.

Đấy không phải là câu hỏi làm sao đạt tới Thượng đế. Bây

giờ câu hỏi đã lấy một ngã rẽ rất mới: “Khi bạn dùng từ

‘Thượng đế’ nó có nghĩa gì?”

Bạn ngụ ý gì khi bạn dùng từ ‘hoa hồng’? Bây giờ điều

đó là dễ dàng: bạn có thể giữ triết gia lại, buộc ông ta đi ra

vườn, và bạn có thể chỉ cho ông ta bông hồng: “Đây là điều

83

tôi ngụ ý khi tôi dùng từ ‘hoa hồng’.” Nhưng điều này không

thể làm được với từ ‘Thượng đế’ – và điều này không thể

làm được với từ ‘thiền’ và điều này không thể làm được với

từ ‘đi vào’. Đây là những hiện tượng tinh tế. Đừng trở nên

quan tâm về mặt ngôn từ. Tôi không ở đây để dạy bạn phân

tích ngôn từ.

Toàn bộ cách tiếp cận của tôi mang tính tồn tại. Nếu bạn

thực sự muốn biết đi vào nghĩa là gì, đi vào đi! Và cách thức

là: quan sát các ý nghĩ của bạn và không bị đồng nhất với

chúng. Vẫn còn là người quan sát, hoàn toàn dửng dưng,

không ủng hộ không chống đối. Đừng phán xét, bởi vì mọi

phán xét đều đem lại đồng nhất. Đừng nói, “Những ý nghĩ

này là sai,” và đừng nói, “Những ý nghĩ này là tốt.” Đừng

bình luận về ý nghĩ. Cứ để chúng diễu qua dường như đấy là

luồng giao thông trôi qua, và bạn đang đứng bên lề đường

không quan tâm, nhìn vào giao thông.

Cái gì diễu qua không thành vấn đề – xe buýt, xe tải, xe

đạp. Nếu bạn có thể quan sát quá trình suy nghĩ của tâm trí

bạn với sự không quan tâm như thế, với tách rời như thế,

một khoảnh khắc không xa lắm sẽ tới khi ngày nào đó toàn

thể giao thông biến mất… bởi vì giao thông có thể tồn tại chỉ

nếu bạn cứ trao năng lượng cho nó. Nếu bạn dừng trao năng

lượng cho nó… Và đó là điều quan sát là gì: dừng trao năng

lượng cho nó, dừng việc chuyển năng lượng vào trong giao

thông. Chính năng lượng của bạn làm cho các ý nghĩ di

chuyển. Khi năng lượng của bạn không tới thì chúng bắt đầu

rơi rụng đi; chúng không thể đứng theo cách riêng của

chúng.

Và khi con đường của tâm trí là hoàn toàn trống rỗng,

bạn ở trong. Đó là điều tôi ngụ ý, Vijen, khi tôi nói “Đi

vào.” Và đó là điều Phật ngụ ý khi ông ấy nói: Đi theo bản

tính của ông.

84

Tâm trí không phản xạ là chiếc mái nghèo nàn.

Đam mê, như mưa, làm ngập lụt ngôi nhà.

Nhưng nếu mái mạnh mẽ, có chỗ trú ẩn.

Tâm trí không phản xạ… Phật không ngụ ý bởi “phản

xạ” là suy nghĩ, lưu tâm vào. Bởi “phản xạ” ông ấy đơn giản

ngụ ý việc phản xạ, không suy nghĩ – phản xạ theo nghĩa

chiếc gương phản xạ. Khi bạn tới trước gương, gương không

suy nghĩ về bạn. Tấm gương đơn giản soi gương! Việc soi

gương đó là điều Phật ngụ ý.

Tâm trí không phản xạ – tâm trí đã quên mất cách soi

gương – là chiếc mái nghèo nàn. Và chúng ta đã quên mất

cách soi gương. Chúng ta biết cách nghĩ, chúng ta không biết

cách phản xạ.

Nghĩ về đứa trẻ: đứa trẻ được sinh ra, lần đầu tiên đứa

trẻ mở mắt ra – nó sẽ thấy cây, nhưng nó sẽ không có khả

năng nói với bản thân nó, “Đây là cây.” Nó sẽ thấy ánh sáng,

nhưng nó sẽ không có khả năng nói bên trong bản thân nó,

“Đây là ánh sáng điện.” Nó sẽ thấy mầu đỏ của bông hồng,

nhưng nó sẽ không có khả năng nói, “Đây là hoa hồng và

mầu là đỏ.” Nó sẽ thấy mọi thứ, nhưng nó sẽ không nói gì

bên trong. Đó là việc soi gương: nó sẽ đơn giản soi gương.

Cây cối sẽ vẫn xanh, thực ra xanh hơn là chúng vẫn xanh,

bởi vì gương hoàn toàn thuần khiết, trong như pha lê. Gương

không có bụi bặm… ý nghĩ tụ tập bụi bặm.

Khi bạn đi vào vườn và bạn nói, “Hoa hồng đẹp quá,”

bạn có thể thậm chí không thấy hoa hồng. Bạn có thể đơn

giản lặp lại câu nói rập khuôn. Bởi vì bạn đã thấy người ta

nói rằng hoa hồng đẹp bạn nói điều đó. Thấy mặt trời lặn

đẹp, bạn có thể không thấy nó, bạn có thể không chú ý, bạn

85

có thể không nhận biết… nhưng một cách vô ý thức, tự động,

bạn đơn giản khẳng định, “Mặt trời lặn đẹp quá.” Bạn không

ngụ ý điều đó chút nào; bạn đơn giản nói điều đó bởi vì bạn

đã được bảo. Bạn đang lặp lại phát biểu của ai đó. Nếu bạn

quan sát sâu, bạn thậm chí có thể thấy đây là phát biểu của ai

– của mẹ bạn, của bố bạn, của thầy giáo bạn, của bạn bè bạn.

Nếu bạn quan sát kĩ lưỡng bạn có thể có khả năng nghe thấy

đích xác tiếng nói của người đã nói lần đầu tiên rằng mặt trời

lặn là đẹp… và bạn đơn giản lặp lại điều đó. Bạn chưa thấy

mặt trời lặn này. Bạn chưa thấy cái ‘này’, sự hiện diện, cái

đẹp tức khắc của nó.

Phật nói: Tâm trí không phản xạ là chiếc mái nghèo nàn.

Đam mê, như mưa, làm ngập lụt ngôi nhà.

Một tâm trí mà đã quên mất cách soi gương chân lí bao

giờ cũng là nạn nhân của ham muốn – nạn nhân của cái đầu,

nạn nhân của tương lai, nạn nhân của khao khát thường

xuyên về điều này điều nọ. Và không ham muốn nào có thể

được thoả mãn cả. Vào lúc một ham muốn được thoả mãn,

nó đã tạo ra thêm mười ham muốn nữa.

Và điều này cứ tiếp diễn mãi… và cuộc sống ngắn ngủi,

và cái chết có thể gõ cửa bạn vào bất kì lúc nào.

Bạn tới thế giới này để được thoả mãn, nhưng bạn đi với

bàn tay trống rỗng, bạn đi không được thoả mãn. Do đó bạn

sẽ phải quay lại lần nữa. Chừng nào bạn chưa học xong bài

học bạn sẽ còn phải bị ném trở lại nữa vào trong bụng mẹ

nào đó, bạn sẽ phải được tái sinh. Bạn sẽ bị gửi lại trường

học. Bạn đã bị gửi lại hàng triệu lần, và nếu bạn không chú

ý, bạn cũng sẽ lỡ tầu với cuộc sống này.

Thận trọng vào! Bắt đầu lau sạch tấm gương của bạn sao

cho bạn có thể phản xạ.

(TIẾP THEO )

Đam mê, như mưa, làm ngập lụt ngôi nhà. Nhưng nếu

mái mạnh mẽ, có chỗ trú ẩn. Nếu bạn biết cách phản xạ thực

tại, có chỗ trú ẩn. Bạn an toàn bởi vì bạn ở trong Thượng đế,

bởi vì bạn là một phần của chân lí.

Bất kì ai đi theo những ý nghĩ không thuần khiết
Đều khổ trong thế giới này và thế giới sau.
Trong cả hai thế giới người ấy khổ,
Và vĩ đại làm sao,
Khi người ấy thấy điều sai mình đã làm.

Mọi ý nghĩ đều không thuần khiết. Ý nghĩ không thể là

thuần khiết được. Cho nên để tôi nhắc bạn lần nữa: bất kì khi

nào Phật nói “ý nghĩ không thuần khiết” ông ấy ngụ ý các ý

nghĩ. Ông ấy dùng tính từ “không thuần khiết” để nhấn

mạnh nó, bởi vì nếu ông ấy đơn giản nói “ý nghĩ” bạn có thể

không hiểu đúng. Cho nên ông ấy nói “ý nghĩ không thuần

khiết,” nhưng ông ấy bao giờ cũng ngụ ý các ý nghĩ. Mọi ý

nghĩ đều không thuần khiết, bởi vì ý nghĩ nghĩa là bạn đang

nghĩ tới cái khác, ham muốn đã nảy sinh. Và bất kì khi nào

ông ấy nói “ý nghĩ thuần khiết” ông ấy ngụ ý vô ý nghĩ.

Chỉ vô ý nghĩ là thuần khiết, bởi vì thế thì bạn hoàn toàn

là bản thân mình, một mình, không cái gì can thiệp vào.

Jean-Paul Sartre nói: Người khác là địa ngục. Và ông ấy

là đúng theo một cách nào đó, bởi vì bất kì khi nào bạn đang

nghĩ về người khác, bạn ở trong địa ngục. Mọi ý nghĩ đều đề

cập tới người khác. Khi bạn đang trong trạng thái vô ý nghĩ,

bạn một mình, và tính một mình là thuần khiết. Và trong tính

một mình đó xảy ra tất cả những điều đáng xảy ra.

Nhưng bất kì ai tuân theo luật
Đều vui vẻ ở đây và vui vẻ ở kia.
87
Trong cả hai thế giới người ấy đều hân hoan,
Và vĩ đại làm sao,
Khi người ấy thấy điều tốt mình đã làm.

Đảo ngược lại, khi bạn thấy rằng bạn đã tạo ra địa ngục

cho bản thân mình – không ai khác chịu trách nhiệm ngoài

bạn – khi bạn thấy điều này bạn sẽ khổ lắm, khủng khiếp rồi.

Thậm chí không có một cái cớ, bạn không thể ném trách

nhiệm lên vai ai đó khác được: nó là trách nhiệm của bạn.

Khổ sẽ có đó và còn nhiều thế, còn mạnh hơn thế, bởi vì

bạn cũng sẽ cảm thấy, “Mình ngu quá. Không ai làm mình

khổ cả. Chỉ bởi vì ý nghĩ của mình thôi. Đấy là vì mình ngày

càng trở nên hướng ngoại hơn, ngày càng trở nên quan tâm

đến những thứ của bên ngoài, nên mình khổ. Mình duy nhất

phải chịu trách nhiệm.”

Điều này sẽ cho bạn thống khổ lớn lao – và ngược lại.

Nếu bạn tuân theo luật, theo pháp, theo Đạo, nếu bạn tuân

theo cốt lõi bên trong nhất của bạn, bản tính của bạn, bạn sẽ

vui vẻ ở đây và ở kia.

Phật không quan tâm mấy tới “ở kia.” Nhưng ông ấy nói

nếu bạn vui vẻ ở đây bạn nhất định vui vẻ ở kia. Nếu khoảnh

khắc này bạn hân hoan, khoảnh khắc tiếp bạn sẽ hân hoan

hơn, bởi vì khoảnh khắc tiếp sắp được sinh ra từ khoảnh

khắc này.

Và phúc lạc của bạn thu lấy đà, nó có tính tích luỹ. Nếu

khoảnh khắc này bạn khổ, khoảnh khắc tiếp bạn sẽ khổ hơn,

bởi vì bạn đang học cách khổ, bạn đang trở nên quen với

khổ. Bạn sẽ tạo ra nhiều khổ hơn cho khoảnh khắc tiếp bởi

vì bạn đang trở nên hiệu quả hơn trong việc tạo ra nó. Cho

nên bất kì cái gì là bản chất của khoảnh khắc này, nó sẽ được

làm mạnh thêm, sâu hơn, vào khoảnh khắc tiếp.

88

Nhưng Phật không bận tâm về khoảnh khắc tiếp chút

nào. Ông ấy đơn giản phát biểu một sự kiện.

Đừng bận tâm về khoảnh khắc tiếp, hay kiếp sống tiếp,

hay thế giới tiếp. Làm cho khoảnh khắc này thành hân hoan,

làm cho khoảnh khắc này là khoảnh khắc của phúc lạc, và

khoảnh khắc tiếp sẽ theo nó, và kiếp sống tiếp, thế giới tiếp

sẽ theo nó. Và mọi thứ mà bạn đang là trong khoảnh khắc

này sẽ trở nên được làm càng sâu sắc hơn. Và khi bạn thấy

rằng bạn chịu trách nhiệm cho phúc lạc của bạn, phúc lạc sẽ

thêm nhiều nữa. Khi bạn thấy rằng không ai đã trao nó cho

bạn, rằng bạn đã không phải là kẻ ăn xin, rằng nó không phải

là món quà từ ai đó khác – bởi vì không ai trao nó cho bạn,

không ai có thể lấy nó đi được – khi bạn thấy điều này bạn sẽ

hạnh phúc hơn nhiều.

Thu hoạch trong thế giới này là lớn,
và vẫn còn lớn hơn trong thế giới tiếp.
Dù ông đọc bao nhiêu lời linh thiêng,
Dù ông nói bao nhiêu lời,
Chúng sẽ làm điều gì tốt cho ông
Nếu ông không hành động theo chúng?

Nhưng toàn thể vấn đề phụ thuộc vào hành động. Đấy

không phải là vấn đề chỉ nghĩ tới các ý nghĩ đẹp. Đấy không

chỉ là vấn đề các ham muốn đẹp – về Thượng đế, về thiên

đường, về moksha. Đấy không phải vấn đề về việc suy nghĩ

về thiền, mà là hành động, làm điều gì đó về nó. Hành động

và chỉ hành động mới có thể có ích. Bạn phải trở nên được

tham dự vào, bạn phải trở nên được cam kết.

Nhiều người tới tôi và nói, “Chúng tôi yêu thích những

bài nói của thầy, nhưng chúng tôi không muốn thiền và

89

chúng tôi không muốn trở thành sannyasin. Thế không đủ

sao,” họ hỏi, “nếu chỉ lắng nghe những bài nói tuyệt vời của

thầy?” Điều đó hoàn toàn vô ích!

Chỉ lắng nghe bài nói của tôi là rất ngu xuẩn. Nếu bạn

không hành động, đừng phí thời gian – đấy là bài tập về tính

vô ích! Nếu bạn chỉ cứ nghe tôi và không bao giờ hành

động, thì lời tôi có thể dễ nghe, lời tôi có thể an ủi, lời tôi có

thể thuyết phục, bạn có thể thích thú điều tôi đang nói về

mặt trí tuệ, bạn có thể thích thú không gian được tạo ra bởi

sự hiện diện của tôi, nhưng một mình điều này sẽ không ích

gì. Hành động là tuyệt đối cần thiết.

Nếu bạn bị thuyết phục về chân lí nào đó, hành động

theo nó, và hành động ngay lập tức đi! – bởi vì tâm trí rất

tinh ranh, và tinh ranh lớn nhất của tâm trí là trì hoãn. Nó

nói, “Ngày mai vậy…” và ngày mai không bao giờ tới. Nó

nói, “Vâng, chúng ta sẽ thiền một ngày nào đó. Trước hết

chúng ta hiểu thiền là gì.” Và thế thì bạn có thể cứ đi hiểu

thiền là gì trong cả đời mình, và bạn sẽ không bao giờ hành

động. Và chừng nào bạn chưa hành động không cái gì sẽ xảy

ra, không biến đổi nào sẽ xảy ra.

Sannyas là cam kết. Nó là việc biểu lộ một cách tích cực

tình yêu của bạn hướng tới tôi. Đó là việc tham dự vào định

mệnh của tôi. Đó là việc đi vào trong chiếc thuyền của tôi.

Điều đó là nguy hiểm – an toàn hơn là đứng trên bờ và lắng

nghe. Thế thì đấy là một loại giải trí – giải trí tâm linh! –

nhưng hoàn toàn vô dụng, chỉ giết thời gian.

Và đó là điều mà mọi người cứ làm trong cái gọi là tụ

tập tâm linh – satsang. Họ tới buổi giảng ngày chủ nhật và

họ lắng nghe rất chăm chú và rất nghiêm chỉnh, nhưng ra

ngoài nhà thờ điều đó không có tác dụng gì lên cuộc sống

của họ. Thực ra, ngay cả người thuyết giảng cũng không bị

90

ảnh hưởng bởi điều ông ta nói. Chính công việc của ông ta là

nói những điều này, ông ta được trả tiền cho việc này. Ông

ta là nhà chuyên môn. Và đó là nghi lễ cho những người

nghe – chỉ có danh tiếng tốt trong cộng đồng, rằng họ là tôn

giáo, rằng họ tới nhà thờ đều đặn mọi chủ nhật. Và đó là sự

tụ tập xã hội đẹp nữa – gặp gỡ mọi người, nói chuyện với

mọi người, tán gẫu. Nó đem lại cơ hội tốt – nhân danh tôn

giáo. Một sự tụ tập xã hội! Đó là môt kiểu cổ của câu lạc bộ

Rotary, câu lạc bộ Lions, vân vân. Điều đó không có ý nghĩa

gì, điều đó không làm thay đổi cuộc sống của họ.

Có lần tôi sống ở cạnh một linh mục Ki tô giáo, một diễn

giả rất hùng biện. Một hôm ông ấy cho tôi xem khu vườn

của ông ấy, và chúng tôi bắt đầu nói về điều này điều nọ. Và

ông ấy nói, “Ông có thể giúp đỡ con tôi được không?”

Tôi nói, “Có chuyện gì với con ông vậy?”

Ông ta nói, “Nó bắt đầu coi buổi giảng lễ của tôi quá

nghiêm chỉnh. Tôi phải thuyết giảng và tôi phải nói về

những điều lớn lao. Nó tới nghe và nó bắt đầu coi những

điều đó quá nghiêm chỉnh. Bây giờ nó không muốn lấy vợ;

nó muốn trở thành người linh thiêng. Ông có thể giúp cho nó

được không?”

“Tôi có thể giúp được – đó là công việc của tôi mà! tôi

có thể giúp – tôi giúp cho những người linh thiêng trở lại

thành không linh thiêng. Ông cứ đưa nó tới tôi đi. Tôi sẽ kéo

nó xuống.”

“Nhưng nghe đây,” linh mục nói, “nó coi lời tôi quá

nghiêm chỉnh.” Ngay cả linh mục cũng không có nghĩa là

bất kì ai cũng phải coi lời của linh mục là quá nghiêm chỉnh

– và không ai làm như vậy ngoại trừ vài người ngu.

91

Nhưng khi bạn ở quanh một Phật, một Jesus, một

Krishna, một Mohammed, vấn đề không phải là coi lời của

họ là nghiêm chỉnh. Vấn đề là thấy tính chân thực của lời

của họ và thế rồi hành động theo đó. Nếu điều đó khuấy

động trái tim bạn, nếu chuông bắt đầu ngân trong tim bạn,

thế thì đừng dừng nó lại. Thế thì đi theo đi, thế thì đi sâu hơn

vào trong nó đi, bởi vì đó là cách duy nhất để được biến đổi.

Đó là cách duy nhất để biết cái vĩnh hằng – aes dhammo

sanantano. Đó là cách duy nhất để biết hài hoà vĩnh hằng

của sự tồn tại.

Và biết tới hài hoà vĩnh hằng là biết tới phúc lạc, là biết

tới Thượng đế, là vượt ra ngoài thời gian, là vượt ra ngoài

cái chết, là vượt ra ngoài khổ.

Hai người phụ nữ đang nói chuyện trong phòng trà vào

lúc bốn giờ, sau khi ăn cốc kem quả lớn và chút bánh đường.

Họ đã không gặp nhau từ hồi còn học phổ thông, và một

người đang khoe khoang về cuộc hôn nhân rất thuận lợi của

mình.

“Chồng tớ mua cho tớ cả bộ kim cương mới khi chiếc

của tớ bị bẩn,” cô ta nói. “Tớ chưa hề bận tâm tới việc lau

sạch chúng.”

“Tuyệt diệu!” người phụ nữ kia nói.

“Vâng,” người thứ nhất nói, “chúng tớ cứ hai tháng lại

kiếm một xe mới. Không có chuyện mua trả dần đâu nhé!

Chồng tớ mua chúng ngay lập tức, và chúng tớ đem chúng

cho người làm vườn da đen và người quản gia xem như quà

tặng.”

“Tuyệt diệu!” người kia nói.

92

“Còn nhà tớ,” người thứ nhất nói tiếp, “này, ích gì mà

nói về nó nhỉ? Nó chỉ là…”

“Tuyệt diệu!” người kia kết thúc.

“Vâng, mà kể cho tớ, bây giờ cậu đang làm gì vậy?”

người phụ nữ thứ nhất nói.

“Tớ đi học Trường làm duyên,” người kia nói.

“Trường làm duyên? Sao, kì lạ nhỉ! Cậu học gì ở đó?”

“Thế này, chúng tớ học nói ‘Tuyệt diệu’ thay vì ‘Chuyện

nhảm nhí’!”

Bạn có thể bắt đầu gọi chuyện nhảm nhí là “tuyệt diệu.”

nhưng điều đó không khác biệt gì. Bạn có thể học rác rưởi

tôn giáo, tâm linh…

Có nhiều người ở đây nữa, người rất chuyên gia trong

cái gọi là biệt ngữ bí truyền. Họ bao giờ cũng nói về nhiều

bình diện thế, nhiều thể thế, nhiều trung tâm thế… và họ nói

nghiêm chỉnh đến mức dường như họ biết điều họ đang nói

tới. Tránh những thứ rác rưởi bí truyền đi! Tránh tri thức bí

truyền! Đấy không phải là tri thức, đấy chỉ là đi lừa mọi

người. Nếu bạn quan tâm tới những vấn đề như vậy thì bạn

nên đọc tài liệu lớn do những người theo thuyết thần bí tạo

ra.

Phật nói: Dù ông đọc bao nhiêu lời linh thiêng, dù ông
nói bao nhiêu lời, chúng sẽ làm điều gì tốt cho ông nếu ông
không hành động theo chúng?

Niềm tin vẫn còn trong thế giới của lời. Chính tin cậy,

chính tin cậy sâu sắc đưa bạn vào hành động. Hành động là

mạo hiểm. Nói về bờ bên kia là đơn giản, nhưng bơi sang bờ

bên kia là nguy hiểm, bởi vì không bản đồ nào tồn tại. Thực

ra không ai có thể chắc chắn về bờ bên kia, liệu nó có tồn tại

hay không.

Chỉ niềm tin bình thường sẽ không có tác dụng. Chừng

nào bạn chưa tin cậy vô cùng vào cuộc sống, chừng nào bạn

chưa tin cậy vô cùg vào tiếng nói bên trong riêng của mình,

bạn không thể tiếp tục cuộc hành trình tới những biển chưa

được lập bản đồ.

Nhưng chỉ hành động sẽ chứng tỏ rằng bạn tin cậy, và

chỉ hành động mới có thể biến đổi bạn.

Ông là người chăn cừu
Ai đi đếm cừu của người khác,
Chưa bao giờ chung một đường?

Phật thường nói đi nói lại: rằng có những người ngu

xuẩn cứ đếm mãi bò của người khác – rằng người này có

95

mười lăm con bò, người này có mười ba con bò – và bản

thân họ thì không có lấy một con nào! Đếm bò hay cừu của

người khác phỏng có ích gì? Điều đó không nuôi sống bạn,

điều đó không nuôi dưỡng bạn. Điều đó cực kì lãng phí thời

gian!

Đừng cứ đếm mãi cừu của người khác. Đi vào trong đi!

Đừng cứ đọc mãi kinh sách. Đi vào trong! Đừng cứ nghe

mãi lời người khác! Chia sẻ con đường! Nếu bạn bắt gặp vị

phật bạn may mắn đấy. Nếu bạn yêu vị phật bạn được phúc

lành đấy. Đừng chỉ cứ nghe mãi lời của ông ấy. Đi theo con

đường, chia sẻ con đường! Nhìn vào nơi ông ấy chỉ tới, đừng

bắt đầu tôn thờ ngón tay ông ấy. Nhìn vào mặt trăng!

Đọc ít lời như ông muốn
Và nói ít hơn.
Nhưng hành động theo luật.

97

Để tôi nhắc bạn lần nữa, bởi vì từ ‘luật’ trong tiếng Anh

có liên hệ sai. Nó là việc dịch cho từ dhamma – pháp: luật

vĩnh hằng, luật vũ trụ, đạo. Hành động theo luật không ngụ

ý hành động theo luật hình sự Ấn Độ. Hành động theo luật

nghĩa là hành động theo bản tính bên trong của bạn.

Từ bỏ con đường cũ –
Đam mê, thù hận, điên rồ.
Biết chân lí và tìm an bình.
Chia sẻ con đường.

Từ bỏ con đường cũ… Bạn phải trở nên gián đoạn với

quá khứ. Bạn phải tồn tại theo cách mới. Bạn phải đơn giản

cắt bỏ bản thân mình khỏi quá khứ của mình chỉ bằng một

nhát. Và đó là điều tính chất sannyas tất cả là gì: cắt bản thân

bạn ra khỏi quá khứ của bạn chỉ bằng một nhát kiếm.

Con đường cũ là gì? – con đường của ham muốn, con

đường của ghét, và con đường của ngu ngốc. Đừng vận hành

từ căm giận và đừng ham muốn mọi thứ, đừng sở hữu. Và

đừng mê tín, ngu xuẩn. Nếu bạn có thể làm được chừng đó,

nếu bạn có thể lấy bước nhảy vào cái không biết… bởi vì quá

khứ đã được biết và bạn quen làm mọi thứ theo cách nào đó.

Khi bạn vứt bỏ quá khứ bạn sẽ lúng túng trong vài ngày, mất

hướng, không biết phải làm gì, làm sao để làm nó. Bạn sẽ

trong chân không. Chân không đó phải được đi qua. Điều đó

là đau đớn – đó là cái giá chúng ta phải trả cho chân lí.

Một khi bạn đã đi qua chân không đó: Biết chân lí và tìm

ra an bình. Thế thì chân lí được biết tới và an bình theo sau

chân lí như cái bóng.

98

Chia sẻ con đường, Phật nhấn mạnh lại lần nữa. Nhưng

điều này không thể xảy ra chỉ bởi việc lắng nghe, chỉ bởi

việc đọc công trình của các thầy.

Chia sẻ con đường.

Aes dhammo sanantano.

Còn nữa

 

Dhammapada

CON ĐƯỜNG CỦA PHẬT

¨

ĐÂY LÀ CON ĐƯỜNG

ĐI TỚI CHÂN LÍ TỐI THƯỢNG

Tập 1 ( tiếp theo )

