Hỏi đáp cùng người học Phật – Phần Trả lời

Hỏi đáp cùng người học Phật – Phần Trả lời
Trả lời:
Chào chú! Cháu là Tuấn, cũng là Vô Ưu,… những tên gọi đó chỉ là giả danh nó không thật cũng như bản chất vô thường của vạn pháp. Về những sự trải nghiệm của chú như việc xuất hồn, cảm giác thăng hoa thơi thới 3 ngày hay việc biết đến những người bị vong nhập thì với cháu không có gì đáng ngạc nhiên bởi cháu đã từng chạm đến không chỉ 1 lần…
Hẳn là chú không ngồi thiền theo phương pháp xuất hồn lâu rồi… Nói về phương pháp của thầy Lương Sĩ Hằng thì cháu khách quan đánh giá “ Đó không phải là pháp hành của Phật mà là pháp tu đã chịu sự ảnh hưởng của đạo Lão, gốc của việc xuất hồn là tạo thánh thai, hình thành huyễn thân, xuất huyễn thân rong chơi tiêu diêu, tự tại”. Với pháp tu này thì nếu người có định lực yếu dễ rơi vào hoang tưởng do bị tâm ma nhiễu loạn hoặc do bị các vong mượn nhà, đoạt xác. Còn trường hợp người định lực vững mà không rõ biết pháp tu thì sẽ tự nâng cao bản ngã, cái tôi. Điều này sẽ chướng ngại cho sự giác ngộ, giải thoát hoàn toàn. Có thể xem đây là một dạng của phép tu tiểu thừa. Nếu hành pháp tinh chuyên, thông suốt mà không kịp phá bỏ cái tôi trước khi nhắm mắt thì người hành pháp sẽ đạt 1 trong 4 quả vị thánh hoặc tự tạo ra tiên cảnh mà thọ dụng. Với trường hợp tạo ra tiên cảnh thì lâu về sau nhàm chán sẽ quay lại luân hồi nơi 3 cõi…
Cảm giác thảnh thơi, thoát tục là cảm giác thường thấy của người tu bên dòng thiền. Nó giúp người tu tin rằng cảm giác an lạc, tự tại là thật có khi con người thoát ra khỏi những dính mắc lợi danh, tiền của, mê đắm,… Và có lẽ mỗi người chỉ có cơ may nếm trải 1 lần cảm giác đó trong đời. Điều này giúp người học Phật tin sâu vào sự giải thoát hoàn toàn. Việc thần thức rời khỏi thân xác thì người hành pháp có thể chạm đến nhiều lần nhưng việc làm đó không hẳn là rất cần thiết cho việc giải thoát hoàn toàn. Vấn đề quan trọng nhất của đạo giải thoát là dùng sự hiểu biết để phá bỏ cái tôi mà mỗi người chấp giữ đã bao đời nay. Đây mới thật là vấn đề khó cho người hành pháp. Do chấp ngã, chấp vô ngã, chấp có, chấp không, chấp tâm, chấp cảnh, chấp việc đạt pháp, việc xuất hồn, việc kỳ đặc khi ngồi thiền, chấp giữ sự hiểu biết của mình là cùng tột,… mà người học Phật không thể chạm đến nguồn an lạc, tự tại ngay trong hiện kiếp. Và… đến khi rơi vào luân hồi, (Nếu duyên tốt nhập vào thai người) việc nhập thai ngục 9 tháng 10 ngày, quá trình trưởng dưỡng tuổi thơ, rồi việc học hỏi, giáo dục thiên lệch, chủ quan thì “người trở lại” đã quên công phu hành pháp tiền kiếp mà mãi không thoát ra được 3 cõi 6 đường.
Phật và Ơn Trên ai hơn ai? Tôi nghĩ, trước khi đức Phật Thích Ca sinh ra thì đã có chư Phật, vô số Phật đã thành rồi. Phật Thích Ca cũng là người như chúng ta. Nhưng ngài đã nhận lại và sống với bản lai diện mục, sống lại với tánh Vô Cùng sẵn có. Và vũ trụ từ vi mô đến vĩ mô, khoảng không gian bao la không ngằn mé này đã có trước lâu lắm rồi. Nhưng khi tôi tin có Thượng Đế ( tạm gọi là vậy ) hoặc lực tối cao, hoặc thái cực hay gì gì đó thì có một câu hỏi trong tôi lại xuất hiện: Ai sinh ra Thượng đế đây? Đây là điều không thể hiểu nổi. Con người với trí óc hạn hẹp không thể trả lời câu hỏi này được.
Xem ra chú phải bỏ hết cái biết của mình thì mới có thể liễu nghĩa Tam tạng kinh. Hay nói cách khác chú phải bỏ cái biết của chú thì cháu mới có thể chọn thuốc giúp chú được. Chú có đồng ý không?
Vì không có điều kiện tiếp xúc chú nhiều nên cháu cần chú “gác” cái biết của chú sang 1 bên. Cho đến khi chú tham khảo sách và những giải trình của cháu xong thì chú hãy khách quan đánh giá. Nếu những điều cháu nói là vô ích, không có giá trị thì chú “vất đi” và dùng lại cái biết chú đã góp nhặt và cho rằng đúng hơn.
Chú đã tham khảo khá nhiều giáo lý các tôn giáo khác nhau. Trong đó có cả đạo Cao Đài. Có những sách viết đúng, có những sách viết không ổn nhất là những sách do những người chưa thực chứng viết hoặc dịch giải ra. Bởi do có câu “Y kinh giải nghĩa Tam thế Phật Oan, Ly kinh nhất tự tức đồng ma thuyết – y kinh giải nghĩa thì oan cho cả 3 đời chư Phật, còn bằng rời kinh dù chỉ là một chữ tức là lời ma nói; cái chữ rời kinh mà thuyết để thành lời ma nói chính là chữ Tâm, rời Tâm mà nói thì là lời hư dối, lời ma mị”. Vì biết nhiều nên chú sẽ rối. Bây giờ cháu sẽ gỡ rối từ từ xem chú có vừa ý không trước đã.
Cháu khẳng định “Không ai hơn Phật Thích Ca”. Ơn trên, thánh Ala,… chỉ là một cụm từ chung chung và cũng là một dạng chúng sinh nơi 6 đường. Đó chính là nẻo Trời mà giáo lý nhà Phật đã chỉ ra. Cháu cũng không là đệ tử Phật, không còn là người học Phật, người bảo vệ Phật nên không có lý do gì để tâng bốc Phật Thích Ca. Chú còn nhớ câu “Thiên thượng, thiên hạ duy ngã độc tôn – chỉ có cái ngã là cao quý hơn cả; cái ngã đó là cái ngã trùm khắp, là Tâm, là Phật chứ không phải là cái tôi nhỏ bé mà mỗi người đang chấp giữ. Và … Vạn Pháp Quy Tâm hay nói cách khác là vạn pháp do tâm sinh đã lý giải những gút mắc về sự tồn tại của thượng đế, thánh Ala, chúa Jesu mà chú đề cập và nó cũng lý giải được câu “Ai là người sinh ra thượng đế đây?” của chú. Vấn đề thượng đế chú đã “hiểu nỗi” chưa? Chỉ do tâm tạo. Tâm của ai tạo? Tâm của người tạo chứ không phải tâm Phật. Tâm Phật chỉ tạo ra duy nhất Tam tạng kinh và do chúng sinh, vì chúng sinh 3 cõi mà Phật Thích Ca đã lập ngôn. Chú đừng bận tâm về những vị Phật quá khứ vì những vị Phật đó không tồn tại; chú chỉ cần biết 2 vị Phật là đủ. Đó là vị Phật Thích Ca và vị Phật là chú. Con người với trí óc phân biệt dính mắc sẽ không thể trả lời rốt ráo những vấn đề nơi sự sống, vũ trụ nhưng người nào sống với cái biết sáng rõ, khách quan, không dính mắc sẽ rõ mọi sự việc trên như giữa ban ngày. Vấn đề này chú đã thông chưa? Nếu chú thấy chưa thỏa đáng thì cứ nói chỗ không thỏa đáng cháu sẽ lý giải tường tận vì vấn đề này cháu rõ biết.
Không thể phân chia đạo Phật làm Phật giáo nguyên thủy hay Đại thừa hay gì gì nữa. Vì Phật Thích Ca đã nói: đạo ta chỉ có một vị duy nhất là giải thoát.
Nói không chia cũng không được chú à. Vì lẽ người ta đã chia rồi, vạn pháp do tâm sinh mà nhưng người đạt sự giác ngộ sẽ không chấp vào điều đó. Đại thừa, nguyên thủy, tiểu thừa,… rõ biết rồi không dính mắc nữa. Dù vậy, nếu người nào tin nhận mà chưa thông suốt thì vẫn nên tỏ bày không dính mắc, đền trả từ bi Tâm của Phật; còn những người u mê, tự phụ thông minh hơn người, không đủ duyên đành tùy thuận im lặng như người chết. Vì nói không đúng thời sẽ gây ra điều chống trái, hiềm khích,…
Phật giáo có vô số (84.000 pháp môn) được chia ra làm 3 tông : Thiền, Tịnh, Mật. Chúng sinh tùy chỗ chấp của mình mà chọn một trong 3 tông. Nhưng đích đến cũng là một. Như trong đời thường, bệnh về thể xác có nhiều loại từ bệnh nhẹ là cảm cúm đến bệnh các tạng phủ, bệnh do vi trùng… Mỗi bệnh phải dùng một số thuốc đặc hiệu. Nhưng đích đến vẫn là một: là sự khỏe mạnh. Do đó nếu tôi đau đầu do cảm, tôi uống loại thuốc này rất hay. Nhưng tôi không thể chỉ cho một người bị đau đầu do bị bệnh cao huyết áp được. Một thí dụ khác, hai người đi trên cầu khỉ. Người hướng dẫn không thể bảo hai người là phải cùng nghiêng bên phải hay bên trái được. Vì nếu 1 người đi trên cầu có khuynh hướng nghiêng phải thì anh hướng dẫn phải yêu cầu người ấy nghiêng về bên trái để được thăng bằng. Còn người đi trên cầu có khuynh hướng nghiêng trái thì anh hướng dẫn không thể nghiêng thêm bên trái được. Tôi nghĩ Phật Pháp là bất định pháp. Tùy chỗ chấp, chỗ sai lầm của chúng sinh mà có một phương cách thích hợp. Trong y dược, Sâm Nhung vô cùng tốt với người suy nhược cơ thể, huyết áp thấp. Nhưng sâm nhung lại tối kỵ cho người bị bệnh cao huyết áp!
Phật giáo có 84000 pháp môn. Cái này bỏ đi vì đó chỉ là một lời nói nó không có nhiều giá trị, nó chỉ mang tính ước lệ rằng có rất nhiều cách để đạt được sự giải thoát hoàn toàn dù rằng không cần tỏ ngộ hết tất cả vạn pháp mà chỉ cần tỏ ngộ về sự giải thoát hoàn toàn. Vì nó và sự tỏ ngộ không đúng mực mà đệ tử Phật đã chia tông, rẽ giáo Thiền, Tịnh, Mật làm rối mắt nhân gian, khiến người học Phật rơi vào lối rẽ, đường cùn. Thử hỏi đã có mấy ai nhờ Thiền, Tịnh, Mật mà thành Phật? Phật pháp là bất định pháp là đúng nhưng phải nói thêm sự giải thoát hoàn toàn là định pháp thì mới đủ nghĩa về pháp Phật. Vậy nên Phật pháp là là định pháp và cũng là bất định pháp. Giáo lý nhà Phật lẽ ra là sống nhưng vì người học Phật tự trói mình vào Tam tạng kinh khiến kinh điển chết vì thế đạo Phật mới rơi vào thời mạt pháp. Trong giáo lý, kinh điển các tôn giáo thì chỉ có kinh điển đạo Phật là kinh điển mở nhưng vì kém hiểu biết người học Phật đã khiến kinh điển nhà Phật chết và mất dần giá trị. Việc tùy bệnh mà cho thuốc là việc làm rất đúng mực, có ý nghĩa.
– Những phương pháp tôi đã biết đã hành tôi tin rằng đều do các vị phò trợ vô hình hướng dẫn. Có những phương pháp áp dụng rồi không còn áp dụng nữa. Tôi cho đó là sự ôn tập những gì đã tu tập ở kiếp trước. Mọi việc xảy ra đều là bài học cho mình. Mọi bạn đạo đã quen biết đều có nhân duyên từ những kiếp trước và từ họ có thể có lợi ích cho mình và ngược lại.
Mong rằng chú bỏ qua niềm tin các vị vô hình hướng dẫn. Cháu không nói họ không tồn tại vì cháu đã từng tiếp xúc họ. Trên thực tế họ không biết đường thì làm sao có thể hướng dẫn chú cho đặng. Họ còn đang không rõ lối đi cho chính họ thì sao có thể giúp chú. Những người rõ biết đường thì đều nhập niết bàn tịch diệt cả rồi. Lời này cháu nói không hư dối chú à. Nếu chú tỏ ngộ thì chú còn phải giúp ngược lại họ, khuyên họ giải thoát khỏi thể không hư dối hoặc tìm lấy một hình người tu tập thoát luân hồi…
– Trong đạo Phật không có người nhỏ tuổi hay lớn tuổi hơn mình. Cũng như bây giờ tôi (64 tuổi) và một ông lão 100 tuổi. Năm sau ông lão chết và tái sinh trở lại. Lúc này thì tôi đã già hơn ông lão (vì lúc này ông mang thân xác của một em bé). Cuộc đời ví như một tuồng hát. Tôi thí dụ có thể hiện giờ anh đóng vai đạo sư. Tôi đóng vai bác sĩ. Hoặc ai khác đóng vai kẻ ăn xin… thì cũng chẳng qua là vai diễn. Và ai cũng có sẵn Phật tính (Chơn như, Bản lai diện mục, tánh Giác, tánh Biết thường hằng bất sinh bất diệt). Nếu chúng ta chấp vào vai diễn tạm trong kiếp này mà quên đi Phật tánh sẵn có thì chúng ta bị trôi lăn theo sinh tử vô thường. Còn chúng ta sống với tánh Biết vốn có thì chúng ta đã sống với cái bản chất Vô cùng của mình rồi.
Thực ra có lớn, có nhỏ vì ông cụ 100 tuổi khi trở thành một em bé đã không còn nhận biết về tiền kiếp của mình, bảo họ là 1 e rằng không phải lẽ; Dù vậy họ cũng chẳng phải 2. Tuy nhiên, với giao tiếp thông thường thì gặp người lớn gọi ông, gặp em bé kêu cháu thì ổn hơn.
Cháu sẽ nói rõ một chút về đạo Phật. Đạo Phật là đạo giác ngộ, giải thoát hoàn toàn. Giác ngộ đơn giản chính là sự hiểu biết; giác ngộ giải thoát hoàn toàn là sự hiểu biết sáng rõ đúng thật về sự giải thoát hoàn toàn. Thế nên sự hiểu biết đúng mực, đủ đầy về sự giải thoát là điều kiện tiên quyết giúp con người vượt khỏi luân hồi. Là chìa khóa để buông bỏ cái tôi mà mỗi người đang chấp giữ. Cái tôi mà mỗi con người đang chấp giữ chính là nguyên nhân khiến con người nhào lên, lộn xuống trong 3 cõi 6 đường.
Vì vậy cháu sẽ chỉnh sửa lại khái niệm Phật tính của chú. Phật tính chính là tánh giác, tánh biết về sự giải thoát hoàn toàn, là phần động, có tích lũy, gom góp; còn chân như, bản lai diện mục thì tạm gọi là Tâm, là phần tĩnh. Dù rằng cái biết sau cùng cũng phải buông bỏ nhưng phải biết rõ đúng sai, chẳng sinh lòng yêu ghét thì việc buông bỏ mới dễ dàng.
– Bản chất của vũ trụ (Phật tánh) là bất sinh bất diệt tròn đầy. Dù dưới hình hài của người trí, kẻ ngu, con vật… cũng mang bản chất của vũ trụ, cũng hàm chứa Phật tánh từ lúc mới sanh. Như nước biển, dù ở biển rộng bao la, hoặc dù rót vào bình, vào chai, vào lu thì đều là nước biển chớ không khác nhau do chúng được chứa vào vật đựng! Bản chất này không cần làm gì hết cũng là nước biển, cũng là Phật tánh sẵn có. Như vậy chỉ cần nhận lại và sống với Phật tánh có sẵn chớ thật ra không cần phải động thủ, chẳng cần phải tu đó là ý riêng của tôi).
Bản chất vũ trụ không là Phật tánh mà là tâm, là vạn pháp. Thế nên lập ngôn của chú có điều không ổn. Chúng sinh 3 cõi đều có Phật tánh là đúng nhưng chỉ có chúng sinh nẻo người đang tìm và đi trên con đường giác ngộ giải thoát may ra mới nhận biết Phật tánh mà thôi. Và ngày nay rất ít trong số họ sống bằng Phật tánh mà đạt được giải thoát hoàn toàn. Vì vậy hiện có rất ít người thoát khỏi luân hồi dù rằng có nhiều hơn điều kiện tiếp xúc kinh điển nhà Phật. Do có Phật tính mà không thể nhận biết thì khác gì không có Phật tính. Hơn nữa, nhận biết đã khó, sống đúng bằng Phật tánh càng không dễ. Thế nên bảo chỉ cần nhận lại và sống bằng Phật tánh sẵn có mà không cần động thủ, không cần tu e rằng hơi mạo hiểm trừ phi liễu ngộ vạn pháp, liễu ngộ Phật tánh. Nếu muốn làm được điều đó thì hãy tự xét lại căn cơ xem tự thân là người tiệm tu hay đốn ngộ. Người tiệm tu cần hành trì miên mật bảo nhậm bản tâm; người tu đốn ngộ sau khi nhận diện được bản tâm tự tu, tự hành cho đến khi liễu ngộ hoàn toàn thì tu mà không tu, hành mà không hành, không hành mà hành.
– Tôi tin lời đức Phật Thích Ca nói: Chúng sinh ai cũng có Phật tánh (bản chất của cái vô cùng, điểm linh quang của Thượng đế theo đạo Cao Đài, bản lai diện mục, Chơn Tâm…) .
Chú bỏ cái hiểu của đạo Cao Đài đi. Tôn giáo này là một bản photo, góp nhặt giáo lý các tôn giáo khác 1 cách không hoàn chỉnh, rơi vào đó càng rối trí thêm. Nếu liễu ngộ thì họ đã không đem thánh thần, thiên địa, Phật,… đặt cả lên bàn thờ và đưa thượng đế làm chủ tể của muôn vật; Rồi vẽ bày Phật tánh là điểm linh quang của thượng đế, còn trói con người với thượng đế thì việc giải thoát quá xa vời.
Do đó chỉ cần nhận lại Phật tánh và sống với Phật tánh là đạt được ý nguyện của kiếp nhân sinh. Nhưng đó chỉ là sự hiểu biết bằng trí óc (vẫn là dựa trên sinh diệt) chứ thật ra bấy lâu tôi vẫn cứ loay hoay. Tôi như con côn trùng cứ cố sức bay ra khỏi phòng nhưng không tìm được cửa mà cứ đâm đầu vào vách!
Và đến đây thì chú đã tự khẳng định về điều chú nói trước đó “chỉ cần nhận lại và sống bằng Phật tánh mà không cần phải hành trì” là có điều chưa ổn. Phải chăng chú tin mình có Phật tánh mà chưa sống được? Thế nên pháp xuất thế gian chẳng thể dùng cái hiểu biết, tư duy chủ quan mà thâm nhập được, chú Hải à! Chú đã hội đủ rất nhiều yếu tố để vượt khỏi luân hồi như sự tín tâm Phật tánh, tin nhận có thế giới vô hình,… Tuy nhiên, chính cái biết chưa thông suốt đang trói chú. Trong cái biết của chú có những cái đúng, có những cái sai, chú cứ thong thả gạn lọc lại, khi nhận ra những cái sai là chú sẽ có được cái đúng. Và với một sự khách quan chú hãy xem sách của cháu rồi cho cháu biết chú tìm được gì hay không thấy có gì mới so với những gì chú đã biết. Những điều gì chú cảm thấy chưa ổn, những gút mắc chú cứ trao đổi thẳng thắn với cháu. Cháu sẽ cùng chú mở những nút thắc đó. Đạo Phật là đạo hiểu biết vì thế hãy dùng sự hiểu biết để khai mở những điều chưa rõ về con đường giác ngộ giải thoát hoàn toàn.
Tôi lại nghe nói tâm yên thì Phật tánh hiển lộ. NHƯNG LÀM CÁCH NÀO TÂM YÊN?
Đây là câu nói đúng nhưng hơi vụng. Nó tựa như câu tâm bình thường thị đạo nhưng thế nào là tâm bình thường thì lại không nói rõ khiến người chẳng biết đường hành.
Tôi không biết tu có cần phải ngồi thiền hay không. Ngồi là ngồi bao lâu và khi ngồi phải làm gì, để tâm yên hay quán xét một vấn đề gì. Còn lúc không ngồi đi, đứng, nằm) thì phải tu như thế nào. Lúc đối diện với sắc (hình ảnh, màu, nam nữ, tiền bạc…), thanh (tiếng xe cộ, chửi rủa, khen chê, tiếng nhạc êm đềm, âm thanh chát chúa…), hương (mùi thơm, thối, mùi tóc, mùi thức ăn…), vị (mặn, ngọt, chua, cay, đắng…), xúc (sự tiếp xúc của thân này với tất cả các đối tượng )… thì phải tu như thế nào, phải sống như thế nào mới có thể trực nhận được chân lý??? Thật sự đây là một vấn đề quá hóc búa cho con người. Và với cá nhân tôi dù đây là chuyện tôi đã lưu tâm từ lâu vẫn không thể bước thêm một ly nào…
Lục Tổ Huệ Năng đã từng nói tụng kinh, niệm Phật, ngồi thiền,… là nhị pháp còn Phật pháp là pháp bất nhị. Dù vậy Lục Tổ không khiến người tu không ngồi thiền mà là đừng quá chấp chặt việc ngồi thiền. Thế nên việc ngồi thiền là tùy thuận, có điều kiện thì ngồi, ít nhiều, thời gian là tùy thuộc vào hoàn cảnh mỗi người. Việc ngồi thiền giữ tâm lặng lẽ, lắng tâm sẽ giúp trí não khỏe mạnh, thân thể máu huyết cân bằng sẽ góp phần khai mở cái biết sáng rõ, đúng mực về con đường giải thoát hoàn toàn. Những lúc không ngồi thì “Tâm bình thường là đạo”, sắc thanh hương vị xúc là cảnh, cảnh vốn vô thường thì đừng tham đắm cảnh mà khiến tâm cũng vô thường, vọng tâm làm chủ, thường sống bằng vọng tâm sẽ hiển bày tham sân si mạn nghi là những tánh biết dính mắc khiến con người trôi nổi trong lục đạo… Chú cứ giữ tâm bình thường, an nhiên thì về sau chú sẽ nhận biết mình đã tiến xa chứ không chỉ là bước thêm vài ly. Điều quan trọng ở cái biết, trí tuệ khai mở và phải hằng sống với cái biết đúng mực, sáng rõ – Tâm bình thường là đạo.
Cho nên nghe anh viết, trình bày và xác nhận rằng anh đã đến nơi Phật Thích Ca đến, tôi hết sức vui mừng. Xin anh chẩn bệnh và bốc thuốc cho tôi để được tỉnh mộng thực sự, tỉnh mộng hoàn toàn. Tôi nguyện khi tỉnh thức sẽ đem mọi khả năng để tìm người thực tâm muốn trở về nhà, tìm mọi cách để họ có thể về được quê xưa như mình.
Cháu rất trân trọng tâm nguyện của chú. Vì thế cháu sẽ làm mọi cách có thể những mong chú đạt thành sở nguyện nhưng chính chú mới là người tự giải thoát cho chính mình. Tuy nhiên, cháu lại thêm một lần nữa khiến chú rối trí 1 chút. Thật không có nhà, không có quê xưa để về. Vì nếu còn muốn tìm về quê xưa, nhà cũ thì còn trôi nổi; vấn đề chỉ là sự dừng lại hay tiếp tục đi trong luân hồi mà thôi.
Không sai, cháu có nói đã đến nơi Phật Thích Ca đã đến. Đó là khi cháu nhận lại tánh giác. Khi rõ biết và sống với tánh giác thì có nơi nào người học Phật không đến được, 3 cõi ra vào tự tại, thường sống nơi niết bàn. Dù vậy niết bàn không phải là cảm giác thăng hoa, thoát tục, thơi thới mà chú đã từng tiếp xúc. Đó chỉ đơn giản là thường an lạc tịnh.
Chúc chú khỏe mạnh và sớm khai mở nguồn tâm, sống được nơi chân như.

