Phật Thích Ca Đã Xé Toạc Tấm Lưới Vô Minh Như Thế Nào?

Ngạo Thuyết
Phật Thích Ca Đã Xé Toạc Tấm Lưới Vô Minh Như Thế Nào?

Phật Thích Ca cũng từng bị trói trong tấm màng vô minh đối đãi với những phiền muộn, lo toan, sinh lão bệnh tử, giàu nghèo, tham lam, sân hận,… của loài người. Người muốn thoát ra khỏi cái vòng lẩn quẩn cột trói con người hết đời này sang đời khác. Người đã tìm đến các tôn giáo nhằm tìm ra lối thoát nhưng những tôn giáo mà Phật học hỏi không chỉ dẫn cho con người một lối thoát rõ ràng.

Phật lại nghĩ “Việc bị trói chân nơi triều đình và vướng bận gia đình khiến Phật không thể tham bái, học hỏi những vị danh sư tiếng tăm. Có lẽ ta phải nên rời gia đình một thời gian nhằm tìm chân sư học pháp giải thoát cho bản thân rồi sau đó trở về chỉ bày lối thoát cho vua cha Tịnh Phạn, cho hoàng hậu Kiều Đàm Di, cho nàng Da Du Đà La và mọi người”.

Nghĩ vậy, Phật lìa bỏ gia đình tìm đến những vị đạo sư danh tiếng. Sau một thời gian học tập, hành trì Phật nhận ra con đường mà các vị danh sư, ở các tôn giáo hiện thời bị nghẽn lối, không có một lối giải thoát thật sự. Chỉ khi con người nhập định thì đạt sự tự tại còn khi rời định thì những nỗi nhớ, sự buồn vui, lòng mong mỏi,… vẫn cuốn lấy tư tưởng con người.

Phật rõ biết “Đó là giới hạn về tri thức cũng như là giá trị thực chất của những tôn giáo truyền thống”. Tuy nhiên, việc thiền định cũng giúp Người tiếp xúc với cõi giới vô hình nhưng do giới hạn trong giáo lý của các tôn giáo mà Phật không thể nhận biết rõ về thế giới tâm linh. Dừng lặng ít lâu, Người quyết chí tiếp tục lên đường nhằm tìm ra chân tướng của vạn pháp, nguồn gốc sự sống, bản chất thật của luân hồi giữa các cõi giới. Lần ra đi này, có một sự kiện đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong hành trình tìm đạo của Phật. Đó là Phật chỉ đi một mình tìm đạo, không thầy, không bạn.

Sau cùng, Phật tìm được con đường giác ngộ, giải thoát hoàn toàn do tự chứng nghiệm lấy mà không có sự hướng dẫn của bất kỳ một vị thầy danh tiếng nào. Sở dĩ Phật thành đạo là vì sau thời gian dài thiền định, quán chiếu mà không còn trói buộc vào bất cứ một học thuyết, kiến chấp, tư tưởng chủ quan nào,… mà Phật sáng rõ nơi chánh pháp.

Tuy nhiên, cũng không thể phủ nhận việc chính những tư tưởng, tri thức, kiến thức,… Phật được học hỏi, góp nhặt,… từ trước giúp Phật đạt được sự giác ngộ, giải thoát hoàn toàn.

Công cuộc phá bỏ tấm màng lưới vô minh của Phật Thích Ca diễn ra và hoàn tất như thế nào?

Sau khi học hỏi sự hiểu biết có trong cuộc sống, giáo lý các tôn giáo Phật đã dừng lặng lại tiến vào thiền định. Đạt định rồi Phật bình thản quán chiếu lại nơi mọi sự vật, hiện tượng bằng một tấm lòng khách quan, rộng mở,…

Việc quán chiếu ban đầu Phật chỉ dừng ở các sự vật, hiện tượng, cảm giác, tri giác,… nơi pháp thế gian. Càng quán chiếu, càng bí lối. Mọi việc đều rơi vào nhị nguyên đối đãi, không có sự cùng tận. Vui rồi buồn, buồn rồi lại vui. Giàu rồi nghèo, nghèo rồi lại giàu. Tàn ác, hại người rồi sớm muộn gì cũng thiệt thân. Tham lam, giành giật có đó rồi mất đó. Chỉ thấy khổ đau, phiền muộn vây kín kiếp người. Cũng có những phút thăng hoa, vui mừng nhưng dường như chúng quá ngắn ngủi cho cả đời người.

Lại có một khoảng lặng thường hằng, luôn tồn tại trong mỗi con người mà dường như con người quên lãng.

Với phát kiến mới này Phật đã nhận biết nhưng nói để ai nghe, họ nghe mà làm gì?

Con người mỗi mỗi đều trói trong “cơm áo gạo tiền”, danh lợi, địa vị, tham đắm, hưởng thụ,… Xã hội phân tầng giàu nghèo, sang hèn.