Câu hỏi:
Thưa Thầy kính yêu,
Sao có nhiều tôn giáo trên thế giới thế, và tại sao các
tôn giáo này liên tục cãi nhau?
Geetam, điều tự nhiên là phải có nhiều tôn giáo rồi.
Thực ra, nhiều hơn là cần đấy. Như tôi thấy nó, mỗi cá nhân
nên có tôn giáo riêng của mình; phải có nhiều tôn giáo như
có ngần ấy người. Con số không nhiều thế đâu: chỉ có ba
trăm tôn giáo – và bao nhiêu người trên trái đất?
Từng cá nhân nên có tôn giáo riêng của mình, bởi vì
từng cá nhân là duy nhất thế, khác biệt thế với bất kì ai khác.
Làm sao hai người có thể có một tôn giáo được? Điều đó là
106
không thể được. Nhưng chúng ta đang yêu cầu điều không
thể được. Từng cá nhân phải đạt tới Thượng đế theo con
đường riêng của mình, và con đường đó không bao giờ được
bất kì ai khác đi qua lần nữa.
Do đó, chư phật có thể chỉ dẫn, có thể cho bạn hướng
dẫn. Họ không thể cung cấp cho bạn bản đồ chắc chắn, tuyệt
đối chắc chắn – chỉ là hướng dẫn, vài hướng dẫn. Và những
hướng dẫn đó không nên bị coi là rất nghiêm chỉnh – nên rất
vui đùa. Bạn không định trở thành người cuồng tín. Nếu bạn
trở thành người cuồng tín thì bạn không còn là tôn giáo nữa.
Người tôn giáo là khiêm tốn, sẵn có cho mọi loại hướng
dẫn; người đó là người tìm kiếm, người tìm tòi, người thám
hiểm, và người đó sẽ học từ mọi nguồn có thể. Người đó sẽ
học từ Kinh Thánh, và người đó sẽ học từ Veda, và người đó
sẽ học từ Dhammapada. Người đó sẽ lắng nghe Phật, nghe
Jesus, nghe Zarathustra. Người đó sẽ học từ mọi nguồn có
thể, nhưng dầu vậy người đó vẫn còn là bản thân mình.
Người đó sẽ không trở thành bắt chước, người đó sẽ không
trở thành bản sao. Người đó sẽ duy trì tính đích thực của
mình. Người đó sẽ khiêm tốn, chân thành, đích thực; người
đó sẽ không trở thành đồ rởm. Người đó sẽ không là tín đồ,
người đó sẽ là người yêu.
Người đó sẽ yêu phật, nhưng người đó sẽ không theo
ông ấy; người đó sẽ không theo ông ấy đến từng chi tiết.
Làm sao bạn theo vị phật đến từng chi tiết được? Người đó
là kiểu người khác toàn bộ. Bạn chưa bao giờ là như vậy
trước đây, không ai giống như bạn đã từng có trước đây, và
không ai đích xác giống bạn sẽ có lại lần nữa. Do đó tôn
giáo của bạn phải là tôn giáo của bạn, chân lí của bạn phải là
chân lí của bạn.
107
Và đó là cái đẹp của chân lí, rằng nó bao giờ cũng tới
dưới dạng duy nhất đến mức bạn có thể nói, “Đây là món
quà đặc biệt từ Thượng đế cho tôi.” Do đó có nhiều tôn giáo
thế. Và điều đó là đẹp! – nên có nhiều hơn nữa. Nhiều người
đã cố gắng tạo ra một tôn giáo; đó là xuẩn ngốc hoàn toàn.
Bạn không thể tạo ra một tôn giáo được. Bạn có thể áp đặt
một tôn giáo lên mọi người, nhưng điều đó sẽ phá huỷ tâm
linh của họ, tự do của họ; điều đó sẽ làm què quặt bản thể họ
và làm tê liệt trưởng thành của họ.
Cũng như có nhiều ngôn ngữ thế, có nhiều tôn giáo thế.
Tính đa dạng là đẹp, tính đa dạng tạo khả năng cho bạn chọn
lựa tương ứng theo kiểu của bạn. Tôn giáo không và không
thể được quyết định bởi việc sinh, và những người đã quyết
định tôn giáo của họ bởi việc sinh của họ là kẻ ngu hoàn
toàn. Bạn không thể được sinh ra là người Hindu giáo và bạn
không thể được sinh ra là người Ki tô giáo; việc sinh không
liên quan gì tới tôn giáo của bạn cả. Tôn giáo là cuộc truy
tìm. Bạn có thể được sinh ra từ bố mẹ Hindu giáo – đó là một
điều – nhưng nếu bố mẹ bạn thực sự yêu bạn họ sẽ không
chuyển đổi bạn thành người Hindu. Tất nhiên họ sẽ nói cho
bạn về tất cả những điều họ đã biết và đã trải nghiệm, nhưng
họ sẽ để cho bạn tự do. Và họ sẽ bảo bạn, “Trở nên tỉnh táo
hơn, quan sát hơn, chín chắn hơn, và khi con đủ chín chắn và
con muốn quyết định, chọn lấy tôn giáo của riêng con.”
Đi tới chùa chiền, đi tới nhà thờ, đi tới đền đài, đi tới
gurudwara. Lắng nghe mọi loại đồ vật, nhìn mọi loại hoa:
vườn của Thượng đế tràn đầy tính đa dạng thế, phong phú
thế bởi tính đa dạng. Có hoa hồng và hoa sen và cả nghìn lẻ
một hoa khác. Đi và chọn lấy mùi hương riêng của bạn,
hương thơm riêng của bạn, bởi vì chừng nào bản thân bạn
chưa chọn, bạn sẽ không tận tâm với nó, bạn sẽ không được
buông xuôi theo nó.
108
Thế giới này không phải là tôn giáo bởi vì tôn giáo bị áp
đặt lên chúng ta. Bố mẹ đang vội vã áp đặt; nhà thờ, quốc
gia, đất nước – mọi người đều đang vội vã áp đặt tôn giáo
nào đó lên con trẻ. Ngu xuẩn làm sao! Đần độn làm sao! Tôn
giáo cần chín chắn, hiểu biết lớn lao, trước khi người ta có
thể chọn.
Không ai sinh ra mà là người Hindu giáo hay Mô ha mét
giáo hay Parsi giáo. Mọi người được sinh ra đều trong sạch,
hồn nhiên, tabula rasa, và thế rồi mọi người đều phải tìm và
kiếm. Đây là cái đẹp của cuộc sống bởi vì cuộc sống là cuộc
truy tìm. Và đừng bị lắng đọng quá sớm; không cần đâu. Có
thể là mọi tôn giáo hiện có không thể thoả mãn bạn. Nhưng
điều đó là tốt; điều đó nghĩa là tôn giáo mới được sinh ra
trong bạn. Thế giới trở nên giầu có hơn: một tôn giáo nữa,
một đoá hoa nữa, một cây nữa – một hiện tượng mới.
Phật đem tới một tôn giáo mới vào trong thế giới này;
thế giới đã nghèo hơn trước Phật bởi vì nó thiếu Phật giáo.
Phật có thể đã theo tôn giáo của bố mẹ ông ấy; thế thì thế
giới sẽ vẫn còn nghèo nàn. Thế giới bỏ lỡ cái gì đó giá trị
mênh mông, cánh cửa mới tới Thượng đế. Phật đã mở ra
cánh cửa mới, viễn kiến mới, sáng suốt mới. Ông ấy đã
không bị thuyết phục bởi tôn giáo của bố mẹ ông ấy; bằng
không ông ấy vẫn còn là người Hindu. Ông ấy đã nổi dậy.
Mọi người tôn giáo đều là người nổi dậy.
Ông ấy đã đi vào tìm kiếm cá nhân – mọi người tôn giáo
đều là nhà thám hiểm, mọi người tôn giáo đều là nhà phiêu
lưu. Sẽ dễ dàng, thuận tiện và thoải mái để tin vào tôn giáo
đã từng được bố mẹ, bố mẹ của bố mẹ tin vào, và trong hàng
thế kỉ. Điều đó sẽ còn thuận tiện nhiều hơn bởi vì bạn không
cầm truy tìm, bạn không cần đi qua toàn thể nỗ lực để tìm ra
chân lí. Nó đã được tìm ra bởi nhà tiên tri nào đó trong quá
khứ – bạn có thể đơn giản vay mượn nó. Nhưng chân lí vay
109
mượn không phải là chân lí chút nào. Chân lí vay mượn là
dối trá.
Phật đã đi tìm; gian truân là cuộc truy tìm. Ông ấy đã
mạo hiểm tất cả – vương quốc, cuộc sống. Nhưng khi bạn
mạo hiểm nhiều thế, cuộc sống mưa rào các kho báu mới lên
bạn. Một tôn giáo mới, một sự sáng suốt mới, một tầm nhìn
mới, được sinh thành vào thế giới này.
Mohammed có thể đã theo tôn giáo của bố mẹ ông ấy.
Jesus có thể đã đi theo Do Thái giáo. Trở thành một Jesus đi,
trở thành một Phật đi, trở thành một Mohammed đi! Đừng là
người Mô ha mét giáo, đừng là Phật tử và đừng là người Ki
tô giáo – thám hiểm! Đừng phí hoài cuộc sống trong việc bắt
chước, bởi vì thế thì bạn sẽ vẫn còn là rởm. Và người rởm
không thể là tôn giáo được. Đích thực , chân thành lớn lao là
cần thiết.
Cho nên, Geetam này, điều tốt là có ba trăm tôn giáo –
đáng phải có nhiều hơn! Tôi bao giờ cũng thiên về đa dạng.
Tôi muốn thế giới này giầu có hơn theo mọi cách có thể.
Bạn có muốn toàn thể thế giới này chỉ có một loài hoa – chỉ
hoa hồng, hay chỉ hoa sen không? Điều đó sẽ không là một
thế giới bần cùng hoá, rất nghèo nàn chứ? Bạn có muốn thế
giới này chỉ có một ngôn ngữ không? Thế thì những sắc thái
khác biệt của các ngôn ngữ khác nhau sẽ biến mất.
Có những điều mà chỉ có thể được nói trong tiếng Arab
và không thể nói được trong bất kì ngôn ngữ nào khác; và có
những điều chỉ có thể nói trong tiếng Do Thái và không thể
được nói trong bất kì ngôn ngữ nào khác. Có những điều chỉ
có thể được nói trong tiếng Trung quốc và không thể được
nói trong bất kì ngôn ngữ nào khác. Nếu thế giới chỉ có một
ngôn ngữ, nhiều, nhiều điều đẹp đẽ sẽ vẫn còn không được
nói ra.
110
Lão Tử chỉ nói được tiếng Trung quốc. Bạn có thể
không cân nhắc về vấn đề này: nghĩ về Lão Tử viết Đạo Đức
Kinh trong tiếng Anh mà xem… và cuốn sách sẽ khác toàn
bộ. Nó sẽ thiếu cái gì đó có giá trị mênh mông; nó sẽ có cái
gì đó khác, mầu sắc khác toàn bộ, nhưng nó sẽ thiếu hương
vị mà nó có trong tiếng Trung quốc.
Bây giờ, chữ Trung quốc không có bảng chữ cái; nó
được viết trong các kí hiệu. Bởi vì không có bảng chữ, các kí
hiệu có thể được diễn giải theo cả nghìn lẻ một cách; kí hiệu
là linh động hơn, kém cố định hơn, nhiều thi vị hơn, ít nôm
na hơn. Một kí hiệu có thể ngụ ý nhiều điều. Nó là không
khoa học; rất khó viết ra chuyên luận khoa học trong tiếng
Trung quốc. Với điều đó, tiếng Anh là ngôn ngữ thích hợp
hơn nhiều.
Nhưng điều Lão Tử đã tặng cho thế giới sẽ không thể
nào có được nếu không có chữ Trung quốc. Từng kí hiệu có
nhiều nghĩa, đa nghĩa. Bạn có thể chọn nghĩa của bạn tương
ứng với trạng thái tâm trí của bạn. Từng kí hiệu có nhiều
tầng nghĩa. Khi bạn trưởng thành trong hiểu biết của mình,
nghĩa của các kí hiệu đó thay đổi.
Do đó, ở phương Đông một kiểu đọc khác toàn bộ đã tồn
tại mà không tồn tại ở phương Tây. Bạn sẽ không thích đọc
đi đọc lại cùng cuốn sách của Bernard Shaw mãi, hay bạn
thích thế? Chừng nào bạn còn lành mạnh bạn sẽ không thích
đọc đi đọc lại nó mãi. Phỏng có ích gì? Một khi bạn đã đọc
nó rồi, nó được kết thúc! Đó là lí do tại sao sách bìa mềm lại
tồn tại: đọc nó rồi vứt nó. Nhưng ở phương Đông một loại
đọc khác tồn tại: cùng cuốn sách được đọc đi đọc lại suốt cả
đời.
Đạo Đức Kinh không phải là cuốn sách có thể được xuất
bản theo kiểu sách bìa mềm – bây giờ người ta đang làm điều
111
đó. Nó không nên được xuất bản bằng sách bìa mềm – nó
không thể là như vậy, bởi vì nó là loại sách hoàn toàn khác.
Nó có hết tầng nọ tới tầng kia nghĩa. Khi lần đầu tiên bạn
đọc nó, nó là một cuốn sách bởi vì bạn chỉ biết một nghĩa,
nông cạn. Sau khi thiền vài tháng bạn đọc lại nó lần nữa; ý
nghĩa khác tự nó lộ ra; sau khi thiền thêm vài tháng nữa bạn
đọc lại nó lần nữa… nghĩa thứ ba. Nó phải cứ tiếp diễn, nó
phải trở thành việc nghiên cứu cả đời.
Và bạn sẽ tìm thêm ra nghĩa – chúng không cạn. Aes
dhammo sanantano: điều tối thượng là vĩnh hằng và không
cạn. Nó không phải là hư cấu; bạn không thể chỉ đọc nó và
được kết thúc với nó. Một lần đọc sẽ không giúp cho bạn
chút nào đâu; nó đơn giản giới thiệu cho bạn, nó không cho
bạn cốt lõi của nó. Phải mất cả đời mới đi tới cốt lõi của nó
được.
Bây giờ chúng ta cần mọi loại ngôn ngữ. Tiếng Anh là
cần thiết cho tính xác định của nó, cho tính chắc chắn của
nó. Mỗi từ đều có một định nghĩa. Khoa học không thể phát
triển mà không có ngôn ngữ như vậy.
Khoa học không thể sinh ra ở Ấn Độ bởi vì ngôn ngữ;
tiếng Phạn là ngôn ngữ thơ ca. Bạn có thể hát nó – nó có
phẩm chất đó – bạn có thể tụng bằng nó, nhưng bạn không
thể nào làm nhiều suy luận từ nó được. Nhiều bài ca, chắc
chắn, nhưng nó không có tính biện minh; diễn đạt nhưng
không biện minh.
Tiếng Arab có phẩm chất rất ám ảnh. Nếu bạn tụng nó,
nó sẽ trở nên ám trong tim bạn. Dừng tụng nó và việc tụng
vẫn cứ tiếp tục trong tim. Tiếng Arab có phẩm chất đó trong
nó bởi vì nó là ngôn ngữ của sa mạc; ngôn ngữ sa mạc có
phẩm chất ám ảnh. Khi bạn gọi ai đó trong sa mạc, từ xa xôi,
bạn phải gọi theo cách nào đó – và trong sa mạc bạn có thể
112
gọi người ở rất xa; nếu bạn gọi họ theo cách thức có nhịp
điệu, âm thanh của bạn sẽ đạt tới họ.
Do đó có cái đẹp của Koran. Nó không phải là sách để
được đọc – những người đã đọc Koran sẽ bỏ lỡ ngĩa của nó –
nó là cuốn sách để được hát. Nó không phải là sách để được
nghiên cứu: nó là cuốn sách để được nhảy múa, chỉ thế thì
bạn sẽ đạt tới tâm linh bên trong của nó.
Điều hay là có nhiều ngôn ngữ bởi vì có nhiều điều cần
được nói, diễn đạt, trao đổi. Và khi thế giới trưởng thành,
nhiều ngôn ngữ nữa được cần tới, bởi vì khi thế giới trưởng
thành, người ta cảm thấy nhiều thứ hơn, mọi người đang đi
qua, mọi người đang đạt tới.
Tôn giáo không là gì khác hơn ngôn ngữ để bầy tỏ điều
tối thượng. Geetam, không có gì sai trong việc có nhiều tôn
giáo cả. Tất nhiên, chắc chắn có điều gì đó sai trong cãi lộn
thường xuyên của họ với nhau. Điều đó chỉ ra rằng cái gọi là
các tôn giáo đó đã đánh mất phẩm chất tôn giáo của họ, họ
đã trở thành chính trị; rằng cái gọi là các tôn giáo đó không
còn có các thầy sống nữa mà chỉ những tu sĩ chết, đờ đẫn,
xoàng xĩnh. Họ cứ cãi nhau, họ cứ cố cải đạo nhau, bởi vì
con số tạo ra quyền lực. Nếu có nhiều người Ki tô giáo hơn,
thế thì Ki tô giáo có quyền lực hơn và giáo hoàng ở Vatican
trở nên mạnh hơn. Nếu người Hin du nhiều hơn về con số,
tất nhiên họ hơn về quyền lực.
Số lượng cho quyền lực. Cho nên Ki tô giáo muốn mọi
người là người Ki tô giáo, và người Mô ha mét giáo muốn
mọi người là người Mô ha mét giáo. Cách thức và phương
tiện của họ có thể khác nhau, nhưng nỗ lực và ham muốn
của họ là như nhau, ham muốn chính trị rất sâu xa – đó là
chính trị quyền lực. Thế thì một cách tự nhiên cãi lộn sẽ nảy
113
sinh. Chính trị là cãi lộn; nó không liên quan gì tới tôn giáo
cả.
Các tôn giáo nên có nhiều nhất có thể được. Và không
có vấn đề về bất kì xung đột nào: đấy là vấn đề về thích hay
không thích. Nếu tôi thích hoa hồng, bạn không cố gắng tới
và thuyết phục tôi rằng tôi nên thích cúc vạn thọ – bạn đơn
giản chấp nhận ý thích của tôi. Và nếu bạn thích cúc vạn thọ,
điều đó hoàn toàn được; không có vấn đề tranh luận, cãi cọ.
Chúng ta không cần đánh lẫn nhau – đánh thực hay bằng trí
tuệ. Tôi có thể để bạn với chọn lựa của bạn, và tôi không
cảm thấy bị xúc phạm bởi vì bạn thích cúc vạn thọ và tôi
không thích chúng.
Thích và không thích là chuyện cá nhân. Người này có
thể thích Bhagavadgita, người khác có thể thích Koran, ai đó
khác có thể thích Dhammapada – điều đó hoàn toàn được,
tuyệt đối được. Chúng ta nên chia sẻ lẫn nhau sở thích của
mình, nhưng chúng ta không nên cố gắng cải đạo người
khác, buộc người khác vào nhóm của chúng ta. Vâng, chia
sẻ bằng đủ mọi phương tiện, bởi vì chia sẻ chỉ ra tình yêu
của bạn. Nếu bạn đã tìm ra cội nguồn, chia sẻ đi! Nhưng
chia sẻ nên là từ tình yêu, không phải từ chính trị quyền lực.
Đấy không phải là thuyết phục người khác và lôi kéo anh ta
vào nhóm của bạn. Các tôn giáo đã làm những điều xấu xa
như vậy. Mọi người đã bị cải đạo bằng đầu lưỡi lê; mọi
người đã bị cải đạo bằng tiền bạc, bằng đút lót cho họ… bằng
bất kì phương tiện gì, đúng hay sai. Trở thành người Ki tô
giáo đi! Trở thành người Mô ha mét giáo đi! Trở thành
người Hindu đi! Chộp lấy ngày càng nhiều người để bạn trở
nên ngày càng mạnh hơn, và không cho phép bất kì ai khác
rời khỏi nhóm của bạn.
114
Con trai của Mulla Nasruddin hỏi anh ta, “Bố ơi, khi
một người Ki tô giáo trở thành người Mô ha mét giáo, bố gọi
người ấy là gì?”
Nasruddin mỉm cười và nói, “Người đó đã trở về nhận
biết của mình, người đó là con người của hiểu biết, của trí
huệ. Anh ta đã hiểu ra cái gì giả là giả và cái gì thật là thật.”
Đứa con lại hỏi, “Này bố, thế nếu người Mô ha mét giáo
trở thành người Ki tô giáo bố gọi người đó là gì?”
Nasruddin giận lắm và nói, “Nó là kẻ phản bội! Nó đã
phản bội. Nó là thằng ngu!”
Bây giờ, nếu người Ki tô giáo trở thành người Mô ha
mét giáo, người đó là người thông minh, người trí huệ; và
nếu người Mô ha mét giáo trở thành người Ki tô giáo người
đó là kẻ phản bội, ngu xuẩn. Và cùng tình huống này nếu
bạn hỏi người Ki tô giáo.
Một người Hindu trở thành người Ki tô giáo. Mọi người
Hindu đều chống lại anh ta, tự nhiên thôi – anh ta đã phản
bội họ! Nhưng người Ki tô giáo làm anh ta thành thánh
nhân. Sadhu Sunder Singh là tên anh ta. Họ gần như tôn thờ
anh ta dường như anh ta là hoá thân của Jesus, bởi vì anh ta
đã chứng minh cho chân lí của Ki tô giáo. Còn người Hindu?
– họ giận con người này đến mức họ muốn giết chết anh ta.
Và có mọi khả năng là họ đã giết chết anh ta, bởi vì một hôm
anh ta bỗng nhiên biến mất và kể từ đó thi thể anh ta không
tìm thấy đâu cả. Điều gì đã xảy ra cho Sadhu Sunder Singh,
đấy vẫn còn là bí ẩn.
Tôi biết một người đã từng là người Hindu và đã trở
thành người Jaina. Người Hindu chống lại ông ta ghê lắm,
cũng là tự nhiên, hiển nhiên. Họ cố gắng theo đủ mọi cách
115
để tiêu diệt con người này, nhưng người đó trở thành vị
thánh Jaina nổi tiếng. Ganesh Varni là tên ông ta. Ông ta
đánh bại mọi vị thánh Jaina khác; ông ta đạt tới đỉnh cao
nhất. Phẩm chất thực của ông ta là gì? Tại sao ông ta đã đạt
tới đỉnh cao nhất đó? bởi vì về cơ bản ông ấy là người Hindu
và đã trở thành người Jaina. “Ông ấy đã chứng minh rằng
đạo Jaina cao xa hơn nhiều đạo Hindu; bằng không tại sao
con người này, một người khôn ngoan như vậy, lại tới nhóm
của chúng ta?”
Geetam, những tôn giáo này cãi lộn bởi vì họ không phải
là tôn giáo; họ đã trở thành ngày một chính trị hơn. Và khi
bạn cãi lộn, thế thì mọi thứ là đúng – trong tình yêu và chiến
tranh mọi thứ đều đúng.
Một người cơ đốc giáo đang cố gắng cải đạo một người
Do Thái và bảo anh ta rằng nếu anh ấy trở thành người cơ
đốc giáo lời cầu nguyện của anh ta chắc chắn sẽ được trả lời
– bởi vì ông linh mục sẽ trao chúng cho ông giám mục, ông
này sẽ trao chúng cho hồng y giáo chủ, ông này trao chúng
cho giáo hoàng, ông này sẽ đẩy chúng vào cõi trời qua một
lỗ hổng trên đỉnh Vatican, mà khớp với lỗ hổng dưới sàn của
cõi trời, nơi Thánh Peter sẽ đưa chúng tới Đức Mẹ đồng
trinh, người sẽ nói giùm nhân danh họ với Jesus, Jesus sẽ nói
lời tốt lành về chúng cho Thượng đế.
Người Do Thái lặp lại toàn bộ hành trình này với vẻ
sững sờ, kết thúc, “Ông biết điều đó phải đúng chứ, bởi vì
tôi bao giờ cũng tự hỏi họ làm gì với tất cả cứt trên cõi trời.
Họ phải vứt nó qua cái lỗ nhỏ đó ở Vatican, nơi giáo hoàng
lại đưa nó cho hồng y giáo chủ, ông này đưa nó cho giám
mục, ông này đưa nó cho linh mục, ông này đưa nó cho ông
– và ông đang cố trao tay nó cho tôi có phải không?”
116
Tôn giáo là tốt – cần nhiều hơn nữa – nhưng tôn giáo cãi
lộn không phải là tôn giáo. Chính thái độ cãi lộn làm cho họ
thành chính trị. Và tu sĩ và chính khách đã trong cùng một
mưu đồ rất tinh vi qua nhiều thời đại – bởi vì chính khách có
thể chi phối mọi người qua tu sĩ rất dễ dàng. Tu sĩ sở hữu
linh hồn mọi người và chính khách sở hữu thân thể của mọi
người. Cả hai đều là kẻ áp bức, bóc lột. Cả hai đều trong
cùng việc kinh doanh, cả hai đều là đối tác. Cả hai có thể
giúp lẫn nhau. Chính khách có thể giúp tu sĩ bởi vì ông ta có
quyền lực tạm thời, và tu sĩ có thể giúp chính khách bởi vì
mọi người nghe ông ta, tôn thờ ông ta, coi lời ông ta là
thiêng liêng.
Bạn có biết không, Phật giáo đã không trở thành tôn giáo
lớn bởi vì Phật; nó đã trở thành tôn giáo lớn bởi vì hoàng đế
Ashoka. Không phải bởi vì Phật mà hàng triệu người trở
thành phật tử, không. Trong khi Phật còn sống, chỉ có vài,
một vài người được chọn lựa là đủ dũng cảm để bước đi với
ông ấy trong ánh sáng của ông ấy, giao cảm với ông ấy. Và
họ dũng cảm thật – bởi vì họ phải chịu đựng, họ phải chịu
đựng nhiều chế giễu, đối lập, bởi vì nhà thờ Hindu đã thiết
lập chống lại con người Phật này.
Phật giáo trở thành tôn giáo thế giới không phải bởi vì
Phật mà bởi vì hoàng đế Ashoka. Khi các tu sĩ Phật giáo
nắm tay hoàng đế Ashoka, thế thì tôn giáo này trở thành tôn
giáo thế giới. Toàn thể châu Á đã được chuyển đạo. Bây giờ
các tu sĩ sẽ giúp Ashoka duy trì quyền lực của ông ấy, và
Ashoka sẽ giúp cho các tu sĩ trở nên ngày càng mạnh hơn.
Ki tô giáo đã trở thành tôn giáo thế giới không phải bởi
vì Jesus. Jesus rất một mình – chỉ vài đệ tử, mười hai đệ tử,
và vài trăm người thông cảm, có vậy thôi. Và ngay cả những
đệ tử này đã biến mất khi Jesus bị đóng đinh, và những
người thông cảm đơn giản quên ông ấy; họ thôi nói về con
117
người này bởi vì điều đó là nguy hiểm ngay cả việc biểu lộ
sự thông cảm.
Tương truyền rằng những người đã thông cảm với Jesus
đã tới để nhổ vào mặt ông ấy trong khi ông ấy sắp chết để
chỉ cho mọi người, “Chúng tôi chống lại, chúng tôi không
ủng hộ ông ta.” Để chứng minh cho mọi người… bởi vì
người này sắp chết – bây giờ họ sẽ bị rắc rối. Họ phải sống,
họ vẫn phải sống. Họ phải đưa ra bằng chứng nào đó rằng họ
chống lại người này.
Họ phủ nhận Jesus trong khi ông ấy sắp chết. Họ ném
bùn, đá, họ nhổ vào mặt ông ấy, chỉ để chỉ ra cho đám đông,
“Thấy chưa, thế không đủ bằng chứng rằng những lời đồn
đại mà các vị đã nghe rằng chúng tôi là người có cảm tình là
tuyệt đối sai sao, là không có căn cứ sao? Chúng tôi chống
lại ông ta cũng như các vị vậy – thực ra, chúng tôi chống ông
ta nhiều hơn các vị nữa.”
Kẻ thù không khạc nhổ vào ông ấy nhưng bạn khạc nhổ.
Jesus trở thành một lực lượng thế giới không phải bởi bản
thân ông ấy mà chỉ khi các hoàng đế La Mã và các linh mục
Ki tô giáo nắm tay nhau. Bây giờ, điều này là sự mỉa mai.
Jesus đã bị hoàng đế La Mã đóng đinh – xem cách thức lịch
sử chuyển vận! Pontius Pilate chỉ là đại diện của quyền lực
La Mã, của hoàng đế La Mã; ông ta đơn giản tuân theo mệnh
lệnh từ Rome. Ai đã nghĩ được rằng Rome sẽ trở thành vị trí
trung tâm của Ki tô giáo? Ai đã nghĩ được trong khi Jesus bị
đóng đinh rằng Rome sẽ là nơi thường trú của giáo hoàng?
Nhưng đó là cách thức sự việc xảy ra. Khi các linh mục nắm
tay Hoàng đế Constantine và các hoàng đế La Mã khác, Ki
tô giáo trở thành lực lượng thế giới.
Ki tô giáo, Phật giáo, Hindu giáo, Jaina giáo – tất cả họ
đều phụ thuộc vào chính trị. Họ không phải là tôn giáo thực
118
chút nào mà là trò chơi chính trị được chơi nhân danh tôn
giáo.
Tôi muốn thế giới này có nhiều tôn giáo hơn, nhiều đến
mức mỗi cá nhân có tôn giáo riêng của mình – thế thì sẽ
không tu sĩ nào được cần nữa. Đó là cách duy nhất để vứt bỏ
các tu sĩ. Nếu bạn có tôn giáo riêng của mình, không tu sĩ
nào được cần – bạn là tu sĩ và bạn là tín đồ và bạn là mọi thứ.
Bạn phải lắng nghe tiếng nói bên trong của bạn. Phật
nói: Tuân theo bản tính riêng của ông; không cần bất kì ai
xin giùm nhân danh bạn.
Nhưng tôi không thiên về việc tạo ra một tôn giáo; đủ
điều vô nghĩa đó rồi! Trong quá khứ chúng ta đã cố gắng
làm điều đó: làm ra một tôn giáo để cho việc cãi lộn có thể
chấm dứt. Nhưng điều đó là không thể được. Cho dù bạn có
thể áp đặt một tôn giáo, nếu toàn thế giới trở thành Ki tô
giáo, thế thì lại sẽ có Tin lành và Cơ đốc giáo và cả nghìn lẻ
một giáo phái. Và cùng trò chơi sẽ bắt đầu: mọi người sẽ bắt
đầu cãi lộn – bởi vì nhu cầu của họ là khác, hiểu biết của họ
là khác.
Tôi đã nghe:
Một phụ nữ trẻ đẹp từ London về nhà. Cô ấy ở một làng
nhỏ, xuất thân từ một gia đình cơ đốc giáo. Sau ba hay bốn
năm sống ở London cô ấy trở nên rất giầu; cô ấy trở về gặp
bố mẹ. Người mẹ không thể nào tin vào mắt mình. Bà ấy
hỏi, “Con xoay xở thế nào vậy? Con trở nên giầu thế – quần
áo đẹp thế, vòng kim cương, ô tô đẹp!”
119
Và cô gái trả lời, “Mẹ ạ, con đã trở thành gái mãi dâm*.”
Vừa mới nghe thấy điều này bà mẹ ngất xỉu, mất ý thức.
Khi bà ấy tỉnh dậy bà ấy hỏi lại, “Con vừa nói gì?”
Người con gái nói, “Mẹ ạ, con nói con đã trở thành gái
mãi dâm.”
Và bà mẹ bắt đầu cười và bà ấy nói, “Mẹ hiểu lầm con –
mẹ cứ nghĩ con nói con đã trở thành người theo Tin lành.”
Thành gái mãi dâm là được, nhưng trở thành người Tin
lành… ? Cùng chuyện cãi lộn sẽ bắt đầu. Ngay cả những tôn
giáo nhỏ – chẳng hạn, Jaina giáo, một trong những tôn giáo
nhỏ nhất trên thế giới – có biết bao nhiêu giáo phái, giáo phái
bên trong giáo phái. Thực ra, chúng ta còn chưa trở nên nhận
biết về sự cần thiết lớn lao rằng mỗi cá nhân cần có một
phiên bản riêng của mình về Thượng đế, và mỗi cá nhân có
con đường riêng của mình để tiếp cận Thượng đế.
Một người được một gái mãi dâm đón trong quán rượu,
lấy làm ngạc nhiên bởi cờ hiệu trường đại học và chứng chỉ
trang trí trên tường của phòng cô ấy.
“Đây là chứng chỉ của cô ư?” anh ta hỏi.
“Hẳn rồi,” cô ấy nói một cách vui vẻ. “Tôi có bằng thạc
sĩ nghệ thuật tại trường Columbia, và tôi đã lấy bằng tiến sĩ
về Shakespeare tại Oxford.”
Người này ngờ vực. “Nhưng làm sao một cô gái như cô
đi làm cái nghề như thế này?”
* Trong tiếng Anh gái mãi dâm – prostitude phát âm gần giống với
người Tin lành – Prorestant.
120
“Tôi không biết,” cô ấy nói. “Chỉ may, tôi đoán.”
Mọi người có hiểu biết khác nhau, các cách khác nhau
để nhìn vào mọi thứ, các cách diễn giải khác nhau. Và họ
phải được phép có tự do này.

Dhammapada

CON ĐƯỜNG CỦA PHẬT

¨

ĐÂY LÀ CON ĐƯỜNG

ĐI TỚI CHÂN LÍ TỐI THƯỢNG

Tập 1 ( tiếp theo )

Câu hỏi :

Thưa Thầy kính yêu,

Tôi cảm thấy rằng tôi là người rất đặc biệt. Tôi đặc biệt

đến mức tôi muốn chỉ là người bình thường. Xin thầy nói

đôi điều về điều này?

Anand Sangito, mọi người ở đây đều nghĩ hệt như vậy

đấy. Và cũng không chỉ ở đây đâu, mà ở mọi nơi khác nữa.

Mọi người sâu trong tim họ đều biết rằng mình là đặc biệt.

Đây là trò đùa Thượng đế chơi trên mọi người. Khi ngài làm

ra một người mới và đẩy người đó xuống trái đất, ngài thì

thào vào tai người đó, “Con là đặc biệt. Con là vô song, con

là duy nhất!”

Nhưng điều này ngài cứ làm cho mọi người và mọi

người cứ mang nó sâu trong tim, mặc dầu mọi người không

nói to điều đó như bạn đang làm, bởi vì họ sợ người khác có

thể cảm thấy khó chịu. Và không ai sẽ bị thuyết phục về điều

ấy, cho nên phỏng có ích gì mà nói nó ra? Nếu bạn bảo ai

đó, “Tôi là người đặc biệt,” bạn không thể nào thuyết phục

được người đó bởi vì bản thân người đó biết rằng người đó

là đặc biệt. Làm sao bạn có thể thuyết phục được bất kì ai?

126

Vâng, có thể đôi khi ai đó được thuyết phục, ít nhất giả vờ

được thuyết phục. Nếu người đó có việc gì đó cần làm với

bạn, như việc hối lộ người đó có thể nói, “Vâng, anh thật là

đặc biệt, anh thật là vĩ đại.” Nhưng sâu bên dưới người đó

biết kinh doanh vẫn cứ là kinh doanh thôi.

Một kẻ ba hoa đang kể cho bạn anh ta về ba chiếc xe của

anh ta, vân vân và vân vân. Khi anh ta cũng nhắc rằng anh ta

có hai chiếc đang được để ở nhà các tình nhân ở New York,

nhưng anh ta cũng muốn nói rằng anh ta đã làm cho cô thư

kí riêng đẹp mê hồn và đam mê khủng khiếp có mang, và do

đó phải đem cô viết tốc kí tóc vàng tuyệt trần đi cùng mình

trong chuyến đi kinh doanh tới Rio de Janeiro để xem vũ hội

hoá trang, người nghe bỗng nhiên bắt đầu thở hổn hển, nắm

lấy ca vát của mình, và bị đau tim.

Kẻ ba hoa ngừng câu chuyện, lấy nước, vỗ vào lưng nạn

nhân, vân vân và vân vân, và anh ta hỏi một cách rất lo lắng

chuyện gì xảy ra. “Tôi có thể giúp gì không?” người này hổn

hển. “Tôi bị dị ứng với chuyện nhảm nhí.”

Tốt hơn cả là giữ những chuyện nhảm nhí như vậy sâu

kín bên trong bạn, bởi vì mọi người đều dị ứng cả. Nhưng

theo một cách nào đó cũng tốt là bạn đã phơi bầy tâm trí

mình.

Nếu bạn nghĩ bạn là đặc biệt thế thì bạn nhất định tạo ra

khổ cho bản thân bạn. Nếu bạn nghĩ rằng bạn cao hơn người

khác, khôn hơn người khác, thế thì bạn sẽ đạt tới bản ngã rất

mạnh. Và bản ngã là chất độc, chất độc thuần khiết. Và bạn

càng trở nên bản ngã hơn, nó càng gây tổn thương hơn, bởi

vì nó là vết thương. Bạn càng trở nên bản ngã hơn thì bạn

127

càng không thể bắc cầu được từ cuộc sống. Bạn rơi vào tách

biệt khỏi cuộc sống; bạn không còn trong luồng chảy của sự

tồn tại, bạn đã trở thành tảng đá trong dòng sông. Bạn đã trở

thành lạnh như băng, bạn đã mất mọi hơi ấm, mọi tình yêu.

Người đặc biệt không thể yêu được, bởi vì bạn sẽ tìm đâu ra

người đặc biệt khác?

Tôi đã nghe nói về một người vẫn không lấy vợ trong cả

đời mình, và khi người đó sắp chết, chín mươi tuổi, ai đó hỏi

ông ấy, “Ông vẫn không lấy vợ trong cả đời, nhưng ông

chưa bao giờ nói lí do là gì. Bây giờ ông sắp chết rồi, ít nhất

giải đáp cho tò mò của chúng tôi đi. Nếu có bí mật gì, bây

giờ ông có thể nói ra, bởi vì ông sắp chết; ông sẽ qua đời.

Cho dù bí mật có được mọi người biết tới, điều đó không thể

hại ông được.”

Người này nói, “Vâng, có một bí mật. Không phải là tôi

chống lại hôn nhân đâu, nhưng tôi đã tìm kiếm người đàn bà

hoàn hảo. Tôi cứ tìm và tìm mãi, và cả đời tôi trôi tuột qua.”

Người hỏi lại hỏi, “Nhưng trên trái đất to lớn này, có đến

hàng triệu người, một nửa là đàn bà, không lẽ ông không thể

tìn được một đàn bà hoàn hảo sao?”

Nước mắt lăn dài từ mắt người hấp hối. Ông ta nói,

“Vâng, tôi đã tìm ra một người.”

Người hỏi hoàn toàn bị sốc. Anh ta nói, “Thế thì điều gì

xảy ra? Sao ông lại không lấy vợ?”

Còn ông già nói, “Nhưng người đàn bà này đang đi tìm

người chồng hoàn hảo.”

128

Cuộc sống của bạn sẽ rất khó khăn nếu bạn sống với

những ý tưởng như vậy. Và vậy mà bản ngã thủ đoạn thế,

tinh ranh thế, nó có thể cho bạn, Sangito, dự án mới này:

“Mình đặc biệt thế, trở thành bình thường thôi.” Nhưng

trong cái bình thường của bạn, bạn sẽ biết bạn là người bình

thường phi thường nhất. Không ai bình thường hơn bạn! Nó

sẽ vẫn là cùng trò chơi thôi, được nguỵ trang lại.

Đó là điều mà cái gọi là người khiêm tốn của bạn cứ làm

mãi. Họ nói, “Tôi là người khiêm tốn nhất. Tôi chỉ là cát bụi

dưới chân bạn.” Nhưng họ không ngụ ý điều đó! Đừng nói,

“Vâng, tôi biết anh là vậy,” bằng không họ sẽ không bao giờ

tha thứ cho bạn đâu. Họ đang đợi bạn nói, “Anh là người

khiêm tốn nhất mà tôi đã từng gặp, anh là người ngoan đạo

nhất mà tôi đã từng gặp.” Thế thì họ sẽ được thoả mãn, bằng

lòng. Đấy là bản ngã ẩn sau tính khiêm tốn. Bạn không thể

nào vứt bỏ được bản ngã theo cách này.

Bạn hỏi, “Tôi cảm thấy rằng tôi là người rất đặc biệt. Tôi

đặc biệt đến mức tôi muốn chỉ là người bình thường. Xin

thầy nói đôi điều về điều này?”

Không ai là đặc biệt cả, hay, mọi người đều đặc biệt.

Không ai là bình thường, hay mọi người đều bình thường.

Bất kì điều gì bạn nghĩ về bản thân mình, xin nghĩ cùng điều

đó về mọi người khác, và vấn đề sẽ được giải quyết. Bạn có

thể chọn. Nếu bạn muốn dùng từ ‘đặc biệt’, bạn có thể nghĩ

bạn là đặc biệt – nhưng thế thì mọi người cũng đặc biệt.

Không chỉ mọi người, mà cả cây cối, chim chóc, con vật,

tảng đá – toàn thể sự tồn tại đều đặc biệt, bởi vì bạn bắt

nguồn từ sự tồn tại này và bạn sẽ tan biến trong sự tồn tại

này. Nhưng nếu bạn thích từ ‘bình thường’ – chính là từ hay

hơn, thảnh thơi hơn – thế thì biết rằng mọi người đều bình

thường. Thế thì toàn thể sự tồn tại là bình thường.

129

Một điều cần phải nhớ: bất kì điều gì bạn nghĩ về bản

thân mình, nghĩ cùng điều đó cho mọi người khác và bản

ngã sẽ biến mất. Bản ngã là ảo tưởng được tạo ra bởi việc

suy nghĩ về bản thân mình theo cách này và nghĩ về người

khác theo cách khác. Nó là suy nghĩ kép. Nếu bạn vứt bỏ suy

nghĩ kép, bản ngã chết theo cách riêng của nó.

133

Tỉnh thức là cuộc sống

Tỉnh thức là cách sống.
Kẻ ngu ngủ
dường như là đã chết,
Nhưng người chủ tỉnh thức
Và người đó sống mãi mãi.
Người đó quan sát.
Người đó trong vắt.
Người đó hạnh phúc làm sao!
Vì người đó thấy rằng tỉnh thức là cuộc sống.
Người đó hạnh phúc làm sao,
Đi theo con đường của người thức tỉnh.
Với kiên nhẫn lớn lao
Người đó thiền, tìm kiếm
Tự do và hạnh phúc.
Cho nên tỉnh thức, phản xạ, quan sát.
134
Làm việc với chăm chú và chú ý.
Sống theo cách này
Và ánh sáng sẽ lớn lên trong ông.
Bằng quan sát và làm việc
Người chủ làm cho bản thân mình thành hòn đảo
Mà ngập lụt không thể tràn lên được.

Một trong những điều quan trọng nhất cần được hiểu về

con người là ở chỗ con người ngủ. Ngay cả lúc người đó

nghĩ mình đang thức, người đó không thức. Thức của người

đó rất mong manh; thức của người đó nhỏ tí xíu thế, không

thành vấn đề chút nào. Thức của người đó chỉ là cái tên đẹp,

nhưng hoàn toàn trống rỗng.

Bạn ngủ ban đêm, bạn ngủ ban ngày; từ sinh tới tử bạn

cứ thay đổi hình mẫu ngủ, nhưng bạn chưa bao giờ thực sự

thức cả. Chỉ bằng việc mở mắt ra, đừng tự lừa mình rằng bạn

thức. Chừng nào con mắt bên trong còn chưa mở ra, chừng

nào bên trong bạn còn chưa tràn đầy ánh sáng, chừng nào

bạn chưa thể thấy bản thân mình, bạn là ai, đừng nghĩ rằng

bạn đang thức.

Đó là ảo tưởng lớn nhất con người đang sống trong đó.

Và một khi bạn chấp nhận rằng bạn đã thức, thế thì không có

vấn đề làm bất kì nỗ lực nào để thức.

Điều đầu tiên chìm sâu vào trong tim bạn là ở chỗ bạn

đang ngủ, hoàn toàn ngủ. Bạn đang mơ, ngày tới, ngày đi.

Bạn đang mơ đôi khi với mắt mở và đôi khi với mắt nhắm,

nhưng bạn đang mơ, bạn là giấc mơ. Bạn chưa là thực tại.

135

Và, tất nhiên, trong mơ bất kì điều gì bạn làm đều vô

nghĩa, bất kì điều gì bạn nghĩ đều không ích gì, bất kì điều gì

bạn phóng chiếu vẫn còn là một phần của giấc mơ của bạn

và không bao giờ cho phép bạn thấy cái đang hiện hữu. Do

đó sự nhấn mạnh của Phật… và không chỉ Phật Gautama mà

mọi chư phật đều nhấn mạnh chỉ một điều: Thức tỉnh! Liên

tục, hàng thế kỉ, toàn thể giáo huấn của họ có thể được hàm

chứa trong một lời: Thức tỉnh!

Và họ đã phát minh ra các phương pháp, chiến lược, họ

đã tạo ra hoàn cảnh và không gian, và trường năng lượng

trong đó bạn có thể bị choáng vào nhận biết. Vâng, chừng

nào bạn chưa bị choáng, rung chuyển tới chính nền tảng của

bạn, bạn sẽ không thức tỉnh đâu. Giấc ngủ đã lâu quá rồi, nó

đã đạt tới chính cốt lõi của bản thể bạn; bạn đã thấm đẫm

trong nó. Mỗi tế bào của thân thể bạn và từng thớ tâm trí bạn

đã trở nên đầy việc ngủ. Đấy không phải là hiện tượng nhỏ

đâu. Do đó nỗ lực lớn được cần tới để tỉnh táo, để chăm chú,

để quan sát, để trở thành nhân chứng.