Phải chăng chú đã 64 tuổi? Thế thì chú càng nên quen dần với việc buông bỏ thì sẽ tốt hơn. Cánh cửa cuối đường hầm và Dứt Phàm Thành Thánh có lẽ sẽ có chút ít giá trị đối với chú.
Thật ra con người còn sống là còn vướng cảnh là việc rất bình thường. Có điều vướng nhiều hay vướng ít, biết đến Phật tánh là phải biết buông bỏ, buông bỏ từ từ, từng chút một và rồi đời sống ngày càng thảnh thơi, an lạc hơn. Việc chú bị trôi theo những suy nghĩ viển vông là điều dễ hiểu vì chú đang sống kia mà. Nhưng chú hãy rèn luyện sự tỉnh thức đừng dính mắc vào những suy tư viễn vông đó, cái nào làm được thì làm; không làm được thì bỏ đi. Sự hiểu biết tự tánh vạn pháp sẽ có ích cho chú. Chú cứ tham khảo sách của cháu qua 1 lượt rồi xác định lại “cháu có chỗ để dùng không?” và trao đổi thêm. Nếu chú thấy cháu có chỗ không ổn thì chú cứ thẳng thắn chỉ rõ. Cám ơn chú đã liên lạc!

Lỗi Lầm Sư Trưởng Tăng – Tục

Lỗi Lầm Sư Trưởng Tăng – Tục

Lỗi Lầm Sư Trưởng Tăng – Tục
Đa số người học Phật ngày nay đều có chung một tâm lý kính tin đến thuần phục Tam Bảo. Kính tin Tam Bảo là điều tốt, song kính tin đến mức thái quá thì vấn đề đã sa vào một ngã rẽ lệch lạc, mê mờ.
Tăng Bảo là một con người có đủ đầy thất tình, lục dục. Tăng Bảo là một con người nên đương nhiên vẫn có thể mắc phải những sai lầm, thậm chí là những sai lầm nghiêm trọng nhất. Tăng Bảo chung cùng cũng chỉ là một người đang học Phật chứ không là Giác Giả nên lẽ đương nhiên là sẽ có những hiểu biết Phật học lầm lẫn.
Dù rằng Tăng Bảo là người có nhiều hơn cơ hội tham cứu kinh điển đạo Phật nhưng điều đó không có nghĩa là Tăng Bảo nhất định phải hiểu đúng, hiểu đủ về chánh pháp mà Phật Thích Ca trao truyền. Thế nên người sáng mắt đã bày phương tiện cảnh tỉnh hậu nhân rằng “Y Kinh Diễn Nghĩa Tam Thế Phật Oan, Ly Kinh Nhất Tự Tức Đồng Ma Thuyết”. Và tương tợ để phá lỗi Chấp Pháp thường gặp ở người học Phật, Giác Giả đã bi mẫn dạy rằng “49 năm Như Lai Không Nói Một Lời Nào”.
Giới luật mà giới Tăng Bảo thọ trì giúp hoàn thiện nhân cách, đức độ, đạo hạnh chứ không đồng nghĩa với sự khai thông tuệ giác ở người học Phật xuất gia.
Ngày nay, vì quá kính trọng Tam Bảo nên người học Phật cơ hồ như dua vạy, đồng lõa với những lỗi lầm mà các sư thầy phạm phải, điều đó khiến cho đạo Phật thêm phần suy vi, hỗn mang.
Người học Phật mà không có chính kiến minh định chánh pháp thì khó mong thành tựu phước huệ viên mãn, việc giải thoát cho tự thân vì thế bị nghẽn lối, khó thoát nạn khổ Tam Đồ.
Vài mươi năm gần đây, trong giới Tăng Bảo nổi lên vị sư thầy Thích Thông Lạc dựng lại chiêu bài Không Có Linh Hồn cùng với việc gieo vào lòng những tín đồ Phật tử theo tông phong của Tu Viện Chơn Như một sự cực đoan, bảo thủ, cứng nhắc.
Sư thầy Thông Lạc lại cho rằng pháp tu do ông khởi xướng mới là pháp tu nguyên thủy của đạo Phật. Nhìn sâu vào hiện tượng Thích Thông Lạc ta sẽ thấy bóng dáng của người từng là sư phụ của thầy Thông Lạc, sư ông Thích Thanh Từ.
Tại sao tôi nói nhìn vào hiện tượng Thích Thông Lạc ta sẽ thấy bóng dáng của sư ông Thích Thanh Từ?
Bởi lẽ việc lập ra dòng tu Phật học mới ở sư Thông Lạc được dựa trên nền tảng khai tông, lập giáo của sư ông Thích Thanh Từ khi sư ông dựng lên Thiền Phái Trúc Lâm.
Việc sư Thông Lạc thoát ly dòng Thiền Trúc Lâm lập nên dòng Thiền Nguyên Thủy mang thương hiệu Thích Thông Lạc chỉ là việc chia Tông, rẽ Giáo thường thấy ở các hệ thống tôn giáo xưa nay. Và điều đó chỉ dựa trên nền tảng Bản Ngã Vi Định chứ không thể chạm đến sự tinh túy của câu Thiên Thượng, Thiên Hạ Duy Ngã Độc Tôn do Giác Giả từng nói.
Hiển nhiên là hệ phái Phật học Nam Tông cũng như những hệ phái Theravada sẽ không thừa nhận pháp tu của Tu Viện Chơn Như là dòng tu Phật học nguyên thủy chính thống.
Chính do sự cực đoan, bảo thủ, cứng nhắc của sư Thông Lạc cùng các tín đồ Phật tử Tu Viện Chơn Như đã góp phần khuấy động lại sự xung đột giữa hai hệ phái Phật học Nam Tông và Bắc Tông.
Tư tưởng biên kiến thiển cận Không Có Linh Hồn do sư ông Thông Lạc xưng tán thông qua cuộc xung đột tư tưởng Phật học Nam – Bắc Tông mà len lõi vào tri kiến Phật học ở những người học Phật đang rối bời giữa đời và đạo trở thành Sở Tri Chướng ngăn người học Phật đến với sự sáng rõ, viên dung của chánh pháp Như Lai Tạng.
Truy tung nguồn gốc Chấp Thủ – Không Có Linh Hồn ở sư Thông Lạc tôi được biết hóa ra sư Thông Lạc không do được tham khảo bản gốc kinh Nykaya từ ngôn ngữ Pali mà vọng chấp – Không Có Linh Hồn.
Sư Thông Lạc chỉ tiếp cận được những bản dịch kinh Nykaya do sư ông Thích Minh Châu biên dịch cùng với những buổi hành thiền – Hữu Tâm, Hữu Cầu mà rơi vào Chấp thủ – Không Có Linh Hồn.
Chính do cả tin Không Có Linh Hồn là cứu cánh của đạo Phật cùng với việc chịu sự ảnh hưởng tư tưởng ngỡ là Bài Tàu đang chi phối sâu sắc Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam ở sư Thích Minh Châu – sư Thông Lạc đã trở nên bảo thủ, cực đoan và cả quá khích trong việc hộ trì chánh pháp hay đó chỉ là việc bộc lộ bản ngã khi cả nghĩ mình đã chứng ngộ ở người học Phật chưa ngộ pháp vô sanh?
Ngạo Thuyết được biết trong các bản dịch kinh Nykaya của sư Thích Minh Châu ngoài việc dịch theo lối y kinh – Không Có Linh Hồn, sư ông Thích Minh Châu đã dùng những từ khác để thay vào những chỗ có cụm từ Linh Hồn để tránh việc những bản dịch giải trở nên tối nghĩa, điều này cho thấy sư ông Thích Minh Châu chỉ thay từ linh hồn mà ngoại đạo thường dùng bằng một từ gần gũi với người học Phật hơn, đó là từ Thức hoặc Thần Thức. Điều này có không, đúng sai thế nào chỉ cần người học Phật tham cứu 5 bộ kinh Nykaya do sư ông Thích Minh Châu dịch giải sẽ rõ.

Điều đáng tiếc là khi tham cứu bản dịch của sư ông Thích Minh Châu, sư thầy Thông Lạc đã quá vội vàng nên nỗi vừa sờ trúng đuôi voi đã ngỡ rằng ôm trọn cả con voi. Do nắm bắt sai ý diễn giải của sư ông Thích Minh Châu mà thầy Thông Lạc đã xưng tán việc Không Có Linh Hồn trên không phù hợp ý Phật, dưới chẳng khế hợp đương cơ từ đó tạo ra muôn sự lỗi lầm.
Và không chỉ có mỗi sư Thông Lạc ngộ nhận khi tham cứu những bản dịch kinh Nykaya của sư ông Thích Minh Châu về sự Không Có Linh Hồn, có khá nhiều vị Tăng xuất gia lẫn tục gia Phật tử ngộ nhận về điều này. Đây là những người học Phật tạm gọi là xem kinh nhưng bất liễu nghĩa, lẽ ra người học Phật xem kinh phải chuyển được kinh, đằng này đã không chuyển được kinh lại bị kinh chuyển đến mê mờ thêm dày nỗi vô minh.
Giáo lý Phật Thích Ca tuyên thuyết bày ra con đường trung đạo, lý trung đạo. Do đó, người học Phật đúng mực phải sáng tỏ rằng không có việc gì tuyệt đối có hay tuyệt đối không. Nếu cho rằng có việc tuyệt đối có hoặc tuyệt đối không là rơi vào biên kiến nhị nguyên, tức đã đánh mất trung đạo.
Người học Phật cho dù có định lực, phước lực, huệ lực được sự an tịnh nhất thời nhưng nếu tri kiến, chánh kiến bị kẹt nơi biên kiến thì khó mong được sự Thường An Lạc Tịnh viên mãn, lưới luân hồi khó thoát.

Nghiệp lực như là sợi dây trói, nghiệp lực chỉ là khách thể; Linh hồn hay một giả danh khác như Thức, Thần Thức, Vong,… mới thật là chủ thể. Nếu vọng chấp Linh Hồn Không Có tức Không Có Chủ Thể thì sợi dây trói nghiệp lực biết trói cái gì mà khiến chúng sinh trôi lăn nơi lục đạo luân hồi. Nói Không Có Linh Hồn, Chấp Không Có Linh Hồn là vọng, là hoang đường.
Khi truy tung nguồn gốc vọng chấp Không Có Linh Hồn ở sư Thông Lạc, Ngạo Thuyết biết đến Lời Giới Thiệu Kinh Trung Bộ tương truyền do sư ông Thích Minh Châu thủ bút, trong lời giới thiệu kinh Trung Bộ có đoạn:
“Càng dịch, chúng tôi càng thấy rõ ác ý của các nhà Bà La Môn đã dùng danh từ Tiểu Thừa để gán vào những lời dạy thực sự nguyên thủy của đức Phật và khiến cho các Phật tử không dám đọc, không dám học, không dám tu những pháp môn ấy. Càng dịch, càng thấy rõ dụng tâm hiểm độc của các vị Bà La Môn, đã khôn khéo xuyên tạc đạo Phật, khiến cho những giáo lý căn bản, những tinh hoa cao đẹp nhất của tư tưởng nhân loại, đã bị những tư tưởng tà giáo xen lẫn, bị ruồng bỏ, bị che dấu, không được biết đến, không được học hỏi tu hành. Nhưng chân lý bao giờ cũng là chân lý, mặt trời bao giờ cũng là mặt trời. Những lời ba hoa của Ma Vương, các cuộc đo tài của những ngọn đèn lẻ tẻ mù mờ, lời lẽ bập bẹ của những kẻ mới tập tểnh đi vào con đường Triết lý, tất cả cũng chỉ là cuồng vọng đen tối, được ánh sáng rực rỡ của chân lý quét sạch”.

Đây chính là luồng tư tưởng chi phối rất nhiều sư Thích Thông Lạc trong quá trình giảng truyền đạo pháp. Sư Thông Lạc đã quá cực đoan, cố chấp khi dùng lối quy chụp để kết tội Phật giáo Trung Quốc, thầy Thông Lạc đã đánh đồng Đạo Bà La Môn với Phật Giáo Bắc Tông Kiểu Mẫu Trung Hoa. Lối quy nạp này không đúng với cách hành xử của một người học Phật đúng mực. Đạo Bà La Môn Là Đạo Bà La Môn, Không Thể Gượng Ép Nói Phật Giáo Trung Hoa Là Đạo Bà La Môn Chỉ Vì Ghét Hàng Tàu Hay Vì Mục Đích Cá Nhân.
Và càng không thể vì sự thể hiện pháp tu mình đang hành trì là pháp chính thống đạo Phật hoặc việc muốn bài xích, thải trừ tư tưởng Thiền Tông Trúc Lâm có ở những người Phật tử kính tin mình mà thầy Thông Lạc cho rằng hệ phái Thiền Trúc Lâm chịu ảnh hưởng của Thiền Đông Độ tức là hàng Tàu nên không thuộc về đạo Phật.

Lời lẽ của sư ông Thích Minh Châu khi khởi ý dịch những bộ kinh Nykaya thể hiện việc minh định lại kinh sách Phật học ở chiều sâu, chỉ ra sự xen tạp tư tưởng Bà La Môn gốc vào đạo Phật chứ không chỉ hẹp kém ở tư tưởng bài Tàu.
Hẳn là do thấy giáo hội Phật giáo Việt Nam chịu ảnh hưởng quá nhiều từ tư tưởng Thần quyền của Phật giáo Trung Quốc và sự chi phối của Đạo Mẫu – đạo Ông Bà len lõi trong giáo trình cũng như thời khóa công phu của Tăng nhân và người học Phật miền bắc cùng với xu hướng sẽ lan rộng xuống miền nam như bệnh dịch, đây là một vấn nạn của đạo Phật – những tư tưởng Phật học lệch lạc; Sư ông Thích Minh Châu đã quyết ý dịch giải những bản kinh gốc Nykaya để giúp người học Phật Việt Nam đến gần hơn với giáo lý Phật nguyên thủy.
Và trong quá trình dịch giải, dù rằng với tầm nhìn của một người chưa chứng ngộ pháp Phật nhưng sư ông Thích Minh Châu vẫn nhận ra những tư tưởng dị giáo xen lẫn trong giáo lý đạo Phật nên đã mở lời cảnh tỉnh người học Phật khá nên suy xét thận trọng khi tham cứu kinh sách để tường tận chân ngụy, thật giả… Sư ông Thích Minh Châu có niềm tin rằng khi mặt trời lên thì muôn chỗ tối tăm đều sẽ được soi sáng.

Song những bản dịch của sư ông Thích Minh Châu qua lăng kính của sư Thông Lạc lại trở nên hẹp hòi, nhỏ nhen. Hẳn do nặng mang tư tưởng bài Tàu để khẳng định mình sư Thông Lạc đã vung tay quá trán tạo nên làn sóng tẩy trừ Phật giáo Trung Quốc ở những tín đồ Phật tử cực đoan, quá khích. Đánh mất lý trung đạo, đây là lỗi lầm không đáng có ở những Tăng Bảo mang trên mình lý tưởng truyền trao chánh pháp Phật môn. Lỗi lầm này không chỉ trói chân Tông chủ nơi lục đạo mà còn khiến những tín đồ cả tin thêm lắm nỗi vô minh.
Ôm tư tưởng bài Tàu khi tham cứu kinh điển đạo Phật là điều không thể, không đúng mực và hỗn độn. Rất nhiều ngôn từ Phật học cơ bản khi chuyển ngữ từ tiếng Pali, tiếng Sanskirt,… sang ngôn ngữ tiếng Việt sẽ ra sao nếu không vay mượn những ngôn từ Thân, Thọ, Tâm, Pháp, Bát Chánh Đạo, Tứ Diệu Đế,… Vậy nên vọng chấp hàng Tàu chỉ là chỗ hẹp kém của người học Phật nửa vời.
Với một điều đúng thì dù diễn giải bằng ngôn từ nào đi chăng nữa thì diễn giải đúng vẫn sẽ đúng. Ngược lại nếu việc diễn giải sai thì dù cho dùng ngôn ngữ nào đi chăng nữa kể cả việc dùng ngôn ngữ gốc sai vẫn sẽ là sai. Thế nên vấn đề học Phật là ở sự hiểu biết chứ không ở ngôn ngữ trình bày.