Phật tiếp tục quán chiếu.

Tại sao một đứa bé trai ở tầng lớp Bà la môn vì mong có bạn mà chạy đến nắm tay một bé gái hạ tiện ở tầng lớp Chiên đà la thì bé gái đó lại bị giết, chặt tay, phạt tiền hoặc là cha mẹ cô bé buộc phải làm nô lệ trọn đời?

Tầng lớp Thủ đà la không thể ngẩng cao đầu trước thành phần Tăng lữ, Sát đế lợi,… là con người cả tại sao lại bị khinh rẻ, xem thường, không bình đẳng?

Những hình hài của các tầng lớp xã hội có gì khác biệt, cũng khuôn mặt, đôi mắt, hai tay, hai chân, thân mình, đầu cổ,… cũng xương thịt, máu, tủy, tim, gan,…

Quán sát tận cùng nơi nhị nguyên xác thân người thì chỉ là chút nước, chút gió, chút đất, chút lửa và hư không. Nơi cùng tận của từng đại – Đất nước gió lửa hư không – cũng lại là đất nước gió lửa hư không. Chúng không thể đơn lẻ mà tồn tại, cả mọi sự vật, hiện tượng có trong trời đất cũng đều như thế.

Phật nhận ra “Cái một có trong cái tất cả và cái tất cả có đầy đủ nơi cái một”. Phật đã từng thuyết một lời ám thị điều này “Như Lai đã lấy Tam thiên đại thiên thế giới nhét vào nơi hạt cải mà chúng sinh ở Tam thiên đại thiên thế giới không hề rõ biết chỉ có những chúng sinh được độ là nhận biết sáng rõ”.

Đáng tiếc là người học Phật ngày nay với tầm nhìn hạn hẹp, sự hiểu biết không sáng rõ đã không rõ biết chánh pháp của Phật mà lại vọng tưởng ngộ nhận “Thần thông của Phật là không thể nghĩ bàn”.

Ngay nơi nhị nguyên tôi rõ biết “Thần thông của Phật là không thể nghĩ bàn” mà nay dối mượn pháp Phật “Lấy Tam thiên đại thiên thế giới mà Phật đã nhét vào nơi hạt cải ra khỏi hạt cải cho mọi người cùng rõ biết”.

Phật lại nhận ra con người đã bị tấm màng vô minh trói nhận thức, tư duy nên không thể chung cùng sống hài hòa, bình đẳng nhưng nếu dùng lời nói trình bày mọi việc ở nơi nhị nguyên thì con người liệu có mấy ai tin nhận?

Dựa trên góc nhìn tổng thể, khách quan, sáng rõ,… Phật lại quán chiếu sự tồn vong của mỗi gia đình, mỗi dòng tộc trong mỗi tầng lớp xã hội đơn lẻ. Quả thật, không có tính trường cửu, bền vững cho mọi gia đình, dòng tộc. Thiện ác đan xen, giàu nghèo, sang hèn hoán đổi tương tục,… Sự cai trị hà khắc, áp bức tầng lớp dân nghèo đến cùng đường của giai tầng “Ăn trên, ngồi trước” thì đến một lúc nào đó sẽ có những cuộc nổi dậy nổ ra. Những kẻ tàn ác, sống không có tình người sẽ bị giết đi, những người nghèo khó chia nhau “giá trị thặng dư” và đưa những người mới có uy tín lên lãnh đạo, lập lại trật tự xã hội. Lâu về sau, những người cai trị đất nước xa rời tầng lớp dân lao động nghèo, xây dựng những chính sách xã hội đem lại nhiều lợi ích cho thành phần lãnh đạo, quản lý làm sự phân tầng ngày càng rõ rệt. Đây là mầm móng đánh dấu cho một nổi loạn mới. Máu, nước mắt, thù hận và đau khổ lại xảy đến cho con người trên diện rộng. Cứ thế, xã hội loài người luôn phát triển như vậy trong tất cả giai đoạn lịch sử của con người.

Phật lại nghĩ “Tại sao con người lại cứ mãi chém giết lẫn nhau khiến cho chính con người sống trong khổ đau, thù hận?”.

Lẽ nào họ tự trói mình trong việc chém giết, hận thù, đau khổ nhằm quên đi nỗi lo “Sinh lão bệnh tử” luôn xảy ra cho đời sống của một con người?