Nếu trên một chủ đề mà mọi chư phật trên thế giới đều

đồng ý, đây là chủ đề này: rằng con người như người đó vậy

là đang ngủ, và con người như người đó đáng phải vậy thì

phải thức tỉnh. Thức tỉnh là mục đích, và thức tỉnh là hương

vị của mọi giáo huấn của họ. Zarathustra, Lão Tử, Jesus,

Phật, Bahauddin, Kabir, Nanak – tất cả những người đã thức

tỉnh này đều đã thuyết giảng một chủ đề duy nhất, trong các

ngôn ngữ khác nhau, trong các biểu dụ khác nhau, nhưng bài

ca của họ là như nhau. Giống như vị mặn của biển – dù biển

được nếm ở phương bắc hay phương đông hay phương tây,

biển bao giờ cũng mang vị mặn – hương vị của phật tính là

tỉnh thức.

Nhưng bạn sẽ không nỗ lực gì nếu bạn cứ tin rằng bạn

đã thức tỉnh rồi; thế thì không có vấn đề làm nỗ lực nào cả.

136

Sao bận tâm? Và bạn đã tạo ra tôn giáo, thượng đế, lời cầu

nguyện, thánh lễ, từ giấc mơ của mình – thượng đế của bạn

là một phần của giấc mơ của bạn như bất kì cái gì khác.

Chính trị là một phần giấc mơ của bạn, tôn giáo là một phần

giấc mơ của bạn, thơ ca của bạn, bức tranh cảu bạn, nghệ

thuật của bạn – bất kì cái gì bạn làm, bởi vì bạn ngủ, bạn làm

nó tương ứng theo trạng thái tâm trí riêng của mình.

Kinh thánh nói Thượng đế đã tạo ra con người theo hình

ảnh riêng của ngài – chân lí dường như là điều đối lập lại:

con người đã tạo ra Thượng đế theo hình ảnh riêng của

mình. Thượng đế của bạn là giả bởi vì bạn giả. Tôn giáo của

bạn là giả bởi vì bạn giả. Kinh sách của bạn không thể có bất

kì ý nghĩa gì bởi vì bạn không có bất kì ý nghĩa gì.

Hai tu sĩ đang chơi gôn. Người trẻ hơn đánh trượt một

cú bóng dễ dàng và nói, “Cứt thật!” Người già hơn mắng mỏ

người đó về điều này, nói rằng nếu người đó cứ tiếp tục

dùng những từ tục tĩu như thế thì Thượng đế chắc chắn sẽ

làm nổ tung người đó bằng một cú sét. Họ lại chơi và anh tu

sĩ trẻ lại đánh trượt một cú nữa, và lại nói, “Cứt thật!”

Bầu trời đột nhiên toạc ra: một tia sét nhoáng lên, và

đánh chết viên tu sĩ già. Có một khoảng dừng, và tiếng nói

trên trời nghe được nói trong âm hưởng của tiếng sét: “Cứt

thật!”

Các thượng đế của bạn không thể khác bạn được. Ai sẽ

tạo ra họ? Ai sẽ cho họ hình dáng và mầu sắc và hình dạng?

Bạn tạo ra họ, bạn khắc hoạ họ; họ có mắt như bạn, mũi như

bạn – và tâm trí giống bạn! Thượng đế trong Cựu Ước nói,

“Ta là một Thượng đế rất ghen tị!” Bây giờ ai đã tạo ra

137

Thượng đế này mà ghen tị thế? Thượng đế không thể ghen

tị. Và nếu Thượng đế ghen tị, thế thì có gì sai trong việc

ghen tị nào? Cho dù Thượng đế ghen tị, tại sao bạn phải nghĩ

tới việc điều gì đó sai khi bạn ghen tị? Thế thì ghen tị là

thiêng liêng.

Thượng đế trong Cựu Ước nói, “Ta là một Thượng đế

rất giận dữ! Nếu ngươi không theo mệnh lệnh của ta, ta sẽ

tiêu diệt ngươi. Ngươi sẽ bị ném vào ngọn lửa địa ngục vĩnh

viễn. Và bởi vì ta rất ghen tị,” Thượng đế nói, “đừng tôn thờ

bất kì ai khác. Ta không thể dung thứ điều đó được.”

Ai đã tạo ra Thượng đế như vậy? Đấy phải là từ ghen tị

của riêng chúng ta, từ giận dữ của riêng chúng ta, mà chúng

ta đã tạo ra hình ảnh này.

Một người Do Thái mà từ lâu đã toàn gặp vận rủi, đi vào

trong rừng và cất lên lời cầu nguyện và buộc tội. “Ôi,

Thượng đế,” người đó hỏi trời với giọng đầy nước mắt,

“Chẳng phải con đã làm những điều tốt cho người Do Thái

đấy sao? Chẳng phải con bao giờ cũng làm từ thiện đấy sao,

ngay cả với đám goyim đáng nguyền rủa này? Chẳng phải

con đã đem gia đình con vào khuôn phép đó sao? Không bao

giờ uống rượu, chửi thề, ăn trộm; không đàn bà xấu, không

cái gì cả! Sao ngài làm điều này với con hả Thượng đế? Tại

sao? Tại sao vậy?”

Một đám mây đen bỗng nhiên xuất hiện trên đầu, và một

giọng nói ghê gớm đáp lại, “Mi phá bĩnh ta.”

Thượng đế chắc chắn không thể nào khác bạn được. Đấy

là phóng chiếu của bạn, đấy là cái bóng của bạn. Nó vọng lại

bạn và không ai khác. Đó là lí do tại sao có nhiều thượng đế

138

trên thế giới này thế. Người Hindu có ý tưởng nào đó về

Thượng đế – ý tưởng Hindu – điều đó phản ánh tâm trí người

Hindu.

Nếu bạn quay lại với kinh sách Hindu, bạn sẽ ngạc

nhiên. Bạn sẽ không có khả năng tin được người Hindu đã

tạo ra những loại thượng đế nào – rất dâm dục. Ngoại tình là

rất phổ biến trong các thượng đế của người Hindu, và họ

không chỉ chơi trò chơi ngoại tình của họ trong thiên đường

Hindu, họ thậm chí không thể để trái đất một mình; họ tới cả

trái đất nữa, để hãm hiếp đàn bà, để quyến rũ đàn bà đơn

giản. Họ thậm chí không tha cho cả vợ của các nhà tiên tri

lớn. Và bởi vì họ có quyền năng vô hạn, họ có thể thậm chí

xuất hiện như người chồng, họ có thể trông như người

chồng. Và phụ nữ thì không có ý tưởng gì về ai đang ẩn sau

cái mẽ ngoài ấy cả.

Ai đã tạo ra những thượng đế này? – đấy phải là một tâm

trí rất dâm dục ở rất sâu.

Và cũng điều này là trường hợp cho mọi thượng đế khác

của mọi tôn giáo khác. Chính bởi vì điều này mà Phật không

hề nói tới Thượng đế. Ông ấy nói: Phỏng có ích gì mà nói về

Thượng đế cho những người đang ngủ? Họ sẽ nghe trong

giấc ngủ của họ. Họ sẽ mơ về bất kì điều gì được nói cho họ,

và họ sẽ tạo ra các thượng đế riêng của họ – điều hoàn toàn

giả, hoàn toàn bất lực, hoàn toàn vô nghĩa. Tốt hơn cả là

không có những thượng đế như vậy.

Đó là lí do tại sao Phật không quan tâm tới việc nói về

các thượng đế. Toàn bộ mối quan tâm của ông ấy là trong

việc đánh thức bạn.

139

Chuyện kể về một thầy chứng ngộ Phật giáo, người ngồi

bên cạnh con sông một tối nọ, tận hưởng tiếng nước chảy,

tiếng gió xào xạc qua cây… Một người tới và hỏi ông

ấy,”Xin thầy nói cho tôi chỉ một lời về điều tinh tuý của tôn

giáo thầy?”

Thầy vẫn im lặng, hoàn toàn im lặng, dường như ông ấy

không nghe thấy câu hỏi. Người hỏi nói, “Thầy điếc hay bị

làm sao không đấy?”

Thầy nói, “Ta đã nghe thấy câu hỏi của anh, và ta đã trả

lời nó rồi đấy! Im lặng là câu trả lời. Ta vẫn còn im lặng –

cái dừng đó, khoảng trống đó, là câu trả lời của ta.”

Người này nói, “Tôi không thể hiểu nổi câu trả lời bí ẩn

như vậy. Thầy không thể làm rõ ràng ra hơn một chút được

sao?”

Thế là thầy viết lên cát chữ “thiền,” trong dòng chữ nhỏ

dưới ngón tay. Người này nói, “Bây giờ tôi có thể đọc được.

Có tốt hơn lần đầu. Ít nhất tôi có một từ mà ngẫm nghĩ.

Nhưng thầy không thể làm điều đó rõ thêm chút nữa được

sao?”

Thầy viết lại “thiền.” Tất nhiên lần này ông ấy viết chữ

lớn hơn. Người này cảm thấy chút ít bối rối, phân vân, chạm

tự ái, giận dữ. Người đó nói, “Thầy lại viết thiền sao? Thầy

không thể làm rõ hơn chút nữa cho con được sao?”

Và thầy viết các chữ rất to, chữ hoa, “THIỀN.”

Người này nói, “Thầy dường như điên rồi.”

Thầy nói, “Ta đã đi xuống rất nhiều rồi. Câu trả lời thứ

nhất là câu trả lời đúng, câu thứ hai không đúng được như

thế, câu thứ ba còn sai hơn, câu thứ tư đã đi rất sai” – bởi vì

khi bạn viết “THIỀN” bằng chữ hoa, bạn đã làm ra thượng

đế từ đó rồi.

140

Đó là lí do tại sao từ ‘Thượng đế’ lại được viết hoa với

chữ ‘T’. Bất kì khi nào bạn muốn làm cho cái gì đó thành tối

cao, tối thượng, bạn viết nó bằng chữ hoa.

Thầy nói, “Ta đã phạm phải một tội lỗi.” Ông ấy xoá đi

tất cả những từ mình đã viết, và ông ấy nói, “Xin nghe câu

trả lời thứ nhất của ta – chỉ thế thì ta mới còn đúng.”

Im lặng là không gian trong đó người ta thức tỉnh, và

tâm trí ồn ào là không gian trong đó người ta vẫn còn ngủ.

Nếu tâm trí bạn liên tục huyên thuyên, bạn đang ngủ đấy.

Ngồi im lặng, nếu tâm trí biến mất và bạn có thể nghe thấy

tiếng chim huyên thuyên và không có tâm trí bên trong, im

lặng… tiếng chim hót, tiếng líu lo, và không có vận hành của

tâm trí trong đầu bạn, hoàn toàn im lặng… thế thì nhận biết

trào lên trong bạn. Nó không tới từ bên ngoài, nó nảy sinh từ

bạn, nó lớn lên từ bạn. Bằng không nhớ lấy: bạn đang ngủ.

Chồng và vợ cùng ngủ. Khoảng 3 giờ sáng cô vợ mơ

việc gặp gỡ bí mật với một người khác. Thế rồi cô ấy mơ

thấy chồng mình tới.

Trong giấc ngủ cô ấy hét inh tai, “Trời đất, chồng em!”

Chồng cô ta, đột nhiên tỉnh dậy, nhảy phốc qua cửa sổ.

Và nhớ lấy, đấy không phải là chuyện cười đâu, đấy là

thực tại, đấy là cách bạn đang sống. Đấy là cách con người

đang tồn tại trong trạng thái bình thường của mình.

141

Một cô vợ cố gắng chiếm lại tình yêu của chồng, theo lời

khuyên của một cô bạn, bằng cách đem đến cho anh ta đôi

dép lê và tẩu thuốc khi anh ta về nhà muộn trong đêm, đưa

cho anh ta một li nước, dụi mình trong lòng anh ta, chỉ mặc

mỗi bộ áo dài mỏng bằng lụa, và kết thúc với lời đề nghị thì

thầm, “Đi lên gác đi anh yêu!”

“Cũng được,” anh chồng sửng sốt nói, “Đằng nào anh

cũng gặp địa ngục khi anh về nhà!”

Chúng ta cứ sống tuyệt đối không để ý tới về điều đang

xảy ra quanh mình. Vậy mà chúng ta đã trở nên rất hiệu quả

trong việc làm mọi thứ. Điều chúng ta làm, chúng ta trở nên

hiệu quả trong việc làm đến mức chúng ta không cần nhận

biết nào để làm nó. Điều đó trở thành máy móc, tự động.

Chúng ta vận hành như người máy. Chúng ta chưa là người;

chúng ta là máy.

Đó là điều mà George Gurdjieff hay nói đi nói lại, rằng

con người như người đó đang tồn tại là cái máy. Ông ấy làm

nhiều người khó chịu, bởi vì không ai thích bị gọi là máy cả.

Máy thích được gọi là thượng đế; thế thì họ cảm thấy rất

sung sướng, được thổi phồng. Gurdjieff thường gọi mọi

người là máy, và ông ấy đúng. Nếu bạn quan sát bản thân

mình, bạn sẽ biết bạn hành xử máy móc như thế nào.

Nhà tâm lí học người Nga Pavlov, và nhà tâm lí học

người Mĩ Skinner đúng đến chín mươi chín phẩy chín phần

trăm về con người: họ tin rằng con người là cỗ máy đẹp, có

vậy thôi. Không có linh hồn trong con người. Tôi nói chín

mươi chín phẩy chín phần trăm họ đúng; họ chỉ lỡ bởi một lề

rất nhỏ. Trong lề nhỏ đó là chư phật, những người đã thức

tỉnh. Nhưng họ có thể được tha thứ, bởi vì Pavlov chưa bao

142

giờ bắt gặp vị phật nào – ông ấy đã bắt gặp hàng triệu người

như bạn.

Skinner đã nghiên cứu về người và chuột và thấy chẳng

khác biệt gì. Chuột là người đơn giản, có vậy thôi; người có

chút ít phức tạp hơn. Người là máy tinh vi cao, chuột là máy

đơn giản. Nghiên cứu chuột dễ dàng hơn; đó là lí do tại sao

các nhà tâm lí cứ đi nghiên cứu chuột. Họ nghiên cứu chuột

và họ kết luận về người – và kết luận của họ gần đúng hết.

Tôi nói “gần,” lưu ý vào, bởi vì điểm một phần trăm đó là

hiện tượng quan trọng nhất đã từng xảy ra: một Phật, một

Jesus, một Mohammed. Một vài người thức tỉnh đó là những

người thực, nhưng B. F. Skinner có thể tìm đâu ra vị phật?

Chắc chắn không ở Mĩ.

Tôi đã nghe:

Một người hỏi giáo sĩ, “Tại sao Jesus không chọn được

sinh ra trong thế kỉ hai mươi ở nước Mĩ?”

Giáo sĩ nhún vai và nói, “Tại Mĩ sao? Điều ấy sẽ không

thể được. Trước hết ông tìm đâu ra người đồng trinh? Và thứ

hai là ông tìm đâu ra ba người trí huệ?”

Và không có mẹ đồng trinh và ba người trí huệ, làm sao

Jesus có thể được sinh ra?

Tôi đã nghe:

Trong một nhà thờ, ông linh mục yêu cầu những người

nghe, “Xin mời tất cả đàn bà nào còn trinh đứng dậy!”

143

Chỉ một người đàn bà với đứa con gái nhỏ đứng dậy.

Chắc chắn là chị ta là người mẹ, và ông linh mục nói, “Chị

nghĩ bản thân chị còn trinh không? Chị là mẹ!”

Cô ta nói, “Vâng, tôi là mẹ thật – nhưng đứa con gái này

còn trinh, mà nó thì lại không thể đứng được trên chân của

nó.”

  1. F. Skinner sẽ tìm thấy vị phật ở đâu? Và cho dù ông

ta có thể tìm thấy vị phật, các định kiến, các ý tưởng có sẵn

của ông ấy sẽ không cho phép ông ấy thấy. Ông ấy sẽ cứ

thấy chuột thôi. Ông ấy không thể nào hiểu bất kì cái gì mà

chuột không thể làm được. Bây giờ, chuột không thiền,

chuột không trở nên chứng ngộ. Và quan niệm của ông ấy về

người chỉ là dạng chuột được khuếch đại lên. Và tôi vẫn nói

rằng ông ấy là đúng đối với số lớn mọi người; kết luận của

ông ấy không sai. Và chư phật sẽ đồng ý với ông ấy về cái

gọi là nhân loại thông thường này: nhân loại thông thường

hoàn toàn ngủ. Thậm chí con vật không ngủ đến thế.

Bạn đã bao giờ thấy con hươu trong rừng chưa – nó

trông tỉnh táo làm sao, nó bước đi thận trọng làm sao? Bạn

đã bao giờ thấy con chim đậu trên cây chưa – nó cứ quan sát

một cách thông minh làm sao mọi điều đang xảy ra khắp

xung quanh? Bạn đi về phía con chim – có một khoảng cách

nào đó nó cho phép; vượt ra ngoài khoảng cách đó, thêm

một bước nữa, và nó bay mất. Nó có tỉnh táo nào đó về lãnh

thổ của nó. Nếu ai đó đi vào trong lãnh thổ đó, thế thì điều

đó là nguy hiểm.

Nếu bạn nhìn xung quanh bạn sẽ ngạc nhiên: con người

dường như là con vật ngủ nhiều nhất trên trái đất này.

144

Một người phụ nữ mua một con vẹt tại một cuộc bán đấu

giá đồ đạc của nhà thổ, và để lồng vẹt được che kín trong hai

tuần để làm cho nó quên đi vốn từ tục tĩu. Khi cái lồng cuối

cùng được mở ra, con vẹt nhìn quanh và nhận xét, “A óc!

Nhà mới. Bà mới.” Khi con gái bà ta về nhà, nói nói thêm,

“A óc! Gái mới.”

Khi chồng bà ta về nhà đêm đó, con vẹt nói, “A óc! A

óc! Cùng ông khách cũ. Chào, Joe!”

Con người ở trong trạng thái rất sa ngã. Thực ra, đó là

nghĩa của chuyện ngụ ngôn Ki tô giáo về sa ngã của Adam,

việc anh ta bị đuổi ra. Nhưng tại sao Adam và Eve bị đuổi ra

khỏi thiên đường? Họ đã bị đuổi ra bởi vì họ đã ăn quả tri

thức. Họ đã bị đuổi ra bởi vì họ đã trở thành tâm trí, và họ đã

đánh mất tâm thức của họ. Nếu bạn trở thành tâm trí bạn

đánh mất tâm thức – tâm trí có nghĩa là ngủ, tâm trí có nghĩa

là ồn ào, tâm trí có nghĩa là máy móc.

Nếu bạn trở thành tâm trí bạn mất tâm thức. Do đó, toàn

thể công việc phải được làm là: làm sao lại trở thành tâm

thức và làm mất tâm trí. Bạn phải vứt hệ thống tất cả những

thứ mà bạn đã thu thập như là tri thức. Chính tri thức đang

giữ bạn ngủ; do đó, người càng nhiều tri thức, càng ngủ

nhiều.

Điều đó cũng đã là quan sát của tôi nữa. Dân làng hồn

nhiên tỉnh táo và thức tỉnh hơn nhiều so với giáo sư đại học

và các bác học trong đền đài. Các bác học không là gì ngoài

những con vẹt; các viện sĩ hàn lâm trong đại học đầy những

cái không có gì ngoài phân bò linh thiêng, đầy những ồn ào

tuyệt đối vô nghĩa – chỉ tâm trí mà không tâm thức.

145

Những người làm việc với tự nhiên – nông dân, người

làm vườn, tiều phu, thợ mộc, hoạ sĩ – họ tỉnh táo hơn nhiều

so với những người làm việc trong các đại học như chủ

nhiệm khoa, phó hiệu trưởng, hiệu trưởng. Bởi vì khi bạn

làm việc với tự nhiên, tự nhiên là tỉnh táo, cây cối tỉnh táo;

hình dạng tỉnh táo của chúng chắc chắn là khác, nhưng

chúng rất tỉnh táo.

Bây giờ có những bằng chứng khoa học về sự tỉnh táo

của chúng. Nếu người chặt cây tới với cái cưa trong tay và

với ham muốn có chủ tâm để chặt cây, mọi cây thấy người

đó tới đều run rẩy. Bây giờ có những bằng chứng khoa học

về điều đó; tôi không nói chuyện thơ ca, tôi đang nói khoa

học khi tôi nói điều này. Bây giờ có các công cụ để đo liệu

cây hạnh phúc hay bất hạnh, sợ hãi hay không sợ hãi, buồn

hay cực lạc. Khi người chặt cây tới, mọi cây cối thấy người

đó bắt đầu run rẩy. Chúng trở nên nhận biết rằng cái chết là

cận kề. Và người chặt cây vẫn chưa chặt cây nào – mới chỉ đi

tới…

Và một điều nữa, kì lạ hơn nhiều: nếu người chặt cây

đơn giản đi qua đó không có ý đồ chủ tâm nào để chặt cây,

thế thì không cây nào trở nên sợ. Vẫn cùng người chặt cây

đó, với cùng cái cưa đó. Dường như là ý định chặt cây của

người đó ảnh hưởng tới cây cối. Điều đó nghĩa là ý định của

người đó đã được hiểu; nó nghĩa là chính rung động này

được cây cối giải mã.

Và một sự kiện có ý nghĩa hơn đã được quan sát về mặt

khoa học: là nếu bạn đi vào trong rừng và giết loài vật,

không chỉ vương quốc loài vật quanh đó trở nên run rẩy, mà

cây cối cũng run rẩy. Nếu bạn giết một con hươu, mọi con

hươu quanh đó đều cảm thấy rung động của việc giết hại, trở

nên buồn; run rẩy lớn nảy sinh trong chúng. Đột nhiên chúng

sợ không bởi lí do đặc biệt nào cả. Chúng có thể không thấy

146

con hươu bị giết, nhưng bằng cách nào đó, theo cách tinh tế,

chúng bị ảnh hưởng – theo bản năng, theo trực giác. Nhưng

không chỉ hươu bị ảnh hưởng – cây cối bị ảnh hưởng, vẹt bị

ảnh hưởng, hổ bị ảnh hưởng, đại bàng bị ảnh hưởng, nhành

cỏ bị ảnh hưởng. Sát hại đã xảy ra, tàn phá đã xảy ra, cái

chết đã xảy ra – mọi thứ xung quanh bị ảnh hưởng.

Con người dường như là loài ngủ nhiều nhất…

Những lời kinh này của Phật cần phải được suy ngẫm

sâu sắc, được thấm đẫm, được tuân theo.

Tỉnh thức là cách sống

Bạn sống chỉ theo tỉ lệ với điều bạn nhận biết. Nhận biết

là khác biệt giữa chết và sống. Bạn không sống chỉ bởi vì

bạn đang thở, bạn không sống chỉ bởi vì tim bạn đang đập.

Về mặt vật lí bạn có thể được giữ cho sống trong bệnh viện,

mà không có ý thức nào. Tim bạn sẽ tiếp tục đập và bạn sẽ

có khả năng thở. Bạn có thể được giữ trong một cách bố trí

cơ giới mà bạn có thể sống trong nhiều năm – theo nghĩa của

thở và tim đập, máu tuần hoàn. Bây giờ có nhiều người khắp

thế giới ở các nước tiên tiến, người sống một cách thực vật

trong bệnh viện, bởi vì công nghệ tiên tiến đã làm cho cái

chết của bạn được trì hoãn vô thời hạn – trong nhiều năm,

nhiều thế kỉ, bạn có thể được giữ vẫn sống. Nếu đấy là cuộc

sống, thế thì bạn có thể được giữ cho sống. Nhưng đây

không phải là sống chút nào. Chỉ sống thực vật không phải

là sống.

Chư phật có định nghĩa khác. Định nghĩa của họ bao

gồm nhận biết. Họ không nói bạn sống bởi vì bạn có thể thở,

họ không nó bạn sống bởi vì máu bạn vẫn đang tuần hoàn;

họ nói bạn sống nếu bạn thức tỉnh. Cho nên ngoại trừ những

147

người đã thức tỉnh, không ai thực sự sống cả. Các bạn là

những cái xác – bước đi, nói năng, làm mọi thứ – nhưng bạn

là người máy.

Tỉnh thức là cách sống, Phật nói. Trở nên tỉnh thức

nhiều hơn và bạn sẽ trở nên sống nhiều hơn. Và cuộc sống là

Thượng đế – không có Thượng đế nào khác. Do đó Phật nói

về cuộc sống và nhận biết. Cuộc sống là mục đích và nhận

biết là phương pháp luận, là kĩ thuật để đạt tới nó.

Kẻ ngu ngủ…

Và mọi người đều ngủ cả, cho nên tất cả đều ngu. Đừng

cảm thấy bị xúc phạm. Sự kiện phải được phát biểu ra như

chúng vậy. Bạn vận hành trong giấc ngủ; đó là lí do tại sao

bạn cứ lầm lỡ, bạn cứ làm những điều bạn không muốn làm.

Bạn cứ làm những điều bạn đã quyết định không làm. Bạn

cứ làm những điều bạn biết là không đúng để làm, và bạn

không làm những điều bạn biết là đúng.

Làm sao điều này là có thể được? Tại sao bạn không thể

bước ngay thẳng? Tại sao bạn cứ mắc vào đường cụt? Tại

sao bạn cứ đi lầm đường thế?

Một thanh niên có giọng tốt được mời tham dự vào vở

hoạt cảnh lịch sử, mặc dầu anh ta cứ cố nài xin được miễn,

nói anh ta bao giờ cũng bối rối trong những hoàn cảnh như

vậy. Anh ta được đảm bảo rằng sự việc rất đơn giản, và anh

ta chỉ phải nói có một dòng : “Tôi tới để đoạt lấy cái hôn, và

lao vào trong cuộc ẩu đả. Nghe đây! Tôi nghe thấy tiếng

súng lục bắn…” và rồi bước ra khỏi sân khấu.

148

Vào lúc biểu diễn, người đó lên sân khấu, rất bối rối bởi

cái quần ngắn bó sát mình mà người ta mới làm cho anh ta

để mặc vào khoảnh khắc cuối, và trở nên hoàn toàn rệu rã tại

cảnh người nữ anh hùng đẹp đẽ đang nằm dài trên ghế ngồi

trong vườn, đợi anh ta, trong bộ quần áo dài trắng. Anh ta

đằng hắng cổ và tuyên bố: “Tôi tới để hoạt lấy cái đôn – ấy

không! – đoạt lấy cái hôn, và đao vào cuộc ẩu lả – ấy tôi nói

lao vào cuộc ẩu đả! Nghe đây! tôi nghe thấy tiếng búng lục

sắn – không! – súng lục bắn. Ôi, cứt dơi, cứt chuột, cứt mọi

vị! Tôi không bao giờ muốn tham dự vào cái vở kịch đáng

nguyền rủa này bằng bất kì cách nào!”

Đây là điều đang xảy ra. Quan sát cuộc sống của bạn:

mọi thứ mà bạn đang làm bị lẫn lộn và đang lẫn lộn thế. Bạn

không có bất kì sáng tỏ nào, bạn không có bất kì cảm nhận

nào. Bạn không tỉnh táo. Bạn không thể thấy được! Bạn

không thể nghe được! Chắc chắn, bạn có tai cho nên bạn có

thể nghe, nhưng không có ai bên trong để hiểu điều đó. Chắc

chắn bạn có mắt cho nên bạn có thể nhìn, nhưng không có ai

hiện diện bên trong. Cho nên mắt bạn cứ nhìn và tai bạn cứ

nghe, nhưng không điều gì được hiểu cả.

Nếu bạn thực sự có mắt bạn sẽ thấy Thượng đế ở mọi

nơi. Và nếu bạn có thể nghe bạn sẽ nghe thấy âm nhạc tinh

tú, bạn sẽ nghe thấy hài hoà của sự tồn tại.

Và trên từng bước bạn sẩy chân, trên từng bước bạn

phạm phải điều gì đó sai. Và dầu vậy bạn cứ tin rằng bạn

nhận biết. Vứt bỏ ý tưởng đó hoàn toàn đi. Vứt bỏ nó là

bước nhảy lớn, bước đi lớn, bởi vì một khi bạn vứt bỏ ý

tưởng rằng “tôi nhận biết” bạn sẽ bắt đầu tìm và kiếm cách

thức và phương tiện để nhận biết. Cho nên điều đầu tiên cần

chìm vào trong bạn là ở chỗ bạn đang ngủ, hoàn toàn ngủ.

149

Tâm lí học hiện đại đã phát hiện ra vài điều có ý nghĩa;

mặc dầu người ta mới chỉ phát hiện ra về mặt trí tuệ, đấy vẫn

là việc mở đầu tốt đẹp. Nếu về mặt trí tuệ mà chúng đã được

phát hiện ra, thì sớm hay muộn chúng cũng sẽ được kinh

nghiệm về sự tồn tại.

Freud là người tiên phong vĩ đại; tất nhiên, không phải là

vị phật, nhưng vẫn là một người có ý nghĩa lớn, bởi vì ông

ấy là người đầu tiên đưa ra ý tưởng được phần lớn nhân loại

chấp nhận rằng con người có vô thức lớn ẩn bên trong mình.

Tâm trí có ý thức chỉ là một phần mười, và tâm trí vô ý thức

gấp chín lần lớn hơn phần có ý thức.

Thế rồi một đệ tử của ông ấy, Jung, đi xa thêm chút ít,

sâu hơn chút ít, và đã khám phá ra vô thức tập thể. Đằng sau

vô thức cá nhân có vô thức tập thể. Bây giờ ai đó được cần

để khám phá ra một điều nữa vẫn đang có đó, và tôi hi

vọng… Sớm hay muộn các cuộc nghiên cứu tâm lí đang tiếp

diễn, ở cả hai phía tấm màn sắt, nhất định sẽ khám phá ra nó

– vô thức vũ trụ. Phật đã nói về nó.

Cho nên chúng ta có thể nói: tâm trí có ý thức, một điều

rất mỏng manh, một phần rất nhỏ của bản thể bạn. Đằng sau

ý thức là tâm trí tiềm thức – mơ hồ. Bạn có thể nghe thấy

tiếng thì thào của nó nhưng bạn không thể hình dung ra nó

được. Nó bao giờ cũng có đó, đằng sau ý thức, giật dây.

Thứ ba: tâm trí vô thức cái bạn bắt gặp chỉ trong mơ hay

khi bạn dùng ma tuý. Thế rồi, tâm trí vô thức tập thể. Bạn

bắt gặp nó chỉ khi bạn đi vào truy tìm rất sâu trong tâm trí vô

thức của bạn; thế rồi bạn bắt gặp vô thức tập thể. Và nếu bạn

vẫn đi xa hơn nữa, sâu hơn nữa, bạn sẽ tới vô thức vũ trụ.

Vô thức vũ trụ là tự nhiên. Vô thức tập thể là toàn thể

nhân loại đã sống cho tới giờ, nó là một phần của bạn. Vô

thức này là vô thức cá nhân của bạn mà xã hội đã kìm nén

150

trong bạn, cái không được phép diễn đạt. Do đó nó tới theo

cửa sau trong đêm, trong mơ của bạn. Và tâm trí có ý thức…

Tôi sẽ gọi nó là cái gọi là tâm trí có ý thức bởi vì nó vẫn chỉ

được gọi như vậy. Nó quá nhỏ bé, chỉ là một đốm sáng lung

linh, nhưng cho dù nó chỉ là một đốm sáng lung linh nó là

quan trọng bởi vì nó có hạt mầm; hạt mầm bao giờ cũng

nhỏ. Nó có tiềm năng lớn.

Bây giờ một chiều hướng hoàn toàn mới đang mở ra.

Cũng như Freud đã mở ra chiều hướng dưới ý thức, Sri

Aurobindo đã mở ra chiều hướng trên ý thức. Freud và Sri

Aurobindo là hai người quan trọng nhất của thời đại này. Cả

hai đều là trí thức, không người nào là người đã thức tỉnh,

nhưng cả hai đã phục vụ được rất nhiều cho nhân loại. Về

mặt trí tuệ họ đã làm cho chúng ta nhận biết rằng chúng ta

không nhỏ bé thế như chúng ta dường như vậy trên bề mặt,

rằng bề mặt đang che giấu chiều sâu và chiều cao lớn.

Freud đi vào chiều sâu, Sri Aurobindo cố gắng thấm vào

chiều cao. Trên cái gọi là tâm trí có ý thức là tâm trí có ý

thức thực; điều đó được đạt tới chỉ qua thiền. Khi tâm trí có

thức bình thường của bạn được bổ sung thêm thiền, khi tâm

trí có ý thức bình thường của bạn được cộng với thiền, thì nó

trở thành tâm trí có ý thức thực. Bên ngoài tâm trí có ý thức

thực là tâm trí siêu ý thức.

Khi bạn thiền thì bạn có chỉ các thoáng nhìn. Thiền là dò

dẫm trong bóng tối. Vâng, vài cửa sổ sẽ mở ra, nhưng bạn cứ

rơi đi rơi lại mãi. Tâm thức siêu ý thức có nghĩa là samadhi –

bạn đã đạt tới cảm nhận trong như pha lê, bạn đã đạt tới

nhận biết tích hợp. Bây giờ bạn không thể rơi xuống thấp

hơn nó; nó là của bạn. Ngay cả trong giấc ngủ nó vẫn còn

với bạn.

151

Bên ngoài siêu ý thức là siêu ý thức tập thể; siêu ý thức

tập thể là cái được biết tới như “thần” trong các tôn giáo. Và

bên ngoài siêu ý thức tập thể là siêu ý thức vũ trụ cái thậm

chí vượt ra ngoài các thần. Phật gọi nó là niết bàn, Mahavira

gọi nó là kaivalya, các nhà huyền môn Hindu đã gọi nó là

moksha; bạn có thể gọi nó là chân lí.

Đấy là chín trạng thái của bản thể bạn, và bạn chỉ đang

sống trong một góc nhỏ của bản thể mình – tâm trí có ý thức

tí xíu; dường như ai đó có lâu đài và đã quên mất hoàn toàn

về lâu đài này và bắt đầu sống trong hành lang – và tưởng

đây là tất cả.

Freud và Sri Aurobindo cả hai đều là những người

khổng lồ trí tuệ, tiên phong, triết gia, nhưng cả hai đều làm

những phỏng đoán vĩ đại. Thay vì dạy cho sinh viên về triết

học của Bertrand Russell, Alfred North Whitehead, Martin

Heudegger, Jean-Paul Sartre, sẽ tốt hơn nhiều nếu mọi người

được dạy nhiều về Sri Aurobindo, bởi vì ông ấy là triết gia vĩ

đại nhất của thời đại này. Nhưng ông ấy đã hoàn toàn bị giới

hàn lâm quên lãng, bỏ qua – bởi những lí do nào đó.

Lí do là, cho dù việc đọc Sri Aurobindo có làm cho bạn

cảm thấy rằng bạn không nhận biết; và bản thân ông ấy

không là vị phật, nhưng dầu vậy ông ấy sẽ tạo ra tình huống

rất bối rối cho bạn. Nếu ông ấy đúng, thế thì bạn đang làm

gì? Thế thì sao bạn lại không thám hiểm các chiều cao của

bản thể bạn?

Freud đã được chấp nhận với sự chống cự lớn, nhưng

cuối cùng ông ấy đã được chấp nhận. Sri Aurobindo thậm

chí vẫn chưa được chấp nhận. Thực ra thậm chí không có

đối lập nào với ông ấy cả; ông ấy đơn giản bị bỏ qua. Và lí

do là rõ ràng. Freud nói về cái gì đó bên dưới bạn – cái đó

không gây bối rối lắm; bạn có thể cảm thấy thoải mái mà

152

biết rằng bạn có ý thức, và dưới ý thức của bạn còn có tiềm

thức và vô thức và vô thức tập thể. Nhưng những trạng thái

này là bên dưới bạn; bạn ở trên đỉnh, bạn có thể cảm thấy

thoải mái. Nhưng nếu bạn học Sri Aurobindo, bạn sẽ cảm

thấy bối rối, bị xúc phạm, bởi vì có những trạng thái cao hơn

bạn – bản ngã của con người không bao giờ muốn chấp nhận

rằng có bất kì cái gì cao hơn người đó. Con người muốn tin

rằng mình là đỉnh cao nhất, cực đỉnh, đỉnh Gourishanka,

đỉnh Everest – rằng không còn gì cao hơn người đó…

Đó là lí do tại sao con người hiện đại lại muốn phủ nhận

Thượng đế, bởi vì chấp nhận Thượng đế có nghĩa là bạn phải

chấp nhận cái gì đó cao hơn bạn. Và bản ngã hiện đại được

thổi phồng đến mức tâm trí hiện đại nói không có Thượng đế

và không có cõi bên kia và không có kiếp sống sau. Và

người ta cảm thấy rất thoải mái – với việc chối bỏ vương

quốc riêng của bạn, chối bỏ các đỉnh cao riêng của mình,

bạn cảm thấy rất thoải mái. Nhìn vào cái ngu xuẩn của nó

đi.

Phật là đúng. Ông ấy nói:

Kẻ ngu ngủ

dường như là đã chết,

Nhưng người chủ tỉnh thức

Và người đó sống mãi mãi.

Nhận biết là vĩnh hằng, nó không biết đến cái chết. Chỉ

vô nhận biết chết. Cho nên nếu bạn vẫn còn vô ý thức, ngủ,

bạn sẽ phải chết lần nữa. Nếu bạn muốn gạt bỏ toàn thể cái

khổ của việc sinh ra và chết đi lặp lại mãi, nếu bạn muốn gạt

bỏ bánh xe sinh tử, thì bạn sẽ phải trở thành tuyệt đối tỉnh

táo. Bạn sẽ phải đạt tới đỉnh cao hơn và cao hơn nữa trong

tâm thức.

153

Và những điều này không được chấp nhận trên nền tảng

trí tuệ; những điều này phải trở thành kinh nghiệm, những

điều này phải trở thành sự tồn tại. Tôi không bảo bạn phải bị

thuyết phục về mặt triết lí, bởi vì thuyết phục triết lí không

đem lại cái gì, không thu hoạch gì. Thu hoạch thực chỉ tới

khi bạn làm nỗ lực lớn để đánh thức bản thân mình.

Nhưng những bản đồ trí tuệ này có thể tạo ra ham muốn,

khao khát trong bạn; có thể làm cho bạn nhận biết về tiềm

năng, về khả năng; có thể làm cho bạn nhận biết rằng bạn

không phải là điều bạn dường như đang là – bạn hơn thế

nhiều lắm.

Kẻ ngu ngủ

dường như là đã chết,

Nhưng người chủ tỉnh thức

Và người đó sống mãi mãi.

Người đó quan sát.

Người đó trong vắt.

Những phát biểu đơn giản và đẹp. Chân lí bao giờ cũng

đơn giản và bao giờ cũng đẹp. Nhìn vào tính đơn giản của

hai phát biểu này… nhưng chúng hàm chứa nhiều làm sao –

thế giới trong thế giới, vô hạn thế giới. Người đó quan sát.

Người đó trong vắt.

Điều duy nhất cần phải được học là tính quan sát. Quan

sát đi! Quan sát từng hành động bạn làm. Quan sát từng ý

nghĩ thoáng qua trong tâm trí bạn. Quan sát mọi ham muốn,

cái chiếm sở hữu bạn. Quan sát ngay cả những cử chỉ nhỏ

nhặt nhất – bước, nói, ăn, tắm. Cứ quan sát mọi thứ. Để mọi

điều trở thành cơ hội cho quan sát.

154

Đừng ăn một cách máy móc, đừng cứ tọng thức ăn vào

bản thân bạn – rất quan sát. Nhai thật kĩ và quan sát… và bạn

sẽ ngạc nhiên là từ trước tới giờ bạn đã bỏ lỡ biết bao nhiêu

điều, bởi vì mỗi cái nhai sẽ cho bạn thoả mãn vô cùng; nếu

bạn ăn một cách có quan sát, nó sẽ trở nên ngon hơn. Ngay

cả thức ăn thông thường cũng ngon nếu bạn ăn có quan sát;

và nếu bạn không quan sát, bạn có thể ăn những thức ăn

ngon nhất nhưng sẽ không có vị ngon gì trong đó cả, bởi vì

không có ai quan sát. Bạn đơn giản cứ tọng các thứ vào bản

thân mình.

Ăn từ tốn, có quan sát; mỗi miếng đều phải được nhai,

nếm. Ngửi, chạm, cảm thấy cơn gió thoảng và tia sáng mặt

trời. Nhìn trăng và trở thành vũng nước im lặng của quan

sát, và trăng sẽ được phản chiếu trong bạn với cái đẹp vô

cùng. Đi trong đời vẫn còn quan sát liên tục.

Lần nọ lần kia bạn sẽ quên. Đừng trở nên khổ vì điều đó;

điều đó là tự nhiên. Trong hàng triệu kiếp sống bạn chưa bao

giờ thử quan sát, cho nên điều đơn giản, tự nhiên là bạn cứ

quên đi quên lại mãi. Nhưng khoảnh khắc bạn nhớ, lại quan

sát.

Nhớ một điều: khi bạn nhớ rằng bạn quên quan sát, đừng

trở nên hối hận, đừng ăn năn; bằng không, lần nữa bạn phí

thời gian. Đừng cảm thấy khổ: “Mình lại bỏ lỡ rồi.” Đừng

bắt đầu cảm thấy, “Mình là kẻ tội lỗi.” Đừng bắt đầu lên án

bản thân mình, bởi vì điều này cực kì phí thời gian. Đừng

bao giờ ăn năn về quá khứ! Sống trong khoảnh khắc này.

Nếu bạn đã quên, thì sao? Điều đó tự nhiên mà – điều đó đã

thành thói quen, và thói quen khó chết. Và đây không phải là

thói quen tiêm nhiễm trong một kiếp sống; đây là thói quen

đã tiêm nhiễm trong hàng triệu kiếp. Cho nên nếu bạn có thể

vẫn còn quan sát cho dù vài khoảnh khắc thôi, cảm thấy biết

155

ơn Thượng đế đi – cảm thấy cám ơn. Cho dù vài khoảnh

khắc đó còn nhiều hơn là được trông đợi.

Người đó quan sát. Người đó trong vắt.

Và khi bạn quan sát, sáng tỏ nảy sinh. Tại sao sáng tỏ

nảy sinh từ tính quan sát? Bởi vì bạn càng trở nên quan sát

hơn, mọi hấp tấp của bạn càng chậm lại hơn. Bạn trở thành

duyên dáng hơn. Khi bạn quan sát, tâm trí huyên thuyên của

bạn bớt huyên thuyên đi, bởi vì năng lượng đã dùng cho việc

huyên thuyên chuyển đi và trở thành việc quan sát – nó là

cùng năng lượng! Bây giờ ngày càng nhiều năng lượng sẽ

được biến đổi thành quan sát và tâm trí sẽ không được nuôi

dưỡng nữa. Các ý nghĩ sẽ bắt đầu loãng ra, chúng sẽ bắt đầu

mất sức nặng. Dần dần, dần dần chúng sẽ bắt đầu chết. Và

khi các ý nghĩ bắt đầu chết đi, sáng tỏ nảy sinh. Bây giờ tâm

trí bạn trở thành tấm gương.

Người đó hạnh phúc làm sao! Và khi người ta sáng tỏ,

người ta phúc lạc. Chính lẫn lộn là căn nguyên của khổ;

chính sáng tỏ là nền tảng của phúc lạc.

Người đó hạnh phúc làm sao!

Vì người đó thấy rằng tỉnh thức là cuộc sống.

Và bây giờ người đó biết không có cái chết, bởi vì tỉnh

thức không bao giờ có thể bị phá huỷ. Khi cái chết tới, bạn

sẽ quan sát nó nữa. Bạn sẽ chết trong khi quan sát; việc quan

sát sẽ không chết. Thân thể bạn sẽ biến mất, cát bụi trở về

với cát bụi, nhưng việc quan sát của bạn sẽ vẫn còn; nó sẽ

trở thành một phần của toàn thể vũ trụ. Nó sẽ trở thành tâm

thức vũ trụ.

156

Trong những khoảnh khắc này các nhà tiên tri của

Upanishad tuyên bố, “Aham Brahmasmi! – Ta là tâm thức vũ

trụ!” Chính trong không gian đó mà al-Hillaj Mansoor đã

công bố, “Ana’l Haq! – Ta là chân lí!”

Đây là những đỉnh cao chính là quyền tập ấn của bạn.

Nếu bạn không đạt được chúng, thì chỉ bạn là có trách nhiệm

chứ không người nào khác.

Người đó hạnh phúc làm sao!

Vì người đó thấy rằng tỉnh thức là cuộc sống

Người đó hạnh phúc làm sao,

Đi theo con đường của người thức tỉnh

Với kiên nhẫn lớn lao

Người đó thiền, tìm kiếm

Tự do và hạnh phúc.

Lắng nghe những lời này thật chăm chú: Với kiên nhẫn

lớn lao… Chừng nào bạn chưa đem toàn thể nỗ lực ra để

đánh thức bản thân mình điều đó sẽ không xảy ra đâu. Nỗ

lực bộ phận là vô tích sự. Bạn không thể chỉ làng nhàng, bạn

không thể chỉ hờ hững. Điều đó không ích gì. Nước ấm

không thể bay hơi được, và nỗ lực hờ hững để tỉnh táo nhất

định thất bại. Biến đổi xảy ra chỉ khi bạn đặt toàn thể năng

lượng của bạn vào trong nó. Khi bạn đang sôi lên ở nhiệt

một trăm độ, thế thì bạn bay hơi, thế thì thay đổi giả kim

thuật xảy ra. Thế thì bạn bắt đầu bốc lên.

Bạn chưa quan sát điều đó sao? – nước chảy xuống,

nhưng hơi nước bốc lên. Đích xác cùng điều đó xảy ra: vô

thức đi xuống, ý thức đi lên. Và một điều nữa: đi lên là đồng

nghĩa với vào trong, và đi xuống là đồng nghĩa với ra ngoài.

Ý thức đi vào trong, vô thức đi ra ngoài. Vô thức làm cho

157

bạn quan tâm tới thứ khác – mọi vật, mọi người, nhưng nó

bao giờ cũng là những thứ khác. Vô thức giữ bạn hoàn toàn

trong bóng tối; mắt bạn cứ tập trung vào người khác. Nó tạo

ra một loại ngoại diên, nó làm cho bạn thành hướng ngoại. Ý

thức tạo ra nội tâm, nó làm cho bạn hướng nội; nó đưa bạn

vào trong, ngày càng sâu hơn.

Và ngày càng sâu hơn có nghĩa là ngày càng cao hơn;

chúng trưởng thành đồng thời, như cây cối trưởng thành vậy.

Bạn chỉ thấy nó vươn lên cao, bạn không thấy rễ của nó đi

xuống dưới. Nhưng trước hết rễ phải đi xuống, chỉ thế thì

cây mới có thể vươn lên cao được. Nếu cây muốn đạt tới

trời, thì nó sẽ phải đâm rễ xuống tận đáy, xuống chiều sâu

thấp nhất có thể được. Cây trưởng thành đồng thời theo cả

hai hướng. Đích xác theo cùng cách thức đó tâm thức đi

lên… đi xuống, nó đâm rễ vào trong bản thể bạn.

Tôi đã nói về chín trạng thái của tâm thức. Các nhánh

tâm thức của bạn sẽ đi lên, từ ý thức – cái gọi là ý thức – tới ý

thức thực, từ ý thức thực tới siêu ý thức, từ siêu ý thức tới ý

thức tập thể, từ ý thức tập thể tới ý thức vũ trụ. Và rễ của bạn

sẽ trưởng thành từ cái gọi là ý thức tới tiềm thức, từ tiềm

thức tới vô thức, từ vô thức tới vô thức tập thể, từ vô thức

tập thể tới vô thức vũ trụ. Khoảnh khắc rễ của bạn đạt tới tự

nhiên, hoa của bạn bắt đầu nở trong Thượng đế. Do đó tự

nhiên và Thượng đế là không phân chia – trong người thức

tỉnh chúng được bắc cầu qua.

Người thức tỉnh thực sự không chống lại tự nhiên, không

thể thế được; người đó tất cả đều ủng hộ tự nhiên. Thực ra,

người đó giúp bạn theo cả hai đườngh – một mặt vào tự

nhiên, mặt kia vào Thượng đế. Đó là nỗ lực của tôi ở đây.

Tôi muốn bạn được tự nhiên, tự nhiên đến mức rễ của bạn

bắt vào cốt lõi sâu nhất của bản thể bạn – bởi vì đó là cách

duy nhất để giúp bạn trưởng thành đi lên. Rễ phải cứng cáp

158

trong đất, mạnh mẽ đến mức chúng có thể hỗ trợ cho cây

tuyết tùng Li băng vươn lên cao. Nếu nó phải đi lên vài chục

mét chiều cao, nó cần rễ lớn. Bởi vì điều này mà tôi đang bị

hiểu lầm trong cả nước này nói riêng, và trên khắp thế giới

nói chung.

Rễ phải đạt tới năng lượng dục, bởi vì đó là chỗ thấp

nhất, cái đáy trong bạn; chỉ thế thì hoa của bạn có thể nở

trong siêu tâm thức, trong samadhi. Hoa sen có thể nở chỉ

nếu nó bắt rễ sâu trong bùn trong hồ. Đây là khả năng chỉ có

với kiên nhẫn lớn lao. Con người như người đó hiện tại là rất

lười biếng; bởi vì người đó ngủ, người đó lười biếng.

Câu chuyện này là về một anh chồng và một cô vợ đồng

ý với nhau rằng bất kì ai nói trước thì sẽ phải đi đóng cửa ra

phố mà ngẫu nhiên đang bị để mở. Kẻ trộm thấy cửa mở, đi

vào, và thấy một đôi im lặng không di chuyển, nó liền ăn hết

thức ăn trên bàn, lấy các thứ có giá trị và cuối cùng hiếp cô

vợ, và đề nghị cạo râu anh chồng.

“Thôi được,” anh chồng bật khóc vào lúc đó, “Tôi sẽ đi

đóng cái cửa chết tiệt này!”

Mọi người đều thực sự lười, lười lắm. Lười là một phần

của ngủ. Do đó, kiên nhẫn, nỗ lực, nỗ lực liên tục, nỗ lực

thường xuyên sẽ được cần tới. Bạn sẽ sa ngã đi sa ngã lại

mãi. Bạn đang trong trạng thái say bét nhè; do đó ngã lùi lại

là tha thứ được. Nhưng khoảnh khắc bạn nhận ra, bất kì khi

nào một tia sáng xảy ra và bạn nhớ, đưa toàn bộ năng lượng

vào trong nó lần nữa. Đừng vẫn còn xuẩn ngốc nữa, đừng

vẫn còn ngủ nữa, đừng còn say sưa nữa.

159

Có ba kẻ say khướt cò bợ đang bước đi trên phố. Một

người đang mang ổ bánh mì, người khác mang bình rượu

vang còn người thứ ba cầm cánh cửa ô tô. Khi họ bước đi

cùng nhau, một cảnh sát chặn họ lại và hỏi, “Các anh đi

đâu?”

“Đi cắm trại,” người đem bánh mì nói.

“Đi cắm trại sao?” viên cảnh sát nói. “Bánh mì tôi có thể

hiểu được – các anh có thể ăn nó khi các anh đói; rượu các

anh có thể uống khi các anh khát. Nhưng tại sao cánh cửa ô

tô? – điều đó tôi không thể nào hiểu nổi.”

“Thế này,” người mang cánh cửa nói, “nếu trời quá lạnh

tôi có thể vặn cửa sổ lên.”

Bạn sẽ phải thoát ra nhiều tầng say. Tham là trạng thái

say, và mọi người đều tham – tham thêm nữa. Tâm trí liên

tục đòi thêm nữa, và nhu cầu không bao giờ chấm dứt. Nếu

bạn theo đuổi tiền bạc, tiền nữa. Nếu bạn theo đuổi quyền

lực chính trị, quyền nữa. Nếu bạn theo duổi danh vọng, danh

nữa. Nếu bạn quan tâm tới việc trở thành khiêm tốn, thế thì

khiêm tốn nữa, bởi vì bạn phải là người khiêm tốn nhất trên

thế giới. Nếu bạn theo đuổi từ bỏ, thế thì cứ ngày càng từ bỏ.

Không bao giờ có bất kì kết thúc nào cho nhu cầu thường

xuyên của tâm trí cả – nữa…

Tham là say, nó là ngủ. Giận cũng vậy. Bạn chưa từng

quan sát rằng trong giận bạn có thể làm những điều mà bạn

không thể làm được lúc bình thường sao? Bạn nói những

điều rồi bạn lại hối hận về sau. Và bạn không thể tin được về

sau rằng bạn đã thốt ra những điều vô nghĩa thế, rằng bạn có

khả năng thốt ra những điều vô nghĩa thế. Điều gì đã xảy ra

khi bạn giận? Bạn đang trong trạng thái say.

160

Trở nên quan sát hơn và giận sẽ bớt đi, tham sẽ bớt đi và

ghen sẽ bớt đi.

Tôi không nói với bạn: đừng giận, bởi vì đó là điều đã

được nói cho bạn qua nhiều thời đại. Cái gọi là các thánh

nhân của bạn đã từng bảo bạn, “Đừng giận!” cho nên bạn đã

học cách kìm nén giận. Nhưng bạn càng kìm nén giận, bạn

càng tạo ra vô thức lớn hơn trong bản thân bạn. Bạn đang

ném mọi thứ vào tầng hầm, và thế rồi bạn sẽ sợ đi vào trong

tầng hầm, bởi vì tất cả những thứ này – giận và tham và dục –

đều có đó. Bạn biết! Bạn đã ném chúng vào đó. Mọi loại rác

rưởi có đó, và những thứ nguy hiểm, độc hại. Bạn sẽ không

sẵn sàng đi vào trong.

Đó là lí do tại sao mọi người không muốn đi vào trong,

bởi vì đi vào trong nghĩa là phải đương đầu với tất cả những

điều này. Và không ai muốn đương đầu với những điều này;

người ta muốn tránh chúng. Trong hàng nghìn năm bạn đã

từng được bảo phải kìm nén, và bởi vì kìm nén bạn đã trở

thành ngày càng vô thức hơn. Tôi không thể nói cho bạn kìm

nén. Tôi muốn nói cho bạn làm điều đối lập lại: đừng kìm

nén – quan sát, tỉnh táo. Khi giận kéo tới, ngồi trong phòng,

đóng cửa lại và quan sát nó.

Bạn chỉ biết hai cách: hoặc là giận, bạo hành, phá phách,

hoặc là kìm nén nó. Bạn không biết cách thứ ba, và cách thứ

ba này là cách thức của chư phật: không mê đắm không kìm

nén – quan sát. Mê đắm tạo ra thói quen. Nếu bạn trở nên

giận hôm nay và ngày mai lại giận, rồi ngày kia lại giận, bạn

đang tạo ra thói quen; bạn đang ước định bản thân mình

ngày càng giận hơn.

Cho nên mê đắm không thể đưa bạn ra khỏi nó. Đó là

nơi phong trào trưởng thành hiện đại bị mắc kẹt. Các nhóm

đương đầu, trị liệu nguyên thuỷ, động thái, năng lượng sinh

161

học… và biết bao nhiêu điều đẹp đẽ khác đang xảy ra trên

thế giới, nhưng họ đều mắc kẹt tại điểm nào đó. Vấn đề của

họ là: họ dạy cách diễn đạt – và nó là tốt, nó là tốt hơn nhiều

so với kìm nén. Nếu chỉ có một cách chọn lựa này, kìm nén

hay diễn đạt, thế thì tôi sẽ gợi ý diễn đạt. Nhưng đây không

phải là lựa chọn thực; còn có phương án thứ ba quan trọng

hơn nhiều so với cả hai cách này. Nếu bạn diễn đạt, bạn trở

thành thói quen; bạn học bằng cách làm đi làm lại nó – bạn

không thể thoát ra khỏi nó.

Trong cộng đồng này có ít nhất năm mươi nhóm trị liệu

đang vận hành, bởi những lí do nào đó. Đấy chỉ là để cân

bằng cho hàng nghìn năm kìm nén; đấy chỉ là làm cân bằng

thôi. Đấy chỉ là để đem tới nhẹ nhàng cho tất cả những điều

mà bạn đã kìm nén như người Ki tô giáo, Hindu giáo, Mô ha

mét giáo, Jaina giáo, Phật giáo. Đấy chỉ là hoàn tác lại cái

hại cũ của hàng thế kỉ mà đã được làm cho bạn.

Nhưng nhớ lấy, những nhóm này không phải là mục

đích; chúng chỉ chuẩn bị cho bạn thiền. Chúng không phải là

mục đích; chúng chỉ đơn giản nghĩa là hoàn tác lại cái sai

của quá khứ. Một khi bạn đã vứt khỏi hệ thống của bạn tất

cả những điều bạn đã kìm nén từ trước tới giờ, tôi phải đưa

bạn vào quan sát. Bây giờ điều đó sẽ dễ quan sát hơn.

Nhưng bạn không trở thành người nghiện nhóm, bạn

không trở thành người cổ động cho nhóm. Có những người

hiện nay trên thế giới đang nghiện các nhóm; họ đi hết nhóm

nọ sang nhóm kia. Nhóm đụng độ kết thúc – thế thì nhóm

chạy ma ra tông khác, rồi nhóm động thái, rồi thế nọ thế

kia… Sau chỉ có vài ngày cái ngứa ngáy lại nảy sinh – bởi vì

diễn đạt ở đâu? Trong xã hội thông thường họ không thể

diễn đạt được, họ phải kìm nén.

162

Cho nên nhóm trở thành chỉ là lối xả. Xã hội thông

thường buộc bạn phải kìm nén, nhóm giúp bạn diễn đạt

nhưng bạn không thực sự trưởng thành. Lần nữa bạn sẽ quay

lại trong xã hội bình thường, bạn sẽ đi vào tình huống nguy

hiểm hơn nhiều. Bạn có thể giết hại ai đó – bạn có nhiều giận

thế. Bạn sẽ bị tù, bị giam cầm vĩnh viễn. Hay nếu bạn cứ

đánh nhau với mọi người – nếu bạn tát ông chủ ở công sở,

nếu bạn đánh vợ, đánh con, đánh chồng – thế thì toàn thể

cuộc sống của bạn sẽ trở thành hỗn độn, sẽ không thể nào

sống nó được. Cho nên sau vài ngày tích luỹ bạn cần đương

đầu khác. Vài ngày đương đầu và bạn cảm thấy nhẹ gánh;

trở lại xã hội bạn sẽ lại nặng gánh lần nữa.

Điều này sẽ không ích gì. Đây chỉ là giảm nhẹ tạm thời.

Bạn có thể la hét về ham muốn của trái tim bạn trong nhóm

trị liệu nguyên thuỷ, nhưng nếu bạn bắt đầu la hét trên

đường, thế thì bạn sẽ bị cảnh sát lôi vào đồn. Bạn có thể la

hét trong hoàn cảnh của nhóm – điều đó là được phép, có ích,

khêu gợi; bạn dược thuyết phục cứ la hét, bởi vì từ thời còn

trẻ thơ bạn đã kìm nén nó. Nó đã trở thành vết thương; nó

cần được mở ra. Nếu mủ rỉ ra và vết thương được để mở cho

gió và mặt trời và mưa, nó sẽ tự chữa lành, bởi vì bạn có

năng lượng chữa lành; nó là có sẵn. Nhưng trở lại trong xã

hội lần nữa… bạn có thể vẫn còn trong nhóm trị liệu nguyên

thuỷ được bao lâu? Trở lại lần nữa trong cùng xã hội cũ, bạn

sẽ phải kìm nén; bạn không thể cứ la hét ở đó được.

Thế thì việc la hét tụ lại, thế thì hơi nước sẽ tụ lại. Thế

thì một ngày nào đó bạn phải đi vào trong nhóm này lần nữa.

Đây là việc làm giảm nhẹ tạm thời; tốt khi nó diễn ra, nhưng

nó không thể làm cho bạn thành vị phật được. Đó là nơi mà

công xã này khác với các viện như Esalen. Họ kết thúc với

các nhóm – chúng ta bắt đầu từ các nhóm. Chỗ họ kết thúc,

đích xác từ điểm đó chúng ta bắt đầu.

163

Và không phải là trùng hợp mà hàng nghìn nhà trị liệu

đã trở nên quan tâm tới công trình của tôi. Họ đã tới đây…

Trong số các sannyasin của tôi, nhóm lớn nhất so với mọi

nghề chuyên môn là nhóm của các nhà trị liệu tâm lí. Bây

giờ chúng ta có thể cảm thấy một nhu cầu lớn trên khắp thế

giới rằng đương đầu, trị liệu nguyên thuỷ, động thái có thể

giúp chút ít làm nhẹ gánh bớt cho mọi người, nhưng chúng

không thể giúp làm cho họ thành chư phật được – chúng

không thể giúp cho họ trở nên thức tỉnh được.

Mê đắm tạo ra thói quen, kìm nén thu thập chất độc bên

trong. Trong mê đắm bạn ném chất độc vào người khác,

nhưng họ sẽ không còn im lặng – họ sẽ ném trả lại nó. Điều

đó trở thành trận đấu: bạn ném giận của bạn lên người khác,

họ ném giận của họ lên bạn – nhưng không ai được giúp đỡ

cả, mọi người đều bị hại và tổn thương.

Và nếu bạn kìm nén… Bởi vì cái vô tích sự của mê đắm,

các tu sĩ đã bịa ra kìm nén. Nó giữ bạn thoát khỏi nguy hiểm.

Kìm nén giữ bạn là công dân tốt, người tử tế. Nó giữ bạn

không bị nguy hiểm của việc bị pháp luật bắt giữ, của việc

không lâm vào thù hận; nó giữ bạn hoà dịu. Kìm nén giúp

bạn trở thành con người xã hội tốt hơn, điều đó đúng. Nhưng

nó làm cho bạn bị thương bên trong, chỉ là vết thương, và

mủ cứ tụ lại bên trong. Bên ngoài nó vận hành như chất bôi

trơn, nhưng bên trong bạn trở nên ngày một điên hơn.

Nếu xã hội này và thế kỉ này là điên khùng nhất trong

toàn thể lịch sử, công trạng thuộc về quá khứ. Năm nghìn

năm khuyên can thánh thiện cho mọi người – công trạng này

thuộc về các thánh nhân đó. Nếu mọi người đang trở nên

điên khùng, nếu mọi người đang trở nên mất trí, nếu mọi

người đang tự tử, nếu mọi người đang trở thành sát nhân,

công trạng này chắc chắn thuộc về mọi cái gọi là các thánh

164

nhân, các tu sĩ, các nhà thuyết giáo, các lãnh tụ. Họ chịu

trách nhiệm cho điều đó.

Mới hôm nọ tôi đã kể cho các bạn về chính phủ Canada

muốn điều tra, tiến hành cuộc điều tra sâu rộng về công xã

này bởi vì một công dân Mĩ, là một sannyasin, đã tự tử, và

một người Mĩ khác, cũng là sannyasin, đã phát điên. Bây giờ

tôi tự hỏi: người tự tử đó đã sáu mươi tuổi. Ông ta là người

Ki tô giáo trong sáu mươi năm, nhưng Ki tô giáo không bị

điều tra. Và ông ta đã là sannyasin thậm chí không tới sáu

mươi ngày! Công trạng này thuộc về Ki tô giáo, không phải

tôi.

Người đã phát điên là một người Tin lành. Bây giờ, tôi

bị kết án bởi vì người đó là sannyasin, nhưng nhà thờ Tin

lành không bị kết án. Và người đó đã lớn lên như một người

Tin lành, người đó sống như một người Tin lành trong ba

mươi nhăm năm, và mới chỉ vài ngày đây người đó mới là

sannyasin. Bây giờ, xã hội Mĩ không bị kết án.

Đây là logic kì lạ… và tôi đang cố gắng giúp mọi người.

Khi người đó tới đây, người đó đã điên rồi. Người đó đã tới

đây sau sáu năm phân tâm; bởi vì phân tâm không thể giúp

gì cho người đó nên người đó đã tới đây và trở thành một

sannyasin. Bởi vì nhà thờ Tin lành và các mục sư không thể

giúp cho người đó, cho nên người đó đã tới đây và trở thành

sannyasin. Nhưng họ đã làm những việc tốt đến mức khó mà

đem người đó trở lại đất được.

Và người đó đã không ở lại đây lâu; người đó đã ở đây

chỉ ba tuần. Bây giờ công trạng này không thể thuộc về tôi

được. Nếu người đó trở nên điên, tôi không thể có trách

nhiệm được. Nhưng logic kì lạ này có đó.

Tại đây nữa cùng logic này tiếp tục. Nếu một sannyasin

cư xử sai, tôi bị kết án. Nhưng biết bao nhiêu người Hindu bị

165

bỏ tù hàng ngày – Hindu giáo không bị kết án. Biết bao

nhiêu người Mô ha mét giáo cư xử không đúng, nhưng Mô

ha mét giáo không bị kết án. Nếu một người Sikh giết ai đó,

Sikh giáo không bị kết án. Đây là một thế giới rất ngu xuẩn

và ngớ ngẩn.

Mọi người tới tôi để xin giúp đỡ. Nhiều người đã được

giúp. Chín mươi chín phần trăm mọi người đã được giúp đỡ.

Nhưng một phần trăm đã hư hại nhiều đến mức gần như

không thể nào giúp được họ. Họ cũng có thể được giúp đỡ,

nhưng tôi không được phép giúp họ.

Chẳng hạn, một người thích ở truồng tới đây, người này

thỉnh thoảng ở truồng trước mọi người. Bây giờ người đó có

thể được giúp đỡ, dễ dàng được giúp đỡ – nếu người đó được

phép đi lại trần truồng. Người đó không nguy hiểm; người

đó không làm hại gì cho bất kì ai. Người đó đơn giản mang ý

tưởng lập dị này… người đó thích điều đó làm bạn sốc. Đây

là cách làm cho bạn bị sốc, đây là cách thu được sự chú ý: ở

truồng ra trước mọi người. Nếu người đó đơn giản được

phép đi lại trần truồng mà không ai chú ý gì tới người đó cả,

người đó sẽ được chữa.

Việc chữa là đơn giản, rất đơn giản! Đừng bị sốc, và

đừng chú ý. Điều đó gây chấn động cho bạn và làm bạn để ý

rằng người đó là kẻ thích trần truồng. Nếu không ai để ý tới,

nếu người đó có thể trần truồng tới bạn và bạn nói với người

đó cứ dường như là người đó không trần truồng, người đó sẽ

phân vân. Người đó sẽ không thể nào tin được vào điều đang

xảy ra nữa. Người đó sẽ đi và nhìn vào gương để xem liệu

người đó có trần truồng hay không! Và vấn đề là gì? Nếu

không ai chú ý gì và không ai sốc cả, người đó có thể thử

mặc quần áo – có thể đây là những người lạ và họ có thể bị

sốc bởi việc mặc quần áo chăng!

166

Mọi người có thể được giúp đỡ, nhưng xã hội không cho

phép tôi giúp họ. Thậm chí một phần trăm đó cũng có thể

được chữa lành, bởi vì không ai thực sự là không thể được

chữa lành. Nhưng sẽ phải cần tới thời gian, sẽ phải cần tới

kiên nhẫn.

Phật nói: Với kiên nhẫn lớn lao người đó thiền, tìm kiếm

tự do và hạnh phúc.

Thiền – thiền nghĩa là quan sát – và bạn sẽ đạt tới tự do

và phúc lạc.

Cho nên tỉnh thức, phản xạ, quan sát.

Làm việc với chăm chú và chú ý.

Sống theo cách này

Và ánh sáng sẽ lớn lên trong ông.

Ánh sáng trưởng thành theo cách riêng của nó. Bạn đơn

giản trở nên im lặng hơn, quan sát hơn, thiền hơn, và ánh

sáng hạ xuống bạn – theo cách riêng của nó. Bạn không cần

đi đâu cả.

Bằng quan sát và làm việc

Người chủ làm cho bản thân mình thành hòn đảo

Ngập lụt không thể tràn lên được.

Việc quan sát của bạn trở thành hòn đảo, thành trì, mà

không đam mê, không thèm khát, không tham lam, không

giận dữ nào có thể chiếm được. Với hòn đảo đó, lần đầu tiên

bạn trở thành cá nhân tích hợp. Lần đầu tiên bạn trở thành

con người.

167

Con người này là tuyệt đối cần thiết hôm nay, con người

mới này – homo novus.

Còn tiếp

Dhammapada

CON ĐƯỜNG CỦA PHẬT

¨

ĐÂY LÀ CON ĐƯỜNG

ĐI TỚI CHÂN LÍ TỐI THƯỢNG

Tập 1 ( tiếp theo )

Câu hỏi:

Thưa Thầy kính yêu,

Tôi cảm thấy bây giờ tôi biết câu trả lời. Tại sao tôi vẫn

cho phép câu hỏi trở thành vấn đề?

Savita, không có nhiều câu trả lời, chỉ có một câu trả lời

duy nhất thôi. Và câu trả lời đó không phải là của tâm trí,

câu trả lời đó không thể là của tâm trí được. Tâm trí là nhiều.

Tâm trí có toàn câu trả lời và câu trả lời, nhưng không có

một câu trả lời duy nhất.

Câu trả lời đó là trạng thái vô trí. Nó không phải là nói

ra lời. Bạn có thể biết nó nhưng bạn không thể thu nó thành

tri thức. Bạn có thể biết nó, nhưng bạn không thể nói được

nó. Nó được biết tới ở chỗ thầm kín bên trong nhất của bản

thể bạn. Nó là ánh sáng đơn giản chiếu sáng nội tâm của

bạn.

170

Nó không phải là câu trả lời cho bất kì câu hỏi đặc biệt

nào. Nó là kết thúc của mọi việc hỏi, nó không tham chiếu

tới câu hỏi chút nào. Nó đơn giản làm tan biến mọi câu hỏi

và một trạng thái được bỏ lại mà không có câu hỏi nào… đó

là câu trả lời. Chừng nào điều đó chưa được biết tới, không

cái gì được biết tới.

Do đó, bạn có thể cảm thấy rằng bạn biết câu trả lời,

nhưng dầu vậy các câu hỏi vẫn cứ bật ra, các câu hỏi vẫn cứ

hành hạ bạn. Dầu vậy các câu hỏi nhất định nảy sinh bởi vì

gốc rễ chưa bị chặt đứt. Lá mới sẽ mọc, cành mới sẽ mọc.

Rễ chỉ bị cắt đi khi bạn bứt bản thân mình ra khỏi tâm

trí, khi bạn trở nên nhận biết, quan sát đến mức bạn có thể

thấy tâm trí là tách bạch khỏi bạn. Khi mọi đồng nhất với

tâm trí bị vứt bỏ, khi bạn là người quan sát trên đồi và tâm

trí bị bỏ lại sâu bên dưới trong bóng tối của thung lũng, khi

bạn đang trên các đỉnh đầy ánh mặt trời, chỉ là chứng kiến

thuần khiết, thấy, quan sát, nhưng không bị đồng nhất với

bất kì cái gì – tốt hay xấu, tội nhân hay thánh nhân, thế này

thế nọ – trong việc chứng kiến đó mọi câu hỏi đều tan biến.

Tâm trí tan ra, bay hơi. Bạn bị bỏ lại như sự hiện hữu thuần

khiết, chỉ là sự tồn tại thuần khiết – hơi thở, nhịp đập của trái

tim, hoàn toàn trong khoảnh khắc này, không quá khứ,

không tương lai, do đó không hiện tại nữa.

Chừng nào trạng thái đó còn chưa tới, nhiều lần bạn sẽ

cảm thấy rằng bạn biết câu trả lời, nhưng mỗi câu trả lời sẽ

chỉ tạo ra các câu hỏi mới. Mỗi câu trả lời sẽ làm bật ra cả

chuỗi câu hỏi mới trong bạn. Bạn có thể đọc, bạn có thể

nghiên cứu, bạn có thể nghĩ, nhưng bạn sẽ ngày càng lún sâu

vào trong bãi lầy của tâm trí, ngày càng vướng mắc hơn,

mắc bẫy hơn. Tuột ra khỏi tâm trí đi!

171

Do đó, tôi không cho bạn câu trả lời, tôi đang cố chỉ ra

một câu trả lời duy nhất. Bạn không thể dùng số nhiều cho

nó bởi vì nó là một thôi. Nó là trạng thái của im lặng hoàn

toàn, an bình, vô ý nghĩ. Phật gọi nó là chính tâm –

sammasati. Và ông ấy nói rằng những người chính tâm, tỉnh

táo, nhận biết, chân lí tới với họ theo cách riêng của nó. Bạn

không cần phải đi đâu cả, nó tới. Bạn thậm chí không cần

tìm và kiếm, bởi vì làm sao bạn có thể tìm và kiếm được? Từ

dốt nát của bạn, bất kì cái gì bạn làm sẽ đem lại nhiều dốt

nát hơn. Từ dốt nát của mình, dù bạn đi bất kì đâu, bạn sẽ đi

lạc lối. Từ lẫn lộn của bạn, làm sao bạn tìm thấy sáng tỏ? Từ

lẫn lộn của bạn, bạn sẽ ngày càng lẫn lộn hơn – trong tìm

kiếm sáng tỏ.

Do đó Phật nói: Người chủ quan sát, người chủ là trong

vắt. Aes dhammo sanantano – đây là luật, điều tối thượng,

luật vĩnh hằng, không cạn.

Im lặng là có câu trả lời. Im lặng là hiện hữu mà không

có câu hỏi… và rễ bị chặt đứt, thế thì không lá nào tới nữa.

Savita, bạn nói, “Tôi cảm thấy tôi biết câu trả lời.”

Đấy chỉ là ảo tưởng. Và tâm trí rất ranh mãnh trong việc

tạo ra những ảo tưởng mới. Tâm trí rất lừa dối: nó có thể lừa

bạn trong tri thức nữa. Nó có thể lừa bạn trong mọi điều! Nó

có thể thậm chí làm cho bạn tin rằng bạn đã chứng ngộ, rằng

bạn đã là vị phật. Thận trọng! Kẻ thù duy nhất là tâm trí;

không có kẻ thù nào khác.

Các kinh sách cổ nói về tâm trí. Chúng đặt tên đặc biệt

cho nó – chúng gọi nó là Quỉ. Quỉ không phải ai đó ở bên

ngoài bạn; nó là tâm trí riêng của bạn mà cứ cám dỗ bạn, mà

cứ lừa bịp bạn, lừa dối bạn, mà cứ bịa ra những ảo tưởng

mới trong bạn. Thận trọng, quan sát tâm trí! Và trong quan

172

sát, câu hỏi biến mất – không phải là chúng đã được trả lời,

để tôi nhắc lại điều đó lần nữa.

Vị phật biết không có câu trả lời – không phải là ông ấy

đã đi tới kết luận về mọi câu hỏi, không, không chút nào.

Ngược lại, ông ấy không còn câu hỏi nào nữa. Bởi vì ông ấy

không có câu hỏi nào nữa, toàn thể bản thể ông ấy đã trở

thành câu trả lời.

Savita, khoảnh khắc đó là có thể.

Đó là toàn thể công trình của tôi ở đây. Tôi không ở đây

để cho bạn nhiều thông tin hơn; điều đó bạn có thể lấy được

ở bất kì đâu. Hàng nghìn đại học tồn tại, hàng nghìn thư viện

tồn tại. Thông tin bạn có thể có được ở bất kì đâu, bạn có thể

trở nên thông thái ở bất kì đâu. Nỗ lực của tôi làm làm cho

bạn dỡ bỏ bất kì cái gì bạn đã học từ trước tới giờ, để làm

cho bạn thành hồn nhiên để cho bạn có thể vận hành từ trạng

thái không biết. Để cho bạn không có bất kì câu trả lời nào,

để cho bạn hành động một cách tự phát, không phải từ quá

khứ và từ những kết luận đã đạt tới. Để cho bạn không có

bất kì công thức làm sẵn nào cho bất kì cái gì… để cho bạn

giống như đứa trẻ nhỏ soi gương thực tại.

Và khi bạn im lặng, không tri thức kêu la ầm ĩ bên trong

bạn, cảm nhận của bạn là trong vắt – không bụi bặm trên

gương… bạn phản xạ cái đang đấy. Và từ phản xạ đó bất kì

hành động nào nảy sinh đều là đức hạnh.

173

Câu hỏi:

Thưa Thầy kính yêu,

Thầy muốn chúng tôi là những cá nhân, nhưng trong khi

làm việc ở đạo tràng chúng tôi phải rất có kỉ luật. Kỉ

luật và chủ nghĩa cá nhân – liệu chúng không đối lập với

nhau chứ?

Sudarshan, tôi muốn các bạn là các cá nhân, nhưng

không là người theo chủ nghĩa cá nhân. Và có khác biệt lớn

lao. Người theo chủ nghĩa cá nhân còn chưa là cá nhân.

Người theo chủ nghĩa cá nhân, người tin vào chủ nghĩa cá

nhân, chỉ là người bản ngã. Và là người bản ngã không phải

là cá nhân. Chính điều ngược lại: cá nhân không có bản ngã,

và bản ngã không có tính cá nhân.

Bản ngã là hiện tượng thông thường thế – mọi người đều

có nó! Không có gì đặc biệt về nó cả, không có gì duy nhất

về nó cả. Mọi người đều có bản ngã. Nó thông thường thế!

Điều không thông thường là vô ngã.

Chỉ tâm thức vô ngã mới đạt tới tính cá nhân. Và bởi

tính cá nhân tôi đơn giản ngụ ý nghĩa đúng nguyên văn của

từ này: cá nhân nghĩa là không phân chia được, cá nhân

nghĩa là tích hợp; cá nhân nghĩa là một người không phải

nhiều người, người không là đám đông, người không là đa

tâm lí; người đã đạt tới sự thống nhất, người đã trở thành sự

hiện hữu kết tinh. Gurdjieff dùng từ ‘kết tinh hoá’ cho tính

cá nhân. Nhưng yêu cầu cơ bản cho việc kết tinh hoá là vứt

bỏ bản ngã, bởi vì bản ngã là thực thể giả tạm. Nó sẽ không

cho phép bạn được là thực, nó sẽ không cho phép bạn được

đích thực. Nó sẽ không cho phép bạn trưởng thành. Nó là giả

174

tạm, nó là lừa dối, nó là ảo tưởng. Bạn không tách rời khỏi

sự tồn tại, nhưng bản ngã cứ giả vờ tách rời.

Và từ khác mà bạn đã dùng trong câu hỏi này cũng cần

phải được hiểu: kỉ luật. Kỉ luật không có nghĩa là cái gì đó bị

áp đặt lên bạn.

Bạn nói, Sudarshan, “Chủ nghĩa cá nhân và kỉ luật – liệu

chúng không đối lập với nhau chứ?

Chúng không đối lập đâu! Cá nhân bao giờ cũng là hiện

tượng có kỉ luật. Người không có kỉ luật không là cá nhân;

người đó chỉ là hỗn độn, người đó là nhiều mảnh. Mọi mảnh

đó đều vận hành tách biệt, thậm chí còn đối lập lẫn nhau. Đó

là cách thức mọi người là bình thường: phần này của tâm trí

đi về phương nam, phần khác đi về phương bắc; phần này

nói điều này, phần kia nói điều đối lập lại. Bạn biết điều đó

rồi! Tôi chỉ đơn giản phát biểu sự kiện – bạn có thể quan sát

nó. Phần này nói, “Làm điều này đi.” Phần khác lập tức nói

“Không!” Đôi khi nó nói, “Có,” và đôi khi lập tức huỷ bỏ

điều đó bằng việc nói, “Không.”

Đây là tình huống của bạn! Bạn là cá nhân trong tình

huống như vậy, khi nào bạn thậm chí không thể nói có toàn

bộ hay không toàn bộ? Cái không của bạn bao giờ cũng nửa

vời và cái có của bạn cũng vậy – và bạn nghĩ bạn là cá nhân

sao?

Cá nhân nghĩa là một người có thể vận hành như một

toàn bộ, như một thể thống nhất hữu cơ. Làm sao bạn sẽ trở

thành một thể thống nhất hữu cơ được? Điều đó chỉ có thể

có được qua kỉ luật có ý thức.

Đó là điều Phật cứ nói đi nói lại mãi: kiên nhẫn, nỗ lực,

có ý thức, nỗ lực có chủ tâm để trưởng thành – và nỗ lực toàn

bộ, không hờ hững. Bạn phải sôi lên một trăm độ. Vâng, đôi

khi điều đó là đau đớn, nhưng tất cả điều đó đều phụ thuộc

vào bạn, vào cách bạn diễn giải nó. Nếu bạn thực sự muốn

trưởng thành điều đó không đau đớn – nó là hài lòng vô

cùng. Mỗi bước đi sâu hơn vào kỉ luật đem tới cho bạn ngày

càng nhiều vui vẻ hơn, bởi vì nó cho bạn ngày càng nhiều

linh hồn, bản thể.

176

Kỉ luật (discipline) có nghĩa là sẵn sàng để học; do đó

mới có từ ‘đệ tử’ (disciple), chúng tới từ cùng một gốc. Ai là

đệ tử? – người cúi mình xuống, buông xuôi, và sẵn sàng để

học. Và kỉ luật là gì? – là tính sẵn sàng, là sự cởi mở, tính

mong manh, để học.

Tôi ở đây để làm cho các bạn

thành cá nhân, nhưng bạn sẽ phải trải qua nhiều, nhiều

phương cách. Bạn sẽ phải đi qua nhiều lửa, nhiều thử thách.

Chỉ thế thì dần dần, dần dần bạn sẽ được gắn kết lại thành

một thể thống nhất. Và bạn vẫn còn đa tính cách đã lâu,

trong nhiều kiếp đến mức chừng nào nỗ lực tập trung còn

chưa được thực hiện, chừng nào bạn còn chưa bị công kích

từ mọi góc, mọi xó xỉnh, chừng nào việc ngủ của bạn còn

chưa bị phá vỡ theo mọi cách thức có thể, bạn còn chưa bị

chấn động và rung chuyển, tính cá nhân vẫn chưa sinh ra

được.

Kỉ luật là cách để tạo ra tính cá nhân. Nhưng nhớ lấy: là

cá nhân không phải là người theo chủ nghĩa cá nhân. Chủ

nghĩa cá nhân là trò bản ngã. Và người tin vào chủ nghĩa cá

nhân không phải là cá nhân, nhớ lấy – nhớ cho rõ. Sâu bên

dưới họ biết họ không phải là cá nhân, do đó họ tạo ra mẽ

ngoài của triết lí, logic, của biện luận, bởi vì sâu bên dưới họ

không cảm thấy họ là cá nhân. Họ giả vờ ở bên ngoài rằng

họ là cá nhân. Họ giả vờ ở bên ngoài rằng họ là cá nhân – họ

tin vào chủ nghĩa cá nhân. Tin vào chủ nghĩa cá nhân không

trở thành một cá nhân được. Niềm tin bao giờ cũng giả.

Khi bạn là một cá nhân bạn không cần tin vào chủ nghĩa

cá nhân. Khi đấy là chân lí của bản thể bạn, niềm tin là

không cần thiết. Niềm tin được cần chỉ để che phủ mọi thứ:

bạn không biết về Thượng đế và bạn tin vào Thượng đế.

Người tin là kẻ vô thần. Người ấy có thể là người Ki tô giáo,

Hindu giáo, Mô ha mét giáo, Phật tử, không thành vấn đề:

người tin là kẻ vô thần. Người đó không biết về Thượng đế,

và dầu vậy người đó tin. Điều đó nghĩa là người đó thậm chí

cố lừa Thượng đế! Người đó là kẻ đạo đức giả, người đó là

con vẹt. Giống như vẹt người đó cứ lặp lại điều kinh sách

nói, điều người khác nói. Và vẹt có thể lặp lại rất hay, nhưng

không hiểu gì, không biết gì, một cách máy móc.

Một người da đen vào hiệu vẹt ở khu Harlem, muốn mua

một con vẹt nói giỏi. Người chủ bảo người đó rằng họ có

nhiều cách chọn vẹt, cho nên người đó muốn chọn loại nào?

Người da đen hỏi xem con vẹt quãng năm mươi đô la.

“Polly muốn ăn bánh qui không? Polly muốn ăn bánh qui

không?” người đó gọi ngay khi con vẹt xuất hiện. Con vẹt

không nói gì.

“Tôi muốn một con vẹt nói giỏi,” người đó nói, “Cho tôi

xem một con giỏi.”

Thế là người chủ đem ra một con vẹt hai trăm đô la:

“Polly muốn ăn bánh qui không? Polly muốn ăn bánh qui

không?” Không trả lời.

“Ông có con vẹt nào khá hơn con này không?” người da

đen hỏi.

Ông chủ nói có, và đưa người da đen ra sau quầy, tới

chỗ con vẹt một nghìn đô la, với bộ lông đẹp với đôi mắt

nhỏ toé sáng, rõ ràng là con vẹt rất đặc biệt, đang tự hào đậu

trong cái lồng xa hoa.

“Polly muốn ăn bánh qui không? Polly muốn ăn bánh

qui không?” người da đen lại nói, nhưng con vẹt không thèm

ngước mắt nhìn lên.

“Này ông, đây là con vẹt tốt nhất của ông sao?” người da

đen hỏi, “bởi vì tôi muốn một con vẹt nói giỏi mà con này

thì có vẻ câm.”

Ông chủ lại đưa người đó ra sau cửa hàng nơi có một cái

lồng đồng thau bóng loáng đặc biệt với kích cỡ một chiếc

phòng nhỏ trong đó có niềm tự hào của toàn thể sưu tập của

ông chủ – con vẹt năm nghìn đô la. Con vẹt này, mặc chiếc

áo lụa mầu khói và ngồi trên đệm, đang hút thuốc và đọc

Thời báo tài chính.

180

“Polly muốn ăn bánh qui không? Polly muốn ăn bánh

qui không?” người da đen hét lên.

Con vẹt khụt khịt và nhìn vào người đó qua cặp kính

viền vàng với sự khinh thị quí tộc.

“Polly muốn ăn bánh qui không? Polly muốn ăn bánh

qui không?” người da đen lại hét lên lần nữa.

“Polly muốn ăn bánh qui không?” con vẹt nhắc lại bằng

giọng Oxford không chê vào đâu được. “Người da đen muốn

ăn dưa hấu không?”

Người tin là con vẹt. Người tin không biết gì. Người tin

là kẻ vô thần trá hình. Người đó cố gắng tự lừa mình, lừa thế

giới và thậm chí cả Thượng đế.

Người tin vào chủ nghĩa cá nhân không phải là cá nhân.

Người thực sự là cá nhân không cần tin – người đó biết điều

đó, cho nên phỏng có ích gì mà tin? Niềm tin bao giờ cũng

cần dốt nát, và chủ nghĩa cá nhân là niềm tin. Là cá nhân là

một kinh nghiệm! Chủ nghĩa cá nhân rất rẻ, nhưng là cá

nhân cần kỉ luật gian truân. Nó cần kiên nhẫn lớn lao, làm

việc, quan sát. Nó chỉ tới từ nhiều năm gắng sức trong nhận

biết, trong thiền.

Dhammapada

CON ĐƯỜNG CỦA PHẬT

¨

ĐÂY LÀ CON ĐƯỜNG

ĐI TỚI CHÂN LÍ TỐI THƯỢNG

Tập 1 ( tiếp theo )

Thưa Thầy kính yêu,

Chỉ một bước thôi sao?

200

Digambara, vâng, thực ra, thậm chí không cả một bước…

bởi vì chúng ta không đi đâu. Chúng ta đã trong Thượng đế

rồi! Tôi nói “chỉ một bước” chỉ để an ủi bạn thôi, bởi vì nói

không bước nào bạn sẽ quá phân vân. Tôi giảm nó lại tối

thiểu, chỉ một bước, sao cho cái gì đó còn lại để bạn làm, bởi

vì bạn chỉ hiểu ngôn ngữ của làm. Bạn là người làm! Nếu tôi

nói, “Không có gì phải làm cả, thậm chí một bước cũng

không phải bước,” bạn sẽ lúng túng không biết đầu đuôi ra

sao nữa.

Chân lí hiện hữu, thậm chí không cần một bước nào.

Ngồi im lặng không làm gì, xuân tới và cỏ tự nó mọc lên.

Nhưng điều đó có thể là quá nhiều. Tâm trí người làm của

bạn có thể đơn giản bỏ qua nó hay có thể nghĩ nó tất cả là vô

nghĩa. Làm sao bạn có thể đạt tới Thượng đế mà không làm

gì cả? Vâng, lối tắt tâm trí có thể hiểu được; đó là lí do tại

sao tôi nói, “một bước thôi.” Đó là lối ngắn nhất – nó không

thể rút gọn lại bé hơn thế.

Chỉ một bước thôi! Điều đó chỉ làm cho bạn hiểu rằng

việc làm là không thiết yếu. Để đạt tới bản thể, việc làm là

tuyệt đối không thiết yếu. Khi bạn đồng ý và bị thuyết phục

rằng chỉ một bước là cần thiết, thế thì tôi sẽ thì thào vào tai

bạn, “Thậm chí không đến một bước đâu – bạn đã ở đấy rồi!”

Rabiya, một nhà huyền môn Sufi vĩ đại, đi qua… Đó là

một phố bà ấy thường đi qua hàng ngày trên đường ra bãi

chợ, bởi vì ở bãi chợ bà ấy sẽ đi ra hàng ngày và kêu to lên

chân lí mà bà ấy đã đạt tới. Và trong nhiều ngày bà ấy đã

quan sát một nhà huyền môn, nhà huyền môn nổi tiếng,

Hassan, ngồi trước cánh cửa ngôi đền và cầu nguyện

Thượng đế, “Xin Thượng đế mở cửa ra! Xin mở cửa ra! Xin

cho con vào!”

201

Rabiya không thể dung thứ được điều đó vào ngày hôm

đó. Hassan kêu khóc, nước mắt lăn dài và ông ấy kêu gào

mãi “Xin mở cửa ra! Cho con vào! Sao ngài không nghe?

Sao ngài không nghe lời cầu nguyện của con?”

Mọi ngày bà ấy đều cười, cứ mỗi khi bà ấy nghe thấy

Hassan là bà ấy cười, nhưng hôm nay thì quá lắm. Nước

mắt… và Hassan đã thực sự khóc, kêu gào từ tận tim mình.

Bà ấy tới, bà ấy lay Hassan, và nói, “Dừng mọi cái vô nghĩa

này đi! Cửa mở rồi đấy – thực ra ông đã ở trong rồi!”

Hassan nhìn vào Rabiya, và khoảnh khắc đó trở thành

khoảnh khắc khải lộ. Nhìn vào mắt của Rabiya, ông ấy cúi

đầu, chạm chân bà và nói, “Bà tới đúng lúc; bằng không tôi

chắc gọi cả đời! Trong nhiều năm tôi đã làm mãi việc này –

bà đã ở đâu trước đây? Và tôi biết bà đi qua phố này hàng

ngày. Bà phải đã thấy tôi kêu khóc, cầu nguyện.”

Rabiya nói, “Vâng, nhưng chân lí chỉ có thể được nói ra

vào khoảnh khắc nào đó, trong không gian nào đó, trong

hoàn cảnh nào đó. Ta đợi cho tới đúng lúc, khoảnh khắc chín

muồi. Hôm nay nó đã tới; do đó ta tới gần ông. Hôm qua nếu

như ta nói cho ông, ông chắc cảm thấy bực bội; ông có thể

thậm chí còn trở nên giận dữ. Ông có thể phản ứng lại một

cách đối nghịch; ông có thể bảo tôi, “Bà đã quấy rầy lời cầu

nguyện của tôi!” – và việc quấy rối lời cầu nguyện của bất kì

ai cũng đều là không phải.”

Ngay cả vua cũng không được phép quấy nhiễu lời cầu

nguyện của kẻ ăn xin. Ngay cả kẻ tội phạm, kẻ giết người,

đang cầu nguyện trong các quốc gia Mô ha mét giáo, cảnh

sát phải đợi cho tới khi hắn ta kết thúc việc cầu nguyện, chỉ

thế thì hắn ta mới có thể bị bắt. Lời cầu nguyện không nên bị

quấy rối.

202

Rabiya nói, “Tôi đã muốn bảo ông điều này, rằng

‘Hassan, đừng là kẻ ngốc, cửa mở rồi đấy – thực ra, ông đã ở

trong rồi!’ Nhưng tôi phải đợi cho tới đúng khoảnh khắc.”

Digambara, tôi nói “chỉ một bước” – và thậm chí điều đó

dường như không thể tin được đối với bạn, do đó mới có câu

hỏi này.

Bạn hỏi tôi, “Thưa Thầy kính yêu, chỉ một bước sao?”

Thận chí không một bước, Digambara. Nhưng khoảnh

khắc đúng vẫn còn chưa tới, ít nhất cho bạn. Khi nó tới tôi sẽ

thì thào vào tai bạn, “Bạn đã trong đó rồi. Thậm chí không

cần bước nào” – bởi vì chúng ta không đi ra ngoài. Bước đi

là cần thiết để đi ra ngoài, bước đi là không cần để vào

trong.

Cũng giống như một người mơ, và trong giấc mơ của

mình người đó đã đi rất xa. Người đó có cần cuộc hành trình

dài để quay về nhà không? Người đó đã ở nhà rồi, người đó

đang ngủ trong nhà mình… nhưng người đó có thể ở

Timbuktu trong giấc mơ. Tất cả những điều cần là ở chỗ

người đó phải được lay dậy.

Như Rabiya lay Hassan, Digambara, một ngày nào đó

tôi sẽ lay bạn dậy! Bạn chỉ cần nước lạnh dội vào bạn – nước

thực là lạnh, nước đá, để cho trong cơn sốc bạn mở mắt ra.

Bạn có cho rằng bạn sẽ hỏi tôi, “Làm sao về nhà – bởi vì tôi

đang ở Timbuktu không?” Không, bạn sẽ không hỏi, nếu bạn

thấy rằng bạn đã ở nhà bạn, đã rơi vào giấc ngủ và mơ về

Tmbuktu. Bạn chưa bao giờ đi tới đó.

Bạn đã không đi ra ngoài Thượng đế! Bạn không thể đi

ra ngoài được, điều đó là không thể được, bởi vì duy nhất

Thượng đế tồn tại. Chúng ta có thể đi đâu, chúng ta có thể đi

203

đâu được? Không có chỗ nào mà không có Thượng đế.

Chúng ta bao giờ cũng trong ngài và ngài bao giờ cũng trong

chúng ta. Nhưng điều đó cần sự tỉnh thức.

Thậm chí không một bước – điều đó chỉ để đem bạn tới

gần chân lí hơn. Dần dần, dần dần bạn phải bị thuyết phục.

Một nghìn bước được rút gọn lại một bước, và thế rồi tôi sẽ

lấy bước đó ra khỏi bạn nữa. Nhưng điều đó cần khoảnh

khắc đúng. Chân lí tối thượng chỉ có thể được nói vào đúng

lúc, tình huống chín muồi.

Khoảnh khắc đó cũng sẽ tới.

Sẵn sàng đón nhận nó đi, đón chào nó…

7

Bằng quan sát…

Người ngu không để ý.
Nhưng người chủ canh quan sát của mình.
Đấy là kho báu quí giá nhất của người đó.
Người đó không bao nhượng bộ ham muốn.
Người đó thiền.
Và trong sức mạnh của quyết tâm
Người đó phát hiện ra hạnh phúc thực sự.
Người đó vượt qua ham muốn –
Và từ chiếc tháp của trí huệ
Người đó nhìn xuống thản nhiên
về đám đông buồn..
Từ đỉnh núi
Người đó nhìn xuống những người
Sống gần mặt đất.
Lưu tâm trong những điều đơn giản,
Thức tỉnh khi người khác mơ,
206
Nhanh như ngựa đua
Người đó bỏ xa cánh đồng.
Bằng quan sát
Indra trở thành vua của các thần.
Quan sát kì diệu làm sao,
Ngủ ngu xuẩn làm sao.
Khất sĩ canh tâm trí
Và sợ tính đồng bóng của ý nghĩ của mình
Đốt cháy mọi mối ràng buộc
Bằng ngọn lửa cảnh giác của mình.
Khất sĩ canh tâm trí
Và sợ lẫn lộn của riêng mình
Không thể ngã.
Người đó tìm thấy con đường tới an bình.

Lời kinh hôm nay:

Người ngu không để ý.
Nhưng người chủ canh quan sát của mình.
Đấy là kho báu quí giá nhất của người đó.

Phật gọi một người là ngu xuẩn, không phải bởi vì người

đó dốt nát, không phải bởi vì người đó không hiểu biết. Theo

Phật, một người là ngu xuẩn nếu người đó vô ý thức, nếu

người đó hành xử một cách vô ý thức, nếu người đó sống

trong giấc ngủ, nếu người đó là người mộng du. Nếu người

đó cứ hành xử mà không lưu tâm, thế thì người đó là ngu

xuẩn. Từ này có ý nghĩa đặc biệt, nhớ lấy: vô ý thức, không

nhận biết, không lưu tâm – đó là định nghĩa của Phật về

người ngu xuẩn.

216

Người đó đi trong cuộc đời như bèo dạt, cuốn theo chiều

gió. Người đó không biết mình là ai, người đó không biết

mình tới đâu, người đó không biết mình đang đi đâu. Người

đó tình cờ; người đó đơn giản sống các kiếp sống một cách

tình cờ. Người đó không có ý thức, không chủ tâm tìm kiếm

bản thể, chân lí, thực tại. Người đó đi theo đám đông; người

đó vẫn còn là một phần của tâm lí đám đông. Người đó

không phải là một cá nhân. Người đó không có thông minh

đích thực riêng của mình; người đó đơn giản theo người

khác. Bố mẹ nói điều gì đó, thầy giáo, tu sĩ, chính khách nói

điều gì đó, và người đó cứ tuân theo đủ mọi loại lời khuyên.

Người đó không có ý tưởng tại sao người đó ở đây, để làm

gì, và người đó làm gì, và tại sao. Người đó chưa bao giờ

nêu ra những câu hỏi như vậy.

Những câu hỏi này là rất không thoải mái với người đó.

Chúng tạo ra lo âu trong người đó; người đó tránh né những

câu hỏi này. Người đó đơn giản tin vào câu trả lời đã được

trao cho người đó; người đó không bao giờ hoài nghi những

câu trả lời này. Không phải là người đó đã đạt tới tin cậy –

không, người đó không có tin cậy nào – nhưng người đó đơn

giản kìm nén hoài nghi của mình bởi vì hoài nghi tạo ra

không thoải mái.

Người đó vẫn còn là người Hindu, người Mô ha mét

giáo, người Ki tô giáo. Người đó chưa bao giờ truy tìm và

người đó không bao giờ dám mạo hiểm bất kì cái gì cho việc

truy tìm. Người đó chưa bao giờ đi vào thám hiểm. Người

đó không phải là kẻ phiêu lưu, cuộc sống của người đó

không phải là cuộc phiêu lưu. Người đó bị mắc kẹt, người đó

im lìm, trì trệ. Bạn không thể tách người đó ra khỏi đám

đông của người đó; người đó giống như con cừu. Phật gọi

người đó là người ngu xuẩn.

217

Người ngu xuẩn có thể rất thông thái – thực ra gần như

người đó bao giờ cũng là như vậy. Người đó có thể là bác

học, học giả, giáo sư lớn – đó là cách người đó che giấu cái

ngu xuẩn của mình. Bằng việc thu thập tri thức ở chu vi,

người đó che giấu cái dốt nát tồn tại ở trung tâm.

Có hai kiểu người: một kiểu là người rất thông thái –

thông thái, nhưng họ không biết gì. Họ có một loại tri thức

dốt nát. Và có loại khác nữa: những người không phải là

người thông thái – nhưng họ biết. Họ có một loại dốt nát biết.

Khi Phật dùng từ ‘ngu xuẩn’, ông ấy không nói về loại

người thứ hai này – bởi vì bản thân Phật không phải là người

thông thái lắm, mà cả Jesus, cả Mohammed cũng vậy. Họ

đều là những người hồn nhiên, những người đơn giản, nhưng

tính đơn giản của họ, cái hồn nhiên của họ, phẩm chất ngây

thơ của họ lại đến mức là họ đã có khả năng thấm vào cốt lõi

bên trong nhất của bản thể của họ. Họ đã có thể biết tới chân

lí của họ; họ có khả năng đạt tới chính cốt lõi của sự tồn tại

của họ. Họ biết, nhưng họ không thông thái. Việc biết của họ

không phải là qua kinh sách. Việc biết của họ đã xảy ra qua

quan sát. Nhớ tới cội nguồn: việc biết thực tới qua thiền,

nhận biết, ý thức, lưu tâm, quan sát, chứng kiến. Và tri thức

không thực tới qua kinh sách. Bạn có thể học tri thức không

thực rất dễ dàng và bạn có thể khoe khoang về nó, nhưng

bạn sẽ vẫn còn là kẻ ngu xuẩn – kẻ ngu xuẩn có học, nhưng

kẻ ngu xuẩn tất cả như nhau.

Nếu bạn thực sự muốn biết thì bạn sẽ phải vứt bỏ tất cả

tri thức của bạn, bạn sẽ phải dỡ bỏ nó. Bạn sẽ phải trở thành

dốt nát lần nữa, giống như trẻ nhỏ, với đôi mắt ngạc nhiên,

với sự tỉnh táo. Bạn sẽ có khả năng biết không chỉ bản thể

riêng của bạn mà còn cả bản thể tồn tại trong thế giới… bản

thể tồn tại trong cây cối và chim chóc và con vật và tảng đá

218

và các vì sao. Nếu bạn có khả năng biết tới bản thân mình,

bạn sẽ có khả năng biết tới tất cả những cái đang đấy.

Thượng đế là tên khác cho tất cả những cái đang đấy.

Người ngu không để ý. Với “không để ý” Phật ngụ ý

người đó hành xử một cách vô ý thức. Người đó không biết

mình đang làm gì. Người đó đơn giản cứ làm mọi việc bởi vì

người đó không thể nào còn nhàn rỗi được; người đó muốn

thường xuyên bận bịu. Người đó không thể còn một mình

được; người đó muốn thường xuyên có bầu bạn. Người đó

không thể vẫn còn không dính líu cho dù chỉ một khoảnh

khắc, bởi vì bất kì khi nào người đó không tham dự, không

bận bịu, một mình, người đó bắt đầu đối diện với bản thân

mình – và người đó rất sợ điều đó.

Người đó không muốn đi vào trong vực thẳm của bản

thể riêng của mình. Tất cả những điều mà người đó biết đều

vô nghĩa ở đó. Tất cả những điều người đó biết, người đó

không thể đem vào đó được. Tất cả tri thức của người đó, tất

cả tính hiệu quả của người đó, tất cả kinh sách của người đó,

tất cả lí thuyết của người đó, đều hoàn toàn vô tích sự trong

thế giới bên trong này. Người đó níu bám vào bên ngoài bởi

vì ở đó người đó là ai đó. Trong thế giới bên trong người đó

là không ai.

Quan sát mọi người mà xem! Thực ra đấy là giải trí lớn

nhất: đứng bên đường và chỉ quan sát mọi người. Họ đang

làm gì? Tại sao họ làm điều đó? Và thế rồi quan sát bản thân

bạn – bạn đang làm gì vậy? và tại sao?

Một người tới đón một phụ nữ trẻ trong sảnh khách sạn

và đi lên phòng cô ấy cùng cô ấy. Họ cả hai đều cởi quần áo,

219

nhưng thế rồi cô gái nói, “Trước hết đuổi em đã! Em muốn

được bốc lửa, kích động!”

Anh chàng đuổi cô gái trong hai giờ, nhưng không thể

nào bắt được cô ấy và bỏ đi trong phẫn nộ.

Đêm hôm sau người đó thấy cô ấy đón một nạn nhân

khác trong cùng sảnh và người đó lén nấp ở thang thoát hiểm

để quan sát sự thất bại của gã khờ mới qua cửa sổ. Khi người

đó quan sát thấy những đôi chân trần nhoáng lên dưới bóng

cửa sổ kéo một phần, người đó nói to với mình, “A, người

anh em, lấy tải của cái đó!”

“Anh đã nói điều đó!” một giọng đàn ông thốt ra cạnh

tai người đó, “nhưng anh nên thấy thằng chó đẻ đã ở đây

đêm hôm qua!”

Quan sát mọi người – họ đang làm gì? Săn cái bóng, săn

đuổi mọi thứ mà họ không cần, cố gắng làm nỗ lực lớn để

đạt tới cái gì đó mà một khi đạt tới rồi họ sẽ không biết phải

làm gì. Đấy là cách mọi người đang theo đuổi tiền bạc, theo

đuổi quyền lực chính trị. Một khi bạn có nó bạn không biết

phải làm gì với nó.

Một phụ nữ nói với một phụ nữ khác, “Chị có lo nghĩ về

chồng mình không? Anh ấy cứ liên tục đi săn đuổi đàn bà,

bất kì đàn bà nào – mà chị biết điều đó!”

Và người phụ nữ kia cười phá lên. Cô ấy nói, “Không có

gì phải lo nghĩ cả: việc săn đàn bà của anh ấy giống như chó

săn xe thôi.”

Người kia nói, “Tôi không hiểu. Chị ngụ ý gì, chó săn xe

là sao?”

220

Chị này nói, ‘Vâng, chó săn xe – một khi chúng bắt được

một xe chúng không biết phải làm gì với xe cả, và đó là cách

thức của chồng tôi. Anh ấy sẽ săn đàn bà, anh ấy sẽ bắt lấy

cô ấy. Thế rồi anh ấy không biết phải làm gì với cô ấy. Tôi

biết anh ấy! Đó là lí do tại sao tôi không lo nghĩ.”

Đây là tình huống ấy. Ai đó muốn rất nổi tiếng, và người

đó sẽ phí toàn thể cuộc đời mình trong việc trở thành nổi

tiếng và thế rồi người đó sẽ không biết phải làm gì với nó.

Thực ra, một khi bạn trở thành rất nổi tiếng bạn muốn trở

thành không nổi tiếng lần nữa, bởi vì nó thành nặng nề đến

thế. Bạn không thể thảnh thơi được. Bạn không thể đi bất kì

đâu mà không bị đám đông theo dõi. Bạn không có tính

riêng tư nào nữa, bạn không thể sống bất kì cuộc sống cá

nhân nào. Mọi người đều nhìn, quan sát, điều tra cuộc sống

của bạn. Bạn không thể cười, bạn không thể nói dễ dàng…

mọi thứ trở thành khó khăn.

Mới vài ngày trước đây Jimmy Carter đã nói rằng nếu

Kennedy chống lại ông ta trong cuộc bầu cử tổng thống thì

ông ấy sẽ “quất roi vào đít ông ta.” Bây giờ ông ấy bị kết án

trên khắp thế giới vì dùng từ đó. Bạn thậm chí không thể

dùng một từ hồn nhiên. Bây giờ ông ta phải cảm thấy rất hối

hận về điều mình đã làm. Ông ấy đã phạm phải một tội.

Bạn không có cuộc sống riêng tư khi bạn nổi tiếng – khi

bạn là tổng thống của một nước, người được giải Nobel, bạn

là một vật công cộng. Bạn bao giờ cũng trong trưng bầy,

trong tủ bầy hàng; bạn bao giờ cũng phải giữ gìn diện bảnh.

Bạn không thể làm một cử chỉ đơn giản trong tự do.

Mọi người có tiền… và thế thì họ không biết phải làm gì

với nó.

221

Con người ngẫu nhiên là ngu xuẩn. Người trí huệ di

chuyển một cách có chủ ý, đi từng bước có ý thức. Cuộc

sống người đó là cuộc truy tìm thường xuyên về chân lí.

Người đó không đi lạc lối. Người đó vẫn còn tỉnh táo trong

mỗi một hành động của mình – không phải bởi vì người

khác. Người đó vẫn còn tỉnh táo chỉ bởi vì chính việc tỉnh

táo mà người ấy trở thành được tích hợp, người đó sẽ trở

thành được kết tinh.

Người ngu không để ý. Người trí huệ chăm nom – người

đó chăm nom về bản thân mình, người đó chăm nom về cuộc

sống mình, người đó chăm nom về những người khác nữa.

Người đó chăm nom mọi thứ, bởi vì người đó đánh giá cao

cuộc sống của mình. Người đó biết rằng cuộc sống là rất quí

giá, rằng nó là cơ hội Thượng đế trao cho để trưởng thành,

rằng nó phải không bị mất đi trong một loại say sưa nào đó.

Một gái mãi dâm đã cải tà gia nhập đội quân cứu tế và

đang đưa ra bằng chứng tại một góc phố. “Tôi đã quen nằm

trong vòng tay của các đàn ông,” cô ấy thú nhận, “đàn ông

da trắng, đàn ông da đen, đàn ông Trung quốc. Nhưng nay

tôi nằm trong vòng tay của Jesus.”

“Phải đấy, cô em,” một kẻ say kêu lên từ hàng cuối,

“đéo hết tất cả chúng nó!”

Quan sát mọi người và quan sát bản thân mình, và bạn

sẽ ngạc nhiên làm sao chúng ta vô ý thức thế, chúng ta say

sưa thế. Sơ suất làm sao! Chúng ta không lắng nghe điều

được nói, chúng ta không thấy điều ta thấy. Mắt ta bị mây

phủ, tâm trí chúng ta bị lẫn lộn, bản thể chúng ta không sáng

tỏ. Chúng ta không cảm nhận, chúng ta không nhạy cảm.

222

Chúng ta cứ thốt ra những điều chúng ta không ngụ ý, và

thế rồi chúng ta đau khổ về chúng. Chúng ta cứ nói những

điều mà chúng ta không bao giờ muốn nói. Chúng ta cứ làm

mọi thứ – thậm chí trong khi đang làm chúng, chúng ta biết

rằng mình không muốn làm những điều này, dầu vậy chúng

ta vẫn cứ làm chúng. Một lực vô thức nào đó cứ lái chúng ta

đi. Đôi khi thậm chí chúng ta quyết định không làm việc nào

đó, không nói điều gì đó – dầu vậy chúng ta lại cứ làm điều

đó, cho dù ngược với quyết định riêng của chúng ta. Chúng

ta không có bất kì quyết tâm nào, chúng ta không có bất kì ý

chí kiên quyết nào, chúng ta không có bất kì ý chí nào.

Cô ấy biết rằng đây là những giờ phút cuối của mình

trên trái đất này, cho nên cô ấy gọi chồng tới bên mình và

trong giọng ngập ngừng nói với anh ta yêu cầu cuối của

mình.

“Em biết,” cô ấy nói, “rằng anh và mẹ chưa bao giờ hoà

thuận với nhau. Nhưng xin anh một ân huệ đặc biệt cho em,

anh đi cùng xe với mẹ đến nghĩa trang được không?”

“Cũng được,” anh chồng bất hạnh đáp. “Nhưng điều đó

sẽ phá hỏng cả ngày của tôi.”

Đây không thực là chuyện đùa đâu – điều này xảy ra

hàng ngày. Bạn nói những điều mà bạn phải biết là không

nên nói. Nhưng bạn chỉ biết điều đó về sau, khi cái hại đã

được làm. Điều vô ý thức thốt ra.

Bây giờ, anh chàng này có thể khóc lóc và nói với vợ

mình, “Không có em, anh không thể nào sống nổi. Anh bao

giờ cũng thấy trống rỗng khi thiếu em, một phần linh hồn

223

anh sẽ chết với em…” và những điều như thế. Nhưng bây

giờ, trong khoảnh khắc này, người đó đã quên tất.

Người ngu không để ý. Nhưng người chủ canh việc quan

sát của mình. Đấy là kho báu quí giá nhất của người đó.

Người ngu xuẩn vẫn còn là nô lệ – nô lệ của bản năng, nô lệ

của ham muốn vô ý thức, nô lệ của ý tưởng chợt nảy ra, nô

lệ của xã hội trong đó người đó được sinh ra, nô lệ của thời

thượng – nô lệ của bất kì cái gì xảy ra xung quanh người đó.

Người đó đơn giản nhặt nó lên. Nếu hàng xóm mua chiếc xe

mới, người đó phải mua chiếc xe mới. Người đó không cần

nó. Nếu hàng xóm mua ngôi nhà mới trên núi, người đó phải

mua ngôi nhà mới. Có thể là khó khăn và vất vả xoay xở

tiền. Người đó có thể phải đi vay mượn, người đó có thể

phải mất nhiều năm để trả nợ, nhưng người đó phải mua nó.

Bản ngã người đó bị tổn thương. Mọi người đang sống theo

cách bắt chước, rất sơ suất.

Trong những người Eskimo có một truyền thống, một

truyền thống rất hay, rằng mỗi năm, ngày đầu tiên của năm,

mọi gia đình đều tìm trong nhà xem cái gì là không cần thiết

và cái gì là cần thiết – họ sắp xếp mọi thứ. Và chỉ cái gì tuyệt

đối cần mới được giữ lại; tất cả những cái không cần đều

được đem đi làm quà tặng cho mọi người.

Và bạn sẽ ngạc nhiên mà biết rằng nhà của người

Eskimo là nhà sạch nhất trên thế giới, có sự thuần khiết về

nó – không rác rưởi, không cái gì tích luỹ lại. Rộng rãi – nhỏ

nhưng rộng rãi; chỉ những cái gì cần thiết, tuyệt đối cần

thiết…

Nghĩ về tất cả những thứ mà bạn cứ tích trữ lại: chúng

có thực sự cần thiết không? bạn có thực sự cần chúng

không? Hay đấy chỉ bởi vì mọi người tích trữ mà bạn cũng

trở nên tích trữ?

224

Người quan sát trở thành người chủ cuộc sống mình.

Người đó sống cuộc sống tương ứng theo ánh sáng của

mình, không theo cuộc sống của người khác. Người đó sống

nó theo nhu cầu riêng của mình. Và nhớ lấy, nhu cầu của

bạn là không nhiều. Nếu bạn trí huệ, quan sát, bạn sẽ có

cuộc sống rất rất mãn nguyện, và rất đơn giản, và với những

điều nhỏ bé.

Nhưng nếu bạn bắt chước, thế thì cuộc sống của bạn sẽ

trở thành rất phức tạp, phức tạp không cần thiết. Và tôi

không định cho bạn những chỉ dẫn đặc biệt về bạn phải có gì

và phải không có gì. Tôi đơn giản nói cứ quan sát… bất kì

cái gì cần thiết cho bạn, có nó đi; và bất kì cái gì không cần

thiết cho bạn, quên nó đi. Đây là cách thức của sannyasin.

Tôi không ủng hộ từ bỏ mọi thứ, nhưng tôi chắc chắn

ủng hộ việc vứt rác không cần thiết. Và cũng không chỉ là

bạn thu thập những thứ không cần thiết thôi đâu – bạn ham

muốn cả những thứ không cần thiết, và bạn chưa bao giờ

thiền liệu những thứ này có thực sự cần thiết không. Chúng

liệu có ích theo bất kì cách nào không? Chúng có làm cho

bạn hạnh phúc hơn không, phúc lạc hơn không?

Trước khi bạn bắt đầu ham muốn một thứ, nghĩ về nó ba

lần… và bạn sẽ ngạc nhiên. Trong một trăm ham muốn của

bạn, chín mươi chín điều là tuyệt đối vô dụng. Chúng đơn

giản giữ cho bạn bận bịu; đó là chức năng duy nhất của

chúng. Chúng giữ cho bạn xa khỏi bản thân bạn; đó là tiện

dụng duy nhất của chúng. Chúng không cho phép bạn có

thời gian, không gian để ở với bản thân mình. Chúng là nguy

hiểm. Chính bởi những điều không cần thiết này mà bạn sẽ

làm phí hoài cả cuộc đời mình, và bạn sẽ chết đi trong phá

sản.

…người chủ canh việc quan sát của mình.

225

Tôi đã nghe:

Chồng và vợ đang bị xô đẩy tới điên khùng bởi sự hiện

diện thường xuyên của người anh vợ, người tới nghỉ cuối

tuần nhưng cứ ở lì lại sáu tháng nữa. Họ quyết định rằng

người vợ sẽ nấu gà còn người chồng sẽ giả vờ món này bị

quá nhừ. Họ sẽ gây chuyện với ông anh vợ. Nếu người đó

nói món gà ngon anh chồng sẽ tống người đó đi; nếu người

đó nói món gà tồi chị vợ sẽ tống người đó đi. Sự việc không

thể hỏng được!

Khung cảnh được dàn dựng như dự tính, với rất nhiều

quát tháo và buộc tội giả vờ, trong khi ông anh vợ vẫn im

lặng ăn lậu thức ăn. Bỗng nhiên chồng và vợ dừng quát tháo

và quay sang người đó.

“Harry,” anh chồng nói, “anh nghĩ gì?”

“Tôi á?” Harry nói, cắn một miếng chân gà. “Tôi nghĩ

tôi định ở lại thêm ba tháng nữa.”

Phải là người rất quan sát. Phải là người rất để ý, tỉnh

táo. Người đó không bị mắc bẫy. Cái bẫy này chắc chắn rất

tinh vi. Trừ phi người đó rất tỉnh táo, bằng không chắc chắn

là bị mắc bẫy. Người đó không đưa ra ý kiến nào. Người đó

đơn giản chỉ phát biểu một sự kiện, rằng “tôi định ở lại thêm

ba tháng nữa.”

Sống có quan sát và bạn sẽ không bị mắc bẫy. Sống một

cách vô ý thức và trên mỗi bước bạn đều bị mắc bẫy; cuộc

sống của bạn trở thành ngày càng bị cầm tù. Và không ai

chịu trách nhiệm trừ bạn.

226

Nhưng người chủ canh việc quan sát của mình. Đấy là

kho báu quí giá nhất của người đó. Bất kì điều gì người đó

làm, người đó đều làm với nhận biết toàn bộ. Bất kì điều gì

bạn làm, bạn làm gần như máy móc. Bạn sẽ phải giải tự

động hoá cho bản thân bạn. Đó là điều thiền tất cả là gì: quá

trình giải tự động hoá.

Bạn đã trở thành máy tự động. Bạn cứ lái xe, hút thuốc,

nói chuyện với bạn bè, và nghĩ cả nghìn lẻ một thứ bên

trong. Phần lớn những điều ngẫu nhiên xảy ra bởi điều này.

Nhiều người chết hàng năm trong ô tô, tầu hoả, máy bay và

những tai nạn tương tự hơn là chết trong chiến tranh. Aldolf

Hitler có thể không giết nhiều người như người đã bị chết

hàng năm bởi hành vi máy móc của con người trên khắp trái

đất.

Nhưng bạn có thể làm được gì? Đó là toàn thể cách sống

của bạn, đó là cách bạn sống. Bạn ăn – bạn đơn giản cứ tọng

các thứ vào, bạn không chú ý bạn đang ăn gì. Bạn làm tình

với vợ bạn hay chồng bạn – bạn thậm chí không thấy khuôn

mặt của người đàn bà. Bạn đã trở nên rất không nhạy cảm;

bạn chỉ cứ đi qua những cử chỉ trống rỗng, không ý nghĩa gì.

Chúng không thể có bất kì ý nghĩa gì chừng nào bạn chưa

tỉnh táo tràn đầy.

Chính ánh sáng của nhận biết làm cho mọi thứ thành quí

giá, phi thường. Thế thì những thứ nhỏ bé không còn nhỏ bé

nữa. Khi một người với tỉnh táo, nhạy cảm, tình yêu, chạm

vào một viên sỏi thường trên bãi biển, viên sỏi đó trở thành

viên kim cương kohinoor. Còn nếu bạn chạm vào viên

kohinoor trong trạng thái vô ý thức của mình, nó chỉ là viên

sỏi bình thường – thậm chí không được như thế. Cuộc sống

của bạn sẽ có nhiều chiều sâu và nhiều ý nghĩa khi bạn có

nhận biết.

227

Bây giờ mọi người trên khắp thế giới đang hỏi, “Ý nghĩa

của cuộc sống là gì?” Tất nhiên ý nghĩa này bị mất rồi, bởi

vì bạn đã mất con đường tìm nghĩa – và con đường là nhận

biết. Đấy là kho báu quí giá nhất của người đó.

Người đó không bao nhượng bộ ham muốn.

Phật ngụ ý gì bởi “ham muốn”? Ham muốn nghĩa là toàn

thể tâm trí của bạn. Ham muốn nghĩa là không ở đây và bây

giờ. Ham muốn nghĩa là đi đâu đó trong tương lai mà còn

chưa có. Ham muốn nghĩa là cả nghìn lẻ một cách thoát li

khỏi hiện tại. Ham muốn tương đương với tâm trí. Theo

thuật ngữ của Phật, ham muốn là tâm trí.

Và ham muốn cũng là thời gian nữa. Khi tôi nói ham

muốn cũng là thời gian nữa, tôi không ngụ ý thời gian đồng

hồ, tôi ngụ ý thời gian tâm lí. Bạn tạo ra tương lai trong tâm

trí mình thế nào? – bằng việc ham muốn. Bạn muốn làm điều

gì đó ngày mai, bạn đã tạo ra ngày mai; bằng không ngày

mai chưa có ở đâu cả, và bởi vì bạn muốn làm điều gì đó

ngày mai nên bạn đã tạo ra ngày mai tâm lí.

Và mọi người đều đang tạo ra năm sau, kiếp sau. Họ

thậm chí còn nghĩ về phải làm gì sau kiếp này, sau cái chết.

Họ còn thậm chí chuẩn bị cho điều đó! Và những người này

được coi là tôn giáo; họ không tôn giáo chút nào. Ham muốn

đưa họ đi xa khỏi bây giờ-ở đây, và bây giờ-ở đây mới là

thực tại duy nhất.

Do đó Phật nói: Người đó không bao giờ nhượng bộ

ham muốn. Người đó không bao giờ đi vào trong tương lai,

người đó sống trong hiện tại. Sống trong tương lai là sống

cuộc sống giả tạo, cuộc sống giả.

Còn tiếp

Dhammapada

CON ĐƯỜNG CỦA PHẬT

¨

ĐÂY LÀ CON ĐƯỜNG

ĐI TỚI CHÂN LÍ TỐI THƯỢNG

Tập 1 ( tiếp theo )

Một nữ nghệ sĩ thời thượng từ chối một thanh niên cầu

xin ân huệ của cô ấy, với cái cớ rằng người đó là người Do

Thái, và cười vào đề nghị của người đó với giá một trăm

nghìn franc. Cô ấy bảo anh chàng rằng để chỉ ra cho anh ta

thấy mình nhỏ bé thế nào, cô ấy chiếu cố số tiền của người

đó và người đó có thể làm tình với cô ấy trong thời gian một

trăm nghìn franc đó cháy.

Người đó quay lại vào ngày hôm sau với số tiền đó, đặt

mười tờ bạc thành một hàng với các tờ bạc chờm lên nhau,

đốt tờ thứ nhất rồi nhảy lên giường với cô ấy. Khi tờ bạc

cuối cùng đã cháy hết, cô ta đẩy người đó ra khỏi mình.

“Được rồi, anh đã có em,” người đó nói một cách chiến

thắng.

“Vâng,” cô ta mỉm cười, “và một trăm nghìn franc này

cháy thành tro.”

“Thì có vấn đề gì đâu?” người đó nói, châm điếu thuốc,

“Chúng là tiền giả mà.”

Người sống trong tương lai, sống cuộc đời giả. Người đó

không thực sự sống, người đó chỉ giả vờ sống. Người đó hi

vọng sống, người đó ham muốn sống, nhưng người đó chưa

bao giờ sống. Và ngày mai không bao giờ tới, bao giờ cũng

chỉ là hôm nay thôi. Và bất kì cái gì tới bao giờ cũng là bây

giờ và ở đây, và người đó không biết cách sống bây giờ-ở

đây; người đó chỉ biết cách thoát khỏi bây giờ-ở đây. Cách

để trốn thoát được gọi là “ham muốn”, tanha – đó là từ của

Phật về việc trốn thoát khỏi hiện tại là gì, từ cái thực vào cái

không thực.

Người ham muốn là kẻ trốn chạy.

229

Bây giờ, điều này rất lạ, rằng thiền nhân bị coi là kẻ trốn

chạy. Điều đó hoàn toàn vô nghĩa. Duy nhất thiền nhân

không phải là kẻ trốn chạy – mọi người khác đều trốn chạy.

Thiền nghĩa là thoát khỏi ham muốn, thoát khỏi ý nghĩ, thoát

khỏi tâm trí. Thiền nghĩa là thảnh thơi trong khoảnh khắc

này, trong hiện tại. Thiền là điều duy nhất trên thế giới này

mà không phải là người trốn chạy, mặc dầu nó bị coi là thứ

trốn chạy nhất. Những người kết án thiền bao giờ cũng kết

án nó với luận cứ rằng nó là trốn tránh, trốn tránh khỏi cuộc

sống. Họ đơn giản nói những điều vô nghĩa; họ không hiểu

điều họ đang nói.

Thiền không phải là trốn chạy khỏi cuộc sống: nó là trốn

vào cuộc sống. Tâm trí đang trốn thoát khỏi cuộc sống, ham

muốn đang trốn thoát khỏi cuộc sống.

Người đó không bao nhượng bộ ham muốn.
Người đó thiền.

Người đó đem bản thân mình vào lại trong hiện tại. Lặp

đi lặp lại tâm trí bắt đầu vận hành và người đó đem nó trở lại

hiện tại. Dần dần, dần dần nó bắt đầu xảy ra: cửa sổ mở ra và

lần đầu tiên bạn thấy bầu trời như nó vậy. Và lần đầu tiên

bạn cảm thấy gió và mưa và mặt trời, trong tính trực tiếp của

chúng, bởi vì bạn trở nên có tính thiền. Bạn bắt đầu chạm tới

cuộc sống. Thế thì cuộc sống không còn là một từ nữa mà là

hiện thực sờ nắm được; thế thì tình yêu không còn là một từ

nữa mà là năng lượng tràn ngập. Thế thì phúc lành không

còn chỉ là ham muốn, hi vọng – bạn cảm thấy nó, bạn có nó,

bạn là nó.

Người đó thiền… Phật không ủng hộ cho cầu nguyện,

ông ấy ủng hộ cho thiền, bởi vì cầu nguyện một cách nào đó

lại là một loại ham muốn. Khi bạn cầu nguyện, bạn ham

230

muốn. Cầu nguyện bao giờ cũng về tương lai; cầu nguyện

nghĩa bạn đang đòi hỏi cái gì đó. Bạn có thể không đòi hỏi

tiền bạc, bạn có thể đòi hỏi chính bản thân Thượng đế,

nhưng điều đó là một thôi. Đòi hỏi, và bạn đã đi xa. Thiền là

trạng thái không đòi hỏi, không đặt câu hỏi, không suy nghĩ.

Cầu nguyện vẫn là một phần của suy nghĩ – một suy nghĩ

đẹp, nhưng suy nghĩ là suy nghĩ; một nhà tù đẹp, nhưng nhà

tù vẫn là nhà tù thôi.

Và tâm trí cầu nguyện là tham lam, và tâm trí cầu

nguyện không trải qua biến đổi. Nó vẫn còn là cùng tâm trí

đó. Và lời cầu nguyện được sinh ra từ cùng một tâm trí; nó

không thể có phẩm chất rất khác biệt. Làm sao bạn có thể

cầu nguyện điều gì đó mà khác với bạn được? – nó sẽ là lời

cầu nguyện của bạn. Nó sẽ phản ánh tâm trí bạn, nó sẽ đi ra

từ tâm trí bạn, nó sẽ mọc ra từ tâm trí bạn. Làm sao nó có thể

đưa bạn vượt ra ngoài tâm trí được? Cầu nguyện không thể

đưa bạn vượt ra ngoài tâm trí được. Chỉ thiền có thể đưa bạn

vượt ra ngoài tâm trí.

Thiền là trạng thái của vô trí. Lời cầu nguyện là trạng

thái của tâm trí tôn giáo, nhưng tâm trí có đó. Và khi nó vẫn

còn là cái vỏ ngoài tôn giáo đẹp đẽ bao quanh nó, nó thậm

chí trở thành nguy hiểm hơn.

Một cậu nhỏ đi cắm trại lạc xa khỏi gia đình, và bỗng

nhiên nhận ra rằng mình bị lạc và màn đêm đang buông

xuống. Trở nên hoảng hốt sau khi lang thang vô mục đích

một lúc, và gào thét gọi bố mẹ mà không nhận được câu trả

lời nào, cậu bé quì xuống và cầu nguyện với hai tay giơ lên

trời. “Lạy trời,” cậu bé nói, “xin giúp con tìm lại bố mẹ và

con sẽ không đánh đứa em gái nhỏ của con nữa, con xin lấy

danh dự mà thề không đánh nữa!”

231

Khi cậu đang quì cầu nguyện, một con chim bay qua và

ỉa một bãi cứt vào bàn tay để mở của cậu. Cậu nhỏ xem xét

nó và ngước mắt lên trời.

“Ôi xin trời,” cậu cầu xin, “đừng cho con cái cứt ấy. Con

thực sự bị lạc!”

Lời cầu nguyện của bạn là lời cầu nguyện của bạn; nó là

một phần của bạn, sự mở rộng của bạn. Nó không thể giúp

bạn vượt qua bản thân bạn. Thiền là cách duy nhất để vượt

qua bản thân người ta, cách duy nhất để siêu việt lên bản

thân người ta.

Và thiền là gì? Nó không có nghĩa là ngẫm nghĩ về cái gì

đó; từ tiếng Anh meditation là sai. Trong tiếng Anh không

có từ thích hợp để dịch từ sammasati của Phật. Nó đã được

dịch ra là ngẫm nghĩ, là việc để ý đúng đắn, là nhận biết, là

có ý thức, tỉnh táo, quan sát, chứng kiến – nhưng không thực

sự có riêng một từ mang phẩn chất của sammasati.

Sammasati có nghĩa là: tâm thức hiện hữu, nhưng không

có nội dung nào. Không có ý nghĩ, không ham muốn, không

cái gì khuấy động trong bạn. Bạn không suy tư về Thượng

đế hay về những điều lớn lao… tự nhiên và cái đẹp của nó,

Kinh Thánh, Koran, Veda và những phát biểu có ý nghĩa

mênh mông của chúng. Bạn không suy tư! Bạn không tập

trung vào bất kì đối tượng đặc biệt nào. Bạn không tụng mật

chú, bởi vì đấy tất cả đều là những điều của tâm trí, đấy tất

cả đều là nội dung của tâm trí. Bạn không làm gì cả! Tâm trí

hoàn toàn trống rỗng, và bạn đơn giản ở đó trong cái trống

rỗng ấy. Một loại hiện diện, hiện diện thuần khiết, không

đâu mà đi – thảnh thơi hoàn toàn trong bản thân mình, nghỉ

ngơi, ở nhà. Đó là ý nghĩa của thiền của Phật.

232

Và không người khác nào đạt tới cách diễn đạt đẹp đẽ

như vậy về thiền như Phật. Nhiều người đã đạt tới, nhưng

không ai đã có tính diễn đạt như vậy, có khả năng truyền đạt

được thông điệp này, như Phật. Người đó không bao giờ

nhượng bộ ham muốn. Người đó thiền.

Và trong sức mạnh của quyết tâm
Người đó phát hiện ra hạnh phúc thực sự.

Phúc lạc là hạnh phúc thực. Điều bạn gọi là hạnh phúc

chỉ là khổ trá hình. Điều bạn gọi là hạnh phúc không là gì

ngoài tiêu khiển, giải trí. Nó là tạm thời – nó không thể đúng

được. Chân lí phải có một phẩm chất, và phẩm chất đó là

tính vĩnh hằng. Nếu cái gì đó là đúng nó là vĩnh hằng; nếu

nó không đúng, nó là nhất thời.

Hạnh phúc thực chỉ được tìm thấy khi tâm trí ngừng vận

hành hoàn toàn. Nó không tới từ bên ngoài. Nó trào lên từ

bên trong bản thể riêng của bạn, nó bắt đầu tràn ngập bạn.

Bạn trở nên chói sáng. Bạn trở thành đài phun phúc lạc.

Người đó vượt qua ham muốn –
Và từ chiếc tháp của trí huệ
Người đó nhìn xuống thản nhiên
về đám đông buồn..
Từ đỉnh núi
Người đó nhìn xuống những người
Sống gần mặt đất.

Khi ai đó trở thành vị phật – ham muốn bị vượt qua, tâm

trí bị vượt qua, thời gian bị vượt qua, bản ngã bị siêu việt lên

– người đó không còn là một phần của thế gian này nữa.

Người đó vẫn sống trên thế gian, nhưng linh hồn của người

233

đó bay vút lên cao đến mức từ trên đỉnh ánh sáng mặt trời đó

của bản thể mình, người đó có thể thấy đám đông buồn bã

trong thung lũng tăm tối của cuộc sống, loạng choạng, say

sưa, đánh lộn, tham vọng, tham lam, giận dữ, bạo hành…

lãng phí cực kì các cơ hội lớn. Từ bi lớn lao nảy sinh trong

bản thể người đó. Toàn thể đam mê của người đó chuyển

qua thái độ thản nhiên và trở thành từ bi.

Đam mê nghĩa là dùng người khác như phương tiện – và

đó là nền tảng của vô đạo đức. Dùng ai đó như phương tiện

là hành động vô đạo đức nhất trên thế giới, bởi vì mỗi người

đều là một mục đích lên bản thân mình. Dùng người đó như

phương tiện tức là khai thác. Và đó là điều chúng ta gọi là

yêu: chồng dùng vợ, vợ dùng chồng; con cái dùng bố mẹ, và

bố mẹ sau đó dùng con cái họ – đó là điều chúng ta gọi là

yêu!

Đấy không phải là yêu. Đấy là chiến lược của tâm trí; nó

là chất độc được bọc đường. Yêu này thực sự là trá hình. Đó

là lí do tại sao bạn nhìn toàn thể thế giới trong ghê tởm thế.

Yêu này là bệnh hoạn. Nó làm ốm yếu toàn thể linh hồn

nhân loại bởi vì nó không phải là yêu chút nào. Nó là đam

mê, thèm khát, dùng người khác như phương tiện.

Khi bạn bắt đầu thiền bạn đi tới giai đoạn thứ hai, thản

nhiên – yêu biến mất. Bạn đi vào pha trung gian; cũng hệt

như bạn sang số xe, và mỗi lần bạn sang số xe, số ban đầu

phải được chuyển về số trung gian, cho nên đam mê chuyển

qua pha trung gian – nó trở thành không thản nhiên. Yêu

biến mất. Với thời kì này, trong khoảng này, người đang

hướng tới phật tính trở thành hoàn toàn bình thản, thản

nhiên.

Và thế thì giai đoạn thứ ba được đạt tới. Khi người đó đã

đạt tới phật tính, người đó đã tìm thấy phúc lạc và đài phun

234

phúc lạc không cạn – aes dhammo sanantano – khi người đó

đã tìm thấy nguyên lí của vĩnh hằng, khi người đó đã tìm

thấy kho báu không cạn của cuộc sống, người đó bắt đầu

tuôn tràn. Yêu quay lại – thực ra, yêu tới lần đầu tiên. Nó là

từ bi. Bây giờ người đó mưa rào từ bi của mình trên từng và

mọi người; bất kì ai tới với người đó, người đó chia sẻ phúc

lạc của mình với người tới, người đó chia sẻ con đường

mình, người đó chia sẻ sáng suốt của mình.

Lưu tâm trong những điều đơn giản,
Thức tỉnh khi người khác mơ,
Nhanh như ngựa đua
Người đó bỏ xa cánh đồng.

Và khi bạn đã trở nên thích nghi trong thiền và từ bi, bạn

không còn rơi xuống thành nạn nhân của ngủ và mơ nữa.

Bạn vẫn còn tỉnh thức – ngay cả trong khi ngủ. Và thế thì

cuộc sống của bạn trở thành mũi tên thẳng tắp, bay đi với tốc

độ lớn vô cùng, với tốc độ ánh sáng, hướng tới mục đích.

Lần đầu tiên bạn trở thành bản thể.

Nhanh như ngựa đua người đó bỏ xa cánh đồng. Lưu

tâm trong những điều đơn giản, thức tỉnh trong khi người

khác mơ. Đó là khác biệt giữa Phật và người khác. Người

khác chỉ đang mơ, không thực sự sống; hi vọng sống ngày

nào đó, chuẩn bị để sống, nhưng không sống. Và ngày đó

không bao giờ tới – trước ngày đó cái chết tới.

Vị phật là thức tỉnh. Ngay cả trong khi ông ấy ngủ ông

ấy không mơ. Khi ham muốn biến mất, mơ cũng biến mất

theo. Mơ là ham muốn được dịch sang ngôn ngữ của ngủ. Vị

phật ngủ nhưng với tỉnh táo tuyệt đối. Ánh sáng tiếp tục

cháy bên trong người đó. Thân thể cần ngủ, do đó thân thể

ngủ, nhưng người đó không cần ngủ – năng lượng không

235

cạn. Tại đó, tại trung tâm bản thể người đó, một ánh sáng

nhỏ cứ cháy mãi. Toàn thể chu vi đang ngủ say, nhưng ánh

sáng đó là tỉnh táo, thức tỉnh.

Chúng ta ngủ ngay cả khi chúng ta thức: người đó thức

ngay cả khi người đó ngủ.

Bằng quan sát
Indra trở thành vua của các thần.
Quan sát kì diệu làm sao,
Ngủ ngu xuẩn làm sao.
Khất sĩ canh tâm trí
Và sợ tính đồng bóng của ý nghĩ của mình
Đốt cháy mọi mối ràng buộc
Bằng ngọn lửa cảnh giác của mình.

‘Khất sĩ’ là từ của Phật dành cho sannyasin. ‘Sannyasin’

là từ của tôi dành cho khất sĩ. Tôi đã không chọn từ của Phật

– bởi lí do nào đó. Khất sĩ, về từ mà nói, có nghĩa là ăn xin.

Phật đã từ bỏ vương quốc của mình và trở thành kẻ ăn

xin. Tất nhiên, ngay cả trong khi ông ấy là kẻ ăn xin, ông ấy

bước đi như hoàng đế; tất nhiên, ông ấy còn duyên dáng hơn

rất nhiều so với ông ấy trước đó, và giầu có hơn rất nhiều so

với ông ấy trước đó. Nhưng bởi vì ông ấy đã từ bỏ vương

quốc, mọi người bắt đầu gọi ông ấy là khất sĩ, kẻ ăn xin. Và

dần dần, dần dần cái tên này đã được cả những tín đồ của

ông ấy chấp nhận nữa.

Tôi không muốn bạn là kẻ ăn xin, tôi muốn bạn là người

chủ. Do đó tôi đã chọn từ ‘sannyasin’. Sannyasin có nghĩa là

người biết cách sống đúng. Đấy không phải là từ bỏ; ngược

lại, nó là hân hoan, nó là lễ hội.

236

Khất sĩ canh tâm trí
Và sợ tính đồng bóng của ý nghĩ của mình
Đốt cháy mọi mối ràng buộc
Bằng ngọn lửa cảnh giác của mình.

Vâng, thiền là lửa – nó đốt cháy ý nghĩ của bạn, ham

muốn của bạn, kí ức của bạn; nó đốt cháy quá khứ và tương

lai. Nó đốt cháy tâm trí bạn và bản ngã. Nó lấy đi tất cả

những cái bạn nghĩ rằng bạn đang là. Nó là chết và tái sinh,

đóng đinh và phục sinh. Bạn được sinh ra mới. Bạn mất đi

căn cước riêng của bạn một cách toàn bộ, và bạn đạt tới viễn

kiến mới về cuộc sống.

Viễn kiến cuộc sống đó là cái được ngụ ý bởi thượng đế,

pháp, đạo, thần ngôn. Bạn có thể chọn tên của bạn cho nó

bởi vì nó không có tên riêng của nó. Thực ra nó không diễn

đạt được chút nào; nó chỉ có thể được chỉ ra, được hướng

dẫn.

Khất sĩ canh tâm trí
Và sợ lẫn lộn của riêng mình
Không thể ngã.
Người đó tìm thấy con đường tới an bình.

Tâm trí là lẫn lộn. Toàn ý nghĩ và ý nghĩ – hàng nghìn ý

nghĩ la hét, xô đẩy, đánh lẫn nhau, tranh nhau lôi kéo chú ý

của bạn. Hàng nghìn ý nghĩ kéo bạn theo hàng nghìn hướng.

Phép màu là làm sao bạn vẫn giữ được bản thân mình gắn

lại. Bằng cách nào đó bạn xoay xở việc gắn lại này – nó chỉ

là cách nào đó thôi, nó chỉ là lớp vỏ. Sâu bên dưới nó có

đám đông la hét, nội chiến, nội chiến liên tục. Các ý nghĩ

237

đánh lẫn nhau, các ý nghĩ muốn bạn hoàn thành chúng. Nó

là lẫn lộn lớn, điều bạn vẫn gọi là tâm trí của bạn.

Nhưng nếu bạn nhận biết rằng tâm trí là lẫn lộn, và bạn

không tự đồng nhất với tâm trí, bạn sẽ không bao giờ sa ngã.

Bạn sẽ trở thành người không sa ngã! Tâm trí sẽ trở thành

bất lực. Và bởi vì bạn sẽ quan sát liên tục, năng lượng của

bạn sẽ dần dần được rút đi, xa khỏi tâm trí; nó sẽ không

được nuôi dưỡng thêm nữa.

Và một khi tâm trí chết, bạn được sinh ra như vô trí.

Việc sinh đó là chứng ngộ. Việc sinh thành đó lần đầu tiên

đem bạn tới mảnh đất của an bình, thiên đường hoa sen. Nó

đem bạn tới thế giới của phúc lạc, phúc lành. Bằng không

bạn vẫn còn trong địa ngục. Ngay bây giờ bạn đang trong

địa ngục. Nhưng nếu bạn quyết tâm, nếu bạn quyết định, nếu

bạn chọn tâm thức, ngay bây giờ bạn có thể lấy bước nhảy,

bước nhảy từ địa ngục vào cõi trời.

Điều đó là tuỳ bạn: bạn có thể chọn địa ngục, bạn có thể

chọn cõi trời. Địa ngục là rẻ. Cõi trời cần nỗ lực lớn, kiên

nhẫn, quyết tâm. Địa ngục có nghĩa là bạn có thể vẫn còn vô

ý thức, bạn có thể vẫn còn như bạn vậy. Cxoi trời nghĩa là

bạn phải vươn lên trên bản thân mình, bạn phải siêu việt lên.

Bạn phải chuyển từ thung lũng tới đỉnh.

Và những đỉnh đó là của bạn, nhưng bạn phải trả giá cho

chúng. Việc trèo lên những đỉnh đó là nỗ lực gian nan. Có

tính quan sát, có tính thiền đi, và một ngày nào đó bạn sẽ

thấy bản thân mình trên những đỉnh đầy ánh mặt trời. Đó là

giải thoát, moksha. Đó là niết bàn – dừng bản ngã và sinh

thành của Thượng đế.

Bạn được quyền là thượng đế. Nếu bạn không thế, chỉ

bạn chịu trách nhiệm không ai khác. Nghe Phật. Không chỉ

238

nghe Phật – hành động đi, được cam kết với cuộc sống có ý

thức, được tham dự vào.

Nhưng để tôi nhắc bạn lần nữa: đây chỉ là một chiều của

cuộc sống – giầu có mênh mông, nhưng dầu vậy vẫn là một

chiều. Bạn sẽ phải làm điều gì đó thêm nữa. Tôi đang trao

cho bạn một nhiệm vụ gian nan hơn là Phật đã làm. Phật đã

trao cho bạn một chiều; tôi muốn bạn có tất cả ba chiều, và

sự tổng hợp.

Con người mới là cần thiết trên trái đất này. Cái cũ đã

mục ruỗng và bị kết thúc, nó không có tương lai, nó không

thể sống sót được. Nó phải đi tới chính cái kết thúc của giới

hạn của nó. Nó đang trên giường chết. Chừng nào con người

mới còn chưa được sinh ra – Đông và Tây chưa gặp gỡ – cả

ba chiều còn chưa gắn lại – nhân loại vẫn còn mang số mệnh

bi đát.

Thực nghiệm mà tôi đang tiến hành ở đây chỉ là để tạo ra

hình mẫu đầu tiên của con người mới. Các bạn đang tham dự

vào trong một thực nghiệm lớn lao có tầm quan trọng mênh

mông. Cảm thấy được phúc lành đi. Cảm thấy may mắn đi.

Bạn có thể không nhận biết về điều bạn đang tham dự vào,

nhưng bạn có thể tạo ra lịch sử! Điều đó tất cả đều phụ thuộc

vào cách bạn trở nên cam kết, cách bạn trở nên tham dự với

tôi và với thực nghiệm của tôi.

Đây là tổng hợp lớn nhất có thể có, điều đã từng được

thử…

Và các bạn muốn tìm hiểu về thân thế và cuộc đời của OSHO, xin nhấn vào đây. Tự Truện Osho: http://phamvandung57.blogspot.com/20…uyen-osho.html

Dhammapada

CON ĐƯỜNG CỦA PHẬT

¨

ĐÂY LÀ CON ĐƯỜNG

ĐI TỚI CHÂN LÍ TỐI THƯỢNG

Tập 1 ( tiếp theo )

Được ngồi trong hang của trái tim
Như người làm tên chuốt gọt
Và làm thẳng các mũi tên,
Cho nên người chủ định hướng
Các ý nghĩ sai lạc của mình.
Như cá ra khỏi nước
Mắc cạn trên bờ,
Ý nghĩ quẫy lộn và vùng vẫy.
Vì làm sao chúng có thể giũ sạch ham muốn?
Chúng run rẩy, chúng chập chờn,
Chúng vẩn vơ theo ý chúng.
Kiểm soát chúng là tốt.
Và làm chủ chúng đem lại hạnh phúc.
Nhưng chúng tinh tế làm sao,
Chúng khó nắm làm sao!
272
Nhiệm vụ là phải làm lắng chúng,
Và bằng việc cai quản chúng để tìm ra hạnh phúc.
Với chuyên tâm
Người chủ chế ngự ý nghĩ của mình.
Người đó chấm dứt vẩn vơ của chúng.
Được ngồi trong hang của trái tim,
Người đó tìm thấy tự do

Tự do là mục đích của cuộc sống. Không tự do, cuộc

sống không có ý nghĩa chút nào. “Tự do” này không được

ngụ ý về tự do chính trị, xã hội hay kinh tế. “Tự do” này có

nghĩa là tự do khỏi thời gian, tự do khỏi tâm trí, tự do khỏi

ham muốn. Khoảnh khắc tâm trí không còn nữa bạn là một

với vũ trụ, bạn lại bao la như bản thân vũ trụ.

Chính tâm trí là rào chắn giữa bạn và thực tại, và bởi vì

rào chắn này mà bạn vẫn còn bị giam trong xà lim đen tối

nơi không ánh sáng nào đạt tới được và nơi không vui vẻ

nào có thể thấm vào được. Bạn sống trong khổ bởi vì bạn

không được ngụ ý sống trong cái không gian nhỏ bé, hạn hẹp

đó. Bản thể bạn muốn mở rộng tới chính cội nguồn tối

thượng của sự tồn tại. Bản thể bạn khao khát được là đại

dương, và bạn đã trở thành giọt sương. Làm sao bạn có thể

hạnh phúc được? Làm sao bạn có thể phúc lạc được? Con

người sống trong khổ bởi vì con người sống trong cầm tù.

Và Phật Gautama nói rằng tanha – ham muốn – là

nguyên nhân gốc rễ cho mọi khổ của chúng ta, bởi vì ham

muốn tạo ra tâm trí. Ham muốn có nghĩa là tạo ra tương lai,

phóng chiếu bản thân bạn vào tương lai, đem ngày mai vào.

Đem ngày mai vào và hôm nay biến mất, bạn không thể thấy

273

nó thêm nữa; mắt bạn bị che mờ bởi ngày mai. Đem ngày

mai vào và bạn sẽ phải mang tải trọng của tất cả ngày hôm

qua của bạn, bởi vì ngày mai chỉ có thể có đó nếu ngày hôm

qua tiếp tục nuôi dưỡng nó.

Từng ham muốn đều được sinh ra từ quá khứ và từng

ham muốn đều được phóng chiếu vào tương lai. Quá khứ và

tương lai, chúng tạo nên toàn thể tâm trí bạn. Phân tích tâm

trí, mổ xẻ nó, và bạn sẽ thấy chỉ hai điều: quá khứ và tương

lai. Bạn sẽ không thấy cho dù chỉ một chút xíu của hiện tại,

thậm chí không có đến một nguyên tử. Và hiện tại là thực tại

duy nhất, sự tồn tại duy nhất, điệu vũ duy nhất có đó.

Hiện tại chỉ có thể được tìm thấy khi tâm trí đã dừng

hoàn toàn. Khi quá khứ không còn lấn lướt bạn và tương lai

không còn sở hữu bạn, khi bạn được ngắt với kí ức và tưởng

tượng, trong khoảnh khắc đó bạn ở đâu? bạn là ai? Trong

khoảnh khắc đó bạn là không ai. Và không ai có thể làm tổn

thương bạn khi bạn là không ai cả, bạn không thể bị thương

được – bởi vì bản ngã rất sẵn sàng nhận vết thương. Bản ngã

gần như cứ tìm và kiếm việc bị thương; nó tồn tại qua vết

thương. Toàn thể sự tồn tại của nó phụ thuộc vào khổ, đau.

Khi bạn là không ai cả, phiền não là không thể có được,

lo âu đơn giản không thể tin được. Khi bạn là không ai cả có

im lặng lớn lao, tĩnh lặng, không ồn ào bên trong. Quá khứ

đã qua, tương lai biến mất, cái gì có đó để tạo ra ồn ào? Và

im lặng nghe được chính là tinh tú, là thiêng liêng. Lần đầu

tiên, trong không gian đó của vô trí, bạn trở nên nhận biết về

lễ hội vĩnh hằng cứ tiếp diễn mãi. Đó chính là điều sự tồn tại

được làm nên.

Ngoại trừ con người, toàn thể sự tồn tại là phúc lạc. Duy

nhất con người rơi ra khỏi nó, đã đi lạc lối. Duy nhất con

274

người có thể làm được điều đó bởi vì duy nhất con người có

tâm thức.

Bây giờ, ý thức có hai khả năng: hoặc nó có thể trở

thành ánh sáng chói lọi trong bạn, chói lọi đến mức ngay cả

mặt trời trông cũng mờ nhạt nếu so sánh với nó… Phật nói

cứ dường như là hàng nghìn mặt trời mọc lên đột ngột – khi

bạn nhìn vào bên trong không tâm trí, tất cả là ánh sáng, ánh

sáng vĩnh hằng. Nó tất cả là vui vẻ, thuần khiết, không tì vết,

không ô nhiễm. Nó đơn giản là phúc lạc, hồn nhiên. Nó là kì

diệu. Huy hoàng của nó là không thể mô tả nổi, cái đẹp của

nó là không thể diễn đạt nổi, và phúc lành của nó là không

cạn. Aes dhammo sanantano: luật tối thượng là như vậy.

Nếu bạn có thể gạt tâm trí mình sang bên bạn sẽ trở nên

nhận biết tới vở kịch vũ trụ. Thế thì bạn chỉ là năng lượng,

và năng lượng này bao giờ cũng ở đây và bây giờ, nó chưa

bao giờ rời khỏi ở đây và bây giờ. Đó là một khả năng: nếu

bạn trở thành tâm thức thuần khiết.

Khả năng khác là: bạn có thể trở thành tự ý thức về

mình. Thế thì bạn sa ngã. Thế thì bạn trở thành một thực thể

tách biệt khỏi thế giới. Thế thì bạn trở thành một hòn đảo,

xác định, xác định rõ. Thế thì bạn bị giam cầm, bởi vì mọi

định nghĩa đều hạn chế. Thế thì bạn đang trong phòng giam,

và phòng giam này tối tăm, hoàn toàn tối tăm. Không có ánh

sáng, không có khả năng của ánh sáng. Và phòng giam này

làm què quặt bạn, làm tê liệt bạn.

Tự ý thức trở thành cảnh nô lệ; cái ngã là tù túng. Và chỉ

tâm thức mới trở thành tự do.

Vứt cái ngã và có ý thức đi! Đó là toàn thể thông điệp –

thông điệp của mọi chư phật cả ba thời, quá khứ, hiện tại,

tương lai. Cốt lõi bản chất của thông điệp này là rất đơn

giản: vứt cái ngã, bản ngã, tâm trí, và hiện hữu.

275

Chỉ khoảnh khắc này khi im lặng này tràn ngập… bạn là

ai? Không ai cả, vô thực thể. Bạn không có tên, bạn không

có hình dạng. Bạn không là đàn ông không đàn bà, không là

người Hindu không người Mô ha mét giáo. Bạn không thuộc

về bất kì nước nào, bất kì dân tộc nào, bất kì giống nòi nào.

Bạn không phải là thân thể và bạn không là tâm trí.

Thế thì bạn là gì? Trong im lặng này, hương vị của bạn

là gì? Làm sao nếm trải được hiện hữu? Chỉ an bình, chỉ im

lặng… và từ an bình và im lặng đó vui vẻ lớn lao bắt đầu nổi

lên, trào ra, không bởi lí do nào hết. Nó là bản tính tự phát

của bạn.

Nghệ thuật gạt tâm trí sang bên là toàn thể bí mật của

tôn giáo, bởi vì khi bạn gạt tâm trí sang bên, bản thể bạn

bùng nổ thành nghìn lẻ một mầu sắc. Bạn trở thành cầu

vồng, hoa sen, hoa sen một nghìn cánh. Bỗng nhiên bạn mở

ra, và thế thì toàn thể cái đẹp của sự tồn tại – cái là vô hạn! –

là của bạn. Thế thì tất cả những vì sao trên trời đều ở bên

trong bạn. Thế thì ngay cả bầu trời cũng không phải là giới

hạn của bạn; bạn không có bất kì giới hạn nào nữa.

Im lặng cho bạn cơ hội để tan ra, hội nhập, biến mất, bay

hơi. Và khi bạn không có, bạn hiện hữu – lần đầu tiên bạn

hiện hữu. Khi bạn không có, Thượng đế có, niết bàn có,

chứng ngộ có. Khi bạn không có, mọi sự được tìm thấy – và

khi bạn có, tất cả đều mất.

Con người đã trở thành tự ý thức; đó là việc đi lạc lối

của người đó, đó là sa ngã nguyên thuỷ. Mọi tôn giáo đều

nói về sa ngã nguyên thuỷ theo cách này hay cách khác,

nhưng câu chuyện hay nhất được chứa trong Ki tô giáo. Sa

ngã nguyên thuỷ là bởi vì con người ăn quả của cây tri thức.

Khi bạn ăn quả của cây tri thức, quả của tri thức, điều đó tạo

ra việc tự ý thức.

276

Bạn càng thông thái, bạn càng bản ngã – do đó mới có

bản ngã của học giả, bác học, maulvis. Bản ngã trở nên được

trang điểm bằng tri thức lớn, kinh sách, hệ thống tư tưởng.

Nhưng chúng không làm cho bạn thành hồn nhiên; chúng

không đem bạn tới phẩm chất như trẻ thơ về cởi mở, về tin

cậy, về tình yêu, về vui đùa. Tin cậy, tình yêu, vui đùa, ngạc

nhiên, tất cả biến mất khi bạn trở thành rất thông thái.

Và chúng ta đang được dạy dỗ để trở thành thông thái.

Chúng ta không được dạy để thành hồn nhiên, chúng ta

không được dạy để cảm thấy ngạc nhiên về sự tồn tại. Chúng

ta được bảo cho biết tên của các loài hoa, nhưng chúng ta

không được dạy cách nhảy múa quanh hoa. Chúng ta được

bảo cho biết tên của núi, nhưng chúng ta lại không được dạy

cách giao cảm với núi non, cách giao cảm với các vì sao,

cách giao cảm với cây cối, cách hoà điệu với sự tồn tại.

Không có hoà điệu, làm sao bạn có thể hạnh phúc được?

Không có hoà điệu bạn nhất định vẫn còn trong phiền não,

trong khổ lớn, trong đau đớn. Bạn có thể hạnh phúc chỉ khi

bạn đang nhảy múa với điệu vũ của cái toàn thể, khi bạn chỉ

là một phần của điệu vũ, khi bạn chỉ là một phần của dàn

hợp xướng vĩ đại này, khi bạn không hát bài ca của mình

một cách tách biệt. Chỉ thế thì trong sự tan chảy đó con

người mới tự do.

Đó chính là tự do là gì. Nó không phải là chính trị,

không phải là kinh tế, không phải là xã hội. Tự do là tâm

linh. Tự do xã hội, kinh tế, và chính trị là tự do chỉ nếu

chúng giúp cho mọi người được tự do tâm linh. Nếu chúng

không giúp cho mọi người được trở thành tự do về tâm linh,

thế thì chúng là kẻ giả vờ. Thế thì nhân danh tự do con

người bị làm cho ngày càng nô lệ hơn. Những cái tên đẹp đẽ

trở thành cái mẽ ngoài che giấu thực tại xấu xa. Nếu bạn

không tự do tâm linh, bạn không được tự do chút nào. Thế

277

thì mọi tự do của bạn đều là hư huyễn, giả dối, rởm. Thế thì

bạn đã bị lừa bịp. Thế thì bạn đã được cho đồ chơi để chơi

thôi.

Phật đang nói về thực tại – tự do thực sự. Ông ấy gọi nó

là niết bàn. Từ ‘niết bàn’ là rất hay; nó nghĩa là việc chấm

dứt tự ý thức, chấm dứt hoàn toàn cái ngã, trạng thái trần trụi

của vô ngã. Nó đem tới cực lạc lớn lao, mùa màng lớn lao;

nó đem tới kho báu không cạn.

Do đó Phật cứ lặp đi lặp lại mãi… hai phát biểu ông ấy

lặp lại trong Dhammapada. Một là Aes dhammo sanantano.

Đây là luật tối thượng của cuộc sống: rằng bạn biến mất và

bạn sẽ thấy bản thân mình. Rất nghịch lí – rằng chỉ bằng

cách biến mất người ta mới tìm thấy. Bằng việc vứt bỏ cái

ngã, người ta trở thành cái ta tối thượng. Bằng việc biến mất

như một giọt sương người ta trở thành đại dương.

Và phát biểu thứ hai mà ông ấy lặp lại mãi là: Aes

dhammo visuddhya – tức là như vậy là luật của thuần khiết,

của việc trở thành hồn nhiên, thuần khiết. Luật của thuần

khiết là gì? Một luật đơn giản: trở thành không đồng nhất

với tâm trí, không nghĩ về bản thân mình là tâm trí. Không

phải là Phật chống lại tâm trí, không phải là ông ấy không

muốn bạn dùng nó – ông ấy muốn bạn dùng nó, nhưng

không bị nó dùng. Và thông thường điều thứ hai là hoàn

cảnh: tâm trí đang dùng bạn. Bạn đã trở thành nô lệ. Người

chủ đã trở thành nô lệ và nô lệ đã trở thành người chủ. Mọi

thứ đã trở thành lộn ngược.

Bạn đang đứng trên đầu mình! Bây giờ làm sao bạn có

thể bước được, làm sao bạn có thể di chuyển được, làm sao

bạn có thể nhảy múa được? Bạn đã bao giờ thấy người nào

nhảy múa trên đầu mình chưa? Cuộc sống của bạn sẽ không

là cuộc sống của chuyển động nữa nếu bạn đang đứng trên

278

đầu. Cuộc sống của bạn sẽ tù đọng, nó sẽ trở thành vũng

nước bẩn. Bạn sẽ bắt đầu hôi hám ngay. Đứng trên đầu mình

bạn bị què quặt, tê liệt.

Nếu bạn đứng lại trên chân mình – một thay đổi nhỏ,

thay đổi rất nhỏ, nhưng điều đó đem lại cuộc cách mạng triệt

để – lập tức bạn có khả năng chuyển động, và chuyển động là

sống. Không chuyển động là chết.

Bạn định nghĩa chết thế nào? Khi một người không thể

nào di chuyển được theo bất kì cách nào. Người đó không

thể thở – đó là một loại chuyển động; người đó không thể

bước, người đó không thể nói – đấy đều là mọi loại chuyển

động, các chiều hướng khác của chuyển động. Bởi vì tất cả

chuyển động đã dừng lại nên chúng ta nói người đó chết.

Bạn càng có nhiều chuyển động, bạn càng sống hơn,

càng sinh động hơn. Có chuyển động đa chiều! Nhưng điều

đó là có thể chỉ nếu bạn dừng việc đứng trên đầu. Bạn phải

đứng thẳng dậy.

Ngày bạn tới tôi là tới trong trạng thái lộn ngược. Việc

điểm đạo thành sannyas không có nghĩa gì ngoại trừ việc tôi

thuyết phục bạn đứng lại trên đôi chân của bạn và không làm

động tác shirshasana này – trồng cây chuối – cả đời bạn.

Tự nhiên đi, là một phần của tự nhiên đi. Đừng khoác

lác. Đừng cứ thổi phồng bản ngã của bạn lên. Chúng là là

những bộ phận rất nhỏ nhoi – đẹp đẽ vô cùng nếu chúng ta

vận hành cùng với cái toàn thể, nhưng tuyệt đối xấu nếu

chúng ta vận hành chống lại nó.

Nhưng bạn đã được các xã hội của bạn bảo phải chiến

đấu, tranh đấu, bởi vì cuộc sống là cuộc vật lộn để sống còn,

bởi vì nếu bạn không tranh đấu bạn sẽ bị thất bại. Và bạn

phải chiến thắng, và bạn phải nổi tiếng. Bạn đã được trao

279

cho tham vọng lớn và tất cả những tham vọng đó đã trở

thành dây xích, mọi tham vọng đó giữ bạn bị trói buộc lại.

Tất cả những tham vọng đó là nguyên nhân gốc rễ của tâm

trí bạn; chúng tạo ra tâm trí.

Từ của Phật ‘tanha’ chứa mọi nghĩa về ham muốn, tham

vọng, thành đạt. Đây là những chất nuôi dưỡng của tâm trí.

Nếu bạn cứ nuôi dưỡng tâm trí bạn đang đầu độc chính

mình. Và tâm trí sẽ trở nên ngày càng lớn lên còn bạn sẽ trở

nên ngày càng bé đi. Tâm trí gần như trở thành tăng trưởng

ung thư.

Sannyas nghĩa là ca mổ. Phật đã biến đổi hàng nghìn

người qua tính chất sannyas, qua điểm đạo. Ông ấy là nhà

giải phẫu vĩ đại.

Và một khi bạn trở nên nhận biết rằng bạn là nguyên

nhân cho khổ riêng của mình, mọi sự bắt đầu thay đổi. Bạn

không còn giúp cho khổ riêng của mình nữa, bạn không còn

nuôi nó nữa. Và một khi bạn trở nên nhận biết rằng bạn

không phải là tâm trí mình mà là nhân chứng cho nó, bạn bắt

đầu vươn lên trên tâm trí, bạn không còn bị trói buộc nữa.

Bạn bắt đầu giương cánh, bạn bắt đầu bay vút lên ngày càng

cao hơn. Tâm trí bao giờ cũng vẫn còn dò dẫm trong thung

lũng tối của cuộc sống, nhưng bạn có thể trở thành con chim

đại bàng, bạn có thể bay vút lên cao. Bạn có thể là người chủ

và thế thì bạn có thể dùng tâm trí – và nó có thể được dùng

một cách rất có chủ định.

Những lời kinh này là cách để trở thành người chủ của

tâm trí bạn. Chúng chứa đựng khoa học của việc trở thành

người chủ.

Phật nói:

Như người làm tên chuốt gọt

280

Và làm thẳng các mũi tên,

Cho nên người chủ định hướng

Các ý nghĩ sai lạc của mình.

Bây giờ suy ngẫm: ý nghĩ chỉ đạo bạn, hay bạn chỉ đạo ý

nghĩ? – bởi vì nhiều điều phụ thuộc vào sáng suốt đó. Bạn có

bị chi phối bởi các ý nghĩ của bạn không? Chúng có lái bạn

đi chỗ này chỗ nọ không? Chúng có gợi ý bạn, chúng có

quyến rũ bạn, chúng có ám ảnh bạn không? Chúng có kéo

sợi dây của bạn và bạn đơn giản là kẻ nô lệ không? Hay bạn

là người chủ, và bạn có thể nói với các ý nghĩ của mình

‘Dừng lại!” và chúng phải dừng lại không – bạn có thể dùng

chúng hay vứt bỏ chúng không?

Mọi người chưa bao giờ suy ngẫm về nó bởi vì điều đó

làm cho họ cảm thấy rất bẽ mặt. Nó chỉ ra cho họ sự bất lực

của họ: họ thậm chí không thể nào dừng các ý nghĩ lại được,

ý nghĩ của riêng họ.

Có một câu chuyện ngụ ngôn Tây Tạng nổi tiếng:

Một người đã phục vụ cho một thầy trong nhiều, nhiều

năm trời. Phục vụ này không phải là thuần khiết; có động cơ

trong đó. Người đó muốn được bí mật nào đó của thầy.

Người đó đã nghe nói rằng thầy có bí mật – bí mật làm phép

mầu. Với ham muốn giấu kín này người đó đã phục vụ thầy

hết ngày nọ sang ngày kia, nhưng người đó sợ nói ra bất kì

cái gì. Nhưng thầy liên tục quan sát động cơ của người đó.

Một hôm thầy hỏi, “Tốt hơn cả là anh nói ra tâm trí anh,

vì ta liên tục thấy động cơ trong mọi phục vụ anh làm cho ta.

Nó không xuất phát từ tình yêu, chắc chắn không từ tình

yêu. Ta không thấy bất kì tình yêu nào trong đó và ta không

281

thấy bất kì khiêm tốn nào trong nó. Đấy là một loại hối lộ.

Cho nên nói cho ta anh muốn gì?”

Người này đã chờ đợi cơ hội này. Người đó nói, “Con

muốn bí mật của việc làm phép màu.”

Thầy nói, “Thế thì sao anh phí thời gian của anh lâu thế?

Anh có thể nói điều đó ngay ngày đầu anh tới. Anh đã hành

hạ bản thân mình và anh hành hạ cả ta nữa, bởi vì ta không

thích mọi người quanh ta có động cơ. Nhìn vào trông xấu

lắm. Họ về cơ bản là tham, và tham làm họ xấu. Điều bí mật

là đơn giản – tại sao anh lại không hỏi ta vào ngày đầu ấy?

Đây là bí mật…”

Ông ấy viết ra một câu mật chú nhỏ trên một mẩu giấy,

có thể chỉ ba dòng thôi: “Buddham sharanam gachchhami,

sangham sharanam gauchchhami, dhammam sharanam

gauchchhami – Tôi đi tới chân Phật, tôi đi tới chân của công

xã Phật, tôi tới chân của pháp, luật tối thượng.”

Và thầy bảo người này, “Anh cầm câu mật chú nhỏ này

theo mình, nhẩm nó năm lần, chỉ năm lần thôi. Đó là một

quá trình đơn giản. Nhớ một điều kiện: trong khi anh đang

đọc nó, đi tắm, đóng cửa lại, ngồi im lặng – và trong khi anh

đang nhẩm nó, đừng nhớ tới khỉ.”

Người này nói, “Thầy nói điều vô nghĩa gì vậy? Sao con

lại phải nhớ tới khỉ ngay chỗ đầu tiên? Con chưa bao giờ

nhớ tới chúng trong cả đời con!”

Thầy nói, “Điều đó tuỳ anh thôi, nhưng ta phải bảo anh

một điều kiện. Đây là cách thức câu mật chú đã được trao

cho ta, với điều kiện này. Nếu anh chưa hề nhớ tới khỉ,

chừng ấy là tốt. Bây giờ về nhà đi, và đừng bao giờ quay lại

ta nữa. Anh đã có bí mật, anh biết điều kiện. Hoàn thành

điều kiện đó và anh sẽ có quyền năng huyền bí, và bất kì

282

điều gì anh muốn làm, anh có thể làm: anh có thể bay trên

trời, anh có thể đọc ý nghĩ của người khác, anh có thể hiện ra

mọi thứ, và vân vân.”

Người này chạy xô về nhà; người đó thậm chí quên mất

không cám ơn thầy. Đó là cách thức tham lam vận hành: nó

không biết cám ơn, nó không biết biết ơn. Tham lam tuyệt

đối vô nhận biết về lòng biết ơn; nó chưa hề bắt gặp điều đó.

Tham lam là tên trộm và kẻ trộm không cám ơn.

Người này xô đi, nhưng người đó phân vân lắm: ngay

trên đường về nhà mình, khỉ đã bắt đầu xuất hiện trong đầu

người đó. Người đó thấy nhiều loại khỉ: nhỏ và lớn, mồm đỏ

và mồm đen, và người đó phân vân ghê lắm – “Có chuyện gì

thế nhỉ?” Thực ra người đó không nghĩ về bất kì điều gì khác

ngoài khỉ. Và chúng trở nên càng lớn hơn, chúng bu lại khắp

xung quanh.

Người đó về nhà, người đó đi tắm, nhưng khỉ không rời

bỏ người đó. Bây giờ người đó trở nên nghi ngờ rằng chúng

sẽ không rời bỏ người đó trong khi người đó tụng mật chú.

Người đó thậm chí còn chưa tụng mật chú, người đó đơn

giản mới chuẩn bị. Và khi người đó đóng cửa lại phòng đã

đầy những khỉ. Nó đông đúc đến mức người đó không còn

chỗ cho cả bản thân mình! Người đó nhắm mắt lại và có khỉ,

người đó mở mắt ra và cũng có khỉ. Người đó không thể nào

tin vào điều đang xảy ra! Cả đêm người đó cố gắng. Người

đó cứ định tắm, và người đó cứ thử và lại thất bại, và thất bại

hoàn toàn.

Đến sáng người đó tới thầy, trả lại câu mật chú và nói,

“Xin thầy giữ câu mật chú này. Điều này làm con phát điên!

Con không muốn làm bất kì phép mầu nào nữa, nhưng xin

thầy giúp con gạt bỏ những con khỉ này đi!”

283

Không thể nào gạt bỏ được dù chỉ một ý nghĩ! Và nếu

bạn muốn gạt bỏ nó, việc đó thậm chí trở thành khó khăn

hơn, bởi vì khi bạn muốn gạt bỏ một ý nghĩ, đó là vấn đề –

một khoảnh khắc rất quyết định – về ai là chủ: tâm trí hay

bạn? Tâm trí sẽ cố gắng theo mọi cách có thể để chứng minh

rằng nó là chủ chứ không phải bạn.

Người chủ đã từng là nô lệ trong hàng thế kỉ, và nô lệ đã

từng là chủ trong hàng triệu kiếp. Bây giờ nô lệ không thể

rời bỏ mọi đặc quyền của nó, các ưu tiên, dễ dàng đến thế.

Nó sẽ cho bạn sự chống cự lớn.

Thử nó đi! Hôm nay tắm, đóng cửa lại, nhẩm đọc câu

mật chú đơn giản này: “Buddham sharanam gachchhami,

sangham sharanam gauchchhami, dhammam sharanam

gauchchhami – và đừng để con khỉ nào tới bạn…

Bạn cười vào người đáng thương này. Bạn sẽ ngạc

nhiên: bạn là người đó đấy.

Sigmund Freud hay kể một câu chuyện khác:

Chuyện có lần xảy ra trong một khách sạn lớn mà một

người tới trọ. Người quản lí có đôi chút ngần ngại khi trao

phòng cho người đó mặc dầu vẫn còn phòng trống. Người

này nói, “Sao ông lại ngần ngại thế?”

Người này nói, “Lí do là, ngay phía dưới cái phòng đó

có một chính khách trọ, một người rất nổi tiếng và rất quyền

thế, rất có ảnh hưởng. Và ông ấy bị chọc tức bởi những điều

nhỏ nhặt, cho nên chúng tôi phải giữ căn phòng phía trên

ông ấy để trống ba ngày từ khi ông ấy tới đây – bởi vì bất kì

ai bước đi, tiếng ồn nào đó được tạo ra, nếu ông di chuyển

vật gì đó, tiếng ồn nào đó được tạo ra, và ông ấy trở nên phát

284

bẳn lên và giận dữ đến mức ông ấy tạo ra điều om sòm về

nó.”

Người lạ nói, “Đừng lo! Tôi sẽ rất cẩn thận. Hơn nữa, tôi

cũng chỉ ở có một đêm. Tôi sẽ trở về quãng gần mười hai

giờ đêm bởi vì tôi có nhiều việc phải làm trong thành phố,

và tôi sẽ đi sáng sớm, năm giờ sáng. Không có mấy khả

năng giữa mười hai giờ đêm và năm giờ sáng tôi sẽ làm điều

gì đó sẽ gây chọc giận cho con người vĩ đại này. Nhiều nhất

thì tôi sẽ ngủ và mơ, và tôi nghĩ rằng giấc mơ của tôi sẽ

không quấy rầy ông ấy.”

Người quản lí bị thuyết phục: “Nếu người đó chỉ định ở

có năm giờ thì không có vấn đề gì.” Người đó được phép

vào ở.

Lúc mười hai giờ người này về phòng mình, kiệt sức:

làm việc cả ngày, cả nghìn lẻ một thứ la hét trong đầu người

đó. Người đó đã hoàn toàn quên mất vị chính khách. Người

đó đi vào phòng. Người đó mệt mỏi quá. Người đó ngồi lên

giường, tháo một chiếc giầy và quẳng nó vào góc buồng.

Thế rồi bỗng nhiên tiếng động của chiếc giầy nhắc nhở

người đó rằng vị chính khách, vị lãnh đạo vĩ đại, sẽ bị quấy

rầy, có thể tỉnh giấc. Cho nên chiếc giầy kia người đó tháo ra

rất im lặng.

Sau một giờ vị chính khách gõ cửa phòng người đó.

Người đó thoát ra khỏi giấc ngủ, mở cửa và nói, “Tôi có làm

gì đâu? – vì trong một giờ tôi đã ngủ rồi.”

Vị chính khách đỏ mặt vì giận dữ. Ông ta nói: “Vâng!

Thế chiếc giầy kia đâu? Tôi không thể nào xoay xở mà ngủ

được. Cái giầy kia cứ treo đó, cứ thành câu hỏi liên tục trong

tâm trí tôi – chiếc giầy kia đi đâu rồi? Liệu người này có ngủ

với một giầy vẫn còn đi hay không? Một chiếc tôi biết ông

đã ném ra, nhưng chuyện gì với chiếc kia? Tôi đã thử đủ mọi

285

cách để gạt bỏ cái ý tưởng này – rằng đấy không phải là mối

bận tâm của tôi. Làm sao mà tôi bận tâm tới giầy của ông?

Nhưng tôi càng cố gắng để vứt bỏ cái ý tưởng này tôi lại

càng trở nên bị nó xâm chiếm. Bây giờ chỉ còn mỗi một cách

có thể để ngủ được: tới đánh thức ông dậy và hỏi ông điều gì

đã xảy ra. Chừng nào tôi còn chưa biết được thì tôi không

thể nào ngủ được.”

Rất khó thậm chí để gạt bỏ một ý nghĩ ngớ ngẩn, hoàn

toàn vô nghĩa với bạn, không có mục đích gì, điều gì đó chỉ

ngẫu nhiên, không phải là việc của bạn. Nhưng nó vẫn cứ

theo đuổi bạn, nó có thể ám ảnh bạn, nó có thể hành hạ bạn.

Nó có thể trở thành một thứ mạnh mẽ đến mức nó có thể làm

bạn phát điên.

Mọi người không nhìn vào trong. Họ biết rằng tốt hơn cả

là đừng nhìn vào bởi vì điều đó rất xấu hổ. Thấy bản thân

mình như một kẻ nô lệ là điều sỉ nhục. Và tâm trí đã ở trên

ngai vàng lâu thế, nó đã trở nên quen là người chủ. Và nó

không là người chủ.

Bạn được sinh ra là tâm thức, không là tâm trí. Cốt lõi

bên trong nhất của bạn là tâm thức, không là tâm trí. Tâm trí

không là gì cả ngoài các ý nghĩ được tích luỹ, đồ đồng nát

của quá khứ. Bạn khác toàn bộ với nó.

Khi quan sát nó, dần dần, dần dần bạn sẽ thấy khoảng

cách. Một ý nghĩ nảy sinh trong bạn, quan sát nó. Quan sát

nó không có bất kì phán xét nào. Đừng ủng hộ hay chống

đối, đơn giản nhìn vào nó, thấy trong nó, giống như tấm

gương phản chiếu nó. Và một điều sẽ trở nên chắc chắn:

rằng nó là tách biệt với bạn. Nó tới và đi, và bạn ở lại mãi

mãi. Sự phản chiếu trong tấm gương không phải là tấm

gương. Nhiều phản chiếu tới rồi đi, tấm gương còn lại. Tấm

286

gương chỉ là năng lực của việc soi gương. Một ý nghĩ có đó –

giận, tham, ghen – ý nghĩ nào đó, một loại ý nghĩ nào đó có

đấy. Nó không phải là bạn!

Nhưng toàn thể huấn luyện của chúng ta, toàn thể ước

định của chúng ta, về cơ bản là sai. Ngôn ngữ của chúng ta

về cơ bản là sai bởi vì chúng cho chúng ta khái niệm sai. Khi

bạn thấy ý nghĩ về đói nảy sinh trong tâm trí bạn, bạn lập tức

nói, “Tôi đói,” điều hoàn toàn vô nghĩa. Bạn chưa bao giờ

đói và bạn không thể nào đói được, bởi vì tâm thức không

liên quan gì tới đói, thức ăn, sự thoả mãn. Điều thực tế đang

xảy ra là: thân thể đói – bạn nhận biết về điều đó. Bạn đơn

giản phản ánh tình huống đó của thân thể.

Để cho thật chính xác bạn nên nói, “Tôi nhận biết rằng

thân thể tôi đang đói, tôi thấy rằng thân thể tôi cần thức ăn.”

Nhưng mọi ngôn ngữ đều nói, “Tôi đói, tôi khát.” Tôi

biết việc nói, “Tôi khát,” là đơn giản hơn là nói đi nói lại,

“Tôi nhận biết rằng thân thể tôi khát.”

Một trong các nhà huyền môn Ấn Độ vĩ đại tới thăm Mĩ

– tên ông ấy là Swami Ram. Ông ấy quen nói về bản thân

mình ở ngôi thứ ba, ông ấy chưa hề dùng từ ‘tôi’. Ông ấy sẽ

chỉ gọi bản thân mình là Ram. Ông ấy sẽ nói, “Ram đói.

Ram khát. Bây giờ Ram buồn ngủ.” Đấy là cách thức rất kì

lạ bởi vì chúng ta không quen với nó.

Khi ông ấy tới Mĩ lần đầu tiên, mọi người không thể

hiểu được ông ấy hay sẽ hiểu ông ấy chỉ theo cách sai lầm,

hiểu nhầm ông ấy. Ông ấy sẽ nói, “Ram đói.’ Họ sẽ nhìn

quanh – Ram đâu rồi? Và thế rồi ông ấy sẽ chỉ cho họ: “Thân

thể này là Ram, thân thể này đang đói.”

287

Và họ sẽ nói, “Thế thì sao ông không đơn giản nói ‘tôi

đói’? Sao đi vòng vèo thế, sao đi vòng tròn thế? ‘Ram đói.’

Thế thì chúng tôi phải hỏi, ‘Ram là ai?’ Thế thì ông lại phải

nói, ‘Thân thể này là Ram.’

Nhưng Ram sẽ nói, ‘Tôi không thể khẳng định cái gì đó

mà không đúng. Tôi không thể nói ‘tôi đói’ bởi vì tôi không

đói.”

Có lần chuyện xảy ra là ông ấy đang ngồi trong một

công viên, một công viên công cộng, và vài người đã tụ tập

quanh ông để hỏi các câu hỏi. Một người hỏi, “Chúng tôi đã

nghe nói về Krishna rằng ông ấy quen thổi sáo để cho mọi

người quên đi công việc của mình và chỉ xô về ông ta mà vui

thích, dường như bị ám ảnh. Bí mật của ông ấy là gì?”

Ram chỉ mặc một tấm vải, ông ấy chỉ bao bọc quanh

mình bằng một cái chăn. Ông ấy ném cái chăn đi – thay vì trả

lời ông ấy tạo ra một tình huống. Đó là cách mà các nhà

huyền môn vĩ đại làm việc. Ông ấy ném cái chăn đi, ông ấy

hoàn toàn trần trụi, và ông ấy chạy mất. Mọi người đều chạy

theo ông ấy! Không chỉ những người bao quanh ông ấy mà

những người khác đang đứng ở đây đó, hay những người

mới tới đi dạo buổi sáng, và những người đang ngồi trên ghế

đọc báo, họ cũng ném báo đi. Một đám đông lớn chạy theo

ông ấy, còn ông ấy thì cứ cười rúc rích, và cả đám đông theo

ông ấy.

Và thế rồi ông ấy đứng lại dưới một cái cây và ông ấy

nói, “Tại sao các bạn theo tôi? Để làm gì? Tôi thậm chí

không thổi sáo! Và các bạn đã hỏi tôi tại sao mọi người lại

quen trở nên bị ám ảnh bởi chiếc sáo của Krishna.”

Bất kì khi nào một cái gì đó của cõi bên kia xảy ra, mọi

người đều trở nên say mê. “Các bạn bị say mê rồi,” ông ấy

nói. “Và Ram không làm điều gì đặc biệt. Ram chỉ trở thành

288

trần trụi và đã chạy như một đứa trẻ trong ánh mặt trời buổi

sáng.”