Tăng Bảo, nhất là những vị Tăng Bảo danh tiếng, thân là giáo thọ cho muôn người học Phật khá nên cẩn trọng trong từng lời nói, bởi lẽ một lời nói ra ảnh hưởng đến muôn người. Tăng Bảo nên chăng việc gì biết rõ thì nói, không biết rõ thì việc thuyết giảng nên tựa nơi y kinh, tránh việc diễn giải cảm tính cá nhân mà gây ra sự ngộ nhận tri kiến Phật học nơi người học Phật.
Với những Tăng Bảo trẻ tuổi càng nên học hạnh nhẫn nhục, lắng nghe bởi lẽ tương lai Phật pháp có mang lại hạnh phúc cho nhân loại hay không là ở thế hệ Tăng sinh trẻ.
Giới Tăng Bảo phải hành hạnh của đất để khiêm cung, để biết yêu thương tất cả muôn loài.
Người học Phật xuất gia phải sáng tỏ rằng Thầy Của 3 Đời Chư Phật Chính Là Ngoại Đạo. Thế nên giới Tăng Bảo và người học Phật chớ cạn nghĩ rằng Giáo Lý Phật Thích Ca Trao Truyền Là Số Một, Là Vượt Lên Tất Cả Tri Kiến Nhân Gian mà đọa lạc vào vô minh mê lầm.
Trân trọng!

THỜI BUỔI NÀY CHUYỆN GÌ CŨNG CÓ THỂ XẨY RA (Bài 4) SƯ CŨNG LÀ MỘT NGHỀ HÁI RA TIỀN

Đặng Văn Sinh

12 tháng 1, 2018
THỜI BUỔI NÀY CHUYỆN GÌ CŨNG CÓ THỂ XẨY RA (Bài 4)
SƯ CŨNG LÀ MỘT NGHỀ HÁI RA TIỀN
Đặng Văn Sinh
Khi mà tín ngưỡng phục hồi, đền chùa đồng loạt trùng tu tân tạo càng nhiều thì tầng lớp sư sãi, thày bùa, đồng cốt càng gia tăng để phục vụ nhu cầu tâm linh của các thượng đế thời MẠT PHÁP. Với hơn chín chục triệu chúng sinh đang chìm đắm nơi sông mê bến lú, trong số ấy, không ít kẻ mang trên vai gánh nặng nghiệp chướng vì tội báo hại đồng bào, đang ngày đêm muốn cầu thần phật giải thoát. Các nhà cai trị lúc này nắm được tâm lý đám đông đang rã hàng, bèn nhanh tay chớp thời cơ như một thứ vũ khí tinh thần lợi hại để “định hướng” phần hồn của họ. Khẩu hiệu “Tốt đời đẹp đạo” cần được hiểu từ nguyên nhân sâu xa của nó.
Phật giáo quốc doanh luôn được xem như một tổ chức chính trị xã hội ngoại vi của nhà nước toàn trị, mà ở bất cứ cấp nào, chính quyền cũng có thể thao túng bằng cách đưa người của mình vào nắm giữ chức vụ chủ chốt. Chuyện sư được cơ cấu vào cơ quan lập pháp có vẻ như nằm trong thuyết ÂM MƯU. Hòa thượng trên diễn đàn Quốc hội vung tay chém gió rất hiếu chiến “Việt Nam cũng phải hiện đại hóa quân đội mạnh như Bắc Triều Tiên” không phải là cá biệt. Có những hòa thượng vốn là nhân viên công lực hàm cấp cao tót vời, khoác áo cà sa trụ trì ở những chùa lớn theo dõi nhất cử nhất động của giới tăng ni phật tử.
Phật giáo bị quốc doanh hóa, ĐẠO và ĐỜI lẫn lộn trắng đen nên mới có chuyện các chức sắc Hội Phật giáo một tỉnh vùng Đồng bằng Bắc Bộ đấu đá nhau đến mức lén quay phim, chụp ảnh, ghi âm đưa lên mạng xã hội những hành vi đồi bại mà ngay đến những kẻ vô đạo cũng cảm thấy xấu hổ.
Có thể nói, sư trụ trì các chùa làng chưa bao giờ hư hỏng như bây giờ. Hầu hết đại đức được bổ nhiệm đều còn ít tuổi, học hành lởm khởm, đi tu như một cách kiếm sống, chứ ít người xuất phát từ niềm tin và sự ngộ đạo. Công việc đầu tiên của một sư thầy mới về chùa là đòi mua ô tô. Không hiếm trường hợp chùa nhỏ, dân địa phương nghèo, khó đáp ứng nhu cầu vật chất, sư bỏ tự, về Tỉnh hội Phật giáo đòi chuyến đi nơi khác.
Sinh hoạt của thầy thời @ cũng hiện đại lắm, khác xa các bậc cao tăng tu khổ hạnh ngày xưa. Ăn chay là ví dụ một tháng đôi ba lần cho phải phép. Tôi đã chứng kiến một đại đức trụ trì chủa Q.S. thị trấn B “thụ trai” như thế nào (thầy này đã bị dân địa phương làm đơn đuổi khỏi chùa vì có thành tích bất hảo nhưng không hiểu sao chính quyền vẫn tìm cách giữ lại). Buổi sáng, một vãi già (có hôm là vãi non) ra quán ăn gần đấy mua cho thầy tô phở bò. Buổi trưa và chiều, các bà phân công nhau nấu cơm, đương nhiên thức ăn là phải có thịt cá. Còn bia thì vô tư. Lúc nào trai phòng cũng trữ sẵn vài két. Thầy dùng xọng, một phật tử rửa bát còn cô vãi non pha nước dâng lên. Điều trớ trêu là, so về tuổi tác, sư chỉ đáng hàng con cháu, nhưng bà nào cũng lễ phép gọi THẦY xưng CON!
Nói tóm lại, việc đời thầy rất sành nhưng việc đạo thì ít khi mó tay trừ những lúc liên quan đến hòm công đức. Chẳng hạn đến giờ thỉnh chuông, đã có hai ông già thay nhau chấp tác. Viết sớ, giao cho bọn bợm nhậu mặt mũi gớm guốc, xăm trổ đầy mình. Đó cũng là đám đệ tử ruột của sư mỗi khi thầy ra thành phố hát karaoke hay đóng cửa tăng phòng đánh phỏm ăn tiền.
Nhà chùa bây giờ còn khối chuyện đáng bàn mà một trong số đó là sư chủa H. cạy lưng tượng Phật tìm vàng và trầm hương; hòa thượng và ni cô trẻ ôm eo nhau cưỡi xe máy lượn vòng vèo như đôi tình nhân chính hiệu. Rồi sư bán trộm chuông chùa bị còng số tám, sư buôn ma túy phải nhập kho… Đó là còn chưa kể đến sự trơ tráo của loại sư hổ mang ở Thái Nguyên đem cả ca ve vào thiền phòng đánh bạc và hành lạc mà báo chí đã đăng tin.
Sự diệt dục đối với các hòa thượng quốc doanh thời nay chỉ là chuyện tầm phào. Cũng chính tôi đã được nghe kể rành rọt về một vụ scandal cười ra nước mắt. Vào một đêm cuối thu, khoảng đầu canh ba, sư H. trụ trì chùa T.M. nhận được cú điện thoại. Thế là vị đại đức phóng ô tô hạ sơn đến trạm xá thị trấn B. cách đấy hơn chục cây số. Nơi ấy có một nữ y sĩ còn khá trẻ mới bỏ chồng đang trong cảnh phòng không gối chiếc. Sư ta tưởng bở liền dùng thứ ngôn ngữ BẰNG TAY giao tiếp, ai ngờ bị đối phương cho một bạt tai rồi hô hoán lên. Sau này mới rõ, hóa ra đó là cuộc gọi nhầm. Nàng y sĩ gọi bạn tình, chẳng hiểu sao lại nhảy sang số của sư.
Hầu hết các đền chùa được tu sửa hay xây mới đều hướng về một mục têu duy nhất là KINH DOANH THẦN THÁNH. Trong đó, đứng đầu là chùa Bái Đính, Chùa Hoa Yên, Chùa Hun, đền Bà Chúa Kho, đền Kiếp Bạc, thậm chí cả chùa Ba Vàng cũng không thoát khỏi sự cám dỗ của…hơi đồng. Những nơi này, các loại dịch vụ như tham quan, mua ấn, xóc thẻ, viết sớ, xin chữ, gửi xe…, đều được bán vé với giá không rẻ. Tất cả nguồn thu đều bổ đầu khách thập phương. Có điều đấy mới chỉ là hàng rào ngoại vi, còn bên trong nội điện thì điểm nhấn là HÒM CÔNG ĐỨC. Loại này nhà chùa hay nhà đền không được ăn một mình mà phải chia chác theo tỷ lệ với chính quyền địa phương trực tiếp quản lý di tích. Nghe nói chùa Bái Đính, mỗi ngày Ban Quản lý thu về cả tỷ VND. Đền Bà Chúa Kho, đền Kiếp Bạc thu nhập có khiêm tốn hơn nhưng cũng không ít hơn vài trăm triệu.
Vào mùa lễ hội sau tết Nguyên Đán, là dịp cho các hòa thượng, đại đức, thầy cúng trổ tài làm phép tróc ma trừ quỷ cho thiện nam tín nữ có nguyện vọng muốn DÂNG SAO GIẢI HẠN hoặc CẦU SIÊU. Những “gói dịch vụ” này, nhẹ thì đôi ba triệu, còn nếu hoành tráng thì khổ chủ chẳng ngại móc hầu bao vài ba trăm triệu để mua lấy sự bình yên sau khi đã vướng vào nghiệt trái. Mọi hạng mục “cúng dàng” đều có giá của nó. Không ai mặc cả với Phật. Vì thế các hòa thượng thi nhau chặt chém mà lương tâm (nếu còn một chút) chả cần phải áy náy.
Giới tăng lữ Phật giáo đều mang họ THÍCH. Họ này bắt nguồn từ Trung Quốc truyền sang Việt Nam từ cả ngàn năm trước. Sau khi nhập tự, xuống tóc, mỗi tăng ni được đặt cho một pháp danh. Ví dụ như Thích Thanh Tứ, Thích Thanh Quyết, Thích Trí Quang, Thích Diệu Tâm v.v… Đến đây lại có sự ngược đời. Hình như từ lâu, nội hàm của HỌ PHẬT đã bị biến dạng trở thành một từ loại chỉ sự ham muốn của con người, được dân gian hóa thành chuyện tiếu lâm là THÍCH ĐỦ THỨ. Mà kẻ mang danh là tu hành lại thích đủ thứ thì cái đạo ấy gọi là đạo gì nếu không phải là ĐẠO TẶC?
Cuối cùng vẫn phải quay về chuyện nhà tu hành THÍCH ĐỦ THỨ ở chùa Q.S., thị trấn B đã nhắc đến ở phần trên. Vị đại đức này có cái đức đáng quý là rất thích xem video “tươi mát”, thích chơi phỏm và năng lui tới các quán karaoke. Vì thích tiêu sài rộng rãi nên hòm công đức lúc nào cũng rỗng thành ra nhiều khi đâm kẹt. Biết vậy, các vãi già, vãi non bàn nhau “bí mật” bổ sung để nhà chùa đỡ “viêm màng túi”. Xem ra “thầy” cũng biết ý, thỉnh thoảng lại giả vờ bỏ quên chiếc ví lép ở đầu giường.
Sư trẻ, mà các vãi, nhất là vãi non lại quá “sùng đạo”, tranh nhau chăm sóc thầy sinh ra bất hòa vì ghen tức, đến nỗi sân chùa trở thành nơi khẩu chiến thường xuyên giữa các nữ thí chủ. Lúc lâm trận, chẳng còn thứ từ ngữ thô tục nào họ không văng vào mặt nhau giữa thanh thiên bạch nhật.
Đại loại một số chùa chiền, đền phủ cùng sư sãi và đám tín đồ mê muội của đạo Thích Già thời MẠT PHÁP những nơi tôi biết là như vậy. Có thể ở vùng trung châu này vẫn còn những ngôi chùa chưa bị thương mại hóa, những bậc chân tu đạo cao đức trọng hiểu thấu lẽ huyền vi của tạo hóa, nhưng phải mất nhiều công sức may ra mới tìm được. Buồn thay!
Tháng trọng đông, ngày lành
Đ.V.S.

Nói Về Thiền Bệnh Và Hơn Thế Nữa…

Nói Về Thiền Bệnh Và Hơn Thế Nữa…

Nói Về Thiền Bệnh Và Hơn Thế Nữa…
Ngày nay, có quá nhiều lối hành thiền khác nhau và mỗi mỗi đều tự cho rằng là độc bộ, là chân truyền danh môn. Nhưng sau rốt của việc hành thiền hành nhân lại hiện tướng thành những thằng ngố hoang tưởng, nói chuyện theo lối đi mây, về gió.
Vì sao lại như vậy?
Lại có nhiều ý kiến cho rằng muốn hành thiền nhất thiết phải có minh sư kề cận, khi hành thiền phải thắp hương khấn nguyện trước bàn thờ Tam bảo, nhờ Phật lực gia trì để tránh việc hành nhân bị phi nhân nhiễu loạn.
Sự thật thì sao?

Quả thật là thời gian gần đây số lượng người tìm về đạo ngày càng nhiều. Tuy nhiên, mặc dù người học đạo gia tăng về lượng nhưng lại khuyết tổn về chất nghiêm trọng.
Mặc dù mặt bằng chung về kiến thức về khoa học – xã hội ở những người tìm về đạo đã có sự vượt trội hẳn so với thế hệ những người tìm đạo thuở trước. Song có một sự thật nghiệt ngã là do lối sống thực dụng ngày nay đã xâm chiếm mọi ngõ ngách xã hội nên việc tu thân, hàm dưỡng nội tâm ở loài người bị bỏ ngỏ. Thế giới nội tâm ở mỗi người tất yếu sẽ thiếu hẳn sự sâu sắc, vững vàng, do đó nội lực tâm hồn của người học đạo trở nên cạn cợt, nông nổi.
Bởi do thiếu chiều sâu nội lực, đạo đức, giới hạnh – việc hàm dưỡng tu thân đã kéo theo nền tảng tri thức đạo học ở người học đạo cũng tổn khuyết. Chính vì thế rất nhiều người học Phật ngày nay cơ hồ không phân biệt được việc học đạo, học Phật khác nhau như thế nào.
Bởi do không biện biệt được rạch ròi chân ngụy nên người học Phật dua vạy theo xu hướng 3 bó vô 1 giạ, cụ thể là đạo nào cũng tốt đời, đẹp đạo. Nào hay câu nói ấy vốn của ngoại đạo, câu nói đó một phần nhằm mục đích “dĩ hòa vi quý”, một phần quan trọng hơn là nhằm “nâng bi” cho đạo giáo mình ngang tầm với đạo Phật.
Tiếp tay cho việc len lõi hạ thấp giá trị chánh pháp trong sáng có ở đạo Phật lại là những người học Phật nửa mùa, những vị học Phật này thông qua giáo lý Phật môn biết đến pháp môn không hai bất khả tư nghị đã cả nghĩ các pháp thảy đều bình đẳng, đấy là tâm vô phân biệt của Phật môn. Nào hay tâm vô phân biệt của đạo Phật đúng đắn lại là khéo hay phân biệt chẳng sinh lòng yêu ghét, tích chứa.
Do cạn nghĩ hiểu như thế là đúng, là trung đạo người học Phật nửa mùa đó cho rằng đã “nắm bắt” thông suốt Phật đạo tức đã chứng, đã ngộ. Tòn ten nơi pháp môn không hai nơi lưới nhị nguyên người học Phật này nghĩ đến việc cất một tiếng nói để xác lập sở đắc, sở chứng của bản thân, thế là do không truy nguyên tận tường cội gốc và lại biết được Chúa Jesu, Thánh A lah, Phật Thích Ca được nhân loại đồng thừa nhận như là thánh nhân, người học Phật đó liền lập ngôn Phật, Chúa Jesu, Thượng Đế,… chẳng khác.
Việc đánh đồng Phật, Chúa Jesu, Thượng Đế,… vô hình chung “cào bằng” giáo lý đạo Phật và Kinh Thánh của Nhất Thần Giáo. Việc làm này thể hiện sự ngu ngốc và thiển cận của những người học Phật nửa vời.
Điều cơ bản nhất khi tìm đến đạo Phật người học Phật phải minh bạch được rằng đạo Phật là đạo trí tuệ, là đạo của sự hiểu biết đúng mực về vạn pháp, về vũ trụ vạn hữu lẫn thế giới vô hình. Và người học Phật sẽ tự giác, tự chứng sự giác ngộ giải thoát hoàn toàn thông qua kinh sách Phật học cũng như việc trợ duyên ở các vị thiện tri thức.
Trong khi đó giáo lý của Nhất Thần Giáo lại buộc người quy thuận, phục tùng một Đấng Quyền Năng Huyễn Hóa, Siêu Hình; Đấng Quyền Năng được đồn thổi với những khả năng không thật có như việc kiến tạo vũ trụ, con người cùng sum la vạn tượng. Những năng lực siêu thực của các Đấng Quyền Năng dưới ánh sáng của khoa học ngày nay bộc lộ ra những giả dối, lọc lừa và mê muội. Song các vị giáo chủ của hệ thống Nhất Thần Giáo phần đa vẫn cố nhồi sọ tín đồ bằng đức tin, bằng sự trói buộc đóng kín sự hiểu biết khách quan, đúng mực. Những tôn giáo cố giấu dốt bằng việc lừa mị có thể gọi là hệ thống tôn giáo lấy sự ngu ngốc, si dại làm nền tảng. Tôn giáo lấy sự u mê, kém trí làm nền tảng thì không thể đánh đồng với tôn giáo lấy trí tuệ làm đuốc sáng soi đường.
Vậy nên phải chăng chính những người học Phật nửa mùa do muốn thể hiện mà chặn đứng sự giác ngộ giải thoát nơi bản thân, kéo theo việc làm hỗn mang khối tri kiến Phật học khiến những người học Phật tìm đạo thêm rối trí, mê mờ.
Tiếp tay cho những lập ngôn vụng về của những người học Phật nửa mùa nông nổi là đại đa số học giả, nhà nghiên cứu Phật cùng với rất nhiều, rất nhiều những người học Phật trên sách vở bon chen lạm bàn chuyện đạo.
Những người thực biết, thực chứng thường kiệm lời. Ngược lại, những kẻ học Phật theo lối gom góp tri kiến lập tri vốn không thực biết, thực chứng lại luôn ra sức nói về những điều mình không rõ biết. Và lời của những người học Phật nông nổi, cạn cợt tuệ tri luôn thể hiện như đúng rồi. Và những tin đồn luôn lan truyền nhanh chóng như bệnh dịch.
Ngày nay, người học Phật rất dễ dàng tiếp cận những nguồn thông tin đại loại như ông nọ niệm Phật vãng sanh Tây Phương, ngày ông ánh vãng sanh có ánh sáng vi diệu, có âm thanh nhã nhạc cõi trời, hoa trời cúng dường,…bà kia niệm Phật thành tựu niệm Phật nhất tâm bất loạn hoặc công phu thành khối niệm Phật vô biệt niệm. Ở một trường phái Phật học khác thì vị Tăng bảo đó chắc chắn là Bồ tát sống, là Phật tái lai bởi do khi hỏa thiêu thu được rất nhiều xá lợi như xá lợi tóc, xá lợi xương, xá lợi móng tay, xá lợi tủy não… Tu Thiền Tứ Niệm Xứ miên mật chắc chắn sẽ thành tựu 1 trong 4 quả vị Thánh – A la hán, A na hàm, Tư đà hàm, Tu đà hoàn…
Với những người này khi tham vấn đạo lý Phật học với họ, bạn sẽ thấy họ thao thao bất tuyệt cứ như thể biết tất, biết tuốt về đạo giác ngộ giải thoát. Nếu bạn “chịu khó” lắm nghe họ sẽ đưa bạn “lên mây, lên đọt”.
Song nếu bạn chất vấn rằng ông bạn nói đúng rồi, ông bạn nói rất hay, thế ông bạn đã niệm Phật thành tựu công phu nhất tâm bất loạn hay vô niệm biệt niệm, hoặc bà chị đã thành tựu quả vị nào trong 4 quả vị Thánh?
Tin rằng bạn sẽ thấy một sự bẽn lẽn, ngại ngùng ở những người học Phật huênh hoang nhưng còn có chút lòng tự trọng; Số người học Phật mồm mép khác, giảo hoạt hơn khi ấy biết rằng gặp phải đối tượng cứng, đối thủ giả nai giờ đến lượt “nắn gân” thì sẽ né tránh những câu chất vấn trực tiếp như vậy bằng những câu từ đại loại như có tu, có chứng, như người uống nước nóng lạnh tự biết và phản đòn bằng ông hãy hành đi, ông hãy tu đi khắc biết. Đấy là những câu chữ thể hiện sự không thành thật ở người học Phật huênh hoang, rỗng tuếch ưa dùng.
Học Phật mà không có trực tâm, chánh tâm, thâm tâm thì như là loài chồn hoang nơi Phật địa, người học Phật (nói riêng), người học đạo (nói chung) rất nên dùng trí tuệ, sự hiểu biết để nhận diện những giống loài cáo chồn nơi đạo học ngõ hầu không nhận lầm thầy bạn.

Có rất người học đạo dù rằng sự hiểu biết khoa học – xã hội ở tầm mức khá cao đến rất cao nhưng lại thiếu căn bản kiến thức đạo khi tìm đến đạo hoặc đạo Phật lại rất dễ cả tin, cuồng tín, mê đạo đến cực đoan.
Tại sao lại như vậy?
Bởi lẽ họ đã mòn mỏi ở nẻo đời, rất mong tìm được bến đỗ bình yên. Như người sắp đuối nước giữa dòng họ quơ quàng và túm rất chặt bất cứ thứ gì mà họ vớ được như đám lục bình, khúc cây mục,… Những người học Phật hạng này gần như đã đánh mất khả năng tự chủ, họ chỉ sống bằng niềm tin còn sót lại và bằng đầu lan truyền cái gọi là tin đồn – những hiểu biết sai lạc, không đúng chánh pháp mà họ không thể rõ biết. Bởi do chán ngán, thất vọng sự hiểu biết nẻo đời cùng với sự cả tin vào điều huyễn hoặc, hoang đường ở thế giới tâm linh nên họ gần như từ bỏ sự hiểu biết, trí tuệ mà họ đang có, họ trở nên mê muội, mụ mẫm cả ở hai nẻo đạo đời nhưng luôn nuôi dưỡng cái tôi cỡ lớn – Ta là nhà khoa học, ta là giới trí thức, là kĩ sư, bác sĩ, giáo viên… học Phật.
Sự mụ mẫm, mê muội của người tìm về đạo đôi khi khiến người nghe phải rợn người. Đơn cử như việc Ngạo Thuyết đã từng nghe rằng rất nhiều tín đồ của bà Thanh Hải Vô Thượng Sư cuồng tín Pháp Truyền Tâm Ấn, sùng tín bà ấy đến mức tranh nhau uống nước tắm gọi của bà ấy, câu chuyện này Ngạo Thuyết được nghe kể câu chuyện này từ một người trí thức đã từng gõ đầu bao thế hệ sinh viên, trong tủ sách đồ sộ của vị tri thức này có hầu hết giáo trình của những vị đạo sư danh tiếng Đông – Tây như Osho, J.Krishnamurti, D.T.Suzuki,… và đã từng “để mắt” đến bà Thanh Hải Vô Thượng Sư.

Do thông tin về đạo, về Phật học ngày nay dưới sự lan tỏa của công nghệ thông tin đã trở nên rất hỗn độn, loạn tạp nên người học Phật chân chính bị rối trí cũng là lẽ thường. Và chỉ cần lầm tin thì việc học Phật ngày càng xa ý đạo.

Việc hành thiền cũng thế. Có rất nhiều hệ thống tôn giáo lẫn phi tôn giáo, từ giới Tăng Bảo cho đến cư sĩ học Phật tại gia lẫn ngoại đạo xem việc chỉ dạy hành thiền như là chiếc cần câu cơm, cầu câu danh – lợi.
Giá trị thật sự của việc hành thiền bị thổi phồng vượt mức. Các phương pháp hành thiền được bày ra muôn hình, muôn vẽ với bí môn, mật truyền, độc bộ,… ngõ hầu chiêu mộ tín đồ.
Chiêu bài hành thiền Nhất Định Phải Có Thầy theo sát chỉ bày được lập ra để “bắt dính” tín đồ. Chiêu bài này không chỉ do mỗi Thiền Tông riêng dùng, Mật Tông là bậc thầy của chiêu bày Nhất Định Phải Có Thầy.
Ngay cả Tịnh Độ Tông với tâm yếu “Không cần gì cả, chỉ cần niệm Lục Tự Di Đà” cũng khéo léo trói Phật tử đến chùa với khóa tu một ngày, thọ bát quan trai, nhập thất, khóa tu hè, cúng sao giải hạn, cầu siêu, cầu an, sám hối, trí chú đại bi… và cả việc niệm Phật kèm theo lối thiền hành độc bộ như Nam Mô A Di Đà Phật, A Mi Đà Phật, Diệu A Di Đà Phật, A Di Đà Phật… Nếu Tịnh Độ Tông chỉ cần niệm Phật hiệu là đủ thì đâu cần bàn vẻ lắm món “tráng miệng” kèm theo bản sắc tông môn. Song bánh vẽ chẳng thể no lòng nên người học Phật cứ mãi trầm luân nơi mê ngộ.
Ai là người góp phần mê hoặc người học Phật chân chánh?
Vẫn là những người học Phật theo lối mồm mép, sống nhờ việc đồn thổi sư này là Phật sống, Tăng kia là Bồ tát sống,… Và do thiếu khuyết tri kiến Phật học cũng như việc học Phật theo trào lưu, theo số đông người học Phật sơ cơ dễ dàng bị mê hoặc và rồi lạc lối tri kiến Phật.
Người hành thiền ngày nay dễ bị rối trí trong các lời đồn thổi như quán âm thanh, quán ánh sáng, là năng lượng, mở luân xa, mở thiên nhãn, thiền chữa bệnh… Tất cả những phương pháp thiền vọng cầu như thế thảy đều là pháp hành của ngoại đạo.
Với đạo giác ngộ giải thoát những pháp hành như thế sẽ là điều chướng ngại, người học Phật chân chánh chớ nên dính mắc.
Lại nói về thiền bệnh. Thiền bệnh đa phần bởi do vọng cầu thủ xả.
Nếu người học Phật chánh tâm, chánh kiến, trực tâm hành thiền các bệnh thiền na ít khi gây khó.
Người học Phật phải nhận thức được rằng việc hành thiền chỉ góp phần xác lập lại định tâm, việc lắng lòng đó giúp tâm minh, trí sáng góp phần tăng trưởng huệ lực. Việc hành thiền ở đạo Phật cốt ở việc gột rửa thân tâm, hàm dưỡng nội tại nhằm thản nhiên trước cuộc thịnh suy, sinh tử, được mất. Việc hành thiền ở Phật môn là công cụ nhận diện khổ, thoát khổ. Do đó thiền của Phật đạo là vô thủ chứng, vô tâm, vô cầu.
Thế nên, pháp hành thiền của đạo Phật sẽ không phải là việc chứng ngộ giải thoát hoàn toàn như nhiều người học Phật lầm tưởng. Có thơ đề rằng:
Mấy ai thành Phật ở tu hành?
Chỉ trói cùm thêm trí óc mình.
Thấu lẽ huyền vi trong ngọc sáng
Là vầng dương hiện giữa trời xanh.
Việc hành thiền chỉ là trợ duyên cho sự ngộ nhập Phật tri kiến, liễu tri vạn pháp.
Và có một điều rất chát đắng là người muốn nếm trải đạo vị chứng ngộ giải thoát hoàn toàn sẽ phải từng trải cuộc đời thật với những khổ não, muộn phiền sâu sắc nhất và hành giả phải từng là người rất nhạy cảm với khổ đau nơi mình, ở người.
Thế nên danh gia từng nói:
Nếu chẳng một phen sương buốt lạnh
Hoa mai đâu dễ thoảng mùi hương.

Lý Giải Hiện Trạng Các Lão Thiền Sư Bị Đột Quỵ… (P.1)

Lý Giải Hiện Trạng Các Lão Thiền Sư Bị Đột Quỵ… (P.1)

Lý Giải Hiện Trạng Các Lão Thiền Sư Bị Đột Quỵ… (P.1)
Ở bài viết có linkhttps://www.facebook.com/groups/1584059648562689/permalink/2032785350356781/, thành viên Kim Khanh Rosenfeld có đặt câu hỏi:
– Tại sao một Thiền Sư như Thích Nhất Hạnh cuối đời lại thế? Đúng ra Thiền thì bộ não phải lành mạnh chứ?
Cảm ơn Kim Khanh Rosenfeld đã có câu hỏi phá nghi rất hay!
Để trọn vẹn nội dung bài viết Ngạo Thuyết sẽ kể Kim Khanh cùng các bạn một câu chuyện khá dài về nhân duyên của Ngạo Thuyết đối với các vị Tăng Bảo danh tiếng đương thời.
Như đã từng nói nhiều lần, cách đây gần 10 năm Ngạo Thuyết mới biết đến kinh sách nhà Phật. Thuở ấy Ngạo Thuyết khờ nhiều nên vào chùa làng định bụng sẽ xuất gia. Chùa làng – sư quê, sư xuất gia nửa đường do yêu cầu cấp bách phải giữ chùa nhà nên tri kiến Phật học của sư thầy hạn chế rất nhiều. Cũng may Ngạo Thuyết có quen một vị cư sĩ tại gia có khá nhiều kinh sách, đặc biệt là kinh sách Bắc Tông; Kinh điển Nam Tông vị cư sĩ này sau khi tham cứu qua có phần xem nhẹ, thế là Ngạo Thuyết mượn được 1, 2 quyển kinh thuộc bộ Trường A Hàm – Nam Tông, Kinh Đại Bát Niết Bàn, Kinh Địa Tạng – Bắc Tông,…
Ngạo Thuyết xem kinh mà không có người chỉ dạy cũng có cái hay, cái dở của nó. Khi đó, Ngạo Thuyết rất sợ phạm thượng nên xem kinh cẩn thận không dám bỏ chữ, kinh sách nhà Phật luôn để trên cao, kính cẩn uy nghi. Tuy nhiên, mỗi khi xem kinh sách Nam Tông Ngạo Thuyết rất ngán sự lập lại 3 lần cho mỗi câu hỏi, câu đáp (Có thể xem đây là thủ pháp Tam Đoạn Trùng Tuyên của kinh điển Nam Tông). Ở chùa giai đoạn dòm ngó “chân cẳng”, Ngạo Thuyết ít nhiều có sự hạn chế về thời gian nên Ngạo Thuyết dần phát chán lối Tam Đoạn Trùng Tuyên và chuyển qua lối xem thoáng. Kinh điển Nam – Bắc Tông gì ít nhiều đều có những yếu tố siêu hình, Phật Thích Ca được khắc họa ra với rất nhiều quyền phép, thông thiên, triệt địa, biết cả 3 thời. Thật vi diệu!
Sau đấy, Ngạo Thuyết rời chùa với chút hoài nghi về quyền phép của những vị Phật, song Ngạo Thuyết cũng không để tâm đến điều đó là mấy. Rồi một dịp tình cờ Ngạo Thuyết được nghe một chương trong quyển Đường Xưa Mây Trắng Bay do thầy Thích Nhất Hạnh phóng tác, lối viết gần gũi, rất thơ về cuộc đời Đức Phật. Ngạo Thuyết đã nghe tác phẩm Đường Xưa Mây Trắng rất nhiều lần và chia sẻ cho nhiều người cùng nghe.
Qua ngòi bút của Thiền sư Nhất Hạnh, Đức Phật trở nên rất hiền hòa, rất gần gũi, những siêu hình, huyễn hóa về một vị Phật Quyền Năng vô hình chung đã chết trong lòng Ngạo Thuyết.
Lúc bấy giờ, Ngạo Thuyết rất thần tượng thầy Thích Nhất Hạnh và có dịp tìm hiểu phân định rõ ràng hơn về Nam Tông – Bắc Tông, Thiền – Tịnh – Mật,… biết rằng mình thích sự tĩnh lặng của thiền định nên Ngạo Thuyết lưu tâm đến Thiền Tông nhiều hơn.
Cũng như phần đa người học Phật chân chính, Ngạo Thuyết hướng đến kinh sách, hành trạng của những Thiền sư danh tiếng đương thế, khi ấy, Thiền sư Thích Nhất Hạnh, Thích Thanh Từ là hai danh sư mà Ngạo Thuyết mong mỏi được gặp và tham vấn về những gút mắc việc hành thiền, về những gút mắc tâm linh.
Ngạo Thuyết được biết sau biến cố Làng Mai – Lâm Đồng, Thiền sư Nhất Hạnh bị cấm đoán việc về nước; Thiền sư Thanh Từ thì Ngạo Thuyết còn lưỡng lự nên chưa ghé viếng thăm.
Qua tham khảo một ít kinh sách, giáo lý, lời tự sự của hai vị danh sư đương thế Ngạo Thuyết đã từng có lúc tin rằng hai vị Tăng Bảo danh tiếng này đã chứng ngộ, đã đắc pháp. Tuy nhiên, trải qua mấy phen sương buốt lạnh cùng thiền định tri kiến Phật học của Ngạo Thuyết đã thoát thai và chợt nhận ra các bản dịch giải kinh sách của hai vị danh sư không có sự thanh thoát, có một sự ứ trệ, bế tắc ở sở hành, sở đắc của hai vị danh sư. Thầy Nhất Hạnh bị trói chân ở tỉnh thức, ở thực tại hiện tiền; Thầy Thanh Từ bị chững lại ở cái hằng thấy, hằng biết chẳng có ngày ra.
Xem sách của hai vị đương thế danh sư còn có ít nhiều sự thoát đạt, song khi tham cứu các bản dịch kinh của hai ngài sẽ dễ dàng thấy ý từ chẳng thoát tục, rất cứng nhắc, tù túng. Có dịp Ngạo Thuyết xem bản dịch Kinh Dấu Chân Voi (Đạo Bụt Nguyên Thủy) do thầy Nhất Hạnh dịch giải Ngạo Thuyết có một sự đượm buồn – nuối tiếc, lại xem bản dịch Kinh Kim Cang, Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh của thầy Thanh Từ để Ngạo Thuyết biết rằng có lẽ mình phải tự đốt đuốc mà đi thôi, bởi lẽ hai danh sư đương thế, đặc biệt là Thần tượng thầy Nhất Hạnh đã để lại trong ta một sự ngậm ngùi.

Lúc bấy giờ Ngạo Thuyết tập tành viết sách và đã cho ra đời quyển sách đầu tay – Hãy Là Đường Xưa Mây Trắng Bay… Đã có những chướng ngại về việc phát hành sách, Ngạo Thuyết phải mấy phen ra bắc, vào nam.
Nghe lời khuyên của một người bạn Ngạo Thuyết tập tành viết blog để truyền tải chút hiểu biết Phật học của mình, do nhân duyên đó Ngạo Thuyết mới lọ mọ vào các trang mạng tham khảo những thông tin cần thiết. Một dịp tình cờ được biết thầy Nhất Hạnh lập ra những Đại Trai Đàn Chẩn Tế Giải Oan Cầu Siêu Chiến Sĩ Trận Vong và thầy xúng xính trong những bộ lễ phục sặc sỡ, xa hoa, Ngạo Thuyết biết rằng thần tượng một thời trong ta giờ đã chết. Cầu siêu, giải hạn, cúng sao… những việc làm đó Như Lai chưa bao giờ tán thán, xiểng dương; Áo lộng xênh xang, chuông khánh ru hồn,… đó là những việc làm của người chưa ngộ.

Có một dịp, một người em nhờ Ngạo Thuyết cùng đi Thiền Viện Trúc Lâm Phụng Hoàng ở Đà Lạt, thâm ý của người em là muốn xuất gia theo hệ phái Thiền Trúc Lâm. Khi đó, Ngạo Thuyết cũng thầm mong có dịp lễ bái sư ông Thanh Từ, tùy duyên hỏi đáp Phật pháp. Song lên đến nơi chỉ gặp các thầy Tri Khách, Trị Sự, Tăng Tu,… người em hỏi việc xuất gia tại chùa nhưng xem ra rất khó khăn. Muốn xuất gia ở lại Thiền viện phải có người quen biết giới thiệu, khi ấy, học nhân mới được công quả tập tu. Duyên gặp sư ông nghe chừng rất khó, trong khi chờ đợi Ngạo Thuyết đi lại viếng cảnh chùa, ghé sang nhà bảo tàng của Thiền viện, tình cờ bắt gặp tượng bán thân của sư ông Thanh Từ chợt nghe trang Kinh Kim Cang vỡ vụn – Phàm Sở Hữu Tướng Giai Thị Hư Vọng.
Tăng Bảo đã chứng ngộ hiển nhiên phải chi trì hộ pháp. Lời nói phải đi đôi với việc làm, đó là điều mà giới Tăng Bảo phải bảo nhậm.
Người tại gia có thể tùy tiện một chút; Người xuất gia với vị trí đặt để là thầy của Trời – Người nên không thể buông lung bởi lẽ ở trên trông xuống, người bên trông vào.

Người em trai ấy không có duyên với Thiền Phái Trúc Lâm, đã có lúc “để mắt” đến Pháp Truyền Tâm Ấn của bà Thanh Hải Vô Thượng Sư, nhưng sau đã theo về pháp hành của vị thầy Thích Thông Lạc, và từ đó cũng chìm đắm trong những cực đoan, kiến thủ.
Ngạo Thuyết lại được nghe rằng sư Thông Lạc cũng lưu lại khối tượng bán thân. Cái chết của vị sư này cũng có nhiều điều khuất tất, thật giả khó phân. Chỉ nghe nói lại rằng sư tịch rất nhẹ nhàng, sư Thông Lạc mất non nửa ngày thì chư Tăng Ni nơi Tu Viện Chơn Như mới được biết phong phanh. Và có thông tin nội bộ rằng sư Thông Lạc gần như bị quản thúc – nội bất xuất, ngoại bất nhập trong một khoảng thời gian ngắn mấy mươi ngày trước khi mất, dự là sư Thông Lạc đã không chế định ra việc này.
Sau khi sư Thông Lạc mất, tờ giấy tạm xem như bản di ngôn chế định người ngộ, kẻ thông trong số môn đồ, đệ tử của thầy Thông Lạc đã được tuyên đọc cùng với sự cắt đặt ngôi vị trụ trì Chùa Am, việc làm đã tạo ra ít nhiều sóng gió trong tông môn. Và rồi… người đi, kẻ ở. Chốn Tòng lâm xưa nay không từng vắng những ưu phiền.

Thầy Thông Lạc mất rồi, Thiền sư Nhất Hạnh, Thiền sư Thanh Từ lần lượt gặp sự cố về sức khỏe; Người bị đột quỵ, người bị xuất huyết não, bệnh trạng diễn ra không chỉ một lần.
Quả thật là trong lòng Ngạo Thuyết luôn tôn quý, kính trọng những vị Tăng Bảo xưa nay bởi lẽ họ là một trong ba viên ngọc quý giá Tam Bảo. Ngạo Thuyết kính trọng Tăng Bảo không vì danh tiếng hay việc họ chứng ngộ mà vì Tăng Bảo là những người đã hy sinh cuộc đời thế tục, dũng mãnh “cắt ái, ly gia”, dấn thân học đạo, hoằng pháp, Tăng Bảo là những người có công rất lớn trong việc giữ gìn Chánh Pháp Nhãn Tạng Như Lai – Pho Tam Tạng Kinh. Và Ngạo Thuyết đã từng nhờ đến những trang kinh góp nhặt mà khêu sáng được những tăm tối, vô minh của riêng mình.
Tuy nhiên, Ngạo Thuyết rất minh bạch trong việc tôn kính chư Tăng, lẽ đúng sai nơi giới Tăng Bảo, Ngạo Thuyết luôn rạch ròi minh định. Đây là việc không cô phụ người, không cô phụ chính ta; là báo đáp Phật ân của Người muôn năm cũ.
Do đó, khi nghe tin các vị Thiền sư tôn kính gặp vấn đề về não bộ dẫn đến những năm tháng cuối đời mất dần sự tự chủ nơi bản thân, lòng Ngạo Thuyết đã chùn xuống. Những nỗi xót xa, những niềm thương cảm miên man… Giá như… Đáng tiếc! Lẽ ra…
Việc đột quỵ, xuất huyết não của các vị Thiền sư đã mang lại một tổn thất không dễ bù đắp đối với pháp môn Thiền Tông. Danh sư Thiền Tông cuối đời lại không thể tự chủ đến đi, Cận Tử Nghiệp nặng nề khắc khoải… Biết sư thầy 100 tuổi sẽ về đâu?
Những bài giảng, những công sức nỗ lực hoằng pháp của các danh sư bị mai một ít nhiều bởi hiện tướng bệnh ở cuối đời mỗi người. Và với pháp môn Thiền Tông thì yêu cầu đến đi tự tại còn khắt khe hơn nữa.
Việc hiện tướng bệnh ở Thiền sư đã làm ảnh hưởng rất nhiều đến sự tôn nghiêm, tông phong của bản môn.
Do hiện tướng bệnh nơi tâm nên việc chứng ngộ hay chưa chứng ngộ ở Thiền sư lẽ ra sẽ phải được xét lại, đây là việc đáng làm và nên làm để chứng nghiệm lại hành trạng, pháp ngữ của Danh sư có khế hợp lời Phật, Ý Tổ hay không? Nếu pháp ngữ Thiền sư để lại khế hợp lời Phật, Ý Tổ thì xác lập Tổ vị cho Danh sư, và pháp ngữ của Người sẽ được gìn giữ, nghiêm cẩn lưu lại cho muôn đời sau. Bởi lẽ pháp ngữ của Thiền sư chứng ngộ chẳng khác với lời Phật thuyết. Nếu thật sự là Tông phong Thiền Tông thì rất nên làm như thế. Và đây chính là sự khác biệt cứu cánh giữa Thiền Tông so với Mật Tông, Tịnh Độ Tông. Người học Phật chân chính hướng đến vô tâm phải chạm đến khéo hay phân biệt chẳng sinh lòng yêu ghét.