Nói là vậy nhưng Phật đã rõ biết “Con người đang bị lưới vô minh che lấp bản tâm. Con người đã quen rồi sống với tâm phân biệt, dính mắc. Nơi tâm phân biệt, dính mắc có giàu có, sang hèn, thiện ác,… Gốc của tâm phân biệt, dính mắc là tham, sân, si, mạn, nghi. Mọi tội lỗi, khổ đau của con người đều do tâm phân biệt mà sinh khởi. Thiên đàng, địa ngục cũng nơi tâm ý con người tạo ra. Do tâm phân biệt mà con người khổ đau trôi lăn mà không thể thoát ra khỏi luân hồi. Tuy vậy, ngay nơi con người luôn có bản tâm tự tại, không dính mắc nhưng con người đã bị nhị nguyên trói chặt nên không tường tận, sống được với sự thật. Chỉ khi con người sống thật với bản tâm thì con người mới dứt khổ đau, đoạn trừ luân hồi, thiên đàng và địa ngục”.

Phật lại nhận biết “Dùng lời nói thành tâm, chân thật trình bày nơi nhị nguyên, nơi bản tâm sẽ không dễ khiến con người tin nhận. Con người đã vướng vào vô số định kiến, tà kiến, kiến chấp, học thuyết, tư tưởng,… Thế nên, dùng nhị nguyên nơi pháp thế gian để luận nhị nguyên nơi thế gian sẽ mang đến sự tranh luận, chống trái,… và không thể giúp con người giải thoát”.

Phật xét đến pháp xuất thế gian. Với kiến thức được lĩnh hội từ giáo lý, kinh điển của rất nhiều tôn giáo có ở các nước thuộc lưu vực sông Hằng, Phật quán chiếu thế giới tâm linh. Cùng với việc không ít lần tiếp xúc với cõi giới vô hình những khi thiền định và cả những lúc đã xả thiền, Phật nhìn nhận lại mọi tri thức nhân loại thời đó về cõi giới vô hình.

Tại sao đã là vô hình mà lại tạo ra được hình dáng mắt, tai, mũi, miệng, thân hình, lời nói, khóc cười,…?

Tại sao ta lại có thể tiếp xúc được với họ?

Nhờ mắt thấy, tai nghe,… chăng?

Thật không có lý bởi lẽ bây giờ ta vẫn dùng mắt mà cố tìm sao lại chẳng thấy?

Hơn nữa, khi thiền định thì mắt của người nhập thiền đã khép. Vậy ra là ta đã nhìn thấy bằng phần vô hình nơi bản tâm của tự thân, tạm gọi là thần thức. Hẳn là vậy vì không thể dùng hữu hình để nhận biết vô hình, chỉ có vô hình mới tiếp xúc được vô hình.

Lại một câu hỏi khác đặt ra.

Tại sao nơi vô hình lại lưu xuất ra cái thấy nghe hay biết, nói cười, khóc kể,…?

Rõ thật là do nơi ý. Từ đó, Phật nhận biết: Người cùng chúng sinh cõi giới vô hình tiếp xúc nhau bởi do tâm ý, cũng từ nơi tâm ý mà chúng sinh cõi vô hình tạo ra hình dạng, màu sắc, âm thanh, tiếng nói,… và cái thấy nghe hay biết. Rõ biết chân tướng nơi cõi giới vô hình, Phật đã dựa vào tâm ý của chúng sinh ở cõi vô hình mà bình thản phân định lại thế giới tâm linh.

Phật tiếp tục thâm nhập cõi giới vô hình và Phật rõ biết tường tận Tiền kiếp, Hậu kiếp của chúng sinh nẻo vô hình. Phật đã thông suốt vạn pháp ở cả pháp thế gian và pháp xuất thế gian.

Cõi giới vô hình chẳng thể tách rời cõi hữu hình mà tồn tại và ngược lại. Những chúng sinh ở cõi hữu hình và vô hình luân chuyển, hoán đổi vị trí cho nhau bởi do nghiệp duyên nhân quả rất công bằng, khách quan.

Tuy nhiên, có một điều dễ nhận thấy là việc luân hồi của chúng sinh nơi 3 cõi 6 đường thường đi kèm với khổ đau và phiền muộn do bởi những chúng sinh này luôn bị trói vào quy luật vô thường “Sinh lão bệnh tử” nhằm sắp xếp lại nhân quả, cũng như đảm bảo tính công bằng, khách quan nơi 3 cõi.

Buông bỏ tâm phân biệt, dính mắc Phật rõ biết “Tự thân đã thoát khỏi “Sinh lão bệnh tử” và việc luân hồi nơi 3 cõi 6 đường”.

Phật biết rằng “Đã đến lúc Người đi rộng truyền chánh pháp nhằm làm vơi đi khổ đau, phiền muộn cho mọi chúng sinh trong 3 cõi 6 đường, xóa bỏ bất công xã hội thời Phật còn đang sống. Đối với những con người muốn thoát khỏi luân hồi, Phật sẽ dùng phương tiện chỉ bày giúp họ nhìn thấy và sống được với bản tâm thường tại, rõ biết chân tánh vạn pháp, giúp họ giải thoát hoàn toàn ngay hiện đời”.

Trong hình ảnh có thể có: 1 người

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *