Cương Đao Sát Sư – Sư Nhất Hạnh – Thanh Từ – Thông Lạc Thầy Nhất Hạnh

Cương Đao Sát Sư – Sư Nhất Hạnh – Thanh Từ – Thông Lạc
Thầy Nhất Hạnh
Trong buổi đầu tìm đến chánh pháp Ngạo Thuyết không có nhiều điều kiện tiếp cận kinh sách Phật học. Ngạo Thuyết tìm đến đạo Phật cũng chỉ vì muốn thoát ra những khổ não đời thường.
Ngày ấy, Ngạo Thuyết được giới thiệu với một thanh niên trẻ tuổi nhưng là người học Phật hăng say, vị thiện tri thức này khi ấy là tín đồ của Tịnh Độ Tông. Sơ khởi cuộc trò chuyện người bạn đó khuyên Ngạo Thuyết niệm Phật và lấy Giới làm thầy. Khi đó, Ngạo Thuyết nào biết gì nên không có điều cố kỵ với việc niệm Phật. Nhưng nghe lấy Giới làm thầy thì Ngạo Thuyết thấy không lọt tai nên có chất vấn ngô nghê rằng đâu thể lấy Giới làm thầy vì mình là chủ, mình là đối tượng tạo tác; Nếu giữ Giới thì mình là chủ, Giới chỉ là đối tượng nương nơi chủ thì đâu thể lấy Giới làm thầy cho được. Và người bạn kia chống chế rằng Giới sinh Định, Định sinh Huệ. Do vậy nên lấy Giới làm thầy, Ngạo Thuyết nghe giải thích rồi cũng không lấy làm thỏa mãn nhưng cũng cho qua.
Giới sinh Định, Định sinh Huệ là một luận thuyết sai lầm mà rất nhiều người học Phật kể cả giới Tăng bảo lấy đó làm luận thuyết nền tảng cho việc truyền pháp, chỉ dạy người.
Ngày ấy, Ngạo Thuyết mang trong lòng niềm trăn trở hun hút trong tâm thức – Tâm là gì, Tâm ở đâu, Đạo là gì? – Ngạo Thuyết mang niềm thao thức hỏi một vị Tăng bảo cũng như vài vị thiện tri thức nhưng Ngạo Thuyết đã không tìm ra được câu trả lời chuẩn mực.
Đạo Phật khi ấy với Ngạo Thuyết xa lạ, huyền bí lắm. Phật Thích Ca với Tam Minh, Lục Thông thần biến vô cùng, Phật xa cách quá!
Về sau, Ngạo Thuyết hữu duyên được nghe tác phẩm Đường Xưa Mây Trắng của thầy Thích Nhất Hạnh. Sư ông Làng Mai đã giúp Ngạo Thuyết trông thấy Phật hiền hòa, từ ái và gần gũi. Qua Đường Xưa Mây Trắng, Ngạo Thuyết sinh lòng tin phục, mến mộ, kính trọng thầy Nhất Hạnh. Dù thông điệp Tỉnh Thức của sư ông không đủ sức giúp Ngạo Thuyết thoát ra được những chộn rộn, rối ren nơi cuộc sống đời thường, nhưng sự gần gũi và thi vị của Phật Thích Ca đã đi vào tâm hồn Ngạo Thuyết.
Sau này, việc tự lực hành trì đã giúp đôi mắt Ngạo Thuyết trong sáng hơn khi tiếp vật. Duyên Ngạo Thuyết lại được xem bản dịch Kinh Dấu Chân Voi do sư ông Thích Nhất Hạnh chuyển ngữ, lúc bấy giờ Ngạo Thuyết đã biết sư ông Làng Mai hãy còn lẩn quẩn, đọc thêm vài tác phẩm khác của sư ông Làng Mai góp phần giúp Ngạo Thuyết nhận diện sư ông chỉ có tác phẩm Đường Xưa Mây Trắng là sự thăng hoa Phật tánh, còn những bài pháp thoại khác chỉ là cách trang hoàng, điểm tô cho chiếc bánh vẽ Tỉnh Thức thêm phần tinh tươm, sạch sẽ cùng với một chút hương vị đạo Phật mát lành. Ngạo Thuyết xưa nay thuộc hạng người được không mừng, mất chẳng lo nên cũng chỉ thoáng qua một niềm thất vọng man mác. Chuyện sư ông Làng Mai từ đấy chẳng bận lòng.
Dù vậy vụ việc xung đột tu viện Làng Mai ở Lâm Đồng cũng thoảng qua tai, việc thầy Thích Nhất Hạnh tổ chức Đại Trai Đàn Chẩn Tế Giải Oan cùng với Tăng y xênh xang, tay kết ấn quyết thì lòng tin của Ngạo Thuyết đối với sư ông Làng Mai thoảng tan nhanh như bọt bóng xà phòng. Đành vậy! Rồi thì sư ông Nhất Hạnh xuất huyết não nhập viện, môn hạ đồ tử, đồ tôn của sư ông kêu gọi Phật tử khắp nơi trên thế giới tổ chức cầu an cho sư ông Thích Nhất Hạnh thì hình tích đã rõ quãng đời hoằng pháp, danh tiếng, sự Tỉnh Thức của sư ông đã bị hủy trong tay những môn đồ đệ tử thân tín của sư ông. Sinh già bệnh chết là sự đương nhiên, há có thể cưỡng cầu. Sư ông Làng Mai vì mãi hoằng pháp hay vì một lẽ nào đó đã không có thời gian cho sự rời đi của bản thân một cách nhẹ nhàng. Tỉnh Thức ở sư ông Làng Mai đã rơi vào năng thuyết, bất năng hành.