Lẽ ra … các vị danh sư (nói chung), danh sư Thiền Tông (nói riêng) ngày nay khi tuổi hạc đã cao phải ý thức được việc giao lại việc dẫn dắt Tăng sinh, quản trị Tự viện cho môn đồ có tâm, có tầm, đủ sức phục chúng gánh vác. Việc tiếp đến danh sư cần làm là bế quan, ẩn tu ngõ hầu làm chủ việc xả bỏ báo thân. Giả như … công phu tu tập vẫn chưa thành khối nhưng cũng không đến nỗi hiện tướng bệnh gây hoang mang đồ chúng và người học Phật rất đổi kính tin mình. Và việc bế quan, tạ khách cùng với việc không hiện tướng bệnh ngặt nghèo sẽ không làm ảnh hưởng tôn nghiêm, đạo pháp của Tông môn.

Việc bế Quan – Tạ Khách, trước đây danh gia Phật môn lẫn Đạo gia rất ưa dùng để bảo toàn sự oai nghiêm của Tông phong bản môn, đặc biệt thường gặp ở lối Tu Tiên. Chỉ có những Thiền sư thực thụ hành trì đắc pháp Nhị Thừa mới hiên ngang hoằng pháp, cho đến lúc hết duyên thì an nhiên thị tịch.

Thời Phật Thích Ca tại thế, việc Bế Quan – Tạ Khách, ẩn nhẫn hành trì xả bỏ báo thân không được khuyên dùng. Và chính Phật Thích Ca cũng không dùng việc xả bỏ báo thân theo pháp nhị thừa mà an nhiên sống đến cuối đời thị hiện tất cả nỗi khổ của sinh già bệnh chết. Phật an nhiên sống với đại định cùng với trí tuệ sáng tỏ muôn duyên.
Tại sao thời Phật Thích Ca tại thế không dùng đến pháp Bế Quan – Tạ Khách mà ngày nay danh sư Tăng Bảo nên dùng?
Bởi lẽ tri kiến Phật học mỗi thời, mỗi khác. Khi Phật Thích Ca tại thế tâm phân biệt Tông phong hệ phái, đạo giáo chưa nhiều, chưa sâu sắc; Giáo lý Phật pháp sơ khai lại mộc mạc, giản đơn, gần gũi, không chú trọng, xét nét đến yếu tố siêu hình; Trình độ mặt bằng chung của người học đạo thời ấy không cao, do đó tính phân biệt thủ xả cũng không quá khắt khe, quyết liệt; Việc tự chủ sinh tử vì thế cũng không bị đặt để ở thước đo chứng ngộ của hành nhân. Và trên tất cả Phật Thích Ca đã là Giác Giả đắc pháp vô sanh với đại định bất khả tư nghì thì đâu cần đến pháp xả báo thân của hàng nhị thừa.
Ngược lại, tri kiến Phật học ngày nay đã chế định, người chứng ngộ phải tự chủ việc đến đi – sinh tử, người đắc pháp rồi tội diệt, nghiệp tiêu, phước huệ viên mãn. Tất nhiên là những chế định ở người học Phật sẽ không thật đúng vì đã là chế định thì lập tức rơi vào biên kiến Đoạn – Thường, việc đánh mất lý trung đạo liền cách biệt với sự đúng mực của chánh pháp.
Tuy nhiên, do hành nhân – Thiền sư chưa chứng ngộ nên khó biện biệt lẽ ngụy chân cho môn đồ, người học Phật tín tâm được rõ. Do vậy, với những danh sư Tăng Bảo uy chấn Tông môn, việc sinh tử tồn vong của cá nhân sẽ ảnh hưởng rất lớn đến đạo nghiệp hoằng pháp độ sinh của hệ phái Tông môn. Trước việc “sống còn” của đạo pháp truyền thừa ở hệ phái bổn môn, danh sư Tăng Bảo chân chánh hộ pháp phải ý thức được việc nên làm, cần làm.
– Một là khi tuổi hạc đã cao danh sư phải “Bế Quan – Tạ Khách”, ẩn nhẫn hành hạnh tri túc, thiểu dục, hành trì viên mãn việc xả bỏ báo thân, sống trọn vẹn cho chánh pháp.
– Hai là trong quá trình truyền đạo, hoằng pháp phải sắp xếp được thời gian hành trì hợp lý ngõ hầu thành tựu cho được Pháp Diệt Tận Định của hàng nhị thừa. Và sẽ tuyệt vời hơn nếu Thiền sư hành trì chứng ngộ pháp vô sanh, nghiễm nhiên thành Giác Giả hộ pháp chốn tòng lâm, việc sinh tử tùy duyên tụ tán.

Lý Giải Hiện Trạng Các Lão Thiền Sư Bị Đột Quỵ… (P.2)

Lý Giải Hiện Trạng Các Lão Thiền Sư Bị Đột Quỵ… (P.2)

Lý Giải Hiện Trạng Các Lão Thiền Sư Bị Đột Quỵ… (P.2)

Câu hỏi đúng ra người hành thiền thì bộ não phải lành mạnh chứ của Kim Khanh Rosenfeld rất chuẩn và cần thiết đối với người học Phật ngày nay.
Đúng vậy ! Bộ não của thiền nhân thật sự sẽ rất vững vàng, lành mạnh. Và Ngạo Thuyết cũng nhắc lại là bộ não hành nhân sẽ vững vàng, lành mạnh khi hành pháp thiền đúng nguyên mẫu Phật pháp, hành thiền theo lối vô tâm, vô cầu – cốt giữ tâm an, thần nhàn, khí định, trước mắt là đích đến thản nhiên trước cuộc thịnh suy, được mất, tử sinh. Đó là lối hành thiền đúng tông phong Phật đạo, Tiên gia nguyên thủy.
Còn những pháp hành thiền của ngoại đạo hoặc đạo Phật lai căng dị giáo với việc thu nạp năng lượng, điều khí sinh thần, tụ khí đan điền, khai mở luân xa, đánh thức hỏa xà, cầu đắc thiên nhãn, đắc thần thông, tăng tiến tầng bậc tâm linh, lạm dụng thiền duyệt vi thực, lạm dụng định sinh hỷ lạc,… mà chánh định không vững, thiếu chánh kiến Phật môn … thì hành nhân sẽ dễ rơi vào ma đạo, loạn tưởng nhập tâm,…
Một khi hành nhân hành thiền sai chánh pháp mà không kịp thức tỉnh hồi đầu, chi trì pháp xả tâm, xả trược thì sớm muộn gì cũng dẫn đến bệnh hoang tưởng ra thứ dở người. Đến lúc ấy, đâu thể nói việc hành thiền đem lại não bộ vững vàng, lành mạnh nữa.

Nhân việc viết bài này, Ngạo Thuyết chợt nhận ra rằng việc hành thiền của hành nhân ngày nay dễ phát sinh dị khí câu lưu nơi nội thể, điều này dễ thường khiến hành nhân mới bước đầu tập hành thiền kinh hoảng, hoang mang. Kim Khanh RosenfeldVô Vi là hai trường hợp điển hình của việc phát sinh dị khí khi hành thiền,… Do đó, Ngạo Thuyết sẽ viết một bài viết ngắn về hiện tượng này, cách điều phục, hóa giải và hành xả tùy thời.
Câu hỏi “Tại sao một Thiền Sư như Thích Nhất Hạnh cuối đời lại thế?”. Tương tự như vậy! Câu hỏi “Tại sao Thiền sư Thanh Từ cuối đời cũng lại như thế?”,… những câu hỏi chứa đựng sự hoài nghi chỉ dừng lại ở việc chứng ngộ của hai vị Danh sư Thiền Tông hay “xét nét” đến pháp hành của Thiền Tỉnh Thức thuộc Dòng Tu Tiếp Hiện và pháp Thiền Hằng Thấy, Hằng Biết thuộc Thiền Phái Trúc Lâm có thực sự mang lại điều rốt ráo giải thoát hay không? Những câu hỏi trên nếu không tìm ra được lời đáp chuẩn mực thì người học Phật còn đó tâm nghi sẽ bất an bởi còn biết tin vào ai, tin vào giáo lý hệ phái nào khi những Danh Sư Đương Thế – Những vị Bồ tát sống còn không thể làm chủ chính mình trong cuộc tử sinh.
Các hệ phái đạo Phật khác vì cả nghĩ pháp hành bổn môn có sự rốt ráo hơn, do Ngã kiến, do tư tâm hiềm khích lâu xa, việc tranh đoạt uy vọng, danh tiếng, tín đồ… sẽ có những vị Tông chủ cùng giáo đồ cực đoan, quá khích ra sức kích bác pháp môn Thiền Tông Bắc Truyền không mang lại sự giác ngộ giải thoát cho người học Phật.
Đã có những người học Phật làm điều đó, họ là Tông đồ của hệ phái nguyên thủy (Theravada), Nam Tông, Tịnh Độ Tông,… và cơ hồ như môn đồ của dòng tu nguyên thủy (dòng tu không được thừa nhận đạo Phật nguyên thủy chính thống) của thầy Thích Thông Lạc đã khơi ngòi cho sự xác quyết hai Danh Sư Thiền Tông chưa chứng ngộ, họ đã tái khẳng định điều mà họ không thật rõ biết bằng lời nói chỉ có sư Thích Thông Lạc là người duy nhất đắc quả vị A la hán trong số các Danh Tăng đương thời. Những người học Phật nửa vời, những con sâu làm rầu nồi canh cũng góp phần rất lớn trong việc làm nhiễu loạn tín tâm của đại chúng học Phật.
Không dừng lại đó. Thời đại ngày nay là thời đại của công nghệ truyền thông, “cảnh nồi da, xáo thịt” giữa các hệ phái Phật môn sẽ vượt khỏi ranh giới đạo Phật. Ngoại đạo sẽ đón nhận những thông tin và công kích, dèm pha, đả phá rằng Đạo Phật, một lũ hề – Điều này thật sự đã xảy ra. Tăng Bảo chứng ngộ gì với bệnh tật triền miên. Niềm tự tôn đạo giáo nào cũng có, việc giành giật tín đồ, triệt hạ uy tín tôn giáo đối phương là việc làm trải dài theo lịch sử loài người. Những vị Giáo chủ, Tông chủ cùng đồ chúng… kém khuyết đức hạnh, đạo tâm, thiếu lòng tự trọng, thừa tính hẹp hòi, đố kỵ xưa nay ở các tôn giáo không từng thiếu.
Do đó, nếu người học Phật không kịp thời chấn hưng lại sự lành mạnh chốn Phật môn, sự sáng rõ của viên ngọc quý ẩn tàng nơi đạo Phật thì tin rằng mai này đạo Phật sẽ hỗn độn, nhiễu nhương. Khi ấy, đạo Phật so với ngoại đạo liệu có còn chi khác hay cũng chìm trong danh lợi mong cầu và khắc khoải những niềm đau.

Câu hỏi “Tại sao những Thiền Sư như Thích Nhất Hạnh, Thích Thanh Từ cuối đời lại thế?” quả thật rất cần những người học Phật chân chính đặt ra, để nhận biết sâu sắc hơn về pháp hành, về việc chứng ngộ. Từ đó, những câu hỏi sáng tỏ hơn lại được người học Phật chánh tư duy đặt ra:
– Có không sự chứng ngộ vi diệu ở đạo Phật, có không những tầng bậc chứng ngộ nơi người học Phật? Đạo Phật có thật là đạo giác ngộ giải thoát hoàn toàn giúp chúng sinh vô minh vượt thoát sinh tử luân hồi? Hay giáo lý Phật môn chỉ dừng lại là ở những bài giảng thuyết giúp người học Phật thoát ra những khổ não đời thường? Chỉ thế thôi! Hay đạo Phật chỉ là chiếc bánh vẽ dụ trẻ con khi chúng còn mê ngủ?… Ôi! Rất, rất nhiều câu hỏi về Phật pháp mà người học Phật đúng mực với tri thức đương thời cần phải đặt ra.
– Và … nếu đạo Phật chỉ là chiếc bánh vẽ chẳng giúp no lòng khi đói thì người học Phật chân chính gìn giữ mà chi những nét vẽ đã hoen màu.
Trả lời câu hỏi tại sao các vị Thiền sư uy thế trấn môn như Tăng Bảo Nhất Hạnh, Thanh Từ ở cuối đời người thì tai biến đến xuất huyết não, người thì đột quỵ – Và phải chăng hai vị Danh sư Thiền Tông chưa chứng ngộ về đạo pháp?
Ngạo Thuyết khẳng định rằng cả hai vị Danh sư ấy đều không chứng ngộ một quả vị nào trong Tứ Quả Sa Môn tức Tứ Thánh Quả – A la hán, A Na Hàm, Tư Đà Hàm, Tu Đà Hoàn.
Và … với vị thế là người khai Tông, lập giáo mà hai vị Danh sư Thiền Tông đương thế còn không chứng ngộ ở tầng mức Nhập Lưu, Dự Lưu thì tin rằng giới Tăng Bảo Việt Nam học Phật tìm sự giác ngộ trên sách vở theo lối một tri, một giải ngày nay hiện không có lấy một người tỏ ngộ.
Không chỉ vậy! Ngạo Thuyết đã kiên nhẫn dõi mắt nhìn ra thế giới, 10 năm rồi cho việc tìm kiếm không hề ngăn ngại ở Nam Tông, Bắc Tông, Thiền – Tịnh – Mật, nhưng cuối cùng Ngạo Thuyết có thể khẳng định rằng “Đã khá lâu rồi không xuất thế một Chân Sư – Tăng Bảo Chứng Ngộ Pháp Vô Sanh” tùy nghi hộ pháp.
Tại sao lại như vậy?
Bởi lẽ đạo đời đã khiến Tăng Bảo bị nhốt vào biên kiến nẻo đạo từ lâu. Do duyên ấy cùng niềm tự tôn Phật pháp là đệ nhất chân nghĩa đế, đạo Phật là Number One,… Giới Tăng Bảo, người học Phật hết thế hệ này sang thế hệ khác truyền cho nhau những tri kiến lạc lầm. Những Chấp Thủ Sở Tri chồng lấp ngày càng thêm nhiều, giới Tăng Bảo vô hình chung đã đánh mất trung đạo, mặc dù ngày nay rất nhiều bài pháp thoại của các sư thầy vẫn thường nói đến lý trung đạo viên dung. Song giới hạn đạo đời đã phần nào khiến giới Tăng sinh kẹt lại ở lưới nhị nguyên; Lý thì như thị, sự thì nghi kỵ.
Thêm vào đó, ngày nay sự học Phật của chư Tăng bị quy hoạch thành trường lớp, những pho kinh sách lấp đầy vào não bộ, càng thêm dày nỗi vô minh.
Vì sao?
Vì việc học hành, thi cử để ra làm cử nhân, tiến sĩ Phật học đã tạo nên những mảng tri kiến lập tri ở Tăng sĩ xuất gia. Người sáng mắt dạy rằng tri kiến lập tri liền thì vô minh bổn. Do đó, khi tri thức Tăng Bảo nâng cao cùng với việc chăm học hơn hành trì, nghe sinh hiểu, ngỡ rằng biết liền thành sở tri chướng đóng bít cửa ngộ, lối vào Không môn của học nhân.
Chế định Tăng Bảo là thầy của Trời – Người, cùng với việc tích lũy nhiều kiến thức Phật học giới Tăng Bảo cả tin ngỡ rằng trí tuệ hơn người, từ đó sinh khởi tâm kiêu mạn, phóng dật và cứ thế chìm sâu vào sự tăm tối, mê mờ.
Theo quy chế trường chuyên Phật học cũng phải quán triệt đường lối Đảng Cộng Sản và lấy tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng. Việc ăn cây nào, rào cây ấy – Tăng Bảo 3 Thời Ngày Nay Quy Y Ngoại Đạo Tự Bao Giờ. Đây cũng chính là một trong những nguyên nhân khiến giới Tăng Bảo không thể “bùng nổ” tuệ tri.
Tăng Bảo, Tăng sinh ngày nay dễ thường rơi vào lỗi năng thuyết, bất năng hành. Vả lại đãi ngộ Tăng Bảo lại đang gặp thời hưng thịnh, điều kiện sống, sinh hoạt của giới Tăng Bảo ngày nay quá ư thừa mứa, Phiền não tức Bồ đề tự lúc nào cũng chỉ còn là những con chữ trên những tờ giấy chép kinh.
Đời sống Tăng sinh quá an toàn nên cái khổ, việc trực nhận chứng ngộ khổ giới Tăng Bảo ít khi được nếm trải; Đây là cánh cửa “đột phá” Phật môn và cánh cửa đó đã khép lại đối với giới Tăng Bảo đương thời.

Đó là hiện trạng của giới Tăng Bảo, Tăng sinh xuất gia ngày nay. Việc tỏ ngộ với họ giờ đã càng khó hơn việc “dắt lạc đà chui qua lỗ kim”.

Một số Tăng sinh Thiền môn theo lối chen ngang, cụ thể là thành phần chán đời giữa chừng, nương náu vào chốn tòng lâm những mong thoát khổ, cùng thêm một chút vọng cầu chứng ngộ khai tâm. Một số người học Phật theo lối chen ngang, khi khởi sơ phát tâm rất dũng mãnh nguyện thoát ly Tam giới nên rất miên mật hành trì. Chỉ đáng tiếc là danh sư chỉ dẫn thiếu khuyết, đồng môn thì giải đãi hành trì… Thế là sơ phát tâm bất thoái chuyển ban đầu dần lung lay, cái biết vô minh bổn rồi thì cũng nhập tâm, sự an toàn nơi chốn Tòng Lâm,… tất cả từng bước, từng bước hủy diệt tánh giác nơi người Tăng sinh lỗi nhịp nẻo đường đời. Tiếc thay! Một hạt mầm xanh đã gục chết trên mảnh đất màu mỡ.
Lại một câu hỏi đặt ra “Nếu quả thật hai vị Danh Tăng Thanh Từ – Nhất Hạnh chưa chứng ngộ thì tại sao họ đủ sức khai tông, lập giáo, chế định được những nét rất riêng cho bản sắc Tông môn?”.
Vấn đề này thuộc về duyên hội tụ, gặp thời thì cá chép vượt long môn. Phước báu chư Tăng ngày nay bị diễn giải sai, do đó người học Phật đắm mê phước báu cũng như mong mỏi tuệ tâm sẽ sẵn sàng chắp cánh cho người xuất gia có tâm đức, đạo hạnh. Sau lưng các vị Tăng Bảo luôn có những người rất sẵn sàng cúng dường tài vật, đất đai, sức người,… Hội đủ duyên nên Tăng Bảo Thanh Từ – Nhất Hạnh lập đạo tràng, xây hệ thống Thiền viện khang trang; Hiện tướng chùa to, Phật lớn chưa bao giờ là thước đo cho sự chứng ngộ.
Chẳng phải ngày nay chùa chiền, Tự viện được người đời dựng lên rất lộng lẫy, nguy nga. Và có không ít vị sư trụ trì những ngôi chùa xa hoa, hùng vỹ ấy chỉ là những con bù nhìn rơm, những Tăng Bảo bị mù tri kiến Phật.

Lẽ nào hai vị Danh sư trên không tỏ ngộ chút ít gì?
Hai vị Tăng Bảo Thanh Từ – Nhất Hạnh thuộc thế hệ trước nên họ ít nhiều nếm trải những khổ não, mất mát của thời chiến tranh binh lửa, họ lại là thành phần trí thức cấp tiến nên cũng có vốn tư lương vào đạo không hẹp chút nào. Các bản dịch kinh thời điểm đó dù không có nhiều nhưng giáo nghĩa mộc mạc, ít xen tạp phần diễn ý của dịch giả, thế nên các Tăng sinh ít bị nhiễu loạn thông tin, và họ phải đốt đuốc huệ để dò ngữ nghĩa nơi kinh Phật; Chánh kiến, chánh tư duy, chánh tinh tấn, đạo tâm theo đó thêm dày dặn.
Thêm nữa, nền giáo dục thời đó rèn dạy con người nhân cách, đạo đức, nghĩa nhân… Những điều kiện cần xây dựng nên nền móng đức độ, giới hạnh của chư Tăng Ni. Đất nước khó khăn nên việc xuất gia học Phật ở giới Tăng sinh bị kiểm duyệt gắt gao, chỉ có những người bền chí mới có thể theo đuổi việc học Phật. Vào chùa, Tăng sinh phải vừa lao động, vừa hành trì tu học, miếng ăn đôi khi phải chạy từng bữa nên hun đúc thêm chí nguyện xuất Tam giới gia,…
Song do kinh sách Phật học ít, lại thiên về Tịnh Độ Tông, việc học Phật chỉ mong cầu tha lực, Ơn Trên gia hộ đã là tri kiến trói người học Phật thuở ấy. Do đó, Tăng sinh Thanh Từ được đào luyện để có thể thành người dịch giải kinh sách đạo Phật, vô hình chung đặt để thầy Thanh Từ trở thành nhà nghiên cứu, học giả Phật học; Thầy Nhất Hạnh là Tăng sinh của Dòng Thiền Lâm Tế, làm việc cho người Pháp, đây là thế mạnh của thầy Nhất Hạnh bởi thêm một ngoại ngữ là bầu trời chừng như rộng ra thêm, thầy Thích Nhất Hạnh nhờ đó mà tham khảo được nhiều kinh sách Thiền Tông.
Về sau, thầy Nhất Hạnh theo người Pháp rời Việt Nam tiếp tục con đường xuất gia ly hương, lòng đau đáu một nỗi niềm nước mất, nhà tan.
Bước trên những khổ đau, con người ta dễ trưởng thành hơn, kiến thức Phật học về Thiền Tông, sự mới mẻ của đạo Phật trên đất nước Pháp, Tăng Bảo Thích Nhất Hạnh khai lập Dòng Tu Tiếp Hiện với Chánh Niệm, với Tỉnh Thức. Dấu ấn của dòng Thiền mà sư Nhất Hạnh xác lập là sự thanh thoát, nhẹ nhàng toát lên ở phong thái các vị Thiền sinh, đây là một nét rất riêng của thiền sinh Dòng Tu Tiếp Hiện.
Tăng Bảo Thanh Từ thì bận rộn nhiều với Phật sự đa đoan trong nước, những cuộc thuyết giảng ở nhiều nơi khiến pháp hành có thiên hướng Tịnh Độ Tông của sư Thanh Từ lỗi nhịp. Và tương truyền rằng do một Phật tử tín thành hỏi sư Thanh Từ về một vấn đề đạo pháp mà sư Thanh Từ không thể trả lời, trực nhận sự kém khuyết tri kiến Phật, sau chuyến làm Phật sự ấy, sư Thanh Từ xin phép Hòa Thượng Bổn Sư được dừng lại những việc Phật sự còn dở dang, về núi ẩn tu những mong sáng đạo. Hẳn đây là thời gian sư Thanh Từ dành cho việc tham cứu Thiền Tông của Dòng Thiền Trúc Lâm cùng việc hành trì thiền định.
Ít lâu sau, sư Thanh Từ xuất quan và vung tay phất mạnh lá cờ Thiền Tông, Thiền Tông Việt Nam dựa trên nền móng Dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử được chính thức xác lập.

Nếu nói thầy Nhất Hạnh, thầy Thanh Từ không chút tỏ ngộ nào thì cũng không thật đúng. Thật ra thông qua việc hành thiền cả hai vị Danh sư ít nhiều đạt được định tâm, và khi đó những câu từ Phật học trước chưa rõ, giờ trở nên dễ hiểu, có những tỏ ngộ – những đột phá tri kiến Phật học khiến hai vị hành nhân Thiền Tông ngỡ rằng đã thông đạt Phật môn, việc thoát ra được khỏi cái kén Tịnh Độ Tông (Bắc thuộc), hai vị danh sư hân hoan đón nhận sự hiểu biết mới mẻ và niềm hỷ lạc tràn đầy của thiền định, hai vị Danh sư nghĩ rằng đã đến lúc báo đền Ơn Phật – Tổ gia trì, xác quyết việc ra sức chỉnh đốn những hiểu biết sai lạc của Đạo Phật, ở pháp môn Tịnh Độ Tông, đây là chỗ cài then đòi hỏi pháp môn Thiền Tông phải tái xuất.
Đáng tiếc là chút tỏ ngộ của hai vị Danh sư chỉ dừng lại ở ngoài da của đạo Phật! Sự tỏ ngộ đó không chạm đến quả vị Bất Thối Chuyển, thế nên trước sau thầy Nhất Hạnh, Thầy Thanh Từ cũng chỉ là người học Phật hành bồ tát đạo ở vai trò Tăng Bảo xuất gia.
Việc nhập thế ở vai trò khai Tông, lập Giáo, hai vị Danh sư nghiễm nhiên trở thành Tông chủ bản môn. Thiền Tông vụt sáng lên giữa bầu trời đêm Tịnh Độ Tông tịch mịch, lê thê, nhàm chán. Thế nên việc Phật sự bộn bề đã chướng ngại rất nhiều đến việc hành trì, tu tập của hai vị học nhân Thiền Tông, chút tỏ ngộ mênh mang giờ khi mờ, khi tỏ, hai vị Danh sư dần trở thành hai học giả chốn Tòng Lâm, việc dịch thuật, diễn giải kinh sách Thiền Tông dần trở thành tri kiến lập tri ở hai vị Danh sư đương thế – Ta chứng ngộ rồi, mắt huệ khép từ đây. Xưa nay Tri kiến lập tri huyễn hoặc biết bao người học Phật.
Khi tuổi tác càng cao, lại do thiếu khuyết việc rèn luyện định tâm, con người ta dễ thường rơi vào tình trạng tâm chùn, chí cạn,… Cứ thế danh lợi vô tình âm thầm gây họa hoại đến các vị danh sư, bận rộn việc Phật sự miên man hai vị Thiền sư quên mất công phu thực học, quên mất cả việc cần lắm sự hành trì. Tâm chí dần mỏi mòn, hai vị Thiền sư khắc khoải vọng cầu rằng công đức làm Phật sự của bản thân vô lượng như thế hẳn là Ơn Trên, Chư Phật sẽ gia hộ đến suốt đời. Đây là tri kiến của những ngày xưa ấy quay về, khi mà việc học Phật theo lối Tịnh Độ Tông (Bắc thuộc) chèn lấp tâm trí của hai Tăng sinh thời trai trẻ.
Song có một điều rất thật là Phật xưa nay không từng ban phước, giáng họa cho ai bao giờ.
Thời gian cứ thắm thoát thoi đưa, do không ý thức được thời điểm dừng lại, việc Bế Quan – Tạ Khách – Ẩn Tu nên hai vị Danh sư phần nào đã hủy hoại biết bao công sức, tâm lực của chính mình và ảnh hưởng rất lớn đến pháp môn Thiền Tông.
Và sau cùng, một ngày nào đó hay hiện tại, ngay bây giờ, ở đây đang có hai chúng sinh vẫn tiếp tục lại cuộc hành trình thoát khỏi Tam giới còn đó sự dở dang với rất nhiều lao nhọc.

Nói như thế, phải chăng người chứng ngộ sẽ không bao giờ bị những bệnh về não, về hệ thần kinh và luôn tự chủ việc sinh tử?
Ồ! Không. Ngạo Thuyết không từng nói thế.
Bạn có biết không?
Vị Phật Thích Ca, ngày xưa đi đường, trời mưa rơi ướt áo.
Nắng vẫn rám làn da trên những lối đi về
Thế nên, bạn hãy tin rằng Phật – Người Chứng Ngộ
Vẫn đói no ấm lạnh,
Vẫn cười khi vui và trầm lặng mỗi khi buồn.
Đừng nghĩ rằng Phật chẳng chút xuyến xao
Khi vua Tịnh Phạn dứt ngừng… hơi thở cuối.

Thế nên, đừng nghĩ người chứng ngộ sẽ tử thủ vô tâm, bởi lẽ họ vẫn sống cuộc đời rất thật. Song những vui buồn, được mất tựa nơi trung đạo mà họ hằng sống sẽ không bao giờ vượt mức đến nghiệt ngã, thê lương.
Do đó,
Gió vô thường vẫn thổi muôn phương
Một dịp bước sang đường xe tông, người ngã
Hay một hôm, có cơn gió nào rất lạ
Tuổi già rồi người gục xuống hanh hao
Câu hỏi rằng: Người hỡi! Có đớn đau?

Nén dư lệ, người mỉm cười rất khẽ
Con người mà, nào phải quái nhân đâu.

Có một sự thật là người chứng ngộ dẫu có hiện tướng thế nào vẫn rạch ròi chánh định, do đó, ở quãng đời còn lại, họ sẽ không quên việc hành trì thiền định, việc làm ngõ hầu đảm bảo rằng tùy thời họ có ít nhiều sự tự chủ trong việc xả bỏ báo thân. Do đó, dẫu vô thường bất ngờ ập đến, thân người chứng ngộ hiện tướng bệnh, tâm người ấy vẫn thênh thang. Điều này có thể xác nhận lại thông qua cuộc đời thường nhật của họ. Tuy nhiên, bạn dòm ngó mà chi, sao không tự gột rửa ở nơi mình.
Và chỉ có những người chứng ngộ hành trì thành tựu pháp hành Diệt Tận Định của hạng nhị thừa mới thật sự có đủ khả năng thực hiện việc thị tịch một cách rốt ráo tự chủ.

Vài hạn chế đáng lưu tâm ở thầy Thích Nhật Từ qua buổi pháp thoại liên quan đến sự kiện chùa Ba Vàng

Vài hạn chế đáng lưu tâm ở thầy Thích Nhật Từ qua buổi pháp thoại liên quan đến sự kiện chùa Ba Vàng

Vài Hạn Chế Đáng Lưu Tâm Ở Thầy Thích Nhật Từ Qua Buổi Pháp Thoại Ngày 21/3/2019 lúc 19h 22’ Liên Quan Đến Pháp Thỉnh Oan Gia Trái Chủ Ở Chùa Ba Vàng (https://www.youtube.com/watch?v=dydQ05maqTM)
Thưa tiến sĩ Phật Học Thích Nhật Từ! Ngạo Thuyết được biết danh tiếng của thầy rất lâu rồi và Ngạo Thuyết cũng từng nghe một vài buổi pháp thoại của thầy. Tuy nhiên, Ngạo Thuyết không đánh giá cao những bài thuyết giảng ấy.
Ngạo Thuyết phải thừa nhận rằng kiến thức Phật học của thầy rất sâu rộng, thầy có tác phong sư phạm nên việc giảng giải rất chuyên nghiệp. Và đó có lẽ là tất cả những gì mà thầy học hỏi, tích lũy được ở những năm tháng dài học Phật để mang về tấm bằng tiến sĩ Phật học hữu vi.
Ngạo Thuyết phải thừa nhận rằng Ngạo Thuyết rất kén chọn việc nghe Tăng Bảo giảng giải kinh Phật. Ngay khi mới tìm đến đạo Phật Ngạo Thuyết cũng từng thả lòng nghe sư thầy thuyết giảng song Ngạo Thuyết không tìm được một vị giảng sư Phật học nào giảng thoát ý, rõ nghĩa.
Tất cả những buổi pháp thoại ở các giảng sư mà Ngạo Thuyết từng nghe không thỏa mãn tri kiến Phật học buổi đầu còn non nớt của Ngạo Thuyết. Những bài giảng không có chiều sâu, mang đậm tư kiến và rất nhiều những mê tín dị đoan được các giảng sư Phật học vô minh gán ghép vào đạo Phật.
Và về sau, thi thoảng Ngạo Thuyết mới nghe pháp thoại của các giảng sư Tăng Bảo miền nam, ít khi nếu không muốn nói rằng không bao giờ xem chư Tăng miền bắc giảng pháp.
Tại sao lại như vậy?
Bởi lẽ Ngạo Thuyết biết rõ giới hạn tri kiến Phật, chánh kiến, chánh tín, chánh tư duy cũng như năng lực, vai trò của chư Tăng Bảo miền bắc. Ngạo Thuyết nông cạn nên sớm có sự nhìn nhận rằng Tăng Bảo mà là Đảng viên ưu tú, hưởng lương nhà nước thì khó có thể là một vị Tăng Bảo đúng mực theo tinh thần chánh pháp đạo Phật.
Nguyên tắc “Ăn cơm chúa phải múa tối ngày” dễ thường sẽ khiến việc học Phật của Tăng Bảo sẽ bị lạc lối, đây là điều khó tránh khỏi. Ngạo Thuyết ngu ngơ tin rằng phần đa Tăng Bảo danh tiếng miền bắc là Tăng Bảo hưởng lương nhà nước, và nếu điều đó là đúng thì những vị Tăng Bảo ấy chỉ là những thằng bù nhìn rơm, những con rối do người đời giật dây. Ngạo Thuyết thấy họ thật đáng thương, đáng tội nghiệp.
Song Ngạo Thuyết biết họ, những vị Tăng Bảo đó không nghĩ vậy bởi lẽ khi họ đến với đạo Phật là nhân duyên trọng trách “ý đảng, lòng dân”, họ gieo nhân khác nên quả họ hướng đến đâu từng là bồ đề, nhân sai biệt quả thành hư vọng. Họ đến với đạo Phật bằng dụng tâm khác nên tâm họ không trong sáng đúng theo tinh thần Phật đạo âu cũng là lẽ thường. Thế nên hẳn là họ đang choáng ngợp với thụ hưởng danh lợi theo về cùng với những đặc quyền, đặc lợi.
Tương tợ như vậy, Ngạo Thuyết không thừa nhận Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam (GHPGVN) cũng những tổ chức liên quan đến đạo Phật ở Việt Nam là thuộc về đạo Phật bởi lẽ Ngạo Thuyết tin rằng phần đa Tăng Bảo hoạt động ở các tổ chức Phật giáo đó ít nhiều đều hưởng lương nhà nước. Hưởng lương nhà nước vốn không có tội, hưởng lương nhà nước không phải là yếu tố quyết định đúng sai ở giới Tăng Bảo; Vấn đề phát sinh ở đây chính là tính khách quan, minh bạch trong công cuộc hoằng pháp đạo Phật đã không còn. Đạo Phật mà họ, những vị Tăng Bảo đó truyền thừa chỉ còn là một công cụ điều tiết, quản lý xã hội con người, tính giác ngộ giải giải thoát ở đạo Phật đã hoàn toàn vô nghĩa, mất hẳn tính khả dụng. Thậm chí, để tiện bề quản lý những vị Tăng Bảo này sẽ sẵn sàng gieo vào lòng tín đồ Phật tử sự mê tín dị đoan cũng như chính sách “ngu” tri kiến Phật. Đây là minh chứng cụ thể của nhân sai biệt, quả thành hư vọng.
Chính vì việc nhận diện vai trò, vị trí của Tăng Bảo ở GHPGVN đối với nước nhà nên Ngạo Thuyết không thừa nhận GHPGVN là đạo Phật, Ngạo Thuyết không kỳ vọng vào khả năng hoằng pháp đúng mực theo tinh thần chánh pháp đạo Phật ở GHPGVN cũng như ở các tổ chức liên quan đến đạo Phật.

Thưa thầy Thích Nhật Từ! Ngạo Thuyết được biết rằng thầy trước tu học theo Phật giáo Bắc Tông, về sau thầy theo về Phật giáo Nam Tông. Và từ đó ở những buổi pháp thoại thầy có xen vào tư tưởng bài xích Phật giáo Bắc Tông với lối lập luận kinh điển phát triển đại thừa Bắc Tông không phải là những bài pháp thoại do Phật Thích Ca thuyết giảng. Không chỉ vậy! Thầy còn tiến thêm một bước để “triệt phá” Phật giáo Bắc Tông bằng cách cho rằng kinh điển Bắc Tông là giáo lý Phật giáo bị Tàu lai (tức giáo lý của Trung Quốc ngụy tạo) nhằm thổi bùng lên tư tưởng “Bài Tàu” ở người đời cũng như người học Phật.
Và phải chăng đấy là việc thầy đang cố khắc dấu ấn đạo Phật mang thương hiệu Thích Nhật Từ?
Buổi pháp thoại lúc 19h 22’ ngày 21/3/2019, thầy Thích Nhật Từ đã có những trao đổi với phóng viên báo Lao Động TV về những vấn đề liên quan đến sự kiện chùa Ba Vàng, Ngạo Thuyết có nghe buổi pháp thoại đấy và nhận ra thầy vẫn dính mắc quá nhiều về những lỗi cũ rích thường thấy ở các bài pháp thoại của thầy. Một vài hạn chế đáng lưu tâm ở buổi pháp thoại đó, hạn chế thứ nhất là thầy Nhật Từ cho rằng hiện tượng vong nhập chỉ là một dạng bệnh về thần kinh, bệnh đa nhân cách; Hạn chế thứ hai là thầy quá quan trọng việc học Phật nhất thiết phải qua trường lớp chính quy, bài bản, phải đọc thật nhiều kinh sách Phật học; Hạn chế thứ ba là thầy có vẻ bức xúc thái quá về hiện tượng chùa Ba Vàng đến đáng ngờ,…
Về điểm hạn chế thứ ba, thầy thể hiện sự bức xúc thái quá đối với sai phạm của thầy Thích Trúc Thái Minh, rất nhiều câu chữ được thầy nhấn nhá để gần như là tuyên án tội trạng của thầy Thái Minh. Và đáng ngờ hơn khi thầy làm một việc mà theo Ngạo Thuyết là quá phận khi gần như là đưa ra khung hình phạt để tuyên xử thầy Thích Trúc Thái Minh theo đúng với luật pháp Việt Nam hiện hành. Việc làm này của thầy Ngạo Thuyết thấy không đúng, và rất không thỏa đáng. Việc làm sai trái của thầy Thích Trúc Thái Minh nếu lọt vào những khung hình phạt đó thì đó là việc làm của tòa án và pháp luật chứ không thể là cách thể hiện vung tay quá trán ở thầy Nhật Từ.
Và dường như thầy Nhật Từ đã chuẩn bị sẵn những tư liệu đầy đủ để tuyên án thầy Thái Minh ở buổi pháp thoại mà ban đầu thầy Nhật Từ khởi xướng là hỏi đáp tự do nhưng sau rốt là cuộc trao đổi giữa phóng viên báo Lao Động và sư Nhật Từ về vấn đề chùa Ba Vàng. Vô hình chung Ngạo Thuyết xét lại … cơ hồ như đây không phải là một buổi pháp thoại khách quan, mọi việc đã có sự sắp xếp, có kịch bản trước và việc còn lại chỉ là sự diễn xuất thể hiện ở mỗi người.
Về nhận định vong nhập thầy Nhật Từ khẳng định đấy chỉ là một dạng bệnh thần kinh đa nhân cách. Ở chỗ biết của Ngạo Thuyết thì Ngạo Thuyết khẳng định sự hiểu biết của thầy Nhật Từ về vong nhập hãy còn quá hẹp kém và hoàn toàn thiếu thực tế.
Có lẽ thầy Nhật Từ bị nhồi sọ và tự nhồi sọ kiến thức Phật học quá nhiều và lại mãi lo việc Phật sự nên không có thời gian suy nghiệm, tư duy lại, vì thế kiến thức Phật học ở thầy Nhật Từ cứ đá nhau, trước sau bất nhất.
Hiện tượng vong nhập thực tế là có thật, chứ không ảo – không là một dạng bệnh đa nhân cách như thầy Thích Nhật Từ lầm tưởng.
Và hiển nhiên khi có thật liền có giả. Cụ thể là việc vong nhập ở Pháp Thỉnh Oan Gia Trái Chủ ở chùa Ba Vàng phần đa là giả trá, là những vở diễn nhố nhăng, hý cuội…
Có một điều chắc thật là rất nhiều người đời cũng như kẻ học đạo đều biết ít nhiều về hiện tượng vong nhập xác phàm. Và để “trị” vong nhập, người thân sẽ đưa nạn nhân đến các thầy bùa nhờ “trục vong” hoặc đưa đến chùa nhờ sư thầy hóa giải. Các vị Tăng bảo có thể đưa nạn nhân lên chánh điện dùng câu kinh, lời kệ, chú thuật và niệm Phật để “trục vong”, với những vong cứng đầu thì lấy áo cà sa của vị Tăng Bảo chân tu với giới hạnh nghiêm thân khoác lên người nạn nhân hoặc đưa đầu nạn nhân vào đại hồng chuông, gióng chuông lên vong liền “chạy gấp” ra khỏi người nạn nhân. Đây là điều mà rất nhiều người biết đến. Việc giả trá hiển nhiên là có, song sự thật thì vẫn là sự thật.
Thầy Nhật Từ không tin việc vong nhập là có thật nhưng lại tin và tom góp, biên soạn một vài quyển sách nói về hiện tượng tái sinh ở người chết và khẳng định việc tái sinh là có thật, khoa học đã chứng thực. Điều này cho thấy ngã kiến của thầy Nhật Từ quá ư sâu nặng, kiến chấp trùng trùng.
Thêm nữa, nếu thầy Nhật Từ cho rằng không có việc vong nhập, điều này phải chăng là thầy nhìn nhận không có vong?
Trường hợp nếu thầy Nhật Từ cho rằng không có vong vậy thì sau mỗi thời pháp hoặc cụ thể hơn là ở cuối bài pháp thoại ngày 21/3/2019 thầy Nhật Từ khởi niệm hồi hướng, Ngạo Thuyết xin hỏi rằng việc hồi hướng đó, thầy Nhật Từ đang hồi hướng cho ai?
Trường hợp nếu thầy Nhật Từ cho rằng có vong vất vưỡng lang thang. Vậy Ngạo Thuyết hỏi thầy Nhật Từ rằng điều gì quyết định việc vong không nhập vào xác phàm, khi mà định tâm, định lực của nạn nhân quá yếu ớt, tán thần?

Về vấn đề thầy thể hiện điều tự phụ bình sinh sở học uyên nguyên, tri kiến Phật học hàm thụ ở bằng cấp tiến sĩ, điều này là rất dễ nhận thấy ở các buổi pháp thoại của thầy Nhật Từ.
Thầy Nhật Từ rất coi trọng việc học Phật nhất thiết phải qua trường lớp Phật học, phải được đào tạo bài bản, kinh sách đạo Phật phải tham cứu cho nhiều. Điều này không phải là vô ích, song xem kinh chuyển được kinh hay bị kinh chuyển mê mờ tri kiến Phật mới là vấn đề.
Học Phật là hàm thụ, chuyển hóa, buông bỏ bản ngã chứ không dừng lại ở nuôi lớn ngã chấp, ngã kiến ta biết, ta hiểu. Nay thầy Nhật Từ luôn thấy sở tri Phật học uyên nguyên, đấy chẳng phải là bị kinh chuyển đến điên đảo hay sao? Mong rằng thầy Nhật Từ sẽ sớm biết đến những lời cảnh tỉnh của Ngạo Thuyết mà tỉnh ngộ. Thầy Nhật Từ nên nhớ cho trung ngôn, nghịch nhĩ.
Lục tổ Huệ Năng khi xưa chỉ là gã đốn củi, quê mùa, ít học. Về sau, chỉ vì thâm đạt một câu Phàm Sở Hữu Tướng Giai Thị Hư Vọng mà liền thành thầy Tổ. Do vậy, Thường Bất Khinh Bồ Tát chẳng dám khinh người chưa học.
Ngạo Thuyết đến với đạo Phật không quá 6 tháng, và cũng không có duyên tham cứu nhiều kinh sách Phật học như thầy Nhật Từ, song Ngạo Thuyết có một điều mà thầy Nhật Từ cũng như chư Tăng Bảo hiện nay không có, cái Ngạo Thuyết đang có là một vầng trăng chánh pháp sáng viên dung.
Thưa thầy Nhật Từ! Thầy luôn tự hào rằng thầy là một vị giảng sư lâu năm, nhiều kinh nghiệm, nhiều học trò là những vị Tăng Bảo danh tiếng đương thời. Song thầy có từng nghĩ đến những vị học trò đó có thật sư kính nể, tôn trọng thầy hay không, hay chỉ là xem thầy trên tinh thần lục hòa tôn giáo.
Ngạo Thuyết tin rằng với ngã kiến lẫy lừng được thể hiện ở các bài thoại của thầy Nhật Từ sẽ khiến các vị Tăng Bảo khác không phục, không nể trọng vị Tăng Bảo tiến sĩ Phật học, vậy thì tấm bằng tiến sĩ Phật học cũng chỉ là tờ giấy không gói nổi ngọn lửa chánh pháp, chánh kiến, chánh tư duy.
Ngạo Thuyết xin hỏi một vài câu hỏi về nhân quả luân hồi mà giới Tăng Bảo thường giảng giải, chỉ bày, khuyên người học Phật tin nhận, thọ trì. Câu hỏi rằng thầy Nhật Từ có thật sự rõ biết về luật nhân quả không? Sát sinh đền mạng phải hiểu như thế nào cho đúng? Lẽ nào giết một con gà đền một mạng gà? Nếu thật thế thì sẽ mãi mãi không có chúng sinh giải thoát hoàn toàn khỏi Tam giới mất.
Tương truyền, khi xưa thầy Thích Thanh Từ vì không trả lời được một câu vấn đạo của Phật tử đã phải bế quan, ẩn tu một khoảng thời gian cho sáng đạo. Nay thầy Thích Nhật Từ sẽ phải hành xử thế nào?

Ngạo Thuyết biết giới Tăng Bảo ngày nay chịu rất nhiều áp lực, nhất là với những vị Tăng Bảo danh tiếng. Và thầy Thích Nhật Từ lại là người thể hiện rất năng nổ trong việc hoằng pháp, thế nên Phật tử luôn kỳ vọng thầy Nhật Từ sẽ giải thích rốt ráo những Sự Lạ, Hiện Tượng Lạ ở chốn Phật môn, chính vì lẽ đó, nếu không tỉnh táo, sáng suốt thì thầy Nhật Từ sẽ bị cuốn vào vòng xoáy thị phi điên đảo.
Vấn đề đặt ra là vậy làm cách nào để giới Tăng Bảo hữu danh không bị cuốn vào vòng thị phi điên đảo? Đứng ngoài cuộc ư? Không được! Vai trò của Tăng Bảo hoằng pháp không thể cô phụ lòng kỳ vọng, tin yêu của tín đồ Phật tử cũng như việc tránh né báo đền Phật ân.
Vậy phải làm sao trong những vòng xoáy thị phi chốn Phật môn?
Tăng Bảo hãy cởi trên sóng thj phi điên đảo mà dấn thân bằng vào tuệ tri khách quan, sáng suốt, tránh rơi vào ngã kiến là điều cần thiết. Trân trọng!

Hậu Chùa Ba Vàng Đắng Lòng Người Học Phật

Hậu Chùa Ba Vàng Đắng Lòng Người Học Phật

Hậu Chùa Ba Vàng Đắng Lòng Người Học Phật (https://www.youtube.com/watch?v=xDQLOXHYL0w&t=54s)
Bạn Trúc Viên Trang tham vấn:
Pháp Niệm Phật Vãng Sanh, Hộ Niệm Vãng Sanh, Cầu An, Cầu Siêu,… Có Phải Là Pháp Do Phật Chỉ Dạy Hay Không?
Nhân sự kiện Pháp Thỉnh Oan Gia Trái Chủ làm Phật môn dậy sóng khiến rất nhiều người học Phật cả Tăng lẫn tục rơi vào vòng xoáy thị phi điên đảo, bạn Trúc Viên Trang đã cảm thán và hoài nghi tham vấn Ngạo Thuyết rằng:
Vậy pháp niệm phật vãng sanh..hộ niệm vãng sanh có phải pháp của Đức Phật không? Cầu an cầu siêu? Trai đàn chẩn tế? Trai tăng? 49 ngày đại tưởng tiểu tưởng? Tham gia xã hội…? Cho Trúc Viên Tra hỏi là pháp phật dạy…chứ?
Nếu phải thì phát huy..mà nếu không phải mà người học Phật cứ làm thì có bị gì không?
Ai là người … phán quyết điều này?
Trong giới luật sadi cấm rờ đến tiền bac….vậy bây giờ tỳ kheo giữ tiền có trái với giới luật không?
Bạn Trúc Viên Trang lập luận:
Cuộc đời ngắn ngủi… như mộng, như chiêm bao nếu rảnh rang đi tìm đúng sai ..mình nghĩ như đi nắm hư không… như lấy vàng bắn chim… danh và lợi như là cái bánh vẽ, tranh giành để nắm lấy chiếc bánh vẽ thì thật vô nghĩa…, việc tranh giành tham đắm dễ khiến việc mình quên đi thực tại, quên đi rằng mình đang sống… biết bao bất công, biết bao điều dối gian, trí trá … ở cuộc đời nơi mình, người… có lẽ vậy… mình nghĩ đó là pháp phật. Phật có nói: Cuộc đời là để nhận thức chứ không phải giải quyết nó… không biết nên làm sao?

Trả Lời Những Câu Hỏi Của Bạn Trúc Viên Trang, Ngạo Thuyết đáp rằng:
Trước tiên Ngạo Thuyết trả lời câu hỏi ai là người phán quyết sự đúng sai, chánh tà ở các pháp mà người đời sau nói rằng là pháp Phật. Về người phán quyết ở đạo Phật có thể nói là không có người phán quyết cụ thể, đây là điểm khác biệt khách quan và cũng đồng thời là khuyết điểm tối hậu ở đạo Phật so với ngoại đạo. Với các tôn giác khác như Nhất Thần Giáo thì ngoại đạo vì muốn ép tín đồ thuần phục, lệ thuộc hoàn toàn thì vai trò người phán quyết được giới lãnh đạo tinh thần được tối ưu hóa và bất khả xâm phạm.
Cụ thể như vai trò của đức giáo hoàng ở Kito giáo, đây là người phán quyết tối cao của Kito giáo, nhân vật này có đặc quyền phán quyết đúng sai dựa trên nền tảng hiểu biết cá nhân về kinh Thánh, về tri thức cộng đồng. Tính chủ quan, bảo thủ cá nhân ở đức giáo hoàng là rất lớn. Tuy nhiên, do có được đặc quyền đại diện Tiếng nói của Chúa nên lời nói của Đức giáo hoàng luôn đúng và bất khả xâm phạm. Và tín đồ con chiên của Chúa buộc phải tin một cách tuyệt đối, tin một cách thuần phục về những điều hoang đường, vô lý. Đơn cử như có một thời Giáo Hội Công Giáo bảo thủ rằng trái đất có hình vuông, vũ trụ – con người do một tay Chúa Cha nhào nặn, tượng hình trong 6 ngày, việc Đức mẹ Maria đồng trinh mà vẫn có thể sinh ra Chúa Jesu nơi máng cỏ. Hiển nhiên là những phán quyết này sẽ do Đức giáo hoàng xác lập, những lời phán quyết đấy hoàn toàn không đúng nhưng những lời phán quyết thiếu hiểu biết đó đã từng khuynh đảo cả mặt bằng chung tri thức loài người trong suốt một khoảng thời gian rất lâu xa. Và chi phối, ảnh hưởng đến con chiên ngoan đạo ngay đến tận bây giờ.
Đạo Phật không có việc áp đặt, ép uổng tín đồ Phật tử theo lối như thế. Phật dạy hãy tự thắp đuốc mà đi tức là người học Phật phải vận dụng trí tuệ của bản thân nhìn nhận, nhận thức, tư duy các pháp một cách khách quan, trong sáng nhất có thể. Nếu bản thân thiếu tri kiến Phật học thì nên gần gũi thiện tri thức học hỏi, tham vấn. Tuy nhiên, việc gần gũi thiện tri thức không đồng nghĩa việc giao phó tuệ tri, vận mạng của mình cho thiện tri thức mà người học Phật phải dùng tuệ tri tăng trưởng quán chiếu, tư duy, nhìn nhận lại những điều mà thiện tri thức chia sẻ có khế hợp với Phật pháp, với đương thời hay không.
Người phán quyết ở đạo Phật không lập thành chế định. Việc đúng sai, chánh tà ở các pháp sẽ do các thiện ác tri thức nhận diện và mỗi người học Phật phải tự quán chiếu, tư duy lại. Vai trò người tỏ ngộ hay nói cách khác là người sáng mắt nơi đạo Phật là người hoàn toàn có thể nhận diện đúng đắn việc đúng sai, chánh tà ở các pháp, song họ sẽ không buộc đại chúng phải tin nhận một cách tuyệt đối hoàn toàn. Họ có thể xác quyết việc đúng sai, chánh tà trong từng trường hợp, từng pháp cụ thể nhưng họ vẫn để ngỏ khả năng tư duy, nhận diện chánh pháp ở đại chúng học Phật.
Chính do không chế định hay nói đúng hơn là không thể chế định ra người phán quyết bởi lẽ người tỏ ngộ, chứng đắc hoàn toàn Phật pháp không hẳn lúc nào của xuất thế, hộ pháp nên những khi thiếu bóng dáng của Giác Giả trụ thế thì giáo lý đạo Phật dễ thường xảy ra hiện tượng đúng sai hỗn độn, chân ngụy rối bời. Đấy chính là khuyết điểm tối hậu của đạo Phật khi không có người phán xét chế định. Tuy nhiên, một khi giáo lý đạo Phật hãy còn đó thì tùy thời, khi khổ não chúng sinh Tam giới chạm đến sự cùng cực đau thương, Giác Giả sẽ xuất thế tùy duyên minh định lại chánh pháp, vạch rõ ranh giới chánh tà, chân ngụy ở đạo Phật, ở vạn pháp.

Về pháp niệm Phật vãng sanh, hộ niệm vãng sanh, cầu an, cầu siêu, cúng sao giải hạn, trai đàn chẩn tế, Trai Tăng, 49 ngày đại tưởng, tiểu tưởng, tham gia công tác xã hội,… có phải là pháp do Phật khởi xướng, xác lập hay không?
Phần đa những hình thức mà giới Tăng Bảo đạo Phật ngày nay đang chi trì đều không phải do Phật Thích Ca chế định. Một số rất ít trong các hình thức hoằng pháp ở Tăng Bảo đương thời đang lạm dùng mà bạn đề cập đến ở trên đã từng là một pháp phương tiện khéo để giúp người học đạo biết đến chánh pháp đạo Phật. Và những pháp phương tiện này vốn là pháp hành của ngoại đạo, Phật Thích Ca đã tùy biến ngõ hầu giúp người học đạo đến gần với đạo Phật.
Tiếc rằng giới Tăng Bảo từ lâu xa đã không thấu tỏ, hoặc có thể rõ biết đó là pháp hành ngoại đạo nhưng lại vì danh lợi nên vẫn lạm dùng các pháp phương tiện trên nhưng không theo đúng tinh thần chánh pháp đạo Phật mà hoàn toàn là pháp hành của ngoại đạo. Có thể nói các vị Tăng Bảo đã hành pháp phương tiện đạo Phật nhưng đã biến thể hoàn toàn thành pháp hành dẫn dụ ngoại đạo.
Những việc như cầu an, cầu siêu, cúng sao giải hạn, cúng vong tức trai đàn chẩn tế,… là những việc mà Phật Thích Ca bài trừ, khuyên dạy người học Phật nhất thiết phải xả bỏ khi dấn thân trên con đường chánh đạo giác ngộ giải thoát.
Việc tham gia công tác xã hội là điều mà Phật không khuyên Tăng chúng dấn thân. Phật dạy Bồ tát, tức người học Phật có tâm hạnh bồ tát – trước hãy tự giác, sau mới giác tha, hành được như vậy giác hạnh đồng viên mãn. Thế nên Phật khuyên người nên tự độ trước sau mới ra sức độ người bởi lẽ người mù chẳng thể dẫn người đi xa, đi đúng lối được. Ngu dốt mà nhiệt tình quá thành ra phá hoại chứ đâu thể hoằng pháp đúng với tinh thần chánh pháp đạo Phật.
49 ngày đại tưởng, tiểu tưởng hiển nhiên không do Phật Thích Ca bày ra, đấy chỉ là chiêu trò của người học Phật chưa ngộ.
Pháp niệm Phật vãng sanh, hộ niệm vãng sanh thời Phật Thích Ca là hoàn toàn không có. Và Phật Thích Ca cũng không truyền dạy pháp niệm Phật cầu vãng sanh Tây Phương. Tuy nhiên, ngoại đạo thời Phật tại thế có những pháp hành tương tợ như pháp cầu siêu, pháp nguyện cầu trợ duyên cho người bệnh tật, già yếu chết dễ.
Và bởi do người đời ở các nước quanh lưu vực sông Hằng có tín tâm với giới Tăng lữ, Bà la môn, các vị giáo chủ tôn giáo,… nên khi người nhà mất họ sẽ mời giới Tăng lữ, Bà la môn đến cầu nguyện, làm lễ rửa tội, lễ thánh tẩy để người sống an lòng, người chết an tâm. Phật và các vị đệ tử Phật được giới cư sĩ tại gia tín tâm, thuần phục nên những khi gia đình tín đồ đạo Phật có hữu sự cũng được mời đến. Do nhân duyên đó Phật đã tùy biến dùng việc thăm viếng người đã khuất khi được mời thỉnh làm phương tiện thuyết giảng chánh pháp độ sinh, Phật và đệ tử Phật sẽ thuyết giảng về Tứ diệu đế, về Bát chánh đạo. Và với đời sống của người xuất gia học Phật với 3 y 1 bát thì việc dùng phương tiện tạm gọi là cầu siêu để thuyết giảng chánh pháp Phật môn sẽ không đòi hỏi, không nhận lấy tiền cúng đám, hành lễ.
Trai Tăng không phải là việc Phật chế định, lễ Trai Tăng ra đời do bởi những vị cư sĩ vì kính ngưỡng Phật cùng giáo đoàn khất sĩ mà tổ chức ra việc dâng vật thực, cúng dường thuốc men, y bát,… Nói cho rốt ráo thì Lễ Trai Tăng cũng chỉ là lễ tiết của người đời dành cho chư Tăng Bảo lấy giới hạnh nghiêm thân. Tuy nhiên, ngày nay giới Tăng Bảo lạc lối chánh pháp sa đà lợi dưỡng đã làm lệch lạc đi ý nghĩa cũng như giá trị thật của những buổi lễ Trai Tăng, những buổi lễ Trai Tăng được tổ chức hoành tráng khuyến dụ người học Phật tu phước tranh giành nhau cúng dường, dâng y, dâng bát.
Đạo Phật ngày nay với sự quản lý điều tiết thiếu tâm, thiếu tầm của người làm công tác quản lý tôn giáo cũng như Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam đã từng bước hủy hoại chánh pháp sáng rõ nơi đạo Phật. Những điều mê tín dị đoan của ngoại đạo lần lượt được thành phần Tăng Bảo chèn vào đạo Phật, họ ra sức PR, makerting cho tà pháp ngang nhiên xâm hại sự sáng rõ minh bạch nơi viên ngọc quý chánh pháp.
Câu hỏi những việc như pháp niệm Phật vãng sanh, hộ niệm vãng sanh, cầu an, cầu siêu, cúng sao giải hạn, trai đàn chẩn tế, Trai Tăng, 49 ngày đại tưởng, tiểu tưởng, tham gia công tác xã hội,… không phải là chánh pháp mà là sự mê tín dị đoan nếu không loại trừ mà tiếp tục phát huy thì vấn đề sẽ ra sao, có bị nguy hại gì?
Câu trả lời là khi tà kiến, mê tín được gieo rắc sâu rộng vào lòng xã hội loài người thì đương nhiên là cuộc sống nhân sinh sẽ đảo lộn, âm thịnh – dương suy sẽ khiến việc vong nhập thêm nhiều làm náo loạn, khổ não giăng giăng. Tà kiến, tà pháp vượng thì chánh tín, chánh pháp suy vong, khổ não, phiền muộn, hận thù sẽ bức bách loài người.
Sadi không được rờ đến tiền chỉ là chế định của người đời sau nhằm ngăn chặn những người học Phật giai đoạn tập tu tham đắm tài vật, lạc lối chánh pháp. Tỳ kheo tích trữ, thâu đoạt tiền của có phạm giới luật không? Đây là câu hỏi rất ý vị. Người xuất gia chân chính sẽ sống đời với 3 y 1 bát, tỳ kheo mà không thuận hành 3 y, 1 bát thì vốn đã có thể xếp vào hạng tỳ kheo phạm giới rồi. Tham đắm tài vật, dùng mưu chước thâu đoạt của cải thì vị tỳ kheo đó đã đánh mất hoàn toàn giới thể, so với phàm phu hạng tỳ kheo đó đã không xứng hỏi rằng vị tỳ kheo đó có phạm giới luật không nghe thật đau lòng.
Trúc Viên Trang lại nói “Cuộc đời ngắn ngủi… như mộng, như chiêm bao nếu rảnh rang đi tìm đúng sai ..mình nghĩ như đi nắm hư không… như lấy vàng bắn chim… danh và lợi như là cái bánh vẽ, tranh giành để nắm lấy chiếc bánh vẽ thì thật vô nghĩa…, việc tranh giành tham đắm dễ khiến việc mình quên đi, thực tại, quên đi rằng mình đang sống… biết bao bất công, biết bao điều dối gian, trí trá … ở cuộc đời nơi mình, người… có lẽ vậy… mình nghĩ đó là pháp phật. Phật có nói: Cuộc đời là để nhận thức chứ không phải giải quyết nó… không biết nên làm sao?”.
Cuộc đời ngắn ngủi như giấc chiêm bao ai đã sống được với lối lập luận đó hay đấy chỉ là lời nói suông. Chúng sinh Tam giới trôi lăn trong giấc trường mộng vô minh chưa biết đến ngày ra cớ sao lại tự trói mình vào kiến chấp cuộc đời như giấc mộng ngắn ngủi rồi từ bỏ giềng mối thoát khỏi lưới mộng vô minh luân hồi sinh tử. Danh lợi phù vân chỉ đúng với người có chí hướng thoát trần, xuất thế. Còn với đại đa số nhân sinh thì danh lợi luôn có sức cám dỗ lớn lao và có lắm kẻ sẳn sàng đoạt vật, mất người không tiếc. Người đời si mê là thế! Do đó, nhân sinh hàng ngàn năm vẫn cứ tranh đoạt, tham lam, trí trá, dối gian… người học Phật là người phải nhìn vào đấy, nhìn vào những Tham Sân Si Mạn Nghi đó cho thấu tột ngõ hầu hóa giải, chuyển hóa tất cả để thoát ra khỏi những mê lầm nhân vay, quả trả.
Cuộc đời là để nhận thức chứ không phải giải quyết nó, câu nói này không phát ra từ kim khẩu Phật Thích Ca. Một ai đó đã trí trá lộng giả thành chân, ngụy tạo một câu nói có hơi hướm minh triết thành lời Phật nói, điều này thật vô sỉ! Đáng tiếc!

Bóng ma vẫn lởn vởn trên bầu trời Phật pháp. Chuyện xưa kể rằng một thuở có một kẻ hãy còn u mê, nông nổi đã lập ngôn thế giới này vô thần. Và có một bầy đàn người đã tin nhận đều đó lập ra chủ nghĩa vô thần chuyên đả phá thế giới duy tâm, cho rằng những cõi giới vô hình không có. Với công cụ quyền lực trong tay những kẻ vô thần đó ra sức triệt hạ, tìm diệt những tôn giáo, những người theo chủ thuyết duy tâm. Việc làm sai trái, tầm bậy, tầm bạ này đã đẩy xã hội loài người vào vũng lầy của lòng tham và sự thực dụng.
Và ngày nay … tiếp nối những sai lầm xưa cũ, có những kẻ nắm trong tay quyền lực sinh sát đó lại không thừa nhận sai lầm ở việc đã truyền bá tư tưởng vô thần si mê, họ lại sai lầm hơn nữa khi hợp thức hóa việc có “vong nhập”, “Thỉnh vong”,… để gieo tà kiến rộng khắp xã hội loài người.
Ô hay! Chủ nghĩa vô thần thì vẫn cứ vô thần nhưng sau rốt lại làm bạn lữ với ma, cùng nắm tay ma, dắt dìu nhau đi vào ngõ tối. Thật gớm ghê thay ở lòng Tham khôn lường của con người.

Theo nguồn tin không chính thức nhưng khá tin cậy là Pháp Thỉnh Oan Gia Trái Chủ sẽ được hợp thức hóa, điều đó đồng nghĩa với việc mô hình Pháp Thỉnh Oan Gia Trái Chủ sẽ được nhân rộng ra toàn quốc. Do đó, có thể mai này chư Tăng sẽ kéo về chùa Ba Vàng nườm nượp để học cho kỳ được diệu pháp lừa người, mị dân. Thầy Thích Trúc Thái Minh – Chùa Ba Vàng sẽ từ vị trí tội đồ sẽ trở thành công thần trong việc triển khai mô hình điểm Pháp Thỉnh Oan Gia Trái Chủ.
Và hẳn là để hợp thức hóa điều này trong tình hình sóng gió Phật môn quá ư đa biến, và nếu vượt mức kiểm soát thì bàn tay ma sẽ chặn đứng dư luận bằng cách khóa mõm cơ quan ngôn luận báo đài về những vụ việc liên quan đến chùa Ba Vàng. Một khi dư luận lắng xuống, lộ trình hợp thức hóa Pháp Thỉnh Oan Gia Trái Chủ chính thức xác lập.
Điều này liệu có thể xảy ra không? Việc này hẳn là hồi sau sẽ rõ.
Doanh thu từ Pháp Thỉnh Oan Gia Trái Chủ, cầu siêu, cúng sao giải hạn,… quá ư khủng. Từ bỏ những điều đó quá ư phí phạm. Người học Phật hãy còn lắm kẻ mê, thế nên cớ sao phải từ bỏ miếng mồi béo bở như thế. Dẹp bỏ tất thì cả lũ cùng đói, thế nên duy trì ắt danh lợi theo về, vấn đề còn lại chỉ là chia chác theo một tỷ lệ thế nào cho đẹp lòng nhau. Và đây cũng là một kênh thu gom ngoại tệ, tiền vàng trong dân. Lợi ích nhiều đường… Rất nên duy trì, đã có người nghĩ như thế.
Chùa chiền, tự viện Việt Nam phần đa nếu không muốn nói là tất cả đều có cầu siêu, cầu an, cúng sao giải hạn,… do đó số lượng Tăng Bảo ủng hộ việc hợp thức hóa Pháp Thỉnh Oan Gia Trái Chủ nghe đồn là rất khủng. Lời nhận định này là đúng hay sai, đành thôi hạ hổi phân giải.
Có lẽ quả sẽ trổ thế nào sẽ dựa vào gió sẽ thổi theo hướng nào. Ngọn gió công luận có vẻ như không có một giá trị rõ rệt nào cả.
Lẽ nào hậu chùa ba vàng để lại dư vị chát đắng trong lòng người học Phật có đạo tâm.

Những điều Ngạo Thuyết nói là đúng hay sai với chánh pháp mà Phật Thích Ca trao truyền, mọi người hãy lắng lòng xuống, suy nghiệm, tư duy lại bằng tuệ tri cởi mở, khách quan nhất có thể, hãy lìa xa hai biên kiến Đoạn – Thường, ngã chấp, ngã kiến.
Trước sự suy vi, rối bời của chánh pháp có nơi đạo Phật – Ngạo Thuyết sẽ minh định lại chánh pháp bằng tuệ tri khách quan, sáng rõ nhất. Và nếu đến một lúc nào đó, chánh pháp cần đến một ngọn lửa chánh tín bùng cháy, Ngạo Thuyết sẽ sẳn sàng tự thiêu để soi sáng lại những tri kiến mê lầm, những vô minh bền bỉ hiện tồn trong lòng nhân loại.

Vì Sao Chỉ Với Dăm Ba Câu Nói Ngu Ngơ Của …

Vì Sao Chỉ Với Dăm Ba Câu Nói Ngu Ngơ Của …

Ngạo Thuyết

Vì Sao Chỉ Với Dăm Ba Câu Nói Ngu Ngơ Của Ông Dương Ngọc Dũng Tăng Đoàn Trực Thuộc Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Rúng Động?

Vì Nhóm Người Mang Danh Nghĩa Chư Tăng Cây Cao, Bóng Cả Này Vốn Không Có Thực Tu, Không Thật Sự Có Chánh Tâm Học Phật.

Cuối cùng ông Dương Ngọc Dũng cũng đành phải chịu nhục lê tấm thân đến trung tâm Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam khẩn khoản gửi lời xin lỗi vì những phát ngôn nông nổi của chính mình bởi lẽ lời xin lỗi bằng văn bản trước đó của ông không được giới Tăng Ni, Phật Tử chấp nhận.
Dù cho đại diện của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam đã chấp nhận lời xin lỗi nhưng những lời ong, tiếng ve vẫn thì thào rằng ông Dương Ngọc Dũng không có sự thành tâm.
Và đúng thật là ông Dương Ngọc Dũng không có một chút thành tâm nào cả. Thậm chí là trong lòng ông Dũng đang oán hận, hậm hực và không phục cách hành xử của giới Tăng Bảo Việt Nam.
Thực tế là ông Dương Ngọc Dũng không hề nhận ra những cái sai của chính mình sau những phát ngôn có tính châm chích, dè bỉu. Và những lời phát ngôn của ông Dũng dựa trên những chứng cứ có thật về thực trạng của Tăng đoàn ngày nay và cả những hiểu biết nông cạn, thiển cận về đạo Phật mà ông Dũng ngộ nhận sau bao nhiêu năm mài đũng quần nghiên cứu tôn giáo, nghiên cứu đạo Phật trên giấy để giành giật về những tấm bằng cấp được cho là danh giá, thượng lưu.
Sở dĩ ông Dương Ngọc Dũng phải xuống nước quỳ lụy, nhận lỗi về mình là do áp lực bị mất việc, sự nghiệp tiêu ma dưới sức ép của dư luận cũng như của Tăng Đoàn, Phật Tử Việt Nam. Vì để cứu vãn công danh, sự nghiệp có nguy cơ bị mất do vạ mồm ông Dương Ngọc Dũng đành phải cắn răng ngậm bồ hòn làm ngọt. Thật đúng là cục sắt ném đi, hòn chì ném lại – Tập tành gieo gió, liền đó gặt bão tơi bời.

Về phần ông Dương Ngọc Dũng, Ngạo Thuyết không đào sâu việc phân tích làm rõ bởi lẽ ông Dương Ngọc Dũng vốn dĩ chỉ là một kẻ ngoại đạo học đòi thể hiện việc hiểu biết hơn người về đạo Phật cùng với chỗ tư tâm phụng sự đức tin của chính mình.

Ngoài ra, lỗi vạ mồm của ông Dương Ngọc Dũng đối với xã hội Việt Nam thời điểm hiện tại không từng là trường hợp cá biệt. Qua cổng thông tin truyền thông ngày nay chúng ta, những người Việt Nam đã phải chứng kiến biết bao tiến sĩ giấy người Việt và cả những Ông Lớn, Bà Cả – Thành phần được đặt để làm đại diện cho dân tộc Việt Nam, cho tri thức văn hóa người Việt thốt ra những lời nói chứa đựng sự ngu dốt, ngốc nghếch, kém cỏi về cả nhân cách, văn hóa lẫn học thức. Những điều này diễn ra ngày càng trở nên thường ở khắp mọi nơi trên đất nước Việt Nam thế nên đâu còn chi lạ lẫm.

Với những người học Phật cuồng tín cái gọi là hộ trì Tam Bảo một cách thiếu hiểu biết cũng như giới Tăng Bảo không chánh tâm tư sửa chính mình thì việc ông Dương Ngọc Dũng nhịn nhục đến Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam xin lỗi là một sự thắng lợi của việc hộ trì Tam Bảo, một số người sẽ giảm bớt bức xúc; một số người sẽ cảm thấy ít nhiều sự thỏa mãn, hả hê; một số người khác sẽ tỏ thái độ không vừa lòng, họ muốn “vùi hoa, dập liễu”, quyết chí dồn ông Dương Ngọc Dũng vào chỗ mất việc làm, công danh – sự nghiệp tiêu ma,…
Song với góc nhìn lặng lẽ, Ngạo Thuyết nhận thấy việc giới Tăng Bảo cùng đại chúng Phật Tử gây sức ép một cách thái quá buộc ông Dương Ngọc Dũng phải gửi lời xin lỗi về những phát ngôn là một nỗi nhục nhã ê chề cho đạo Phật mà Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam đã trực tiếp tạo ra.

Những phát ngôn nông nổi mang cả sự ác ý (nếu có) của ông Dương Ngọc Dũng phải chăng chỉ là những lời bịa đặt không có cơ sở hay thực tế là những điều ông Dương Ngọc Dũng trình bày ít nhiều gì cũng có thật.
– Điển hình như việc chư Tăng Bảo khách mời từ các quốc gia khác thể hiện thái độ cau có, khó chịu, thiếu sự hàm dưỡng tu hành khi không có được một chỗ ngồi ưng ý ở lễ hội Vesak tại chùa Tam Chúc – Ninh Bình.
– Có không việc chư Tăng Bảo người Việt Nam “bận” mãi tự sướng – selfie trong buổi lễ Phật đản được tiếng long trọng, trang nghiêm và hoành tráng đó?
– Có không việc không hề ít chư Tăng Bảo người Việt Nam thật sự xem việc xuất gia như là một cái nghề thu đoạt công danh, sự nghiệp vinh gia, phì thân?
– …
Những điều này đã bị giới Tăng Bảo cùng đại chúng Phật Tử cuồng tín bỏ ngỏ khi ra sức “truy sát” kẻ ngoại đạo Dương Ngọc Dũng.
Tại sao lại như vậy?
Phải chăng giới Tăng Bảo trực thuộc Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam và những người cuồng tín học Phật đã không dám đối diện với sự thật đáng buồn hiện tồn nơi đạo Phật ngày nay ở Việt Nam?
Hay bởi do không dám đón nhận những đóng góp ý kiến trái chiều về sự hư hỏng của chư Tăng Bảo, sự suy đồi giới hạnh của người xuất gia nơi đạo Phật mà Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam “kích hoạt” quả bom “Bảo Vệ Tăng Bảo” nhầm đánh lạc hướng dư luận?
Phong trào Bảo Vệ Tăng Bảo đã được kích hoạt thành công nhưng từ đó phơi bày rạch ròi cho tất cả mọi người trực tiếp thấy được rằng có lắm vị Tăng Bảo miệng đọc tụng Nam Mô nhưng bụng lại chứa một bồ dao găm. Qua việc “truy sát” ông Dương Ngọc Dũng một cách quyết liệt cho thấy rằng người xuất gia và cả những cư sĩ tại gia không có Tâm Từ, Tâm Bi và thiếu khuyết trí tuệ một cách trầm trọng.
Việc hộ trì chánh pháp ở người học Phật là rất nên ra sức nhưng người học Phật hãy nên ra sức hộ trì chánh pháp bằng trí tuệ, bằng sự hiểu biết khách quan chứ không thể là một cách hành xử có tính bầy đàn, manh động và tùy tiện.
Nếu giới Tăng Bảo Việt Nam hiện tại có thực tu thì những phát ngôn kém hiểu biết của ông Dương Ngọc Dũng sẽ không làm họ rúng động như thế.
Những phát ngôn nông nổi của ông Dương Ngọc Dũng lẽ ra chỉ chạm đến những người học Phật sơ cơ, điển hình là đại chúng cư sĩ tại gia. Bởi lẽ về mặt lý thuyết những người tại gia chỉ tập tành học Phật, họ phải lo toan cho cuộc sống nên ít có thời gian hàm dưỡng giới hạnh, tu tâm, dưỡng tánh nên dễ sa vào thị phi điên đảo. Chính vì vậy nên khi bị chạm vào đức tin họ sẽ dễ dàng phẫn nộ, manh động và quá khích.
Chính vào những thời điểm như vậy, người học Phật tại gia rất cần đến giới Tăng Bảo dìu dắt chỉ bày cách đối trị tâm sân hận, tâm phẫn nộ ngõ hầu dần thoát ra những cuộc thị phi điên đảo. Và đó là điều mà giới Tăng Bảo chân tu, thực học nên làm.
Tuy nhiên, chúng ta hãy nhìn lại xem giới Tăng Bảo Việt Nam đã làm gì sau dăm ba câu nói của ông Dương Ngọc Dũng.
Họ rơi vào phẫn nộ, sân hận, si mê và manh động. Giáo Hội Phật Giáo các tỉnh thành lần lượt gửi công văn về Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam đòi khởi kiện ông Dương Ngọc Dũng khiến ông ta mất việc, thậm chí là phải ngồi tù (nghe đồn vậy).
Và những phát ngôn của ông Dương Ngọc Dũng không được mổ xẻ một cách chi tiết và đúng mực. Thay vào đó giới Tăng Bảo Việt Nam đã “thổi phồng” những phát ngôn của ông Dương Ngọc Dũng lên một tầm cao mới với nào là những phát ngôn của ông Dương Ngọc Dũng đã gây bức xúc cho đại chúng học Phật, gây mất niềm tin, làm tổn hại đến uy tín, danh dự của Tăng Bảo và đạo Phật. Không dừng lại đó những phát ngôn của ông Dương Ngọc Dũng bị phóng đại lên tầm mức an ninh quốc gia bởi những lời cáo buộc rằng đã gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc. Thật đáng sợ…!
Thật đáng buồn cho đạo Phật ngày nay! Trải qua hơn 2500 học Phật người Việt học Phật (nói chung), giới Tăng Bảo Việt Nam (nói riêng) đã làm gì đạo Phật thế này?
Từ bao giờ đạo Phật lại trở nên mong manh, dễ vỡ và núp bóng chính trị, dựa hơi luật pháp thế này?
Người học Phật chân chính xưa nay cứ đường thẳng mà đi, tâm vô úy của người học Phật là không sợ cường hào, ác bá, không quy thuận, bợ đỡ giới chính trị và càng không dựa hơi luật pháp để thanh trừng ngoại đạo.

Chỉ với một kẻ ngoại đạo Dương Ngọc Dũng mà những người xuất gia trực thuộc Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam cũng như Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam đã phải rúng động, nháo nhào như thế thì đạo Phật Việt Nam ngày nay còn lại được gì?
Phải chăng giới Tăng Bảo Việt Nam ngày nay đã “vắng bóng” những vị chân tu, thực học?
Qua câu chuyện về ông Dương Ngọc Dũng chúng ta thường được nghe rằng ông Dương Ngọc Dũng nói những lời xúc phạm đến Tăng Bảo, đến đạo Phật rất cần được nghiêm trị thích đáng. Vậy còn những lời mà người học Phật, những người ủng hộ đạo Phật đã thóa mạ, miệt thị, nguyền rủa ông Dương Ngọc Dũng đọa địa ngục thì sao? Cớ sao người học Phật ngày nay lại thiếu khuyết Tâm Từ, lòng độ lượng và tinh thần vị tha?

Không sai! Ông Dương Ngọc Dũng là ngoại đạo nên sự hiểu biết về đạo Phật của ông ta bị hạn chế cũng là lẽ thường. Do đó cách hành xử của ông Dương Ngọc Dũng có kém cỏi đi chăng nữa cũng là điều hiển nhiên và có thể chấp nhận được. Hiểu sai về Phật pháp, đó là một tổn thất của ông Dương Ngọc Dũng. Điều đó đáng thương hơn là đáng trách.
Còn những người tự cho mình là Phật Tử, là thuộc về đạo Phật có bao giờ nhìn nhận, xét lại xem mình đã là nội đạo hay cách hành xử còn kém cỏi hơn cả ngoại đạo.
Phật Thích Ca trên đường hoằng pháp đã gặp biết bao ngoại đạo công kích, đả phá và Phật Thích Ca đã làm gì?
Phật Thích Ca vẫn tôn trọng ngoại đạo và nếu có thể Phật Thích Ca sẽ nhiếp phục ngoại đạo bằng Tâm Từ, bằng trí tuệ viên dung sáng tỏ. Nhược bằng ngoại đạo quá ư cang cường, manh động Phật Thích Ca chỉ xót thương cho người và lẳng lặng rời đi.

Vì cớ gì mà người học Phật lại thể hiện việc “đuổi cùng, giết tận” một kẻ ngoại đạo trong khi đó rất rất nhiều chư Tăng Bảo đang phá hoại đạo Phật ngay từ bên trong thông qua việc sa đọa, trụy lạc, trượt dài về mặt nhân cách, phẩm hạnh, giới đức và cả sự hiểu biết Phật học lại dường như bị “bỏ quên”?
Điển hình như việc tác pháp tà pháp Pháp Thỉnh Oan Gia Trái Chủ của sư Thích Trúc Thái Minh; Việc ngụy tạo Huyền Ký Của Đức Phật do ông Nguyễn Nhân, kẻ cai quản chùa Tân Diệu; Việc Cải Đổi Đạo Phật của sư thầy tiến sĩ Thích Nhật Từ,…

Trong hình ảnh có thể có: hoa, thực vật, bầu trời, thiên nhiên và ngoài trời