Ai đó vẫn còn chưa quen với cách ông ấy nói, hỏi lại,

“Ai là Ram này?” Và lần nữa ông ấy nói, “Thân thể này là

Ram, tâm trí này là Ram, còn tôi là người quan sát hệt như

các bạn là người quan sát. Cũng giống như các bạn đã quan

sát thân thể này chạy trần trụi trong ánh mặt trời buổi sáng,

tôi cũng quan sát. Các bạn quan sát từ bên ngoài, tôi quan sát

từ bên trong. Chúng ta cả hai đều là người quan sát.”

Đây là cách thức trở nên không đồng nhất với tâm trí: là

người quan sát.

Phật nói: Như người làm tên chuốt gọt và làm thẳng các

mũi tên, người chủ định hướng các ý nghĩ sai lạc của mình.

Thế thì điều đó là có thể và chỉ thế thì: khi bạn đã trở thành

người quan sát, khi bạn đã thu gọn ý nghĩ của mình thành

các đối tượng được quan sát, nội dung của tâm trí không còn

mạnh nữa. Bạn đã thoát ra khỏi quyền lực của nó, bạn đang

đứng tách rời. Bạn là khán giả, nhân chứng. Khi bạn đã trở

thành nhân chứng, bạn sẽ có khả năng chỉ đạo ý nghĩ của

mình. Thế thì ý nghĩ có thể được dùng, thế thì ý nghĩ là đẹp.

Tâm trí là cơ chế phức tạp nhất trong toàn thể sự tồn tại,

và tâm trí con người còn hơn bất kì cái gì khác. Nó là cái

máy tiến hoá nhất, nó có thể được dùng cho những việc lớn

lao. Nhưng bạn phải là người chủ, chỉ thế thì bạn mới có thể

dùng nó.

Nhưng tình huống là tới mức chiếc xe đang lái người lái

xe.

Người lái xe đã trở thành hoàn toàn vô nhận biết về bản

thân mình; có thể người đó đang say. Người đó đơn giản đi

289

tới bất kì đâu mà xe đưa người đó tới. Bây giờ người đó nhất

định sa xuống hố, nhất định bị tai nạn! Và nếu cuộc sống của

bạn đầy những tai nạn như thế thì cũng không ngẫu nhiên

chút nào – nó phải như thế thôi.

Bạn đang theo cái máy. Nó là cái máy tính sinh học, tâm

trí của bạn; hay nếu bạn có thể dùng nó như người chủ, nguy

hiểm nếu nó dùng bạn. Đây là cảnh nô lệ. Việc thoát khỏi nó

là biết tới cái gì đó về tự do.

Và nỗ lực đầu tiên nên giống như người vót tên làm cho

mũi tên thật thẳng.

Tâm trí bạn không trong trạng thái hài hoà; tâm trí bạn

đang trong đống lộn xộn, không cái gì thẳng ở đấy. Mọi thứ

đã trở thành một mê cung rất phức tạp, một điều khó hiểu.

Bạn không biết cái gì là cái gì và cái nào là cái nào. Bạn

không biết bạn đang làm gì và tại sao. Và khoảnh khắc này ý

nghĩ này chiếm hữu bạn, khoảnh khắc khác ý nghĩ khác

chiếm hữu bạn, và cả hai có thể mâu thuẫn nhau. Cho nên

một đằng bạn làm điều gì đó và đằng khác bạn làm ngược

nó. Do đó mới có thất bại hoàn toàn của cuộc sống, lãng phí

rất lớn năng lượng và thời gian và cơ hội.

Quan sát các ý nghĩ của bạn mâu thuẫn làm sao. Một

phần nói có, phần khác lập tức nói không, không bao giờ bỏ

sót cơ hội nói không. Bây giờ nói có và không cùng nhau là

lãng phí năng lượng của bạn. Hoặc là nói có và là toàn bộ,

thế thì ý nghĩ của bạn là thẳng; hay nói không và là toàn bộ,

thế thì ý nghĩ của bạn là thẳng. Nhưng nói có và không cùng

nhau, hay luân phiên – lúc này nói có, lúc khác nói không –

bạn sẽ đạt tới đâu? Bạn bước một bước theo hướng này, rồi

bước khác lại theo hướng khác. Bạn sẽ vẫn còn bị mắc kẹt

tại cùng một chỗ, hay nhiều nhất bạn sẽ đi trong vòng tròn.

Nhưng cuộc sống của bạn sẽ không là cuộc sống của trưởng

290

thành, bạn sẽ không trưởng thành. Bạn chắc chắn có thể già

đi nhưng bạn sẽ không bao giờ trưởng thành cả, bạn sẽ

không bao giờ đạt tới chín chắn.

Làm thẳng các ý nghĩ của bạn đi! Nó gần như là rừng

rậm hoàn toàn trong tâm trí bạn – mọi con đường đều mất

hút. Bạn không biết cái gì xảy ra. Bạn không thể dừng chúng

lại, bởi vì dừng lại làm cho bạn hoảng sợ. Mọi người khác

đang làm nhiều thế, mọi người khác đang thành đạt, đạt tới,

hoàn thành tham vọng của họ, làm sao bạn có thể dừng

được? Bạn phải tiếp tục, và bạn phải tiếp tục với tốc độ lớn

và sự thích thú lớn và nhiệt tình. Và bạn không biết bạn đang

đi đâu, mục đích là gì. Bạn thực sự muốn đạt được cái gì

trong cuộc sống? Tiền bạc? Và cho dù bạn đạt được nhiều

tiền bạc, bạn sẽ làm gì với nó?

Bạn có thể mua về nhiều khổ hơn, tất nhiên, khi bạn có

nhiều tiền; đó là điều bạn đang định làm. Bạn sẽ cứ mua

cùng thứ mà bạn đang mua bây giờ. Tất nhiên, bạn có thể

mua chúng với số lượng lớn hơn, có vậy thôi. Bạn sẽ sống

trong ngôi nhà lớn hơn, nhưng bạn sẽ sống; ngôi nhà ấy

không định sống nó. Nếu bạn lo âu trong ngôi nhà nhỏ, bạn

có thể còn lo âu hơn trong ngôi nhà lớn hơn, bởi vì bạn sẽ có

nhiều không gian hơn để mà lo âu. Nếu bạn dốt nát, hoàn

toàn dốt nát về bản thân mình, làm sao tiền sẽ giúp được?

Làm sao được nổi tiếng sẽ giúp được? Bạn có thể trở thành

người cải cách thế giới, nhưng điều đó sẽ không làm thay

đổi cái gì. Tối tăm bên trong của bạn sẽ vẫn còn như cũ; nó

thậm chí có thể trở thành tối tăm hơn.

Điều đầu tiên Phật nói là: người chủ cũng định hướng

các ý nghĩ sai lạc của mình. Người đó không cho phép các ý

nghĩ đi theo những con đường mâu thuẫn. Người đó không

cho phép ý nghĩ này bị ý nghĩ khác phá huỷ. Người đó

không cho phép các ý nghĩ chỉ đạo người đó – người đó là

291

người chỉ đạo. Người đó làm chủ chúng; người đó dùng

chúng như các đồ đạc, dụng cụ đẹp. Và thế thì chắc chắn

người đó đi tới sự hoàn thành, bởi vì người đó biết nơi mình

đang đi tới và người đó biết điều mình đang làm.

Trên từng bước của cuộc hành trình của mình, người đó

nhận biết hoàn hảo về chỗ của mình; người đó có cảm giác

chắc chắn về chiều hướng. Người đó không chạy theo đủ

mọi hướng một cách đồng thời; người đó có một hướng. Một

cách tự nhiên người đó trở thành được tích hợp, người đó trở

thành quyền lực lớn. Không đạt tới bất kì quyền lực chính trị

nào người đó trở thành quyền lực lớn. Quyền lực của người

đó nảy sinh từ bản thể riêng của người đó, nó là của riêng

người đó. Không ai có thể lấy nó đi được; nó không phụ

thuộc vào bất kì ai. Ngay cả cái chết cũng không thể nào lấy

nó đi khỏi người đó, ngay cả cái chết cũng bất lực.

Nhưng mọi người đang sống trong trạng thái mất trí như

thế. Trạng thái này là mất trí! Mọi người cảm thấy bị xúc

phạm khi tôi nói rằng toàn thể nhân loại là mất trí, nhưng tôi

có thể làm được gì? – nó là vậy. Sự kiện này phải được phát

biểu ra, dù nó đau đớn đến đâu. Tôi cũng bị đau bởi nó, tôi

cảm thấy tiếc cho nhân loại, nhưng điều đó phải được nói:

rằng toàn thể nhân loại là điên. Điều bạn gọi là con người

bình thường là không bình thường chút nào. Họ là điên bình

thường, chắc chắn; cái điên khùng của họ gần như giống

nhau, do đó họ là bình thường. Nhưng họ không là chuẩn, họ

không phải là nguyên lí, họ không phải là tiêu chí về lành

mạnh. Toàn thể trái đất là nhà thương điên lớn.

Kahli Gibran có một câu chuyện hay:

Một người trở nên mất trí; người đó bị tống vào nhà

thương điên. Một người bạn tới thăm người đó. Người bạn

292

này là một giáo sư, một giáo sư triết học, đã viết nhiều sách,

là một học giả nổi tiếng, cũng là một nhà tâm lí. Người điên

đang ngồi trên ghế dài dưới gốc cây trong vườn, được bao

bọc bởi bức tường lớn. Vị giáo sư tới, ngồi bên cạnh và hỏi

người đó, “Anh cảm thấy bên trong chỗ này thế nào?”

Người điên cười. Người đó nói, “Tôi cảm thấy cũng tốt

thôi – như tôi chưa bao giờ cảm thấy trước đây.”

Vị giáo sư phân vân. Ông ta nói, “Sao vậy? Tại sao anh

cảm thấy hạnh phúc thế trong nhà thương điên này?”

Người điên nói, “Nhà thương điên sao? Đây mà ông lại

gọi là nhà thương điên à? Tôi đã bỏ nhà thương điên ở bên

ngoài rồi – đây là nơi lành mạnh nhất trên thế giới! Nhà

thương điên là ở bên ngoài kia; bức tường này bảo vệ chúng

tôi khỏi người điên. Nếu như ông trở nên mệt mỏi với người

điên bên ngoài, ông bao giờ cũng được đón chào ở đây. Vào

đi! Nơi đây rất an bình – không ai can thiệp và công việc của

bất kì ai. Nơi đây rất im lặng. Rất ít người ở đây, và tôi chưa

bao giờ thấy mọi người lành mạnh như vậy trong cả đời tôi –

họ tất cả đều giống tôi!”

Đó là định nghĩa của người đó về lành mạnh: người đó

lành mạnh và họ đều giống người đó. Mọi người ở bên ngoài

là mất trí.

Nhưng cùng tiêu chí đó được những người bên ngoài

tuân theo: bạn nghĩ bản thân mình là lành mạnh bởi vì bạn

giống hệt như người hàng xóm của bạn. Nhưng ai biết được?

– người hàng xóm cũng có thể mất trí nữa.

Toàn thể lịch sử nhân loại chứng tỏ rằng đây là nhân loại

mất trí; cái gì đó về cơ bản sai với nó. Trong ba nghìn năm

con người đã đánh nhau trong năm nghìn cuộc chiến tranh.

293

Bạn sẽ gọi nhân loại này là lành mạnh được không? Mọi

người đều tham lam, ghen tị, sở hữu – và bạn sẽ gọi nhân

loại này là lành mạnh sao? Mọi người đều chẹt họng người

khác – và bạn gọi nhân loại này là lành mạnh sao? Bình

thường tất nhiên – bình thường theo nghĩa là họ giống nhau

tất.

Có lần Mark Twain đăng yết thị, xem như một trò lừa,

rằng ông ấy mất một con mèo đen đến mức người ta không

thể thấy nó dưới ánh sáng thường, và ông ấy muốn xin lại

nó. Gần một nghìn người tiếp xúc với ông ấy nói rằng đã

thấy nó.

Nhìn quanh đi, quan sát mọi người, và bạn sẽ ngạc nhiên

khi thấy trạng thái mất trí hoàn toàn mà được coi là bình

thường. Bình thường là gì? Cái gì là định nghĩa về con người

bình thường?

Người đó phải tràn đầy tình yêu, người đó phải tràn đầy

phúc lạc. Người đó phải bạo dạn. Người đó phải vui vẻ và

cực lạc. Người đó phải có khả năng hát và cười và nhảy

múa. Người đó phải có khả năng tận hưởng những điều nhỏ

bé của cuộc sống. Người đó phải là toàn bộ trong bất kì cái

gì người đó làm. Ý nghĩ của người đó sẽ thẳng: nếu người

đó nói không người đó ngụ ý không, nếu người đó nói có

người đó ngụ ý có. Người đó sẽ không ngoại giao, người đó

sẽ không chính trị theo nghĩa người đó nói điều này, người

đó ngụ ý điều khác, và sẽ làm điều thứ ba. Bạn không thể

hình dung ra điều đó, bạn không bao giờ có thể chắc chắn

người chính trị sẽ làm gì. Người đó có một khuôn mặt bên

ngoài và thực tại khác bên trong. Người đó là hai mặt, trong

ràng buộc kép. Người đó mỉm cười với bạn, người đó chào

đón bạn – và người đó ghét bạn, người đó nguyền rủa bạn

294

bên trong. Người đó là kẻ thù, vậy mà người đó lại giả vờ là

người bạn.

Đây là mất trí! Đạo đức giả này là mất trí, chia chẻ này

là mất trí. Bầu không khí tinh thần phân liệt này là mất trí.

Đấy không phải là con người lành mạnh mà chúng ta có khả

năng tạo ra. Chúng ta đã thất bại cho tới giờ… và chúng ta

phải làm điều gì đó rất quyết liệt bây giờ, bằng không nhân

loại sẽ diệt vong. Bây giờ người mất trí có quá nhiều quyền

năng huỷ diệt trong tay họ đến mức một cuộc chiến nữa và

nhân loại sẽ kết thúc và hành tinh này cũng kết thúc luôn.

Cái gì đó cực kì quyết liệt được cần tới, bước nhảy

lượng tử được cần tới. Nhưng điều này là có thể chỉ qua

những người lắng nghe chư phật.

… Người chủ định hướng các ý nghĩ sai lạc của mình.

Như cá ra khỏi nước

Mắc cạn trên bờ,

Ý nghĩ quẫy lộn và vùng vẫy.

Vì làm sao chúng có thể giũ sạch ham muốn?

Ý nghĩ không thể sống ngoài ham muốn, cũng như cá

không thể sống bên ngoài biển. Ý nghĩ không thể sống ngoài

biển của ham muốn: ý nghĩ về cơ bản là công cụ của trạng

thái ham muốn. Và chúng ta liên tục ham muốn, ham muốn

thứ này thứ nọ. Chúng ta không thể dừng suy nghĩ nếu

chúng ta cứ ham muốn. Trước hết là ham muốn, chính gốc

rễ, cần phải bị cắt bỏ.

Cái gì có đó để ham muốn trong cuộc sống? Những

người đã biết, những người đã nhận ra cuộc sống, đều nói

không có gì đáng ham muốn trong cuộc sống. Sống nó đi! và

295

sống một cách toàn thể nhất có thể được, và sống từng

khoảnh khắc tới mức tối đa của nó. Siết chặt nó một cách

toàn bộ. Nhưng không có gì để ham muốn. Ham muốn dẫn

bạn đi lạc lối bởi vì nó dẫn bạn vào tương lai.

Uống khoảnh khắc hiện tại đi, bởi vì khoảnh khắc hiện

tại là cánh cửa tới Thượng đế. Thượng đế chỉ có một thời:

thời hiện tại. Ngài không biết quá khứ và không biết tương

lai. Nếu bạn cũng muốn là một phần của Thượng đế… và đó

là cách duy nhất để lành mạnh, để mạnh khoẻ. Chỉ người tôn

giáo mới lành mạnh và mạnh khoẻ. Nếu bạn muốn là một

phần của Thượng đế, bạn sẽ phải học thảnh thơi trong

khoảnh khắc hiện tại.

Chết quá khứ và chết tương lai, và sống trong hiện tại.

Đừng cho phép bản thân bạn đi khỏi hiện tại, dù chỉ một li

đây đó; bằng không bạn bao giờ cũng cứ bỏ lỡ chuyến tầu.

Và tâm trí liên tục chạy từ vật này sang vật khác, từ

người này sang người khác. Bạn có vợ, nhưng tâm trí đang

chạy theo vợ của người khác. Bạn có con, nhưng chúng

trông không bao giờ đẹp như con người khác. Cỏ bao giờ

cũng xanh hơn ở phía bên kia của hàng rào. Mọi người khác

dường như hạnh phúc hơn là bạn.

Và thế rồi tất nhiên bạn suy diễn một cách logic: “Họ có

nhà lớn hơn, trẻ con ngoan hơn, vợ đẹp, nhiều tiền, nhiều

quyền, nhiều danh, cho nên đây là những thứ mình cũng cần.

Chừng nào mình còn chưa có được tất cả những thứ này, làm

sao mình có thể hạnh phúc được?” Bạn làm cho hạnh phúc

của bạn thành có điều kiện. Và khoảnh khắc một người làm

cho hạnh phúc của người đó thành có điều kiện người đó

mang định mệnh thất bại; người đó sẽ còn bất hạnh trong cả

đời mình.

296

Hạnh phúc là vô điều kiện; không cái gì được cần để

hạnh phúc. Chỉ sống động là cần – và bạn là điều đó, bạn đã

là điều đó rồi. Chỉ có ý thức là cần – và bạn đã là điều đó rồi.

Do đó các nhà huyền môn và chư phật nói rằng phúc lạc là

chính bản tính của chúng ta. Nhưng tâm trí là kẻ chạy và nó

cứ lôi bạn đi.

Vua gọi viên thái giám tới, “Ta đang buồn đây,” ông ta

nói. “Đi kiếm cho ta phi tần số 256.”

Thế là viên thái giám chạy ra ngoài lâu đài và vào hậu

cung. Ông ta chạy qua vườn, qua vườn cây ăn quả, trèo lên

bậc thang. Không mấy chốc ông ấy trở lại với phi tần số 256.

Một lúc sau vua lại vời thái giám tới và nói, “Ta muốn nữa.

Đi kiếm cho ta phi tần số 87.” Viên thái giám lại chạy và

kiếm phi tần này về. Thế rồi vua lại muốn phi tần 68, ngay

sau đó là phi tần 92.

Khi ông ta trở lại với phi tần 92 thì viên thái giám thở

hổn hển nặng nhọc. Thế rồi bỗng nhiên ông ta đổ sập và

chết.

Lời bàn: Không phải việc yêu giết chết bạn, chính là

việc chạy quanh.

Tâm trí liên tục chạy quanh. Nó chưa bao giờ ngồi, nó

không thể ngồi lại được. Ngồi dường như là cái chết cho nó,

và theo một cách nào đó điều đó là vậy thật. Đó là lí do tại

sao thiền nhân nói, nếu bạn có thể ngồi im lặng trong vài giờ

mỗi ngày, không làm gì cả, thậm chí không tụng mật chú,

bởi vì đấy là việc chạy của tâm trí, cùng tâm trí ấy… Nó có

thể hát bài hát dân gian, nó có thể tụng mật chú tôn giáo,

điều đó không tạo ra khác biệt gì. Nó muốn công việc nào

297

đó, nó muốn hoạt động, nó muốn bận bịu, nó muốn chạy.

Cuộc sống của nó là việc chạy.

Thiền nhân nói cứ ngồi đấy, không làm gì. Điều khó

khăn nhất trên thế giới này là chỉ ngồi không làm gì. Nhưng

một khi bạn đã biết tới cái mẹo về nó… Nếu bạn cứ ngồi vài

tháng không làm gì cả trong vài giờ mỗi ngày, dần dần, dần

dần nhiều điều sẽ xảy ra. Bạn sẽ cảm thấy buồn ngủ, bạn sẽ

mơ. Nhiều ý nghĩ sẽ chen chúc trong tâm trí bạn, nhiều điều.

Tâm trí sẽ nói, “Sao mình phí hoài thời gian của mình thế

này? Mình có thể đã kiếm được ít tiền. Ít nhất mình có thể đi

xem phim, giải trí cho mình, hay mình có thể thảnh thơi và

tán gẫu. Mình có thể xem ti vi hay nghe đài, hay ít nhất mình

cũng có thể đọc báo mà mình chưa đọc. Sao mình làm phí

thời gian thế này?”

Tâm trí sẽ cho bạn cả nghìn lẻ một biện luận, nhưng nếu

bạn cứ nghe mà không bị bận tâm bởi tâm trí… Nó sẽ làm đủ

trò: nó sẽ gây ảo giác, nó sẽ mơ, nó sẽ làm buồn ngủ. Nó sẽ

làm tất cả cái gì có thể để lôi bạn ra khỏi việc ngồi. Nhưng

nếu bạn cứ ngồi, nếu bạn nhẫn nại, một ngày nào đó mặt trời

lên.

Một ngày nào đó điều ấy xảy ra, bạn không cảm thấy

buồn ngủ, tâm trí đã trở nên mệt mỏi về bạn, chán ngán bạn,

nó vứt bỏ cái ý tưởng rằng bạn có thể bị mắc bẫy, nó đơn

giản bị kết thúc với bạn! Không có buồn ngủ nữa, không ảo

giác, không mơ, không ý nghĩ. Bạn đơn giản ngồi đó không

làm gì… và tất cả là im lặng và tất cả là an bình và tất cả là

phúc lạc. Bạn đã đi vào Thượng đế, bạn đã đi vào chân lí.

Chúng run rẩy, chúng chập chờn,

Chúng vẩn vơ theo ý chúng.

Kiểm soát chúng là tốt.

Và làm chủ chúng đem lại hạnh phúc.

298

Quan sát, và bạn sẽ thấy tâm trí run rẩy, các ý nghĩ run

run, săn đuổi lẫn nhau, chạy theo mọi hướng có thể, nhất

quán, không nhất quán, có nghĩa, vô nghĩa.

Một hôm nào đó ngồi trong phòng của bạn, đóng cửa lại,

và bắt đầu viết ra các ý nghĩ xảy ra cho bạn. Điều đó sẽ giúp

cho bạn trở nên nhận biết. Cứ viết ra bất kì cái gì xảy ra.

Đừng sửa chữa, đừng làm cho chúng có vẻ nhất quán, hay.

Điều đó không dự định để cho mọi người xem, nó chỉ dành

cho việc quan sát của bạn thôi. Trong mười lăm phút cứ viết

ra, thế rồi đọc nó, và bạn sẽ phân vân: mình có điên hay cái

gì đó không nhỉ? Loại sự việc gì đang xảy ra trong đầu mình

thế? Mọi thứ, không liên quan tới mức bạn không thể nào

quan niệm nổi có bất kì mối quan hệ nào với chúng. Bất kì

cái gì đều dẫn tới bất kì cái một cách ngẫu nhiên.

Con chó bắt đầu sủa ở nhà hàng xóm và tâm trí bạn bắt

đầu vận hành. Bạn nhớ tới con chó bạn quen biết từ hồi còn

nhỏ, và đột nhiên tâm trí nhảy từ con chó đó sang người bạn

cũng hồi còn nhỏ… và từ người bạn này sang trường học, và

thầy giáo. Và theo cách này tâm trí cứ nhảy mãi, và bạn sẽ

tới mảnh đất mà không ai biết ở đâu. Và đấy mới chỉ là được

bắt đầu bởi việc sủa của con chó mà nó không biết gì về bạn,

nó không quan tâm chút nào tới bạn, nhưng nó lẩy cò một

quá trình. Bạn có thể đạt tới bất kì đâu! Và mỗi lần điều đó

xảy ra bạn sẽ đạt tới chỗ nào đó khác.

Tâm trí cứ nhảy từ chỗ nọ sang chỗ kia, và tâm trí có

nhiều thông tin đến mức nó có thể tạo ra mọi loại thế giới.

Quan sát nó bạn sẽ thấy chân lí trong phát biểu của Phật:

Chúng run rẩy, chúng chập chờn, chúng vẩn vơ theo ý

chúng. Chúng không nghe bạn, chúng có ý chí riêng. Mỗi ý

nghĩ đều có ý chí riêng của nó và cứ khăng khăng duy trì bản

299

thân nó. Nó không muốn được làm qua loa, nó không muốn

bạn xen vào. Nếu bạn xen vào, nó chống lại, nó phản đối.

Mọi ý nghĩ đều muốn tính cá nhân riêng của nó. Và hàng

triệu ý nghĩ này trong đầu bạn phá huỷ tính cá nhân của bạn,

bởi vì tất cả chúng đều đòi tính cá nhân của riêng chúng và

tất cả chúng đều đòi tự trị và tự do. Và nếu bạn nói điều gì

đó, thì chúng hỏi, “Ông là ai?” Và mỗi lần chúng sẽ chỉ cho

bạn vị trí của bạn, chúng sẽ thu bạn về không là cái gì.

Chứng nào chúng còn chưa bị kiểm soát, Phật nói, thì

không có khả năng cho phúc lạc xảy ra cho bạn. Bạn sẽ vẫn

còn là một đống lộn xộn, bạn sẽ vẫn còn lẫn lộn.

Bệnh nhân: “Tôi có ham muốn điên khùng, mất trí là

kẹp nát bà trong vòng tay tôi.”

Bà bác sĩ tâm thần: “Bây giờ anh đang nói điều có nghĩa

đấy!”

Điều đó phụ thuộc vào bạn, cái gì bạn gọi là có nghĩa và

cái gì bạn gọi là vô nghĩa. Có những triết gia trên thế giới

nói tất cả đều vô nghĩa, và có những triết gia trên thế giới nói

mọi thứ đều có nghĩa, nhận thức được. Đây là thế giới hợp lí

nhất, họ nói, rất logic. Tất cả đều phụ thuộc vào bạn, điều

bạn gọi là có nghĩa và điều bạn coi là nhận thức được. Điều

đó phụ thuộc vào huấn luyện của bạn, vào dạy dỗ của bạn,

vào ước định của bạn, vào cách bạn đã bị thôi miên.

Bây giờ, ăn thịt là nhận thức được nếu bạn đã được nuôi

lớn lên trong một nhà mà không ai nghĩ tới ăn chay; cho dù

họ có nói về nó, họ chỉ nói để cười người ăn chay: “Những

người ngu xuẩn này cứ nghĩ rằng bởi việc trở thành người ăn

chay là họ trở thành tôn giáo.” Nếu bạn được sinh ra trong

300

một nhà ăn chay, trong một gia đình ăn chay, thế thì người

ăn thịt là quỉ. Họ không phải là người chút nào: họ là tiện

dân, họ không phải là con người, họ là con vật.

Bản thân bạn không bao giờ biết cái gì là phải, cái gì là

trái; bạn biết chỉ theo điều người khác đã nói cho bạn. Đây

không phải là cách có thể dẫn bạn vào lành mạnh. Bạn sẽ

phải trở nên nhận biết hơn, tỉnh táo hơn, quan sát hơn. Bạn

sẽ phải quyết định theo cách riêng của mình. Bạn đã sống

một cuộc sống vay mượn. Bạn sẽ phải ngẫm nghĩ – bạn trở

thành một con người chỉ khi bạn bắt đầu ngẫm nghĩ về mọi

điều theo cách riêng của mình. Khi bạn quan sát một cách

đúng đắn, chính xác, khi bạn phán xét, khi bạn đánh giá, khi

bạn cân nhắc mọi thứ và bạn bắt đầu sống theo tâm thức

riêng của mình ngày một nhiều hơn, bạn sẽ đạt tới tự do. Và

tự do đem tới phúc lạc.

Tự do nghĩa là bạn có kiểm soát tâm trí, cái gọi là tâm trí

của bạn, cái không phải là của bạn chút nào bởi vì nó đã

được trao cho bạn bởi người khác, theo từng mảnh. Một

phần của nó thuộc về mẹ bạn, phần khác thuộc về bố bạn,

phần khác thuộc về bác bạn, và cứ thế mãi… thuộc về tu sĩ,

về thầy giáo, về cậu bé hàng xóm… Bạn đã thu thập các

mảnh từ khắp trên thế giới – từ sách vở bạn đã đọc và phim

bạn đã xem.

Nếu bạn nhìn vào trong nó bạn sẽ ngạc nhiên – bạn

không có tâm trí nào của riêng của bạn. Mọi thứ đều được

vay mượn! Làm sao bạn có thể đích thực được? Bạn chỉ là

hiện tượng chồng chất, các mảnh từ bao nhiêu nguồn khác

nhau đến mức chúng không bao giờ có thể tan ra và trở

thành một được. Nhưng một điều không được vay mượn bên

trong bạn và đó là tâm thức của bạn, đó là nhận biết của bạn.

Cái đó bạn đã mang theo mình, cái đó là một phần của cốt

lõi bên trong của bạn. Tuỳ thuộc vào nó đi và đừng bao giờ

301

tuỳ thuộc vào tâm trí. Trở thành độc lập với tâm trí và tuyệt

đối tuỳ thuộc vào tâm thức, và bạn đang lấy bước đi lớn nhất

trong cuộc sống của bạn.

Nhưng chúng tinh tế làm sao,

Chúng khó nắm làm sao!

Nhiệm vụ là phải làm lắng chúng,

Và bằng việc cai quản chúng để tìm ra hạnh phúc.

Đây sẽ không phải là công việc dễ dàng. Nó là gian nan,

bởi vì tâm trí rất tinh ranh và ý nghĩ rất tinh vi.

Một người lính đang giải thích sự đầu thai của linh hồn

cho người lính khác và bảo người đó rằng nếu người đó bị

chết, thân thể người đó sẽ thối rữa trên chiến trường và cuối

cùng chìm vào trong đất. Vào mùa xuân hoa đẹp sẽ mọc lên

tại chỗ đó.

“Và đó là tôi, phải không?” người lính kia hỏi.

“Không, đợi một chút đã. Thế rồi một con bò tới và ăn

bông hoa cùng lá và bỏ lại đằng sau một đống phân bò lớn.

Thế rồi tôi tới đi dạo trên cánh đồng này cùng với cô bạn

gái, tôi thấy đống phân bò và tôi đập nhẹ nó bằng chiếc gậy

và tôi nói, ‘Chào Bill! Sao thế, anh chẳng thay đổi chút xíu

gì!”

Tâm trí rất tinh ranh – nó bao giờ cũng có thể tìm ra cách

để vẫn còn như cũ. Nó có thể tìm ra những cách mới để cho

nó có thể vẫn còn cũ. Nó có thể tìm ra những vỏ bọc mới để

nó có thể ẩn đằng sau chúng; nó có thể tìm ra cách hợp lí

hoá hay.

302

Cẩn thận đấy! Tâm trí không phải là hiện tượng đơn giản

đâu, nó phức tạp, tinh vi, rất khó nắm bắt. Nếu bạn cố bắt

giữ nó, bạn sẽ gặp khó khăn. Nếu bạn đẩy nó ra qua cửa

trước, nó sẽ tới từ cửa sau. Nếu bạn muốn kiểm soát nó và

kìm nén nó, nó sẽ bắt đầu vận hành từ vô thức của bạn – điều

còn nguy hiểm hơn nhiều bởi vì nó sẽ vẫn kiểm soát bạn,

mặc dầu bây giờ bạn sẽ tuyệt đối không nhận biết về kiểm

soát của nó. Kẻ thù không còn thấy được nữa, có vậy thôi,

nhưng kẻ thù có đó. Và khi kẻ thù là vô hình, kẻ thù là mạnh

hơn.

… Chúng tinh tế làm sao, và chúng khó nắm làm sao!

Nhiệm vụ là phải làm lắng chúng… Cho nên nhớ lấy, chúng

không bị kìm nén đâu, chúng không bị bắt đâu. Nhiệm vụ là

phải làm lắng chúng và bằng việc cai quản chúng để tìm ra

hạnh phúc.

Chính là qua việc làm lắng chúng mà người ta trở thành

người cai quản, không phải là bởi việc cai quản chúng mà

bạn mới làm yên lặng chúng. Nhớ quá trình đó: nó có vẻ

tương tự, nhưng không phải. Nó rất, rất khác, thực ra là đối

lập hoàn toàn. Bạn phải làm dịu chúng trước, làm lặng chúng

trước.

Và cách làm lặng chúng chỉ là quan sát một cách im lặng

không phán xét, không nói cái này tốt, cái này xấu. Khoảnh

khắc bạn nói tốt và xấu là bạn đã nhảy vào bãy lầy. Tâm trí

đã tóm được bạn, bạn đã bị mắc bẫy.

Bạn đơn giản quan sát! Thầy giáo đạo đức của bạn

không cho phép bạn quan sát. Bạn ngồi và chỉ nhìn… một ý

nghĩ giết ai đó tới. Tâm trí bạn thích thú với ý nghĩ giết

người. Đây là một phần. Phần khác của tâm trí nói, “Điều

này rất xấu, đây là tội lỗi. Mình thậm chí không nên nghĩ ý

nghĩ như vậy, thậm chó nghĩ tới nó cũng là tội rồi.” Đây là

303

phần khác của tâm trí. Bạn trở nên bị đồng nhất với phần

kia, phần đạo đức. Bạn nói, “Đây là lương tâm của mình.”

Nó không phải là lương tâm của bạn: nó đã được đặt vào

trong bạn. Nó là xã hội đang kiểm soát bạn từ bên trong; nó

là một chiến lược của xã hội để kiểm soát bạn. Bạn không

biết cái gì là phải và cái gì là trái.

Hồn nhiên đi! Cứ quan sát, quan sát cả hai. Một phần

của tâm trí nói, “Giết người kia đi – nó đã sỉ nhục mình!”

Phần khác của tâm trí nói, “Điều này xấu, điều này là vô đạo

đức. Mình sẽ rớt xuống địa ngục mất, mình sẽ đau khổ trong

lần sinh thành tiếp, mình sẽ bị trừng phạt vì điều đó.” Biết

cho rõ vào, phần thứ hai này cũng là tâm trí, và không có

chọn lựa giữa hai mảnh của tâm trí. Quan sát cả hai, tận

hưởng cả hai. Thấy mâu thuẫn này của tâm trí – đừng bị

đồng nhất với phần nào.

Nhớ lấy, bản ngã muốn được đồng nhất với phần tốt,

phần đạo đức. Nó cảm thấy đẹp: “Mình chống lại việc giết

người, trông đây! Mình không ủng hộ nó.” Bạn chỉ bị một

phần khác của tâm trí tóm bắt. Bạn vẫn là nô lệ. Phạm nhân

của bạn và thánh nhân của bạn, cả hai đều là nô lệ.

Người tự do thực sự là tự do khỏi cả tốt lẫn xấu. Người

đó ở bên ngoài thiện và ác. Người đó chỉ là tâm thức và

không là gì khác. Người đó đơn giản quan sát. Và nếu bạn

có thể chỉ quan sát không bị đồng nhất, dần dần, dần dần tâm

trí lắng xuống, và trong việc lắng xuống đó là quyền năng

của bạn. Một ngày nào đó khi tâm trí hoàn toàn mất đi, đã

trở thành tĩnh lặng toàn bộ, bạn là người cầm quyền tối cao.

Với chuyên tâm

Người chủ chế ngự ý nghĩ của mình.

Người đó chấm dứt vẩn vơ của chúng.

Được ngồi trong hang của trái tim,

304

Người đó tìm thấy tự do

Và khi tâm trí không còn nữa, bạn đi đâu? Bỗng nhiên,

khi tâm trí không còn nữa, bạn đi vào trong trái tim. Bạn tuột

ra khỏi tâm trí, ra khỏi nắm giữ của cái đầu. Và thế thì trái

tim, hang của trái tim, là lâu đài của bạn. Tâm trí là sản

phẩm phụ của xã hội: trái tim là sự mở rộng của Thượng đế.

Điều này là có thể chỉ nếu bạn làm việc toàn tâm toàn ý

để làm tĩnh lặng tâm trí, để nhận biết tâm trí, để hoàn toàn

quan sát, không có bất kì phán xét nào và không có bất kì

đồng nhất nào.

Người chủ chế ngự ý nghĩ của mình.

Người đó chấm dứt vẩn vơ của chúng.

Được ngồi trong hang của trái tim,

người đó tìm thấy tự do.

Cái đầu là nô lệ, trái tim là tự do. Cái đầu là khổ, trái tim

là phúc lạc tối thượng.

Aes dhammo sanantano.

HẾT TẬP 1