Công danh, sự nghiệp thoảng một áng mây bay. Sự ra đi khó nhọc của sư ông Làng Mai minh chứng rằng sư ông còn có điều trăn trở, còn việc chưa làm xong nhưng với niệm Tỉnh Thức mà sư ông bảo nhậm bấy lâu – Sự Tỉnh Thức Vô Ký – sư ông sẽ về đâu nơi 3 cõi 6 đường.
Thầy Thanh Từ
Sư ông dòng Thiền Trúc Lâm – Thích Thanh Từ cũng là một phiên bản tương tự của một hành giả không trọn vẹn. Ngày trước, Ngạo Thuyết có qua lại với một Tăng bảo đồ tôn của sư ông và được biết rằng Thiền sinh Thiền viện Thường Chiếu có vài vị còn trẻ đắc pháp rồi liền báo trước ngày giờ và thị tịch. Ngày ấy và cả bây giờ cũng vậy, Ngạo Thuyết dễ tin người, tin rồi bỏ qua và tùy duyên sẽ có khởi nghi, do vậy Ngạo Thuyết cũng tin lời vị Tăng bảo đó nói và qua đó cũng cho Ngạo Thuyết một điều hy vọng rằng hành nhân có thể bỏ xác thị tịch. Và đã lâu rồi, Ngạo Thuyết có thể chứng nghiệm được rằng nếu hành giả chuyên chú hành trì, kiên cố dụng tâm thì việc làm chủ cái chết không khó. Song đối chiếu lại hiện trạng của sư ông Thanh Từ thì Ngạo Thuyết mơ hồ nhận ra Thiền sinh tu học ở Thiền Viện Thường Chiếu có thể tự chủ thị tịch là vấn đề cần xem xét lại. Tông chủ sư môn còn chưa thể an nhiên thị tịch thì đồ tử, đồ tôn đâu dễ làm chủ việc tử sinh, hiển nhiên là sẽ có điều ngoại lệ.
Ngạo Thuyết biết đến sư ông Thanh Từ cũng khá lâu và có xem qua bản dịch kinh Kim Cang và Bát nhã Tâm kinh, với Ngạo Thuyết thì những bản dịch đó không quá sâu sắc, cũng không gần gũi. Chỉ thế thôi! Nước sông không phạm nước giếng.
Khi ấy, gặp những người học Phật tầm sư Ngạo Thuyết vẫn giới thiệu cho họ về với dòng thiền Trúc Lâm. Và cách đây, nhiều năm Ngạo Thuyết có đưa một người em lên Thiền Viện Thường Chiếu dự là người em sẽ xuất gia ở nơi đấy. Ngạo Thuyết vào chùa tham quan Thiền cảnh, Thư viện… và bắt gặp tượng bán thân của sư ông Thanh Từ – Ừ thì Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng.
Khuynh hướng của Ngạo Thuyết là Thiền Tông nên có duyên gặp khá nhiều môn hạ của sư ông Thanh Từ; Với Kim Bài Miễn Tử – Cái Thấy Biết Thường Hằng là bảo vật trấn sơn của dòng Thiền Trúc Lâm. Thiền phái Trúc Lâm có hai tuyệt kỷ – Một là thấy tánh tiếp tục tu; Hai là Cái Thấy Biết Thường Hằng bất biến.
Sự tu hành khởi phải từ lý, sau mới đến sự. Nếu lý đã không thông rồi thì việc hành sự dù có miên mật đi chăng nữa cũng chẳng thể tròn vành được. Lý đã vậy, sự chẳng thể khác được. Vậy mà người học Phật sùng tín, kính tin sư ông Thanh Từ lại cứ chấp thủ tri kiến Phật học sai lầm do chính sư ông tuyên thuyết và ra sức xiểng dương.
Xét lại Cái Thấy Biết Thường Hằng, Cái Đang Là, Tỉnh Thức dễ thường rơi vào hai lỗi chính trong chánh pháp Như Lai tạng. Cụ thể: Lỗi thứ nhất là sự hiện hữu Cái Đang Là, Cái Thấy Biết Thường Hằng, Sự Tỉnh Thức Xuyên Suốt đó là Ngã, đã có Ngã liền sinh ra Ngã Kiến; Lỗi mắc phải nghiêm trọng thứ hai đó là thường hằng, xuyên suốt, bất biến chính là rơi vào Thường Kiến của ngoại đạo.
Cho rằng Phật chứng đạo, người chứng ngộ nhập diệt vẫn còn đó Cái Thấy Biết Thường Hằng, đây là tà kiến chứ không phải là chánh kiến trong Bát chánh đạo. Lý thuyết Phật, người chứng ngộ giữ Cái Thấy Biết Thường Hằng mà không can thiệp, không tạo tác, không chi phối với xã hội loài người thì sự tồn tại đó đâu có ý nghĩa gì, sự tồn tại đã không còn ý nghĩa, vậy tồn tại mãi mãi để làm chi nữa. Và phải chăng Phật Thích Ca biết chế tạo vũ khí nguyên tử, vệ tinh, tàu ngầm…
Nếu Cái Thấy Biết Thường Hằng Bất Biến vậy hiện trạng sư ông Thích Thanh Từ thể hiện rằng ông chưa chứng ngộ và đang chịu sự trả nghiệp.
Quả thật, các vị Tăng bảo hành giả sau khi tỏ ngộ chút ít chánh pháp đã dấn thân hoằng pháp và mất luôn thời gian hành trì hàm thụ. Việc Phật sự bộn bề và các vị Tăng bảo vì không biết buông bỏ, biết dừng lại đúng lúc đã phơi bày ra hiện trạng “Lý sự chẳng đồng”, việc này ít nhiều gì cũng ảnh hưởng đến pháp môn truyền đăng nơi mỗi hành giả. Và vị Tăng bảo chưa chứng ngộ chánh pháp, chưa liễu vô sanh sẽ lại trôi lăn vô định nơi lưới mộng luân hồi. Xét lại thì cũng luống uổng một đời tu học – Tín Nguyện Phụng Hành.
Thầy Thông Lạc
Ngạo Thuyết vẫn luôn giữ niềm kính trọng của mình đối với các vị Tăng bảo tiền bối; Với Ngạo Thuyết họ luôn là những vì sao sáng trên bầu trời Phật giáo Việt Nam. Tuy nhiên thầy Thích Thông Lạc là điều ngoại lệ, Ngạo Thuyết cũng không khinh chê sư thầy Thông Lạc mà chỉ cảm thấy đáng tiếc cho sự học Phật, hành pháp của sư ông Thông Lạc. Sự học Phật bị giới hạn hẳn do sự kém khuyết sự hiểu biết thường thức, từ đó sư ông Thông Lạc rơi vào tình trạng biết 1 ngỡ rằng ngộ 10 nên ra sức hoằng pháp một cách cực đoan, bảo thủ và chủ quan.
Sư ông Thông Lạc vin níu vào một câu kinh dịch không tròn vành, rõ nghĩa – Không Có Linh Hồn trong bản dịch kinh của vị Tăng bảo Thích Minh Châu và từ đó thêm thắt ý tưởng cá nhân vào. Nếu thật sự Không Có Linh Hồn thì rơi vào biên kiến Đoạn Kiến, Tam Tạng kinh liền thành phế vật.
Những luận thuyết của thầy Thích Thông Lạc thường rất cực đoan, chủ quan, bảo thủ. Sư ông Thông Lạc cho rằng dòng Thiền do ông khai mở là Thiền nguyên thủy, pháp tu nguyên thủy nhưng thật ra dòng Thiền nguyên thủy đã là thương hiệu của hệ phái Nam Truyền, Theraveda.
Ở loạt bài Cương Đao Sát Sư, Ngạo Thuyết không có ý mổ xẻ sư Thông Lạc nhiều. Ngạo Thuyết chỉ điểm qua sai lầm nghiêm trọng trong giáo lý của sư ông Thông Lạc là Chấp Thủ – Không Có Linh Hồn và sự bảo thủ của sư ông đã khiến cho môn hạ, đồ tôn của sư ông Thông Lạc có một thời rất cực đoan, hiếu chiến và quá khích.
Có rất nhiều đồ tử, đồ tôn của sư ông Thông Lạc cho rằng sư ông Thông Lạc là một vị A la hán và là vị Tăng bảo duy nhất làm chủ sinh già bệnh chết. Nhận định này quá đỗi ngây ngô, nông cạn và rất cảm tính của những người học Phật sùng tín sư ông Thông Lạc, họ đâu biết rằng trước khi sư ông tịch 15, 20 ngày thì tình trạng của sư ông Thông Lạc là “nội bất xuất, ngoại bất nhập”, chỉ có một người được tiếp xúc sư ông Thông Lạc ở những ngày cuối đời, và hiển nhiên đấy không là chủ ý của sư ông Thông Lạc. Điều này thể hiện rằng sư ông đã không thực sự tự tại như những lời đồn đoán.
Mặt khác, sư ông Thông Lạc không thực chứng A la hán vì lẽ người chứng ngộ A la hán không Toàn Giác như Phật nhưng không thể có kiến giải chánh pháp mắc sai lầm then chốt – Không Có Linh Hồn.
Nếu các bạn muốn tìm hiểu rõ hơn những sai lầm mắc phải ở sư ông Thông Lạc, các bạn có thể tìm trên internet bài viết Giải Mã Hiện Tượng Thích Thông Lạc.

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *